Thứ Ba, 19 tháng 1, 2010

THẮC MẮC TRONG DỊP LỄ GIÁNG SINH



THẮC MẮC TRONG DỊP LỄ GIÁNG SINH
Bài giảng vào sáng Chúa nhựt 25 tháng 12 năm 1859 do Mục sư C. H. Spurgeon Tại Hall, Strand
****
"Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta" — Êsai 9:6.
Ở những dịp khác, tôi đã giải thích phần chính của câu nầy — "quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an". Nếu Đức Chúa Trời cho phép, vào một dịp trong tương lai tôi hy vọng lấy đề tựa khác: "Cha đời đời, Chúa bình an". Nhưng bây giờ, sáng nay phần câu gốc Kinh Thánh gây chú ý cho tôi là: "Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta". Câu nói nầy gần như là một câu được lặp đi lặp lại hai lần. Độc giả có tánh cẩn thận sẽ mau mắn khám phá ra chỗ đặc biệt đó; là chỗ cho dù đặc biệt vẫn có sự khác biệt: "Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta". Khi Đức Chúa Jêsus Christ là một con trẻ theo bản chất con người, Ngài đã được sanh ra, được thai dựng bởi Đức Thánh Linh, được sanh ra bởi nữ đồng trinh Mary. Ngài đúng là một con trẻ thực sự đã được sanh ra, giống như bất kỳ một người nào khác từng sinh sống trên bề mặt quả đất nầy. Vì thế, về mặt nhân tính, Ngài là một con trẻ đã được sanh ra. Nhưng khi Đức Chúa Jêsus Christ là Con của Đức Chúa Trời, không phải là đã được sanh ra; mà là được ban cho, được sanh ra từ Cha của Ngài từ trước khi sáng thế, được thai dựng — không phải được làm nên, có cùng bản chất với Đức Chúa Cha. Lẽ đạo nói tới mối quan hệ đời đời của Đấng Christ cần phải được tiếp nhận là một chân lý không có gì phải hồ nghi trong tôn giáo thánh của chúng ta. Song trước bất cứ một sự giải thích nào về mối quan hệ ấy, chẳng một ai dám mạo hiểm, vì mối quan hệ đó đã nằm ở giữa những việc sâu kín nhất của Đức Chúa Trời — thực vậy, một trong những lẽ mầu nhiệm trang trọng nhất, các thiên sứ chẳng dám nhìn vào đấy, họ cũng chẳng dám ao ước mạo phạm vào đó — một lẽ mầu nhiệm mà chúng ta không nên ra sức tìm tòi, vì nó vượt quá khả năng nắm bắt của bất kỳ một tạo vật hữu hạn nào. Giống như một con muỗi đang tìm cách uống cạn dòng đại dương kia, thì thực như một tạo vật hữu hạn muốn hiểu biết Đức Chúa Trời đời đời vậy. Một Đức Chúa Trời mà chúng ta muốn tìm hiểu sẽ không còn là Đức Chúa Trời nữa. Nếu chúng ta nắm bắt được Ngài, thì Ngài không còn là vô hạn nữa: nếu chúng ta có thể hiểu được Ngài, thế thì Ngài chẳng còn gì là thiêng liêng nữa cả. Vậy thì tôi nói, Đức Chúa Jêsus Christ, là một Con Trai, không phải được sanh cho chúng ta, mà là được ban cho chúng ta. Ngài là một ân huệ đã được hiến cho chúng ta: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài". Ngài không được sanh vào trong thế gian nầy trong vai trò là Con của Đức Chúa Trời, mà Ngài được sai phái, hay được ban cho, để quí vị nhìn thấy được rõ ràng điểm đặc biệt là điểm được đề xuất ra, và cưu mang lẽ thật tốt lành cho chúng ta: "Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta".
Tuy nhiên, sáng nay, đối tượng chính trong bài giảng của tôi, và đúng là đối tượng duy nhứt, là bày ra sức mạnh của cụm từ nầy: "cho chúng ta". Quí vị sẽ nhận ra ở đây sức mạnh trọn vẹn của câu Kinh Thánh đặt ở: "Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta". Còn bài giảng của tôi có sự phân chia rất đơn giản. Thứ nhứt, có phải như vậy không? Thứ hai, nếu phải như vậy, thì có việc gì không? Thứ ba, nếu không phải như vậy, thì có sao không?
I. Trong chỗ thứ nhứt, CÓ PHẢI NHƯ VẬY KHÔNG? Có thực là một con trẻ sanh cho chúng ta, một Con Trai ban cho chúng ta không? Sự thực cho thấy rằng có một con trẻ đã sanh ra. Về sự nầy, tôi chẳng có gì phải bàn bạc hết. Chúng ta nhận đây là một sự thực, còn thực hơn bất kỳ một sự kiện nào khác trong lịch sử nữa, ấy là Con của Đức Chúa Trời đã trở thành người, chào đời tại thành Bếtlêhem, được quấn bằng khăn, được đặt nằm trong máng cỏ. Đây cũng là một sự thực, ấy là một Con Trai đã được ban cho. Về sự ấy, chúng ta chẳng có thắc mắc chi cả. Người không tin theo đạo có thể góp ý, nhưng chúng ta, khi xưng mình là tín đồ tin theo Kinh Thánh, chúng ta tiếp nhận điều nầy như một chân lý không thể chối cãi được, rằng Đức Chúa Trời đã ban ra Con độc sanh của Ngài để làm Cứu Chúa của cả loài người. Nhưng cái điều thắc mắc là đây: Phải chăng con trẻ nầy sanh ra là cho chúng ta? Có phải Ngài được ban cho chúng ta không? Đây là vấn nạn đáng lo đây. Phải chăng chúng ta có sở thích riêng nơi con trẻ đã chào đời tại thành Bếtlêhem? Phải chăng chúng ta biết rõ Ngài là Cứu Chúa của chúng ta? — rằng Ngài đã đem lại các tin tức tốt lành cho chúng ta? — có phải Ngài thuộc về chúng ta không? Và có phải chúng ta thuộc về Ngài? Tôi nói đây là một vấn đề cần phải có nhiều nghiên cứu sâu sắc lắm. Đây là một sự việc có thể quan sát được, hạng người xuất sắc nhất trong loài người đôi khi bị rắc rối với các thắc mắc liên quan tới thị hiếu của họ về Đấng Christ, trong khi người ta không thấy bối rối chi hết những điều tưởng chừng như là dối gạt, những kẽ dối gạt ấy chẳng có phần gì trong vụ việc nầy. Tôi thường lưu ý rằng có một số người mà về họ tôi cảm thất rất an toàn, họ là những con người dám chắc về bản thân mình. Điều nầy nhắc cho tôi nhớ tới tiểu sử một nhân vật tin kính có tên là Simon Brown, một vị Mục sư thời xưa ở thành phố Luân đôn. Ông rất buồn bực ở trong lòng, vì vậy đâm chán ngán, cuối cùng ông bật ra ý tưởng cho rằng linh hồn mình đã bị hủy diệt. Trò chuyện với con người nhơn đức nầy quả là một sự vô ích, quí vị không thể khuyên ông ta rằng ông ta có linh hồn; nhưng trong suốt khoảng thời gian ông ấy rao giảng, cầu nguyện và làm việc, dường như con người có hai linh hồn chớ chẳng phải một đâu. Khi ông ấy giảng đạo, đôi mắt ông tuôn tràn hai dòng lệ, rồi khi ông thầm nguyện, có một sự sốt sắng thiêng liêng và sự năng động trong từng lời nói. Giờ đây, cũng một thể ấy với nhiều Cơ đốc nhân. Dường như họ mang lấy hình ảnh của sự tin kính; đời sống họ rất đáng ngưỡng mộ, và các ăn nói của họ rất thiên thượng, tuy nhiên, họ lại luôn luôn kêu khóc,—
"Đây là điểm mà tôi muốn biết,Nó thường gây ra lo sợ trong tâm,Tôi có yêu Chúa hay không?Tôi có thuộc Ngài hay tôi chẳng thuộc Ngài?
