Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

II Côrinhtô 3:1-3: "Bạn đánh giá sự thành công như thế nào?"



Bạn đánh giá sự thành công như thế nào?
II Côrinhtô 3:1-3

Bạn sẽ thuê người nầy làm Mục sư quản nhiệm của bạn không?
*Bị bắt nhiều lần.
*Vào ra nhà tù.
*Thường đi ra khỏi thành phố.
*Chưa hề lo gây dựng một Hội Thánh.
*Chưa hề giảng trên TV.
*Chưa hề có một trang web.
*Chưa hề có một trang Facebook.
*Chưa hề sở hữu nhà riêng mình.
*Phải lao động bên lề để tự lo cho mình.
*Chưa hề trụ lại lâu ở một địa điểm.
*Không phải là một diễn giả khéo léo chỗ đông người.
*Bề ngoài không có ấn tượng.
*Có khi giảng nhiều giờ trong một dịp nào đó.
*Dường như thích dính dáng với những cuộc tranh luận chỗ đông người.
Hầu hết các Hội Thánh sẽ cho qua một người như thế. Rốt lại, bạn không thể giao tòa giảng cho bất cứ ai mãi đi hoài như thế. Và đấy là lý do tại sao Sứ đồ Phaolô sẽ không cảm thấy như ở nhà tại phần nhiều nhà thờ của chúng ta ngày nay.
Mỗi năm, tôi để phần lớn thì giờ trao đổi với quí Mục sư. Tôi mến thích quí Mục sư và tôi thích để thì giờ ra với họ. Có khi tôi hỏi: “Việc ấy rồi sẽ đi tới đâu?” và rồi ngồi lại chờ đợi câu trả lời. Giống như tôi vừa đánh máy câu trả lời đó, tôi rùng vai, như muốn nói: “Chuyện ấy còn tùy”. Chuyện nầy còn tùy vào ai đang hỏi, khi nào, ở đâu và tại sao. Và chuyện nầy còn tùy vào thời buổi mà bạn đưa ra câu hỏi nữa.
Thành công trong chức vụ rất khó xác định. Thậm chí khi chúng ta đã thỏa mãn tất cả mục tiêu của mình, có phải chúng ta thực sự thành công trong con mắt của Đức Chúa Trời không?
Chúng ta đánh giá sự thành công trong chức vụ như thế nào?
Đấy là thắc mắc mà Phaolô đã đối diện với ở II Côrinhtô. Ông phải xưng công bình cho chính ông vì một nhóm người hay phê phán đã lấn lướt Hội Thánh, họ làm đầy dẫy tâm trí của dân sự với những lời vu cáo nghịch lại bản sắc của Phaolô và cách xử sự của ông. “Anh em không thể tin tưởng ông ta. Hãy xem cách không kiên định của ông ta. Ông ta nói sẽ đến thăm, thế rồi chẳng thấy ông ấy đâu hết. Làm sao anh em biết ông ấy không phải là đồ giả mạo chứ?"
Một phần đáp trả của Phaolô đến từ II Côrinhtô 3:1-3, ở đây ông công bố rằng sự đánh giá thật về chức vụ của ông là những đời sống được thay đổi bởi Đức Thánh Linh. Điều đó thiết lập sự thành công thật ở trước mắt Chúa.
Thành công trong chức vụ rất khó xác định.
Ấy chẳng phải về các chương trình hay những tòa nhà đồ sộ.
Ấy chẳng phải về ngân sách hay của dâng phần mười.
Ấy chẳng phải về một danh tiếng cả thể.
I. Những đánh giá về sự thành công không thích nghi
“Chúng tôi há lại bắt đầu tự phô mình, hay là như người khác cần có thơ gởi gắm cho anh em, hoặc nhờ thơ gởi gắm của anh em sao?" (II Côrinhtô 3:1).
Phaolô nói: “Tôi không cần khoe và tôi không cần một bức thư gửi gắm để chứng minh giá trị của chức vụ tôi".
Đấy là sự khác biệt với phương thức chúng ta thực hiện nhiều việc ngày hôm nay.
Có khi chúng ta đánh giá sự thành công qua các thứ bằng cấp của chúng ta. Vì vậy, chúng ta vào trường đại học trong 4 năm để lấy bằng BA hay bằng BS. Rồi chúng ta lại vào trường để lấy bằng MA hay bằng MBA. Có người sẽ tìm kiếm một chứng chỉ chuyên nghiệp, tỉ như bằng MD, JD, DDS, hay DMin. Người nào với khuynh hướng muốn học hỏi sẽ theo đuổi bằng PhD để họ có đủ tư cách viết lách hay dạy dỗ ở những trình độ cao nhứt. Thế nên, đến mức cuối cùng, con người ham học kia có thể có một loạt bằng cấp theo sau cái tên mình, tỉ như BA, MA, PhD.
Và tất nhiên, những vụ việc nầy mới là vấn đề. Chúng ta hướng sự chú ý đến họ. Chúng ta dán mấy cái học vị của mình lên tường. Chúng ta muốn người ta nhìn biết chúng ta đến với Trường kỷ thuật của Georgia hay Miami hoặc Notre Dame hay Princeton hoặc Multnomah hay Biola. Và ấy chẳng phải chỉ có những danh xưng đó mà thôi đâu. Chúng ta kiếm được địa vị, chúng ta kết thật nhiều bè bạn, chúng ta tạo ra mạng lưới, chúng ta có thể gặp gỡ người bạn đời của mình ở trường đại học, và khi chúng ta tốt nghiệp, có một học vị từ một trường đặc biệt sẽ đưa đến công ăn việc làm cho chúng ta một ngày kia. Và đấy là vấn đề.
Có khi chúng ta phong chức cho người ta bước vào chức vụ. Điều đó rất quan trọng vì nó có ý nói rằng một nhóm nhân vật nào đó rất được kính trọng đã xem xét bạn một cách cẩn thận về sự làm chứng, lai lịch, học vấn, đạo lý, đời sống thuộc linh, và sự kêu gọi đến với chức vụ của bạn. Trong một số hệ phái, sẽ không được xem là hàng mục sư. Chúng ta dán tờ giấy phong chức của mình lên tường. Đây là con dấu của sự thành tựu, một dấu hiệu mà ai đó, ở đâu đó đã kiểm tra chúng ta và chúng ta được kể là xứng đáng.
Phaolô không hề cung ứng cho chúng ta bất kỳ một thông tin nào bằng số liệu những lần nhóm lại ở nhà thờ của ông
Thường thì chúng ta đánh giá quí Mục sư bằng tầm cỡ của Hội Thánh. Có lẽ chẳng có việc gì quan trọng hơn việc nầy. Đến nhóm lại với bất kỳ một vị Mục sư nào cũng được và sau những lời chào thăm cụ thể, có người chắc chắn sẽ lên tiếng: “Hội Thánh của bạn bao lớn?” hay “Bạn đang điều hành bao nhiêu Lớp Trường Chúa Nhựt?” Điều nầy là quan trọng vì 50 thì tốt hơn 25, 100 người thì tốt hơn 50, 500 người thì tốt hơn 100, 1000 thì tốt hơn 500, 2000 luôn tốt hơn 1000, và bất cứ điều chi hơn 2000 đều được xem là một Hội Thánh siêu sao. Và trong thời buổi nầy, hoàn toàn có một số lượng hơn 7000 người mỗi Chúa nhựt. Hiện nay Hội Thánh lớn nhứt ở Mỹ hấp dẫn hơn với 40.000 nhân sự. Và khắp thế giới có các Hội Thánh siêu - siêu sao, con số lên tới 100.000 hay 200.000 người.
Có những cách khác nhau trong việc tìm kiếm một sự thành công. Bạn quen biết ai? Bạn gắn bó thể nào? Bạn có quen một thượng nghị sĩ không? Có bao nhiêu giáo sĩ đến nhóm lại trong Hội Thánh? Bạn có số cellphone của Bill Gates không? Bạn có biết Twitter với Shania Twain đang gắn bó với nhau không? Bạn có ghé thăm và chào “hi” với Donald Trump khi bạn có mặt ở Nữu Ước? Bạn có gặp Tổng thống Obama không? Will Peyton Manning trở lại với những sự kêu gọi của mình? Bạn có dùng bữa trưa với Chuck Colson vào tuần qua không? Còn nhiều điều nữa. Vì chúng ta đang sinh sống trong một nền văn hóa nổi cộm, ai chúng ta quen biết mới là vấn đề. Quen biết nhân vật quan trọng cung ứng cho bạn một sự tỉnh táo, nó giúp bạn làm ra thật nhiều việc, rồi nó nâng cao bạn trong tâm trí của nhiều người khác.
Nhưng các việc nầy, các bức “thư tiến cử” mà Phaolô đang nói tới, sự tán thưởng và công nhận của nhiều người khác và sự vỗ tay của thế gian, đây chẳng phải là những đánh giá thực về sự thành công.
Đức Chúa Trời xem xét sự thành công ấy rất khác.
II. Một việc có ý nghĩa nhiều nhất
Đấy là những đời sống đã được Đức Thánh Linh thay đổi. Hãy xem cách Phaolô giải thích điều nầy ở các câu 2-3:
“Ấy chính anh em là thơ gởi gắm của chúng tôi, viết trong lòng chúng tôi, mọi người đều biết và đều đọc. Vả, rõ thật rằng anh em là bức thơ của Đấng Christ, bởi chức vụ chúng tôi viết ra, chẳng phải viết bằng mực, nhưng bằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời hằng sống, chẳng phải viết trên bảng đá, nhưng trên bảng thịt, tức là trên lòng anh em”.
Phaolô đã dính dáng thật sâu, minh chứng thực cho chức vụ của ông là những đời sống được thay đổi trong số khán thính giả của ông. Khi ông giảng Tin Lành, Đức Thánh Linh đã áp dụng Tin Lành ấy cho khán thính giả của ông để họ tin theo Chúa Jêsus, đời sống họ hoàn toàn được thay đổi. Côrinhtô là một thành phố hoàn toàn theo tà giáo, thờ lạy hình tượng và phi luân nặng nề về tình dục. Là một thành phố cảng, nó có tiếng về sự hưởng thự thú nhục dục lên tới một điểm mà “Côrinhtô hóa” đã trở thành ngạn ngữ trong thế kỷ thứ nhứt. Ngạn ngữ ấy có ý nói tới sống theo cấp độ khát khao nhục dục như súc vật vậy. Côrinhtô là một nơi mà bạn có thể nói thực sự là “cái gì cũng được hết”. Vì vậy khi Tin Lành bước vào với lời hứa biến đổi sự sống của nó nhờ vào quyền phép của Đức Chúa Jêsus Christ, hạng tội nhân đã trở lại đạo, và một số trong họ đã được thay đổi một cách triệt để. Phaolô đã viết về sự ấy trong thư thứ nhứt ông gửi cho người thành Côrinhtô:
“Anh em há chẳng biết những kẻ không công bình chẳng bao giờ hưởng được nước Đức Chúa Trời sao? Chớ tự dối mình: phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng, kẻ ngoại tình, kẻ làm giáng yểu điệu, kẻ đắm nam sắc, kẻ trộm cướp, kẻ hà tiện, kẻ say sưa, kẻ chưởi rủa, kẻ chắt bóp, đều chẳng hưởng được nước Đức Chúa Trời đâu” (I Côrinhtô 6:9-10).
Trong thế giới hôm nay, chúng ta có khuynh hướng xem đấy là một “phân đoạn khó chịu” làm cho chúng ta phải lúng túng vì dường như nó quá tiêu cực –và quả thật vậy! Nhưng đấy chưa phải là phần cuối của câu chuyện đâu. Hãy đọc tiếp ở câu 11:
“Trước kia anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế; nhưng nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ, và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời chúng ta, thì anh em được rửa sạch, được nên thánh, được xưng công bình rồi”.
Phần quan trọng nhứt của câu nầy là cụm từ đầu tiên của câu 11: “Trước kia anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế”. Trong cụm từ nầy chúng ta thấy toàn là đức tin Cơ đốc. Quyền phép tác động trong mọi sự chúng ta tin được tóm tắt trong cụm từ nầy. Cơ đốc giáo chắc chắn là một tôn giáo nói tới sự biến đổi. Mọi sự chúng ta nói và mọi sự chúng ta tin đều được xây dựng trên một lời hứa nền tảng và rất cấp tiến: Bạn không phải trụ lại ở phương thức bạn đang sinh sống đây. Đời sống của bạn có thể được biến đổi thật triệt để bởi Đức Chúa Trời. Phép lạ biến đổi xảy ra khi sự sống của Đức Chúa Trời bắt gặp và giao tiếp với nhân cách của con người. Đức Chúa Trời từng bước vào bức tranh, đời sống của bạn sẽ không bao giờ còn như nguyên cũ nữa. Cho tới khi ấy, có thể bạn sống rất tôn giáo và có thể bạn là một người rất nhơn đức và có thể bạn sẽ tuân theo những luật lệ của nhà thờ, nhưng bạn chưa được biến đổi.
Cơ đốc giáo chắc chắn là một tôn giáo nói tới sự biến đổi.
Chúng ta hãy viết ra để cho cả thế gian hiểu rõ. Những Cơ đốc nhân tại thành Côrinhtô đã . . .
Không còn sống gian ác nữa.
Không còn phi luân nữa.
Không còn là những kẻ thờ lạy hình tượng nữa.
Không còn là hạng tà dâm nữa.
Không còn là đồng tính luyến ái nữa.
Không còn trộm cắp nữa.
Không còn tham lam nữa.
Không còn say sưa nữa.
Không còn là hạng người vu khống nữa.
Không còn là hạng người lừa đảo nữa.
Hãy nói về một sự thay đổi. Bạn có thể tưởng tượng cái chạm trong thành Côrinhtô khi một người chuyên thờ lạy hình tượng đến với Đấng Christ và bạn bè của người tại đền thờ thần Aphrodite, là nữ thần tình yêu, họ lấy làm lạ không biết có sự gì đã xảy đến cho người! Tại sao người ấy chẳng còn đến ở quanh đấy nữa? Tại sao người không còn dâng của lễ nữa? Tại sao người tránh né không còn giao tiếp về tình dục với những nữ tế trong đền thờ? Tại sao người không dự phần vào những kỳ lễ say sưa chè chén nữa? Điều chi đã xảy đến cho người vậy? “Tôi đã gặp mấy người kia, họ nói cho tôi biết về Chúa Jêsus, và Ngài đã thay đổi đời sống tôi thật hoàn toàn".
Sự biến đổi là phép lạ bởi đó Đức Chúa Trời thay đổi những căng thẳng trong đời sống của bạn
Hay giả sử một phụ nữ kia là một trong những nữ tế, là người đã thực hành một hình thái mại dâm tôn giáo. Bạn bè của cô ấy nói gì khi đột nhiên cô ấy thôi không còn lao vào công việc ấy nữa? Câu trả lời của cô ấy sẽ làm nổ tung đầu óc của họ.
Hoặc ở đây là một người sống trong thành Côrinhtô đã sống theo lối sống đồng tính luyến ái. Nhưng không còn như thế nữa. Người đã được thanh tẩy, được rửa sạch, được nên thánh, được ban cho một tấm lòng mới, một đời mới, một hướng đi mới. Phải, những sự cám dỗ vẫn còn, nhưng hướng đi của đời sống người đã đổi khác cho đến đời đời. Bạn có thể tưởng tượng bạn bè của người ấy sẽ nói gì khi người tuyên bố: “Tôi sẽ không dính vào chuyện ấy nữa đâu"?
Có cách khác để nói ra điều đó. Sự biến đổi là phép lạ bởi đó Đức Chúa Trời thay đổi những căng thẳng trong đời sống của bạn:
Đây là điều bạn đã sống.
Đây là điều bạn đang sống.
Cơ đốc nhân tin rằng Đức Chúa Jêsus Christ có thể làm sự thay đổi đó, và chúng ta tin rằng chỉ có Chúa Jêsus có quyền phép làm thay đổi đời sống mới biến đổi đời sống bạn một cách hoàn toàn từ trong ra ngoài. Đấy là điều đã xảy ra cho các tín hữu trong thế kỷ thứ nhứt ở thành phố cảng Côrinhtô. Điều đó sẽ xảy ra cho bạn ngay hôm nay khi bạn đọc những lời lẽ nầy.
Sự thay đổi triệt để nầy đã diễn ra như thế nào giữa vòng những kẻ đã nghe sứ điệp nầy? Những kẻ đã thờ lạy hình tượng trước kia giờ đây. . .
Đúng là một sự diệu kỳ khi sự biến đổi của bạn thực đến nỗi chẳng một ai có thể chối bỏ được sự đổi thay trong đời sống của bạn.
Khác biệt thấy rõ
“Ấy chính anh em là thơ gởi gắm của chúng tôi, viết trong lòng chúng tôi, mọi người đều biết và đều đọc” (câu 2). Đúng là một sự diệu kỳ khi sự biến đổi của bạn thực đến nỗi chẳng một ai có thể chối bỏ được sự đổi thay trong đời sống của bạn.
Là môn đồ của Đấng Christ
“Vả, rõ thật rằng anh em là bức thơ của Đấng Christ” (câu 3). Đời sống của họ giống như một bức thư ra từ Đấng Christ vậy, được viết ra trên bảng lòng của họ, đơn sơ và rõ ràng cho cả thế gian đều thấy.
Được thay đổi một cách siêu nhiên
“chẳng phải viết bằng mực, nhưng bằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời hằng sống” (câu 3). Họ không được thay đổi bằng sự “đi nhà thờ” hay “bước đi ở hành lang nhà thờ” hoặc “ký tên trên tấm thiệp". Những việc ấy chẳng có quyền phép gì để thay đổi chúng ta hết. Chỉ có Đức Thánh Linh đang tác động ở bên trong mới có thể viết ra lẽ thật của Đức Chúa Trời trên bảng lòng của chúng ta.
Được biến đổi từ bên trong
“chẳng phải viết trên bảng đá, nhưng trên bảng thịt, tức là trên lòng anh em” (câu 3). Mười Điều Răn đã được viết ra trên bảng đá, cung ứng cho họ thường trực như một luật sống cho Israel xưa kia. Nếu có ai nói: “Ngủ với vợ kẻ lân cận có sao không?” thì câu trả lời là: “Hãy kiểm tra lại hai bảng đá. Chúng nói gì thế?” Luật lệ có thể làm nhiều việc đấy. Chúng có thể nói cho bạn biết đúng sai, và chúng có thể cung ứng phần hướng dẫn trong những tình huống khó khăn. Chỉ có Tin Lành mới có thể thay đổi chúng ta từ trong ra ngoài mà thôi.
Cơ đốc nhân là “những bức thư sống”, những bức thư mà ai cũng có thể đọc được.
Cơ đốc nhân là “những bức thư sống”, những bức thư mà ai cũng có thể đọc được. Cơ đốc giáo được viết ra trên linh hồn là
Rõ ràng, dễ đọc
Có sức thuyết phục,
Lâu dài,
Không thể bài bác được.
Chúa Jêsus là tác giả, Đức Thánh Linh là mực, bạn là bức thư!
Bạn đang viết ra một Tin Lành,
Một chương mỗi ngày, bởi những việc bạn làm và bởi lời lẽ bạn nói ra. Người ta đọc những gì bạn viết ra, dù có trung tín hay thành thực hay không!?! Theo bạn, thì điều ấy giống với Tin Lành không?
Vì thế, đâu là dấu hiệu thật của một chức vụ thành công? Nó phải là những đời sống được thay đổi bởi sự rao giảng Tin Lành nhờ quyền phép của Đức Thánh Linh. Đấy là lý do tại sao phần minh chứng của chức vụ không được tính bằng một thứ gì khác hoặc bằng những sách báo được viết ra hay địa điểm được rao giảng hoặc tầm cỡ lớp trường Chúa nhựt hay bao nhiều buổi thờ phượng bạn có hoặc ngân sách bạn lớn lao chừng nào hay ai đến để giảng cho bạn nghe hoặc ai phục vụ trong Ban Trị Sự hay bạn ở bao lâu trong chức vụ.
Michael Andrus đưa ra một sự quan sát về điểm nầy:
Phaolô không hề cung ứng cho chúng ta bất kỳ một thông tin nào bằng số liệu những lần nhóm lại ở nhà thờ của ông; ông không hề nói cho chúng ta biết có bao nhiêu người chịu phép báptêm trong một năm; ông không hề tường trình lại con số những chương trình mới mà ông đã khởi sự; và thậm chí ông không hề nói cho chúng ta biết số tiền dâng hiến bao nhiêu trong ngân sách Hội Thánh!
Chúng ta tính toán những việc như thế rồi nói: “Đúng, nếu bạn có được những sự ấy, bạn đã có một chức vụ thành công”. Phaolô nói: “Tôi sẽ không chơi trò chơi ấy". Ông sẽ không hỏi han những bức thư để tham khảo, ông cũng không cung ứng một thư nào cả. Ông chỉ nói: “Nếu bạn muốn biết về chức vụ của tôi, hãy kiểm tra những người nào nghe tôi giảng. Hãy nhìn vào những điều Đức Chúa Trời đã làm trên đời sống của họ”.
Những bức thư sống.
Minh chứng sống.
Đấy là việc duy nhứt là vấn đề. Phần còn lại chỉ là những chi tiết thôi. Và phần lớn chỉ giống như thứ trang trí bên lề cửa.
III. Nguồn của sự thành công
Nếu bạn lấy phân đoạn Kinh Thánh nầy như một tiêu chuẩn, nó có nghĩa là Đức Chúa Trời đánh giá sự thành công của chúng ta theo những giới hạn những đời sống được thay đổi. Rõ ràng Ngài không thấy ấn tượng bởi tầm cỡ ngân sách của chúng ta hay bởi tấm kính bị bẩn trong nơi thánh của chúng ta. Đấng đã treo những ngôi sao trên bầu trời thực sự không quan tâm có bao nhiêu quyển sách được chúng ta viết ra hay bao nhiêu tiền bạc chúng ta làm ra hay chúng ta có nhìn thấy tên tuổi mình được ghi trong chỗ sáng láng hay không!?!
Ngài là Đức Chúa Trời Toàn Năng, là Đấng đã dựng nên trời và đất.
Chúng ta có nên gây ấn tượng cho Ngài không?
Tôi nghĩ là không rồi.
Đức Chúa Trời đánh giá sự thành công của chúng ta theo những giới hạn những đời sống được thay đổi.
Tôi đã nói rồi, minh chứng cho chức vụ của chúng ta là những đời sống được thay đổi bởi Đức Thánh Linh. Vậy, ai đang làm sự thay đổi đó? (Đây không phải là một câu hỏi lắt léo đâu).
Đức Thánh Linh (Ngài là Đức Chúa Trời).
Nếu những đời sống thực sự được thay đổi dưới chức vụ của chúng ta, Đức Chúa Trời đã làm sự thay đổi ấy!
Ngài đã sắp xếp mọi sự để chúng ta tiếp lấy vinh quang và đặc ân của sự hầu việc Ngài. Ngài đã giao phó sứ điệp nói tới sự phục hòa cho chúng ta và căn dặn chúng ta phải đi khắp thế gian rồi rao giảng sứ điệp ấy trong từng dân tộc, nói với từng người và cả thảy: “Hãy làm hòa lại với Đức Chúa Trời".
Chúng ta đang rao giảng đây.
Đức Chúa Trời đang cứu đây.
Chúng ta đang cầu nguyện đây.
Đức Chúa Trời đang đáp lời đây.
Và chính Đức Chúa Trời là Đấng bắt lấy sứ điệp chúng ta đang rao giảng rồi ghi nó trên bảng lòng của những người nghe. Và chúng ta hãy dâng lời cảm tạ về sự ấy. Nếu chúng ta muốn cứu người, chẳng một ai sẽ được cứu hết. Tôi có thể giảng từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn, tôi có thể giảng cho tới chừng bầy bò về đến chuồng, nhưng nếu Đức Chúa Trời không hành động, chẳng một ai sẽ được cứu đâu. Một bài thánh ca thật hay từ hồi thuộc địa viết như sau:
Anh em ơi, chúng ta nhóm lại đặng thờ lạy và chúc tụng Chúa là Đức Chúa Trời của chúng ta;
Bạn có hết sức cầu nguyện, đang khi chúng ta rao giảng Ngôi Lời không?
Mọi sự đều hư không trừ phi Thánh Linh của Đấng Thánh ngự xuống;
Anh em ơi, hãy cầu nguyện, và mana thánh sẽ được rải xuống khắp chốn.
Tôi không biết bạn cảm nhận thể nào về bài thánh ca nầy, nhưng tôi rất vui sướng khi thấy “Mọi sự đều hư không trừ phi Thánh Linh của Đấng Thánh ngự xuống”, vì câu ấy nói rằng chẳng có một điều gì phải trông vào tôi cả.
Sự thành công của tôi phải nương vào Chúa!
Không phải một phần, mà là toàn phần.
Ba kết luận đơn giản
Cho phép tôi đưa ra ba kết luận đơn giản từ chỗ nầy và chúng ta sẽ lần theo.
Sự thành công của tôi phải nương vào Chúa!
Thứ nhứt, tôi có một phần đóng góp và tôi phải lo phần đó. Tôi được kêu gọi để giảng dạy Lời của Đức Chúa Trời. Ở đâu, bằng cách nào, và khi nào không phải là điều đặc biệt đâu. Những hoàn cảnh đều thay đổi suốt. Hãy nhìn vào đời sống của Phaolô. Ông đã có sự thành công rất lớn trong một thành phố rồi ra khỏi đó để đến với thành phố khác. Ông ở lại trong thành nầy chỉ mấy tháng và ở thành khác trong ba hay bốn tuần lễ thôi. Ông được thương, bị ghét, được khen ngợi rồi bị mắng nhiếc, được ca tụng rồi bị chỉ trích bất cứ đâu ông đến. Một số Hội Thánh ông đã mở ra đã có những nan đề quan trọng. Không phải ai nghe ông giảng đều tin theo sứ điệp của ông đâu. Không phải tất cả các môn đồ của ông đều giữ lòng thành thật với Thầy. Tuy nhiên, ông đã quyết đi bất cứ đâu ông được hướng dẫn, để trở nên “mọi sự cho mọi người” bởi ân điển của Đức Chúa Trời, ông sẽ đem ít nữa một vài người đến với Đấng Christ.
Có phải Phaolô thành công không? Từ viễn cảnh của hai mươi thế kỷ sau, chúng ta biết rõ câu trả lời là “đúng”. Nhưng ông đã kết thúc ở trong tù tại Rome (hai lần!) và rõ ràng đã chịu chết vì bị chặt đầu do lịnh của hoàng đế Nero.
Ở I Côrinhtô 4:2, Phaolô tỏ ra bí quyết chính của sự thành công trong chức vụ: “Vả lại, cái điều người ta trông mong nơi người quản trị là phải trung thành". Ai cũng thấy được vấn đề ở chỗ nầy.
Phải trung thành.
Đấy là điều Đức Chúa Trời mong muốn từ bạn và tôi.
Phải trung thành với sự kêu gọi của chúng ta.
Phải trung thành với Chúa.
Phải trung thành khi rao giảng Ngôi Lời.
Đấy là phần của tôi và tôi phải lo phần của mình. Không một ai khác có thể làm điều đó thay tôi được.
Thứ hai, thực sự tôi không biết tôi đã thành công như thế nào cho tới chừng tôi bước vào trong thiên đàng. Cách đây mấy năm, tôi đã xem Larry King phỏng vấn Mục sư Billy Graham. Ở một điểm ông đã hỏi Mục sư Graham: “Có bao nhiêu người đã được cứu dưới chức vụ của ông?” Không phải chờ đợi, Mục sư Billy Graham đã đáp: “Tôi không biết” “Ông cũng chẳng biết đâu?” “Không, chỉ có Chúa mới biết con số đó".
Đây là một người đã rao giảng cho nhiều dân hơn bất cứ ai khác trong lịch sử. Và hàng triệu người đã nhìn thấy ông trên vô tuyến truyền hình. Ông là nhà truyền đạo được biết đến nhiều nhất trong lịch sử Cơ đốc. Nhưng khi bạn hỏi có bao nhiêu người đã được cứu, ông đáp: “Tôi không biết”. Bạn có thể đếm những kẻ đưa ra quyết định, nhưng chỉ có Chúa mới biết tình trạng thật của tấm lòng nơi những người tiến lên phía trước.
Thái độ của ông thật hoàn toàn chính xác.
Khi chúng ta không cứu được ai, mọi sự vinh hiển đều thuộc về một mình Chúa.
Bất cứ thành công nào chúng ta có trong sự hầu việc Chúa xảy đến vì chính mình Chúa đã ưng ban điều đó cho chúng ta. Khi chúng ta không cứu được ai, mọi sự vinh hiển đều thuộc về một mình Chúa.
Thứ ba, tôi không sánh mình với bất kỳ ai khác. Cách đây nhiêu năm, tôi có nghe Mục sư Vernon Grounds, là hiệu trưởng rất lâu của Thần Học viện Denver, chia sẻ một câu chuyện từ thời điểm mới ra hầu việc Chúa khi ông bị chỉ trích gay gắt vì một số vị trí mà ông đã nắm lấy. Những kẻ chỉ trích ông đều cảm thấy ông còn mạnh mẽ hơn hay nói ra những việc có sức mạnh hơn hoặc làm ra mọi sự theo một phương thức khác hơn. Họ lớn tiếng cho rằng ông không thể bất chấp họ. Hiển nhiên là ông đã phát giận dữ và ngã lòng. Thế rồi Chúa gây ấn tượng trên tấm lòng ông phân đoạn Kinh Thánh Giăng 21:20-22, ở đó Phierơ, chắc chắn là có đôi chút ganh tỵ, ông hỏi Chúa điều chi sẽ xảy ra cho sứ đồ Giăng. Đây là câu trả lời của Chúa ở câu 22: “Nếu ta muốn người cứ ở cho tới khi ta đến, thì can hệ gì với ngươi? Còn ngươi, hãy theo ta". Câu nói theo cách lịch sự thì là: “Điều chi xảy ra cho Giăng không phải là việc của ngươi”. Bản Kinh Thánh King James dịch cụm từ sau giống như bản Kinh Thánh tiếng Việt: "Còn ngươi, hãy theo ta”.
"Còn ngươi, hãy theo ta”
Mục sư Grounds nói, Chúa sử dụng câu nói nầy để buông tha cho ông.
“Hãy theo ta, và đừng lo lắng cho ai khác cả”.
“Hãy theo ta, và đừng lo lắng cho ai khác cả”.
“Hãy theo ta, và ta sẽ lo cho người khác”.
“Hãy theo ta, và ngươi sẽ có nhiều việc để làm”.
Đây là sự kêu gọi của chúng ta, nói đơn giản thôi:
Hãy chăn bầy chiên của Đức Chúa Trời.
Phải trung thành.
Hãy bước theo Chúa Jêsus.
Nếu chúng ta làm theo mọi sự ấy, chúng ta đã thành công rồi, và khi công tác của của chúng ta hoàn tất, chúng ta sẽ khám phá ra rằng Chúa đã làm nhiều hơn những gì chúng ta đã làm mà chúng ta đã biết đang khi chúng ta còn sống ở đây trên đất. Sự tán thưởng của thiên đàng sẽ chào đón chúng ta về tới quê hương, và đấy là sự thành công duy nhứt thực sự là vấn đề.

Êxêchiên 1:1-28: "Sống trong sự vinh hiển của Đức Chúa Trời"



Êxêchiên 1:1-28
Sống trong sự vinh hiển của Đức Chúa Trời
Đức Chúa Trời đã tỏ ra sự vinh hiển của Ngài trong Xuất Êdíptô ký 16:7. Ngài đã hứa ban mana xuống sau những lời lằm bằm với Môise về cách họ nhớ lại những món ăn tuyệt vời trong xứ Aicập.
Xuất Êdíptô ký 16:7: “và sáng mai sẽ thấy sự vinh quang của Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Vả lại, chúng ta là ai mà các ngươi oán trách chúng ta?”
Khi dân ngó về hướng sa mạc, họ đã nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời hiện ra trong một đám mây. Hình ảnh đám mây nầy trở thành một thuật ngữ của Kinh Thánh khi nói tới sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Từ Xuất Êdíptô ký 16 và các câu chuyện khác, chúng ta có thể nói rằng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là điều có thể nhìn thấy được và được kết nối với một đám mây.
Đặc điểm vinh hiển nầy là có một không hai duy nhứt dành cho Đức Chúa Trời. Một vài chữ đồng nghĩa với sự vinh hiển mà chúng ta hay sử dụng là “nguy nga”, “kỳ diệu”. Tự điển Webster xác định vinh hiển là “tình trạng thành tựu, nguy nga, thịnh vượng cao nhất …”. Nhưng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là một phẩm chất thiêng liêng mà Đức Chúa Trời sẽ không nhường cho một Đấng hay những tượng chạm nào khác (Êsai 42:8). Vì thế, theo ý nghĩa đó, bất kỳ vinh hiển nào chúng ta sẽ có hay nhìn biết rất khác biệt với ý nghĩa sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Khi Vua David nghĩ đến Đền Thờ được xây cất, điều đó đã nhắc cho ông nhớ tới sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
I Sử ký 29:11-12: “Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng qui về Ngài; vì muôn vật trên các từng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được tôn cao làm Chúa tể của muôn vật; Hoặc sự giàu có, hoặc sự vinh quang, đều do Chúa mà đến, và Chúa quản trị trên muôn vật; quyền năng và thế lực ở nơi tay Chúa; tay Chúa khiến cho được tôn trọng và ban sức mạnh cho mọi người”.
Thi thiên 19:1: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm”.
Thi thiên 97:6: “Các từng trời truyền ra sự công bình Ngài, muôn dân đã thấy sự vinh hiển Ngài”.
Vinh hiển khi ấy là một thuật ngữ đặc biệt mô tả sự hiện diện của Đức Chúa Trời thật năng động và trông thấy được bằng mắt thường. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời vốn là trọng tâm và rất quan trọng cho dân sự trong thời của Môise đến nỗi ba thuật ngữ khác đã được sử dụng để nói tới sự vinh hiển của Đức Chúa Trời: “mặt”, “sự tỏ ra” và “sự hiện diện” của Ngài. Trong Xuất Êdíptô ký 33, Môise đã nài xin muốn nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Môise muốn biết chắc rằng Đức Chúa Trời không lìa bỏ ông. Đáp ứng của Đức Chúa Trời là để cho mọi sự nhơn từ Ngài đi ngang qua trước mặt Môise nhưng không để cho Môise nhìn thấy mặt Ngài.
Êxêchiên 1 cung ứng cho chúng ta phần mô tả khác về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự vinh hiển nầy rất khác biệt so với tất cả những sự vinh hiển khác mà chúng ta đã nhìn thấy. Êxêchiên mô tả một kinh nghiệm mà ông đã có khi ông được 30 tuổi. Ông cùng với nhiều người khác đã bị bắt đi làm phu tù cho xứ Babylôn. Chúng ta được biết niên đại của sự hiện thấy thiên thượng nầy, theo cách nói của chúng ta là ngày 31 tháng 7 năm 593TC (câu 1). Ông nói bàn tay của Chúa đã đặt trên ông. Hãy chú ý 2 câu trong Êxêchiên 1.
Êxêchiên 1:4: “Nầy, ta thấy có luồng gió bão đến từ phương bắc, một đám mây lớn bọc lửa giãi sáng khắp tư bề; từ giữa nó, thấy như loài kim bóng nhoáng ra từ chính giữa lửa”.
Kế đó, ông tiếp tục mô tả những gì có trong đám mây to lớn nầy. Phần mô tả ngày càng thêm huyền bí thật kỳ lạ. Những chi tiết thật phi thường và khó hình dung nổi. Và sau cùng, ông nói cho chúng ta biết:
Êxêchiên 1:28: …… “Ánh sáng thấy chung quanh đó giống như ánh sáng của cái mống trong mây khi đang mưa. Ấy là tỏ ra hình trạng của sự vinh quang Đức Giê-hô-va. Ta thấy thì sấp mặt xuống, và nghe tiếng của một Đấng phán cùng ta”.
Có phải ông đang ảo giác hay đang ở trong một loại trạng thái lâng lâng nào đó chăng? Khi đọc ở chỗ nầy, chúng ta sẽ nghĩ rằng ông đã hình dung ra mọi sự nầy cho tới khi chúng ta thôi không nhìn biết rằng có những sự cố, những cấu trúc và tạo vật trong thế giới mà chúng ta không bao giờ trông thấy, suy nghĩ đến hay đã kinh nghiệm. Đây là một trường hợp mà hết thảy đều quen thuộc với.
Lấy trường hợp loài ruồi nhỏ bé kia xem. Bạn có lấy làm lạ về lý do tại sao Đức Chúa Trời lại dựng nên chúng ở chỗ đầu tiên không!?! Nhưng có bao giờ bạn nghĩ về thiên tài sáng tạo của Đức Chúa Trời ở chỗ Ngài dựng nên chúng như thế nào không?
Một nhà khoa học đã xưng nhận, con “ruồi là con vật khí động học tài ba nhất trên hành tinh — siêu hơn bất cứ loài chim, loài dơi hay loài ong nào khác. Con ruồi có thể đổi 6 chiều trong một giây, lơ lửng, bay thẳng lên, bay thẳng xuống, bay lộn về phía sau, thực hiện những sự nhào lộn, đậu trên trần nhà, và thực hiện nhiều thao diễn khác. Và nó có bộ óc nhỏ hơn hột giống hạt vừng nữa”.
Các nhà khoa học cũng lưu ý rằng “loài ruồi mang nhiều cảm biến. Thêm vào với hai con mắt phức hợp của chúng, với cái nhìn toàn cảnh và nhạy bén phát hiện ra từng chuyển động, chúng có những sợi tóc nhạy cảm với gió và giống như những sợi ăng-ten. Chúng cũng có ba bộ cảm biến về ánh sáng trên đỉnh đầu của chúng, những bộ phận nầy cho chúng biết phải bay theo lối nào. Hai phần ba hệ thần kinh của con ruồi được dành cho quá trình phân tích hình ảnh mà nó trông thấy được”. Joel Achenbach, “Bay như con ruồi”, National Geographic (June 2006).
Đây đúng là 1 trường hợp được biết đến trong thế giới được dựng nên. Còn có nhiều thứ nữa mà chúng ta chưa biết hết. Chúng ta chưa xem xét thế giới thuộc linh mà Đức Chúa Trời tập trung trong đó. Vì thế, khi chúng ta nghĩ đến thực tại theo cách nầy, sự hiện thấy của Êxêchiên không phải là lạ lùng đâu.
Trải qua nhiều năm tháng, các nhà giải kinh đã phấn đấu để nhất trí đối với các chi tiết những gì Êxêchiên đã mô tả. Họ dám chắc về sự việc: Thứ nhứt, đây là lễ nhậm chức hay sự ủy thác của Êxêchiên, vào sự phục vụ Đức Chúa Trời (2:3). Thứ hai, ông đang nổ lực mô tả sự vinh hiển của Đức Chúa Trời với thực tại mà ông đã nhìn biết từ thế kỷ thứ 6TC. Đây là lý do tại sao phần văn phạm trong chương là điều dễ bị lẫn lộn, chập choạng và bất toàn. Nhưng chúng ta biết ông đang ra sức mô tả sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (câu 28).
Êxêchiên 1:28: “……Ấy là tỏ ra hình trạng của sự vinh quang Đức Giê-hô-va”.
Nhưng hãy chú ý ông chỉ có thể mô tả hình trạng của sự vinh quang Đức Chúa Trời chớ không phải hình trạng cụ thể đâu. Tại sao là như vậy, vì ông không có lời lẽ để mô tả sự vinh hiển ấy và chúng ta cũng vậy. Nói khác đi,
Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời rất khó mô tả.
15 lần trong 28 câu Êxêchiên sử dụng từ “như” hay “hình trạng” trong nổ lực mô tả những gì ông đã nhìn thấy. Phần mô tả sự hiện thấy đám mây được chia thành 3 phần; các tạo vật sống (5-14), mấy cái bánh xe (15-21), vòng khung và ngai (22-27). Toàn bộ sự hiện thấy được ghép lại với lẽ đạo nói tới lửa.
“Nầy, ta thấy có luồng gió bão đến từ phương bắc, một đám mây lớn bọc lửa giãi sáng khắp tư bề; từ giữa nó, thấy như loài kim bóng nhoáng ra từ chính giữa lửa” (câu 4)
Đám mây nầy được thắp sáng rực lên. Và từ đám mây nổi lên “các vật sống” nầy.
“Hình trạng của những vật sống ấy giống như hình trạng than đỏ và đuốc lửa; lửa lên xuống giữa các vật sống ấy, lửa nhoáng sáng và có chớp từ nó phát ra” (câu 13)
Các tạo vật nầy, trong chương 10 được gọi là chêrubin, quả là khó mường tượng. Hình dạng của chúng tương tự như loài người, nhưng chúng có 4 cánh và 4 khuôn mặt. Nếu các tạo vật không phải là khó đủ để hình dung, mấy cái bánh xe (các câu 15-21) thậm chí còn lạ lùng hơn. Chúng ta dám nói rằng chúng là loại cấu trúc theo kiểu con quay hồi chuyển. Chức năng của chúng nằm trong mối quan hệ với các tạo vật không được giải thích chính xác.
Sau cùng trong các câu 22-27, là một ngai thủy tinh dễ sợ, hay vòng khung bên trên các tạo vật chúng giữ lấy cái ngai bên trên đầu của chúng. Nhưng bất chấp hình trạng chói lói của cái ngai, sự chú ý của Êxêchiên lại nhắm tới nhân vật ngồi trên ngai. Ngài có hình thể con người nhưng không phải con người bình thường.
“Trong ngai và mọi nơi chung quanh, ta cũng thấy như đồng bóng nhoáng, giống lửa, từ trạng ngang lưng người ấy trở lên; và từ trạng ngang lưng trở xuống, ta thấy như lửa sáng hừng chung quanh” (câu 27).
Đây là cách lý giải vắn tắt những gì Êxêchiên đã trông thấy. Ý nghĩa của những hình ảnh nầy được bàn luận liên tục. Nhưng quan trọng hơn, chúng ta phải làm gì với chúng kìa. Chúng ta đã được ban cho cái nhìn thoáng qua về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, thế rồi chúng ta sẽ áp dụng chúng ra sao? Mặc dù khó nắm bắt, và Êxêchiên có một thời điểm khó khăn khi mô tả sự vinh hiển ấy, sự hiện thấy cung ứng cho chúng ta một vài tư tưởng.
1. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời phủ lút chúng ta.
Mọi sự về sự hiện thấy là rất chói lói, hai cái chân bằng đồng, những thứ trang sức bóng nhoáng trong và trên mấy cái bánh xe, vòng khung thủy tinh và cái ngai được nạm ngọc. Êxêchiên vốn không tìm được lời lẽ đúng mức để mô tả những gì ông nhìn thấy. Hãy nhớ Êxêchiên đang ở đâu! Ông đã sống trong một đất đầy dẫy các tà thần, hình tượng của họ đòi hỏi sự chú ý và đánh bóng liên tục. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời mặt khác thách thức phần mô tả cả về lời lẽ và về sự nhìn thấy bằng mắt thường.
Môise muốn nhìn xem sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Vì thế, để bảo hộ cho Môise, Đức Chúa Trời đã đặt ông vào hốc đá trước khi Ngài đi ngang qua. Khi Giăng nhìn thấy Đấng Christ phục sinh, ông đã sấp mình xuống nơi chơn của Ngài như người chết (Khải huyền 1:17). Sự chói lói của Đức Chúa Trời tuôn ra từ sự hiện hữu của Ngài. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đang phủ lút.
2. Thật là khó cho chúng ta nhận ra sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Có một sự khác biệt được đánh dấu giữa Đức Chúa Trời của Kinh Thánh và các thần mà chúng ta dựng lên hay phát minh ra. Khi chúng ta đọc những câu chuyện xưa nói tới các tà thần, chúng ta được kể cho biết rằng họ trộn lẫn với con người. Những thói tật và các đặc điểm của họ thường giống với những thói tật và đặc điểm của chúng ta. Nhưng Đức Chúa Trời của Kinh Thánh thì rất khác biệt. Một mình Đức Chúa Trời, cao hơn và phân rẻ ra khỏi mọi loài thọ tạo của Ngài. Chúng ta không nhầm lẫn Đức Chúa Trời với lãnh vực được dựng nên của Ngài. Chúng ta được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Ngài không được dựng nên theo ảnh tượng của chúng ta.
Đây là một phần trong nan đề chúng ta gặp phải với sự hiện thấy của Êxêchiên. Chúng ta không hiểu điều đó vì chúng ta xem Đức Chúa Trời giống nhiều với chúng ta. Có thể chúng ta xem Ngài là một sự mở rộng nhân cách, nan đề và thử thách của chúng ta. Mô tả Thần Linh không có khởi đầu là điều rất khó, bất khả thi. Phải, Chúa Jêsus ngự đến để sống với chúng ta, đồng hóa với chúng ta và tự dấn thân vào hoàn cảnh và văn hóa của con người. Thậm chí chúng ta được thuật cho biết:
Giăng 1:14: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha”.
Trong khi họ sống với, “nhìn ngắm” sự vinh hiển của Ngài, đồng thời các môn đồ của Chúa Jêsus lại chẳng hiểu Chúa trọn vẹn. Họ luôn luôn lấy làm lạ về thời thế, quyền phép và mọi đường lối của Ngài. Sự vinh hiển và sự thánh khiết của Đức Chúa Trời rất khó mô tả thậm chí khi Ngài đến với chúng ta trong hình thể con người.
3. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời nhại theo sự tể trị của Ngài.
Phương cách khác để hiểu điều nầy, ấy là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là một sự tỏ ra chủ quyền của Ngài. Sự hiện thấy của Êxêchiên cung ứng cho chúng ta một dấu vết về sự trị vì và quyền phép của Đức Chúa Trời. Mặc dù Êxêchiên sống ở giữa một đế quốc theo tà giáo cai trị vùng Cận Đông, Đức Chúa Trời có mặt ở giữa đó. Cái ngai thiêng liêng nầy, hay chiếc xe, đã di động với sự tự do tuyệt đối. Nó độc lập đối với bất kỳ ảnh hưởng nào của con người, hay thế lực hoặc lực lượng nào trong vũ trụ. Chúng ta tiếp thu lấy ý nầy, ở một cấp độ nào đó, với cách thức hình ảnh các tạo vật được mô tả. Mỗi tạo vật có 4 mặt có quyền di động theo bất kỳ hướng nào trong 4 hướng mà không phải xoay lại. Sự chuyển động của chúng chẳng cần phải nổ lực nhiều.
Cũng hãy chú ý, nhà Vua ngự trên ngai bên trên các tạo vật sống nầy. Mặc dù chúng có một số nét oai nghi nào đó, song chúng chỉ là những tạo vật lo khiêng kiệu của nhà Vua mà thôi.
4. Đức Chúa Trời và sự vinh hiển của Ngài muốn là một phần trong đời sống của bạn.
Quan điểm nầy chẳng phải là mới mẻ đối với chúng ta. Nhưng hãy nhớ rằng Israel không còn ở trong Jerusalem nữa. Đền Thờ và thành phố đều bị hủy diệt hoàn toàn rồi. Dân chúng đã bị đày sang Babylôn sống trong tình trạng nô lệ. Nếu Đền Thờ và thành Jerusalem không còn tồn tại nữa, thế thì Đức Chúa Trời ở đâu? Đấy là mục tiêu của sự hiện thấy. Đức Chúa Trời đến với Êxêchiên để cụ thể nhắc cho ông nhớ rằng Ngài đang có mặt ở đó. Ngài không từ bỏ dân sự Ngài. Không những Đức Chúa Trời đến với Êxêchiên theo một phương thức kín nhiệm như thế, Ngài còn đến với Êxêchiên trong hình trạng con người nữa. Trong câu 26, Êxêchiên nói:
“…… có hình như cái ngai, trạng nó như là bích ngọc; trên hình ngai ấy có hình như người ở trên nó” (câu 26).
Trong khi Êxêchiên không nhìn thấy Đức Chúa Trời, ông nhìn thấy hình trạng, hay một phản ảnh của Đức Chúa Trời. Và trong khi Đức Chúa Trời không phải là một phần của loài thọ tạo của Ngài, điều nầy không ngăn Ngài không phán với chúng ta theo một ngôn ngữ mà chúng ta quen biết. Đức Chúa Trời phán với mỗi một người chúng ta bằng nhiều cách thức, rất thường xuyên trong Kinh Thánh. Thậm chí có người đã nghe Ngài phán giống như thể Ngài đang nói chuyện trực tiếp với họ vậy.
Một tư tưởng sau cùng:
5. Chúng ta cần phải ôm lấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời đã đến với Êxêchiên vì ông cần sự hiện diện đầy quyền phép của Đức Chúa Trời trong đời sống của ông. Chúng ta có gì khác biệt không? Mỗi một tín đồ đang ở trong sự hầu việc Chúa, trong Quân Đội của Chúa nếu bạn thích như thế. Đang hầu việc Ngài có nghĩa là chúng ta phải có một mặc khải rõ ràng về Chúa mà chúng ta đang phục vụ. Sự phục vụ của chúng ta đối với Chúa là một sự phục vụ không giống với sự phục vụ nào khác. Bởi sự tuyên xưng đức tin, chúng ta được gọi nhập ngũ vào trong sự phục vụ cho nhà Vua là Đấng đang ngự trên ngôi vinh hiển, oai nghi vô địch và đầy quyền phép. Nước của Đức Chúa Trời sẽ được xây dựng. Hai cánh cổng âm phủ sẽ chẳng thắng được nó. Và các tôi tớ Ngài sẽ đi ra vì ích cho Ngài. Trong khi chúng ta không hiểu trọn được sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, sự oai nghi của Ngài và quyền phép tể trị, chúng ta ít nhất phải vòng tay ôm lấy nó. Như thế có nghĩa là sống trong và dưới sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.

Theo Chúa Jêsus với ý nghĩa thuộc về một Hội Thánh địa phương



Theo Chúa Jêsus với ý nghĩa thuộc về một Hội Thánh địa phương
Mục sư Rick Warren
Khi chúng ta được kêu gọi bước theo Đấng Christ; chúng ta cũng được kêu gọi phải thuộc về Thân Thể của Đấng Christ nữa.
Khi Chúa Jêsus còn bước đi trên đất, Đức Chúa Trời đã hành động qua Thân Thể của Đấng Christ; ngày nay Ngài sử dụng thân thể thuộc linh của Ngài. Hội Thánh là công cụ của Đức Chúa Trời ở trên đất. Chúng ta là hai bàn hay, hai bàn chân, hai con mắt và tấm lòng của Ngài. Ngài hành động qua chúng ta trong thế gian. Chúng ta mỗi người đều phải đưa ra một phần đóng góp.
Sứ đồ Phaolô nói cho chúng ta biết: “vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Êphêsô 2:10).
Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn lao nhứt mà chúng ta đối mặt với trong vai trò Mục sư là thuyết phục những người đến nhóm lại, nói cho họ biết rằng họ cần phó thác bản thân họ cho gia đình Hội Thánh rồi trở thành những thuộc viên. Xã hội của những cá thể độc lập ngày nay đã tạo ra nhiều trẻ mồ côi thuộc linh, họ chuyển từ nhà thờ nầy sang nhà thờ khác mà chẳng có nhân dạng, sổ sách hay cam kết nào cả.
Đây là một vài lý do theo Kinh Thánh chúng ta có thể dạy dỗ hội chúng của chúng ta để họ thấy tại sao từng người tín hữu đều cần phải cam kết và năng động trong một Hội Thánh địa phương --
Một gia đình hội thánh xem chúng ta là những tín hữu chân chính.
Tôi không thể xưng mình là đang bước theo Đấng Christ nếu tôi không cam kết với bất kỳ một nhóm môn đồ đặc biệt nào. Chúa Jêsus phán: “Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta” (Giăng 13:35).
Khi chúng ta nhóm nhau lại trong tình yêu thương, như gia đình Hội Thánh từ những lai lịch, chủng tộc và tình trạng xã hội khác nhau, đây là một bằng chứng cho thế gian. Không một tín đồ nào riêng họ có thể trở thành Thân Thể của Đấng Christ được. Chúng ta cần đến nhiều người khác để tỏ ra khuôn mẫu mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một cách trọn vẹn. Ấy là khi chúng ta nhóm lại với nhau, chớ không phải khi chúng ta tẻ tách ra, chúng ta là Thân Thể của Ngài.
Một gia đình Hội Thánh đưa chúng ta ra khỏi tình trạng cô độc tự lấy mình làm trọng tâm.
Hội Thánh địa phương là trường lớp để học hỏi cùng tiến bộ trong gia đình của Đức Chúa Trời. Đây là một phòng thí nghiệm để thực thi tình yêu vô kỷ, cảm thông. Khi là một thuộc viên, bạn học biết chăm sóc nhiều người khác và chia sẻ những kinh nghiệm của những người khác: “Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng” (I Côrinhtô 12:26). Chỉ trong mối tiếp xúc đều đặn với những tín hữu bình thường, chưa trọn vẹn, chúng ta mới có thể học biết mối giao thông thực sự và kinh nghiệm lẽ thật của Tân Ước về việc kết nối và nương cậy lẫn nhau.
Giao thông trong Tân Ước là cam kết với nhau khi chúng ta sống cho Đức Chúa Jêsus Christ. Đức Chúa Trời mong mỏi chúng ta dâng đời sống của mình cho nhau. Phần nhiều Cơ đốc nhân đều biết rõ Giăng 3:16 lại không biết tới I Giăng 3:16: “Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống; chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy”. Đây là loại tình yêu mang tính cách hy sinh mà Đức Chúa Trời mong mỏi bạn tỏ ra cho các tín hữu khác – một sự bằng lòng yêu thương họ theo cùng một phương thức mà Chúa Jêsus yêu thương bạn.
Một gia đình Hội Thánh giúp chúng ta phát triển cơ bắt thuộc linh.
Không một người nào từng lớn lên đến chỗ trưởng thành chỉ bởi việc nhóm lại các buổi thờ phượng và là một khán thính giả thụ động. Chỉ có sự tham gia trọn sinh hoạt của một Hội Thánh địa phương mới gây dựng được cơ bắp thuộc linh. Kinh Thánh chép: “Ấy nhờ Ngài mà cả thân thể ràng buộc vững bền bởi những cái lắt léo, khiến các phần giao thông với nhau, tùy lượng sức mạnh của từng phần, làm cho thân thể lớn lên, và tự gây dựng trong sự yêu thương” (Êphêsô 4:16).
Hơn 50 lần trong Tân Ước, cụm từ “nhau” hay “với nhau” đã được sử dụng. Chúng ta được truyền cho phải yêu nhau, cầu thay cho nhau, khích lệ nhau, khuyên bảo nhau, chào nhau, phục vụ cho nhau, dạy dỗ nhau, tiếp nhận nhau, tôn trọng nhau, gánh gánh nặng cho nhau, tha thứ nhau, vâng phục nhau, tôn trọng nhau và nhiều việc khác nữa.
Đây là địa vị thuộc viên theo Kinh Thánh! Đây là “những trách nhiệm trong gia đình” mà Đức Chúa Trời mong mỏi từng tín hữu phải chu toàn qua một mối giao thông ở địa phương. Chúng ta cần phải hỏi thăm những ai đến nhóm lại những buổi thờ phượng của chúng ta: “Ông (bà) đến nhóm với ai thế?”
Thân Thể của Đấng Christ cần từng người một trong chúng ta.
Đức Chúa Trời có một vai trò đặc biệt dành cho từng tín hữu phải đóng trong gia đình của Ngài. Điều nầy được gọi là “chức vụ” của bạn, và Đức Chúa Trời đã ban ơn cho bạn với phần chỉ định nầy: “Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung” (I Côrinhtô 12:7).
Mối giao thông ở địa phương là chỗ mà Đức Chúa Trời đã ấn định cho con cái Ngài phải khám phá, phát triển và sử dụng các ân tứ của họ. Ngay cả những người với một chức vụ rộng hơn cần phải hiểu rằng trách nhiệm trước tiên của họ là với Thân Thể ở địa phương. Chúa Jêsus không hứa gây dựng chức vụ của bất kỳ ai; Ngài đã hứa gây dựng Hội Thánh của Ngài.
Một gia đình Hội Thánh giúp chúng ta chú trọng vào việc làm điều chi là phải. Không ai trong chúng ta được miễn không phải bị cám dỗ. Khi bị đặt vào một tình huống nào đó, bạn và tôi có khả năng phạm vào bất kỳ tội lỗi nào. Đức Chúa Trời vốn biết rõ điều nầy, vì vậy Ngài đã chỉ định cho chúng ta là những cá nhân, phần trách nhiệm phải giữ gìn nhau trên đường chạy. Kinh Thánh chép: “Nhưng hằng ngày anh em hãy khuyên bảo lẫn nhau, … hầu cho trong anh em không ai bị tội lỗi dỗ dành mà cứng lòng” (Hêbơrơ 3:13).
Chúng ta đã được kêu gọi và được truyền cho phải biết quan tâm đến đời sống của nhau. Nếu bạn biết ai đó đang trong cảnh chao đảo thuộc linh lúc bây giờ, chính trách nhiệm của bạn là phải bám sát họ rồi đem họ về lại trong mối giao thông. Giacơ nói với chúng ta như sau: “Hỡi anh em, trong vòng anh em nếu có ai lầm lạc cách xa lẽ thật, đừng xua họ đi. Hãy bám sát họ. Hãy đem họ trở lại” (Giacơ 5:19, bản dịch Anh ngữ Msg).
Satan thích làm cho tín đồ phải sai lạc – bị tách ra khỏi sinh hoạt của Thân Thể, bị tẻ ra khỏi gia đình của Đức Chúa Trời và vô trách nhiệm đối với các cấp lãnh đạo thuộc linh – vì hắn biết họ vô quyền và không có khả năng tự vệ chống lại các chiến thuật của hắn.
Đời sống Cơ đốc còn hơn cả sự cam kết với Đấng Christ nữa; đời sống ấy bao gồm một sự đầu phục đối với các Cơ đốc nhân khác nữa. Những Cơ đốc nhân tại thành Maxêđoan vốn hiểu rõ điều nầy. Phaolô đã nói: “Họ lại làm quá lòng trông cậy của chúng tôi, vì trước hết đã dâng chính mình cho Chúa, và sau lại cho chúng tôi, theo ý muốn Đức Chúa Trời” (II Côrinhtô 8:5).
Chúng ta phải nhắc cho những người nào ngồi đầy trong nhà thờ của chúng ta mỗi Chúa nhựt biết rõ tham gia vào địa vị thuộc viên trong một Hội Thánh địa phương là bước kế tiếp rất tự nhiên sau khi họ từng trở thành một con cái của Đức Chúa Trời. Bạn trở thành một Cơ đốc nhân bởi sự tự cam kết với Đấng Christ, nhưng bạn trở thành một thuộc viên Hội Thánh bởi việc tự mình cam kết với một nhóm tín đồ đặc biệt nữa. Quyết định đầu tiên đem lại sự cứu rỗi; quyết định thứ nhì đem lại mối tương giao.

5 Điều Quyết Tâm Đầu Năm... ...Dành Cho Cấp Lãnh Đạo Cơ Đốc



5 Điều Quyết Tâm Đầu Năm... ...Dành Cho Cấp Lãnh Đạo Cơ Đốc

Mục sư Rick Warren

Một trong những Phước Lành của Chúa Jêsus thường bị nhiều người hiểu sai có thể là một phước lành quan trọng nhất mà bạn cần nắm lấy trong năm 2010: “Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!” (Mathiơ 5:5). Chng ta phải thnh thật. Nghe thì thật l buồn cười đấy. Bạn nghĩ muốn hưởng được đất trước tiên bạn phải qua mặt được nhiều người khác. Nhưng chúng ta đ đánh mất ý nghĩa thật về sự nhu mì. Nhu mì khơng cĩ nghĩa là yếu đuối. Chúa Jêsus và Môise được mô tả là nhu mì, v chắc chắn họ l sao đó chớ không phải yếu đuối. Nhu mì thực sự cĩ ý nĩi tới sức mạnh được đặt dưới sự kềm chế. Từ ngữ nhu mì trong tiếng Hylạp đề cập tới một con ngựa hoang đ được thuần hóa hay một món thuốc có thể chế ngự một cơn sốt rét vậy. Sức mạnh chịu sự kềm chế l một phẩm chất quan trọng của bất kỳ một nh lnh đạo Cơ đốc nào. Một nhà lnh đạo nào (nam hay nữ) không thể kềm chế được sức mạnh của mình khơng thể no lnh đạo người khác làm giống như mình được. Đây là 5 phương thức giúp cho sức mạnh của bạn chịu sự kềm chế trong năm 2010. 1. Khi có ai phục vụ bạn, phải thông cảm, đừng địi hỏi. Philíp 2:4-5 chp: “Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khc nữa. Hy cĩ đồng một tâm tình như Đấng Christ đ cĩ”. Hàng ngày, chúng ta thường tương tác với những người phục vụ chúng ta. Thí dụ với người bồi bàn, thư ký, nhn vin bn hng, người thu ngân, và những người dọn thức ăn nhanh. Một trong những dấu hiệu tốt nhứt của một lnh đạo Cơ đốc, ấy là biết đối xử với những người đó bằng thái độ lịch sự và tôn trọng. Bạn có thông cảm họ hoặc là có những địi hỏi qu mức khơng? Bạn cĩ địi gặp vin quản lý của họ mỗi lần cĩ gì sai trật trong việc đáp ứng lệnh đặt hàng của bạn? Hay là bạn phản ứng với thái độ đầy ân điển? Cc cấp lnh đạo giỏi không được đánh giá bằng cách người khác phục vụ họ, mà bằng cách họ phục vụ người khác. Thật là dễ đáp ứng với người phục vụ bạn bằng tinh thần địi hỏi v chỉ trích. Chúng ta được kêu gọi để làm ngược lại. Sự tha thứ phải mau mắn. Lịng tơn trọng phải l qui luật bạn sống theo 2. Khi có ai đó làm cho bạn thất vọng, hy cư xử tử tế và đừng xét đoán. Phaolơ cho chng ta biết ở Rơma 14:1 – “Hy bằng lịng tiếp lấy kẻ km đức tin, chớ ci lẫy về sự nghi ngờ”. Phước hạnh đến khi bạn có thể chấp nhận người khác y như con người họ vốn là vậy. Đừng bắt buộc người khác phải đạt tới tiêu chuẩn nhất định nào đó mới được bạn yêu thương. Quí Mục sư ơi, ông phản ứng thế nào khi có ai đó thất bại nặng trong cuộc sống? Có phải ông là người đầu tiên tỏ ra sự xét đoán và phê phán không? Đây là một chi tiết rất đáng buồn. Nhiều người trong chúng ta lấy làm vui cách kín đáo khi thấy những người khác bị thất bại, vì việc ấy khiến cho chng ta cảm thấy mình như một bậc vĩ nhân thuộc linh. Nhưng nhu mì cĩ ý nĩi bạn phải sống rất nhn từ v khơng xt đoán khi người ta làm cho bạn thất vọng. Cái điều làm cho Chúa Jêsus phải buồn lịng hơn bất cứ điều chi khác là hạng người có tôn giáo tự xem mình l cơng bình v luơn luơn xt đoán người khác. 3. Khi có ai đó bất đồng với bạn, phải mềm mại mà không nhượng bộ. Là Mục sư, có lẽ lúc nầy ông đ nhận ra rằng mình khơng thể lm cho mọi người trong cuộc sống được vừa lịng. Ngay khi ơng cĩ thể lm cho Nhĩm A hi lịng, thì Nhĩm B bị bực tức. Pht trước ông là anh hùng; phút kế đó ông là con số 0. Chúng ta phải mềm mại song không nhượng bộ. Một trong những thử nghiệm quan trọng nhất về sự trưởng thành thuộc linh là cách ông vận dụng được những người bất đồng với ông, mâu thuẫn với ông, và chọc tức ông. Ông có ba cách ứng xử để chọn: Ơng cĩ thể lui lại trong lo sợ. Ơng cĩ thể tấn cơng với sự giận dữ. Ông có thể đáp ứng trong tình yu thương. Nhu mì khơng cĩ nghĩa l đem những điều mình tin chắc ra m thỏa hiệp. Đừng thụ động và luôn chìu theo đường lối của người khác. Đấy chẳng phải là nhu mì; đó là sự yếu đuối. Ông cũng không cần phản ứng trong sự giận dữ. Đừng nổi sung thiên khi có ai đó bất đồng với ông. Ý thứ ba luơn luơn l tốt nhứt. Kinh Thnh chp ở II Timơth 2:24-25 rằng nhu mì l một đức tính dành cho chức vụ lnh đạo thuộc linh: “Vả, tôi tớ của Chúa không nên ưa sự tranh cạnh...nhưng phải dùng cách mềm mại mà sửa dạy những kẻ chống trả, mong rằng Đức Chúa Trời ban cho họ sự ăn năn để nhìn biết lẽ thật”. Mục sư ơi, ông là người thế nào trong lnh vực nầy? Cĩ phải ơng thích tranh cạnh khơng? Chng ta cần phải mềm mại m dạy dỗ dn sự của mình v hy vọng Đức Chúa Trời sẽ thay đổi lịng họ. 4. Khi có ai đó đến chỉnh sửa ông, phải chịu sự dạy dỗ thay vì như người mà không ai có thể đến gần. Nhu mì l một tinh thần dễ dạy. Nhiều người trong chúng ta sử dụng đời sống mình lo dạy dỗ người khác nhưng lại gặp khó khăn khi chính mình cần được sửa dạy. Điều đó thật đáng buồn. Các cấp lnh đạo Cơ đốc nhu mì khơng giả vờ như mình biết hết mọi sự. Họ biết rằng họ khơng cần phải như vậy đâu. Giacơ 1:19 chép: “Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận”. Mục sư ơi, chữ ‘người nào’ bao gồm luôn cả ông đấy. Khi có người từ hội chúng của ông đưa ra ý xy dựng cho ơng, ơng sẽ sử sự với việc ấy như thế nào? Có phải ông bồn chồn và tìm cch biện hộ? Hạng người nhu mì biết mình khơng cĩ tất cả những cu trả lời. Thật vậy, ông nên thận trọng với những kẻ nghĩ rằng họ có tất cả những giải đáp. Cấp lnh đạo nhu mì cũng cỡi mở trước những tư tưởng mới. Họ sẵn sàng thay đổi khi họ học được điều gì mới. 5. Khi có ai gây tổn thương cho ông, ông phải là một diễn vin (actor) thay vì l một phản lực vin (reactor). Ông sẽ bị tổn thương trong chức vụ. Đây chẳng phải là vấn đề “nếu”; đây là vấn đề “khi nào”. Cách ông phản ứng khi bị tổn thương sẽ tạo ra một sự khác biệt lớn lao trong chức vụ của ông. Rôma 12:21 chp: “Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hy lấy điều thiện thắng điều ác". Chng ta phải lấy tình yu thương đáp ứng với tổn thương, chớ không phải sự ăn miếng trả miếng. Trả đủa là phản ứng. Nhưng hy phản ứng bằng sự tha thứ, d khi đối phương không yêu cầu được thứ tha, nhờ đó bạn đ nắm lấy quyền chủ động. Khi có người nói: “Ông làm cho tôi phải nổi khùng lên!” họ đang nhìn nhận rằng người khác có quyền kiểm soát trên cảm xúc của chính họ. Đấy là một tình trạng yếu đuối – chớ không phải là nhu mì. Giy pht m ơng khởi sự tìm cch trả th, ơng đ đánh mất quyền điều khiển cuộc đời của mình rồi. Cha Jsus dạy rằng người nhu mì biết cch để cho sự việc ấy trôi qua. Cha Jsus muốn nĩi gì khi Ngi hứa: “Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất”? Người nhu mì l người kiểm soát được hoàn cảnh và không bị hoàn cảnh làm chủ trên họ. Nếu ông là một người nhu mì, ơng khơng cịn l một nạn nhn nữa đâu. Ông đang kiểm soát được những sự lựa chọn của mình. Victor Frankl, nh tm thần học nổi tiếng từng nếm trải trại tập trung Auchwitz đ nĩi: “Họ tước hết y phục của tôi, vợ con, và chiếc nhẫn cưới của tôi. Tôi đứng đó trần truồng trước những tên SS và tôi ý thức được rằng họ có thể tước hết mọi sự trong cuộc đời của tôi, nhưng họ không thể tước được quyền tự do lựa chọn cch m tơi phản ứng với họ”. Đấy là sự tự do thật. Ông cịn muốn gì hơn nữa trong năm 2010?

Tại sao Thuyết Vô Thần được nhiều người ưa chuộng và chúng ta có thể làm gì về sự việc nầy?




Tại sao Thuyết Vô Thần được nhiều người ưa chuộng và chúng ta có thể làm gì về sự việc nầy?
Holly Ordway
Ngay trọng tâm của thuyết vô thần là một giả thuyết rất lôi cuốn: “Ý của tôi được nên, chớ không phải ý của Ngài”. Nếu thuyết vô thần là chơn thật, và chẳng có Đức Chúa Trời chi hết, thế thì mọi sự thực sự đang nói về tôi, và những gì tôi mong muốn, và điều chi tôi có thể tiếp lấy.
Không có gì phải ngạc nhiên, thuyết ấy đánh đúng vào cái xã hội tự ám ảnh của chúng ta.
Hãy ấn ngón tay của bạn vào mạch nhịp của xã hội hiện đại xem: nó rộn ràng với “tôi, tôi, tôi”. Những biển quảng cáo nói với tôi: “Hãy thỏa mãn đi! Bạn đáng được điều đó đấy!” Tôi có thể mua bữa ăn trưa và cốc càphê rồi “đi đường mình”. Tôi nhẹ mở tờ tạp chí ra, hay đọc lướt qua những quyển sách bán chạy nhất, để tìm mười mánh khoé dễ thực hiện để làm sao tôi có thể có những gì tôi muốn, ngay ở đây, ngay bây giờ.
Một cách nói, đây là tình trạng ích kỷ. Nhưng hãy lưu ý tình trạng ấy trong xã hội hậu-Cơ đốc của chúng ta, ấy là nó thể hiện đầy đủ tiềm năng, nó có quyền lực để hành động. Chúng ta được dạy dỗ phải chạy theo tấm lòng của mình, tìm kiếm những ước muốn sâu sắc nhất, làm điều chi là tốt lành. Thật vậy, nếu thuyết vô thần là thực, thì chẳng có mục đích tối hậu nào trong cuộc sống cả, vì vậy chúng ta cứ bước tới để tìm đam mê lạc thú, dù với chủ nghĩa khoái lạc hay với việc lập ra “ý nghĩa” riêng của một người trong cuộc sống.
Ngược lại, nếu Ba Ngôi Đức Chúa Trời là thực, một mục tiêu như thế nhắm vào cái ngã sẽ bị hủy diệt hoàn toàn. Cơ đốc nhân tin rằng chúng ta đã bị phân cách ra khỏi Đức Chúa Trời do Sự Sa Ngã, và bị tổn hại là do chính tội lỗi của chúng ta; nếu chúng ta bị bỏ lại với chính những ham muốn của chúng ta, chúng ta sẽ càng sai trật thêm. Chạy theo những ý thích của chính chúng ta là càng phiêu bạt xa khỏi sự dẫn dắt, tách ra khỏi con đường dẫn tới tri thức thật cho mình về mối quan hệ với Đức Chúa Trời là Đấng biết chúng ta rất rõ.
Nếu Đức Chúa Trời là Đấng mà Cơ đốc nhân nói tới, thế thì thân thể của chúng ta là đền thờ của Đức Thánh Linh, chớ không phải là những món đồ chơi cho sự lạm dụng hay cho khoái lạc. Nếu Đức Chúa Trời là Đấng mà Ngài đã tự tỏ mình ra trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì con đường dẫn tới chỗ chỉ nghĩ đến bản thân mình quả là một con đường hẹp, con đường của Thập tự giá, con đường của sự chối bỏ cái ngã và tình yêu của Đức Chúa Trời.
Nói khác đi, Đức Chúa Trời là Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh là một trở ngại quan trọng cho sự đam mê lạc thú.
Không có gì phải ngạc nhiên khi thuyết vô thần được ưa chuộng như thế.
Tuy nhiên, thuyết vô thần là một thứ lai căng kỳ dị. Ở một mặt, nó cung ứng sự chối bỏ hoàn toàn nền văn minh. Nếu không có Đức Chúa Trời, thì chẳng có một nguồn giá trị khách quan nào cả, và chúng ta có thể lập ra hay phá vỡ những luật lệ theo ý mình; điều thiện và điều ác bị co giảm tùy ý. Tôi thích kẹo sôcôla và luật chống giết người. Bạn ưa kem vanilla và thích giết hại trẻ em. Đúng thế, sao không chứ?
Ở mặt khác, những người theo thuyết vô thần nói chung không tán thành học thuyết vô chính phủ và một sự quay lại với tình trạng dã man. (Họ sẽ điều động các nhà in lo in sách báo của họ?) Thật vậy, những người theo thuyết vô thần tỏ ra tính lạc quan khác thường về bản chất của con người. Người theo thuyết vô thần cảm nhận, gần như là tín điều, rằng dòng giống con người có thể cải thiện được. Bất chấp mọi thất bại lớn lao của chủ nghĩa không tưởng (utopianism), đặc biệt những chủ nghĩa thuộc thế kỷ thứ 20 đã kết thúc trong những cuộc tàn sát lớn lao, vẫn còn có quan niệm ấy trong thời buổi nầy, chúng ta có thể tự mình tiếp lấy nó. Chúng ta có thể cải thiện bản thân mình qua pháp luật; qua tái cấu trúc xã hội; qua sự lôi kéo; qua thuốc men. Chúng ta có thể làm cho mình được vui sướng – hay chúng ta nghĩ thế; việc ấy chẳng thành đâu, nhưng những người theo thuyết vô thần có thể thử đi thử lại hoài.
Thuyết vô thần xưng rằng chúng ta đang nắm lấy quyền điều khiển bản thân mình, và ngay cả số phận của mình nữa; đây là niềm tin trọn vẹn cho một xã hội bị ám ảnh với cả hai: sự trọn lành và tự ý.
Nếu chúng ta để cho đức tin Cơ đốc của mình được mô tả trong các giới hạn thỏa mãn cá nhân, chúng ta đang mua lấy những gì thế gian đang rao bán, chỉ ở dưới danh xưng khác có đóng nhãn hẳn hoi. Đấng Christ không chịu chết cho chúng ta để chúng ta sẽ được an nhàn và vui sướng hôm nay. Ngài đã chịu chết cho chúng ta để chúng ta sẽ được cứu.
Chết với bản ngã, chết với tội lỗi, không phải là một kinh nghiệm dễ chịu đâu. Đối diện với tội lỗi của một người và ăn năn nó sẽ tạo ra buồn rầu, chớ không phải sung sướng đâu. Hy vọng và bình an nằm ở mặt kia của sự ăn năn đó, nhưng chúng ta phải nếm trải đau đớn khi đến tại điểm ấy – chớ không phải đi vòng quanh nó.
Nếu chúng ta để cho Cơ đốc giáo là mọi sự trong việc làm phu phỉ mọi nhu cần của tôi, nhậm lấy những lời cầu nguyện của tôi, cảm thấy tốt đẹp về bản thân tôi và gia đình tôi, và cải thiện các mối quan hệ của tôi, thế thì chúng ta đang tạo ra cùng một mức độ giống như những người chạy theo thuyết vô thần: mọi sự đang nói tới tôi.
Và hãy tin tôi đi, thuyết vô thần chẳng đòi hỏi nhiều hơn đức tin Cơ đốc đâu. Tôi từng sống ở đó; tôi biết.
Nhưng trong xã hội tiêu thụ điên cuồng của chúng ta, như chúng ta ít chơn thật và ít qua lại với nhau, và thậm chí đối với bản thân mình, khi chúng ta đem bản thân mình hướng ngoại với phương tiện truyền thông đại chúng để tự nhắc nhớ rằng chúng ta đang tồn tại – chúng ta có thể từ từ nhận ra rằng thuyết vô thần có thể hứa tự hoàn thành ước nguyện của chính mình thật dễ dàng, nhưng nó chẳng phát ra điều gì khác hơn sự thất vọng.
Đức tin Cơ đốc thì khó hơn. Đức tin ấy trả giá nhiều hơn; thực vậy, nó trả giá mọi sự. Nó cũng cho thấy đấy là sự thực. Chúa Jêsus bảo các môn đồ của Ngài phải lượng cái giá đó. Tại sao chúng ta sợ không công nhận rằng có một giá phải trả?
Ở bề mặt của thuyết vô thần, chúng ta không nên sợ nói ra lẽ chơn thật: đời sống Cơ đốc là con đường của Thập tự giá. Chúng ta hãy chối bỏ về sự phu phỉ cá nhân, vì đó thờ lạy hình tượng. Chúng ta hãy nhớ rằng Đấng Christ kêu gọi chúng ta phải đến và chịu chết.
Người nào cứ mãi lo cho bản thân mình, dò xem cao hay thấp, lo nắm bắt mọi sự tốt lành của thế gian rốt lại chỉ thấy họ trượt ngã từ giữa các ngón tay của họ, họ sẽ sẵn sàng lắng nghe khi họ nghe được điều chi mới mẻ: đấy là những lời lẽ khó nghe, nhưng chơn thật của Chúa chúng ta: “Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mà mất sự sống mình thì sẽ được lại” (Matthew 16:24-25)
+++++
Holly Ordway, một người theo chủ nghĩa hoài nghi từ đầu kỷ nguyên, thù nghịch với Cơ đốc giáo từ thuở đại học trở đi, sau cùng đã bị thách thức phải vác lấy thắc mắc cái nào là sự thực: vô thần hay hữu thần. Sự thách thức nầy đã khiến bà phải mở một chuyến hành trình cảm xúc từ vô thần đến chỗ tin theo Đấng Christ làm Chúa và Cứu Chúa của bà. Bà hiện là giáo sư tại một trường đại học cộng đồng, một độc giả và là quản thủ thư viện tại nhà thờ nơi bà nhóm lại và là một tay kiếm thủ. Holly vừa mới ra quyển sách đầu tiên của bà, loại tự truyện, “Không Phải Kiểu Cách của Đức Chúa Trời”: Một Người Dựa Theo Lý Trí Tìm Gặp Một Đức Tin Cơ Bản (Moody, June 2010).






Why is Atheism increasingly popular and what can we do about it?
Holly Ordway
At the heart of atheism is an appealing premise: “My will be done, not Yours.” If atheism is true, and there is no God, then everything really is all about me, and what I want, and what I can get.
No wonder it strikes such a chord in our self-obsessed culture.
Put your finger on the pulse of modern culture: it throbs with “me, me, me.” Advertisements tell me: “Indulge yourself! You deserve it!” I can buy my lunch and my coffee made “my way.” I flip open a magazine, or browse the best-sellers, to find ten easy tips on how I can have what I want, right here, right now.
Put one way, this is selfishness. But the spin on it in our post-Christian culture is that it’s empowerment, self-actualization. We are told to follow our hearts, seek our deepest desires, do what feels good. Indeed, if atheism is true, there is no ultimate purpose to life, so we might as well go for self-indulgence, whether through hedonism or through constructing one’s own “meaning” in life.
In contrast, if the Triune God is real, then such a focus on the self is ultimately destructive. Christians believe that we are alienated from God by the Fall, and damaged by our own sins; if we are left to our own devices, we will go wrong. To follow our own whims is to wander without guidance farther away from the path that leads to true self-knowledge in relationship with God who knows us completely.
If God is who Christians say He is, then our bodies are temples of the Holy Spirit, not toys for abuse or pleasure. If God is who He has revealed Himself to be in Christ Jesus, then the path to true selfhood is the narrow way, the way of the Cross, the way of denial of self and love of God.
In other words, the God who is Father, Son, and Holy Spirit is a significant obstacle to self-indulgence.
No wonder atheism is so popular.
Yet atheism is a curious hybrid. On the one hand, it provides for a rejection of civilization entirely. If there is no God, then there is no ultimate source of objective values, and we can make or break rules as we please; good and evil are reduced to preferences. I like chocolate ice cream and laws against murder. You like vanilla and enjoy killing small children. Sure, why not?
On the other hand, atheists don’t generally advocate anarchism and a return of barbarism. (Who would run the publishing houses to print their books?) In fact, atheists show a remarkable streak of optimism about human nature. The atheist feels, almost as an article of faith, that the human race is perfectible. Despite all the colossal failures of utopianism, especially the ones of the 20th century that ended in mass slaughter, there remains the idea that this time, we can get it right all by ourselves. We can perfect ourselves through legislation; through restructuring society; through genetic manipulation; through drugs. We can make ourselves be happy – or so we think; it never works, but the atheist can only try again.
Atheism claims that we are in control of our selves, and thus our own destiny; it is the perfect faith for a culture that is obsessed with both perfection and self-will.
If we allow our Christian faith to be described in terms of personal gratification, we are buying what the world is selling, just under a different brand name. Christ did not die for us so that we would be comfortable and happy today. He died for us so that we would be saved.
To die to self, to die to sin, is not a comfortable experience. Confronting one’s own sin and repenting of it yields sorrow, not happiness. Hope and peace lie on the other side of that repentance, but we must go through pain to get there – not around it.
If we allow Christianity to be all about fulfilling my needs, getting my prayers answered, feeling good about myself and my family, and improving my relationships, then we are making the same pitch as the atheists: it’s all about me.
And trust me, atheism is a lot less demanding than Christian faith. I’ve been there; I know.
But in our frantic consumer culture, as we become less real and less present to each other, and even to ourselves, as we desperately project ourselves outward into the media to remind ourselves that we exist -- we may slowly realize that atheism may promise easy self-fulfillment, but it delivers nothing but despair.
Christian faith is harder. It costs more; in fact, it costs everything. It also happens to be true. Jesus told his disciples to count the cost. Why are we afraid to recognize that there is a cost?
In the face of atheism, let us not be afraid to speak the truth: the Christian life is the way of the Cross. Let us reject the idolatry of personal fulfillment. Let us remember that Christ calls us to come and die.
Then those who have sought to find themselves, searching high and low, grasping after all the good things of the world only to find them slipping from between their fingers, may be ready to listen when they hear something new: the hard, true words of our Lord: “If anyone would come after me, let him deny himself and take up his cross and follow me. For whoever would save his life will lose it, but whoever loses his life for my sake will find it.” (Matthew 16:24-25)
++++++++++++++++++
Holly Ordway, a skeptic from an early age, hostile to Christianity from college onward, was finally challenged to take up the question of what is actually true: atheism or theism. This challenge led her to make an emotional journey from atheism to faith in Christ as her Lord and Savior. She is currently a professor at a community college, a lay reader and librarian at her church and a competitive sabre fencer. Holly has just released her first book, a memoir, Not God’s Type: A Rational Academic Finds a Radical Faith (Moody, June 2010).

Luca 22:31-33: "Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho hạng người nhơn đức sa ngã"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho hạng người nhơn đức sa ngã
Luca 22:31-33
Tôi muốn nói với bạn về lý do tại sao Đức Chúa Trời lại để cho hạng người nhơn đức sa ngã. Tôi phải nhắm vào đề tài nầy khi tôi nhận một e-mail gửi đến từ một người mà tôi đã không gặp mặt trong hơn 30 năm. Ông ấy viết để hỏi tôi có nghe tin tức chưa. Tin tức nào? Có một người cả hai chúng tôi đều quen biết đã ly dị vợ mình rồi giờ đây đang theo đuổi vợ cũ của một người bạn cũ. Hai người bạn, hai cuộc hôn nhân tan vỡ, một người giờ đây đang theo đuổi vợ cũ của bạn cũ mình. Tôi có nói rằng người thực hiện cuộc theo đuổi ấy là một vị Mục sư chưa?
Thế rồi tôi có nhận một e-mail khác – lần nầy từ một người bạn tôi đã gặp tại Thần Học Viện Dallas. Tôi không gặp ông ấy kể từ năm 1978. Ông ấy viết cho tôi một lá thư thật hay gồm có hai câu:
Trong thế giới nầy của chúng ta chẳng có một cái gì là chắc chắn hết, không dám cho rằng một người tốt nghiệp DTS hay Mục sư mà cứ tiếp tục mãi trong đức tin. Tôi đã nghe kể nhiều câu chuyện nói tới những cuộc hôn nhân tan vỡ và những chức vụ bị đắm chìm.
Hai e-mail ấy khiến tôi phải suy nghĩ. Tôi bị áp đảo bởi sự thực là tôi đã nhận chúng từ những người bạn thân một thời, họ không biết nhau và tôi đã không gặp họ ít nhất là 30 năm. Tuy nhiên, họ đã nói ra những việc giống hệt nhau.
Tôi không có ý đưa các trường hợp nầy ra chỉ để nhớ tiếc sự thực là các cấp lãnh đạo thuộc linh hiện đang sa ngã vào trong tội trọng. Có nhiều bằng chứng như thế khi đọc qua Kinh Thánh. Có Nôê, là người đã say rượu, Ápraham, là người đã nói dối về vợ mình, Môise, là người đã giết một người Êdíptô, và tất nhiên có David, là người đã phạm tội tà dâm và rồi đã giết người đặng bao che cho tội lỗi của mình.
Nhưng vì ân điển của Đức Chúa Trời
Thắc mắc mà tôi đưa ra là đây: Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho những việc như thế xảy ra? Tại sao Ngài để cho hạng người nhơn đức sa ngã vào trong tội lỗi? – và chúng ta học được gì từ chỗ nầy? Tôi dám chắc hết thảy chúng ta đều biết rõ câu trả lời rồi. Đức Chúa Trời để cho hạng người nhơn đức sa vào trong tội lỗi để phần còn lại trong chúng ta sẽ không học đòi mà phạm vào chính lỗi lầm xuẫn ngốc ấy nữa. Tất nhiên, đấy là sự thật. Có bao nhiêu người trong chúng ta đã nghe kể các tin xấu về một người bạn rồi nói: “Nếu không có ân điển của Đức Chúa Trời, tôi cũng sẽ phạm vào việc ấy?” Tôi đã nhũ thầm như thế rất nhiều lần – và cũng một thể ấy với bạn. Sự thực là chúng ta có thể rút tỉa một bài học từ những lỗi lầm của người khác – và nếu chúng ta không rút tỉa được, chúng ta có thể thấy mình đang ao ước việc ấy.
Nhưng có nhiều điều cần phải học hỏi và đấy là gánh nặng của sứ điệp nầy. Tôi muốn chúng ta nhìn vào câu chuyện nói tới Phierơ, là người đã ba lần chối Chúa. Có lẽ chỗ để bắt đầu là đọc phần Kinh Thánh gốc đó. Hãy lắng nghe lời lẽ của Chúa Jêsus phán cùng Phierơ trong đêm trước khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá: “Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy quỉ Sa-tan đã đòi sàng sảy ngươi như lúa mì. Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình” (Luca 22:31-32). Lời lẽ nầy trông dường như rất kỳ lạ đối với Phierơ, lời lẽ ấy dường như thoát ra từ chỗ chán nản lắm vậy. Cái điều đáng nhớ, ấy là Phierơ trong nhiều phương thức là bậc trượng phu nhất trong tất cả các môn đồ. Ông thường xuyên lâm vào chỗ rắc rối vì ông hay thốt ra những điều mà người khác còn suy nghĩ nhưng chưa có can đảm để nói ra. Ông là con người có cái miệng bằng cái chân, thường xuyên hứa hẹn nhiều hơn ông có thể phát ra.
Đêm ấy không ở ngoài ngoại lệ. Khi ông nghe lời lẽ nầy của Chúa Jêsus, ông biết rõ chẳng cần phải nói là chúng đang chứa một lời quở trách nặng lắm – một lời báo trước về thất bại của cá nhân dường như là bất khả thi. Song Phierơ chẳng là gì hết nếu không có can đảm ở trong lòng, vì vậy ông đáp lại tuy dại dột nhưng rất chân thành: “Thưa Chúa, tôi sẵn lòng đi theo Chúa, đồng tù đồng chết” (Luca 22:33). Ông không biết rằng nhiều năm sau đó ông sẽ giữ lời hứa đó. Nhưng không phải cái đêm ấy. Khi ông thốt ra mấy lời nầy, giây phút thất bại của cá nhân ông – vết nhơ đến nỗi 2000 năm qua không thể di dời ra khỏi bản tường trình của ông – ba lần chối Đấng Christ của ông chỉ không đầy 5 tiếng đồng hồ sau đó.
Một Cơ đốc nhân chưa được biến đổi là hoàn toàn khả thi.
Hãy suy gẫm lời lẽ của Chúa Jêsus trong một phút xem: “Vậy, đến khi ngươi hối cải”. Bản King James chép như thế nầy: “Nhưng khi ngươi xây trở lại”. Có người đã vấp ngã vì câu nói đó, nhưng tôi nghĩ nó hoàn toàn chính xác. Lời lẽ của Chúa chúng ta đang treo trên khoảng không với một sứ điệp mà chúng ta cần phải lắng nghe. Một Cơ đốc nhân chưa được biến đổi là hoàn toàn khả thi. Phierơ đã được cứu, song ở một ý nghĩa sâu sắc hơn, ông chưa được biến đổi trọn vẹn để cho Chúa sử dụng – và điều nầy giải thích thất bại thê thảm của ông.
Từ câu gốc nầy, tôi muốn chia sẻ với bạn bốn nguyên tắc quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ lý do tại sao hạng người nhơn đức lại sa ngã và chúng ta có thể tiếp thu được gì từ đó.
I. Không một Cơ đốc nhân nào trổi hơn khả năng thất bại về mặt đạo đức.
Có một kẻ thù ghê gớm lắm trong linh hồn bạn, nó sẽ hủy diệt bạn nếu nó có thể.
Luận điểm nầy rõ ràng đến nỗi tôi hình dung chẳng có ai dám tranh luận nghịch lại nó. Chúa Jêsus nói cho Phierơ biết rằng Satan muốn “sàng sãy” ông giống như sàng sãy lúa mì vậy. Một bản dịch chép: “Satan đã đòi” trong khi bản dịch khác nữa chép: “Satan đã đòi cái quyền” sàng sãy ngươi. Tư tưởng ấy có thể gây sốc cho một số người trong các bạn vì đôi khi có người nói rằng Satan chẳng có quyền hành gì trên Cơ đốc nhân cả. Ở một ý nghĩa nào đó thì điều ấy là thực vì chúng ta biết Satan không thể làm gì nếu không có phép của Đức Chúa Trời. Martin Luther đã nói rằng ma quỉ là “ma quỉ của Chúa” ý nói rằng hắn hoàn toàn phục vụ mục đích của Đức Chúa Trời trong vũ trụ. Nhưng ông cũng nói rằng thế gian nầy đầy dẫy với ma quỉ, chúng đe dọa hủy diệt chúng ta. Trong thời buổi và trong kỷ nguyên nầy, thật là dễ mất cân đối về Satan và công việc của hắn. Nhưng hãy để cho câu gốc của chúng ta nói ra với một giọng nói thật đầy đủ. Có một kẻ thù ghê gớm lắm trong linh hồn bạn, nó sẽ hủy diệt bạn nếu nó có thể. Phierơ không hề quên được lời lẽ của Chúa Jêsus trong cái đêm số phận ấy, và nhiều năm sau đó ông đã nói như thế nầy: “Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (1 Phierơ 5:8). Chúng ta là những kẻ dại dột nếu chúng ta không xem trọng những lời nầy.
Tôi có gặp một giáo sĩ đã hưu hạ, ông đã hầu việc Chúa với sự xuất chúng trong nhiều năm trời. Sau khi nghe tôi giảng, ông yêu cầu không biết ông có thể tiếp chuyện riêng với tôi không!?! Ông kể lại rằng khi ông còn là một thanh niên, ông đã phấn đấu kịch liệt trong lãnh vực cám dỗ về mặt tình dục. Ông nói: “Khi tôi đến thập niên 50, tôi vẫn còn đánh trận ấy, nhưng tôi luôn luôn nghĩ rằng khi sau cùng mình già rồi, sự cám dỗ sẽ không còn có nữa”. Nhưng nó không biến mất đâu. “Ngày nay nó vẫn mạnh mẽ như khi tôi còn là một thanh niên vậy”. Ông đã trung tuần 80 tuổi khi ông trao đổi với tôi.
Tôi nói rằng chỉ ra thật đơn sơ tội lỗi đó đang xảy đến với hết thảy chúng ta bằng nhiều cách thức khác nhau, và chúng ta không dám xem thường bất cứ điều chi khác.
II. Satan thường tấn công chúng ta vào lúc chúng ta mạnh mẽ, chớ không tấn công chúng ta ở điểm chúng ta yếu đuối đâu.
Rốt lại, há Phierơ không dạn dĩ nói: “Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy” (Mác 14:29)? Nếu bạn yêu cầu Phierơ sáu giờ đồng hồ trước hãy liệt kê ra những điểm mạnh của ông, chắc chắn ông sẽ đưa ra lòng dạn dĩ và can đảm ở hàng đầu danh sách. Ông sẽ nói: “Có khi tôi tra chân mình vào miệng, nhưng ít nhất tôi không sợ hãi khi nói năng. Chúa Jêsus vốn biết rõ tôi luôn luôn có mặt ở đó khi Ngài cần đến tôi”.
Thế nhưng khi Satan tấn công, nó xảy đến cách thình lình, thật nhanh chóng, bất ngờ đến nỗi “vị sứ đồ dũng cảm đổi thành màu mè”. Bản thân Phierơ là vô dụng. Trong giây phút khủng hoảng, Phierơ đã thất bại ngay thời điểm mà ở đó ông đã thề sẽ trung tín cho đến đời đời.
Điều nầy có làm cho chúng ta phải ngạc nhiên không? Rốt lại, tại sao Satan lại tấn công chỉ vào lúc bạn thấy mình là yếu đuối chứ? Nếu bạn biết mình có một sự yếu đuối, đấy là lãnh vực mà bạn nên canh chừng cẩn thận nhất. Nếu bạn biết mình có một nan đề với giận dữ hay với sự biếng nhác hoặc với tư dục hay với tánh tham ăn, bạn nên canh chừng e bạn sẽ vấp ngã chăng?
Nhưng không phải như thế với sức lực của bạn. Bạn có khuynh hướng xem các lãnh vực ấy là không sao đâu. Bạn nói: “Đấy chẳng phải là vấn đề đối với tôi. Tôi có những nan đề khác, nhưng lãnh vực đó không thực sự là một sự cám dỗ đâu mà”.
Thật là một việc tốt khi Chúa cho phép chúng ta thất bại.
Hãy coi chừng! Hãy dựng ngọn cờ đỏ lên đi! Có mối nguy hiểm ở trước mặt đấy. Khi một người xem thường bất kỳ lãnh vực nào, đấy là lãnh vực duy nhất Satan muốn tấn công đấy. Tại sao chứ? Vì đấy là lãnh vực duy nhứt mà ở đó bạn không canh chừng sự công kích của hắn.
Điều đó đã xảy ra cho Phierơ. Nó sẽ xảy ra cho bạn và cho tôi chẳng sớm thì muộn thôi.
III. Đức Chúa Trời để cho chúng ta thất bại để đẩy lùi thái độ tự tín của chúng ta.
Không bao giờ Phierơ lại dám khoác lác về bản thân mình giống như ông đã khoác lác trong đêm đó nữa. Không bao giờ ông dám cho rằng mình là tốt hơn các anh em kia. Không bao giờ ông còn tự mãn và tự tín như trước đây nữa. Mọi sự đã qua đi cho đến đời đời, một phần cái giá Phierơ phải trả cho sự thất bại của ông trong giờ phút khủng hoảng.
Thật là một việc tốt khi Chúa cho phép điều nầy xảy đến cho chúng ta. Bởi sự té dài ấy, chúng ta buộc phải công nhận rằng không có Chúa chúng ta chẳng thể làm chi khác hơn là thất bại. Chúng ta càng mau tiếp thu (và chúng ta không bao giờ học được bài học ấy trọn vẹn), chúng ta càng trở nên tốt hơn. Thất bại dường như không bao giờ là một việc tốt khi nó xảy ra, nhưng nếu thất bại quét sạch hết sự tự mãn tự tín của chúng ta, thế thì thất bại hoàn toàn là một sự ban cho đến từ Đức Chúa Trời.
Cách đây nhiều năm trong một thời điểm khó khăn, vào thời điểm bị chèn ép ghê lắm, tôi đã nói ra một số việc với mấy người bạn thân mà lẽ ra tôi không nên nói. Mọi lý do đều không phải là vấn đề, tôi cũng không nhắc lại ở đây những gì tôi đã nói với họ. Tôi đã nói ra dưới áp lực, tôi đã giận dữ lắm và đã nói ra những việc gây tổn thương cho những người mà họ không đáng bị đối xử như thế. Trong những ngày nối theo sau, tôi đã trả giá cho việc làm nguội đi bản tánh của tôi. Tôi thấy rằng cơn giận ở trong lòng nguôi ngoai dần đi. Nó từng ở trên đỉnh cao, rồi đã được bung ra, tôi không thể níu nó lại được nữa. Cơn giận của tôi lóe lên mỗi lần tôi nghĩ đến cuộc gặp gỡ ấy.
Một tháng sau, khi tham dự một cuộc hội nghị ở một tiểu bang khác, tôi có gặp một người giờ đã trở thành bạn thân thiết lắm. Một tối kia, chúng tôi ở lại muộn và tôi nói, với từng chi tiết, câu chuyện về sự bùng nổ của cá nhân tôi. Khi tôi thuật lại chuyện ấy, tôi lại bắt giận lên trở lại.
Bạn tôi lắng nghe toàn bộ câu chuyện và rồi anh ấy nói: “Ray, bạn là người may mắn đấy. Những gì đã xảy ra cho bạn là một dấu hiệu của ân điển Đức Chúa Trời”. Tôi thấy kỳ cục lắm khi nghe mấy lời nầy. Chẳng lẽ ông ấy lạ bỏ sót mục tiêu trong câu chuyện của tôi sao? Nhưng ông ấy biết tôi rõ hơn là tôi biết mình. “Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho bạn thấy ân điển của Ngài bằng cách để cho bạn không kềm giữ được tánh khí của mình như thế”. Làm sao khi tôi không kềm được bản tánh mình lại là một hành động của ân điển Đức Chúa Trời chứ? “Trong nhiều năm trời, bạn đã mang lấy hình ảnh của một người tiết độ hoàn toàn trong cuộc sống của mình. Bạn tỏ ra cái bề ngoài rất thoải mái. Những người không quen bạn họ nghĩ rằng bạn chẳng có một sự lo lắng nào trong thế gian. Và bạn đã gieo ra hình ảnh ấy vì làm cho bạn được lòng người và dễ nhìn hơn. Nhưng sự thực khác biệt xa lắm. Có cái vạc sôi sùng sục ở bên trong mà bạn đã giữ kín cái nắp đậy ở bên trên lâu rồi. Nhưng đêm ấy, cái nắp bị bật ra. Trước đêm ấy, nếu có ai hỏi: ‘Ông có tánh cáu không?’ ông sẽ bật cười rồi nói: ‘Không dám đâu’. “Ông không thể nói lại câu đó nữa đâu”.
Phierơ không còn chổi dậy và khoe khoang về sự can đảm của mình nữa.
Thế rồi ông ấy tiếp tục giải thích một lẽ thật cơ bản về đời sống Cơ đốc. “Khi chúng ta lớn lên trong Đấng Christ, hầu hết chúng ta đều đạt tới chỗ mà ở đó chúng ta nghĩ có một vài tội lỗi mà chúng ta chưa bắt phục. Có thể chúng ta không nói ra lớn tiếng câu nói ấy, nhưng trong lòng chúng ta nghĩ: ‘Tôi sẽ không hề phạm tội ấy đâu’. Đấy là điều đã xảy ra cho bạn và cho bản tánh của bạn. Bạn che đậy cái tôi của mình quá lâu đến nỗi bạn nghĩ nó không có ở đó nữa. Nhưng nó có ở đó, giống như một con rắn cuộn mình trong đám cỏ, chờ đợi cơ hội để tấn công”.
Ông ấy kết luận với mấy lời đáng nhớ nầy: “Đêm ấy Đức Chúa Trời lột bỏ cái màn che rồi để cho thế gian nhìn thấy hành động đồi bại của bạn. Từ giờ trở đi, bất cứ đâu bạn đứng lên nói, bạn không còn nói: ‘Tôi không bực tức đâu” vì bạn có bực tức đấy. Đức Chúa Trời để cho bạn nói ra những việc khủng khiếp ấy với bạn bè của mình hầu cho bạn không còn giả vờ giống như bạn chưa biết vậy. Đấy là ân điển của Đức Chúa Trời đang tác động trong đời sống của bạn đó”.
Đức Chúa Trời có thể chạm đến những chỗ tan vỡ của chúng ta rồi khiến cho chúng ta mạnh mẽ hơn chúng ta có trước đó.
Tôi tin từng lời nói mà bạn tôi đã nói tuyệt đối là sự thực. Đức Chúa Trời để cho tôi thất bại trong giờ phút khủng hoảng và khi làm như vậy, Ngài đã tỏ ra cho tôi thấy một phần cái tôi mà tôi chưa hề thấy trước đây.
Đấy là những gì Ngài đã làm cho Phierơ. Phierơ không còn chổi dậy và khoe khoang về sự can đảm của mình nữa. Thay vì thế, trong tương lai ông ấy sẽ nói về sự hạ mình.
IV. Đức Chúa Trời có thể chuộc lấy những lỗi lầm của bạn nếu bạn để cho Ngài thực hiện công việc đó.
Tôi để ý thấy hai sự kiện rất thú vị về phương thức Chúa Jêsus đối xử với Phierơ: 1. Ngài không hề phê phán ông và, 2. Ngài không từ bỏ ông. Chúa Jêsus vốn biết rõ về sự Phierơ chối bỏ từ trước khi việc đó xảy ra nữa kìa. Ngài biết rõ những điều Phierơ sẽ làm, Ngài biết rõ ông sẽ phản ứng ra sao nữa kìa, và Ngài biết rõ loại người mà Phierơ sẽ trở thành sau đó. Đấy là lý do tại sao Ngài phán: “Vậy, đến khi ngươi hối cải”. Không phải nếu ... mà là khi! Ngài biết rõ tấm lòng của Phierơ là rất tốt, Ngài biết rõ sau tội lỗi khủng khiếp nầy, ông ấy sẽ trở lại với Chúa. Há chẳng tuyệt diệu sao? Chúa Jêsus tin nhiều nơi Phierơ hơn Phierơ tin nơi Chúa Jêsus. Ngài vốn biết rõ Phierơ có việc quan trọng cần phải làm - “làm vững chí anh em ngươi” – nhưng điều đó sẽ không xảy ra nếu không có sự sa ngã của ông và sự ông phục hồi lại với Chúa. Sự ấy phải xảy ra theo cách ấy hoặc giả Phierơ sẽ không bao giờ đạt được hiệu quả cho Đấng Christ.
Có một nguyên tắc rất quan trọng đang tác động ở đây. Một cái xương bị gãy thường trở nên cứng hơn sau khi được lành. Một việc gì đó trong tiến trình chữa lành làm cho chỗ gãy được cứng cáp hơn trước đó. Cũng thực như thế về một sợi dây bị đứt. Trong tay của một mấu nối bậc thầy, sợi dây từng được sửa chữa, nó sẽ cứng cáp hơn trước đó.
Phierơ đã làm rất nhiều việc cho Đức Chúa Jêsus Christ sau khi ông vấp ngã hơn ông đã làm trước đó.
Cũng thực như thế cho những thất bại của chúng ta. Đức Chúa Trời có thể chạm đến những chỗ tan vỡ của chúng ta là khiến cho chúng ta được mạnh mẽ hơn trước đó. Mặc dù chúng ta vấp ngã, vấp ngã và vấp ngã, và dù mặt chúng ta bị phủ đầy với những thứ bẩn thỉu thất bại cay đắng, bởi ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta có thể chổi dậy từ chỗ thất bại rồi cứ tiến bước đến với sự vinh hiển mới.
Đấy là những gì đã xảy ra cho Phierơ. Tội lỗi của ông được đổi thành ân điển; sự xấu hổ của ông được đổi thành cảm thông; sự thất bại của ông được đổi thành trung tín.
Đây là minh chứng: Phierơ đã làm rất nhiều việc cho Đức Chúa Jêsus Christ sau khi ông vấp ngã hơn ông đã làm trước đó. Trước khi ông vấp ngã, ông hay lớn tiếng, hiếu động và không đáng tin cậy; sau đó ông đã trở thành một nhà truyền đạo nóng cháy của Tin Lành. Trước đó ông là một tay nói cao kỳ; sau đó ông chỉ nói những gì Đức Chúa Jêsus Christ có thể nói cho tha nhân. Ông cũng chính là một người ấy, nhưng ông đã khác biệt rồi. Ông vẫn là Phierơ mãi thôi, nhưng ông đã bị Satan sàng sảy và trong việc sàng sảy đó, rơm rạ trong đời sống ông đã bị thổi tung đi hết. Đây là những gì bị mất trong thất bại của ông:
Lòng tự cao tự đại của ông
Sự kiêu căng của ông
Sự tự tín của ông
Tính bốc đồng của ông
Tình trạng không đáng tin cậy của ông
Đây là những gì Phierơ đã có được sau khi được phục hồi:
Hạ mình
Lòng tin cậy mới mẻ đặt nơi Đức Chúa Trời
Lòng dạn dĩ đã được thử nghiệm
Quyết tâm mới muốn hầu việc Đức Chúa Jêsus Christ
Một sự bằng lòng sử dụng kinh nghiệm của mình để giúp đỡ cho tha nhân
Những việc ông bị mất mát thực sự ông chẳng cần đến nữa; những việc ông có được không thể đến bởi con đường nào khác. Cũng một thể ấy, Đức Chúa Trời chuộc mọi lầm lỗi của chúng ta bằng cách dời đi những việc hạ thấp chúng ta rồi thay thế chúng bằng những đức tính mà chúng ta luôn luôn có cần song dường như chẳng thể tìm được.
Những việc ông bị mất mát thực sự ông chẳng cần đến nữa; những việc ông có được không thể đến bởi con đường nào khác.
Hy vọng dành cho kẻ vấp ngã
Có nhiều điều trong câu chuyện nầy sẽ khích lệ chúng ta. Ấy chẳng phải Phierơ kia, người đã chối Chúa đâu; đó là Phierơ thật, là người đã bước theo Ngài vào trong sân. Ấy chẳng phải Phierơ kia, là người đã rủa sả và thề thốt; đó là Phierơ thật, là người đã nói: “Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống”. Khi Chúa nhìn vào bạn và tôi, Ngài không nhìn vào chúng ta rồi chỉ nhìn thấy các thất bại của chúng ta đâu. Ngài nhìn qua bên kia mọi lỗi lầm của chúng ta nhìn thấy lòng trung thành nằm ở bên dưới đó. Ngài nhìn thấy nổi đau, những hàng nước mắt và ao ước sốt sắng nhất của chúng ta muốn làm đẹp lòng Ngài. Ngài nhìn thấy chúng ta trong các nổ lực loạng choạng của chúng ta khi bước theo Ngài.
Câu chuyện nầy được áp dụng cho ai đây? Trước hết, cho bạn là kẻ đang chịu cám dỗ, là kẻ cảm thấy cái lôi kéo của hoàn cảnh hòng kéo bạn xa khỏi Chúa. Hãy vững lòng đi! Bạn có cảm thấy yếu đuối và bối rối không? Phierơ cũng đã cảm thấy thế đấy. Có phải bạn ngã lòng về cuộc đời của mình chăng? Phierơ cũng đã cảm thấy ngã lòng nữa đấy. Bạn có cảm thấy mình bị vùi vào trong góc kẹt không? Phierơ đã cảm nhận thế đấy. Câu chuyện nầy là dành cho bạn đó.
Thứ hai, câu chuyện nầy dành cho những ai đã vấp ngã. Có lẽ bạn nhường bước trước áp lực trong tuần nầy. Có lẽ bạn đang vác lấy gánh nặng từ một lời nói không suy nghĩ nào đó đã thốt ra trong vội vàng. Có lẽ bạn đã chối Chúa bằng cách giữ im lặng ở sở làm khi bạn nên phải nói ra. Có lẽ bạn đã sử dụng lối nói tục tằn trong tuần nầy — dù chỉ thốt ra dưới hơi thở của mình. Có lẽ bạn có mặt ở chỗ mà bạn không nên có mặt. Có lẽ bạn đã thấy rõ cái tôi của mình trong mối quan hệ mà bạn biết là sai trái. Hãy vững lòng đi! Không những Phierơ đã cảm thấy y như bạn, mà ông ấy còn vấp ngã giống như bạn nữa đấy.
Thứ ba, câu chuyện nầy dành cho những ai đang xây trở lại với Đức Chúa Trời. Có lẽ bạn biết rõ mọi sự về khóc lóc với những giọt lệ cay đắng rồi. Có phải bạn cảm thấy giống như thể Đức Chúa Trời đang ở cách xa bạn lắm, có phải không? Dường như giống như bạn đang đang lê bước một mình qua một sa mạc rộng lớn vậy? Bạn có cảm thấy bối rối và bị sỉ nhục bởi những việc bạn đã làm và đã nói vì chúng đã nhận bạn vào mớ rối rắm kia chăng? Hãy vững lòng đi! Phierơ cũng đã cảm thấy như vậy đấy.
Không một truyện tích nào trong cả Kinh Thánh cung ứng cho chúng ta hy vọng càng hơn. Nếu Phierơ có thể vấp ngã, ai cũng có thể vấp ngã hết. Nếu Phierơ có thể quay trở lại, ai cũng có thể quay trở lại được mà
Luật đầu tiên cho sự tiến triển về mặt thuộc linh
Một điểm sau cùng. Câu chuyện nầy xuất phát từ đâu vậy? Làm sao nó được ghi trong Kinh Thánh chứ? Ai thuật lại câu chuyện nầy ở chỗ đầu tiên? Câu chuyện ấy chỉ có thể đến từ Phierơ thôi. Không một ai khác có mặt ở đó để thuật lại những gì đã xảy ra. Chúng ta không làm được như vậy. Chúng ta che giấu lầm lỗi của mình với sự biết chắc không ai tìm ra chúng. Phierơ không như vậy đâu. Ông đã từng được phục hồi, ông không thể thôi không nói về những điều Chúa Jêsus đã làm cho ông.
Cách đây mấy năm, Chúa ban cho tôi một loạt những câu nói mà tôi gọi là Luật đầu tiên cho sự tiến triển về mặt thuộc linh:
TÔI KHÔNG THỂ ĐI LÙI ĐƯỢC
TÔI KHÔNG THỂ TRỤ Ở ĐÂY
TÔI PHẢI TIẾN TỚI TRƯỚC
Bạn không thể lùi lại với quá khứ – không phải để sống lại với những thời điểm suông sẻ hay phá bỏ đi những lỗi lầm mà bạn đã phạm phải. Nhưng bạn không thể trụ lại ở chỗ đó nữa. Cuộc sống là một dòng sông cứ chảy mãi không dứt về phía trước. Dù bạn đang sung sướng trong hoàn cảnh hiện tại hoặc bạn đang tìm cách thoát ra khỏi đó thì không thành vấn đề. Bạn không thể trụ lại chỗ mà bạn đang sống cho đến đời đời được. Cách duy nhứt phải đi là đàng trước mặt. Khi bạn bị thử thách phải thất vọng, hãy nhớ rằng bạn không thể đi lùi được, bạn không thể trụ lại ở chỗ đó, nhưng bởi ân điển của Đức Chúa Trời, bạn cứ tiến tới trước từng bước từng hồi từng lúc một.
Phierơ vẫn còn nói với chúng ta hôm nay: “Nếu bạn nghĩ bạn thiếu sót, nếu bạn cảm thấy mình đã chối bỏ Ngài, hãy nhìn vào những điều đã xảy ra cho tôi. Đừng thất vọng. Đức Chúa Trời vẫn yêu thương bạn, và Ngài yêu thương bạn nhiều đến nỗi bạn đã làm gì đều chẳng phải là vấn đề đâu. Nếu Đức Chúa Trời có thể tha thứ cho tôi, Ngài có thể tha thứ cho bất kỳ ai. Ngài yêu thương bạn lắm đấy, Ngài luôn luôn đã và luôn luôn sẽ yêu thương đấy thôi”.
Có hy vọng cho hết thảy chúng ta — người tốt nhứt trong chúng ta, kẻ tệ hại nhất trong chúng ta, và phần còn lại trong chúng ta. Nếu bạn đã vấp ngã, Ngài có thể nâng bạn lên. Nếu bạn tan vỡ, Ngài có thể khiến bạn lại lành. Nếu bạn thất bại, Ngài có thể khiến bạn ra hữu dụng. Nếu bạn đánh mất lòng dạn dĩ mình, Ngài có thể ban nó lại cho bạn ngay.
Hãy vững lòng và tin theo những tin tức tốt lành. Nếu Ngài đã làm điều đó cho Phierơ, Ngài có thể làm điều đó cho bạn đấy.

Công Vụ các Sứ đồ 1:15-26: "Điều gì xảy ra cho Giuđa?"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Điều gì xảy ra cho Giuđa?
Người từng hôn cánh cửa thiên đàng, nhưng đã xuống địa ngục –

Công Vụ các Sứ đồ 1:15-26
"Song khốn cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn" (Mác 14:21b).
“Nếu bạn chưa lại sanh, ngày hầu đến là lúc bạn sẽ ước ao mình đừng nên sanh ra" (Warren Wiersbe).
Có lẽ chỗ phải bắt đầu là phần cuối của câu chuyện. Lúc bấy giờ là sáng sớm ngày thứ Sáu tại thành Jerusalem — có khi là giữa nửa đêm và bình minh — và người Do thái đã xong việc với Chúa Jêsus. Họ đã có phiên tòa chiếu lệ với những bản án mang tính cách vu cáo cùng những kẻ làm chứng dối của họ. An-ne đã có một vòng với Chúa Jêsus và Cai-phe cũng thế. Cáo trạng của họ rất rõ ràng — người nầy là một kẻ phạm thượng đáng chết. Sự tụ tập của các cấp lãnh đạo tôn giáo được đề ra để bắt Chúa Jêsus giải sang cho Phi-lát, quan tổng đốc Lamã. Ông ấy mới là người có thể ra lịnh tử hình Chúa Jêsus.
Có một sự chuyển dịch, ồn ào, huyên náo khi cả nhóm di chuyển hướng đến pháp đình. Trong bóng tối, có một người, giờ đây bị lãng quên, đang quan sát, gương mặt ông ta căng thẳng lên, mắt ông ta sưng húp, đầu ông ta hơi cụp xuống. Đêm ấy quả là một đêm thật dài, dài nhất trong cả cuộc đời ông ta. Có bao nhiêu giờ đồng hồ đã trôi qua kể từ bữa ăn ấy trên cái phòng cao? Sáu, có thể là bảy, ai biết được? Sau khi ông ta rời đi, ông ta đi thẳng đến với các thầy cả thượng phẩm để thực hiện sự sắp xếp sau cùng. Thế rồi có một lối đi ngắn trong bóng tối băng qua Trũng Kít-rôn đi lên dốc của Núi Ôlive. Toàn bộ sự việc đã kéo dài không đầy 5 phút. Trong chỗ lờ mờ đó, một vài lời nói, một nụ hôn, một vài lời căm giận của Phierơ và nhiều người khác nữa, thế là Chúa Jêsus đã bị bắt rồi bị giải đi.
Mặt trời mọc lên, ông ta đã đổi ý
Trong hai bàn tay của Giuđa, ông ta cầm cái túi nhỏ chứa ba mươi miếng bạc. Ông ta còn áy náy đến nỗi chưa đếm túi tiền ấy nữa. Không một ai chú ý đến ông ta lúc ấy. Sự thể giống như ông ta còn là tin tức của ngày hôm qua vậy. Không một ai buồn nói tới một kẻ phản bội.
Ông ta đã chờ đợi qua cả đêm hôm ấy, cứ bám lấy rìa của đám đông, lắng nghe coi sự việc đã diễn ra thể nào. Chính xác thì ông ta trông đợi điều gì chứ? Không một ai dám chắc. Nhưng nếu lúc nửa đêm ông ta muốn nhìn thấy Chúa Jêsus chết đi, thì khi mặt trời mọc ông ta đã đổi ý của mình.
Những ký ức kia cứ bám riết lấy lý trí ông ta. Những việc Chúa Jêsus đã nói, giống như những câu nói đùa mà các sứ đồ thường hay nói, những câu chuyện mà Chúa Jêsus đã kể lại thật nhiều lần. Những hình ảnh nhỏ đã tự chúng tô điểm trong bóng tối tăm — nụ cười trên gương mặt đứa con gái của Giairu khi Chúa Jêsus làm cho nó sống lại từ kẻ chết, cái nhìn trên gương mặt của Phierơ khi ông đi bộ trên mặt biển và hình ảnh ấy cứ khuấy đảo ông luôn, hình ảnh 12 giỏ bánh đầy kia sau khi Chúa Jêsus cho hơn 5.000 người ăn. Ông ta có thể nhìn thấy hình ảnh ấy rất rõ ràng và lắng nghe mọi sự mà ký ức đã ghi nhận lấy thật nhiều việc.
Thế rồi tiếng đồn lan nhanh là Chúa Jêsus bị kết án tử hình. Ông ta không lấy làm lạ, song ông ta đã. Trong một phút đồng hồ, có một sự chấn động trong pháp đình và Giuđa nhìn thấy Chúa Jêsus khi Ngài bị giải sang cho Phi-lát. Ông ta không nhìn thấy rõ Ngài, chỉ thoang thoáng gương mặt Ngài ở một khoảng xa xa, song ông ta biết đấy là Chúa Jêsus.
Bị áp đảo. Đấy là từ duy nhứt phải sử dụng. Giuđa bị áp đảo với tư tưởng Chúa Jêsus sắp bị tử hình. Trong giây phút ấy, tư tưởng đó thoạt đến với ông ta như một tia chớp làm lóe mắt: Ông ta đã phạm một lỗi lầm rất nghiêm trọng trong cuộc đời của mình, một lỗi lầm nghiêm trọng đến nỗi ông ta phải tìm một phương thế nào đó để sửa cho ngay lại.
Quá trễ
Với tư tưởng ấy đầy dẫy lý trí mình, ông ta cầm lấy cái túi tiền rồi tìm cách trả nó lại. Nhưng các thầy cả thượng phẩm đã cười nhạo ông ta. Họ chẳng còn cần đến ông ta hay tiền bạc của ông ta nữa. Họ đã có những gì họ mong muốn.
Trong nổi thất vọng ấy, Giuđa đã kêu la lên: “Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội” (Mathiơ 27.4). Từng chữ ấy đều là sự thực cả. Ông ta đã phạm vào tội ấy; những gì ông ta đã làm là tội lỗi tệ hại nhất có thể tưởng tượng được; ông ta đã phản Chúa Jêsus, dù Ngài vô tội, là Đấng sắp sửa trả giá bằng huyết Ngài cho tội ác của Giuđa.
Với nổi thất vọng đó, ông ta đã ném số tiền lại vào trong đền thờ, những đồng tiền lăn tròn, kêu lên những tiếng leng keng khi chúng chạm xuống cái nền bằng đá kia. Khi Giuđa xây đi, 30 miếng bạc còn ở lại phía sau. Không những Giuđa đánh mất Chúa của mình, ông ta còn mất cả tiền bạc. Sau đó, ông ta còn mất mạng sống của mình nữa
Về sự tự tử của ông ta, chẳng có điều gì cần phải nói tới. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “hắn bỏ đi rồi tự treo cổ mà chết”. Đây là hành động sau cùng của một người không thể sống với chính mình và ký ức của những gì mình đã làm. Trong cái mỉa mai nhắm vào cái ngày thê thảm nầy, Giuđa đã chết trước khi Chúa Jêsus gục chết.
Sự thể là như thế
Nhưng sự thể không luôn luôn theo cách ấy. Nếu chúng ta đi từ lúc bắt đầu, chúng ta thấy một loạt những điều đáng nhớ về Giuđa:
1. Cá nhân ông ta được Đức Chúa Jêsus Christ chọn là sứ đồ.
2. Ông ta đã lìa bỏ mọi sự để theo Chúa.
3. Ông ta đã dành ra 3 năm rưỡi đi dọc đi ngang xứ Israel với Đấng Christ.
4. Ông ta đã đích thân nhìn thấy nhiều phép lạ của Đấng Christ.
5. Ông ta đã nghe Đấng Christ ban ra mọi bài giảng nổi tiếng của Ngài.
6. Ông ta đã quan sát khi Đấng Christ chữa lành kẻ đau, làm sống lại kẻ chết và đuổi tà ma.
7. Ông ta, cùng với các sứ đồ khác, đã được sai đi ra rao giảng Tin Lành.
8. Ông ta là một trong các cấp lãnh đạo của nhóm sứ đồ.
9. Không một ai có thể hồ nghi ông ta về sự phản bội.
Trong giới hạn của kinh nghiệm, bất cứ điều chi bạn có thể nói về Giacơ, Phierơ và Giăng, bạn cũng có thể nói về Giuđa. Bất cứ đâu họ đi, ông cũng đi tới. Ông đã có mặt ở đó, luôn luôn ở bên cạnh Chúa Jêsus. Ông đã nghe hết mọi sự, đã nhìn thấy mọi sự, đã kinh nghiệm mọi sự. Tuy nhiên, khi bạn giải thích sự ông ta đào ngũ, bạn không thể nói ông ta thiếu kinh nghiệm hơn các vị sứ đồ khác.
Nếu có điều chi khác, ông ta là một trong các cấp lãnh đạo. Rốt lại, các vị sứ đồ khác đã chọn ông ta cho việc giữ lấy tiền bạc. Bạn không chọn một người để trao tiền bạc cho họ giữ mà bạn nghi ngại về lòng trung thành của họ được. Làm như thế là điên. Bạn chọn người tốt nhứt, người xứng đáng nhứt, người duy nhứt bạn biết mình có thể tin tưởng. Đấy là lý do tại sao họ đã chọn Giuđa.
Phần thú vị nhất trong toàn bộ mô tả kia, ấy là các vị sứ đồ khác rõ ràng đã nhìn thấy chỉ có mặt tích cực nơi Giuđa. Cho tới chừng họ nhìn lại sự việc thì họ mới nhận ra các mặt tiêu cực. Trước khi ông ta phản bội Chúa Jêsus, ông ta trông rất tốt cũng như bao người khác còn lại, mà kỳ thực trông ông ta còn tốt nhứt nữa kìa. Theo ánh sáng đó, chúng ta hãy lưu ý phần tường trình thêm một lần nữa đi: Chẳng có ai nghi ngờ Giuđa hết. Không một ai cả.
I. Hai thắc mắc về Giuđa
Có hai việc khiến cho chúng ta phải bối rối về Giuđa. Thứ nhứt, tại sao Giuđa làm điều đó? Thứ hai, sau khi ông ta đã làm điều đó, tại sao ông ta cảm thấy có tội chứ? Ông ta gian ác đến nỗi đã bán Chúa Jêsus để lấy 30 miếng bạc. Thế rồi sau đó, ông ta cảm thấy hối hận đến nỗi phải tự tử.
Thắc mắc 1: Tại sao Giuđa phản bội Chúa Jêsus?
Tại sao Giuđa làm điều đó? Thế lực nào đã khiến ông ta phản bội Chúa của mình? Trải qua nhiều thế kỷ, những đầu óc lỗi lạc đã suy gẫm về câu hỏi ấy. Nếu bạn muốn có một nghiên cứu đầy lý thú, hãy bước vào thư viện của trường thần học, rồi đọc kỹ về Giuđa. Bạn sẽ khám phá ra cả danh mục nhiều lý thuyết rất rối rắm. Các trước giả Tin Lành hiến cho chúng ta một vài manh mối. Ấy chính họ cũng không hề biết đâu là câu trả lời. Khi Giuđa tự tử trong vài giờ đồng hồ sau khi phản Ngài, chúng ta không có câu nói nào cung ứng mặt trái câu chuyện của ông. Vì lẽ đó, chúng ta cần phải suy gẫm về những động lực của ông.
Ba lý thuyết dường như luôn có sẵn:
• Ông ta phản bội Chúa Jêsus là vì tiền bạc. Điều nầy rất rõ ràng ở Giăng 12:6 cho chúng ta biết Giuđa đã lấy cắp tiền từ cái túi bạc. Nhưng nếu ông ta phản bội Chúa Jêsus chỉ để lấy tiền bạc thôi, ông ta đã bán Ngài quá rẻ. Ba mươi miếng bạc chỉ bằng 20USD ngày nay thôi.
• Ông ta phản bội Chúa Jêsus vì ông ta bị vỡ mộng. Có lẽ đây là lý thuyết được lòng người nhất. Lý thuyết nầy cho rằng Giuđa trông mong Chúa Jêsus lãnh đạo một cuộc lật đổ chống lại Rôma. Khi ông ta thấy Đấng Christ chẳng có một dự tính nào kiểu như vậy, ông ta bắt giận dữ rồi phản bội Ngài.
• Ông ta đã phản bội Chúa Jêsus vì ông ta lo sợ. Khi ông ta nhìn thấy những đám mây giông tố nhóm lại trong mấy ngày sau cùng đó, ông ta phản Chúa để cứu lấy bản thân mình.
Tất cả các lý thuyết ấy đều có ý nghĩa của nó, và tất cả ba lý thuyết nầy đang góp phần cho câu trả lời. Sau khi mọi bàn bạc đã xong, chúng ta vẫn không dám chắc lý do tại sao Giuđa đã làm những điều mà ông ta đã làm. Nhưng điều nầy là chắc nhất đây: Khi Giuđa phản bội Chúa Jêsus, ông ta đã phạm phải lầm lỗi to lớn nhất mà bất cứ người nào cũng dám phạm phải.
Thắc mắc 2: Tại sao ông ta cảm thấy hối hận?
Câu trả lời là đây: Giuđa rất giống với hết thảy chúng ta nơi người bề trong — bị xâu xé bởi những xung lực đối ngược. Ông ta phải tốt hơn hoặc ông ta sẽ tệ hại hơn. Nếu ông ta là một người tốt hơn, ông ta sẽ không bao giờ phản bội Chúa. Còn nếu ông ta tệ hại hơn, ông ta sẽ không cảm thấy hối hận như thế. Ông ta đã chết một cái chết thật thê thảm — tồi tàn và nhơ nhớp tội lỗi với huyết của Con Đức Chúa Trời trên tay mình.
II. Một thắc mắc về Giuđa
Vậy thì, Giuđa đang ở đâu hôm nay? Có phải ông ta đang ở trên thiên đàng hay ông ta đang ở trong địa ngục? Kinh Thánh nói rất rõ ràng ở điểm nầy: Giuđa đang ở trong địa ngục. Trong Công Vụ các Sứ đồ 1:25, Phierơ đã nói tới Giuđa là kẻ bỏ chức vụ sứ đồ “đặng đi nơi của nó”. Sát nghĩa, câu nầy đọc là: “đến với chỗ riêng của nó”. “Chỗ riêng của nó” là địa ngục. Nếu thấy khó hiểu, hãy xem lời lẽ của Chúa Jêsus ở Giăng 6:70-71 khi Ngài phán:
“Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ! Vả, Ngài nói về Giu-đa con Si-môn Ích-ca-ri-ốt; vì chính hắn là một trong mười hai sứ đồ, sau sẽ phản Ngài”.
Ngài không nói cụ thể Giuđa là một con quỉ, nhưng Giuđa khi ấy (khoảng 1 năm trước khi Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá) đã hành động dưới ảnh hưởng của Satan.
Hãy lắng nghe Chúa Jêsus khi Ngài cầu nguyện trên phòng cao vào tối thứ Năm. Giuđa đã rời đi để lo chuyện sắp xếp sau cùng. Ngay khi ấy những tên lính đã tụ tập lại cho cuộc diễu hành lên Núi Ôlive. Hành động sau cùng tự nó sắp sửa phô diễn ra. Đồng thời, Chúa Jêsus đang cầu nguyện cho các môn đồ Ngài: “Đang khi Con còn ở với họ, Con gìn giữ họ, trừ đứa con của sự hư mất ra, thì trong đám họ không một người nào bị thất lạc, hầu cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm” (Giăng 17:12).
Giuđa đang ở trong địa ngục hôm nay. Ông ta đã ở đó cả 2.000 năm và ông ta sẽ ở đó cho đến đời đời. Ông ta đã trả toàn bộ cái giá cho tội ác phản bội Con Đức Chúa Trời.
Nếu có ai hỏi: “Phải chăng Giuđa đã đánh mất ơn cứu rỗi của mình?” Câu trả lời là “Không”. Ông ta đã không đánh mất ơn cứu rỗi vì ông ta chưa hề có nó. Bất cứ điều chi khác bạn có thể nói về ông ta, ông ta chưa bao giờ là một môn đồ của Đức Chúa Jêsus Christ theo cùng một ý nghĩa giống như các môn đồ khác. Ông ta chưa được cứu và rồi bị hư mất. Ông ta bị hư mất vì ông ta chưa hề được cứu trong chỗ thứ nhứt.
Nhưng sẽ có người thắc mắc: “Phải chăng Giuđa đi địa ngục vì ông ta đã tự tử?” Thắc mắc hay đấy, và câu trả lời là “không” một lần nữa. Tự tử là một tội, nhưng đấy chẳng phải là lý do để Giuđa đi địa ngục. Giuđa đi địa ngục vì ông ta chưa hề thực sự phó chính mình cho Đức Chúa Jêsus Christ. Sự phản bội của ông ta đã minh chứng cho sự việc ấy; sự ông ta tự tử chỉ đóng ấn số phận của ông ta mà thôi.
Một thắc mắc sau cùng: “Có phải Kinh Thánh nói rằng Giuđa đã ‘ăn năn’”? Những bản dịch xưa quả thật đã sử dụng từ ngữ ấy ở Mathiơ 27:3. Một sự dịch thuật chính xác hơn là “bị hối hận bắt lấy”. Mặc dù Giuđa bị sự sai lầm nơi những gì ông ta đã làm kẹp chặt lấy, ông ta không hề van xin ơn tha thứ. Có một thế giới khác biệt giữa hai sự việc ấy. Có nhiều người thực sự cảm thấy buồn rầu vì cớ tội lỗi, song họ không hề đến với Đức Chúa Trời và van xin ơn tha thứ bao giờ. Giuđa đã tìm cách tháo gỡ sự phản bội của mình, song sự việc đã quá trễ rồi. Tôi không nghi ngờ ông đã khóc lóc với những giọt nước mắt cay đắng lúc ông ta ném số tiền trở lại đền thờ. Nhưng sự hối hận của ông ta (dù cho có thành thật đi) thì cũng chẳng phải là sự ăn năn thật và nó không dẫn tới chỗ được tha thứ. Thay vì thế, nó dẫn tới chỗ phải tự tử, là minh chứng trọn vẹn rằng Giuđa đã chết như một người không được tha thứ.
III. Ba thắc mắc dành cho chúng ta
Khi chúng ta suy gẫm lại câu chuyện lạ lùng, đáng buồn nói tới Giuđa, một vài thắc mắc nổi lên trên bề mặt. Có những thắc mắc không phải về Giuđa, mà về bạn và tôi. Chúng yêu cầu chúng ta phải xem xét Giuđa sống cở nào trong từng người chúng ta hôm nay. Và trước khi chúng ta xem xét mấy thắc mắc nầy, hãy xét điều nầy xem: Bạn càng sống tôn giáo chừng nào, bạn càng muốn làm theo những gì Giuđa đã làm. Nếu Giuđa còn sống hôm nay, chỗ tốt nhứt để gặp ông ta sẽ là ở nhà thờ vào sáng Chúa nhựt. Ông ta sẽ đến thật sớm, ngồi ở phía trước, hát những bài thánh ca với tiếng vỗ tay thưởng thức trong lúc hợp xướng, rồi nói Amen suốt cả bài giảng. Nếu Giuđa sống ở đây tại Oak Park, tôi dám chắc ông ta sẽ đến dự nhóm ở nhà thờ Calvary Memorial. Ông ta là loại người thể ấy. Ai biết được chứ? Ông ta sẽ ngồi gần bạn trên hàng ghế. Hoặc ông ta còn ngồi gần hơn thế nữa.
A. Đức Chúa Trời đã làm cho bạn thất vọng cở nào?
Nếu có bất kỳ phương thức nào để hiểu rõ Giuđa, thì chính tại điểm thất vọng riêng tư nầy đây. Có lẽ ông thực sự tin rằng Chúa Jêsus đã làm cho ông ta thất vọng và đường lối riêng cong quẹo của ông ta cảm thấy được xưng công bình trong hành động bội phản của ông ta. Song điều đó khác biệt rất nhiều so với cách chúng ta cảm nhận khi chúng ta nghĩ Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta thất vọng?
Vì vậy tôi đưa ra thắc mắc nầy: Đức Chúa Trời đã làm cho bạn thất vọng cở nào? Đối với một số người, điều đó đến từ những ước mơ bị tan tác và những hy vọng đẹp khòng còn có nữa. Đối với nhiều người khác, điều đó đến từ mối hôn nhân thất bại hay con cái xây trở nghịch lại bạn. Có lẽ bạn đã cầu nguyện và cầu thay cho người thân được chữa lành ung thư chỉ để dự đám tang của họ sau đó. Có thể bạn cảm thấy sâu sắc ở trong lòng rằng Đức Chúa Trời đã không sống theo cứu cánh dự tính của Ngài. Dù bạn không hề nói ra điều đó trong nhà thờ, bạn cảm thấy như mình đã bị Chúa bịp vậy.
Chúng ta hãy đối diện với sự thực là Đức Chúa Trời thường thất bại không sống theo mọi sự trông mong của chúng ta. Có khi Ngài không làm những gì chúng ta nghĩ Ngài sẽ làm. Chúng ta có những tiêu chuẩn nhất định về Đức Chúa Trời của vũ trụ — và Ngài không luôn luôn làm cho họ thỏa mãn. Giuđa không thể sống với nổi thất vọng, vì thế ông ta đã phản Chúa. Còn bạn thì sao?
B. Bạn sẽ đổi gì để lấy Chúa Jêsus?
Một trong những phần mỉa mai trong câu chuyện nầy, ấy là Giuđa đã không nhận được nhiều tiền bạc đâu. Vào thời buổi ấy, 30 miếng bạc là cái giá của một nô lệ — khoảng 20USD. Giuđa đi địa ngục và cái giá cho tấm vé của ông ta là 30 miếng bạc.
Bạn sẽ đổi gì để lấy Chúa Jêsus?
• Bạn sẽ phản bội Ngài là vì tiền bạc chăng?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để lấy một việc làm khá hơn chăng?
• Bạn sẽ phản bội Ngài chỉ để ôm lấy công việc mà bạn đang có sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để cứu lấy bản thân mình sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để được vào một lớp khá hơn ở trong trường?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để hẹn hò đi chơi sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để lấy một hợp đồng mới sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để lấy 1 triệu USD chăng?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để kiếm một người chồng hay một người vợ sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài vì Ngài không sống theo những điều bạn trông mong ư?
• Bạn sẽ phản bội Ngài vì bạn tưởng Ngài đã làm cho bạn thất vọng sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài nếu bạn nghĩ bạn sẽ tìm được ơn của hạng người quan trọng sao?
Câu chuyện nói tới Giuđa yêu cầu chúng ta phải thăm dò lại động lực của chính chúng ta. Tại sao bạn hầu việc Chúa không cứ cách nào? Con Đức Chúa Trời xứng đáng với bạn ở tầm cở nào vậy?
C. Có phải bạn là Giuđa thứ hai không?
Cách đây nhiều năm, tôi có nghe một nhà truyền đạo giảng một bài với đề tựa rất hay: “Giuđa thứ hai”. Bài giảng ấy nhắm vào các thuộc viên của nhà thờ gồm những ai chưa thực sự được sanh lại. Như tôi nhớ, ông kể lại câu chuyện nói tới Giuđa và rồi nói về bản thân ông — thể nào ông đã lớn lên trong Hội Thánh, dự lớp trường Chúa nhựt trong nhiều năm trời, nhập học ở một trường Cơ đốc — và nếu tôi nhớ chính xác — đã trở thành Mục sư trước khi ông nhận ra ông chưa thực sự được sanh lại. Bản thân ông là Giuđa thứ hai. Thật là tầm thường và đau đớn cho ông khi đối mặt với sự thực ông đã tự lừa dối mình, song khi ông đối diện với nó, ông được biến đổi cách lạ lùng bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Điều đó có thể xảy ra cho bất kỳ ai trong chúng ta. Giuđa đã hôn cánh cửa thiên đàng nhưng lại phải xuống địa ngục. Chúa Jêsus đã chọn ông ta làm một sứ đồ, song ông ta phải xuống địa ngục. Ông ta đã sống với Chúa Jêsus trọn ba năm ấy mà vẫn phải xuống địa ngục. Ông ta đã thấy Chúa Jêsus đi bộ trên mặt biển mà vẫn phải xuống địa ngục. Ông ta đã nghe Bài Giảng Trên Núi mà vẫn phải xuống địa ngục. Ông ta đã ăn uống với Chúa Jêsus, trò chuyện với Chúa Jêsus, và lắng nghe Chúa Jêsus rao giảng hết ngày nầy sang ngày khác, tháng nầy qua tháng khác, năm nầy qua năm khác. Ông ta vốn biết rõ Chúa Jêsus như một người từng nhìn biết Chúa Jêsus mà ông ta vẫn phải xuống địa ngục.
Và hãy ghi nhớ điều nầy. Không một ai trong các môn đồ đã nghi ngờ ông ta. Đấy là lý do ông ta được chọn làm người giữ tiền. Họ đã tin cậy ông ta biết giữ gìn tiền bạc của họ. Thậm chí tại bữa Tiệc Ly, khi Chúa Jêsus xác nhận Giuđa cách công khai, họ vẫn không thể hình dung ra được việc ấy.
Hãy dò xét lòng mình
Có phải bạn biết người nào là một Giuđa trong nhà thờ nầy không? Tôi đây. Là Mục sư quản nhiệm, tôi đứng trong phép loại suy gần gũi nhứt so với chỗ mà Giuđa đã đứng. Có người nói: “Mục sư ơi, chắc chắn không phải ông đâu”. Đấy là điều mà họ đã nói về Giuđa. Hãy nhớ, cú sốc phản bội của Giuđa, ấy là ông ta trông rất nhơn đức ở bề ngoài. Nếu tôi là Mục sư của bạn, có thể thuật lại cho bạn câu chuyện nầy mà không dò xét tấm lòng của chính tôi, thế thì tôi đã bỏ sót mục tiêu rồi.
Tôi muốn bạn nhìn biết rằng tôi rất tin vào sự bảo đảm ơn cứu rỗi qua Lời của Đức Chúa Trời và sự làm chứng của Đức Thánh Linh. Tôi không dám chắc về việc thường xem xét nội tâm mình có phải hay không phải là một Cơ đốc nhân. Nhưng có một chỗ cho sự tự xét rất lành mạnh trong đời sống Cơ đốc. Không một ai dám hy vọng chắc mình sẽ được lên thiên đàng. Tôi muốn nói cách rõ ràng rằng tôi đã xem xét vấn đề trong tuần nầy, tư tưởng xảy đến với tôi là nếu tôi đúng là một Cơ đốc nhân, ấy chẳng phải vì tôi là một Mục sư, một trưởng lão, một thuộc viên Hội Thánh, một người chồng, một người cha, hay một người chuyên làm lành. Không một việc nào trong các việc nầy ít nhất là vấn đề khi phải đến với sự cứu rỗi đời đời. Nếu tôi đúng là một Cơ đốc nhân, ấy là vì tôi đang tin cậy Đức Chúa Jêsus Christ và chỉ một mình Ngài để được tha tội mình. Tôi đang đóng cây cọc hy vọng của tôi về thiên đàng trên sự thực Chúa Jêsus đã chịu chết vì tôi và đã sống lại từ kẻ chết. Nếu Ngài không thể đưa tôi vào thiên đàng, thế thì tôi sẽ không vào được đó.
Giuđa dành cho chúng ta một sự ưu ái nếu câu chuyện của ông ta khiến cho chúng ta phải suy nghĩ lại sự cam kết cơ bản của chúng ta đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Bạn tự nhận mình là một Cơ đốc nhân. Nhưng có phải bạn là một môn đồ thật hay bạn chỉ có những động thái bề ngoài? Có phải bạn là kẻ giả vờ hay là một tín đồ thật? Có phải bạn thực sự đã xây khỏi tội lỗi mình và đã tin cậy Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa? Có phải bạn là một bạn hữu tùy thời của Cứu Chúa?
Có những thắc mắc dễ hỏi hơn là dễ trả lời. Tôi yêu cầu bạn đừng xem nhẹ chúng. Bài học chính từ đời sống của Giuđa là hư mất trừ phi ít nhất chúng ta tự hỏi mình những câu hỏi ấy.
Rốt lại, nếu một người có thể trở thành một sứ đồ của Đấng Christ mà vẫn bị hư mất, bạn thì sao và tôi sẽ như thế nào đây? Có lẽ chúng ta sẽ kết luận vấn đề theo cách nầy. Một sứ đồ bị hư mất, để không một ai dám làm liều. Mười một người đã được cứu, để không ai sẽ thất vọng. Cuối cùng, hầu hết chúng ta là những người tự nhận mình là Cơ đốc nhân sẽ dò xét tấm lòng mình rồi kết luận rằng “Phải”, mặc dù chúng ta làm buồn lòng Ngài trong nhiều cách thức, chúng ta vẫn kính mến Ngài và xưng Ngài là Cứu Chúa của chúng ta. Phải đúng như vậy đấy. Câu chuyện của Giuđa có ở trong Kinh Thánh vì nhiều lý do, ít nhất là dẫu thế nào thì chúng ta cũng phải đưa ra câu hỏi mà các vị sứ đồ khác đã đưa ra trong cái đêm số phận kia:
“Lạy Chúa, có phải tôi không?”