Hiển thị các bài đăng có nhãn Rome. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Rome. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 7, 2010

Rôma 16: "Phaolô, "Người Của Mọi Người"



Phaolô, ‘người của mọi người’

(Rôma 16)
Phần giới thiệu
Một trong những thử nghiệm niềm tin của con người là điều chúng ta gọi là ‘thử người’. Nghĩa là, chúng ta quan hệ với người ta ở một cấp độ lớn lao thể nào, mối quan hệ ấy chỉ ra tính vững chắc và giá trị niềm tin của chúng ta. Thí dụ, tôi nghi ngờ lập tức niềm tin của một người đưa ra một câu nói như thế nầy: “Tôi ít thấy điều chi là ‘tốt lành’ về con người ở mặt tổng thể. Trong kinh nghiệm của tôi, phần lớn họ là thứ rác rưỡi” [Freud, được Jay E. Adams dẫn chứng, Competent to Counsel (Grand Rapids. Baker Book House, 1970), p. 61]. Có thể bạn thấy thích thú vì đây là câu nói đã được viết ra cho Pfister bởi Sigmund Freud. Như một kết quả của câu nói ấy, tôi sẽ lấy làm nghi ngờ bất cứ điều chi Freud đã biện hộ.
Thái độ của vị sứ đồ khác biệt dường bao đối với những bạn bè của ông. Ông là ‘người của mọi người’, ông đã gửi những lời chào thăm riêng đến 26 cá nhân và 5 gia đình sống trong thành phố Rôma — một thành phố, tôi muốn nói thêm, Phaolô chưa hề đến viếng qua. Sự thân thuộc của Phaolô với Hội thánh nầy và các thuộc viên đặc biệt của Hội thánh ấy thân mật đến nỗi một số học giả đã đề nghị thư tín nầy không thể viết ra cho một Hội thánh chưa hề được thăm viếng tại Rôma, thay vì là Hội thánh quen thuộc ở Êphêsô [Đối chiếu F. F. Bruce, The Epistle of Paul to the Romans (Grand Rapids. Wm. B. Eerdmans, 1963), pp. 266-270].
Trước đầy tôi đã đề nghị trong câu 14 của chương 15 chúng ta đã đến với tiểu đoạn cuối của thư tín quan trọng nầy, và ở đây chúng ta được đặc ân nhận lãnh một cái nhìn thân thuộc hơn vào đời sống riêng tư của Phaolô. Thực vậy, chúng ta cũng đang đọc thư của Phaolô ở chương 16. Các câu 1-16 thiết lập lời lẽ chào thăm riêng tư; các câu 17-20 là lời lẽ sau cùng về sự cảnh cáo; các câu 21-24 chứa những lời chào thăm của những người ấy với Phaolô; và các câu 25-27 kết luận với một lời ngợi khen tạ ơn.
Lời lẽ chào thăm riêng tư (16.1-16)
Lời khen ngợi Phê-bê (các câu 1-2). Có nhiều đề nghị cho rằng Phêbê, là người chị em đến từ thành phố Xen-cơ-rê, một hải cảng của thành Côrinhtô, là người mang bức thư nầy của Phaolô. Thắc mắc thực sự dấy lên với sự nhắc nhở về phụ nữ nầy là chỗ nói tới bà là một ‘nữ chấp sự’ (câu 1) của Hội thánh. Tiểu đoạn nầy là một trong những phân đoạn Kinh Thánh được dùng để minh chứng chức vụ nữ chấp sự trong Hội thánh [Các phân đoạn Kinh Thánh khác thường được dùng để ủng hộ chức vụ nữ chấp sự là I Timôthê 3.11; 5.9, 10].
Đối với tôi, dường như có vài yếu tố kết hợp để chiến đấu chống lại một kết luận như thế [“Thường thì khi dành cho Phêbê tước hiệu “nữ chấp sự” và đề cập đến bà như đã thi hành một chức vụ trong Hội thánh tương xứng với chức vụ thuộc về nam giới, những ai đã nắm lấy chức vụ chấp sự (đối chiếu Philíp 1.1; I Timôthê 3.8-13). Mặc dù từ ngữ nói tới “tôi tớ” cũng là từ được sử dụng để nói tới chấp sự trong nhiều trường hợp đã được kể ra, tuy nhiên từ ngữ cũng được sử dụng để chỉ rõ nhân vật đang thực thi bất kỳ loại chức vụ nào. Nếu Phêbê lo phục vụ các thánh đồ, như câu 2 nói, thế thì bà sẽ trở thành một tôi tớ của Hội thánh và cũng không cần cũng không biện hộ để ủng hộ bà đã nắm lấy hay đã thực thi những gì được kể cho một chức vụ có tính truyền đạo có thể sánh với chức vụ của chức trợ tế. Nhiều chức việc được thực thi tương tự với những chức vụ được trao cho hàng chấp sự. Chức vụ của họ là chức vụ thương xót đối với người nghèo, kẻ bịnh hoạn, và kẻ bị bỏ rơi. Đây là lãnh vực trong đó người phụ nữ thực thi mọi chức năng và ơn của họ. Nhưng chẳng có một biện hộ nào cho là chức vụ trong trường hợp những đàn bà góa, trước tiên nắm lấy quyền hạn trong Hội thánh, đều đã được nói tới ở I Timôthê 5.9, 10.” John Murray, The Epistle to the Romans (Grand Rapids. Wm. B. Eerdmans, 1968), II, p. 226]. Trước hết, từ Hy lạp diakonos (chấp sự) là một từ rất chung chung được sử dụng với khả năng chuyên trách một chức vụ dạy đạo hiếm khi được thấy có trong Tân Ước. Từ khoảng 30 lần xuất hiện trong Tân Ước, 27 lần trong số nầy từ ngữ diakonos được dùng không theo tính chuyên trách của một ‘chức việc’ hay ‘một người lo phục vụ’. Chỉ trong 3 trường hợp ý nghĩa chuyên trách nổi bật lên. Chúng ta sẽ mong ý nghĩa không chuyên ở những chỗ có từ ngữ nầy.
Thứ hai, văn mạch chẳng đòi hỏi điều gì hơn là ý nghĩa chung chung, chỉ ra một tôi tớ của Hội thánh tại thành Xen-cơ-rê. Ở câu 2, bà được đề cập tới như một người trợ giúp cho nhiều người, và cả cho Phaolô. Tôi không nhìn thấy một chức vụ có tính truyền giáo ở đây. Thứ ba, các nguyên tắc Kinh Thánh sẽ cấm đoán một người nữ chu toàn bất kỳ chức vụ nào có tính dạy đạo vì với chức vụ ấy bà ấy sẽ nắm lấy quyền hành trên đàn ông (đối chiếu I Timôthê 2.12; I Côrinhtô 14.34-36). Sau cùng, sự hiện hữu của một chức vụ dạy đạo như thế không xảy ra về mặt lịch sử cho tới một thời gian sau đó trong thời Tân Ước [“Bản thân từ ngữ (diakonos) thường xuyên được sử dụng trong thời buổi thư tín nầy được viết ra (12. 7), nhưng từ ngữ được sử dụng nói tới nữ giới thì không chắc lắm. I Timôthê 3. 11 mô tả các nam chấp sự, hay có thể là vợ của các chấp sự. Các nữ chấp sự được nói tới trong Thể chế Sứ đồ (2. 26, 57; 3. 7, 15), và trước đó (năm 112 SC). Pliny (Epistles, X. xcvi. 8) nói tới ancillis quae ministrae dicebantur. Trong thời Tân Ước phạm vi giữa ‘người giúp việc bán thời gian’ và Mục sư biệt riêng ra cho sự phục vụ trong Hội thánh không như ngày hôm nay, và vì lẽ đó thắc mắc Phêbê có là một ‘nữ chấp sự’ hoặc một nhân sự đắc lực trong Hội thánh hay không đã được đưa ra không đúng” C. K. Barrett, The Epistle to the Romans (New York. Harper and Row, 1957), p. 282].
Tôi muốn nói rằng công việc của người nữ Phêbê nầy là một sự phục vụ rất quan trọng cho Thân thể của Đấng Christ, và công việc đó tiếp tục phục vụ cho các thánh đồ ngày hôm nay. Mặc dù sẽ không có một chức vụ chính thức nào kết với công việc chức dịch của nữ giới, có nhu cần rất lớn cho chức dịch ấy và ích lợi lớn lắm được rút ra từ chức dịch ấy. Từ phần mô tả về Phêbê ở câu 2, tôi kết luận rằng có thể bà rất dư dật về tài chính và đã sử dụng mọi tài nguyên của mình để phục vụ cho Hội thánh rất nhiều giống như Lyđi, được mô tả trong Công vụ các Sứ đồ chương 16 (các câu 14-15) [Loại giúp đỡ được Phêbê thực hiện ít được biết rõ lắm. Có thể bà là một phụ nữ giàu có và có ảnh hưởng trong xã hội và nhờ đó đã hành động như một người bảo trợ. Mọi việc làm của bà có thể thuộc về một loại khác như chăm sóc cho người nghèo khó và kẻ khốn khổ. Dưới những hoàn cảnh nào bà là người giúp đỡ cho Phaolô thì chúng ta không biết. Nhưng sự giúp đỡ của bà đúng là loại trợ giúp mà Lyđi ở thành Philíp đã thực hiện (Công vụ các Sứ đồ 16.15)”. Murray, II, p. 227].
Vì cớ sự phục vụ của bà cho Hội thánh, Phaolô ghi lại trong thư tín của ông một lời khen ngợi riêng tư. Ông khuyên các thánh đồ tại thành Rôma phải tiếp nhận bà và phục vụ cho bà theo một phương thức có lợi cho những người mang theo danh của Đấng Christ (câu 2).
Lời chào thăm Bê-rít-sin và A-qui-la, những người La mã (vv. 3-4). Nếu các câu 1 và 2 cung ứng cho chúng ta một số thông tin đến chức vụ của một người nữ độc thân trong Hội thánh, các câu 3 và 4 cung ứng một trường hợp nói tới người nữ đã lập gia đình. Không phải là không quan trọng khi từ sáu trường hợp trong Tân Ước mà Bê-rít-sin và A-qui-la đã được kể tên, bốn lần Bê-rít-sin được nhắc tới trước tiên. Có thể Bê-rít-sin có một tính cách thân mật và thoải mái hơn chồng của mình, hoặc giả bà được ơn nhiều hơn ông. Có thể nói rằng bà ra đời là một người nữ thuộc đẳng cấp cao trong xã hội [Đối chiếu F. F. Bruce, pp. 270-271].
Từ câu chuyện của Luca trong Công vụ các Sứ đồ chương 18 (các câu 24-28), chúng ta được cho biết rằng cả hai Bê-rít-sin và A-qui-la đã truyền cho A-bô-lô đầy đủ lẽ thật về Tin lành. Đây là một đội vợ chồng rất giỏi, cùng nhau hầu việc Chúa. Rõ ràng, họ làm ấm lòng nhiều người, họ vui vẻ đem nhiều người vào lòng và về nhà họ, thậm chí khi làm vậy sẽ đưa đến nguy hiểm lớn cho cá nhân. Mặc dù chúng ta không biết những điểm đặc biệt ở đàng sau câu nói của Phaolô về sự ‘liều chết của họ’ để cứu mạng của Phaolô trong câu 4, chúng ta xem đôi vợ chồng nầy như một tấm gương sáng láng về sự hầu việc.
Giờ đây, sẽ có một sự ức đoán đối với lai lịch của những cá nhân, nhưng có ít việc chắc chắn được nói tới đối với ai bất kỳ trong phần còn lại. Tôi e chúng ta sẽ kết luận rằng những người đó đã được nhắc tới không phải là hạng người phi thường, mà là những thuộc viên kiểu mẫu trong cộng đồng Cơ đốc giống như bạn và tôi.
Tôi nghĩ rằng bạn sẽ lấy làm lạ nơi giá trị của việc ghi lại những cái tên nầy (bởi sự cảm thúc của Đức Thánh Linh) cho Cơ đốc nhân ngày hôm nay. Dường như họ có quan hệ với chúng ta như những cái tên được ghi lại trong bản gia phổ của Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta (những cái tên rất có giá trị). Nhưng có vài quan sát quan trọng đã được thực hiện liên quan tới tham khảo của Phaolô đối với các cá nhân nầy trong phần kết luận của bức thư.
(1) Phaolô, ngược lại với suy nghĩ ngày hôm nay, đã đánh giá cao nữ giới và tầm quan trọng của chức vụ họ. Trong vòng những người được ghi tên lại trong chương 16, có lẽ 8 người là phụ nữ. Một lời khen ngợi đặc biệt đã được đưa ra về Phêbê. Mẹ của Ru-phu được Phaolô xưng như mẹ ruột của ông (câu 13). Bê-rít-sin được xem trọng cùng với chồng của bà. Phaolô đã xem chức vụ của nữ giới cần phải được tán thưởng và khen ngợi nhiều.
(2) Phaolô là ‘người của mọi người’. Phaolô là một người nắm giữ giáo lý của Kinh Thánh với sự quan tâm cao độ nhất, nhưng không chễnh mãng với các anh chị em của mình. Hãy hình dung Phaolô đã đề cập tới nhiều thánh đồ ở Rôma bằng tên, thế mà ông chưa hề đặt chân đến thành Rôma. Giờ đây, tôi xưng nhận rằng những đôi vợ chồng như Bê-rít-sin và A-qui-la rõ ràng rất năng động và Phaolô đã tiếp xúc với họ ở đâu đó, nhưng điều nầy không được nhắc tới.
Làm sao mà vị sứ đồ rất quen thuộc với cá nhân những Cơ đốc nhân như thế chứ? Cho phép tôi đưa ra một ít tưởng tượng và đề nghị một số việc khả thi.
(a) Phaolô đã xem sự phục vụ là một chức dịch riêng tư, không những là một chức vụ nền tảng. Bởi điều nầy, tôi muốn nói rằng Phaolô đã giao kết sâu sắc với nhiều người trong vai trò cá nhân chớ không chỉ ở ‘số đông’. Chức vụ của Phaolô gồm cả chung và riêng (Công vụ các Sứ đồ 20.20). Đây không phải là một chức vụ lạnh lùng và xa xôi đâu, nhưng gồm trong đó là những tình cảm sâu sắc nhất của ông.
“Nhưng chúng tôi đã ăn ở nhu mì giữa anh em, như một người vú săn sóc chính con mình cách dịu dàng vậy. Vậy, vì lòng rất yêu thương của chúng tôi đối với anh em, nên ước ao ban cho anh em, không những Tin Lành Đức Chúa Trời thôi đâu, song cả đến chính sự sống chúng tôi nữa, bởi anh em đã trở nên thiết nghĩa với chúng tôi là bao. Hỡi anh em, anh em còn nhớ công lao, khó nhọc của chúng tôi; ấy là trong khi chúng tôi giảng Tin Lành cho anh em, lại cũng làm việc cả ngày lẫn đêm, để cho khỏi lụy đến một người nào trong anh em hết. Anh em làm chứng, Đức Chúa Trời cũng làm chứng rằng cách ăn ở của chúng tôi đối với anh em có lòng tin, thật là thánh sạch, công bình, không chỗ trách được. Anh em cũng biết rằng chúng tôi đối đãi với mỗi người trong anh em, như cha đối với con” (I Têsalônica 2.7-11; cũng đối chiếu Công vụ các Sứ đồ 20.19)
(b) Không những Phaolô đã dạy dỗ và phục vụ theo cách riêng tư, ông đã cầu nguyện theo cách riêng và theo cách đặc biệt (đối chiếu Philíp 1.3-5; Côlôse 1.3-4; I Têsalônica 1.2-3, v.v...). Mặc dù Kinh Thánh không nói đến điều đó một cách rõ ràng, tôi tin rằng khi Phaolô cầu thay cho các thánh đồ Rôma, ông không cầu nguyện như chúng ta cầu nguyện cho các vị giáo sĩ và kẻ bị mất: “Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho các vị giáo sĩ ở khắp mọi nơi, và làm ơn cứu những kẻ nào chưa nhìn biết Ngài”. Phaolô đã cầu nguyện rất đặc biệt, tôi tin như thế.
(c) Phaolô đã viết nhiều bức thư khuyên răn và dạy dỗ nói tới những cá nhân đặc biệt, các nhu cần, và những nan đề (đối chiếu I Côrinhtô 1.12; 5.1...; 6.1..., v.v...). Mặc dù Phaolô không thể hiện diện theo phần xác với các thánh đồ, ông đã hiện diện về mặt tâm linh (I Côrinhtô 5.3; I Têsalônica 2.17).
(d) Phaolô không nghĩ tới các phần thưởng của chức vụ theo sự cân đối hàng tháng của ngân hàng, thay vì thế ông nghĩ tới sự cứu rỗi và sự nên thánh của nhiều linh hồn. Phần thưởng của Phaolô cho chức vụ là con người: “Vì sự trông cậy, vui mừng và mão triều thiên vinh hiển của chúng tôi là gì, há chằng phải là anh em cũng được đứng trước mặt Đức Chúa Jêsus chúng ta trong khi Ngài đến sao? Phải, anh em thật là sự vinh hiển và vui mừng của chúng tôi vậy” (I Têsalônica 2.19-20; cũng đối chiếu Philíp 4.1).
Nguyện tôi cũng lấy lòng dạn dĩ mà nói rằng chúng ta có thể nhân rộng chức vụ của chúng ta theo gương của Phaolô. Chúng ta hãy xem xét chức vụ chúng ta có thể bằng cách viết thư. Chúng ta có thể viết thư cho các giáo sĩ ở khắp mọi nơi và nói cho họ biết về công việc của Đức Chúa Trời ở giữa vòng chúng ta. Chúng ta có thể yêu cầu họ viết hồi âm với những điều cần phải cầu nguyện cùng những bằng chứng cho những lời cầu nguyện được nhậm. Chúng ta có thể phục vụ cho nhiều người với các nhu cần thuộc linh sâu sắc bằng cách viết đôi hàng cảm tạ, hay một lời khích lệ đơn sơ. Đôi khi chúng ta cần phải đưa ra một lời quở trách hay một lời cảnh cáo nhẹ nhàng. Chúng ta có thể cầu thay cho những Cơ đốc nhân theo cách riêng, và đặc biệt cho kẻ bị hư mất. Chúng ta có thể tìm ra những cá nhân để kéo đến gần họ và nổ lực làm thoả mãn những nhu cần đặc biệt. Chúng ta có thể tìm kiếm các phần thưởng của mình nơi những đời sống được thay đổi và các anh chị em trong Đấng Christ. Chức vụ của chúng ta không nhất thiết là phải định hướng theo chương trình hoặc định hướng theo con người.
Một trong những yếu tố làm cho chức vụ từ người đến người được thuận tiện là hiện tượng trong Tân Ước về các Hội thánh tư gia (đối chiếu câu 5). Tôi không biện hộ cho việc bán đi từng ngôi nhà thờ, nhưng tôi chống lại khuynh hướng tập trung toàn bộ chương trình của Hội thánh nhắm vào các nhóm đông trong nhà thờ thay vì ở tư gia. Đây là một trong những lý do chính Community Bible Chapel đã đề xướng quan niệm chức vụ nhóm trong hội chúng của chúng ta. Không có môi trường nào tốt hơn cho chức vụ từ người đến người hơn là ở tư gia.
(3) Đã có một ý thức rất lớn (và thực tế) về sự hiệp một và thân hữu trong các Hội thánh xưa của Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta. Phaolô khen ngợi các thánh đồ tại Rôma phải tiếp đón nồng hậu một thánh đồ đến từ Xen-cơ-rê (câu 1). Tất cả các Hội thánh đều được truyền cho phải tiếp đón các thánh đồ ở Rôma (câu 16). Một số người trong đó được nhắc tới bằng tên đã đi đó đi đây cách tự do trong các Hội thánh Cơ đốc và ý thức sâu sắc về mọi nhu cần và chức vụ của họ.
Trong vòng các Hội thánh địa phương tin theo Kinh Thánh ngày hôm nay, dường như có sự tranh cạnh nhiều hơn là cộng tác và hiệp một. Chúng ta ganh tỵ với Hội thánh khác đang có một chức vụ hiệu quả hơn chúng ta trong một lãnh vực nào đó. Đôi khi chúng ta tỏ ra sự hiệp một Cơ đốc rõ ràng bằng cách tham dự vào mối thông công và chức vụ. Chúng ta nghĩ rằng Hội thánh ở Dallas thì rộng lớn hơn địa vị thuộc viên trong Hội thánh chúng ta. Đúng là một tai vạ! Hội thánh của Đức Chúa Trời tại Dallas bao gồm từng người tín đồ trong Đức Chúa Jêsus Christ, dù giàu hay nghèo, trắng hay đen, có sức lôi cuốn hay không có sức lôi cuốn, nhà thờ lớn hay nhà thờ nhỏ. Nguyện Đức Chúa Trời bước vào thành phố của chúng ta để tỏ ra sự hiệp một của hết thảy các Cơ đốc nhân bất chấp chúng ta đến nhóm ở ngôi nhà thờ nào.
Lời nói cảnh cáo long trọng (16.17-20)
Một số người cảm thấy sự chuyển biến từ câu 16 qua câu 17 là quá vội vã. Làm sao mà vị sứ đồ lại mộc mạc và có căn cứ đến như thế chứ? Lý do rất đơn giãn, ấy là có một mối nguy hiểm sắp xảy ra từ những kẻ giáo sư giả: “Hỡi anh em, tôi khuyên anh em coi chừng những kẻ gây nên bè đảng và làm gương xấu, nghịch cùng sự dạy dỗ mà anh em đã nhận. Phải tránh xa họ đi” (Rôma 16.17).
Bản chất của tà giáo, ấy là nó đi ngược lại với lẽ đạo đã được dạy dỗ bởi Kinh Thánh, và nó gây ra sự bất đồng (câu 17). Bản chất của những kẻ tà giáo, ấy là họ có sức thuyết phục và họ nhắm vào những ai chất phác và chưa trưởng thành (câu 18). Thêm nữa, họ là hạng người làm nô lệ cho sự tham muốn riêng của họ. Đáp ứng của chúng ta không phải là chế nhạo hay thiêu họ trên giàn hỏa, mà chỉ nên tránh xa họ. Đừng hội hiệp với những người thể ấy (câu 17).
Những tường trình mà Phaolô đã nhận được về các Cơ đốc nhân người Rôma là rất tích cực và đáng khích lệ. Tuy nhiên, họ cần phải phấn đấu để được khôn ngoan về việc lành và thanh sạch về điều ác (câu 19). Thật là dễ tự dối mình bằng cách nói rằng chúng ta phải học biết điều chi là ác để có khả năng nhận dạng và chối bỏ nó. Đừng nên như vậy. Chúng ta có thể sẽ dễ dàng sa vào điều ác bằng cách để tâm trí mình chiếu vào nó. Thay vì thế, chúng ta phải cẩn thận trong việc học biết điều chi là tốt lành và có lợi ích (đối chiếu Philíp 4.8). Khi làm như thế, chúng ta sẽ dâng mình vào những việc có tính gây dựng và bổ ích. Thêm nữa, chúng ta sẽ có khả năng phân biện đâu là giả dối thích ứng với sự quen thuộc mật thiết với lẽ thật của chúng ta.
Có một chiến trận do Satan gây ra, nhưng chiến trận nầy sẽ ngắn ngủi thôi: “Đức Chúa Trời bình an sẽ kíp giày đạp quỉ Sa-tan dưới chân anh em. Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus chúng ta ở cùng anh em!” (Rôma 16.20). Ở những điều lôi kéo sự chú ý của chúng ta vào Sáng thế ký 3.15, chúng ta đã được hứa cho là Đức Chúa Trời sẽ bắt Satan phục dưới chơn của chúng ta. Sự đắc thắng sắp xảy đến rồi!
Những lời chào thăm từ các bạn đồng sự của Phaolô (16.21-24)
Một ít người sẽ bàn bạc kết luận rằng Phaolô đã viết vào mùa xuân năm 58 SC từ thành Côrinhtô, hướng về phần cuối chuyến hành trình truyền giáo trước khi ông trở lại thành Jerusalem [Đối chiếu James M. Stifler, The Epistle to the Romans (Chicago. Moody Press, 1960), pp. 12-13]. Ở đó với Phaolô tại thành Côrinhtô là một số người đã ước ao gửi những lời chào thăm cũng như vị sứ đồ. Một trong những người nầy là Timôthê (câu 21), Tẹt-tiu, ông nầy là thư ký hay văn sĩ của Phaolô (câu 22). Mỗi người trong số nầy đã phản ảnh tình yêu thương rời rộng của Phaolô dành cho các sứ đồ tại Rôma.
Tôi được nhắc nhớ đến một sự kiện trong các câu nầy về những lời chào thăm từ các bạn bè của Phaolô, ấy là đôi khi Phaolô đã một mình lo phục vụ. Luôn luôn gần gũi với ông có một số người quen thuộc. Giờ đây, Phaolô đang nhân rộng chức vụ của ông bằng cách ‘dâng mình phục vụ cho những người trung tín’ (II Timôthê 2.2) để họ cũng phục vụ nữa. Nhưng Phaolô không những dâng mình vào chức vụ dạy đạo tạo một khuôn mẫu cho nhiều người bắt chước theo ông, mà còn tạo ra một địa vị môn đồ tìm cách làm biến đổi nhiều người khác ra giống theo ảnh tượng của Đấng Christ, và để khiến cho nhiều người trở thành môn đồ của Đấng Christ nữa. Để hoàn thành công việc nầy, Phaolô đã chọn làm việc với một đội nhân sự, mỗi người trong số họ đều biết phục vụ cho nhau, và mỗi người trong số họ đều biết thực thi các ân tứ thuộc linh vào sự gây dựng nhiều người khác và cho sự truyền bá Tin Lành.
Lời tạ ơn ngợi khen (16.25-27)
Khi bạn đến với phần cuối của thư tín vĩ đại như sách Rôma, có duy nhứt phần kết luận thích đáng và đó là lời tạ ơn ngợi khen. Trong những câu cuối cùng nầy, vị sứ đồ tóm tắt những lẽ đạo chính của bức thư.
(1) Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Chúng ta được nhắc nhớ trong những câu nầy về sự khôn ngoan vô hạn của Đức Chúa Trời. Trong sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, Ngài đã nghĩ ra một chương trình bởi đó Ngài sẽ bắt lấy hạng người loạn nghịch và tội lỗi rồi ban cho họ sự cứu rỗi đời đời, tuy nhiên không có thiếu sót nào gán cho các thuộc tính công bình và thánh khiết của Ngài. Điều nầy Ngài đã hoàn tất bởi sự chết có tính cách thay thế của Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ. Thêm nữa, Ngài đã hoạch định cứu cả người Do thái cùng các dân Ngoại. Sự loạn nghịch và vô tín của người Do thái đã khiến cho việc công bố Tin Lành cho các dân Ngoại ra khả thi. Và ơn cứu rỗi của dân Ngoại sẽ kích thích người Do thái phải ghen tương, để rồi sau cùng họ sẽ xây lại cùng Đấng Mêsi của họ.
Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong việc cứu lấy người Do thái và các dân Ngoại không được tỏ ra đầy đủ trong Cựu Ước. Mặc dù lẽ mầu nhiệm nầy đã được các vị tiên tri nói ra, ý nghĩa của chúng không được biết rõ cho tới khi Đấng Mêsi ngự đến và sự rao giảng của sứ đồ, sự kêu gọi của họ là làm cho lẽ mầu nhiệm của chương trình Đức Chúa Trời cứu nhiều người từ mỗi nước và đưa họ vào một thân ra rõ ràng.
(2) Sự tể trị của Đức Chúa Trời. Không những Đức Chúa Trời là khôn ngoan, Ngài còn là toàn năng nữa. Đức Chúa Trời có quyền hoàn tất những gì sự khôn ngoan của Ngài đã hoạch định. Phaolô nói ở câu 25: “Ngợi khen Đấng có quyền làm cho vững chí anh em…” Nếu chúng ta đã tiếp thu điều chi từ sách Rôma, ấy là một Đức Chúa Trời có quyền cứu rỗi và làm nên thánh người ta. Tính kiên định của chúng ta là chắc chắn vì Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị.
(3) Ân điển của Đức Chúa Trời. Có lẽ cụm từ chỉ ra lẽ đạo của thư tín nầy rõ ràng hơn bất cứ từ ngữ nào khác chính là ân điển. Ân điển, như hết thảy chúng ta đều biết, đề cập tới sự ưu ái mà Đức Chúa Trời dành cho kẻ không đáng được, bởi đó Ngài đã tỏ ra cho chúng ta những ơn phước mà chúng ta không bao giờ kiếm được hay đáng được.
Để cho sứ điệp nầy của thư tín nhập tâm chúng ta, một lần nữa chúng ta hãy suy nghĩ đường lối của chúng ta qua từng chương sách và từng tiểu đoạn một.
(1) Sự xét đoán (Rôma 1-3a). Không có ân điển, con người rơi vào chỗ khốn khổ tuyệt vọng. Hết thảy con người đều là tội nhân, họ đã chối bỏ và xuyên tạc lẽ thật của Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho họ. Nhiều tri thức chỉ đem lại tội lỗi và sự phán xét. Dân Ngoại theo tà giáo là phạm tội chối bỏ sự khải thị của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo. Người đã chọn thờ phượng loài thọ tạo thay vì Đấng Tạo Hóa (chương 1). Người Do thái theo tà giáo còn phạm tội hơn thế nữa, vì dù họ biết Luật pháp của Đức Chúa Trời và thậm chí còn dạy luật ấy cho nhiều người khác biết, họ thất bại không sống theo các tiêu chuẩn của Luật pháp ấy (chương 2). Hết thảy đều là tội nhân, không có ai tìm kiếm Đức Chúa Trời và vì thế hết thảy đều xứng đáng với sự chết đời đời (3a).
(2) Sự xưng công bình (Rôma 3b-5). Ân điển của Đức Chúa Trời đã được tỏ ra cho nhu cần quan trọng nhất của con người. Sự công bình mà Đức Chúa Trời đòi hỏi và con người không thể tạo ra được bằng mọi nổ lực riêng của mình, Đức Chúa Trời đã cung ứng cho qua tặng phẩm Con Ngài, là Đức Chúa Jêsus Christ. Một mình Ngài đã làm thỏa mãn mọi đòi hỏi về sự công bình của Đức Chúa Trời. Ngài đã gánh lấy án phạt của Đức Chúa Trời vì cớ tội lỗi của chúng ta, và Ngài hiến cho sự công bình của chính Ngài trong chỗ rác rưỡi bẩn thỉu tự xưng công bình của chúng ta (Rôma 3b). Sự xưng công bình mà Đức Chúa Trời hiến cho con người trong Đấng Christ là bởi đức tin chớ không bởi việc làm, luôn luôn là như vậy. Điều nầy đã được minh họa trong đời sống của Ápraham (chương 4). Trái của sự xưng công bình là được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời, ngay giữa những cơn thử thách và cám dỗ của cuộc sống (5a). Gốc rễ của sự xưng công bình là công việc của Đức Chúa Jêsus Christ. Giống như một người kia đã phạm tội và đưa hết thảy dòng giống của mình vào trong tình trạng tội lỗi, cũng một thể ấy một người, là Đức Chúa Jêsus Christ, bởi sự sống, sự chết và sự sống lại của Ngài, xưng công bình hết thảy những ai đang ở trong Ngài (5b).
(3) Sự nên thánh (Rôma 6-8). Ân điển của Đức Chúa Trời không những được cần đến để được cứu. Mà chính ân điển của Đức Chúa Trời đã đưa chúng ta đi xa hơn thế, chính ân điển đó cũng sẽ khiến cho chúng ta trở nên người mà chúng ta sẽ trở thành. Ở chương 6, Phaolô nói rằng sự ăn ở của chúng ta (kinh nghiệm Cơ đốc thực tiễn của chúng ta) phải tương xứng với địa vị của chúng ta (trong Đấng Christ) và sự xưng nhận của chúng ta (trong phép báptêm). Mặc dù chúng ta sẽ sống loại đời sống thánh khiết, điều nầy bất khả về mặt con người phù hợp với sự yếu đuối của xác thịt và quyền lực của tội lỗi. Những gì chúng ta muốn làm chúng ta không làm và những gì chúng ta không muốn chúng ta lại làm (chương 7). Ở điểm tuyệt vọng nầy của nhân loại, ân điển của Đức Chúa Trời đã được tỏ ra và được nhìn biết qua sự tiếp trợ của Đức Thánh Linh, Ngài giúp chúng ta làm thỏa mãn mọi đòi hỏi của Đức Chúa Trời về sự sống tin kính (chương 8).
(4) Sự sắp đặt (Rôma 9-11). Ân điển của Đức Chúa Trời được biện hộ trong vấn nạn vô tín của người Do thái. Làm sao Đức Chúa Trời có thể giàu ơn cho được khi người Do thái với họ Đức Chúa Trời đã thiết lập nhiều lời hứa đời đời phước hạnh lại xây sang vô tín và các dân Ngoại thì được cứu rỗi? Khi Đức Chúa Trời xử lý với con người theo ân điển, Ngài ở dưới bổn phận phải cứu từng người Do thái, nhưng chỉ cho kẻ nào Ngài lựa chọn mà thôi (Rôma 9). Người nào đòi hỏi sự công bình sẽ nhận lãnh chính xác những gì mình đáng nhận, và người nào chối bỏ sự công bình của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ bằng cách tìm cách thiết lập ý riêng của họ sẽ nhận lãnh những gì mà họ cứ khăng khăng theo đó. (Mặc dù loài người đã bị định cho khổ ải đời đời vì Đức Chúa Trời không chọn lấy họ (chương 9), họ bị hư mất tương đương vì họ đã không chọn lấy Đức Chúa Trời (chương 10).)
Những lời hứa của Đức Chúa Trời cho Israel là một sự chắc chắn trong tương lai, vì vẫn còn có số dân sót Do thái với họ hy vọng của Israel đang đặt vào đấy. Sự cứng lòng của Israel cũng không phải là hoàn toàn hay thường trực. Đức Chúa Trời đã làm cho người Do thái phải cứng lòng để cứu người dân Ngoại. Khi các mục đích của Ngài dành cho dân Ngoại đều được biết rõ, một lần nữa Ngài sẽ đem ơn cứu rỗi và sự phục hưng lại cho dân Israel (chương 11).
(5) Phần ứng dụng (Rôma 12-15). Ân điển của Đức Chúa Trời không làm vô hiệu tính trách nhiệm của con người. Ở Rôma 16.26, Phaolô nói tới sự vâng phục của đức tin. Sự vâng phục nầy là phản ứng của chúng ta đối với những điều bắt buộc và các huấn thị trong Kinh Thánh. Sự vâng phục nầy không phải là nổ lực của chúng ta để làm một việc gì đó cho Đức Chúa Trời, nhưng là sự đầu phục của chúng ta đối với sinh hoạt của Đức Chúa Trời qua chúng ta. Chúng ta được truyền cho phải làm theo những việc nhất định vì Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta các phương tiện (Thánh Linh của Ngài) để làm chúng. Chúng ta phải đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, làm chứng và cứ thế vì Đức Chúa Trời đã truyền dạy như vậy, và Đức Chúa Trời sẽ mặc lấy quyền phép cho chúng ta để làm công việc đó. (Tôi cũng phải nói rằng chúng ta có thể làm những việc nầy trong sức lực của xác thịt, mà chẳng được lợi ích gì hết).
Đáp ứng duy nhứt khả thi đối với ân điển của Đức Chúa Trời là vâng phục và hầu việc (Rôma 12.1-2). Ân điển của Đức Chúa Trời đã được tỏ ra trong Đức Chúa Jêsus Christ, nhưng ơn ấy còn được phản ảnh trong đời sống của Cơ đốc nhân. Cơ đốc nhân là những viên quản lý của ân điển thiêng liêng trong đó chúng ta mỗi người phải chiếm lấy (những ơn) thuộc linh mà chúng ta phải luyện tập để gây dựng cho thân thể (Rôma 12.3-8). Ân điển của Đức Chúa Trời cũng được phản ảnh trong các mối quan hệ con người của chúng ta (12.9-21).
Ân điển của Đức Chúa Trời đã được phản ảnh qua sự vâng phục của chúng ta đối với Luật pháp trong ‘luật đất đai’ và qua sự tỏ ra của chúng ta về ‘luật yêu thương’ (Rôma 13). Luật yêu thương cũng được tỏ ra qua việc tiếp lấy người anh em yếu đuối hơn, và qua việc tự kềm chế không thực thi bất cứ sự tự do nào sẽ ngăn trở sự tấn tới thuộc linh của họ (Rôma 14.1–15.13).
Quí bạn tôi ơi, bạn có kinh nghiệm ân điển nầy chưa? Bạn có đạt tới điểm thất vọng, nhìn biết rằng bạn không bao giờ kiếm được hay xứng đáng với ân sũng của Đức Chúa Trời? Mọi sự được đòi hỏi cho sự tha tội và sự sống đời đời đã được hoàn tất bởi Đức Chúa Jêsus Christ trên thập tự giá ở đồi Gô-gô-tha. Hãy tin cậy nơi Ngài và bạn sẽ được cứu.
Quí bạn Cơ đốc của tôi ơi, có phải bạn đang sống trong ân điển không? Có phải bạn đã đạt tới mức nhìn thấy kinh nghiệm Cơ đốc của bạn vốn là công việc của ân điển trong sự bạn trở lại đạo không? Bạn không bao giờ báo đáp được ân điển của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi, bạn cũng không thể sống đời sống Cơ đốc nếu không có ân điển thiêng liêng ấy. Nguyện Đức Chúa Trời ưng ban cho bạn sống trong ân điển của Đức Chúa Trời.
Nguyện Đức Chúa Trời được vinh hiển!




Rôma 15: "Đọc Thư Của Phaolô"



Đọc thư của Phaolô

(Rôma 15)
Phần giới thiệu
Một phương pháp không đúng trong việc tiếp thu điều chi đó về người khác là đọc thư từ của họ. Bây giờ tôi biết rõ có nhiều lần khi tôi đọc các thư tín của Phaolô, tôi nghi rằng ông đã đọc thư từ của chúng ta. Nhưng Rôma 15 và 16 là một trường hợp trong đó Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang vùa giúp chúng ta đọc thư từ của Phaolô, và nói riêng tôi rất thích việc đọc đó.
Có thể bạn sẽ ngạc nhiên chút ít về điều nầy, khi có khuynh hướng suy nghĩ ngược lại. Các học viên Kinh Thánh nhắc cho chúng ta nhớ rằng ở câu 14, chúng ta đã đi qua phần dạy dỗ của thư tín và đã đạt tới một số kết luận riêng. Ở bề mặt của vấn đề, chúng ta có khuynh hướng nhất trí với những nhà giải kinh rồi lùi lại nghỉ một chút cho tới khi chúng ta đến với thư tín khác, xét nét các phần giới thiệu và kết luận về mặt hình thức, về những lời chào thăm vô nghĩa hay có của chúng ta: “Hi!” “Mạnh khỏe không?” hoặc “Rất vui khi gặp bạn”.
Song đây không phải là trường hợp với tiểu đoạn kết luận nầy của thư tín Rôma từ ngòi viết của vị sứ đồ lỗi lạc là Phaolô. Không dám đâu! Bạn thấy đấy, chúng ta học biết rất nhiều về Phaolô từ việc đọc phần thân của các thư tín của ông giống như chúng ta tiếp thu về nhà truyền đạo khi lắng nghe các bài giảng của ông vậy. Những điều hết thảy chúng ta muốn biết rõ, thực sự thì ông giống với điều gì? Bạn học biết nhiều về nhà truyền đạo bằng cách mời ông ấy đến nhà dùng bữa tối, hay bằng cách viếng thăm ông ấy tại tư gia. Bạn và tôi có thể học biết điều chi tạo ra cái vỏ bọc sứ đồ Phaolô bằng cách xem kỹ các tiểu đoạn ‘riêng tư’ nầy trong các thư tín của ông. Ở đây, như tôi đã nói rồi, thực sự chúng ta đang đọc thư từ của Phaolô. Ở đây, chúng ta sẽ học biết nhiều về giáo lý Cơ đốc được áp dụng vào những thực tại trong cuộc sống như thế nào! Đây là chỗ có cần nhất.
Ở các chương 1-3a, Phaolô đã tỏ ra nhu cần về một kiểu cách công bình của Đức Chúa Trời. Sở dĩ như vậy là vì tất cả mọi người đều là tội nhân, họ không tìm kiếm Đức Chúa Trời, và họ đã chối bỏ và sửa đổi lại bất cứ hiểu biết nào mà họ đã có về Ngài. Sự công bình đã được Đức Chúa Trời chấp nhận (và là điều con người không thể kiếm được hay xứng đáng với) đã được Đức Chúa Trời cung ứng cho qua đời sống, sự chết có tính cách hy sinh, và sự sống lại của Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ. Sự công bình là thích đáng với đức tin chớ không thích đáng với việc làm (Rôma 3b-5). Địa vị mới của Cơ đốc nhân ‘trong Đấng Christ’ đòi hỏi một đời sống mới, một đời sống không thể đem sống với sức lực của xác thịt (mọi khả năng tự nhiên của con người), nhưng chỉ nhờ vào sự tiếp trợ của Đức Thánh Linh (Rôma 6-8).
Cái điều được đóng trong ngoặc đơn, nhưng rất quan trọng trong sự bàn bạc của trong thư tín nầy, là phần giải thích sự thất bại của người Do thái không đạt được sự cứu rỗi trong khi sốt sắng về tôn giáo, còn người Ngoại bang thì tìm được ơn ấy, dường như thậm chí chẳng tìm kiếm ơn ấy nữa. Câu trả lời của Phaolô, ấy là đang khi Israel trông mong được cứu bởi phẩm giá mọi nguồn gốc chủng tộc và việc làm của họ, Đức Chúa Trời ưng ban sự cứu rỗi trên cơ sở thương xót, chớ không phải sự công bình, và trên cơ sở đức tin, chớ không trên cơ sở các việc làm. Không những Israel đã thất bại vì Đức Chúa Trời không chọn từng người Do thái, mà vì họ không chọn Ngài. Tất cả mọi sự nầy đã được hoạch định để ban ơn cứu rỗi cho dân Ngoại, và bởi sự trở lại đạo của họ để kích thích Israel một lần nữa trở lại với Đức Chúa Trời của họ (Rôma 9-11).
Rôma 12.1 đến 15.13 Phaolô xử lý với những bổn phận Cơ đốc đối với Đức Chúa Trời và con người theo quan điểm ơn thương xót thiêng liêng mà ông đã nhận được. Bổn phận của chúng ta đối với Đức Chúa Trời là một đời sống tận hiến cho sự thờ phượng. Sự phục vụ đã được tỏ ra trong Hội thánh qua sự thực thi ân tứ thuộc linh của chúng ta và trong các mối quan hệ của con người chúng ta bằng cách thể hiện tình yêu thương (Rôma 12). Chúng ta buộc phải tuân theo các luật lệ về đất đai và phải sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời (chương 13). Luật yêu thương phải được thể hiện ra đối với anh em yếu đuối hơn bằng cách để cho họ nắm giữ các nhận thức riêng của họ về các vấn đề thuộc sự tự do Cơ đốc, và bởi việc hạn chế sự thực thi bất cứ sự tự do Cơ đốc nào tạo ra sự vấp ngã của một thành đồ kém trưởng thành hơn (chương 14).
Ở 13 câu đầu của chương 15, Phaolô chỉ ngón tay của ông vào vấn đề chính, về trách nhiệm của kẻ mạnh đối với kẻ yếu trong đức tin. Kế đó, ông đưa ra ba lời động viên dành cho Cơ đốc nhân mạnh mẽ phải từ bỏ các quyền hạn của mình vì ích cho kẻ yếu. Từ câu 14 trở đi, chúng ta được ơn đọc thư riêng của Phaolô để có cái nhìn thấu suốt vào những gì tạo nên một người lỗi lạc của Đức Chúa Trời khác biệt với Cơ đốc nhân ‘đang chạy như chiếc cối xay’.
Lời lẽ sau cùng về kẻ mạnh và kẻ yếu (15.1-13)
Vấn đề chính (các câu 1-2). Mặc dù thư I Côrinhtô đã được viết ra cho những người rõ ràng là yếu ớt trong đức tin Cơ đốc của họ, đấy chẳng phải là trường hợp trong thư Rôma, vì ở đây Phaolô nói tới bản thân ông và các độc giả của ông là những kẻ ‘mạnh’: “Vậy chúng ta là kẻ mạnh, phải gánh vác sự yếu đuối cho những kẻ kém sức, chớ làm cho đẹp lòng mình” (Rôma 15.1) [Cũng đối chiếu Rôma 15.14, ở đây Phaolô chào thăm các độc giả của mình trong quá trình của họ trong đức tin].
Vấn đề chính trong hai câu đầu tiên nầy, ấy là chúng ta phải tự đặt mình vào chỗ làm đẹp lòng anh em yếu đuối hơn là bản thân mình. Ở trọng tâm của sự va chạm đang tồn tại giữa kẻ mạnh và kẻ yếu là tình trạng ích kỷ. Phaolô không buộc kẻ yếu phải ‘xoay theo’, mà buộc kẻ mạnh phải ‘gánh vác’ với những kẻ kém trưởng thành hơn. Hơn cả điều nầy, kẻ mạnh phải bằng lòng gạt qua một bên những sự tự do cá nhân, những điều không giúp kẻ mạnh được mạnh hơn, mà là điều làm ngăn trở cho kẻ yếu.
Ở trọng tâm của vấn đề là nan đề tự kỷ luật và tự chối bỏ. Điều nầy rất hiển nhiên trong thư tín I Côrinhtô (đặc biệt đối chiếu 9.24-27; 10.1-13). Lý do duy nhứt tại sao một Cơ đốc nhân mạnh mẽ lại từ chối không nhường bước trước những sự ngại ngùng mà kẻ yếu nhận thức được là vì người ấy cứ mãi lo làm cho thỏa lòng mình.
Giờ đây việc nhượng bộ các sự tự do Cơ đốc đối với anh em yếu đuối hơn không nhất thiết là không có điều kiện. Trước hết, đó là việc nhượng bộ các sự tự do Cơ đốc, chớ không phải quyền tự do Cơ đốc. Nghĩa là, chúng ta cần phải nhượng bộ cách sử dụng các quyền hạn của chúng ta, những thứ khiến cho một anh em yếu đuối hơn phải vấp ngã, chớ không phải nhượng bộ quyền tự do mà chúng ta đang có từ Luật pháp, hình thái thiên về với luật pháp khăng khăng phải thêm việc làm vào đức tin thì mới được cứu. Thứ hai, chúng ta cần phải nổ lực làm đẹp lòng kẻ lân cận mình trong đó có cả ích cho họ, và để gây dựng cho họ nữa: “Mỗi người trong chúng ta nên làm đẹp lòng kẻ lân cận mình, đặng làm điều ích và nên gương tốt” (Rôma 15.2).
Giống như một người cha khôn ngoan từ chối không nhượng bộ từng ý định chợt nảy ra của con cái mình, cũng một thể ấy Cơ đốc nhân khôn ngoan từ chối không nhượng bộ từng ý định chợt nảy ra của người chưa trưởng thành. Chỉ khi ấy việc nhượng bộ các sự tự do của chúng ta làm gây dựng cho anh em yếu đuối hơn và khi ấy là vì ích cho người ấy nữa, chúng ta nhượng bộ đối với sự yếu đuối của người ấy. Ở đây, nhưng trong từng lãnh vực kinh nghiệm Cơ đốc, chẳng có một công thức nào cho chúng ta phải noi theo, những công thức nói cho chúng ta biết khi nào phải nhượng bộ và khi nào phải trụ lại. Đây là một quyết định của đức tin, chúng ta phải cầu hỏi sự khôn ngoan thiêng liêng để có quyết định đó.
Ba động lực dành cho sự nhượng bộ Cơ đốc
Ở các câu 3-12, có ba động lực đặc biệt cho việc nhượng bộ các sự tự do của chúng ta đối với anh em yếu đuối hơn. Trong câu 3, là động lực chúng ta thấy có trong tấm gương của Chúa chúng ta. Trong các câu 4-6, có động lực chúng ta nhận được trong sự khuyên dạy của Kinh Cựu Ước. Ở các câu 7-12, có động lực chúng ta tìm thấy từ sự hiện hữu của chương trình thiêng liêng hòng cứu dân Ngoại y như cứu người Do thái.
(1) Tấm gương của Đấng Christ (câu 3). Yếu tố đầu tiên trong chương trình động viên của Phaolô là một sự nhắc nhở đến tấm gương đã đề ra bởi Đức Chúa Jêsus Christ của chúng ta [Cũng đối chiếu phần nhắc nhở tương ứng ở Philíp 2.1-8, đặc biệt các câu 5-8]. Chúa chúng ta không chọn làm đẹp lòng Ngài, nghĩa là, làm thoả mãn mọi tiên vị của xác thịt, thay vì thế gánh chịu sự nguyền rủa và bắt bớ của con người để chúc phước cho chúng ta với ơn cứu rỗi. Phần lớn dường như nhấn mạnh đến hoàn cảnh của chúng ta tương tự với hoàn cảnh của Đấng Christ. Vì thế, chúng ta cần phải chọn làm đẹp lòng người khác bằng cách tự chối bỏ mình, giống như Đức Chúa Jêsus Christ đã tìm cách làm đẹp lòng chúng ta bởi sự Ngài chối bỏ mình.
Mặc dù phải chú trọng vào điều nầy, tôi muốn nhất trí với [“Tính thường xuyên mà Thi thiên nầy ám chỉ đến trong Tân Ước cùng các chi tiết của nó được xem là đã ứng nghiệm trong Đấng Christ đánh dấu đây là Đấng Mêsi. Phần được trưng dẫn cần phải hiểu theo ánh sáng của những gì đi trước trong Thi thiên: “sự sốt sắng về nhà Chúa tiêu nuốt tôi”. Ấy chẳng phải những sự nguyền rủa của chúng ta đang có ở đó, mà những lời nguyền rủa của những kẻ bất kỉnh nghịch lại Đức Chúa Trời. Những lời nguyền rủa nầy đã được trút ra nghịch lại Đức Chúa Trời bởi kẻ bất kỉnh úp đổ trên Đấng Christ. Cần phải nói rằng mọi sự thù nghịch của con người chống lại Đức Chúa Trời đã được nhắm vào Đấng Christ; Ngài là nạn nhân của cuộc công kích nầy. Đối với điều nầy, Phaolô minh họa xác định rằng Đấng Christ “không làm đẹp lòng Ngài”. Chúng ta có thể thắc mắc: hình ảnh hạ mình của Chúa chúng ta mang lấy bổn phận làm đẹp lòng kẻ lân cận của chúng ta trong hoàn cảnh mà Phaolô có trong nhận thức? Có sự khác nhau rõ ràng khi chỉ ra tấm gương của Chúa Jêsus. Có một sự khác nhau rất quan trọng giữa những gì Đấng Christ đã làm và những điều kẻ mạnh được thôi thúc phải lo làm. Ngài “không làm đẹp lòng mình” với cấp độ không thể so sánh trong việc mang lấy sự thù nghịch của con người chống lại Đức Chúa Trời và Ngài đã gánh lấy lời nguyền rủa nầy vì Ngài sốt sắng với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Ngài không lẫn tránh một lằn đòn nào. Liệu chúng ta là kẻ mạnh, cứ mãi mê lo làm đẹp lòng mình trong vấn đề ăn và uống có phương hại đến các thánh đồ của Đức Chúa Trời và sự gây dựng cho thân thể của Đấng Christ? Đây là sự đối ngược hoàn toàn giữa hoàn cảnh của Đấng Christ và hoàn cảnh của chúng ta đang nâng cao sức mạnh của lời kêu gọi”. John Murray, The Epistle to the Rome (Grand Rapids. Wm. B. Eerdmans, 1968), II, pp. 198-199], rằng phần nhấn mạnh ở đây có lẽ rơi vào nét tương phản cố hữu giữa sự tự chối bỏ mình của Chúa chúng ta và của chúng ta. Chúa Jêsus chúng ta bằng lòng gánh chịu những nguyền rủa và bất kỉnh đối với Đức Chúa Trời, những lời rủa hoàn toàn bất công và bất xứng. Chúng ta bắt đầu so sánh sự hy sinh những ước muốn của xác thịt với sự hy sinh của Chúa chúng ta như thế nào đây?
(2) Lời khuyên của Kinh Cựu Ước (các câu 4-6). Sau khi đã đưa ra lời tiên tri về Đấng Mêsi trong Thi thiên 69.9, Phaolô cơi rộng phần bàn luận của ông bằng cách khẳng định rằng đúng là ở đây giá trị của kinh Cựu Ước đã được công nhận.
Những gì chúng ta tìm thấy trong Kinh Cựu Ước không phải là không có tầm quan trọng trong đời sống của chính chúng ta. Không những đây là bản tường trình lại những cách đối xử của Đức Chúa Trời với con người đã lâu lắm rồi, đây cũng không phải là sự nhắc nhớ về ‘đời xửa đời xưa’; mà đây là một nguồn của sự khích lệ và hy vọng: “Vả, mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy” (Rôma 15.4).
Kinh Thánh tạo ra sự trông cậy như thế nào? Thậm chí còn phức tạp hơn, sự trông cậy có mối quan hệ nào với vấn đề hiện tại về việc nhượng bộ các sự tự do của Cơ đốc nhân? Thứ nhứt, chúng ta phải bắt đầu bằng cách xác định từ ngữ ‘trông cậy’. Tự điển Webster cho sự trông cậy là: “ … ước muốn được đính kèm với sự tán thưởng hay trông mong” [Webster’s New World Dictionary College Edition (Cleveland. The World Publishing Company, 1957), p. 699]. Theo Kinh Thánh, chúng ta còn muốn chính xác hơn định nghĩa nầy. Sự trông cậy Cơ đốc là sự bảo đảm việc nhìn biết một mục tiêu, tuy còn ở tương lai, nhưng mục tiêu ấy là chắc chắn vì nó đã được Đức Chúa Trời hứa cho và sẽ được Ngài hoàn tất [“(c) Trông cậy trong Tân Ước là một sự tin tưởng kiên nhẫn, có kỷ luật trong sự trông đợi Chúa là Cứu Chúa của chúng ta. Trông cậy là biết nhắm vào mục tiêu ở trước mặt, chờ đợi từng phút đối với mục tiêu. Nó bày tỏ bản chất sống động của nó trông đợi với tính kiên định, … bằng việc cưu mang kiên nhẫn sự căng thẳng giữa hoàn cảnh, khi chúng ta bước đi (từng giây phút) …, bởi … đức tin (II Côrinhtô 5.7), và kiểu cách cuộc sống trong tương lai của chúng ta (đối chiếu Rôma 8.25; I Têsalônica 1.3). Sự chờ đợi nầy là một việc rất năng động, vì nó có quan hệ với sự đắc thắng. Mặc dù sự trông đợi có thể là đau đớn lắm, điều nầy cũng được kể là tích cực như “đau đẻ” chỉ ra “sự sanh lại” (Mathiơ 24.8). Vì lẽ đó người nào có lòng trông cậy được yên ủi và tin quyết (II Côrinhtô 5.8; II Têsalônica 2.16; I Têsalônica 4.18). Trông cậy là sự chờ đợi có kỷ luật. Vì thế, trong I Phierơ 1.13 lời cảnh cáo: “lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn …”, có câu nầy đi trước: “bền chí như thể thắt lưng”, nghĩa là, phải sẵn sàng cho cuộc tấn công dữ dội. Nội dung nầy thuộc về sự từ bỏ cơ bản mọi tính toán về tương lai, hạ mình nhìn nhận các giới hạn đề ra cho tri thức của chúng ta, đem mọi ước muốn của chúng ta đầu phục các đòi hỏi của chiến trận cho cuộc sống mà chúng ta đã được chỉ định vào đó. Mục tiêu sự trông cậy ấy kêu gọi chúng phải “tỉnh thức và cầu nguyện”. Người nào đua tranh để được mão triều thiên hay hư nát, tự mình chịu lấy mọi sự kiêng kỵ (I Côrinhtô 9.25). Trông cậy trở thành động lực để làm cho cá nhân được thanh sạch (I Giăng 3.3), khích lệ chúng ta phải phấn đấu để được nên thánh (Hêbơrơ 12.14) không có sự trông cậy ấy chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời. Đầy dẫy với ao ước sự trở về quê hương với Chúa của mình, vị sứ đồ tìm kiếm sự vinh hiển của Ngài trong việc làm đẹp lòng Ngài (II Côrinhtô 5.8...). Trông cậy đòi hỏi chúng ta phải cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay (Hêbơrơ 10.23) và phải sẵn sàng đưa ra câu trả lời cho bất cứ ai thắc mắc về điều trông cậy đó (I Phierơ 3.15). Sau cùng, trông cậy trong Tân Ước là một sự chờ đợi với sự vui mừng (Rôma 12.12) … Nó cung ứng lòng dạn dĩ và sức lực. Nó bảo hộ người bề trong như mão trụ bảo hộ cho cái đầu (I Têsalônica 5.8). Giống như chiếc tàu được an toàn khi ở bên cái neo, đời sống của chúng ta được bảo đảm bằng sự trông cậy buộc chúng ta chặt vào Đấng Christ, là Thầy Tế Lễ Chí Cao của chúng ta là Đấng đã bước vào nơi thánh (Hêbơrơ 6.18...).” E. Hoffman, “Hope,” The New International Dictionary of New Testament Theology, Colin Brown, General Editor (Grand Rapids. Zondervan, 1975), II, pp. 243-244].
Sự bảo đảm nầy về ơn phước tương lai tuyệt đối là quan trọng cho đối tượng. Phaolô đang khích lệ anh em mạnh quên đi việc tận hưởng các sự tự do trong thì hiện tại vì nó có thể làm dịp cho anh em yếu đuối hơn phải vấp ngã. Trông cậy là điều làm cho Cơ đốc nhân ra phân biệt với những ai thuộc ‘thế hệ bây giờ’ họ nghĩ họ ‘chỉ đi vòng quanh’ và vì thế phải ‘nắm lấy mọi tận hưởng mà họ có thể tiếp lấy’. Cơ đốc nhân không phải ‘nắm lấy mọi tận hưởng’ như quảng cáo trên truyền hình đề xuất vì chúng ta không đi lòng vòng đâu. Lòng tin cậy ơn phước lớn lao hơn trong tương lai giúp chúng ta quên đi những khoái lạc vô nghĩa mà các sự tự do Cơ đốc hiến cho. Giống như vận động viên có sự chú tâm vào việc đoạt được vòng hoa chiến thắng và vì vậy tự chối bỏ mọi xa hoa trong hiện tại, cũng vậy Cơ đốc nhân với đôi mắt nhìn vào sự trông cậy đặt ở trước mặt mình nói “không” với những gì ngăn trở sự tấn tới thuộc linh của anh em mình (đối chiếu I Côrinhtô 9.24-27).
Vậy nên, trông cậy rất quan trọng trong việc quên đi các khoái lạc nơi những sự tự do Cơ đốc trong thì hiện tại. Nhưng Cựu Ước giúp sản sinh ra sự trông cậy như thế nào? Hết chương nầy đến chương khác trong Cựu Ước nhắc cho chúng ta về hạng người cao trọng có đức tin, vì sự trông cậy đặt trước mặt họ, họ đã chối bỏ các khoái lạc đời nầy để kinh nghiệm sự trông cậy mà Đức Chúa Trời đã hứa cho.
“Bởi đức tin, Môi-se lúc đã khôn lớn, bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi: người coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quí hơn của châu báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban thưởng. Bởi đức tin, người lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận; vì người đứng vững như thấy Đấng không thấy được” (Hêbơrơ 11.24-27).
Thật là ngạc nhiên khi từ ngữ “trông cậy” thường được sử dụng trong chương nầy. “Vậy xin Đức Chúa Trời của sự trông cậy, làm cho anh em đầy dẫy mọi điều vui vẻ và mọi điều bình an trong đức tin, hầu cho anh em nhờ quyền phép Đức Thánh Linh được dư dật sự trông cậy!” (Rôma 15.13). Trông cậy khiến chúng ta chú ý nhiều đến các ơn phước trong tương lai sâu sắc hơn các khoái lạc mau qua của kỷ nguyên nầy, và Kinh Cựu Ước thu hút sự chú ý của chúng ta vào sự trông cậy Cơ đốc.
Với sự bảo đảm nầy vị sứ đồ lên cao từ sự khuyên nhũ của câu 4 đến lời nài xin trong lời cầu nguyện ở các câu 5-6. Ông cầu xin rằng Đức Chúa Trời, Ngài là nguồn của sự nhịn nhục và yên ủi sẽ làm vinh hiển chính mình Ngài bởi sự ngợi khen thốt ra bởi một miệng, sự ngợi khen hiệp lại từ kẻ mạnh và kẻ yếu.
(3) Sự hiện hữu của người thuộc về Đức Chúa Trời từ giữa vòng người Do thái và dân Ngoại (các câu 7-12). Ở câu 7, chúng ta được đưa trở lại với lẽ đạo chính đã được giới thiệu trong chương 14, sự tiếp lấy nhau bởi kẻ mạnh và kẻ yếu: “Vậy thì, anh em hãy tiếp lấy nhau, cũng như Đấng Christ đã tiếp anh em, để Đức Chúa Trời được vinh hiển” (Rôma 15.7). Sự tiếp nhận của các cá nhân trong thân của Đấng Christ sẽ chẳng khác gì hơn sự Đức Chúa Trời tiếp nhận những ai là dân sự của Ngài. Chính ‘trực giác’ của riêng tôi (và còn hơn thế nữa!) cho rằng nguồn va chạm thực trong Hội thánh tại Rôma có việc phải làm với những khác biệt phát sinh giữa Cơ đốc nhân người Do thái và các tín hữu dân Ngoại. Nếu có lẽ thật nào trong vấn đề nầy, có lẽ là người dân Ngoại có khuynh hướng trở thành hạng Cơ đốc nhân mạnh mẽ (không có một sự cân nhắc nào của người Do thái về ngày giờ, hay thức ăn nhất định nào đó) trong khi kẻ yếu, sẽ là người Do thái. Sự kiêu ngạo thuộc linh khi ấy sẽ bị pha trộn với sự tự hào về chủng tộc rồi tạo ra một sự bất hòa trong sự hiệp một Cơ đốc.
Khi Phaolô nhấn mạnh ơn cứu rỗi của dân Ngoại, ở các câu 8-12, ông làm thế với một ý đồ đặc biệt trong lý trí. Bằng cách nhắc cho những tín hữu dân Ngoại ‘mạnh mẽ’ nhớ rằng Đức Chúa Trời đã chọn cứu dân Ngoại, ông giục giã một nhận thức về sự biết ơn cảm nhận tận đáy lòng. Nhưng khi Phaolô nhắc cho các dân Ngoại nầy nhớ rằng mục đích chính của Đức Chúa Trời trong lịch sử là để cứu lấy dân Israel, ông kêu gọi một thái độ hạ mình. Nếu các dân Ngoại muốn lấy làm tự hào là họ mạnh mẽ hơn người anh em Do thái yếu đuối thì họ phải nhớ rằng sở thích chính của Đức Chúa Trời nằm ở chỗ giữ các lời hứa của Ngài cho người Do thái. Đức Chúa Trời có ý định rằng người Do thái và các dân Ngoại đồng vui mừng trong sự hiệp một, và họ phải như vậy: “Lại có chép rằng: Hỡi dân ngoại, hãy đồng vui cùng dân Chúa” (Rôma 15.10).
Phaolô kết luận tiểu đoạn nầy với một lời cầu nguyện khác, lời cầu nguyện xin cho có sự trông cậy, vui mừng, bình an, từ Đức Chúa Trời qua Đức Thánh Linh: “Vậy xin Đức Chúa Trời của sự trông cậy, làm cho anh em đầy dẫy mọi điều vui vẻ và mọi điều bình an trong đức tin, hầu cho anh em nhờ quyền phép Đức Thánh Linh được dư dật sự trông cậy!” (Rôma 15.13).
Một cái nhìn vào đời sống của Phaolô (15.14-33)
Công việc dạy dỗ của Phaolô đã được hoàn tất với câu 13, nhưng ở phân nửa sau của chương 15, chúng ta đến với mặt thân mật hơn của vị sứ đồ vì ở đây chúng ta có được cái nhìn riêng tư vào nhà truyền giáo Phaolô. Ở các câu 14-21, chúng ta học biết triết lý của Phaolô về chức vụ. Trong các câu 22-29, chúng ta đọc thấy chương trình của Phaolô cho công cuộc truyền giáo. Ở các câu 30-33, chúng ta kết thúc với lời của Phaolô xin cầu nguyện cho chức vụ của ông.
Triết lý của Phaolô về chức vụ (các câu 14-21)
(1) Đánh giá của Phaolô về sự trưởng thành của người Rôma (các câu 14-15). Các thánh đồ người thành Rôma đã sống khác biệt nhiều với những tín hữu ở thành Côrinhtô, vì Phaolô chẳng có một lời quở trách nào dành cho họ, trừ ra một lời khen ngợi chân thành: “Hỡi anh em, về phần anh em, tôi cũng tin chắc rằng anh em có đầy lòng nhân từ, đủ điều thông biết trọn vẹn, lại có tài khuyên bảo nhau” (Rôma 15.14). Những Cơ đốc nhân nầy đã trưởng thành và được trang bị tốt cho chức vụ. Họ có đủ tư cách để mưu luận và khuyên bảo nhau.
Phaolô không viết cho họ vì có nhiều mặc khải mà họ không biết, mà vì họ, giống như chính mình chúng ta, có khuynh hướng quên các lẽ thật kia rất quan trọng cho việc thực thi đời sống Cơ đốc. Có một bài học thực sự ở đây cho nhiều người chúng ta, là những ai ao ước được dạy dỗ một số lẽ thật mới, khi Đức Chúa Trời quan tâm đến phần ứng dụng những gì chúng ta đã học biết trước đây.
(2) Phần đánh giá của Phaolô về chính chức vụ của ông (các câu 16-21). Một trong những việc mà Phaolô thấy cần thiết phải nhắc cho người Rôma nhớ về chính chức vụ và địa vị sứ đồ của ông. Sự kêu gọi của ông phải trở thành một chức việc của Đức Chúa Jêsus Christ cho dân Ngoại. Giống như Phaolô đã khuyên mỗi một người chúng ta phải dâng chính mình cho Đức Chúa Trời làm một hành động hy sinh trong sự thờ phượng, cũng thế, Phaolô xem chức vụ của ông là chức vụ của thầy tế lễ, trước tiên là dâng mình cho Đức Chúa Trời trong sự phục vụ, và kế đó dâng mình cho các dân Ngoại (câu 16).
Phaolô là một người vốn biết rõ phải nắm chắc sự thành công như thế nào!?! Có nhiều điều trong chức vụ của ông cần phải khoe khoang. Nhiều lãnh đạo Cơ đốc ngày nay tìm được nhiều điều để khoe mình, còn việc khoe mình của Phaolô thuộc về một loại khác. Phaolô biết rõ rằng sự thành công là kết quả của ân điển thiêng liêng. Chức vụ của ông được đánh dấu bằng ân điển thiêng liêng. Ông đã được chỉ định làm một sứ đồ bởi nhiều phép lạ và dấu kỳ (câu 19), nhưng đây là công việc của Đức Thánh Linh.
Chức vụ của Phaolô được đánh dấu không phải bởi chỉ quyền phép, mà còn được đánh dấu bằng sự khải tỏ quan trọng nữa. Ai trong chúng ta dám xưng mình đã rao giảng Tin lành đầy đủ, thậm chí như Illyricum (xứ sở Yugoslavia hiện đại ngày nay). Khải tỏ của Phaolô là phải trở thành một nhà tiền phong, không xây dựng trên nền của người khác, mà là đi đầu với Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ: “Nhưng tôi lấy làm vinh mà rao Tin Lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra, để cho khỏi lập lên trên nền người khác” (Rôma 15.20).
Khi nói như vậy, Phaolô thấy chính mình dang làm tròn những điều mà tiên tri Êsai đã nói: “như có chép rằng: những kẻ chưa được tin báo về Ngài thì sẽ thấy Ngài, những kẻ chưa nghe nói về Ngài thì sẽ biết Ngài” (Rôma 15.21; Êsai 52.15).
Các chương trình của Phaolô về tương lai (các câu 22-29)
Sự cao trọng của sứ đồ Phaolô có thể được thấy rõ qua lòng sốt sắng nóng cháy của ông. Ông không bằng lòng ‘yên nghỉ với những vòng nguyệt quế của mình’, nhưng giờ đây ao ước muốn sang Tây ban Nha ở phía Tây cùng với Tin lành. Phaolô có thể không thành thực với triết lý về chức vụ của mình và đến viếng thành Rome khi các phần còn lại của thế giới chưa được nghe giảng Tin lành. Nhưng bây giờ chẳng có một khu vực nào mà Tin lành chưa chạm đến (câu 23), ông có thể nhìn qua Tây ban Nha, và trên đường đi của mình, ông có thể viếng thăm các thánh đồ ở Rôma.
Có một phần việc còn lại sẽ giữ Phaolô không rời thành Rome. Ở đầu chức vụ, Phaolô đã được khuyên bảo bởi Phierơ, Giacơ và Giăng phải nhớ đến người nghèo (Galati 2.10). Các thánh đồ ở Ma-xê-đoan và Achai, ý thức bổn phận của họ đối với chức vụ cốt yếu với những người nào đã đem Tin lành đến với họ, họ thích thực hiện một sự đóng góp rời rộng cho những người sống trong thành Jerusalem và gửi phần đó cho Phaolô (câu 26). Không bao lâu phần việc nầy đã hoàn tất Phaolô sẽ rời Rome rồi hướng sang Tây ban Nha [“Phaolô ở đây đang xin một hay nhiều anh em ở thành Rôma cùng đi với ông sang Tây ban Nha. (Xem Công vụ các Sứ đồ 15.3; 20.38; 21.5; I Côrinhtô 16.6, 11; II Côrinhtô 1.16; Tít 3.13; III Giăng 6.) Thuật ngữ nguyên gốc được sử dụng duy nhứt tham khảo đến việc cùng đi nầy” James M. Stifler, The Epistle to the Rome (Chicago. Moody Press, 1960), pp. 239-240].
Phaolô xin cầu thay cho (các câu 30-33)
Tự nhiên chúng ta có khuynh hướng suy nghĩ rằng sự cao trọng trong chức vụ của Phaolô có thể được luận ra từ những gì chúng ta đã đọc rồi. Nghĩa là, sự cao trọng của Phaolô là kết quả của sự tỏ ra của Đức Thánh Linh qua vị sứ đồ và cũng của chiều rộng và cường độ mặc khải truyền giáo của Phaolô. Nhưng có thêm một yếu tố cung ứng, với một tầm cở lớn lao hơn, chìa khóa cho sự thành công của Phaolô trong vai trò phát ngôn viên của hội truyền giáo. Chìa khoá đó được thấy ở các câu 30-33.
Phaolô vốn tin chắc rằng chức vụ của ông sẽ là một chức vụ thất bại hoàn toàn nếu không có sự cầu thay đắc thắng, và không những các lời cầu xin của chính ông, mà còn những lời cầu xin của các thánh đồ trong nhiều Hội thánh khác nhau vì ích cho ông nữa: “Vậy, hỡi anh em, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, và nhờ sự yêu thương sanh bởi Đức Thánh Linh, tôi khuyên anh em phải cùng tôi chiến đấu trong những lời cầu nguyện mà anh em vì tôi trình cùng Đức Chúa Trời” (Rôma 15.30).
Những lời cầu nguyện nầy rất đặc biệt và nhắm thẳng vào tình huống đặc biệt của Phaolô. Ông vốn nhận thức rõ về các mối nguy hiểm có trước mặt tại thành Jerusalem, và đặc biệt về sức mạnh của các đối thủ người Do thái. Phaolô không những xin được giải cứu khỏi sự chống đối ấy, mà còn xin được có hiệu quả trong khi phục vụ các thánh đồ (câu 31). Nếu Đức Chúa Trời buông tha Phaolô khỏi kẻ thù và ban cho ông một chức vụ hiệu quả giữa vòng các thánh đồ, ông sẽ đến tại Rôma trong sự vui mừng, sốt sắng ở lại với họ cách vui vẻ (câu 32).
Phần kết luận và những ứng dụng
Một câu nói sau cùng nhắm vào kẻ mạnh và kẻ yếu. Thái độ của Cơ đốc nhân mạnh mẽ phải là thái độ của Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta, một sự bằng lòng gạt qua một bên khoái lạc cá nhân vì sự sống thuộc linh của kẻ yếu. Nhưng bổn phận của chúng ta trong tình yêu Cơ đốc là phải tránh những điều gây vấp phạm cho ai đó và để thực hành những gì sẽ gây dựng và trợ giúp cho anh em yếu đuối hơn trong đức tin. Chúng ta không nên đối xử với Cơ đốc nhân yếu đuối hơn như một cậu bé hỗn xược mà như một anh em yếu đuối hơn.
Thiết lập chức vụ tin kính
Tôi muốn chúng ta tập trung vào những phẩm chất của chức vụ Phaolô, nói theo con người, là những điều khiến ông trở thành người của Đức Chúa Trời, và chức vụ của ông, mọi nổ lực tạo ra lịch sử mà Tân Ước đang cho chúng ta biết.
(1) Phaolô có một chức vụ đặt nền trên các nguyên tắc của Kinh Thánh. Đây là một chức vụ được tác động theo mẫu mực của Kinh Thánh. Phaolô đã tự xem mình, như hết thảy chúng ta sẽ tự xem mình, là một chức vụ tế lễ dâng đời sống ông vào sự phục vụ Đức Chúa Trời và dâng hiến giống như những người khác, đời sống họ ông đã chạm đến bằng Tin lành, như một của lễ ngợi khen Đức Chúa Trời (câu 16).
Thêm nữa, chức vụ của ông là một chức vụ đặt nền trên phương pháp luận theo Kinh Thánh. Thật nhiều lần ngày nay, tôi đã gặp gỡ nhiều người trong chức vụ, họ đã đặt chức vụ của họ trên hình thức thực dụng hơn là trên các nguyên tắc của Kinh Thánh. Phaolô đã có một nhận thức về chức vụ theo Kinh Thánh. Ông biết rõ rằng chức vụ của ông, cũng như mọi sự, đều thuộc về Đức Chúa Trời, qua Đức Chúa Trời, và cho Đức Chúa Trời (Rôma 11.36). Chức vụ của ông không do ông lựa chọn — ông được chỉ định bởi sự kêu gọi thiêng liêng (các câu 15, 16). Chức vụ của ông là qua Đức Chúa Trời, nghĩa là, chức vụ ấy được thể hiện ra qua quyền phép trợ giúp của Đức Chúa Trời, bởi những dấu kỳ và phép lạ và quyền phép của Đức Thánh Linh (câu 19). Đây là một chức vụ chuyên ngợi khen Đức Chúa Trời. Phaolô không khoe khoang về những gì ông đã làm, mà khoe về những điều mà Đức Chúa Trời đã hoàn tất qua ông. Lẽ đạo nói tới chức vụ của Phaolô là, nguyện vinh hiển đều thuộc về Đức Chúa Trời.
(2) Vì chức vụ của Phaolô là một chức vụ theo Kinh Thánh, đây cũng là một chức vụ rất cân đối. Phaolô đã phục vụ cho cả người Do thái và dân Ngoại. Ông đã phục vụ cho cả người mạnh và kẻ yếu. Ông đã phục vụ không những cho kẻ bị mất, mà còn cho người được cứu nữa. Ông đã phục vụ không những cho các nhu cần thuộc linh của con người, mà còn cho các nhu cần về thuộc thể của họ nữa.
Tôi phải dẫn giải ở đây, có một nhu cần quan trọng về sự cân đối hôm nay trong vấn đề các nhu cần về thuộc thể và thuộc linh. Có người ngày nay nói cho chúng ta biết, chúng ta chỉ nên tìm cách cứu kẻ bị mất, trong khi nhiều người khác, đang tìm cách nhắm vào nhiều hoàn cảnh hơn, phục vụ nhiều cho các nhu cần về thuộc thể. Một chức việc theo Kinh Thánh sẽ không loại trừ chức vụ về ‘thuộc thể’ hay ‘thuộc linh’ với phí tổn của người khác [Nói chính xác theo Kinh Thánh, phân biệt giữa các nhu cần ‘thuộc linh’ và ‘thuộc thể’ là không đúng. Tại sao các ‘chấp sự’ trong Công vụ các Sứ đồ chương 6 có đủ tư cách về mặt thuộc linh (đối chiếu câu 3) nếu chức vụ của họ cho những người góa bụa chỉ là ‘thuộc thể’?]. Điều nầy không những được minh họa chỉ bởi Phaolô và các vị sứ đồ, mà còn trong đời sống của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ nữa.
(3) Những câu nầy phản ảnh triết lý về chức vụ của Phaolô. Vị sứ đồ có ý định rao giảng Tin lành ở nơi chưa được rao giảng. Ông không chỉ trích người khác, những ai đã làm như thế, nhưng ông đã có tâm tình của người đi tiên phong. Ông là người tiên phong đi đầu.
(4) Chức vụ của Phaolô là chức vụ của nhiều ưu tiên. Không những Phaolô có những nguyên tắc theo Kinh Thánh và triết lý riêng tư về chức vụ — ông có nhiều thứ tự ưu tiên. Ông sẽ không đi Rôma hay Tây ban Nha cho tới chừng nào ông đã rao giảng đủ Tin lành trong các khu vực mục tiêu ưu tiên của ông. Khi tấm lòng ông hướng tới Rôma và Tây ban Nha, ông sẽ không đi cho tới chừng nào ông đã trao món quà của người Ma-xê-đoan và người A-chai cho thành Jerusalem.
(5) Chức vụ của Phaolô kết hợp với kế hoạch. Các nguyên tắc và những điểm ưu tiên sẽ chẳng có giá trị bao nhiêu nếu không có chương trình. Thế mà có nhiều Cơ đốc nhân ngày hôm nay dường như xem sự ‘dẫn dắt của Đức Thánh Linh’ ngang bằng với tính tự phát. Họ cảm thấy rằng những Cơ đốc nhân thuộc linh phải luôn luôn ‘bay phần phật đến chỗ ngồi của họ’ Với sứ đồ Phaolô thì không phải như thế đâu. Ông là một con người với những chương trình xác định hẳn hòi. Giờ đây tôi phải nói thêm rằng các chương trình của Phaolô rất linh động và đề tài hay thay đổi. Phaolô có thể hoặc không thể đến được Tây ban Nha. Phaolô không đến thành Rôma như ông mong muốn. Hoạch định chẳng có gì là sai; quá tự tin về tương lai mới là sai (đối chiếu Giacơ 4.13...).
(6) Chức vụ của Phaolô ràng buộc với sự cầu nguyện. Không một ai tin vào sự tể trị của Đức Chúa Trời hơn Phaolô, nhưng Phaolô cũng là một tín đồ sốt sắng trong trách nhiệm của con người. Chính Đức Chúa Trời là Đấng đã cứu người được chọn và làm chai cứng những người khác (Rôma 9.15, 18, 22-23), nhưng không một người nào sẽ được cứu nếu không nghe rao giảng Tin lành (Rôma 10.14-15). Cũng vậy, mạng lịnh đời đời của Đức Chúa Trời đã được quyết định từ lâu rồi, nhưng Đức Chúa Trời đã ấn định mọi mục đích của Ngài sẽ đạt được qua trách nhiệm của con người, và một bổn phận trong trách nhiệm ấy chính là sự cầu nguyện.
Phaolô, bản thân ông là một nhân vật quan trọng trong sự cầu nguyện, nhưng ông khao khát những lời cầu nguyện của các thánh đồ vì ích cho ông. Quí bạn tôi ơi, nếu sứ đồ Phaolô cần những lời cầu nguyện của các thánh đồ, chúng ta cần đến chúng rất nhiều ngày hôm nay. Không những bạn phải cầu nguyện cho các nhu cần của riêng mình và nhu cần của những người đang phục vụ tại gia và khắp mọi nơi, bạn cũng cần đến những lời cầu nguyện của các thánh đồ đồng sự của mình nữa.
Vì thế đây là một vài dấu chỉ riêng về một chức vụ thành công. Chức vụ ấy phải dựa trên các nguyên tắc của Kinh Thánh. Chức vụ ấy phải dựa trên triết lý riêng và được lèo lái bởi các trình tự ưu tiên. Chức vụ ấy bao gồm cả việc kế hoạch và cầu nguyện. Hầu hết chức vụ ấy phải nương vào ân điển thiêng liêng. Nguyện Đức Chúa Trời vùa giúp mỗi một người chúng ta biết phục vụ theo phương thức nầy.



Rôma 14: "Kẻ Mạnh Và Kẻ Yếu"



Kẻ mạnh và kẻ yếu

(Rôma 14)
Phần giới thiệu
Một người đến hỏi vị bác sĩ: “Tôi đã ăn ở bậy bạ, thưa Bác sĩ, và lương tâm tôi đang làm cho tôi phải bối rối”, ông ta than phiền.
Vị bác sĩ hỏi: “Và ông muốn điều gì đó sẽ làm cho ý chí ông mạnh lên à?”
Người kia đáp: “À không, tôi đã nghĩ tới việc gì đó sẽ làm cho lương tâm tôi yếu đi” [Bits and Pieces, Vol. C, No. II, p. 5].
Rôma 14 sứ đồ Phaolô đang xử lý với những vấn đề thuộc lương tâm Cơ đốc và những nhận thức tội lỗi của cá nhân, đặc biệt khi chúng gắn bó với những mối quan hệ của kẻ mạnh và kẻ yếu. Đơn thuốc của Phaolô trong chương nầy ngược lại với điều mà người kia vừa nhắc đến. Ông không ngợi khen lương tâm quá nhạy cảm của kẻ yếu, ông cũng không xét đoán nó. Ông muốn chỉ ra Cơ đốc nhân họ đã ở chỗ nào trong chuyến lữ hành đức tin của họ rồi nài xin chúng ta cũng sống y như thế.
Ray Stedman đã nói rằng môn thể thao trong nhà mà Cơ đốc nhân ưa thích là cố gắng làm thay đổi nhau. Ở Rôma 14, Phaolô nói chúng ta không ra sức thay đổi nhau để phù hợp với thứ tự ưu tiên của chúng ta, mà thay vì thế chúng ta sẽ thay đổi cách ăn ở của mình sao cho không làm phiền anh em yếu đuối hơn. Các câu 1-12 xử lý với trách nhiệm của chúng ta phải tôn trọng những điều tin quyết của nhau thay vì sửa lại chúng. Các câu 13-23 dạy chúng ta phải ráng nhịn đừng thực thi sự tự do của chúng ta khi chúng sẽ làm hại cho Cơ đốc nhân khác.
Nhận thức tội lỗi cá nhân sẽ không cản được sự hài hòa giữa vòng Cơ đốc nhân (14.1-12)
Vấn đề trong tầm tay: Hiểu biết chương 14 là rất quan trọng đối với chúng ta, chương nầy phải thực rõ ràng tuyệt đối giống như vấn đề đang ở trong tầm tay vậy. Vấn đề mà Phaolô đang nói tới là vấn đề nhận thức tội lỗi của cá nhân. Những Cơ đốc nhân thường nhận định khác biệt về các vấn đề lương tâm và về những sự tự do theo cách cá nhân. Những điểm khác biệt mà Phaolô nói tới không phải quá tuyệt đối hay những lẽ đạo cơ bản nói tới đức tin. Đặc biệt, Phaolô nhắc tới vấn đề ăn thịt hay chỉ ăn rau (câu 2), về sự tuân giữ những ngày thánh (câu 5), và về việc uống rượu (câu 21).
Trong khi hai Cơ đốc nhân có thể bất đồng về việc Cơ đốc nhân có nên uống rượu hay chỉ ăn rau hay không, không một Cơ đốc nhân nào sẽ bàn cãi trước sự thực nói dối, trộm cắp, và gian dâm là tội lỗi. Đây là những điểm tuyệt đối của Kinh Thánh về đạo đức. Hai Cơ đốc nhân sẽ chẳng có gì khác biệt về sự giáng sinh qua nữ đồng trinh và thần tính của Đấng Christ, sự sống lại theo phần xác của Chúa chúng ta hay sự chuộc tội có tính thay thế. Đây là những giáo lý rất chắc chắn.
Khi chúng ta hiểu Phaolô đang nói với sự quan tâm đến những sự tự do Cơ đốc, quyền lợi của Cơ đốc nhân, cùng những nhận thức về tội lỗi của cá nhân, khi ấy thật là dễ nhìn ra sự khác biệt trong thái độ của Phaolô ở Rôma 14 khi được đem sánh với Galati 5Côlôse 2. Có những người dạy rằng thật khó được cứu khi tách ra khỏi việc tuân giữ luật pháp: “Vả, có mấy người từ xứ Giu-đê đến, dạy các anh em rằng: Nếu các ngươi chẳng chịu phép cắt bì theo lễ Môi-se, thì không thể được cứu rỗi” (Công Vụ các Sứ Đồ 15.1).
Với những kẻ theo Do thái giáo như thế nầy, Phaolô rất nghiêm ngặt, vì giáo lý của họ là giả dối. Những kẻ ở Rôma mà về họ Phaolô nói đến không thuộc vào loại nầy. Họ không nói rằng họ phải tránh ăn thịt hầu cho họ sẽ được cứu; họ chỉ cảm thấy là sai lầm cho Cơ đốc nhân khi ăn thịt, giống như nói dối và trộm cắp là sai vậy.
Cái khác biệt giữa đáp ứng của Phaolô với sự yếu đuối trong Rôma 14 và sự bội đạo nơi những người thành Galati có thể được minh họa hay nhất bởi các hành động của ông liên quan tới phép cắt bì của Timôthê và Tít. Trong Công Vụ các Sứ Đồ 16.3, Phaolô đã làm phép cắt bì cho Timôthê để không làm phật lòng những người ở đó và tục lệ (và có lẽ những thành kiến) của những kẻ biết rõ cha của Timôthê là một người Hy lạp. Nhưng ở Galati 2.3-5, Phaolô từ chối không làm phép cắt bì cho Tít vì ở đó những kẻ dị giáo đã khăng khăng rằng phép cắt bì là rất quan trọng để được cứu.
Đặc biệt Phaolô rất giàu ơn và tử tế trong những sự dạy của ông về các anh em yếu đuối trong Rôma 14, và sở dĩ như thế là vì chẳng có kẻ dị giáo nào ở đây, chỉ có khác biệt về sự hiểu biết trong vấn đề nhận thức tội lỗi của Cơ đốc nhân và những sự tự do Cơ đốc mà thôi. Mặc dù Phaolô xử lý cương quyết với tội lỗi về đạo đức và sự lệch lạc về lẽ đạo trong Tân Ước, ông kêu nài về sự hiểu biết và tình yêu thương khi có người chưa trưởng thành trong vấn đề sự tự do của Cơ đốc nhân.
Ai đây? Kẻ mạnh và kẻ yếu
Câu chuyện thường được thuật lại về những bị cáo đã lẽn vào cửa hàng của chung cư lúc ban đêm và chẳng lấy cắp thứ gì — họ chỉ thay đổi mấy cái bảng giá mà thôi. Tủ lạnh được treo bán có $9.95 trong khi mấy thanh kẹo bán tới $500.
Trong khi tôi đến thăm thần học viện cách đây mấy năm, sự nhận biết đáng kinh ngạc nhất trong phần nghiên cứu của tôi về Tân Ước, ấy là có người đã đổi cái nhãn của kẻ mạnh và kẻ yếu. Tôi luôn dạy rằng Cơ đốc nhân mạnh mẽ là người biết mình không mạnh mẽ. Người [nam] không thể hút thuốc, uống rượu, khiêu vũ hay đi xem xi nê. Và người [nữ] không thể thoa son môi hay trang điểm. Cơ đốc nhân mạnh mẽ là “ … người sống với nỗi lo sợ có ai đó, ở đâu đó...” [Ray C. Stedman, “On Trying to Change Others,” an Exposition of Rome 14:1-12, Cat. No. 3534, pp. 2-3]. Cơ đốc nhân yếu đuối là người hay nói về sự tự do.
Nếu đây là sự hiểu biết của bạn về sự ‘mạnh’ và sự ‘yếu’, thế thì bạn cần phải xem xét cho thật kỹ chương nầy. Người anh em yếu đuối nghĩ ăn thịt là sai, và vì thế người ấy chỉ ăn rau mà thôi. Người mạnh về thực chất chẳng thấy gì là tội lỗi khi ăn thịt (câu 2). Kẻ yếu (chúng ta giả định) kể một số ngày là thánh hơn, trong khi người mạnh kể từng ngày đều như nhau (câu 5). Khi tôi còn trẻ, tôi có thể nhớ những người bạn Cơ đốc bố mẹ của họ nghĩ bơi lội và chơi trượt nước là sai (hay chơi cái gì vui vui) vào ngày Chúa nhựt. Người mạnh biết mình được tự do uống rượu trong sự tiết độ (câu 21, đối chiếu I Timôthê 5.23), trong khi kẻ yếu cảm thấy mình phải kiêng rượu hoàn toàn [“Nếu lý thuyết là đúng, thì sự giải thích của chúng ta về phân đoạn Kinh Thánh có khác biệt với những gì thường được chấp nhận, và chúng ta mạo nghĩ, tự nhiên hơn. Khi Thánh Phaolô nói ở câu 2: ‘người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi’, ông không có ý nói có một nhóm đặc biệt chuyên ăn chay ở thành Rôma; nhưng ông lấy trường hợp tỉ mỉ cực độ. Một lần nữa, khi ông nói ‘Người nầy tưởng ngày nầy hơn ngày khác’ ông không có ý nói nhóm chuyên ăn chay nầy cũng là nhóm chuyên giữ ngày sa-bát rất nghiêm ngặt, nhưng chính nhóm ấy có thể đắc thắng trong các vấn đề khác. Khi ông nói đến oJ qronw'n thVn hJmevran, oJ mhV ejoqivwn, ông không nghĩ tới một bộ phận con người chuyên biệt nào, mà nói tới những nhóm đặc biệt. Một lần nữa khi ở câu 21 ông nói: ‘Điều thiện ấy là đừng ăn thịt, đừng uống rượu, và kiêng cữ mọi sự chi làm dịp vấp phạm cho anh em mình’, ông không có ý nói rằng nhóm chuyên ăn chay và chuyên giữ ngày sa-bát nầy cũng là nhóm kiêng rượu hoàn toàn; ông có ý nói: ‘ngay cả hành vi chối bỏ bản ngã cực độ thì tốt hơn là đừng làm tổn thương lương tâm của anh em khác’. Ông đã nói tương tự thế khi viết thư cho người thành Côrinhtô: ‘Cho nên, nếu đồ ăn xui anh em tôi vấp phạm, thì tôi sẽ chẳng hề ăn thịt, hầu cho khỏi làm dịp vấp phạm cho anh em tôi’ (I Côrinhtô 8.13). Bàn bạc về lời lẽ cho rằng kiêng cử từ xác thịt là một trong những phẩm chất trong các nhóm ở thành Côrinhtô là không cần thiết; cũng chẳng cần thiết khi bàn bạc theo một tư thế tương tự ở đây”. William Sanday and Arthur Headlam, The Epistle to the Rome (Edinburgh: T & T Clark, 1902), pp. 401-402].
Tôi phải tiếp tục nói rằng Cơ đốc nhân yếu đuối không những là một người tin một việc gì đó mà thực ra sự tự do Cơ đốc đã cấm đoán, nhưng người nầy là kẻ có khuynh hướng đi trước và noi theo gương của kẻ mạnh mà không cần phải cân nhắc. Vậy thì, Cơ đốc nhân yếu đuối không những là người xét đoán việc uống rượu, nhưng là người cũng uống rượu nghịch lại với lương tâm mình vì bạn hay tôi đang làm việc đó. Theo đánh giá của tôi, người nào giảng về tội ác của rượu rất kịch liệt không làm cho anh em yếu đuối hơn [Có người cố gắng dùng từ ‘lo buồn’ hay ‘tổn thương’ ở câu 15 để ủng hộ luận điểm của họ là nếu có anh em nào bị vấp ngã bởi sự tự do của chúng ta, chúng ta nên bỏ sự tự do đó. Từ “lo buồn” ở đây không thể có một ý nghĩa như Murray chỉ ra (Vol. II, pp. 190-191). Murray kết luận: “Khi một tín đồ yếu đuối ‘lo buồn’ lúc người vi phạm nhận thức tội lỗi trong tôn giáo của mình rồi bị khổ sở với phiền toái trong lương tâm, ý thức về hậu quả dằn vặt luôn. Chính kết quả thê thảm nầy dành cho tín đồ yếu đuối mà người tín đồ mạnh phải cân nhắc đến. Khi sự thực thi quyền tự do của mình khuyến khích kẻ yếu xúc phạm lương tâm của họ, khi ấy, xuất phát từ ống dẫn mọi sở thích tôn giáo của kẻ yếu, người cần phải kềm chế không thực thi những gì là quyền hạn của mình. Không một kết án nào nặng nề hơn: ‘Thế thì ngươi lấy sự hay biết mình mà làm hư mất kẻ yếu đuối, là người anh em mà Đấng Christ đã chết thế cho!’ (đối chiếu I Côrinhtô 8.11).” John W. Murray, The Epistle to the Rôma (Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans, 1968), II, p. 191].
Kẻ ‘yếu’ và kẻ ‘mạnh’ có vài điểm phân biệt:
(1) Họ yếu đuối trong đức tin. Đúng ra, họ yếu đuối ‘trong đức tin’ hay ‘trong đức tin của họ”. Tôi e rằng cả hai yếu tố đều là thực cả. Nghĩa là, kẻ yếu đuối là những người chưa đạt đến sự nhận biết đầy đủ về sự tự do và quyền tự do là một phần của đức tin. “Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi” (Giăng 8.32).
(2) Đồng thời họ yếu đuối trong đức tin cá nhân của họ. Một sự hiểu biết hạn chế về bản chất và phạm trù của ân điển đang hạn chế đức tin chủ quan.
(3) Kẻ yếu đuối có khuynh hướng xét đoán mọi hành vi của kẻ mạnh. Khi họ chưa đạt tới chỗ hiểu biết sự tự do Cơ đốc, họ không chấp nhận sự tự do đó nơi người khác. Kẻ yếu đuối ngay lập tức có thể được nhận ra qua nét cau mày khinh miệt trên gương mặt của họ, và nét “Ồ, không!” nhìn thấy trong ánh mắt của họ.
(4) Kẻ mạnh là người ý thức đầy đủ hơn về bản chất của ân điển và của những sự dạy trong Lời của Đức Chúa Trời. Họ có một cái nắm bắt khá hơn về đức tin (lẽ đạo khách quan) và vì thế đức tin của họ (cá nhân khách quan) là mạnh mẽ hơn.
(5) Kẻ mạnh có thể chịu đựng đối với tội thiển cận mà tự mãn và kiêu căng. Họ có thể thấy được sự khinh miệt và làm cao dễ dàng nơi những kẻ chưa nắm bắt được đầy đủ ân điển. Trên gương mặt của họ người ta có thể thấy được nụ cười cao ngạo, mà lại hạ cố, nụ cười của sự bất chấp. Ánh mắt họ cho thấy câu nói: “Ồ, thực vậy sao!”
Lời cảnh cáo. Đối với mỗi nhóm trong các nhóm nầy, kẻ mạnh và kẻ yếu, Phaolô có một lời cảnh cáo và dạy dỗ. Sự dạy dỗ là thôi đừng đưa ra lời phán xét trên nhận thức tội lỗi của người khác, và phải tiếp đón họ vào mối tương giao và tiếp nhận ấm áp: “Hãy bằng lòng tiếp lấy kẻ kém đức tin, chớ cãi lẫy về sự nghi ngờ” (Rôma 14.1).
Ở các câu 1-12, Phaolô cung ứng cho chúng ta vài lý do rất hay tại sao là sai đối với những Cơ đốc nhân đang ra sức chỉnh đốn các nhận thức của những tín hữu khác.
(1) Nhận thức cá nhân là đặc điểm riêng tư. Phaolô viết ở câu 5: “ai nấy hãy tin chắc ở trí mình”. Một lần nữa ở câu 22 Kinh Thánh cho chúng ta biết: “Ngươi có đức tin chừng nào, hãy vì chính mình ngươi mà giữ lấy trước mặt Đức Chúa Trời…”. Mục đích của Phaolô rất là rõ ràng. Hãy lo liệu công việc của chính mình! Các nhận thức Cơ đốc là đặc điểm riêng tư. Chúng ta chịu trách nhiệm đối với mọi nhận thức của chính mình, nhưng không chịu trách nhiệm đối với nhận thức của người khác.
(2) Sự chúng ta tiếp nhận người ta vào mối tương giao không nên hạn chế hơn sự tiếp nhận của Đức Chúa Trời. Kẻ mạnh hiển nhiên là sai khi hiệp với kẻ yếu chỉ để làm cho họ ‘được mạnh thêm’. Tác dụng của vấn đề, ấy là các Cơ đốc nhân mạnh và yếu không hiệp với nhau, hay chấp nhận họ được. Chúng ta không thể đòi anh em kia phải thích nghi với các nhận thức của chúng ta trước khi chúng ta tương giao với người ấy chỉ vì người nầy sẽ trước sau không như một với sự tiếp nhận mà Đức Chúa Trời đã tỏ ra: “Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người” (Rôma 14.3). Nếu Đức Chúa Trời đã tiếp lấy anh em của chúng ta, y như hiện có đây, thế thì chúng ta phải không làm kém hơn được. Chúng ta không nên cố gắng làm thay đổi người mà Đức Chúa Trời đã tiếp lấy như vậy.
(3) Tôi tớ chịu trách nhiệm với chủ mình. Cách đây một thời gian, có người đến yêu cầu tôi phải giảng ở một nhà thờ tại bang Washington. Có lẽ tôi đã chọn một đề tài không được khéo lắm, tôi biết có thể minh chứng đề tài ấy quá khó một số người sẽ không thể tiếp lấy được. Tôi nói với vị mục sư chủ tọa trước khi giảng rằng sứ điệp của tôi sẽ cho thấy có một ít khó khăn. Tôi không bao giờ quên đáp ứng của người thuộc về Đức Chúa Trời đó: “Ông là tôi tớ của Chúa, chớ không phải của tôi, ông ạ”.
Đấy là những gì Phaolô đang ra sức chuyển cho chúng ta trong câu 4: “Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; -song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng” (Rôma 14.4). Nếu chúng ta cứ mãi bận bịu lo xét đoán anh em của chúng ta, chúng ta đang gánh trên mình các đặc quyền của Đức Chúa Trời, vì một mình Ngài là chủ của họ.
Trong các câu 6-12, phần nhấn mạnh trong lời lẽ của Phaolô, ấy là cuộc sống mà chúng ta đang sống, chúng ta đang sống ở trước mặt Đức Chúa Trời. Khi Phaolô nói trong câu 7: “Vả, chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết”, ông không có ý nói (ở đây) tới cái chạm chúng ta đang có trên người khác bằng mọi hành động của chúng ta. Thay vì thế, ông nhấn mạnh rằng chẳng có một việc gì chúng ta làm được làm ra cách độc lập đối với Đức Chúa Trời, dù chúng ta sống hay chết, chúng ta làm mọi việc là cho Chúa.
“Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa; kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Đức Chúa Trời; kẻ chẳng ăn cũng chẳng ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời ... vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả” (Rôma 14.6, 8).
Nếu chúng ta cứ bận bịu với công việc đưa ra sự xét đoán, chúng ta hãy tập trung vào bản thân mình, thay vì vào kẻ lân cận mình, vì ở tại ngai phán xét của Đức Chúa Trời chúng ta sẽ bị xét đoán vì mọi hành động của chính mình: “Nhưng ngươi, sao xét đoán anh em mình? Còn ngươi, sao khinh dể anh em mình? Vì chúng ta hết thảy sẽ ứng hầu trước tòa án Đức Chúa Trời” (Rôma 14.10).
Sức mạnh trong bàn luận của Phaolô có sự hấp dẫn rất mạnh mẽ. Cơ đốc nhân không việc gì phải ra sức làm thay đổi anh em mình với các nhận thức riêng của mình, khi các nhận thức ấy là đặc điểm riêng tư, khi Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người y như thế, và khi mỗi tôi tớ đều phải chịu trách nhiệm chỉ với chủ của mình mà thôi.
Việc thực thi các nhận thức riêng tư không nên làm tổn thương cho một anh em (14.13-23)
Lời lẽ của Phaolô ở điểm nầy có chút đau đớn, song ông không nói với chúng ta đâu. Chưa phải là đủ khi đình chỉ mọi nổ lực để nắn đúc anh em chúng ta theo chính ảnh tượng của chúng ta và chuyển các nhận thức của người thành của mình. Chúng ta phải vượt qua điều nầy đến một chuổi hành động tích cực, tìm cách gây dựng anh em yếu đuối kia trong đức tin của người. Những gì Phaolô đang nói ra là chúng ta không gây dựng anh em mình bằng cách buộc người ấy phải đạt được mọi nhận thức của chúng ta, mà bằng cách phải hạn chế những sự tự do của mình vì cớ anh em mình.
Quyết định đúng đắn. Sự dạy của Phaolô cho chúng ta được thấy ở câu 13, ông viết ở đây như sau: “Vậy chúng ta chớ xét đoán nhau; nhưng thà nhất định đừng để hòn đá vấp chân trước mặt anh em mình, và đừng làm dịp cho người sa ngã” (Rôma 14.13).
Thật khó phát hiện ra cách chơi chữ của vị sứ đồ trong câu 13, nhưng trong bản văn Hy lạp, các chữ ‘xét đoán’ và ‘nhất định’ là cùng một từ ngữ Hy lạp. Chúng ta phải diễn dịch câu nầy đại loại như sau: “Vậy chúng ta chớ chuyển sự phán xét lên nhau, nhưng chúng ta hãy đến với nhận định nầy — đừng đặt một sự ngăn trở hay vầng đá vấp phạm nào trên đường lối của anh em mình”.
Vấn đề tối hậu không phải là ai đúng hay sai. Cơ sở cho lời khuyên dạy của Phaolô ở các câu 13-23 ấy là việc thực thi sự tự do Cơ đốc cũng như việc ăn kiêng không hẳn là tốt hay xấu. Cái đúng hay sai trong những sự tự do nầy được quyết định bởi thái độ của chúng ta đối với chúng: “Tôi biết và tin chắc trong Đức Chúa Jêsus rằng, chẳng có vật gì vốn là dơ dáy; chỉn có ai tưởng vật nào là dơ dáy, thì nó là dơ dáy cho người ấy mà thôi” (Rôma 14.14).
Tôi muốn bạn lưu ý rằng Phaolô, ở câu 14, sử dụng từ ‘dơ dáy’ mà không sử dụng từ ‘xấu’ hay ‘sai’. Từ ‘dơ dáy’ nầy ám chỉ mạnh mẽ cho tôi thấy rằng vấn đề cơ bản ấy là một sự thay đổi từ hệ thống Cựu Ước sang Tân Ước. Một người Do thái không thể ăn bánh kẹp thịt và cà chua dưới hệ thống Cựu Ước, nhưng có thể dưới hệ thống Tân Ước. Đối với Cơ đốc nhân người Do thái, chưa được giải phóng trọn vẹn khỏi sự tuân giữ những luật lệ về thức ăn của Cựu Ước, việc ăn thịt và trứng là không thể tưởng tượng được, và, trong ánh mắt của người, đó là tội lỗi. Các luật lệ và truyền thống theo nghi thức, đây là những vấn đề mang lại nhiều đổ vỡ trong sự hiệp một của thân thể tại Rôma.
Do thái giáo có khuynh hướng gắn sự thánh khiết hay sự dơ dáy với đồ vật thay vì với con người. Một ngày nào đó là ‘thánh’ trong khi ngày khác là thường. Một thức ăn nào đó là thanh sạch trong khi thức ăn khác là bất khiết. Nhưng Chúa chúng ta dạy rằng chẳng phải sự gì làm dơ hay làm sạch người; mà sự gì ở trong người ra mới là vấn đề (Mác 7.1-15, xem câu 15).
Tôi phải trụ lại trong một phút để làm sáng tỏ một điểm rất quan trọng. Vì chính ở đây tôi phải tách ra những phương thức với kẻ nhắm theo tình huống. Các quy cách theo tình huống quyết rằng thái độ mới đáng kể. Nếu bạn nghĩ điều đó đúng, thì nó đúng. Nếu bạn thực hiện sự đồi bại trong một phương thức yêu thương, thì nó đúng. Thắc mắc trở thành: Có phải đó là một việc đáng yêu nên làm không? Có phải bạn cảm thấy đúng về việc làm ấy không?
Có hai khác biệt chính ngay lập tức rõ ràng giữa các quy cách của tình huống và quy cách Cơ đốc: Thứ nhứt, các quy cách theo tình huống được áp dụng cho mọi lãnh vực xử sự. Các quy cách theo tình huống áp dụng ở chỗ Kinh Thánh nói là có thẩm quyền. Kinh Thánh gọi tình dục trước hôn nhân là tội lỗi (Hêbơrơ 13.4), nhưng kẻ theo tình huống thường gọi đấy là thanh sạch và lành mạnh. Bất luận chúng ta cảm thấy thế nào về một việc mà Kinh Thánh gọi là tội lỗi, thì đấy vẫn là tội lỗi. Cho nên, các quy cách theo tình huống áp dụng trên mọi lãnh vực, trong khi các quy cách Cơ đốc áp dụng cho những việc nào là sự tự do cho Cơ đốc nhân. Trong khi các quy cách theo tình huống nằm lấy toàn bộ chuổi xử sự của con người và áp dụng các tiêu chuẩn cân xứng, chỉ nên nắm lấy mảng những sự việc có thể được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng có sự dè dặt trong ánh mắt của một số Cơ đốc nhân chưa trưởng thành.
Thứ hai, các quy cách theo tình huống tác động cả hai chiều của con đường, trong khi các quy cách Cơ đốc không như vậy. Các quy cách theo tình huống nói, nếu bạn nghĩ việc ấy đúng với bạn, thì việc ấy đúng. Chúng cũng nói, nếu bạn nghĩ điều nầy là sai, thì đối với bạn việc ấy là sai. Phaolô không hề nói rằng uống rượu là đúng vì chúng ta nghĩ uống rượu là đúng. Việc uống rượu là đúng vì Đức Chúa Trời phán uống rượu là đúng. Hình thái tình huống duy nhứt được trình bày trong Rôma 14 cho rằng một việc gì đó thực sự là một sự tự do cho chúng ta là sai bất cứ khi nào chúng ta nghĩ việc ấy là sai. Nếu chúng ta thành thực tin ăn kem là tội lỗi đối với Cơ đốc nhân, thì ăn kem là sai, không phải vì Đức Chúa Trời phán như vậy, mà vì chúng ta nghĩ như thế. Phaolô, trong I Côrinhtô 9.22 chép: “tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người”.
Vấn đề hạ thấp ưu tiên. Nếu việc thực thi những sự tự do Cơ đốc không phải là vấn đề tuyệt đối đúng và sai, đấy cũng không phải là vấn đề quan trọng lớn lao đâu. Phaolô đang đưa chúng ta đến với câu 17 để tiếp thu vấn đề những thứ tự ưu tiên của chúng ta: “Vì nước Đức Chúa Trời chẳng tại sự ăn uống, nhưng tại sự công bình, bình an, vui vẻ bởi Đức Thánh Linh vậy” (Rôma 14.17). Trọng tâm của Cơ đốc giáo không nằm ở chỗ uống hay không uống rượu hoặc ăn hay không ăn thịt. Trọng tâm của Tin Lành không cốt ở chỗ ăn và uống, mà cốt ở chỗ công bình, bình an và vui mừng.
Nếu sự công bình, bình an, vui mừng và sự hiệp một Cơ đốc (đối chiếu câu 19; Rôma 15.5, 6) là cốt lõi của Vương quốc sáng láng mà người ta được gọi vào đó, thì ăn thịt và không ăn là một ưu tiên thứ yếu có thể bị bỏ qua mà không có bất kỳ một của lễ thực sự nào, khác hơn khẩu vị, thèm muốn và những ưu tiên của chúng ta.
Không phải là vấn đề đúng và sai — vấn đề là tình yêu thương. Giờ đây chúng ta quay lại với luận điểm của Phaolô. Khi các sinh hoạt đáng thắc mắc không nằm trong chỗ xấu xa nào và tự bản thân chúng, chẳng có một lợi ích nào trong việc tận hưởng hay kiêng cử chúng. Vấn đề thực sự là vấn đề của sự yêu thương. Tình yêu thương tìm cách gây dựng, không hề phá tán hay hủy diệt: “Vả, nếu vì một thức ăn, ngươi làm cho anh em mình lo buồn, thì ngươi chẳng còn cư xử theo đức yêu thương nữa. Chớ nhân thức ăn làm hư mất người mà Đấng Christ đã chịu chết cho” (Rôma 14.15). Chúng ta đừng quá bận tâm với những sự tự do Cơ đốc của chúng ta, thay vì thế hãy bận tâm đến tình yêu thương. Tình yêu thương không hề gây cho một anh em phải vấp ngã, nhưng tìm cách làm cho kẻ yếu đuối được mạnh mẽ hơn.
Lời dành cho kẻ mạnh (các câu 21-22). Lời khuyên của Phaolô cho kẻ mạnh được thể hiện trong các câu 21 và 22: “Điều thiện ấy là đừng ăn thịt, đừng uống rượu, và kiêng cữ mọi sự chi làm dịp vấp phạm cho anh em mình. Ngươi có đức tin chừng nào, hãy vì chính mình ngươi mà giữ lấy trước mặt Đức Chúa Trời. Phước thay cho kẻ không định tội cho mình trong sự mình đã ưng!” (Rôma 14.21-22). Cơ đốc nhân mạnh mẽ không nên thực thi những vấn đề thuộc sự tự do Cơ đốc (tỉ như ăn thịt hay uống rượu) rồi vì cớ đó khiến cho anh em khác yếu đuối hơn noi theo các dấu chơn của mình rồi sa vào tội lỗi. Anh em yếu đuối hơn đi uống rượu, không phải vì người tin đấy là sự tự do của mình, mà còn ở trong sự hồ nghi và duy nhứt vì Cơ đốc nhân khác đang làm như vậy, do đó phạm tội nghịch lại lương tâm mình và Đức Chúa Trời mình.
Cơ đốc nhân mạnh mẽ có bổn phận không những kiêng cử không thực thi những sự tự do của mình, mà còn không nổ lực để biến đổi anh em yếu đuối hơn theo quan điểm nhận định của mình. Nếu bạn có những nhận thức về tội lỗi, các nhận thức ấy là riêng tư, vậy hãy giữ chúng cho bản thân mình (câu 22a). Và hãy cẩn thận về những điều bạn xưng nhận là một sự tự do đấy (câu 22b).
Lời của kẻ yếu đuối (câu 23). Kẻ yếu bị cảnh báo đừng bao giờ làm gì khi có sự nghi ngờ, vì Cơ đốc nhân khác đang làm điều đó: “Nhưng ai có lòng nghi ngại về thức ăn nào, thì bị định tội rồi, vì chẳng bởi đức tin mà làm; vả, phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi” (Rôma 14.23). Khi hành động ngoài đức tin, nghĩa là, hành động theo sự nhận thức chân thành và tin cậy rằng bạn đang làm điều đáng chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là hành động trong tội lỗi.
Các ứng dụng và khải tỏ
Quan điểm của sự khải tỏ
Vài việc cần phải được trình bày theo cách sáng sủa để tránh bất cứ một sự hiểu lầm nào trong sự dạy của Phaolô trong chương thứ 14 nầy của sách Rôma. Mục đích chính trong sự dạy của Phaolô, ấy là mỗi Cơ đốc nhân được tự do nắm lấy những nhận thức riêng căn cứ theo các vấn đề của sự tự do Cơ đốc, nhưng chẳng phải Cơ đốc nhân nào cũng được tự do thực thi các sự tự do nầy với phí tổn lợi ích thuộc linh của anh em mình.
Hậu quả tàn phá dành cho Cơ đốc nhân yếu đuối hơn mà Phaolô nói tới không phải là việc mất đi ơn cứu rỗi của người ấy, vì đấy là sự an ninh đời đời. Cái mất mát là sự phân rẽ hay sự xa lánh khỏi Đức Chúa Trời được kinh nghiệm như kết quả của tội lỗi. Khi người anh em yếu đuối hơn uống rượu với một lương tâm không ổn định và chỉ vì người anh em trưởng thành hơn đang làm như thế, người ấy đang hành động trong sự nghi ngại và vì thế mà phạm tội (câu 23). Sự lo buồn hay tổn thương (câu 15) của người anh em yếu đuối hơn là những sự ray rứt của lương tâm cứ ám ảnh luôn thích ứng với việc xúc phạm lương tâm mình và vì thế mà phạm tội.
Sự dạy của Phaolô, ấy là dứt khoát chẳng có gì sai với những vấn đề thuộc sự tự do và quyền tự do Cơ đốc. Lấy một minh họa đặc biệt: chẳng có gì sai khi đi vào nhà hát để xem hình ảnh chuyển động (nghĩa là xem xi nê). Hành động đi xem phim không phải, trong và tự bản thân nó, là sai lầm. Giờ đây đi xem phim ‘X-rated’ là một con ngựa có màu sắc đặc biệt. Ấy chẳng phải sự kiện đó là một cuốn phim khiến cho việc xem nó là sai, mà kỳ thực cuốn phim đó đang quyến dụ một người phải suy nghĩ và phạm vào những tư tưởng phi đạo đức. Bản thân việc đi xem xi nê không phải là sai, mà là việc đi xem loại phim nào đó nằm trong nghi ngại của sự tự do; đây là một vấn đề rõ ràng xử lý với cơ sở những nguyên tắc theo theo Kinh Thánh.
Thưởng thức một bữa ăn ngon lành không phải là sai, mà là sai khi hủy diệt thân thể vật lý của mình qua việc ăn uống quá độ. Uống một ly rượu không phải là sai (trừ phi là uống nhiều quá, thứ nầy có thể dẫn tới phạm tội), nhưng say sưa là sai. Có thể chẳng là sai khi hút thuốc, nhưng là sai khi làm cho cuộc sống gặp nguy hiểm với chứng ung thư, hay khiến cho thân thể chúng ta phải trở thành hạng nô lệ cho thức ăn, thức uống, hay nicotine, hoặc aspirin, hay bất cứ thứ gì khác. Những gì dứt khoát không thể là sai có thể là sai căn cứ theo cơ sở của một hay nhiều nguyên tắc theo Kinh Thánh.
Những ứng dụng
Trước hết, cho phép tôi nói với bất cứ ai ưa thích những điều tôi đã nói vì họ nhận định mối quan hệ thuộc linh của một người với Đức Chúa Trời là một vấn đề riêng tư. Họ nói với chúng ta: “Mối quan hệ của tôi với Đức Chúa Trời là một vấn đề riêng tư, rất riêng tư”. Trong đó có một lối nói rất lịch thiệp: “Tôi không muốn nói về mối quan hệ ấy, và hơn nữa, đấy chẳng phải là việc của bạn!”
Bạn sẽ được vào trong thiên đàng chỉ khi bạn làm theo đường lối của Đức Chúa Trời, bởi đức tin riêng tư nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng Thay Thế của Đức Chúa Trời là Đấng đã gánh lấy án phạt tội lỗi của bạn, và Đấng ấy là sự tiếp trợ về sự công bình của Đức Chúa Trời, là điều bạn đang thiếu sót để được sự sống đời đời. Và nếu bạn không muốn nói về điều đó, chắc chắn có việc gì đó sai lầm, vì Phaolô đã viết trong Rôma 10.9-10: “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi”.
Cái riêng tư mà Phaolô đề ra là sự riêng tư trong mọi nhận thức của một người về những sự tự do cá nhân, chớ không phải sự riêng tư miễn cho bạn không bàn bạc về phương thức cứu rỗi của Đức Chúa Trời, hay sự bạn chấp nhận Ngài.
Thứ hai, tôi thấy từ phân đoạn Kinh Thánh nầy, có một nhu cần giữa vòng Cơ đốc nhân về những nhận thức về tội lỗi. Khi Phaolô nói ở câu 5: “ai nấy hãy tin chắc ở trí mình”, ông đã dạy mỗi Cơ đốc nhân phải có những nhận thức riêng của mình. Thường thì trong Cơ đốc giáo tân tín hữu không được khích lệ phải nghĩ đến bản thân mình theo như Kinh Thánh dẫn dắt, mà chỉ thôi đừng làm theo thế gian và khởi sự làm theo những luật lệ và giá trị của Hội thánh và cộng đồng Cơ đốc. Chúng ta cần những người nam người nữ có nhận thức!
Tôi e là mình chưa nói đủ, các nhận thức nầy không phải là cảm xúc (“tôi cảm thấy đúng về điều đó”) nhưng các nhận thức đã bắt rễ trong lý trí, chớ không bắt rễ trong cảm xúc. “Ai nấy hãy tin chắc ở trí mình”.
Thứ ba, chúng ta thấy phần hướng dẫn trong những lãnh vực xử sự còn nghi ngại: Nếu điều nầy còn nghi ngại, thì điều nầy là ô uế. Thường thì lớp người trẻ thắc mắc nếu Đức Chúa Trời để cho họ làm điều nầy hay điều kia, khao khát bước đi gần gũi với đường biên giới của tội lỗi mà không chính xác các hậu quả của nó. Hành động nghi ngại Phaolô kêu lên: “vả, phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi” (câu 23).
Thứ tư, chúng ta mong Cơ đốc nhân phải sống khác. Hoặc, nói cách khác, sự hiệp một Cơ đốc không phải là cùng kiểu. Có người dường như nghĩ rằng sự hiệp một trong thân của Đấng Christ cần phải được thể hiện bởi sự nhất trí. Phaolô nói rằng sự hiệp một Cơ đốc thực được rút ra từ sự nhất trí trên các cơ sở và sự tiếp nhận yêu thương chỗ mà những yếu tố không cần thiết được quan tâm đến.
Nhận thức riêng của tôi cho rằng có nhiều sự phân rẽ giữa vòng Cơ đốc nhân căn cứ trên những vấn đề không phải là nền tảng của đức tin Cơ đốc. Những dị biệt về giáo lý không phải là những nền tảng của đức tin sẽ không làm phân rẽ Hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ. Chính bản thân sứ đồ, một người có nhiều nhận thức lớn lao, ông viết: “Vậy, hễ những người trọn vẹn trong chúng ta, phải có ý tưởng đó; và nếu anh em tưởng đàng khác, Đức Chúa Trời cũng sẽ lấy sự đó soi sáng cho anh em” (Philíp 3.15). chúng ta thường lầm lẫn “vì đạo mà tranh chiến” (Giu-đe 3) với việc tranh chiến với người trung tín.
Thứ năm, nguyên tắc của đức tin cần phải sẵn sàng áp dụng cho nhiều người khác giống như nó đã được áp dụng cho chính đời sống của chúng ta. Những gì chúng ta thực sự nghi ngại khi chúng ta nổ lực làm biến đổi người khác theo các nhận thức riêng của chúng ta là khả năng của Đức Chúa Trời hành động trong đời sống của nhiều người khác. Nhưng Phaolô viết: “Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; -song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng” (Rôma 14.4).
Hỡi người vợ Cơ đốc, quí vị có tin cậy Đức Chúa Trời hành động trong đời sống của chồng mình theo cùng một cách thức ban cho người sự trưởng thành và sáng suốt mà quí vị đang có không? Hỡi người chồng Cơ đốc, quí vị có thể tin như thế không? Đức tin của Cơ đốc nhân là đức tin tin cậy Đức Chúa Trời soi sáng các Cơ đốc nhân khác theo khung thời gian của Ngài và phù hợp với chương trình của Ngài dành cho mỗi cá nhân.
Nguyện Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một lượng ân điển của Ngài trong việc xử sự với các thánh đồ