Việc ấy đã xảy ra, ấy là người tốt nhất trong vòng loài người sẽ thắc mắc trong khi người tệ hại nhất trong vòng loài người sẽ coi thường. Nầy, tôi đã nhìn thấy nhiều người, về số phận đời đời của họ tôi đã có thắc mắc rất nghiêm trọng, sự trước sau không như một của họ trong cuộc sống rất hiển nhiên và có thể nhận ra được, họ nói huyên thuyên về địa vị chắc chắn của họ trong xứ Israel, và về sự trông cậy không hề nao núng của họ, giống như họ tin nơi người khác có thể bị bịp dễ dàng y như họ vậy. Bây giờ, chúng ta đưa ra lý do nào về sự điên rồ nầy? Hãy học biết điều đó từ hình ảnh minh hoạ nầy: Quí vị nhìn thấy một số người đang cỡi ngựa trên con đường hẹp bên mé biển. Đây là con đường rất nguy hiểm, vì con đường đó gồ ghề và vách núi hiểm trở nằm ở bên trái con đường. Nếu như chân con ngựa bị trợt, và họ sẽ ngã nhào xuống chỗ hủy diệt. Hãy nhìn thấy các tay kỵ mã cẩn thận ra sao, mấy con ngựa cẩn thận khi đặt chân của chúng xuống đất như thế nào!?! Nhưng có phải quí vị đang quan sát tay kỵ mã kia, anh ta xông xáo với cùng một tốc độ, giống như thể anh ta đang quất ngựa đuổi bắt với Satan không? Quí vị đang nắm tay lại với sợ hãi, run rẩy e rằng chơn ngựa kia sẽ bị trượt, rồi anh ta sẽ ngã xuống; và quí vị nói, sao chàng kỵ mã kia vô tâm đến thế? Anh ta là một tay kỵ mã mù ngồi trên một con ngựa mù. Họ không thể nhìn thấy mình đang ở đâu. Anh ta nghĩ mình đang ở trên đường chạy rất an toàn, rồi vì thế anh ta mới quất ngựa phi nhanh như vậy. Hoặc đổi hình ảnh khác; có khi lúc người ta đang say ngủ, họ cứ bước đi và họ sẽ trèo lên ở chỗ mà nhiều người khác không dám mạo hiểm. Những cao độ làm cho chóng mặt sẽ làm cho bộ óc họ dường như an toàn cho họ. Vì vậy, có những kẻ vừa đi vừa ngủ [thuộc linh] giữa vòng chúng ta, họ tưởng là họ đang thức. Nhưng không phải như vậy đâu. Hành động quá táo tợn của họ khi mạo hiểm ở những cao điểm tự tín kia, minh chứng rằng họ là hạng người bị mộng du; chớ không phải thức tỉnh đâu, họ là hạng người vừa đi vừa nói trong giấc ngủ kìa. Cho nên, tôi nói, đây thực sự là một vấn đề thắc mắc rất nghiêm trọng với những ai sẽ đúng vào lúc sau cùng, như trong trường hợp có phải con trẻ nầy sanh cho chúng ta, và Con Trai nầy ban cho chúng ta hay không? Giờ đây, tôi sẽ giúp cho quí vị giải đáp thắc mắc đó.
1. Nếu con trẻ nầy giờ đây đang nằm trước con mắt đức tin của quí vị, được quấn bằng khăn nằm trong máng cỏ ở thành Bếtlêhem, được sanh ra cho quí vị, hỡi quí thính giả của tôi, để rồi quí vị được sanh lại! Vì con trẻ nầy không được sanh ra cho quí vị nếu như quí vị không được sanh ra cho con trẻ nầy. Hết thảy những ai chú trọng đến Đấng Christ, trọn thời gian, bởi ân điển đã trở lại đạo, được làm mới lại và được biến đổi. Tất cả những kẻ được chuộc chưa phải là được biến đổi hết đâu, nhưng rồi họ sẽ được biến đổi. Trước khi giờ chết đến, bản tánh của họ sẽ được thay đổi, tội lỗi của họ sẽ được xoá sạch đi, họ sẽ bước từ sự chết qua sự sống. Nếu có ai đến nói với tôi rằng Đấng Christ là Đấng Cứu Chuộc của người ấy, mặc dù người ấy chưa hề kinh nghiệm sự tái sanh, người ấy đang thốt ra điều mà mình chưa biết; tôn giáo của người ấy là hư không, và sự trông cậy của người ấy chỉ là ảo giác. Chỉ có những người nào đã được sanh lại mới có thể xưng nhận con trẻ ở thành Bêtlêhem là đang thuộc về họ mà thôi. Có người nói: “Nhưng, làm sao tôi biết được mình đã được sanh lại hay chưa?” Trả lời cho câu hỏi nầy cũng phải bằng một câu hỏi khác: Phải chăng có một sự thay đỗi được tác động bởi ân điển thiêng liêng ở bên trong quí vị? Phải chăng tình cảm của quí vị là ngược lại với những gì chúng đang tác động? Bây giờ quí vị có ghét bỏ những việc hư không mà quí vị đã từng phạm phải, và có phải quí vị đang đuổi theo viên ngọc quí mà một thời quí vị từng xem khinh chăng? Có phải tấm lòng của quí vị đổi mới đối tượng của nó rồi? Quí vị có thể nói rằng xu hướng của ao ước trong quí vị đã thay đổi? Nghĩa là, mặt quí vị hướng về Siôn, và chân quí vị đang đặt trên con đường của ân điển? Phải chăng tấm lòng của quí vị từng mong muốn dầm thấm vào những sâu thẳm của tội lỗi, giờ đây nó đang muốn được nên thánh? và quí vị từng yêu mến những khoái lạc đời nầy, giờ đây chúng đã trở thành những thứ cặn bã đối với quí vị, vì quí vị chỉ yêu mến các khoái lạc của những việc thiên thượng, và đang khát khao muốn vui hưởng chúng thật nhiều ở trên đất, nghĩa là quí vị đã sửa soạn để tận hưởng chúng thật đầy dẫy sau nầy? Có phải quí vị đã được đổi mới ở bên trong không? Hỡi quí thính giả của tôi ơi, mục tiêu là, sự sanh lại không bao gồm việc tẩy rửa ở bên ngoài chén và mâm, mà là ở việc tẩy rửa người bề trong. Lấy hòn đá mà ngăn cửa ngôi mộ là vô ích lắm, hãy tẩy rửa ngôi mộ ấy cho thật trắng, rồi tô điểm, trang hoàng nó với các loại hoa đang sẵn có; chính ngôi mộ phải được tẩy cho sạch. Bộ xương của người chết nằm trong ngôi mộ lòng kia phải được thanh tẩy. Nào, chúng đã được dựng nên để sống. Tấm lòng không còn là ngôi mộ sự chết nữa, mà là đền thờ của sự sống. Có phải cũng một thể ấy với quí vị không, hỡi quí thính giả của tôi? Cần phải nhớ lại, quí vị sẽ rất là khác biệt ở bề ngoài, nhưng nếu quí vị không thay đổi ở bên trong, con trẻ nầy không phải được sanh ra cho quí vị đâu.
Tôi muốn đưa ra một câu hỏi khác. Mặc dù vấn đề chính tái sanh đang nằm ở bên trong, nó không thể hiện ra ở bên ngoài. Hãy nói đi, có sự thay đổi ở bề ngoài nơi quí vị, có phải không? Có phải quí vị nghĩ rằng những người khác đã nhìn vào quí vị rồi buộc miệng nói, người nầy không giống như trước nữa? Bạn bè của quí vị có để ý thấy sự thay đổi không? Có phải họ đã cười nhạo quí vị vì họ nghĩ tính nghiêm nghị của quí vị là đạo đức giả, là chủ nghĩa đạo đức không? Có phải quí vị nghĩ trong lúc bây giờ là nếu có một vị thiên sứ bước theo quí vị vào trong đời sống kín nhiệm của quí vị, Ngài sẽ lần vào buồng kín của quí vị và nhìn thấy quí vị đương quì gối, Ngài sẽ phát hiện ra một điều nơi quí vị mà Ngài chưa hề thấy trước đây không? Hỡi quí thính giả yêu dấu của tôi ơi, đã có một sự thay đổi nơi đời sống bề ngoài rồi đấy, hoặc giả chẳng có một sự thay đổi nào ở bên trong. Quí vị đưa tôi đến với cây nầy mà chi, rồi nói rằng bản tánh của cây đã được thay đổi. Nếu tôi vẫn nhìn thấy nó đốc ra những trái nho hoang, nó vẫn còn là một cây nho hoang mà thôi. Còn nếu tôi đánh dấu trên quí vị, những quả táo của Sôđôm cùng chùm nho của Gômôrơ, quí vị vẫn là một cây bị nguyền rủa và có một số phận rất bi đát, bất kể mọi kinh nghiệm tưởng tượng của quí vị. Cái điều minh chứng của một Cơ đốc nhân nằm trong chỗ sống động. Đối với nhiều người khác, minh chứng sự biến đổi của chúng ta không nằm ở chỗ quí vị cảm nhận như thế nào, mà là ở chỗ quí vị đang làm theo điều gì. Đối với bản thân quí vị, mọi cảm xúc của quí vị dường như đủ làm chứng cớ rồi, nhưng trước mặt vị Mục sư và nhiều người khác đang xét đoán quí vị, cách ăn ở bề ngoài mới là kim chỉ nam chính yếu. Đồng thời, cho phép tôi lưu ý rằng đời sống bề ngoài của một người có thể giống nhiều với đời sống của một Cơ đốc nhân, tuy vậy lại chẳng có chút tôn giáo nào nơi người ấy cả. Quí vị có từng xem hai nghệ sĩ múa rối đang cầm gươm trên đường phố, họ đang giả vờ đánh nhau chưa? Hãy xem cách họ chém, rồi đỡ, và gạt kiếm nhau, cho tới chừng quí vị có đôi chút sợ hãi không bao lâu nữa chắc sẽ có kẻ phải ngã chết. Dường như họ đã sốt sắng quá mấu đến nỗi quí vị tưởng chừng như muốn chạy đi báo cảnh sát để ngăn họ ra. Hãy nhìn xem với cảnh bạo lực mà kẻ có vũ trang kia đập mạnh vào đầu của một người khác, đang khi họ có nhiệm vụ đứng canh gác cẩn thận. Chỉ nhìn họ trong một phút thôi, và quí vị sẽ nhìn thấy mọi nhát kiếm chém, đỡ nầy đã được sửa soạn trước rồi. Rốt lại, chẳng có gì chủ ý ở đây cả. Họ không đánh nhau chí tử như vậy, giống như họ là kẻ thù thực sự của nhau. Vì vậy, có khi tôi đã nhìn thấy một người giả vờ rất giận dữ chống lại tội lỗi. Nhưng hãy quan sát người ấy một chút thôi, và quí vị sẽ nhìn thấy đây chỉ là mẹo của người cầm kiếm mà thôi. Người ấy không đâm nhát kiếm ngoài chỉ đạo của đạo diễn được, chẳng có gì quá mấu trong nhát kiếm đâm của người, tất cả chỉ là giả vờ, chỉ là đóng kịch trên sân khấu mà thôi. Hai kiếm sĩ, sau khi họ đã kết thúc phần trình diễn của mình rồi, họ bắt tay nhau, và chia nhau những đồng tiền mà người ta trả công cho họ; và cũng một thể ấy với người nầy, người bắt tay với ma quỉ theo cách riêng, và hai tên lừa bịp chia chác chiến lợi phẩm. Kẻ giả hình và ma quỉ là hai người bạn thân rất thân, và họ mừng rỡ vì lợi ích của họ: ma quỉ liếc mắt đểu cáng vì hắn thu phục linh hồn của người tín đồ, và kẻ đạo đức giả bật cười vì nó kiếm được tiền bạc nó muốn. Vậy thì, hãy cẩn thận, đời sống bề ngoài của quí vị không phải là kịch diễn trên sân khấu đâu, mà sự đối kháng của quí vị với tội lỗi phải là thực sự và mãnh liệt; và quí vị đánh bên tả đánh bên hữu, giống như thể quí vị đang muốn giết chết con quái vật, và ném tay chân nó cho các ngọn gió ở trên trời vậy.
Tôi muốn đưa ra một câu hỏi khác. Nếu quí vị đã được sanh lại, có một vấn đề khác và nó sẽ thử quí vị đấy. Không những bản ngã bên trong được thay đổi, và cái tôi ở bên ngoài cũng phải vậy nữa, nhưng gốc rễ và nguyên tắc sống của quí vị phải hoàn toàn mới mẻ nữa. Khi chúng ta sống trong tội lỗi, chúng ta sống với bản ngã, nhưng khi chúng ta được dổi mới, chúng ta sống cho Đức Chúa Trời. Trong khi chúng ta chưa được sanh lại, nguyên tắc của chúng ta là tìm kiếm khoái lạc riêng, sự thăng quan tiến chức của mình; nhưng người nào chưa thực sự tái sanh, người ấy không sống với một mục đích sâu xa giống như vầy đâu. Hãy thay đổi các nguyên tắc của một người, và quí vị thay đổi mọi cảm xúc của người ấy, quí vị đang thay đổi mọi hành động của người ấy. Giờ đây, ân điển đang làm thay đổi các nguyên tắc của người ấy. Nó kề lưỡi búa vào rễ cây. Nó không cần thấy cái rễ lớn nào, nó không tìm cách làm thay đổi nhựa cây; nhưng nó cung ứng một cái rễ mới, và trồng chúng ta trong chỗ đất mới. Bản ngã bề trong của người kia, những vầng đá sâu kín các nguyên tắc của người, lớp đất mặt trên đó mọi hành động của người đặt vào, linh hồn của con người nầy đã được thay đổi hoàn toàn, và người trở nên một con người mới trong Đấng Christ. Có người nói: “Nhưng, tôi chẳng thấy có lý do nào tại sao tôi được sanh lại”. A, hỡi tạo vật đáng thương kia, sở dĩ như thế là vì ông chưa nhìn thấy bản ngã mình đấy thôi. Có bao giờ ông nhìn thấy một người qua lăng kính Lời Đức Chúa Trời chưa —người ấy đúng là một con quái vật kỳ dị. Quí vị biết đấy, một người thiên nhiên có tấm lòng mình theo chỗ bước của bàn chân người ấy: — nói như thế có nghĩa là, tấm lòng của người ấy đặt ở trên đất, người ấy đã dẫm lên tấm lòng đương ở dưới bàn chân của mình; và vẫn còn là kín nhiệm lạ lùng hơn nữa, hai gót chân của người là chỗ đặt để tấm lòng của mình: — nói như thế có nghĩa là, người ấy đang đá ngược lại với Đức Chúa Trời trên thiên đàng khi người đặt mọi tình cảm của mình vào những việc nêu trên. Con người theo tự nhiên khi người nhìn thấy rõ ràng nhất, lúc người nhìn xuống, có thể nhìn thấy duy nhứt những gì ở dưới chân của mình, người không thể nhìn thấy những việc ở trên cao; và thật là kỳ lạ khi nói ánh mặt trời làm mù mắt người; ánh sáng đến từ trời người không nhìn thấy được. Người cầu xin sự sáng từ bóng tối tăm. Đối với người đất chính là trời, và người nhìn thấy mặt trời trong vũng bùn lầy và các ngôi sao trong chỗ bẩn thỉu của đất. Thực vậy, người là một con người đã bị đảo lộn. Sự sa ngã đã huỷ phá bổn tánh của chúng ta, sự việc kỳ dị nhất trên bề mặt quả đất chính là con người bị sa ngã. Những người thời xưa thường vẽ quái vật sự tử đầu chim, những con rồng, quái vật đuôi rắn mình dê đầu sư tử và đủ loại những vật hình thù gớm ghiếc; nhưng nếu một bàn tay khéo có thể tô vẽ con người một cách chính xác không ai trong chúng ta sẽ nhìn vào bức tranh, vì đó là một cảnh trạng mà chẳng ai muốn xem, trừ ra kẻ bị hư mất trong địa ngục; và đấy là một phần nỗi đau không thể chịu được của họ, họ bị buộc phải luôn luôn nhìn vào chính bản thân mình. Bây giờ, hãy nhìn quí vị xem, không phải như vậy đâu, vì quí vị đã được sanh lại, và trừ phi quí vị được sanh lại, con trẻ nầy không sanh ra cho quí vị đâu.
2. Tôi muốn tiến về phía trước. Nếu con trẻ nầy được sanh ra cho quí vị, quí vị là một con trẻ, và thắc mắc phát sinh, có phải vậy không? Con người lớn lên từ thời thơ ấu cho đến trưởng thành thật tự nhiên; trong ân điển, người ta lớn từ chỗ trưởng thành xuống chỗ con trẻ; và chúng ta càng trở thành con trẻ thực chừng nào, chúng ta càng tiến tới gần chỗ giống với ảnh tượng của Đấng Christ chừng nấy. Vì Đấng Christ không được gọi là "một con trẻ", ngay sau khi Ngài đã thăng thiên về trời? "Con trẻ thánh Jêsus". Hỡi anh chị em, quí vị có thể nói rằng quí vị đã được dựng nên thành con trẻ không? Quí vị có nhận lãnh Lời Đức Chúa Trời theo đúng như lời ấy, chỉ vì Cha của quí vị trên trời phán như thế không? Có phải quí vị bằng lòng tin theo những lẽ mầu nhiệm mà không đòi hỏi chúng phải được giải thích không? Có phải quí vị sẵn sàng ngồi vào trong lớp ấu nhi, và trở thành một ấu nhi không? Có phải quí vị bằng lòng bám vào lồng ngực của Hội Thánh, rồi tiếp lấy sửa của Đạo dành cho trẻ thơ — mà chẳng hề thắc mắc trong một giây phút nào hết về Đạo mà Chúa của quí vị đang tỏ ra, mà chỉ tin theo Đạo ấy theo đúng thẩm quyền của Ngài, dù là lý cớ nào, cao – thấp – hay mâu thuẫn? Giờ đây "nếu các ngươi không đổi lại và nên như con trẻ", con trẻ nầy sẽ không sanh ra cho quí vị đâu; trừ phi giống như một con trẻ quí vị phải khiêm nhường, chịu dạy, biết vâng lời, làm đẹp lòng với ý chỉ của Cha mình và bằng lòng dự phần cùng với Ngài, có thắc mắc rất hay về sự con trẻ nầy có được sanh ra cho quí vị, có phải không!?! Nhưng đúng là một bối cảnh vui vẻ khi con người được biến đổi và được biến thành một con trẻ. Nhiều lần tấm lòng của tôi nhảy cởn lên vì vui mừng, khi tôi nhìn thấy một gã khỗng lồ vô đạo, hắn thường hay luận lẽ nghịch lại Đấng Christ, hắn chẳng có một từ nào trong tự điển đủ xấu cho dân sự của Đấng Christ, thế mà bởi ân điển thiêng liêng hắn lại tin theo Tin lành. Con người đó ngồi xuống và khóc lóc, cảm nhận quyền phép cứu rỗi trọn vẹn và từ thời điểm đó thôi không còn thắc mắc về sự đổi mới của mình nữa Anh ta tưởng mình quan trọng hơn người tín đồ khác. Anh ta bằng lòng làm công tác có ý nghĩa nhất cho Hội Thánh của Đấng Christ, và đảm nhận vị trí của mình — không phải với Locke hay Newton, như một triết gia Cơ đốc rất năng nổ — mà với Mary như một người học việc rất đơn sơ, ngồi nơi chơn Chúa Jêsus, để lắng nghe và tiếp thu từ nơi Ngài. Nếu ngươi không đổi lại nên như con trẻ, thì con trẻ nầy không sanh ra cho các ngươi đâu.
3. Còn bây giờ, chúng ta hãy bước qua mệnh đề thứ hai rồi đặt một hay hai câu hỏi cho mệnh đề đó. Có phải con trai nầy được ban cho chúng ta không? Tôi ngưng trong một phút để nài xin quí vị phải chú ý. Tôi đang cố gắng, nếu tôi có thể, giảng đến nỗi tôi làm cho quí vị phải tự mình đưa ra những thắc mắc. Tôi xin quí vị đừng để một ai trong quí vị tự miễn trừ ngồi thụ động, mà mỗi người hãy nên tự hỏi mình, có thật một Con Trai được ban cho tôi không? Giờ đây, nếu Con Trai nầy được ban cho quí vị, quí vị chính là một con cái. "Hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời”. "Đức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó…Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự". Con Đức Chúa Trời không phải thuộc về tôi để hưởng thụ, để yêu thương, để lạc thú, trừ phi tôi cũng là một con cái của Đức Chúa Trời nữa. Bây giờ, hỡi quí thính giả của tôi ơi, quí vị có lòng kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mắt mình — một sự kính sợ, một sự e sợ mình sẽ làm buồn lòng cha mẹ mình chăng? Hãy nói quí vị có tình yêu của con cái dành cho Đức Chúa Trời đi? Quí vị có tin cậy Ngài là Cha của quí vị, Đấng Tiếp Trợ, và là Thiết Hữu của quí vị không? Quí vị có trong lồng ngực của mình: "thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng Aba! Cha không?” Có khi nào quí vị quì gối xuống rồi nói: "Lạy Cha và Đức Chúa Trời của con" không? Có phải Đức Thánh Linh làm chứng với tâm linh quí vị rằng quí vị do Đức Chúa Trời sanh ra không? Và trong khi lời chứng nầy được đưa ra, có phải tấm lòng của quí vị bay lên cao tới Cha và Đức Chúa Trời của mình, với trạng thái ngây ngất vui thích nắm lấy Ngài là Đấng lâu nay đã nắm lấy quí vị trong giao ước yêu thương của Ngài, trong hai cánh tay ân điển toàn năng của Ngài không? Bây giờ, hỡi quí thính giả của tôi ơi, nếu quí vị đôi lúc chưa tận hưởng thần trí của sự làm con nuôi, nếu quí vị chưa phải là con trai hay con gái của Siôn, thì đừng tự dối mình nữa, Con Trai nầy sẽ không được ban cho quí vị đâu.
4. Rồi, hãy chuyển sang một hình thái khác. Nếu một Con Trai được ban cho chúng ta, vậy thì chúng ta đã được ban cho Đức Chúa Con. Giờ đây, quí vị nói gì đối với thắc mắc nầy? Có phải quí vị được ban cho Đấng Christ không? Có phải quí vị cảm thấy rằng quí vị chẳng có gì ở trên đất để sống trừ ra để làm vinh hiển cho Ngài? Quí vị có thể nói trong lòng mình: "Lạy Đức Chúa Trời Cao cả, con không muốn bị dối gạt, con hoàn toàn thuộc về Ngài?" Có phải quí vị sẵn sàng hôm nay để ghi lại một lần nữa lời thề cung hiến của mình không? Quí vị từng nói: "Xin nhận lấy con! Mọi sự con có và con thể nào, sẽ thuộc về Ngài cho đến đời đời. Con sẽ bỏ đi mọi sự nhơn đức, mọi năng lực, mọi thì giờ, và con sẽ thuộc về Ngài — thuộc về Ngài thật trọn vẹn". "Anh em chẳng còn thuộc về chính mình nữa, vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi". Và nếu Con của Đức Chúa Trời đã được ban cho quí vị, quí vị nên dâng chính mình trọn vẹn cho Ngài; và quí vị sẽ cảm thấy rằng sự vinh hiển của Ngài là đối tượng của đời sống quí vị, rằng vinh quang Ngài là khao khát to lớn trong tâm linh đầy ao ước của mình. Hỡi quí thính giả của tôi ơi, có phải như thế không? Hãy tự hỏi mình đi. Tôi nài xin quí vị đấy, và đừng dối mình trong khi trả lời.
Tôi mới vừa nhắc lại bốn minh chứng khác nhau. Nếu một con trẻ được sanh ra cho tôi, thế thì tôi đã được sanh lại; và thêm nữa, giờ đây tôi đương sống trong kết quả của sự sanh lại đó, một con cái. Nếu, một Con Trai đã được ban cho tôi, thế thì tôi là một con cái; và một lần nữa tôi được ban cho Con ấy là Đấng đã được ban cho tôi. Tôi đã cố gắng trình bày các phần nầy theo cách câu gốc đã đưa ra. Tôi xin quí vị hãy đem chúng về nhà với mình. Nếu quí vị không suy gẫm các từ ngữ đó, mà cứ tự mình nghiên cứu, và nhìn thấy, hỡi quí thính giả của tôi ơi, quí vị có dám nói: "Con Trai nầy đã được ban cho tôi" hay không!?! Vì thực thế, nếu Đấng Christ không phải là Đấng Christ của tôi, Ngài chỉ có một ít giá trị đối với tôi. Nếu tôi không dám nói Ngài yêu thương tôi và đã phó chính mình Ngài vì tôi, cái điều có giá trị là tính cách xứng đáng của sự công bình Ngài, hay mọi sự rời rộng nơi sự cứu chuộc của Ngài, có phải thế không? Bánh trong cửa hàng rất là ngon, nhưng nếu tôi đói bụng mà không thể nhận được bánh ấy, tôi vẫn đang bị đói dù cả kho lúa đang đầy ắp kia. Nước trong dòng sông ngon ngọt đủ, nhưng nếu tôi đương ở trong sa mạc và không thể đến gần dòng sông được, nếu tôi có thể nghe thấy dòng chảy của nó ở một khoảng cách xa xa và rồi phải gục chết vì khát, tiếng rì rào của dòng suối nhỏ, hay dòng chảy của con sông, nó giúp trêu ngươi tôi, trong khi tôi gục chết trong thất vọng ê chề. Thật là tốt cho quí vị, quí thính giả của tôi phải chịu hư mất như bộ tộc Hottentot ở Nam Phi, phải đi xuống mồ mả như những kẻ kiều ngụ lở đường trong một vùng đất lạ nào đó, hơn là sống ở chỗ danh Đấng Christ liên tục được ca tụng và ở chỗ sự vinh hiển Ngài được tán dương, phải đi thẳng vào mộ địa của mình mà không biết gì về Ngài, không được phước bởi Tin lành Ngài, không được thanh tẩy bằng huyết Ngài, không được khoác chiếc áo xống công bình của Ngài. Nguyện Đức Chúa Trời giúp đỡ cho quí vị, để quí vị sẽ được phước trong Ngài, nguyện quí vị cất tiếng hát lên: "Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta".
II. Điều nầy đưa tôi đến vấn đề thứ hai, tôi sẽ nói ngắn thôi. Có thực thế không? NẾU THỰC THẾ, THÌ SẼ CÓ VIỆC GÌ KHÔNG? Nếu thực thế, ngày nay sao tôi còn nghi ngờ chứ? Tại sao tâm linh tôi vẫn còn thắc mắc? Tại sao tôi không nhận chân sự thực ấy? Hỡi quí thính giả của tôi ơi, nếu Đức Chúa Con đã được ban cho quí vị, làm sao quí vị cứ sống cứ thắc mắc Ngài có phải là Đấng Christ hay không!?! Tại sao quí vị không làm việc đi, để làm cho sự kêu gọi và sự lựa chọn mình được chắc chắn? Sao quí vị cứ chần chờ trong trũng nghi ngờ thế? Quí vị hãy đứng thẳng lên, hãy đứng thẳng lên, hãy trèo lên các hòn núi cao của sự tin cậy, và đừng bao giờ yên nghỉ cho tới chừng nào quí vị dám nói mà chẳng e dè chi hết rằng quí vị đã phạm sai lầm: "Tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc tôi vẫn sống. Tôi biết chắc Ngài có quyền giữ sự tôi phó thác cho Ngài". Tôi biết có nhiều người ở đây, họ không biết chắc Đấng Christ có thuộc về họ hay không nữa. Ồ, hỡi quí thính giả yêu dấu của tôi ơi, đừng thoả mãn trừ phi quí vị biết chắc rằng Đấng Christ thuộc về quí vị, và quí vị đang thuộc về Đấng Christ nữa. Giả sử quí vị sẽ nhìn thấy trên tờ báo ngày mai, (nếu quí vị tin bất cứ điều chi quí vị nhìn thấy trên đó, có lẽ quí vị sẽ bị sai lầm) nhưng giả sử quí vị sẽ nhìn thấy một thông báo về người nhà giàu kia đã để lại cho quí vị một tài sản kếch xù. Giả sử, khi quí vị đọc thấy tin tức đó, quí vị nhận ra rằng nhân vật đã được nhắc tới là một người bà con của mình, và câu chuyện dường như là thực vậy. Có thể quí vị sẽ sửa soạn ngày mai cho buổi tụ họp của gia đình, và quí vị đang trông anh John hay chị Mary cùng mấy đứa con của họ đến ăn tối với quí vị. Nhưng tôi cứ thắc mắc, không biết quí vị có chịu rời khỏi cái bàn ăn kia rồi đi tìm hiểu cho chắc chắn sự kiện ấy có thực hay là không!?! Quí vị nói: "Ồ, tôi dám chắc tôi sẽ hưởng một bữa ăn tối Giáng sinh một khi tôi dám chắc hoàn toàn về sự việc nầy"; và suốt cả ngày, nếu quí vị không chịu đi, quí vị sẽ cứ phải trông đợi mãi thôi; quí vị sẽ trông đợi, quả thực vậy, cứ ngồi đấy bồn chồn cho tới chừng quí vị biết rõ sự việc kia có phải là sự thực hay không!?! Giờ đây, có một lời công bố cho hôm nay, và đây là lời công bố rất thực, ấy là Đức Chúa Jêsus Christ đã vào trong thế gian để cứu kẻ có tội. Thắc mắc với quí vị là Ngài có cứu quí vị hay không, và quí vị có để tâm đến Ngài hay không!?! Tôi nài xin quí vị, đừng để cho mắt mình ngủ, và mí mắt quí vị đừng nhắp nháy nữa, cho tới chừng quí vị đã đọc "danh hiệu rõ ràng cho các toà lâu đài ở trên bầu trời" kia. Hỡi người! Phải chăng vấn đề số phận đời đời là một vấn đề bất an cho quí vị? Sao chứ! Có phải thiên đàng và địa ngục có dính dáng vào với vấn đề nầy, và nguyện quí vị sẽ được yên nghỉ cho tới chừng nào quí vị biết một trong hai nơi nầy sẽ là phần đời đời của quí vị? Có phải quí vị thoả lòng trong khi cứ thắc mắc không biết Đức Chúa Trời có yêu thương mình hay không, hoặc Ngài có giận buồn quí vị hay không sao? Quí vị có thoải mái không trong khi quí vị cứ mãi hồ nghi mình có bị xét đoán trong tội lỗi hay không, hoặc có được xưng công bình bởi đức tin đặt nơi Đức Chúa Jêsus Christ hay không? Hỡi người, hãy đứng thẳng lên đi. Tôi nài xin quí vị bởi Đức Chúa Trời hằng sống, và bởi sự an ninh của chính linh hồn quí vị đấy, hãy đứng thẳng lên rồi đọc bản tường trình đi. Hãy lục lọi và xem xét đi, hãy cố gắng tự mình thử lấy, để xem coi có thực như thế hay không? Vì nếu thực như thế, tại sao chúng ta lại chẳng biết chi hết vậy? Nếu Đức Chúa Con đã được ban cho tôi, tại sao tôi không dám chắc về điều đó? Nếu con trẻ được sanh ra cho tôi, tại sao tôi không biết sự ấy đến tận tường, để bây giờ tôi sống trong sự vui hưởng đặc ân của mình — một đặc ân, giá trị của nó tôi sẽ không bao giờ biết hết được, cho tới chừng nào tôi về đến nơi vinh hiển?
Một lần nữa, nếu quả thực thế, một câu hỏi khác. Sao tôi lại buồn bã chứ? Tôi đang ngắm nhìn trên những gương mặt dường như trái ngược với sự tối tăm, ảm đạm, nhưng có lẽ nụ cười đang che phủ một trái tim đang nhức nhối. Nầy anh chị em ơi, tại sao chúng ta lại buồn bã sáng nay chứ, nếu một con trẻ được sanh cho chúng ta, nếu một Con Trai được ban cho chúng ta? Hãy nghe đây, hãy nghe đây! Đây là "Nhà thu hoạch! Nhà thu hoạch!" Hãy nhìn xem các tớ gái khi họ đang nhảy múa, và các chàng trai trẻ khi họ đang vui cười. Và sao lại cười đùa như thế nầy chứ? Vì họ đang chất chứa bông trái quí báu của đất, họ đang thu thập vào nhà kho của họ lúa mì và cỏ lùng không bao lâu nữa sẽ bị thiêu đốt. Và, hỡi anh chị em ơi, có phải chúng ta có bánh dùng cho sự sống đời đời và có phải chúng ta đang vui sướng không? Có phải người đời nầy vui mừng khi lúa gạo thêm nhiều, và có phải chúng ta vui mừng khi: "Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta" không? Kìa, hãy nghe đây! Những khẩu súng của pháo đài khai hoả có nghĩa gì vậy? Tại sao tất cả những cái chuông trong nhà thờ rung lên vậy, giống như thể cả Luân đôn đều nức tiếng vui mừng vậy? Có một vua mới ra đời; vì thế mới có lời chúc tụng nầy, và vì thế những cái chuông được rung lên. A, hỡi Cơ đốc nhân, hãy rung tiếng chuông lòng của quí vị lên đi, hãy hát vang lời chúc tụng trong những bài ca vui mừng nhất của quí vị: "Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta". Hãy nhảy múa đi, hỡi lòng ta, và bày ra những hạt ngọc trai vui sướng! Những giọt huyết trong mạch máu của tôi đang nhảy múa đấy! Ồ! Tất cả những sợi thần kinh của tôi đã biến thành những dây đàn lia, và nguyện sự biết ơn chạm tới quí vị với các ngón tay của hàng thiên sứ! Và hỡi quí vị, lưỡi của tôi, hãy hô to lên — hãy hô to lên với lời ngợi khen Đấng đã phán cùng quí vị — "Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta". Hãy lau sạch nước mắt đi! Hãy đến, hãy thôi hát xướng! Hãy thôi, đừng xì xầm nữa. Có chuyện gì với tình trạng nghèo khó của quí vị vậy? "Một con trẻ sanh cho quí vị" kìa. Có việc gì với tật bịnh của quí vị vậy? "Một con trai ban cho quí vị" kìa. Có việc gì với tội lỗi của quí vị thế? Vì con trẻ nầy đã cất bỏ tội lỗi đi, và Con Trai nầy sẽ thanh tẩy và làm cho quí vị xứng hiệp để sống trong thiên đàng. Tôi nói, nếu quả thực vậy, "Hãy ngước cao tấm lòng lên, hãy cất cao giọng hát lên, hãy lớn tiếng vui mừng! Hỡi các thánh, hãy vui mừng đi!”
Nhưng, một lần nữa, nếu quả thực vậy, thì việc gì xảy ra nào? Tại sao tấm lòng của chúng ta nguội lạnh chứ? Và tại sao chúng ta làm quá ít cho Ngài là Đấng đã làm rất nhiều cho chúng t? Chúa Jêsus ơi, Ngài có thuộc về con không? Con có được cứu không? Làm thể nào con yêu Ngài quá ít như thế chứ? Tại sao khi con rao giảng, con chẳng ở trong tình trạng sốt sắng nhất, và khi con cầu nguyện con chẳng thấy thiết tha hơn? Sao chúng ta dâng quá ít cho Đấng Christ là Đấng đã phó mình vì chúng ta? Sao chúng ta phục vụ Ngài cách buồn bã thế trong khi Ngài là Đấng phục vụ chúng ta thật là trọn vẹn? Ngài đã phó mình cách trọn vẹn; sao chúng ta chỉ hiến cho Ngài có từng phần và chiếu lệ? Chúng ta cứ tiếp tục hy sinh cho bản ngã mà không hy sinh cho Ngài?
Ôi hỡi anh em yêu dấu ơi, hãy dâng mình sáng nay đi. Anh em nhận được gì từ thế gian vậy? Có người nói: "Ồ, tôi chẳng nhận được gì hết; tôi nghèo thiếu và chẳng có xu nào, mà còn vô gia cư nữa". Hãy dâng chính mình cho Đấng Christ. Quí vị đã nghe kể câu chuyện về các học trò cùng với một triết gia người Hy lạp. Vào một ngày kia, khi có thông lệ dâng quà cho nhà hiền triết nầy. Có học trò đến dâng vàng cho ông. Học trò khác thì không đem vàng mà chỉ đem cho ông bạc. Có học trò dâng cho ông chiếc áo dài, và học trò khác kém hơn, chỉ dâng cho ông thức ăn mà thôi. Thế nhưng có một người trong số họ đi đến, người nầy nói: "Ồ, Thầy ơi, con nghèo lắm, con chẳng có gì để dâng lên cho Thầy, nhưng con muốn dâng một món gì đó tốt hơn mọi thứ đã được dâng lên cho Thầy; thưa Thầy, con xin dâng chính mình con". Bây giờ, nếu quí vị có vàng bạc, nếu quí vị có đầy đủ mọi thứ tốt đẹp trên thế gian nầy, hãy dâng tài sản quí vị có cho Đấng Christ; nhưng hãy cẩn thận đấy, trên hết mọi sự, quí vị hãy dâng chính mình cho Ngài, và nguyện ngày nay quí vị sẽ kêu lên:
"Lạy Chúa yêu dấu, phải chăng con không yêu Ngài?Ôi, hãy dò xét lòng con,Và hãy xua đuổi từng thứ hình tượng bị rủa sả kia đilà thứ dám tranh kình với Ngài.
Phải chăng linh hồn con không yêu mến Ngài?Xin khiến con đừng yêu thích thứ chi khác:Nguyện lòng con chết đi với từng thứ vui đùa,Nguyện Chúa Jêsus đừng ra khỏi nơi ấy".
III. Giờ đây, tôi muốn quí vị phải chú ý thật kỹ lưỡng vào đề tài sau cùng mà tôi sẽ đưa ra ở đây: — NẾU KHÔNG THỰC VẬY, THÌ VIỆC GÌ SẼ XẢY RA? Hỡi quí thính giả yêu dấu ơi, tôi không thể nói quí vị đang ngồi ở đâu — nhưng bất cứ đâu quí vị đang ngồi trong giảng đường nầy, con mắt lòng đang dò xét quí vị, khi chúng tìm gặp quí vị, chúng sẽ khóc về quí vị đấy. A! kẻ bất hạnh đáng thương kia ơi, không có sự trông cậy, không có Đấng Christ, không có Đức Chúa Trời. Chẳng có một sự vui vẻ nào cho quí vị trong mùa Giáng Sinh, chẳng có một con trẻ nào sanh ra cho quí vị hết; chẳng có một Con Trai nào ban cho quí vị cả. Buồn bã là câu chuyện của những người nam người nữ đáng thương, trong suốt tuần lễ trước khi ngã xuống gục chết trên đường phố do đói khát và lạnh giá nghiệt ngã. Số phận của quí vị còn đáng tội nghiệp hơn nữa, tình trạng của quí vị còn khủng khiếp hơn trong ngày mà quí vị kêu la xin một giọt nước để làm mát cái lưỡi đang khô cháy, và điều đó sẽ bị từ khước đối với quí vị; khi quí vị tìm cách để chết đi, vì sự lạnh giá chết chóc tàn nhẫn kia — nó tìm tới quí vị như một người bạn, và quí vị sẽ không tìm được nó. Vì ngọn lửa địa ngục sẽ không thiêu đốt quí vị, sự kinh khủng của nó cũng không ăn nuốt quí vị đâu. Quí vị sẽ ước ao muốn được chết, quí vị sẽ bám lấy sự chết đời đời — chết từng giờ một, thế mà không nhận lãnh được lời cầu xin muốn được chết đó. Tôi sẽ nói gì với quí vị sáng hôm nay? Ôi! Lạy Chúa, xin giúp con nói ra một lời trong kỳ lễ nầy, ngay bây giờ. Hỡi quí thính giả, tôi nài xin quí vị, nếu Đấng Christ chưa thuộc về quí vị sáng nay, nguyện Chúa Thánh Linh giúp cho quí vị làm theo những gì tôi bảo quí vị hãy làm theo. Trước hết, hãy xưng ra tội lỗi của mình; đừng xưng vào tai, đừng xưng vào tai của bất kỳ một người nào sống. Hãy bước vào phòng của mình, rồi xưng rằng quí vị là ô uế. Hãy trình với Ngài quí vị là một con người khốn khổ không làm chi được nếu không có ân sũng vô đối của Ngài. Nhưng đừng nghĩ có công trạng gì trong sự xưng tội nhé! Chẳng có công trạng gì hết đâu. Mọi lời xưng nhận của quí vị không đáng với sự tha thứ đâu, dù Đức Chúa Trời đã hứa tha thứ cho người nào xưng ra tội lỗi mình và lìa bỏ nó. Hãy tưởng tượng người chủ nợ có một con nợ mắc nợ ông ta cả ngàn đồng xem. Ông ta gọi hắn đến rồi nói: "Ta đòi tiền của ta lại". Nhưng, người kia đáp: "Tôi đâu có mắc nợ ông". Người đó sẽ bị bắt rồi bị ném vào tù. Tuy nhiên, chủ nợ của hắn nói: "Ta ao ước muốn tỏ ra lòng thương xót với ngươi, hãy đưa ra lời xưng tội đi, và ta sẽ tha hết mọi nợ nần cho ngươi". Người kia đáp: "Được thôi, tôi công nhận rằng tôi mắc nợ ông hai trăm đồng". Ông kia nói: "Không, bấy nhiêu chưa đủ". "Được thôi, thưa ông, tôi nhận rằng tôi nợ ông năm trăm đồng", và rồi hắn ta đi tới chỗ xưng nhận rằng mình đã mắc cả ngàn đồng. Có công trạng gì trong sự xưng tội đó không? Không; nhưng quí vị có thể nhận thấy rằng không một chủ nợ nào sẽ nghĩ tới chỗ tha một số nợ chưa được nhìn nhận đâu! Ít nhất quí vị có thể làm, là công nhận tội lỗi của mình; và dù chẳng có công cán gì trong sự xưng tội, thế mà lời hứa lại là thật, Đức Chúa Trời sẽ ban cho quí vị sự tha thứ qua Đấng Christ. Đây là một lời khuyên. Tôi nài xin quí vị hãy tiếp lấy lời khuyên đó. Quí vị sẽ ném lời khuyên ấy theo ngọn gió chăng!?! Đừng để lời khuyên ấy lại khi quí vị rời khỏi giảng đường nầy. Hãy đem nó theo với quí vị, và nguyện ngày nầy trở thành một ngày xưng tội với nhiều người trong số quí vị. Nhưng kế đó, khi quí vị đã đưa ra lời xưng tội rồi, tôi nài xin quí vị hãy đoạn tuyệt với cái tôi của mình. Quí vị sẽ được yên nghỉ có lẽ trong một sự hy vọng nào đó có thể làm lòng quí vị cảm thấy khá hơn, và nhờ đó mà cứu lấy mình. Hãy bỏ đi sự tưởng tượng hư không ấy. Quí vị đã nhìn thấy con tằm rồi: nó sẽ quay tơ, nó sẽ quay tơ, và quay tơ, rồi nó sẽ chết ở chỗ nó kéo thành kén. Và những việc lành của quí vị chỉ là một sự kéo kén cho bản thân mình, một chiếc áo dài cho linh hồn gục chết của quí vị. Quí vị có thể chẳng làm chi hết bởi những lời cầu nguyện hay nhất, các giọt nước mắt đẹp nhất, hay các việc làm xuất sắc nhất, để xứng đáng với sự sống đời đời. Sao chứ, Cơ đốc nhân nào đã quay trở lại đạo với Đức Chúa Trời, sẽ nói cho quí vị biết rằng người ấy không thể tự mình sống một đời sống thánh khiết đâu. Nếu con tàu trong đại dương không thể tự mình lái ngay thẳng được, quí vị có nghĩ cây gỗ nằm trong cây thước đo của người thợ mộc có thể tự mình đo đạc, và biến mình thành một chiếc tàu, rồi lao ra biển và dong buồm sang nước Mỹ sao? Đúng vậy, đấy chỉ là điều quí vị tưởng tượng ra mà thôi. Cơ đốc nhân nào là thợ đóng tàu của Đức Chúa Trời sẽ không làm chi hết, thế mà quí vị lại nghĩ quí vị có thể làm được một việc gì đó quan trọng. Bây giờ, hãy từ bỏ cái tôi đi. Nguyện Đức Chúa Trời giúp cho quí vị gạch bỏ bằng một lằn mực đen ngang qua từng ý tưởng về những gì quí vị có thể làm được.
Cuối cùng, tôi cầu nguyện xin Đức Chúa Trời giúp cho quí vị có mặt ở đây, hỡi quí thính giả yêu dấu của tôi ơi, khi quí vị xưng nhận tội lỗi của mình rồi từ bỏ mọi hy vọng tự cứu lấy mình, hãy đi đến nơi mà Chúa Jêsus đã chịu chết trong sự thương khó. Khi ấy, hãy đến với đồi Gôgôtha mà suy gẫm. Ngài bị treo ở đó. Chính cây thập tự ở giữa trong ba cây thập tự. Tôi cho rằng tôi đang nhìn thấy Ngài trong lúc bây giờ. Tôi nhìn thấy gương mặt đau đớn của Ngài bị hốc hác, và nét mặt của Ngài đau đớn biết dường nào. Tôi nhìn thấy những giọt huyết nhỏ vẫn còn đọng lại trên thân thể Ngài — dấu hiệu của mũi gai đâm thủng da thịt Ngài. A, tôi nhìn thấy thi thể Ngài trần trụi — trần truồng xấu hổ. Chúng ta có thể kể hết bộ xương của Ngài. Hãy nhìn thấy ở đó hai bàn tay Ngài bị rách với sắt nóng, và hai bàn chơn Ngài bị rách nát với những mũi đinh. Những mũi đinh đã xuyên qua da thịt Ngài. Bây giờ, không những là cái lỗ mà mũi đinh đã đâm thủng qua, mà gánh nặng thân thể Ngài trì xuống trên hai bàn chân Ngài, và hãy nhìn thấy sắt đang xé rách da thịt Ngài. Còn giờ đây, gánh nặng của thân thể Ngài treo trên hai cánh tay Ngài, và các mũi đinh ở đó xé toạc các sợi gân của Ngài. Hãy nghe đây! Đất khá run rẩy! Ngài kêu lên: "Êli, Êli, lama sabáchtani?" Ôi hỡi tội nhân, có bao giờ rên rĩ như thế chưa? Đức Chúa Trời đã quên phứt Ngài. Đức Chúa Trời của Ngài đã thôi không còn gia ơn cho Ngài nữa. Linh hồn Ngài buồn thảm lắm cho tới chết. Nhưng hãy nghe đây, một lần nữa, Ngài kêu lên: "Ta khát!" Hãy dâng nước lên cho Ngài! Hãy dâng nước lên cho Ngài! Hỡi những người nữ thánh khiết kia, hãy cho Ngài uống đi. Mà không, những kẻ giết Ngài đã hành quyết Ngài. Họ đưa vào miệng Ngài miếng bông đá pha lẫn với giấm. Sau cùng, hỡi tội nhân , hãy nghe Ngài, vì đây là sự trông cậy của quí vị. Tôi nhìn thấy Ngài gục đầu xuống. Vua của thiên đàng đang gục chết. Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên thế gian đã trở thành người, và con người ấy sắp sửa thở hơi sau cùng. Hãy nghe Ngài kìa! Ngài đang kêu lên: "Mọi sự đã được trọn!" và Ngài trút linh hồn. Sự cứu chuộc đã được trọn, giá chuộc đã được trả, giá bằng huyết đã đổ ra, của lễ đã được tiếp nhận. "Mọi sự đã được trọn!" Hỡi tội nhân, hãy tin theo Đấng Christ. Hãy trao mình cho Ngài. Hãy dầm thấm hay bơi lội, hãy tiếp lấy Ngài làm mọi sự trong mọi sự của mình. Bây giờ, hãy vòng hai cánh tay run rẩy ôm lấy thân thể nhuộm đầy máu đó. Giờ đây, hãy ngồi xuống nơi chân thập tự giá kia, và hãy cảm nhận tiếng rơi của huyết quí báu ấy. Rồi khi quí vị ra về, mỗi một người trong quí vị hãy nói trong lòng mình:
"Một con sâu tội lỗi, yếu đuối, và vô dụng,Tôi ngã vào vòng tay tử tế của Đấng Christ,Ngài là sức lực và sự công bình của tôi,Chúa Jêsus là của tôi, và là mọi sự của tôi".
Nguyện Đức Chúa Trời gia ơn cho quí vị để thốt ra mấy lời nầy vì cớ Đức Chúa Jêsus Christ. Nguyện ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta, tình yêu thương của Đức Chúa Trời, và mối tương giao của Đức Thánh Linh, ở cùng hết thảy quí vị, từ đời đời cho đến đời đời. Amen và Amen.
****

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét