Thứ Hai, 18 tháng 1, 2010

Lúa ở Aicập



Lúa ở Aicập
Mục sư C. H. Spurgeon
giảng vào sáng Chúa nhựt 16 tháng Giêng năm 1859, tại giảng đường Music Hall, Royal Surrey Gardens.
"Gia-cốp thấy xứ Ê-díp-tô có lúa bán ra, bèn nói cùng các con trai mình rằng: Sao bay ngơ ngẩn nhìn nhau vậy? Lại rằng: Nầy, cha nghe dưới xứ Ê-díp-tô có lúa bán; bay hãy xuống đó mua lúa cho chúng ta, hầu cho chúng ta sống và khỏi chết, chớ!”
ĐỨC CHÚA TRỜI trong sự khôn ngoan của Ngài đã dựng nên thế giới vật chất, thế giới ấy là hình ảnh lạ lùng và kỳ diệu của thế giới tâm linh. Thiên nhiên là phép loại suy của ân điển. Những điều kỳ diệu mà Đức Chúa Trời đang thực thi ở trong tâm khảm của con người, mỗi điều đó có một phép loại suy, một hình ảnh, một ẩn ý, một minh hoạ, trong những điều kỳ diệu mà Đức Chúa Trời đang hình thành trong sự khôn ngoan của Ngài. Bổn phận của một vị Mục sư là luôn luôn tìm kiếm những phép loại suy nầy. Cứu Chúa của chúng ta đã làm như vậy đấy. Ngài là một nhà truyền đạo gương mẫu: sự rao giảng của Ngài được kiến thiết từ những thí dụ, các hình ảnh từ thế giới vật chất, Ngài sắp xếp có hệ thống để giảng dạy các lẽ thật quan trọng và cần thiết. Và lý trí của con người đã được dựng nên như thế hầu cho chúng ta luôn luôn nhìn thấy sự việc qua một bức tranh tốt hơn, rõ ràng hơn. Nếu quí vị nói cho người ta biết về một lẽ thật đơn sơ, người ấy sẽ không hình dung được rõ ràng cho bằng quí vị kể lại sự ấy cho người đó bằng một minh hoạ. Nếu tôi ra sức mô tả cuộc chiến của linh hồn từ tội lỗi đến với Đấng Christ, quí vị sẽ không hình dung được phân nửa cuộc chiến ấy cho bằng tôi lấy minh hoạ người lữ khách của John Bunyan đang chạy ra khỏi thành huỷ diệt, với mấy ngón tay bịt tai của mình, rồi mau mắn hết sức mình chạy tông ra cánh cửa hẹp kia. Có cái gì đó có thể rờ đụng được trong một bức tranh, là thứ mà thịt và huyết nghèo nàn của chúng ta có thể nắm bắt được; rồi nhờ thịt và huyết mà lý trí mới nắm bắt được, có thể hiểu được ý tưởng, và thưởng thức nó. Cho nên rất là cần thiết và quan trọng khi vị Mục sư luôn luôn nổ lực để làm sáng tỏ bài giảng của mình, và làm cho bài giảng ra giống với các thí dụ của Đức Chúa Jêsus Christ thật là nhiều. Giờ đây, có rất ít ý tưởng có thể tạo thành nhiều thí dụ. Sự thật cho thấy rằng, tôi không biết chi ngoài cách nói bóng trong tiếng Anh, nghĩa là, "Thiên Lộ Lịch Trình” trong các thí dụ, minh hoạ, và phép loại suy không dễ dàng như có người tưởng đâu; hầu hết người ta có thể hiểu được chúng, nhưng có ít người có thể sáng tác ra chúng. Thật là phước hạnh cho chúng ta, những ai là Mục sư của Đấng Christ, chúng ta chẳng có rắc rối chi nhiều về vấn nạn nầy; chúng ta không phải tạo ra những thí dụ; chúng được dựng nên cho chúng ta dùng. Tôi tin rằng lịch sử Cựu ước có ý đồ cung ứng cho chúng ta Mục sư Cơ đốc với nhiều hình ảnh minh hoạ; hầu cho một lẽ thật mà tôi tìm thấy trong Tân ước với hình thái trần trụi của nó đã dạy cho chúng ta biết về một lẽ đạo, tôi tìm thấy một nhân vật trong Cựu ước là một thí dụ. Và vì vậy chúng ta sẽ sử dụng quyển sách cổ xưa nhất nầy, Cựu ước, làm một minh hoạ cho Tân ước, và làm một phương tiện lý giải cho tâm trí chúng ta lẽ thật đã được rao giảng cho chúng ta theo một hình thái chân lý trong Tân ước.
Thế rồi chúng ta thấy gì trong hai câu nầy trong Sáng thế ký 42? Chúng ta có ở đây một hình ảnh nói tới tình trạng hư mất của con người, con người đang ở trong một cảnh đói kém chực nuốt lấy linh hồn. Chúng ta khám phá ra ở đây niềm hy vọng của con người. Niềm hy vọng của con người đặt nơi Giôsép là nhân vật mà người chẳng biết rõ, là đứa con đã đi trước và sẽ cung ứng mọi sự cần thiết, mọi nhu cần của người sẽ được chu cấp. Và chúng ta có ở đây lời khuyên rất thực tế, là sự khôn ngoan nơi phần của Giacốp trội hơn các con trai của mình trong trường hợp của ông, và được lý giải là lời khuyên khôn ngoan nhất cho quí vị và cho tôi. Sau khi nhìn thấy có sự thương xót cho hạng tội nhân, và Chúa Jêsus người anh em của chúng ta đã đi trước chúng ta để cung ứng cho chúng ta sự cứu chuộc đầy trọn: "sao chúng ta ngồi đây ngơ ngẩn nhìn nhau vậy?" Có sự thương xót trong lồng ngực của Đức Chúa Trời, có sự cứu rỗi trong Đấng Christ: " bay hãy xuống đó mua lúa cho chúng ta, hầu cho chúng ta sống và khỏi chết, chớ!” Vậy thì, có ba việc, sáng nay: thứ nhứt, cảnh khốn khó; thứ hai, những tin tức tốt lành; và thứ ba, lời khuyên tốt.
I. Thứ nhứt, CẢNH KHỐN KHÓ. Mấy người con của Giacốp đã bị nạn đói kém hớp hồn. Quí bạn ơi, chúng ta đang nói tới những cơn đói kém, nhưng chẳng ai trong chúng ta nhận biết chúng rõ đến mức độ nào!?! Chúng ta đã nghe nói về nạn đói ở Ireland, và một số câu chuyện đáng kinh hãi đã được thuật lại cho chúng ta nghe khiến cho lòng chúng ta phải đớn đau và gần như tóc tai chúng ta phải dựng đứng lên khi nghe tới đoạn cuối; nhưng cho dù có nạn đói ghê gớm lắm, chúng ta cũng chẳng biết rõ được hết. Chúng ta cũng đã nghe nói, với nỗi đau buồn nặng nề, rằng vẫn có trong thành phố nầy, những nơi tối tăm và gớm ghiếc, ở đó nhiều người nam người nữ đang hư mất do đói khát, họ đã bán đứt những miếng giẻ rách sau cùng trên lưng họ, rồi giờ đây không còn ra khỏi nhà được nữa, và chắc chắn chết mất trong nạn đói kém kia. Những trường hợp như thế chúng ta đã nhìn thấy trong mấy tờ báo hàng ngày của chúng ta, và tấm lòng chúng ta đau đớn khi nghĩ tới những việc như thế hiện đang xảy ra. Nhưng bất kỳ ai trong chúng ta không thể đoán ra điều chi là kinh khủng trong một nạn đói, khi mọi người đều là nghèo thiếu, vì mọi người đều thiếu bánh, khi vàng bạc đều vô giá trị giống như những hòn đá nằm trên đường phố, vì núi vàng núi bạc sẽ không đủ để mua một bó lúa độc nhất. Hãy đọc lịch sử cơn đói kém ở Samari, và nhìn thấy những sự thay đổi dễ sợ nơi những phụ nữ trong cảnh đó, khi họ ăn thịt cả con nhỏ của mình. Đói kém là cảnh địa ngục ở trên đất. Đói kém là thứ đã hớp hồn Giacốp là nạn đói mà, nếu nó chưa xảy ra nhằm lúc phân đoạn Kinh Thánh nầy đang nói tới, chắc chắn nó đã đến ở một cao điểm đáng sợ rồi, và nó chắc sẽ xảy đến; vì nạn đói sẽ kéo dài trong 7 năm; và nếu, qua tánh hoang phí của các dân Đông phương, họ sẽ chẳng được cứu trong 1 năm chứ đừng nói tới 7 năm? Đây là tình trạng của gia đình Giacốp. Họ đã bị ném vào trong đồng vắng ảm đạm của nạn đói với chỉ một ốc đảo, và ở ốc đảo đó họ chẳng nghe thấy gì cho tới thời điểm của câu Kinh Thánh nầy, khi họ với sự vui mừng hay biết được đã có lúa dưới Ai cập. Giờ đây cho phép tôi phác hoạ ra tình trạng của tội nhân trong tình thế của mấy người con trai của Giacốp.
Thứ nhứt, mấy người con của Giacốp gặp phải một nhu cần rất lớn về bánh. Đã có một gia đình gồm cả thảy 66 người. Khi chúng ta đọc tới tên của mấy người con của Giacốp, chúng ta có khuynh hướng nghĩ hết thảy họ đều còn nhỏ. Quí vị biết đấy, Bêngiamin, đứa con út trong số đó, là cha của 10 đứa con, vào thời điểm Bêngiamin bước vào xứ Ai cập, cho nên Bêngiamin không còn là một đứa trẻ nhỏ nữa, và mọi người khác còn lại đều là những gia đình rất đông, nói chung đã có 66 người đang cần được chu cấp. Phải, một nạn đói là đáng sợ đủ khi có một người đang đói khát — khi có người sút giảm xuống thành bộ xương cách trí do gầy còm và đói khát: nhưng khi 66 cái miệng đang thèm bánh ăn, thực sự họ đang lâm vào một cảnh ngộ rất khốn khó. Nhưng điều nầy sánh như thế nào với mọi nhu cần của hạng tội nhân! Mọi sự có cần của con người trong cảnh ngộ đó chỉ có Đấng Vô Hạn mới có thể chu cấp cho họ mà thôi; con người như thế có một đòi hỏi trước khi mọi đòi hỏi của 66 cái miệng là chẳng có gì hết. Người thấy trước một địa ngục đáng sợ, không có một lối nào để tránh thoát cả; người thấy trước bàn tay nặng nề của Đức Chúa Trời đang đè trên mình, Ngài đã xét đoán người theo quyển sổ tội lỗi của người. Thế rồi người cần gì chứ? Tại sao, hết thảy manna giáng xuống từ trời trong đồng vắng sẽ không chu cấp nỗi mọi sự cần kíp của một tội nhân, và hết thảy dòng nước tuôn chảy từ vầng đá trong hoang mạc sẽ không đủ sức dập tắt được nỗi khát khao của người!?! Đấy là nhu cần của tội nhân, hết thảy mọi sự dành chứa trong 7 năm của Ai cập sẽ chẳng nhằm nhò gì hết. Tội nhân cần sự thương xót rất lớn; lòng thương xót to lớn nhất, người cần một sự thương xót vô hạn, và nếu như lòng thương xót được ban xuống cho người từ bên trên, người sẽ sống còn tồi tệ hơn bị đói kém nữa, vì người sẽ chết cái chết thứ hai, và sống trong cái chết đời đời, không có hy vọng tránh thoát hay được cứu ra khỏi cảnh huỷ diệt. Mọi đòi hỏi của người đang lâm vào cảnh đói khát rất là lớn; nhưng mọi đòi hỏi của một linh hồn đang đói khát vẫn lớn lao hơn nhiều; cho tới chừng linh hồn nhận lãnh tình yêu thương và sự thương xót của Đức Chúa Trời đã tỏ bày ra cho nó, nó sẽ luôn luôn đói khát, dù nó được cung ứng cho no đủ, cái bao tử đói khát của nó vẫn sẽ không thấy thoả mãn, vì chẳng có ai khác trừ ra Ba Ngôi Đức Chúa Trời mới có thể làm đầy dẫy tấm lòng của con người; không có gì khác trừ ra một sự đảm bảo về tình yêu thương đời đời, không thay đổi của Đức Chúa Trời, và một ứng dụng hay nhất về huyết quí báu của Chúa Jêsus, mới có thể cầm giữ nạn đói khát kinh khủng trong linh hồn của tội nhân.
Một lần nữa: những gì số người nầy có cần là một việc rất quan trọng. Họ không thiếu thốn quần áo, đấy là một nhu cầu, nhưng chẳng có gì giống với việc thiếu bánh ăn; vì một người sẽ sống dù chẳng có gì mặc. Họ không cần những thứ xa hoa, — những thứ nầy họ sẽ cần tới, và lòng thương hại của chúng ta sẽ chẳng bị kích động nhiều; họ không cần lều trại, — không có những lều trại nầy họ vẫn có thể làm thoả mãn những thèm khát của bản năng: thế nhưng họ đã thiếu bánh ăn — nghĩa là không có lửa sự sống sẽ làm cho mất đi nét sắc sảo, rốt lại họ phải chết mất trong bóng tối tăm của sự chết. "Bánh! bánh!" đúng là một tiếng rên la, khi người ta tụ tập lại với nhau, rồi trong cảnh khốn khó họ gào lên khẩu lệnh ấy. "Bánh! bánh!" có âm thanh nào đáng sợ hơn tiếng kêu la ấy không? "Lửa! lửa!" có thể gây hoảng sợ, nhưng "Bánh! bánh!" đang đâm thủng vào tấm lòng. Tiếng kêu la "Lửa!" sang sảng giống như sấm sét vậy; nhưng tiếng kêu la "Bánh!" loé lên như tia chớp, rồi làm khô héo linh hồn của một người. Ôi, những người đó sẽ kêu la vì bánh, — thứ cần thiết tuyệt đối cho sự trưởng dưỡng thân thể! Nhưng cái gì là điều tối cần của tội nhân? Chắc hẳn đâu phải là thứ bánh nầy? — tội nhân cần tới cái thứ mà không có nó linh hồn sẽ bị hư mất. Ôi! Hỡi tội nhân, nếu thứ ấy là sức khoẻ, nếu thứ ấy là sự giàu có, nếu đấy là sự yên ủi, là thứ mà quí vị sẽ tìm kiếm, thế thì quí vị chắc sẽ ngồi xuống hài lòng rồi nói: "Tôi có thể sống mà không có những thứ nầy", nhưng trong vấn đề nầy chính linh hồn quí vị, linh hồn không hề chết của quí vị, nó đang đói khát, và chính sự cứu rỗi của nó, sự giải cứu nó ra khỏi những ngọn lửa của địa ngục, là thứ giờ đây đòi hỏi sự chú ý của quí vị. Ô! Đúng đấy là một nhu cần, — nhu cần về ơn cứu rỗi của linh hồn! Chúng ta đang nói về bánh và về thân thể giống như bộ xương cách trí của chúng ta, có phải không? Đây là những việc đáng phải xem xét; còn khi chúng ta nói về việc thiếu bánh, và về những linh hồn hư mất đang dãy chết, có một việc còn đáng sợ hơn ở đây. Hãy nhìn đây, trường hợp của quí vị, quí vị là những người không có ân điển của Đức Chúa Trời; quí vị đang có sự cần kíp, — cần kíp những việc quan trọng.
Một lần nữa; sự cần kíp của các con trai Giacốp là một sự cần kíp chung nhất. Họ không có bánh ăn; không kiếm đâu ra bánh cả. Họ đã dự trữ cho chính người thân của mình lâu nay, họ có thể tự tiết chế, rồi giảm bớt khẩu phần ăn, rồi qua sự tiết chế đó, họ duy trì được mạng sống của họ. Thế nhưng họ đã nhìn về tương lai, rồi nhìn thấy con cái họ sẽ ngã chết với cơn đói khát, và không một mẫu bánh mì nào mà với nó có thể làm dịu bớt nỗi ray rứt trong họ. Họ đã nhìn thấy những người vợ của họ đang ốm yếu dần ở trước mặt họ, rồi con trẻ mà họ đang bồng bế trên ngực của mình, không nhận được nguồn dinh dưỡng từ những bầu sữa đang khô cạn đó. Họ đã nhìn thấy chính bản thân mình là những người cùng khổ, cô quạnh, với hai bàn tay chống trên hông, xương xẩu thì lòi ra, đang bò trườn quanh trại, nơi con cái họ đang dãy chết, và bản thân họ không còn sức lực đủ để chôn chúng. Họ hoàn toàn đang thiếu bánh ăn. Họ đang gánh chịu sự khan hiếm: là một sự thiếu bánh hoàn toàn rất khủng khiếp ở một mức độ rất cao. Đấy là trường hợp của tội nhân. Ấy chẳng phải là người có ít ân huệ, và đang thiếu rất nhiều đâu; mà đúng ra người chẳng có chút gì hết. Bản thân người chẳng có chút ân huệ nào hết. Ấy chẳng phải là người có ít công đức đâu, và cần phải làm cho có công đức thêm, mà người chẳng có chút công đức nào cả, chẳng có một công trạng nào, chẳng có một sự công bình nào hết — chẳng có một thứ gì để đem đến với Đức Chúa Trời, chẳng có một thứ gì để dâng hiến hầu cho người được tiếp nhận; người chẳng có một xu, người nghèo xác nghèo xơ; người chẳng có thứ mà linh hồn nhờ nó mà được trưởng dưỡng. Người có thể gặm mòn dần những khúc xương khô các thứ việc lành của người; nhưng nếu Chúa tạo ra sự kết án ở trong tấm lòng của người, người sẽ gặm các khúc xương đó trong hư không; người sẽ cố gắng làm gãy vỡ mấy khúc xương nghi thức, nhưng rồi người sẽ thấy thay vì người tìm được tủy người sẽ tìm được mật đắng. Người sẽ đói khát và đói khát, vì người chẳng có thứ để làm cho đầy cái bao tử của mình. Và đấy là trường hợp của quí vị. Đó là cảnh khốn khó dường bao, cái điều có cần là đây: một sự thiếu thốn hoàn toàn cái thứ quan trọng nhất mà quí vị đang thiếu, đó là một nhu cần rất lớn.
Tuy nhiên, còn tệ hại hơn nữa; với cái ngoại lệ ở Ai cập, các con trai Giacốp đã tin chắc rằng chẳng có lúa ở đâu khác hết. Tôi tin lý do tại sao họ đã ngẩn ngơ nhìn nhau là đây. Lúc đầu, người nầy nhìn người kia như muốn nói: "Anh [hay em] có dư chút đỉnh nào không? Có thể nhường cho gia đình anh [hay em] một chút không?" Có lẽ Đan nài nĩ với Simêôn: "Anh có dư chút nào không? Con em bữa nay đói quá; anh không thể giúp em sao?" Người khác sẽ tới gặp Giuđa; và có lẽ họ sẽ đoán rằng người em dễ thương Bêngiamin chắc chắn sẽ còn tồn trữ một ít thức ăn. Vì vậy họ ngẩn ngơ nhìn nhau. Nhưng rồi không lâu sau đó! Cái nhìn hy vọng đã thay vào chỗ của cái nhìn thất vọng. Họ dám chắc rằng nhu cầu cấp thiết của từng gia đình là quá lớn, đến nỗi chẳng ai có thể giúp cho người khác được. Hết thảy họ đều sẽ rơi vào cảnh túng quẫn; và làm sao xin người khác giúp đỡ mình cho được, trong khi hết thảy đều xơ xác? Và khi ấy họ bắt đầu nhìn nhau với nỗi thất vọng. Trong chỗ im lặng không lời ấy, họ đã tự mình cam chịu nỗi khốn khó đã đe doạ phủ lút họ. Đấy là tình trạng của tội nhân, khi lần đầu tiên người bắt đầu cảm thấy một nỗi khát khao sự công bình, người nầy liếc mắt nhìn những người kia. Người suy nghĩ: "Chắc Mục sư có thể giúp mình, linh mục có thể tài trợ cho mình". "Hãy cấp dầu của ông cho chúng tôi, vì đèn tôi sắp tắt rồi". Nhưng sau một hồi lâu, người khám phá ra rằng tình trạng của mỗi người đều như nhau, mọi người đều chẳng có chút ân điển nào hết, rằng "chẳng ai có thể cứu anh em mình, hoặc dâng lên cho Đức Chúa Trời một giá chuộc mình". Hỡi quí bạn yêu dấu ơi, ngoài Đấng Christ, chúng ta, sáng nay sẽ ngẩn ngơ nhìn nhau, thất kinh và thất vọng — rồi ráng hết sức mà nói: "Sự cứu rỗi sẽ tìm đặng ở đâu!?!" Ồ! Nếu ơn cứu ở ngay chính trung tâm của quả đất, chúng ta sẽ đào xuyên qua các lớp đá vào thẳng đấy để tìm cho được nó. Nếu ơn ấy ở trên trời, chúng ta sẽ tìm cách lên được đó với tầng cao nhất của tháp Babên, để chúng ta tới đến với một ân huệ. Nếu chúng ta phải bước đi xuyên qua lửa để tìm cho được nó, chúng ta sẽ sung sướng chấp nhận linh trình xuyên qua lửa đó. Hoặc nếu chúng ta phải lặn sâu xuyên qua lòng đại dương, chúng ta sẽ bằng lòng để cho các lượn sóng cồn lăn mạnh trên chúng ta, nếu chúng ta có thể tìm đặng nó. Còn nếu mỗi người phải nói với đồng loại mình: "chẳng có hy vọng gì cho chúng ta; hết thảy chúng ta sẽ bị xét đoán, hết thảy chúng ta đều đã phạm tội, chúng ta chẳng có một thứ gì để thoả thuận với Đấng Chí Cao"; đúng là một thế giới khốn khổ, và thế giới ấy là của chúng ta đấy, nếu chúng ta bị kết án về tội lỗi như nhau, và biết chắc rằng chẳng có hy vọng gì về ơn thương xót! Thế thì, đây là tình trạng nhất thời của mấy người con của Giacốp, và đó là tình trạng tự nhiên của chúng ta về mặt thuộc linh. Chúng ta đang sinh sống trong một đất đói kém; chúng ta chẳng có gì nơi sức riêng của mình; chúng ta đang đói khát, chúng ta sẽ chết vì đói khát, và trường hợp của chúng ta dường như hoàn toàn vô vọng rồi, vì ở trên đất chẳng tìm được gì để làm thoả mãn cơn khát khao kinh khủng của linh hồn.
