Thứ Ba, 19 tháng 1, 2010

Mùa vui mừng trong bài hát



Mùa vui mừng trong bài hát
Luca 1.39-80
1. Có bao giờ bạn để ý thấy người ta thích những bài hát trong dịp Lễ Giáng Sinh không? Năm tháng trôi qua nhưng chính những bài hát ấy quay trở lại đúng sau dịp Lễ Cảm Tạ: Đêm Yên Lặng, Hỡi môn đồ trung tín, Ôi Bêtlêhem ấp nhỏ, Kìa thiên binh cùng nhau trổi hát, Bài ca máng cỏ, tất cả những bài nầy và nhiều bài nữa là những sự nhắc nhớ vô hạn sự giáng trần của Chúa chúng ta. Chúng ta nghe chúng suốt mùa lễ Giáng Sinh, trên các đài phát thanh, trên các thang máy và trên đường dây các hệ thống điện thoại. Chúng ta nghe chúng trong các cửa hàng và nhà hàng. Chúng ta cũng hát những bài hát ấy tại nhà thờ nữa. Tôi thích hát chúng, còn bạn thì sao?
2. Ngay cả những người không tin Chúa, những người chưa hề được sanh lại, những người chưa tuyên xưng đức tin cá nhân mình nơi Chúa Jêsus dường như thích những giai điệu nầy nói về Con Trẻ Christ. Họ ý thức được những cảm xúc bình an, vui mừng và tình yêu thương đầy dẫy linh hồn họ trong cả tuần lễ mỗi năm. Tại sao chứ? Vì trong những bài ca tuyệt vời nầy, họ nhận thức được một tia sáng nhỏ đang chiếu rọi vào cuộc sống tối tăm của họ. Câu 79 cho chúng ta biết rằng sự giáng trần của Chúa Jêsus đã "soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết".
Mới đây, tôi có nghe từ một vị Mục sư có chương trình giảng đạo ngoài trời trong suốt mùa lễ Giáng Sinh. Ông đưa một nhóm ca đoàn ra khỏi nhà thờ đến vài quán bar trong địa phương đó. Họ luôn luôn xin phép chủ quán trước rồi dù có được hoan nghinh hay không, họ vẫn cất tiếng hát. Sau khi hát vài bài thánh ca Giáng Sinh, họ liền trao một số chứng đạo đơn nói về Tin Lành Giáng Sinh. Họ thường nhìn thấy hai hàng nước mắt chảy dài trên đôi gò má … sự sáng đã soi rọi trên những kẻ đang ngồi trong bóng tối tăm.
3. Tôi thích những bài hát xưa về Lễ Giáng Sinh. Mặc dù hầu hết các bài ca đó đều đã được viết ra vào các thế kỷ 17, 18 và 19, chúng vẫn mang sứ điệp đầy quyền lực nói tới sự hoá thân thành nhục thể, việc "mặc lấy xác thịt" của Con Đức Chúa Trời. Những bài ca ấy thật là tuyệt vời, chúng ta cần một số bài ca mới để kỷ niệm sự giáng trần của Thiên Chúa. Những bài ca Giáng Sinh mới đây như: Tôi thấy mẹ hôn ông già Nôên và Một con tuần lộc chở bà đi. Tôi nghe những bài ca Giáng Sinh mới đây được hát lên bởi bầy sóc, mấy con heo, và bầy chó hay sủa kia. Có thể bạn viết giai điệu cho một bài ca Giáng Sinh mới. Ai biết được? Có lẽ một bài ca do bạn viết sẽ được hát lên vào khoảng 200 năm sau.
4. Đối với chúng ta là những người tin Chúa, ca hát về Chúa Jêsus không những là vào dịp lễ Giáng Sinh. Đức Thánh Linh đặt một bài ca trong lòng chúng ta 365 ngày một năm. Êphêsô 5.18-20 cho chúng ta biết phải "đầy dẫy Đức Thánh Linh, Hãy lấy ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa, Hãy thường thường nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta". Chúng ta luôn luôn có một mùa để ca hát.
5. Dân sự của Đức Chúa Trời luôn luôn ca hát chúc tụng Ngài. Trong Phục truyền luật lệ ký 32, chúng ta đọc một bài ca từ MÔISE rằng hãy ngợi khen Chúa và nhắc cho dân sự nhớ đừng lạc sai khỏi Ngài. Vua DAVID đã viết ra nhiều bài hát ngợi khen Đức Giêhôva.
6. Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, chúng ta thấy hai bài hát thật vui mừng được Đức Thánh Linh cảm thúc tán thưởng sự giáng trần sắp đến của Chúa. Bài hát thứ nhứt là từ Mary, mẹ của Chúa Jêsus. Bài hát nầy được gọi là Bài Tụng Ca, đã được hát lên và được nghiên cứu từ những ngày xa xưa của kỷ nguyên Hội Thánh. Bài hát thứ hai là từ Xachari, cha của Giăng Báptít khi ông nói tiên tri các chi tiết đáng kinh ngạc về chức vụ của Chúa Jêsus. Bài hát nầy được gọi là The Benedictus. Bài ca của Mary rất giống với bài ca của An-ne, bài ca của một người mẹ đầy lòng trông đợi. Mặt khác, bài ca của Xachari rất giống với những tác phẩm tiên tri trong Cựu Ước. Chúng ta hãy xem xét cả hai bài ca nầy:
I. Bài ca vui mừng của Mary (các câu 39-56).
A. Nội dung bài ca của Mary (các câu 39-45).
1. Trong các câu 26-38, chúng ta học biết các chi tiết nói tới chỗ thiên sứ "Gápriên" đã được "Đức Chúa Trời sai đến" thành Nazarét để nói với Mary, một thiếu nữ hãy còn trẻ, là người đã "hứa gã" hay đã đính hôn với một người thợ mộc có tên là Giô-sép.
2. Mary nói rằng nàng đã "được ơn" và được "phước trong đám đàn bà" vì không bao lâu nữa nàng sẽ sanh một Con Trai … là Con của Đức Chúa Trời, là Đấng Mêsi. Mary phản ứng rằng nàng chưa "biết" một người nam nào, vì nàng còn đồng trinh. Khi ấy thiên sứ mới giải thích rằng con trẻ sẽ không phải là dòng dõi của con người, mà thuộc về Đức Thánh Linh và nàng sẽ mang thai "Đấng Thánh… là Con của Đức Chúa Trời".
3. Thiên sứ cũng nói cho nàng biết rằng "người bà con" của nàng là Ê-li-sa-bết trong lúc "già nua" đã có mang 6 tháng rồi. Thiên sứ nói thêm, tôi nghĩ với một nụ cười: "Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được".
4. Với thái độ vâng phục, Mary tiếp nhận mạng lịnh của thiên sứ. Nàng nói: "Xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền".
5. Trong câu 39, chúng ta thấy thể nào Mary "chờ dậy, lật đật" rồi đi đến nhà của Ê-li-sa-bết trong "miền núi" xứ Giu-đê. Dường như là nàng không nói cho Giô-sép biết, nhưng đã ra đi rồi ở lại với người bà con của mình trong "ba tháng" (câu 56). Cả hai người nữ nầy đều có thai dưới những hoàn cảnh thật lạ lùng. Nơi Ê-li-sa-bết, bà đã gặp gỡ duy nhứt một người ở trên đất hiểu được bà.
6. Mary bước vào nhà rồi "chào Ê-li-sa-bết", có lẽ bằng một cái ôm hôn. Liền khi đó, nàng đã thấy "con nhỏ ở trong lòng liền nhảy nhót". Cái điều bình thường cho những đứa trẻ là cựa quậy nhiều ở tháng thứ sáu. Đây phải là việc quan trọng, phi thường hơn. Giống như đây là lần đầu tiên Giăng Báptít đã chào mừng Chúa Jêsus lần đầu tiên vậy. 30 năm sau, khi ông chào đón Ngài một lần nữa, ông đã nói: "Kìa! Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi thế gian đi!" (Giăng 1.29).
7. Ở điểm nầy, Ê-li-sa-bết đã được "đầy dẫy Đức Thánh Linh" rốt thốt ra "với một giọng lớn tiếng". Đức Chúa Trời đã ban cho Ê-li-sa-bết một lời đặc biệt về Mary.
8. Bà nói: "Ngươi có phước trong đám đàn bà". Kể từ khi lời hứa của Đức Chúa Trời trong Sáng thế ký 3.15, những người nữ tin kính trong xứ Israel đã hy vọng mình trở thành mẹ của Đấng Mêsi, là Cứu Chúa của thế gian. Đức Chúa Trời đã chọn cô thiếu nữ khiêm ty nầy từ một ngôi làng nhỏ trong hàng triệu người nữ Hêbơrơ cho vai trò đặc biệt nầy.
9. Ê-li-sa-bết cũng nói: "Thai trong lòng ngươi cũng được phước". Không cứ cách nào đó, qua lời tiên tri nầy, bà vốn biết rõ Mary đang mang thai Đấng Mêsi.
10. Bà tiếp tục nói bằng cách đưa ra câu hỏi: "Nhân đâu ta được sự vẻ vang nầy, là mẹ Chúa ta đến thăm ta?" Hãy chú ý là chẳng có một sự ganh tỵ nào cả. Mặc dù mang thai một đứa con trong lúc "già nua" là một việc thật lạ lùng rồi, bà biết rõ Mary còn được phước hơn mình.
11. Dường như tim của Mary đã đập thình thịch khi Ê-li-sa-bết mô tả con của bà đã "nhảy mừng ở trong lòng". Ê-li-sa-bết tiếp tục chúc phước cho Mary thêm nữa vì bà đã "tin" lời hứa ra từ Đức Giêhôva … không giống như Xachari … về sau mới tin.
B. Sứ điệp trong bài ca của Mary (các câu 46-55).
Khi chúng ta xem xét bài ca của Mary, Bài Tụng Ca, có ba lẽ thật rất là rõ ràng: Thứ nhứt, Mary cũng được "đầy dẫy Đức Thánh Linh". Mấy lời nầy ra từ Đức Chúa Trời. Thứ hai, Mary biết rất nhiều về Kinh Thánh Cựu Ước, đặc biệt là Sáng thế ký, các Thi thiên cùng các sách tiên tri. Bài ca ấy đầy những dẫn chứng. Thứ ba, Mary vốn biết nhiều về bổn tánh của Chúa.
1. Mary biết rõ Đức Chúa Trời là Cứu Chúa Lạ Lùng (các câu 46-48).
a. Trước tiên, nàng nói rằng "linh hồn tôi ngợi khen Chúa". Từ ngữ "ngợi khen" thường có ý nói: "chúc tụng, tán dương hay công bố ra sự cao trọng của…". Tuy nhiên, ý chính của từ ngữ nầy là "mở rộng" giống như một TẤM KÍNH PHÓNG ĐẠI vậy. Chúng ta càng đến gần Chúa hơn Ngài càng mở rộng ra thêm. Mary cảm thấy mình gần gũi với Đức Chúa Trời đến nỗi khi nàng thờ phượng, Ngài được mở rộng thêm trong ánh mắt của nàng. Cũng một ý nghĩa ấy, đấy là những gì sự thờ phượng cũng sẽ có ý nghĩa với chúng ta nữa!
b. "Tâm thần tôi… mừng rỡ trong Đức Chúa Trời" là "Cứu Chúa" của nàng. Trước lời công bố phước hạnh nầy, nhờ đức tin nàng biết rõ Đức Chúa Trời là "Cứu Chúa" duy nhứt của mình. Giờ đây, nàng càng hiểu rõ hơn. Đức Chúa Trời sẽ đến trong loài xác thịt qua chính xác thịt của nàng để làm "Cứu Chúa" của thế gian (đối chiếu Thi thiên 34).
c. Nàng cũng đưa ra lý do cho thái độ biết ơn của mình. Đức Chúa Trời đã "đoái đến" hay đã chọn lựa nàng, một con người có "địa vị thấp hèn" xuất thân từ một thị trấn nhỏ nhoi để nhận lãnh vinh dự nầy. Chúng ta đáng phải ngợi khen Đức Chúa Trời dường bao theo Êphêsô 1.4: Đức Chúa Trời "trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ".
d. Mary cũng nhìn biết rằng từ thời điểm ấy trở đi, "muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước". Không một người nào sẽ quên được nàng. Giờ đây, chúng ta biết Mary là một thiếu nữ tuyệt vời được Đức Chúa Trời "chúc phước" để đảm nhận một vai trò đặc biệt; tuy nhiên, chúng ta không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ được truyền cho phải thờ lạy nàng. Mary là một con người giống như chúng ta. Phân đoạn Kinh Thánh nầy nói rất rõ: nàng là một người thờ lạy, chớ không phải là đối tượng của sự thờ phượng!
2. Mary biết rõ Đức Chúa Trời là nguồn sức lực của chúng ta (các câu 49-50).
a. Mary nói Đức Chúa Trời là "Toàn Năng" hay mạnh sức. Sức lực của Đức Chúa Trời rất rõ ràng đối với nàng. Nàng hoàn toàn bị phủ lút vì Ngài "đã làm những việc lớn" trong đời sống của nàng. Có lẽ nàng đã suy gẫm về mọi lời nói của thiên sứ trong câu 37: "Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được".
b. Nàng nói: "Danh Ngài là thánh". Nàng biết điều nầy trước rồi, nhưng bây giờ mới thực sự biết rõ danh ấy. Một ngày kia tất cả mọi người sẽ nói như thế về Con của nàng (Philíp 2.9-11).
c. Nàng nói Ngài "thương xót kẻ kính sợ Ngài". Câu nầy ra từ Thi thiên 103.17. "Kính sợ" không nhất thiết có nghĩa là: "phải e sợ", mà đúng hơn, tôn vinh Ngài bằng sự thờ lạy và vâng phục.
3. Mary biết Đức Chúa Trời là Quan Án Công Bình (các câu 51-53).
a. Khi chúng ta đọc mấy câu nầy, rõ ràng là trong lý trí của Mary, sự chọn lựa của Đức Chúa Trời về hai nhân vật khiêm ty giống như nàng và Ê-li-sa-bết chỉ ra một nguyên tắc mạnh mẽ trong đó Đức Chúa Trời sẽ làm mới lại muôn vật qua Đấng Mêsi hầu đến.
b. Những gì con người xem là quan trọng, Đức Chúa Trời đã "bỏ đi", "hạ xuống" và "gạt qua một bên". Điều chi con người xem là không quan trọng, Đức Chúa Trời lại "tôn cao" và "làm cho đầy dẫy". Chúng ta thấy một nguyên tắc tương tự ở I Côrinhtô 1.26- 31.
4. Mary biết Đức Chúa Trời là Cha thành tín của chúng ta (các câu 54-55).
a. Đây là dòng sau cùng của bài ca, là chữ "Amen" cho lời cầu nguyện của nàng. Nàng đã nhìn tới đàng trước thấy những gì Đức Chúa Trời sẽ làm trong vai trò Quan Án Công Bình và giờ đây nàng dựa vào những điều Ngài đã làm … Ngài là Cha thành tín.
b. Đức Chúa Trời vốn thành thực với mọi lời hứa của Ngài. Ngài "đã vùa giúp Israel". Ngài nhớ lại giao ước thương xót của Ngài mà Ngài đã "phán cùng tổ phụ chúng ta vậy". Ngài nhớ lại giao ước mà Ngài đã ban cho "Áp-ra-ham cùng con cháu người luôn luôn". Đức Chúa Trời chưa hề bất nghĩa trong quá khứ và sẽ không bao giờ bất tín trong tương lai.
C. Phần kết thúc bài ca của Mary (câu 56). Mary đã ở lại với Ê-li-sa-bết "chừng ba tháng". Họ đã có những lời lẽ trao đổi thật là tuyệt vời. Dường như là nàng đã ở lại cho tới trước khi Giăng Báptít ra đời và rồi đã "trở về nhà mình". Rõ ràng, khi con trẻ ra đời sẽ có một dòng khách viếng thăm và rõ ràng là Mary đã có mang chừng ba tháng. Giờ đây đã đến lúc phải nói cho Giô-sép biết.
II. Bài ca vui mừng của Xachari (các câu 57-80).
A. Nội dung bài ca của Xachari (các câu 57-67).
1. Trong các câu 5-25, chúng ta học biết rằng thiên sứ Gápriên cũng đã loan báo sự ra đời của Giăng Báptít, không phải với mẹ của Giăng, mà với cha của Giăng, Xachari là một thầy tế lễ, phục vụ trong đền thờ tại thành Jerusalem.
2. Thầy tế lễ phục sự tùy theo mùa, thường sinh sống ở nơi khác gần thành Jerusalem tại "miền núi" cứ Giu-đê và tại thành Giê-ri-cô. Lời loan báo đã đến khi Xachari đang "phục sự" trong đền thờ và tới phiên ông phải "dâng hương". Khi ông đang dâng hương, ông nhìn thấy thiên sứ Gáp-ri-ên đứng bên bàn thờ.
3. Gáp-ri-ên nói cho ông biết rằng vợ ông sẽ sanh cho ông một con trai, dù cả hai người đều đã "cao tuổi". Con trai nầy sẽ được "tôn trọng trước mặt Chúa" và sẽ được "đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ”. Người cũng sẽ có một lời thề giống như một người Na-xi-rê.
4. Con trai nầy sẽ "đi trước mặt" Đấng Mêsi, "sẽ lấy tâm thần quyền phép Ê-li … đặng sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng".
