Thứ Tư, 27 tháng 1, 2010

MARY & GIÔSÉP



MARY & GIÔSÉP
Suy gẫm về sự kỳ diệu trong Lễ Giáng Sinh
Ở giữa kỳ lễ, thật dễ nhìn thấy ánh đèn trong các cánh cửa sổ của người khác với ý thức mình đã lạc mất tinh thần của Lễ Giáng Sinh. Trong khi cố gắng không nhắc tới những kỳ vọng của người khác, có thể bạn tìm thấy chính khả năng tận hiến đã cạn kiệt trong mình. Ngay cả tiếng chuông nhà thờ và các bài hát sẽ đọng lại trong bạn cảm xúc Đức Chúa Trời đang đòi hỏi nhiều hơn là bạn phải tận hiến nữa.
Nếu điều ấy đang mô tả bạn, nguyện đây là lúc để tái viếng lại sự lạ lùng của câu chuyện Giáng Sinh. Trong phần trích đoạn sau đây của quyển Cánh cửa sổ trong dịp Lễ Giáng Sinh (Windows on Christmas), tác giả Bill Crowder bắt lấy tinh thần của kỳ lễ rồi chỉ cho chúng ta thấy một Đức Chúa Trời là Đấng đã làm rung động cả trời và đất, và hai con người rất thực, để ban cho chúng ta Tặng Phẩm kỳ diệu nhất trong mọi tặng phẩm.
Martin R. De Haan II
MỘT VIỄN CẢNH TƯƠI MỚI
Tôi là một người nghiện Lễ Giáng Sinh. Tôi yêu mọi sự trong Lễ ấy – cây cối, quà tặng, thức ăn, sự ca tụng, các truyền thống, những buổi thờ phượng đặc biệt, các buổi nhóm lại của gia đình, và đúng, đồ ăn nữa. Gia đình của chúng tôi, giống như nhiều gia đình kỷ niệm Lễ Giáng Sinh, đã phát triển những truyền thống riêng, và từng cách biểu lộ vui mừng đó đem lại bóng dáng và mùi vị riêng cho lễ kỷ niệm sự ra đời của Đấng Christ. Mỗi truyền thống cung ứng từng lớp kinh nghiệm, cung ứng quan điểm và triễn vọng khác vào câu chuyện Giáng Sinh quen thuộc và sự kỷ niệm Lễ ấy.
Cuộc sống luôn nhắm vào triễn vọng, và nhận thức riêng của chúng ta có thể được gạn lọc và được làm cho phong phú bằng cách nhìn vào những biến cố của cuộc sống qua một số cánh cửa sổ khác nhau. Điều chi càng quen thuộc với, thì các cánh cửa sổ này càng có giá trị thêm. Một cái nhìn tươi mới, một góc độ khác biệt, có thể cách mạng hóa sự tán thưởng của chúng ta về lẽ thật, cũng có thể rơi vào chỗ nguy hiểm của việc làm tăng thêm nhạt nhẻo và mệt mõi.
Một cái nhìn tươi mới, một góc độ khác biệt, có thể cách mạng hóa sự tán thưởng của chúng ta về lẽ thật, cũng có thể rơi vào chỗ nguy hiểm của việc làm tăng thêm nhạt nhẻo và mệt mõi.
Đối với tôi, thực tại nầy được xem trọng trong một phương thức rất quyến rũ bởi nhà làm phim Clint Eastwood. Là một người hâm mộ bề dài của lịch sử, tôi đã chờ đợi trong ưu tư với cuộn phim Flags Of Our Fathers [Ngọn cờ của tiền nhân chúng ta] nói về trận đánh trong Đệ II Thế Chiến ở hòn đảo nhỏ Iwo Jima trên Thái Bình Dương. Và tôi đã không bị thất vọng. Tôi đã học biết nhiều điều mà tôi chưa hề biết về trận đánh lịch sử đó và thậm chí việc cắm ngọn cờ nổi tiếng kia. Nhưng mọi sự đấy là từ viễn cảnh trận đánh của nhiều người Mỹ ở đó.
Eastwood đã nối theo cuộn phim nầy với phim thứ nhì có đề tựa là Letters From Iwo Jima [Các bức thư gửi từ Iwo Jima]. Phim ấy đã nói cùng một câu chuyện, nhưng từ viễn cảnh của những người lính Nhật đã đào chiến hào ở đó. Eastwood làm cho chúng ta nhìn qua ánh mắt của họ bằng cách dõi theo các bức thư mà họ đã viết gửi cho người thân tại quê nhà khi mô tả các điều kiện kinh khiếp và trận đánh hãi hùng đã diễn ra ở đó.
Hai cuộn phim kể lại cùng một trận đánh, nhưng hình ảnh cuộc chiến lại khác nhau. Đây là một bài học quan trọng cho tôi căn cứ theo giá trị và ý nghĩa của viễn cảnh.
Trong câu chuyện Giáng Sinh, cái nhìn tươi mới nầy có thể được tìm gặp trong phần Kinh Thánh quen thuộc Luca 2. Ở đó chúng ta tìm gặp những viễn cảnh khác nhau căn cứ theo các biến cố của sự Giáng Sinh, và chúng ta có thể chia sẻ các viễn cảnh nầy bằng cách nhìn qua các cánh cửa sổ được cung ứng bởi những người có mặt ở đó, cho phép chúng ta nhìn thấy và cảm nhận, và để học biết từ mọi phản ứng của họ đối với các biến cố đầy quyền năng và kỳ diệu nầy. Những điều kỳ diệu vô hạn nầy:
Kêu gọi chúng ta phải quì gối xuống trước chiếc máng cỏ khiêm nhường – và nhìn thấy trước một thập tự giá nghiệt ngã kia.
Dạy cho chúng ta biết về sự vinh hiển của sự hóa thân thành nhục thể – và thảm họa của tội lỗi con người đòi hỏi một Cứu Chúa là Đấng sẽ mang lấy tội lỗi của chúng ta trên chính thân thể của Ngài.
Để cho chúng ta kỷ niệm phép lạ của sự giáng trần – và vui mừng trong phép lạ của sự sanh lại.
Nói ngắn gọn, những điều ấy cho phép chúng ta bước vào các biến cố đã làm thay đổi thế giới và dân cư của nó cho đến đời đời – để hiệp với những người khiêm nhường đến thờ phượng, những kẻ đã tiếp nghinh Đấng Christ khi Ngài giáng trần. Họ cung ứng cho chúng ta những gì chúng ta thường cần đến nhất – viễn cảnh tươi mới.
MARY: Viễn cảnh của sự kỳ diệu
Một trong những bài ca Giáng Sinh dễ gần gũi, thường được sử dụng nhiều nhất có đề tựa: “I Wonder As I Wander”. Với âm điệu và phong cách của một bài hát thuộc linh, bài ca ấy nói tới lẽ mầu nhiệm của câu chuyện Giáng Sinh và sự can thiệp lạ lùng của Đức Chúa Trời. Bài hát ấy cố gắng mô tả bằng lời lẽ và âm điệu thể nào tấm lòng của con người khó mà hiểu được những điều Đức Chúa Trời đã chọn thực hiện – và lý do tại sao Ngài lại chọn làm như thế.
Tôi lấy làm lạ khi tôi phiêu bạt dưới bầu trời
Thể nào Cứu Chúa Jêsus, đã hiện đến để chịu chết.
Cho hạng người xấu tính nghèo hèn như bạn và tôi.
Tôi lấy làm lạ khi tôi phiêu bạt dưới bầu trời.
Tôi không thể tưởng tượng được từ ngữ thích đáng nào khác có thể mô tả phép lạ ấy hơn từ ngữ kỳ diệu. Nhưng tôi e rằng, trong thế giới của chúng ta ngày nay, kỳ diệu không còn là đủ tuyệt vời nữa đâu. Một nhạc sĩ chuyên ghi âm sau lần ghi âm đầu tiên của mình đã được xem là “một sự thành công kỳ diệu”. Một trong những ổ bánh màu trắng đơn giản nhất trong khu chợ được biết là Ổ Bánh Kỳ Diệu, và thậm chí chúng ta có loại đồ lót Kỳ Diệu nữa. Tuy nhiên, không cứ cách nào đó, những thứ nầy dường như không tiêu biểu cho cách sử dụng thích đáng chữ Kỳ Diệu.
Kỳ diệu cần phải được gán cho điều chi vượt trổi hơn sự giải thích của con người.
Bảy Kỳ Quan của thế giới cổ (tỉ như Kim Tự Tháp ở Giza và Vườn Treo Babylôn) có thể đạt được gần tới cốt lõi của sự kỳ diệu – một thứ phủ lút tư tưởng của chúng ta, nhắc cho chúng ta nhớ rằng chúng ta quá nhỏ bé không thể suy nghĩ và xử lý những công trình ấy với một trình độ nhất định. Thế nhưng ngay cả những kỳ công kiến trúc kín nhiệm ấy vẫn rơi vào chỗ thiếu sót. Rốt lại, chúng được dựng nên bởi những con người giống như chúng ta. Chúng ta không thể biết hết làm thế nào họ đã dựng nên công trình ấy, nhưng có một sự giải thích cho điều đó, giống như sự giải thích ấy cho tới nay vẫn chưa được khám phá ra vậy.
Không, kỳ diệu cần phải được gán cho điều chi vượt trổi hơn sự giải thích của con người. Kỳ diệu nói tới sự toàn năng, toàn tại và quyền phép sáng tạo. Kỳ diệu nói tới Đức Chúa Trời. Vì thế, hãy suy nghĩ George Beverly Shea là người đã viết ra những lời nầy:
Có sự kỳ diệu khi mặt trời lặn mỗi buổi chiều, sự kỳ diệu của mặt trời mọc như tôi đã nhìn thấy; nhưng điều kỳ diệu của mọi sự diệu kỳ làm rung động linh hồn tôi là sự kỳ diệu Đức Chúa Trời vốn yêu thương tôi. Ôi, tình yêu ấy diệu kỳ dường bao, tình yêu ấy diệu kỳ dường bao – khi nghĩ đến Đức Chúa Trời yêu thương tôi.
Tại sao ở trên đất (hay trên thiên đàng), Đức Chúa Trời lại yêu thương tôi? Điều đó thách thức sự hiểu biết. Tôi biết tôi, và thẳng thắn mà nói, tôi chẳng có gì đáng yêu hết. Vậy, tại sao Ngài lại yêu tôi chứ? Kỳ diệu quá.
Nhưng để thêm vào ý thức kỳ diệu chung quanh tình yêu đó, tại sao Ngài lại yêu tôi theo cách Ngài đã yêu – sai Con Ngài đến chịu chết vì tội lỗi của tôi và trong chỗ của tôi chứ? Đấy là cốt lõi của niềm tin Cơ đốc, và chẳng có một câu trả lời dễ dàng nào hết, ngoài bổn tánh của chính mình Đức Chúa Trời: ấy là tình yêu thương.
Vì sự kỳ diệu của tình yêu Đức Chúa Trời đã tìm thấy cách bày tỏ trọn vẹn nhất của nó nơi sự đến của Đấng Christ vì ích cho chúng ta, chúng ta hãy nhìn vào câu chuyện Giáng Sinh qua viễn cảnh của một thiếu nữ, là người đã có nguyên nhân cho sự kỳ diệu hơn bất cứ ai khác dính dáng đến câu chuyện.
Vì sự kỳ diệu của tình yêu Đức Chúa Trời đã tìm thấy cách bày tỏ trọn vẹn nhất của nó nơi sự đến của Đấng Christ vì ích cho chúng ta.
SỰ KỲ DIỆU CỦA ĐẶC ÂN
Một quảng cáo thẻ tín dụng của American Express thường ghi như sau: “Địa vị hội viên có những đặc ân của nó”. Họ đã cổ động cho thẻ tín dụng của họ bằng cách hướng sự khao khát của người ta vào sự lựa chọn, vì có một cơ hội mà nhiều người khác chỉ có thể tưởng tượng.
Thế giới bị phân chia giữa những cái có và những cái không có, giữa tiếp nhận và loại trừ, giữa kẻ được ơn và người bị loại. Người ta ở phía ngoài nhìn vào trong với sự ganh tỵ và kinh sợ khi có một số người may mắn nắm lấy được “các đặc ân” của họ.
Tuy nhiên, một số đặc ân còn trổi hơn cả cách đối xử đặc biệt hay một tấm thẻ hội viên. Họ tỏ ra kinh ngạc khi thấy bạn được chọn trên những người khác. Tôi không tin mình hiểu được điều nầy cho tới khi tôi gặp Marlene, là thiếu nữ mà về sau đã trở thành vợ của tôi.
Marlene và tôi đã hò hẹn không tới 2 tuần lễ, khi đang dùng cơm tối với nhau, nàng nói nàng cần phải tỏ cho tôi biết một việc quan trọng. Giọng nói dịu dàng của nàng khiến cho tôi phải nghĩ rằng tôi sắp sửa nghe nói về một người bạn trai mới quay trở lại hay vị hôn phu phải nhập ngủ, nhưng đấy chẳng phải là trường hợp. Nàng muốn nói cho tôi biết rằng nàng đã được nhận làm con nuôi. Sau khi thở ra một hơi dài nhẹ nhõm, tôi yêu cầu nàng nói cho tôi biết từng chi tiết. Sau khi lắng nghe nàng giải thích thể nào nàng đã đi từ chỗ là Kathy ở quận Washington, Virginia, đến Lili Marlene ở Raleigh, North Carolina, tôi hỏi nàng: “Có bao giờ em muốn tìm thấy bố mẹ thực của mình không?” Nàng đáp: “Đây là những bố mẹ thực sự của em. Họ có một viện mồ côi đầy những trẻ em cần một mái nhà – và họ đã chọn em. Họ có thể chọn bất cứ ai, nhưng họ đã chọn em. Em”. Đối với Marlene, đặc ân là niềm vui của sự được chọn.
Tôi e rằng thiếu nữ Mary đã cảm nhận cùng một cảm xúc ấy khi thiên sứ Gabriel đến nói cho nàng biết nàng đã được chọn để sanh hạ Con Trẻ Christ. Từ khi có lời hứa về một Đấng Mêsi sẽ được ban cho, những thiếu nữ Do thái đã ước ao mình sẽ được chọn cho vai trò được ơn nầy. Nhiều thế kỷ đến rồi đi, và chưa có Đấng Mêsi nào ngự đến hết. Thế rồi sứ điệp đã đến: Giờ đã đến cho Đấng Mêsi sanh hạ, và Mary phải làm mẹ của Ngài. Thậm chí trong lời chào của Gabriel, sự kỳ diệu của đặc ân rất rõ ràng: “Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi”. Luca cho chúng ta biết rằng Mary đã “bối rối” và nàng đã “lấy làm lạ” tự hỏi lời chào ấy có nghĩa gì!?! Đây là những từ rất mạnh mẽ “bối rối” có nghĩa là “lo lắm” và “lấy làm lạ” ra từ một chữ giống như chữ dialogue [đối thoại] của chúng ta. Thực vậy, nàng đã lý luận ở trong lòng, trong chính lý trí của nàng, về ý nghĩa của lời chào nầy.
Nhận ra sự bối rối của nàng, Gabriel đã giải thích thêm:
“Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus. Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng” (Luca 1.30-33).
“Được ơn” có ý nói Mary đã được ban ơn cho. Hãy nói về sự kỳ diệu. Và phản ứng của Mary – vì nàng còn đồng trinh – cho thấy thật khó cho nàng nắm bắt một việc như thế. Gabriel tái bảo đảm cho nàng biết thậm chí người bà con của nàng là Êlisabết đã có thai trong lúc tuổi già, Đức Chúa Trời của việc khó có khả năng chuẩn y đặc ân nầy cho nàng. Kinh hãi và lấy làm lạ tan biến đi thành tin cậy và sẵn lòng.
Đáp ứng của nàng đối với Gabriel là khẳng định và thẳng thắn: “Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền!” (Luca 1.38). Bản Kinh Thánh New Living ghi câu nầy như sau: “Tôi là nô lệ của Chúa. Nguyện mọi sự Ngài đã phán về tôi sẽ thành ra hiện thực”.
Trong sự kinh ngạc, Mary vốn hiểu rõ tầm quan trọng của sự nàng được chọn để lo làm, và nàng đã chấp nhận với sự khiêm nhường. Hãy hình dung mọi cảm xúc, sự hoài nghi, ý thức về tình trạng bất xứng, niềm vui, nổi kinh ngạc của nàng xem. Hãy hình dung sự lạ lùng ở trong lòng nàng.
Hãy hình dung mọi cảm xúc, sự hoài nghi, ý thức về tình trạng bất xứng, niềm vui, nổi kinh ngạc của nàng xem. Hãy hình dung sự lạ lùng ở trong lòng nàng.
SỰ KỲ DIỆU KHI THAI NGHÉN
Marlene và tôi có 5 đứa con, và mỗi lần ra đời của chúng là những sự cố lạ lùng nhất mà tôi đã từng chứng kiến. Thật rất ngạc nhiên khi nhìn thấy một con trẻ bước vào thế gian. Khi nghe nhịp tim đập lần đầu tiên, và lấy làm lạ không biết đứa trẻ là trai hay gái. Nhìn thấy sóng siêu âm và cảm nhận những cú đạp của đứa trẻ chưa chào đời. Nhìn thấy phép lạ lộ ra ở đàng sau bức màn thân thể của người mẹ. Nhìn thấy đứa trẻ thở hơi đầu tiên của nó. Một vài việc trong cuộc sống được sánh với sự kỳ diệu tuyệt đối kia.
Kinh Thánh đã yên lặng khoảng 9 tháng Mary mang thai Đấng Christ hóa thân thành nhục thể, nhưng chúng ta có thể đưa ra một số điều giả định dựa theo những gì chúng ta biết về cuộc sống. Đây có thể là thời điểm của những kinh nghiệm mới, trong đó Mary đã cảm nhận nhiều điều mà nàng chưa hề biết trước đây. Nàng chẳng có một khuôn mẫu nào cho những điều mà nàng đã cảm nhận, cả về phần thể xác cũng như về mặt tình cảm, với sự lớn lên của con trẻ mỗi ngày.
Thêm vào với tình trạng ấy, không nghi ngờ chi nữa nàng phải chịu đựng những cái nhìn và thì thầm của những kẻ lân cận trong làng Nazarét – những con người tầm thường với những thắc mắc bình thường về người cha thật của đứa trẻ phi thường mà nàng đang cưu mang. Nọc độc của những lời lẽ soi mói và những cái nhìn kinh tởm cắt thật sâu vào tấm lòng của nàng.
Nhất định có những lúc Mary nghi ngờ sự hiển biết của chính mình – “Tôi có thực sự nhìn thấy một thiên sứ không? Mọi sự có xảy ra như tôi nhớ, hay mọi người đã đúng trong những điều họ nói về tôi và đứa con của tôi”? – cho tới chừng sự kỳ diệu đã được khẳng định.
Ngay từ đầu lúc chịu thai, Mary đã đi đến vùng đồi núi xứ Giuđê quanh thành Jeruslaem để thăm Êlisabết người bà con đã lớn tuổi của mình, bà đã chịu thai với đứa trẻ khi lớn lên sẽ là Giăng Báptít. Kinh Thánh không nói cho chúng ta biết tại sao Mary lại đi thăm Êlisabết, nhưng cái điều khả thi, ấy là nàng đã rời khỏi làng Nazarét để tránh né những cái nhìn khó chịu và miệng lưỡi bàn tán.
Tìm kiếm sự an ninh và giúp đỡ, nàng đã tìm gặp Êlisabết. Họ là hai phụ nữ, cách biệt bởi tuổi tác, nhưng gắn bó bởi gia đình. Xa cách nhau nhiều dặm đường, nhưng được nối kết bởi lịch sử. Cả hai đều có sự mang thai rất khó nói – một người quá già và một người còn đồng trinh.
Sau khi nhìn thấy Mary, Êlisabết tuyên bố:
“Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước. Nhân đâu ta được sự vẻ vang nầy, là mẹ Chúa ta đến thăm ta?” (Luca 1.42-43).
Sự khẳng định của Mary đã đến từ một nguồn bất ngờ nhất – một con trẻ chưa ra đời đã nhảy nhót trong lòng của Êlisabết khi nghe tiếng chào của Mary. Đáp ứng của Mary, còn được gọi là “Bài Ca Tụng”, tỏ ra nhận thức kỳ diệu rất thực mà nàng đã cảm được nơi đặc ân của sự mình mang thai:
“Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi. Vì Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của tôi tớ Ngài. Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước; Bởi Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh Ngài là thánh, bởi Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh Ngài là thánh” (Luca 1.46-49).
Ý thức kinh hãi của Mary trong sự mang thai lạ lùng nầy rất rõ ràng trong đáp ứng ngợi khen, thờ lạy, và cảm tạ rất hùng biện của nàng. Sự kỳ diệu trong sự thai dựng được bày ra cách thiêng liêng như thế nầy đã bắt lấy tấm lòng của nàng, đầy dẫy nàng với sự diệu kỳ rất thực và không sao ngăn cản được.
SỰ KỲ DIỆU KHI SANH NỞ
Khi Mary gần đến ngày sanh nở, nàng và Giôsép bắt đầu chuyến hành trình thật dài, gian khổ từ làng Nazarét đến thành Bếtlêhem để đăng ký vào sổ bộ của đế quốc (Luca 2.1-3). Nhà văn Walter Wangerin, Jr. hình dung những sự gian nan của chuyến đi như sau:
Họ buộc phải đến thành Bếtlêhem, là thành mà Vua David ra đời trước đó cả ngàn năm, vì Giôsép là dòng dõi của nhà David.
Mary đã cỡi lừa. Giôsép phải làm một chỗ tựa lưng cho nàng. Nàng đã đến gần thời điểm phải sinh con. Nàng không thở được và mệt mõi, hai bàn tay, hai cổ tay, và mắt cá nàng sưng húp lên. Mái tóc dài của nàng đã mất đi vẻ đẹp của nó … Mary đã quyết định phải đi với Giôsép để sanh con trai nàng trong thành tổ phụ của con ấy là David.
Mặc dù đây chỉ là một mảng trong sự kỳ diệu to lớn của câu chuyện Giáng Sinh, tôi thấy đây chẳng phải là một việc nhỏ đâu, thực vậy, Đức Chúa Trời chí cao đã đặt toàn bộ Đế Quốc La Mã vào cuộc với mục đích đưa Mary phải đến một nơi đúng giờ phút Đấng Christ sẽ ra đời. Có lẽ, vì chiếu chỉ của đế quốc không có gì sai sót đã khiến cho một phụ nữ gần tới ngày sanh con phải đi khoảng 80 dặm đường trên lưng một con lừa! (Luca 2.4-5).
Một phép lạ khác. Một sự kỳ diệu khác!
SỰ TỬ TẾ CỦA KHÁCH LẠ
Bếtlêhem, quê hương của gia đình và tổ phụ của Giôsép, là một ngôi làng cách phía nam thành Jerusalem 5 dặm, không xa vùng đồi núi thuộc sa mạc xứ Giuđê. Khi họ đến tại Bếtlêhem, Mary và Giôsép tìm thấy một cộng đồng nhỏ đầy với những lữ khách, họ về đây để đăng ký vào sổ dân. Nhà quán đang rên rỉ dưới gánh nặng quá tải, và không còn chỗ ngủ nghỉ cho đôi vợ chồng trẻ, cần ở riêng để sanh một đứa con.
Thành David không còn chỗ ở cho thiếu nữ trẻ chuẩn bị cho sự sanh con. Tuy nhiên, có người (chủ quán, theo truyền thuyết Giáng Sinh và hầu hết các chương trình Lễ Giáng Sinh ở nhà thờ) đã bằng lòng cố gắng làm nhiều hơn bổn phận. Ông (hay bà ta) đã lo liệu đủ chỗ nghỉ ngơi cho Mary và Giôsép trong một cái chuồng gia súc. Mặc dù chỗ nầy cung ứng cho họ nơi ngủ nghỉ cũng đủ ấm cúng đối với môi trường và cái lạnh ban đêm, và được riêng biệt đối với nhiều người khác.
Hành động tử tế đơn sơ ấy đã bảo đảm cho cái sân khấu được đặt ra cho thực tại lạ lùng nhất – ấy là Chiên Con của Đức Chúa Trời sẽ ra đời trong chuồng chiên máng cỏ.
Sự ra đời của Đức Chúa Con
“Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ của Ma-ri đã đến. Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở” (Luca 2.6-7).
Tôi luôn luôn bị ấn tượng bởi tính đơn sơ của phần mô tả đó. Sự kiện đáng nhớ nầy cũng được nói ra rất dè dặt, song thực vậy, bạn có thể mau quên nó nếu bạn chỉ xem thoáng qua. Có nhiều điều không được nói ra buộc bạn phải đọc đi đọc lại hoài.
Một bức màn im lặng phủ lên cô thiếu nữ trẻ khi nàng đau đớn do sinh con. Những tiếng kêu vui mừng chẳng được ghi lại khi Giôsép, rõ ràng là đang phục vụ trong vai trò làm mụ cho Mary, đã đứng sanh đứa trẻ và trao Ngài cho mẹ Ngài.
Mary đã bị phủ lút với sự nhìn biết con trẻ nầy mà nàng ấp ủ và nuôi nấng chính là Con của Đức Chúa Trời.
Ở một cấp độ, Mary đã kinh nghiệm từng cảm xúc kỳ diệu mà mỗi người mới làm mẹ đều cảm được khi bế đứa con của mình lầu đầu tiên. Nhưng ở cấp độ khác, nàng đã bị phủ lút với sự nhìn biết con trẻ nầy mà nàng ấp ủ và nuôi nấng chính là Con của Đức Chúa Trời, và bởi suy nghĩ về mọi điều mà con trẻ nầy ngự đến để lo làm – giải cứu một dân bị hư mất ra khỏi tội lỗi của họ (kể cả bản thân nàng, người mẹ ruột của Ngài). Con Trẻ nầy – đã được hứa bởi một thiên sứ, được thai dựng bởi Đức Thánh Linh, khi ấy đã được khẳng định bởi Giăng chưa ra đời, được mang trong thai đến thành Bếtlêhem, và được vây quanh bởi các gia súc lúc ra đời – là Đấng sẽ được gọi là: “Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an” (Êsai 9.5).
Con Trẻ nầy – đã được hứa bởi một thiên sứ, được thai dựng bởi Đức Thánh Linh, khi ấy đã được khẳng định bởi Giăng chưa ra đời, được mang trong thai đến thành Bếtlêhem, và được vây quanh bởi các gia súc lúc ra đời – là Đấng sẽ được gọi là: “Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an” (Êsai 9.5).
Không một điều chi trong cuộc sống niên thiếu của Mary đã chuẩn bị cho nàng về mọi sự nầy. Nàng là một thiếu nữ Do thái tầm thường thuộc thế kỷ đầu tiên, xuất thân từ một gia đình tầm thường sống trong một thị trấn nhỏ, tầm thường. Tuy nhiên, với sự lạ lùng và vâng phục, nàng đã vòng tay ôm lấy mọi hàm ý phi thường trong chương trình phi thường của Đức Chúa Trời dành cho đời sống của nàng. Và sự lạ lùng trong vòng quay cảm xúc trọn 9 tháng ấy đã đem đến cho nàng một đáp ứng rất đơn sơ: “Còn Ma-ri thì ghi nhớ mọi lời ấy và suy nghĩ trong lòng” (Luca 2.19).
Từ ngữ “suy nghĩ trong lòng” cũng là đáp ứng của nàng đối với sứ điệp của thiên sứ Gabriel 9 tháng trước đó (Luca 1. 29). Một lần nữa Mary, trong phần đối thoại ở trong lòng mình, trong lý trí của chính nàng, đã cố gắng hiểu cho rõ mọi sự sắp diễn ra. Ngày nay, trong xã hội được kỷ thuật lèo lái, chúng ta sẽ nói rằng nàng đã “lần theo”:
Lần theo sự ứng nghiệm của lời hứa.
Lần theo cao điểm của sự chịu thai.
Lần theo chuyến hành trình từ quê nhà của nàng đến thành Bếtlêhem.
Lần theo bối cảnh chuồng chiên máng cỏ.
Lần theo sự vất vả khi sanh con.
Lần theo sự thăm viếng bởi mấy gã chăn chiên đơn sơ kia.
Lần theo sự kỳ diệu của Đức Chúa Trời hóa thân thành nhục thể nơi con của nàng.
Hai ngàn năm sau, chúng ta vẫn còn đang lần theo. Vẫn còn bị kéo vào sự kỳ diệu đó. Một lần nữa, đề tựa: “I Wonder As I Wander” vẫn còn rất hay:
“Khi Mary hạ sanh Jêsus trong chuồng gia súc. Có mấy thầy bác sĩ, những nông dân và mấy gã chăn chiên. Kìa, một ngôi sao sáng sa xuống từ trên trời cao kia. Và nó làm gợi nhớ lời hứa của nhiều thời đại”.
Và có ở đó – lời hứa của nhiều thời đại. Điều kỳ diệu trong Lễ Giáng Sinh. Mọi sự diệu kỳ của Lễ ấy.
GIÔSÉP: Viễn cảnh của sự vâng phục
Tôi yêu âm nhạc – các thể loại âm nhạc. Nhưng trong nhiều năm trời, tôi không biết rõ loại nhạc đồng quê (có lẽ là một ít nổi loạn chống lại gốc rễ West Virginia của tôi). Thế rồi, cách đây mấy năm, con gái tôi đã thuyết phục tôi nghe vài bài “đồng quê”, và tôi đã bị bẫy – một phần vì giai điệu và lời ca rất tinh tế, và một phần vì các bài hát thường là kể lại một câu chuyện.
Một trong những nghệ sĩ đầu tiên Beth yêu cầu tôi phải nghe, mỉa mai thay, lại là một người có gốc West Virginia. Ngay lập tức tôi xu hướng vào nhà sáng tác kiêm ca sĩ nầy vì ông ấy chia sẻ với tôi một thứ tình cảm dành cho đội bóng nhà nghề Cleveland Browns và đội bóng vùng núi West Virginia. Tên của ông ấy là Brad Paisley, và ông ấy thu hút người khác vào thú đam mê của ông. Nhiều bài hát của ông, (như bài “Celebrity” hay “I’m Gonna Miss Her”) rất vui nhộn, giai điệu rất nhanh. Các bài ca khác (như bài “I Wish You Stay” hay “When I Get Where I’m Going”) rất nghiêm trang và thấm thía.
Trong thể loại sau cùng, là bài hát có đề tựa: “He Didn’t Have To Be”, bài hát nầy thuật lại một câu chuyện nói về một cậu con trai duy nhứt của một người mẹ đơn độc. Bất cứ khi nào có ai yêu cầu hò hẹn với người thiếu phụ nầy, mối quan hệ tan nhanh khi người theo đuổi khao khát kia nhìn thấy nàng có một đứa con nhỏ. Rồi thời gian cứ trôi qua, cậu bé suy nghĩ đến một cơ hội khác mưu cầu hạnh phúc, nó nhìn biết mọi sự xảy ra vì cớ chỉ vì mình. Một ngày kia, có người đến gọi và với một nụ cười, ông ta mời cậu bé cùng đi với họ trong một cuộc hẹn. Một dây yêu thương và một sự cảm kích phát triển giữa cậu bé và người kia hiển nhiên đã trở thành bố dượng của nó. Giờ đây, ca hát như một người lớn, nó kỷ niệm sự lớn lên với tình yêu thương và sự chấp nhận của một bố dượng, là người đã biến ngôi nhà của họ thành một gia đình và hai trở thành ba trong ngôi nhà đó. Giờ đây, chính bản thân nó đã đến tuổi lập gia đình, chàng thanh niên đứng ngoài cửa sổ quan sát của một bịnh viện phụ sản nhìn xem đứa con mới sanh của mình, với bố dượng mình ở bên cạnh. Có phải đó là ao ước, khao khát và sự cầu nguyện của anh ta không? Anh ta đã đạt được phân nửa của người làm cha mà bố dượng của anh ta “không có được”.
Người mà anh ta phát triển tình cảm là cha của mình đã xây đi chỗ khác và bước ra khỏi đó. Ông ấy đã có một sự lựa chọn, và ông ấy chọn trở thành một người cha. Ông ấy đã chọn cái chức năng mà ông ấy không trở thành được. Ông ấy đã chọn yêu thương.
Bài hát nầy nhắc cho tôi nhớ câu chuyện Giáng Sinh vì câu chuyện ấy nhắc cho tôi nhớ đến một nhân vật trong khi Đấng Christ ra đời, dù im lặng và gần như chẳng ai nhìn thấy: Giôsép, người thợ mộc ở thành Nazarét. Ông cũng đưa ra những sự lựa chọn. Ông có thể xây đi chỗ khác rồi bỏ đi. Thay vì thế, ông đã bằng lòng và vâng phục đảm trách chức năng thực sự là phần việc rất khó trong thế gian – trở thành bố dượng cho Con của Đức Chúa Trời. Ông đã vâng phục, với cái giá rất lớn riêng tư, chọn trở thành người mà lẽ ra ông không phải trở thành. Và mọi sự ấy khởi sự với một khách viếng thuộc hàng thiên sứ, như là trường hợp với Mary và với mấy gã chăn chiên.
Giôsép có thể xây đi chỗ khác rồi bỏ đi. Thay vì thế, ông đã bằng lòng và vâng phục đảm trách chức năng thực sự là phần việc rất khó trong thế gian – trở thành bố dượng cho Con của Đức Chúa Trời.
VÂNG PHỤC VỚI CÁC HUẤN THỊ CỦA THIÊN SỨ
Truyền khẩu cho biết rằng Giôsép lớn tuổi hơn Mary, một giả định căn cứ vào sự kiện có thể xảy ra, ấy là ông đã qua đời khi Chúa Jêsus bắt đầu thi hành chức vụ công khai của Ngài. Có lẽ Giôsép đã chờ đợi nhiều năm trời mới lập gia đình.Và giờ đây, ông đã thấy trước tuyệt đích của mối hôn nhân với cô dâu trẻ của mình. Việc họ đính hôn có nghĩa là về mặt Luật pháp họ đã ràng buộc với nhau, dù chưa sống chung với nhau như vợ chồng – hoàn toàn không như những “cuộc hứa hôn” ngày hôm nay, là điều có thể kết thúc rất dễ dàng.
Hãy tưởng tượng cơn đau đầu của Giôsép xem, khi ấy, lúc ông hay tin Mary, người đã hứa hôn rất tin kính của mình, đã có thai. Sự phản bội hiển nhiên của nàng đã làm rung chuyển thế giới của ông. Sao nàng có thể làm được việc ấy chứ? Và ai là người đã dự phần vào sự bội phản nầy?
Chúng ta không được nói cho biết Giôsép đã có một cuộc tiếp xúc nào với Mary theo cách riêng về vấn đề nầy hay không!?! Rõ ràng là cha của nàng đã hổ thẹn khi tiếp cận Giôsép với những tin tức như thế. Ông sẽ phải làm gì đây?
Hãy tưởng tượng cơn đau đầu của Giôsép xem, khi ấy, khi ông hay tin Mary, người đã hứa hôn rất tin kính của mình, đã có thai.
Mathiơ điền vào khoảng trống cho chúng ta, cung ứng cho chúng ta một cánh cửa sổ nhìn vào tính thầm lặng ở trong lòng của Giôsép:
“Vả, sự giáng sinh của Đức Chúa Jêsus Christ đã xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Đức Thánh Linh. Giô-sép chồng người, là người có nghĩa, chẳng muốn cho người mang xấu, bèn toan đem để nhẹm” (Mathiơ 1.18-19).
Chàng rễ tan vỡ, tấm lòng nặng nề với những ý tưởng của riêng mình. Nếu lời đồn về sự có thai của Mary cứ bung ra mãi, ông sẽ bị sĩ nhục cách công khai, ông sẽ trở nên đối tượng của sự chế giễu và thương hại. Tuy nhiên, phản ứng của ông không phải là phản ứng theo cách trả thù, hay thậm chí là đòi hỏi về sự công bình.
Nếu lời đồn về sự có thai của Mary cứ bung ra mãi, ông sẽ bị sĩ nhục cách công khai, ông sẽ trở nên đối tượng của sự chế giễu và thương hại.
Ông có thể đòi hỏi cô dâu mà ông tính cưới kia sẽ bị ném đá cho đến chết vì tội tà dâm – sự lang chạ về tình dục đã xảy ra trong khi còn thuộc thời gian đính hôn. Mặc dù chẳng có mối quan hệ tình dục nào giữa cô dâu và chú rễ trong thời kỳ đính hôn, sự chuẩn bị đã ràng buộc về mặt Luật pháp và có thể kết thúc chỉ bởi ly dị. Nhưng thay vì báo thù hay trừng phạt, Giôsép đã tìm cách bảo hộ cho Mary trong khi vẫn tuân theo Luật pháp của Môise.
Ý tưởng của ông đâu? Cái chết bằng cách ném đá, có thể được miễn cho ông, hay một sự im lặng hủy bỏ hợp đồng hôn nhân sẽ gạt nàng ra khỏi đời sống ông.
Khi Giôsép đang vật lộn với tấn thảm kịch nầy, và rõ ràng đã quyết định kết thúc cuộc đính hôn trong im lặng, ông đã nhận được một sứ điệp đặc biệt đến từ cùng một sứ giả trước đó đã đến viếng Mary:
“Song đang ngẫm nghĩ về việc ấy, thì thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao, mà phán rằng: Hỡi Giô-sép, con cháu Đa-vít, ngươi chớ ngại lấy Ma-ri làm vợ, vì con mà người chịu thai đó là bởi Đức Thánh Linh. Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội. Mọi việc đã xảy ra như vậy, để cho ứng nghiệm lời Chúa đã dùng đấng tiên tri mà phán rằng: Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sanh một con trai, Rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên; nghĩa là: Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Mathiơ 1.20-23).
Từ ngữ “ngẫm nghĩ” (considered) trong câu 20 rất quan trọng. Nó nói tới sự suy gẫm sâu sắc và nghĩ ngợi rất nhiều, và tỏ ra cấp độ mà Giôsép đã vật lộn trong đó với tấn thảm kịch. Đây cũng là một từ ngữ ý nghĩa của nó đồng nghĩa với “tự hỏi” (pondering) mà Mary đã có sau lần thăm viếng của thiên sứ Gabriel.
Một sứ giả hàng thiên sứ với một sứ điệp thiên thượng không phải là một việc nhỏ đâu! Và những yếu tố của sứ điệp rất là quan trọng:
Địa vị của Giôsép là một dòng dõi của Vua David vĩ đại kia, vị anh hùng trong quá khứ của dân Israel, đã đặt đứa con trai của vợ mình vào dòng dõi của hoàng gia.
Đức Thánh Linh là nguồn cơn của sự Mary chịu thai: “được thai dựng bởi Đức Thánh Linh”.
Tên của con trẻ là Jêsus, sẽ mô tả sứ mệnh của Ngài (“Ngài sẽ cứu dân mình ra khỏi tội”).
Sự ra đời của con trẻ sẽ là một sự ứng nghiệm lời tiên tri từ Kinh Thánh của người Do thái, không những giải thích lý do tại sao con trẻ ngự đến, mà còn giải thích Ngài là ai nữa (Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta).
Sứ điệp của thiên sứ gồm cả tin tốt và tin xấu. Tin tốt, ấy là rốt lại Mary không bất trung đối với ông. Ông có thể cưới nàng mà chẳng nghi ngờ về sự thanh sạch hay sự thuận phục của nàng đối với ông. Còn tin xấu? Ai sẽ tin được như thế chứ? Làm sao ông có thể giải thích cho bạn bè và gia đình biết bản chất thực cái thai của Mary? Chắc chắn một câu chuyện như thế sẽ bị coi là lố bịch, và ông sẽ bị xem là một gã khờ dại vì đã tin vào một việc vô lý như thế.
Một lần nữa, Giôsép đã đứng tại ngã tư đường của sự lựa chọn – một sự chọn lựa giữa việc tự biện hộ và vâng phục.
Sứ điệp của thiên sứ gồm cả tin tốt và tin xấu. Tin tốt, ấy là rốt lại Mary không bất trung đối với ông. … Còn tin xấu? Ai sẽ tin được như thế chứ?
“Khi Giô-sép thức dậy rồi, thì làm y như lời thiên sứ của Chúa đã dặn, mà đem vợ về với mình; song không hề ăn ở với cho đến khi người sanh một trai, thì đặt tên là Jêsus” (Mathiơ 1.24-25).
Vâng phục là đáp ứng của Giôsép trước một hoàn cảnh sống cực kỳ khó khăn. Đây không phải là một sự vâng phục dễ dàng hay không đau đớn, và nó không đến mà không phải trả giá. Tuy nhiên, đây không phải là lần duy nhứt mà sự vâng phục sẽ trở thành dấu ấn phân biệt đời sống ông.
VÂNG PHỤC VỚI NHÀ CẦM QUYỀN
Trong hai thiên niên kỷ, sự khởi đầu của câu chuyện Giáng Sinh đã được báo trước bởi câu nói quen thuộc: “Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên hạ” (Luca 2.1). Câu Kinh Thánh nầy rất súc tích và rõ ràng mô tả thực tại của thế giới trong đó Giôsép đã sinh sống. Rôma đã cai trị với uy quyền tuyệt đối, một là bạn phải phục theo quyền lực đó hay bạn sẽ bị chà nát dưới sức nặng của nó.
Tuy nhiên, những biến cố xoay quanh sự ra đời của Đấng Christ cũng góp phần như một sự nhắc nhớ rất ấn tượng rằng nhà cầm quyền con người không hành động một cách độc lập hay trong sự vô nghĩa. Châm ngôn 21.1 nhắc cho chúng ta nhớ rằng: “Lòng của vua ở trong tay Đức Giê-hô-va khác nào dòng nước chảy; Ngài làm nghiêng lệch nó bề nào tùy ý Ngài muốn”. Ở Galati 4.4, Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng: “Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp”. Một phần của “kỳ hạn được trọn” là sự sắp xếp thiên thượng của các biến cố trong lịch sử con người để sửa soạn bối cảnh cho sự đến của Đấng Christ:
“Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên hạ. Việc lập sổ dân nầy là trước hết, và nhằm khi Qui-ri-ni-u làm quan tổng đốc xứ Sy-ri. Ai nấy đều đến thành mình khai tên vào sổ. Vì Giô-sép là dòng dõi nhà Đa-vít, cho nên cũng từ thành Na-xa-rét, xứ Ga- li-lê, lên thành Đa-vít, gọi là Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, để khai vào sổ tên mình và tên Ma-ri, là người đã hứa gả cho mình đang có thai” (Luca 2.1-5).
Hãy chú ý các gánh nặng về chính trị dính dáng vào việc phát ra quyết định nầy: Caesar Augustus, là người đã cai trị thế giới được biết thời bấy giờ, và Quirinius, là người đã cai trị một phần trong thế giới đó. Tuy nhiên, cả hai người nầy đều được Đức Chúa Trời tể trị, Ngài là Vua của đất và trời. Và cả thế gian – “tất cả đất có dân ở” – bị đặt vào sự vận hành để Mary sẽ có mặt tại nơi mà Đấng Christ phải chào đời, là nơi mà các tiên tri đã nói Ngài sẽ chào đời.
Các học giả Kinh Thánh khác nhau trong ý kiến của họ về Mary có được miễn trừ khỏi chuyến hành trình khó khăn (và nguy hiểm) đến thành Bếtlêhem để dự cuộc điều tra dân số vì cớ thai gần đến ngày sanh nở hay không!?! Nhưng dù là luật nào đi nữa trong thời bấy giờ, Giôsép đã làm theo chiếu chỉ bằng cách đi đến thành Bếtlêhem để kê khai vào sổ dân của đế quốc.
Có thể việc nầy dường như là một việc nhỏ, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Tôi nghĩ nó tỏ ra tấm lòng của con người nầy và sự vâng phục trọn vẹn của ông đối với Đấng đã dạy dỗ các môn đồ Ngài (và chúng ta nữa) về mối quan hệ của chúng ta với “nhà cầm quyền đương thời”. Sự vâng phục nầy chỉ ra một tấm lòng công nhận chức năng của nhà cầm quyền và chấp nhận nhà cầm quyền ấy.
Như một kết quả của sự Giôsép vâng phục, Con của Đức Chúa Trời đã chào đời tại thành Bếtlêhem, là thành David, như Michê 5.1 đã nói trước.
Như một kết quả của sự Giôsép vâng phục, Con của Đức Chúa Trời đã chào đời tại thành Bếtlêhem, là thành David, như Michê 5.1 đã nói trước.
VÂNG PHỤC ĐỐI VỚI LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
“Đến ngày thứ tám, là ngày phải làm phép cắt bì cho con trẻ, thì họ đặt tên là Jêsus, là tên thiên sứ đã đặt cho, trước khi chịu cưu mang trong lòng mẹ. Khi đã hết những ngày tinh sạch rồi, theo luật pháp Môi-se, Giô-sép và Ma-ri đem con trẻ lên thành Giê-ru-sa-lem để dâng cho Chúa, như đã chép trong luật pháp Chúa rằng: Hễ con trai đầu lòng, phải dâng cho Chúa, lại dâng một cặp chim cu, hoặc chim bò câu con, như luật pháp Chúa đã truyền” (Luca 2.21-24).
Chúng ta thấy sự dính dáng của Giôsép trong câu chuyện, ở một sự kiện không có gì phải nghi ngờ, là trách nhiệm của ông, mặc dù ông không được nhắc tới trong phân đoạn Kinh Thánh đó. Sự việc rất quan trọng đối với một người Do thái trung tín, khi mọi đòi hỏi của Luật pháp về sự ra đời của một đứa con được xem trọng. Luật pháp Môise đòi hỏi những đáp ứng có tính cách hy sinh và các thể thức lễ nghi, đã đề ra trong Cựu Ước:
Mỗi con trẻ nam Do thái phải chịu phép cắt bì. Điều nầy đánh dấu họ là con cái của Ápraham (Sáng thế ký 17). Được thực hiện trước tiên theo mạng lịnh của tiếng phán của Đức Chúa Trời, phép cắt bì được sát nhập vào Luật pháp Do thái qua Môise như một phương thức giữ dân sự của Đức Chúa Trời phân biệt và tách biệt với các nền văn hóa ngoại đạo ở chung quanh họ.
Một của lễ phải được dâng lên để làm lễ tẩy sạch cho người mẹ (Lêvi ký 12). Điều nầy phải được thực hiện 40 ngày sau khi con trẻ ra đời, dù nam hay nữ. Sự thực Giôsép và Mary đã dâng một cặp chim bồ câu hay chim cu làm của lễ cho thấy rằng họ không giàu có; nếu giàu có, họ phải dâng một chiên con.
Đây sẽ phần việc của người cha lo chu toàn những đòi hỏi của Luật pháp. Và mặc dù ông không được kể tên trong phân đoạn Kinh Thánh, chúng ta có thể giả định rằng Giôsép đã chu toàn mọi sự đòi hỏi của Luật pháp sau khi Con Trẻ ra đời dọn đường cho Đấng về sau có phán: “Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn” (Mathiơ 5.17).
Đấng Christ là Đấng sẽ mang hết thảy Luật pháp đến sự ứng nghiệm rất thực và hoàn toàn noi theo những bước chơn của một bố dượng đời nầy, là người đã hết lòng vâng phục Đức Chúa Trời một cách trang trọng. Trong mọi sự ông đã làm, Giôsép đã nêu được tinh thần vâng phục mà Đức Chúa Trời trông đợi và xứng đáng phải có từ con cái của Ngài.
Trong mọi sự ông đã làm, Giôsép đã nêu được tinh thần vâng phục mà Đức Chúa Trời trông đợi và xứng đáng phải có từ con cái của Ngài.
VÂNG PHỤC ĐỐI VỚI LỜI CẢNH CÁO THIÊN THƯỢNG
Trước lần xuất hiện sau cùng của Giôsép trong những trang Kinh Thánh, ở đó chúng ta thấy ông đang thăm viếng đền thờ tại thành Jerusalem với Mary và Chúa Jêsus lúc 12 tuổi (Luca 2, chúng ta thấy ông đối mặt với hai cơ hội nữa để tuân theo hay bất tuân:
“Khi Đức Chúa Jêsus đã sanh tại thành Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, đang đời vua Hê-rốt, có mấy thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem, mà hỏi rằng: Vua dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài. Nghe tin ấy, vua Hê-rốt cùng cả thành Giê-ru-sa-lem đều bối rối” (Mathiơ 2.1-3).
Sự thăm viếng của mấy thầy bác sĩ đã đánh động Hêrốt, là người đã xem sự ra đời của một tân vương là một mối nguy hiểm trong hiện tại và rõ ràng cho sự ổn định và lâu dài của vương quốc ông ta. Những hậu quả chuyến thăm Bếtlêhem của mấy thầy bác sĩ cũng gây rắc rối tương đương cho Giôsép, dù theo một phương thức khác. Sau khi những vị khách lạ lùng nầy đi khỏi đó rồi, sứ giả khác thuộc hàng thiên sứ báo động cho Giôsép về mối nguy hiểm đang treo trên đầu họ:
“Sau khi mấy thầy đó đi rồi, có một thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong chiêm bao, mà truyền rằng: Hãy chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trốn qua nước Ê-díp-tô, rồi cứ ở đó cho tới chừng nào ta bảo ngươi; vì vua Hê-rốt sẽ kiếm con trẻ ấy mà giết. Giô-sép bèn chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài đang ban đêm lánh qua nước Ê-díp-tô. Người ở đó cho tới khi vua Hê-rốt băng, hầu cho ứng nghiệm lời Chúa đã dùng đấng tiên tri mà phán rằng: Ta đã gọi Con ta ra khỏi nước Ê-díp-tô” (Mathiơ 2.13-15).
Mary và Giôsép đã sống dưới sự chú ý của nhà cầm quyền và các quan hành chánh địa phương. Sự suy nghĩ đứa con của họ đã ở trong tầm nguy hiểm từ những thứ quyền lực đó chưa bao giờ xảy đến với họ. Thình lình Giôsép nhận ra rằng họ đã sống trong một thế giới còn nguy hiểm nhiều hơn là họ tưởng tượng nữa. Chỉ có một tiếng phán của thiên sứ mới có thể thuyết phục họ tin rằng con trai của họ đang ở trong tầm nguy hiểm.
Khi Giôsép nhận được lời cảnh cáo từ thiên sứ, ông đã không chần chừ nữa. Bản năng đầu tiên của ông là phải lo bảo hộ cho con trẻ. Chuyến đi sang Ai cập sẽ lâu dài, và thậm chí cũng rất là nguy hiểm đấy. Nhưng với những lời đe dọa của Hêrốt đang treo trên đầu họ, họ không thể ở lại tại trong Bếtlêhem. Ở Ai cập, họ sẽ được an toàn hơn. Và, hãy ra khỏi Ai cập, Đấng Christ – giống như con cái Israel do Môise lãnh đạo hàng mấy trăm năm trước – hiển nhiên đã trở về quê nhà để sinh sống và lớn lên rồi lo sửa soạn cho những năm thi hành chức vụ công khai của Ngài:
“Nhưng sau khi vua Hê-rốt băng, có một thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong chiêm bao, tại nước Ê-díp-tô, mà truyền rằng: Hãy chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trở về xứ Y-sơ-ra-ên, vì những kẻ muốn giết con trẻ đã chết rồi. Giô-sép bèn chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trở về xứ Y-sơ-ra-ên” (Mathiơ 2.19-21).
Theo cấp độ của con người, sự bằng lòng của Giôsép khi vâng theo lời cảnh cáo của thiên sứ đã cung ứng lần tránh thoát đầu tiên trong những lần tránh thoát không bị hư mất mà Chúa Jêsus đã kinh nghiệm. Người ta thường nghe Đấng ấy phán: “Giờ Ta chưa đến” sẽ qua khỏi sự đe dọa nầy và những lần đe dọa khác cho tới chừng thời điểm phải đến cho cái chết của Ngài trên thập tự giá – một cái chết sẽ làm ứng nghiệm Luật pháp, cất bỏ đi nhu cần về các thứ của lễ, và để cứu chuộc một thế giới đầy dẫy tội lỗi.
Sự vâng phục của Giôsép là một phần trong sự sửa soạn cho chức vụ và sự thành tựu của Đức Chúa Con là Đấng: “đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu” (Hêbơrơ 5.8).
Khi chúng ta nhìn vào câu chuyện Giáng Sinh qua cánh cửa sổ kinh nghiệm của Giôsép, chúng ta thấy rõ ràng tấm lòng thường xuyên vâng phục của ông. Đối diện với hết sự lựa chọn nầy đến việc chọn lựa khác, bằng sự vâng phục ông đã đáp ứng với từng thách thức đặt ở trước mặt ông.
Vẻ đẹp của sự vâng phục không cứ cách nào đó đã bị mờ đi trong thế giới “có được nó theo cách của mình”, nơi mà “lo làm việc của riêng mình” đã trở thành tiếng kêu chế nhạo. Tuy nhiên, vẫn còn có một vẻ đẹp đơn sơ, bình tịnh cho một tấm lòng vâng phục. Vẻ đẹp ấy chống lại bản tánh loạn nghịch của sự sa ngã nơi chúng ta và chỉ cho chúng ta thấy một con đường tốt hơn. Vẻ đẹp ấy chỉ cho chúng ta thấy sự khôn ngoan khi xem trọng Đức Chúa Trời và sự dại dột của việc tự quyết định. Vẻ đẹp ấy nhắc cho chúng ta nhớ rằng Đức Chúa Trời đang tể trị và chúng ta không tể trị – và đấy là con đường đáng phải có.
Vẻ đẹp ấy chỉ cho chúng ta thấy sự khôn ngoan khi xem trọng Đức Chúa Trời và sự dại dột của việc tự quyết định. Vẻ đẹp ấy nhắc cho chúng ta nhớ rằng Đức Chúa Trời đang tể trị và chúng ta không tể trị.
Trong quyển A Long Obedience In The Same Direction, Eugene Peterson nói như vầy:
Friedrich Nietzsche … đã viết: “Việc quan trọng “trên trời và dưới đất” là … sẽ có sự vâng phục lâu dài đối với cùng một lịnh lạc; vì thế kết quả, và luôn luôn kết quả trong cuộc chạy lâu dài, một cuộc chạy làm cho đời sống có giá trị”. Chính “sự vâng phục lâu dài đối với cùng một lịnh lạc” mà tâm trạng của người thế gian phải làm nhiều việc cho sự ngã lòng”.
“Cuộc chạy đường dài”. Một “sự vâng phục lâu dài”. Giôsép đã chọn sống theo một đời sống vâng phục tin cậy trong một thế giới đang ngã lòng; vâng phục lâu dài sẽ có ngay sự thỏa lòng. Và khi chúng ta đối diện với sự thách thức phải bỏ qua hay vâng theo, bước theo Chúa hay đi đường riêng mình, Giôsép đã để lại cho chúng ta một gương tốt phải noi theo.
Kinh Thánh không ghi lại lời lẽ của Giôsép. Ông không được xem là người đề xướng; ông đáp ứng. Ông không chiếm trung tâm bối cảnh; ông làm việc ở đàng sau sân khấu. Nhưng đức tính cai quản trong tấm gương của ông là sự ông bằng lòng vâng theo Đức Chúa Trời. Rõ ràng, ông đã ao ước trước khi học biết tin cậy Đức Chúa Trời. Thực vậy, sự vâng phục của Giôsép dạy cho chúng ta biết rằng tin cậy và vâng lời là không thể tách rời nhau được. Nếu chúng ta trước tiên không tin cậy Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không bao giờ đem những sự lựa chọn và số phận của chúng ta mà đầu phục các mục đích của Ngài.Và nếu chúng ta không vâng theo Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không bao giờ nhìn thấy những việc lớn và khiêm nhường mà Ngài ao ước hoàn thành trong và qua đời sống của chúng ta. Không có gì là lạ lùng, một trong những bài thánh ca đáng yêu nhất của chúng ta nói về Hội Thánh vang dội lẽ thật nầy:
Tin cậy vâng lời, nào nhờ cách gì trong đời
Muốn hưởng phước thiên thượng ai ơi!
Hằng duy tin cậy vâng lời!
VIỄN CẢNH CỦA CHÚNG TA
TRONG DỊP LỄ GIÁNG SINH
Có lẽ bạn có mặt giữa vòng nhiều người mà đối với họ Lễ Giáng Sinh không phải là một mùa lễ vui mừng, nhưng là một thử thách. Đối với bạn, sự vui mừng trong dịp Lễ Giáng Sinh và lý do cho kỳ lễ đã bị lạc mất từ lâu trong làn sương mù nhầm lẫn, thất vọng hay cô đơn. Đây không phải là một mùa lễ để mà thưởng thức đâu – nó đã trở thành một mùa lễ phải chịu đựng.
Có thể đây là lý do tại sao viễn cảnh của một người rất là quan trọng. Mọi viễn cảnh của Mary và Giôsép có thể giúp chúng ta tái khám phá ra thực tại lạ lùng mà Lễ Giáng Sinh rốt lại không phải là một mùa lễ. Đây là một sự ban cho – một sự ban cho bày tỏ ra phạm vi trong đó Đức Chúa Trời yêu thương của chúng ta đã bằng lòng ra đi để khiến cho chúng ta ra giống theo ảnh tượng của Ngài.
Đối với Mary và Giôsép, đã có sự kỳ diệu trong những biến cố nầy. Điều kỳ diệu Đấng Christ là ai và điều kỳ diệu tại sao Ngài đã đến chỉ là điểm khởi đầu. Điều kỳ diệu trong những gì có thể nói tới trong đời sống của chúng ta thì trổi hơn sự suy tưởng.
Ở Giăng 1.12, chúng ta đọc một lời hứa quan trọng cho chúng ta từ Đức Chúa của thiên đàng:
“Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài”.
Hãy tưởng tượng xem, Đấng dựng nên trời và đất lại là Đấng làm cho chúng ta nhìn biết Ngài, tìm được ơn tha thứ cho mọi sai trái của mình, và để nhận lãnh còn nhiều hơn sự sống đời đời nữa – nhận lãnh đặc ân và sự kỳ diệu được trở thành chi thể trong gia đình của Ngài.
Đức Chúa Trời đã làm mọi sự ấy bằng cách sai Con Ngài đến trong dịp Giáng Sinh đầu tiên đó. Nếu bạn chịu thưa với Ngài, nhìn nhận những sai sót, bày tỏ ra các nhu cần, công nhận thẩm quyền của Ngài trên đời sống của bạn, và chấp nhận ân ban sự tha thứ mà Con Ngài đã lập ra, bạn có thể nhìn biết sự kỳ diệu nhất trong mọi điều diệu kỳ – sự kỳ diệu về đời mới trong Đấng Christ.

NHỮNG NGÀY LỄ CỦA MÙA THU



NHỮNG NGÀY LỄ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
NHỮNG NGÀY LỄ CỦA MÙA THU
Nếu người Do thái hay tuân thủ các kỳ lễ là đúng, thì chu kỳ lễ lạc xưa của dân Israel là một nguồn thuộc linh mới mẻ vô tận. Nếu người nào xem mình đúng là tín đồ của Đấng Mêsi, bảy kỳ lễ của Đức Chúa Trời phải hơn hẳn truyền khẩu của người Do thái. Người nào quyết Đấng Mêsi đã hiện ra rồi đều tin Ngài đã làm ứng nghiệm ý nghĩa thuộc linh của bốn kỳ lễ thứ nhất, để dành lại ba kỳ lễ sau cùng cho sự ứng nghiệm vào những ngày sau rốt.
Trong các trang sau đây, thành viên trong ban biên tập của Hội truyền giáo RBC là Kevin Williams, cung ứng cho chúng ta phần thứ hai trong công tác nghiên cứu có hai phần với đề tài: “Những Ngày Lễ Của Đức Chúa Trời” – phần nầy tập trung vào ba kỳ lễ của mùa thu. Với nhiều năm tháng kinh nghiệm trong các hội chúng. Kevin cho chúng ta thấy mối tương quan giữa chu kỳ hàng năm các ngày lễ trong Kinh Thánh và ý nghĩa tiên tri thuộc linh cho dân sự trong tất cả các nước.
Martin R. De Haan II
Những ngày lễ của Đức Chúa Trời
Những ngày lễ của mùa xuân:
1./ Lễ Vượt Qua (Pesach)
2./ Lễ Bánh Không Men (Chag HaMatzot)
3./ Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa (Habikkurim)
4./ Lễ Ngũ Tuần (Shavuot)
Những ngày lễ của mùa thu:
5./ Lễ Kỷ Niệm Lấy Tiếng Kèm Thổi (Rosh Hashanah)
6./ Lễ Chuộc Tội (Yom Kippur)
7./ Lễ Đền Tạm (Sukkot)
NHỮNG NGÀY LỄ CỦA MÙA THU
“Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va các ngươi hãy rao truyền ra là các hội thánh” (Lê vi ký 23.1-2).
Với những lời lẽ nầy, Đức Giêhôva của dân Israel đã thiết lập một chu kỳ theo hàng năm những ngày lễ lạc mà các cộng đồng Do thái trên khắp thế giới vẫn còn tuân giữ. Dù là Chính Thống, Bảo Thủ, hay Cải Chánh; dù họ là người Nga, người Yemen, hay người Mỹ, các ngày lễ nầy hình thành một chuỗi phổ thông trong nền văn hoá toàn cầu của người Do thái.
Theo ngôn ngữ Hybálai, từ ngữ nói đến: “những ngày lễ của Đức Giêhôva” là mo-a-deem’, có nghĩa là “kỳ định” hay “những ngày lễ đã được ấn định”. Theo văn hoá của người Do thái: “những thời khắc của Đức Giêhôva đã được ấn định” rất quan trọng vì nhiều lý do. Như đã được liệt kê trong Lê vi ký 23, các ngày lễ nầy là một phần trong hệ thống “thời gian không tính” [time-outs] của dân tộc. Đồng thời chúng cung ứng những cơ hội hàng tuần, hàng tháng và hàng năm để yên nghỉ đối với mọi lề thói và công việc bình thường của cuộc sống mỗi ngày. Chúng cũng cung ứng một chương trình được soạn sẵn để suy gẫm và thờ phượng: “những ngày lễ của Đức Chúa Trời” nầy là những giáo hội nghị thiêng liêng kêu gọi dân sự của Đức Chúa Trời nhóm lại không những trong nét huy hoàng tráng lệ của đền thờ, mà còn trong nơi ở yên tĩnh và đơn sơ của từng gia đình trên đất. Đồng thời, những kỳ định của Đức Giêhôva cung ứng cho từng gia đình, dù giàu hay nghèo, một cơ hội để nhớ lại quyền phép và tình yêu thương đáng kính sợ của Đức Chúa Trời của Ápraham, Ysác và Giacốp.
Tuy nhiên, thật là quan trọng cho chúng ta khi hiểu rõ chu kỳ của những ngày lễ nầy không phải chỉ là nền văn hoá của người Do thái mà thôi. Thậm chí chúng còn nối kết với vòng quay nông nghiệp của đất đai Israel, và bộ lịch lễ lạc đã được dùng để thuật lại những truyện tích nói tới nguồn gốc và đời sống của người Do thái, những ngày lễ nầy cung ứng một toàn cảnh lịch sử có nhiều hàm ý mạnh mẽ cho toàn thể mọi gia đình trên thế gian. Được xem xét theo cách riêng và chung với nhau, các kỳ lễ nầy đang tô vẽ một bức tranh rất hấp dẫn mô tả công tác trong quá khứ, hiện tại và tương lai của Đấng Mêsi, Ngài là nguồn sự sống, hy vọng và bình an cho các dân các nước trên thế giới.
Những ngày lễ nầy cung ứng một toàn cảnh lịch sử có nhiều hàm ý mạnh mẽ cho toàn thể mọi gia đình trên thế gian.
Như chúng ta đã nhìn thấy trong quyển “Những Ngày Lễ Của Đức Chúa Trời: Những Ngày Lễ Của Mùa Xuân”, nhiều người Do thái và dân Ngoại tin Chúa Jêsus đang chia sẻ lòng tin chắc chặng thứ nhất sự giải cứu của Đấng Mêsi đã được ghi lại trên trang trung tâm của lịch sử nhân loại. Theo một nhóm chứng nhân người Do thái, chương trình của Đức Chúa Trời đã được tỏ ra trong những ngày thánh của Lễ Vượt Qua, Lễ Bánh Không Men, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa, và Lễ Ngũ Tuần. Với một sự xoay chiều đột ngột của các biến cố, bốn kỳ lễ đầu tiên của Israel đã mô tả thân vị của một Đấng chuyên làm phép lạ, Ngài mang lấy các dấu hiệu của Đấng Mêsi của Đức Chúa Trời. Trong Lễ Vượt Qua, Chúa Jêsus đã trở thành Chiên Con là sinh tế, huyết Ngài đã đánh dấu hết thảy những ai tin nơi để được cứu. Trong Lễ Bánh Không Men, Ngài đã chịu chết để cất bỏ tội lỗi và để ban cho chúng ta “bánh” (sự tiếp trợ nâng đỡ cuộc sống) nói tới sự hiện diện đời đời của Ngài. Trong Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa, Ngài đã sống lại từ kẻ chết để tỏ ra rằng chính bởi quyền phép của Đức Chúa Trời Ngài làm sự giải cứu cho chúng ta. Rồi 50 ngày sau đó, trong Lễ Ngũ Tuần (cũng gọi là Lễ Các Tuần Lễ, hay Shavuot), Chúa Jêsus đã sai Thánh Linh Ngài để bày tỏ sự hiện diện của Ngài cho hết thảy những ai bằng lòng phó mạng sống họ cho Ngài.
Khi quý vị xem xét các ngày lễ của mùa thu, hãy tưởng tượng ra bối cảnh trong Israel xưa kia. Một vài tháng đã trôi qua kể từ ngày lễ cuối cùng trong những ngày lễ của mùa xuân. Mùa màng đã kết thúc. Những hoa quả như ôlive, nho, lựu, chanh được thu về từ những cánh đồng, và dân sự của đất đang sẵn sàng cảm tạ Đức Chúa Trời vì mùa gặt. Các gia đình khắp xứ Israel chuẩn bị lên đường đến Đền Thờ tại thành Giêrusalem để dự kỳ lễ hành hương lần thứ ba trong năm. Họ cùng nhau đi bộ trên những con đường đầy bụi để kỷ niệm vụ thu hoạch trong mùa thu và để bày tỏ lòng nương cậy nơi Đức Chúa Trời ban cho những cơn mưa có cần trong năm tới.
Khi những người thờ phượng sửa soạn lên đường đến thành Giêrusalem, thành của Đức Chúa Trời, tiếng thổi của cây kèn làm bằng sừng cừu đực (shofar) thổi lên từ các bức tường của thành phố đánh dấu sự bắt đầu của kỳ lễ mùa thu. Suốt cả ngày, những tiếng kèn làm bằng cừu đực đã được trổi lên như một lời kêu gọi nhóm lại trước mặt El Elyon, Đức Chúa Trời Chí Cao.
LỄ KỶ NIỆM LẤY TIẾNG KÈN THỔI
(Rosh Hashanah hay Yom Teruah)
“Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ngày mồng một tháng bảy, sẽ có cho các ngươi một ngày nghỉ, một lễ kỷ niệm lấy tiếng kèn thổi mà rao truyền, tức là một sự nhóm hiệp thánh vậy” (Lê vi ký 23.24).
Tiếng shofar được trổi lên vào ngày thứ nhất của tháng Tishri, là tháng thứ bảy theo lịch tôn giáo của người Do thái. Đó là Yom Teruah, “ngày kèn thổi”. Theo truyền khẩu được gọi là “Rosh Hashanah”, nó đánh dấu mùa gặt cuối năm là một cơ hội cho cả nước tìm kiếm sự đổi mới về mặt thuộc linh và về sự quan hệ.
Tiếng shofar kêu gọi ăn năn
Tiếng thổi của những cây kèn làm bằng sừng cừu đực đã cung ứng một sự nhắc nhớ thuộc linh rất quan trọng: Đó là một sự nhắc nhớ cho những ai mới vừa lo xong việc thu hoạch mùa màng bằng mồ hôi lao động của chính họ. Khi những người lao động bị cám dỗ nhìn vào các kết quả của sự họ nổ lực và sự khen ngợi mình vì mùa gặt, họ cần nghi thức nầy, vì nghi thức đó lấy Đức Chúa Trời làm trung tâm, để gợi cho họ nhớ rằng trong hết thảy việc làm của họ, họ đang nương cậy vào quyền phép sáng tạo và nâng đỡ của Đức Chúa Trời vì ích cho họ. Người lao động lo gieo, lo giống, lo tưới, và trông đợi. Song chính Đức Chúa Trời mới là Đấng ban cho sự dư dật.
Các học giả Kinh Thánh đều tin rằng lễ kỷ niệm lấy tiếng kèn thổi về mặt tiên tri có ý nói tới các biến cố trong những ngày sau rốt
Về tiếng thổi của shofar, Alfred Edersheim, học giả nổi tiếng vào thế kỷ 19, ông viết: “Mục đích chính của tiếng kèn nầy là làm cho người ta phải ăn năn, thức tỉnh. Thực ra, nhà giải kinh Maimonides (1135-1204) sử dụng câu nói sau đây để chỉ rõ ý nghĩa của tiếng kèn thổi: ‘Hãy tỉnh thức, hãy thức dậy ra khỏi giấc ngủ say; hãy dậy đi, hãy dậy đi, đừng ngủ nữa, các ngươi chẳng biết chi hết, vì giấc ngủ triền miên đã phủ lấy các ngươi. Hãy nhận vào lòng, trước khi các ngươi trình sổ cho Đấng ngồi trên ngai phán xét”.
Tiếng shofar nhìn về tương lai
Nhiều người tin rằng Yom Teruah cũng có một ý nghĩa về mặt tiên tri. Bốn kỳ lễ đầu tiên đều có một sự tương quan đáng kể với các biến cố sau cùng trong đời sống của Chúa Jêsus (sự đến lần thứ nhất của Ngài). Nhiều học giả Kinh Thánh tin rằng Lễ Kỷ Niệm Lấy Tiếng Kèn Thổi về mặt tiên tri có ý nói tới các sự cố trong những ngày sau rốt (lần đến thứ hai của Ngài), tiếng kèn ấy sẽ kêu gọi dân Israel, và cả thế giới, đến với sự ăn năn trong tư thế chuẩn bị cho Vương quốc của Ngài đang kíp đến.
Hãy so sánh hy vọng về Đấng Mêsi như thế nầy với lời cầu nguyện Rosh Hashanah từ một quyển sách cầu nguyện của người Do thái Chính Thống: “Nguyện ý chỉ của Chúa được nên khi tiếng shofar mà chúng con thổi lên, thiên sứ sẽ vén bức màn lên khi Ngài chấp nhận tiếng kèn đó bởi Elijah và bởi Yeshua, Vương Tử (nghĩa là Vương Tử trong sự hiện diện của Ngài) và là Đấng đang ngồi trên ngai của Đức Chúa Trời. Nguyện Ngài đầy dẫy lòng thương xót đối cùng chúng con. Ngài đáng được ngợi khen, là Chúa của lòng thương xót” (Birnbaum, quyển Đàng Sau Bức Màn, trang 282).
Với lời cầu nguyện nầy, các nhà hội Do thái đã cầu khẩn Rosh Hashanah theo danh của Vua hầu đến của Đức Chúa Trời: Yeshua. Hầu hết các rabi Do thái đều khẳng định rằng phần tham khảo đến Yeshua đều chẳng liên quan gì tới Jêsus, là danh xưng được Anh ngữ hoá cho Yeshua (sát nghĩa là “sự cứu rỗi”). Một lý do cho việc chối bỏ Chúa Jêsus là Đấng Mêsi của Israel là ý kiến của các rabi cho rằng Đức Chúa Trời không hề đòi hỏi – cũng không chấp nhận – một sinh tế con người. Tuy nhiên, ngược lại với sự dạy nầy, có trong truyền khẩu thực hành của nhiều nhà hội ghi nhớ một ngày khi Đức Chúa Trời buộc Ápraham là cha phải dâng Ysác là con làm một sinh tế.
Tiếng shofar nhìn lại Ysác
Mỗi mùa thu trong những Ngày Lễ Thánh, các nhà hội trên khắp thế giới đều ghi nhớ ngày Akeidah (từ ngữ Hybálai nói đến việc “trói Ysác” như đã được mô tả trong Sáng thế ký 22.1-19). Dấu hiệu nổi bật nhất của Rosh Hashanah hay Yom Teruah là tiếng kèn làm bằng sừng cừu đực. Các rabi nhìn thấy một sự liên kết quan trọng giữa tiếng kèn nầy và chiên đực có tính cách thay thế mà Đức Chúa Trời đã cung ứng cho khi Ápraham sắp sửa dâng Ysác con trai một của mình làm một sinh tế trên núi Môria.
Một lý do cho việc chối bỏ Chúa Jêsus là Đấng Mêsi của Israel là ý kiến của các rabi cho rằng Đức Chúa Trời không hề đòi hỏi – cũng không chấp nhận – một sinh tế con người
Trong nhiều nhà hội, phần Akeida (trói Ysác) được đọc mỗi ngày trong tuần lễ suốt năm như một ghi nhớ, như đặc biệt từ lễ Rosh Hashanah đến lễ Yom Kippur đã được nhấn mạnh. Trong quá trình ấy, nhiều rabi dạy rằng khi Ápraham sắp sửa dâng Ysác trên Núi Môria (bối cảnh của ngọn núi có Đền Thờ), Ysác đã chết và đã sống lại.
Một quyển sách có đề tựa là Rosh Hashanah: Ý nghĩa, luật lệ và những lời cầu nguyện ghi rằng: “Đọc các tư liệu trong không những Talmud cho thấy rõ ràng Đức Chúa Trời có nghĩ tới Ysác như thể ông đã được thiêu trên bàn thờ” (trang 31). Một câu chuyện cho rằng Ysác kinh khủng đến nỗi ông đã chết trong sợ hãi, song khi nghe tiếng nói của thiên sứ Đức Giêhôva ông đã sống lại. Nếu chúng ta đọc câu chuyện của Kinh Thánh trong Sáng thế ký 22.1-19, chúng ta không thấy một hàm ý nào cho thấy Ysác đã chết hoặc thân thể ông bị thiêu hay đã sống lại nữa. Tuy nhiên, chúng ta học biết có một số điểm tương tự giữa Ysác và Người Con khác, là người, theo những nhân chứng trong Tân Ước, đã bị cha dù rất mực yêu thương dâng lên làm của sinh tế.
Hãy xem phần so sánh giữa Ysác và Yeshua trong Tân Ước. Cả hai đều là con của lời hứa. Sự đến của họ đã được hàng thiên sứ báo trước. Cả hai đều vào thế gian bằng phương tiện ra đời rất lạ lùng. Qua hai người cả thế gian đều được phước. Cả hai đều là con rất yêu dấu của cha họ. Họ sống không tì vít – cũng không người nào xứng đáng bị hình phạt. Cả hai đều đã mang lấy cây gỗ hình phạt của họ trên vai.
Phải chẳng Đức Chúa Trời đặt trong thần học và truyền khẩu của các rabi một manh mối cho lai lịch về chính Đấng Mêsi của Ngài?
Nhiều người tin rằng cả Chúa Jêsus và Ysác đều sắp được 30 tuổi ngay thời điểm họ chịu thử thách. Cả hai đều được đưa lên một hòn núi để làm sinh tế. Cả hai đều bằng lòng chịu giết, không nói một lời biện hộ nào; cả hai đều còn sống để nhìn thấy những kẻ kế tự của họ. Đây là một vài trong nhiều điểm tương đồng chúng ta có thể nhìn thấy giữa Kinh Thánh Hybálai và các sách Tin Lành trong Tân Ước.
Nếu chúng ta thêm vào phần so sánh quan điểm Chính Thống của người Do thái rằng Ysác đã bị dâng làm sinh tế, đã chết, và đã sống lại, chúng ta thấy còn có nhiều điểm tương đồng nữa. Một số rabi dạy: “Bụi tro của Ysác hiện hữu trước mặt Đức Chúa Trời luôn luôn là một sự nhắc nhớ sống động về giao ước của Ysác – vì con đường lên tới những cao điểm thuộc linh như Akeidah không bao giờ chết. Vì thế, đời sống của Ysác sau khi Akeidah thuộc về một thứ bậc khác hơn bất kỳ một thứ bậc nào. Ông là một sinh tế sống, được thánh hoá và rất thuộc linh” (Rosh Hoshanah – Its Significance, Laws & Prayers, trang 34).












NHỮNG PHÁC HỌA VỀ CHÚA JÊSUS TRONG CON NGƯỜI YSÁC
NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG
YSÁC
CHÚA JÊSUS
Một người Hêbơrơ
Sáng thế ký 21.3
Mathiơ 1.1
Đứa con của lời hứa
Sáng thế ký 17.19
Luca 2.29-32
Được thiên sứ báo trước
Sáng thế ký 18.10
Luca 1.26-33
Ra đời bằng phép lạ
Sáng thế ký 18.13
Luca 1.34-35
Phước hạnh cho thế gian
Sáng thế ký 22.18
Luca 2.29-32
Cha rất yêu thương
Sáng thế ký 22.2
Giăng 3.16
Không đáng bị hình phạt
Giả định
Hêbơrơ 7.26
Vác lấy cây gỗ
Sáng thế ký 22.6
Giăng 19.17
Khoảng 30 tuổi
Sáng thế ký 22.2
Luca 3.23
Được đưa lên một hòn núi
Sáng thế ký 22.2
Giăng 19.17
Bằng lòng chịu giết
Sáng thế ký 22.9
Công vụ Các Sứ đồ 8.32
Làm sinh tế
Theo rabi
I Côrinhtô 5.7
Sống lại
Theo rabi
Công vụ Các Sứ đồ 2.31
Sống để nhìn thấy dòng dõi mình
Sáng thế ký 25.21
Hêbơrơ 2.10
Có phải những cách so sánh như thế nầy, dù là theo Kinh Thánh hay theo truyền khẩu, chỉ là những điều tình cờ? Hoặc giả có phải Đức Chúa Trời đã đặt trong thần học và truyền khẩu của các rabi một manh mối cho lai lịch chính Đấng Mêsi của Ngài?
Những ngày kinh hãi
Vào kỳ lễ của mùa thu, Rosh Hashanah là phần khởi sự thời gian 10 ngày mà ai cũng biết là “Những ngày kinh hãi”. Trong các cộng đồng Do thái, việc thổi shofar được nối theo sau bằng một thời gian tự xét mình, khi những người đến thờ phượng xét lại nội tâm của họ vì những sai phạm trong tư tưởng và việc làm nghịch lại Đức Chúa Trời. Đó là những ngày ăn năn, khi những cá nhân ra sức sửa chữa lại những sai lầm mà họ đã phạm phải. Đó là thời gian sửa soạn cho ngày Phán xét hầu đến, Yom Kippur.
Trong khoảng thời gian nầy ở đền thờ, thời kỳ ăn năn và hồi phục nầy của cả nước là một biến cố hàng năm, và cứ tiếp diễn cho tới ngày hôm nay như một cách thực hành quan trọng giữa vòng những người nào tuân giữ các ngày lễ của Đức Chúa Trời.
NGÀY LỄ CHUỘC TỘI
(Yom Kippur)
“Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng: Ngày mồng mười tháng bảy nầy là ngày lễ chuộc tội; các ngươi sẽ có sự nhóm hiệp thánh; hãy ép tâm hồn mình và dâng cho Đức Giê-hô-va các của lễ dùng lửa dâng lên” (Lê vi ký 23.26-27).
Yom Kippur (sát nghĩa là “ngày bao phủ”) rơi vào ngày mồng mười tháng Tishri và dẫn tới phần kết thúc thời kỳ ăn năn đã khởi sự từ lúc Rosh Hashanah. Vào ngày lễ chuộc tội của xứ sở, thầy tế lễ thượng phẩm của đền thờ đã sử dụng nghi thức rất hấp dẫn và đầy màu sắc để tỏ ra sự Đức Chúa Trời bằng lòng tha thứ mọi tội lỗi của năm trước đó.
Bảy ngày trước Lễ Yom Kippur, từng nổ lực được thực hiện để biết chắc thầy tế lễ thượng phẩm về nghi thức đã được giữ trong tình trạng thanh sạch. Trong ngày nầy, ông ta phải chịu 5 lần ngâm mình trong nước và có một đoàn tuỳ tùng khoảng 500 người Lêvi đi tới chỗ nào ông đi, họ giúp canh chừng cho ông tránh được bất kỳ điều chi làm cho ông ra “không sạch”.
Trong từng ngày khác trong năm, thầy tế lễ thượng phẩm mặc bộ đồ đồng phục theo hình thức của mình, gồm có mũ triều thiên vàng, áo xống nhiều màu sắc, bảng đeo ngực, cùng những thứ trang sức đã được gắn theo danh xưng của các chi phái Israel. Tuy nhiên, vào ngày lễ chuộc tội, ông ta cởi bỏ bộ áo bình thường kia rồi khoác lấy một chiếc áo dài màu trắng duy nhất, chiếc áo màu trắng nầy chính là biểu tượng cho sự thanh sạch.
Vì ngày lễ chuộc tội là một ngày dâng con sinh tế, chiếc áo dài trắng của thầy tế lễ thượng phẩm không bao lâu nữa sẽ bị rải đầy huyết. Để chuộc tội cho những tội lỗi của mình, ông ta phải dâng một con bò đực trước mặt Đức Giêhôva. Kế đó để chuộc tội cho cả nước, thầy tế lễ thượng phẩm bắt lấy hai con dê đực rồi bắt thăm quyết định số phận của chúng. Nương theo lá thăm rơi về phía nào, một trong hai con dê đực kia được dâng làm sinh tế như một con sinh chuộc tội cho cả nước. Khi con dê đực làm sinh tế nầy đã được chỉ ra, thầy tế lễ thượng phẩm tuyên bố: “Vì Đức Giêhôva”, và đám đông những người đến thờ lạy sẽ sấp mặt xuống đất và hô lên: “Phước thay Danh Ngài; sự vinh quang của Nước Ngài là đời đời, vĩnh viễn”. Kế đó con dê đực bị giết chết.
Còn con dê đực kia, ai cũng biết là Azazel, là con dê hay báng, đã trở thành hình ảnh thứ hai cho sự chuộc tội cả nước. Trước hết thầy tế lễ thượng phẩm ra dấu đặt tội lỗi của cả nuớc lên đầu của con dê đực còn sống. Ông làm như thế bằng cách đặt cả hai tay lên đầu của con dê trong khi xưng ra tội lỗi của dân sự. Kế đó, với tội lỗi của dân sự trên đầu của con dê, thầy tế lễ thượng phẩm đuổi Azazel vào trong đồng vắng. Đó là bức tranh gây ấn tượng sâu sắc nói tới sự Đức Chúa Trời bằng lòng phân rẽ dân sự Ngài ra khỏi tội lỗi của họ. Trong thời gian có đền thờ thứ hai (515TC đến 70SC), con dê hay báng kia sẽ bị dẫn tới một dốc núi và bị đẩy xuống với sự biết chắc nó sẽ không còn quay trở lại nữa.
Của lễ nầy là bức tranh nói về một Đức Chúa Trời hay thương xót, có lòng quan tâm tới việc tẩy sạch những quá phạm nhỏ nhất
Kế đó, trong ngày duy nhất nầy của năm, thầy tế lễ thượng phẩm đã liều mạng sống mình mang huyết của con sinh tế vào Nơi Chí Thánh trong đền thờ của Đức Giêhôva. Ở đàng sau bức màn phân biệt Nơi Thánh với Nơi Chí Thánh, thầy tế lễ thựơng phẩm đã bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời để rải huyết của con sinh lên Ngôi Thương Xót bằng vàng bao phủ Hòm Giao Ước. Nếu có phương diện nào của nghi thức chưa trọn vẹn theo huấn thị của Đức Chúa Trời (Lê vi ký 16), thầy tế lễ thượng phẩm đi ra mà còn sống thì cả nước sẽ vui mừng vì đấy là thêm một năm Đức Chúa Trời đã chấp nhận con sinh vì cớ tội lỗi của họ.
Thêm một việc nữa cần phải lưu ý về con dê hay báng kia. Trong thời kỳ có đến thờ thứ hai, kinh Talmud ghi lại rằng người Lêvi đã cột lên sợi chỉ màu đỏ điều quanh cái sừng của Azazel. Sau khi con dê bị đưa lên dốc núi, những người chứng kiến được gọi đến gần để kiểm tra sợi chỉ. Trong nhiều thế kỷ, sợi chỉ nầy đã chuyển thành màu trắng rất lạ lùng, cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã chấp nhận của lễ của họ và đã tha thứ cả nước Israel. Người ta tin rằng điều nầy đã ứng nghiệm Êsai 1.18: “Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên”.
Kinh Talmud của nước Do thái ghi lại rằng 40 năm trước khi đền thờ thứ hai bị huỷ diệt, sợi chỉ không còn chuyển sang màu trắng nữa. Đó là một sự trùng khớp cùng thời điểm với sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus, khoảng năm 30SC, phải chăng các rabi chính họ đã nhìn thấy sự thật Đấng Chí Cao đã chối bỏ con sinh Azazel?
Yom Kippur: Nhìn về phía sau
Nhiều tín đồ trong cả hai nguồn gốc Do thái và dân Ngoại đều nhìn thấy trong các của lễ của ngày lễ chuộc tội một hình bóng nói trước về Đấng Mêsi là Đấng sẽ đến để làm sự cứu chuộc vì cớ tội lỗi chúng ta. Nhiều người tin rằng Êsai 53 nói tới một Đấng Cứu Thế chịu thương khó khi chép như sau: “Đức Giê-hô-va lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người, và khiến gặp sự đau ốm. Sau khi đã dâng mạng sống người làm tế chuộc tội, người sẽ thấy dòng dõi mình; những ngày người sẽ thêm dài ra, và ý chỉ Đức Giê-hô-va nhờ tay người được thạnh vượng” (câu 10). Sứ điệp dường như tỏ ra rằng Đấng Mêsi của chúng ta được phác hoạ ra có cả hai: sinh tế chuộc tội và Azazel, đang mang lấy tội lỗi chúng ta vào trong đồng vắng Gehenna (địa ngục) hầu cho mọi tội lỗi đỏ như son của chúng ta sẽ trở nên trắng như tuyết, và tội lỗi chúng ta sẽ được tẩy sạch trước mặt Quan Án của cả đất.
Đức Chúa Trời sẽ chấp nhận một sự hy sinh của Đấng Mêsi vì cớ tội lỗi vẫn còn là một quan niệm rất khó cho người Do thái chịu tin theo. Tuy nhiên, quan niệm về một của lễ như vậy đã bắt rễ trong thần học của những nhà giải kinh Do thái hạng rabi. Trưng dẫn sau đây đến từ quyển The Stone Edition: The Chumash: “Tại sao sự chết của người công bình được nhắc tới trong sự gắn bó với chương nói đến sự thờ phượng có Yom Kippur? Vì Yom Kippur đem lại sự chuộc tội, cũng một thể ấy sự chết của người công bình đem lại sự cứu chuộc”.
Yom Kippur: Nhìn vào nội tâm
Yom Kippur có ý nghĩa như thế nào với chúng ta ngày hôm nay? Đối với những ai xem của lễ dâng vì tội lỗi chúng ta đã được Đấng Mêsi của Đức Chúa Trời lập ra một lần đủ cả, lẽ thật nói về Yom Kippur có ý nghĩa rất lớn. Chúng ta không nhìn lại đàng sau theo cách sợ hãi nơi phần bình luận của kinh Talmud cho rằng sợi chỉ màu đỏ điều không còn đổi thành màu trắng như là minh chứng cho sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Thay vì thế, chúng ta có thể suy gẫm lại về ngôi mộ trống và nơi những bằng chứng về các lần hiện ra của Đấng mà sự sống lại hiển nhiên của Ngài xác chứng rằng cái giá của tội lỗi chúng ta đã được trả đầy đủ và chúng ta sẽ được Đức Chúa Trời tiếp nhận. Giờ đây chúng ta có thể xưng tội: “Phải, con đã ngồi lê đôi mách. Phải, con có tư dục trong lòng con. Phải, con đã giận dữ với anh em con. Phải, con quá kiêu ngạo. Phải, con đã không thìn mình và đã phạm tội chống nghịch Đức Chúa Trời trong nhiều cách lắm. Phải, con đã không yêu thương kẻ lân cận mình, và đã phạm tội chống nghịch Đức Chúa Trời bằng cách không cung ứng cho người khác những gì con mong muốn cho bản thân mình. Phải, con đã phạm tội, nhưng bởi huyết của Đấng Mêsi của Ngài, Đức Chúa Cha đã trả giá cho hình phạt”. Khi chúng ta đặt lòng tin cậy Ngài, thì Ngài sẽ tha thứ cho chúng ta.
Yom Kippur, Ngày Lễ Chuộc Tội, là một ngày nhắc nhớ tội lỗi của chúng ta và của dâng đã được lập vì ích cho chúng ta. Đây là một ngày để nhắc nhớ – và biết ơn – vì ân điển đã được ban ra qua của lễ trọn vẹn, đời đời là Chúa Jêsus Đấng Mêsi.
Yom Kippur: Nhìn tới trước
Ngày Lễ Chuộc Tội cũng chỉ ra cho chúng ta thấy được phần tương lai. Trên hai đầu gối của lời kêu gọi ăn năn trong những ngày sau rốt sẽ là một ngày hồi tưởng sau cùng cho hết thảy những ai không chịu ăn năn tội lỗi của mình. Theo các tiên tri Hêbơrơ, trong những ngày sau rốt sẽ có một Ngày của Đức Giêhôva, là ngày lớn và ngày kinh khiếp sẽ tỏ ra sự phán xét đang chờ đợi những ai không nắm lấy tiện ích của sự Đức Chúa Trời cứu chuộc. Ở đây chúng ta để cho Kinh Thánh phán về những người ấy:
“Đức Giê-hô-va làm cho vang tiếng ra trước mặt cơ binh Ngài; vì trại quân Ngài rất lớn; và những kẻ làm theo mạng lịnh Ngài rất mạnh. Thật, ngày của Đức Giê-hô-va là lớn và đáng khiếp; ai có thể đương lại?... Mặt trời sẽ đổi ra tối tăm, mặt trăng ra máu, trước khi ngày lớn và kinh khiếp của Đức Giê-hô-va chưa đến” (Giôên 2.11, 31).
“Vì nầy, ngày đến, cháy như lò lửa. Mọi kẻ kiêu ngạo, mọi kẻ làm sự gian ác sẽ như rơm cỏ; Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ngày ấy đến, thiêu đốt chúng nó, chẳng để lại cho chúng nó hoặc rễ hoặc nhành”Malachi 4.1).
Không một người nào có thể gỡ gạc chi được trong ngày Yom Kippur sau cùng. Ngày ấy sẽ là ngày vô vọng khôn tả cho hết thảy những ai đã dùng ngày tháng cuộc đời mình chống cự lại bằng chứng và mọi đòi hỏi của Đấng Mêsi của Đức Chúa Trời. Ngày đó sẽ trở thành một ngày thể hiện ra loại hối tiếc mà tiên tri Xachari nhất trí khi ông viết:
“Ta sẽ đổ thần của ơn phước và của sự nài xin ra trên nhà Đa-vít, và trên dân cư Giê-ru-sa-lem; chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm; và chúng nó sẽ thương khóc, như là thương khóc con trai một, sẽ ở trong sự cay đắng, như khi người ta ở trong sự cay đắng vì cớ con đầu lòng. Trong ngày đó, sẽ có sự thương khóc lớn tại Giê-ru-sa-lem, như là sự thương khóc của Ha-đát-Rim-môn ở trong đồng bằng Mê-ghi-đô. Đất nầy sẽ thương khóc, mỗi họ riêng phần mình: họ của nhà Đa-vít riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; họ của nhà Na-than riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; họ của nhà Lê-vi riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; Họ Si-mê-y riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; phàm những họ còn sót lại, mỗi họ riêng ra, và những vợ chúng nó riêng ra” (Xachari 12.10-14).
Hy vọng trong tương lai của những người chối bỏ không nhận Chúa Jêsus là Đấng Mêsi sẽ như thế nào – khi không có đền thờ, không có thầy tế lễ. Và không có của lễ Yom Kippur để bảo đảm cho họ về lòng thương xót và sự tha thứ của Đức Chúa Trời? Họ có tìm được sự bảo đảm trong sự họ ăn năn, cầu nguyện, và các việc lành, với hy vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ tha thứ chăng? Môise nói:
“vì sanh mạng của xác thịt ở trong huyết; ta đã cho các ngươi huyết rưới trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn mình; vì nhờ sanh mạng mà huyết mới chuộc tội được” (Lê vi ký 17.11).

Không một người nào có thể gỡ gạc chi đượctrong ngày Yom Kippur sau cùng
Sau khi đền thờ bị huỷ diệt vào năm 70SC, các rabi từ thế giới thời ấy nhóm lại trong một kỳ hội nghị – Hội nghị Yavneh. Mục đích của họ là quyết định tương lai sự thờ phượng của người Do thái khi không có thầy tế lễ hay của lễ. Tập tục tôn giáo đã thiết lập tại Yavneh là cơ sở cho Do thái giáo hiện đại tuỳ thuộc các rabi và cứ giữ mãi không đổi trong thời gian gần 2.000 năm. Rabi Yochanan Ben-Zakkai, thành viên có uy tín nhất của Hội nghị và vẫn là một nhà giải kinh tài ba, ông đã tỏ ra ít tin tưởng vào khả năng của hệ thống nhà hội mới hòng cứu linh hồn ra khỏi sự phán xét. Trên giường nằm chờ chết, vị rabi thổ lộ: “Giờ đây, tôi sắp bị dẫn tới trước mặt Vua tối cao của các vua, là Đấng Thánh, Ngài phước hạnh thay, Ngài hằng sống đời đời. Nếu Ngài bỏ tù tôi, Ngài bỏ tù tôi cho đến đời đời. Nếu Ngài bắt tôi phải chết, Ngài bắt tôi chết cho đến đời đời. Tôi không thể can ngăn Ngài bằng lời lẽ hay hối lộ Ngài bằng tiền bạc được. Hơn nữa, có hai con đường ở trước mặt tôi; một con đường dẫn tới Thiên đàng và con đường kia dẫn tới địa ngục, và tôi không biết tôi sẽ đi con đường nào. Tôi chỉ có khóc thôi, chứ không biết phải đi đường nào?” (B’rakhot 28b kinh Talmud).
Trong sự ứng nghiệm của ngày lễ chuộc tội, có bằng chứng tỏ ra rằng Đức Chúa Trời không để chúng ta lại trong vô vọng hay không có sự cứu chuộc
Trong sự ứng nghiệm của ngày lễ chuộc tội, có bằng chứng tỏ ra rằng Đức Chúa Trời không để chúng ta lại trong vô vọng hay không có sự cứu chuộc. Ngài không để chúng ta lại không có hy vọng, không có của lễ, hay không có một phương thức hiểu biết lòng thương xót của Ngài. Trong hình ảnh của Akeida, và trong hình ảnh của lễ dâng vì tội lỗi Yom Kippur, chúng ta có thể thấy bản chất và hình bóng nói trước về Đấng Mêsi của Đức Chúa Trời, sự bảo đảm ơn cứu rỗi của chúng ta. Các hình ảnh nầy không phải chỉ là những điểm tương đồng hay trùng khớp ngẫu nhiên đâu. Đấy là sự khải thị của Đức Chúa Trời cho Israel – và cho tất cả các nước.
LỄ LỀU TẠM
(Sukkot)
“Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ngày rằm tháng bảy nầy là lễ lều tạm, trải qua bảy ngày đặng tôn kính Đức Giê-hô-va” (Lê vi ký 23.34).
Năm ngày sau Ngày Lễ Chuộc Tội, kỳ lễ sau cùng trong các kỳ lễ mùa thu bắt đầu. Sukkot (tiếng Hêbơrơ chỉ về “lều rạp”) được biết đến bằng nhiều danh dưng khác nhau: Lễ Lều Tạm, Lễ Mùa Gặt (Xuất Êdíptô ký 23.16), Lễ Của Đức Giêhôva (Lê vi ký 23.39), và Lễ Cung Hiến Đến Thờ Của Vua Solomon (I Các Vua 8.2). Mỗi danh xưng phản ảnh một phương diện đặc biệt trong sự tuân giữ hàng năm nầy. Như chúng ta sẽ thấy, kỳ lễ nầy trưng ra một hình ảnh đẹp tỏ ra thể nào Đức Chúa Trời đã tiếp trợ cho dân sự Ngài trong quá khứ, cung ứng trong hiện tại, và sẽ cung cấp trong tương lai.
Sukkot trong quá khứ
Về mặt lịch sử, Sukkot là một ngày lễ ghi nhớ bằng những cách thức tượng trưng và lắm màu sắc 40 năm dân Israel còn phiêu bạt trong đồng vắng sinh sống trong lều rạp. Trong bốn thập niên, dân Hêbơrơ hoàn toàn nương cậy vào sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Áo xống và giày dép của họ không cũ mòn (Phục truyền luật lệ ký 29.5), và họ – cùng các bầy chiên của họ – không thiếu nước cũng không thiếu đồ ăn (Nêhêmi 9.154, 20-21). Đức Chúa Trời đã tiếp trợ cho mọi sự.
Trong sự ghi nhớ về lần tiếp trợ lạ lùng nầy, Giêhôva Đức Chúa Trời đã truyền cho dân Do thái phải “đóng trại bên ngoài” nơi cư ngụ tạm thời để nhớ lại thể nào Ngài đã tiếp trợ cho các tổ phụ họ:
“Hết thảy ai sanh trong dòng Y-sơ-ra-ên sẽ ở nơi trại trong bảy ngày, hầu cho dòng dõi các ngươi biết rằng khi ta đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, ta cho họ ở trong những trại: Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi” (Lê vi ký 23.42-43).
Là một trong ba kỳ hành hương, cùng với Lễ Vượt Qua (Pesach) và Lễ Ngũ Tuần (Shavuot), Lễ Lều Tạm (Sukkot) là Lễ thứ ba được ấn định cho tất cả người nam Do thái phải đến thành Giêrusalem với của dâng phần mười và các thứ của dâng khác. Vào thời điểm nầy trong năm, và trong 8 ngày của lễ Sukkot, thành Giêrusalem sẽ đầy ắp với dân sự. Đến ngày 15 tháng Tishri, thường dân khoảng 600.000 người tăng lên khoảng giữa 2 và 3 triệu người.
Giữa đám đông người và tiếng ồn ào của sinh hoạt, các thầy tế lễ của đền thờ đều có việc không dứt cần phải lo làm. Đàng sau bối cảnh sinh hoạt của đền thờ, họ tiếp nhận các huấn thị ban cho họ trong kinh Torah. Phần hành của họ là dâng sinh tế khoảng 70 con bò đực trong suốt kỳ lễ Sukkot (Dân số ký 29.12-39). Các thầy thông giáo và rabi Do thái áp dụng chính xác đối với huấn thị nầy.
Trong hệ thống con sinh, bò đực đã được dâng lên vì ích cho một nước hay nhiều nước. Vào ngày lễ Yom Kippur, thầy tế lễ thượng phẩm dâng một con bò đực vì tội lỗi của mình khi ông đại diện cho cả dân Israel. Trong lễ Sukkot, nhiều rabi đòi hỏi, 60 con bò đực tiêu biểu cho 70 quốc gia ra từ Nôê, các tổ phụ của các dân Ngoại trên thế gian. Những con bò đực nầy, theo các học giả Hêbơrơ , đã được dâng làm sinh tế cầu xin sự bình an và thịnh vượng trong dân Ngoại, mong rằng một ngày kia họ sẽ hiểu biết Đức Chúa Trời của Ápraham, Ysác, và Giacốp. Đây là lẽ đạo hiện hữu trong hàng trăm năm và, dù nhiều người Do thái cứ khăng khăng không biết tới nó, những lời cầu nguyện của họ đều được đáp trả: Những người dân ngoại nào tin Đấng Mêsi của Israel đều được tháp vào (Rôma 11.17-24) và trở thành con nuôi của Ápraham (Galati 3.29).
Sukkot ngày nay
Ngày nay lều rạp Sukkot khoác lấy nhiều hình thái và đặc điểm. Trong các thành thị như thành Giêrusalem, Tiberias, Tel Aviv, hay trong các vùng phụ cận của Brooklyn, New York, quý vị sẽ nhìn thấy những chỗ trú ngụ tạm bằng gỗ (sukkahs) được cất trên các sân thượng. Trong các khu dân cư, chúng thường được dựng trực tiếp bên cửa sau của ngôi nhà. Chúng được trang trí với nhiều ngọn đèn và cành nho đủ màu sắc. Trái cây được treo thòng xuống từ mái trên bằng lưới thép được che phủ bằng những lá kè (trong khu vực nhiệt đới) hoặc những cây bắp. Trong hầu hết các sukkahs, một bức tranh được treo lên nói về “sông nước hằng sống”, vì Sukkot là kỳ lễ dẫn tới mùa mưa trong xứ Israel.
Những tập tục hàng năm trong lễ Sukkot giữ một sự nhắc nhớ rất thực, rất năng động về thể nào Đức Chúa Trời nhơn lành đã chăm lo cho dân sự Ngài khi họ lưu lạc trong 40 năm ở đồng vắng trơ trụi Sinai. Thời gian nầy là một kỳ nghỉ trong một thế giới bận rộn, là một trong số 52 tuần lễ, để ghi nhớ sự thành tín của Đức Chúa Trời tiếp trợ cho dân sự Ngài và để dâng cho Ngài sự vinh hiển mà Ngài đáng được.
Trong những lần lang thang phiêu bạt qua cuộc sống của chúng ta, Đức Chúa Trời là Đấng Tiếp Trợ không thấy được, là Đấng thành tín cùng chúng ta dù khi chúng ta đã quên phứt Ngài
Các bài học đầy màu sắc về Lễ Lều Tạm có một phần ứng dụng cho những ai đạt tới mức hiểu biết Đức Chúa Trời của Ápraham, Ysác và Giacốp. Phần ứng dụng trội hơn cả người Do thái. Những tín đồ trong Chúa Jêsus có xu hướng, đặc biệt trong những lúc thịnh vượng, quên rằng mọi sự chúng ta có, chúng đến với chúng ta từ bàn tay của Đức Chúa Trời. Thật lấy làm tốt khi nhớ Đức Chúa Trời tiếp trợ cho chúng ta từng bước trong cuộc sống của chúng ta, y như Ngài đã tiếp trợ cho con cái Israel trong đồng vắng vậy. Trong những chuyến phiêu lưu của chúng ta qua cuộc sống, Ngài là Đấng Tiếp Trợ không thấy được, là Đấng thành tín cùng chúng ta dù khi chúng ta quên phứt Ngài. Ngài là Đấng phán: “Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu” (Hêbơrơ 13.5).
Trong một điểm tương đồng đáng nhớ về dân Israel xưa kia, chúng ta đang sống, đang thở, và đang bước đi trong loại “lều tạm”. Trong loại lều tạm thân thể của chúng ta, chúng ta phiêu bạt qua “đồng vắng” của cuộc sống nương cậy vào sự tiếp trợ của Đấng Chí Cao. Ngài là Đấng tiếp trợ cho chúng ta khi chúng ta lên đường trực chỉ vào chuyến hành trình đáng ngạc nhiên của chính mình.
Sukkot trong tương lai
Trong tương lai, Lễ Lều Tạm sẽ là một ngày lễ quốc tế. Theo tiên tri Xachari, trong những ngày sau rốt, kỳ lễ nầy sẽ là một ngày lễ toàn cầu:
“Xảy ra hết thảy những kẻ nào còn sót lại trong mọi nước lên đánh Giê-ru-sa-lem, sẽ lên đó hàng năm đặng thờ lạy trước mặt Vua, là Đức Giê-hô-va vạn quân, và giữ lễ lều tạm” (Xachari 14.16).
Trong sự trị vì một ngàn năm, khi Đấng Mêsi của Israel ngự trên ngôi tại thành Giêrusalem, thể chế về Sukkot sẽ trở thành một phép ẩn dụ. Sukkot sẽ là một thực tại hàng năm. Thực tại, lễ nầy quan trọng đến nỗi đó sẽ trở thành một lời cảnh báo quan trọng được ban ra cho các nước nào không giữ Lễ Lều Tạm:
“Trong những họ hàng trên đất, kẻ nào đã chẳng lên Giê-ru-sa-lem đặng thờ lạy trước mặt Vua, là Đức Giê-hô-va vạn quân, thì sẽ không có mưa trên chúng nó. Nếu họ hàng Ê-díp-tô không lên và không đến đó, thì mưa cũng không xuống trên chúng nó; và chúng nó sẽ bị ôn dịch nầy, là ôn dịch mà Đức Giê-hô-va đã dùng phạt các nước không lên giữ lễ lều tạm” (Xachari 14.17-18).
Trong Lề Lều Tạm vào những ngày sau rốt, cả thế gian sẽ cử hành những gì đã bị che kín trong Đấng Mêsi ở những ngày trước khi Ngài chết và sống lại. Đức Chúa Trời sẽ sống giữa chúng ta trong thân vị của Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài sẽ được tôn cao không những bởi dân Israel, mà còn bởi tất cả thế giới như Đấng Tiếp Trợ, là Đấng đã ban sự sống cho chúng ta hầu cho chúng ta nhìn biết Ngài.
Khi Đức Chúa Trời sống giữa dân sự Ngài, tất cả thế giới sẽ lên đường sang thành Giêrusalem, đặng thờ lạy Chiên Con của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ được tỏ ra là Sư Tử của Nhà Giuđa
Trong ngày có sự hiện diện của Đấng Mêsi nầy, Lễ Lều Tạm sẽ là sự ứng nghiệm hoàn toàn sáu kỳ lễ đầu tiên. Khi Đức Chúa Trời sống giữa vòng dân sự Ngài, tất cả thế giới sẽ lên đường sang thành Giêrusalem, đặng thờ lạy Chiên Con của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ được tỏ ra là Sư Tử của Nhà Giuđa.
Ngày trọng thể trong kỳ lễ
(Hossanah Rabbah hay Sh’mini HaEretz)
“Trong bảy ngày phải dâng các của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va; qua ngày thứ tám, các ngươi có một sự nhóm hiệp thánh nữa, cũng dâng của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Ay sẽ là một hội trọng thể; chớ nên làm một công việc xác thịt nào hết” (Lê vi ký 23.36).
Sukkot là một kỳ lễ gồm 8 ngày kết thúc với tập tục mà ai cũng biết là Hossanah Rabbah, được dịch trong các bản Kinh Thánh Anh ngữ là “ngày trọng thể trong kỳ lễ”. Dù lễ nầy được cử hành giữa vòng những người Do thái, quý vị sẽ không thấy danh xưng ấy trong bản Kinh Thánh Hêbơrơ, mà chỉ thấy trong Tân Ước sách Tin Lành Giăng (7.37).
Trong thời gian có đền thờ thứ hai, Hossanah Rabbah đã phát triển thành một ngày khi dân Do thái đến với đền thờ tay vẫy nhánh chà là, nhành liễu, nhành mía, mang theo quả chanh, và cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban mưa xuống. Mùa thu hoạch nho, lựu, chanh đã đi tới chỗ dứt điểm. Giờ đây Israel cần mưa xuống cho vụ mùa tới, mùa gặt lúa trùng khớp với Lễ Vuợt Qua và Lễ Ngũ Tuần.
Vào “ngày trọng thể trong kỳ lễ” nầy, thầy tế lễ thượng phẩm sẽ lấy “nước hằng sống” (theo nghi thức là nước sạch từ Ao Silôê) chứa trong mấy cái bình bằng vàng. Giữa lúc tiếng shofar trổi lên từ đền thờ, mấy cái bình bằng vàng nầy được đem lên bàn thờ thánh. Ở đó nước sẽ được trộn với rượu mới, khi các thầy tế lễ và dân sự đang cầu xin Đức Chúa Trời ban “mưa cuối mùa” xuống đất. Khi nước và rượu hoà nhau, họ đọc các phân đoạn từ Kinh Thánh Hêbơrơ về mưa để “nhắc cho Đức Chúa Trời nhớ” đổ ra Thánh Linh Ngài, là Đấng được kết vào trí của người Do thái với mưa. Thí dụ:
“vì ta sẽ rót nước trên kẻ khát, cho suối chảy nơi đất khô. Ta sẽ đổ Thần ta trên dòng dõi ngươi, và phước lành ta trên những kẻ ra từ ngươi” (Êsai 44.3).
Chính trong buổi thờ phượng nầy, khi nước và “huyết” (của trái nho) được rót ra, khi dân sự cầu xin Thánh Linh của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus bèn đứng dậy và phán rằng: “Ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy” (Giăng 7.37-38).
“Ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy” (Giăng 7.37-38).
Ngài là Đấng đã đổ nước và huyết từ hông Ngài ra (Giăng 19.34; I Giăng 5.6) đã hứa rằng nước hằng sống sẽ tuôn tràn từ những ai chịu tin nơi Ngài. Khi nói như vậy Ngài có ý ám chỉ đến Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Một trong các rabi nổi tiếng nhất của Do thái giáo, Rashi, nói rằng sự tuân giữ nước và huyết trộn pha với nhau như thế nầy là kỳ lễ vui mừng nhất trong tất cả mọi lễ lạc của người Do thái và là một sự ứng nghiệm trực tiếp Êsai 12.3: “Vậy nên các ngươi sẽ vui vẻ mà múc nước nơi các nguồn sự cứu”.
Giống như trong những ngày lễ của Đức Chúa Trời (“những kỳ định của Đức Giêhôva”), một lần nữa chúng ta lại gặp gỡ Chúa Jêsus, vì trong câu nầy từ Hybálai được dịch là “sự cứu” chính là chữ Yeshua (theo tiếng Hybálai có nghĩa là Jêsus).
Êsai 12.3 sẽ được dịch là: “Vậy nên các ngươi sẽ vui vẻ mà múc nước nơi các nguồn của Chúa Jêsus”.
Vui vẻ trong kinh Torah (Simchat Torah)
Đây không phải là một ngày lễ theo Kinh Thánh, mà là một ngày lễ theo tập tục. Ngày nầy rơi lập tức vào đúng sau ngày Hossanah Rabbah ở bên ngoài Israel (song cùng một ngày trong Israel), và là một ngày lễ kỷ niệm trọng thể khác. Trong các cộng đồng Do thái trên khắp thế giới, những người đến thờ phượng nhóm lại với nhau trong các nhà hội và mở cuộn giấy kinh Torah ra. Không giống như quyển sách có thể lật từng trang, mà là một quyển sách dài liên tục. Khi người ta đọc đến cuối sách Phục truyền luật lệ ký – nhằm vào ngày Simchat Torah – cuộn giấy sẽ được cuộn ngược lại cho tới sách Sáng thế ký. Cộng đồng Do thái nhóm lại để nghe đọc những lời sau cùng của sách Phục truyền luật lệ ký:
“Về sau, trong Y-sơ-ra-ên không còn dấy lên tiên tri nào giống như Môi-se, mà Đức Giê-hô-va biết giáp mặt. Không có ai bằng người, hoặc về các dấu kỳ, phép lạ mà Đức Giê-hô-va sai người làm tại trong xứ Ê-díp-tô, trước mặt Pha-ra-ôn, các quần thần, và cả xứ của người; hoặc hết thảy công việc lớn lao và đáng sợ mà Môi-se cậy tay quyền năng mình làm tại trước mặt cả Y-sơ-ra-ên., là sông Ơ-phơ-rát, tràn cả xứ dân Hê-tít cho đến biển cả về hướng mặt trời lặn” (Phục truyền luật lệ ký 34.10-12).
Lễ kỷ niệm long trọng, âm nhạc, và nhảy múa trổi lên khi cuộn giấy được cuốn ngược lại đến chỗ “ban đầu”, khi họ nghe đọc những lời tuyên bố đầu tiên trong sách Sáng thế ký: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng thế ký 1.1).
Với cái liếc mắt lần đầu tiên, một thế giới không phải là Do thái phải nhìn thấy ngày lễ theo các rabi như thế nầy như có chút gì thích đáng hoặc quan trọng. Dù vậy, trong thế kỷ thứ nhất, một trong các tước hiệu của Chúa Jêsus là “Torah hằng sống” – Lời Hằng Sống của Đấng Chí Cao. Trong sách Tin Lành Giăng chúng ta đọc:
“Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời” (Giăng 1.1-2).
GẶP GỠ ĐẤNG MÊSI
Nếu chúng ta đã đọc hết bài học nầy, quý vị đã gặp gỡ Đấng Mêsi mà về Ngài sứ đồ Giăng đã nói tới rất nhiều lần. Sự hiện diện của Ngài trong các kỳ lễ của Đức Chúa Trời không phải là ngẫu nhiên đâu. Niềm vui mừng trong các kỳ lễ nầy cũng không phải là một sự ngẫu nhiên cho những ai khám phá ra rằng tất cả hình thức biểu tượng và ý nghĩa sâu sắc được kỷ niệm trong các ngày lễ của Đức Chúa Trời đã đến với chúng ta trong thân vị của chính Sự Hiện Diện của Đức Chúa Trời:
Hoặc, chắc chắn quý vị phải hỏi lòng rằng: “Lẽ nào Jêsus là Đấng Mêsi đã được hứa cho?” Cùng với hàng triệu người dân Ngoại, có hàng trăm hàng ngàn người nam người nữ Do thái, họ tin rằng Chúa Jêsus chính là Moshiach (Đấng Mêsi) được hứa cho:
“Vì, ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức tường ngăn cách, là sự thù nghịch đã phân rẽ ra, bởi vì Ngài đã đem thân mình mà trừ bỏ luật pháp của các điều răn chép thành điều lệ. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài muốn lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài, và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời” (Êphêsô 2.14-16).
Những môn đồ của Chúa Jêsus đến từ mọi ngã đường của cuộc sống và từ mọi cấp độ học vấn. Họ tin Ngài đã đến một lần, y như Kinh Thánh đã nói trước, và Ngài sẽ tái lâm trong sự ứng nghiệm các lời tiên tri thánh.
Nếu quý vị sẵn sàng tiếp nhận Chúa Jêsus vào trong đời sống của quý vị bởi một hành động của đức tin, chúng tôi khuyên quý vị nên thốt ra một lời tương tự với lời cầu nguyện nầy cùng Đấng Tạo Hoá của linh hồn quý vị:
“Ngài phước hạnh thay. Ôi Giêhôva Đức Chúa Trời của chúng con, là Vua của vũ trụ, là Đấng ban lẽ thật của Ngài cho những ai tìm kiếm lẽ thật ấy. Giờ đây con đến với Ngài không có một công trạng chi hết, con mời Ngài đến và ngự vào lòng con, rồi dời xa mọi quá phạm của con theo chương trình thiêng liêng của Ngài. Dù là những sai phạm của con đỏ như son, xin phiếu chúng ra trắng như tuyết nhờ sinh tế thánh của Ngài, là Chúa Jêsus Đấng Mêsi. Con cầu nguyện trong danh của Ngài. Amen”.
Nguyện ngày nầy sẽ là một ngày đầy sự vui mừng cho quý vị.

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

NHỮNG NGÀY LỄ CỦA MÙA XUÂN



NGÀY LỄ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
NHỮNG NGÀY LỄ CỦA MÙA XUÂN
Nếu người Do thái hay tuân thủ các kỳ lễ là đúng, thì chu kỳ lễ lạc xưa của dân Israel là quan trọng mãi mãi cho việc ghi nhớ những lần tiếp trợ của Đức Chúa Trời cho quá khứ, hiện tại và tương lai của dân sự Ngài.
Nếu những người tin theo Đấng Christ là đúng, thì cũng chu kỳ lễ lạc nầy chính là thứ báu vật mãi mãi của dân Israel. Những lễ lạc của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh cũng là một kiểu mẫu cho những hình bóng được ứng nghiệm nơi Đấng Mêsi, là Đấng đã đến trong chặng thứ nhất của chương trình có hai phần để giải cứu dân sự Ngài và tể trị thế gian.
Trong những trang sau đây, trước giả Kevin William thuộc ban biên tập Hội truyền giáo RBC cung ứng cho chúng ta phần thứ nhất trong nghiên cứu có hai phần về “những ngày lễ lạc của Đức Chúa Trời”. Với nhiều năm kinh nghiệm trong các hội chúng của Đấng Mêsi, Kevin cho chúng ta thấy mối quan hệ quan trọng giữa chu kỳ lễ lạc hàng năm của người Do thái, và ý nghĩa đáng ngạc nhiên về phương diện tiên tri của chúng đối với mọi dân mọi nước.
Martin E De Hann II
Những ngày lễ của Đức Chúa Trời
Những ngày lễ của mùa xuân:
1./ Lễ Vượt Qua (Pesach)
2./ Lễ Bánh Không Men (Chag HaMatzot)
3./ Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa (Habikkurim)
4./ Lễ Ngũ Tuần (Shavuot)
Những ngày lễ của mùa thu:
5./ Lễ Kỷ Niệm Lấy Tiếng Kèn Thổi (Rosh Hashanah)
6./ Lễ Chuộc Tội (Yom Kippur)
7./ Lễ Đền Tạm (Sukkot)
***
NHỮNG NGÀY LỄ CỦA MÙA XUÂN
“Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va các ngươi hãy rao truyền ra là các hội thánh” (Lê vi ký 23.1-2).
Với những lời lẽ nầy, Đức Giêhôva của dân Israel đã thiết lập một chu kỳ những ngày lễ hàng năm vẫn được kính trọng trong các cộng đồng của người Do thái trên khắp thế giới. Dù là Chính Thống, Bảo Thủ, hay Cải Chánh; dù là người Nga, người Yemen, hay người Mỹ, những ngày lễ nầy hình thành một chuỗi phổ thông trong nền văn hoá toàn cầu của người Do thái.
Theo ngôn ngữ Hybálai, chữ nói đến: “những ngày lễ của Đức Giêhôva” có thể được phát âm là mo-a-dim. Chữ nầy khi được chuyển qua Anh ngữ đã được dịch là “kỳ định” hay “những ngày lễ đã được ấn định”. Phần nhấn mạnh nầy phản ảnh tầm mức quan trọng mà Đức Chúa Trời của Kinh Thánh đã gắn cho những ngày ấy.
“Những ngày lễ nầy còn có ý nghĩa sâu xa
hơn cả dân tộc và văn hoá của Israel”
Những kỳ định nầy của Đức Giêhôva là quan trọng vì nhiều lý do. Trước hết, chúng là một phần của hệ thống “thời gian không tính” [time-outs] của dân tộc. Đồng thời, chúng cung ứng những cơ hội hàng tuần, hàng tháng và hàng năm để yên nghỉ đối với mọi lề thói và công việc bình thường của cuộc sống mỗi ngày. Đấng Tiếp Trợ cho Israel đã ấn định những “khoảng thời gian không tính” nầy và các kỳ định để yên nghỉ, để suy gẫm và để thờ phượng. Chúng là những giáo hội nghị thiêng liêng kêu gọi dân sự của Đức Chúa Trời nhóm lại không những trong nét huy hoàng và tráng lệ của đền thờ, mà còn trong nơi ở yên tĩnh và đơn sơ của từng gia đình ở trên đất. Đồng thời, những kỳ định nầy hình thành một hệ thống của các hồi tưởng. Những kỳ định của Đức Giêhôva cung ứng cho từng gia đình, dù giàu hay nghèo, một cơ hội để nhớ lại quyền phép và tình yêu thương đáng kính sợ của Đức Chúa Trời của Ápraham, Ysác và Giacốp.
Tuy nhiên, thật là quan trọng cho chúng ta khi hiểu rõ chu kỳ của những ngày lễ nầy không phải chỉ là văn hoá của người Do thái mà thôi. Thậm chí chúng còn nối kết với vòng quay nông nghiệp của đất đai Israel và những cơ hội được sử dụng để thuật lại các tuyện tích nói tới sự sinh tồn và nguồn gốc của người Do thái, các kỳ lễ nầy cung ứng một toàn cảnh lịch sử có nhiều hàm ý mạnh mẽ cho toàn thể mọi gia đình trên thế gian. Được xem xét theo cách riêng và chung với nhau, các kỳ lễ nầy đang tô vẻ một bức tranh rất hấp dẫn nói tới công tác trong quá khứ, hiện tại và tương lai của Đấng Mêsi, Ngài là nguồn sự sống, hy vọng và bình an cho các dân các nước trên thế giới.
LỄ VƯỢT QUA (PESACH)
“Đến ngày mười bốn tháng giêng, vào buổi chiều tối, ấy là lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va; qua ngày rằm tháng nầy, ấy là lễ bánh không men để kính trọng Đức Giê-hô-va; các ngươi sẽ ăn bánh không pha men trong bảy ngày” (Lê vi ký 23.5-6).
Lễ Vượt Qua được tổ chức vào ngày 14 tháng Nisan của người Do thái. Từ lúc ba kỳ lễ, Lễ vượt Qua, hay Pesach như được gọi theo tiếng Hybálai, đã được tổ chức vào ngày trăng rằm của một tháng theo nguyên văn có nghĩa là: “cuộc tháo chạy của họ” (their flight). Mặc dù Nisan thường tương đương với Tháng Ba/Tháng Tư theo lịch của người Lamã, và mặc dù các cộng đồng Do thái ngày nay tổ chức Năm Mới của họ vào ngày đầu tiên của tháng Bảy (Tháng 10/Tháng 11 Dương Lịch). Nisan là tháng đầu tiên của “những kỳ lễ mà Đức Giêhôva đã ổn định”.
Ngày 14 của tháng “tháo chạy của họ” quay nhìn lại nguồn gốc của Lễ Vượt Qua đầu tiên ra khỏi Aicập vào khoảng năm 1450TC, Đức Chúa Trời của Kinh Thánh đã yêu cầu dân sự Ngài phải sử dụng ngày nầy để ghi nhớ thể nào Ngài đã giải cứu các tổ phụ họ ra khỏi sự thờ lạy hình tượng và vòng nô lệ của xứ Aicập.
Mục đích của Lễ Vượt Qua đã được xem trọng. Vào ngày 14 tháng Nisan, các bậc phụ huynh Do thái thường giữ lễ hay thuật lại cho con cháu họ biết thể nào Đức Chúa Trời đã giải cứu tổ phụ họ ra khỏi vòng nô lệ về kinh tế và sự tối tăm thuộc linh. Chính tại kỳ lễ Vượt Qua mà bậc cha mẹ người Do thái vẫn còn mô tả thể nào Đức Chúa Trời đã sử dụng 10 trận dịch lệ để phá vỡ cái siết chặt ngoan cố của Pharaôn. Những trận dịch đã khởi sự với việc “giết sông Nilơ”, là con sông đã được người Aicập thờ lạy như một nguồn sự sống. Những trận dịch đã kết thúc chỉ sau khi Đức Chúa Trời cất đi mạng sống từng con trai đầu lòng của xứ Aicập (Xuất Êdíptô ký 11.5-12; 12.29).
Trận dịch sau cùng mang tính quyết định đó đã đến trong ngày trăng rằm của tháng Nisan. Môise, vị lãnh tụ của dân Israel, đã ra huấn thị cho từng gia đình người Do thái phải hy sinh một chiên con, lấy huyết của nó – “dấu hiệu nói tới sự sống theo Kinh Thánh – rồi với một cái chổi quét huyết của chiên con lên mày cửa nhà họ (Xuất Êdíptô ký 12.22).
“Câu chuyện nói tới sự giải cứu dân Israel ra khỏi Aicập là một bức tranh không những nhắc lại quá khứ, mà còn là một bức tranh nói tới sự giải cứu trong tương lai nữa”.
Vào buổi tối của Lễ Vượt Qua đầu tiên đó, Đức Giêhôva đã thăm viếng Aicập như một thiên sứ của sự chết. Theo Kinh Thánh, Đức Giêhôva đã cất đi mạng sống của từng đứa con đầu lòng – cả người và gia súc – trừ ra nơi mà Ngài nhìn thấy có huyết bôi trên mày cửa. Chỉ ở những nơi có huyết bôi trên mày cửa, Ngài sẽ “Vượt Qua” và buông tha mạng sống của con đầu lòng trong nhà đó (Xuất Êdíptô ký 12.23).
Để hiểu rõ việc giết chiên con Lễ Vượt Qua, thật là quan trọng khi biết rõ trong xã hội Ai cập chiên con, hay cừu (một con chiên đực), tiêu biểu cho một vị tà thần của người Aicập có tên là Amon. Amon, tên nầy có nghĩa là “kẻ kín giấu”, được xem là vua của các thần và là nguồn của mọi sự sống ở trên trời dưới đất. Theo cung Hoàng Đạo của người Aicập, Nisan là tháng chính của thần nầy, và ngày 15 của tháng ấy nhằm ngày trăng tròn được mọi người Aicập xem là đỉnh cao quyền lực của Amon.
“Đối với người Aicập việc giết chiên con là một sự báng bổ thánh thần theo tôn giáo của họ! Con sinh lễ Vượt Qua là một thách thức trực tiếp đối với các thần của họ”.
Chiên con vốn rất thiêng liêng trong cách thờ lạy hình tượng của người Ai cập đến nỗi người dân trong xứ bị cấm không được đụng đến một con cừu, thế mà dân Israel lại được Đức Chúa Trời truyền lệnh đem nó vào nhà (Xuất Êdíptô ký 12.1-5), giết đi (Xuất Êdíptô ký 12.6) và nướng chín rồi ăn lấy thịt đó (Xuất Êdíptô ký 12.8). Đối với người Aicập việc giết một chiên con là một sự báng bổ thánh thần theo tôn giáo của họ! Con sinh lễ Vượt Qua là một sự thách thức trực tiếp đối với các thần của họ. Đối với người Do thái, chính con sinh ấy đã làm ứng nghiệm một lời hứa của Đấng Toàn Năng: “ta sẽ xét đoán các thần của xứ Ê-díp-tô; ta là Đức Giê-hô-va” (Xuất Êdíptô ký 12.12).
Vào ngày tưởng niệm thần Amon, và ở chỗ mà người ta cho là đỉnh cao quyền lực của hắn, Đức Chúa Trời của Ápraham, của Ysác và của Giacốp không những đã thắng hơn Pharaôn, mà còn báng bổ sự thờ lạy Amon, rồi cung ứng cho dân Aicập lý do để tin theo Đức Chúa Trời của Israel.
Sau 40 năm, dân Do thái đã đưa những ký ức nầy vào trong một xứ mà ai cũng biết là đất nước của Israel. Tại đây con cháu của lần Xuất Aicập đã bắt đầu tổ chức lễ Vượt Qua hàng năm trong sự ghi nhớ những gì Đức Chúa Trời đã thực hiện cho họ trong xứ Aicập. Nhiều thế kỷ sau đó, khi vua Salômôn của dân Israel xây một đền thờ tại thành Giêrusalem, họ đã vượt qua nhiều dặm đường xa về quê hương để tuân giữ Lễ Pesach của họ với nhau tại thành Giêrusalem. Đây là cách thực hành của người Do thái cho tới khi người La mã huỷ diệt đền thờ vào năm 70SC.
“Người nào tin Chúa Jêsus là Đấng Mêsi được hứa cho đều giữ lấy ý nghĩa thuộc linh của những kỳ lễ của Đức Chúa Trời”.
Sau khi đền thờ bị huỷ diệt, người Do thái phải ghi nhớ Lễ Vượt Qua theo một đường lối khác. Không có đền thờ, sẽ không có chiên con lễ Vượt Qua. Luật pháp dạy rằng của lễ được lập chỉ bởi dòng thầy tế lễ đủ tư cách hầu việc tại bàn thờ và được phân bố theo sự chọn lựa của Đức Chúa Trời. Như một kết quả, trong gần 2000 năm chiên con đã không được dọn trong các gia đình người Do thái trong bữa ăn Lễ Vượt Qua. Thay vì thế, các rabi (Như rabi Moshe benNachman đứng đầu các rabi vào thời điểm 1194-1270SC được phép ăn con sinh Pesach trong lễ kỷ niệm [trích quyển Passover – Sự tuân giữ, luật lệ và ý nghĩa, trang 75, 1994, Mesorah Publications, Ltd., Brooklyn, NY]) cùng các thầy thông giáo đã tuyên bố rằng bánh không men, bánh “matzah”, sẽ là sự thay thế thích ứng. Ăn bánh “matzah” sẽ tương đương với việc ăn thịt chiên con.
Sự huỷ diệt đền thờ đã làm thay đổi cách thức mà mọi kỳ lễ được tổ chức. Không có đền thờ, và không có dòng thầy tế lễ đúng tiêu chuẩn, phần nhiều trọng tâm các sinh hoạt đối với sự tuân giữ ngày lễ không thể thực hiện được nữa.
Tới đây chúng ta có thể thấy tại sao người tin Chúa Jêsus là Đấng Mêsi của Israel (được Đức Chúa Trời hứa cho) biết nắm lấy ý nghĩa thuộc linh của các ngày lễ của Đức Chúa Trời. Khoảng 40 năm trước khi đền thờ bị huỷ diệt, không những Chúa Jêsus đã xưng Ngài chính là Đấng Mêsi (Giăng 4.25-26) mà Ngài đã hiện đến để làm ứng nghiệm ý nghĩa của con sinh lễ Vượt Qua nữa. Trong thứ tự của Lễ Vượt Qua, mà về sau các môn đồ Ngài đều biết rõ ấy là: “bàn Tiệc Thánh”, Chúa Jêsus đã đưa ra các yếu tố rượu và bánh không men rồi ứng dụng chúng vào chính mình Ngài. Trong suốt bữa tiệc, Ngài đã bẻ bánh không men cùng với các môn đồ Ngài, rồi cầm lấy bánh không men nói rằng: “Nầy là thân thể ta, đã vì các ngươi mà phó cho; hãy làm sự nầy để nhớ đến ta” (Luca 22.19). Rồi sau khi ăn xong Ngài cầm lấy chén rượu và với phần ứng dụng riêng cho chính mình, Ngài phán: “Chén nầy là giao ước mới trong huyết ta vì các ngươi mà đổ ra” (câu 20). Đây là những lời xưng nhận thái quá và phạm thượng nếu chúng không đúng với sự thật. Nhưng chúng là sự thật, và chúng giúp giải thích tại sao lễ Vượt Qua phải trải qua một sự chuyển tiếp quan trọng như thế cho những năm tháng tới.
Đối với những ai tìm thấy lý do đáng thuyết phục để chấp nhận những lời xưng nhận của Chúa Jêsus, các yếu tố Tiệc Thánh là những phần nhắc nhớ đến thân thể Ngài vỡ ra và huyết Ngài đã đổ ra. Được ứng nghiệm nơi Chúa Jêsus, sự kỷ niệm lễ Vượt Qua còn ghi nhớ nhiều hơn vào sự khai sinh một dân tộc. Kỳ lễ hàng năm nầy cũng lượng trước sự giải cứu trọn vẹn của Đấng Mêsi cho một thân thể có tính cách quốc tế gồm những người bằng lòng tin cậy nơi sự chết hy sinh của Ngài đặng làm sự bảo hộ thuộc linh của họ.
Đối với dân Dothái không chịu tin nơi Chúa Jêsus, matzah [hay bánh không men] vỡ ra, cứ là một phần của tiệc Lễ Vượt Qua; tuy nhiên nó hãy còn bị che khuất trong chỗ kín nhiệm. Sự kín nhiệm nầy, là điều bí ẩn mà những nhà hiền triết Do thái không thể đạt tới chỗ nhất trí, không nhất thiết là một sự kín nhiệm cho những ai tin Chúa Jêsus là Đấng Mêsi.
“Chúa Jêsus xưng rằng Ngài đã đến để làm ứng nghiệm ý nghĩa của con sinh Lễ Vượt Qua”.
Có một yếu tố kín nhiệm được thấy có trong truyền khẩu về Lễ Vượt Qua là “afikomen”. Trên mỗi bàn tiệc của Lễ Vượt Qua có một cái túi vải được gọi là “túi rác matzah”. Cái túi vuông hay tròn được trải thẳng ra trên bàn. Trong cái túi matzah có nhiều mẫu bánh matzah, mỗi mẫu tách rời ra trong túi riêng. Theo cách nầy thì chúng xem như kín giấu, chẳng ai nhìn thấy được, nhưng người dự tiệc biết rõ chúng có ở đó. Trong thứ tự của buổi lễ, mẫu matzah ở giữa sẽ bị dời đi ra khỏi chỗ của nó, vỡ ra làm hai, và một phần bị cuốn trong miếng khăn trải bàn. Mẫu matzah bị bọc trong khăn nầy được gọi là afikomen. Afikomen không phải là một từ ngữ Hybálai, mà là một từ Hylạp có nghĩa là “còn miếng bánh nữa”. Mẫu afikomen được dời khỏi bàn và đem cất đi. Về sau trong bữa ăn, nó trở thành trò chơi tìm kiếm mẫu “afikomen kín giấu” của trẻ con. Đứa trẻ nào tìm được nó đem nó ra trở lại bàn, ở đó “Cha” phải chuộc mẫu bánh lại. Khi mẫu bánh được trả giá rồi, afikomen được mở ra chia sẻ cho mấy người ăn sau cùng – vì thể mùi của nó sẽ ở lại trên lưỡi và ký ức của nó sẽ đọng lại trong trí của những người dự buổi tối.
Các rabi không nhất trí về ý nghĩa của sự tuân giữ bất thường nầy, hay nguồn gốc của nó. Có người tin ba mẫu matzah trong túi matzah tiêu biểu cho ba phần thưởng cho sự học tập. Nhiều người khác tin nó tiêu biểu cho ba vị tộc trưởng: Ápraham, Ysác và Giacốp. Vẫn có nhiều người tin nó tiêu biểu cho ba hạng người trong Israel: dòng thầy tế lễ, người Lêvi, và những người dân thường. Tuy nhiên, qua ánh mắt của các sách Tin Lành chúng ta thấy phần giải thích khác. Người Dothái và người dân Ngoại nào tin nơi Chúa Jêsus thường nhìn thấy nơi afikomen một bức tranh nổi bật nói về sự hiệp một về Thần Tính của Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Trong ba nếp gấp của cái túi matzah có một hình ảnh nói tới Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Mẫu matzah ở giữa – tiêu biểu là Đức Chúa Con, Đấng Mêsi của chúng ta – bị vỡ ra, bị gói lại trong (giá chuộc) bằng vải, kín giấu và, rồi bị đem trở lại cho gia đình nhận lấy, thưởng thức như gói kỹ quá không thể bỏ đi được. Trong khi biểu tượng của nghi thức nầy cứ mãi là kín nhiệm cho những ai không tiếp nhận Chúa Jêsus, qua ánh mắt nhìn về Đấng Mêsi ý nghĩa dường như rõ ràng và đầy quyền lực hơn.
Khi Chúa Jêsus phán về bánh không men: “Hãy ăn đi; nầy là thân thể ta”. Ngài đã không thiết lập một nghi thức trống không. Ngài đã đồng hoá mình với cả hai: bánh matzah và chiên con Lễ Vượt Qua, đem vào trong trí lời lẽ của tiên tri Êsai:
“Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người. Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng”.
Trong sự ứng nghiệm lời lẽ nầy của vị tiên tri trong Israel, người nào tin nơi Chúa Jêsus tin quyết rằng khi chúng ta sự phần vào bánh của Tiệc Thánh và Lễ Vượt Qua, chúng ta đang dự phần với Đấng Christ, Ngài đã trở thành matzah của chúng ta. Ngài bị vỡ ra vì ích cho chúng ta nên trở thành bánh của chúng ta. Trong nền văn hoá Trung đông, “bánh” là tiêu điểm của sự sống, một biểu tượng cho mọi sự tiếp trợ chúng ta đang cần có để sinh sống.
“Mỗi lần chúng ta dự vào chén Tiệc Thánh, chúng ta dự vào chén của Lễ Vượt Qua trong Tân Ước”.
Có nhiều yếu tố khác trong bữa ăn Lễ Vượt Qua cũng kéo sự chú ý của chúng ta đến lần cứu chuộc đầu tiên ra khỏi Aicập, và lần cứu chuộc thứ hai qua Đấng Mêsi, nhưng chúng ta không thể xem xét hai lần ấy trong một quyển sách nhỏ như thế nầy được. Tuy nhiên, chúng ta hãy bỏ đi yếu tố phê phán, nếu chúng ta không dành thì giờ để xét qua “chén Kid-dush”.
Yếu tố quan trọng khác theo sự tuân giữ truyền thống Lễ Vượt Qua là rượu. Trong một thứ tự mẫu của Lễ Vượt Qua, bốn cái chén được bày ra, mỗi cái có hình ảnh quan trọng theo nghi thức. Chén đầu tiên được gọi là “chén nên thánh”, biệt riêng bữa ăn ra khác với bữa ăn thông thường. Chén thứ hai, là “chén dịch lệ”, ghi nhớ các tai vạ đã giáng xuống Aicập. Chén thứ ba được gọi là “chén cứu chuộc”, công nhận và ghi nhớ sự giải phóng người Hêbơrơ ra khỏi tình trạng phu tù. Chén thứ tư được gọi là “chén ngợi khen”, trong đó gia đình kể lại các Thi thiên từ 113 đến 118, theo truyền khẩu thì đấy là những lời ngợi khen.
Chúng ta chú ý ở đây chén thứ ba, “chén cứu chuộc”, “chén kid-dush”, là chén theo thứ tự ngày nay đến sau khi ăn bánh afikomen. Vì thứ tự theo nghi thức của bữa ăn và ý nghĩa phong phú của sự tuân giữ nầy, một số nhà Thần học Cơ đốc tin rằng đây là chén mà Chúa Jêsus đã cầm lên, chúc phước và công bố: “Hết thảy hãy uống đi; vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội” (Mathiơ 26.27b-28).
Một chén rượu màu đỏ là biểu tượng cho huyết theo truyền khẩu của người Do thái, là chén rất quan trọng trong câu chuyện của chúng ta. Trong sách Ngũ Kinh, (5 sách đầu của Kinh Thánh), và xuyên suốt lịch sử xa xưa, những giao ước đều đã được đóng ấn và khẳng định bằng huyết. Điều nầy không thật lắm trong các sách Tin Lành. Về mặt biểu tượng với cái chén và theo nghĩa đen qua huyết Ngài đã đổ ra trên thập tự giá, Đấng Mêsi công bố sự khởi đầu của giao ước mới: “Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy. Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa” (Giêrêmi 31.31-34).
Rõ ràng, Giao Ước Mới nầy chưa đạt tới sự ứng nghiệm trọn vẹn của nó. Nhiều ngàn người Do thái và hàng triệu người dân Ngoại đã đạt đến đức tin nơi Chúa Jêsus, và Đức Chúa Trời không còn nhớ đến tội lỗi của họ nữa. Nhưng không phải hết thảy nhà Israel hay nhà Giuđa đều đạt tới niềm tin nầy đâu.
Những ai tin nơi Chúa Jêsus là Đấng Mêsi đều tin mỗi lần chúng ta dự vào chén Tiệc Thánh, chúng ta đang dự vào chén của Lễ Vượt Qua trong Tân Ước. Với biểu tượng cứu chuộc nầy của chúng ta, chúng ta ghi nhớ không những sự chết của Đấng Christ, mà còn nhớ đến huyết đã đóng ấn Giao Ước, vì “Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài” (Êphêsô 1.7).
BÁNH KHÔNG MEN
(Chag HaMatzot)
Lê vi ký 23.6: “qua ngày rằm tháng nầy, ấy là lễ bánh không men để kính trọng Đức Giê-hô-va; các ngươi sẽ ăn bánh không pha men trong bảy ngày”.
Theo một ý nghĩa tổng quát, ngày lễ Vượt Qua được sử dụng hoán đổi lẫn nhau với Lễ Bánh Không Men. Tuy nhiên, nói một cách nghiêm túc, Lễ Bánh Không Men của Đức Giêhôva bắt đầu vào ngày 15 tháng Nisan, sau ngày giết con sinh Lễ Vượt Qua. Trong các nhà hội ai cũng biết là Chag HaMazot, lễ nầy kéo dài trong một tuần lễ. Trong 7 ngày dân Israel phải ăn bánh không men để tưởng nhớ ngày Đức Chúa Trời giải cứu dân Ngài ra khỏi Aicập.
Ngày lịch sử ấy xứng đáng được dân sự tưởng nhớ: Trong đoàn người ra đi, một số đông ước lượng 3 triệu người nam, người nữ và trẻ con – cùng với bầy gia súc và của cải của Aicập – bắt đầu công cuộc ra khỏi Aicập của họ. Trong khoảng thời gian bằng một nhịp tim đập, con cái Israel được chuyển ra khỏi nước của vòng vây nô lệ mà bước vào nước của sự tự do, một cộng động được cứu chuộc. “Ngày rằm tháng giêng, tức ngày sau lễ Vượt-qua, dân Y-sơ-ra-ên ra đi từ Ram-se, cách dạn dĩ, có mắt của hết thảy người Ê-díp-tô thấy” (Dân số ký 33.3). Họ lấy bánh đựng vào trong mấy cái bát, không có thì giờ pha men để làm bánh. Khi có lệnh ra đi, họ đã ra đi – với bánh không men và mọi sự!
Hành động ra khỏi Aicập với bánh không men đã dẫn tới một trong những truyền thống đầy màu sắc nhất của mùa Lễ Vượt Qua. Trong sự chờ đợi ngày lễ bánh không men đến, những bà mẹ Do thái lo “dẹp sạch sẽ nhà cửa” của họ. Với sự cẩn thận họ quét dọn, tìm kiếm và lau chùi nhà cửa hầu cất bỏ đi từng mẫu men. Sàn nhà được quét dọn, mấy cái ấm được đun sôi hết, tủ đựng thức ăn được dọn trống – mọi sự nằm trong nổ lực cất bỏ bất kỳ một dấu vết nào của men. Rồi ngay trước khi Lễ Vượt Qua, các ngọn lửa được đốt lên ở những nơi đất trống hay ruộng trống lên khắp xứ Israel để thiêu huỷ bất kỳ thứ bánh hay miếng vụn nào được tìm thấy.
Các rabi chỉ ra rằng men làm cho bánh phồng lên theo cách kẻ kiêu ngạo lên mình vậy. Bánh không men nói tới sự khiêm nhường và sự vâng phục. Bánh không men nói tới sự sẵn sàng ném bỏ khuynh hướng gian ác đang sống bên trong hết thảy mọi người chúng ta. Nó nhắc cho chúng ta nhớ sự tự do cũng chưa phải là đủ. Đức Chúa Trời không giải cứu dân sự Ngài ra khỏi Aicập để cho họ chỉ được sự tự do thôi đâu, mà họ được tự do để không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Ngài giải cứu dân sự Ngài để hưởng lấy quyền tự do chỉ được tìm gặp bởi hết thảy những ai học biết sống trong sự nương cậy hạ mình trước Đức Chúa Trời chân thật duy nhất.
Sứ đồ Phaolô, một học giả Do thái theo đúng thực trạng của ông, đã ám chỉ điều nầy trong I Côrinhtô 5.7-8:
“Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi. Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật”.
Trong ánh mắt của Phaolô, và trong sự hiểu biết của các vị rabi khác, men là một hình bóng nói tới tội lỗi. Lễ Bánh Không Men vì lẽ đó nói tới sự cần thiết mà dân sự Đức Chúa Trời phải sống đời sống mới được đánh dấu bằng một sự tách khỏi vòng nô lệ đã kinh nghiệm trong nước của tăm tối và tội lỗi.
“Lễ Bánh Không Men nói tới sự cần thiết của chúng ta phải tách ra khỏi vòng nô lệ của đời sống cũ của chúng ta”.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải in trong trí về ý nghĩa Đấng Mêsi mà Chúa Jêsus đã xưng nhận trong matzah của Lễ Vượt Qua. Khi Ngài bẻ bánh không men rồi nói: “Nầy là thân thể ta vì các ngươi mà phó cho. Hãy làm điều nầy để nhớ ta”, Ngài đang nói rằng matzah của Lễ Vượt Qua có một ý nghĩa mà người ta cần phải nhận biết cách trọn vẹn nơi Ngài.
Những người tin Chúa Jêsus đều nhìn thấy một bức tranh mầu nhiệm và mỉa mai nói về Ngài vô tình tỏ ra phương thức bánh không men được làm ra. Theo luật, matzah phải được đánh dấu, khoét lỗ và nướng theo một phương thức như thế cho đến lúc chín. Hình ảnh như vậy có trùng hợp không? Hoặc Đức Chúa Trời có đan dệt câu chuyện của Ngài vào trong truyền khẩu của những người không chịu tin chăng? Tiên tri người Do thái là Êsai, nói về Người Đầy Tớ chịu khổ của Đức Chúa Trời, ông cho chúng ta biết Ngài bị vết vì những tội lỗi của chúng ta, bị thương vì sự gian ác của chúng ta (Êsai 53.5; Xachari 12.10), và dĩ nhiên chẳng hề phạm tội.
“Chúng ta đã ra khỏi ‘Aicập’ của chính mình, đem theo Bánh cùng đi với chúng ta – và không những với chúng ta, mà còn ở trong chúng ta, là Bánh Hằng Sống”.
Có một số biểu hiện cho thấy rằng Đức Chúa Trời của Kinh Thánh muốn chúng ta phải nhìn xem Chúa Jêsus là nguồn của “bánh vô tội” của chúng ta. Bếtlêhem, nơi ra đời của Chúa Jêsus, được nói tới bằng tiếng Hybálai là Beit-lechem, có nghĩa là “nhà đầy bánh”.
Hãy in trong trí bức tranh nói về Đấng Mêsi nầy là matzah của chúng ta, hãy nghe Chúa Jêsus nói phán trong sách Tin Lành Giăng:
“Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt của Con người, cùng không uống huyết Ngài, thì chẳng có sự sống trong các ngươi đâu. Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại. Vì thịt ta thật là đồ ăn, huyết ta thật là đồ uống. Người nào ăn thịt ta và uống huyết ta, thì ở trong ta, và ta ở trong người. Như Cha, là Đấng hằng sống, đã sai ta đến, và ta sống bởi Cha; cũng một thể ấy, người nào ăn ta, sẽ sống bởi ta vậy”.
Giăng tiếp tục nói tới sự dạy dỗ nầy rất khó tiếp thu, khi nghe xong, có nhiều người trong hàng ngũ môn đồ của Chúa Jêsus đã bỏ Ngài mà đi (các câu 60-66). Chúng ta có thể thấy lý do tại sao!?! Nếu lấy theo nghĩa đen, những lời lẽ của Chúa Jêsus nói về việc ăn thịt và uống huyết Ngài dường như cho họ là kẻ chuyên ăn thịt đồng loại vậy. Nhưng nếu Chúa Jêsus đang nói theo nghĩa bóng về các lẽ thật thuộc linh (câu 63), và nếu Ngài là bánh Mêsi của dân Israel, sứ điệp của Ngài rất thâm thuý. Chúa Jêsus đã trở thành bánh không men của chúng ta, Ngài mời chúng ta đến dự phần với Ngài. Ngài mời chúng ta dâng thân thể mình cho Ngài và sống theo bản tánh của Ngài, làm cho sạch men trong các đường lối cũ của chúng ta. Nhiều người tin Chúa Jêsus đã nhận ra bức tranh nầy hết sức thú vị. Chúng ta đã ra khỏi “Aicập” của chính mình, mang theo Bánh cùng đi với chúng ta – và không những với chúng ta, mà còn trong chúng ta – là Bánh Hằng Sống.
“Nếu bánh không men của Lễ Vượt Qua được ứng nghiệm bởi Đấng Mêsi của Đức Chúa Trời, có nghĩa là chúng ta không ra đi để sống một đời sống vô tội theo sức riêng của mình”.
Giống như Lót chạy ra khỏi thành Sôđôm, dân Israel đã không nhìn lại sau để thấy đời sống trước đây của họ rồi mang theo bánh không men cùng đi với họ, họ không cung ứng thì giờ cho đời sống ấy sống lại nữa. Chúng ta khi đạt tới mức nhận biết Đấng Mêsi, chúng ta cũng phải xây khỏi những việc trước kia và bước đi bằng đức tin vào trong sự trưởng thành và sự trung tín về mặt thuộc linh, gạt bỏ đi những việc thời con trẻ và tội lỗi, và đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời đối với mọi sự ở trước mặt mình.
LỄ DÂNG BÓ LÚA ĐẦU MÙA
“Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi đã vào xứ mà ta sẽ ban cho, và đã gặt mùa màng rồi, thì hãy đem đến cho thầy tế lễ một bó lúa đầu mùa của các ngươi. Qua ngày sau lễ sa-bát, thầy tế lễ sẽ dâng bó lúa đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, hầu cho bó lúa đó được nhậm” (Lê vi ký 23.9-11).
Lễ thứ ba dù đã được ấn định, song bị chậm trễ cho tới khi dân Israel đã chiếm lấy cơ nghiệp trong Đất đã được hứa cho họ. Khi họ bắt đầu thu hoạch mùa màng trên đất đó, họ mời giữ một lễ dâng bó lúa đầu mùa: “qua ngày sau lễ Sabát”. Khi Lễ Vượt Qua là ngày lễ mà không một việc làm nào khác được thực hiện trong đó, thì rõ ràng “Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa” đã được họ tuân giữ vào ngày 15 tháng Nisan.
Bao lâu người Do thái còn có đền tạm hay đền thờ, họ phải dâng cho các thầy tế lễ trong đền thờ một phần trong vụ mùa của họ. Phục truyền luật lệ ký 18.3-4: “Vả, nầy là phần định mà những thầy tế lễ sẽ có phép lấy trong các lễ vật của dân sự dâng lên, hoặc bằng bò đực hay là chiên: cái chẻo vai, cái hàm, và cái bụng. Ngươi sẽ cấp cho người của đầu mùa về ngũ cốc, rượu, dầu và lông chiên hớt đầu tiên của ngươi”.
Khi của lễ nầy được đem dâng cho các thầy tế lễ, người đem dâng phải nói như thế nầy: “Ngươi sẽ tới cùng thầy tế lễ làm chức đang thì đó, mà nói rằng: Ngày nay, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông, tôi nhận biết tôi đã vào trong xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề cùng tổ phụ ban cho chúng tôi” (Phục truyền luật lệ ký 26.3). Thầy tế lễ khi ấy mới lấy một cái giỏ, hay rỗ, đem các thứ của dâng đặt trước bàn thờ. Theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời, người đem dâng phải đọc thuộc lòng trước sự hiện diện của thầy tế lễ, phân đoạn Kinh Thánh sau đây:
“Đoạn, ngươi cất tiếng nói tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi rằng: Tổ phụ tôi là người A-ram phiêu lưu, đi xuống xứ Ê-díp-tô kiều ngụ tại đó, số người ít, mà lại trở thành một dân tộc lớn, mạnh và đông. Người Ê-díp-tô ngược đãi và khắc bức chúng tôi, bắt làm công dịch nhọc nhằn. Bấy giờ, chúng tôi kêu van cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi. Đức Giê-hô-va nghe thấu, thấy sự gian nan lao khổ và sự hà hiếp của chúng tôi, bèn dùng cánh tay quyền năng giơ thẳng ra và các dấu kỳ, phép lạ lớn đáng kinh khủng, mà rút chúng tôi khỏi xứ Ê-díp-tô, dẫn chúng tôi vào nơi nầy, và ban xứ nầy cho, tức là xứ đượm sữa và mật. Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va ôi! tôi đem những hoa quả đầu mùa của đất mà Ngài đã ban cho tôi. Đoạn, ngươi sẽ để hoa quả đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và thờ lạy trước mặt Ngài” (Phục truyền luật lệ ký 26.5-10).
Một lần nữa, ý định rõ ràng ở đàng sau nghi thức không phải chỉ có 1/10 và các của dâng, mà còn có sự tưởng nhớ ở trong tấm lòng của họ rằng Đức Chúa Trời đã cứu chuộc họ ra khỏi tình trạng nô lệ để bước vào một vương quốc mới. Ở tại thời điểm đã được ấn định nầy, họ cần phải nhìn nhận ở trong lòng và xưng ra trước những người chứng kiến rằng hoa quả của sức họ lao động là một ơn đến từ Đấng Toàn Năng, Ngài là nguồn của mọi sự giàu có thuộc thể lẫn thuộc linh, và họ không còn sống như hàng nô lệ nữa, mà là hạng công dân tự do trong vương quốc của Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, một lần nữa có lý do để nhìn thấy ý nghĩa về Đấng Mêsi trong lễ thứ ba được ấn định nầy. Tân Ước đề cập tới Chúa Jêsus phục sinh là bông trái đầu mùa của những kẻ sẽ hưởng sự sống lại (I Côrinhtô 15.20, 23). Trong ánh sáng nầy, nhìn thấy sự sống lại của Chúa Jêsus kết Ngài với Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa thật là quan trọng về mặt lịch sử.
Các sách Tin Lành cho chúng ta biết rằng: “Sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng, có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ” Mathiơ 28.1). Hãy in trong trí theo Lê vi ký 23.11, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa phải được tuân giữ vào ngày thứ nhất sau ngày Sabát của lễ Vượt Qua. (Về sự kiện nầy người Pharisi và người Sađusê đã bất đồng với nhau. Người Sađusê tin ngày “Sabát” nầy phải là ngày Thứ Bảy trong tuần lễ Vượt Qua. Còn người Pharisi, họ tin rằng Lễ Vượt Qua là ngày Sabát, vì lẽ đó, ngày thứ hai của Lễ Vượt Qua [Lễ Bánh Không Men] cũng là lễ dâng bó lúa đầu mùa. Lịch hàng năm bất chấp sự việc đó, nên lễ bánh không men rơi vào ngày Chúa nhật, chu toàn cả sự giải thích của hai phái Pharisi và Sađusê).
Các tường trình đầu tiên về sự sống lại cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus đã sống lại ra khỏi mồ mả vào ngày Chúa nhật, ngày đầu tiên trong tuần lễ sau ngày Sabát là ngày thứ bảy. Chúa Jêsus đã sống lại ra khỏi kẻ chết không căn cứ vào bất kỳ ngày nào. Thực tế cho thấy không phải là tình cờ khi rơi vào ngày thứ nhất trong tuần lễ; mà đúng hơn, Đấng Mêsi đã sống lại theo ấn định của Đức Chúa Trời hầu làm ứng nghiệm Kinh Torah thánh kia. Ngài đã sống lại vào ngày Habikkurim – ngày của sự sống và sự tự do đời đời dành cho hết thảy những ai chịu tin nơi Ngài.
Về ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa, Alfred Edersheim nói: “Mỗi gia đình, và mỗi cá nhân đều công nhận, bởi sự dâng bó lúa đầu mùa hàng năm, một mối giao thông sống động giữa họ và Đức Chúa Trời, với thói quen ấy họ thành thật biết ơn nhận lãnh nơi tay Ngài mọi thứ mà họ đã có hay đã hưởng, và trân trọng dâng chính mình họ và của lễ lên cho Đức Giêhôva”. Rồi lễ nầy càng thật sự hơn cho những ai xưng Chúa Jêsus là Đấng Mêsi! Người nào tin nơi Chúa Jêsus với lòng biết ơn có thể xem Ngài là bông trái đầu mùa đã phục sinh trong mùa gặt đời đời mà Đức Chúa Trời đã hứa cho những ai tin cậy nơi Ngài.
“Tân Ước rõ ràng nói rằng Chúa Jêsus đã trở thành bông trái đầu mùa của chúng ta, là sự sống đầu tiên”.
Giống như Lễ Vượt Qua và Lễ Bánh Không Men, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa được làm cho chín mùi với những gợi ý về Đấng Mêsi. Mỗi thứ lễ nầy cũng rất phong phú cho sự hiểu biết sâu sắc và các nguyên tắc cho đức tin của chúng ta. Mỗi thứ lễ còn có một sự nối kết với các lễ khác và những biến cố trong quá khứ của dân Israel. Mỗi thứ lễ cũng có một nối kết về phương diện tiên tri và về Đấng Mêsi cho tương lai của Israel.
Vấn đề rất rõ ràng: ấy là những kỳ lễ nầy không còn được người ta tuân giữ nữa như họ đã tuân giữ trong Israel xưa kia. Khi đền thờ bị huỷ diệt vào năm 70SC, không còn có đền thờ để người ta đem của lễ thiêu hay bó lúa đầu mùa đến dâng nữa. Rồi kết quả là: các nhà hội ghi nhớ Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa bằng sự cầu nguyện mà thôi.
Sự tuân giữ trung gian:
đếm các bó lúa (Sfirat HaOmer)
Lê vi ký 23.15: “Kể từ ngày sau lễ sa-bát, là ngày đem bó lúa dâng đưa qua đưa lại, các ngươi sẽ tính bảy tuần lễ trọn”.
Mạng lệnh nầy không phải là một ngày lễ đâu, nhưng nó tiêu biểu cho một quá trình vẫn còn được tuân giữ giữa vòng các nhà hội Do thái theo Chính thống, Bảo thủ và thiên về Đấng Mêsi. Các nhóm nầy cùng nhau tuân giữ mạng lệnh đếm khoảng thời gian, hết ngày nầy sang ngày khác, từ Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa đến kỳ lệ chính theo Kinh Thánh: Shavuot. Lễ Shavuot, sẽ được bàn bạc rất chi tiết trong phân đoạn kế tiếp đây, cũng được mọi người nhìn biết là Lễ Ngũ Tuần, và lễ nầy rơi đúng 50 ngày sau Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa.
Trong các nhà hội và trong những gia đình của người Do thái ngoan đạo, những lời chào hỏi mà người Hybálai tuân giữ mỗi buổi tối (bắt đầu ban ngày của người Dothái) với những lời cầu nguyện đánh dấu hết nhiều ngày cho tới Lễ Shavuot. Sự tuân giữ nầy không phải là một sự đếm nguợc từ 10 đến 0 đâu, mà là một sự mong đợi thời điểm sắp tới đã được Đức Chúa Trời ấn định. Trong suốt thời gian nầy Thi thiên 119 được đọc lên trong các nhà hội khi người Do thái ngoan đạo suy gẫm những lời lẽ khích lệ của Thi thiên ấy.
Một thái độ hy vọng cũng sẽ được nhìn thấy trong lời cầu nguyện được bộc lộ ra mỗi buổi tối trong dịp Đếm Các Bó Lúa: “Nguyện ý Chúa được nên. Hỡi Giêhôva Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời của các tổ phụ, trong công lao của sự đếm mà con đang đếm hôm nay, nguyện sẽ được đúng chính xác cho dù con có thể lẫn lộn… và nguyện con được thanh tẩy và nên thánh với sự thánh khiết của Đấng Bề Trên”.
Người Do thái ngoan đạo (dù nam hay nữ) đều xem mấy ngày nầy là thời kỳ xét mình, với những lời cầu nguyện mỗi đêm giúp xét lại đời sống mình, trong sự tán thưởng công việc lớn lao người tin chắc Đấng Tạo Hoá thực hiện vào ngày thứ 50, là ngày lễ Ngũ Tuần.
Lê vi ký 23.15 dạy những người đứng ban lễ phải ý thức khoảng thời gian từ Lễ Vượt Qua Đến Lễ Ngũ Tuần, 49 ngày xen giữa. Một số rabi dạy rằng khoảng thời gian nầy như đang chờ đợi một người bạn sẽ đến từ bàn thờ thực hiện một cuộc thăm viếng đặc biệt, mang theo với người là những thông tin quan trọng. Chắc chắn trong lịch sử của Kinh Thánh nói về các sứ đồ, 49 ngày giữa Pesach và Shavuot đã được sử dụng trong mối tương giao với và được dạy dỗ bởi Đấng Mêsi phục sinh. Nhưng Ngài đã để chúng lại với lời hứa rằng một Đấng Mưu Luận duy nhất sẽ đến. Và một thiết hữu đã đến viếng thăm vào ngày Shavuot – ấy là Đức Thánh Linh.
Trong Hội Thánh ngày nay, Lễ Ngũ Tuần được tính theo cùng một cách thức đó: 49 ngày sau sự sống lại. (Theo Kỳ Họp Hội Đồng ở Nicea [325SC], Hoàng Đế Constantine cấm không cho giữ bất kỳ một lễ nào theo Kinh Thánh vì các ý nghĩa Do thái quá mạnh mẽ, và việc tính toán sự sống lại không còn dựa theo Lễ Vượt Qua mà dựa theo ngày Chúa nhật đầu tiên sau điểm xuân phân. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cả hai mùa lại trùng khớp với nhau). Dù vậy, một số Cơ đốc nhân lại chú ý tới khoảng thời gian giữa Lễ Phục Sinh Và Lễ Ngũ Tuần. Nếu các tín đồ noi theo trường hợp nầy của dân Israel, họ sẽ kinh nghiệm ơn phước không ngờ. Những ngày đánh dấu khoảng thời gian từ thập tự giá đến lúc Hội Thánh khởi sự (từ sự sống lại đến lúc Đức Thánh Linh ngự đến) có thể trở thành thời điểm rà soát và làm mới lại linh hồn trong sự thầm lặng. Thời gian đó đã cung ứng cho Hội Thánh một cơ hội theo từng năm để tưởng đến sự tái lâm đầy quyền phép của Đấng Mêsi trên đất!
LỄ NGŨ TUẦN (SHAVUOT)
Lễ của các tuần lễ
Lê vi ký 23.16-21: “các ngươi tính năm mươi ngày cho đến ngày sau của lễ sa-bát thứ bảy, thì phải dâng một của lễ chay mới cho Đức Giê-hô-va. Các ngươi hãy từ nhà mình đem đến hai ổ bánh đặng làm của lễ dâng đưa qua đưa lại; bánh đó làm bằng hai phần mười bột lọc hấp có pha men: ấy là của đầu mùa dâng cho Đức Giê-hô-va. Các ngươi cũng phải dâng luôn với bánh, bảy chiên con giáp năm chẳng tì vít chi, một con bò tơ, và hai con chiên đực với của lễ chay và lễ quán cặp theo, đặng làm của lễ thiêu tế Đức Giê-hô-va: ấy là một của lễ dùng lửa xông, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va. Các ngươi cũng phải dâng một con dê đực đặng làm của lễ chuộc tội, và hai chiên con giáp năm, đặng làm của lễ thù ân. Thầy tế lễ sẽ lấy các của lễ đó với hai ổ bánh bằng lúa đầu mùa, và hai chiên con, dâng đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va; các vật đó sẽ biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và thuộc về thầy tế lễ. Các ngươi hãy rao truyền sự nhóm hiệp trong chính một ngày đó; phải có một sự nhóm hiệp thánh, chớ nên làm một công việc xác thịt nào. Ay là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào”.
Chúng ta đã nói rồi về việc đọc Thi thiên 119 của người Do thái trong dịp “đếm các bó lúa”, về việc suy gẫm 10 điều răn của Đức Chúa Trời, và về tầm quan trọng của việc tự xét mình trong 50 ngày sau Lễ Vượt Qua. Phần nhấn mạnh nầy căn cứ trên mối giao thông với Lời của Đức Chúa Trời là quan trọng vì Lễ nầy đã được kỷ niệm trong các nhà hội một khi luật lệ về Lễ Ngũ Tuần (hay “những sự dạy” của Đức Chúa Trời) đã được ban cho Môise trên núi Sinai. Kèm theo với ngọn lửa hừng, Đấng Toàn Năng đã viết ra 10 Điều Răn cho con cháu Israel. Lửa là một yếu tố quan trọng trong Lễ Ngũ Tuần.
Vào dịp Lễ Ngũ Tuần tất cả những kỳ lễ vào mùa xuân đã lên đến cao điểm trong kỷ nguyên Tân Ước, khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời bắt đầu thiết lập một nước mới trên đất.
Trong chương 2 của sách Công vụ Các Sứ đồ, các môn đồ cùng với số đông chứng nhân đến từ các nước khác, họ đến từ sự thờ phượng Shavuot trong đền thờ, ở đây mỗi năm sách tiên tri Êxêchiên đã được người ta đọc: “Nầy, ta thấy có luồng gió bão đến từ phương bắc, một đám mây lớn bọc lửa giãi sáng khắp tư bề; từ giữa nó, thấy như loài kim bóng nhoáng ra từ chính giữa lửa” (Êxêchiên 1.4). Trước sự hiện diện của đám đông nầy âm thanh của một ngọn gió mạnh và lửa công bố sự hiện diện của Đức Giêhôva sắp sửa tái hiện lại mặc khải của Êxêchiên:
“Đến ngày lễ Ngũ tuần, môn đồ nhóm họp tại một chỗ. Thình lình, có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi. Các môn đồ thấy lưỡi rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người trong bọn mình. Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói” (Công vụ Các Sứ đồ 2.1-4).
Một lần nữa, lửa của Đức Chúa Trời xuất hiện, nhưng lần nầy là cho các bạn hữu đáng tin cậy của Ngài. Phierơ, người đã từng sa ngã và thậm chí đã chối bỏ không biết Đấng Mêsi ba lần, giờ đây đã trổi dậy với lòng can đảm và đã ban ra bài giảng đầu tiên của mình. Điều kỳ diệu của Thánh Linh của Đấng Mêsi [theo tiếng Hybálai là Ruach HaKodesh (“Hơi Thở Thánh”)] đã đổ ra. Chính hơi thở ấy đã ban sự sống cho Ađam, biến đổi ông từ một cục đất sét thành một người sống, giờ đây đã biến đổi nhiều đời sống lên đến hàng ngàn người!
Một sự kiện quan trọng về Shavuot: đó là một trong ba kỳ lễ hành hương khi hết thảy người nam Israel bị luật pháp đòi hỏi phải đến tận thành Giêrusalem và mang của lễ của họ vào trong đền thờ. Vào ngày này, như sách Công vụ Các Sứ đồ cho chúng ta biết, sẽ có nhiều người Hêbơrơ từ khắp nơi trên thế giới nhóm lại trong các phòng cao của đền thờ. Đây là hạng người tuân giữ theo nghi thức của đền thờ: “Nào người Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, kẻ ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, Giu-đê, Cáp-ba-đốc, Bông, A-si, Phi-ri-gi, Bam-phi-ly, Ê-díp-tô, đất Li-by gần Sy-ren, nào kẻ từ Rô-ma đến, cả người Giu-đa hoặc người mới theo đạo Giu-đa, người Cơ-rết và A rạp nữa…” (Công vụ Các Sứ đồ 2.9-11).
Phierơ đã giảng cho đám đông, ông đã nhắc cho họ nhớ: “Vì lời hứa thuộc về các ngươi, con cái các ngươi, và thuộc về hết thảy mọi người ở xa, tức là bao nhiêu người mà Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ gọi” (Công vụ Các Sứ đồ 2.39). Vì vậy chìa khoá cho bài giảng của Phierơ: “Và lại ai cầu khẩn danh Chúa thì sẽ được cứu” (Công vụ Các Sứ đồ 2.21), đã được công bố cho người Do thái và Dân Ngoại.
Trong khi ấy, hãy chú ý Phierơ đã ngẫu nhiên giảng về Vua David trong sứ điệp của mình (Công vụ Các Sứ đồ 2.25-36). Truyền thuyết của người Do thái cho biết rằng vua David đã chết vào ngày lễ Shavuot và điều nầy, giống như việc đọc sách Êxêchiên ở trên, cũng sẽ hiện hữu ngay trên trán của tâm trí những người nam Hêbơrơ đang đứng vây quanh Phierơ. Hết thảy các biến cố và ghi nhớ nầy hiệp lại với nhau chạm đến tấm lòng của những người Do thái chưa tin, cảm động họ phải lên tiếng hỏi: “Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?” (Công vụ Các Sứ đồ 2.37).
Câu trả lời của Phierơ rất vững chắc cho đến ngày nay: “Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh” (Công vụ Các Sứ đồ 2.38).
Hoa quả đầu mùa của sự sống lại
theo sau lễ ngũ tuần với bông trái của Hội Thánh.
Vì Lễ Ngũ Tuần, hay Lễ của Các Tuần Lễ, được kết hợp với sự ban cho luật pháp và sự giáng lâm của Đức Thánh Linh, thật là thú vị khi so sánh mọi kết quả của hai sự cố đó. Chúng ta đọc trong Xuất Êdíptô ký 32.28 thì thấy có 3000 người ngã chết tại núi Sinai vì cớ tội thờ lạy con bò bằng vàng. Ngược lại với việc mất đi 3000 sinh mạng, trong Shavuot của Tân Ước, 3000 người đã đến với đời sống mới Chúa Jêsus đúng 50 ngày sau ngày kỷ niệm Lễ Vượt Qua.
Các tín đồ trong ngày Lễ Ngũ Tuần đều xứng đáng với cái chết (Rôma 3.23). Song vì cớ đức tin của họ đã đặt nơi Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm Chí Cao, là Chúa Jêsus, là Đấng đã làm nên sự cứu chuộc cho tội lỗi họ, giờ đây họ được sống cho đến đời đời – một phần của mùa gặt hoa quả đầu mùa, một phần mười đầu tiên, và lời hứa của Giêrêmi ở 31.31. Vào ngày lễ Ngũ Tuần nầy mọi kỳ lễ trong mùa xuân đã lên đến cao điểm trong kỷ nguyên Tân Ước, khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời khởi sự thiết lập một nước mới ở trên đất – không bởi sự cất bỏ các nhà cầm quyền hay quân đội, mà qua sự thuận phục khiêm hạ của nhiều tấm lòng theo cách riêng: “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (Xachari 4.6).
Đây không phải là một sự dạy theo kiểu duy tâm và một việc cần phải đấu tranh theo cung cách của con người mới đạt được, giống như thể người ta đạt được điều đó theo sức riêng mình. Đó là lời hứa của Đấng Chí Cao.
Shavuot cũng được gọi là “Atzeret shel Pesach”, sự đầy đủ của Lễ Vượt Qua. Lễ nầy kết đêm đầu tiên của Lễ Vượt Qua với sự tuân giữ tối hậu Shavuot, nhắc nhớ liên tục sự thành tín mà Đức Chúa Trời, là Đấng Cứu Chuộc và là Hòn Đá cứu rỗi của chúng ta, Đấng duy nhất có thể cứu chúng ta ra khỏi vòng nô lệ. Đôi ba lần trong sách Tin Lành Giăng Đấng Mêsi của chúng ta đã phán rằng nếu chúng ta cứ ở trong Ngài, Ngài sẽ ở trong chúng ta:
“Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 15.5).
Đây không phải là một sự dạy theo kiểu duy tâm và một việc cần phải đấu tranh theo cách của con người mới đạt được, giống như thể người ta đạt được theo sức riêng mình. Đó là lời hứa của Đấng Chí Cao. Vào ngày lễ Ngũ Tuần, ở phần cuối kỷ nguyên theo lịch sử con người và ở ngay buổi bình minh của một mùa gieo trồng và kết quả mới, Đức Thánh Linh đã đến để ngự trong từng người nam, người nữ và con trẻ nào được kêu gọi bước ra tin cậy Đấng Mêsi.
TRÙNG KHỚP CHĂNG?
Bối cảnh đã do Đấng Thượng Cổ đặt ra, kiểu mẫu đã được xếp đặt cho những ai chịu xem xét qua những kỳ lễ đã được ấn định vào thời điểm của mùa xuân. Đấng Mêsi của Israel đã gạt qua một bên sự vinh hiển của Ngài và đứng vào hàng ngũ của chức năng người, trở thành Đấng hoá thân thành nhục thể. Ngài “đã đóng trại” ở giữa chúng ta, như sách Tin Lành Giăng đã viết, và ngự giữa loài thọ tạo của Ngài. Rồi đến cao điểm của thời kỳ Ngài ở trên đất – chịu đóng đinh trên thập tự giá. Chiến trận đã được tiến hành theo các biến cố của tuần lễ Vượt Qua khi Ngài trở thành Bánh, Nước và Chiên Con làm con sinh chịu chết để cho cả tín đồ người Do thái và hết thảy những ai chịu tiếp nhận Ngài hôm nay bởi đức tin đều sẽ được cứu. Ba ngày đêm trôi qua cho tới khi sự đắc thắng được công bố. Chúa Jêsus, là bông trái đầu mùa, chiên con bị giết, đã trở thành Cứu Chúa, bông trái phục sinh đầu tiên của chúng ta; được tôn cao và được kính sợ, thắng hơn quyền lực của tội lỗi và sự chết cho đến đời đời. Với sự tán thưởng thật nồng nhiệt, chúng ta đếm những ngày từ Lễ Vượt Qua cho đến Lễ Ngũ Tuần và sự khai sinh ra Hội Thánh. Mùa gặt nhân loại đầu tiên, 3000 người mạnh mẽ, là kết quả của kỷ nguyên mới khải thị về Đấng Mêsi, một mùa xuân vĩnh viễn liên tiếp cho sự nẩy mầm, nở hoa và lớn lên. Có phải đây là một sự trùng hợp khi các biến cố nầy trong Tân Ước tương đương với những hình ảnh và bài học đã được giới thiệu cho chúng ta trong các kỳ lễ không? Và có phải Đức Chúa Trời có những hình ảnh cho chúng ta về mùa gặt sau cùng tiêu biểu cho Những Kỳ Lễ Vào Mùa Thu: Rosh Hashanah, Yom Kippur, và Lễ Đền Tạm chăng?
Chúng ta có thể nói như vầy: “Chẳng có những việc trùng khớp như vậy đâu, chỉ có Đức Chúa Trời đang hành động” mà thôi.