Hiển thị các bài đăng có nhãn NEW YEAR. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NEW YEAR. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

ĐỜI MỚI CHO NĂM MỚI



ĐỜI MỚI CHO NĂM MỚI
Mathiơ 25:1-13

Bạn có từng đọc quảng cáo cần người chưa? Họ có những quảng cáo như vầy: “Cần người trông trẻ”, “cần người có cuốc để đào mương”, “cần người cắt cỏ”.
HỌ CÓ MỘT NHU CẦU!
a. Thế giới nầy có một nhu cần về Chúa Jêsus.
Họ có quyền nhìn vào Hội thánh để đạt được nhu cần ấy.
b. Đức Chúa Trời có một nhu cần về các tín đồ đã được xức dầu.
TẠI SAO? Vì như Êsai 10:27 chép: “…ách sẽ bị gãy vì sự béo mập”.
Ách là gì vậy? Một nông cụ bạn mắc lên cổ trâu hay bò để chúng sẽ làm theo những gì bạn muốn chúng phải làm. Ách buộc chúng lại với nhau, và với cái cày. Đây là một gánh nặng, một sự ràng buộc, hay một thứ được sử dụng để nô dịch hóa.
Về mặt thuộc linh có cái ách của tội lỗi, xác thịt, Satan (sợ hãi, vô tín).
Satan muốn bạn bị ràng buộc với hắn, và các công cụ của hắn để bạn sẽ làm theo sự trói buộc của hắn.
Nhưng khi đề cập tới Laxarơ, Chúa Jêsus đã phán ở Giăng 11:44: “Hãy mở cho người, và để người đi”.
ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN MỞ TRÓI CHO AI ĐÓ!
Ấy chẳng phải là nắm lấy một bài giảng hay, bài hát hay, hoặc gõ nơi cửa đâu!
MÀ LÀ NẮM LẤY ĐỨC THÁNH LINH. CHÚNG TA PHẢI CÓ SỰ XỨC DẦU.
II Côrinhtô 3:17: “…Thánh Linh của Chúa ở đâu, thì sự tự do cũng ở đó”.
Chúng ta cần một sự tự do — ca hát, giảng đạo, làm chứng, v.v… Cho tới khi nào chúng ta nhận được sự tự do ấy, người ta sẽ chưa được cứu, chưa được đầy dẫy, chưa được chữa lành, và chưa được giải phóng.
Tôi e rằng chúng ta, sau khi bắt đầu sống theo Thánh Linh giờ đây đang nương vào cánh tay xác thịt (mọi khả năng riêng của mình).
Có một trường nam, ở đó mỗi sáng trước khi vào lớp, học sinh buộc phải đọc Bài Tín Điều Các Sứ Đồ. Mỗi em được trao cho mảnh giấy để đọc: “Tôi tin Đức Chúa Trời là Cha Toàn Năng” và cứ thế mà đọc tới.
Một sáng kia, khi mọi việc cứ tiến triển suông sẻ, có một sự ngắt quảng và im lặng sâu sắc. Thế rồi một học sinh đứng lên nói: “Học sinh nào tin nơi Đức Thánh Linh không có mặt ở đây hôm nay”.
Thật là nhiều lần sự việc ấy đang xảy ra trong các buổi thờ phượng của nhà thờ chúng ta ngày nay.
Chúng ta đã thôi không còn tìm kiếm Đức Thánh Linh nữa.
TUY NHIÊN, SỰ VIỆC ẤY SẼ LÀM THAY ĐỔI TẤM LÒNG CỦA CHÚNG TA!
Mathiơ 25:1-2: “Khi ấy, nước thiên đàng sẽ giống như mười người nữ đồng trinh kia cầm đèn đi rước chàng rể. Trong các nàng đó, có năm người dại và năm người khôn”.
A. NHỮNG NGƯỜI NỮ ĐỒNG TRINH
Họ trong trắng, thanh sạch, bổn tánh không tì vít, và không có gì xấu hổ.
Họ ưa thích sống trong tập thể nhơn đức. Chúng ta thấy có 10 người như thế trong một số nhà thờ của chúng ta ngày nay!
B. HỌ CÓ NHỮNG DỰ TÍNH RẤT CAO ĐẸP
Họ muốn nhìn thấy Chàng Rễ.
Chúng ta có nhiều người với những dự tính tốt đẹp, nhưng họ không hề dấn thân vào đó.
Những dự tính của họ đều rất tốt, nhưng họ rất mù quáng trước nhu cần thực sự của chính họ.
Khải huyền 3:15-18: “Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta. Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ. Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được. Phàm những kẻ ta yêu thì ta quở trách sửa phạt; vậy hãy có lòng sốt sắng, và ăn năn đi”.
Họ chẳng có nhu cần về sự thờ phượng, hay về lối sống thánh khiết.
Họ không muốn trả giá.
Có phải bạn bị mù lòa trước nhu cần của mình không?
Mathiơ 25:3: “Người dại khi cầm đèn đi thì không đem dầu theo cùng mình”.
Mọi hy vọng của họ đều đặt nơi những ngọn đèn tuyên xưng của họ.
Họ sẽ chẳng đi đâu mà không có đèn của họ (loại áo thun có chữ Jêsus, sự nên thánh, v.v…), vì những ngọn đèn người ta có thể nhìn thấy được, còn dầu thì bị che khuất không nhìn thấy được.
Tuy nhiên, họ đã sống rất thế gian trong tấm lòng của họ (ngồi lê đôi mách, tranh cạnh, ghen tương, v.v…).
Họ là những bậc thầy, chớ không phải hạng người sở hữu những điều đó.
Họ chậm lụt, thiếu suy xét.
Bạn có thể có ngôi nhà riêng; nhưng nếu bạn xao lãng với nó, không bao lâu nữa nó sẽ bị bỏ và không dung chứa bạn nữa.
Mathiơ 25:5: “Vì chàng rể đến trễ, nên các nàng thảy đều buồn ngủ và ngủ gục”.
Sau khi họ xao lãng, họ rơi vào chỗ dửng dưng.
Sau khi bạn xao lãng đối với cái gì đó, bạn sẽ có thái độ: “Nào, chắc phải bỏ đi thôi, hãy lo về một người mới” — đặc biệt là tuần lễ sau Lễ Giáng Sinh.
Mấy năm qua chẳng có ai để ý đến những hành động lớn lao của Đức Chúa Trời trong xứ, vì chúng ta đang say ngủ.
Trong sự rút lui đầy thảm họa của Napoleon và nước Pháp ra khỏi Moscow, nước Nga vào năm 1812.
Armand Caulaincourt, Công Tước xứ Vicenza, ông lo về Ngự lâm quân của Napoleon, đã mô tả thể nào những Ngự Lâm Quân nầy, đã bị cơn lạnh áp đảo, họ rã ngũ và nằm sóng soài trên tuyết, họ yếu đuối hay tê cóng quá đến nỗi không còn đứng được nữa.
Họ ngủ thiếp đi, họ đã chết mất. NGỦ LÀ CHẾT.
Ông kể lại thể nào ở một số cơ hội, ông đã tìm cách vực dậy những kẻ đã ngã dưới đất, cảnh cáo họ rằng họ sẽ chết mất; nhưng tình trạng uể oải do cơn lạnh đem đến rất mạnh mẽ không thể cưỡng lại được.
Trước mọi lời khẫn nài của ông, những binh sĩ uể oải kia đã bị điếc hết rồi. Những lời duy nhứt họ thốt ra là lời họ nài xin tình yêu thương của Đức Chúa Trời hãy tránh ra để cho họ ngủ.
Mathiơ 24:12: “Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần”.
CHỈ VÌ MỌI NGƯỜI KHÁC, VÀ TỪNG NHÀ THỜ KHÁC ĐANG SỐNG NHƯ THẾ KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ ĐÚNG ĐẮN ĐÂU.
Vì nhà thờ đã bỏ đi việc rao giảng sự nên thánh mà tình cảm của chúng ta bị khuyết đi.
Chúng ta nói: “Nhà truyền đạo ơi, xin để chúng tôi yên, đừng giảng đề tài ấy nữa”.
Chúng ta cần cái chạm của sự xức dầu.
Ngày cả người khôn, họ đang sống trong mối nguy hiểm của sự say ngủ.
Mathiơ 25:6: “Đến khuya, có tiếng kêu rằng: Kìa, chàng rể đến, hãy đi ra rước người!”
Lúc nửa đêm, khi giấc ngủ đang say nồng, và sự thức tỉnh gần như chẳng được hoan nghênh cho lắm.
Chúa Jêsus phán cùng các môn đồ Ngài: “Cứ ngủ đi”, vì đã quá trễ không còn làm chi được nữa.
Có bao nhiêu cơ hội đã bị bỏ qua, vì chúng ta không được đầy dẫy Đức Thánh Linh?
Một ngày kia, quả là quá trễ không còn đầy dẫy được nữa.
Mathiơ 25:7: “Các nữ đồng trinh bèn thức dậy cả, sửa soạn đèn mình”.
Họ đã cất bỏ phần tim đèn đã từng được thắp sáng. Phần tim đèn sẽ không bắt lửa nữa.
Chúng ta cần phải cất bỏ di tích các kinh nghiệm trong quá khứ.
Êxêchiên 33:12, 18: “Hỡi con người, khá nói cùng con cái của dân ngươi rằng: Sự công bình của người công bình sẽ không cứu được nó trong ngày nó phạm tội, và sự dữ của kẻ dữ sẽ không làm cho nó sa ngã nơi ngày nó đã xây bỏ sự dữ ấy, cũng như người công bình sẽ không nhờ sự công bình đã qua rồi mà sống được nơi ngày mình phạm tội...Nếu người công bình xây bỏ sự công bình của mình mà phạm sự gian ác, thì nó sẽ chết trong đó”.
GIỜ ĐÂY, BẠN ĐANG Ở ĐÂU? Đàng trước hay đàng sau?
Thi thiên 139:23-24: “Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; Hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, Xin dắt tôi vào con đường đời đời”.
Trong ánh sáng của cõi đời đời, chẳng có thứ gì quá quí báu để nắm giữ mãi được.
Mathiơ 25:8-10: “Các người dại nói với các người khôn rằng: Xin bớt dầu của các chị cho chúng tôi, vì đèn chúng tôi gần tắt. Nhưng các người khôn trả lời rằng: Không, e chẳng đủ cho chúng tôi và các chị; thà các chị hãy đi đến người bán dầu mà mua. Song trong khi họ đang đi mua, thì chàng rể đến; kẻ nào chực sẵn, thì đi với người cùng vào tiệc cưới, và cửa đóng lại”.
5 nữ đồng trinh dại đã chạy vào thành đổ mồ hôi, bực bội và thở phì phò.
Họ bận tìm kiếm dầu khi lẽ ra họ phải vui mừng.
Đấy là lý do tại sao ngồi lại cầu nguyện, đọc và nghiên cứu Kinh thánh là điều quan trọng.
HÃY BỎ ĐI TỘI LỖI VÀ TÍNH THỜ Ơ.
Nhiều nhà thờ đã trở thành một cộng đồng thịnh vượng. Chúng ta trông đợi nhà truyền đạo lo liệu mọi sự dinh dưỡng.
Chúng ta không thể cho người khác ăn nếu bản thân chúng ta đang đói kém.
Bao lâu bạn được cứu không phải là vấn đề. Bạn cần sự xức dầu của Đức Thánh Linh.
Phierơ — cái bóng đã chữa lành cho nhiều người.
Êlisê — bộ xương khô của ông đã làm cho một người lại sống.
Sự xức dầu của chúng ta có hiệu quả như thế nào?
Đây là thời điểm chúng ta phải thức tỉnh và nhìn thấy nhu cần một sự phấn hưng cho cá nhân.
Nếu chẳng có ai khác cần đến nó, chúng ta cần phải quyết định tìm kiếm sự phấn hưng ấy.
Vance Havner đã nói: “Hội thánh không bao giờ phình được cái ruột (những sinh hoạt) ra với một ít hơi ở trong đó. Mọi sự đều là hư không trừ phi Thánh Linh của Đấng Thánh ngự xuống. Thật là buồn khi phải nói, chúng ta dường như không biết rằng chúng ta chẳng có hơi hướm của Đức Thánh Linh. Nếu Ngài thôi không vận hành nữa, nhiều thuộc viên trong Hội thánh sẽ không hề biết được sự khác biệt. Giống như Samsôn, chúng ta sẽ không biết Ngài đã rời đi, nhưng chúng ta giữ việc “tự mình lắc lư” trong bộ môn thể dục mềm dẻo”.
TỐI NAY, CHÚA JÊSUS ĐANG PHÁN: “HÃY MỞ CHO “HỌ” VÀ ĐỂ CHO ‘HỌ’ ĐI”.
Phần kết luận: Charles Finney thuật lại vị trưởng lão nầy hỏi cụ già kia: “Làm sao ông có được ơn phước nầy?”
Ông cụ đáp: “Tôi thôi không nói dối với Đức Chúa Trời nữa. Mọi sự sống Cơ đốc của tôi, tôi đã từng giả vờ và cầu xin Đức Chúa Trời những thứ mà tôi không muốn có. Tôi cứ cầu nguyện, và thường không thành thật và thực sự nói dối với Đức Chúa Trời. Không bao lâu sau khi tôi suy nghĩ lại, tôi không nói điều tôi thực sự không muốn nói với Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện, Đức Chúa Trời đã trả lời tôi, và Đức Thánh Linh ngự xuống, và tôi được đầy dẫy Đức Thánh Linh”.
Mục sư Jayme D. Carter.

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2010

II Côrinhtô 2:5-11: "Năm Xí Xóa"



Năm Xí Xóa
II Côrinhtô 2:5-11
Bạn có nghe nói về ngày “xí xóa” chưa?
Có lẽ là chưa trừ phi bạn đã sinh sống tại thành phố Nữu Ước. Thứ Hai vừa qua (ngày 28 tháng Chạp) là Ngày Xí Xóa ở Quãng Trường Times. Những nhà tổ chức đã khích lệ dân chúng viết ra những lời than phiền của họ rồi ném bỏ chúng vào máy cắt giấy làm biểu tượng cho hành động bỏ đi những ký ức đau thương, những kinh nghiệm không tốt, các lỗi lầm dại dột, những quan hệ, các sự lựa chọn ngớ ngẩn, và những đố kỵ được cất giữ lâu nay tiềm ẩn ở trong họ. Những ai tham dự có thể sử dụng quả búa tạ trong trường hợp máy cắt giấy kia không đủ cung ứng được lối thoát về tình cảm.
Một tay viết blog rất thích ý tưởng nầy:
Tôi nghĩ ngày nầy đang trở thành một ngày lễ mà tôi rất ưa thích!!! Hôm nay là cơ hội để nói “Xí Xóa” đối với một việc gì đó... và tôi đang lập ra cả một danh sách đây!!!
Có cái gì đó gần như rất hấp dẫn về ý tưởng “bỏ đi cái cũ, nhận lấy cái mới”. Có khi chúng ta cần phải nói “xí xóa” đối với sự đau thương của quá khứ. Muốn làm như thế chúng ta phải có đủ can đảm để bỏ đi cơn giận, chào vĩnh biệt với nổi cay đắng, và quăng xa ác ý của mình đối với những kẻ gây tổn thương nhiều cho chúng ta.
Chúng ta phải học biết tha thứ. Cho tới chừng chúng ta biết tha thứ, chúng ta mới có thể thôi không chùng bước nữa. Bao lâu chúng ta sống với quá khứ, chúng ta sẽ bị xiềng xích vào quá khứ, và kẻ gây tổn thương nhiều cho chúng ta đang đạt được chiến thắng gấp bằng hai – lần thứ nhứt khi họ gây tổn thương cho chúng ta và lần thứ hai khi chúng ta từ chối không chịu bỏ qua và cứ chịu mãi như thế.
Tôi đã học được điều nầy cách đây nhiều năm trời trong Hội Thánh đầu tiên mà tôi làm chủ tọa ngay khi ra trường. Tôi đã nghiên cứu cả hội chúng trong một năm trời rồi yêu cầu họ chọn những đề tài trong loạt bài mà tôi đặt tên là “Dưỡng đường hôn nhân”. Sự nghiên cứu ấy thành công đến nỗi qua năm sau tôi đã làm y như thế cho loạt bài có tên là “Dưỡng đường gia đình”. Khi tôi tìm hiểu hội chúng hai năm liền, chỉ có một chủ đề được lặp lại. Và chủ đề đó kết thúc khi nhận được nhiều phiếu bầu chọn nhất cho cả hai năm. Chủ đề đó là: “Làm sao kềm giữ được cơn giận và sự cay đắng”. Tôi nhớ mình đã lặng người đi vì những kết quả, vì thế tôi đã hỏi vợ tôi lý do tại sao chủ đề ấy đã đạt tới mức # 1 trong cả hai năm. Với sự khôn ngoan bẩm sinh, nàng đáp: “Em đoán sở dĩ như thế là vì dân sự của chúng ta có nhiều sự giận và cay đắng”.
Hết thảy chúng ta đều phấn đấu với những mối quan hệ tan vỡ, với hạng người gây tổn thương chúng ta, với những lời lẽ gây đau lòng, với những hành vi dối gạt, với những người bạn xây lưng nghịch cùng chúng ta, và với lời lẽ không tử tế đã nói về chúng ta hay về những người thân yêu của chúng ta.
Kẻ làm cớ buồn rầu
Hai việc sau đây dường như rất thực về tình trạng của con người: Chúng ta luôn cần sự tha thứ và chúng ta luôn có ai đó chúng ta cần phải tha thứ. Chính ở chỗ nầy mà II Côrinhtô 2:5-11 tỏ ra rất thích đáng. Trong tiểu đoạn nầy, Phaolô thách thức các Cơ đốc nhân tại thành Côrinhtô nên chìa tay ra và tha thứ một người trong hội chúng, là kẻ đã phạm tội. Người ấy đôi khi được gọi là “kẻ làm cớ buồn rầu". Chúng ta không biết chính xác người ấy là ai hay chính xác người ấy đã làm gì, song việc ấy nhất định là xấu xa rồi. Về mặt lịch sử, những nhà giải kinh đã nối tiểu đoạn nầy với người mà Phaolô đã nhắc tới ở I Côrinhtô 5, là người đã ngủ với vợ của cha mình (rõ ràng có nghĩa là mẹ kế của người ấy). Còn tệ hại hơn nữa, Hội Thánh đang khoe khoang, với “ân điển” của Hội Thánh, họ đã cho phép người nầy cứ ở lại trong Hội Thánh. Phaolô căn dặn họ phải đến với nhau như một hội chúng và gạt người kia ra khỏi Hội Thánh, nghĩa là phải dứt phép thông công, cắt đứt mối tương giao Cơ đốc, người ấy phải đạt tới chỗ ăn năn. Nếu đấy là người trong nhận định ở II Côrinhtô 2, thì sự dứt phép thông công rõ ràng đã tác động vì người kia biết ăn năn và quay trở lại với Hội Thánh, nhưng hội chúng đã từ chối không nhận người trở lại. Và đấy chính là bối cảnh.
Thêm nhiều nhà giải kinh mới đây nói rằng nhân vật được nhắc tới ở I Côrinhtô 5, thay vì thế là một người khác, là kẻ lãnh đạo cuộc nổi loạn chống lại Sứ đồ Phaolô, hắn xưng rằng hắn không phải là sứ đồ “thật”, đang gây chia rẻ trong Hội Thánh và tạo ra sự tổn hại rất lớn. Phaolô đã viết thư cho Hội Thánh, nói cho họ biết phải loại bỏ người ấy ra. Họ đã làm theo y như thế, và rõ ràng hắn đã biết nhận thức và muốn được phục hồi. Vì thế, Phaolô viết thư để nói cho Hội Thánh biết rằng kẻ làm cớ buồn rầu đã chịu khổ đủ rồi và họ cần phải tha thứ cho người ấy để hắn sẽ không hoàn toàn bị ngã lòng.
Vì sự dạy cũng là một dù cho viễn cảnh như thế nào thì không thành vấn đề.
Có khi chúng ta phải sử sụng một hành động mạnh mẽ chống lại ai đó đang phạm tội.
Khi chúng ta làm thế, chúng ta phải bằng lòng tha thứ cho họ sau đó.
Đâu là điều khó hơn?
Xét đoán tội lỗi hay tha tội?
Chiếm lấy vị trí chống lại hành vi phạm tội ư?
Hay tin một người thực sự đã thay đổi đường lối của người ấy?
Đối với tôi dường như cả hai đều khó tương đương nhau nhưng với những phương thức khác biệt. Cả hai đều đòi hỏi sự dạn dĩ, khôn ngoan và yêu thương. Và chúng ta cần Đức Thánh Linh để chỉ cho chúng ta thấy con đường ở trước mặt.
Khi chúng ta nghiên cứu tiểu đoạn Kinh Thánh nầy, chúng ta hãy lưu ý 5 lợi ích của sự tha thứ:
1. Sự tha thứ tỏ ra ơn thương xót của Đức Chúa Trời.
Tiểu đoạn bắt đầu bằng cách nói tới sự thích nghi của Hội Thánh trong phần kỷ luật (các câu 5-6). Mọi điều họ đã thực thi rồi là rất đủ. Bằng cách gạt kẻ làm cớ buồn rầu ra khỏi Hội Thánh, họ đã hành động với một tư thế ngay thẳng. Nhưng kế đó thì bạn làm gì nữa vậy? Làm sao bạn nhìn biết lúc nào đủ là đủ? Bậc phụ huynh phấn đấu với điều nầy khi họ kỷ luật đứa con khó dạy. Đứa trẻ phải cúi xuống đất không? Bị quở trách? Bị nhốt vào phòng? Bị đánh đòn? Bị buộc phải viết một bức thư hay đưa ra một lời xin lỗi? Nó có phải làm một sự đền bù nào đó không? Nó sẽ bị phạt bao lâu? Châm ngôn 27:6 nhắc cho chúng ta nhớ rằng: “Bạn hữu làm cho thương tích, ấy bởi lòng thành tín; Còn sự hôn hít của kẻ ghen ghét lấy làm giả ngụy". Khi chúng ta kỷ luật người chúng ta yêu thương, trước hết chúng ta bị coi là một kẻ thù chớ không phải là một người bạn, là loại người giống như bậc phụ huynh hay nói: “Điều nầy làm đau lòng ba còn hơn nó làm đau lòng con nữa đấy”. Khi bố mẹ tôi kỷ luật tôi, tôi thực sự không hề tin như thế, gần như thế vì tôi có khi rất láu lỉnh và có khi bất tuân không nghe lời. Hình phạt dường như không hề làm cho họ phải bối rối nhiều như nó gây tổn thương cho lòng tôi. Song tất nhiên tôi không phải là một người quan sát khách quan đâu!
Ở đây, chúng ta đến với một vấn đề đòi hỏi phải khéo léo, một vấn đề mà chẳng có câu trả lời nào tuyệt đối cho nó hết. Làm sao bạn nhìn biết lúc nào thì đủ cho hình phạt? Tôi nói vấn đề phải khéo léo vì hết thảy bậc phụ huynh đều hiểu rằng trẻ con rất khác biệt, và cái điều tác động với đứa nầy sẽ không tác động với đứa kia. Tôi đã nghe bậc phụ huynh nói về con cái của họ (thường là con trai): “Không một việc nào chúng tôi làm là nhằm nhò với nó hết”, và về mấy đứa trẻ khác (thường là con gái): “Mọi sự tôi đã làm là nhìn thẳng vào mặt nó và tấm lòng nó bị tan vỡ”. Vì vậy trong việc xử lý với những vấn đề nầy, chúng ta cần sự can đảm, khéo léo, ân điển và khôn ngoan.
Phaolô muốn người thành Côrinhtô nhìn biết rằng những gì họ đã làm là đúng, nhưng bây giờ thời điểm đã đến để tha thứ và tiếp nhận người nầy quay trở lại bước vào mối tương giao của Hội Thánh. Sự tha thứ trong trường hợp ấy tỏ ra ơn thương xót của Đức Chúa Trời. Hãy xem lời lẽ của David ở Thi thiên 103:8-9.
“Đức Giê-hô-va có lòng thương xót, hay làm ơn, chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ. Ngài không bắt tội luôn luôn, cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời”
Có khi chúng ta nghĩ lầm rằng nếu chúng ta tha thứ, chúng ta sẽ dễ dãi với tội lỗi. Nhưng nếu Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta theo cách chúng ta đối xử với người khác, chúng ta sẽ chẳng được tha thứ chi hết. Có bao giờ bạn biết ai đó ưa tranh luận không? Hết thảy chúng ta đều biết rõ người nào thích lao vào tranh cãi vì họ quá giận dỗi. Đức Chúa Trời không thích hạng người ấy. Ngài bằng lòng kết thúc cuộc tranh cãi rồi tiếp đón chúng ta trở về quê hương. Có đôi lúc nan đề thực cho thấy chúng ta vẫn muốn giữ lấy việc chiến đấu với Ngài.
Chúng ta không hề giống với Đấng Christ được khi chúng ta tha thứ cho ai đó phạm tội nghịch cùng chúng ta.
2. Sự tha thứ phục hồi tội nhân.
Vì vậy, có nhiều lúc chúng ta sống y như người anh cả trong câu chuyện nói tới người con trai hoang đàng (Luca 15:11-32). Sâu lắng trong tội lỗi của người khác làm cho chúng ta ghê tởm đến độ chúng ta thực sự không muốn họ ăn năn. Sự tha thứ dường như quá rẻ rúng, quá nhanh, quá dễ dãi. Rốt lại, chúng ta là hạng người thi đấu bởi những luật lệ. Chúng ta không đòi sớm cơ nghiệp của mình, chúng ta không phung phí tài sản trong một “xứ xa”, và chúng ta chắc chắn không kết thúc trong việc dùng bữa với loài heo. Chúng ta không phải là hạng người lún sâu trong một mối hôn nhân tồi tệ. Con cái chúng ta không nhiễm sâu vào ma túy. Chúng ta đã xây dựng đời sống của mình quanh Hội Thánh. Chúng ta là những Cơ đốc nhân nhơn đức, tin theo Kinh Thánh, chúng ta hay đi nhà thờ, có Giờ Tĩnh Nguyện, dâng phần mười, tham dự các chuyến hành trình truyền giáo, và chúng ta cầu nguyện mỗi ngày. Chúng ta không thích “mấy người kia”. Nếu bạn yêu cầu chúng tôi, chúng tôi hết thảy đều biết tha thứ chiếu theo nền tảng thần học. Nhưng khi sự việc xảy đến với ai đó chúng tôi biết rõ và dù chúng tôi tin tưởng, người ấy đánh hạ chúng tôi xuống hay gây tổn thương chúng tôi thật sâu sắc, chúng tôi không mau mắn tha thứ đâu. Thành thực mà nói, chúng tôi nghĩ chúng tôi sống tốt hơn gã đó, là kẻ đưa ra mọi sự lựa chọn ngu xuẫn ấy. Tại sao chúng tôi phải muốn hắn ta trở lại với Hội Thánh chứ?
Chúng ta hiểu biết ân điển của Đức Chúa Trời ít ỏi là dường nào.
Chúng ta hiểu biết về bản thân mình ít ỏi là dường nào.
Khi chúng ta đọc câu chuyện nói tới người con trai hoang đàng, chúng ta phải thắc mắc: “Ai là kẻ tệ nhất chứ? Người con đã ra đi rồi trở lại ư? Hay người con chưa hề ra đi nhưng không muốn tha thứ cho em mình, là đứa đã ra đi?” Ổ phần cuối, dường như câu chuyện cho thấy người anh là tệ hại nhất vì anh ta không đặt mình vào sự vui mừng khi đứa em trở về.
Trong bài giảng của ông về tiểu đoạn Kinh Thánh nầy, Mục sư Robert Rayburn nói rằng khi chúng ta thấy ai đó bị sửa phạt vì tội lỗi của họ, chúng ta cần phải nhớ rằng chúng ta cũng là hạng tội nhân trầm trọng nữa đấy. Chúng ta nên nói với lòng mình theo cách nầy:
“Tôi là người ấy. Tôi là người ấy với cả ngàn phương thức. Tôi đã giết nhiều người nam người nữ ở trong lòng mình. Tôi đã đánh mất tên tuổi và danh tiếng của họ trong những vụ việc mà tôi suy nghĩ và đã nói về họ. Và những gì tôi đã làm đang chống nghịch lại nhiều người nam người nữ, tôi đã làm và đã phạm nhiều việc tệ hại hơn nghịch lại Đức Chúa Trời. Và, nếu tôi thực sự chưa hề phạm tội giết người hay trộm cướp, phải, tôi biết lòng tôi đủ để rõ rằng có nhiều việc phải làm với mọi hoàn cảnh trong cuộc sống của tôi hơn là phải làm với bất kỳ phẩm hạnh nào ở trong tôi. Với một sự dạy khác biệt, với một loạt những thử thách khác biệt, những gì tôi đã làm và những gì tôi không làm?”
Nếu chẳng có hy vọng nào về sự tha thứ cho tội nhân tệ lậu nhất trong số tội nhân, thế thì chẳng có hy vọng gì cho bất kỳ ai trong chúng ta. Sự tha thứ thật phục hồi lại tội nhân. Hãy nhìn vào cách Phaolô nói tới ơn ấy ở các câu 7-8:
“thà nay anh em tha thứ yên ủi, hầu cho người khỏi bị sa ngã vì sự buồn rầu quá lớn. Vậy tôi xin anh em hãy bày tỏ lòng yêu thương đối với người đó”.
Đồng thời, hãy chú ý một sự việc rất quan trọng. Ông không kể tên người đã dính dáng đến cũng chẳng nói tới loại tội lỗi đặc biệt đó. Đấy là điểm rất hay. Một lý do chúng ta bàn bạc tiểu đoạn Kinh Thánh nầy, ấy là Phaolô bung ra lời bình của ông không có ý chồng chất thêm trên cái đống xấu hổ kia. Người thành Côrinhtô vốn biết rõ Phaolô đang nói tới ai và đấy là vấn đề. Kỷ luật và sự tha thứ của chúng ta cần phải được tôi luyện bởi một ước muốn không bôi nhọ tiếng tăm của ai đó không cần thiết. Trong thời đại truyền thông mau mắn nầy, Facebook và Twitter và nhắn tin ngay tức khắc, khi chúng ta dán điều chi lên YouTube cho cả thế giới xem, chúng ta cần phải mau mau chạy theo tấm gương của Phaolô:
Yêu thương không bôi nhọ ai.
Yêu thương không sỉ nhục người khác.
Yêu thương che đậy muôn vàn tội lỗi.
Tôi được nhắc nhớ về một dòng từ bài hát: “Họ sẽ nhìn biết chúng ta là Cơ đốc nhân bởi tình yêu thương của chúng ta” nghĩa là: “Chúng ta sẽ xem trọng mỗi người và bảo lưu lòng tự hào của mỗi người". Đấy chính xác là điều Phaolô đang nói ở đây. Và đấy là những gì chúng ta phải làm khi chúng ta kỷ luật và khi chúng ta tha thứ. Hãy noi theo con đường thương xót, chớ không phải báo thù.
3. Sự tha thứ chứng tỏ thái độ vâng phục.
Hãy xem thể nào Phaolô đặt vấn đề nầy vào câu 9: “Bởi chưng tôi viết thơ cho anh em, cốt để thử anh em xem có vâng lời trong cả mọi sự cùng chăng".
Một lần nữa, điều nầy có hai mặt.
Bạn sẽ vâng theo khi bị kỷ luật không?
Bạn sẽ vâng theo khi hiến sự tha thứ không?
Trong trường hợp nầy, sự tha thứ minh chứng tính chân thành của đức tin Cơ đốc của chúng ta. Bạn có yêu thương đủ để tha thứ khi kỷ luật dẫn tới sự ăn năn? Điều nầy có thể là khó mà làm theo lắm, đặc biệt nếu người kia gây tổn thương nhiều cho chúng ta hoặc nếu người ấy gây tổn thương những người chúng ta yêu dấu. Nhưng sẽ có một điểm lúc chúng ta thôi không đau đớn nữa rồi chìa tay ra với tình yêu thương của Đức Chúa Trời mà nói: “Ngươi được tha thứ trong danh của Chúa Jêsus”. Tôi không bao giờ quên được trường hợp của một thuộc viên Hội Thánh, người nầy đã phạm tội tà dâm thường xuyên trải qua một thời gian rất dài. Không một ai trong Hội Thánh biết sự thể ấy cho tới chừng tội lỗi lộ ra trong ánh sáng. Kết quả ấy đưa cấp lãnh đạo Hội Thánh đến chỗ thử nghiệm. Thế rồi người nầy ăn năn tội của mình. Vợ ông ta sẽ làm gì đây? Trong sự xét đoán của tôi, bà ấy đã có từng lý do để xin ly dị. Tội lỗi của ông ta quá hiển nhiên và cứ lặp đi lặp lại hoài. Nhiều bà vợ sẽ nói: “Tôi không còn tin tưởng ông nầy nữa”. Nhưng tôi nhớ lại lời lẽ của bà ấy, thốt ra nhẹ nhàng với sự tin chắc: “Nếu Đấng Christ đã tha thứ cho tôi vì nhiều tội lỗi của tôi, làm sao tôi không thể tha thứ cho ông ấy chứ?” Và đấy chính xác là những gì bà ấy đã làm. Tôi không biết khi nói như thế bà ấy sẽ phải trả giá nào, nhưng nói như thế thì chẳng dễ dàng chút nào. Quyết định tha thứ của bà ấy đã cứu lấy mối hôn nhân của họ khi nó rất dễ sắp kết thúc.
4. Sự tha thứ phản ảnh bổn tánh của Đấng Christ.
Năm lần [theo bản Anh ngữ] trong trong câu 10 Phaolô sử dụng từ ngữ “tha” hay “tha thứ”.
“Nhưng anh em tha thứ ai, thì tôi cũng tha thứ. Vả, nếu tôi đã tha, là vì anh em mà tha, ở trước mặt Đấng Christ”.
Ông đang nói: “Hết thảy chúng ta cùng nhau có mặt ở chỗ nầy – bạn, tôi và người nào phạm tội”. Hết thảy chúng ta đều đứng trong chỗ có cần đến ân điển của Đức Chúa Trời.
Người kia cần ơn tha thứ.
Bạn cần được tha thứ.
Tôi lấy làm vui sướng tha thứ cùng với bạn.
Có người cho rằng chìa khóa cho sự tha thứ là mẫu tự đứng ở giữa [theo tiếng Anh] – sự tha thứ. Sự tha thứ [forgiveness] là một ơn mà chúng ta ban ra cho người nào không đáng được ơn ấy. Chúng ta không tha thứ vì điều gì đó người ấy đã làm, và không phải vì sự ăn năn của họ đã “kiếm được” ơn tha thứ đâu. Khi bạn bị tổn thương sâu sắc, không một lượng ăn năn nào, bất luận sự ăn năn ấy có chân thành đến đâu đi nữa, có thể “kiếm được” ơn tha thứ. Bạn vẫn phải ban ơn ấy ra, dù là cách thế nào.
Chúng ta sẽ không sống theo phương thức nầy cho tới chừng chúng ta nắm bắt được cụm từ sau cùng của câu 10: "Tôi đã tha ở trước mặt Đấng Christ".
Chúng ta tha vì chúng ta đã được tha.
Chúng ta buông tha cho người khác vì Đấng Christ đã buông tha chúng ta khỏi mọi tội lỗi của mình.
Tình yêu thương che đậy mọi tội lỗi của họ vì tình yêu thương của Đấng Christ đã che đậy mọi tội lỗi của chúng ta.
Sự tha thứ luôn luôn tuôn chảy ra theo cách nầy:
Từ Đấng Christ đến với chúng ta đến với tha nhân.
Chúng ta làm cho tha nhân những điều Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta. Chúng ta đã được tha; chúng ta biết rõ được tha là giống với điều gì rồi. Bây giờ hãy làm y như thế cho tha nhân. Chúng ta không bị bỏ lại để lấy làm lạ tha thứ cho kẻ làm tổn thương chúng ta có ý nghĩa như thế nào đâu.
Bạn không thể hiểu được tình yêu thương của Đức Chúa Trời trừ phi bạn bước lên thập tự giá.
Bạn không thể hiểu được thập tự giá trừ phi bạn nhìn xem nó bằng tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
Tội giết chóc của con người trở thành của lễ của Đức Chúa Trời. Một tội ác cực kỳ độc địa đã trả một món nợ không thể trả nổi. Qua sự chết của một người vô tội, chúng ta kẻ phạm tội được buông tha. Nếu chúng ta có mặt ở đó, mùi hôi thối của sự chết sẽ phỉ khắp chúng ta, nhưng thập tự giá được ngửi thơm tho đối với Đức Chúa Cha. Công tác cứu rỗi sau cùng đã hoàn tất.
Hãy nhìn xem, từ đầu của Ngài, hai bàn tay, hai bàn chân của Ngài. Buồn rầu và yêu thương pha trộn nhau mà tuôn chảy! Tình yêu thương và sự buồn rầu ấy gặp nhau, hay chiếc mão gai tạo ra mão triều thiên phong phú như thế?
Nếu bạn muốn biết tình yêu giống với điều gì, hãy đi đến đồi Gôgôtha rồi nhướng mắt mình nhìn vào nhân vật bị treo trên thập tự giá ở giữa kìa. Hãy học hỏi Ngài đã làm gì và bạn sẽ nhìn biết tình yêu chân thật.
Thế rồi, hãy bước đi và làm cho tha nhân những gì Đức Chúa Trời đã làm cho bạn.
5. Sự tha thứ ngăn trở mọi kế hoạch của Satan.
Phaolô kết thúc lời kêu gọi của ông bằng cách nhắc cho độc giả của mình nhớ tới cái giá cao của sự tha thứ. Chúng ta tha thứ “hầu đừng để cho quỉ Satan thắng chúng ta. Vì chúng ta chẳng phải là không biết mưu chước nó" (câu 11). Từ ngữ “mưu chước” nói tới một chiến lược quân sự. Nó có ý tưởng chỉ ra một lực lượng đặc công kẻ thù dưới sự che chở của bóng đêm lẫn trốn ở đàng sau phòng tuyến của chúng ta rồi dựng lên một căn cứ địa ở đó. Vì chúng ta đang say ngủ, chúng ta không hề nhìn thấy lực lượng ấy đang tới đến. Và đấy chính xác là những gì đã xảy ra cho nhiều Cơ đốc nhân. Sự chúng ta không tha thứ đã để cho Satan dựng lên một “căn cứ địa” trong tấm lòng chúng ta. Thậm chí chúng ta không biết điều gì đang diễn ra nữa, nhưng Satan (kẻ khủng bố thuộc linh) đang tấn công chúng ta khi chúng ta ít mong đợi nhất.
Chúng ta ươm giận không lý do.
Chúng ta mau phê phán quá.
Chúng ta tránh không trao đổi với những người nhất định nào đó.
Chúng ta trưởng dưỡng một nạn nhân trong lý trí.
Chúng ta nói xấu những kẻ làm tổn thương chúng ta.
Chúng ta đâm thẳng vào hạng người vô tội.
Chúng ta nói ra những việc không tử tế và rồi cười nhạo nó.
Chúng ta từ chối không chịu gặp gỡ với một số người nhất định.
Chúng ta suy nghĩ tới “hạng người ấy” cả đêm lẫn ngày.
Chúng ta bị sự cay đắng thiêu nuốt.
Chúng ta biết điều chi là sai nhưng chúng ta không thể chỉ ngón tay mình vào đó.
Sự thể giống như bị cơn sốt rét cấp thấp mà bạn lại cảm thấy quá tồi tệ, tuy chẳng phải bịnh hoạn đủ để khám bác sĩ. Bạn đang đau khổ chỉ vì bạn vẫn có thể hoạt động được, bạn có thái độ rùn vai coi thường, tánh mau nóng và cái lưỡi nhọn hoắc của bạn.
Satan đã thắng lúc ban ngày và bạn thậm chí không biết đến. Cho tới chừng nào bạn xử lý với “căn cứ địa” cay đắng kia, bạn sẽ cứ mãi đau khổ thôi. Và hầu hết mọi người sẽ chọn không đứng ở quanh bạn.
Có lẽ khi chúng ta sửa soạn bước vào năm 2010, bạn nên nhận ra một sự cay đắng, một sự buồn giận, một số vấn đề chưa giải quyết được mà bạn cần phải xử lý với để gạt bỏ “căn cứ địa” của Satan trong đời sống của bạn. Bất luận Chúa tỏ ra cho bạn điều gì, hãy xử lý nó. Hãy xử lý nó đi!
Khi chúng ta đến với phần kết thúc, tôi muốn chỉ ra lòng thương xót của Phaolô không những dành cho người nầy (bất luận người là ai) mà còn dành cho Hội Thánh Côrinhtô nữa. Mặc dù người nầy đã phạm tội rõ ràng chống nghịch Phaolô, ông chẳng tìm cách báo thù. Ông không gọi đích danh ai hết. Ông không nói: “Tôi sung sướng khi anh em lìa bỏ gã ấy”. Thay vì thế, ông nói: “Tôi tha thứ cho người ấy giống như anh em tha thứ cho người để Satan không dựng được căn cứ địa trong Hội Thánh". Đây là sự trưởng thành Cơ đốc thật đang tác động. Mối quan tâm của Phaolô không phải vì tiếng tăm của ông đâu. Ông chỉ muốn Hội Thánh tấn tới về mặt thuộc linh và trở nên giống như Đấng Christ.
Sự tha thứ là phương thuốc của Đức Chúa Trời dành cho một tấm lòng tan vỡ. Sự tha thứ chữa lành những vết thương sâu đậm nhất. Sự tha thứ chỉnh sửa lại những gì ma quỉ đã tàn hại. Sự tha thứ mở ra cánh cửa thậm chí cho những ơn phước lớn lao hơn.
Những người tha thứ mau mắn
Ồ, chúng ta nên trở thành hạng người luôn tha thứ. Ồ, chúng ta nên trở thành “những người tha thứ mau mắn”. Ồ, nguyện tình yêu của Đấng Christ đầy dẫy tấm lòng chúng ta để chúng ta là những kẻ đã được tha thứ, chúng ta sẽ rời rộng tha thứ cho những ai phạm tội nghịch cùng chúng ta.
Nhưng bạn nói: “Tôi không thể làm thế được. Ông không biết họ đã làm gì cho tôi đâu”. Sẽ ra sao nếu Đức Chúa Trời đối xử với bạn y như bạn đối xử với người khác? Bạn đã bị bỏ trong địa ngục rồi.
Sẽ ra sao nếu Đức Chúa Trời không tử tế giống như bạn vậy? Sẽ ra sao nếu Ngài cứ mãi giữ bản ghi chép về mọi tội lỗi của bạn chứ? Bạn sẽ không được tới gần thiên đàng cở hàng triệu dặm đấy.
“Tôi sẽ không xử tệ hắn y như hắn đã xử tệ với tôi”. Sẽ ra sao nếu Đức Chúa Trời nói thế về bạn?
“Tôi không biết mình phải đi bao xa nữa?” Chỉ đi bao xa Chúa Jêsus đã đi vì bạn thôi.
Tôi bắt đầu sứ điệp nầy bằng cách nói tới Ngày Xí Xóa. Người dân trong thành phố Nữu Ước nói rất hay nhưng cái điều tốt nhứt họ có thể ban hiến là tự cải thiện bằng cách băm nhỏ sự buồn rầu của bạn. Cơ đốc giáo còn đi xa hơn và sâu hơn vì nó căn cứ vào mọi sự mà Đấng Christ đã làm cho chúng ta. Sau khi được tha thứ nhiều như thế, với một giá rất lớn như thế, lẽ nào chúng ta không tha thứ cho những kẻ đã làm cớ buồn rầu cho chúng ta? Sự tha thứ dù buộc chúng ta phải trả giá nào (và có khi nó buộc chúng ta phải trả giá bằng cách xử sự rất thâm thúy nữa kìa), có khi nó không buộc chúng ta trả giá với cái giá mà Chúa Jêsus trả khi Ngài bị treo trên thập tự giá, Con của Đức Chúa Trời đã chịu chết vì tội lỗi của một dòng dõi loạn nghịch, Ngài kêu lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Luca 23:34).
Nguyện chúng ta biến năm 2010 thành một Năm Xí Xóa, trong đó chúng ta nói vĩnh biệt với buồn giận, cay đắng, đổ thừa, chỉ tay, tự xưng công bình và một tinh thần phê phán, rồi cầu xin Đức Chúa Trời ưng ban cho chúng ta một bổn tánh tươi mới đầy ân điển Ngài trong mọi mối quan hệ của chúng ta.
Nhờ thế chúng ta mới có thể trở nên giống như Chúa Jêsus trong năm sắp đến, đầy dẫy ân điển và lẽ thật, dư dật trong ơn thương xót và mau tha thứ. Lạy Chúa Jêsus, xin buông tha cho chúng con đừng bị buồn giận gậm nhấm nữa để tình yêu của Ngài sẽ tuôn tràn từ chúng con sang một thế giới đang bị tổn thương. Xin dạy chúng con biết tha thứ giống như chúng con đã được tha thứ vậy. Amen.

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

5 Điều Quyết Tâm Đầu Năm... ...Dành Cho Cấp Lãnh Đạo Cơ Đốc



5 Điều Quyết Tâm Đầu Năm... ...Dành Cho Cấp Lãnh Đạo Cơ Đốc

Mục sư Rick Warren

Một trong những Phước Lành của Chúa Jêsus thường bị nhiều người hiểu sai có thể là một phước lành quan trọng nhất mà bạn cần nắm lấy trong năm 2010: “Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!” (Mathiơ 5:5). Chng ta phải thnh thật. Nghe thì thật l buồn cười đấy. Bạn nghĩ muốn hưởng được đất trước tiên bạn phải qua mặt được nhiều người khác. Nhưng chúng ta đ đánh mất ý nghĩa thật về sự nhu mì. Nhu mì khơng cĩ nghĩa là yếu đuối. Chúa Jêsus và Môise được mô tả là nhu mì, v chắc chắn họ l sao đó chớ không phải yếu đuối. Nhu mì thực sự cĩ ý nĩi tới sức mạnh được đặt dưới sự kềm chế. Từ ngữ nhu mì trong tiếng Hylạp đề cập tới một con ngựa hoang đ được thuần hóa hay một món thuốc có thể chế ngự một cơn sốt rét vậy. Sức mạnh chịu sự kềm chế l một phẩm chất quan trọng của bất kỳ một nh lnh đạo Cơ đốc nào. Một nhà lnh đạo nào (nam hay nữ) không thể kềm chế được sức mạnh của mình khơng thể no lnh đạo người khác làm giống như mình được. Đây là 5 phương thức giúp cho sức mạnh của bạn chịu sự kềm chế trong năm 2010. 1. Khi có ai phục vụ bạn, phải thông cảm, đừng địi hỏi. Philíp 2:4-5 chp: “Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khc nữa. Hy cĩ đồng một tâm tình như Đấng Christ đ cĩ”. Hàng ngày, chúng ta thường tương tác với những người phục vụ chúng ta. Thí dụ với người bồi bàn, thư ký, nhn vin bn hng, người thu ngân, và những người dọn thức ăn nhanh. Một trong những dấu hiệu tốt nhứt của một lnh đạo Cơ đốc, ấy là biết đối xử với những người đó bằng thái độ lịch sự và tôn trọng. Bạn có thông cảm họ hoặc là có những địi hỏi qu mức khơng? Bạn cĩ địi gặp vin quản lý của họ mỗi lần cĩ gì sai trật trong việc đáp ứng lệnh đặt hàng của bạn? Hay là bạn phản ứng với thái độ đầy ân điển? Cc cấp lnh đạo giỏi không được đánh giá bằng cách người khác phục vụ họ, mà bằng cách họ phục vụ người khác. Thật là dễ đáp ứng với người phục vụ bạn bằng tinh thần địi hỏi v chỉ trích. Chúng ta được kêu gọi để làm ngược lại. Sự tha thứ phải mau mắn. Lịng tơn trọng phải l qui luật bạn sống theo 2. Khi có ai đó làm cho bạn thất vọng, hy cư xử tử tế và đừng xét đoán. Phaolơ cho chng ta biết ở Rơma 14:1 – “Hy bằng lịng tiếp lấy kẻ km đức tin, chớ ci lẫy về sự nghi ngờ”. Phước hạnh đến khi bạn có thể chấp nhận người khác y như con người họ vốn là vậy. Đừng bắt buộc người khác phải đạt tới tiêu chuẩn nhất định nào đó mới được bạn yêu thương. Quí Mục sư ơi, ông phản ứng thế nào khi có ai đó thất bại nặng trong cuộc sống? Có phải ông là người đầu tiên tỏ ra sự xét đoán và phê phán không? Đây là một chi tiết rất đáng buồn. Nhiều người trong chúng ta lấy làm vui cách kín đáo khi thấy những người khác bị thất bại, vì việc ấy khiến cho chng ta cảm thấy mình như một bậc vĩ nhân thuộc linh. Nhưng nhu mì cĩ ý nĩi bạn phải sống rất nhn từ v khơng xt đoán khi người ta làm cho bạn thất vọng. Cái điều làm cho Chúa Jêsus phải buồn lịng hơn bất cứ điều chi khác là hạng người có tôn giáo tự xem mình l cơng bình v luơn luơn xt đoán người khác. 3. Khi có ai đó bất đồng với bạn, phải mềm mại mà không nhượng bộ. Là Mục sư, có lẽ lúc nầy ông đ nhận ra rằng mình khơng thể lm cho mọi người trong cuộc sống được vừa lịng. Ngay khi ơng cĩ thể lm cho Nhĩm A hi lịng, thì Nhĩm B bị bực tức. Pht trước ông là anh hùng; phút kế đó ông là con số 0. Chúng ta phải mềm mại song không nhượng bộ. Một trong những thử nghiệm quan trọng nhất về sự trưởng thành thuộc linh là cách ông vận dụng được những người bất đồng với ông, mâu thuẫn với ông, và chọc tức ông. Ông có ba cách ứng xử để chọn: Ơng cĩ thể lui lại trong lo sợ. Ơng cĩ thể tấn cơng với sự giận dữ. Ông có thể đáp ứng trong tình yu thương. Nhu mì khơng cĩ nghĩa l đem những điều mình tin chắc ra m thỏa hiệp. Đừng thụ động và luôn chìu theo đường lối của người khác. Đấy chẳng phải là nhu mì; đó là sự yếu đuối. Ông cũng không cần phản ứng trong sự giận dữ. Đừng nổi sung thiên khi có ai đó bất đồng với ông. Ý thứ ba luơn luơn l tốt nhứt. Kinh Thnh chp ở II Timơth 2:24-25 rằng nhu mì l một đức tính dành cho chức vụ lnh đạo thuộc linh: “Vả, tôi tớ của Chúa không nên ưa sự tranh cạnh...nhưng phải dùng cách mềm mại mà sửa dạy những kẻ chống trả, mong rằng Đức Chúa Trời ban cho họ sự ăn năn để nhìn biết lẽ thật”. Mục sư ơi, ông là người thế nào trong lnh vực nầy? Cĩ phải ơng thích tranh cạnh khơng? Chng ta cần phải mềm mại m dạy dỗ dn sự của mình v hy vọng Đức Chúa Trời sẽ thay đổi lịng họ. 4. Khi có ai đó đến chỉnh sửa ông, phải chịu sự dạy dỗ thay vì như người mà không ai có thể đến gần. Nhu mì l một tinh thần dễ dạy. Nhiều người trong chúng ta sử dụng đời sống mình lo dạy dỗ người khác nhưng lại gặp khó khăn khi chính mình cần được sửa dạy. Điều đó thật đáng buồn. Các cấp lnh đạo Cơ đốc nhu mì khơng giả vờ như mình biết hết mọi sự. Họ biết rằng họ khơng cần phải như vậy đâu. Giacơ 1:19 chép: “Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận”. Mục sư ơi, chữ ‘người nào’ bao gồm luôn cả ông đấy. Khi có người từ hội chúng của ông đưa ra ý xy dựng cho ơng, ơng sẽ sử sự với việc ấy như thế nào? Có phải ông bồn chồn và tìm cch biện hộ? Hạng người nhu mì biết mình khơng cĩ tất cả những cu trả lời. Thật vậy, ông nên thận trọng với những kẻ nghĩ rằng họ có tất cả những giải đáp. Cấp lnh đạo nhu mì cũng cỡi mở trước những tư tưởng mới. Họ sẵn sàng thay đổi khi họ học được điều gì mới. 5. Khi có ai gây tổn thương cho ông, ông phải là một diễn vin (actor) thay vì l một phản lực vin (reactor). Ông sẽ bị tổn thương trong chức vụ. Đây chẳng phải là vấn đề “nếu”; đây là vấn đề “khi nào”. Cách ông phản ứng khi bị tổn thương sẽ tạo ra một sự khác biệt lớn lao trong chức vụ của ông. Rôma 12:21 chp: “Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hy lấy điều thiện thắng điều ác". Chng ta phải lấy tình yu thương đáp ứng với tổn thương, chớ không phải sự ăn miếng trả miếng. Trả đủa là phản ứng. Nhưng hy phản ứng bằng sự tha thứ, d khi đối phương không yêu cầu được thứ tha, nhờ đó bạn đ nắm lấy quyền chủ động. Khi có người nói: “Ông làm cho tôi phải nổi khùng lên!” họ đang nhìn nhận rằng người khác có quyền kiểm soát trên cảm xúc của chính họ. Đấy là một tình trạng yếu đuối – chớ không phải là nhu mì. Giy pht m ơng khởi sự tìm cch trả th, ơng đ đánh mất quyền điều khiển cuộc đời của mình rồi. Cha Jsus dạy rằng người nhu mì biết cch để cho sự việc ấy trôi qua. Cha Jsus muốn nĩi gì khi Ngi hứa: “Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất”? Người nhu mì l người kiểm soát được hoàn cảnh và không bị hoàn cảnh làm chủ trên họ. Nếu ông là một người nhu mì, ơng khơng cịn l một nạn nhn nữa đâu. Ông đang kiểm soát được những sự lựa chọn của mình. Victor Frankl, nh tm thần học nổi tiếng từng nếm trải trại tập trung Auchwitz đ nĩi: “Họ tước hết y phục của tôi, vợ con, và chiếc nhẫn cưới của tôi. Tôi đứng đó trần truồng trước những tên SS và tôi ý thức được rằng họ có thể tước hết mọi sự trong cuộc đời của tôi, nhưng họ không thể tước được quyền tự do lựa chọn cch m tơi phản ứng với họ”. Đấy là sự tự do thật. Ông cịn muốn gì hơn nữa trong năm 2010?

Thứ Ba, 27 tháng 7, 2010

Thi thiên 102.24-28; Giacơ 1.17; Hêbơrơ 6.16: "CÁI NEO CỦA LINH HỒN CHÚNG TA"



Chúng ta trông mong gì trong năm 2009?
CÁI NEO CỦA LINH HỒN CHÚNG TA
Thi thiên 102.24-28; Giacơ 1.17; Hêbơrơ 6.16
Ngợi khen Chúa vì cái neo của chúng ta . . .
Hêbơrơ 6.19: “Chúng ta giữ điều trông cậy nầy như cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn”.
PHẦN GIỚI THIỆU:
Khi chúng ta nhìn vào Năm Mới – chúng ta nên nhìn vào vài câu Kinh Thánh đang đặt ở trước mặt chúng ta . . ..
Êphêsô 5.16
Côlôse 4.5
Luca 18.1
Chúng ta nên CẦU NGUYỆN vì đây là thuốc giải cho tình trạng choáng ngộp.
Sáng nay chúng ta nhìn xem một số việc mà chúng ta có thể biết chắc … những việc không thay đổi.
Chúng ta đang sinh sống trong một thế giới từng hay thay đổi. Những việc thay đổi dường như có mấy lần và chỉ thoáng qua thôi. Chúng ta đã nhìn thấy những thay đổi trong nhiều lãnh vực. Lối sống của chúng ta đã thay đổi. Nền kinh tế của chúng ta đã thay đổi. Những thay đổi đang xảy ra ở kỷ thuật, y học, xã hội, thời trang và ngay cả tôn giáo đang xảy ra hàng ngày.
Khi chúng ta lớn tuổi hơn, mọi sự thay đổi nầy có thể khởi sự khiến cho cái đầu của chúng ta phải quay cuồng và chúng ta gặp phải rắc rối khi cứ nhìn thấy các đổi thay đó. Nhưng trong cái thế giới hay đổi thay nầy, có nhu cần về một cái neo nắm chặt lấy chúng ta hầu cho chúng ta không bị lắc lư đó đây bởi từng cơn gió của đạo lạc và mốt nhất thời phải qua đi.
Tuần vừa qua, chúng ta đã xem xét đề tài HY VỌNG – con người sống theo HY VỌNG – HY VỌNG càng chắc chắn chừng nào, con người sẽ sống tốt hơn chừng nấy. Cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng ta đang có cái neo đó! Hêbơrơ 6.19
Với mọi sự đổi thay đang diễn ra, tôi lấy làm vui khi có một số việc không hề và sẽ không bao giờ thay đổi! Chúng ta có thể trông mong chúng vẫn cứ y nguyên đấy.
Ngày hôm qua chúng thể nào và thậm chí trước đó nữa, chúng vẫn cứ y nguyên như thế cho ngày hôm nay! Và chúng vẫn sẽ y như thế cho ngày mai!
Chúng ta nhìn vào một số việc không bao giờ thay đổi.
1. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ VÀ SẼ KHÔNG THAY ĐỔI.
Thế gian thường hay thay đổi . . . thậm chí các tôn giáo làm thay đổi trọng tâm của sự thờ phượng và “các vì thần” của họ, nhưng Đức Chúa Trời của chúng ta đã và luôn luôn sẽ y nguyên như thế. Giacơ 1.17; Thi thiên 102.26; Malachi 3.6a; Hêbơrơ 13.8
Ngợi khen Chúa vì cái neo của chúng ta . . . Hêbơrơ 6.19
Vì Đức Chúa Trời đã và sẽ không thay đổi, nói như thế nghĩa là có một số việc khác đã và sẽ không thay đổi.
2. LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ VÀ SẼ KHÔNG THAY ĐỔI.
A. Ngôi Lời … sẽ KHÔNG HỀ thay đổi.
Mathiơ 24.35 (Mác 13.31)
Êsai 40.8
Thi thiên 119.89
I Phierơ 1.25
B. Lẽ thật … của KINH THÁNH sẽ không thay đổi. Giăng 17.17
Ngợi khen Chúa vì cái neo của chúng ta . . . Hêbơrơ 6.19
Vì Đức Chúa Trời đã và sẽ không thay đổi, nói như thế nghĩa là có một số việc khác đã và sẽ không thay đổi.
3. SỰ CỨU RỖI ĐÃ VÀ SẼ KHÔNG THAY ĐỔI.
A. Sự sống . . . là ĐỜI ĐỜI . . . thắc mắc thực sự là: bạn sẽ sống ở đâu?
Không những chúng ta là hạng tội nhân (Rôma 3.23) nhưng chúng ta đã thừa hưởng bản chất tội lỗi . . . tương tự thế, chúng ta cũng thừa hưởng ơn cứu rỗi. Rôma 5.18
Sự phán xét đưa kẻ bị hư mất đến với địa ngục . . . sự xưng công bình dẫn chúng ta lên thiên đàng. Rôma 6.23
B. Con đường . . . lên THIÊN ĐÀNG phải qua Đức Chúa Jêsus Christ. Giăng 14.6
Bạn không thể kiếm được cũng không mua con đường vào trong thiên đàng được . . . Êphêsô 2.8-9
C. Sự thực . . . CHÚA JÊSUS đã trả hết mọi phí tổn.
NGÀI đã gánh lấy món nợ tội lỗi của chúng ta, đã chịu chết và đã vào âm phủ, lên thập tự giá và chịu chết trong chỗ của chúng ta.
Ngài đã trả món nợ đó thay cho chúng ta và rồi hiến nó cho chúng ta như một món quà miễn phí. Giăng 3.18
D. Nhu cần . . . ĂN NĂN – phần bắt đầu.
Mathiơ 3.2
Mác 6.12
Luca 13.5
E. LỜI HỨA – Sự cứu rỗi đang sẵn có. Công Vụ các Sứ đồ 2.21
Ngợi khen Chúa vì cái neo của chúng ta . . . Hêbơrơ 6.19
LỜI MỜI GỌI:
Đức Chúa Trời không hề thay đổi và những việc thuộc về Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Câu hỏ chúng ta phải đưa ra là: “Là Cơ đốc nhân chúng ta có thay đổi không?” Chúng ta phải phấn đấu để được vững vàng trong sự chúng ta đồng đi với Ngài.
Nếu bạn bị hư mất hôm nay, nếu bạn hiện diện ở đây mà chưa có Chúa Jêsus làm Chúa và Cứu Chúa cho cá nhân mình thì hôm nay là ngày cho bạn được cứu đó.


Luca 18.1: "NHỮNG ĐIỀU PHẢI LÀM TRONG TỪNG TÌNH HUỐNG



“NĂM 2009: NHỮNG ĐIỀU PHẢI LÀM
TRONG TỪNG TÌNH HUỐNG
”
Luca 18.1
PHẦN GIỚI THIỆU: Quí bạn ơi, chúng ta sắp sửa bước vào một năm mới. Sẽ có những kinh nghiệm mới mà chúng ta sẽ gặp gỡ. Những nan đề mới sẽ phát sinh. Các thử thách mới sẽ đến trên đường lối của chúng ta. Nhiều việc sẽ xảy ra, có lẽ chúng ta không hề mơ tưởng cũng không nghĩ là sẽ có trên đời sống của chúng ta. Chúng ta sẽ thấy mình đưa ra thắc mắc nầy nhiều lần: “Tôi sẽ làm gì trong tình huống nầy?” Bạn ơi, chúng ta sẽ bị cám dỗ, thử thách, và gặp rắc rối. Satan sẽ tìm cách làm cho chúng ta sai lạc, làm cho chúng ta rơi vào cảnh rối rắm và điều khiển chúng ta. Tôi thích câu Charles Spurgeon đã nói: “Nếu con sư tử gầm rống kia liên tục tìm kiếm những ai nó có thể nuốt được tìm thấy chúng ta một mình giữa vườn nho của người Philitin, thì đâu là hy vọng của chúng ta? Không phải ở gót chân của chúng ta đâu, vì nó mau lẹ hơn chúng ta; không phải ở các thứ vũ khí của chúng ta đâu, vì chúng ta đương nhiên là chẳng có vũ trang rồi; không phải ở hai bàn tay chúng ta đâu, vì chúng rất yếu đuối và chẳng có sức đâu; mà ở nơi Thánh Linh của Đức Chúa Trời, bởi Ngài chúng ta có thể làm được mọi sự. Nếu Đức Chúa Trời đánh trận với chúng ta, thì ai có thể đương cự với chúng ta? Có một con sư tử mạnh mẽ hơn đang ở trong chúng ta, nó đang chống nghịch chúng ta” (PEARLS FROM MANY SEAS by J. B. McClure, editor. The Master Christian Library. Version 5. Copyright 1997. AGES Software. Albany, Or).
Đấy là lý do tại sao sáng nay tôi muốn để lại một câu Kinh Thánh sẽ giúp cho bạn trong từng tình huống bạn đối mặt với trong năm 2009. Đây là câu trả lời cho từng nan đề, từng quyết định, và từng tình huống bạn sẽ đối diện với trong Năm Mới nầy, và phần còn lại của những năm sống của bạn. Tôi không muốn bạn quên câu Kinh Thánh nầy vì bạn sẽ phải cần đến nó nhiều lần trong năm hầu đến. Luca 18.1 cho chúng ta biết: “Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ một thí dụ, để tỏ ra rằng phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt”. Tôi muốn bạn phải để ý cụm từ ở phần cuối của câu Kinh Thánh đó: “…để tỏ ra rằng phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt”. Quí bạn ơi, từ ngữ “phải” ở đây có ý nói “chịu bổn phận”. Bổn phận của chúng ta đối với Ngài là phải “luôn luôn cầu nguyện, chớ hề mỏi mệt”. Ngài là Cứu Chúa, Đấng Chữa Lành, Chúa vinh hiển, và là Vua của chúng ta, không bao lâu nữa Ngài sẽ tái lâm! Chúng ta phải nhìn xem Ngài trong từng tình huống và tin cậy Ngài khi Ngài đang lãnh đạo. Chúng ta không nên nhường bước cho tình trạng dửng dưng hay ngã lòng, một phải cầu nguyện không thôi và với sự bền bĩ.
Tôi muốn trình bày sáng nay về đề tài NĂM 2009: NHỮNG GÌ PHẢI LÀM TRONG TỪNG TÌNH HUỐNG. Hãy cùng tôi chú ý ba việc. Thứ nhứt…
(1) KHI BẠN CẦN VIỆC CHI — HÃY CẦU NGUYỆN (Luca 18.2-8a): “…Trong thành kia, có một quan án không kính sợ Đức Chúa Trời, không vị nể ai hết. Trong thành đó cũng có một người đàn bà góa, đến thưa quan rằng: Xin xét lẽ công bình cho tôi về kẻ nghịch cùng tôi. Quan ấy từ chối đã lâu. Nhưng kế đó, người tự nghĩ rằng: Dầu ta không kính sợ Đức Chúa Trời, không vị nể ai hết, song vì đàn bà góa nầy khuấy rầy ta, ta sẽ xét lẽ công bình cho nó, để nó không tới luôn làm nhức đầu ta. Đoạn, Chúa phán thêm rằng: Các ngươi có nghe lời quan án không công bình đó đã nói chăng? Vậy, có lẽ nào Đức Chúa Trời chẳng xét lẽ công bình cho những người đã được chọn, là kẻ đêm ngày kêu xin Ngài, mà lại chậm chạp đến cứu họ sao! Ta nói cùng các ngươi, Ngài sẽ vội vàng xét lẽ công bình cho họ”.
A. CÓ HY VỌNG CHO TỪNG NHU CẦN. Hy vọng là nhu cần của từng con người. Hy vọng là điều làm tỉnh thức tâm linh và trưởng dưỡng linh hồn của chúng ta. Hy vọng cung ứng cho chúng ta một mục đích và một triển vọng trong cuộc sống. Trong từng tình huống, chúng ta không đánh mất hy vọng hoặc là chúng ta sẽ suy yếu đi. Đấy là lý do tại sao Chúa Jêsus phán: “…phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt”. Người đàn bà góa cần sự cứu giúp, vì vậy bà ta cứ việc kêu xin. Có người cố làm cho bà ấy xiêu lòng đi, song bà ta vẫn một mực trong việc tìm kiếm sự cứu giúp. Quí bạn ơi, bạn đang cần gì thế? Có hy vọng cho từng tình huống.
 CÓ PHẢI BẠN ĐANG CẦN SỰ THƯƠNG XÓT GIỐNG NHƯ NGƯỜI THU THUẾ CHĂNG? Chúng ta đọc ở Luca 18.13-14: “Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên”. Chúa rất vui thích trong việc ban ra ơn thương xót. Thi thiên 86.5 cho chúng ta biết: “Chúa ôi! Chúa là thiện, sẵn tha thứ cho, Ban sự nhân từ dư dật cho những người kêu cầu cùng Chúa”.
 CÓ PHẢI BẠN ĐANG CẦN SỨC LỰC ĐỂ SỐNG ĐẸP LÒNG NGÀI CHĂNG? Chúa sẽ tiếp trợ cho bạn với sức lực bạn có cần để sống đẹp lòng Ngài. Êsai 40.29-31 cho chúng ta biết: “Ngài ban sức mạnh cho kẻ nhọc nhằn, thêm lực lượng cho kẻ chẳng có sức. Những kẻ trai trẻ cũng phải mòn mỏi mệt nhọc, người trai tráng cũng phải vấp ngã. Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi”.
 CÓ PHẢI BẠN CẦN SỰ BẢO HỘ KHÔNG? Bàn tay bảo hộ và sự chăm sóc quan phòng của Đức Chúa Trời luôn luôn hiện hữu ở đó vì chúng ta đấy. Ngài không hề lơ là đối với chúng ta. Thi thiên 34.6-7 chép: “Kẻ khốn cùng nầy có kêu cầu, Đức Giê-hô-va bèn nhậm lời người, giải cứu người khỏi các điều gian truân. Thiên sứ Đức Giê-hô-va đóng lại chung quanh những kẻ kính sợ Ngài, và giải cứu họ”. Kẻ khốn cùng nầy, là kẻ chẳng có ai nhìn tới với bất kỳ sự kính trọng nào, hoặc có chút ít quan tâm đến, tuy nhiên lại được hoan nghênh tại ngôi ân điển; Chúa sẽ nghe người, và giải cứu người ra khỏi mọi sự gian nan của người. Các thiên sứ thánh phục vụ cho hàng thánh đồ, và tranh chiến vì họ chống lại mọi thế lực của sự tối tăm. (MATTHEW HENRY’S COMMENTARY ON THE WHOLE BIBLE CONDENSED VERSION by Matthew Henry. The Master Christian Library. Version 5. Copyright 1997. AGES Software. Albany, Or).
 CÓ PHẢI BẠN CẦN NIỀM VUI MỪNG ĐƯỢC PHỤC HỒI KHI ĐƯỢC CỨU KHÔNG? Quí bạn ơi, có phải bạn đã mất đi sự bình an và niềm vui của sự cứu rỗi không? Bạn có kêu cầu Chúa giống như David kêu cầu ở Thi thiên 51.12: “Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa, dùng thần linh sẵn lòng mà nâng đỡ tôi” không? Bạn có mất đi ý thức về sự bình an và sự hiện diện của Chúa vì bạn đã phạm tội nghịch lại Ngài không? I Giăng 1.9 cho chúng ta biết: “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”. Sự ăn năn đem lại sự phục hồi và sự vui vẻ.
B. CÓ SỰ CỨU GIÚP CHO TỪNG NHU CẦN. Bất cứ nhu cần nào của bạn, có sự cứu giúp đang sẵn sàng trong Chúa. Phaolô đã viết trong Philíp 4.19: “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jêsus Christ”. Quí bạn ơi, Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ để cho bạn ở trong chỗ thiếu thốn mà chẳng giang tay cứu giúp cho bạn đâu. Đức Chúa Trời có thể không cung ứng cho bạn mọi sự thiếu thốn của bạn; nhưng Ngài sẽ cung ứng cho bạn mọi sự bạn có cần. Đường lối của Ngài là tốt nhứt; mọi câu trả lời của Ngài là đầy đủ nhất. KHI BẠN CẦN VIỆC GÌ — HÃY CẦU NGUYỆN nhưng cũng…
(2) KHI BẠN CHƯA THẤY CÂU TRẢ LỜI — HÃY CẦU NGUYỆN Côlôse 4.2: “Phải bền đổ và tỉnh thức trong sự cầu nguyện, mà thêm sự tạ ơn vào”.
A. MẠNG LỊNH. Phaolô đã nói ở đây: “Phải bền đổ trong sự cầu nguyện…”. Quí bạn ơi, chúng ta cần phải cầu nguyện về mọi sự. Chẳng có một thuộc tính nào khác được đưa ra ở đây. Kinh Thánh không nói: “Nếu ngươi chưa thấy câu trả lời nào, hãy thôi đừng cầu nguyện nữa”. Người đàn bà góa trong thí dụ của Chúa Jêsus cứ giữ việc đến với quan án bất công kia dù ông ta trì trệ trong việc xét đoán của mình. Sự sốt sắng của người đàn bà góa đó đã thắng hơn, ngay cả với vị quan án bất công … sự cầu nguyện sốt sắng của chúng ta đang làm đẹp lòng đối với Đức Chúa Trời của chúng ta. (MATTHEW HENRY’S COMMENTARY ON THE WHOLE BIBLE CONDENSED VERSION by Matthew Henry. The Master Christian Library. Version 5. Copyright 1997. AGES Software. Albany, Or).
B. SỰ THÁCH THỨC. Câu nầy không những chỉ ra một mạng lịnh. “Phải bền đỗ trong sự cầu nguyện”, mà còn là một thách thức nữa: “mà thêm sự tạ ơn vào”. Câu nầy có ý nói: “phải luôn luôn tỉnh thức” và “phải biết ơn”. Quí bạn ơi, chúng ta chưa cầu nguyện đủ đâu. Và buồn thay, nhiều lần những lời cầu nguyện chúng ta trình lên rất yếu đuối và không có giá trị. Có khi Đức Chúa Trời trả lời cho những lời cầu nguyện của chúng ta ngay lập tức.
 ÊLI ĐÃ CẦU NGUYỆN VÀ LỬA GIÁNG XUỐNG TỪ TRỜI. Êli đã cầu nguyện trong I Các Vua 18.37-38 và Đức Chúa Trời đã đáp lời: “Đức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho dân sự này nhìn biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở lại. Lửa của Đức Giê-hô-va bèn giáng xuống, thiêu đốt của lễ thiêu, củi, đá, bụi, và rút nước trong mương”.
 HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN ĐÃ CẦU NGUYỆN VÀ PHIERƠ ĐÃ RA KHỎI NHÀ TÙ. Chúng ta đọc ở Công Vụ các Sứ đồ 12.5, 7-8: “Vậy, Phi-e-rơ bị cầm trong khám, còn Hội thánh cứ cầu nguyện Đức Chúa Trời cho người luôn … Thình lình, một thiên sứ của Chúa đến, và có ánh sáng soi trong ngục tối. Thiên sứ đập vào sường Phi-e-rơ, đánh thức người, mà rằng: Hãy mau chờ dậy. Xiềng bèn rớt ra khỏi tay người. Kế đó, thiên sứ nói rằng: Hãy nịt lưng và mang dép vào đi. Phi-e-rơ làm theo. Thiên sứ lại tiếp: Hãy mặc áo ngoài và theo ta”.
Có khi, những câu trả lời của Đức Chúa Trời hầu như đến ngay sau khi chúng ta cầu nguyện. Nhưng có khi những câu trả lời của Ngài rất chậm đến. CHÚNG TA phải nhớ rằng những sự chậm trễ của Đức Chúa Trời không nhất thiết là Đức Chúa Trời chối bỏ đâu. Tại sao Ngài chậm trễ chứ?
 CÓ THỂ ĐỂ THỬ ĐỨC TIN CỦA CHÚNG TA.
 CÓ THỂ ĐỂ BAN CHO CHÚNG TA VIỆC CHI ĐÓ TỐT HƠN ĐIỀU CHÚNG TA CẦU XIN.
 CÓ THỂ DẠY CHO CHÚNG TA MỘT BÀI HỌC NÀO ĐÓ.
Sự thách thức, ấy là phải “tỉnh thức trong sự cầu nguyện, mà thêm sự tạ ơn vào”, ngay cả khi Đức Chúa Trời chậm trễ và bạn chưa thấy rõ ràng câu trả lời nào. KHI BẠN CẦN VIỆC CHI — HÃY CẦU NGUYỆN, KHI BẠN CHƯA NHÌN THẤY CÂU TRẢ LỜI — HÃY CẦU NGUYỆN, rồi sau cùng …
(3) KHI BẠN CẢM THẤY NHƯ MUỐN THỐI LUI — HÃY CẦU NGUYỆN I CÔRINHTÔ 16.13: “Anh em hãy tỉnh thức, hãy vững vàng trong đức tin, hãy dốc chí trượng phu và mạnh mẽ”.
A. MỘT KẺ THÙ ĐẦY QUYỀN LỰC. Quí bạn ơi, Satan đang đánh trận với chúng ta từng bước trên đường. Khát khao của hắn, ấy là chúng ta phải thối lui trong ngã lòng. Khi mọi việc tỏ ra rối rắm, điều ma quỉ mong muốn nơi chúng ta là phải thối lui. Chúng ta không cần phải thối lui, nhưng Phaolô nói cho chúng ta biết ở đây, phải “…vững vàng trong đức tin, hãy dốc chí trượng phu và mạnh mẽ”. Cầu nguyện là thứ vũ khí quan trọng nhất chúng ta có nghịch lại Satan. Satan run sợ khi những thánh đồ yếu đuối đang quì gối cầu nguyện. Giacơ 4.8
B. MỘT THÁI ĐỘ BỀN ĐỖ. Quan điểm của bạn sẽ quyết định kết quả của bạn. Nếu bạn có một thái độ bền đỗ, bạn sẽ cứ giữ sự cầu nguyện, làm việc, và phục vụ bất chấp những khó khăn. Quí bạn ơi, đừng bỏ cuộc. Có người nói: “Bạn không bị đánh bại bao lâu bạn còn cố gắng”. Hãy nói câu ấy với Chúa trước khi thối lui. Ngài có thể và sẽ khích lệ bạn cứ tiếp tục.
PHẦN KẾT LUẬN: NĂM 2009: NHỮNG GÌ PHẢI LÀM TRONG TỪNG TÌNH HUỐNG:
1) KHI BẠN CẦN VIỆC GÌ — HÃY CẦU NGUYỆN
2) KHI BẠN CHƯA THẤY CÂU TRẢ LỜI — HÃY CẦU NGUYỆN
3) KHI BẠN CẢM THẤY MUỐN THỐI LUI — HÃY CẦU NGUYỆN
Quí bạn ơi, liệu bạn sẽ cam kết cầu nguyện nhiều trong năm 2009 chăng!?!

Sáng thế ký 1.1: "Bắt đầu ở chỗ ban đầu – Thực tại của Đức Chúa Trời"



Bắt đầu ở chỗ ban đầu – Thực tại của Đức Chúa Trời
Sáng thế ký 1.1

Chúng ta vừa hoàn tất một loạt sứ điệp nói tới. Những lời loan báo của thiên sứ. nói tới sự ra đời của Cứu Chúa chúng ta và kết quả: Đức Chúa Trời được tôn vinh hiển.
[Bảng gia phổ của Đấng Christ]
 Mathiơ khởi sự với Ápraham và trải cho tới David;
 Mác chẳng có bảng gia phổ nào, vì ông đang viết về. Tôi tớ của Đức Chúa Trời. và chẳng ai thấy thú vị gì nơi tổ phụ của một tôi tớ.
 Luca cung ứng một bảng gia phổ, nhưng ông trải ngược về Ađam vì ông mô tả Chúa Jêsus là Con Người.
 Giăng cũng có một bảng gia phổ – một Đấng tự hằng hữu
Cả Cựu và Tân Ước đều đưa ra cùng một loại phát biểu quan trọng. nói tới thực tại của Đức Chúa Trời – Sáng thế ký 1.1. “Ban đầu Đức Chúa Trời…. – Giăng 1.1-2. “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời, Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời”.
Bạn có thể chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời không?
Tôi tin bạn có thể chứng minh vì sự dính dáng của Ngài vào sự sáng tạo – đấy là những gì chúng ta có thể nói tới trong vài sứ điệp kế đó với chút ít bối rối.
Bạn minh chứng thực tại của Đức Chúa Trời được không?
KHÔNG, tuy nhiên có những kẻ không minh chứng và chúng ta được truyền cho phải nói ra vấn đề nầy với nhiều người khác nếu/khi có cơ hội.
Bạn đã nghe giảng luận về đề tài nầy rồi, đặc biệt trong giảng đường. Chỉ hãy khởi sự vào lúc bắt đầu. Và vì điều nầy hoàn toàn đúng là việc mà chúng ta sẽ làm, sáng nay và ngay lúc bắt đầu năm mới nầy.
Sách Sáng thế ký là một trong những quyển sách quan trọng nhất trong Kinh Thánh – và tôi sẽ thực sự tỏ ra cho quí vị thấy cách tiệm tiến.
Chúng ta bắt đầu trong sách Khải huyền cho năm tới.
Sáng thế ký và Khải huyền
Sáng thế ký 1.1: Đất được dựng nên
Khải huyền 21.1: Đất biến đi mất
Sáng thế ký 1.14-16: Mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao
Khải huyền 8.12: Mất đi một phần ba
Sáng thế ký 37: Nhà cầm quyền của đất được thiết lập
Khải huyền 16.8- Sự phán xét của đất
Sáng thế ký 1.16: Mặt trời cai trị ban ngày Khải huyền 21.23: Không cần tới mặt trời nữa
Sáng thế ký 1.5: Tối tăm được gọi là ban đêm Khải huyền 22.5: Không còn ban đêm ở đó nữa
Sáng thế ký 1.10: Nước được gọi là biển
Khải huyền 21.1: Không còn cò biển nữa
Sáng thế ký 2.10-14: Một con sông đặng tưới đất Khải huyền 22.1-2: Một con sông cho Đất Mới
Sáng thế ký 1.26: Con người theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời
Khải huyền 13: Con người bị Satan dẫn dắt
Sáng thế ký 3: Tội lỗi xâm nhập
Khải huyền 21, 22: Kết thúc tội lỗi
Sáng thế ký 3.14-17: Sự rủa sả được công bố ra Khải huyền 22.3: Không còn có rủa sả nữa
Sáng thế ký 3.19: Sự chết xảy có
Khải huyền 21.4: Không còn có sự chết nữa
Sáng thế ký 3.24: Lần đầu tiên chêrubin được nhắc tới
Khải huyền 19.4: Chêrubin được nhắc tới lần sau cùng
Sáng thế ký 3.24: Con nười bị đuổi ra khỏi vườn Êđen
Khải huyền 22: Con người được phục hồi
Sáng thế ký 3.24: Cây sự sống được canh chừng Khải huyền 22.14: Đấn gần với cây sự sống
Sáng thế ký 3.17: Buồn rầu & Đau khổ nhập vào
Khải huyền 22.4: Không còn có buồn rầu nữa
Sáng thế ký 4: Tôn giáo, nghệ thuật, và khoa học bị phân rẽ ra khỏi Đức Chúa Trời
Khải huyền 18: Chúng bị phán xét, bị hủy diệt
Sáng thế ký 10.8-10: Nimrốt sáng lập Babylôn Khải huyền 17, 18: Babylôn sụp đổ
Sáng thế ký 6 – 9: Nạn lụt của Đức Chúa Trời hủy diệt thế hệ gian ác
Khải huyền 12: Nạn lụt của Satan hủy diệt thế hệ được chọn
Sáng thế ký 9.13: Một bát. Lời hứa của Đức Chúa Trời
Khải huyền 16.4-7: a bow for remembrance
Sáng thế ký 13, 19: Sôđôm & Ai cập. Đồi bại, sự phán xét
Khải huyền 11.8: Sôđôm & Ai cập (Jerusalem)
Sáng thế ký 14: Một liên minh nghịch với dân sự của Ápraham
Khải huyền 12: Dòng dõi của Ápraham
Sáng thế ký 24: Một cô dâu cho con trai Ápraham Khải huyền 19: cô dâu cho dòng dõi của Ápraham
Sáng thế ký 2.18-23: Hôn nhân của Ađam thứ nhứt
Khải huyền 19: Hôn nhân của Ađam sau cùng
Sáng thế ký 29.8: Chiếm lấy cửa thành quân nghịch
Khải huyền 19: Dòng dõi được hứa chiếm lấy
Sáng thế ký 3.24: Quyền quản trị của con người bị đình chỉ và quyền quản trị của Satan bắt đầu
Khải huyền 22: Quyền quản trị của Satan kết thúc và quyền quản trị của con người được phục hồi
Sách Sáng thế ký có 2 mục đích.
a) Đây là quyển sách nói tới những khởi đầu (Luật pháp được nhắc tới lần đầu tiên).
b) Vì lẽ đó, khởi đầu của những lẽ đạo chính:
Con người
Đàn bà
Sa-bát
Hôn nhân
Quê hương
Thời thơ ấu
Tội lỗi
Giết người
Của lễ
Ân sũng
Buôn bán
Nông nghiệp
Đời sống thành thị
Chủng tộc
Các thứ tiếng nói
Tuyển dân v.v…
Tất cả những lẽ đạo chính đều có nguồn gốc của chúng trong sách Sáng thế ký.
 Sự lựa chọn nhà nước
 Sự cứu rỗi
 Sự xưng công bình bởi đức tin
 Sự an ninh của tín đồ
 Sự phân rẽ
 Trừng phạt theo kỷ luật
 Sự hóa thân thành nhục thể
 Sự cất lên của Hội Thánh
 Sự chết và sự sống lại
 Chức năng tế lễ (theo Arôn và Mênchixêđéc)
 Antichrist
 Giao ước xứ Palestine
Sách Sáng thế ký lường trước mọi triết lý giả dối.
• Thuyết vô thần (Sáng thế ký chép thế gian được dựng nên bởi Đức Chúa Trời)
Thuyết phiếm thần (Sáng thế ký chép Đức Chúa Trời rất siêu việt và có thể nhận ra)
Thuyết đa thần (Sáng thế ký chéo có Một Đức Chúa Trời)
Chủ nghĩa duy vật (Sáng thế ký chép vật chất có một khởi đầu)
Chủ nghĩa nhân văn (Sáng thế ký chép rằng Đức Chúa Trời, chớ không phải con người, là thực tại cuối cùng)
Thuyết tiến hóa (Sáng thế ký chép Đức Chúa Trời đã dựng nên)
Thuyết đồng nhất (Sáng thế ký chép Đức Chúa Trời ở giữa sự sáng tạo của Ngài)
Sáng nay, chúng ta sẽ làm 2 việc:
1) Khẳng định sự hiện hữu của Đức Chúa Trời
Bây giờ, tôi không nghĩ rằng Đức Chúa Trời cần chúng ta khẳng định/nhất trí với điều chi Ngài phán về điều ấy là thực – nếu chúng ta không khẳng định/nhất trí với Ngài thì sẽ làm buồn lòng Ngài đấy – Tuy nhiên, chúng ta CẦN phải nhất trí với Ngài, ở phần đầu của Kinh Thánh vì đấy là nền tảng của đức tin chúng ta – nếu bạn không tin 9 chữ đầu của sách Sáng thế ký, thì bạn và tôi đang và sẽ có nhiều nan đề lớn đấy.
Tôi muốn nhắc tới một câu trong Kinh Thánh (9 chữ) là hòn đá góc của phần Kinh Thánh còn lại.
Sáng thế ký 1.1: “Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”.
Điều chi sẽ xảy ra trong lớp học nếu bạn bỏ qua một bước khi giải phương trình? Bạn phải quay trở lại và phải làm lại – một câu nầy đúng là một bài học – chúng ta cần phải dầm thấm câu nầy vì mọi sự khác trong quyển sách nầy (Kinh Thánh) sẽ chẳng thể hiểu được nếu không chấp nhận câu 1.
Kinh Thánh khởi sự với ĐỨC CHÚA TRỜI!
Phải chấp nhận sự ấy.
 Sự hằng hữu của Đức Chúa Trời — Ngài là sự giải thích cho muôn vật.
 Sự đời đời của Đức Chúa Trời — Ngài có trước muôn vật.
 Sự toàn năng của Đức Chúa Trời — Ngài là nguồn của muôn vật.
 Sự tể trị của Đức Chúa Trời — Ngài đang tể trị muôn vật.
 Sự toàn tri/khôn ngoan của Đức Chúa Trời —Sự kiện Ngài đã dựng nên một việc gì đó hàm ý có một chương trình. Ngài có một mục đích cho muôn vật.
 Sự nhơn từ của Đức Chúa Trời — Khi Đức Chúa Trời là thiện, muôn vật Đức Chúa Trời dựng nên đều tốt lành.
2) Chúng ta sẽ xem xét quyền tác giả của quyển sách
Lý do chúng ta sẽ nói tới Đấng đã viết ra sách Sáng thế ký là vì nếu chúng ta chắc chắn trong sự chúng ta hiểu biết 2 chương đầu của sách Sáng thế ký, thì chúng ta sẽ chẳng có nan đề gì với sự lý giải phần còn lại của quyển sách nầy (nói tới Kinh Thánh); và đấy là những gì tôi muốn chúng ta ngồi lại trong phần khởi sự của năm hầu đến.
Quyền tác giả – ai đã viết sách Sáng thế ký?
Tôi rất sung sướng vì tôi đã không đã không nhập học một trường dòng
– nói tới những bài thu âm tải xuống từ một lớp trong trường dòng và các nan đề với sự giải thích của Kinh Thánh
cọng rơm đánh gãy lưng lạc đà, một vị giáo sư đã nói như thế, một số Cơ đốc nhân xưng rằng Israel vẫn còn quyền hạn đối với đất hứa
Nếu bạn nghe một số giáo sư, họ sẽ cung ứng cho bạn những giả thuyết của họ về ai đã viết ra 5 sách đầu của Cựu Ước.
Những giả thuyết cho rằng kinh Torah đã được biên soạn bởi các biên tập viên sau nầy. J (Jehovah-ist, Yahweh-ist); E (Eloh-ist); D (Deuteronomic source); và P (Priestly source).
Ai đã viết các sách Sáng thế ký, Xuất Êdíptô ký, Lêvi ký, Dân số ký và Phục truyền luật lệ ký?
Đúng, tất nhiên là Môise đã viết – bạn có tin như thế và tại sao?
Đấy đúng là những gì tôi đã giảng dạy, và đấy là những gì tôi đang tin..
Tuy nhiên, điều nầy quan trọng đây; khi đức tin của bạn được thử nghiệm bạn SẼ phải đưa ra một câu chuyện (có thể là đúng với bản thân mình) nói tới lý do tại sao bạn tin những gì bạn đang tin.
Phải, tôi tin rằng Môise đã viết ra Ngũ Kinh vì đấy là những gì tôi đã giảng dạy; nhưng lý do thực tôi tin Môise đã viết ra 5 sách đầu của Kinh Thánh là vì Chúa Jêsus phán ông ấy đã viết.
Chúa Jêsus đã Jesus công nhận Kinh Torah đang khi còn ở trên đất nầy, Ngũ Kinh đã do Môise viết ra, vì Ngài trưng dẫn từ sách nầy nhiều lần trong các bài giảng công khai của Ngài.
 Mác 7.10: “Vì Môi-se có nói: Hãy tôn kính cha mẹ ngươi; lại nói: Ai rủa sả cha mẹ, thì phải bị giết” = Xuất Êdíptô ký 21.17
 Mathiơ 19. 3-8 – bàn về hôn nhân và ly dị = Sáng thế ký 1-2
 Mathiơ 22.23-40 – bàn về hôn nhân và điều răn lớn nhất = Xuất Êdíptô ký 3.6, Lêvi ký 19.18, và Phục truyền luật lệ ký 6.5
Nhưng phần trưng dẫn hay nhất được thấy ở Luca 24 sau khi Ngài sống lại từ kẻ chết
 Luca 24.13-27
Nếu bạn tin theo Đức Chúa Jêsus Christ thì sự tin ấy sẽ cứu bạn khỏi nhiều rối rắm về ai đã viết ra sách Sáng thế ký; Nhưng nếu bạn không tin theo Đức Chúa Jêsus Christ bạn đang có nhiều nan đề to lớn hơn về quyền tác giả của sách Sáng thế ký.
Phần kết luận
Nếu chúng ta bắt đầu từ chỗ ban đầu, nơi Đức Chúa Trời bắt đầu thì chúng ta sẽ không có bất kỳ một nan đề nào với phần còn lại của quyển sách nầy (Kinh Thánh).
Cần phải có đức tin để nắm lấy Đức Chúa Trời nơi Lời của Ngài như về việc dựng nên sự sống; rốt lại Ngài là Đấng DUY NHỨT đã hiện hữu trước khi có thời gian; hơn là tin mọi sự chúng ta đang nhìn thấy đã mất hàng triệu tỉ năm tiến hóa và nhờ đó chúng ta đã kiếm được sự khôn ngoan để tin rằng chúng ta là thần linh và chúng ta đang cai quản số phận của mình.
Tôi muốn khích lệ bạn gạt qua một bên những ý kiến nào đã có trước đây và hãy thực sự nắm lấy những gì Đức Chúa Trời đang phán dạy chúng ta vì hàng rào duy nhứt ngăn lẽ thật là sự giả định mà bạn đang hình thành chiếc hàng rào ấy.
Sáng thế ký cho chúng ta biết về phương thức mà Đức Chúa Trời đã tác động. Ban đầu: tạo ra mọi sự mà chúng ta đang xem thấy. Ban đầu ấy cũng ám chỉ chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời để mang lại một sự khởi đầu mới, cho hết thảy những ai đang sa vào trong tội lỗi; và điều đó bao gồm hết thảy chúng ta.
Côlôse 3.3-10 nói tới ‘Người mới’ – Giống như Đức Chúa Trời đã làm cho mọi sự đếu được tốt lành trong sách Sáng thế ký; Ngài cũng mang lại tốt lành cho những ai tin cậy Ngài trong sự dựng nên một người mới ở trong Ngài.
Bạn có tin câu chuyện của Ngài và tin cậy chương trình của Ngài dành cho bạn không?

II Côrinhtô 5.17: "Ngài làm cho mọi sự ra mới"



Ngài làm cho mọi sự ra mới

II Côrinhtô 5.17: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới”.
PHẦN GIỚI THIỆU
Điều chi có ý nghĩa với năm 2009? Tôi đã cố gắng suy nghĩ ra một bài thơ nói tới đặc trưng của chúng ta. Có lẽ bạn có thể giúp cho. Nếu bạn có tư tưởng nào giúp cho tôi, xin gặp nhau sau giờ thờ phượng.
Tôi nghĩ đến một người đang cố gắng yên ủi kẻ kia đang trên đường lên chiếc ghế điện, chúc may mắn v.v… là không thích hợp rồi. Sau cùng, ông ta là kẻ có quyền nói nhiều hơn.
Ai nấy đều cần phải làm việc để cải thiện bản thân họ trong năm mới. Thực sự, được dựng nên mới qua công tác của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta là điều rất khả thi. Hãy lắng nghe khi tôi chỉ ra những sự kiện nầy về công tác của Đức Chúa Trời.
1. Ngài dựng nên . . MỘT NGƯỜI MỚI.
2. Ngài dựng nên . . MỘT GIAO ƯỚC MỚI.
3. Ngài dựng nên . . MỘT ĐIỀU RĂN MỚI.
4. Ngài dựng nên . . TRỜI MỚI ĐẤT MỚI.
1. Ngài dựng nên . . MỘT NGƯỜI MỚI. (II Côrinhtô 5.17)
“Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới”.
A. Người mới với bản ngã mới. Êphêsô 4.24 và mặc lấy bản ngã mới, tức là người được dựng nên giống như {ảnh tượng của} Đức Chúa Trời đã được dựng nên trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật.
Côlôse 3.10 và mặc lấy bản ngã mới là người được đổi ra mới theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn.
MINH HỌA
Oscar Cervantes là một trường hợp cụ thể về quyền phép của Đấng Christ làm biến đổi đời sống. Là một đứa trẻ, Oscar bắt đầu rơi vào rắc rối. Rồi khi anh lớn tuổi thêm, anh đã bị tù 17 lần vì những tội ác rất tàn bạo. Các nhà tâm lý trong ngục tù nói không thể cứu vãn được anh nữa. Nhưng họ đã lầm! Trong một lúc được tự do tạm, Oscar đã gặp một ông cụ, và đã được nghe nói đến Chúa Jêsus. Anh đã đặt lòng tin cậy của mình nơi Chúa rồi được biến đổi thành một người biết quan tâm, tử tế. Sau đó, anh đã khởi sự một chức vụ truyền giáo cho nhà tù. Mục sư H. C. Warwick mô tả sự việc ấy theo cách nầy: "Tối thứ Bảy tuần thứ ba của mỗi tháng là 'đêm của Oscar' ở Soledad. Những người bạn tù đến nghe Oscar rao giảng và họ hát lên những bài ca Tin Lành với sự nhiệt thành; họ ngồi chăm chỉ trong hơn 2 tiếng đồng hồ; họ thoải mái đến với bàn thờ .... Đúng là các chuyên gia đã thất bại không làm chi được với Oscar trong nhiều năm thăm dò, Đấng Christ đã làm trong một phút trong sự biến đổi đó".
B. Người mới với bài ca mới.
Khải huyền 14.3: “chúng hát một bài ca mới trước ngôi, trước bốn con sanh vật và các trưởng lão. Không ai học được bài ca đó, họa chăng chỉ có mười bốn vạn bốn ngàn người đã được chuộc khỏi đất mà thôi”.
MINH HỌA:
Stuart Hamlin đã viết nhiều bài hát miền Tây và đồng quê. Trước khi ông được cứu, ông đã viết một bài với đề tựa là: "Tôi sẽ không đi săn với anh nữa Jake ơi, nhưng tôi sẽ theo đuổi đàn bà".
Stuart đã được cứu và John Wayne đã đánh cuộc với Stuart nhiều tháng sau Stuart gặp JOHN WAYNE và John nói: "anh sẽ thua tôi một số tiền Stuart ơi, tôi đánh cuộc anh sẽ không sống như thế quá 6 tháng đâu". Stuart đáp: "những gì Đức Chúa Trời có thể làm chẳng có gì là bí ẩn cả đâu". John Wayne nói câu ấy nghe giống như đề tựa của một bài ca hay và Stuart khi về nhà đêm hôm đó đã viết bài "Những gì Đức Chúa Trời có thể làm chẳng có gì là bí ẩn cả đâu".
ỨNG DỤNG
Bạn nhìn thấy đời sống nầy đã được thay đổi bởi quyền phép của Đức Chúa Trời.
2. Ngài dựng nên . . MỘT GIAO ƯỚC MỚI (Luca 22.20, I Côrinhtô 11.25)
A. Giao ước mới là giao ước bằng huyết (Luca 22.20)
“Khi ăn xong, Ngài cũng làm như vậy, lấy chén đưa cho môn đồ, mà phán rằng: Chén nầy là giao ước mới trong huyết ta vì các ngươi mà đổ ra”.
I Côrinhtô 11.25: “Cũng một thể ấy, sau khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: Chén nầy là sự giao ước mới trong huyết ta; hễ khi nào các ngươi uống, hãy làm điều nầy để nhớ ta".
B. Giao ước mới là giao ước tốt hơn.
1. Tốt hơn vì cớ Thánh Linh. II Côrinhtô 3.6: “và ấy là Ngài đã ban tài năng cho chúng tôi giúp việc giao ước mới, chẳng phải giao ước về chữ, bèn là giao ước về Thánh Linh; vì chữ làm cho chết, song Thánh Linh làm cho sống”.
2. Tốt hơn vì cớ Cứu Chúa. (Đấng Trung Bảo) Hêbơrơ 9.15: “Nhân đó, Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình”.
MINH HỌA:
Nhiều thành phố châu Âu vẫn còn mang dấu hiệu bị vây quanh bởi các bức tường thuộc thời Trung cổ. Các con đường gần những bức tường cổ nầy đã được chạm khắc và đôi khi dẫn tới chốn sự chết. Một người đã chặn khách lạ lại rồi hỏi thăm đường đến với một địa chỉ kia. Người khách lạ đã hướng dẫn cho người nầy, song ông ta vẫn còn lờ mờ chút ít, ông ta hỏi: "Có phải đấy là con đường tốt nhứt không?" Người lạ mau chóng đáp: "Đấy là con đường duy nhứt. Nếu ông theo đường khác, ắt ông sẽ quay trở lại đây cho xem".
Đấy là một minh họa rất hay nói tới con đường dẫn đến Đức Chúa Trời. Cũng vậy, đến với Đức Chúa Trời phải thì qua Đức Chúa Jêsus Christ và sự chết của Ngài trên thập tự giá. Có người hỏi: "Có phải đấy là con đường tốt nhứt không?" Câu trả lời duy nhứt cho câu hỏi ấy là lẽ thật: "Đó là con đường duy nhứt" (Giăng 14.6). Dù bạn bắt lấy bất cứ con đường nào khác, không phải quay trở lại nơi bạn đang đứng đâu, mà kết thúc trong bóng tăm tối phân rẽ ra khỏi Đức Chúa Trời.
ỨNG DỤNG
Chúng ta có đặc ân dự phần vào giao ước mới nầy. Thực vậy, một giao ước đòi hỏi sự dính dáng vào của cả hai phía. Chúng ta đang có cơ hội bước vào một giao ước với Đức Chúa Trời.
3. Ngài dựng nên . . MỘT ĐIỀU RĂN MỚI (Giăng 13.34).
“Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy”.
A. Điều răn … đã được truyền ra (câu 34 a): “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau;, . . . "
B. Điều răn … đã được minh họa (câu 34 b) ". . . như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy”.
MINH HỌA:
Người ta đến hỏi thăm Tướng Robert E. Lee ông nghĩ gì về một sĩ quan đồng đội trong quân đội Liên Hiệp, là người đã đưa ra một số nhận định về ông. Lee lấy làm vừa ý với những điều ông ta nói. Người hỏi thăm kia dường như bối rối. Ông ta hỏi tiếp: "Thưa Tướng quân, tôi đoán ông chưa biết ông ấy nói gì về ông". Lee đáp: "Tôi biết chứ, nhưng ông hỏi cho biết ý kiến của tôi về ông ta mà, chớ đâu có hỏi ý kiến của tôi về tôi đâu!"
MINH HỌA:
Mẹ tôi bị lãng tai nặng lắm. Bà nói lớn tiếng hơn nhưng bà chẳng biết điều đó. Bà bảo người bạn trong cửa hàng xem coi sữa có nhiều không và bà chỉ cần có một lít thôi. Bà kia ngơ ngác một chút, sau cùng bà ấy viết vài chữ trên cửa nói mẹ tôi là người đàn bà có cái mồm lớn tiếng.
ỨNG DỤNG
Mẹ tôi bối rối lắm, nhưng quyết định cố gắng quan hệ với sự tử tế. Trong dịp Lễ Giáng Sinh, bà kia gửi một tấm thiếp rất đẹp rồi nói bà là một con người tốt và là một người bạn tốt. Hết thảy chúng ta đều có cơ hội để dùng tình yêu thương của Đức Chúa Trời mà quan hệ với người khác.
4. Ngài dựng nên . . TRỜI MỚI ĐẤT MỚI (II Phierơ 3.13)
“Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở”.
A. Chúng ta đang trông đợi Trời Mới (câu 13a) “Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, . . . "
B. Chúng ta đang ao ước Trời Mới (câu 13b) ". . . là nơi sự công bình ăn ở".
MINH HỌA:
Trong quyển Dare to Believe (Dám Tin), Dan Baumann chỉ ra kinh nghiệm có một không hai của việc nhìn biết việc gì là thuộc về chúng ta, tuy nhiên lại khát khao muốn hưởng lấy việc ấy cách đầy trọn. Ông giải thích rằng trong dịp Lễ Giáng Sinh ông sẽ luôn luôn làm nhiều việc tò mò, cố gắng tìm cho được món quà – những món quà gói sẵn rồi hình dung trong đó có cái gì.
Một năm kia, ông tìm được một gói quà ghi tên mình trên đó rất dễ nhận ra. Chẳng có cách nào để đội lốt vào trong câu lạc bộ đánh golf hết. Khi ấy, Baumann mới đưa ra nhận xét của mình: "Khi mẹ không có ở quanh đấy, tôi sẽ cầm lấy, cảm nhận gói quà, lúc lắc nó, rồi giả vờ mình đang ở trên sân golf. Mục đích là, tôi đã thưởng thức rồi các khoái lạc của một sự kiện còn trong tương lai; nghĩa là, chưa mở ra. Tôi thấy tên tôi trên món quà ấy. Tôi biết rõ món quà đó rồi". Nhưng chỉ có thời điểm "Giáng Sinh mới tỏ nó ra cách đầy trọn nhất mà thôi".
ỨNG DỤNG
Những sự vinh hiển đang chờ đợi Cơ đốc nhân thách thức sự hiểu biết của chúng ta. Tuy nhiên, khi chúng ta nắm được chúng, thì sự tán thưởng lớn lao mới đầy dẫy chúng ta. Chúng ta khao khát nhìn tới cái ngày mà chúng ta nếm trải thiên đàng với mọi sự đầy dẫy của nó.
PHẦN KẾT LUẬN
Hết thảy chúng ta đều lấy làm buồn khi nghe nói tới tai nạn đã cất đi mạng sống của Owen. Nhưng anh ấy đang vui hưởng một quê hương mới vì cớ đức tin anh ấy đặt nơi Chúa.
1. Ngài dựng nên . . MỘT NGƯỜI MỚI.
2. Ngài dựng nên . . MỘT GIAO ƯỚC MỚI.
3. Ngài dựng nên . . MỘT ĐIỀU RĂN MỚI.
4. Ngài dựng nên . . TRỜI MỚI ĐẤT MỚI.

NHÃ CA 2.15-16: "PHẢI COI CHỪNG NHỮNG CON CHỒN NHỎ"



PHẢI COI CHỪNG NHỮNG CON CHỒN NHỎ
NHÃ CA 2.15-16
"Hãy bắt cho chúng tôi những con chồn, Những con chồn nhỏ phá hại vườn nho; Vì vườn nho chúng tôi đang trổ bông. Lương nhân tôi thuộc về tôi, và tôi thuộc về người; Người chăn bầy mình giữa đám bông huệ".
PHẦN GIỚI THIỆU:
Những con chồn nhỏ phá hoại vườn nho. Những người trồng nho rất cẩn thận về những con chồn lớn. Nhưng những con chồn nhỏ đã bị quên lãng. Trong đời sống chúng ta có một sự dư dật về trái thuộc linh. Chín “ơn” của Đức Thánh Linh được gọi là trái Thánh Linh. Tại sao bạn và tôi không có nhiều trái nầy sản sinh ra trong đời sống chúng ta? Có thể lắm những con chồn nhỏ đang phá hoại vườn nho đấy. Những con chồn nhỏ có thể tiêu biểu cho những thứ tội lỗi. Những thứ tội lỗi mà các nhà truyền đạo không giảng dạy. Thực vậy, một số nhà truyền đạo đang thực thi chúng và một số chấp sự đang thực thi chúng. Nói chung, Hội Thánh đang che dậy các tội lỗi nầy. Nhưng chúng là tội lỗi và tôi đề nghị chúng là những con chồn nhỏ.
1. CON CHỒN NHỎ . . . THÁI ĐỘ XẤU.
A. Sự lằm bằm
Xuất Êdíptô ký 16.8: "Môi-se nói: Chiều nầy Đức Giê-hô-va sẽ phát thịt cho các ngươi ăn, rồi sáng mai bánh nhiều dư dật, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Thế thì, chúng ta là ai? Những lời oán trách chẳng phải đổ về chúng ta đâu, nhưng về Đức Giê-hô-va vậy".
I Côrinhtô 10.10: "Lại cũng chớ lằm bằm như mấy người trong họ đã lằm bằm mà bị chết bởi kẻ hủy diệt".
B. Gieo ra bất hòa.
Châm ngôn 6.16-19: “Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét, và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc:… Cùng kẻ gieo sự tranh cạnh trong vòng anh em”.
II. CON CHỒN NHỎ . . . CÁI LƯỠI KHÔNG KỀM HÃM ĐƯỢC.
A. Những chuyện tầm phào
1. Tôi có nghe nói
2. Bạn có nghe nói
3. Họ nói
4. Mọi người đều nói
5. Người ta nói
6. Bạn có nghe nói không?
7. Chuyện ấy kinh khủng lắm
8. Tôi đã bảo bạn đừng nói kia mà
B. Thèo lẽo
Lêvi ký 19.16: "Chớ buông lời phao vu trong dân sự mình, chớ lập mưu kế nghịch sự sống của kẻ lân cận mình: Ta là Đức Giê-hô-va".
Châm ngôn 11.13: "Kẻ đi thèo lẻo tỏ ra điều kín đáo; Còn ai có lòng trung tín giữ kín công việc".
C. Thương tích với những lời nói
Châm ngôn 18.8: "Lời kẻ thèo lẻo như vật thực ngon, và nó thấu đến ruột gan".
Châm ngôn 20.19: "Kẻ nào đi thèo lẻo bầy tỏ điều kín đáo; Vậy, chớ giao thông với kẻ hay hở môi quá".
D. Người nào gây ra sự tranh cạnh
Châm ngôn 26.20: "Lửa tắt tại thiếu củi; Khi chẳng có ai thèo lẻo cuộc tranh cạnh bèn nguôi".
E. Nói năng hư không.
Mathiơ 12.36: "Vả, ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói".
F. Thày lay thóc mách
I Timôthê 5.13: "Đó là vì họ hay ở không, quen thói chạy nhà nầy sang nhà khác; nào những họ ở không thôi đâu, lại còn thày lay thóc mách, hay nói những việc không đáng nói nữa".
Minh họa: nhà truyền đạo mới trong thị trấn.
1. Tôi không bao giờ bước vào một buổi họp ở câu lạc bộ và làm cho vợ tôi phải lo âu…
2. Chắc chắn tôi biết rõ hơn là dàn cảnh nữa.
3. Tôi nhứt định từ chối mọi sự yêu cầu kia.
4. Sau cùng, thưa ông, tôi chưa có vợ.
MỤC SƯ Ở HỘI THÁNH CAVE SPRINGS – Bị vu cáo và Hội Thánh cùng đứng với ông và – VẪN CÓ CÁI GỐI ĐỘN LÔNG bị ném vào ngọn gió giống như – những lời lẽ hư không dại dột.
III. CON CHỒN NHỎ . . . CÁC TỘI LỖI VỀ TÌNH DỤC.
Công Vụ các Sứ đồ 15.29: "tức là anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm; ấy là mọi điều mà anh em khá kiêng giữ lấy vậy".
I Têsalônica 4.3: "Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế".
A. Sách báo khiêu dâm
B. Những nghiện ngập khả thi
IV. CON CHỒN NHỎ...ĂN TỘI LỖI
I Côrinhtô 6.13: "Đồ ăn vì bụng, bụng vì đồ ăn, Đức Chúa Trời sẽ hủy hoại cái nọ và cái kia. Nhưng thân thể chẳng phải vì sự dâm dục đâu, bèn là vì Chúa, và Chúa vì thân thể".
I Côrinhtô 10.31: "Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm".
A. Tham ăn.
1. Thừa mứa: Cung cấp thừa mứa bất cứ món ăn nào.
2. Béo phì.
Minh họa: Tôi không thể tin tôi đã ăn hết món ấy
V. CON CHỒN NHỎ . . . TỰ MÃN
A. Tự mãn với tri thức hư không
Gióp 15.2: "Người khôn ngoan há đáp bằng lời tri thức hư không, và phình bụng mình bằng gió đông sao?"
B. Tự mãn ngược lại với sự đầy dẫy Đức Thánh Linh
Êphêsô 5.18: "Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh".
PHẦN KẾT LUẬN.
Tục lệ của người da đỏ – chiến binh cô độc ở trong rừng suốt đêm xa nhà. Chúng ta cần phải nhìn biết Chúa muốn chúng ta phải thắng hơn những con chồn nhỏ.

THI THIÊN 119: "QUYẾT TÂM CHO NĂM MỚI"



QUYẾT TÂM CHO NĂM MỚI
THI THIÊN 119

PHẦN GIỚI THIỆU.
Hết thảy chúng ta đều phải hạ quyết tâm cho Năm Mới. Chúng ta muốn nói gì qua cụm từ. “hạ quyết tâm”. “Hạ quyết tâm” có ý nghĩa như thế nào!?!
Cụm từ "quyết tâm" có thể được xác định là: "đạt tới một quyết định" hay "nhất định".
Các quyết định là kết quả của quyết tâm nơi phần của ai đó. Bạn quyết định bạn sẽ làm một việc gì đó, rồi bạn sắp đặt để làm việc ấy. Bạn không thể có “quyết tâm” nếu không có một mục tiêu hay tiêu điểm.
Nếu chúng ta không nhắm vào một mục tiêu, chúng ta sẽ không bao giờ đạt tới đó. Nếu chúng ta không có một mục tiêu, chúng ta sẽ không bao giờ với tới đó. Khi đến lúc phải quyết tâm, tác giả Thi thiên David tỏ ra nhiều quyết tâm của mình với cụm từ: "tôi sẽ". “Những quyết định” đa dạng của ông đều dựa trên Lời của Đức Chúa Trời.
Chúng ta hãy nhìn vào những câu "tôi sẽ" nầy trong Thi thiên 119, Thi thiên nầy có 176 câu và là chương dài nhất trong Kinh Thánh.
I. TÔI SẼ VUI MỪNG (Thi thiên 119.7 – "Tôi sẽ ngợi khen Chúa").
Thay vì lằm bằm trước những gì chúng ta không có, chúng ta nên vui mừng trước những điều mà Chúa ban cho chúng ta cả về thuộc thể lẫn thuộc linh.
Thi thiên 33.1. “Hỡi người công bình, hãy vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va; Sự ngợi khen đáng cho người ngay thẳng”.
Thi thiên 97.12: “Hỡi người công bình, hãy vui mừng nơi Đức Giê-hô-va, cảm tạ sự kỷ niệm thánh của Ngài”.
Êsai 61.10: “Ta sẽ rất vui vẻ trong Đức Giê-hô-va, linh hồn ta mừng rỡ trong Đức Chúa Trời ta; vì Ngài đã mặc áo cứu rỗi cho ta; khoác áo choàng công bình cho ta. . .”.
Philíp 4.4: “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi”.
Chúa Jêsus ban cho chúng ta sự vui mừng thay vì buồn rầu. Ngài ban cho chúng ta vinh hiển thay vì tăm tối.
II. TÔI SẼ SUY GẪM (Thi thiên 119.15, 48, 78).
Trong ba tham khảo nầy, ông nói tới sự suy gẫm. Ông nhắm tới nguồn của sự suy gẫm, nguồn ấy chính là Lời của Đức Chúa Trời.
Không may, nhiều Cơ đốc nhân đã tốn nhiều thì giờ cho các tờ báo hay tạp chí hơn là họ suy gẫm Lời của Đức Chúa Trời.
Thi thiên 1.1: “Phước cho người nào chẳng theo mưu kế. . .”
TÔI SẼ VUI MỪNG
TÔI SẼ SUY GẪM
III. TÔI SẼ NHỚ (Thi thiên 119.16, 93).
David nhất định rằng ông sẽ không quên Lời của Đức Chúa Trời vì Lời ấy là nguồn kích thích hay cung ứng sự sống cho ông.
Chúng ta nghe, chúng ta tin theo.
Khi chúng ta bị cám dỗ phải phạm tội, chúng ta cần phải nhớ tới Lời của Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta bị cám dỗ phải sợ hãi, chúng ta cần phải nhớ tới Lời của Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta bị cám dỗ đến nỗi nghi ngờ, chúng ta cần phải nhớ tới Lời của Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta không biết phải đi đường nào, chúng ta cần phải nhớ tới Lời của Đức Chúa Trời.
IV. TÔI SẼ CHẠY (Thi thiên 119.32).
Chàng sa sĩ ngọt ngào của Israel nói: “Tôi sẽ chạy theo con đường điều răn Chúa".
Câu nói ấy mô tả tình cảm, thái độ sẵn sàng, và sự phấn khởi. Chẳng có chút tăm tối nào trong các mạng lịnh của Đức Chúa Trời đối với người có lòng kính mến Chúa.
Các mạng lịnh của Ngài sẽ chẳng có chi gây hại cho chúng ta:
Hêbơrơ 12.1: “…., chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta”.
Êsai 40.31: “Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi”.
V. TÔI SẼ TỎ RA (Thi thiên 119.46).
"Tôi sẽ nói về chứng cớ Chúa".
Lẽ thật của Đức Chúa Trời đã làm rung động đời sống của Vua David đến nỗi ông đã cảm thấy ông phải nói cho nhiều người khác biết và làm chứng về bổn tánh và sự tử tế của Đức Chúa Trời.
Mathiơ 5.16: “Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời”.
VI. TÔI SẼ YÊN NGHỈ (Thi thiên 119.117a).
David tỏ ra thái độ tin cậy Đức Chúa Trời đang nắm chặt lấy ông và biết rõ rằng kẻ nào yêu mến Lời Đức Chúa Trời đều thấy họ đang thừa hưởng "sự bình yên lớn" đó.
Thi thiên 119.165: “Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn; Chẳng có sự gì gây cho họ sa ngã”.
Phục truyền luật lệ ký 33.27: “Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài”.
Khi chúng ta đạt tới mức hiểu biết bên dưới chúng ta là đôi cánh tay đời đời của Đức Chúa Trời, khi ấy chúng ta mới có thể yên nghỉ.
VII. TÔI SẼ CHĂM CHỈ (Thi thiên 119.117).
"Tôi sẽ cũng thường thường chăm chỉ về các luật lệ của Chúa".
Cụm từ "chăm chỉ" có ý nói nhìn chằm chằm vào, xem kỹ, và tra soát.
Chúng ta cần phải nhìn chằm chằm vào Lời của Đức Chúa Trời.
Chúng ta cần phải xem kỹ Lời của Đức Chúa Trời (nghiên cứu, học hỏi).
Chúng ta cần phải tra soát Lời của Đức Chúa Trời (trong các quyết định của chúng ta).
Lời của Đức Chúa Trời có giá trị rất cao.
1. Vì cớ đức tin mà Lời ấy tỏ ra (Rôma 10.17)
2. Vì cớ sự nhút nhát mà Lời ấy khai thông (Đúng là một sự khích lệ)
3. Vì cớ những sự giả dối mà Lời ấy xua đi (Lời ấy là lẽ thật)
4. Vì cớ Đức Chúa Trời thành tín mà Lời ấy tỏ ra (Ồ, đúng là một Đức Chúa Trời toàn năng mà chúng ta đang phục sự!)
Đừng bao giờ để cho bất kỳ một kẻ nào theo chủ nghĩa đổi mới, tự do, vô thần, hay phê bình-chỉ trích nào làm giảm đức tin của bạn nơi Lời của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời của Ngôi Lời.
Phần kết luận:
Bạn có quyết tâm nào trong năm sắp tới không? Đời sống Cơ đốc là một đời sống được sống có mục đích. Bạn có mục đích nào không? Đời sống Cơ đốc là một đời sống đầy dẫy với mục đích của Đức Chúa Trời. Có phải bạn đang có mục đích của Đức Chúa Trời không?
Tại sao không sống như tác giả Thi thiên và hạ quyết tâm sống với Lời của Đức Chúa Trời?

II Têsalônica 3.1-5: "Mục tiêu mới cho năm mới"



Mục tiêu mới cho năm mới
II Têsalônica 3.1-5
PHẦN GIỚI THIỆU:
Khi chúng ta bắt đầu nhìn tới năm khác mà Chúa ban cho chúng ta, đôi lúc chúng ta có khuynh hướng nhìn lại với tiếc nuối hay ân hận vì có những việc mà chúng ta chưa hoàn thành cho Chúa trong năm vừa qua.
Nhưng chúng ta không nên để cho những thất bại của quá khứ vầy lấy hay che mờ đi tầm nhìn của chúng ta vào tương lai. Chúng ta không bao giờ thay đổi được quá khứ. Nhưng bởi ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể làm được nhiều việc trong tương lai. Vì vậy, hãy nhớ tới những việc giúp cho bạn tiến lên đàng trước, song hãy quên đi những việc nào chỉ muốn cầm bạn lại ở phía sau.
Philíp 3.13-14: "Hỡi Anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đã đạt đến mục đích, nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ".
Vì cớ hy vọng của chúng ta đặt nơi Đấng Christ … chúng ta có thể lìa bỏ lỗi lầm trong quá khứ rồi nhìn tới trước để thấy những điều Ngài sẽ giúp cho chúng ta phải đạt tới. Đừng trụ lại ở quá khứ. Thay vì thế, hãy tấn tới trong sự thông biết Đức Chúa Trời bởi sự tập trung vào mối quan hệ của bạn với Ngài ngay bây giờ.
Có khi, chúng ta là những Cơ đốc nhân, đang lạc ra khỏi Đức Chúa Trời trong tấm lòng của chúng ta, ngày càng suy yếu đi trong việc làm lành, và không còn đầu phục như trước nữa. Chính trong khoảng thời gian nầy, đời sống chúng ta dường như lạc mất mục tiêu rồi. Chúng ta thất bại không nhìn thấy chúng ta đang đi theo hướng ngược lại với hướng của Đức Chúa Trời dành cho đời sống chúng ta.
Phaolô đã cầu thay cho người thành Têsalônica ở câu 5.
Từ ngữ “tới đến” trong tiếng Hy lạp có ý nói: "đi thẳng tới". Từ nầy hàm ý mục tiêu của họ đã bị mờ đi hay không rõ ràng.
Phaolô đã cầu nguyện xin người thành Têsalônica sẽ khẳng định lại mục tiêu của họ. Họ sẽ tái tập trung đời sống của họ vào Đấng Christ và ý chỉ của Ngài dành cho đời sống họ. Khi chúng ta đứng trước thềm của một năm mới, chúng ta hãy dành thì giờ để tái khẳng định đời sống của mình trong Đấng Christ và ý chỉ của Ngài dành cho mỗi một đời sống của chúng ta.
I. ĐÂY LÀ LÚC TÁI KHẲNG ĐỊNH TÌNH CẢM CỦA CHÚNG TA (3.5a).
Tình cảm là gì? Nó có nghĩa là: "tình cảm hay tình yêu nóng cháy; một ước ao hay tình cảm dành cho một đồ vật, một lý tưởng, v.v…; và đồ vật của ao ước hay tình cảm đó".
Tác giả Thi thiên đã nói ở Thi thiên 63.1-2: "Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời tôi, vừa sáng tôi tìm cầu Chúa; Trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước, linh hồn tôi khát khao Chúa, thân thể tôi mong mỏi về Chúa, đặng xem sự quyền năng và sự vinh hiển của Chúa, như tôi đã nhìn xem Chúa tại trong nơi thánh".
Quí bạn tôi ơi, bạn có loại tình cảm đó cho Chúa chưa?
A. CHÚNG TA PHẢI KÍNH SỢ ĐỨC CHÚA TRỜI TRÊN HẾT MỌI SỰ KHÁC.
Phục truyền luật lệ ký 6.5 cho chúng ta biết: "Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi".
Người Do thái đề cập tới những câu nầy Phục truyền luật lệ ký 6.4-6, là Shema. Đối với người Do thái, đây là câu Kinh Thánh quan trọng nhất trong sách Phục truyền luật lệ ký.
Theo Chúa Jêsus, kính sợ Đức Chúa Trời là điều răn thứ nhứt và lớn hơn hết (Mathiơ 22.36-38).
Kính sợ Đức Chúa Trời với hết lòng của một người là linh hồn và cốt lõi của Cơ đốc giáo (Rôma 8.28; I Côrinhtô 13.1-3).
Nếu chúng ta kính sợ Chúa như đáng phải có, chúng ta sẽ bằng lòng chịu khổ cho Ngài, cho lý tưởng của Ngài và kiên nhẫn chờ đợi Con Ngài đến từ trời.
Phaolô muốn Đấng Christ đưa tấm lòng của những tín hữu tại thành Têsalônica vào trạng thái đầy dẫy sự kính sợ Đức Chúa Trời, rồi nhơn đó chan chứa trong lòng họ với sự nhịn nhục, thay vì lo lắng về sự hiện ra vinh hiển của Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa, là Đức Chúa Jêsus Christ.
B. CHÚNG TA CÓ KHI THẤT BẠI KHÔNG KÍNH SỢ ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ ĐÁNG PHẢI CÓ.
Chúng ta trở nên giống như Hội Thánh Êphêsô, Đức Giêhôva phán với Hội Thánh nầy ở Khải huyền 2.4: "… Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu".
Điều chi khiến cho chúng ta thất bại trong sự chúng ta kính sợ Đức Chúa Trời? Có ba việc xảy ra:
1. Thế gian cướp đi tình cảm của chúng ta:
Chúa Jêsus phán ở Mathiơ 6.24: "Chẳng ai được làm tôi hai chủ; vì sẽ ghét người nầy mà yêu người kia, hoặc trọng người nầy mà khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi Ma-môn nữa".
Chúa Jêsus trong thí dụ nói tới người gieo giống ở Luca 8.14 mô tả hột giống: "…rơi vào bụi gai, là những kẻ đã nghe đạo, nhưng rồi đi, để cho sự lo lắng, giàu sang, sung sướng đời nầy làm cho đạo phải nghẹt ngòi, đến nỗi không sanh trái nào được chín".
Thật buồn mà nói, có nhiều người trong các Hội Thánh chúng ta ngày nay đang rơi vào phạm trù đó! Chúng ta có quá nhiều "Đêma" trong Hội Thánh chúng ta ngày nay. Phaolô đã viết về ông ta như sau: "vì Đêma đã lìa bỏ ta, tại người ham hố đời nầy".
2. Ma quỉ làm xói mòn tình cảm của chúng ta.
I Phierơ 5.8 cảnh cáo chúng ta: "Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được".
Satan biết hắn không thể có linh hồn của chúng ta một khi chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng nếu hắn có thể làm cho chúng ta phải thất bại trong tình cảm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời, hắn vẫn đạt được mục tiêu của hắn.
Satan làm mọi sự hắn có thể để khiến cho tình cảm của chúng ta dành cho Đấng Christ phải nguội lạnh đi.
Hắn phái sự chết, thất vọng, ngã lòng, chán nãn, và những khó khăn đến với đời sống chúng ta để thử tình cảm của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời.
Êphêsô 4.27 cho chúng ta biết: "và đừng cho ma quỉ nhân dịp". Chúng ta đừng để cho Satan có một dấu chân trong đời sống của chúng ta!
Chúng ta PHẢI "…chống trả ma quỉ, thì nó sẽ lánh xa anh em" (Giacơ 4.7).
3. Chúng ta thất bại không trưởng dưỡng tình cảm của chúng ta.
Chúng ta thất bại không trưởng dưỡng tình cảm của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời để cho tình cảm ấy lớn lên và tấn tới? Do thất bại không …
a. Dành thì giờ với Ngài trong sự cầu nguyện.
Philíp 4.6-7 dạy chúng ta: "Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ".
Chúng ta càng dành thì giờ để cầu nguyện với Ngài, chúng ta sẽ càng kính mến NGÀI!
b. Học hỏi lời quí báu của Ngài (II Timôthê 2.15).
Chúng ta càng học biết Ngài qua Lời của Ngài, chúng ta càng yêu mến Ngài vì cớ sự cao trọng và vinh hiển của Ngài!
c. Hầu việc Ngài với sự vui mừng.
Thi thiên 100.2: "Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài".
Bạn có hầu việc Đức Chúa Trời chưa? Bạn hầu việc Đức Chúa Trời như thế nào? Hầu việc Đức Chúa Trời là một gánh nặng hay một phước hạnh? Hầu việc Chúa là một đặc ân hay đau khổ? Tại sao bạn hầu việc Đức Chúa Trời? Có phải hầu việc là vì bạn yêu mến NGÀI không?
Có người đã nói: "Hầu việc là tình yêu thể hiện trông thấy được".
d. Hát xướng ngợi khen Ngài và thờ phượng Ngài vì sự nhơn từ Ngài (Thi thiên 34.1-3).
Nếu chúng ta chưa học biết để trở thành hạng người thờ phượng, chúng ta chẳng làm việc chi khác mỹ mãn đâu.
“Chúng ta được kêu gọi phải có một công việc đời đời với Đức Chúa Trời” – A.W. Tozer.
Đấy là điều nói đến sự thờ phượng. Chúng ta bị phủ lút bởi ân điển và sự vinh hiển của Ngài, và chẳng làm chi khác hơn là dâng lên Ngài sự ngợi khen và cảm tạ vì cớ sự nhơn từ của Ngài!
C. CHÚNG TA ĐÔI KHI CẦN PHẢI ĐƯỢC SOI DẪN TỚI ĐẾN SỰ YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI.
Phaolô viết ở câu 5: "Nguyền xin Chúa soi dẫn lòng anh em tới đến sự yêu mến Đức Chúa Trời…".
Có những lúc tấm lòng của chúng ta cần phải được soi dẫn tới đến sự yêu mến Đức Chúa Trời. Sự yêu mến Đức Chúa Trời là động lực chính và là nguyên tắc của sự vâng phục; điều nầy phải chiếm hữu tấm lòng của chúng ta: tấm lòng không đều đặn với mọi hoạt động của nó; chỉ duy Đức Chúa Trời, bởi Thánh Linh Ngài, mới có thể soi dẫn tới đến sự yêu mến Ngài, và giữ nó cho có chuẩn mực.
Khi Chúa soi dẫn chúng ta tới đến sự yêu mến Ngài, có ba việc xảy ra:
Ý thức tội lỗi.
Xưng tội.
Nên thánh.
Làm sao chúng ta biết tấm lòng mình cần được soi dẫn tới đến sự yêu mến Đức Chúa Trời?
1. Khi đồi Gôgôtha không làm tan vỡ chúng ta.
Chúng ta đọc ở Luca 23.33: "Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó …".
Chúng ta biết tấm lòng mình cần được soi dẫn tới đến sự yêu mến Đức Chúa Trời khi chúng ta có thể hát xướng về đồi Gô gô tha, suy gẫm về đồi Gôgôtha, và nói tới đồi ấy mà không có một giọt lệ nào chảy ra từ mắt của chúng ta!
Amy Carmichael đã nói: "Có một việc tại đồi Gôgôtha trổi hơn sự hiểu biết của chúng ta, và lời lẽ về huyết quí báu không bao giờ được đọc hay được hát xướng trừ phi trên hai đầu gối của tâm linh chúng ta".
2. Khi sự hiện diện của Cứu Chúa không chúc phước cho chúng ta
Nhiều Hội Thánh ngày nay có một cái nền rất kiên cố, nhưng có một mục tiêu rất nhỏ. Đạo thì thật lắm, nhưng chết về mặt thực hành.
Phần nhiều các Hội Thánh đều đạt tới một điểm mà ở đó sự phục vụ Đức Chúa Trời chỉ là một hình thức xoàng xỉnh mà thôi.
Chúng ta muốn thờ lạy Đức Chúa Trời bằng một chương trình thay vì bằng quyền phép của Thánh Linh.
Quí bạn ơi, có phải Chúa là tình cảm của bạn không? Hay bạn cần một mục tiêu mới cho năm mới? Như I Phierơ 2.7 cho chúng ta biết: "Vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí …". Có phải Ngài là quí báu đối với bạn không? Có phải bạn đang cần một mục tiêu mới? Đây là lúc để TÁI KHẲNG ĐỊNH LẠI TÌNH CẢM CỦA BẠN đấy.
II. ĐÂY LÀ LÚC ĐỂ TÁI KHẲNG ĐỊNH LẠI MỤC ĐÍCH CỦA CHÚNG TA.
II Têsalônica 3.4: "Về phần anh em, chúng tôi có lòng tin cậy trong Chúa rằng anh em đang làm và sẽ làm những việc chúng tôi dặn biểu". Đối chiếu, I Têsalônica 4.1
Đây là mục đích của họ. Đâu là mục đích của chúng ta trong vai trò những tín đồ? Về mặt cơ bản, có hai phần:
A. CHÚNG TA CẦN PHẢI LÀM VINH HIỂN CHO ĐỨC CHÚA TRỜI.
I Côrinhtô 6.19-20: "Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời".
Phaolô muốn nói gì khi ông nói Đức Chúa Trời làm chủ thân thể của chúng ta? Nhiều người nói họ có quyền làm bất cứ điều gì họ muốn với chính thân thể của họ.
Mặc dù họ nghĩ đấy là sự tự do, họ thực sự bị làm nô lệ cho mọi sự ham muốn của họ thay vì sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh.
Khi chúng ta trở thành Cơ đốc nhân, Đức Thánh Linh đầy dẫy đời sống chúng ta và đang sống trong chúng ta.
Vì thế, chúng ta không còn làm chủ thân thể của mình nữa.
Nếu bạn sống trong một tòa nhà do người khác làm chủ, bạn không nên vi phạm mọi luật lệ của tòa nhà đó. Khi thân thể của chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời, chúng ta không nên vi phạm các tiêu chuẩn của Ngài dành cho sự sống.
B. CHÚNG TA CẦN PHẢI ĐỒNG ĐI VỚI TIN LÀNH (MATHIƠ 28.19-20).
Bất cứ chúng ta đi đâu và bất cứ chúng ta làm gì, chúng ta cần phải trở nên một chứng nhân cho Đức Chúa Trời về quyền phép làm thay đổi đời sống của Tin Lành. Tại sao? Vì II Côrinhtô 5.18-20 cho chúng ta biết: "Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi. Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ…".
Sứ điệp của Hội Thánh ngày nay là sứ điệp nói tới sự phục hòa. Đức Chúa Trời trong Đấng Christ trên thập tự giá đã làm cho thế gian hòa lại với chính mình Ngài và bằng lòng cứu hết thảy những ai chịu tin cậy Con của Ngài … Chúng ta giới thiệu Đấng Christ khi chúng ta mời kẻ hư mất tiếp nhận Ngài. Đúng là một đặc ân – đúng là một trách nhiệm! Tất cả các tín đồ đều là khâm sai, dù họ chấp nhận sứ mệnh hay không.
Trong những ngày đầu sớm sủa của Cơ đốc giáo, người nào xưng nhận Đấng Christ đều trở thành chứng nhân cho Đấng Christ, và nhiều người trong số họ đã chịu chết vì sự tuyên xưng của họ, họ đã cung ứng ý nghĩa mới cho thế gian biết đến chữ "chứng nhân", khiến nó ra tương đương với chữ “tuận đạo”.
Minh họa: Benjamin Franklin muốn gợi cho dân chúng ở Philadelphia về việc thắp sáng đường phố. Ông không kêu gọi một buổi họp cũng không khuyên bảo người ta bằng cách nói tới việc ấy. Ông đã hành động trên những gì ông xem là ý hay. Ông treo một ngọn đèn lồng rất đẹp dọc theo bờ tường trước nhà của ông.
Ông đã giữ cho kính được bóng láng và cẩn thận trang hoàng rồi thắp sáng mỗi tối vào lúc trời chạng vạng. Ngọn đèn đã giúp cho người ta nhìn thấy vĩa hè ở trước mặt; khiến cho họ cảm thấy an ninh hơn lúc ban đêm. Nhiều người khác bắt đầu đặt những ngọn đèn ở trước nhà của họ. Không lâu sau đó, Philadelphia đã công nhận nhu cần phải có những ngọn đèn thắp sáng trên đường phố.
Phải trở thành một ngọn đèn hôm nay để thắp sáng cho người lân cận của bạn với sự sáng của sự sống.
Hãy để cho sự sáng ấy chiếu ra. Hãy để cho ngọn đèn của bạn chiếu sáng HÔM NAY!
Bạn ơi, có phải bạn cần TÁI KHẲNG ĐỊNH TÌNH CẢM và TÁI KHẲNG ĐỊNH MỤC ĐÍCH của bạn và sau cùng hãy để cho chúng tôi nhìn thấy:
III. ĐÂY LÀ LÚC ĐỂ TÁI KHẲNG ĐỊNH SỰ NHỊN NHỤC CỦA CHÚNG TA.
II Têsalônica 3.5b: "Nguyền xin Chúa soi dẫn lòng anh em … và sự nhịn nhục của Đấng Christ!"
Từ ngữ "nhịn nhục chờ đợi" có ý nói: "Một sự chịu đựng kiên nhẫn đối với Đấng Christ".
Bất luận chúng ta đối diện với điều gì cho tới khi Đức Chúa Jêsus Christ đến với chúng ta, chúng ta phải chờ đợi cách nhịn nhục đối với sự hiện ra của Ngài. Trong mọi việc, ơn nầy: "nhịn nhục", hay sự chịu đựng bền đỗ, được gắn với "hy vọng" (I Têsalônica 1.3, 10) về sự tái lâm của Đấng Christ.
Hãy chú ý ba việc nầy cùng với tôi:
A. NHỊN NHỤC LÀ BỔN PHẬN CỦA TẤT CẢ CÁC THÁNH ĐỒ.
Có ba việc chúng ta phải làm theo để có sự nhịc nhục.
1. Chúng ta phải phục theo thời biểu của Đức Chúa Trời.
Chúng ta không được chạy trước Đức Chúa Trời, mà phải nhịn nhục chờ đợi ý chỉ và sự dẫn dắt của Ngài.
2. Chúng ta phải chờ đợi Chúa.
Thi thiên 37.7 cho chúng ta biết: "Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài…". Từ ngữ "yên tịnh chờ đợi" có ý nói "thuận phục không than vãn, phiền hà hay bực tức".
B. NHỊN NHỤC KHÔNG LUÔN LUÔN DỄ DÀNG.
Đôi khi chúng ta không nhịn nhục chờ đợi Chúa. Hết thảy chúng ta đều có một khuynh hướng làm theo hai việc:
1. Chúng ta nắm lấy vấn đề trong hai bàn tay của chính mình (I Samuên 13.8-13).
Samuên nói cùng Saulơ ở câu 13 rằng ông phải đợi 7 ngày chờ Samuên đến, khi ấy Samuên mới dâng của lễ, rồi nói cho Saulơ biết phải làm gì!?!
Nhưng Saulơ đã mất kiên nhẫn rồi nắm lấy mọi việc trong hai bàn tay của chính ông. Chúng ta, cũng phạm phải cùng một lỗi ấy.
2. Chúng ta quên bổn phận hay việc làm của mình.
Hãy chú ý những gì Phaolô đã viết ở II Têsalônica 3.10-15. Rõ ràng, đã có một số người ở tại thành Têsalônica mất kiên nhẫn rồi họ thiếu sót trong công tác phục vụ Chúa.
Có một sự khác biệt giữa nhàn rỗi và biếng nhác. Sự thoải mái và nghỉ ngơi cung ứng một sự cân đối cần thiết và có cần; nhưng khi đến lúc phải làm việc, Cơ đốc nhân phải sống có trách nhiệm. Chúng ta phải sử dụng mọi ta-lâng và thì giờ của chúng ta.
Có những người sống tại thành Têsalônica vì cớ sự bắt bớ đối với đức tin của họ, họ đã quên các bổn phận của mình rồi trông mong Hội Thánh chu cấp cho họ.
Về mặt thuộc linh, có những người trong các Hội Thánh của chúng ta ngày nay, họ tin Hội Thánh có trách nhiệm phải giữ mối quan hệ của họ với Đấng Christ sao cho sống động và tấn tới, trong khi họ đóng góp rất ít hay chẳng làm gì để trưởng dưỡng đức tin của họ.
Mối quan hệ của chúng ta với Đấng Christ là mối quan hệ cá nhân và chúng ta phải giữ cho mối quan hệ ấy luôn được tấn triển bằng cách chú ý đến các trách nhiệm thuộc linh của chúng ta theo cách riêng!
C. SỰ NHỊN NHỤC CỦA CHÚNG TA PHẢI ĐƯỢC SOI DẪN TỚI ĐẾN CHỖ CHỜ ĐỢI SỰ TÁI LÂM CỦA CHÚA.
Phaolô đã cầu nguyện rằng người thành Têsalônica cần phải được trợ giúp để thực hiện sự nhịn nhục đó. Họ phải chịu đựng bất cứ điều chi Satan đem thử thách và giáng trên họ với sự hiểu biết rằng Chúa không bao lâu nữa sẽ tái lâm để tiếp đón họ để đi ở với chính mình Ngài. Chúng ta cần phải sống giống như Tít 2.13, ở đây cho chúng ta biết: "chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ".
Không bao lâu nữa Chúa chúng ta sẽ tái lâm và như Phaolô đã viết ở Rôma 8.18: "Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta". Cách tốt nhứt để sửa soạn cho sự tái lâm của Đấng Christ là đừng bao giờ quên sự hiện diện của Đấng Christ.
Phần kết luận:
Quí bạn ơi, một năm mới đang hiện diện ở trước mặt chúng ta. Một năm đầy những cơ hội. Một năm sẽ bao gồm những thất vọng và những thất bại. Nhưng một năm trong đó chúng ta có thể tận hiến, dâng mình nhiều hơn nữa cho Đấng đã chịu chết vì chúng ta. Bạn có cần MỘT MỤC TIÊU MỚI CHO MỘT NĂM MỚI KHÔNG? Bạn có cần TÁI KHẲNG ĐỊNH LẠI TÌNH CẢM, TÁI KHẲNG ĐỊNH LẠI MỤC TIÊU, và TÁI KHẲNG ĐỊNH LẠI SỰ NHỊN NHỤC không?