5. Trong câu 18, chúng ta thấy rằng Xachari đã thắc mắc sự nầy về phần xác có còn được hay không!?! Vì cớ ông thiếu đức tin, Gáp-ri-ên nói rằng ông sẽ bị "câm", không nói được "cho đến ngày nào các điều ấy xảy ra".
6. Sau khi Mary ở lại với họ chừng ba tháng rồi trở về nhà, khi Ê-li-sa-bết "đến ngày mãn nguyệt", bà đã sanh một con trai. Tất cả "xóm riềng bà con… chia vui cùng người".
Đến ngày trình diện con trẻ, họ không nói được một điều gì trừ ra câu "Chúa tỏ ra sự thương xót cả thể cho Ê-li-sa-bét". Ê-li-sa-bết không còn son sẻ nữa; sự xấu hổ của bà không còn nữa!
7. Đến "ngày thứ tám" theo luật Do thái, họ đem trình con trẻ nam để chịu phép cắt bì. Trong suốt nghi thức nầy, đứa trẻ phải được đặt tên chính thức. Xóm riềng và bà con mạnh dạn đề nghị phải đặt tên cho con trẻ là "Xachari, theo tên của cha". Tuy nhiên, mẹ nó khẳng định rằng tên của nó phải là "Giăng" (ân ban của Đức Chúa Trời; Đức Giêhôva rất giàu ơn).
8. Mọi người đều bối rối vì chẳng có ai trong "bà con" của bà "có tên đó". Vì vậy, họ "ra dấu" cho Xachari. Họ cự nự ông. Kỳ lạ ở chỗ là mấy người nầy dính dáng vào các vụ việc của gia đình đang khi chẳng phải là công việc của họ? Ngày nay điều nầy vẫn còn xảy ra!
9. Với một "tấm bảng nhỏ", Xachari đã viết: "Giăng là tên nó". Ông đã không viết: "Chúng tôi quyết định gọi tên nó là Giăng" hay "Giăng là một cái tên hay". Ông đã nói: "Giăng LÀ tên nó". Tên ấy đã được định liệu rồi. Ông sẽ làm theo ý chỉ của Chúa mà không thắc mắc gì hết.
10. Chẳng bao lâu sau khi điều nầy diễn ra "miệng người mở ra, lưỡi được thong thả". Lần đầu tiên trong chín tháng trời, ông đã nói được và lời lẽ thốt ra khỏi miệng ông là "ngợi khen Đức Chúa Trời".
11. Đây là câu nói của cộng đồng. Ai nấy đều lấy làm lạ rồi hỏi: "Ấy vậy, con trẻ đó sẽ ra thể nào?"
B. Sứ điệp trong bài ca của Xachari (các câu 68-79). Khi Xachari sau cùng đã nói được, đã có những lời lẽ đầu tiên ra từ miệng ông. Ông, giống như Ê-li-sa-bết và Mary trước ông, đã được "đầy dẫy Đức Thánh Linh". Trong chín tháng ông đã im lặng xem xét công việc của Chúa. Với đặc ân của một tiên tri thời Cựu Ước, bài ca tụng của ông [Benedictus] nói tới sự thương xót của Chúa, giống như trong tên "Giăng" vậy.
1. Xachari biết Đức Chúa Trời là Đấng cứu chuộc đầy lòng thương xót (các câu 68- 70).
a. Xachari đã "chúc phước" Giêhôva Đức Chúa Trời vì trong Đấng Mêsi Ngài đã "thăm viếng" (ở cùng chúng ta "Em-ma-nu-ên) và đã "chuộc" chúng ta. Dù ông rất cảm động về sự ra đời của đứa con trai mình là Giăng. Ở đây chúng ta thấy ông vui sướng hớn hở nhiều hơn về sự giáng trần không bao lâu nữa của Đấng Mêsi.
b. Đức Chúa Trời cũng "ngước sừng cứu rỗi của Ngài lên". Có hai ý nghĩa ở đây: Thứ nhứt, sừng là biểu tượng cho sức mạnh của một con thú. Thứ hai, trong Cựu Ước nắm lấy sừng của bàn thờ là lời cầu xin được thương xót và sự tha thứ. Cũng hãy chú ý rằng "sự cứu rỗi" nầy sẽ đến qua "nhà Đa-vít, tôi tớ Ngài" (đối chiếu II Samuên 7.12-13). Giăng không thuộc về nhà David, chỉ có Chúa Jêsus mà thôi.
c. Chúa phán điều nầy "qua miệng" của “các thánh tiên tri"
2. Xachari biết Đức Chúa Trời là Đấng Giải Cứu đầy lòng thương xót (các câu 71- 75).
a. "Các đấng tiên tri" đã nói điều gì? Có hơn 400 tham khảo đến Đấng Mêsi trong Cựu Ước. Họ đã nói đến sự thực rằng dân sự của Đức Chúa Trời sẽ được "cứu khỏi tay kẻ nghịch thù". Điều nầy không đề cập đến Rome, mà đề cập tới quyền phép của kẻ dữ.
b. Đức Chúa Trời sẽ "thương xót … nhớ lại giao ước thánh của Ngài", "lời thề" đã được thốt ra với Ápraham. Lời thề ấy đặc biệt ở trong Sáng thế ký 12.3: "các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước".
c. Mặc dầu qua sự cứu rỗi, chúng ta đã được "giải cứu" ra khỏi quyền lực và án phạt của tội lỗi rồi, sự ứng nghiệm trọn vẹn là khi Đấng Christ dựng lên vương quốc của Ngài và khi ấy chúng ta sẽ "lấy sự thánh khiết và công bình mà hầu việc Ngài".
3. Xachari biết Đức Chúa Trời là Đấng Tiếp Trợ có lòng thương xót (các câu 76- 79).
a. "Con trẻ" của Xachari sẽ được gọi là "tiên tri của Đấng Rất Cao". Không giống với những tiên tri trong Cựu Ước, họ nói trước về sự đến của Đấng Mêsi, Giăng sẽ giới thiệu Ngài theo cách riêng! (Giăng 1.29).
b. Giăng sẽ "đi trước mặt Ngài" và "dọn đường Ngài" ("ban thẳng đường Ngài") và "để cho dân Ngài bởi sự tha tội họ mà biết sự rỗi" ("Ăn năn vì Nước thiên đàng đã gần rồi!").
c. Đức Chúa Cha trong sự "động lòng thương xót" của Ngài đã "thăm viếng chúng tôi" với "mặt trời mọc lên từ nơi cao". Đấy là những gì Lễ Giáng Sinh đã nói đến! "Lòng thương xót" của Đức Chúa Trời đã đến với chúng ta trong chiếc máng cỏ!
d. "Mặt trời mọc lên" là tước hiệu rất xinh đẹp dành cho Chúa Jêsus. Tước hiệu chỉ được sử dụng ở đây. Sát nghĩa tước hiệu ấy là: "buổi bình minh, mặt trời đang mọc lên". Cựu Ước đã nói bóng về sự nầy. Êsai 60.1-2 chép: "Hãy dấy lên, và sáng lòe ra! Vì sự sáng ngươi đã đến, và vinh quang Đức Giê-hô-va đã mọc lên trên ngươi. Nầy, sự tối tăm vây phủ đất, sự u ám bao bọc các dân; song Đức Giê-hô-va dấy lên trên ngươi, vinh quang Ngài tỏ rạng trên ngươi". Malachi 4.2 chép: "Nhưng về phần các ngươi là kẻ kính sợ danh ta, thì mặt trời công bình sẽ mọc lên cho, trong cánh nó có sự chữa bịnh; các ngươi sẽ đi ra và nhảy nhót như bò tơ của chuồng". Có bao giờ bạn nhìn thấy mặt trời xua tan bóng tối tăm đi chưa? Đấy chính xác là điều mà Chúa Jêsus ngự đến để lo làm đấy. Đừng nghĩ đến Lễ Giáng Sinh nhiều như một con trẻ đang nằm trong máng cỏ. Hãy nghĩ tới Lễ ấy như ánh mặt trời thương xót của Đức Chúa Trời đang mọc lên vậy!
4. "Mặt trời mọc lên" hay Bình Minh, Chúa Jêsus đã đến để "soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết". Ngài đã đến hầu cho Ngài "đưa chân chúng tôi ĐI đường bình an…" nghĩa là "hoà thuận lại với Đức Chúa Trời". Rôma 5.1 chép: "Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta".
C. Phần kết thúc bài ca của Xachari (câu 80). "Con trẻ ấy lớn lên", chương trình của Đức Chúa Trời đã được ứng nghiệm. Chúng ta không ca hát vì truyền thống, chúng ta ca hát vì "Mặt Trời Mọc Lên" chiếu sáng trong đời sống của chúng ta!
***

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét