Hiển thị các bài đăng có nhãn CHRISTMASTIME. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHRISTMASTIME. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 12, 2010

Lẽ mầu nhiệm và sứ mệnh của Lễ Giáng Sinh



Lẽ mầu nhiệm và sứ mệnh của Lễ Giáng Sinh
Nhân vật trọng tâm của Lễ Giáng Sinh không phải là một gã chăn chiên hay một thiên sứ hoặc một thầy bác sĩ hay Mary hoặc Giôsép hay Vua Hêrốt, mà là một Con Trẻ trong chuồng chiên và được nằm trong máng cỏ. Con Trẻ ấy là Đức Chúa Trời của ân điển lạ lùng; Ngài là Đức Chúa Trời của Lễ Giáng Sinh. Xoay quanh lễ Giáng Sinh là một lẽ mầu nhiều rất quan trọng. Và trọng tâm của Lễ Giáng Sinh là một sứ điệp rất quan trọng.
Mục sư John Munro
Lẻ mầu nhiệm của Lễ Giáng Sinh
Chúa Jêsus không phải là Đức Chúa Trời ngự trong con người, cũng không phải là con người được tôn làm thần, mà là Người-Trời — sự kết hợp hai bổn tánh trong một thân vị (Giăng 1:14). Vào năm 451SC, Giáo Hội Nghị Chalcedon đã mô tả thân vị của Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta là “trọn vẹn cả thần tánh và nhân tánh, thực là Đức Chúa Trời và thực là Con Người”. Đây là lẽ mầu nhiệm của Lễ Giáng Sinh.
Vị Mục sư người xứ Tô cách Lan tên là James Stewart viết như sau: “Ngài là con người nhu mì nhất và thấp hèn nhất trong tất cả con trai loài người, tuy nhiên Ngài đã phán rằng Ngài sẽ ngự đến trên đám mây trong sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. …
Các tà linh và ma quỉ đã kêu la khủng khiếp nơi sự đến của Ngài, tuy nhiên Ngài rất ân cần, rạng rỡ, dễ gần gũi đến nỗi những đứa trẻ rất thích đùa vui với Ngài, và những đứa trẻ nhỏ muốn nép mình trong hai cánh tay của Ngài. … Không ai có được phân nửa sự tử tế hay thương xót như thế đối với hạng tội nhân, cũng không có ai từng phán ra những lời hoàn toàn nôn nả, nhói lòng như thế về tội lỗi. …
“Toàn bộ đời sống của Ngài là yêu thương, tuy nhiên trong một cơ hội Ngài hỏi người Pharisi làm sao họ mong tránh được sự rủa sả của Địa Ngục. … Ngài đã cứu nhiều người khác, thế mà đến cuối cùng, Ngài không cứu được mình. Chẳng có một điều gì trong lịch sử giống như sự kết hiệp những điều tương phản đối mặt với bạn trong các sách Tin Lành. Lẽ mầu nhiệm nói tới Chúa Jêsus là lẽ mầu nhiệm nói tới một Thân Vị”.
Chúa Jêsus là Người-Trời. Đây là lẽ mầu nhiệm của Lễ Giáng Sinh.
Từ cõi đời đời Chúa Jêsus là Con của Đức Chúa Trời; giờ đây nơi sự ra đời của Ngài, Ngài trở thành Con của Mary. Trong khi Ađam có một khởi đầu song chẳng có sự ra đời, còn Chúa chúng ta thì có sự ra đời, song không có khởi đầu.
Về phần xác, Chúa Jêsus đã phát triển bình thường như một con người (Luca 2:52). Ngài biết đói biết khát. Ngài biết ngủ và biết khóc. Ngài biết mệt mõi. Khi Ngài bị giáo đâm trên thập tự giá, huyết và nước tuôn ra từ Ngài. Về mặt tình cảm, Ngài thực sự là con người. Hãy xem những giọt nước mắt của Ngài, cái chạm của Ngài, sự dịu dàng của Ngài, lòng thương xót của Ngài, cơn giận dữ của Ngài, sự buồn rầu của Ngài, tình yêu thương của Ngài, ân điển của Ngài.
Tại sao nhân tánh của Đức Chúa Jêsus Christ lại quan trọng như thế chứ? Chúa Jêsus là Người-Trời đặc biệt có đủ tư cách để trở thành Đấng Trung Bảo trọn vẹn giữa Đức Chúa Trời và con người. Nếu Chúa Jêsus chỉ là Đức Chúa Trời thôi mà không phải là con người, Ngài sẽ chẳng có một điểm nào để tiếp xúc với chúng ta. Nếu Chúa Jêsus chỉ là con người thôi mà không phải là Đức Chúa Trời, Ngài sẽ dự phần vào nhu cầu muốn được cứu rỗi như chúng ta. Nhưng chúng ta cần có ai đó sẽ biến đổi hoàn cảnh của con người, chớ không chỉ nói cho chúng ta biết về hoàn cảnh hay kinh nghiệm hoàn cảnh ấy.
Đức Chúa Jêsus Christ ra đời từ một người nữ và vì lẽ đó thực sự là một con người. Ngài được Đức Chúa Trời sanh hạ và vì lẽ đó tuyệt đối là vô tội. Khi Ngài chịu chết trên thập tự giá, Ngài không dự phần vào tội lỗi như một tội nhân, mà gánh lấy tội lỗi của chúng ta trong vai trò một Cứu Chúa. Ngài không hiệp với chúng ta khi chúng ta quì gối trong sự ăn năn, mà nhấc chúng ta lên khỏi hai đầu gối kia như một tội nhân đã được tha thứ. Đây là chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Hãy tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa và Chúa của bạn. Hãy kính mến, phục vụ, vâng theo và thờ lạy Ngài.
SỨ MỆNH CỦA LỄ GIÁNG SINH
Đức Chúa Trời của mọi ân điển được đặt tên là “Jêsus” (Mathiơ 1:21). Nghe đến tên của một người thường phải suy nghĩ đến sự thành tựu chủ yếu của người ấy (nam hay nữ). Thí dụ, nói tới tên “Bill Gates” thì phải nghĩ tới máy tính và Microsoft. Nói tới tên “Einstein” thì phải nghĩ tới lý thuyết tương đối. Nói tới tên “Shakespeare” thì phải nghĩ tới văn chương. Nói tới tên “Churchill” thì phải nghĩ tới chức năng lãnh đạo trong chiến tranh. Nói tới tên “Manning” thì phải nghĩ tới bóng đá của nước Mỹ.
Điều gì thoạt đến trong trí của bạn khi nghe đến danh “Jêsus”? Đây là danh được đặt cho Người-Trời khi Ngài ra đời. Thiên sứ đã phán với Giôsép rằng Jêsus phải là tên của Ngài. Jêsus là hình thức Hylạp của tên Do thái “Yeshua” (Joshua). “Yeshua” có nghĩa là Đức Giêhôva cứu rỗi. Vì vậy mỗi lần Mary và Giôsép gọi “Jêsus”, sứ điệp đã được rao giảng về Đấng Cứu Thế, Đấng Giải Cứu, Đấng Cứu Tinh.
Sự thành tựu lớn lao nhất của Đấng Christ là gì? Ấy chẳng phải là các phép lạ của Ngài hay sự dạy thật trí tuệ của Ngài hoặc gương yêu thương của Ngài đâu. Sự thành tựu lớn lao nhất của Đức Chúa Trời của lễ Giáng Sinh là sự cứu rỗi. Tội lỗi là một thế lực rất mạnh mẽ trong đời sống của chúng ta và nó kềm giữ chúng ta trong sự phu tù. Kinh thánh mô tả những lần vật vã và thất bại của chúng ta về mặt thuộc linh với nhiều cách thức khác nhau.
Thí dụ, chúng ta bị bẫy giống như đang lọt vào đại dương bùn lầy vậy. Càng cựa quậy để thoát ra, chúng ta càng lún sâu hơn nữa. Chúng ta đang ở trong một hố sâu tối tăm, các bức tường của nó cao đến nỗi chúng ta không thể trèo ra được. Chúng ta đang ở trong chỗ bịnh tật kinh khiếp chẳng có phương chữa lành. Chúng ta đang ở trong một ngục tù mà chẳng có hy vọng nào được phóng thích cả. Chúng ta đang bị hư mất và không biết nơi nào phải đi. Đây là chỗ mà sứ mệnh lễ Giáng Sinh chiếu tỏa ra thật rực rỡ.
Chúa Jêsus là một tấm gương lớn được để lại cho chúng ta, nhưng gương của Ngài quá cao cho bất cứ ai trong chúng ta muốn giữ theo. Ngài là một giáo sư lớn, nhưng thực sự cho thấy là một giáo sư lớn như thế không thể cứu chúng ta được. Nếu chúng ta bị chìm đắm, bạn không cần ai đó hô to những chỉ dẫn từ bờ biển đâu. Bạn không cần một bài thuyết trình về môn bơi lội. Bạn cần ai đó đến chỗ nước sâu và cứu bạn.
Con của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus, đến với chúng ta trong chỗ phu tù, trong tình thế chẳng đặng đừng thật kinh khiếp và vô vọng của chúng ta, và giải cứu chúng ta. Sự chết của Ngài trên thập tự giá tỏ ra tình yêu cao sâu của Ngài trong việc cứu chúng ta ra khỏi tội lỗi và trả giá cho sự giải cứu và ơn tha thứ của chúng ta. Chúa Jêsus là Đấng Cứu Tinh của Đức Chúa Trời — đây là chiến lược giải cứu của Đức Chúa Trời — Ngài sai Chúa Jêsus đến với Trần Gian để cứu chúng ta và đem chúng ta vào trong Thiên Đàng. Đây là Đức Chúa Trời của mọi ân điển, Ngài với xuống, xuống, xuống với bạn trong sứ mệnh của lễ Giáng Sinh.
Nhưng ơn cứu rỗi chỉ dành cho những ai nhìn nhận rằng họ đã thất bại, rằng họ là hạng tội nhân. Nếu chúng ta đã kiếm được ơn cứu rỗi cho bản thân mình, thì chẳng có lý do nào cho Đức Chúa Jêsus Christ đến với thế gian nầy và chịu chết trên thập tự giá mà chi. Chúng ta không được cứu bởi những gì chúng ta làm, mà bởi sự tin cậy nơi Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài đã làm hết mọi sự. Đấy là ý nghĩa của việc được cứu do chỉ bởi ân điển mà thôi, nhờ một mình đức tin vì cớ một mình Đấng Christ thôi. Và ân điển có nghĩa là ơn cứu rỗi được hiến cho chúng ta miễn phí.
Sứ mệnh của lễ Giáng Sinh là đem sự vui mừng đến cho chúng ta. Khi thiên sứ của Đức Giêhôva hiện ra cùng mấy gã chăn chiên, họ rất đỗi sợ hãi. Có lẽ mấy gã chăn chiên, nhận ra tình trạng tội lỗi của chính họ, đang trông mong một sứ điệp phán xét, về số phận. Song sứ điệp là: “Đừng sợ chi”.
Có người nghĩ họ bị định phải sống trong đời sống buồn rầu, thất vọng, ngã lòng, sợ hãi và vô vọng. Họ sống trong nổi sợ nhiều người khác, về sự thất bại, về những điều người khác nghĩ; sợ về tương lai. Năm nay có lẽ là năm thất vọng sâu đậm và buồn rầu dành cho bạn, nhưng sự vui mừng lớn đã được hiến cho bạn trong dịp lễ Giáng Sinh nầy. Đức Chúa Trời muốn bạn phải có sự vui mừng lớn lao ấy.
Sứ điệp từ Cứu Chúa là Những Tin Tức Tốt Lành. Sứ điệp ấy đến cho muôn dân (Luca 2:10). Điều nầy kể cả bạn và tôi nữa đấy. Hãy nhận lấy sứ điệp ấy theo cách riêng đi. Đức Chúa Trời đang phán với bạn trong lễ Giáng Sinh nầy đấy.
Ngài đang nói với bạn: “Đừng sợ”. Vui mừng là nhận biết không chút sợ hãi. Đức Chúa Trời đang hiến cho bạn ơn cứu rỗi qua Chúa Jêsus, là Đấng Cứu Thế. Nhận biết Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của riêng mình sẽ đem sự vui mừng cả thể đến cho bạn, là thứ không một điều gì hay một ai khác trong đời nầy có thể cất đi được.
Giờ đây bạn hiểu rõ lý do tại sao Đức Chúa Jêsus Christ đã đến với trần gian nầy rồi, phải không? Có phải bạn hiểu rằng ơn cứu rỗi, sự vui mừng, ơn tha thứ tội lỗi và sự sống đời đời đến từ Đức Chúa Trời của lễ Giáng Sinh? Có phải bạn nhận biết rằng để được hòa lại với Đức Chúa Trời, bạn phải tin cậy nơi Đức Chúa Jêsus Christ theo cách riêng và tiếp nhận ơn tha thứ và ơn cứu rỗi không?
Sự nhơn đức, sự tử tế, nhà thờ, lai lịch, sự thành thật của bạn sẽ không kiếm được phương thức đến Thiên Đàng được đâu. Lễ Giáng Sinh đang nói cho chúng ta biết ơn cứu rỗi và sự tiếp nhận của Thiên Đàng không phải là phần thưởng cho lối sống nhơn đức ở trên Đất đâu. Bạn có thể là một người chuyên đi nhà thờ; có thể bạn sống rất tôn giáo; có thể bạn đang tin theo các giá trị của gia đình; có thể bạn đang có một cơ nghiệp Cơ đốc; có thể bạn đã chịu phép rửa tội; có thể bạn đã đi nhà thờ suốt cả cuộc đời mình; có thể bạn là một thuộc viên của nhà thờ; nhưng tách rời khỏi ân điển của Đức Chúa Trời bạn sẽ không bao giờ được vào Thiên Đàng đâu.
Bob Vernon, trước đây làm việc ở Sở Cảnh sát Los Angeles, thuật lại thể nào sở sẽ thử nghiệm loại áo chống đạn — và chứng tỏ cho các sĩ quan mới thấy giá trị của chúng — bằng cách khoác chúng lên các bức tượng thạch cao và rồi bắn hết loạt đạn nầy đến loạt đạn khác vào chúng. Khi ấy họ mới kiểm tra xem không biết có viên đạn nào xuyên thủng áo giáp hay không!?! Lúc nào cũng vậy, chiếc áo giáp sẽ qua thử nghiệm với kết quả mỹ mãn. Vernon khi ấy xây qua một sĩ quan mới rồi hỏi: “Sao nào, bây giờ ai muốn mặc áo giáp thay vì bức tượng thạch cao kia?”
Sự hiểu biết theo lý trí và đưa ra một sự cam kết cá nhân rất khác biệt nhau! Có thể bạn hiểu sứ mệnh của lễ Giáng Sinh theo lý trí. Nhưng bạn không bao giờ tin cậy nơi Đức Chúa Jêsus Christ theo cách riêng. Bạn biết về Đấng Christ, song bạn không nhìn biết Ngài? Bạn hiểu rõ trong đầu của mình, song có phải cái hiểu ấy đã chạm đến tấm lòng của bạn? Bạn có tôn giáo, nhưng có phải bạn có một mối quan hệ riêng tư sống động với Đức Chúa Jêsus Christ không? Lễ Giáng Sinh nầy, liệu bạn sẽ tiếp nhận ân ban cứu rỗi chứ? Đây là sứ mệnh của lễ Giáng Sinh.
John Munro là Mục sư quản nhiệm của Hội thánh Calvary ở Charlotte, N.C.

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2010

Chương bị bỏ quên trong câu chuyện Giáng Sinh & Những người đàn bà trong cây gia đình của Chúa Jêsus



Chương bị bỏ quên trong câu chuyện Giáng Sinh & Những người đàn bà trong cây gia đình của Chúa Jêsus
Mục sư Ray Pritchard
Mathiơ 1:1-16
Bạn có thể nhớ lại cụm từ nầy: "Chương bị bỏ quên trong câu chuyện Giáng Sinh". Đây là bảng gia phổ – một danh sách các tên tuổi, đa số các tên ấy rất khó phát âm. Vì cớ đó, đây là một phân đoạn Kinh thánh mà chúng ta có khuynh hướng chỉ xem qua loa mà thôi. Chúng ta không biết phải làm gì với phân đoạn ấy. Phân đoạn nầy thường không được đọc ở chỗ đông người. Vì thế, chúng ta thường không đọc theo cách riêng tư trừ phi chúng ta đi theo chương trình "đọc Kinh thánh cả năm". Khó có ai thuộc lòng phân đoạn nầy, và theo sự hiểu biết của tôi, phân đoạn nầy khó mà phổ nhạc lắm.
Đấy chỉ là một danh sách dài những tên tuổi khởi sự với Ápraham, tới David rồi kết thúc với Chúa Jêsus. Ở giữa những tên tuổi ấy, chúng ta nhận ra – Giacốp, Salômôn, Giôsaphát – và nhiều người mà chúng ta chưa hề nghe nói tới – Hếprôn, Abiút và Axô.
Cấu trúc thật đơn giản: "Đây là người cha của…, là cha của…, v.v… ". Hết tên nầy đến tên khác, một danh sách nhiều thế hệ dân sự Hybálai từ tổ phụ của họ là Ápraham cho đến Đấng Mêsi, là Đức Chúa Jêsus Christ. Là lịch sử, bảng danh sách rất là hay, nhưng đối với hầu hết chúng ta, lịch sử ấy quả là xa lắc xa lơ.
Lịch sử ấy giống như câu chuyện kể về người kia được yêu cầu viết lại quyển điện thoại niên giám vậy. Phần tóm tắt của ông ta: "Sự cao trọng nhắm vào một số nhân vật thôi. Còn yếu kém thì nhiều lắm". Đấy là cách chúng ta cảm nhận khi chúng ta xem xét Mathiơ 1: "Sự cao trọng nhắm vào một số nhân vật thôi. Còn yếu kém thì nhiều lắm". Trừ phi bạn đạt tới chỗ nhận biết Cựu Ước. Nhưng dù như thế đi nữa, nó chẳng giúp được gì cho bạn vì một số tên tuổi ở Mathiơ 1 thì hoàn toàn chúng ta chẳng hề biết tới – đặc biệt những cái tên nằm ở mấy câu cuối cùng. Một khi hầu hết những người nầy đã sống trong thời kỳ quá lâu rồi, chúng ta chẳng biết gì về họ, trừ ra mấy cái tên của họ mà thôi.
Nếu bạn quen thuộc với bảng Kinh thánh King James, bạn nhớ ngay rằng chữ "sanh" được sử dụng thay vì cụm từ "cha của…". "Ápraham sanh Y sác, Ysác sanh Giacốp, Gia cốp sanh Giuđa", và cứ thế. Cái chữ kỳ lạ ấy đã làm dấy lên nhiều cách giải thích lạ lùng. Ngày kia, một cậu bé về nhà từ Trường Chúa Nhật kể lại bài học của mình. Khi mẹ nó hỏi nó đã tiếp thu được những gì, cậy bé đáp: "Con học tất cả những chữ "quên" trong Kinh thánh". "Con nói sao chứ?" "Mẹ biết không, Ápraham quên Ysác, Ysác quên Giacốp, và Giacốp quên Giuđa".
Người Do thái vốn yêu mến các bảng gia phổ
Trong tinh thần đó, chúng ta có thể gọi đây là "chương bị bỏ quên trong câu chuyện Giáng Sinh". Chúng ta cứ nắm lấy như thế khi bước vào một "câu chuyện thật hay". Nhưng người Do thái của thế kỷ đầu tiên sẽ hoàn toàn lấy làm lạ bởi thái độ của chúng ta. Đối với họ bảng gia phổ sẽ là một bối cảnh tuyệt đối quan trọng cho câu chuyện nói tới sự ra đời của Chúa Jêsus.
Người Do thái thường chú ý nhiều vào những thắc mắc về bảng gia phổ. Thí dụ, bất cứ khi nào đất được bán đi hay đoạn mãi, bản tường trình theo gia phổ được tham vấn để biết chắc rằng đất thuộc về chi phái nầy không được bán cho thành viên của chi phái khác – và làm thế sẽ hủy diệt sự nghiêm túc của những đường biên giới thuộc chi phái đời xưa. Bạn không thể đặt tiền xuống rồi để cho công việc chạy đâu. Bạn cũng phải minh chứng rằng các tổ phụ của bạn đã ra từ cùng một chi phái nữa kìa.
Gia phổ cũng cốt yếu trong việc quyết định chức năng thầy tế lễ. Luật pháp cho rằng thầy tế lễ phải xuất thân từ chi phái Lêvi. Gia phổ cũng giúp quyết định dòng dõi người kế tự ngai vàng. Gia phổ giúp giải thích lý do tại sao Exơra 2 và Nêhêmi 7 chứa những danh sách dài những người khác nhau trở về từ cuộc lưu đày. Khi người Do thái tự tái lập lại trong xứ Israel, cốt yếu là họ phải biết rõ dòng họ nào đã nắm giữ phần nào trong xứ về mặt lịch sử.
Nhưng chính nguyên tắc ấy được áp dụng trực tiếp trong câu chuyện Giáng Sinh. "Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên hạ … Ai nấy đều đến thành mình khai tên vào sổ" (Luca 2:1, 3). Nói như thế có nghĩa là mỗi người phải trở về quê quán của tổ phụ mình – làng mạc mà gia đình của người xuất thân. Nhưng cách duy nhứt bạn có thể biết chắc về làng mạc của tổ phụ là nhìn biết gia phổ của mình.
Đâu là lý do tại sao Mary và Giôsép phải đi từ thành Naxarét đến thành Bếtlêhem vào tháng thứ chín thai nghén của nàng. Họ phải thực hiện chuyến hành trình lâu dài và đầy nguy hiểm vì thành Bếtlêhem là thị trấn quê hương của tổ phụ Giôsép – một sự thực mà họ đã biết qua việc nghiên cứu gia phổ của họ.
I. Tại sao phân đoạn nầy là quan trọng hôm nay
Bạn có thể sẵn sàng chấp nhận mọi điều tôi đã nói mà vẫn lấy làm lạ không biết tại sao chúng ta phải nghiên cứu phân đoạn nầy. Mặc dù phân đoạn nầy là quan trọng trong 2.000 năm qua, nó có liên quan gì cho hôm nay không? Cho phép tôi đưa ra ba câu trả lời cho thắc mắc ấy.
A. Gia phổ lập Chúa Jêsus là một phần trong gia đình hoàng tộc của Vua David.
Chắc chắn đây là mục tiêu trọng tâm của Mathiơ 1:1-16. Đối với một độc giả Do thái có tánh hay phê phán, không một thắc mắc nào sẽ không nằm ở trọng tâm lý trí của ông ta. Đức Chúa Trời đã phán 1.000 năm trước đó, Đấng Mêsi phải xuất thân từ dòng dõi của Vua David (II Samuel 7). Trong thời của Đấng Christ, Chúa Jêsus không phải là người duy nhứt xưng mình là Đấng Mêsi. Nhiều người khác – những kẻ mạo danh – xưng mình là Đấng Mêsi của Israel. Làm sao người ta biết phải tin theo ai? Một câu trả lời: Hãy kiểm tra gia phổ của người ấy. Nếu người ấy không xuất thân từ dòng dõi của David, hãy quên lời xưng nhận đó đi. Người ấy không thể là Đấng Mêsi được.
Đấy là lý do tại sao Mathiơ 1 bắt đầu theo cách nầy: "Gia phổ Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham". David được liệt kê ra trước hết, mặc dù về niên đại Ápraham đã đến trước hết trong lịch sử. Tại sao? Vì vấn đề cụ thể không phải là: "Chúa Jêsus có phải là một người Do thái (con của Ápraham) không?" mà thay vì thế: "Có phải Ngài là dòng dõi trực tiếp của David không?" Để Chúa Jêsus xứng đáng là Đấng Mêsi, Ngài phải là dòng dõi theo phần xác của Vua David.
Chúng ta có thể nhìn thấy cùng một nguyên tắc đang tác động trong cuộc bàn bạc mới đây về Thái tử Charles và Công nương Diana. Tuần lễ nầy Điện Buckingham tuyên bố rằng họ đã phân rẻ – một khúc dạo đầu cho một cuộc ly dị khả thi. Ở bề mặt thảm họa riêng tư ấy, có một cơn khủng hoảng trầm trọng hơn về thể chế trong gia đình hoàng tộc. Vì quyền tể trị tối cao cũng là đầu của Hội thánh Anh quốc, không một người nào ly dị có thể ngự trên ngai vàng. Khi Nữ hoàng Elizabeth thoái vị, ai sẽ thế chỗ của bà ta? Thái tử Charles đang đứng ở kế đó, song nếu ông ly dị, ông không thể nắm lấy ngai vàng. Ai sẽ người kế tiếp? Bảng gia phổ đưa ra câu trả lời. Người con lớn nhất của Charles và Diana sẽ là người thứ nhì kế đó, người con thứ hai của họ sẽ là người thứ ba kế đó. Nhưng bản thân nền quân chủ đã bị thắc mắc trong cơn khủng hoảng nầy. Những người cai trị của Anh quốc phải xuất thân từ điện Windsor, và những người cai trị đó phải được quyết chắc bởi bảng gia phổ.
Cũng thực như thế cho Đức Chúa Jêsus Christ. "Quyền kế tự ngai vàng" của Ngài được quyết đoán bởi gia phổ của Ngài, là điều thiết lập quả thật Ngài là dòng dõi của Vua David, không một thắc mắc nào là khả thi nữa hết.
B. Gia phổ chứng tỏ rằng Đức Chúa Jêsus Christ đã có gốc rễ về mặt lịch sử.
Galati 4:4 chép: "Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp". Cụm từ được in nghiêng có ý tưởng hoa quả được thu hoạch đúng thời điểm của mùa gặt. Nghĩa là, khi Đức Chúa Trời đã sửa soạn trọn vẹn từng chi tiết của lịch sử, Ngài sai Con Ngài vào trong thế gian. Những sử gia đều biết rõ kỳ được trọn vào thời điểm của Đấng Christ, có một sự trông mong rộng rãi "điều chi đó" sắp sửa xảy ra. Các tôn giáo giờ đây đã tuyệt chủng của Hylạp và Lamã đã trông mong rằng một đấng cứu tinh sẽ đến từ trời. Bản thân người Do thái đều biết rõ rằng Đấng Mêsi sẽ đến tùy theo những lời tiên tri. Người Batư đã nghiên cứu các từng trời và biết rõ thời điểm đã đến gần. Có một sự ao ước, một sự trông cậy, một sự khát khao, một cảm xúc sâu sắc đập liên hồi trong trái tim của nhân loại về một người phải xuất hiện, người nầy sẽ làm cho cục diện thế giới phải thay đổi.
Không, họ không trông mong Chúa Jêsus, nhưng sự khát khao vẫn có ở đó, không chối cãi được. Và trong thế giới đầy sự trông mong ấy, Đức Chúa Trời đã sai Con của Ngài đến. Và đúng kỳ. Đúng thời điểm.
Mathiơ 1 đang nói cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Jêsus Christ đã có những gốc rễ. Ngài đã có một cây gia đình. Không những Ngài đã lìa bỏ thiên đàng, Ngài không xuất hiện như một phù thủy trên bối cảnh đâu, mà là đúng kỳ trọn vẹn của lịch sử, Chúa Jêsus đã ra đời tại thành Bếtlêhem.
Chúa Jêsus đã có một gia đình của con người. Ngài có một người mẹ, một người cha và một lịch sử. Ngài không phải là một nhân vật huyền thoại nào đó đâu – giống như các thần linh trên Núi Olympus. Không, Ngài là một con người thật chào đời trong một gia đình thật. Galati 4:4 dạy cho chúng ta mọi sự ở đàng sau đó cho thấy Đức Chúa Trời đang điều khiển toàn bộ tiến trình.
Kunta Kinte
Bạn có nhớ loạt phim nói tới gốc rễ trên truyền hình không? Đấy là câu chuyện nói tới Alex Haley, một người da đen, thể nào đã dành ra nhiều năm tháng để khám phá lịch sử gia đình mình. Mọi sự ông ta đã biết, ấy là gia đình của ông đều ra từ một nô lệ người châu Phi có tên là Kinte, người nầy đến trong nước Mỹ tại một địa điểm được gọi là "napolis". Ông cũng nhớ tới nhiều mẫu chuyện nói tới các bà dì và bà nội của ông thường kể cho ông nghe khi ông còn là một đứa trẻ. Với thông tin sơ sài ấy, ông đã bắt đầu kết câu chuyện lại với nhau. Trải qua nhiều thế hệ, một vài âm tiết trong ngôn ngữ gốc của người châu Phi đã được nhắc đi nhắc lại. Ông đi từ nhà ngôn ngữ nầy đến nhà ngôn ngữ khác, nhắc đi nhắc lại một vài âm tiết ấy, hỏi thăm cho biết các âm tiết ấy ra từ thổ ngữ nào. Dường như chẳng có ai biết hết, cho tới chừng một ngày kia, ông gặp một người nhận ra lời lẽ đó thuộc về một ngôn ngữ sắc tộc từ một xứ nhỏ miền Tây Phi ở Gambia. Sau khi nghiên cứu kỹ hơn, ông khám phá ra "napo-lis" chỉ ra Annapolis, Maryland, là điểm vào của hàng ngàn người nô lệ châu Phi. Khi ông đến khu vực ấy, ông tìm được danh Kinte trong bản tường trình của một gia tộc sở hữu nhiều nô lệ cách đó một thế kỷ rưỡi.
Thế rồi Alex Haley thực hiện chuyến đi đến Gambia. Ở đó, ông đến viếng hết bộ tộc nầy đến bộ tộc khác, lắng nghe những sử gia của bộ tộc thuật lại câu chuyện của họ. Đây là những cụ già, họ có ký ức hàng trăm năm về sự ra đời, sự chết, hôn nhân và chiến tranh. Một ngày nọ, ông đã ngồi nhiều giờ liền lắng nghe một người kể lại câu chuyện của bộ tộc ông ta. "Trước tiên là như vầy, như vầy. Ông đã kết hôn như thế nầy, như thế nầy. Họ có nhiều con cái và đã sống rất nhiều năm". Và cứ thế câu chuyện tiếp tục, câu chuyện nói tới một bộ tộc châu Phi trải qua nhiều thế kỷ. Thế rồi việc đã xảy ra: "Rồi kết hôn và cứ thế. Họ có một con trai. Trong một năm nó bị bắt đi và không còn gặp lại nữa". Còn tên của người con ấy? Kunta Kinte. Năm ấy là năm 1752. Alex Haley nói: "Tôi có những gì họ gọi là kinh nghiệm đỉnh cao". Đấy là một trong những giờ phút của khải tượng mà bạn có một hai lần trong đời. Ông nói: "Tôi đã nhận ra mình có gốc rễ. Tôi đã có lịch sử. Gia đình tôi đã xuất thân từ một nơi nào đó".
Đấy là những gì Mathiơ 1 đang dạy cho chúng ta biết. Chúa Jêsus đã có gốc rễ. Ngài đã có một lịch sử. Ngài có một gia đình. Ngài đã đến từ đâu đó.
C. Đây là biên niên sử nói tới ân điển của Đức Chúa Trời.
Nếu bạn nghiên cứu mấy tên tuổi nầy từng chi tiết, thì giống như thể Đức Chúa Trời đang kết nối mọi hình ảnh liên đới lại với nhau. Tôi đã nói rồi, chúng ta không biết về từng người trên bảng danh sách nầy. Nhưng về những người mà chúng ta biết rõ, gần như hết thảy họ đã có những thất bại về mặt đạo đức trên bảng tóm tắt thuộc linh của họ. Thí dụ, Ápraham đã nói dối về Sara vợ mình. Ysác cũng làm y như thế. Giacốp là một tay lừa đảo, còn Giuđa là một kẻ gian dâm. David là một kẻ tà dâm và Salômôn là một người đa thê. Manase là một vị vua gian ác nhất mà xứ Israel đã từng có. Và cứ thế khi chúng ta đọc tới.
Đây không phải là danh sách của các thánh đồ đáng khen. Không phải thế đâu. Có người chẳng phải là thánh chi cả. Người tốt nhứt trong số những người nầy có những thói xấu và có người xấu đến nỗi khó mà nhìn thấy những điểm tốt của họ.
Làm sao sự ấy tỏ ra ân điển của Đức Chúa Trời được chứ? Đơn giản thôi! Sự ấy tỏ ra ân điển của Đức Chúa Trời vì hạng người thể ấy đã dựng nên cây gia đình của Chúa Jêsus. Một kẻ giết người có ở trên danh sách, một kẻ tà dâm có trên danh sách, một kẻ gian dâm có trên danh sách, một kẻ nói dối có trên danh sách, một kẻ lừa đảo có trên danh sách. Hãy suy nghĩ về sự ấy xem. Phần lớn những người nầy đều là hạng tội nhân trầm trọng đấy.
II. Bốn người đàn bà bất thường
Điều nầy đưa tôi đến phần quan sát chính thứ hai của tôi về danh sách nầy: Ở đó có bốn người đàn bà. Bản thân gia phổ là bất thường vì khi người Do thái thực hiện bảng gia phổ, họ thường không kể phụ nữ vào trong danh sách. Họ chỉ lần theo cây gia đình từ người cha cho đến đứa con trai mà thôi. Nhưng Mathiơ 1 bao gồm bốn phụ nữ trong cây gia đình của Chúa Jêsus. Họ là Tama (3), Raháp (5), Rutơ (5), Bátsêba (6). Hết thảy họ đều là hạng người chẳng giống ai cả. Với ngoại lệ ở Rutơ, chẳng có một người nào có phẩm chất gương mẫu hết.
A. Tama
Câu chuyện của nàng – hầu như chúng ta chẳng biết gì hết – được thấy có ở Sáng thế ký 38. Tama là con dâu của Giuđa, ông là con trai của Giacốp, cháu nội của Ápraham. Mọi sự bạn cần phải biết, ấy là Giuđa có con trai tên là Êrơ, là người đã cưới một phụ nữ dân Ngoại tên là . . . Tama. Êrơ chết đi và Ônan em người chổi dậy làm bổn phận của anh mình bằng cách cưới Tama làm vợ. Nhưng ông cũng qua đời, để Tama lại không chồng không con – một loại rủa sả gấp bằng hai vào thời buổi ấy. Vì vậy, vì nàng không kiên nhẫn và không bằng lòng chờ đợi Đức Chúa Trời tiếp trợ cho nhu cần của nàng, nàng đã vạch ra một kế sách để khiến cha chồng của nàng phải ngủ với nàng. Kế hoạch của nàng rất đơn giản: Ăn mặc giống như một kỵ nữ, nàng đã dụ Giuđa vào việc ăn nằm với nàng, nhờ đó nàng có thai và sanh đôi hai đứa con trai: -- Phêrết và Xêrách. Khi nàng đối mặt với Giuđa bằng sự thực, ông nói (đúng): "Nàng công bình hơn ta". Quả thật, chẳng có ai thấy tốt lành gì trong câu chuyện nầy, nào là mùi hôi thối của sự tham lam, lừa đảo, không chính đáng, điếm đàng, tư dục, và thậm chí loạn luân nữa. Bất cứ điều chi bạn có thể nói về Giuđa (và điều đó chẳng tốt lành gì hết), bạn không thể bằng cách kéo dài sự tưởng tượng mà làm cho Tama trông tốt đẹp được đâu. Nàng còn tồi tệ hơn cả cha chồng của nàng nữa là. Nhưng những việc nàng đã làm là gian ác, sai trái và phi đạo đức. Nàng thực sự đã hành động giống như một kỵ nữ dù nàng không phải là người bán dâm. Đấy là mọi sự chúng ta biết về Tama. Thực sự chẳng có một kết cuộc phước hạnh nào trong câu chuyện nầy. Nàng chỉ là lời chú thích ở cuối trang trong lịch sử của Kinh thánh – và là một lời chú thích nhạt nhẽo ở đó. Câu chuyện nói tới sự nàng gặp gỡ với Giuđa là một câu chuyện nói tới tình trạng mong manh và yếu đuối của con người – về tình trạng tội lỗi của xác thịt con người. Hạng người thể ấy giống như Giuđa và Tama sẽ được gộp vào dòng dõi của Đấng Mêsi gửi một sứ điệp mạnh mẽ nói tới ân điển thanh sạch của Đức Chúa Trời. Một người cũng không xứng đáng với ân điển ấy, huống chi có hai người trên danh sách ấy.
B. Raháp
Giờ đây chúng ta chuyển qua người đàn bà thứ hai có tên trên danh sách – ấy là Raháp. Phần lớn trong chúng ta đều biết nhiều về nàng. Thực vậy, gần như nàng luôn luôn được nhắc tới bằng một cụm từ nhất định trong Kinh thánh, một cụm từ mà hầu hết chúng ta đều biết nằm lòng: kỵ nữ Raháp. Nhưng không chỉ có bấy nhiêu đó đâu. Raháp cũng là một người Canaan – họ là kẻ thù cay đắng của dân Israel. Việc làm mẫu mực nhất của nàng là đưa ra một lời nói dối. Hãy suy nghĩ về sự ấy xem. Một kỵ nữ, một người Canaan và một kẻ nói dối. Bạn sẽ không nghĩ nàng sẽ có nhiều cơ hội để được đưa vào trong danh sách, nhưng nàng có mặt ở đó.
Câu chuyện của nàng được gắn với câu chuyện chinh phục rộng lớn hơn của Giôsuê về thành Giêricô có tường bao quanh. Khi Giôsuê sai các thám tử vào trong thành phố, Raháp đã giấu họ trong nhà của nàng. Trong sự trao đổi để đi an toàn ra khỏi thành phố, họ hứa buông tha cho nàng và nhà nàng khi cuộc vây hãm diễn ra. Mọi sự nàng cần phải làm là treo sợi chỉ màu đỏ điều từ cánh cửa sổ để dân Israel có thể nhận ra nhà của nàng. Nàng đã đồng ý, đã che giấu các thám tử, và khi vua của thành Giêricô sai các sứ giả đến đòi nàng phải giao các thám tử, nàng đã nói dối rằng họ đã rời khỏi thành phố rồi (họ đang ẩn trốn trên mái nhà). Nàng thòng họ xuống cửa sổ bằng một sợi dây, nhờ đó họ mới trở về cùng Giôsuê.
Đây là một câu chuyện hay với nhiều bài học, nhưng chúng ta đừng quên chỗ Raháp là một kỵ nữ. Đấy là "nghề" của nàng. Hai người ẩn náu ở đó là vì người ta theo thói quen nhìn thấy nhiều khách lạ đến rồi đi trong suốt cả đêm. Chúng ta cũng không thể bác bỏ sự thực Raháp đã thốt ra một lời nói dối thật trơ trẻn. Có điều chi tốt chúng ta có thể nói về nàng không? Có đấy! Nàng là một phụ nữ có đức tin. Bạn không phải mượn lời của tôi về sự ấy. Hêbơrơ 11:31 chép: "Bởi đức tin, kỵ nữ Ra-háp …". Nàng là một người có lòng tin! Và lời nói dối của nàng bị tác động bởi đức tin của nàng!
Khi cuộc vây hãm thành đã đến, nàng đã được buông tha và theo dòng thời gian đã trở thành tổ mẫu của Vua David. Một kỵ nữ . . . một người Canaan . . . và là một kẻ nói dối. Cũng là một phụ nữ có đức tin. Nàng đã lập danh sách và nàng là một phần trong cây gia đình của Chúa Jêsus.
C. Rutơ
Điểm quan trọng nhất về Rutơ, nàng cũng không phải là một người Do thái. Thực ra nàng xuất thân từ xứ Môáp. Và điều đó đưa chúng ta trở lại với Sáng thế ký 19 và sự hủy diệt thành Sôđôm và Gômôrơ. Vào cái ngày đáng sợ đó, Lót đã trốn ra khỏi thành Sôđôm cùng với vợ và hai cô con gái. Vợ ông đã biến thành một tượng muối, còn Lót và hai cô con gái tìm nơi nương náu trong một cái hang. Hai cô con gái của ông hiển nhiên đã bị tác động xấu xa bởi thời của họ trong thành Sôđôm vì họ âm mưu lừa cha mình vào việc ngủ với họ. Qua nhiều đêm liên tiếp, họ đã phục cho Lót thật say rồi ngủ với ông. Cả hai chị em đều có thai và sanh hai người con trai – một tên là Môáp, còn người kia tên là Ammôn. Hai người con trai nầy – sanh ra trong loạn luân – đã lớn lên để lập ra các quốc gia chắc chắn sẽ rất là gian ác cũng như là kẻ thù cay đắng của dân Israel. Người Do thái thù ghét dân Môáp và dân Ammôn và chẳng muốn làm một việc gì với họ cả.
Quyển sách mang tên của nàng thuật lại mối tình lãng mạn trổ hoa giữa Rutơ người Môáp và Bôô người Israel. Họ là một đôi không chắc là sẽ được, song trong sự tể trị của Đức Chúa Trời họ được kết lại với nhau trong hôn nhân. Họ có một người con trai tên là Ôbết, là người có một con trai tên là Giesê, ông nầy có con trai tên là David, khiến cho Rutơ trở thành tổ mẫu của David. Và đấy là cách một người từ quốc gia thù hận Môáp đã bước vào gia phổ của Đấng Mêsi.
D. Bátsêba
Người đàn bà sau cùng không được nhắc tới đích danh. Tuy nhiên, bà được nhận dạng rõ ràng là người nữ: "là vợ của Uri". Câu chuyện nói tới sự tà dâm của Bátsêba với Vua David ai cũng biết không cần nhắc lại ở đây. Cái điều phải nói, ấy là sự tà dâm chỉ mới là khởi đầu mà thôi. Trước khi sự việc diễn ra, thì chỉ có nói dối, một sự che đậy kiểu hoàng gia, và rồi là giết người. Kết quả là, đứa con mang thai trong đêm đó đã ngã chết sau khi ra đời và gia đình David, đế quốc của ông đã bắt đầu sụp đổ.
Hiển nhiên là David đã cưới Bátsêba và họ có một đứa con trai khác – là Salômôn, người khôn ngoan nhứt đã từng sống. Một kết quả hoàn toàn cho một sự phối hiệp bắt đầu bằng sự tà dâm. Có sự bẩn thỉu trong khắp cả câu chuyện nầy. Nhưng đừng quên điểm chính: Bátsêba đã lập danh sách. Tên tuổi của nàng không có ở đó, nhưng nàng đã được nhắc tới.
Bốn người đàn bà bất xứng
Trước khi tiếp tục, chúng ta hãy suy nghĩ về bốn người nữ nầy trong một phút xem:
Tama: Loạn luân, phi đạo đức, giả dạng làm kỵ nữ, là dân Ngoại.
Raháp: Kỵ nữ, nói dối, lừa đảo, một người Canaan.
Rutơ: Một người xuất thân từ Môáp – một dân sanh ra từ chỗ loạn luân.
Bátsêba: Tà dâm
Bốn người nữ bất xứng:
Họ là dân Ngoại.
Họ dính dáng vào một hình thức phi đạo đức nào đó về mặt tình dục.
Hai người có quan hệ tới nghề kỵ nữ.
Một người phạm tội tà dâm.
Tất cả bốn người đều có mặt trong dòng dõi dẫn tới Đức Chúa Jêsus Christ!
Tại sao Đức Chúa Trời kể những phụ nữ như thế vào trong danh sách nầy? Nhưng không chỉ là những người phụ nữ thôi. Hãy suy nghĩ đến Ápraham, Ysác, Giacốp và David xem. Họ cũng là hạng tội nhân nữa kìa. Tại sao phải kể đến hạng người như thế chứ?
Một sứ điệp cho việc tự xưng công bình
Tôi nghĩ có ba câu trả lời cho câu hỏi ấy:
1. Ngài đã kể như thế để gửi một sứ điệp cho hạng người tự xưng công bình.
Sách Mathiơ được viết ra đặc biệt cho người Do thái. Phần nhiều người trong cấp lãnh đạo của họ (đặc biệt là người dòng Pharisi) đều là hạng người tự xưng công bình và hay xét đoán người khác. Thực sự họ tưởng họ xứng đáng với sự sống đời đời. Đúng là một cú sốc khi đọc bảng gia phổ nầy vì nó đầy dẫy với những kẻ dối trá, giết người, trộm cắp, tà dâm và kỵ nữ. Không phải là một bức tranh xinh đẹp. Không phải là một cây gia đình "trong sạch". Danh sách nầy là một lời quở trách gây nhức nhối cho loại người tự xưng công bình hay xét đoán kia.
Có phải bạn biết nói như thế là có nghĩa gì rồi, phải không? Chúa Jêsus chào đời trong một gia đình tội lỗi. Ngài đã đến từ một dãy dài những tội nhân.
2. Ngài đã kể như thế hầu cho ân điển của Đức Chúa Trời có thể tỏ ra cách dư dật.
Nếu bạn xuất thân từ một gia đình đại loại như thế nầy, bạn không thể khoe khoang chính xác về cơ nghiệp của mình được. Chắc chắn, các tổ phụ của bạn đều là bậc vua chúa, song họ cũng là hạng tội nhân trầm trọng lắm.
Thắc mắc: Một kỵ nữ có thể lên thiên đàng được không? Được hay không? Một kẻ tà dâm có thể lên thiên đàng được không? Một kẻ giết người có thể lên thiên đàng được không? Một kẻ dối trá có thể lên thiên đàng được không? Bạn sẽ nói “được”, vì Raháp và David cả hai đều đang sống ở thiên đàng – và Raháp là một kỵ nữ, một kẻ nói dối và David là một kẻ tà dâm và giết người.
Khi bạn đọc câu chuyện nói tới bốn người đàn bà nầy – và nói tới những người đàn ông trong bảng danh sách – bạn không nên nhắm vào tội lỗi, mà nên nhắm vào ân điển của Đức Chúa Trời thì hơn. Vị anh hùng của câu chuyện nầy là Đức Chúa Trời. Ân điển của Ngài soi tỏa qua chốn tăm tối nhất của tội lỗi con người khi Ngài chọn hạng người nam người nữ chẳng có gì hoàn hảo rồi đặt họ vào trong cây gia đình của Chúa Jêsus.
3. Ngài đã kể như thế hầu cho chúng ta sẽ nhắm vào Đức Chúa Jêsus Christ.
Có nhiều người bị dọa dẫm bởi Đức Chúa Jêsus Christ. Họ đã treo Ngài lên với các thiết bị tôn giáo – nơi thánh to lớn, tấm kính nhơ nhuốc, ca đoàn xinh đẹp, các loại ống sáo, những lời cầu nguyện hình thức, và tất cả những gì còn lại. Khi họ nhìn vào những bộ lễ phục, mọi sự dường như là dọa dẫm đối với họ. Đối với nhiều người trong thế gian ngày nay, Chúa Jêsus dường như tốt quá không thể là thành thực cho được.
Ngài có một lai lịch cũng nhiều thứ giống như lai lịch của bạn và của tôi vậy. Ngài tự gọi mình là "thiết hữu của tội nhân", và Ngài phán Ngài không đến để gọi người công bình, mà gọi kẻ có tội ăn năn. Ngài phán : "Con Người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất" (Luca 19:10).
Nhà cửa cho ngày lễ
Trời đang ở mùa Giáng Sinh, và nhiều người trong chúng ta sẽ về nhà để qua thời gian với gia đình của chúng ta. Một số người trong các bạn không cảm thấy quá sốt sắng về sự ấy. Thay vì thế, bạn sẽ không về nhà trong năm nay, nhưng bạn phải về thôi. Có thể các thành viên trong gia đình làm cho bạn phải bối rối. Một số người trong các bạn sẽ phải sử dụng thời gian với hạng người gây tổn thương cho bạn thật sâu sắc trong quá khứ. Những người làm cha làm mẹ, anh chị em, cô bác cậu dì và ông bà cùng những người bà con xa. Một số người trong họ bạn sẽ vui sướng khi gặp gỡ. Còn những người kia? Một số người trong họ thay vì thế bạn sẽ không bao giờ gặp lại nữa đâu.
Một số trong họ là loạn luân. Có người thì tà dâm. Có người nói dối. Có kẻ thì giết người. Có người đầy dẫy với giận dữ và cay đắng. Có người thì độc ác trong những phương thức thật kỳ cục. Và bạn ao ước bạn sẽ không phải làm những chuyện mà bạn đã làm – về nhà và đối mặt với các thành viên trong gia đình trong mùa lễ Giáng Sinh.
Chúa Jêsus hiểu rõ cách mà bạn đang cảm nhận. Ngài đã đến từ một gia đình chẳng có tiếng tăm chi hết. Cây gia đình của Ngài được trang hoàng với hạng tội nhân có tiếng. Ngài biết rõ có người thân làm cho bạn phải đau buồn có ý nghĩa như thế nào rồi! Ngài biết hết mọi sự về tình huống gia đình khác thường rồi.
Những tin tức tốt lành từ cây gia đình của Chúa Jêsus
Quan điểm sau cùng của tôi sẽ khích lệ bạn nhiều đấy: Bất luận quá khứ của bạn có là gì đi nữa, Chúa Jêsus có thể cứu bạn đấy.
Bất cứ một kẻ giết người nào đọc thấy mấy lời nầy? Bất kỳ kỵ nữ nào? Bất kỳ kẻ tà dâm nào? Bất cứ kẻ nói dối nào? Bất kỳ kẻ lừa đảo nào? Dù là hạng người hay giận dữ? Bất cứ tên trộm cướp nào? Bất kỳ kẻ giả hình nào?
Những Tin Tức Tốt Lành! Bất luận những gì bạn đã làm trong quá khứ, Chúa Jêsus có thể cứu lấy bạn. Nếu một kỵ nữ có thể được cứu, bạn có thể được cứu. Nếu một tên giết người có thể được biến đổi, bạn có thể được biến đổi. Nếu một người loạn luân có thể được cứu, thế thì có hy vọng cho bạn đấy.
Bất luận quá khứ của bạn trông giống với điều gì, hay hiện tại của bạn có như thế nào đi nữa, bất luận bạn đang ở đâu hay bạn đã làm gì, Đức Chúa Trời có thể ban cho bạn một khởi đầu mới.
Hy vọng cho người tổn thương
Sau khi tôi đã giảng bài nầy trong một buổi thờ phượng trước đây, có một người đang nếm trải một cuộc ly dị thật khó khăn đã nói mấy lời nầy với tôi: "Tôi vui sướng khi biết có ai đó đến từ một gia đình đã tan vỡ". Ông ấy đã đúng. Có nhiều điều khác thường trong cây gia đình của Chúa Jêsus. Có nhiều sự tan vỡ và nhiều đau đớn lắm.
Ngài biết rõ bạn đang nếm trải điều gì trong năm nay vào mùa lễ Giáng Sinh.
Tôi hy vọng bạn sẽ không bỏ qua Mathiơ 1 trong việc đọc Kinh thánh. Danh sách bất thường nầy về những con người không bình thường có thể là chương quan trọng nhất nói tới ân điển của Đức Chúa Trời trong cả Kinh thánh. Trong những cái tên bị lãng quên nầy từ quá khứ, Đức Chúa Trời đã xoay ngọn đèn ân điển thánh của Ngài chiếu trên những người nam người nữ sa ngã, và qua đời sống của họ, chúng ta nhìn thấy mọi điều mà ân điển của Đức Chúa Trời có thể thực hiện.
Những tin tức tốt lành! Đức Chúa Jêsus Christ đã đến thế gian để cứu lấy hạng tội nhân. Những tin tức tốt lành! Hãy kêu cầu danh Chúa Jêsus, Ngài đã đến đặng cứu dân Ngài ra khỏi tội lỗi của họ. Ngài không đến để biến bạn ra hạng người tôn giáo, Ngài đã đến để cứu bạn ra khỏi tội lỗi của bạn. Ngài không đến để biến bạn thành hạng người kỉnh kiền, Ngài đã đến để cứu bạn ra khỏi tội lỗi của bạn. Ngài không đến vì sự cải tổ đạo đức, Ngài đã đến để ban cho ơn cứu rỗi đời đời.
Sự việc dường như thật kỳ lạ, bạn càng tệ hại dường nào, bạn lại càng là ứng viên tốt hơn cho ân điển của Đức Chúa Trời. Ngài đã đến để làm cho bạn những gì bạn không thể làm được cho chính mình. Ngài đã đến để cứu bạn ra khỏi tội lỗi của bạn.
Cũng chính ân điển ấy mà Raháp đã kinh nghiệm điều sẵn có hiện nay cho bạn. Tôi mời bạn trong danh Chúa Jêsus hãy đến nhận và được tha thứ. Ngài đã thực hiện động tác thứ nhứt rồi. Bước kế tiếp là dành cho bạn đấy!

HÀNH TRÌNH ĐẾN BẾTLÊHEM



HÀNH TRÌNH ĐẾN BẾTLÊHEM
Trong mấy năm qua, chương trình phát thanh Moody ở Chicago đã yêu cầu tôi phải làm một loạt “hình ảnh bằng lời” mô tả các biến cố xoay quanh sự ra đời của Chúa Jêsus. Nancy Turner, chủ trì chương trình: “Đây là Ngày của WMBI-FM”, giới thiệu tôi và rồi để cho tôi thuật lại câu chuyện trong vài phân đoạn ngắn có kèm theo phần nhạc đệm Giáng Sinh. Bạn có thể nghe trên mạng với phiên bản 2010 của chương trình.
Tôi luôn thấy việc nghĩ lại một số biến cố quan trọng xoay quanh sự ra đời của Đấng Christ là một sự thách thức đầy thú vị. Những gì nối theo sau không phải là trọn vẹn đâu, dù là cách thế nào! Tôi không nói tới điều gì về mấy gã chăn chiên hay mấy thầy bác sĩ, mặc dù cả hai nhóm đã đóng các vai trò cụ thể trong truyện tích Giáng Sinh. Kể đến họ sẽ khiến cuộc “hành trình” dài lắm trên đài phát thanh. Thay vì thế, tôi đã chọn nhắm vào Giôsép và Mary cùng bản thân sự ra đời ấy.
Tôi hy vọng việc kể lại với tính cách sáng tạo như thế nầy sẽ làm cho tấm lòng của bạn thấy vui vẻ khi chúng ta sửa soạn kỷ niệm sự ra đời của Chúa chúng ta.
Phần 1: Chúc Mừng Giáng Sinh, Caesar Augustus
Truyện tích Giáng Sinh theo truyền thống từ sách Luca bắt đầu theo cách nầy: “Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên hạ” (Luca 2:1). Phần lớn chúng ta đều đọc mấy lời ấy mà chẳng dành cho chúng một suy nghĩ phụ nào cả.
Hiển nhiên, Caesar Augustus là Hoàng đế quan trọng nhất trong các Hoàng đế của Lamã, thậm chí còn quan trọng hơn cả ông bác của ông ta là Julius Caesar nữa. Cần phải nói rằng khi ông ta đến Rome, thành phố nầy chỉ là một thành xây bằng gạch thôi, và khi ông ta rời đi thì thành ấy là một thành dựng bằng cẩm thạch. Caesar Augustus đã trị vì trong vai trò Hoàng đế trong 41 năm. Trong suốt thời gian ấy, ông ta đã cung ứng cho thế giới pax romana, nền hòa bình thịnh vượng theo kiểu Lamã trải khắp thế giới Địa Trung Hải.
Việc làm quan trọng nhất của ông – việc làm ấy có hiệu quả kéo dài nhất trên lịch sử thế giới – là mở ra một cuộc điều tra dân số trên cả đế quốc. Cuộc điều tra dân số sẽ tạo ra một danh sách những chủ nhân ông giàu có vì mục tiêu thâu các thứ thuế. Đây là một chiếu chỉ hoàn toàn thế tục, loại việc mà các nhà cầm quyền đã làm theo kể từ khi bắt đầu thời gian.
Nhiều sử gia thuật lại cho chúng ta biết ấy chẳng phải cả đế quốc sắp sửa chiêu binh vào thời điểm đó. Sau khi có một hệ thống truyền tin chậm chạp vào thời buổi ấy, cần phải mất mấy năm trời cho cuộc điều tra dân số được hoàn tất trong một vài tỉnh xa xôi hẻo lánh. Một lá thăm sẽ nương vào sự bằng lòng của những nhà cai trị địa phương khi họ muốn cộng tác.
Khi thời điểm đến để thực hiện cuộc điều tra dân số tại xứ Israel, vấn đề khả thi ấy là một sự thỏa hiệp đã được thực hiện để phù hợp với thông tục của người Do thái. Người Lamã đã chiêu nạp những người ở nơi họ đang sinh sống, nhưng tin tức tính đến những dòng họ tùy theo quê quán của tổ phụ họ nữa. Điều đó giải thích lý do tại sao Giôsép và Mary phải trở về thành Bếtlêhem vào thời điểm bất tiện nhất – vào tháng thứ chín mang thai của Mary.
Điều nầy là chắc chắn lắm. Caesar Augustus không hề gặp Giôsép hay Mary, và ông ta không hề biết một con trẻ Do thái chào đời tại một ngôi làng ở ngoài thành Jerusalem. Khi Augustus qua đời, họ đã than khóc giống như thể một vị thần đã ngã chết vậy. Họ biết rất ít về sự ông ta mở ra cuộc điều tra dân số đã được Đức Chúa Trời đại dụng để đem Con của Ngài đến với đất.
Vì vậy, Merry Christmas, Caesar Augustus. Ông đã đóng một vai mà ông không hề biết rõ và đã lót đường cho sự ra đời của một Vì Vua.
Phần 2: Sự lựa chọn của Mary
Khi câu chuyện mở ra, Mary đã được “hứa gã” cho Giôsép. Nói như thế có nghĩa là theo hình thức nàng đã đồng ý lấy ông làm chồng, nhưng “đám cưới” chưa diễn ra đấy thôi. Sự “hứa gã” và “tiệc cưới” thường cách nhau từ sáu tháng đến một năm. Trong suốt thời gian ấy, hai người không sống chung với nhau và không qua đêm tân hôn về phần thuộc thể. Theo thông tục thời buổi đó, Mary sẽ sống với bố mẹ mình và Giôsép sống với bố mẹ của ông. Sau tiệc cưới công khai, Mary và Giôsép sẽ chung sống với nhau như vợ chồng.
Mọi sự ở Luca 1-2 xảy ra ngược lại với thông tục hiện có. Mary đang ở độ tuổi thanh thiếu niên sống chung với bố mẹ mình, đang trông đợi với sự tán thưởng hạnh phúc ngày đám cưới của mình.
Chính ngay thời điểm nầy thì Đức Chúa Trời xen vào. Ngài sắp sửa yêu cầu một thanh nữ dự phần vào một việc gây sốc thật hoàn toàn khó mà tin được. Những điều Đức Chúa Trời yêu cầu Mary phải làm sẽ thay đổi đời sống của nàng cho đến đời đời.
Những giấc mơ hạnh phúc kia về một đám cưới xinh đẹp đã qua mất đi; những tháng ngày trông đợi ngọt ngào không còn nữa; những chương trình được suy tính cẩn thận cho tiệc cưới đã qua rồi; mọi hy vọng về “đám cưới xinh đẹp nhất cho người đàn ông tuyệt vời nhất từng sống” không còn nữa; mọi hy vọng thời con gái của nàng về một cuộc sống êm ái trong ngôi nhà mà nàng sẽ tự mình lo trang trí đã qua đi rồi.
Nàng sẽ kết hôn, nhưng không được trước khi nhiều tiếng đồn lan ra khắp cả xứ. Sẽ có một tiệc cưới, song không phải theo cách nàng dự tính. Nàng sẽ có một ngôi nhà và con cái, song gia đình nàng sẽ còn lại với một đám mây nghi ngờ dày đặc.
Sự ấy sẽ xảy ra, song không phải theo cách nàng trông mong.
Trong lịch sử của Hội thánh, Mary thường được phác họa như một loại nhân vật ảo huyền, ở một thế giới rất khác kìa. Nếu bạn nhìn vào một số tranh ảnh nói tới Mary, chúng cho thấy cho cái nhìn của nàng thật thanh thản và sung sướng đến nỗi bạn gần như quên nàng là một con người thật vậy. Đấy là một sự xấu hổ vì Luca nói rõ rằng nàng là một con người thật, với những mối hồ nghi rất thực, những thắc mắc rất thực và có đức tin cũng rất thực. Không một chỗ nào điều nầy được thấy rõ ràng hơn ở Luca 1:38.
Mary đáp: “Tôi đây là tôi tớ Chúa. Nguyện sự ấy xảy ra như lời người truyền”. Thế rồi thiên sứ lìa khỏi nàng.
Đây là một trong những câu nói long trọng nhất chỉ về đức tin trong cả Kinh thánh. Có lẽ vấn đề đã xảy ra giống như việc nầy. Trời vào lúc giữa trưa và mẹ của bạn bảo bạn ra giếng lấy một ít nước. Trên đường ra tới giếng, bạn gặp một người ăn mặc giống như thiên sứ Gápriên. Ngài nói cho bạn biết, mặc dù bạn là một nữ đồng trinh, bạn sẽ chịu thai rồi sanh một đứa con, đứa con ấy sẽ trở thành Con của Đức Chúa Trời. Khi bạn thắc mắc làm sao có được sự ấy, thiên sứ phán: “Đức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép Đấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình” (Luca 1:35).
Bạn nói gì về việc ấy?
Mary đã đáp “vâng”. “Vâng” với Đức Chúa Trời, “vâng” với điều khó tin, “vâng” với chương trình của Đức Chúa Trời.
Có phải trái tim nàng nhảy một nhịp đập khi nàng đáp “vâng” không? Nàng đứng đó, mái đầu xanh nghiêng nghiêng, hai bàn tay run rẩy, đôi mắt mở tròn xoe, bồn chồn, miệng há hốc ra, thắc mắc song không sợ hãi, lấy làm lạ nhưng chẳng kinh khủng, không có gì bảo đảm nhưng không phải là không dám chắc. Khi thiên sứ phán: “Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được" (Luca 1:37), Mary hít một hơi thật dài rồi đáp: “xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền!"
Với lời lẽ ấy, lễ Giáng Sinh đã đến với trần gian.
Phần 3: Mary tin điều khó tin
Chúng ta không đánh giá thấp mọi giá phải trả khi Mary đáp “vâng” với Đức Chúa Trời. Từ thời điểm ấy trở đi, nàng đối mặt với sự ngờ vực của bạn bè mình (“Ôi Mary, làm sao cô mong chúng tôi tin một việc kỳ cục như thế cho được?”), sự đồn đại của người hàng xóm, rồi những tiếng thầm thì về sự lang chạ đã kéo dài những 2.000 năm.
Mary biết rõ – hay không lâu sau đó sẽ nhận ra – rằng nói “vâng” với Đức Chúa Trời có nghĩa là bị hiểu lầm và xấu hổ công khai. Tiếng tăm thanh sạch của nàng cùng với những giấc mơ về một đời sống êm ái, cuộc sống hạnh phúc tại thành Naxarét đã qua đi mất rồi. Trong tương lai, đời sống của nàng sẽ nhiều lần phước hạnh, song cuộc sống ấy sẽ không bao giờ là êm ái nữa.
Khi chúng ta biết đoạn kết của câu chuyện, chúng ta sẽ có khuynh hướng nhìn vào tính khả thi của sự ly dị. Nhưng Mary chớ hề biết Giôsép sẽ phản ứng ra sao trước sự mang thai của nàng. Liệu chàng có thổi bùng lên rồi tẻ tách ra khỏi nàng? Liệu chàng có sỉ nhục nàng công khai không? Chắc chắn chàng sẽ ly dị nàng quá?
Khi sự việc biến chuyển, Mary đã có từng lý do để lo lắng về Giôsép. Chàng đã không thổi bùng lên hay tìm cách làm nhục nàng, nhưng chàng đã tính đến việc ly dị nàng. Chỉ có sự can thiệp duy nhứt của thiên sứ mới giữ cho việc ấy không xảy ra mà thôi.
Việc ấy cũng nằm trong tâm trí của Mary nữa. Bằng cách đáp “vâng”, nàng đã liều mất người chồng mà nàng yêu dấu. Toàn bộ tương lai của nàng đã nằm trên tuyến đầu rồi.
Tất cả mọi việc nầy chỉ mới là khởi đầu. Mary không thể biết được tương lai đang nắm giữ những gì!?! Trước khi mọi sự qua đi, nàng sẽ kinh nghiệm chứng đau đầu, sự chống đối, vu khống, đau đớn, thất vọng và cô độc. Đến cuối cùng, nàng sẽ đối mặt với nổi đau lớn lao nhất mà một người mẹ có thể gánh chịu khi nàng nhìn thấy con mình chịu chết trên thập tự giá (Giăng 19:25).
Mary không thể biết được hết mọi sự ấy. Có lẽ nếu nàng biết được, nàng sẽ không đáp “vâng” đâu. Nhưng rõ ràng là nàng chẳng biết. Có khi chúng ta nói: “Tôi ước ao mình biết được tương lai đang nắm giữ gì cho mình”. Nhưng thực sự bạn không muốn biết đâu. Tốt hơn là chúng ta đừng biết cuộc sống sẽ đem lại gì cho chúng ta trong 10 hay 15 năm tới.
Mary không biết đủ cái giá của việc đáp “vâng” ấy. Nhưng sau khi đã đưa ra quyết định rồi, nàng không hề nhìn lại sau. Hai phương diện ấy trong cuộc sống của nàng có thể là những việc quan trọng nhất mà chúng ta có thể nói về nàng:
1. Nàng đã tin theo Đức Chúa Trời khi sự việc dường như là khó tin.
2. Nàng đã không hề nhìn lại sau.
Đức Chúa Trời phán: “Có phải ngươi bằng lòng tin điều khó tin chăng?"
Mary đã đáp: “Phải, tôi tin!"
Không có lời đáp “vâng” ấy, thì sẽ chẳng có một Lễ Giáng Sinh nào hết.
Phần 4: Một người chồng nhơn đức
Giôsép đúng là một người bị lãng quên trong dịp Lễ Giáng Sinh. Thật là tự nhiên khi hầu hết sự chú ý của chúng ta đều nhắm vào Mary khi nàng đã hạ sanh Chúa Jêsus. Không một chỗ nào trong câu chuyện nói tới sự Chúa ra đời, chúng ta có được lời lẽ nào của Giôsép đã được ghi lại. Ông xuất hiện trên sân khấu của lịch sử chỉ có mấy phút và rồi biến mất. Đây là những gì chúng ta biết về ông:
- Cha của ông là Giacốp.
- Thị trấn quê hương của ông là thành Bếtlêhem trong xứ Giuđê, nhưng ông đến sống tại thành Naxarét trong xứ Galilê. Nói như thế có nghĩa là Giôsép và Mary phải đi khoảng 80 dặm để đăng ký vào cuộc điều tra dân số.
- Ông xuất thân từ dòng dõi hoàng tộc của Vua David. Bảng gia phổ ở Mathiơ 1 nói rõ điều nầy.
- Ông là một tay thợ mộc.
- Ông là một người nghèo. Chúng ta biết như thế là vì, khi ông cùng Mary đem dâng Chúa Jêsus trên Đền Thờ, họ đã mang theo hai con chim bồ câu để dâng tế lễ (Luca 2:24). Người Do thái chỉ làm thế khi họ không có nổi một chiên con.
- Ông là người tuân giữ Luật pháp.
Giôsép bao nhiêu tuổi? Chúng ta không biết chắc câu trả lời, nhưng nhiều trước giả đều đồng ý rằng có lẽ ông là một người trưởng thành và có thể ông là một thanh niên.
Giờ đây, Mary tới lúc hạ sanh. Giôsép chỉ biết chắc một việc. Ông không phải là người cha.
Lời lẽ nào mô tả một người chồng vào thời điểm như lúc nầy? Giận dữ . . . Nhầm lẫn . . . Thất bại . . . Bối rối . . . Xấu hổ . . . Cuồng nộ . . . Thất vọng.
Ông đã nói gì với nàng? Nàng đã nói gì với ông? Có phải nàng nói cho ông biết về thiên sứ Gabriel chăng? Nếu nàng nói thế, có phải bạn đổ thừa ông ấy vì không tin theo nàng chăng?
Có phải ông nói với nàng: “Mary ơi, em sao vậy? Em đã được hứa gã cho anh rồi. Chúng ta sắp sửa làm đám cưới mà. Anh sẽ xây một ngôi nhà nhỏ cho chúng ta ở thành Naxarét. Mary ơi, Mary ơi, làm sao em lại nỡ làm vậy chứ? Tại sao, Mary ơi, tại sao? Anh đã giữ mình vì em. Tại sao em không thể giữ mình vì anh chứ?”
Tôi nghĩ Giôsép đã kêu gào khó nhọc trong ngày ấy hơn là ông đã từng kêu gào trong cuộc đời của ông.
Mathiơ 1:24-25 được kỷ niệm cách sơ sài như mấy câu nói trong dịp Lễ Giáng Sinh. Chúng tỏ ra tánh tình tuyệt hảo của Giôsép:
Khi Giôsép thức giấc, ông đã làm theo những gì thiên sứ của Đức Giêhôva đã căn dặn ông là đem Mary về nhà làm vợ của mình. Song ông chẳng ăn ở với nàng cho tới chừng nàng hạ sanh một con trai. Và ông đã đặt tên cho con ấy là Jêsus.
Từng bước một, ông đã làm chứng về sự cao trọng của mình:
1. Bằng cách cưới nàng cách mau chóng, ông đã phá vỡ tục lệ của người Do thái, nhưng ông đã bảo hộ cho tiếng tăm của Mary. Nàng đã có thai và ông không phải là cha, nhưng ông đã cưới nàng cho dù là thế nào đi nữa.
2. Bằng cách giữ nàng là đồng trinh cho tới chừng Chúa Jêsus ra đời, ông đã bảo hộ phép lạ thai dựng Chúa Jêsus bởi Đức Thánh Linh, chống lại lời vu khống của những người không tin.
3. Bằng cách đặt tên cho Con Trẻ, ông đã thực thi đặc quyền của một người cha, rồi vì thế chính thức đem Ngài vào trong gia đình của ông giống như là con ruột của ông vậy.
Truyện tích trong Mathiơ 1 được thuật lại thật chính xác giống như một người sẽ thuật là câu chuyện ấy vậy. Tôi thích Giôsép. Tôi ao ước tôi sẽ gặp ông ấy. Ông ấy gây ấn tượng trên tôi như một con người thật nhơn đức.
Chúng ta càng nên chú ý nhiều vào Mary. Nhưng Giôsép cũng xứng đáng với việc làm của mình đấy. Ông là một người có đức tin, phấn đấu với những nghi ngờ, được khuyên bảo phải tin theo những gì Đức Chúa Trời đã phán dạy, và hoàn toàn hành động theo sự khuyên bảo của Ngài.
Giôsép đứng như một tấm gương mà một người tin kính phải giống như thế:
Ông thật mạnh mẽ khi ông yếu đuối.
Ông dịu dàng khi ông đáng phải thô lỗ.
Ông biết suy nghĩ khi ông hấp tấp.
Ông tin cậy khi ông có thể hồ nghi.
Có một sự minh chứng khác về loại người giống như Giôsép. Khi Chúa Jêsus lớn lên rồi bắt đầu thi hành chức vụ của Ngài, Ngài đã chọn một từ cao hơn những từ khác để mô tả Đức Chúa Trời giống với ai. Ngài đã gọi Đức Chúa Trời là Cha.
Phần 5: Trong chiếc máng cỏ
Nhiều giờ trôi qua trong chuồng chiên lạnh lùng ấy. Sau cùng, những cơn đau dường như chỉ còn là một. Giây phút chào đời đã đến. Mary kêu la, lấy hết sức lực mình, rồi ngã ngữa trên chiếc mền. Không có gì hết. Thế rồi một âm thanh nho nhỏ, một tiếng khóc, rồi tiếng kêu lớn. Đấy là một đứa con trai, một bé trai xinh đẹp, khỏe mạnh, sáng sủa.
Giôsép đã bồng con trẻ cho Mary xem thấy. Nàng nói: “Để em bồng con cho”. Và nàng đã ẳm lấy con trẻ. Nàng nằm ở đó trong một lúc. Giờ đây, giấc ngủ mà nàng đã chiến đấu trong nhiều giờ đã đến với đôi mắt của nàng, sự căng thẳng của chuyến đi dài sau cùng đã bắt kịp nàng. Hơn bất kỳ điều chi khác trên thế gian, nàng muốn ngủ một giấc. Nhưng trước khi nàng đi ngủ, nàng đã nhặt lấy một mãnh vải rách, được xé ra từ mấy cái khăn, rồi quấn con trẻ thật chặt. Thế rồi nàng tìm một chỗ để đặt con trẻ vào. Chỗ duy nhứt nàng có thể tìm được là cái máng cho súc vật ăn – được đẻo ra từ đá, xù xì, với một ít thức ăn còn đọng lại ở đáy. Như thế là đủ rồi. Nàng đã đặt con trẻ vào chiếc máng cho súc vật ăn và rồi nằm xuống mà ngủ. Hôm ấy là một ngày dài, thật dài. Khi nàng chợp mắt ngủ, nàng lấy làm lạ không biết sáng mai họ sẽ đi đâu!?!
Ông thì không ngủ được. Có quá nhiều việc để suy nghĩ. Ông quả là một người may mắn. Trước tiên ông nhìn vào vợ mình – quá mệt mõi, tuy nhiên rất xinh đẹp – và rồi nhìn vào con trẻ – chắc chắn là con trẻ xinh đẹp nhất trong thế gian.
Kỳ lạ làm sao, sao mọi sự lại kết thúc như vầy. Việc đã xảy ra y như thiên sứ đã phán sẽ xảy ra. Ông không lo về việc đặt tên cho con trẻ. Thiên sứ đã lo việc ấy rồi. “Ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội” (Mathiơ 1:21).
Thiệt là lạ lùng, sự việc xảy ra cho ông – Giôsép – chỉ là một tay thợ mộc quèn. Và với Mary – một thiếu nữ vô tư ở độ tuổi thanh thiếu niên. Ai có thể tưởng được hết mọi chuyện chứ? Emmanuên, thiên sứ phán, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Mary, là người chưa hề nhận biết Giôsép, giờ đây đã hạ sanh con đầu lòng của mình. “Nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai” (Êsai 7:14).
Đấy là phương thức mà đêm Giáng Sinh đầu tiên đã xảy ra cách đây 2.000 năm. Con trẻ đang nằm ngủ, người mẹ đang nằm mộng, người cha đang suy gẫm, còn Đức Chúa Trời đang quan phòng hết mọi sự.

Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010

Ra đời vì một mục đích



Truyện tích Giáng Sinh:
Ra đời vì một mục đích

Mục sư David E. Owen
Luca 2:1-12
Khi chúng ta nghiên cứu các biến cố cùng những chi tiết xoay quanh sự ra đời của Chúa Jêsus, chúng ta nhận ra rằng có một sự việc lớn lao được thấy có trong các yếu tố của bối cảnh ra đời của Ngài. Thí dụ, sự thực chẳng có một phòng trống nào dành cho họ ở nhà quán cho thấy rằng "Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy" (Giăng 1:11). Có lẽ còn hơn thế nữa, các biến cố xoay quanh sự ra đời của Ngài chỉ ra các phương diện liên quan đến sự chết của Ngài. Chúng ta không thể xây dựng lẽ đạo trên các hình bóng và kiểu cách được, nhưng chúng ta biết rõ Chúa Jêsus theo một ý nghĩa đích thực, như Ron Hamilton đã viết: "Ra đời để chịu chết trên đồi Gôgôtha"; và thậm chí trong sự ra đời của Ngài, chúng ta nhìn thấy cái bóng của sự chết Ngài. Cái nôi của Lễ Giáng Sinh chỉ ra thập tự giá ở đồi Gôgôtha. Chúng ta hãy để ý một số việc về sự ra đời của Ngài và kế đó hãy rút tỉa một số điều tương ứng với sự chết của Ngài.
Ngay tức khắc chúng ta nhìn thấy một sự so sánh cơ bản giữa hai biến cố nầy. Vì trong Luca 2:6-7: "Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ của Ma-ri đã đến. Người sanh con trai đầu lòng". Khi ấy chúng ta biết rằng mẹ Ngài đã hạ sanh Ngài. Nhưng chúng ta cũng biết Cha của Ngài đã phó Ngài cho đến chết, vì Kinh thánh nhắc: "Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho" (Rôma 8:32). Khi chúng ta bắt đầu . . .
I. Chúng ta hãy xem xét các địa điểm dính dáng tới sự ra đời và sự chết của Ngài.
Bếtlêhem nằm cách thành Jerusalem sáu dặm về hướng tây nam, và hai biến cố mà chúng ta đang nói tới có khoảng cách những 33 năm. Tuy nhiên, chúng ta khám phá chỗ giao thoa thú vị của tư tưởng giữa hai địa điểm nầy khi chúng ta nghiên cứu những điểm tương đồng giữa sự ra đời của Chúa Jêsus tại thành Bếtlêhem và sự chết của Ngài tại thành Jerusalem.
A. Ở cả hai nơi nầy, chúng ta nhìn thấy đoàn dân đông. Kinh thánh cho chúng ta biết "vì nhà quán không có đủ chỗ ở" (câu 7). Vì cớ thuế má hay cuộc điều tra dân số của Augustus, thành Bếtlêhem đã đầy ắp người không đủ chỗ chứa. Và trong khi sự mến khách, theo một số tác giả, là yếu tố chính trong sinh hoạt của người Do thái, nhà cửa và phòng riêng của khách hết thảy đều đầy ắp từ lâu trước khi Giôsép và Mary đến đó. Ba mươi ba năm sau sự ra đời của Ngài, Kinh thánh nhắc tới một "đoàn dân đông" ở tại thành Jerusalem (Luca 23:1), và khi ấy chúng ta được thuật cho biết khi Chúa Jêsus bị dẫn tới đồi Gôgôtha "Có đoàn dân đông lắm đi theo Đức Chúa Jêsus" (Luca 23:27). Giống như 33 năm trước một cuộc điều tra dân số đã nhóm lại một đoàn dân đông, còn giờ đây, 33 năm sau, một cuộc đóng đinh trên thập tự giá đã nhóm lại một đoàn dân đông. Chúng ta cũng phải đối chiếu "muôn vàn thiên binh với thiên sứ" muốn ngợi khen Ngài ở Luca 2:13 với đoàn dân đông thù ghét Ngài muốn "đóng đinh hắn trên thập tự giá" ở Luca 23:21.
B. Ở cả hai nơi nầy chúng ta nhìn thấy ở ngoài trại quân. Từ Hylạp nói tới "nhà quán" ở Luca 2:7 ám chỉ một loại nhà đơn sơ kiểu cách đa dạng được biết như một trạm nghỉ trên sa mạc, và những trạm nghỉ nầy sẽ hiến cho lữ khách sự bảo hộ trong bốn bức tường, một mái nhà, nước uống, một chút tiện nghi nho nhỏ. Theo Cunningham Geikie, thường thì nhà quán bao gồm những căn phòng vuông vức quanh một sân rộng. Nếu đây là trường hợp tại thành Bếtlêhem, khi ấy họ bị buộc phải ra phía ngoài khu vực vuông vức, có rào xung quanh của nhà quán để tìm chỗ sanh Chúa Jêsus. Giống như chẳng có chỗ nào để tiếp nhận Ngài khi ra đời, chẳng có một sự tha thứ nào khi “hãy đóng đinh hắn trên thập tự giá, hãy đóng đinh hắn trên thập tự giá" vậy (Luca 23:21). Và Kinh thánh cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus "đã chịu khổ tại ngoài cửa thành để lấy huyết mình làm cho dân nên thánh" (Hêbơrơ 13:12). Giống như họ đã ra ngoài nhà quán vuông vức, có rào xung quanh để Chúa Jêsus ra đời – họ đã ra ngoài bốn bức tường của thành vì sự chết của Ngài.
C. Ở cả hai nơi nầy, chúng ta nhìn thấy những cảnh ngộ tối tăm. Thế rồi khi sự tối tăm ăn luồn vào khắp vùng đồi núi xứ Giuđê và đồng trũng vây quanh thành Bếtlêhem, Mary bắt đầu kinh nghiệm nổi đau và sự buồn rầu của việc sanh nở khi "người sanh con trai đầu lòng" (câu 7). Chúa Jêsus về sau nói tới nổi đau của sự sanh nở khi Ngài phán: "Người đàn bà, lúc sanh đẻ thì đau đớn, vì giờ mình đến rồi; song khi đứa con đã lọt lòng, người không còn nhớ sự khốn khổ nữa, mừng rằng mình đã sanh ra một người trong thế gian" (Giăng 16:21). Ngài đã nói như thế về quá trình sanh nở, vui mừng theo sau sự buồn rầu. Và sự ra đời đặc biệt của Ngài đã đem lại sự vui mừng, không những cho một người phụ nữ, mà còn phước hạnh cho cả một thế giới. Tương tự thế, vào thời điểm sự chết của Chúa Jêsus tại thành Jerusalem, Kinh thánh chép rằng "khắp đất đều tối tăm mù mịt" (Mác 15:33). Và "Đức Chúa Jêsus, …là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời" (Hêbơrơ 12:2). Ngài biết rõ trong quá trình sự chết của Ngài trên thập tự giá, vui mừng sẽ theo sau sự buồn rầu.
II. Chúng ta hãy xem xét các nhân vật dính dáng vào sự ra đời và trong sự chết của Ngài
Khi đọc về sự ra đời và về sự thương khó của Đấng Christ thì phải quen thuộc với một số nhân vật. Sự đa dạng rõ ràng về phái tính không phải là một giới hạn, vì trong cả hai biến cố kỳ diệu nầy, chúng ta thấy có sự dính dáng của cả nhiều người nam người nữ. Sự đa dạng bầu không khí của vũ trụ không phải là một vấn đề, vì chúng ta thấy có những hữu thể con người và thiên sứ trong đó.
A. Những người có quan hệ mật thiết trong các biến cố nầy. Sau khi Ngài ra đời, hai người có mặt ở gần – một người nam tên là Giôsép và một người nữ tên là Mary. Có lẽ chính Giôsép đã "lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ" (Luca 2:7) khi Mary nhìn theo. Tương tự, sau khi Ngài qua đời, ba người có mặt ở gần – một người tên là Giôsép và hai phụ nữ có tên là Mary. Mác cho chúng ta biết Giôsép người Arimathê "đã mua vải liệm, cất xác Đức Chúa Jêsus xuống khỏi cây thập tự, dùng vải liệm vấn lấy Ngài, rồi để xác trong huyệt đã đục trong hòn đá lớn, đoạn, lăn một hòn đá chận cửa huyệt lại. Vả, Ma-ri Ma-đơ-len cùng Ma-ri mẹ Giô-sê, đều thấy chỗ táng Ngài" (Mác 15:46-47).
B. Những người có quan hệ gắn bó trong hai biến cố nầy. Lòng tôi vẫn còn rung động khi nghe nói tới những người canh, mấy gã chăn chiên, họ đã "trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên" (Luca 2:8). Mỗi người chăn chiên đều bị "dân Ê-díp-tô có tánh gớm ghê" (Sáng thế ký 46:34), song mấy gã chăn chiên đặc biệt nầy đã có đặc ân gắn bó với thiên sứ là Đấng đã loan báo sự ra đời và thăm viếng của Đấng Thánh. Nhưng trong một tư thế tương tự, chúng ta cũng nhìn thấy mấy người đàn bà, khi "ngày Sa-bát qua rồi, Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ, cùng Sa-lô-mê mua thuốc thơm đặng đi xức" xác Chúa Jêsus sau khi Ngài qua đời (Mác 16:1). "Đoạn, họ vào nơi mộ, thấy một người trẻ tuổi ngồi bên hữu, mặc áo dài trắng" (Mác 16:5). Và chính ở đây, chúng ta thấy sự gắn bó của họ với thiên sứ là Đấng loan báo sự đắc thắng của Đấng đã chết giờ đây đã sống lại.
C. Những người có quan hệ mang tính yên ủi trong các biến cố nầy. Vào thời điểm theo sau sự ra đời của Chúa Jêsus, khi thiên sứ của Chúa ngắt ngang sự yên lặng và tĩnh mịch ban đêm, Kinh thánh chép rằng mấy gã chăn chiên "rất sợ hãi" (Luca 2:9). Nhưng rồi chúng ta được cho hay về những lời yên ủi của các hữu thể đời đời nầy, họ nói: "Đừng sợ chi" (Luca 2:10). Đúng là một sự yên ủi khi nhìn biết một Đấng Cứu Thế chào đời (như chúng ta đã đọc thấy ở Luca 2:11), rằng Ngài đã ra khỏi tử cung! Tương tự, trong những ngày sau cái chết của Chúa Jêsus, chúng ta lại thấy một thiên sứ đưa ra một loan báo thật yên ủi cho một số người đang có lòng hoảng sợ. Thậm chí chúng ta có thể nói rằng mấy người đàn bà nầy "rất sợ hãi" khi họ nhìn thấy một người trẻ tuổi ngồi bên hữu, mặc áo dài trắng. Nhưng Ngài phán cùng họ rằng: "Đừng sợ chi" (Mác 16:6). Nói khác đi: "Đừng sợ". Đúng là một sự yên ủi khi nhìn biết "Ngài đã sống lại rồi" (Mác 16:6), rằng Ngài đã ra khỏi mộ địa!
III. Chúng ta hãy xem xét những điểm đặc biệt có quan hệ tới sự ra đời và trong sự chết của Ngài
Tiểu thuyết gia người Pháp Gustave Flaubert đã nói: "Đức Chúa Trời ở trong từng chi tiết". Tôi không tranh cãi gì về câu nói nầy. Thực vậy, khi chúng ta tiếp tục quan sát những sự so sánh đặc biệt nầy giữa sự ra đời và sự qua đời của Chúa Jêsus, tôi càng tin chắc rằng có Đấng Thiêng Liêng đang hoạch định trong tất cả các chi tiết nầy. Dường như rất rõ ràng là Con Trẻ phước hạnh ở thành Bếtlêhem đã trở thành Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá ở đồi Gôgôtha. Dường như càng chắc chắn thêm, là chính Jêsus nầy đã ra đời để chịu chết. Chúng ta hãy nhìn vào các khía cạnh đặc biệt tỏ ra vấn đề nầy.
A. Hãy chú ý loại áo xống trong hai tình huống nầy. Kinh thánh cho chúng ta biết ở Luca 2:7 rằng Mary "đã sanh con trai đầu lòng", và có lẽ Giôsép đã phụ giúp bằng cách bọc con trẻ "bằng khăn". Trong quyển sách của ông nói về kiểu cách và phong tục của Kinh thánh, James Freeman mô tả quá trình bọc khăn ấy. Ông viết: "Họ quấn chặt cơ thể và tay chân Ngài bằng mấy tấm vải rộng để bảo hộ tứ chi yếu đuối của con trẻ. Cô Rogers, một phụ nữ người Anh (cô đã du lịch sang xứ Palestine), mô tả dáng dấp của một đứa trẻ được quấn quanh người như sau: ‘Đứa trẻ mà tôi ẳm trên tay mình bị bó lại bằng khăn chặt đến nỗi nó hoàn toàn không cục cựa được, và trông giống như một xác ướp vậy". Với cùng tư thế ấy, sau khi Ngài qua đời rồi, Giôsép người Arimathê: "đã mua vải liệm, cất xác Đức Chúa Jêsus xuống khỏi cây thập tự, dùng vải liệm vấn lấy Ngài". Không nghi ngờ chi nữa, cơ thể đã bị quấn "đến nỗi không cực cựa được, và trông giống như một xác ướp vậy".
B. Hãy chú ý đến loại nôi đặc biệt trong hai tình huống nầy. Vào thời điểm Ngài ra đời, Chúa Jêsus được đặt trong máng cỏ. Và tôi sử dụng chữ "cũi" trong cả hai ý nghĩa của từ ngữ – cả giường của con trẻ và máng cho súc vật ăn. Chúng ta nhìn thấy Ngài được đặt trong "máng cỏ" nầy (Luca 2:7), có người cho rằng đó là một mãng đá được cắt ra hay đục ra. James Freeman cho thấy rằng các nhà khảo cổ đã khám phá ra những chiếc máng cỏ trong khu vực đã được "cắt ra khỏi đá vôi và dài khoảng ba feet, rộng mười tám inches, và có bề sâu hai feet". Giống như Ngài đã được đặt trong một miếng đá lõm sâu như thế sau khi ra đời, Ngài đã được đặt trong một hang đá lõm sâu sau khi Ngài qua đời. Vì Kinh thánh cho chúng ta biết ở trong Mác 15:46 rằng Giôsép người Arimathê "để xác trong huyệt đã đục trong hòn đá lớn". Và với mọi khả năng, phiến đá bên trong cái hang đá lõm nầy cũng có chiều dài gấp hai lần chiều rộng. Nầy bạn yêu dấu của tôi ơi, tất cả những sự so sánh nầy không thể là trùng hợp ngẫu nhiên được đâu. Tôi nhắc lại rằng sự ấy chỉ cho chúng ta thấy sự thực là Ngài ra đời để chịu chết!
C. Hãy chú ý phần tương phản đặc biệt trong hai tình huống nầy. Khi nhìn vào những so sánh giữa sự ra đời và sự qua đời của Ngài, yếu tố thực sự cảm động trong tất cả mọi sự nầy được thấy rõ ở điểm tương phản. Sau sự ra đời của Đấng Christ, thiên sứ đến phán cùng mấy gã chăn chiên đầy sợ hãi: "Đừng sợ . . . Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ” (Luca 2:10-12). Về mặt cơ bản, họ được truyền cho biết rằng nếu họ nhìn vào phiến đá lõm nhỏ bé kia, họ sẽ tìm gặp Đấng Cứu Thế. Nhưng đây là sự khác biệt then chốt và đáng chú ý. Ba ngày sau khi Đấng Christ qua đời, thiên sứ đến và nói với mấy người đàn bà có lòng sợ hãi kia: "Các ngươi đừng sợ chi cả; vì ta biết các ngươi tìm Đức Chúa Jêsus, là Đấng bị đóng đinh trên thập tự giá. Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm" (Mathiơ 28:5-6). Về mặt cơ bản, họ được truyền cho biết rằng nếu họ nhìn vào cái hang đá lõm ấy, họ sẽ không tìm gặp được Chúa. Tại sao chứ? "Vì Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán!" Thực vậy, Ngài đã ra đời để chịu chết, nhưng Ngài chịu chết để sống lại, và giờ đây Ngài hằng sống cho đến đời đời!
F. W. Farrar đã viết: "Giống như phương Đông bắt lấy màu sắc của phương Tây khi mặt trời lặn, cũng vậy, thành Bếtlêhem là khúc dạo đầu cho đồi Gôgôtha, và thậm chí cái nôi của Con Trẻ là báo động đỏ đối với thập tự giá của Đấng Cứu Chuộc". Farrar đã viết thật đặc biệt về phép cắt bì của Chúa Jêsus, nhưng khi chúng ta quan sát những sự so sánh nhiều như thế nầy, chúng ta nhận ra rằng phép ấy còn ứng dụng cho nhiều việc nữa. Khi chúng ta kỷ niệm Lễ Giáng Sinh một lần nữa trong năm nầy, nếu bạn chỉ nhìn thấy con trẻ của thành Bếtlêhem, bạn đã thiếu sót nhiều lắm. Chúa Jêsus không những là con trẻ nằm trong máng cỏ. Ngài còn là Cứu Chúa của nhân loại nữa đấy!
___________
David E. Owen Là Mục Sư của Hội thánh Baptist Piney Grove ở Acworth, GA

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

Khải huyền 1:5: "Ba thắc mắc trong dịp Lễ Giáng Sinh"



Ba thắc mắc trong dịp Lễ Giáng Sinh
Khải huyền 1:5

“lại từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng làm chứng thành tín, sanh đầu nhất từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian!” (Khải huyền 1:5).
Bạn sẽ không bao giờ biết một đứa trẻ sẽ ra thể nào đâu!?!
Tôi cảm thấy mình giống như một chuyên gia về đề tài nầy cách đây một năm. Ngày Lễ Cảm Tạ vừa qua, đứa cháu nội mới của tôi đã đến đây trong một cuộc thăm viếng của gia đình. Phần còn lại của gia đình cũng đến nữa, bố mẹ nó đã đến cùng với nó, nhưng Knox là ngôi sao của buổi trình diễn suốt ngày cuối tuần vừa qua.
Hết thảy chúng tôi đều có công việc phải lo làm, và công việc của tôi là ẳm đứa cháu nội bốn tháng tuổi (nó còn bé lắm) rồi đi lòng vòng ở trong nhà. Đây thực sự chẳng phải là một “việc làm” chi cả. Từ lâu lắm rồi, tôi đã ẳm bố nó rồi đi lòng vòng ở trong nhà tại Norwalk, California. Chính trong thế kỷ vừa qua, một cụm từ rất hay nhắc cho tôi nhớ đến việc năm tháng dần trôi qua. Tôi thực sự vui sướng vì tôi có thể nhìn quanh và thấy ba thế hệ ở trong cùng một căn phòng: ông nội, cha, và con. Khi tôi ẳm Knox, tôi sẽ hát cho nó nghe. Thường thì tôi khởi sự với “Con là ánh mặt trời của ta, ánh mặt trời duy nhứt của ta”, một bài hát tôi nhớ cha tôi thường hay hát. Tiếp đến, tôi hát những bài ca Giáng Sinh và những bài thánh ca, kể cả bài tôi thường hát cho Josh nghe: “Kẻ ác chạy trốn dầu không ai đuổi theo; Nhưng người công bình mãnh dõng như một sư tử” (xem Châm ngôn 28:1). Tôi cứ lặp đi lặp lại giai điệu khi Josh còn là một đứa trẻ, và giờ đây tôi hát bài ấy cho con trai nó nghe, là cháu nội của tôi.
Về cháu nội của tôi, tôi chỉ dám nói rằng nó rất là dễ thương. Công việc chăn cháu nội như thế nầy hoàn toàn khác với việc làm một người cha mặc dù tôi không thể giải thích chính xác việc ấy. Tôi thấy mình suy nghĩ về đứa trẻ nhỏ ấy rồi cầu nguyện cho nó và lấy làm lạ không biết rồi đây nó sẽ ra thể nào nữa!
Bố mẹ và ông bà đều lấy làm lạ về những đứa bé kể từ khi thời gian bắt đầu. Cũng thực như vậy đấy khi Chúa Jêsus chào đời. Luca 2:19 cho chúng ta biết rằng sau khi mấy gã chăn chiên đến viếng Mary và chắc chắn đã chia sẻ những gì các thiên sứ đã nói với họ, nàng “ghi nhớ mọi lời ấy và suy nghĩ trong lòng". Chắc chắn có nhiều điều phải suy nghĩ:
“Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng" (Luca 1:33).
“ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa” (Luca 2:11).
“có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng ngươi” (Luca 2:35).
Câu hỏi của Mark Lowry: Hỡi Mary, Nàng Có Biết Không? đã khiến cho có những thắc mắc theo cách nầy:
Mary ơi, nàng có biết rằng con trẻ của nàng là Chúa của muôn vật không?
Mary ơi, nàng có biết rằng con trẻ của nàng một ngày kia sẽ tể trị trên các nước không?
Có phải nàng biết rằng con trẻ ấy là Chiên Con trọn vẹn của Thiên đàng không?
Con trẻ đang ngủ trên tay nàng chính là Đấng Ta Là vĩ đại đấy.
Nàng không hề biết con trẻ rồi đây sẽ ra thể nào, có phải không?
Con trẻ nầy rồi đây sẽ trở thành Cứu Chúa của thế gian. Nhưng không phải mọi người đều nhìn biết hay hiểu hoặc tin như thế đâu. Khi chúng ta dọn lòng cho dịp Lễ Giáng Sinh, chúng ta hãy tự nhắc nhớ một lần nữa thực sự Chúa Jêsus là ai!?! Khải huyền 1:5 hiến một bức tranh có ba phần nói về Chúa của chúng ta. Câu nầy là một phần trong lời giới thiệu của Giăng cho quyển sách nầy, ở đây ông tự giới thiệu bản thân mình rồi ao ước độc giả của mình nhận được ân điển và sự bình an. Đây là phần mô tả nói tới Đức Chúa Jêsus Christ: “là Đấng làm chứng thành tín, sanh đầu nhất từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian!”
Ba cụm từ nầy giúp chúng ta hiểu rõ lai lịch thật của con trẻ chào đời tại thành Bếtlêhem. Mỗi cụm từ trả lời cho thắc mắc mà chúng ta muốn biết về Đức Chúa Jêsus Christ.
Thắc mắc # 1: Tôi có thể tin cậy Ngài chăng?
Thắc mắc thứ nhứt là thắc mắc cơ bản nhất trong mọi thắc mắc. Nhiều người nam người nữ trong thế hệ nầy đã nhiều lần nghe đến danh của Chúa Jêsus. Cái điều họ muốn biết thật là đơn giãn – "Tôi có thể tin cậy Ngài chăng?” Trong một thế giới bịp bợm về tôn giáo, đây là chỗ mà chúng ta phải bắt đầu. Chúng ta khám phá ra câu trả lời trong tước hiệu thứ nhứt của Giăng khi nói tới Đức Chúa Jêsus Christ. Ông gọi Chúa Jêsus là “Đấng làm chứng thành tín”. Một người làm chứng phải nói ra những điều mình đã thấy và nghe. Một Đấng làm chứng thành tín là Đấng có bằng chứng của Ngài rất đáng tin cậy trong mọi thời điểm.
Giăng có ý nói rằng Đức Chúa Jêsus Christ đáng được tin tưởng khi nói ra lẽ chơn thật. Khi Ngài nói, Ngài chỉ nói ra lẽ chơn thật mà thôi. Lời lẽ của Ngài tuyệt đối là chơn thật và có thẩm quyền. I Timôthê 6:13 nói tới: “Trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng ban sự sống cho mọi vật, và trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng làm chứng tốt nơi Bôn-xơ Phi-lát”. Ngài đã nói gì khi Ngài đứng trước mặt Philát? "Nầy, vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta” (Giăng 18:37). Đức Chúa Jêsus Christ là người nói ra lẽ thật tối thượng, và người nào muốn tìm thấy lẽ thật phải nghe theo Ngài.
Sau khi viết ra cách đây mấy trăm năm, một nhà chú giải đã nói rằng tước hiệu “Đấng làm chứng thành tín” có ý nói tới bốn việc:
Những gì Đức Chúa Trời đã phán dạy, Đấng Christ làm cho ai nấy đều nhìn biết.
Ngài đã dạy dỗ không màng đến lời lẽ của con người.
Ngài đã thành tín thậm chí cho tới chết.
Ngài sẽ tỏ ra lẽ thật cho đến cuối cùng.
Tôi thích câu nói nầy của Mục sư John Watson:
“Không một ai từng khám phá lời lẽ mà Chúa Jêsus đã thốt ra, họ nghĩ chẳng có lời nào hay hơn lời Ngài. Không một hành động nào của Ngài mà chẳng chạm đến ý thức đạo đức của chúng ta. Không một điều nào là thiếu lý tưởng cả. Ngài tạo ra nhiều sự kinh ngạc, song hết thảy đấy đều là sự kinh ngạc trọn vẹn”
Mỗi người phải xử lý với vấn đề nền tảng nầy về Chúa Jêsus – Chúng ta có thể tin cậy Ngài hay không? Có người sẽ trả lời `có’, nhiều người khác sẽ đáp `không’. Cho tới chừng nào vấn đề nầy được an định rồi, khi nói tới các vấn đề khác thì chẳng phải bận tâm nữa.
Cách đây nhiều năm, Bob Harrington, Mục sư Tuyên úy của Bourbon Street, và Madeline Murray O’Hair, nhà vô thần nổi tiếng, họ đã có một cuộc tranh luận trên chương trình Donohue của đài truyền hình. Tới một chỗ kia, có người trong hàng ghế khán giả đã hỏi Bà O’Hair sẽ làm gì khi Chúa Jêsus tái lâm. Khi ấy, bà ta đã trả lời ra sao? Với sự tin cậy rất lớn, bà ấy đáp: “Tôi không làm gì cả, vì vậy tôi phải lo lắng về sự ấy”. Đối với câu hỏi đó, Mục sư Bob Harrington đáp: “Kinh thánh chứa 318 câu nói tới sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ. Bà chỉ nói Ngài sẽ không tái lâm. Qua đây quí vị đã nhận 318 câu trong quyển sách của Đức Chúa Trời và qua đó quí vị đã nhận một câu từ quyển sách của O’Hair. Giờ đây, quí vị sẽ tin theo ai?"
Đấy là câu hỏi rất quan trọng!
Bạn sẽ tin theo ai? Chúng ta giả sử bạn không muốn lấy theo lời nói của tôi đi. Hãy tự mình đọc lấy những gì đã được ghi chép đã. Hãy dành ra 30 ngày để đọc câu chuyện Tin Lành đi. Hãy tự mình đọc lấy câu chuyện rồi đến với phần kết luận của chính mình. Tôi sẽ nói cho bạn biết những điều tôi tin sẽ xảy ra. Nếu bạn đọc với một tâm trí cởi mở, bạn sẽ đến với phần kết luận khó tránh được: ấy là những điều Chúa Jêsus đã phán đều là sự thật, rằng Ngài là lẽ thật, và Lời của Ngài đáng được tin cậy cho đến đời đời.
Tôi sẽ chẳng thốt ra điều gì để tìm cách chứng minh sự ấy cho bạn. Tôi chỉ thách thức bạn phải đọc câu chuyện ấy cho chính mình mà thôi. Hãy trang bị cho chính lý trí của mình. Khi bạn trang bị xong, bạn sẽ thấy rõ là Ngài hoàn toàn đáng tin cậy.
Tôi có thể tin cậy Ngài chăng? Phải, tôi có thể đấy, vì Ngài là Đấng làm chứng thành tín.
Thắc mắc # 2: Có phải Ngài có quyền cứu giúp tôi không?
Câu nầy tự nhiên dẫn tới một câu hỏi khác. “Nếu tôi tin cậy Ngài, có phải Ngài có quyền cứu giúp tôi không?” Câu trả lời được thấy có trong tước hiệu thứ nhì của Giăng khi nói tới Đức Chúa Jêsus Christ. Ông gọi Ngài là: “sanh đầu nhứt từ trong kẻ chết”. Điều nầy ám chỉ đến sự sống lại của Ngài từ kẻ chết. Khi Ngài sống lại từ kẻ chết, Ngài là Đấng “sanh đầu nhứt từ trong kẻ chết”. Chính xác thì nói như thế có nghĩa gì chứ? Có nghĩa là: Ngài là người đầu tiên đã sống lại từ kẻ chết không còn chết nữa. Trong suốt chức vụ của Ngài, Chúa Jêsus đã làm cho một số người sống lại từ kẻ chết, gồm có Laxarơ là người đã chết mất trong bốn ngày rồi (Giăng 11). Mỗi cơ hội đều là một phép lạ đáng nhớ, song họ đều có chung một điều nầy: tất cả những người Chúa Jêsus làm cho sống lại chắc chắn đã chết một lần nữa.
Nhưng không phải như thế đối với chính mình Chúa Jêsus.
Khi Ngài ra khỏi mộ địa vào sáng Chúa nhật phục sinh, Ngài đã sống lại một lần đủ cả. Khi Ngài rời khỏi mồ mả, Ngài đã ra khỏi đó để làm ích cho. Chúa Jêsus là người đầu tiên sống lại từ kẻ chết với ý thức rằng Ngài là người đầu tiên trong một chuổi những người đã sống lại từ kẻ chết không bao giờ chết lại nữa.
Tôi tìm được sự yên ủi ở chỗ nầy. Trải qua nhiều năm tháng, tôi đã cử hành nhiều đám tang. Tôi biết đứng tại nghĩa trang là như thế nào, rồi tìm cách phát biểu một điều gì đó đem lại sự hy vọng trước bề mặt tàn nhẫn của sự chết. Thật là chẳng dễ cầu nguyện khi có người bạn yêu dấu đã bị cất đi khỏi bạn. Không có gì phải ngạc nhiên khi Kinh thánh gọi sự chết là “kẻ thù sau cùng” (I Côrinhtô 15:26).
Trong những giờ phút ấy, tôi tìm được sức lực ở một việc và chỉ trong một việc mà thôi. Chúa Jêsus đã thắng hơn mồ mả và đã làm những việc mà không một con người hay chết nào làm được. Ngài đã sống lại từ kẻ chết để không bao giờ chết nữa. Điều gì xảy ra cho những ai chịu tin theo Ngài? Cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng ta không bị để lại trong ngạc nhiên hay phải tìm hiểu. Chính mình Đức Chúa Trời đã phán dạy về đề tài nầy. I Têsalônica 4:14 chép: "Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus cùng đến với Ngài”.
“Vì nếu chúng ta tin”. Thật là đơn giãn và thật là khó nói ra như thế lắm. Bạn sẽ chẳng bao giờ dám tin vào sự sống lại khi có mặt trong một nghĩa trang. Nếu bạn vào trong một nghĩa trang rồi chờ đợi một sự sống lại, bạn sẽ phải chờ lâu lắm đấy. Rốt lại, sự sống lại cuối cùng đã xảy ra cách đây hơn 2.000 năm rồi. Nhưng chúng ta có Lời của Đức Chúa Trời, Lời ấy quan trọng hơn bất cứ điều chi chúng ta có thể nhìn thấy với hai con mắt của mình. Đức tin của chúng ta nơi sự sống lại của kẻ chết không đặt vào những gì con mắt của mình trông thấy. Đức tin của chúng ta đặt vào hành động của Đức Chúa Trời, bởi đó Ngài đã làm cho Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết. Nếu Đức Chúa Trời có thể làm được sự ấy, Ngài có thể làm bất cứ điều gì.
Có phải Chúa Jêsus có quyền cứu giúp bạn không? Ngài có quyền đấy, vì Ngài là Đấng sanh đầu nhứt từ kẻ chết.
Thắc mắc # 3: Có chắc Ngài sẽ lo liệu cho tương lai của tôi không?
“Giả sử tôi tin cậy Ngài, và giả sử Ngài có quyền cứu giúp tôi, có chắc Chúa Jêsus sẽ lo liệu cho tương lai của tôi không?” Câu trả lời đến trong tước hiệu sau cùng của Giăng khi nói tới Đức Chúa Jêsus Christ. Rất là hấp dẫn trong phạm trù của tước hiệu ấy. Ông gọi Chúa Jêsus là: “Chúa của các vua trong thế gian”. Từ ngữ nói tới “Chúa” có ý nói Ngài là thẩm quyền tối hậu trên tất cả các vua của trần gian. Họ cao trọng đấy, song Ngài thì cao trọng hơn. Họ oai quyền đấy, song Ngài thì oai quyền hơn. Hàng triệu người phải trả lời cho họ, song họ phải trả lời với Ngài. Không những Ngài là một trong các vị vua. Ngài tể trị cả thảy họ.
Khi Mục sư John Piper giảng về cụm từ nầy, ông trình bày như sau:
Nếu George Bush thưa với Chúa Jêsus: “Ngài tể trị trên tôi như thế nào chứ? Tôi có chức vụ theo sự bầu chọn của dân chúng Hoa kỳ, một quốc gia đầy quyền lực, và bởi sự tấn phong và sự sắp đặt của hiến pháp”, Chúa Jêsus sẽ đáp: “Ta có chức vụ làm Chúa trên ngươi do sự lựa chọn của Đức Chúa Trời và qua sự sống lại của ta từ kẻ chết, sự sống của ta không thể hủy diệt được, và do địa vị của ta bên tay hữu của Đức Chúa Trời”.
Nhưng bài giảng ấy đã được giảng ra vào năm 1989. Tổng thống George Bush trong phần trưng dẫn đó sẽ là George H. W. Bush (cha). Thế rồi chúng ta có Bill Clinton, George W. Bush (con), và giờ đây chúng ta có Barack Obama là Tổng Thống của chúng ta. Phần trưng dẫn vẫn là sự thực bất luận ai đang nắm lấy quyền hành ở Nhà Trắng. Phần trưng dẫn ấy là sự thực cho George Washington hay cho George Bush (cha hay con). Phần trưng dẫn ấy là sự thực cho Abraham Lincoln cũng như cho John Kennedy hay cho Barack Obama.
Trong thế kỷ đầu tiên, Hoàng đế hùng mạnh Nero tưởng ông ta là chúa tể của các vua ở trên đất. Ông ta nắm lấy quyền sống chết trong hai bàn tay của mình. Ngón cái đưa lên: một người sống. Ngón cái hạ xuống: một người ngã chết. Cần phải nói rằng ông ta đã ra lệnh đốt thành Rôma và rồi đổ thừa cho các Cơ đốc nhân đầu tiên. Ông ta đã chặt đầu sứ đồ Phaolô, ông ta nghĩ rằng phong trào Cơ đốc nguy hiểm kia sẽ gục chết với Phaolô. Song giờ đây, 2000 năm đã trôi qua, và tình thế đà thay đổi. Chúng ta đặt tên Nero cho mấy con chó của chúng ta và tên Phaolô cho con trai của chúng ta.
Giăng đang nói tới ai là các vua của thế gian? Họ là cấp lãnh đạo chính trị trong những phạm vi khác nhau – thị trưởng và hạ nghị sĩ, chủ tịch và thống đốc, nghị sĩ quốc hội và hạ viện, tổng thống và thủ tướng, và những nhân vật đang thống trị ở từng quốc gia khác nhau. Có những ông vua ngắn hạn, họ cai trị những địa phận nhỏ và các vị vua quyền lực họ cai trị các đế quốc rộng lớn.
Tên tuổi của họ là Obama, Putin, Netanyahu, Ahmadinejad, Harper, Blair, Singh, Kim, Abdullah, Sarkozy, Karzai, Hồ Cẩm Đào, Mugabe, Calderon, Merkel, Biya và Cameron. Và hàng triệu người khác nữa giống như họ.
Chúa Jêsus là Chúa tể trị trên hết thảy những người ấy. Thực sự, thế giới nầy đang nằm trong chỗ hỗn độn. Đấy là lý do tại sao khó tin điều nầy là sự thực. Mọi bằng chứng dường như chuyển theo hướng ngược lại. Những nhà làm báo khiêu dâm thiệt là tự do, những kẻ chuyên giết trẻ sơ sinh chẳng ai hề đụng đến, những nhà chính trị phá vỡ luật lệ mà họ viết ra, những người buôn bán ma túy kiếm hàng triệu đôla, và nhiều quốc gia tự vũ trang cho sự hủy diệt hoàn toàn. Khi bạn nhìn xung quanh, bạn có thể cho rằng Satan là nhân vật đang thống trị các vua của trần gian.
Nhưng sự thể cho thấy dường như là vậy đó. Satan chẳng có quyền gì trừ khi Đức Chúa Trời cho phép hắn. Đúng kỳ và đúng lúc, Chúa Jêsus sẽ quay lại với sân khấu lịch sử thế giới. Hãy suy nghĩ về điều đó xem. Hai bàn tay bị đóng đinh vào thập tự giá một ngày kia sẽ trị vì thế gian. Mặc dù chúng ta chưa nhìn thấy điều đó hôm nay, chắc chắn và nhất định điều đó sẽ ứng nghiệm. Đấy là những gì sách Khải huyền đang nói tới. Hãy đọc sách ấy cho chính mình rồi nhìn thấy cách thức mà câu chuyện sẽ kết thúc!
Đồng thời, ngay bây giờ và ngay chính giờ phút nầy, Ngài là Chúa của các vua trên đất.
Bởi Ngài họ cai trị.
Bởi Ngài họ bị kềm chế.
Bởi Ngài họ bị thay thế.
Bởi Ngài họ sẽ bị xét đoán.
Có chắc Chúa Jêsus lo liệu cho tương lai của tôi không? Phải, Ngài sẽ lo liệu đấy, vì Ngài là Chúa của các vua trên thế gian. Bạn đang ở trong hai bàn tay nhơn đức khi bạn đang ở trong hai bàn tay của Ngài vì hai bàn tay ấy đang tể trị cả vũ trụ.
Những thắc mắc tối hậu
Nhưng đấy chẳng phải là điều rõ ràng trong đêm đầu tiên ở thành Bếtlêhem. Một người khách quan sẽ chẳng nghi ngại gì về biến cố làm rúng động đất đã diễn ra ở chuồng chiên máng cỏ trong một ngôi làng nhỏ bé xa xôi thuộc Đế quốc Lamã. Mọi viễn cảnh dành cho trẻ thơ nầy dường như chẳng có gì hứa hẹn cả.
Bạn không thể nói con trẻ nầy rồi đây sẽ ra như thế nào được!
Nhưng con trẻ nầy sẽ làm cho hết thảy chúng ta phải ngạc nhiên.
Và chúng ta vẫn còn kinh ngạc bởi Ngài hơn 2000 năm sau đó.
Đâu là phần ứng dụng? Hãy nắm chặt lấy Đức Chúa Jêsus Christ. Chẳng có một sự an ninh nào ở chỗ khác đâu. Hôm nay cũng như hôm qua và ngày mai, Ngài là câu trả lời cho các thắc mắc sâu sắc nhứt trong cuộc sống.
Tôi có thể tin cậy Ngài không? Phải, tôi có thể, vì Ngài là Đấng làm chứng thành tín.
Có phải Ngài có quyền cứu giúp tôi không? Phải, Ngài có thể, vì Ngài là Đấng sanh đầu nhứt từ trong kẻ chết.
Có phải Ngài sẽ lo liệu cho tương lai của tôi không? Phải, Ngài sẽ lo liệu đấy, vì Ngài là Chúa của các vua trong thế gian.
Hết thảy chúng ta đều cần đến Ngài và chúng ta cần đến Ngài còn nhiều hơn là chúng ta nhìn biết nữa. Lẽ thật nầy xứng đáng được lặp đi lặp lại: Bạn đang ở trong hai bàn tay nhơn đức khi bạn đang ở trong hai bàn tay của Ngài, vì hai bàn tay ấy đang tể trị vũ trụ.
Phước cho nhân loại, Chúa ta ra đời!
Trần gian nghinh vua vô đối.
Hãy đặt đời sống mình vào hai bàn tay mạnh sức của Ngài và bạn sẽ không bao giờ thấy thất vọng.

Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

Luca 2:14: "Bài Ca của Thiên sứ"



Giấc Mơ Bất Khả Thi:
Bài Ca của Thiên sứ

Luca 2:14
Khi ấy là 3 giờ sáng, hạm đội di chuyển qua bóng tối tăm của Thái Bình Dương, binh sĩ trên từng con tàu bắt đầu xôn xao. Đây là giờ, đây là giây phút của sự thật. Sự chờ đợi đã qua rồi. Cuộc chiến sắp sửa bắt đầu. Từ trung tâm hành quân dấu hiệu đã bật sáng: "Leo Núi Nataka”. Dấu hiệu ấy cho thấy cuộc tấn công bắt đầu.
Đối với một người, đây là giờ phút trọng đại mà ông ta đã từng nhìn biết. Nhiều năm trời huấn luyện cứ chực chờ, những giờ phút thao trường không tính được cứ lặp đi lặp lại mãi. Ông là người được chọn để trở thành cấp chỉ huy.
Khi Mitsuo Fuchida thức giấc, ông mặc bộ quân phục vào, dự điểm tâm, khoác lấy cái áo bay viền lông thú nặng nề. Khi ấy ông bước vào phòng hành quân để tiếp lấy phần chỉ dẫn vào phút sau cùng. Quấn dãi khăn trắng quanh vòng màu đỏ trên chiếc mũ bay của mình, ông nhảy lên chiếc phi cơ. Đúng 5 giờ 30 sáng ông cất cánh, chiếc phi cơ đầu tiên trong phi đoàn 200 chiếc máy bay. Từ boong của những hàng không mẫu hạm Hiryu, Soryu, và Atsugi, hết chiếc nầy đến chiếc khác cất cánh theo sau ông thành hai đợt cho tới chừng toàn bộ đã lên đến 350 chiếc, cuộc tấn công bằng không lực của hải quân lớn nhất trong lịch sử.
Cương lĩnh: Chịu chết vì tin vào lý tưởng
Mọi sự hướng thượng tuôn tràn từ nhận định chính xác về Đức Chúa Trời, và mọi tà giáo bắt nguồn từ sự hiểu sai về Đức Chúa Trời.
Thêm các chi tiết
Khi những chiếc phi cơ bay tốc độ qua 230 dặm phân cách chúng với đảo Oahu, không một lời trao đổi nào giữa các phi công. Cái chết là chắc chắn, quyết định đã được thực thi. Và khi Mitsuo Fuchida lướt ngang qua ngọn núi sau cùng phân cách ông với Trân Châu Cảng, ông gào lên mật khẩu đã định trước, tỏ ra hoàn toàn kinh ngạc vì mục tiêu sắp đạt được. Trong sự phấn khích ấy, ông lặp lại mật khẩu ba lần: "Tora! Tora! Tora!”
Những quả bom đầu tiên rơi xuống lúc 7 giờ 53 phút sáng, giờ Trân Châu Cảng. Lúc ấy trận đánh diễn ra, nó diễn ra thật nhanh chóng. Trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ, đợt thứ hai đã quay trở về lại các hàng không mẫu hạm. Thiệt hại đã được làm ra. Ở đàng sau chúng, các phi công Nhật bản để lại một đại dương bao trùm khói lửa và đổ nát. Trước khi nó kết thúc, số tử thương đã lên tới 2.403 người. Cho đến ngày hôm nay, đấy là thất bại của hải quân lớn lao nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Cuối cùng của sự ngây thơ
Hôm ấy – ngày 7 tháng Chạp năm 1941, một ngày sống trong nhục nhã – một thế giới dãy chết và thế giới khác chào đời. Đây là sự cuối cùng của Kỷ nguyên Ngây Thơ. Ngây thơ đã qua đi cho đến đời đời, và trong một phút thê thảm, nước Mỹ đã bật tung thành kỷ nguyên hiện đại. Mãi cho tới giờ phút đó, nước Mỹ về cơ bản chỉ là gã khỗng lồ mê ngủ, các quốc gia trên thế giới cũng cho là vậy. Sau trận Trân Châu Cảng, chúng ta lại cứ thế một lần nữa. Nhưng kể từ ngày đó, và những vụ việc nối theo sau ngày đó, nước Mỹ trở thành và vẫn là một quốc gia siêu quyền lực. Khi nhận định theo ánh sáng ấy, cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng là một sự kiện quan trọng nhất trong thế kỷ thứ 20. Đấy là một biến cố có tính chất xúc tác, một biến cố sẽ làm thay đổi toàn bộ cục điện lịch sử thế giới.
Vì Trân Châu Cảng quá nổi tiếng, nhiều người không biết có hai sự kiện lịch sử đã diễn ra trong chính tuần lễ đó. Một trong hai biến cố đã diễn ra ở vùng ngoại ô Mắccơva, lúc đó, sau một trận đánh tuyệt vọng, quân đội Nga đã đẩy lùi quân Đức. Người Nga đã chặn đứng quân Phát-xít ngay ngoài rìa thành phố. Hãy lưu ý một chút nữa, lúc bấy giờ sự thất bại của người Đức làm đổi dòng Đệ II Thế Chiến. Mãi cho tới khi ấy, kế hoạch táo bạo của Hitler đã mau chóng đánh bại người Nga, chính thức cầu hoà với Anh quốc, rồi nhơn đó giữ Hoa kỳ ở ngoài cuộc. Ông ta từng biết rõ không thể chinh phục được nước Nga, ông ta biết sự lựa chọn duy nhứt là tiến về phía Tây, mặc dù khi làm thế nước Mỹ chắc chắn sẽ tham chiến. Cho nên dòng lịch sử đã thay đổi hai ngày trước trận Trân Châu Cảng.
Nhưng như thế chưa phải là hết đâu. Biến cố quan trọng kia, hoàn toàn chẳng ai để ý và chẳng được báo cáo lúc bấy giờ, đã diễn ra tại Hoa Thịnh Đốn vào ngày trước trận Trân Châu Cảng. Ngày 6 tháng Chạp năm 1941, một uỷ ban chính phủ Mỹ, gọi tắt là S-1, hội họp ở Hoa thịnh Đốn. Chủ đề của nó: tính khả thi cho việc dựng lên một thứ gọi là bom nguyên tử.
Mọi sự đã xảy ra trong ba biến cố – gom lại thành cánh cửa sổ thời gian gồm ba ngày – không những kích động một quốc gia, mà còn làm thay đổi cán cân quyền lực và hoàn toàn tái định hướng lại dòng lịch sử nhân loại.
Từ Trân Châu Cảng đến Baghdad
Những gì đã xảy ra tại Trân Châu Cảng đã trực tiếp dẫn tới Đệ II Thế Chiến, cuộc chiến tranh đẩm máu nhất trong lịch sử thế giới. Khoảng 25 triệu người đã ngã chết. Nếu bạn chịu khó nhìn lại dòng lịch sử, bạn sẽ thấy những gì diễn ra tại Trân Châu Cảng chắc chắn đã dẫn tới Hiroshima và Nagasaki, và đề ra bối cảnh cho cuộc Chiến Tranh Lạnh, bản thân nó dẫn chúng ta tới Cuộc Chiến ở Hàn quốc, rồi hoàn toàn dẫn tới cuộc chiến ở Việt nam, cùng cuộc khủng hoảng ở vùng Trung Đông. Nói cách khác, có một dòng đầy dấu chấm trải từ Trân Châu Cảng đến Baghdad. Những gì đã khởi sự hôm qua cách đây 50 năm có những phân nhánh hiện diện với chúng ta một nửa thế kỷ sau đó.
Tôi dám chắc bạn nhận ra cái tên Leon Trotsky. Ông là một lãnh tụ nổi tiếng trong những ngày đầu sớm sủa của cuộc Cách Mạng Nga. Nhưng ông đã kết thúc với cứu cánh ngắn ngủi khi tranh giành quyền lực với Josef Stalin và bị trục xuất khỏi nước Nga vào năm 1929. Ông qua ngụ ở Mexico, ở đây ông bị các mật vụ Nga ám sát chết vào năm 1940. Trong những năm tháng lưu vong, ông đã thốt ra một câu nói rất thú vị: “Người nào tìm kiếm một đời sống bình tịnh đã chọn ra đời vào thế kỷ sai trái”. Whittaker Chambers đưa ra lời bình thích ứng với lưu ý của Trotsky. Chambers nói rằng “lời bình phải gắn với kẻ có thẩm quyền, một khi thế kỷ xác nhận vấn đề bằng cách vỗ mạnh cây búa vào cái đầu đã rập khuôn ra nó”.
Mau hơn, nhanh hơn, rẻ hơn
Vì thế, khi chúng ta đến với kỳ Giáng Sinh, năm 1991, trong những gì đã và sẽ là một năm bạo lực đổ máu. Không những chúng ta đang đến với phần cuối năm, mà còn đúng 8 năm nữa là đến cuối thế kỷ thứ 20 – qua mọi tính toán, là thế kỷ đổ máu nhiều nhất trong lịch sử nhân loại. Nhiều người đã bị giết trong nhiều cuộc chiến bởi các thứ vũ khí tinh vi hơn bất kỳ thế kỷ nào khác kể từ khi dựng nên thế gian. Chúng ta thích nói tiến bộ về kỷ thuật của chúng ta, và chúng ta thích khoe mình về việc chúng ta lên cao trên cái thang tiến hoá bao xa. Song đấy chỉ là một giấc chiêm bao mà thôi. Giờ đây, chúng ta giết chóc nhanh hơn, với hiệu quả lớn lao hơn, với ít bừa bộn hơn, với cái giá rẻ hơn nhiều. Nếu chúng ta tiến bộ hơn những thế hệ đi trước, thì chỉ ở chỗ chúng ta cùng nhau nhúng tay vào. Đấy là loại tiến bộ, chắc chắn là một mớ huyền thoại về sự cường điệu.
Những lời chúng ta dám tin
Và các thiên sứ đã hát lên vào cái đêm cách đây lâu lắm rồi: “Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!” (Luca 2:14). Có bao nhiêu lần chúng ta nghe thấy lời lẽ ấy? Có bao nhiêu lần chúng ta đã nhìn thấy chúng được in lên trên những tấm thiệp Giáng Sinh? Có bao nhiêu lần bản thân chúng ta lặp đi lặp lại mấy lời đó? Hàng trăm lần. Không, hàng ngàn lần. Chúng có mặt ở giữa những lời lẽ quen thuộc nhất trong toàn bộ quyển Kinh Thánh.
Tuần nầy, tôi đã suy gẫm mấy lời nầy của thiên sứ ngược lại với tấm bích chương kỷ niệm lần thứ 50 ngày tấn công Trân Châu Cảng và mọi sự mà nó muốn nói tới. Khi tôi nghĩ đến mấy câu thường được lặp đi lặp lại nầy, tôi cố gắng nhìn xem chúng với ánh mắt tươi mới hơn, giống như thể tôi chưa từng nghe đến chúng trước đây vậy. Tôi cố gắng hình dung xem mình đã cảm nhận thể nào nếu tôi không phải là một Cơ đốc nhân và ai đó đã trưng dẫn mấy lời nầy với tôi. Kết luận của tôi là như vầy đây: Nếu tôi nghe mấy lời nầy lần đầu tiên, chúng sẽ gây ấn tượng mạnh mẽ như biểu lộ rằng chẳng có gì phải làm với thế giới thực nầy. Tôi muốn kết luận rằng chúng không thể là hiện thực được. Vì nếu có cái gì rõ ràng là sự thực, ấy là chúng ta không có hoà bình ở trên đất hôm nay và chúng ta không có thiện ý tốt lành gì đối với loài người. Và thực vậy, dường như chúng ta chẳng đến gần với hoà bình hay đến gần chút nào với thiện ý cả.
Khi tôi suy gẫm sâu xa hơn, tôi nhận ra rằng mấy lời nầy chứa ba lời hứa gắn trực tiếp với sự đến với trần gian của Đấng Christ. Thứ nhứt là Sáng Danh Chúa Trên Các Từng Trời Rất Cao. Thứ hai là Bình An Dưới Đất. Thứ ba là Ân Trạch Cho Loài Người. Tôi nghĩ, hoàn toàn là khả thi nếu bạn phân tích những vụ việc từ nhận định của con người thì thấy chỉ có một trong ba điều đó là sự thực mà thôi. Ấy là Sáng Danh Chúa Trên Các Từng Trời Rất Cao. Rốt lại, chúng ta không hề với tới lãnh vực “các từng trời rất cao” đó. Một khi chúng ta không tiếp cận được, chúng ta chẳng có cách nào để biết rõ làm sao để lên tới đó. Cái điều hoàn toàn khả thi, ấy là Đức Chúa Trời được sáng danh trên các từng trời rất cao. Chúng ta không thể nhìn thấy sự việc ấy, vì vậy chúng ta không biết chắc. Phần chúng ta, chẳng phải quan tâm về sự ấy.
Chính hai phần kia là điều mà chúng ta phải suy nghĩ đến. Bình an dưới đất – nó ở đâu vậy? Ân trạch cho loài người – tôi không nhìn thấy ân trạch ấy.
13 năm chiến tranh – 1 năm hoà bình
Theo một bài viết trong Tập san Quân sự Canada, một cựu chủ tịch sinh viên khoa học người Na-uy, được tài trợ bởi các sử gia từ Anh quốc, Ai-cập, Đức quốc, và Ấn độ, họ thu thập những dữ liệu và tìm thấy:
Kể từ năm 3600TC, thế giới chỉ biết đến 292 năm hoà bình. Trong khoảng thời gian nầy, đã có 14.531 cuộc chiến, lớn và nhỏ, trong đó 3.640.000.000 người đã ngã chết. Giá trị của sự hủy diệt sẽ phải trả giá bằng một cái đai vàng trải khắp thế giới với bề rộng 97 dặm và bề dày 33 feet. Thêm nữa, kể từ năm 650TC, đã có 1.656 cuộc đua vũ trang, chỉ có 16 cuộc trong số đó đã kết thúc trong chiến tranh. Số còn lại đã kết thúc trong sự suy sụp kinh tế nơi những quốc gia liên đới (một việc mà chúng ta đang nhìn thấy trong sự tan rã hiện nay của Liên Bang Sô Viết).
Nói theo cách khác, trong lịch sử thế giới chúng ta đã nhìn thấy 13 năm chiến tranh cho một năm hoà bình. Kể từ lúc bắt đầu thời gian, hơn 8.000 hiệp ước hoà bình đã được ký kết. Mặc dù có hiệu lực cho đến đời đời, tuổi thọ trung bình có hiệu lực là 2 năm (Tự điển bách khoa 7700 hình ảnh minh họa, p. 1571)
Phước cho nhân loại
“Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người”. Đúng đây là một giấc mơ bất khả thi? Có nhiều lý do để trả lời “Đúng”.
“Phước cho nhân loại, Chúa ta ra đời”.
Tuần nầy chúng ta đến với bối cảnh William Kennedy Smith bị xét xử về hiếp dâm, nơi một phụ nữ đưa ra những lời tố cáo khủng khiếp về những gì đã xảy ra đêm hôm ấy tại Palm Beach. Một số sự việc sinh động đến nỗi chúng làm cho người ta nghe giống như buổi picnic của lớp trường Chúa nhựt vậy.
“Kìa Thiên Binh Cùng Vang Tiếng Hát. Chúc Thánh Đế Mới Sanh Trên Đất”.
Họ nói rằng Alann Steen bị những kẻ bắt anh ta đánh đập tồi tệ quanh đầu đến nỗi anh ta sẽ bị loạn óc vĩnh viễn. Và Joseph Cicippio chịu khổ do nhiễm lạnh thường xuyên vì trong hai mùa đông dài, những kẻ bắt anh ta đã xích anh ta ở ngoài cửa. Đấy là cách xử sự mà bạn sẽ không dám làm cho thú vật.
“Hỡi Môn Đồ Trung Tín. Dìu Dắt Nhau Vui Hát Du Dương”.
Tuần nầy Richard Speck đã qua đời. Ông là nhân vật đã đưa cụm từ “Giết Người Hàng Loạt” vào cách sử dụng phổ thông. Có thể ông là gã tội phạm khét tiếng nhứt trong lịch sử Chicago. Richard Speck – là kẻ đã giết tám sinh viên điều dưỡng cách đây 25 năm – đã sống trong cô độc đến cuối đời, vì gia đình ông ta từ chối lấy xác khi ông chết.
“Đêm Xuống Êm Đềm, Chuông Thánh Vang Rền, Lướt Lướt Êm Qua Bao Miền”.
Từ trang bìa của tạp chí Sun-Times: Một Thượng Nghị Sĩ tiểu bang đã bị kết án ăn hối lộ. Giờ đây ông ta đối mặt với án tù và phải nộp phạt hàng trăm ngàn đôla.
“Chúa Thánh Giáng Sinh Nơi Máng Chiên Cô Đơn Nghèo Nàn”
“Chốn Jêsus nằm tăm tối”
Chôn vùi trong mọi tin tức khác là một tường trình không hay đến từ nước Nga. Họ nói rằng những tình trạng đói kém giờ đây đang có mặt ở nhiều nơi của Liên Bang Sô Viết. Và một số lãnh đạo quân sự công khai loan báo việc làm táo bạo khác. Anatoly Sobchak, thị trưởng cải cách của thành phố St. Petersburg, nhất trí và nói rằng lần nầy chiến dịch sẽ thành công vì dân chúng sẽ ủng hộ nó, vì họ đang tuyệt vọng về thực phẩm, quần áo và nơi trú ẩn chống lại cái lạnh của mùa đông.
“Hoà Bình Dưới Đất, Hỉ Hân Cho Người Vì Hôm Nay Jêsus Đến”
Vào ngày thứ Sáu, trong cuộc tình tay ba, một cảnh sát viên Chicago đã bắn viên cảnh sát khác ngã chết, sau đó lái xe đến bãi đậu xe ở Nam Chicago rồi tự sát.
“Hỡi Bếtlêhem, Tiểu Thôn Cô Quạnh, Bình Yên Bấy Trong Vùng Ngươi”.
Tuần nầy ở Chicago, hai đứa trẻ sanh đôi bốn tuổi bị nhốt trong một căn buồng nhỏ, bà và mẹ chúng bỏ chúng lại đơn độc ở đó. Không biết sao chúng tìm được mấy que diêm rồi bị thiêu cho đến chết. Bà và Mẹ chúng đã bị bắt vì lơ đểnh phạm tội.
Bình an dưới đất – Nó ở đâu? Ân trạch cho loài người – Tôi không thấy điều đó.
Nếu bạn suy gẫm lời nói của Chúa Jêsus theo ánh sáng của những gì thực sự đang xảy ra ở chung quanh bạn, chúng cho thấy đây là một trường hợp kinh điển về sự cường điệu quá mấu. Đây là một lầm lỗi đặc thù của kẻ rao bán hàng. Bạn hứa hẹn quá tải và chẳng có gì để trình ra. Chuyện nầy xảy ra lúc nào cũng có.
Chắc chắn, Ngài sẽ đem lại sự bình an trên đất. Nhưng chúng ta đã trông đợi cả 2.000 năm rồi.
Chắc chắn, Ngài sẽ đem lại ân trạch cho loài người. Ồ, mong sao cho điều đó xảy ra.
Điều đó đưa chúng ta đến với thắc mắc tối hậu. Mấy lời nầy chúng ta ca hát, trao đổi và nhắc lại luôn miệng trong kỳ lễ Giáng Sinh. Chúng có thực sự là thật không? Chúng ta có thực tin theo chúng không? Hay đấy chỉ là lối nói nước đôi trong tôn giáo?
Cho phép tôi đưa ra thắc mắc theo cách nầy:
1. Nếu Đấng Christ đến để đem lại sự bình an trên đất, tại sao còn có nhiều hận thù và ít hoà bình như thế chứ?
2. Nếu Đấng Christ đến để đem ân trạch cho loài người, tại sao lời hứa Giáng Sinh chưa ứng nghiệm sau 2.000 năm?
Không những đây là những thắc mắc của một nhà phê bình sốc nổi. Đây là những thắc mắc thành thật, đúng đắn. Chúng đòi hỏi những giải đáp thật hợp lý.
Hai giải đáp khả thi
Vì vậy, đây là việc tôi đang thực hiện trong tuần nầy – suy gẫm những thắc mắc nầy và phải lo giải đáp chúng. Những thắc mắc rất chân thành xứng đáng với những giải đáp cũng rất là chân thành. Và tôi có hai giải đáp mà tôi rất muốn chia sẻ với bạn đây.
I. Bình an không đến với đất là vì tình trạng của tấm lòng con người.
Tiên tri Giêrêmi đã nói về tấm lòng đó theo cách nầy: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được?” (Giêrêmi 17:9). Nói như thế có nghĩa là tấm lòng của bạn rất gian ác và tấm lòng của tôi cũng thế. Câu Kinh Thánh ấy muốn nói rằng hết thảy chúng ta dám làm những việc kinh khủng nhất không thể tưởng tượng được. Chúng ta sẽ lừa đảo, chúng ta sẽ dối trá, chúng ta sẽ trộm cướp, và phải, chúng ta sẽ giết người nữa. Thường thì việc duy nhứt giữ chúng ta lại chẳng gì khác hơn sự thực là chúng ta sợ bị bắt. Hay xã hội chúng ta dạy rằng phải biết kềm giữ lại, đừng để lộ bản chất của chúng ta. Hoặc có thể là chúng ta không có cơ hội để phạm vào từng tội lỗi mà chúng ta mơ tưởng đến.
Hết thảy chúng ta tự nhiên thiên về với vật chất, ích kỷ, tham lam, và lấy cái tôi mình làm trọng. Hết thảy chúng ta sẽ nói ra những việc kinh khủng về người khác nếu chúng ta bị kích động đúng mức. Và hết thảy chúng ta sẽ nắm lấy phần bạo lực nếu chúng ta bị đẩy đến bờ vực. Hết thảy chúng ta sẽ phạm vào những tội ác khủng khiếp nếu chúng ta bị đặt vào đúng hoàn cảnh. Chúng ta sống thật dại dột nếu chúng ta nghĩ đến bất cứ điều chi khác là thực.
Vấn đề thực chính là tình trạng phổ quát của tấm lòng con người.
Điều nầy dẫn tôi đến một điểm quyết định, quyết định cho cái ngày đặc biệt nầy. Nếu bạn nghĩ bài học thực sự của Trân Châu Cảng dẫn tới chỗ chúng ta thù hận người Nhật vì họ không cứ cách nào đó tệ lậu hơn chúng ta, bạn đã quên điểm phổ quát kia rồi. Nan đề bạo hành và xung đột không phải là vấn đề người Nhật bản. Đấy chẳng phải là nan đề của người Mỹ. Đó là nan đề của cả nhân loại.
Nếu bạn muốn biết điều chi sai lầm với thế giới ngày nay, hãy nhìn vào gương đi! Nan đề là bạn, nan đề là tôi, nan đề là hết thảy chúng ta ghép chung lại.
Vào một ngày giống như ngày hôm qua, chúng ta muốn nhìn vào bản thân mình rồi nói chúng ta tốt lành là dường nào, và họ xấu xa là bao. Nhưng họ không tệ lậu hơn chúng ta vì họ chẳng khác gì với chúng ta. Chúng ta giống nhau nhiều hơn là chúng ta khác nhau. Chúng ta dự vào cùng một bản chất cơ bản của con người.
Khi bạn phân tích qua mọi sự rồi, câu trả lời rất rõ ràng: Chẳng có bình an dưới đất là vì chúng ta không phải là hạng người ưa thích hoà bình. Chúng ta không phải là hạng người đầy dẫy sự bình an. Chúng ta là hạng người đầy dẫy giận dữ, đầy dẫy hận thù, đầy dẫy tư dục và đầy dẫy tham lam.
Chúng ta có nhiều nan đề thì chẳng có gì phải ngạc nhiên. Chúng ta giết chóc nhau, chẳng có gì phải ngạc nhiên. Chẳng có bình an gì dưới đất, chẳng có gì phải ngạc nhiên.
Con đường bình an mà họ chẳng biết
Có những lời lẽ quen thuộc ở Rôma 3:10-17:
Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích. Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không. Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt. Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng. Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu. Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn. Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an.
Nếu chưa có sự bình an nào trên đất hôm nay … nan đề không phải đặt nơi Chúa Jêsus. Nan đề không có với Ngài đâu. Nan đề đang có với chúng ta đây. Chúng ta là nguyên nhân chẳng có sự bình an nào hết ở trên đất. Nan đề tối hậu là tình trạng phổ quát của tấm lòng con người.
Khi mọi lời hứa của Ngài đã được thốt ra, chúng sẽ được ứng nghiệm cách hoàn toàn. Khi những nguyên tắc của Ngài được đưa vào thực hành, thực sự sẽ có sự bình an ở trên đất.
Nan đề không đặt nơi Chúa Jêsus. Nan đề đang đặt nơi bạn và tôi.
Có câu trả lời thứ hai giúp cho chúng ta hiểu rõ lý do tại sao, sau 2.000 năm, lời hứa Giáng Sinh vẫn còn chưa ứng nghiệm.
II. Bình an đến với trần gian mỗi lần một tấm lòng.
Chương trình của Đức Chúa Trời là đem sự bình an đến trên đất bằng cách cảm động từ lòng đến lòng. Chương trình của Đức Chúa Trời không phải đến với người ta theo số đông. Chương trình của Ngài là đến với con người từng người một.
Theo ý nghĩa đó, chẳng có một việc gì là hoà bình theo kiểu gây tiếng vang. Chẳng có một việc gì là hoà bình theo kiểu quốc gia. Chỉ có những người nam người nữ nào yêu hoà bình, và những người nam người nữ nào yêu chiến tranh. Không may thay, dường như vẫn còn có nhiều người ưa chiến tranh hơn số người yêu hoà bình.
Đức Chúa Trời là một Đấng hoà nhã trọn vẹn. Nếu bạn quyết mình sẽ nổi giận, Ngài sẽ để cho bạn cứ giận. Nếu bạn quyết mình sẽ cay đắng, Ngài sẽ để cho bạn cay đắng. Nếu bạn quyết mình sẽ ưa chê bai, phê phán, Ngài sẽ để cho bạn đi theo lối đó. Nếu bạn quyết mình sẽ có thành kiến với ai đó, Ngài sẽ để cho bạn cứ thành kiến. Nếu bạn quyết mình sẽ bạo động, Ngài sẽ để cho bạn bạo động. Là một Đấng hoà nhã trọn vẹn, Đức Chúa Trời tôn trọng ý chí tự do của bạn.
Đấy là lý do tại sao sứ điệp bình an không đến qua những hội nghị hoà bình, dù những hội nghị ấy là tốt đấy. Sứ điệp bình an mỗi lúc được rải ra cho một tấm lòng, mỗi lần một người. Bạn có nhớ bài hát từ thập niên 60 ghi rằng: “Nguyện sự hoà bình ở trên đất, và nó bắt đầu với tôi" không?
Đấy là phương thức sự bình an được rao ra. Từ tấm lòng của bạn đến tấm lòng của tôi và từ chúng ta đến với nhiều người khác.
Có người xướng như sau: “Đấy là cách thức rất chậm khi đem sự bình an đến trên đất. Chẳng có phương án nào hay hơn sao?” Câu trả lời rất đơn giản. Đây là một chương trình chậm chạp, nhưng đường lối của Đức Chúa Trời là đường lối duy nhứt đang vận hành.
Ông ta ghét người Nhật
Chúng ta giờ đây trở lại với Trân Châu Cảng. Một vài tháng sau cuộc tấn công và nước Mỹ đang tìm cách lần trở lại từ thất bại đau đớn đó. Chúng ta tái vũ trang và sẵn sàng cho mọi sự – chiến tranh trên Thái Bình Dương. Một nhân vật có tên là Tướng Jimmy Doolittle được chọn để chỉ huy cuộc không kích lúc ban ngày trên thành phố Đông Kinh. Về mặt quân sự, không kích có ít tác động trên chiến tranh, nhưng nó có tác động quan trọng trên cả người Nhật và sự suy nghĩ của người Mỹ. Nó làm tăng uy thế tinh thần của chúng ta và gửi một dấu hiệu cho người Nhật biết rằng họ không được an toàn trên cái tiền đồn gồm những hòn đảo đó. Không may thay, những chiếc phi cơ hết nhiên liệu không thể thực hiện phi vụ phải đáp khẫn xuống đường băng của đồng minh Trung Hoa. Một trong những người rơi vào tình trạng đó là Jake DeShazer. Ông đã bị bắt làm tù binh gần bốn năm. Trong suốt thời gian đó, ông bị đánh đập, bị đối xử tàn tệ, và gần như bị bỏ đói hòng chết nữa. Qua sự thừa nhận của chính ông, ông gớm ghét người Nhật với sự hận thù sôi sục lắm. Ông thù những gã lùn Nhật bản với màu da vàng sởn tóc gáy đó. Ông thù ghét khi nhìn đến họ. Ông không hể chịu được ngôn ngữ của họ.
Khi những người Mỹ trong trại tù binh xin thứ gì đó để đọc, họ đã được trao cho một quyển Kinh Thánh Anh ngữ – 14 tháng sau đó. Kinh Thánh được trao cho trước tiên là các sĩ quan, nhưng chắc chắn Kinh Thánh cũng đã được trao cho Jake DeShazer. Lần đầu tiên trong đời, ông đã đọc Kinh Thánh. Khi ông đọc đến câu chuyện nói tới Chúa Jêsus, sứ điệp tha thứ dường như phủ lút ông. Rồi ở đó, ở một trại tù binh của người Nhật tại Trung Hoa, Jake DeShazer đã dâng lòng mình cho Đức Chúa Jêsus Christ. Qua sự làm chứng của chính ông, trong giây phút được biến đổi đó, mọi giận dữ đã biến đi hết. Tất cả sự thù hận không còn nữa. Mọi oán hờn đà tan biến. Thậm chí ông đã khởi sự yêu thương những tên lính gát Nhật bản kia nữa là.
Sau khi cuộc chiến qua rồi, Jake DeShazer trở về Hoa kỳ, đăng ký vào Trường Đại Học, rồi sau đó sang Nhật trong vai trò giáo sĩ, ở đó ông đã giảng đạo và viết những chứng đạo đơn Tin Lành.
“Tôi là một tù binh của Nhật bản”
Năm ấy là năm 1945. Và người Nhật cũng đang tìm cách hồi phục lại cuộc sống của họ. Mitsuo Fuchida đã được giải ngũ ra khỏi quân đội, ông ta trở về lao động trên nông trang của gia đình. Những ngày làm phi công chiến đấu đã qua đi mất rồi. Trong một thời gian ngắn, ông nghĩ mình sẽ bị xét xử như tội phạm chiến tranh, nhưng thay vì thế, ông được kêu gọi làm một nhân chứng, ông không hề bị tố cáo về bất cứ một tội phạm chiến tranh nào hết.
Năm 1950, Mitsuo Fuchida lên xe lửa đến thành phố Đông Kinh. Khi ông đi ngang qua sân ga, có người trao cho ông một quyển sách nhỏ. Ông liếc mắt nhìn vào đề tựa – "Tôi là tù binh của Nhật bản" – và bỏ quyển sách ấy vào túi áo. Ông nghĩ đây là một câu chuyện khác nói tới tính hung bạo của người Nhật.
Chẳng phải như thế đâu! Đây là câu chuyện của Jake DeShazer cho thấy làm thể nào ông đã đến với Đấng Christ. Khi ông đọc xong câu chuyện đó, ông thấy rất lôi cuốn. Câu chuyện ấy kể lại về một người từng thù ghét người Nhật, song giờ đây đã dâng đời sống mình đến với họ vì cớ Đức Chúa Jêsus Christ. Quyển chứng đạo đơn đã khiến cho Mitsuo Fuchida tìm một quyển Kinh Thánh rồi bắt đầu đọc nó. Là một tín đồ Phật giáo, quyển sách, mọi sự trong đó đều mới mẻ đối với ông. Ông say đắm với câu chuyện nói tới Đức Chúa Jêsus Christ, đặc biệt qua câu chuyện nói tới sự đóng đinh trên thập tự giá, và đặc biệt nhất bởi những lời nói từ trên thập tự giá – "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì”.
Đây đúng chính xác là lời lẽ của Mitsuo Fuchida:
Tôi có ấn tượng rằng mình là một trong những kẻ được Ngài cầu thay cho. Nhiều người tôi đã giết đã tàn sát với danh nghĩa yêu nước, vì tôi không hiểu nổi tình yêu mà Đấng Christ muốn cấy ở trong từng tấm lòng.
Ngay giây phút ấy, dường như tôi đã gặp được Chúa Jêsus lần đầu tiên. Tôi hiểu ý nghĩa sự chết của Ngài là một sự thay thế cho tình trạng gian ác của tôi, và vì vậy trong sự cầu nguyện, tôi đã cầu xin Ngài tha thứ mọi tội lỗi của tôi và thay đổi tôi từ một cựu phi công cay đắng, bị ám ảnh thành một Cơ đốc nhân cân đối với mục đích trong cuộc sống.
Ngày ấy, ngày 12 tháng 4 năm 1950, trở thành ngày thứ nhì “để nhớ” trong cuộc đời tôi (Moody Monthly, December, 1971, p. 29)
Khi tin tức nói tới sự biến đổi của ông được lan ra, bạn bè và các thành viên trong gia đình đều bị sốc. Đã có những dòng tít lớn đăng như sau: “Anh Hùng Trân Châu Cảng Cải Đạo Sang Cơ Đốc Giáo”. Những người bạn trong chiến tranh cũ đến gặp ông, họ tìm cách thuyết phục ông từ bỏ cái ý đồ điên rồ đó.
Nhưng họ không thể. Và vì thế, nhân vật chỉ huy cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng đã trở thành một Cơ đốc nhân, và là một vị giáo sĩ bùng cháy cho Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ.
“Gomenasai”
Câu chuyện của tôi chưa kết thúc đâu. Chúng ta quay lại năm 1941. Lần nầy chúng ta đến với một thanh niên 19 tuổi từ Brockton, Texas có tên là Joe Morgan. Anh lớn lên là một tín đồ Báptít và ở một thời điểm đã cảm thấy Đức Chúa Trời kêu gọi mình làm một nhà truyền đạo. Nhưng những chương trình đó bị gạt qua một bên khi anh tham gia vào hải quân để nhìn xem cả thế giới. Khi cuộc tấn công đến, anh bị tê liệt vào lúc đầu nhưng rồi đã chụp lấy khẩu súng và khởi sự nhã đạn tấn công vào người Nhật. Anh đã ở lại đó suốt cả ngày đêm chờ đợi những chiếc máy bay quay trở lại, nhưng chúng không còn trở lại nữa.
Sau cuộc chiến, Joe Morgan trở lại với viện thần học và anh cũng trở thành một nhà truyền đạo nữa. Bạn nghĩ xem Hội thánh đầu tiên của anh là ở đâu chứ? Ở Hawaii.
Nhưng trong bài làm chứng của anh, anh đã phấn đấu trong nhiều năm trời với thù hận dành cho người Nhật. Anh không thể tha thứ cho họ vì những gì họ đã làm tại Trân Châu Cảng. Anh thù họ vì sự tàn bạo trên Thái Bình Dương. Anh nói: “Khi chúng ta thả trái bom nguyên tử xuống đảo Hiroshima, tôi vui lắm. Tôi rất sung sướng vì chúng ta đã giết nhiều người hơn họ”.
Nhiều năm tháng trôi qua, và anh vẫn là Mục sư trên đảo Oahu, ăn nuốt với giận dữ và cay đắng. Thế rồi đến năm 1956, một người bạn đến nói với anh về vị khách bất thường sẽ đến giảng tại Hội thánh Giám Lý tại địa phương. Đây là nhân vật đến từ Nhật có tên là Mitsuo Fuchida, là người đã chỉ huy cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng.
Với chủ nghĩa phê phán nặng nề, Joe Morgan đến nghe Fuchida giảng. Sau đó ông đối mặt với Fuchida rồi nói cho ông ấy biết ông đã có mặt trên chiến trường Trân Châu Cảng. Fuchida cúi đầu xuống gật nhẹ, rồi tử tế nói Gomenasai, có nghĩa là “Tôi xin lỗi”. Khi ấy người chỉ huy cuộc tấn công chìa tay ra cho người đang tìm cách để giết. Hãy để cho Joe Morgan thuật lại phần còn lại của câu chuyện bằng chính lời nói của ông:
Khi ông ấy chìa tay ra bắt tay tôi, tôi kinh nghiệm được phép lạ của cả cuộc đời tôi. Giận dữ và thù hận như đi đâu hết rồi vậy. Đức Chúa Trời đã kihến tôi biết tha thứ (USA Today, Friday, December 6, 1991, p. 2A)
Đúng là một câu chuyện nói tới ân điển của Đức Chúa Trời. Nó khởi sự trên boong của một chiếc hàng không mẫu hạm Nhật bản. Nó dẫn tới người tù binh của quân Nhật tại Trung hoa. Nó tiếp tục tại sân ga của trạm xe lửa Nhật bản. Nó lên tới cao điểm tại một nhà thờ Giám lý ở Hawaii 11 năm sau đó.
Kẻ thù của tôi, bạn hữu tôi
– Jake Deshazer, là kẻ thù ghét người Nhật đã tìm gặp Đấng Christ trong một trại tù binh.
– Mitsuo Fuchida nhân vật đã chỉ huy cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng đã tìm gặp Đấng Christ sau khi đọc chứng đạo đơn của Jake DeShazer.
– Joe Morgan là người có mặt trên chiến trường Trân Châu Cảng đã tìm được sự tự do không còn thù hận nữa khi ông gặp Mitsuo Fuchida.
Đây là một bài làm chứng cho quyền phép của Đức Chúa Jêsus Christ phục hoà lại những cựu thù rồi đổi họ thành bạn hữu.
Một điểm sau cùng. Điều gì đã xảy ra cho Joe Morgan? Trong những năm sau đó, khi ông trở thành Giám Mục cho Hội Những Người Còn Sống Sót Sau Trận Trân Châu Cảng. Và ngày hôm qua – chính xác 50 năm sau cuộc tấn công ấy – khi Tổng Thống Bush phát biểu tại Nghĩa Trang Quốc Gia nói về Thái Bình Dương, Joe Morgan đã dâng lên lời cầu nguyện.
Có việc gì là bình an ở dưới đất không? Câu trả lời là Có. Nhưng sự bình an mà Chúa Jêsus ngự đến để mang lại không phải đạt được trên bàn hội nghị hay trên mũi dao găm. Sự bình an của Ngài đi từ lòng đến lòng.
Sứ điệp của thiên sứ là thật đấy. Có một việc là bình an và ân trạch cho loài người đấy. Nó đến khi Đức Chúa Jêsus Christ ngự vào một đời sống.
Có thể có sự bình an của Ngài trong kỳ lễ Giáng Sinh không? Được chứ!
Có thể nào những cựu thù được phục hoà lại và những kẻ thù hận nhau một thời lại yêu thương nhau và tha thứ !?!
Cái bóng của quá khứ
Tôi biết rằng tôi đang nói tới một số người lo sợ kỳ lễ Giáng Sinh năm nay. Bạn sợ mùa lễ vì bạn chẳng có chút bình an nào ở trong lòng mình. Lễ Giáng Sinh đối với bạn có nghĩa là nạo vét hết mọi ký ức xưa, hết thảy bóng ma, những bộ xương khô đó, thảy chúng ra khỏi căn buồng của bạn lần nầy trong năm. Bình an là việc xa xôi nhất đối với lý trí của bạn.
Nếu bạn từng mở lòng ra cho Đức Chúa Jêsus Christ một cách hoàn toàn và chẳng chút e dè, Ngài sẽ ngự vào rồi dời đi hết nổi thù hận và sự cay đắng. Ngài có thể chuộc hết mọi nổi đau thương trong quá khứ.
Tôi cầu nguyện cho bạn trong kỳ lễ Giáng Sinh, xin sự bình an của Đức Chúa Jêsus Christ sẽ trở thành sự bình an của bạn. Tôi cầu xin bạn sẽ mở lòng mình ra cho Đức Chúa Jêsus Christ theo một cách mới để bạn sẽ có kinh nghiệm riêng về sự bình an trên đất, ân trạch cho loài người.
Lạy Chúa Jêsus, chúng con ao ước được kinh nghiệm thực tại sự hiện diện của Ngài. Đối với một số người trong chúng con, bình an dường như quá xa vời. Chúng con ao ước được đến gần Ngài, và nguyện sự bình an của Ngài đầy dẫy tấm lòng chúng con. Xin giúp chúng con bỏ đi sự cay đắng, giận dữ và tức tối. Xin giúp chúng con biết tha thứ y như Ngài đã tha thứ, và đầy dẫy sự bình an của Ngài trong năm nay tại mùa lễ Giáng Sinh. Amen.