II. Bây giờ chúng ta bước qua phần thứ hai, đến với NHỮNG TIN TỨC TỐT LÀNH. Giacốp đã có đức tin, và hai lỗ tai của đức tin luôn luôn là thầm lặng; đức tin có thể nghe thấy tiếng bước chân của ơn thương xót, mặc dù tiếng chân đi dường như nhẹ nhàng như tiếng bước của thiên sứ đang đi giữa vườn hoa. Dù ơn thương xót còn cách hàng ngàn dặm xa, và hành trình của nó chiếm khoảng 10 ngàn năm, thế mà đức tin có thể nghe thấy tiếng bước chân của nó, vì đấy là sự mau mắn của lỗ tai và sự mau mắn của con mắt. Còn hơn thế nữa, nếu Đức Chúa Trời ban ra một lời hứa, lời hứa ấy sẽ không ứng nghiệm cho tới chừng nào bầu trời xưa cũ kia đã tan rã, đức tin sẽ nhìn xuyên qua bao thế hệ, mọi viễn cảnh của bao thế kỷ, và nhìn thấy khí thế của lời hứa ở đàng xa, và vui mừng tại đó. Giacốp đã có hai lỗ tai của đức tin. Ông đã ở trong sự cầu nguyện, tôi chẳng có gì phải hồ nghi, cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu gia đình mình trong lúc có cơn đói kém; và mỗi lúc ông lắng nghe, trước tiên từ người nhà của mình, rằng có lúa bán ở Ai cập. Quí vị có thấy họ đang nhóm nhau lại không? Vị tộc trưởng đáng kính ấy đang ngồi trong túp lều, mấy người con của ông đến đặng dâng lên ông lòng kính trọng mỗi buổi sáng của họ; sự thất vọng hiện lên trên gương mặt của họ, họ đem theo con nhỏ cùng đến tại đó. Vị tộc trưởng có đủ thứ để đưa ra trong buổi sáng đó; nhưng sáng hôm ấy ông đưa ra những tin tức tốt lành trong lời chúc phước của mình, ông nói với họ: "Có lúa bán ở Ai cập". Quí vị có hình dung tim của họ nhộn như thế nào không? Ông nói thêm: "bay hãy xuống đó mua lúa cho chúng ta, hầu cho chúng ta sống và khỏi chết, chớ!” Giacốp đã nghe thấy các tin tức tốt lành, rồi truyền đạt chúng thật nhanh như có thể được cho dòng dõi của mình.
Bây giờ, chúng ta cũng đã nghe những tin tức tốt lành. Những tin tức tốt lành đã được gửi đến cho chúng ta trong Tin lành nói tới Đức Chúa Jêsus Christ. "Có lúa bán ở Ai cập". Chúng ta không phải chết đâu. Có ơn cứu rỗi với Đức Chúa Trời. Chúng ta không bị hư mất đâu — có ơn thương xót với Đấng Chí Cao. Chúng ta không nên nghĩ rằng chúng ta phải bị hư mất; có một con đường dẫn tới sự cứu rỗi; có hy vọng tránh thoát — phải chăng chúng ta chưa nhận lãnh các tin tức với sự vui mừng? Có phải chúng ta đang rộn rã trong lòng với suy nghĩ rằng chúng ta sẽ không bị xét đoán, mà Chúa sẽ đổ ơn thương xót trên chúng ta? Bây giờ, chúng ta đang có những tin tức còn tốt đẹp hơn Giacốp đã có; mặc dù các tin tức đó đều giống nhau, chúng ta hiểu tin tức ấy theo ý nghĩa thuộc linh.
Trước tiên, có nhiều chứng nhân vững vàng tường thuật lại cho chúng ta biết, rằng có lúa bán ở Ai cập, có ơn thương xót nơi Đức Chúa Trời. Sứ giả của Giacốp có thể đã dối gạt ông — nhiều câu chuyện vu vơ được người ta kể ở khắp mọi nơi, và trong thời buổi đói kém con người ta có xu hướng thích kể lại một câu chuyện dối trá, tưởng rằng đó là thực, họ mơ ước như thế. Người đang trong cảnh đói khát có khuynh hướng hy vọng rằng đâu đó có rất nhiều lúa; khi ấy người tưởng rằng có lúa thực; rồi người nói có lúa; sau đó, cái gì bắt đầu với mơ ước lại trở thành tiếng đồn, nói đi nói lại. Quí bạn tôi ơi, trong thời buổi nầy, không có chuyện nhàn rỗi đâu; không một giấc chiêm bao, không một lời đồn đại nào của một kẻ dối gạt cả. Có ơn thương xót với Đức Chúa Trời, có ơn cứu rỗi với Ngài, cho nên người đâm sợ hãi. Dòng suối sẽ đầy ắp nước; các vựa lúa thì đầy dẫy với lúa cũ ngon thơm. Chẳng có một lý do nào cho thấy chúng ta sẽ bị hư mất. Bởi những chứng nhân nhất định không hề sai sót, họ kể lại cho chúng ta nghe về chính lời thề của Đức Chúa Trời; rằng có ơn cứu rỗi dành cho con cái của loài người. Nhưng Giacốp không biết đã có nhiều như thế nào ở tại xứ Ai cập. Ông nói đã có lúa, nhưng ông không biết nhiều bao nhiêu. Giờ đây, ngày nay, chúng ta cũng y như Giacốp vậy. Có ơn thương xót với Đức Chúa Trời; chúng ta không biết, bất kỳ ai trong chúng ta đều chẳng biết ơn thương xót nhiều như thế nào!?! Có tội nhân nói: "Ồ, tôi là một linh hồn khao khát, mọi vựa lúa của Ai cập sẽ không đủ cho tôi đâu". A, nhưng hỡi linh hồn đáng thương kia! Đức Chúa Trời là mọi sự mà ngươi đang có cần, cho dù ngươi đang muốn có một sự tiếp trợ vô hạn. Sáu mươi sáu người trong gia đình của Giacốp sẽ biến thành một chuỗi người dài sọc nặng nề lê bước kéo đến các vựa lúa của bất kỳ quốc gia nào; thế nhưng, có nhiều kho chứa dư dật trong từng thành thị nầy, chúng ta chưa đọc thấy Giôsép nhớ hết thảy mọi người, ông đã bố thí cho họ. Cũng một thể ấy với quí vị đấy. Mọi sự quí vị có cần thì lớn lao lắm, nhưng chẳng có điều chi tương xứng với phần chu cấp cả. Linh hồn của quí vị đòi hỏi ơn thương xót lớn lao, nhưng quí vị không thể tát cạn được ơn thương xót của Đức Chúa Trời khi chỉ dùng một tách nước biển hòng làm cạn kiệt sự đầy dẫy của nó. Mọi tội lỗi cao như núi của quí vị đang được chất chứa ở trên cao, các ngôi sao ân điển đang chiếu sáng.
Có một việc khác trong đó chúng ta có phần khởi sự của Giacốp. Giacốp vốn biết rõ đã có lúa bán ở Ai cập, nhưng không biết ai đang bán lúa ở đó. Nếu ông biết điều đó, ông đã nói: "Hỡi các con ta, ngay lập tức hãy xuống đó, chúng bay không phải sợ gì hết, em chúng bay là tể tướng xứ Ai cập, và hết thảy lúa gạo đều thuộc về nó". Không những thế, tôi còn tưởng tượng được chính mình ông ngay lập tức sẽ đi ngay nữa là. Và Simêôn cùng mấy người khác nữa sẽ cùng đi dù họ có đôi chút bối rối, khi họ nghĩ đến tình trạng không tử tế mà họ đã tỏ ra đối với đứa em của họ, khi họ cảm thấy một ít đói khát, nếu họ biết rõ về Giôsép, họ đã nói: "Chúng ta không nhất thiết phải e sợ khi ra đi và phục theo nó, vì chúng ta biết nó có một tấm lòng rất giàu ơn và yêu thương và sẽ không để cho anh em nghèo khốn của nó phải chết đói". Hỡi tội nhân, những ơn thương xót của Đức Chúa Trời đang mở rộng vì Đấng Christ có quyền phép đối với những ai tin cậy Ngài. Các vựa lẫm của thiên đàng không có một quản gia nào lo cầm giữ Đấng Christ không cứu họ. Ngài được tôn cao để ban sự ăn năn và sự tha tội. Các chìa khoá của ân điển đang lắc qua lắc lại quanh hông người anh em của quí vị; Ngài là Đấng đã chịu chết vì quí vị, Ngài là Đấng yêu thương quí vị thật nhiều, Ngài yêu thương quí vị nhiều hơn Ngài yêu thương chính bản thân mình. Ngài có các chìa khoá của ân điển, và quí vị e sợ không muốn đi sao? Phải chăng quí vị run rẩy khi đi tới những cửa hàng thương xót phong phú nầy khi chúng đang ở trong hai bàn tay của Chúa yêu thương, dịu dàng, và giàu ơn? Không, đây là những tin tức tốt lành, mọi ân điển đang ở trong hai bàn tay của Chúa Jêsus.
Có một việc khác nữa mà các con trai của Giacốp không biết tới. Khi họ đi tới xứ Ai cập, họ vẫn còn nhiều lo toan. Nếu họ biết rõ đã có lúa bán, họ chưa dám chắc đã mua được lúa. Nhưng khi quí vị và tôi đến với Đấng Christ, chúng ta là những khách được mời đến. Thiết tưởng giờ đây quí vị có lòng mời ai đó trong số những người khố rách áo ôm trong thành phố Luân đôn đến tại nhà của quí vị; quí vị đưa ra cho mỗi người một lời mời gọi, và họ đã đến nơi cửa, có lẽ họ thấy phân nửa xấu hổ chưa muốn bước vào, và muốn chuồn ra ngõ sau; nhưng nếu họ gặp quí vị, họ không còn thấy bối rối nữa, họ nói: "Thưa ông, tôi e sợ không dám đến đây, vì ông đã gửi đến tôi một lời mời. Nếu không có lời mời đó, dù tôi biết tánh rời rộng của ông, dù tôi biết rõ ông có ý tốt muốn cứu giúp tôi, tôi vẫn không dám bước vào nếu ông không gửi lời mời gọi đến với tôi". Giờ đây Giôsép đã gửi lời mời đến các anh em mình; nhưng Chúa Jêsus đã gửi lời mời gọi đến với quí vị. Đối với mỗi một người trong quí vị, những kẻ là tội nhân bị hư mất Ngài đã phán: "Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không". Chính Ngài có phán dạy rằng: "Người nào đến cùng ta, ta sẽ chẳng bỏ ra ngoài đâu". Ngài đã sai các sứ giả Ngài rồi bảo họ hô to lên: "Hỡi những kẻ nào khát, hãy đến suối nước! Và người nào không có tiền bạc, hãy đến, mua mà ăn! Hãy đến, mua rượu và sữa mà không cần tiền, không đòi giá". Giờ đây, hỡi tội nhân, quí vị không phải sợ hãi khi ra đi tới nơi quí vị được mời đến. Đức Chúa Jêsus Christ đang mời gọi; Ngài mời gọi người đang đói khát, Ngài mời gọi kẻ yếu đuối. Đúng là quí vị đấy — cả đói khát và yếu đuối. Ngài đang mời kẻ có gánh nặng và khó nhọc — đúng là quí vị đấy. Vậy thì, hãy đến và được tiếp đón. Quí vị không cần phải bối rối nữa, quí vị có lời mời gọi và lời hứa. Vì vậy sao quí vị ngẩn ngơ nhìn nhau? Hãy chổi dậy và đến với Đấng Christ; hãy chổi dậy và đến với thập tự giá của Ngài. Giờ đây, nguyện Ngài minh chứng cho quí vị thấy quyền năng cứu rỗi của Ngài!
Nhưng hãy lưu ý đây, và tôi sẽ bước vào điểm thứ hai. Các con trai của Giacốp không như quí vị đâu, vì họ có tiền để mua lúa. Giacốp không phải là một con người nghèo khó mong được giàu có đâu, dù ông giờ đây phải trở nên nghèo vì thiếu bánh ăn. Các con trai ông vốn có tiền đem theo với họ. Với những thỏi vàng lấp lánh họ tưởng chắc chắn sẽ lôi cuốn sự chú ý của người cầm quyền xứ Ai cập. Quí vị chẳng có tiền bạc chi hết, không có chi để đem đến dâng cho Đấng Christ, chẳng có thứ chi dâng hiến cho Ngài. Quí vị hiến cho Ngài một thứ gì đó, nhưng Ngài từ chối mọi thứ quí vị hiến cho Ngài vì chúng chẳng có chi là tốt đẹp hết. Rồi bây giờ hoàn toàn trơ trụi, vô vọng, xơ xác, quí vị nói quí vị e sợ không dám đến với Đấng Christ vì bản thân quí vị chẳng có chi hết. Cho phép tôi quyết chắc với quí vị rằng quí vị không sao xứng hiệp với tình trạng đến với Đấng Christ khi quí vị không còn chỗ nào khác để đi, và bản thân mình chẳng có một thứ chi hết. Nhưng quí vị đáp: "Ít nhất là tôi cảm thấy mình đang có cần". Đây là vấn đề của quí vị — quí vị phải đến với Đấng Christ mà chẳng có chi hết. "Nhưng tôi mong muốn tôi sẽ tin thêm chút nữa". Đây là vấn đề của quí vị. Quí vị muốn lấy đức tin của mình đem đến dâng cho Đấng Christ. Không, quí vị phải đến với Đấng Christ y như tình trạng hiện nay của quí vị. "Nhưng thưa ông, tôi phải tự mình tu sửa trước khi tôi có thể tin Đấng Christ đã đổ sự thương xót trên tôi". Sự tu sửa nhất thời của quí vị sẽ không làm cho quí vị xứng đáng với ân điển, đúng ra nó sửa soạn quí vị để đón nhận ân điển ấy. Tu sửa trước khi đón nhận ân điển thường là một bước lùi thay vì bước tới. Sự tu sửa ấy có thể làm cho quí vị cứ nhắm vào việc tự xưng công bình, nhưng nó không thể đem quí vị đến với Đấng Christ được. Quí vị thế nào thì cứ đi tới như thế ấy. Ở một bịnh viện, ai vào đó cũng phải có bịnh tật, bịnh tật là bức thư tiến cử hay nhất. Người có bịnh chút đỉnh cần có ai đó vùa giúp để đưa mình đến đó, nhưng cho phép tôi chạy băng qua đường phố, và sống gần như sắp chết vậy, và tôi chẳng cần chi để đưa tôi vào bịnh viện — hãy mở cửa rộng ra và tôi trực tiếp bước vào đó. Cũng vậy, tình trạng hư mất của quí vị là thư gửi gắm duy nhứt quí vị có cần khi đến với Đấng Christ. Giờ đây có nhiều người muốn thể hiện lòng nhơn đức của họ, và họ không biết làm cách nào để có được giai cấp thấp hèn nhất của người nghèo; họ muốn giống như những kẻ có giường ngủ của họ làm bằng rơm; họ muốn có được tri thức của những người sống thấp hèn nghèo khổ, những chỗ ở tệ hại nhất hơn cả nơi loài thú sinh sống. Đây là những người mà họ muốn tìm thấy; và tình trạng nghèo khó để làm thành sự tiến cử. Cũng một thể ấy trong trường hợp của quí vị. Những sự khốn khó của quí vị đang bào chữa với Đức Chúa Trời. Những sự cùng khốn, đáng thương, tình trạng bất lực, quạnh quẽ của quí vị, đây là những nhà hùng biện làm cảm động tấm lòng của Đức Chúa Trời đối cùng quí vị, nhưng chẳng có kết quả gì. Quí vị như thế nào hãy đến như thế ấy, trong tay chẳng có một thứ gì, với Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài là Chúa tể trên vùng đất thương xót, và sẽ không để cho quí vị đi tay không đâu.
III. Tôi đã nói tới các tin tức tốt lành cũng như nói tới hoàn cảnh khốn khó. Giờ đây tôi bước qua phần thứ ba, là LỜI KHUYÊN TỐT. Giacốp thắc mắc: “Sao bay ngơ ngẩn nhìn nhau vậy? Lại rằng: Nầy, cha nghe dưới xứ Ê-díp-tô có lúa bán; bay hãy xuống đó mua lúa cho chúng ta, hầu cho chúng ta sống và khỏi chết, chớ!” Đây là lời khuyên rất thực tế. Tôi muốn con người sẽ hành động y như thế với tôn giáo khi họ hành động trong các vụ việc nhất thời. Các con trai của Giacốp không nói: "Được thôi, đó là các tin tức tốt lành, con tin như thế" và rồi vẫn còn ngồi đó mà chờ chết. Không, họ đã thẳng tiến đến nơi mà các tin tức tốt lành cho họ biết có lúa bán ở đó. Cũng một thể ấy trong các vụ việc tôn giáo. Chúng ta không nên thoả lòng khi nghe thấy những tin tức vui mừng, nhưng chúng ta đừng bao giờ thoả lòng cho tới chừng nào bởi ân điển thiêng liêng của Chúa chúng ta phải tận dụng chúng rồi tìm được ơn thương xót trong Đấng Christ. Một số Mục sư bảo hạng tội nhân là thụ động; họ nói với hạng người nầy một câu đại loại như thế nầy — "Quí vị phải chờ đợi, quí vị phải chờ đợi cho tới khi Đấng Christ đến với quí vị". Thậm chí họ còn khuyên người đờn bà mắc bịnh về huyết, đừng len lỏi qua đám đông để rờ đụng đến viền áo của Đấng Cứu Chuộc. Họ còn bảo người đờn ông kia đang kêu la lớn tiếng bên vệ đường phải cầm giữ cái lưỡi mình lại; hãy ngồi xuống yên lặng cho tới chừng Đấng Christ quay lại và đoái đến người. Họ không thể dung chịu Đức Chúa Jêsus Christ đã mời mấy người kia đến dự tiệc, ít nhiều gì thì tôi tớ của Chúa phải ra sức buộc họ ngồi vào bàn tiệc mới phải. Họ xua đuổi tội nhân và thậm chí còn dám dạy rằng sự chối bỏ Đấng Christ bởi tội nhân là chẳng có tội tình chi hết. Giờ đây, ở trước mặt Đức Chúa Trời, tôi e rằng hạng người thể ấy đang phạm tội về huyết của nhiều linh hồn. Tôi không đứng trong chỗ của một người nói năng như thế. Tôi không thể hiểu được; tôi không thể hiểu khi Chúa của tôi phán: "Hãy làm việc, chớ vì đồ ăn hay hư nát, nhưng vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời, là thứ Con người sẽ ban cho các ngươi; vì ấy là Con, mà Cha, tức là chính Đức Chúa Trời, đã ghi ấn tín của mình", vì thế tôi đã bảo tội nhân phải ngồi im lặng. Khi thiên sứ phán: "Hãy chạy trốn cứu lấy mạng, đừng ngó lại sau và cũng đừng dừng bước lại nơi nào ngoài đồng bằng; hãy chạy trốn lên núi, kẻo phải bỏ mình chăng" chắc tôi phải đi tới Sôđôm rồi nói với Lót: "Hãy đứng lại ở đây cho tới chừng Đức Giêhôva đem ông ra khỏi?" Tại sao chứ, chúng ta biết, về một thứ chắc chắn, rằng sự cứu rỗi là công việc của Chúa, và chỉ một mình công việc của Chúa; nhưng chúng ta biết rõ về thứ chắc chắn ấy, đó là khi Chúa hành động, Ngài bảo chúng ta phải hành động. Khi Ngài làm việc trong linh hồn chúng ta, Chúa không tin; Ngài không có gì để tin hết, Ngài khiến chúng ta phải tin. Khi Chúa ban ra sự ăn năn, Ngài không ăn năn, Ngài phải ăn năn cái gì kia chứ? Ngài khiến cho chúng ta phải ăn năn. Chúa đã đem Lót ra khỏi thành Sôđôm, nhưng há Lót chẳng dùng đôi chân của mình để chạy lên núi sao? Và cũng một thể ấy với chúng ta. Đấng Christ đang làm mọi sự, nhưng Ngài biến chúng ta thành những công cụ. Ngài bảo chúng ta phải chìa bàn tay teo của chúng ta ra, thế mà chúng ta chẳng chìa bàn tay teo ấy ra. Ngài bảo chúng ta làm theo, và chúng ta làm theo nhờ sức lực của Ngài. Hãy bảo một tội nhân hãy cứ ngồi yên lặng đi! Địa ngục còn mong muốn gì khác hơn thế? Hãy bảo một tội nhân cứ chờ đợi đi; há Satan chẳng tán thành một chức vụ như thế sao? Lẽ nào hắn chẳng vui về chức vụ ấy? A, anh em của tôi ơi, người nào yêu mến Chúa, người ấy yêu mến Tin lành, người nào yêu mến linh hồn của con người không thể rao giảng cái giáo lý không thật và phi Cơ đốc như vậy được. Người cảm thấy rằng lòng nhân đạo ở trong người còn nhiều hơn ân điển đang ở trong người, nhiều cuộc nổi loạn đã chống lại một việc dã man, phi nhân như thế. Không, khi chúng ta rao giảng cho tội nhân, chúng ta phải nói với người như sau: "Quí vị biết nhu cần của mình, quí vị cảm thấy mình sẽ không được cứu trừ phi nhờ ơn thương xót trong Đấng Christ. Hãy tìm kiếm Ngài, hãy tin nơi Ngài, và quí vị sẽ tìm gặp Ngài".
Nhưng tôi đã nghe nói rằng nếu tội nhân tìm kiếm Đấng Christ mà Đấng Christ không tìm kiếm người, người sẽ bị hư mất thôi. Bây giờ, ai đó nói như thế là vô lý lắm đấy. Vì, một tội nhân đã hay sẽ tìm kiếm Đấng Christ mà chẳng có Đấng Christ tìm kiếm người. Tôi không muốn cho đây là một việc khó, rồi rút ra một kiểu suy luận ra từ đó. Tôi biết có người nói: "Giả sử một tội nhân đến với Đấng Christ mà Đấng Christ thì không đến với người, người sẽ bị hư mất". Được, điều nầy rõ ràng là giả sử một việc không thể xảy ra; và có cái gì hay ho khi giả sử như thế chứ? Đôi lúc người ta áp đặt cho tôi câu hỏi nầy — "Giả sử một con cái của Đức Chúa Trời sống trong tội lỗi, rồi chết trong tội lỗi, người ấy có được cứu không?" Việc nầy là khó đây. Nếu quí vị tự đưa mình vào một chỗ khó khăn, quí vị phải tự mình ra khỏi chỗ đó chứ. Sự thể giống như một điều giả định xưa: "Giả sử mặt trăng làm bằng kem phó mát, chúng ta sẽ ra sao trong một đêm tối tăm?" Cũng vậy, giả sử một tội nhân đến với Đấng Christ mà Đấng Christ không đến với người, kết quả sẽ ra sao nào? Đây là chỗ giả sử một việc khó, và rồi rút tỉa được cái điều vô lý ra từ đó. Đấng Christ phán: "Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta, và ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt". Nếu một tội nhân đến, người đã được kéo đến, hoặc người sẽ không đến. Cho nên, tôi hay khuyên tội nhân hãy đến với Đấng Christ; chính công tác của Đức Thánh Linh là làm cho lời khuyên ra hiệu lực, và kéo tội nhân đến với Đấng Christ.
Sau cùng, cho phép tôi đưa ra câu hỏi nầy: "Sao quí vị ngơ ngẩn nhìn nhau vậy?" Sao quí vị lại ngồi im lặng chớ? Hãy chạy đến với Đấng Christ, và tìm được ơn thương xót. Ô, có người nói: "Tôi không thể tiếp thu những gì tôi mong phải có". Nhưng quí vị mong điều chi vậy? Tôi tin một số thính giả của chúng ta mong đợi một cú sốc như bị điện giật vậy, hay cái chi đó thuộc loại ấy, trước khi họ được cứu. Tin lành nói rất đơn sơ: "Hãy tin". Họ sẽ chẳng hiểu đâu. Họ nghĩ có cái gì đó kín nhiệm về việc tin ấy. Họ không thể nói được điều đó là gì!?! Nhưng họ sẽ chờ đợi nó rồi mới chịu tin. Được thôi, quí vị sẽ chờ đợi cho tới ngày tận thế; vì nếu quí vị không tin theo tin lành đơn sơ nầy: "Hãy tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ", Đức Chúa Trời sẽ không làm ra những dấu kỳ phép lạ hầu làm thoả mãn những ao ước dại dột của quí vị đâu. Địa vị của quí vị là đây — quí vị là tội nhân, hư mất, bị tàn tạ; quí vị không thể tự cứu lấy mình được. Kinh Thánh chép: "Đức Chúa Jêsus Christ đã vào trong thế gian để cứu vớt tội nhân". Việc làm ngay tức thì của quí vị, bổn phận tức thời của quí vị là phải phó mình vào lời hứa đơn sơ ấy, và hãy tin theo Đức Chúa Jêsus Christ, vì Ngài đã đến thế gian để cứu vớt tội nhân, vì Ngài đã đến để cứu lấy quí vị. Quí vị phải làm theo mạng lịnh đơn sơ nầy — "Hãy tin theo Đức Chúa Jêsus Christ, thì ngươi sẽ được cứu". Còn bây giờ hãy lấy mấy người con của Giacốp làm gương. Ngay sau khi cha của họ nói cho họ biết mọi điều họ phải làm, việc trước tiên họ đã làm là: họ ra đi mang theo những cái túi trống không của mình. Bây giờ hãy làm theo y như thế. "Có cái gì hay ho ở nơi họ chứ?" quí vị nói: "nơi họ chẳng có lúa ăn". Không, tôi biết họ chẳng có chi hết, quí vị phải lấy theo những cái túi trống không rồi làm cho chúng được đầy dẫy. Hãy xưng ra mọi tội lỗi của quí vị đi; hãy xổ ra hết gánh nặng tội lỗi của quí vị đi; hãy đặt hết chúng ở nơi chơn của Đấng Christ, và hãy xưng tội mình. Chẳng có một sứ cứu rỗi nào nơi sự xưng tội, nhưng quí vị không thể có sự cứu rỗi mà không xưng ra tội lỗi. Quí vị phải thực thi một xự xưng tội đầy đủ và tự do về mọi tội lỗi của mình. "Xưng với ông sao, thưa ông?" Tôi rất cảm kích quí vị. Tôi sẽ không nghe mọi tội lỗi của quí vị dù là thế nào đâu. Không một lượng tiền bạc nào đủ bồi thường cho sự nhớp nhúa đổ dồn trên bất kỳ người nào chịu nghe mọi tội lỗi của người khác. Tôi không nói cho quí vị tội lỗi của tôi đâu; cũng không nghe tội lỗi của quí vị, dù ít hay nhiều. Không, hãy xưng tội lỗi của quí vị với Đức Chúa Trời. Hãy vào trong phòng kín; rồi đóng cửa lại; đừng cho ai nhìn thấy — nghĩa là, hãy thực hiện lời xưng tội đầy đủ; hãy nói với Chúa rằng quí vị là một con người cùng khổ chẳng làm chi được nếu không có ân điển tối thượng của Ngài. Khi quí vị làm xong việc ấy, quí vị nói, còn gì nữa không? Tiếp đến hãy quăng đi mọi kỳ vọng quí vị từng đã có hay đang có, hãy gạt qua một bên mọi sự tin cậy vào các việc lành cùng mọi sự khác của quí vị; rồi còn gì nữa không? Hãy phó mình vào lẽ thật trọng đại nầy, rằng Đức Chúa Jêsus Christ đã đến để cứu vớt tội nhân, và khi quì gối xuống rồi đứng lên quí vị trở thành một con người sung sướng hơn. Hoặc giả nếu đây không phải là trường hợp, hãy thử lại một lần nữa đi, và một lần nữa, một lần nữa, việc làm nầy sẽ chẳng làm cho quí vị phải thất vọng đâu. Sự cầu nguyện và đức tin không hề hư mất bao giờ. Người nào tuyên xưng mọi tội lỗi của mình và tìm kiếm Cứu Chúa sẽ không hề rơi vào chỗ hư không đâu. Khi tôi lần đầu tiên bị thuyết phục về tội lỗi, dù là một đứa trẻ, tôi đã đến với Đức Chúa Trời, tôi kêu la cầu xin được thương xót với hết sức của mình, nhưng tôi chẳng thấy ơn ấy. Tôi không nghĩ mình biết rõ tin lành là gì đâu! Trong ba năm trời tôi bền bĩ trong sự ấy; và ngày kia, trong từng căn phòng của ngôi nhà mà tôi sinh sống ở đó, khi mỗi căn phòng không còn bỏ không nữa, ở từng cơ hội, tôi đã để ra nhiều thì giờ trong sự cầu nguyện, những giọt lệ lăn dài trên má, và bản thân tôi căng thẳng trong ước muốn tìm gặp Đấng Christ và tìm gặp ơn cứu rỗi. Nhưng ơn ấy không tới đến. Cứ như thế mãi cho tới khi tôi nghe được lẽ đạo đơn sơ đó: "Hãy nhìn xem ta thì ngươi sẽ được cứu". Thế rồi tôi nhận ra mọi lời cầu nguyện của tôi là một loại công bình theo sức riêng mình, tôi đã nương cậy vào nó, và kết quả là tôi đang ở trên con đường sai lầm. Khi ấy Đức Thánh Linh đã khiến tôi biết nhìn xem Đấng Christ đang treo mình trên thập tự giá. Tôi không còn đưa ra những lời cầu xin của mình nữa, nhưng tôi đã đặt Chúa Jêsus, đối tượng đức tin của tôi, lên cao hơn mọi lời cầu nguyện, khi ấy tôi đã nhìn xem Ngài đang bị treo, đang chết, đang đổ huyết ra, linh hồn tôi bèn vui mừng, và tôi phủ phục xuống trên hai đầu gối của mình không còn kêu la thống thiết nữa, mà tung hô lên với sự vui thích: "Lạy Chúa, con tin; xin giúp cho sự vô tín của con". Còn nếu trong ngày đó, thay vì chỉ nhìn xem Đấng Christ, tôi đã nói: "Không, lạy Chúa, con sẽ không tắm dưới sông Giôđanh rồi được sạch đâu. Con sẽ chờ cho tới khi Êli bước ra đập trên người phung bằng bàn tay của ông ấy; con sẽ không nhìn vào con rắn bằng đồng. Đó là sự dạy theo luật pháp, đó là lẽ đạo không đúng. Con sẽ chờ con rắn mổ ngay con mắt của con", chuyện ấy sẽ không bao giờ đến đâu. Nhưng sau khi nhìn xem Đấng Christ rồi, tôi ném bỏ mọi sự tin cậy khác ra xa; và thể nào linh hồn tôi vui vẻ trong sự tự do mà với nó Đấng Christ buông tha dân sự của Ngài. Cũng một thể ấy với quí vị đấy. Tin lành hôm nay được rao giảng tự do cho quí vị. Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, đã giáng xuống từ trời, sanh bởi nữ đồng trinh Mary, chịu thương khó dưới tay Bônxơ Philát; chịu đóng đinh trên thập tự giá vì cớ tội lỗi. Hãy nhướng mắt quí vị nhìn về thập tự giá xa xa kia. Kìa, Đức Chúa Trời đang hấp hối. Kìa, Đấng Vô Hạn đang bị treo trên một cây gỗ. Những sự thương khó ấy cứu lấy quí vị đấy; quí vị có chịu tin cậy vào đó chăng? Không có một sự tin cậy nào khác nữa, thập tự giá phải là cột trụ cho niềm hy vọng của quí vị, có phải không? Nếu thực vậy, quí vị đã được cứu. Giây phút quí vị tin theo Chúa Jêsus, Đấng Cứu Chuộc, quí vị đã được cứu, tội lỗi quí vị đã được tha; Đức Chúa Trời đã tiếp nhận quí vị làm con cái của Ngài; quí vị đang ở trong địa vị của ân điển; quí vị đã trải qua sự chết mà đến với sự sống. Không những quí vị không bị xét đoán, mà quí vị sẽ không hề bị xét đoán đâu. Có cho quí vị một mão triều thiên, một cây đàn, một toà lâu đài, trong lãnh vực của người được làm cho vinh hiển. Ô Đức Chúa Trời ấy có thể giúp cho quí vị ngay bây giờ đi qua xứ Ai cập để mua lúa thiên thượng, và nguyện quí vị trở về với những cái túi đầy ắp lên tới miệng.
Trong phần kết thúc, tôi muốn đưa ra lời lưu ý nầy — Quí vị có để ý phần bàn bạc mà Giacốp đã sử dụng lý do tại sao mấy người con của ông phải đi qua xứ Ai cập không? Đó là điều nầy đây — "Hầu cho chúng ta sống và khỏi chết". Hỡi tội nhân, đây là phần bàn bạc của tôi với quí vị sáng hôm nay. Hỡi các thính giả yêu dấu của tôi ơi, tin lành nói tới Đấng Christ là một vấn đề sống chết với quí vị. Đây không phải là một vấn đề quan trọng nhỏ đâu, mà là vấn đề quan trọng rất lớn. Có một sự lựa chọn ở trước mặt quí vị; quí vị sẽ bị đoạ đày cho đến đời đời, hay sẽ được cứu cho đến đời đời. Xem thường Đấng Christ, và chễnh mãng ơn cứu rỗi lớn lao của Ngài, quí vị sẽ bị hư mất, cũng y như quí vị đang sống vậy. Hãy tin nơi Đấng Christ; hãy đặt lòng tin cậy duy nhứt nơi Ngài, và sự sống đời đời sẽ là của quí vị đấy. Sự bàn bạc nào có hiệu nghiệm hơn sự bàn bạc nầy cho loài người và yêu thương họ? Có phải quí vị đang sửa soạn cho những sự thiêu đốt đời đời chăng? Nầy quí bạn ơi, có phải quí vị sẵn sàng đặt chiếc giường của mình trong địa ngục, và để bị hư mất sao? Nếu thực vậy, hãy từ chối Đấng Christ đi. Còn nếu quí vị ao ước được phước cho đến đời đời, được Đức Chúa Trời tiếp nhận trong cái ngày kinh khủng của sự phán xét, và được Ngài tôn cao trong ngày ban thưởng, tôi nài xin quí vị, hãy lắng nghe Tin lành một lần nữa đi, rồi hãy vâng theo Tin lành ấy. "Người nào tin theo Đức Chúa Jêsus Christ và chịu phép báptêm, sẽ được cứu, còn người nào không tin sẽ chịu phán xét". Vì đây là Tin lành; một lần nữa được rao giảng cho quí vị, còn đây là uỷ nhiệm thư của Tin lành ấy — "Hãy tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ, thì ngươi sẽ được cứu". Ôi lạy Chúa, xin giúp chúng con biết tin theo ngay bây giờ, nếu chúng con chưa tin trước đây, vì cớ Chúa Jêsus!
***

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét