Thứ Hai, 18 tháng 1, 2010

Manase



Manase
Giảng sáng
Chúa nhựt ngày 30 tháng 11 năm 1856, Bởi Mục sư C. H. Spurgeon tại giảng đường Music Hall, Royal Surrey Gardens.
"Khi ấy Ma-na-se nhìn biết Giê-hô-va là Đức Chúa Trời" — II Sử ký 33.13.
MANASE là một trong những nhân vật khác thường nhất, toàn bộ lịch sử của Manase được viết ra trong những trang giấy thánh. Chúng ta có thói quen nhắc tới tên của ông trong danh sách những kẻ phạm tội trọng, và rồi tìm được ơn thương xót cả thể. Bên cạnh Saulơ người Tạtsơ, với nữ tội nhân, là người đã rửa chơn Chúa Jêsus bằng nước mắt, và lau sạch hai bàn chân ấy bằng tóc trên đầu của mình, và với tên cướp đã gục chết trên thập tự giá — một tội nhân được tha thứ vào giờ thứ 11 — chúng ta sẽ đề tên của Manase, là kẻ đã "làm đổ máu vô tội rất nhiều", thế mà đã được tha thứ, đã tìm được ơn thương xót nhờ huyết của một Cứu Chúa khi ấy chưa chịu chết, nhưng là Đấng Đức Chúa Trời đã dự kiến trước sẽ chết, và công trạng sinh tế của Ngài đã được gắn cho một kẻ phạm tội trọng như Manase.
Không cần phải giới thiệu chi nhiều, chúng ta sẽ bước vào lịch sử của Manase sáng hôm nay, và xem xét ông ở ba vấn đề. Thứ nhứt, là một tội nhân, tiếp đến là một kẻ vô tín, và thứ ba, là một người trở lại đạo. Rất có thể là đã có một Manase nào đó ở trong bốn bức tường nầy ngay bây giờ; và nếu trong phần mô tả trường hợp của vị vua nầy của Israel, tôi sẽ mô tả ông ở một cấp độ nào đó, tôi tin người ấy sẽ đặt bản thân mình vào các lẽ thật đầy yên ủi, là các phương tiện đã yên ủi Manase khi còn ở trong nhà ngục ăn năn.
I. Thứ nhứt, chúng ta sẽ xem xét MANASE TRONG TỘI LỖI CỦA NGƯỜI.
1. Trước tiên, chúng ta hãy lưu ý rằng ông thuộc về giai cấp tội nhân, những kẻ đứng đầu đội ngũ của tội ác — nghĩa là, những kẻ phạm tội nghịch lại sự sáng lớn, nghịch lại sự giáo huấn tin kính và dạy dỗ khi còn nhỏ. Manase là con trai của Êxêchia, một người đã có một số lỗi lầm, song về người Kinh Thánh có chép: "Người đã làm điều thiện ở trước mặt Đức Giêhôva". Với một cấp độ lớn lao ông đã bước đi trước mặt Đức Chúa Trời với một tấm lòng trọn vẹn, thậm chí giống như cha ông là David đã bước đi vậy. Chúng ta không cho rằng ông đã chễnh mãng trong việc giáo dục Manase con trai mình. Ông có con trong lúc tuổi đã già. Quí vị sẽ nhớ lại, khi ông lâm trọng bịnh Đức Chúa Trời đã hứa với ông rằng ông sẽ được ban thêm 15 tuổi nữa. Ba năm sau biến cố đó, Manase đã chào đời, chính vì thế mà ông mới 12 tuổi thì thân phụ ông đã qua đời; ông đã đủ tuổi để ghi nhớ những lời cầu nguyện tin kính của một người cha và một người mẹ, và đã đến tuổi trưởng thành đủ để hiểu thế nào là phải trái, và đã lãnh hội các cảm xúc sớm sủa đó mà chúng ta tin, trong hầu hết các trường hợp, là có ích lợi nhiều cho cuộc sống sau nầy. Và tuy Manase đã hạ thấp những gì cha ông đã gây dựng, và đã dựng lên các chùa miễu mà cha ông đã đánh hạ. Bây giờ, đây là một sự thật rất hiển nhiên, những kẻ nào phạm sai lầm sau khi được dạy dỗ đúng đắn, là hạng người tệ hại nhất trong thế gian. Quí vị có thể không biết, song đây là sự thực, kẻ giết gia đình William ở Erromanga, hắn đã gây ra vụ án bằng các việc làm gian ác của một lái buôn lưu manh mới nhập vào đảo, và hắn cũng là con trai của một vị giáo sĩ. Hắn chẳng có chút thương xót gì trong các thói quen của hắn, và đã đối xử với cư dân trên đảo với những hành động dã man, tàn ác, đến nỗi họ đã báo thù cách xử sự của hắn trên người da trắng kế đó vừa đặt chân lên hòn đảo của họ; và gia đình William đáng thương kia, một trong những nhà tuận đạo cuối cùng, đã chết như nạn nhân của tội ác của kẻ đã đến đảo trước ông ấy. Con người tồi tệ nhất trong loài người là những kẻ mang lấy nhiều sự sáng, mà vẫn sống lạc sai. Quí vị sẽ thấy giữa vòng những tay vô địch lỗi lạc nhất của trại quân địa ngục, là những con người được trui rèn và dạy dỗ trong chính hàng ngũ của chúng ta. Không cần thiết lắm để tôi nhắc tới tên tuổi của họ; thế nhưng bất kỳ ai trong quí vị cũng đều quá quen thuộc với những người đang là cấp lãnh đạo bất trung trong thời hiện tại, ngay lập tức sẽ công nhận sự thực nầy. Và hạng người thể ấy đã từng đưa ra những thái độ bội tín tệ hại nhất; trong khi những Cơ đốc nhân gương mẫu nhứt thường xuất thân từ hạng tội nhân tệ hại nhứt. John Bunyans của chúng ta đã xuất thân từ quán rượu, từ trường chơi bowling, hay những nơi cặn bã thấp hèn; hạng người gương mẫu nhứt của chúng ta đã xuất thân từ những chỗ tệ hại nhất, và người xuất sắc nhứt ra từ hạng tội nhân đã giác ngộ, vì bản thân họ đã bước vào cũi chó, và đã được cọ rửa bằng huyết thanh tẩy của Cứu Chúa. Và cũng thực như thế, kẻ tệ hại nhất trong số kẻ thù của Đấng Christ là những con người từng được trưởng dưỡng giữa vòng chúng ta, và giống như con rắn đời xưa, là thứ người làm ruộng ấp ủ trong ngực mình, đã quay trở lại cắn vào lồng ngực từng ấp ủ chúng. Một người thể ấy chính là Manase.
2. Trong chỗ kế tiếp, Manase một tội nhân, là một con người rất can đảm. Ông là một trong những người đó, họ không phạm tội cách lén lút, mà họ, khi phạm tội, dường như không thấy xấu hổ chút nào, họ đã ra đời với cái trán bằng đồng, và họ ngước mặt nhìn lên trời với thái độ xấc láo và trơ tráo. Ông là một người, nếu ông dựng lên một thần tượng, như quí vị sẽ thấy bằng cách đọc qua chương nầy, ông đã không dựng tượng đó trong một chỗ mờ tối đâu, mà dựng nó ngay trong chính đền thờ của Đức Chúa Trời kìa; rồi khi ông làm cho danh của Đấng Chí Cao mất đi tính thiêng liêng, ông không đi lén vào chùa miễu của mình đâu, ở đó ông đã thờ lạy một vị tà thần, nhưng ông đặt tà thần đó vào trong chính đền thờ, giống như thể lăng mạ Đức Chúa Trời tận mặt Ngài vậy. Ông là một kẻ liều mạng trong tội lỗi, và đã đi hết giới hạn của tội lỗi đó, rất can đảm, và rơi ngay vào chỗ nguy hại. Bây giờ, dù việc đó đúng hay sai, sự can đảm luôn luôn chắc thắng trong lúc ban ngày. Hãy dẫn đến cho tôi một người nhút nhát — quí vị đừng giao cho tôi một cái gì khác; hãy giao cho tôi một người có lòng can đảm, và quí vị giao cho tôi một người có thể làm được một việc gì đó quan trọng, dù là cho lý trưởng của Đấng Christ hay của ma quỉ. Manase là một con người thuộc loại nầy. Nếu ông rủa sả Đức Chúa Trời, thì ông đã rủa sả với một sự lớn tiếng; lời rủa ấy không nằm trong hóc kẹt hay một cái lỗ nào đó đâu, mà ngay trên ngai vàng, ông đã phát ra những lời tuyên bố nghịch lại Đấng Chí Cao, và với một tư thế táo bạo nhất đã sĩ nhục Giêhôva Đức Chúa Trời của Israel. Thế mà, hỡi quí bạn yêu dấu của tôi ơi, con người nầy đã được cứu, cho dù ông ta đã làm hết thảy mọi sự nầy. Tội nhân trầm trọng nhất, con người nầy đã chà đạp lên những lời cầu nguyện của phụ thân mình, ông đã lau sạch khỏi chân mày mình những giọt lệ đã đổ ra ở đó bởi người cha có lòng lo lắng, ông đã kìm hãm những sự thuyết phục của lương tâm mình, rồi với sự can đảm đã lao vào chỗ cùng cực của tội lỗi, và phạm tội trọng, thế mà vào lúc sau cùng, con người nầy bởi ân điển thiêng liêng, đã hạ mình và quì gối xuống công nhận rằng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời duy nhứt. Cho nên, chớ có ai thất vọng về đồng bào của mình. Tôi không bao giờ thất vọng đâu, khi tôi nghĩ suy và hy vọng rằng Đức Chúa Trời giải cứu tôi. Tôi tin chắc rằng, bao lâu tôi có thể sống, tôi sẽ không nhìn thấy một cá nhân nào dám nói: "Người kia là một trường hợp vô vọng". Có lẽ tôi sẽ đến gặp người bị kết và bị cảnh báo như thế, và không còn có những lời ve vản ngọt ngào của lương tâm mình, rằng ông ta đã bị khô héo và chai lì, và kết quả tất nhiên là vô vọng rồi; nhưng tôi sẽ không gặp một người đã phạm tội trầm trọng đến nỗi tôi có thể nói về ông ta là ông ta không thể được cứu. A! không đâu; cánh tay thương xót kia đủ dài để cứu lấy tôi cũng đủ dài để cứu lấy quí vị nữa; và nếu Ngài cứu chuộc quí vị ra khỏi sự quá phạm của quí vị, chắc chắn chẳng có ai chìm sâu hơn quí vị đâu, và vì lẽ đó, quí vị có thể tin rằng cánh tay thương xót sẽ vói lấy họ. Hơn nữa, đừng để cho một người nào thất vọng về bản thân họ. Khi còn có hơi sống thì còn có hy vọng. Đừng phó mình vào hai cánh tay của Satan. Hắn nói cho quí vị biết rằng giấy khai tử của quí vị đã được đóng ấn rồi, rằng số phận của quí vị tiêu rồi, và quí vị sẽ không bao giờ được cứu đâu. Hãy nói cho hắn biết tận mặt rằng hắn là kẻ nói dối, vì Đức Chúa Jêsus Christ "có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy".
3. Một lần nữa, Manase là một tội nhân thuộc đẳng cấp lập dị đó, là thứ mà chúng ta ngờ sẽ không gặp được bao giờ. Ông ta là một trong những người có quyền lực lãnh đạo nhiều người khác tới một chỗ lạc sai khỏi lẽ thật và tôn giáo của Đức Chúa Trời. Vì lẽ đó, ông ta là một vì vua, và có ảnh hưởng sâu rộng; mọi điều ông ta ra lịnh, người ta bèn lo thực hiện răm rắp. Giữa vòng đẳng cấp những kẻ thờ lạy hình tượng Manase đã đứng đầu hàng, và đó là bài ca và là sự vinh hiển của những thầy tế lễ giả mà nhà vua xứ Giuđa đã đặt ngay bên cạnh các tà thần. Ông là một nhà lãnh đạo — người đầu tiên trong chiến trận. Khi quân đội của con người bất kỉnh ấy bước vào chiến trận nghịch lại Đức Chúa Trời của cả đất, Manase đã chỉ huy quân tiên phong và được họ tung hô. Ông là Gôliát cao cả của họ, ông đang thách thức hết thảy quân đội của Đức Chúa Trời hằng sống. Có nhiều người giữa vòng kẻ ác đứng lui lại sau, e sợ chiến trận; nhưng ông không hề sợ hãi. "Vì ông phán, thì việc liền có; ông biểu, thì vật bèn đứng vững bền" rồi vì thế ông đã can đảm và kiêu căng trong khi dẫn dắt nhiều người đi lạc. Vẫn còn có những người như thế đang sinh sống — những người không thoả lòng với việc bước đi trên con đường rộng, nhưng tìm cách dụ dỗ người khác bước vào con đường ấy. Mà nầy, họ năng động dường bao trong mọi nổ lực của họ! Họ đi từ nhà nầy đến nhà khác, rồi phân phát các sản phẩm ô uế và bẩn thỉu; họ sẽ đứng trên các đường phố rồi ra sức vẽ vời chung quanh họ, nào là thanh niên, những người nam người nữ vừa mới ra khỏi nhà của Đức Chúa Trời, hay đi vào nơi thánh của Đức Chúa Trời, nói cho họ biết câu chuyện buồn thảm nói rằng chẳng có Đức Chúa Trời, hay sự lừa dối buồn bã rằng chẳng có tương lai, nhưng hết thảy chúng ta đều sẽ chết giống như loài chó và gánh chịu sự huỷ diệt. Có một số người thể ấy dường như không hề thấy thoả lòng trừ phi khi họ dẫn dắt người ta đi sai lạc. Đi một mình chống nghịch Đức Chúa Trời đối với họ là chưa đủ, nhưng họ phải phạm tội theo số đông. Giống như người nữ trong sách Châm ngôn, họ săn tìm mạng sống quí báu, và như loài chó săn khát máu, họ đang tìm cách theo đuổi con người ta để huỷ diệt họ. Xã hội thời bây giờ giống như Prometheus, ở một cấp độ lớn lao, trói tay chân lại bằng chính các tục lệ vây quanh nó và giống như Prometheus, chúng ta đang có trên chúng ta con chó săn có cánh của địa ngục, nó bắt lấy tấm lòng của chúng ta rồi nuốt trọng linh hồn của chúng ta. Tôi muốn nói chúng ta có sự bất trung đáng nguyền rủa đó, nó tìm cách dẫn người ta xa khỏi Đức Chúa Trời rồi lái họ ra khỏi Đấng dựng nên họ. Nhưng, mặc dù vậy, các nhà lãnh đạo giữa vòng họ đã được cứu. Manase, vị lãnh tụ của những kẻ thù ghét Đức Chúa Trời, đã hạ mình xuống, và đã được dấy lên để yêu mến Đấng Chí Cao.
Quí vị đã hỏi tôi nhưng trường hợp như thế có từng xảy ra trong lúc bây giờ không? Tôi đáp: vâng, thưa có đấy; cũng hiếm khi, nhưng chúng đang xảy ra. Mới hôm qua tôi đã nhận được một chuyện làm cho lòng tôi vui lắm, và khiến cho tôi phải ngợi khen Đức Chúa Trời mình, dù có bất cứ một sự ngăn trở nào, Ngài vẫn khiến tôi ra hữu dụng phần nào trong thế gian. Tôi có nhận được một bức thư dài từ thành phố kia gửi tới, do một người từng là một trong các cấp lãnh đạo của cộng đồng ở nơi đó. Tác giả viết: "Tôi có mua một trong những quyển sách mỏng với đề tựa: 'Ai là Spurgeon nầy?' và cũng có bức ảnh của ông nữa với 3USD. Tôi đem chúng về nhà, rồi trưng bày ở một cửa sổ trong tiệm của tôi. Tôi có một cảm xúc thích chế giễu nên đã làm như thế. Thật tự nhiên, đề tựa của quyển sách lại có tính châm biếm, và đặc biệt cảm xúc ấy kích động khiến cho tôi phải gắn quyển sách cùng tấm ảnh của ông ra nơi cửa sổ nhà tôi. Nhưng tôi cũng có một món đồ khác để nhìn xem nữa. Tôi nghĩ bởi sự hấp dẫn của nó sẽ làm cải thiện cách làm ăn của tôi. Tôi chẳng có phần gì trong việc buôn bán sách báo, là điều cần phải trưng bày quyển sách đó ra và động lực của tôi càng dễ nhìn thấy hơn. Giờ đây tôi đã đem quyển sách đó xuống. Tôi cũng xuống theo nó nữa. * * * Tôi đã mua một trong các bài giảng của ông nói về một kẻ vô đạo cách đây một hai ngày. Trong bài giảng ấy, tôi đọc mấy câu nầy. — 'Họ cứ tiếp tục; bước đi ấy thật an ninh — họ cứ bước tới; bước kế tiếp cũng được an ninh — họ cứ bước tới; bàn chân của họ đang bước qua một vực sâu tối tăm'. Tôi đọc tiếp, nhưng chữ tối tăm đã làm cho tôi phải giật mình. Khi ấy bầu trời cũng rất tối tăm bên trên tôi. 'Thực vậy, con đường dài dường an ninh lắm, nhưng tôi đã bị lạc mất trong nỗi hoang mang. Không, không, không, tôi không dám đi tới nữa'. Tôi đã rời khỏi ngôi nhà mà tôi đã trầm ngâm trong đó, và tôi đã suy gẫm như thế, ba chữ: 'Ai nói được?' dường như đang thì thào trong lòng tôi. Tôi quyết định không để cho một ngày Chúa nhựt nào trôi qua mà không đi tới chốn thờ phượng. Không bao lâu nữa thì linh hồn tôi sẽ bị đòi lại thì tôi chưa biết, nhưng tôi cảm thấy đó là phương tiện, là nền tảng, đừng để cho nó có một cơ hội. Được thôi, bạn bè tôi sẽ nhạo cười, khi dễ, họ gọi tôi là hèn nhát, không lập trường, tôi sẽ thực thi một hành động công bình cho linh hồn tôi. Tôi đi lên giảng đường; tôi vừa ngớ ngẩn với sợ hãi. Tôi muốn gì ở đó chứ? Người giữ cửa nhướng con mắt của ông ta lớn thêm một chút, rồi vô tình hỏi: 'Có phải Ông là… — có phải không?' 'Phải rồi đấy', tôi nói: 'đúng rồi đó'. Ông ta đưa tôi đến một chỗ ngồi, rồi sau đó đưa cho tôi một quyển thánh ca. Tôi bần thần với lo âu. Tôi nghĩ: 'Bây giờ, tôi đang ngồi ở đây, nếu đây là nhà của Đức Chúa Trời, thiên đàng chấp nhận tôi là một khán thính giả, và tôi sẽ đưa ra một sự đầu phục trọn vẹn. Ôi hỡi Đức Chúa Trời, xin tỏ cho con thấy một dấu hiệu bởi đó con nhận biết Ngài đang hiện diện, và Ngài sẽ không ném bỏ kẻ tội đồ nầy dám mạo hiểm tìm kiếm mặt Ngài và ơn thương xót của Ngài'. Tôi mở quyển thánh ca ra làm cho lý trí tôi không còn nghĩ tới những cảm xúc kia nữa, và câu hát đầu tiên đập vào mắt tôi là:
"Tối tăm, tối tăm, quả thực mồ mả tăm tối lắm,Ngoài Ngài,
chúng con chẳng thấy chút sáng sủa nào'"
Sau khi nhận định một số điều mà ông ấy xem là bằng chứng cho thấy mình là một người mới trở lại với tôn giáo thật, ông ấy kết thúc bằng câu nói: "Ồ thưa ông, xin thuật lại điều nầy cho kẻ khốn khổ đáng thương nào có tánh kiêu ngạo, giống như tôi vậy, đã khiến cho người đó gắn bó với địa ngục; xin thuật lại điều nầy cho kẻ nào chần chừ và cho kẻ hèn nhát; xin thuật lại điều nầy cho Cơ đốc nhân nào nguội lạnh, rằng Đức Chúa Trời là sự cứu giúp trong chính hiện tại cho hết thảy những ai đang có cần. Hãy suy nghĩ tới gã tội nhân đáng thương chưa bao giờ nhìn thấy ông trong thế gian nầy, nhưng gã sẽ sống để chúc phước và cầu thay cho ông ở đây, và ao ước được gặp ông trong thế giới không còn có nghi ngờ tội lỗi, không còn có kiêu ngạo của con người, và không còn có tấm lòng muốn tái phạm nữa". A, ông ấy không hỏi xin sự tha thứ của tôi; tôi rất vui sướng, quá vui sướng, trong hy vọng được gọi ông ấy là "anh em" trong Hội Thánh Cơ đốc. Bức thư nầy đến từ một nơi cách nhiều dặm đường đối với thành phố nầy và từ một người không có một chỗ đứng nhỏ nhoi nào giữa vòng các đẳng cấp của những kẻ thù ghét Đấng Christ. A! đã có Manase đã được cứu, và ở đó cũng có người sẽ được cứu như thế. Đã có những kẻ thù ghét Đức Chúa Trời, họ đã nhảy nhót vui mừng, và nói —
"Tôi đã được tha thứ, tôi đã được tha thứ,Tôi là một phép lạ của ân điển",
và đã hôn hai bàn chân mà họ từng khinh dễ, chế nhạo, và chẳng muốn nghe nhắc tới.
Có một sự thực về Manase tỏ rõ ông là một ông hoàng của hạng tội nhân, nghĩa là: "đưa con cái mình qua lửa, tại trong trũng con Hi-nôm" và dâng các con trai mình cho Tôphết. Đây là một trọng tội; vì dầu Manase đã ăn năn, chúng ta thấy rằng con trai ông là Amôn đã noi theo các bước chân của cha mình trong sự gian ác, chớ không noi theo sự công bình của ông đâu. Hãy lắng nghe! "Khi A-môn lên làm vua, tuổi được hai mươi hai; người cai trị hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, y như Ma-na-se, cha người, đã làm. Người đi theo y một đường của cha người, hầu việc hình tượng mà cha người đã hầu việc, và quì lạy trước mặt chúng nó; nhưng người càng thêm phạm tội". Con cái sẽ bắt chước tổ phụ của mình nơi các tật xấu, đôi khi bắt chước theo sự ăn năn của họ; nếu cha mẹ phạm tội, con cái của họ sẽ noi theo họ, không phải nghi ngờ chi nữa; nhưng khi họ ăn năn và trở lại với Đức Chúa Trời, thật không dễ dàng gì khi hướng dẫn một đứa trẻ quay trở lại con đường mà nó từng bỏ quên. Có người nào ở đây, giống như người Carthaginian xưa kia, đã dâng con trai họ cho sự đối kháng của kẻ thù họ. Quí vị nhớ không, có một người đã dâng con trai mình là Hannibal từ lúc mới sinh để trở thành kẻ thù đời đời của người La mã. Có thể có một người thể ấy ở đây, là người đã dâng dòng dõi mình cho Satan, để trở thành kẻ thù đời đời của tin lành Đấng Christ, và đang tìm cách huấn luyện, dạy dỗ nó theo một đường lối ngược lại với sự kính sợ Chúa. Phải chăng một người thể ấy đang sống trong vô vọng? Tội lỗi của người rất ghê khiếp, tình trạng của người là u ám, tội lỗi của người nếu không ăn năn chắc chắn sẽ kết tội người; nhưng bao lâu người còn sống ở đây, chúng ta vẫn sẽ rao giảng sự ăn năn cho người, với sự nhận biết rằng Manase đã đạt tới mức nhìn biết Đức Chúa Trời, và đã được tha thứ hết mọi tội lỗi của người rồi.
II. Phương diện thứ hai trong đó chúng ta sẽ xem xét Manase như là một KẺ VÔ TÍN; vì câu chuyện cho thấy rằng Manase không tin Giêhôva là Đức Chúa Trời duy nhứt; vì thế, ông là một người tin theo nhiều tà thần, nhưng là một kẻ vô tín, trong khi lẽ thật vẫn sờ sờ ra đó. Bây giờ, điều nầy chưa đánh thẳng vào quí vị ngay từ đầu sao? Ấy là khi Manase là một kẻ vô tín đối với lẽ thật, ông ấy là một con người rất cả tin khi tin theo các thần tượng vốn có tính tưởng tượng của người theo tà giáo. Thực vậy, những người rất cả tin trong thế gian đều là những kẻ vô tín. Dù đức tin có khải thị cả ngàn lần thì người ta vẫn trở thành kẻ vô tín hơn là người có lòng tin. Có người đến gặp tôi rồi thuật cho tôi nghe: “Tôi là người nhẹ dạ, vì tôi tin nơi Cái Nhân Đầu Tiên là Đấng đã dựng nên trời và đất, và Đức Chúa Trời đã trở thành con người rồi chịu chết vì cớ tội lỗi”. Tôi nói cho ông ta biết có thể tôi là thế đó, và không nghi ngờ chi nữa tôi rất cả tin, khi ông ấy hiểu được sự cả tin đó, nhưng tôi hiểu rằng điều tôi tin đang nằm trong sự kiên định trọn vẹn với lý lẽ của tôi, và vì thế tôi đang nhận lãnh đức tin ấy. Ông ta nói: “Nhưng, tôi không cả tin đâu — không đâu". Thưa ông, tôi nói, tôi muốn hỏi ông một vấn đề. Ông không tin thế gian được dựng nên bởi Đức Chúa Trời sao? "Không". Tôi dám chắc ông là một kẻ cả tin rồi đấy. Ông có nghĩ quyển Kinh Thánh nầy hiện hữu mà chẳng có ai làm ra nó chăng? Nếu ông dám nói tôi cả tin vì tôi tin quyển sách ấy có một người in và một người đóng sách, tôi sẽ nói ông còn cả tin, nhẹ dạ hơn tôi rất nhiều, nếu ông dám chắc với tôi rằng quyển sách có người làm ra nó. Và ông có thể nói cho tôi biết một trong các lý thuyết của ông về sự sáng tạo — rằng nguyên tử trôi nổi trong không gian, rồi đến chỗ trở thành một hình thể nào đó, tôi sẽ cam chịu cùng một cái giải nhẹ dạ với ông ngay. Có lẽ ông tin rằng con người đã có mặt trong thế gian nầy qua sự biến cải của các tạo vật nào đó. Ông nói, tôi đã đọc thấy rằng đã có những đơn bào — các đơn bào ấy tự biến cải cho tới chừng chúng trở thành vi sinh vật nhỏ bé — sau đó chúng phát triển thành loài cá — loài cá ấy muốn bay, và rồi hai cánh mọc ra — và dần dần chúng muốn bò, rồi hai chân mọc ra, và chúng trở thành con thằn lằn, rồi bởi nhiều bước nữa chúng trở thành loài khỉ, tiếp đến con khỉ trở thành người, và quí vị tin mình là dòng dõi người Đức. Bây giờ, có thể tôi rất cả tin, nhưng thực sự không đến nổi cả tin giống như ông đâu. Có thể tôi tin vào những điều rất lạ lùng; có thể tôi tin như thế, với cái hàm lừa, Samsôn đã giết cả ngàn người; có thể tôi tin quả đất đã bị nước lụt tràn ngập, và nhiều việc lạ lùng khác nữa, như ông gọi chúng; Cần phải có một thứ đức tin chai lì nhất trong thế gian mới dám chối bỏ Kinh Thánh, vì con người, trong chỗ kín nhiệm của lòng họ, biết đấy là sự thực, và, hãy đi bất cứ đâu quí vị muốn, có cái gì đó sẽ thầm thì với họ: "Ngươi sẽ sai lầm — có lẽ ngươi đang sai lầm rồi", và người ấy chỉ còn nói như sau: "Hãy nằm xuống đi, hỡi lương tâm! Hãy nằm xuống đi mà; ta không để cho ngươi nói đâu, hoặc ta không thể phát ra bài giảng vào ngày mai, ta không thể đến với bạn bè, ta không thể vào một câu lạc bộ nầy…nầy; vì ta không thể kềm giữ được lương tâm, nếu ta không đủ sức giữ lấy một Đức Chúa Trời".
Còn bây giờ cho phép tôi nói cho quí vị biết những gì tôi suy hiểu để làm lý lẽ cho thấy tại sao Manase là một kẻ vô tín. Trong chỗ thứ nhứt, tôi hiểu rằng quyền phép không giới hạn mà Manase đã có, nó có khuynh hướng rất lớn biến ông thành một kẻ không chịu tin theo Đức Chúa Trời. Tôi không lấy làm lạ nếu một người có tính chuyên quyền với quyền quản trị tuyệt đối, sẽ từ chối Đức Chúa Trời; tôi nghĩ việc nầy thật là tự nhiên. Quí vị nhớ lại lời nói đáng nể của Napoleon đi! Người ta nói ông là nhân vật đó, còn Đức Chúa Trời thì khác. Napoleon nói: "A! tôi đề xuất và cũng là người giải quyết nữa”, rồi tại nơi ấy ông ta đã kiêu căng tự gán mình vào chỗ quyền uy tối thượng của Đức Chúa Trời. Chúng ta chẳng lấy làm lạ về sự kiện nầy, bởi vì những chiến thắng của ông đã thành công nối tiếp nhau, lòng dũng cảm của ông thật hoàn toàn, danh tiếng ông nổi như cồn, và quyền lực của ông tuyệt đối hơn hẳn các đối tượng của mình. Quyền lực luôn luôn, theo tôi tin, trừ phi ân điển đang cai quản trong tấm lòng, có một khuynh hướng dẫn chúng ta tới chỗ chối bỏ Đức Chúa Trời. Chính cái trí khôn tưởng chừng cao siêu kia của một nhân vật thể ấy, nó dẫn ông ta tới chỗ biện luận; ông ta có hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy lần, đi tới muốn độc tôn trong trường tranh luận; ông ta nhìn quanh rồi nói: "Ta đây, chẳng có ai bên cạnh ta; ta sẽ dấy lên tới chỗ mà ta muốn, ta có thể giữ lấy địa vị đó; chẳng có ai dám đứng chống lại sự biện bác khôn khéo của ta; ta sẽ ban cho người một nhát kiếm, chắc chắn ta sẽ thắng hơn người ấy"; và kế đó, giống như Tấn sĩ Johnson, là người thường nắm lấy chỗ thắc mắc mà ông không tin, chỉ vì ông thích đoạt lấy phần thắng nào mà khó thắng, ông làm thế để mấy người kia thấy rằng điều họ tin là sai, vì họ hiểu điều đó cung ứng cho họ cơ hội tốt nhứt để bày tỏ ra mọi khả năng của họ. Có người khôn ngoan nói: "Cho phép tôi đấu tranh với một Cơ đốc nhân; tôi sẽ làm việc khó nhọc đủ để chứng minh luận điểm của tôi, tôi biết tôi sẽ gặp phải khó khăn khi làm suy yếu đồn luỹ lẽ thật mà người ấy trưng ra hầu nghịch lại tôi; vì vậy tốt hơn là; trong khi phấn đấu như thế và nếu tôi thắng hơn địch thủ của mình, nếu tôi có thể tự minh chứng mình lưu loát hơn người kia, thế thì tôi có thể nói: 'vinh hiển thay khi đấu tranh chống lại một địch thủ với nhiều người bên cạnh, cũng không khác gì hơn một nhà chinh phục". Tôi tin người tài ba nhất trong thế gian rất khó được người ta tin cậy với quyền lực; người ấy sẽ, trừ phi ân điển giữ lấy người, phạm phải cách sử dụng sai lầm quyền lực ấy. Vì vậy, tôi tớ của Đức Chúa Trời có ảnh hưởng nhiều nhất trong hàng tôi tớ của Ngài gần như là kẻ chịu nhiều thử thách nhất, luôn luôn là như vậy, vì Cha thiên thượng của chúng ta biết rằng nếu không có những thử thách và hoạn nạn, chúng ta sẽ bắt đầu tôn mình lên nghịch lại Ngài, và chúng ta ngạo mạn trong vinh quang mà chúng ta không có quyền xưng nhận là của mình.
Nhưng có lý do khác cho thấy tại sao Manase là một kẻ vô tín, ấy là vì ông quá kiêu ngạo. Kiêu ngạo nằm ngay bộ rễ của sự bất trung; kiêu ngạo là cái mầm của sự chống đối Đức Chúa Trời. Con người nói: "Tại sao tôi phải tin chứ? Đứa trẻ học lớp Trường Chúa Nhật đọc Kinh Thánh của ông, và nói Kinh Thánh là sự thực. Còn tôi, một người có trí khôn, ngồi kế bên cạnh nó, và nhận lãnh một việc là thực theo lời tuyên bố chính thức của Lời Đức Chúa Trời sao? Không đâu, tôi sẽ không chịu đâu; tôi sẽ tự mình tìm ra sự thật, và tôi sẽ không tin chỉ vì lời ấy đã được tỏ ra cho tôi, vì tin như thế là tự biến mình thành một đứa trẻ". Rồi khi người ấy mở từng trang khải thị, và đọc như sau: "Nếu ngươi không đổi lại và nên như một đứa trẻ, ngươi sẽ không được vào Nước thiên đàng đâu", người ấy nói: "Chao ôi! Thế thì tôi sẽ không trở lại đạo đâu; tôi không muốn trở thành một đứa trẻ; tôi là một người lớn, và tôi sẽ là một người lớn, và tôi muốn là một người lớn bị hư mất hơn là một đứa trẻ được cứu. Sao tôi lại phải chìu theo như thế, và ngồi đây để tin theo Lời Đức Chúa Trời chứ?" Lời Đức Chúa Trời phán: "Phải, ngươi cần phải trở nên như một đứa trẻ, và nhu mì nhận lãnh Lời của ta". Người ấy nói trong sự tự phụ và kiêu ngạo của mình: "Vậy thì, tôi sẽ không chịu đâu", rồi giống như Satan, người tuyên bố thà cai trị trong địa ngục còn hơn là phục vụ trên thiên đàng, và người bỏ đi như một kẻ vô tín, vì tin là một việc quá hèn mọn.
Nhưng có lẽ lý do có sức thuyết phục mạnh nhất cho sự vô tín của Manase đang nằm ở đây; ấy là ông ưa thích tội lỗi nhiều quá. Khi Manase dựng lên các chùa miễu cho những tà thần của mình, ông đã phạm tội quá dễ dàng, và còn giữ lương tâm của mình; nhưng ông cảm thấy luật pháp của Đức Giêhôva nghiêm khắc đến nỗi nếu ông từng tin theo một Đức Chúa Trời, ông có thể không phạm tội như ông đã phạm tội. Ông đã đọc câu nầy: "Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh; ngươi chớ giết người; ngươi chớ trộm cắp"; và còn nữa. Manase muốn làm theo hết thảy những điều răn nầy, và vì cớ đó ông sẽ không tin, vì ông không thể tin mà cứ giữ tội lỗi của mình. Lý do chính tại sao chúng ta quá vô tín là vì chúng ta ưa thích tội lỗi quá nhiều. Con người sẽ không có Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời đối kháng với tư dục của họ. Họ không thể tiếp tục trong tội lỗi của họ, nếu họ từng tin có một Đức Chúa Trời ở bên trên họ, hoặc đã công khai tin điều đó, vì hết thảy mọi người đều tin điều đó, dù họ nói như thế hay là không; và vì tư tưởng của Đức Chúa Trời kiểm tra họ trong sự vô tín và tư dục của họ, vì thế họ kêu la: "Không có Đức Chúa Trời nào hết", và nói ra câu đó bằng môi miệng của họ cũng như trong tấm lòng của họ vậy. Tôi tin chính điều nầy đã dẫn Manase đến chỗ bắt bớ các thánh đồ của Đức Chúa Trời; vì giữa vòng tội lỗi của ông Kinh Thánh chép: "người đã làm đổ huyết vô tội rất nhiều". Chính lời truyền khẩu của người Do thái cho thấy rằng tiên tri Êsai đã bị cưa ra làm hai bởi Manase, vì cớ Êsai đã quở trách Manase vì tội lỗi của ông ta. Êsai không có thói quen sợ hãi, và ông nói với nhà vua biết về tình trạng tư dục của ông ta, và vì lẽ đó đã đặt ông vào giữa hai tấm ván, Manase đã cưa ông ra làm hai từ đầu đến chân. Đây đúng là lý do tại sao con người thù ghét Đức Chúa Trời, và ghét bỏ các tôi tớ Ngài, vì chân lý quá nóng bức đối với họ. Gửi cho quí vị một nhà truyền đạo, ông ta sẽ chẳng nói cho quí vị biết về tội lỗi của quí vị và quí vị sẽ nghe ông ấy giảng thật là bình an; nhưng khi tin lành đến với quyền phép, thế rồi con người không thể chịu nổi Tin lành đó; khi tin lành ấy đào một đường hầm ngăn khoái lạc đó, tội lỗi đó, hay tư dục đó, thế thì họ sẽ không tin theo Tin lành ấy. Quí vị sẽ tin theo tin lành nếu quí vị chịu tin theo tin lành ấy rồi chừa bỏ tội lỗi của quí vị nữa. Ồ! Có bao nhiêu người tội lỗi say xỉn đã trở thành Cơ đốc nhân, nếu người ấy cứ vừa say xỉn vừa là Cơ đốc nhân!?! Có bao nhiêu kẻ khốn khổ gian ác chịu đổi thành một tín đồ, nếu người chịu tin mà cứ tiếp tục sống trong tội lỗi của mình! Nhưng vì đức tin nơi Đức Chúa Trời đời đời không thể song hành với tội lỗi, và vì tin lành kêu la: "Hãy xuống đi! Hãy xuống đi! Hãy xuống cùng với tội lỗi của ngươi đi", cho nên người ta đã đi vòng quanh rồi nói: "Hãy xuống cùng với tin lành đi". Nói như thế là quá căng thẳng đối với quí vị, Ôi hỡi dòng dõi tội lỗi kia, các ngươi phải xây khỏi tin lành ấy, vì tin lành ấy sẽ không dung chịu tư dục của các ngươi đâu, cũng không chìu theo tội lỗi của các ngươi.
III. Thế là chúng ta đã xem qua Manase là một kẻ vô tín, và giờ đây chúng ta phải đi tới phần cuối khi nhìn xem Manase là MỘT NGƯỜI TRỞ LẠI ĐẠO. Hỡi trời, hãy lắng nghe, và hỡi đất, hãy lắng nghe! Giêhôva Đức Chúa Trời đã phán điều đó. Manase đã được cứu. Ông ta ngồi trên ngôi độc ác vừa ghi danh mình vào một sắc lệnh giết người khác nghịch lại các thánh đồ của Đức Chúa Trời; thế mà ông ta đã hạ mình xuống; ông ta đã cầu xin được thương xót và đã được cứu. Manase lắng nghe mạng lịnh của Đức Chúa Trời; ông ta bật cười. "Sao chứ! Tôi đóng vai kẻ giả hình, và bẻ cong đầu gối của tôi sao? Không bao giờ! Điều nầy không thể được đâu; rồi khi người tin kính lắng nghe chuyện đó, hết thảy họ đều nói: 'Chuyện ấy chẳng có đâu'. Sao hả! Saulơ ở giữa vòng các tiên tri à? Manase được tái sanh à? Manase đã quì gối xuống trước mặt Đấng Chí Cao sao? Chuyện nầy không có đâu". A! chuyện nầy thật là khó đối với con người, nhưng rất là dễ đối với Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời biết phải làm việc ấy như thế nào rồi. Kẻ thù đang ở nơi cổng thành; một vì vua thù nghịch mới vừa đến bao vây các bức tường thành Jerusalem; Manase chạy trốn khỏi cung điện rồi ẩn mình giữa các bụi gai; ông ta bị bắt ở đó, bị dẫn đi làm phu tù sang Babylôn, rồi bị nhốt trong nhà ngục. Và bây giờ chúng ta thấy Đức Chúa Trời có thể làm được việc gì rồi. Nhà vua kia không còn kiêu căng nữa, vì ông ta đã mất hết quyền lực của mình; con người mạnh sức không còn sức mạnh nữa, vì sức mạnh của ông ta đã bị tước mất rồi; và giờ đây trong nhà ngục ẩm thấp kia, hãy lắng nghe ông ta xem. Không còn là kẻ phạm thượng nữa, không còn là kẻ thù ghét Đức Chúa Trời nữa; nhưng hãy nhìn xem ông ta đang lạnh cóng trên sàn nhà kìa! Manase quì trên hai đầu gối của mình, rồi với hai hàng nước mắt lăn dài trên gò má, ông ta kêu lên: "Ôi Đức Chúa Trời ơi! Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi! Một kẻ bị ruồng bò đang đến với Ngài đây; một kẻ đáng bị ở địa ngục đang ném mình xuống dưới bệ chơn của Ngài đây; con, một con quỉ, đầy sự bẩn thỉu, giờ đây đang phô mình trước mặt Ngài! Ôi hỡi Đức Chúa Trời ơi, xin Ngài giáng sự thương xót trên một kẻ tội đồ giống như con đây?" Hỡi thiên đàng, hãy lắng nghe kìa! Hãy lắng nghe một lần nữa đi. Hãy nhìn xem đi, từ bầu trời thiên sứ bay lượn với ơn thương xót trong tay của Ngài. A! Ngài đi tới đâu rồi vậy? Ngài đang đi tới ngục tù xứ Babylôn. Vị vua kiêu ngạo kia đang quì trên hai đầu gối kìa, và ơn thương xót đến thì thầm bên lỗ tai của ông ta — "Hãy hy vọng lên!" Ông ta khởi sự từ hai đầu gối của mình, và kêu la: "Có hy vọng không?" Và ông ta đã phủ phục xuống đất một lần nữa. Ông ta đã từng van nài, và ơn thương xót thì thào lời hứa thật ngọt ngào, được thốt ra bởi Êsai bị giết kia — “Ấy chính ta, là Đấng vì mình ta mà xóa sự phạm tội ngươi; ta sẽ không nhớ đến tội lỗi ngươi nữa. Ồ! Quí vị có nhìn thấy ông ta không? Tấm lòng của ông ta đang lung linh trên ánh mắt của ông ta kìa. Ồ! Ông ta khóc vì vui sướng là dường nào, và lấy làm tiếc vì ông ta đã từng phạm tội nghịch lại một Đức Chúa Trời tử tế như thế. Thêm một phút nữa, và cửa nhà ngục đã được mở toang ra; nhà vua xứ Babylôn, được Đức Chúa Trời cảm động, bảo thả ông ta đi tự do, và ông ta trở về lại xứ sở và ngai vàng của mình, ông ta là một người hạnh phúc và sung mãn hơn trước đây bao giờ. Tôi nghĩ tôi nhìn thấy ông ta đang bước vào thành Jerusalem. Có nhiều người trong triều đình và những kẻ ưa thích ông, họ kêu la: "Manase ơi, hãy vào đi; cái chén đã đầy rồi, và chúng ta sẽ vui sướng hết đêm nầy tới đêm khác; chúng ta sẽ cúi mình xuống trước chùa miễu Ashtaroth, và cảm tạ nữ thần vì thần đã buông tha cho ông được tự do; nào, bầy ngựa của mặt trời đã sẵn sàng; hãy đến đây và trình sự tôn kính của các ngươi cho thần đã chiếu sáng trên đất, và dẫn dắt các đạo binh thiên đàng!" Tôi cho rằng tôi đang nhìn thấy nỗi kinh ngạc của họ khi ông kêu lên: "Hãy lui lại! Hãy lui lại! Các ngươi không còn là bạn hữu của ta nữa, cho tới chừng nào các ngươi trở thành bạn hữu của Đức Chúa Trời kìa; ta đã nâng niu các ngươi trên hai đầu gối của ta, và hỡi bầy rắn độc, các ngươi đã chích ta với nọc độc của loài rắn dữ; ta đã lập các ngươi làm bè bạn ta, và các ngươi đã dẫn ta xuống tận cùng của địa ngục. Nhưng giờ đây ta nhận biết rồi. Hãy lui lại cho tới chừng các ngươi là hạng người tốt hơn; và ta sẽ tìm nhiều người khác để làm triều thần của ta". Và có những thánh đồ đáng thương, trốn chui trốn nhủi sau các đường phố, họ rất đỗi sợ hãi vì nhà vua vừa mới trở về, đang tổ chức các buổi nhóm cầu nguyện trang trọng, đang kêu la cùng Đức Chúa Trời rằng không còn giết người nữa, các chiếu chỉ bắt bớ không còn bung ra nữa. Mà nầy, có một sứ giả đến cho hay: "Nhà vua đã xây trở lại"; và khi họ đang nhìn xem ông ta, họ lấy làm lạ không biết vị sứ giả vừa loan báo điều gì, sứ giả nói thêm: "Vua đã xây trở lại, không phải Manase như lúc ông ra đi đâu, mà là một thiên sứ. Tôi đã nhìn thấy ông ấy với hai bàn tay mình đã đập tượng Ashtaroth ra thành nhiều mãnh kia kìa; tôi đã nghe ông ấy kêu la: 'Bầy ngựa của mặt trời sẽ được đóng móng; hãy quét dọn nhà của Đức Chúa Trời; chúng ta sẽ giữ lễ vượt qua ở đó; buổi sáng và buổi chiều chiên con sẽ được thiêu trên bàn thờ của Đức Giêhôva, vì Ngài là Đức Chúa Trời, và chẳng có ai khác ở bên cạnh Ngài'". Ồ! Quí vị có thể hiểu được niềm vui của những tín đồ vào cái ngày thuận lợi ấy không? Quí vị có thể nghĩ họ đã đi lên nhà của Đức Chúa Trời với sự vui mừng và cảm tạ là dường nào không? Rồi vào ngày sabát tới họ đã hát, như họ chưa từng hát trước đó: "Hãy đến hát xướng cho Đức Giê-hô-va, cất tiếng mừng rỡ cho hòn đá về sự cứu rỗi chúng tôi", trong khi nhớ ông là kẻ đã bắt bớ các thánh đồ của Đức Chúa Trời trước đây, còn bây giờ lo bảo hộ chính lẽ thật mà ông ta từng ghét cay ghét đắng. Đã có sự vui vẻ ở trên đất, mà nầy, cũng có sự mừng rỡ ở trên trời nữa; những cái chuông của thiên đàng gióng lên vào cái ngày Manase cầu nguyện; các thiên sứ của thiên đàng đã vẫy đôi cánh của họ với sự nhanh nhẩu gấp bằng hai vào cái ngày Manase ăn năn; đất và trời đều vui sướng, và ngay cả Đấng Toàn Năng đang ngự ở trên ngôi đã mĩm cười tán thành với sự giàu ơn, trong khi một lần nữa Ngài phán: "Ấy chính ta, là Đấng vì mình ta mà xóa sự phạm tội ngươi; ta sẽ không nhớ đến tội lỗi ngươi nữa".
Và bây giờ, có phải quí vị tò mò muốn biết cái gì là nền tảng đức tin của Manase — đâu là những vầng đá trên đó ông ta kiến thiết lòng tin của mình nơi Đức Chúa Trời không? Tôi nghĩ có hai nền tảng đấy! Thứ nhứt, ông tin nơi Đức Chúa Trời, vì Ngài đã nhậm lời cầu nguyện của ông; và thứ hai, vì Ngài đã tha tội cho ông. Đôi khi tôi đã nói, lúc tôi trở thành con mồi của những tư tưởng nghi ngờ: "Phải, giờ đây tôi không dám nghi có Đức Chúa Trời hay không, vì tôi có thể xem lại nhật ký của mình rồi nói, vào cái ngày nặng nề rối rắm ấy tôi đã quì gối xuống trước mặt Đức Chúa Trời, khi tôi chỗi dậy thì câu trả lời đã được ban cho tôi". Và phần nhiều người trong quí vị nói như thế; và nhơn đó bất cứ cái gì mà người khác có thể nói, quí vị biết rõ có một Đức Chúa Trời, vì Ngài đã trả lời cho sự cầu nguyện của quí vị. Quí vị có nghe nói tới người thánh kia, Ông Muller, ở Bristol. * Nếu quí vị cần phải nói cho ông ấy biết chẳng có Đức Chúa Trời, ông ấy sẽ than khóc cho quí vị đấy. Ông ấy sẽ nói: "Không có Đức Chúa Trời à?"; "sao chứ, tôi đã nhìn thấy bàn tay của Ngài mà. Thế thì những lời đáp trả cho sự cầu nguyện của tôi đến từ đâu chứ?" A! thưa quí ông, quí vị có thể cười nhạo chúng tôi vì cả tin; nhưng có hàng trăm người ở đây, họ long trọng xác nhận rằng họ đã cầu xin Đức Chúa Trời nhiều vấn đề khác nhau, và Đức Chúa Trời đã không làm cho họ phải buồn lòng, mà đã chấp nhận lời cầu xin của họ. Đây là một lý do cho thấy tại sao Manase biết rõ Đức Giêhôva Ngài là Đức Chúa Trời.
Có lý do khác nữa, ấy là Manase có ý thức về tội lỗi được tha thứ. A! đây là minh chứng rất hay về sự hiện hữu của một Đức Chúa Trời. Ở đây có một con người khốn khổ đáng thương, hai đầu gối của ông ta chụm vào nhau, trái tim của ông ta đang chìm sâu xuống trong ông, ông ta đã lao mình vào thất bại. Hãy đem quí y sĩ đến với ông ta! họ kêu la lên: "Chúng tôi e lý trí của ông ta đang suy nhược. Chúng tôi tin sau cùng ông ta sẽ phải bị đưa vào dưỡng trí viện thôi"; và họ áp dụng các phương cứu chữa mà họ biết, nhưng ông ta chẳng thấy khá hơn, mà ngày càng tệ hại hơn. Đột nhiên, tạo vật đáng thương nầy, bị một ý thức về tội lỗi nhập vào, cứ lẩm bẩm mãi về nan đề tội lỗi, là điều đã được tỏ ra trong âm điệu của Lời thiêng liêng kia; ông ta đang lắng nghe Lời ấy — lời ấy làm tăng thêm cảnh khốn cực của ông ta; ông ta lại lắng nghe — nỗi đau của ông ta tăng lên gấp bằng hai; cho tới sau cùng ai nấy đều nói trường hợp của ông ta hoàn toàn là vô vọng. Thình lình, vào một buổi sáng phước hạnh kia mà Đức Chúa Trời đã ấn định, vị Mục sư đưa ra một vài câu Kinh Thánh thật ngọt ngào. Có lẽ là mấy câu nầy: "Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên". Đức Thánh Linh đang áp dụng câu Kinh Thánh đó, và con người khốn khổ trở về nhà sáng láng như bầu trời, và nói với vợ con mình: "Hãy đến cùng chung vui với ta". Họ nói: "Sao chứ?" Ông ta đáp: "Vì tội lỗi ta đã được tha rồi", "Làm sao ông biết được như thế?" Ông ta đáp: "Ồ, ta đang có một ý thức về tình yêu tha thứ ở trong lòng ta, là điều mà hết thảy những kẻ hồ nghi trên thế gian không thể chối cãi được; và nếu cả đất có dậy lên chống lại ta và nói ta sẽ bị đoán xét, ta sẽ nói: 'Giờ đây tôi biết có một sự xét đoán dành cho ta'". Quí vị có cảm thấy huyết tha thứ được đem ứng dụng chưa? Quí vị sẽ không còn nghi ngờ Đức Chúa Trời nữa, tôi biết, nếu quí vị có nghi ngờ. Tại sao vậy, hỡi quí bạn yêu dấu, nếu bà cụ khốn khổ nhất trên thế gian sẽ bị dẫn đến trước mặt một kẻ vô đạo có tri thức khôn ngoan nhất, có lý trí của người bản lĩnh tuyệt vời nhất, và người ấy sẽ ra sức làm cho bà ta chao đảo, tôi nghĩ tôi đang nhìn thấy bà ấy mĩm cười với ông ta, rồi nói: "Nầy cái anh đáng thương kia ơi, chẳng ăn nhằm gì đâu, vì Đức Giêhôva đã hiện ra với tôi lúc xưa, Ngài phán rằng: 'Nầy, ta yêu ngươi bằng tình yêu đời đời', và vì vậy ông có thể nói cho tôi biết mọi điều ông ưa thích. Tôi vốn có một ý thức về sự tha thứ mà huyết mang lại đã đổ ra trong tấm lòng của tôi, và tôi biết rõ Ngài là Đức Chúa Trời, và ông không thể rứt điều đó ra khỏi tôi được đâu". Như Isaac Watts nhơn đức đã nói: như chúng ta từng có một sự bảo đảm đó:
"Con người có thể nghĩ ra nhiều hình tháitấn công đức tin tôi bằng nghệ thuật bội tín,Tôi sẽ cho họ biết họ nói dối và chỉ vô ích mà thôi,Vì Tin Lành đã ăn sâu vào tấm lòng của tôi".
Ồ! Nếu quí vị có một ý thức tội lỗi đã được tha, quí vị sẽ không bao giờ hồ nghi về sự hiện diện của một Đức Chúa Trời; vì người ta sẽ nói như thế nầy về quí vị: "Khi ấy người nhìn biết Giê-hô-va là Đức Chúa Trời".
Và bây giờ tôi lấy hết sức lực của mình trong một phút, để nói với những ai trong quí vị đang ao ước muốn biết mình phải làm gì để được cứu. Hỡi quí thích giả của tôi ơi, chẳng có một thắc mắc nào quan trọng hơn thắc mắc đó; chẳng một câu hỏi nào cần thiết phải hỏi hơn câu hỏi đó. Than ôi! Có quá nhiều người trong quí vị chưa hề hỏi câu đó, nhưng người nào đang dong buồm đi xuống trũng tuyệt vọng tối đen, hãy lắng nghe bài ca của loài cá về sự chần chừ và chậm trễ. Nhưng, nếu quí vị long trọng đưa ra câu hỏi đó: "Tôi phải làm gì để được cứu?" Tôi lấy làm vui sướng lắm, vui sướng gấp bằng hai khi có thể nói cho quí vị biết về chính Lời của Đức Chúa Trời: "Người nào tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ và chịu báptêm, sẽ được cứu; còn người nào không tin", Kinh Thánh chép: "sẽ bị đoán xét". " Không phải được cứu bởi việc làm đâu, để chẳng ai khoe mình". Quí vị nói: "Nhưng thưa ông, tôi có nhiều việc lành, và đã tin cậy nơi chúng". Nếu quí vị tin như vậy, quí vị là một kẻ bị hư mất. Giống như Cụ Matthew Wilks từng nói, nói với giọng điệu rất bình thường của cụ — "Bạn cố gắng dong buồm đến nước Mỹ trên một con tàu bằng giấy, y như lên thiên đàng bằng các việc lành của bạn vậy; bạn sẽ ướt đẫm trên chuyến đi đó nếu bạn gắng sức đi". Chúng ta không thể xoay tròn chiếc áo để dài đủ che phủ chúng ta; chúng ta không thể tạo ra một sự công bình nào tốt đủ để làm vui lòng Đức Chúa Trời. Nếu quí vị được cứu, thì phải nhờ vào mọi điều mà Đấng Christ đã làm, chớ không phải nhờ vào mọi điều mà quí vị đã làm. Quí vị không thể trở thành Cứu Chúa của chính mình; Đấng Christ phải cứu quí vị, nếu quí vị đã được cứu rồi. Quí vị sẽ được cứu bởi Đấng Christ như thế nào? Đây là chương trình cứu rỗi. Kinh Thánh chép: — "Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy". Quí vị có cảm thấy mình là một tội nhân không? Thế thì hãy tin rằng Đức Chúa Jêsus Christ đã đến để cứu quí vị; vì khi quí vị biết chắc mình là một tội nhân, Đấng Christ chịu chết vì quí vị là một sự thực; và nếu Ngài chịu chết vì quí vị, quí vị sẽ không bị hư mất đâu, vì tôi không thể tưởng được rằng Đấng Christ đã chịu chết cách luống nhưng. Nếu Ngài đã chịu chết vì quí vị, quí vị chắc sẽ được tha tội và được cứu, và một ngày kia quí vị sẽ hát vang trong thiên đàng. Thắc mắc duy nhứt là: Có phải Ngài đã chịu chết vì quí vị không? Chắc chắn Ngài đã chịu chết nếu quí vị là một tội nhân; vì Kinh Thánh chép — tôi sẽ lặp lại một lần nữa — "Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội" Hỡi tội nhân đáng thương kia, hãy tin đi! Quí bạn thân mến của tôi ơi, hãy chìa bàn tay của quí vị ra cho tôi! Tôi ao ước tôi sẽ đặt bàn tay ấy trong tay của Đấng Christ. Ồ! Hãy ôm lấy Ngài! Hãy ôm lấy Ngài! E rằng những đám mây ban đêm sẽ kéo vầy trên quí vị, và mặt trời lặn đi quí vị sẽ không tìm gặp được Ngài, Ồ! Hãy nắm chặt lấy Ngài, e sự chết và sự huỷ diệt sẽ bắt lấy quí vị chăng!?! Hãy bay đến ngọn núi nầy, e quí vị bị thiêu đốt chăng, và hãy nhớ, một khi ở trong Đấng Christ, quí vị sẽ được an ninh hoàn toàn.
"Từng ở trong Đấng Christ,
hãy ở trong Ngài cho đến đời đời,Không một điều chi
có thể tách rời ra khỏi tình yêu thương của Ngài".
Ồ! Hãy tin theo Ngài! Hãy tin nơi Ngài, quí bạn yêu dấu ơi, hỡi quí thính giả thân mến, vì cớ Chúa Jêsus! Amen.
***

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét