Hiển thị các bài đăng có nhãn Strong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Strong. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010

Đồn lũy tha thứ



Đồn lũy tha thứ
Một thời gian ngắn sau khi được tuyên bố trắng án, Tổng Thống Bill Clinton đã bước lên bục đặt ngay ở bên ngoài Nhà Trắng và đưa ra một vài lời bình. Rồi ông quay trở lại bên trong và lúc ông đang đi thì có người đứng trong chỗ dành cho các phóng viên lớn tiếng hỏi: "Thưa Tổng Thống Clinton, Ngài có thể tha thứ không?” Tổng Thống quay trở lại bục gỗ kia đáp: "Người nào cầu xin sự tha thứ phải bằng lòng ban nó ra”.
Chúa Giêxu khi dạy cho các môn đồ Ngài cầu nguyện, Ngài dạy họ rằng khi họ xin được tha thứ họ phải bằng lòng tha thứ.
Mathiơ 6.12: “Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi”.
Sau khi nghe tiếng “Amen” thốt ra, Chúa Giêxu ban ra phần huấn thị sâu sắc hơn về sự tha thứ, cốt lõi của sự tha thứ ấy là . . .đừng mong sự tha thứ nếu quí vị không tha thứ.
Mathiơ 6.14-15: “Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi”.
Sau khi nghe lời dạy của Chúa Giêxu, có những thắc mắc đã dấy lên . . .
Quí vị đã được tha thứ chưa?
Quí vị có thể tha thứ không?
Quí vị có thể tha thứ cho ai?
Quí vị đã tha thứ chưa?
Trong Mathiơ 24, Chúa Giêxu cảnh cáo rằng trong những ngày sau rốt có nhiều người sẽ bị tổn thương, bị phản bội, và thù ghét lẫn nhau. Vì tình trạng phi luật pháp, không có lời Đức Chúa Trời trong tấm lòng của nhiều người nam và người nữ, tình yêu thương sẽ nguội dần.
"Nếu chúng ta đạt tới mức tình yêu cao cả nầy, chúng ta sẽ liên tục bị buộc phải đưa ra sự lựa chọn giữa sự thương xót và sự không tha thứ. Nếu chúng ta không ăn ở trong một thái độ luôn tha thứ, chắc chắn chúng ta sẽ trở thành con mồi cho một tâm linh cay đắng" -- Francis Frangipane
Sự tha thứ dường như là một trong những kinh nghiệm vừa ngọt vừa đắng ở chỗ nó ngọt ngào khi nhận lãnh sự tha thứ, nhưng cay đắng ở những thời điểm khi chúng ta phải ban ra sự tha thứ. Muốn có khả năng yêu thương và tha thứ, điều nầy đặt chúng ta vào Đồn Lũy Tha Thứ. Còn từ chối không tha thứ cho người khác đặt chúng ta vào Đồn Lũy Không Tha Thứ của ma quỉ.
1. ĐỒN LŨY KHÔNG THA THỨ:
Mathiơ 5.15: “Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi”.
Đối ngược với sự tha thứ là . . .
Sự tức tối – muốn bịnh khi có việc gì sai trái, sĩ nhục, hay tổn thương.
Đỗ thừa – hiểu trách nhiệm
Phê phán – tìm thấy lỗi lầm
1a. Tù túng về mặt thuộc linh:
Mathiơ 18.33-35: “Ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đã thương xót ngươi sao? Chủ nổi giận, phú nó cho kẻ giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ. Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy”.
Từ chối không tha thứ là tự áp đặt cho mình sự tù túng. Bao lâu chúng ta từ chối không tha thứ, một phần trong chúng ta bị tù túng đối với quá khứ, là chỗ mà chúng ta được nhắc nhớ về nỗi đau thương của mình.
Chúng ta đang ở trong mối tương giao với Đức Chúa Trời “ở đây và ngay bây giờ”. Thế nhưng khi chúng ta từ chối không tha thứ, chúng ta không đang sống ở đây hoặc ngay bây giờ, mà đang sống trong quá khứ, và chúng ta tự dứt bỏ đối với những gì Đức Chúa Trời muốn thực thi trong đời sống của chúng ta ngay hôm nay. Chúng ta tự bỏ tù mình cùng với mọi cảm xúc đau thương và cay đắng của sự không tha thứ.
Cho tới chừng nào chúng ta có thể tha thứ như Đức Chúa Trời tha thứ cho chúng ta, chúng ta chưa được buông tha trọn vẹn hầu tiếp tục sống với đời sống của chúng ta.
2b. Sự chết về mặt thuộc linh:
Có những người trong đời sống chúng ta mà chúng ta không tha thứ và chúng ta không yêu thương họ. Sự chết thuộc linh sinh ra từ đời sống từ chối không chịu tha thứ. Về mặt thuộc linh, chúng ta chết ngay điểm mà chúng ta đánh mất khả năng yêu thương giống như Đức Chúa Trời yêu thương.
Bất cứ ai nói: "Cuộc sống không công bằng!" thì luôn luôn đúng! Nhưng chúng ta khao khát sống trong điều chi là “công bằng” đối cùng chúng ta khi điều chi là công bằng chỉ có thể phán đoán trong con mắt của cõi đời đời. Luôn luôn nhận thấy mình như bị đối xử “bất công” sẽ đẩy chúng ta đi xa hơn, vào trong sự tự tù túng, đến chỗ chúng ta mất tập trung vào Đức Chúa Trời, là nguồn sự sống, và chúng ta đang chết khi cỡi trên lưng con ngựa báo thù.
Đồn lũy không tha thứ là đồn lũy không có sự thương xót.
2. ĐỒN LŨY THA THỨ:
Mathiơ 6.14: “Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi”.
Sự tha thứ:
Bằng lòng thôi không tức tối nghịch lại kẻ gây mích lòng.
Bằng lòng thoải mái khi trả một món nợ.
Bằng lòng chấp nhận lý cớ sai lầm hay yếu đuối.
Đức Chúa Trời rất sốt sắng khi tha thứ. Ngài khao khát bày tỏ ân điển đối cùng chúng ta. Ngài khao khát muốn tha thứ và hủy bỏ món nợ.
Dân số ký 14.18: “Đức Giê-hô-va vốn chậm nóng giận và đầy ơn; hay xá điều gian ác và tội lỗi; nhưng không kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt con cháu trải ba bốn đời”.
Tha thứ cho ai đó là quá nhiều đối với quí vị một khi đó là người mà quí vị sẽ tha thứ.
1a. Sự tự do thuộc linh
Mathiơ 18.1-22: “Phi-e-rơ bèn đến gần Đức Chúa Jêsus mà hỏi rằng: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng? Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy”.
Chúa Giêxu đang dạy điều gì ở đây? Phải chăng đây là sự tha thứ theo kiểu toán học hay sự tha thứ không giới hạn? Sự tha thứ theo kiểu toán học nói về sự xúc phạm lần thứ 491 tôi không nên tha thứ. Sự tha thứ không giới hạn nói tôi sẽ tha thứ không dứt vì tôi không bị gò bó hay tù túng bởi sự xúc phạm. Về mặt thuộc linh, tôi sống tự do để tha thứ và cứ tiếp tục sống.
Khi tôi được kêu gọi để bắt đầu học tập để bước vào chức vụ, Đức Chúa Trời đã hành động trên tấm lòng của tôi để bắt đầu quá trình tha thứ cho cha tôi. Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho tôi thấy rằng sự tôi tha thứ cho ông ấy là rất quan trọng nếu tôi sắp sửa bắt tay phục vụ cho tha nhân. Tôi đã đấu tranh với sự tha thứ cho ông trong nhiều lần tổn thương mà ông đã áp đặt trên tôi, mẹ tôi, anh chị em tôi.
Nhưng Đức Chúa Trời cứ tiếp tục hành động trong tấm lòng của tôi cho tới một ngày kia, tôi biết mình phải đi gặp cha tôi để tha thứ và cầu xin được tha thứ. Ngày ấy thật là gay go và rất khó chịu. Tôi đã đến gần cha tôi và cầu xin ông tha thứ cho tôi vì đã tức tối, cay đắng, và tâm thần chỉ trích, phê phán đối cùng ông. Ông nói ông đã tha cho tôi rồi. Kế đó tôi nói với ông tôi đã tha thứ cho ông, và ông nhìn tôi rồi nói: "Ta cần con tha thứ cho ta vì những điều ta đã làm cho con". Hết thảy những năm tháng tức tối và cay đắng tự lưu đày mình đã khởi sự biến mất trong tôi. Tôi cảm thấy những chấn song đóng lại trong tôi một lần nữa. Nhưng Đức Chúa Trời đã nhắc cho tôi nhớ tôi sẽ được tự do nếu tôi chịu tha thứ. Những chấn song lìa khỏi tôi và tôi nói với cha tôi: "Bố ơi, con không có mặt ở đây để nói tới những gì bố đã làm cho con, nhưng để tha thứ và được tha thứ hầu cho con có thể tiếp tục cuộc sống của mình. Con yêu bố và con tha thứ cho bố". Tôi ra về như một con người tự do và được tha thứ không còn bị ràng buộc bởi đồn lũy không tha thứ nữa.
2b. Sự sống thuộc linh:
Ân điển mà Đức Chúa Trời ban cho để sống vượt cao lên trên, trổi hơn kẻ làm sự xúc phạm và sự xúc phạm, từ đó có sự tự do. Sức khoẻ lành mạnh và sự tấn tới về mặt thuộc linh trong cuộc sống khi có sự tha thứ.
Nằm giữa sự cầu nguyện xin được tha thứ và sự lựa chọn để tha thứ trong Mathiơ 6 là niềm hy vọng và sự khao khát của Cơ đốc nhân được dẫn ra khỏi những giờ cám dỗ.
Mathiơ 6.13: “Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ, mà cứu chúng tôi khỏi điều ác! [Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men.]”
Có những lúc khi chúng ta bị cám dỗ không tha thứ cho ai đó. Chúng ta phải tin cậy Đức Chúa Trời vì quyền phép của Ngài lớn hơn sự cám dỗ.
I Côrinhtô 10.13: “Những sự cám dỗ đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu; nhưng trong sự cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được”.
Đời sống thuộc linh dẫn tôi vào sự tự do thoải mái phục vụ vì tôi tha thứ không giới hạn.
Mathiơ 5.44-45: “Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi, hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác”.
Tự do để tha thứ giờ đây nói Ta được tự do để…
Làm lành cho họ
Cầu nguyện cho họ
Yêu thương họ
Tha thứ cho họ
"Mỗi lần quí vị nói: 'Lạy Cha, con chọn yêu thương; con chọn tha thứ; con chọn quên đi mà không giữ sự cay đắng và không tha thứ đối cùng con người đó', quí vị đang nắm lấy bổn tánh của Đấng Christ. Hãy vui mừng đi! Chúa Giêxu đang ngự trên tấm lòng của quí vị! Quí vị đang bước vào đồn lũy của Đức Chúa Trời " -- Francis Frangipane
Amen!
***

Đồn lũy Cảm Tạ



Đồn lũy Cảm Tạ
"Tính cách đời sống của bạn, dù bạn thích hay ghét cuộc sống đó, dựa theo thái độ cảm tạ mà bạn dành cho Đức Chúa Trời. Thái độ của chúng ta quyết định sự sống đối với chúng ta là một nơi sướng hay khổ" -- Franis Frangipane
Cảm tạ là một phần trạng thái của tấm lòng. Những người có đời sống được nâng đỡ bằng sự cảm tạ sẽ thấy đời sống khấm khá hơn, trong khi người nào không biết cảm tạ sẽ thấy cuộc sống càng lúc càng tệ hại hơn.
Mỗi một người chúng ta đều có cùng một cơ hội như nhau khi tận hưởng các đoá hoa hồng hoặc than phiền về các mũi gai. Đối với người nào chọn tận hưởng và biết cảm tạ, họ được chuẩn bị tốt để đứng vững trong ngày gian nan hơn hạng người chỉ biết than phiền.
Thi thiên 9.9: “Đức GIÊHÔVA sẽ làm nơi náu ẩn cao cho kẻ bị hà hiếp, một nơi náu ẩn cao trong thì gian truân”.
Đối với chúng ta, chính tư tưởng sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời trong lúc gian nan làm cho tấm lòng phải thốt lên một lời cảm tạ.
1. MỐI NGĂN TRỞ SỰ CẢM TẠ:
Đối với nhiều người đây không phải là câu nói cảm tạ, mà là câu nói thất vọng và than phiền: "Nếu Đức Chúa Trời thực sự yêu thương tôi, Ngài sẽ không để điều nầy xảy ra cho tôi!"
Trong lời lẽ của tác giả Thi thiên: . . . “Nguyện người ta ngợi khen Đức GIÊHÔVA vì sự nhơn từ Ngài, và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!" – Thi thiên 107:8,15,21,31
Nhiều khi chúng ta rất giống với Giôna chỉ cảm tạ có một phút thôi, nhưng sau đó tức khắc chúng ta nổi cơn giận dữ và chao đảo.
Giôna 4.6-9: “Vả, Đức GIÊHÔVA sắm sẵn một dây giưa cao lên bên trên Giôna, đặng phủ bóng trên đầu người, và cứu người khỏi sự khổ cực. Giôna rất vui vì cớ dây ấy. Nhưng bữa sau, vừa lúc hừng đông, Đức Chúa Trời sắm một con sâu, sâu chích dây ấy đến nỗi héo. Đoạn, đến khi mặt trời mọc, Đức Chúa Trời sắm gió cháy thổi từ phương đông, và mặt trời giọi xuống trên đầu Giôna, đến nỗi ngất đi, và cầu chết mà rằng: Về phần tôi, chết còn hơn sống! Đức Chúa Trời bèn phán cùng Giôna rằng: Ngươi nổi giận vì cớ dây nầy có nên không? Người thưa rằng: Tôi giận cho đến chết cũng phải lắm”.
Nhiều đoàn dân đông trong xứ chúng ta đã trở thành hạng chuyên gia về khoa đau khổ" – (Francis Frangipane). Con người là chuyên gia tiên đoán mọi việc và mong mỏi cái thế giới bất toàn nầy đối xử đàng hoàng với họ. Chúng ta đã trở thành một dân vô ơn bạc nghĩa . . . khi tinh thần không biết cảm tạ đang cai trị tấm lòng của chúng ta.
Trong một số nơi ở Mexico các dòng nước nóng và dòng nước lạnh được thấy song hành với nhau – và vì sự thuận lợi của hiện tượng thiên nhiên nầy mà nữ giới thường đem quần áo ra giặt và đun sôi chúng trong các dòng nước nóng, rồi kết đó đem xả chúng trong các dòng nước lạnh. Một du khách, ông nầy đang quan sát cách làm nầy đã lên tiếng phê bình với hướng dẫn viên người Mexico của ông như sau: "Tôi tưởng rằng họ nghĩ Đức Chúa Trời quá rời rộng khi cung ứng cả dòng nước giặt nóng và lạnh ở đây song hành với nhau cho họ sử dụng miễn phí?" Người hướng dẫn viên kia đáp: "Không đâu, thưa ông, có nhiều tiếng lằm bằm vì Ngài không cung cấp xà phòng kìa”.
Chúng ta khám phá ra điều gì cho cuộc sống khi chúng ta than phiền? Kẻ hủy diệt!
I Côrinhtô 10.10-11: “Lại cũng chớ lằm bằm như mấy người trong họ đã lằm bằm mà bị chết bởi kẻ hủy diệt. Những sự ấy có nghĩa hình bóng, và họ đã lưu truyền để khuyên bảo chúng ta là kẻ ở gần cuối cùng các đời”.
Con cháu Israel đã thường than phiền khi phiêu bạt trong đồng vắng. Nếu đấy không phải là nước, thì đấy là mana và lòng ham muốn có thịt ăn, và nếu không phải như thế thì đấy là tư dục muốn thờ lạy giả dối. Họ là hạng người chỉ biết than phiền hơn là biết dâng lên lời cảm tạ. Thế rồi Côrê đã lãnh đạo một cuộc nổi loạn chống lại Môise và Arôn, là những nhà lãnh đạo của họ và Đức Chúa Trời đã có đủ sự than phiền cay đắng của họ, và Ngài đã sai một trận dịch đến giữa vòng họ đặng hủy diệt họ (Dân số ký 16.41-50).
Hãy lưu ý Phaolô đã nói gì về nổi khổ của họ khi không biết thốt ra lời cảm tạ. Sự ấy đã nêu gương cho chúng ta để chỉnh sửa chúng ta. Chúng ta cần phải tự sửa lấy mình bằng cách nhìn xem đời sống của họ. Mối ngăn trở sự cảm tạ của họ không nên có trong đời sống chúng ta.
2. KHIÊM NHƯỜNG CẢM TẠ:
Nếu chúng ta nghĩ tới cách sống ấy, thì đấy là lối sống duy nhất mà chúng ta phải sống trước khi bước qua cõi đời đời. Phaolô cảnh cáo chúng ta trong những ngày sau rốt có nhiều người sẽ trở nên đủ thứ “không biết cảm tạ” (II Timôthê 3.2). Liệu chúng ta sẽ bước vào cõi đời đời với thái độ không biết cảm tạ sao? Đó là một tư tưởng khiêm nhường, nó dẫn chúng ta bước vào đồn lũy dâng lên lời cảm tạ.
Thi thiên 100.1-5: “Hỡi cả trái đất, Hãy cất tiếng reo mừng cho Đức GIÊHÔVA! Khá hầu việc Đức GIÊHÔVA cách vui mừng, Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài. Phải biết rằng GIÊHÔVA là Đức Chúa Trời. Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài; Chúng tôi là dân sự Ngài, là bầy chiên của đồng cỏ Ngài. Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài, Hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài. Khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài. Vì Đức GIÊHÔVA là thiện; sự nhơn từ Ngài hằng có mãi mãi, và sự thành tín Ngài còn đến đời đời”.
Thái độ cảm tạ làm bật ra hành động.
- Cất tiếng reo mừng - Hầu việc cách vui mừng - Hát xướng - Vào các cửa Ngài với sự cảm tạ và ngợi khen - Cảm tạ Chúa
Cuộc sống thực không dựa trên những gì chúng ta có, mà dựa trên những gì chúng ta có thể vui mừng. Hãy chú ý tác giả Thi thiên nói chúng ta không tự dựng nên mình, còn Đức Chúa Trời đã chủ ý dựng nên chúng ta để dâng lên Ngài sự cảm tạ. Tại sao vậy?
- Vì Đức GIÊHÔVA ... Đấng đã tể trị đời sống chúng ta, Ngài là tốt lành. - Sự thương xót của Ngài còn đến đời đời ... người tin Chúa nhận lãnh sự thương xót, còn người không tin Chúa nhận lãnh sự công bình. - Lẽ thật của Ngài còn đến muôn đời ...Hôm qua, ngày nay cho đến đời đời Đức Chúa Trời vẫn y nguyên.
Henry Ward Beecher đã nói: "Kiêu ngạo luôn luôn giết chết sự cảm tạ . . . một người kiêu ngạo có lúc lại là một người rất biết ơn, vì hắn nghĩ hắn đang nhận lãnh đúng y như hắn đáng được". Chúng ta phải biết cảm tạ, chúng ta không nhận lãnh những gì chúng ta đáng được, vì chúng ta thực sự đáng ở trong địa ngục.
Đây là những gì chúng ta cần phải làm để bước vào đồn lũy cảm tạ.
I Têsalônica 5.15-18: “Hãy giữ, đừng có ai lấy ác báo ác cho kẻ khác; nhưng hãy tìm điều thiện luôn luôn, hoặc trong vòng anh em, hoặc đối với thiên hạ. Hãy vui mừng mãi mãi, cầu nguyện không thôi, phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy”.
Bạn có thấy chìa khoá không? "Phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa!" “Phàm việc gì”, có nghĩa gì nào? Những lúc hanh thông chăng? Hay những lúc tốt và xấu? Đức Chúa Trời không bảo chúng ta phải tận hưởng những lúc tồi tệ trong cuộc sống, mà bảo chúng ta phải cầu nguyện và phải cảm tạ luôn.
Lần kia, có một vị Mục sư, ông luôn luôn dâng lời cảm tạ Chúa trong mọi sự. Thái độ cảm tạ của ông đã làm cho vài thuộc viên Hội Thánh bực bội. Vào một ngày Chúa nhật lạnh giá, họ cố tình làm cho vị Mục sư không tìm được một việc gì trong ngày đó đáng phải cảm tạ. Khi buổi thờ phượng bắt đầu với sự khó chịu của mà các tín hữu kia tỏ ra, vị Mục sư đã cầu nguyện: "Ôi lạy Chúa, cảm tạ Ngài vì không phải luôn luôn giống như vậy".
Đồn lũy cảm tạ . . . bạn đã vào đấy chưa? Hãy ở lại nơi đó! Trong mọi sự hãy dâng lời cảm tạ.
Nahum 1.7: “Đức GIÊHÔVA là tốt lành, làm đồn lũy trong ngày hoạn nạn, và biết những kẻ ẩn náu nơi Ngài”.
Amen!
***

Đồn lũy khen ngợi




Đồn lũy khen ngợi
Nếu một người bạn thân đến khuyên quí vị: "Thật là dễ chịu và rộng lượng khi bạn có dư dật, nhưng hãy thận trọng vì bạn chưa phải là một người bạn hiệp nghi với Đức Chúa Trời!” Phải chăng lời nói của họ đang châm chích trái tim của chúng ta? Những lời nói ấy đã được đưa ra với Anna Spafford.
Anna Spafford đứng với bốn đứa con gái của mình trên boong chiếc tàu chở hành khách của Pháp tên là Vill du Havre đang chìm dần, vào ngày 22 tháng 11 năm 1873. Hai trăm hai mươi sáu người bị mất mạng - 87 người sống sót.
Annie, đứa con gái lớn nhất, bước tới giúp mẹ nó đỡ lấy Tanetta, đứa con gái út, nó quàng tay quấn quanh cổ mẹ nó. Bessie, đứa áp út, bám chặt lấy hai đầu gối mẹ nó. Maggie, đứa con kế, bình tỉnh đứng bên cạnh mẹ nó mà nói: "Đức Chúa Trời sẽ quan phòng chúng ta ". Annie nói thêm: "Đừng sợ. Biển cả là của Ngài và Ngài đã dựng nên nó". Thế rồi, biển đã nhận chìm họ.
Ký ức sau cùng của Anna Spafford là đứa con nhỏ của bà bị làn sóng biển tách ra khỏi vòng tay bà. Một tấm ván nổi lên bên dưới thân thể không còn cảm giác của Anna và nâng bà nổi lên. Nhưng, mấy đứa con gái của bà không còn nữa. Phản ứng đầu tiên của bà là thất vọng hoàn toàn. Khi ấy bà nghe một giọng nói phán cùng bà: "Ngươi được tha vì một mục đích". Rồi ngay tức khắc bà nghĩ đến một lời khuyên mà người bạn thân đã nói với bà nhiều lần: "Thật là dễ chịu và rộng lượng khi bạn có dư dật, nhưng hãy thận trọng vì bạn chưa phải là một người bạn hiệp nghi với Đức Chúa Trời!”
Chín ngày sau bà đã đến tại Cardiff, xứ Wales, rồi đánh điện tín cho người chồng làm luật sư của mình ở Chicago với mấy từ nầy: "Chỉ một mình em được cứu mà thôi".
Ngay lập tức ông đáp tàu đến gặp bà ở Âu châu. Một tối kia, viên thuyền trưởng gọi ông vào cabin chỉ huy. Ông ta nói: "Một sự tính toán cẩn thận đã được vạch ra, và tôi tin chúng ta đang ở ngay vị trí mà chiếc “du Havre” bị đắm. Nước ở đây sâu độ 3 dặm".
Horatio Spafford trở lại phòng mình, rồi trên vùng biển ấy đêm đó, gần vị trí mà mấy đứa con ông bị chết, đã viết ra bài thánh ca, khởi đầu là: "Khi bình an, như một dòng sông, trôi theo đường tôi, Khi đau buồn như sóng biển cuồn cuộn lăn tới; dù số phận tôi có ra thể nào, Ngài đã dạy tôi biết nói: 'linh hồn con được yên nghỉ rồi'".
Chẳng một ai trong chúng ta ở đây tin rằng chúng ta có thể bước đi mà không bị những vô vọng, đau thương, thất bại và khổ ải trong đời nầy làm tổn thương. Chúng ta vốn biết rõ lắm!
Vì vậy, có một chỗ miễn trừ nào giữ chúng ta tránh không bị héo úa do hơi nóng của lò thử thách chăng? Phải chăng có một chỗ cho quí vị và tôi đủ khả năng để đối diện với những thời điểm thử thách bằng sự tin cậy và đảm bảo? Có đấy, và đó là một chỗ mà chính thân vị của Đức Chúa Trời đang ngự trị. Nơi ấy được gọi là "Đồn Lũy Khen Ngợi".
Thi thiên 22.3: “Còn Chúa là thánh, Ngài là Đấng ngự giữa sự khen ngợi của Ysơraên”.
Chúng ta có thể khen ngợi Đức Chúa Trời trong các thời điểm khó khăn chăng? Có phải chúng ta là một người bạn hiệp nghi với Đức Chúa Trời không? Chúng ta có thể chấp nhận nghịch cảnh đến từ Đức Chúa Trời mà vẫn dâng lên Ngài sự khen ngợi giống như khi chúng ta nhận lãnh điều tốt lành chăng? (Gióp 2.10)
Joni Eareckson Tada nói: "Một của lễ ngợi khen sẽ luôn luôn khiến cho bạn phải trả giá một điều gì đó. Ngợi khen sẽ là một việc rất khó làm. Nó đòi hỏi sự đánh đổi lòng tự hào, cơn giận dữ, cùng mọi thứ có giá trị nhất theo lẽ của con người. Chúng ta buộc phải nói ra lời khen ngợi một cách kiên quyết và chắc chắn, dù những tiếng kêu la hợp lý của chúng ta không làm dao động những gì Ngài đang làm”.
Tối nay chúng ta xét qua hai đời sống và ba trạng huống để thấy được niềm hy vọng đang bước vào trong đồn lũy khen ngợi.
1. KHEN NGỢI KHI TRỐN CHẠY. . . Thi thiên 22.1-3
Thi thiên 22.1-3: “Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? Nhơn sao Ngài đứng xa, không giúp đỡ tôi, và chẳng nghe lời rên siết tôi? Đức Chúa Trời tôi ôi! tôi kêu cầu ban ngày, nhưng Chúa chẳng đáp lại; Ban đêm cũng vậy, song tôi nào có được an nghỉ đâu Còn Chúa là thánh, Ngài là Đấng ngự giữa sự khen ngợi của Ysơraên”.
Một số nhà giải kinh cho rằng David đang trên đường trốn chạy tránh Vua Saulơ khi ông viết ra mấy câu nầy. David đang trốn chạy vì mạng sống mình rồi kết thúc bằng cách khen ngợi Đức Chúa Trời ở giữa cơn thử thách của mình.
Quí vị có nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã lìa bỏ quí vị trong thì giờ quí vị có cần không? David đã cảm thấy Đức Chúa Trời quên phứt ông khi ông kêu la giữa nổi đau thương của cuộc đời mình: "Đức Chúa Trời ơi, Ngài đã lìa bỏ tôi! Sao Ngài đứng cách xa tôi như thế. Tôi không ý thức được sự ở gần của Ngài, lời cầu nguyện của tôi không chạm đến lỗ tai Ngài. Đức Chúa Trời ơi, Ngài đang ở đâu?" Hãy nhìn nhận cảm xúc đó, hết thảy chúng ta đều có những suy nghĩ và cảm xúc tương tự đối cùng Đức Chúa Trời, chúng ta nghĩ Ngài đang lìa bỏ chúng ta trong giờ sợ hãi và trốn chạy của mình.
David, vẫn trong nỗi thất bại và hoang mang, ông thở ra hơi thở hy vọng rồi bắt đầu viết ra những lời khen ngợi từ đáy lòng mình. Ông nhìn thấy Đức Chúa Trời có sự “thánh khiết”. Thánh khiết có ý nói tới việc sống biệt lập. David đã nhìn nhận rằng mặc dù Đức Chúa Trời im lặng trong giây phút ở riêng biệt từ các nan đề của ông. Ấy chẳng phải là Đức Chúa Trời không quan tâm, nhưng sự quan tâm ấy không bị hoàn cảnh của David, hay của chúng ta điều khiển đâu.
Nhiều lần một người bị bắt bỏ tù căn cứ theo chứng cớ hiển nhiên. Chúng ta có khuynh hướng để cho bằng chứng hiển nhiên trong đời sống chúng ta đặt chúng ta vào nhà tù bản ngã đầy sự nghi ngờ, thương hại, lo lắng cùng những thứ giống như vậy. Ngợi khen buông tha chúng ta ra khỏi gánh nặng của lòng về các hoàn cảnh của mình.
David đã nhìn biết rằng Đức Chúa Trời sống theo những lời khen ngợi của dân sự Ngài. Nói cách khác, khi chúng ta khen ngợi Đức Chúa Trời bất chấp hoàn cảnh của chúng ta, Đức Chúa Trời ngự trị và lập nơi ở với chúng ta! Đức Chúa Trời ở với chúng ta trong những lời chúng ta khen ngợi Ngài. Quí vị có thấy không? Tiêu điểm của David không đặt nơi Saulơ, cũng không đặt vào sự trốn chạy để tránh né Saulơ đâu! Nhưng tiêu điểm của ông trong cuộc trốn chạy là ngợi khen Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng cùng đi với ông qua cơn thử thách.
Hãy bước vào đồn lũy khen ngợi bằng cách chạy đến với Đức Chúa Trời, hãy ngợi khen Ngài trong mọi góc cạnh của cuộc sống.
2. ĐƯỢC CỨU ĐỂ KHEN NGỢI . . . II Samuên 22.1-4
II Samuên 22.1-4: “Khi Đức Giêhôva đã giải cứu Đavít khỏi tay các thù nghịch và khỏi tay Saulơ, thì người hát các lời nầy mà ngợi khen Đức Giêhôva, rằng: Đức Giêhôva là hòn đá và đồn lũy tôi, Đấng giải cứu tôi. Đức Chúa Trời tôi là hòn đá tôi, nơi tôi sẽ nương náu mình, Là thuẫn đỡ tôi, sừng chửng cứu tôi, ngọn tháp cao và nơi nương dựa của tôi; Hỡi Đấng che chở tôi! ấy Ngài giải cứu tôi khỏi sự hung bạo. Tôi sẽ kêu cầu cùng Đức Giêhôva, là Đấng đáng khen ngợi; thì tôi sẽ được giải cứu khỏi các thù nghịch tôi”.
Lên tới điểm nầy trong cuộc đời của David, ông đã kinh nghiệm nhiều sự thất vọng trong cuộc sống.
- Sau cái chết của Saulơ, David được tôn làm Vua – nhưng không phải không có sự chống đối. - David đánh bại người Philitin, nhưng bị bại trận vì khiêng hòm giao ước không đúng cách. - David phạm tội tà dâm với Bátsêba và đứa con bị chết. - David thất bại không kỹ luật được con cái mình rồi kết thúc với con gái bị cưỡng hiếp và hai người con trai phải ngã chết. - David đối diện với cuộc nổi loạn trong Nước và buộc phải chạy trốn để cứu lấy mạng của mình. - David tiêu diệt những tên giềnh giàng người Philitin và ông được tay Đức Chúa Trời giải cứu cho.
Nhiều người sẽ đồng ý, David đã có từng lý do để không khen ngợi Đức Chúa Trời và ông sẽ bị Ngài lật đổ. Nhưng trong lúc phấn khích và phản ứng, David đã chọn khen ngợi Đức Chúa Trời.
Tại sao vậy? Vì ông đã nhìn thấy Đức Chúa Trời là . . . Vầng Đá, Đấng Giải Cứu, Sức Lực, là Thuẩn Đỡ, là Nơi Nương Náu, là Chúa và Cứu Chúa của ông. David được giải cứu để khen ngợi Đức Chúa Trời! "Là Đồn Lũy của tôi . . . đáng được khen ngợi!" Có phải quí vị được cứu để ngợi khen Đức Chúa Trời?
- Quí vị đang đối diện với nan đề gì ngay bây giờ, có nan đề nào to lớn hơn Đức Chúa Trời không? - Quí vị đang vật vã với nan đề gì mà Đức Chúa Trời không thể giải cứu quí vị ra khỏi đó? - Nan đề nào quá thúc bách đến nỗi quí vị không thể khen ngợi Đức Chúa Trời ở giữa nan đề đó?
Nếu không có nan đề nào, thì hãy đứng lên, hãy bước vào Đồn Lũy Ngợi Khen rồi khởi sự ngợi khen Đức Chúa Trời!
3. SỐNG ĐỂ NGỢI KHEN . . . Sáng thế ký 29.31-35
Hãy lắng nghe mấy lời nầy từ bài hát: "Ngợi khen Chúa”.
"Khi bạn chỗi dậy chống chọi với một cuộc chiến làm tan vỡ mọi giấc mơ của mình. Và mọi hy vọng của bạn bị kế sách của Satan làm nát vụn ra. Khi bạn cảm thấy có một sự giục giã ở trong lòng khiến bạn phải chào thua nỗi sợ hãi đời nầy, Đừng đánh mất đức tin. Hãy ngợi khen Chúa. Ngài sẽ hành động qua những kẻ ngợi khen Ngài. Hãy ngợi khen Chúa. Vì Đức Chúa Trời của chúng ta ngự giữa sự khen ngợi. "
Lêa đã chỗi dậy chống chọi với một cuộc chiến đang làm vụn nát mọi giấc mơ của mình. Cha của nàng đã lừa được người chồng sắp cưới của em gái nàng bằng cách đặt nàng vào lều hôn nhân khi nó được dựng lên cho Rachên. Giacốp đã lấy Lêa làm vợ nhưng lòng nàng tan nát khi nàng biết chồng chẳng yêu mình. Tình yêu của chàng đã dành hết cho em gái mình và nàng rõ tình yêu ấy không bao giờ nhắm vào nàng.
Sáng thế ký 29.30: “Giacốp đi lại cùng Rachên, thương yêu nàng hơn Lêa. Vậy, người ở giúp việc nhà Laban thêm bảy năm nữa”.
Giacốp sẽ quan tâm đến nàng, tiếp trợ cho nàng, và có con cái với nàng, thế nhưng chàng không hề yêu thương nàng giống như chàng đã yêu thương Rachên.
Đau khổ và thất vọng đã tràn ngập tấm lòng nàng và phó nàng vào những nỗi sợ mình không được yêu thương. Kinh Thánh dạy chúng ta: “Sự trông cậy trì hưỡn khiến lòng bị đau đớn; Nhưng khi sự ước ao được thành, thì giống như một cây sự sống” (Châm ngôn 13.12). Tấm lòng của Lêa luôn nói với nàng rằng một ngày kia có lẽ Giacốp sẽ yêu thương nàng. Rồi với từng năm tháng trôi qua, tấm lòng nàng càng nhu nhược hơn . . . nàng cảm thấy mình chẳng được yêu thương.
Nhưng một "phòng tuyến bị chọc thủng" đã đến trong đời sống của Lêa, dẫn nàng vào đồn lũy ngợi khen.
Sáng thế ký 29.31: “Đức Giêhôva thấy Lêa bị ghét, bèn cho nàng sanh sản; còn Rachên lại son sẻ”.
Mặc dù Lêa đã sống trong cuộc hôn nhân mà chồng ít lưu ý đến nàng, Đức Chúa Trời đã chú ý tới nàng. Ôi, tư tưởng Đức Giêhôva đã chăm xem nàng khiến cho chúng ta phải ngợi khen Ngài! Vì nếu Ngài nhìn thấy Lêa, tôi biết Ngài đang chăm xem tôi! Đức Chúa Trời đoái xem Lêa và tỏ ra ưu ái nàng qua việc cho phép nàng sinh bốn người con trai.
Với đứa con thứ nhứt Lêa suy nghĩ trong lòng rằng sự khả thi giờ đây chồng nàng sẽ yêu thương nàng giống như nàng ước ao . . . "Vì cớ đó, chồng sẽ yêu mến tôi". Thế nhưng không phải như vậy đâu! Sau khi sanh đứa con thứ hai, nàng hy vọng tình yêu của chồng sẽ xây hướng sang nàng. Nhưng không được như thế! Rồi sau khi sanh đứa thứ ba, một lần nữa nàng đã hy vọng . . . "Lần nầy chồng sẽ dính díu cùng tôi". Nhưng không được như thế đâu!
Giữa đứa con thứ ba và thứ tư, phòng tuyến bị chọc thủng đã đến với Lêa. Mặc dù Đức Chúa Trời đã đoái xem và chúc phước cho nàng, nàng đã xu hướng về chồng cùng các hoàn cảnh “ít được yêu”. . . chớ không nhắm vào Đức Chúa Trời của mình. Ôi, thật khó mà ngợi khen Đức Chúa Trời khi chúng ta nhắm vào các hoàn cảnh vây quanh chúng ta.
Nhưng Lêa đã nhận được tình yêu đó! Giống như quí vị và tôi cần nhận lãnh tình yêu thương vậy. Nàng bắt đầu nhìn thấy tình yêu mà nàng cần có sẽ kiếm được qua Đức Chúa Trời của nàng. Nàng đã được yêu! Và nàng đã ngợi khen Đức Chúa Trời! Hãy để cho phòng tuyến của Lêa bị chọc thủng trở thành phòng tuyến của chúng ta bị chọc chủng!
Sáng thế ký 29.35: “Nàng thọ thai nữa, sanh một con trai, và nói rằng: Lần nầy tôi ngợi khen Đức Giêhôva; vì cớ ấy, đặt tên là Giuđa. Đoạn, nàng thôi thai nghén”.
Tôi thấy chẳng có một sự tình cờ nào nơi mấy cái tên mà nàng đã đặt cho các đứa con của nàng, vì chúng mô tả sự chuyển biến của nàng vào trong đồn lũy ngợi khen.
Đứa con thứ nhứt: Rubên….hãy coi một đứa con trai…Đức Chúa Trời đã ban cho nàng một cơ nghiệp. Đứa con thứ hai: Simêôn…có nghe biết….Đức Chúa Trời đã nghe thấy tiếng kêu van của nàng. Đứa con thứ ba: Lêvi….dính díu….Đức Chúa Trời đã gắn bó chính mình Ngài với nàng Đứa con thứ tư: Giuđa….ngợi khen….Lêa đã bước vào đồn lũy và đã ngợi khen Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời đã di dời tình trạng vô vọng, bất an, thất bại, đau đầu của Lêa rồi thay vào đấy là sự ngợi khen sống động! "Chúng ta được cứu ra khỏi những điều hòng hủy diệt chúng ta!" -- Francis Frangipane
Lêa sau đó đã sinh đứa con thứ 5 là Ysaca và đứa con trai thứ sáu là Sabulôn cho Giacốp.
Thi thiên 37.4: “Cũng hãy khoái lạc nơi Đức Giêhôva, thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước”.
Quí vị có thể ngợi khen Đức Chúa Trời ở giữa nỗi đau thương của mình không? Hãy học biết bí quyết của việc sống để ngợi khen! Hãy xu hướng về Đức Chúa Trời rồi khởi sự ngợi khen Ngài.
PHẦN KẾT LUẬN:
Có phải quí vị là người bạn hiệp nghi với Đức Chúa Trời không?
I Phierơ 1.6-7: “Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra”.
"Khi bình an, như một dòng sông, trôi theo đường tôi, Khi đau buồn như sóng biển cuồn cuộn lăn tới; dù số phận tôi có ra thể nào, Ngài đã dạy tôi biết nói: 'linh hồn con được yên nghỉ rồi'".
Hãy ngợi khen Đức Chúa Trời! Hãy ngợi khen Đức Chúa Trời!
Amen!
***

ĐỒN LŨY CẦU NGUYỆN



ĐỒN LŨY CẦU NGUYỆN
Cầu nguyện là một việc rất tốt đẹp. Tôi nhớ khi còn nhỏ mẹ tôi đã dạy tôi lặp đi lặp lại những lời cầu nguyện tại bữa ăn và lúc lên giường ngủ. Chúng rất đơn sơ, thật tự nhiên và thường được nói ra như một bài học thuộc lòng vậy. Nhưng mẹ tôi đã có một mục tiêu cao đẹp hơn trong trí khi bà tìm cách đặt trong lòng con cái bà giá trị và tính thiêng liêng của sự cầu nguyện.
Nhiều ngày tháng đã trôi qua kể từ khi có những lời cầu nguyện như con trẻ đó . . . nhưng bài học đã được hiểu rõ. Có nhiều ngày tôi phải chiến đấu cho đức tin của đời sống tôi và nhiều người khác trên hai đầu gối của tôi.
Êphêsô 6.18: “Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ”.
"Có một thời để làm việc, phục vụ và được người ta nhìn thấy. Có một thời khác khi mục đích của Đức Chúa Trời ở trong chúng ta hiển hiện. Đây là lúc để tập trung cầu nguyện" - Francis Frangipane.
II Côrinhtô 10.3-6: “Vì chúng tôi dầu sống trong xác thịt, chớ chẳng tranh chiến theo xác thịt. Vả, những khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, có sức mạnh để đạp đổ các đồn lũy: nhờ khí giới đó chúng tôi đánh đổ các lý luận, mọi sự cao tự nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ. Cũng nhờ khí giới đó, chúng tôi sẵn sàng phạt mọi kẻ chẳng phục, khi anh em đã chịu lụy trọn rồi”.
Có lẽ dù không suy gẫm nhiều về câu Kinh Thánh nầy, nhưng chúng ta biết rõ lắm là Satan đang tìm cách "tiêu diệt công việc của Đức Chúa Trời ở trong lòng chúng ta". Hắn muốn thu nhỏ lại mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời đến chỗ không còn chi hết, những lời nói và hành động giống như trét đầy kem rồi tan chảy đi mất vậy. Kem rất ngon nhưng nó không để lâu dài được.
Thay vì những lời cầu nguyện tan chảy như kem, chúng ta cần những lời cầu nguyện có chất lượng và quyền phép, lời cầu nguyện ấy đòi hỏi thì giờ và năng lực. Chúng ta cần phải bước vào đồn lũy cầu nguyện.
Tôi không tin rằng mọi lời cầu nguyện cho phép chúng ta bước vào đồn lũy cầu nguyện. Đồn lũy cầu nguyện không phải là những lời nói thất vọng, mà là những lời cầu nguyện kỉnh kiền và nương theo bổn tánh của Đức Chúa Trời, với sự nhận biết nếu Đức Chúa Trời không can thiệp vào thì chẳng có hy vọng chi hết.
Chúng ta hãy bước vào đồn lũy cầu nguyện khi chúng ta đứng giữa hai cây trụ của Giakin và Bôách.
Xin cho phép tôi nhắc cho quí vị nhớ hai cây trụ nầy được xây dựng trong thời Vua Solomon là một phần của lối vào trong đền thờ.
I Các Vua 7.15, 21-22: “Người làm hai cây trụ bằng đồng, cây thứ nhất cao mười tám thước, và một sợi dây mười hai thước đo bề tròn của cây thứ nhì… Hiram dựng những cây trụ trong hiên cửa đền thờ. Người dựng cây trụ bên hữu, và đặt tên là Giakin; đoạn dựng cây trụ bên tả, đặt tên là Bôách. Trên chót trụ, thì chế hình hoa huệ. Công việc làm những cây trụ đều hoàn thành là như vậy”.
Muốn bước vào đền thờ, quí vị phải đi qua hai cây trụ nầy. Chúng có tên tuổi như thế là vì mục đích mà chúng được dựng nên.
Giakin = Ngài sẽ làm cho vững chắc
Bôách = Trong đó có sức lực
Nếu chúng ta cần phải bước vào bên trong đồn lũy hay sự cầu nguyện, chúng ta phải nhờ sự cầu nguyện bước vào để củng cố và làm cho chúng ta được vững vàng.
1. NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN LÀM VỮNG CHẮC CHÚNG TA
Đức Chúa Trời, qua những lời cầu nguyện của chúng ta, Ngài ao ước muốn làm vững chắc đời sống của chúng ta. Cây trụ nầy được dựng lên ngay cổng vào của đền thờ là để cho đền thờ được đứng vững chắc.
Những lời cầu nguyện của chúng ta trong đồn lũy là để đưa chúng ta đến gần với Đức Chúa Trời hơn rồi nhơn đó cung ứng một sự ổn định trong đời sống chúng ta.
Thi thiên 90.17: “Nguyện ơn Chúa, là Đức Chúa Trời chúng tôi, giáng trên chúng tôi; Cầu Chúa lập cho vững công việc của tay chúng tôi; Phải, xin lập cho vững công việc của tay chúng tôi”.
Tôi hiểu câu nầy nói nhiều hơn điều tôi sắp nói ra. Nhưng khi đọc câu nầy tôi suy nghĩ tới dáng dấp của hai bàn tay trong khi cầu nguyện. Dù chúng sấp lại, ôm chặt nhau, hoặc giơ lên cao . . . đồn lũy cầu nguyện sẽ làm vững chắc hai bàn tay của chúng ta để sống đời sống theo cung cách đắc thắng.
II Têsalônica 3.3: “Chúa là thành tín, sẽ làm cho anh em bền vững và giữ cho khỏi Ác giả”.
Đồn lũy cầu nguyện khiến cho Đức Chúa Trời canh giữ chúng ta, khiến cho chúng ta đứng vững vàng trong giờ thử thách và bất lợi.
2. NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN LÀM CHO CHÚNG TA ĐƯỢC VỮNG VÀNG
Hai cây trụ nầy là hệ thống nâng đỡ đền thờ. Chúng là sức chịu khiến cho đến thờ được vững chắc.
Làm cho vững vàng = nâng đỡ, yên ủi, làm cho tươi mới, nắm chặt
Thi thiên 20.1-2: “Nguyện Đức Giêhôva đáp lời ngươi trong ngày gian truân! Nguyện danh Đức Chúa Trời của Giacốp che chở ngươi, từ nơi thánh sai ơn giúp đỡ ngươi, và từ Siôn nâng đỡ ngươi!”
Sự cứu giúp đến với chúng ta từ trong đồn lũy (nơi thánh) . . . nó đến như sự yên ủi và sự làm cho tươi mới trong ngày thử thách của chúng ta. Lời cầu nguyện khiến cho Đức Chúa Trời hành động bên trong chúng ta.
Êsai 40.31: “Nhưng ai trông đợi Đức Giêhôva thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi”.
Đồn lũy cầu nguyện là những lời cầu nguyện có sức lực khiến cho đi tới.
3. NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN ĐỂ BƯỚC VÀO ĐỒN LŨY
Chúng ta hãy bước vào đồn lũy cầu nguyện với sự hạ mình hầu cho Đức Chúa Trời sẽ nhắc chúng ta lên.
Thi thiên 147.6: “Đức Giêhôva nâng đỡ người khiêm nhường, đánh đổ kẻ ác xuống đất”.
Chúa Giêxu nói tới hai người lên đền thờ cầu nguyện. Chỉ có một người bước vào đồn lũy hay sự cầu nguyện.
Luca 18.10-14: "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pharasi và một người thâu thuế. Người Pharasi đứng cầu nguyện thầm như vậy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên”.
"Chiến lược của Satan là giữ chúng ta bước theo xác thịt, tôn giáo, và hướng về thế gian" – (Francis Frangipane).
Đức Chúa Trời đã dựng nên đồn lũy cầu nguyện vì ích cho chúng ta giống như lời cầu nguyện nầy làm cho chúng ta được trọn vẹn vậy: "Thế là công tác của hai cây trụ đã hoàn tất”.
Chúng ta hãy bước vào ngõ của hai cây trụ, chúng được dựng nên để củng cố và làm cho vững vàng. Chúng ta hãy cầu nguyện . . . không, chúng ta hãy cầu nguyện để bước vào đồn lũy.
Amen!
***

ĐỒN LŨY YÊU THƯƠNG



ĐỒN LŨY YÊU THƯƠNG
Chúng ta đang tiếp tục xem xét đồn lũy của Đức Chúa Trời. Khi một loạt sứ điệp được rao ra, chúng ta có khuynh hướng xem chúng chỉ như loại sứ điệp riêng lẽ rồi không nắm được phần nhấn mạnh đã được dự trù. Vì vậy tôi muốn làm cho tâm trí của quí vị được tươi mới hơn, hãy xem như lý do tại sao chúng ta đang xem xét phần đồn lũy của Đức Chúa Trời.
Nahum 1.7: “Đức Giêhôva là tốt lành, làm đồn lũy trong ngày hoạn nạn, và biết những kẻ ẩn náu nơi Ngài”.
Đồn lũy: (1) Một địa điểm được phòng thủ hay một tiền đồn. (2) Một địa điểm cho sự sống còn hay nơi nương náu.
Tối nay chúng ta xem xét đồn lũy yêu thương. Đức Chúa Trời là đồn lũy yêu thương của chúng ta! Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta là một nơi ẩn náu và yên nghỉ. Tình yêu của Ngài là thành nương náu và là thành cho sự sống còn của chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta!
1 Giăng 4.7-8: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau; vì sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời, kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời và nhìn biết Đức Chúa Trời. Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương”.
1 Giăng 4.18: “Quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương, nhưng sự yêu thương trọn vẹn thì cắt bỏ sự sợ hãi; vì sự sợ hãi có hình phạt, và kẻ đã sợ hãi thì không được trọn vẹn trong sự yêu thương”.
1. ĐỒN LŨY YÊU THƯƠNG KHIẾN CHÚNG TA PHẢI YÊU THƯƠNG :
"Chúng ta phải yêu nhau" . . .chúng ta thích nói đến tình yêu, nhưng chúng ta có muốn yêu không? Chúng ta rất thích cô thiếu nữ kia, cô ấy đã ở lại ăn tối tại nhà của bạn mình. Món rau trộn với bông cải xanh có trét bơ, và người mẹ đã hỏi thử xem cô ấy có thích món ăn đó hay không!?! Cô thiếu nữ ấy lễ phép đáp: "Ồ, thưa có ạ! Con thích món ăn đó”. Nhưng khi chén bông cải được đưa qua, cô ấy ngần ngừ không muốn gắp một miếng nào hết! Người mẹ hỏi: "Bác nghĩ cháu nói cháu thích món bông cải chứ?” Cô gái đáp: "Ồ, có đấy thưa bác, cháu thích lắm, nhưng chưa thích đủ để ăn ạ!”
Tôi nghĩ chúng ta mau mắn nói chúng ta yêu, khi thực tế chúng ta chưa yêu đủ để yêu thực sự. William Beckett III đề nghị chúng ta nên có một "kiểu tình yêu giống như chiếc đồng hồ cát". Chúng ta để cho nó lắng đọng rồi lật ngược trở lại trước khi chúng ta yêu một lần nữa. Tình yêu ấy là ích kỷ và chẳng có chỗ trống nào trong đồn lũy yêu thương của Đức Chúa Trời hết. Bước vào đồn lũy yêu thương khiến cho chúng ta biết yêu thương người khác.
Tình yêu của chúng ta thường được canh giữ bằng những đường biên giới do bản ngã lập nên, chúng giữ chúng ta không thực sự yêu thương.
Luca 6.32: “Nếu các ngươi yêu kẻ yêu mình, thì có ơn chi, người có tội cũng yêu kẻ yêu mình”.
"Nếu điều chúng ta gọi là tình yêu không đưa chúng ta vượt qua cái tôi của mình, thì đấy chưa hẳn là tình yêu. Nếu chúng ta có ý tưởng cho rằng tình yêu được đánh dấu bằng thận trọng, khôn ngoan, nhạy cảm, linh lợi, và không bao giờ dẫn tới chỗ tột cùng, chúng ta đã bỏ sót ý nghĩa thực của tình yêu rồi" – (Oswald Chambers).
Giăng 15.12: “Điều răn của ta đây nầy: Các ngươi hãy yêu nhau, cũng như ta đã yêu các ngươi”.
Chúng ta muốn phớt lờ hoặc giải thích suông: "các ngươi hãy yêu nhau", nhưng chúng ta không thể phớt lờ hay giải thích suông: "như Ta đã yêu các ngươi". "Nếu có điều chi tốt hơn được yêu thương, thì đó là sự yêu thương". Bước vào đồn lũy yêu thương của Đức Chúa Trời khiến cho chúng ta thực sự biết yêu thương.
1 Giăng 3.18: “Hãy các con cái bé mọn, chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật”.
2. ĐỒN LŨY YÊU THƯƠNG ĐỒNG HOÁ CHÚNG TA VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI :
" Vì sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời, kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời và nhìn biết Đức Chúa Trời”. Tôi phải công nhận khi soạn bài giảng nầy tôi đã suy nghĩ: "Tại sao tôi lại chọn giảng sứ điệp khác về tình yêu thương?” Tôi sẽ nói cho quí vị biết lý do tại sao chúng ta cần sứ điệp khác nói về tình yêu thương. Tình yêu thương là sự đồng hoá lớn lao nhất với Đức Chúa Trời và với công việc mà Ngài đang hoàn thành trong đời sống chúng ta.
Giăng cho rằng tình yêu thương bắt nguồn từ Đức Chúa Trời . . .Đức Chúa Trời là sự yêu thương. Và ông tiếp tục cung ứng con dấu đồng hoá của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta là khả năng yêu thương. Giăng chỉ ra bản chất cơ bản trong kinh nghiệm tái sanh ấy là nó đang tạo ra một thứ tình yêu mà Đức Chúa Trời muốn có ở bên trong chúng ta.
Tình yêu nầy là tình yêu của ý chí ... tôi chọn yêu bạn ... cũng như đã chống lại với tình yêu theo cảm xúc, tình yêu ấy nói . . . tôi sẽ yêu bạn nếu . . . các đường biên giới đã được đặt ra.
Luca 7.41-43: “Một chủ nợ có hai người mắc nợ: một người mắc năm trăm đơ-ni-ê, một người mắc năm chục. Vì hai người đó không có chi mà trả, nên chủ nợ tha cả hai. Trong hai người đó, ai yêu chủ nợ hơn? Si-môn thưa rằng: Tôi tưởng là người mà chủ nợ đã tha nhiều nợ hơn. Đức Chúa Jêsus rằng: Ngươi đoán phải lắm”.
Quí vị và tôi sẽ là người nào trong hai con nợ nầy? Chúng ta có nghĩ rằng tội lỗi của chúng ta được tha thứ ít hơn ai đó đã bị cướp giết không? Hãy cẩn thận đó! Vì Lời của Đức Chúa Trời phán nếu chúng ta ghét anh em mình, thì chúng ta là kẻ giết người rồi (1 Giăng 3.15) và nếu chúng ta không dâng phần mười, thì chúng ta là ăn trộm (Malachi 3.8) của Đức Chúa Trời!
Roma 5.8: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết”.
Có người nói: "Chúng ta không thể giống Đức Chúa Trời nhiều được trừ phi chúng ta yêu". Vì sự yêu thương đồng hoá chúng ta với Đức Chúa Trời.
Giăng 13.34-35: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta”.
3. ĐỒN LŨY YÊU THƯƠNG LÀM CHO CHÚNG TA NÊN TRỌN VẸN VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI :
1 Giăng 4.18: “Quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương, nhưng sự yêu thương trọn vẹn thì cắt bỏ sự sợ hãi; vì sự sợ hãi có hình phạt, và kẻ đã sợ hãi thì không được trọn vẹn trong sự yêu thương”.
Giăng tuyên bố rằng khi thì giờ chúng ta đến đứng trước ngai phán xét của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ quyết “không sợ hãi”. Bởi chữ “sợ hãi”, ý ông muốn nói đến hoảng sợ. Mối thông công của chúng ta với Đức Chúa Trời là mối thông công đặt cơ sở trên tình yêu Ngài tiếp nhận chúng ta. Tình yêu vô điều kiện của Ngài nghênh đón chúng ta ngay bây giờ và sẽ tiếp đón trong tương lai nữa.
Yêu thương bằng tình yêu của Đức Chúa Trời không được người nam người nữ tỏ ra cách tự nhiên. Tình yêu tái sanh có bản chất siêu nhiên. Đấy là tình yêu vô kỷ. Đây không phải là tình yêu "giống như chiếc đồng hồ cát" đâu, vì tình yêu của chúng ta không được đóng dấu bằng cách "để lắng rồi úp ngược lại" đâu! Nói như vậy có nghĩa là chúng ta yêu mà không trông mong người ta trả lại một điều gì.
Mathiơ 5.43-48: “Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi, hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác. Nếu các ngươi yêu những kẻ yêu mình, thì có được thưởng gì đâu? Những kẻ thâu thuế há chẳng làm như vậy sao? Lại nếu các ngươi tiếp đãi anh em mình mà thôi, thì có lạ gì hơn ai? Người ngoại há chẳng làm như vậy sao? Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn”.
Xã hội “hối hả” hiện đại của chúng ta khuyến khích chúng ta tống khứ con người ra khỏi đời sống chúng ta, những ai khó hoà thuận với, dù họ là bạn bè, gia đình hay quen biết - (Trích từ Nelson's Study Bible).
Tình yêu trọn vẹn cắt bỏ những nỗi sợ bị chối bỏ, tổn thương, bất công, và các thứ khác ra khỏi tấm lòng của chúng ta và khiến cho chúng ta chỉ còn có yêu mà thôi! "Yêu thương, yêu thương thực sự, phải trả giá. Tình yêu ấy làm tổn thương. Tình yêu ấy làm cho mất cái tôi của chúng ta" – (Mẹ Teresa). Từ môi miệng của người đờn bà nhỏ bé nầy, chúng ta thu thập được một nhận thức lớn lao hơn về tình yêu của Đức Chúa Trời . . . "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban. . .". Tình yêu ấy phải trả giá bằng Con của Ngài! Đó là tình yêu trọn vẹn! Đó mới là tình yêu thực sự!
PHẦN KẾT LUẬN:
Bước vào đồn lũy của Đức Chúa Trời sẽ khiến cho tình yêu của chúng ta ra thực hơn.
Con thỏ hỏi: “THỰC có nghĩa là gì?” . . . Con ngựa đáp: "Thực không phải là cách mà bạn làm ra đâu. Đó là một việc đang xảy ra cho bạn đấy. Khi một đứa trẻ ưa thích trong một thời gian dài, không những nó chơi đùa với, mà còn THỰC yêu bạn nữa đấy, khi đó bạn mới trở nên thực". . . . Con thỏ thở dài. Nó nghĩ nó sẽ cứ là thỏ trong một thời gian dài trước khi trò ảo thuật được gọi là Thực nầy xảy ra cho nó. Nó ao ước được trở nên Thực . . ." – trích từ Chuyện Thỏ Rừng (Velveteen Rabbit).
Chúng ta luôn ao ước tình yêu chúng ta trở nên thực hầu cho tình yêu ấy . . . khiến chúng ta biết yêu thương, đồng hoá chúng ta với Đức Chúa Trời, làm cho chúng ta nên trọn vẹn với Đức Chúa Trời.
Amen!

ĐỒN LŨY THANH SẠCH



ĐỒN LŨY THANH SẠCH
Khi quí vị nghĩ tới sự thanh sạch, quí vị nghĩ tới điều gì nào? Thanh sạch có lẽ là một từ ngữ đã mất đi một ít sắc bén của nó trong một xã hội bị xem là bất khiết. Đức Chúa Trời ao ước một đời sống, một tấm lòng, và một lý trí bên trong thanh sạch. Ngài ao ước đời sống ấy trở thành một đồn lũy giữ chúng ta ở giữa cơn giông tố.
Nahum 1.7: “Đức Giêhôva là tốt lành, làm đồn lũy trong ngày hoạn nạn, và biết những kẻ ẩn náu nơi Ngài".
Thắc mắc: Phải chăng Đức Chúa Trời hiện hữu là vì chúng ta?
Phải chăng Đức Chúa Trời hiện hữu là vì chúng ta? Làm sao chúng ta biết được? Ngài phán như thế trong Lời của Ngài!
Roma 8.31b: “Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?”
Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời hiện hữu là vì chúng ta! Chúng ta biết Đức Chúa Trời hiện hữu ở nơi chúng ta sinh sống, Ngài khuyến khích chúng ta làm theo Lời của Ngài và sự quan phòng của Ngài muốn đánh trận đức tin tốt lành . . .để ban cho một đời sống thanh sạch. Thậm chí người thế gian cười nhạo nơi tư tưởng thanh sạch mà Đức Chúa Trời vốn ao ước có nó trong đời sống của chúng ta.
Khi tôi bắt đầu bàn bạc về thắc mắc nầy trong tâm trí mình, thì bị thắc mắc nầy chất vấn: "Phải chăng Đức Chúa Trời hiện hữu trong mọi sự xảy có trong đời sống của tôi”.
Đức Chúa Trời hiện hữu là vì tôi, nhưng Ngài có hiện hữu trong mọi sự xảy có trong đời sống tôi tối nay không? Ngài ao ước có một đồn lũy thanh sạch.
Châm ngôn 16.2: “Các đường lối của người đều là trong sạch theo mắt mình; song Đức Giêhôva cân nhắc cái lòng”.
Quí vị và tôi xem xét lại đời sống mình rồi hãy suy gẫm “Đức Chúa Trời hiện hữu là vì tôi”! Tôi có thể làm điều chi tôi muốn! Nhưng thắc mắc đang có ở trước mặt chúng ta. . . Phải chăng Đức Chúa Trời hiện hữu trong mọi sự xảy có trong đời sống của chúng ta? Đức Chúa Trời đã định mức trọng lượng trên cán cân những điều mà chúng ta cố ý đặt để trong đời sống của chúng ta, dù tốt hay xấu. Ngài bước ra để xem coi chúng tốt hay xấu!?! Với rất nhiều sự bất khiết đặt trước mặt chúng ta, chúng ta có khuynh hướng vòng tay ôm lấy sự bất khiết vì chúng ta đang tranh chiến với bổn tánh cũ kia.
Nhưng Đức Chúa Trời đang hiện hữu vì chúng ta! Và với bổn tánh mới của Ngài đem đặt bên trong chúng ta, Ngài cung ứng cho chúng ta quyền phép qua Đức Thánh Linh trổi hơn những sự bất khiết của đời nầy rồi sống một đời sống thanh sạch, một đồn lũy trong đời sống của chúng ta.
Đức Chúa Trời sẽ không để cho chúng ta ẩn náu/yên nghĩ trong đồn lũy của Ngài với bổn tánh cũ của chúng ta. Ngài không cố quyết trong việc bỏ chúng ta lại một mình với bổn tánh xác thịt cũ của chúng ta.
Francis Franigpane nói: "Chắc chắn có nhiều phương diện trong đời sống chúng ta không những nằm ở bên ngoài sự bảo hộ thiêng liêng, nhưng chính mình Đức Chúa Trời đang tìm cách hủy diệt nó".
Phải chăng quí vị tin rằng có những việc trong đời sống chúng ta mà Đức Chúa Trời phán: “Không, không, đấy không phải là điều để ngươi sẽ được làm con cái của Ta đâu! Ta bước ra đây không phải để tiêu diệt ngươi, mà tiêu diệt những điều bất khiết để ngươi có thể yên nghĩ trong đồn lũy của ta”.
Giăng 15.1-2: "Ta là gốc nho thật, Cha ta là người trồng nho. Hễ nhánh nào trong ta mà không kết quả thì Ngài chặt hết; và Ngài tỉa sửa những nhánh nào kết quả, để được sai trái hơn”.
Đức Chúa Trời bước ra để tỉa sửa/cắt bỏ những điều không phù hợp với đời sống của chúng ta. Tôi phải nhìn nhận tôi thích câu Kinh thánh nói về Đức Chúa Trời đang chúc phước cho tôi, mặt Ngài chiếu sáng trên tôi và ban ơn rời rộng cho tôi. Nhưng tôi không quan tâm tới mấy câu nầy, chúng nói Đức Chúa Trời muốn cắt đứt khỏi tôi . . . thậm chí là vì ích cho tôi nữa.
Sự thật là Đức Chúa Trời hiện hữu là vì chúng ta, song không phải vì mọi sự đang xảy có trong đời sống của chúng ta. Đức Chúa Trời tỉa sửa để cho trái kết quả tốt trong đời sống của chúng ta. Chúng ta hiểu tiến trình tỉa sửa . . . trái tốt hơn, thấy được bằng mắt thường. Và một trong những trái đó tôi tin là sự thanh sạch.
Thanh sạch = tẩy rửa ... một sự thanh tẩy
Đức Chúa Trời muốn thực hiện một sự thanh tẩy nơi chúng ta. Ngài muốn chúng ta bước vào đồn lũy thanh sạch, nhưng Ngài sẽ không để cho chúng ta yên nghĩ cho tới chừng nào Ngài xử lý xong mọi bất khiết trong đời sống chúng ta. Ngài muốn thanh sạch phải trở thành một thực tại trong đời sống của chúng ta.
Sách Giacơ ghi lại bốn lãnh vực cần phải luyện lọc, thanh tẩy.
1. THANH SẠCH TRONG LỜI CẦU NGUYỆN
Qua giọng nói của Gióp, chúng ta hiểu hết thảy chúng ta đều đang đối diện với những khó khăn trong cuộc sống nầy. Mặt nầy, Gióp tiêu biểu cho chúng ta và mặt kia tiêu biểu cho đồn lũy thanh sạch khi ông xử lý với các nan đề của mình.
Gióp 16.17: “Mặc dầu tại trong tay tôi không có sự hung dữ, và lời cầu nguyện tôi vốn tinh sạch”.
Mặc dù tôi đối diện với nhiều nỗi khó khăn, chúng không làm cho những lời cầu nguyện của tôi ra bất khiết. Thật là thú vị thay! Chúng ta thường cầu nguyện trong những lúc khó khăn như thế nào? “Đức Chúa Trời sẽ đem tôi ra khỏi khó khăn nầy!” “Lạy Chúa, con không xứng đáng với sự nầy!” Nếu chúng ta nhận lãnh sự nhơn từ, chúng ta cũng sẽ nhận lãnh nghịch cảnh.
Có một dòng nghe rất hay trong lời cầu nguyện của chúng ta, ấy là lấy Đức Chúa Trời làm trọng tâm và lấy cái tôi làm trung tâm. Khi mẹ tôi hấp hối, tôi giáp mặt với dòng ấy và đã ích kỷ cầu nguyện . . . “Đức Chúa Trời không cất bỏ người cổ vũ quan trọng nhất chức vụ của tôi! Đức Chúa Trời không cất bỏ người đã dạy cho tôi biết Kinh thánh. Xin đừng cất mẹ tôi đi!” Trong một đêm chiến đấu nhiều, tôi đã cầu nguyện ở nhà thờ của bịnh viện, không thực sự nhìn biết mình đang xin cái gì nữa, tôi nghe lòng mình thổn thức: “Ôi Chúa, Ngài là Đấng cổ vũ quan trọng nhất chức vụ của con. Ôi Chúa, Ngài là Đấng dạy cho con biết Lời của Ngài. Ôi Chúa, xin thương xót sự sống của mẹ con và làm cho sự đau khổ của bà được nhẹ đi”.
Giacơ 4.3: “Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình”.
Dù chúng ta có muốn đối diện với hoàn cảnh ấy hay không, phần nhiều lời cầu nguyện của chúng ta đều bất khiết vì chúng ta cầu nguyện quá ích kỷ. Lẽ ra chúng ta phải cầu nguyện xin Nước Đức Chúa Trời đến với tôi, cảm động tôi hơn là Nước Đức Chúa Trời cảm động mình. Còn Chúa Giêxu đã cầu nguyện trong vườn xin ý Cha được nên. Ngài dạy chúng ta nên cầu nguyện để ý chỉ của Đức Chúa Trời được nên trên đất, cũng như ở trên trời.
Những lời cầu nguyện của chúng ta cần phải đầy dẫy với những động lực thanh sạch tìm cách xin Đức Chúa Trời cảm thúc trong đời sống của chúng ta với một lượng thật lớn lao. Khi những lời cầu nguyện của chúng ta thanh sạch, chúng ta bước vào một đồn lũy mà chẳng một điều ác nào có thể xen vào. Có một chỗ yên nghỉ khi chúng ta cầu nguyện thanh sạch. Đức Chúa Trời muốn thanh tẩy mọi lời cầu xin của chúng ta.
2. THANH SẠCH TRONG LỜI NÓI
Châm ngôn 15.26: “Các mưu ác lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va; song lời thanh sạch đẹp lòng Ngài”.
Lời nói của chúng ta có sức tác động rất mạnh. Chúng ta đã đọc và đã sống theo những truyện tích dân gian thuật lại những việc làm có ảnh hưởng trong một thời gian hoặc trọn cả một đời. Tôi nguyện rằng chúng ta không phải là những người nói ra những lời nói vô ý và gây hại đó. Có thể một số lời nói có hại quan trọng hơn những lời nói được thốt ra đầy dẫy với sự tử tế và nhơn từ.
Giacơ 3.2: “Chúng ta thảy đều vấp phạm nhiều cách lắm. Nếu có ai không vấp phạm trong lời nói mình, ấy là người trọn vẹn, hay hãm cầm cả mình”.
Giacơ 3.9-10: “Bởi cái lưỡi chúng ta khen ngợi Chúa, Cha chúng ta, và cũng bởi nó chúng ta rủa sả loài người, là loài tạo theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Đồng một lỗ miệng mà ra cả sự khen ngợi và rủa sả! Hỡi anh em, không nên như vậy”.
Chỉ có Đức Thánh Linh mới có thể chế ngự được cái lưỡi!
Những bất khiết trong lời nói của chúng ta. Quí vị có nói ra những điều trong tuần qua, quí vị ao ước muốn thu hồi chúng lại . . . có lẽ giận dữ, ghen ghét, kích thích, quấy rối mà chúng ta cáu kỉnh rồi nói ra những điều mà chúng ta ao ước muốn thu hồi trở lại.
Steven Covey kể lại câu chuyện rất hay. Những lời lẽ mạnh mẽ được nói ra trong cơn giận hoặc trong lúc thất vọng bị xem là muốn thu hồi lại. Nếu chúng ta không cẩn thận chúng ta sẽ phải lâm vào cảnh đau buồn.
Chúng ta đột ngột, chúng ta nói ra, rồi chúng ta cảm thấy phạm lỗi, chúng ta muốn nói xin lỗi, thế nhưng sự thiệt hại đã có rồi. Tôi không nghĩ chúng ta thực sự hiểu rõ quyền lực của cái lưỡi hoặc chúng ta sẽ canh chừng nó. Chúng ta sẽ chậm nói và mau nghe (Giacơ 1.19).
Châm ngôn 6.16-19: “Có sáu điều Đức Giêhôva ghét, và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc: Con mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, Tay làm đổ huyết vô tội Lòng toan những mưu ác, Chơn vội vàng chạy đến sự dữ, Kẻ làm chứng gian và nói điều dối, Cùng kẻ gieo sự tranh cạnh trong vòng anh em”.
Ba trong bảy điều nầy có sử dụng lời nói. . . lưỡi dối trá . . . làm chứng gian và nói điều dối . . . sự gớm ghiếc thứ bảy ... gieo sự tranh cạnh .
Đức Chúa Trời đang mong muốn thực thi một sự thanh tẩy, một việc làm sạch trong khi tẩy rửa cái lưỡi của chúng ta.
3. THANH SẠCH TRONG TƯ TƯỞNG
Đức Chúa Trời muốn làm việc trên tâm trí của chúng ta tối nay. Đôi khi chúng ta không nói ra những gì chúng ta đang suy tưởng. Có bao nhiêu lần quí vị khởi sự nói ra một việc và quí vị nói: “Không, tôi không có ý nói như vậy”. Rồi có ai đó đáp: “Ông nên nói ra chính cái điều mà ông suy nghĩ đó”. Đừng rơi vào cái bẫy ấy! Hãy bước tới và nín lặng đi! Hãy ngợi khen Chúa, chúng ta không nói ra việc mà chúng ta đang suy nghĩ.
Giacơ 1.5-8: “Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho. Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó. Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa: ấy là một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định”.
Đôi lúc chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời một việc gì đó và rồi nghi ngờ khả năng của Đức Chúa Trời không biết có làm được điều đó hay không!?! Suy nghĩ như thế dẫn tới một đời sống không kiên định. Đức Chúa Trời đang tìm cách cắt bỏ “lối suy nghĩ không dứt khoát”. . . phân tâm, và những điều nghi ngại đang có mặt ở đó.
Tôi là đầu của tội nhân trong lãnh vực nầy. Tôi có khả năng lớn (không phải Đức Chúa Trời ban cho) để suy nghĩ tiêu cực và đáng sợ khi có những việc xảy ra ngoài tầm kiểm soát của tôi. Tôi lo lắng và hạ mình sát xuống tận nền nhà, thay vì bước vào đồn lũy thanh sạch rồi nói: “Lạy Chúa, con không muốn có những tư tưởng nầy! Nguyện Ngài bắt phục chúng! Con muốn tin và cầu xin sự khôn ngoan để biết xử lý với các trạng huống nầy”.
Tôi muốn bước vào đồn lũy thanh sạch nầy . . . Đức Chúa Trời ao ước thực thi một công việc lớn lao trong lý trí và đấy không phải là lối “suy nghĩ tích cực” đâu. Đức Chúa Trời muốn làm nhiều hơn thứ triết lý: “Tôi nghĩ tôi có thể! Tôi nghĩ tôi có thể”. Đức Chúa Trời muốn thực thi một việc thanh tẩy rồi đặt chúng ta vào trong đồn lũy thanh sạch của Ngài để chúng ta có thể nói và tin: “Tôi có thể làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi!” Đó là Đức Chúa Trời chớ không phải tôi đâu. Ngài muốn tạo ra những khung tư tưởng đem lại kết quả trong đời sống của chúng ta.
Philíp 4.8: “Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều cho chơn thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhơn đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến”
Bất kỳ ai cũng có thể nhìn thấy sự sai lầm nơi người khác, thế nhưng hãy nắm lấy công việc của Đức Chúa Trời nhìn xem một người rồi nhìn thấy họ chỉ đáng chết mà thôi. Những tư tưởng thanh sạch dẫn chúng ta vào trong đồn lũy.
Châm ngôn 23.7: “Vì hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy”.
4. THANH SẠCH Ở TRONG LÒNG
Giacơ 4.8: “Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ có tội, hãy lau tay mình, có ai hai lòng, hãy làm sạch lòng đi”.
Bài Giảng Trên Núi được ban ra để quí vị và tôi biết xử lý với những vấn đề xuất phát từ tấm lòng. Phước cho người có lòng trong sạch. Tấm lòng và trung tâm của con người . . . người xử lý với các vấn đề giận dữ, ghen ghét, ly dị, tà dâm, tiền bạc... tất cả chúng đều xuất phát từ tấm lòng. Chúa Giêxu đang nói rằng nếu Ngài xử lý với tấm lòng chúng ta, Ngài sẽ tạo ra một tấm lòng mới. Chúa Giêxu không đến chỉ để xử lý với các vấn đề ngoài mặt của đời sống chúng ta. Ngài muốn xử lý với tấm lòng.
Châm ngôn 4.23: “Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, Vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra”.
Phước cho người có lòng trong sạch, vì họ sẽ thấy Đức Chúa Trời. Ngài nói tới động cơ…Ngài muốn đưa chúng ta vào trong đồn lũy. Tôi phải chịu một sự thanh tẩy.
5. LÀM THẾ NÀO ĐỂ BƯỚC VÀO MỘT SỰ THANH TẨY
Lời của Đức Chúa Trời có một tác dụng thanh tẩy
Thi thiên 119.9-11: “Ngươi trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo lời Chúa. Tôi hết lòng tìm cầu Chúa, Chớ để tôi lạc các điều răn Chúa. Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, Để tôi không phạm tội cùng Chúa”.
Chú ý . . . chú trọng tới, xem chừng ... để đời sống chúng ta được Ngôi Lời canh giữ
Tìm cầu . . . một sự theo đuổi liên tục, một sự tìm tòi . .. Lý trí hay tìm tòi muốn biết!
Gìn giữ . . . (miên man) tội không biết ... không biết chú ý tới và tìm kiếm Đức Chúa Trời
Giấu . . .một nơi bí mật
Nơi kín giấu chính là đồn lũy! Tôi đặt Lời Đức Chúa Trời vào trong đời sống tôi để rồi khi tôi phải đối mặt với những điều bất khiết trong đời nầy, Lời ấy sẽ là đồn lũy giúp cho tôi tránh né những điều bất khiết đó. Hãy để cho Lời Chúa đưa quí vị vào trong đồn lũy thanh sạch.
Chúng ta giữ gìn, tìm kiếm, cứ giữ việc bước vào trong nơi kín giấu được gọi là đồn lũy thanh sạch của Đức Chúa Trời.
Thi thiên 139.23-24: “Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; Hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, Xin dắt tôi vào con đường đời đời”.
David có nói: “Nguyện Chúa thanh tẩy đời sống tôi và khiến tôi được sạch ở trước mặt Ngài!” Quí vị sẽ cầu nguyện như thế chăng? Sẽ nói ra câu đó chăng? Sẽ suy nghĩ như thế chăng?
Sự thanh sạch càng lớn lao hơn có nghĩa là sự bảo hộ càng lớn lao hơn. Hãy bước vào đồn lũy thanh sạch.
Amen!
***

LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI



LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Êsai 40.8; Châm ngôn 30.5
Đức Chúa Trời qua chính mình Ngài đã cung ứng một đồn lũy, một địa điểm vững chắc, một nơi giữ tròn sự sống cho trong những ngày tháng mà mọi nơi khác đều bị rúng động.
Nahum 1.7: “Đức Giêhôva là tốt lành, làm đồn lũy trong ngày hoạn nạn, và biết những kẻ ẩn náu nơi Ngài”.
Tối nay tấm lòng của chúng ta chú về đồn lũy lời Đức Chúa Trời. Lời của Đức Chúa Trời phải trở thành lẽ thật có tính dẫn dắt cho đời sống chúng ta. Lời nầy có ý cung ứng cho chúng ta một lượng an ninh khi tin Đức Chúa Trời biết rõ những gì Ngài sẽ làm trong đời sống của chúng ta.
Châm ngôn 30.5: “Các lời của Đức Chúa Trời đều đã thét luyện; Ngài là cái thuẫn đỡ cho người nương cậy nơi Ngài”.
Êsai 40.8: “Cỏ khô, hoa rụng; nhưng Lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời!”
"Phương tiện chính qua đó chúng ta được Đức Chúa Trời giữ gìn và bảo tồn là do sự vâng theo Lời của Ngài" – (Francis Frangipane).
Luca 11.28: “Đức Chúa Giêxu đáp rằng: Những kẻ nghe và giữ lời của Đức Chúa Trời còn có phước hơn".
Con người đã bàn cãi về Lời Đức Chúa Trời với ít chú tâm và không đưa Lời ấy vào đời sống của họ. Nói cách khác, chúng ta thất bại không sống trong sự vâng phục đối với Lời Đức Chúa Trời. Giáo lý đúng mà không sống theo đúng như vậy thì là giáo lý vô quyền, vô dụng, không có ai nghe theo và nó thiếu chứng cớ về cái chạm mà Lời Đức Chúa Trời có trong đời sống hàng ngày của chúng ta.
Câu chuyện được kể lại về bốn vị Mục sư đang bàn luận về những đúng sai trong các bản dịch Kinh thánh khác nhau. Dĩ nhiên là mỗi người đều nói tới bản dịch, theo ý của mình, là đúng nhất. Vị Mục sư thứ nhứt nói ông sử dụng bản Kinh thánh King James vì cổ ngữ của tiếng Anh rất hay và tạo ra hình ảnh Kinh thánh đáng cung kính nhất. Vị Mục sư thứ hai nói ông thích Bản Kinh thánh New American Standard hơn vì ông cảm thấy bản Kinh thánh nầy gần gũi với bản Hy bá lai và bản Hy lạp hơn. Vị Mục sư thứ ba nói ông thích bản Kinh thánh Living hơn vì hội chúng của ông còn non nớt lắm, và bản Kinh thánh nầy rất thực tế đối với họ. Hết thảy 3 vị nầy đều đứng đợi trong khi vị Mục sư thứ tư đã ngồi trong yên lặng. Sau cùng ông nầy nói: "Tôi muốn nói khi chúng ta đến với các bản dịch Kinh thánh, tôi thích bản dịch của Cha tôi nhất. Ông đã đưa Lời của Đức Chúa Trời vào thực hành mỗi ngày. Đó là bản dịch thuyết phục nhất mà tôi đã từng xem thấy".
Giăng 17.17: "Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; Lời Cha tức là lẽ thật”.
Lời Đức Chúa Trời đáng phải là một yếu tố biệt chúng ta riêng ra đối với mọi người khác. Muốn lập Lời ấy làm một đồn lũy, chúng ta phải áp dụng Lời ấy mỗi ngày trong đời sống chúng ta như thẩm quyền cho đời sống chúng ta vậy.
Viên thuyền trưởng đang đứng trước mũi chiếc tàu lớn của ông đã nhìn thấy ngọn đèn ở trước mặt báo hiệu một sự va chạm với tàu của mình. Ông ra lệnh: "Đổi hướng 10o Nam”. Lời đáp có ngay trở lại: "Đổi hướng 10o Bắc". Viên thuyền trưởng ra lệnh tiếp: "Đổi hướng 10o Nam. Tôi là Thuyền Trưởng đây!” Có tiếng đáp: "Đổi hướng 10o Bắc. Tôi là thủy thủ cấp ba đây!” Viên thuyền trưởng giận dữ ra lệnh tiếp: "Đổi hướng 10o Nam. Tôi là hạm trưởng đây”. Tiếng đáp: “Đổi hướng 10o Bắc. Tôi là đèn hải đăng đây!”
Chúng ta cần phải thay đổi đời sống chúng ta theo Lời của Đức Chúa Trời, thay vì tìm cách thay đổi Ngôi Lời theo đời sống của chúng ta. Có những nguy hiểm chúng ta đặt vào đời sống mình vì chúng ta từ chối không để ý tới ngọn hải đăng là điều tất nhiên.
1. LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ QUYỀN PHÉP ĐỂ CỨU LINH HỒN
Giacơ 1.21: “Vậy, hãy bỏ đi mọi điều ô uế và mọi điều gian ác còn lại, đem lòng nhu mì nhận lấy lời đã trồng trong anh em, là lời cứu được linh hồn của anh em”.
Con người chẳng có quyền phép chi để tự cứu lấy mình. Giacơ quyết chắc với chúng ta trong câu 18 rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng bởi ý muốn mình đã dùng lời chơn thật mà sanh ra chúng ta. Chính Lời Đức Chúa Trời trồng ở trong lòng (cách chắc chắn, được lập nên, được gắn vào đó), Lời ấy đưa chúng ta đến với một nơi có sự cứu rỗi.
Roma 10.17: “Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi Lời của Đấng Christ được rao giảng”.
Thí dụ nói tới người gieo giống bày tỏ ra quyền phép của Đức Chúa Trời tạo ra sự cứu rỗi.
Kinh thánh: Mác 4.3-9, 14-20.
Ngôi Lời có quyền cứu rỗi linh hồn luôn có một sự tạo tác liên tục trong đời sống chúng ta. Lời ấy có quyền phép để biến đổi và làm cho thích nghi với.
2. LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ QUYỀN PHÉP BIẾN ĐỔI TÂM TRÍ
Roma 12.1-2: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời mà khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hoá bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào”.
Sự biến đổi diễn ra ở bên trong . . .lòng và trí. Sự biến đổi của tâm thần là một sự thay đổi hoàn toàn thành một phương thức suy tưởng mới. Đây không phải là việc diễn ra máy móc đâu. Đấy là lý do tại sao Phaolô đang nài xin họ nên lưu ý tới lời ông nói.
Sự biến đổi của tâm thần theo tôi thấy: ấy là làm cho tâm trí chúng ta đầy dẫy với Ngôi Lời. Từ đó Đức Thánh Linh bắt đầu chiếu sáng Ngôi Lời đưa lẽ thật vào trong chúng ta.
Hêbơrơ 4.12-13: “Vì Lời của Đức Chúa Trời là Lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tuỷ, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại”.
Lời có tính biến đổi của Đức Chúa Trời:
- Sống và linh nghiệm. - Sắc bén đến nỗi cắt được mọi chiều kích. - Thấu vào tấm lòng. - Phân biệt đâu là nan đề trong lòng và trí.
Điều nầy không được xem là một biểu hiện tiêu cực, mà là một biểu hiện tích cực. Và nếu chúng ta lưu ý đến Ngôi Lời, Lời ấy sẽ biến đổi suy tưởng của chúng ta, làm cho chúng ta biết đầu phục Đức Chúa Trời và địa vị chủ tể của Ngài trên đời sống chúng ta. Đức Chúa Trời dự trù nắn đúc chúng ta từ trong ra ngoài bằng cách trước tiên tác động vào sự suy tưởng của chúng ta.
Chúng ta hãy lấy một thử nghiệm về sự biến đổi mau chóng:
Kinh thánh: Ê-phê-sô 5.21-28, 6.1
- Chúng ta có vâng phục nhau không?
- Hỡi những người làm vợ, có phải quí vị đang vâng phục chồng không?
- Hỡi những người làm chồng, có phải quí vị đang yêu thương vợ mình chăng?
- Hỡi những kẻ làm con cái, có phải các cháu đang vâng phục cha mẹ không?
Tôi đã chọn các lượng thông tin nầy vì đây thường là một trong những điều yếu đuối nhất trong đời sống của chúng ta. Và nếu chúng ta vật vã trong sự vâng phục nhau, chúng ta sẽ vật vã trong sự đem đời sống chúng ta vâng phục Đức Chúa Trời và thất bại không bước vào được đồn lũy Lời Ngài.
Thi thiên 119.160: “Sự tổng cộng Lời của Chúa là chơn thật; Các mạng lịnh công bình của Chúa còn đời đời”.
Đồn lũy thuộc về chúng ta khi chúng ta nắm lấy Đức Chúa Trời như nắm lấy Lời của Ngài . . biết rõ Ngài biết Ngài sẽ làm gì!
2. LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ QUYỀN PHÉP ĐỔI MỚI THÂN THỂ
Nếu chúng ta được đổi mới tâm thần (người bề trong) dường như đấy là nguyên nhân duy nhất cho thấy Đức Chúa Trời muốn đổi mới thân thể ở bên ngoài.
Roma 8.29-31: “Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em; còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?”
Đúng là một câu nói yên ủi! Sự truyền đạt của Đức Chúa Trời vào thân bằng đất của chúng ta là đây: Ngài biến đổi chúng ta ra giống như Con của Ngài, là Đức Chúa Giêxu Christ.
Tôi hiểu có một sự yên ủi từ thiên thượng trong tương lai sẽ diễn ra.
1 Giăng 3.2: “ Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy”.
Philip 3.20-21: “Nhưng chúng ta là công dân trên trời; ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Giêxu Christ, Ngài sẽ biến hoá thân thể hèn mạt chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài, y theo quyền phép Ngài có để phục muôn vật.”
Nhưng tôi tin Đức Chúa Trời muốn làm một việc theo cách chúng ta xem xét và ứng xử ngay bây giờ, ngay hôm nay.
Chúng ta nhìn xem Chúa Giêxu để được sự thông sáng và như một tấm gương của chúng ta.
Luca 4.3-4: “Ma quỉ bèn nói với Ngài rằng: Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, thì hãy khiến đá nầy trở nên bánh đi. Đức Chúa Giêxu đáp: Có chép rằng: Loài người được sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi”. Người thế gian nói chúng ta phải tự mình lo liệu các nhu cần theo đời nầy của mình. Còn ở đây Chúa Giêxu đã đối diện với sự cấp bách của cơn đói. Ngài có quyền làm thoả mãn mọi nhu cần theo phần xác thể của mình và nhơn đó nuôi dưỡng cơ thể. Tuy nhiên, Ngài lại chọn sống không phải bởi những nhu cần của cơ thể mà sống bởi Lời của Đức Chúa Trời.
Roma 6.12-13: “Vậy chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình”.
Sự thích nghi của chúng ta đối với Đấng Christ là nương cậy vào việc gắn liền đời sống chúng ta với Lời của Đức Chúa Trời.
PHẦN KẾT LUẬN:
Lời Đức Chúa Trời là một đồn lũy. Lời ấy giữ chúng ta an toàn trong sự cứu rỗi của chúng ta . . .Lời ấy biến đổi suy tưởng của chúng ta trong các vấn đề của cuộc sống . . . Lời ấy biến đổi bề ngoài của chúng ta giống với điều Đức Chúa Trời mong muốn có nơi chúng ta, ấy là Đấng Christ.
Nhưng có sự nguy hiểm ở đây . . . hãy nhớ Frangipane có nói: "Phương tiện chính qua đó chúng ta được Đức Chúa Trời giữ gìn và bảo tồn là do sự vâng theo Lời của Ngài".
Chúa Giêxu cảnh cáo chúng ta rằng chúng ta đã làm cho Lời Đức Chúa Trời chẳng có tác dụng gì trong đời sống chúng ta, vì chúng ta chọn chiều theo các lời truyền khẩu của mình hơn là Lời hằng sống đầy quyền năng của Đức Chúa Trời (Luca 4.4)
Tối nay chúng ta đã được khích lệ cần phải bước vào đồn lũy Lời Đức Chúa Trời bằng con đường vâng phục. Nguyện chúng ta đều làm theo y như vậy.
Êsai 26.3: “Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài”.
Amen!
***

ĐỨC CHÚA TRỜI ĐANG QUAN PHÒNG CHÚNG TA



ĐỨC CHÚA TRỜI ĐANG QUAN PHÒNG CHÚNG TA
Khi cuộc sống chuyển hướng bất ngờ, bạn sẽ tìm sự giúp đỡ ở đâu? Khi những điều khốn khó trong gia đình, hôn nhân, con cái, bạn bè, kẻ thù, tài chính và cuộc sống đến gõ cửa lòng bạn, thì bạn sẽ chạy đi đâu? Phải chăng có một chỗ mà tôi và bạn sẽ chạy đến trong những thời điểm gian truân? Có một nơi để đụt giông bão, nơi ấy sẽ che chở và bảo hộ chúng ta chăng?
Qua giọng nói của tiên tri Nahum chúng ta nghe thấy Đức Chúa Trời đang kêu gọi chúng ta: "Đức GIÊHÔVA là tốt lành, làm đồn lũy trong ngày hoạn nạn, và biết những kẻ ẩn náu nơi Ngài” (1.7).
Đồn lũy: 1. Một địa điểm vững chắc hay một pháo đài. 2. Một nơi nương náu, một nơi giữ tròn sự sống cho.
Đức Chúa Trời là đồn lũy của chúng ta! Ngài là nơi nương náu và yên nghỉ. Ngài là thành nương náu và giữ tròn sự sống cho chúng ta. Ngài là Đức Chúa Trời của chúng ta!
Tôi không nói chúng ta sẽ không hề chịu khổ, không hề đối diện với những điều khó khăn và những lúc trăn trở đâu. Là Cơ đốc nhân, chúng ta biết chắc rằng, sống đời sống giống như Đấng Christ sẽ gặp phải những điều khó khăn. Không có một sự miễn trừ nào đối với sự đau khổ trong đời nầy. Hết thảy chúng ta đều sẽ đối diện với nó. Đấy là lý do tại sao chúng ta cần đến đồn lũy của Đức Chúa Trời! Đấy là lý do tại sao chúng ta cất tiếng hát: "Trong những thời điểm như thế nầy, bạn đang cần một Cứu Chúa".
Đức Chúa Trời đã cung ứng cho mỗi một người chúng ta, là con cái Ngài, những đồn lũy sẽ giữ gìn và bao che cho chúng ta trong thời khắc gian nan của chúng ta. Những đồn lũy tôi muốn nhắc tới là . . . Ngôi Lời. . . Sự thanh sạch . . Tình yêu thương . . . Sự cầu nguyện . . . Sự ngợi khen . . .Sự Cảm Tạ . . . và Sự tha thứ. Khi yên nghỉ trên các đồn lũy nầy, lúc chúng ta đối diện với bão táp trong cuộc sống không những sẽ giúp chúng ta chịu đựng nổi, mà còn khiến cho chúng ta được vững vàng trong Đức Chúa Trời nữa. Sứ đồ Phao-lô nói về đồn lũy của chúng ta trong Đức Chúa Trời.
II Côrinhtô 4.8-11: “Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế, nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất. Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Giêxu trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Giêxu cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi. Bởi chúng tôi là kẻ sống, vì cớ Đức Chúa Giêxu mà hằng bị nộp cho sự chết, hầu cho sự sống của Đức Chúa Giêxu cũng được tỏ ra trong xác thịt hay chết của chúng tôi”.
Tối nay tôi giới thiệu cho bạn đồn lũy thứ nhứt mà chúng ta có cần để yên nghỉ trong . . . "Sự quan phòng của Đức Chúa Trời". Chúng ta sẽ bật cười hay lấy làm ngạc nhiên ở tư tưởng Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta. Điều nầy nhắc cho tôi nhớ tới câu chuyện hài hước nầy.
Một tên trộm bẻ khoá vào trong ngôi nhà kia và khi hắn đang trèo qua cửa sổ thì nghe thấy một giọng nói trong bóng tối vang lên: "Đức Chúa Trời đang quan sát ngươi kìa!" Choáng váng và bối rối, anh ta bắt ớn lạnh khi nhìn vào bóng tối của căn phòng hy vọng nhận ra ai có giọng nói quái gở đó. Sau vài phút và không còn nghe thấy giọng nói ấy nữa, anh ta bật đèn pin lên và bắt đầu nhìn quanh để tìm kiếm vật chi có giá trị đặng lấy cắp. Khi ấy anh ta lại nghe thấy giọng nói đó: "Đức Chúa Trời đang quan sát ngươi kìa!" Hướng ngọn đèn pin về phía có giọng nói, anh ta nom thấy một con két bị nhốt trong chuồng. Bước tới gần chuồng chim, anh ta hỏi con két: "Có phải mày vừa nói Đức Chúa Trời đang quan sát ngươi kìa không?” Con két đáp: "Phải đấy và Đức Chúa Trời đang quan sát ngươi kìa!" Tên trộm hỏi: "Tao tưởng mày là Đức Chúa Trời chớ?" Con két nói: "Không phải đâu!" Vì thế tên trộm nói: "Vậy hãy nói cho tao biết, mày tên gì vậy?” Con két đáp: "Môise". Tên trộm nói: "Môise à!", rồi hắn hỏi tiếp: "Không biết tên ngu ngốc nào lại dám đặt cho con két cái tên Môise vậy cà?" Con két nói: "Chính người đặt tên cho kẻ bắt trộm Doberman của họ là Đức Chúa Trời!"
Mặc dù chúng ta bật cười nơi tính hài hước của câu chuyện, song sự thật cho thấy rằng: Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta. Một bài ca do Bett Midler hát nhắc cho chúng ta nhớ. . . "Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta, Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta từ đàng xa". Và bài thánh ca xưa rất quen thuộc cũng nhắc cho chúng ta nhớ . . . "Chim sẻ mắt Chúa vẫn chú vào, và Ngài há quên tôi khi nào". Gióp (33.11b) tuyên bố rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng đang “coi chừng đường lối tôi”. Tác giả Thi thiên nhắc cho chúng ta nhớ Đức Giêhôva đang quan sát khách lạ, kẻ mồ côi, người goá bụa, bạn và tôi. Phải, Đức Chúa Trời đang quan phòng tôi.
Có người tin Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta thì chẳng khác gì hơn Đấng Tạo Hoá đang đứng nhìn xem mọi thứ vì sở thích riêng của Ngài mà thôi. Họ xem Đức Chúa Trời là một niềm vui và liếc nhìn quanh với hy vọng tìm cho ra ai đó để xoá bỏ niềm vui ấy đi. Không một điều gì có thể che lấp được sự thật hết.
1. Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta . . . để làm ơn cho chúng ta
Thi thiên 34.15: “Mắt Đức Giêhôva đoái xem người công bình, Lỗ tai Ngài nghe tiếng kêu cầu của họ”.
Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá của chúng ta, nhưng Ngài cũng là Cha chúng ta. Chính Đức Chúa Trời là Đấng làm ơn cho đời sống chúng ta với sự quan phòng của Ngài trên chúng ta như một người Cha quan phòng con cái của người vậy. "Chúa quan sát đời sống chúng ta liên tục. Từ lúc còn trong bụng mẹ cho tới khi chúng ta qua đời, Chúa canh giữ và hướng dẫn cuộc hành trình trên đất của chúng ta" – (Francis Frangipane)
Là cha đời nầy, tôi đứng quan sát con cái tôi, thứ nhứt vì đây là bổn phận của tôi, và thứ hai, vì tôi yêu thương chúng. Nhiều lần tôi quan sát chúng vật vã với những việc mà chúng buộc phải lo làm. Trong những thời điểm đó tôi phải chờ cho chúng kêu to lên: "Bố ơi, bố giúp con với?" trước khi đến giúp cho chúng nó. Ở những lúc khác tôi xen vào để cứu giúp cho chúng, mà không phải chờ đợi chi hết.
Chúa Giêxu nhắc cho chúng ta nhớ rằng Cha ở trên trời vốn biết rõ mọi nhu cần của chúng ta trước khi chúng ta cầu xin Ngài (Mathiơ 6:8). Thực vậy sao? Vì mắt Ngài luôn mở ra để nhìn thấy mọi nhu cần của chúng ta và lỗ tai Ngài luôn mở để lắng nghe tiếng kêu la của chúng ta. Ngài là Cha chúng ta và Ngài muốn làm ơn cho chúng ta với sự hiện diện của Ngài.
Tôi đã đúng khi cho rằng Đức Chúa Trời đang quan sát chúng ta mọi lúc mọi khi . . . dù là lúc khó khăn hay lúc thuận tiện trong đời sống của chúng ta. Tư tưởng Đức Chúa Trời đang quan sát chúng ta khi chúng ta sống tệ hại sẽ gây ra nỗi sợ hãi trong tấm lòng của chúng ta, song không phải vậy đâu. Đức Chúa Trời không đặt trong chúng ta một tâm thần sợ hãi, mà đặt vào đấy thần trí của sự làm con nuôi, sự nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng chúng ta là con cái của Ngài.
Roma 8.15-17: “Thật anh em chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: Aba! Cha! Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài”.
Đức Chúa Trời đang quan sát để làm ơn cho chúng ta với sự hiện diện như là Cha chúng ta. Trong mối thông công mật thiết nhất, chúng ta được đưa vào một sự hội hiệp Cha Con với Đức Chúa Trời qua sự làm con nuôi, nhờ đó chúng ta có thể kêu: "Aba, Cha!” Chúng ta có một Cha là Đấng yêu thương chúng ta và đang quan phòng chúng ta để dẫn dắt và canh chừng đời sống của chúng ta.
2.Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta. . .để dẫn dắt chúng ta
Thi thiên 32.8: “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi; Mắt ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi”.
Bậc phụ huynh nào yêu thương con cái của họ sẽ cho phép chúng chơi đùa trong chiếc xe hơi chạy trên đường phố sao? Đức Chúa Trời đến để dẫn chúng ta ra khỏi con đường bị coi là nguy hiểm không thể chơi đùa được trong đó. Ngài có con mắt quan sát trên hết thảy chúng ta.
Nói tới mắt của Đức Chúa Trời có nghĩa là nói tới sự quan phòng đầy sự khôn ngoan của Ngài (thấy trước) trên chúng ta. Ngài dạy dỗ chúng ta để cho chúng ta hiểu rõ đường lối của Ngài và để ý xem chúng ta đang đi đâu. Ngài dạy dỗ chúng ta để chỉ cho chúng ta thấy hướng đi đúng đắn khi chúng ta hành trình trên con đường sự sống.
Thật là lý thú vì chữ "dạy" ở đây có ý nói tới hai việc. Thứ nhứt là một mũi tên, nó chỉ một hướng nhất định nào đó, và thứ hai một ngón tay chỉ phương hướng. Mũi tên chỉ được nhắm bởi một cung thủ và chính mấy ngón tay khiến cho mũi tên bắn đi từ dây cung đến một mục tiêu nhất định.
Chính con mắt lăm lăm của Đức Chúa Trời đang quan sát trên chúng ta tập trung vào mục tiêu: ấy là chúng ta phải được biến đổi theo ảnh tượng của Đấng Christ. Đó là đích nhắm của Ngài trong mọi đời sống chúng ta. Có người sẽ tới sớm và có người tới trễ . . . có người đến từ hướng nầy và có người đến từ hướng khác. Nhưng chính Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta, Ngài dẫn dắt chúng ta vào bến bờ phu phỉ của Ngài: ấy là trở nên giống như Đấng Christ.
Hãy lắng nghe tác giả Thi thiên khi ông nói tới sự quan phòng mật thiết của Đức Chúa Trời đối cùng chúng ta như để dẫn dắt chúng ta.
Thi thiên 139.1-5: “Hỡi Đức Giêhôva, Ngài đã dò xét tôi, và biết tôi. Chúa biết khi tôi ngồi, lúc tôi đứng dậy; Từ xa Chúa hiểu biết ý tưởng tôi. Chúa xét nét nẻo đàng và sự nằm ngủ tôi, Quen biết các đường lối tôi. Vì lời chưa ở trên lưỡi tôi, Kìa, hỡi Đức Giêhôva, Ngài đã biết trọn hết rồi. Chúa bao phủ tôi phía sau và phía trước, Đặt tay Chúa trên mình tôi”.
Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta, lúc chúng ta đi ngủ, lúc chúng ta thức giấc. Ngài biết rõ từng lời nói trên đầu lưỡi chúng ta khi chưa ra khỏi miệng. Và Ngài hiểu rõ con cái Ngài! Sự Ngài quan phòng trên đời sống bạn và tôi, khiến cho Ngài bao phủ chúng ta từ trước ra sau. Nói cách khác, bàn tay Ngài nắm lấy tôi, dẫn dắt tôi, đưa tôi vào trong đồn lũy của Ngài.
Và cũng như phần nhiều bậc phụ huynh chúng ta, tôi tin Ngài lấy làm buồn khi con cái Ngài không chịu noi theo sự hướng dẫn của Ngài. Ngài yêu thương chúng ta nhiều đến nỗi luôn hướng mắt Ngài nhìn về chúng ta. Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta!
3. Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta . . . để canh giữ chúng ta
Châm ngôn 5.21: “Vì các đường của loài người ở trước mặt Đức Giêhôva; Ngài ban bằng các lối của họ”.
Đức Chúa Trời là Cha chúng ta không những quan phòng để làm ơn cho chúng ta với sự hiện diện của Ngài, và để dẫn dắt chúng ta đi theo đường lối của Ngài. . .mà còn canh giữ chúng ta khi chúng ta bước đi nữa. Trong kỳ nghỉ hè, gia đình tôi và tôi đã đi qua nhiều phi cảng khác nhau, ở đấy có nhiều đoàn dân đông. Tôi cứ để mắt trông chừng bầy con của mình. Tôi quan sát đời sống của chúng như để bảo hộ cho chúng vậy.
Tôi hỏi người bạn không biết anh ta có nghĩ anh ta sẽ làm gì khi có ai đó tìm cách bắt lấy đứa con trai nhỏ ra khỏi anh ta trong khi siêu thị thì đầy ắp cả người. Anh ta đáp: "Có chứ, tôi sẽ đá vào chúng giữa hai chân và xé toạc cái mũi ra khỏi gương mặt của chúng!" Tôi đáp: "Hừm, anh đã nghĩ như thế à!"
Tác giả Thi thiên quyết chắc với chúng ta rằng Đức Chúa Trời thường xuyên cưu mang hết thảy đường lối của chúng ta. Sự Ngài quan phòng chúng ta không những là một sự chú ý luôn luôn, mà còn cân nhắc nói tới "ban bằng" nữa. Đức Chúa Trời sẵn sàng dời đi hết mọi ngăn trở đứng giữa Ngài và con cái Ngài. Ngài chuẩn bị dời chúng ta ra khỏi đường lối nào gây hại cho chúng ta.
Tôi không cho rằng là Cơ đốc nhân thì không có một điều chi tệ hại sẽ xảy ra cho chúng ta hay cho những người yêu dấu của chúng ta. Tôi không giải thích lý do tại sao có người đối diện với những hoàn cảnh ghê khiếp trong cuộc sống và có người chết những cái chết do bạo lực trong khi những người khác thì không phải như vậy. Tôi không thể giải thích lý do tại sao có người chết vì ung thư và các bịnh tật khác trong khi có người lại được chữa lành. Nhưng trong khi phấn đấu để trả lời mọi thắc mắc của chúng ta, chúng ta đừng giống như tên đầy tớ của tiên tri Êlisê, mắt của tên đầy tớ nầy bị đóng lại trước những gì Đức Chúa Trời đang làm quanh họ để bảo vệ cho họ. Chúng ta phải tin rằng Đức Chúa Trời vốn biết rõ Ngài sẽ làm gì rồi.
Tác giả Thi thiên vốn quyết chắc sự bảo đảm khi Đức Chúa Trời canh chừng trên ông.
Thi thiên 121.1-4: “Tôi ngước mắt lên trên núi: Sự tiếp trợ tôi đến từ đâu? Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giêhôva, Là Đấng đã dựng nên trời và đất. Ngài không để cho chơn ngươi xiêu tó; Đấng gìn giữ ngươi không hề buồn ngủ. Đấng gìn giữ Ysơraên không hề nhắp mắt, cũng không buồn ngủ”.
Đức Chúa Trời không hề buồn ngủ! Chúng ta là bậc cha mẹ lại rất thường buồn ngủ không biết con cái mình đang làm gì? Đức Chúa Trời không hề thôi quan sát từng bước chân của chúng ta. Giống như bậc cha mẹ họ đi trước và sau đứa con mới tập đi để đỡ chúng cho khỏi té, cũng một thể ấy là Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta để canh giữ chúng ta. Tác giả Thi thiên kết sự canh giữ quan phòng của Đức Chúa Trời bằng câu: "Ngài là Đấng gìn giữ ngươi".
Giữ gìn: bảo hộ, chú ý, gìn giữ trong quyền chủ động của một người. Chúa Giêxu đã cầu nguyện xin Cha “giữ” chúng con khỏi điều ác (Giăng 17.15). Mắt Ngài chăm chú trên chúng ta để gìn giữ và bảo hộ chúng ta tránh khỏi kẻ ác, là kẻ đến để cướp phá, giết chóc và huỷ diệt chúng ta. Hãy tìm kiếm đồn luỹ bảo hộ, quan phòng của Đức Chúa Trời trong thời của bạn và hãy yên nghỉ trong đó. Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta để canh giữ chúng ta!
PHẦN KẾT LUẬN
Đồn luỹ quan phòng của Đức Chúa Trời đáng được lưu ý. Chúng ta không nên kiêu ngạo khi cho rằng chúng ta treo mình trên nóc đền thờ rồi mong Đức Chúa Trời buông tha đời sống của chúng ta. Chúa Giêxu phán: "Ngươi đừng thử Chúa là Đức Chúa Trời ngươi”.
Đồn luỹ của Đức Chúa Trời là một nơi yên nghỉ. Tuy nhiên, sự yên nghỉ của chúng ta không phải là sự thiếu hoạt động trên đời sống chúng ta, mà chính Đức Chúa Trời đã trở thành năng động trong đời sống chúng ta.
Đồn luỹ của Đức Chúa Trời là một nơi được miễn trừ, ở đó gánh nặng chất trên chúng ta bị rơi xuống.
Đồn luỹ quan phòng của Đức Chúa Trời đem lại sự an ủi, sự bảo đảm và chân thành trong mối thông công của chúng ta với Ngài. Đức Chúa Trời đang quan phòng chúng ta!
Amen!
***