Hiển thị các bài đăng có nhãn Faces around the cross. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Faces around the cross. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Luca 22:31-33: "Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho hạng người nhơn đức sa ngã"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho hạng người nhơn đức sa ngã
Luca 22:31-33
Tôi muốn nói với bạn về lý do tại sao Đức Chúa Trời lại để cho hạng người nhơn đức sa ngã. Tôi phải nhắm vào đề tài nầy khi tôi nhận một e-mail gửi đến từ một người mà tôi đã không gặp mặt trong hơn 30 năm. Ông ấy viết để hỏi tôi có nghe tin tức chưa. Tin tức nào? Có một người cả hai chúng tôi đều quen biết đã ly dị vợ mình rồi giờ đây đang theo đuổi vợ cũ của một người bạn cũ. Hai người bạn, hai cuộc hôn nhân tan vỡ, một người giờ đây đang theo đuổi vợ cũ của bạn cũ mình. Tôi có nói rằng người thực hiện cuộc theo đuổi ấy là một vị Mục sư chưa?
Thế rồi tôi có nhận một e-mail khác – lần nầy từ một người bạn tôi đã gặp tại Thần Học Viện Dallas. Tôi không gặp ông ấy kể từ năm 1978. Ông ấy viết cho tôi một lá thư thật hay gồm có hai câu:
Trong thế giới nầy của chúng ta chẳng có một cái gì là chắc chắn hết, không dám cho rằng một người tốt nghiệp DTS hay Mục sư mà cứ tiếp tục mãi trong đức tin. Tôi đã nghe kể nhiều câu chuyện nói tới những cuộc hôn nhân tan vỡ và những chức vụ bị đắm chìm.
Hai e-mail ấy khiến tôi phải suy nghĩ. Tôi bị áp đảo bởi sự thực là tôi đã nhận chúng từ những người bạn thân một thời, họ không biết nhau và tôi đã không gặp họ ít nhất là 30 năm. Tuy nhiên, họ đã nói ra những việc giống hệt nhau.
Tôi không có ý đưa các trường hợp nầy ra chỉ để nhớ tiếc sự thực là các cấp lãnh đạo thuộc linh hiện đang sa ngã vào trong tội trọng. Có nhiều bằng chứng như thế khi đọc qua Kinh Thánh. Có Nôê, là người đã say rượu, Ápraham, là người đã nói dối về vợ mình, Môise, là người đã giết một người Êdíptô, và tất nhiên có David, là người đã phạm tội tà dâm và rồi đã giết người đặng bao che cho tội lỗi của mình.
Nhưng vì ân điển của Đức Chúa Trời
Thắc mắc mà tôi đưa ra là đây: Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho những việc như thế xảy ra? Tại sao Ngài để cho hạng người nhơn đức sa ngã vào trong tội lỗi? – và chúng ta học được gì từ chỗ nầy? Tôi dám chắc hết thảy chúng ta đều biết rõ câu trả lời rồi. Đức Chúa Trời để cho hạng người nhơn đức sa vào trong tội lỗi để phần còn lại trong chúng ta sẽ không học đòi mà phạm vào chính lỗi lầm xuẫn ngốc ấy nữa. Tất nhiên, đấy là sự thật. Có bao nhiêu người trong chúng ta đã nghe kể các tin xấu về một người bạn rồi nói: “Nếu không có ân điển của Đức Chúa Trời, tôi cũng sẽ phạm vào việc ấy?” Tôi đã nhũ thầm như thế rất nhiều lần – và cũng một thể ấy với bạn. Sự thực là chúng ta có thể rút tỉa một bài học từ những lỗi lầm của người khác – và nếu chúng ta không rút tỉa được, chúng ta có thể thấy mình đang ao ước việc ấy.
Nhưng có nhiều điều cần phải học hỏi và đấy là gánh nặng của sứ điệp nầy. Tôi muốn chúng ta nhìn vào câu chuyện nói tới Phierơ, là người đã ba lần chối Chúa. Có lẽ chỗ để bắt đầu là đọc phần Kinh Thánh gốc đó. Hãy lắng nghe lời lẽ của Chúa Jêsus phán cùng Phierơ trong đêm trước khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá: “Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy quỉ Sa-tan đã đòi sàng sảy ngươi như lúa mì. Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình” (Luca 22:31-32). Lời lẽ nầy trông dường như rất kỳ lạ đối với Phierơ, lời lẽ ấy dường như thoát ra từ chỗ chán nản lắm vậy. Cái điều đáng nhớ, ấy là Phierơ trong nhiều phương thức là bậc trượng phu nhất trong tất cả các môn đồ. Ông thường xuyên lâm vào chỗ rắc rối vì ông hay thốt ra những điều mà người khác còn suy nghĩ nhưng chưa có can đảm để nói ra. Ông là con người có cái miệng bằng cái chân, thường xuyên hứa hẹn nhiều hơn ông có thể phát ra.
Đêm ấy không ở ngoài ngoại lệ. Khi ông nghe lời lẽ nầy của Chúa Jêsus, ông biết rõ chẳng cần phải nói là chúng đang chứa một lời quở trách nặng lắm – một lời báo trước về thất bại của cá nhân dường như là bất khả thi. Song Phierơ chẳng là gì hết nếu không có can đảm ở trong lòng, vì vậy ông đáp lại tuy dại dột nhưng rất chân thành: “Thưa Chúa, tôi sẵn lòng đi theo Chúa, đồng tù đồng chết” (Luca 22:33). Ông không biết rằng nhiều năm sau đó ông sẽ giữ lời hứa đó. Nhưng không phải cái đêm ấy. Khi ông thốt ra mấy lời nầy, giây phút thất bại của cá nhân ông – vết nhơ đến nỗi 2000 năm qua không thể di dời ra khỏi bản tường trình của ông – ba lần chối Đấng Christ của ông chỉ không đầy 5 tiếng đồng hồ sau đó.
Một Cơ đốc nhân chưa được biến đổi là hoàn toàn khả thi.
Hãy suy gẫm lời lẽ của Chúa Jêsus trong một phút xem: “Vậy, đến khi ngươi hối cải”. Bản King James chép như thế nầy: “Nhưng khi ngươi xây trở lại”. Có người đã vấp ngã vì câu nói đó, nhưng tôi nghĩ nó hoàn toàn chính xác. Lời lẽ của Chúa chúng ta đang treo trên khoảng không với một sứ điệp mà chúng ta cần phải lắng nghe. Một Cơ đốc nhân chưa được biến đổi là hoàn toàn khả thi. Phierơ đã được cứu, song ở một ý nghĩa sâu sắc hơn, ông chưa được biến đổi trọn vẹn để cho Chúa sử dụng – và điều nầy giải thích thất bại thê thảm của ông.
Từ câu gốc nầy, tôi muốn chia sẻ với bạn bốn nguyên tắc quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ lý do tại sao hạng người nhơn đức lại sa ngã và chúng ta có thể tiếp thu được gì từ đó.
I. Không một Cơ đốc nhân nào trổi hơn khả năng thất bại về mặt đạo đức.
Có một kẻ thù ghê gớm lắm trong linh hồn bạn, nó sẽ hủy diệt bạn nếu nó có thể.
Luận điểm nầy rõ ràng đến nỗi tôi hình dung chẳng có ai dám tranh luận nghịch lại nó. Chúa Jêsus nói cho Phierơ biết rằng Satan muốn “sàng sãy” ông giống như sàng sãy lúa mì vậy. Một bản dịch chép: “Satan đã đòi” trong khi bản dịch khác nữa chép: “Satan đã đòi cái quyền” sàng sãy ngươi. Tư tưởng ấy có thể gây sốc cho một số người trong các bạn vì đôi khi có người nói rằng Satan chẳng có quyền hành gì trên Cơ đốc nhân cả. Ở một ý nghĩa nào đó thì điều ấy là thực vì chúng ta biết Satan không thể làm gì nếu không có phép của Đức Chúa Trời. Martin Luther đã nói rằng ma quỉ là “ma quỉ của Chúa” ý nói rằng hắn hoàn toàn phục vụ mục đích của Đức Chúa Trời trong vũ trụ. Nhưng ông cũng nói rằng thế gian nầy đầy dẫy với ma quỉ, chúng đe dọa hủy diệt chúng ta. Trong thời buổi và trong kỷ nguyên nầy, thật là dễ mất cân đối về Satan và công việc của hắn. Nhưng hãy để cho câu gốc của chúng ta nói ra với một giọng nói thật đầy đủ. Có một kẻ thù ghê gớm lắm trong linh hồn bạn, nó sẽ hủy diệt bạn nếu nó có thể. Phierơ không hề quên được lời lẽ của Chúa Jêsus trong cái đêm số phận ấy, và nhiều năm sau đó ông đã nói như thế nầy: “Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (1 Phierơ 5:8). Chúng ta là những kẻ dại dột nếu chúng ta không xem trọng những lời nầy.
Tôi có gặp một giáo sĩ đã hưu hạ, ông đã hầu việc Chúa với sự xuất chúng trong nhiều năm trời. Sau khi nghe tôi giảng, ông yêu cầu không biết ông có thể tiếp chuyện riêng với tôi không!?! Ông kể lại rằng khi ông còn là một thanh niên, ông đã phấn đấu kịch liệt trong lãnh vực cám dỗ về mặt tình dục. Ông nói: “Khi tôi đến thập niên 50, tôi vẫn còn đánh trận ấy, nhưng tôi luôn luôn nghĩ rằng khi sau cùng mình già rồi, sự cám dỗ sẽ không còn có nữa”. Nhưng nó không biến mất đâu. “Ngày nay nó vẫn mạnh mẽ như khi tôi còn là một thanh niên vậy”. Ông đã trung tuần 80 tuổi khi ông trao đổi với tôi.
Tôi nói rằng chỉ ra thật đơn sơ tội lỗi đó đang xảy đến với hết thảy chúng ta bằng nhiều cách thức khác nhau, và chúng ta không dám xem thường bất cứ điều chi khác.
II. Satan thường tấn công chúng ta vào lúc chúng ta mạnh mẽ, chớ không tấn công chúng ta ở điểm chúng ta yếu đuối đâu.
Rốt lại, há Phierơ không dạn dĩ nói: “Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy” (Mác 14:29)? Nếu bạn yêu cầu Phierơ sáu giờ đồng hồ trước hãy liệt kê ra những điểm mạnh của ông, chắc chắn ông sẽ đưa ra lòng dạn dĩ và can đảm ở hàng đầu danh sách. Ông sẽ nói: “Có khi tôi tra chân mình vào miệng, nhưng ít nhất tôi không sợ hãi khi nói năng. Chúa Jêsus vốn biết rõ tôi luôn luôn có mặt ở đó khi Ngài cần đến tôi”.
Thế nhưng khi Satan tấn công, nó xảy đến cách thình lình, thật nhanh chóng, bất ngờ đến nỗi “vị sứ đồ dũng cảm đổi thành màu mè”. Bản thân Phierơ là vô dụng. Trong giây phút khủng hoảng, Phierơ đã thất bại ngay thời điểm mà ở đó ông đã thề sẽ trung tín cho đến đời đời.
Điều nầy có làm cho chúng ta phải ngạc nhiên không? Rốt lại, tại sao Satan lại tấn công chỉ vào lúc bạn thấy mình là yếu đuối chứ? Nếu bạn biết mình có một sự yếu đuối, đấy là lãnh vực mà bạn nên canh chừng cẩn thận nhất. Nếu bạn biết mình có một nan đề với giận dữ hay với sự biếng nhác hoặc với tư dục hay với tánh tham ăn, bạn nên canh chừng e bạn sẽ vấp ngã chăng?
Nhưng không phải như thế với sức lực của bạn. Bạn có khuynh hướng xem các lãnh vực ấy là không sao đâu. Bạn nói: “Đấy chẳng phải là vấn đề đối với tôi. Tôi có những nan đề khác, nhưng lãnh vực đó không thực sự là một sự cám dỗ đâu mà”.
Thật là một việc tốt khi Chúa cho phép chúng ta thất bại.
Hãy coi chừng! Hãy dựng ngọn cờ đỏ lên đi! Có mối nguy hiểm ở trước mặt đấy. Khi một người xem thường bất kỳ lãnh vực nào, đấy là lãnh vực duy nhất Satan muốn tấn công đấy. Tại sao chứ? Vì đấy là lãnh vực duy nhứt mà ở đó bạn không canh chừng sự công kích của hắn.
Điều đó đã xảy ra cho Phierơ. Nó sẽ xảy ra cho bạn và cho tôi chẳng sớm thì muộn thôi.
III. Đức Chúa Trời để cho chúng ta thất bại để đẩy lùi thái độ tự tín của chúng ta.
Không bao giờ Phierơ lại dám khoác lác về bản thân mình giống như ông đã khoác lác trong đêm đó nữa. Không bao giờ ông dám cho rằng mình là tốt hơn các anh em kia. Không bao giờ ông còn tự mãn và tự tín như trước đây nữa. Mọi sự đã qua đi cho đến đời đời, một phần cái giá Phierơ phải trả cho sự thất bại của ông trong giờ phút khủng hoảng.
Thật là một việc tốt khi Chúa cho phép điều nầy xảy đến cho chúng ta. Bởi sự té dài ấy, chúng ta buộc phải công nhận rằng không có Chúa chúng ta chẳng thể làm chi khác hơn là thất bại. Chúng ta càng mau tiếp thu (và chúng ta không bao giờ học được bài học ấy trọn vẹn), chúng ta càng trở nên tốt hơn. Thất bại dường như không bao giờ là một việc tốt khi nó xảy ra, nhưng nếu thất bại quét sạch hết sự tự mãn tự tín của chúng ta, thế thì thất bại hoàn toàn là một sự ban cho đến từ Đức Chúa Trời.
Cách đây nhiều năm trong một thời điểm khó khăn, vào thời điểm bị chèn ép ghê lắm, tôi đã nói ra một số việc với mấy người bạn thân mà lẽ ra tôi không nên nói. Mọi lý do đều không phải là vấn đề, tôi cũng không nhắc lại ở đây những gì tôi đã nói với họ. Tôi đã nói ra dưới áp lực, tôi đã giận dữ lắm và đã nói ra những việc gây tổn thương cho những người mà họ không đáng bị đối xử như thế. Trong những ngày nối theo sau, tôi đã trả giá cho việc làm nguội đi bản tánh của tôi. Tôi thấy rằng cơn giận ở trong lòng nguôi ngoai dần đi. Nó từng ở trên đỉnh cao, rồi đã được bung ra, tôi không thể níu nó lại được nữa. Cơn giận của tôi lóe lên mỗi lần tôi nghĩ đến cuộc gặp gỡ ấy.
Một tháng sau, khi tham dự một cuộc hội nghị ở một tiểu bang khác, tôi có gặp một người giờ đã trở thành bạn thân thiết lắm. Một tối kia, chúng tôi ở lại muộn và tôi nói, với từng chi tiết, câu chuyện về sự bùng nổ của cá nhân tôi. Khi tôi thuật lại chuyện ấy, tôi lại bắt giận lên trở lại.
Bạn tôi lắng nghe toàn bộ câu chuyện và rồi anh ấy nói: “Ray, bạn là người may mắn đấy. Những gì đã xảy ra cho bạn là một dấu hiệu của ân điển Đức Chúa Trời”. Tôi thấy kỳ cục lắm khi nghe mấy lời nầy. Chẳng lẽ ông ấy lạ bỏ sót mục tiêu trong câu chuyện của tôi sao? Nhưng ông ấy biết tôi rõ hơn là tôi biết mình. “Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho bạn thấy ân điển của Ngài bằng cách để cho bạn không kềm giữ được tánh khí của mình như thế”. Làm sao khi tôi không kềm được bản tánh mình lại là một hành động của ân điển Đức Chúa Trời chứ? “Trong nhiều năm trời, bạn đã mang lấy hình ảnh của một người tiết độ hoàn toàn trong cuộc sống của mình. Bạn tỏ ra cái bề ngoài rất thoải mái. Những người không quen bạn họ nghĩ rằng bạn chẳng có một sự lo lắng nào trong thế gian. Và bạn đã gieo ra hình ảnh ấy vì làm cho bạn được lòng người và dễ nhìn hơn. Nhưng sự thực khác biệt xa lắm. Có cái vạc sôi sùng sục ở bên trong mà bạn đã giữ kín cái nắp đậy ở bên trên lâu rồi. Nhưng đêm ấy, cái nắp bị bật ra. Trước đêm ấy, nếu có ai hỏi: ‘Ông có tánh cáu không?’ ông sẽ bật cười rồi nói: ‘Không dám đâu’. “Ông không thể nói lại câu đó nữa đâu”.
Phierơ không còn chổi dậy và khoe khoang về sự can đảm của mình nữa.
Thế rồi ông ấy tiếp tục giải thích một lẽ thật cơ bản về đời sống Cơ đốc. “Khi chúng ta lớn lên trong Đấng Christ, hầu hết chúng ta đều đạt tới chỗ mà ở đó chúng ta nghĩ có một vài tội lỗi mà chúng ta chưa bắt phục. Có thể chúng ta không nói ra lớn tiếng câu nói ấy, nhưng trong lòng chúng ta nghĩ: ‘Tôi sẽ không hề phạm tội ấy đâu’. Đấy là điều đã xảy ra cho bạn và cho bản tánh của bạn. Bạn che đậy cái tôi của mình quá lâu đến nỗi bạn nghĩ nó không có ở đó nữa. Nhưng nó có ở đó, giống như một con rắn cuộn mình trong đám cỏ, chờ đợi cơ hội để tấn công”.
Ông ấy kết luận với mấy lời đáng nhớ nầy: “Đêm ấy Đức Chúa Trời lột bỏ cái màn che rồi để cho thế gian nhìn thấy hành động đồi bại của bạn. Từ giờ trở đi, bất cứ đâu bạn đứng lên nói, bạn không còn nói: ‘Tôi không bực tức đâu” vì bạn có bực tức đấy. Đức Chúa Trời để cho bạn nói ra những việc khủng khiếp ấy với bạn bè của mình hầu cho bạn không còn giả vờ giống như bạn chưa biết vậy. Đấy là ân điển của Đức Chúa Trời đang tác động trong đời sống của bạn đó”.
Đức Chúa Trời có thể chạm đến những chỗ tan vỡ của chúng ta rồi khiến cho chúng ta mạnh mẽ hơn chúng ta có trước đó.
Tôi tin từng lời nói mà bạn tôi đã nói tuyệt đối là sự thực. Đức Chúa Trời để cho tôi thất bại trong giờ phút khủng hoảng và khi làm như vậy, Ngài đã tỏ ra cho tôi thấy một phần cái tôi mà tôi chưa hề thấy trước đây.
Đấy là những gì Ngài đã làm cho Phierơ. Phierơ không còn chổi dậy và khoe khoang về sự can đảm của mình nữa. Thay vì thế, trong tương lai ông ấy sẽ nói về sự hạ mình.
IV. Đức Chúa Trời có thể chuộc lấy những lỗi lầm của bạn nếu bạn để cho Ngài thực hiện công việc đó.
Tôi để ý thấy hai sự kiện rất thú vị về phương thức Chúa Jêsus đối xử với Phierơ: 1. Ngài không hề phê phán ông và, 2. Ngài không từ bỏ ông. Chúa Jêsus vốn biết rõ về sự Phierơ chối bỏ từ trước khi việc đó xảy ra nữa kìa. Ngài biết rõ những điều Phierơ sẽ làm, Ngài biết rõ ông sẽ phản ứng ra sao nữa kìa, và Ngài biết rõ loại người mà Phierơ sẽ trở thành sau đó. Đấy là lý do tại sao Ngài phán: “Vậy, đến khi ngươi hối cải”. Không phải nếu ... mà là khi! Ngài biết rõ tấm lòng của Phierơ là rất tốt, Ngài biết rõ sau tội lỗi khủng khiếp nầy, ông ấy sẽ trở lại với Chúa. Há chẳng tuyệt diệu sao? Chúa Jêsus tin nhiều nơi Phierơ hơn Phierơ tin nơi Chúa Jêsus. Ngài vốn biết rõ Phierơ có việc quan trọng cần phải làm - “làm vững chí anh em ngươi” – nhưng điều đó sẽ không xảy ra nếu không có sự sa ngã của ông và sự ông phục hồi lại với Chúa. Sự ấy phải xảy ra theo cách ấy hoặc giả Phierơ sẽ không bao giờ đạt được hiệu quả cho Đấng Christ.
Có một nguyên tắc rất quan trọng đang tác động ở đây. Một cái xương bị gãy thường trở nên cứng hơn sau khi được lành. Một việc gì đó trong tiến trình chữa lành làm cho chỗ gãy được cứng cáp hơn trước đó. Cũng thực như thế về một sợi dây bị đứt. Trong tay của một mấu nối bậc thầy, sợi dây từng được sửa chữa, nó sẽ cứng cáp hơn trước đó.
Phierơ đã làm rất nhiều việc cho Đức Chúa Jêsus Christ sau khi ông vấp ngã hơn ông đã làm trước đó.
Cũng thực như thế cho những thất bại của chúng ta. Đức Chúa Trời có thể chạm đến những chỗ tan vỡ của chúng ta là khiến cho chúng ta được mạnh mẽ hơn trước đó. Mặc dù chúng ta vấp ngã, vấp ngã và vấp ngã, và dù mặt chúng ta bị phủ đầy với những thứ bẩn thỉu thất bại cay đắng, bởi ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta có thể chổi dậy từ chỗ thất bại rồi cứ tiến bước đến với sự vinh hiển mới.
Đấy là những gì đã xảy ra cho Phierơ. Tội lỗi của ông được đổi thành ân điển; sự xấu hổ của ông được đổi thành cảm thông; sự thất bại của ông được đổi thành trung tín.
Đây là minh chứng: Phierơ đã làm rất nhiều việc cho Đức Chúa Jêsus Christ sau khi ông vấp ngã hơn ông đã làm trước đó. Trước khi ông vấp ngã, ông hay lớn tiếng, hiếu động và không đáng tin cậy; sau đó ông đã trở thành một nhà truyền đạo nóng cháy của Tin Lành. Trước đó ông là một tay nói cao kỳ; sau đó ông chỉ nói những gì Đức Chúa Jêsus Christ có thể nói cho tha nhân. Ông cũng chính là một người ấy, nhưng ông đã khác biệt rồi. Ông vẫn là Phierơ mãi thôi, nhưng ông đã bị Satan sàng sảy và trong việc sàng sảy đó, rơm rạ trong đời sống ông đã bị thổi tung đi hết. Đây là những gì bị mất trong thất bại của ông:
Lòng tự cao tự đại của ông
Sự kiêu căng của ông
Sự tự tín của ông
Tính bốc đồng của ông
Tình trạng không đáng tin cậy của ông
Đây là những gì Phierơ đã có được sau khi được phục hồi:
Hạ mình
Lòng tin cậy mới mẻ đặt nơi Đức Chúa Trời
Lòng dạn dĩ đã được thử nghiệm
Quyết tâm mới muốn hầu việc Đức Chúa Jêsus Christ
Một sự bằng lòng sử dụng kinh nghiệm của mình để giúp đỡ cho tha nhân
Những việc ông bị mất mát thực sự ông chẳng cần đến nữa; những việc ông có được không thể đến bởi con đường nào khác. Cũng một thể ấy, Đức Chúa Trời chuộc mọi lầm lỗi của chúng ta bằng cách dời đi những việc hạ thấp chúng ta rồi thay thế chúng bằng những đức tính mà chúng ta luôn luôn có cần song dường như chẳng thể tìm được.
Những việc ông bị mất mát thực sự ông chẳng cần đến nữa; những việc ông có được không thể đến bởi con đường nào khác.
Hy vọng dành cho kẻ vấp ngã
Có nhiều điều trong câu chuyện nầy sẽ khích lệ chúng ta. Ấy chẳng phải Phierơ kia, người đã chối Chúa đâu; đó là Phierơ thật, là người đã bước theo Ngài vào trong sân. Ấy chẳng phải Phierơ kia, là người đã rủa sả và thề thốt; đó là Phierơ thật, là người đã nói: “Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống”. Khi Chúa nhìn vào bạn và tôi, Ngài không nhìn vào chúng ta rồi chỉ nhìn thấy các thất bại của chúng ta đâu. Ngài nhìn qua bên kia mọi lỗi lầm của chúng ta nhìn thấy lòng trung thành nằm ở bên dưới đó. Ngài nhìn thấy nổi đau, những hàng nước mắt và ao ước sốt sắng nhất của chúng ta muốn làm đẹp lòng Ngài. Ngài nhìn thấy chúng ta trong các nổ lực loạng choạng của chúng ta khi bước theo Ngài.
Câu chuyện nầy được áp dụng cho ai đây? Trước hết, cho bạn là kẻ đang chịu cám dỗ, là kẻ cảm thấy cái lôi kéo của hoàn cảnh hòng kéo bạn xa khỏi Chúa. Hãy vững lòng đi! Bạn có cảm thấy yếu đuối và bối rối không? Phierơ cũng đã cảm thấy thế đấy. Có phải bạn ngã lòng về cuộc đời của mình chăng? Phierơ cũng đã cảm thấy ngã lòng nữa đấy. Bạn có cảm thấy mình bị vùi vào trong góc kẹt không? Phierơ đã cảm nhận thế đấy. Câu chuyện nầy là dành cho bạn đó.
Thứ hai, câu chuyện nầy dành cho những ai đã vấp ngã. Có lẽ bạn nhường bước trước áp lực trong tuần nầy. Có lẽ bạn đang vác lấy gánh nặng từ một lời nói không suy nghĩ nào đó đã thốt ra trong vội vàng. Có lẽ bạn đã chối Chúa bằng cách giữ im lặng ở sở làm khi bạn nên phải nói ra. Có lẽ bạn đã sử dụng lối nói tục tằn trong tuần nầy — dù chỉ thốt ra dưới hơi thở của mình. Có lẽ bạn có mặt ở chỗ mà bạn không nên có mặt. Có lẽ bạn đã thấy rõ cái tôi của mình trong mối quan hệ mà bạn biết là sai trái. Hãy vững lòng đi! Không những Phierơ đã cảm thấy y như bạn, mà ông ấy còn vấp ngã giống như bạn nữa đấy.
Thứ ba, câu chuyện nầy dành cho những ai đang xây trở lại với Đức Chúa Trời. Có lẽ bạn biết rõ mọi sự về khóc lóc với những giọt lệ cay đắng rồi. Có phải bạn cảm thấy giống như thể Đức Chúa Trời đang ở cách xa bạn lắm, có phải không? Dường như giống như bạn đang đang lê bước một mình qua một sa mạc rộng lớn vậy? Bạn có cảm thấy bối rối và bị sỉ nhục bởi những việc bạn đã làm và đã nói vì chúng đã nhận bạn vào mớ rối rắm kia chăng? Hãy vững lòng đi! Phierơ cũng đã cảm thấy như vậy đấy.
Không một truyện tích nào trong cả Kinh Thánh cung ứng cho chúng ta hy vọng càng hơn. Nếu Phierơ có thể vấp ngã, ai cũng có thể vấp ngã hết. Nếu Phierơ có thể quay trở lại, ai cũng có thể quay trở lại được mà
Luật đầu tiên cho sự tiến triển về mặt thuộc linh
Một điểm sau cùng. Câu chuyện nầy xuất phát từ đâu vậy? Làm sao nó được ghi trong Kinh Thánh chứ? Ai thuật lại câu chuyện nầy ở chỗ đầu tiên? Câu chuyện ấy chỉ có thể đến từ Phierơ thôi. Không một ai khác có mặt ở đó để thuật lại những gì đã xảy ra. Chúng ta không làm được như vậy. Chúng ta che giấu lầm lỗi của mình với sự biết chắc không ai tìm ra chúng. Phierơ không như vậy đâu. Ông đã từng được phục hồi, ông không thể thôi không nói về những điều Chúa Jêsus đã làm cho ông.
Cách đây mấy năm, Chúa ban cho tôi một loạt những câu nói mà tôi gọi là Luật đầu tiên cho sự tiến triển về mặt thuộc linh:
TÔI KHÔNG THỂ ĐI LÙI ĐƯỢC
TÔI KHÔNG THỂ TRỤ Ở ĐÂY
TÔI PHẢI TIẾN TỚI TRƯỚC
Bạn không thể lùi lại với quá khứ – không phải để sống lại với những thời điểm suông sẻ hay phá bỏ đi những lỗi lầm mà bạn đã phạm phải. Nhưng bạn không thể trụ lại ở chỗ đó nữa. Cuộc sống là một dòng sông cứ chảy mãi không dứt về phía trước. Dù bạn đang sung sướng trong hoàn cảnh hiện tại hoặc bạn đang tìm cách thoát ra khỏi đó thì không thành vấn đề. Bạn không thể trụ lại chỗ mà bạn đang sống cho đến đời đời được. Cách duy nhứt phải đi là đàng trước mặt. Khi bạn bị thử thách phải thất vọng, hãy nhớ rằng bạn không thể đi lùi được, bạn không thể trụ lại ở chỗ đó, nhưng bởi ân điển của Đức Chúa Trời, bạn cứ tiến tới trước từng bước từng hồi từng lúc một.
Phierơ vẫn còn nói với chúng ta hôm nay: “Nếu bạn nghĩ bạn thiếu sót, nếu bạn cảm thấy mình đã chối bỏ Ngài, hãy nhìn vào những điều đã xảy ra cho tôi. Đừng thất vọng. Đức Chúa Trời vẫn yêu thương bạn, và Ngài yêu thương bạn nhiều đến nỗi bạn đã làm gì đều chẳng phải là vấn đề đâu. Nếu Đức Chúa Trời có thể tha thứ cho tôi, Ngài có thể tha thứ cho bất kỳ ai. Ngài yêu thương bạn lắm đấy, Ngài luôn luôn đã và luôn luôn sẽ yêu thương đấy thôi”.
Có hy vọng cho hết thảy chúng ta — người tốt nhứt trong chúng ta, kẻ tệ hại nhất trong chúng ta, và phần còn lại trong chúng ta. Nếu bạn đã vấp ngã, Ngài có thể nâng bạn lên. Nếu bạn tan vỡ, Ngài có thể khiến bạn lại lành. Nếu bạn thất bại, Ngài có thể khiến bạn ra hữu dụng. Nếu bạn đánh mất lòng dạn dĩ mình, Ngài có thể ban nó lại cho bạn ngay.
Hãy vững lòng và tin theo những tin tức tốt lành. Nếu Ngài đã làm điều đó cho Phierơ, Ngài có thể làm điều đó cho bạn đấy.

Công Vụ các Sứ đồ 1:15-26: "Điều gì xảy ra cho Giuđa?"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Điều gì xảy ra cho Giuđa?
Người từng hôn cánh cửa thiên đàng, nhưng đã xuống địa ngục –

Công Vụ các Sứ đồ 1:15-26
"Song khốn cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn" (Mác 14:21b).
“Nếu bạn chưa lại sanh, ngày hầu đến là lúc bạn sẽ ước ao mình đừng nên sanh ra" (Warren Wiersbe).
Có lẽ chỗ phải bắt đầu là phần cuối của câu chuyện. Lúc bấy giờ là sáng sớm ngày thứ Sáu tại thành Jerusalem — có khi là giữa nửa đêm và bình minh — và người Do thái đã xong việc với Chúa Jêsus. Họ đã có phiên tòa chiếu lệ với những bản án mang tính cách vu cáo cùng những kẻ làm chứng dối của họ. An-ne đã có một vòng với Chúa Jêsus và Cai-phe cũng thế. Cáo trạng của họ rất rõ ràng — người nầy là một kẻ phạm thượng đáng chết. Sự tụ tập của các cấp lãnh đạo tôn giáo được đề ra để bắt Chúa Jêsus giải sang cho Phi-lát, quan tổng đốc Lamã. Ông ấy mới là người có thể ra lịnh tử hình Chúa Jêsus.
Có một sự chuyển dịch, ồn ào, huyên náo khi cả nhóm di chuyển hướng đến pháp đình. Trong bóng tối, có một người, giờ đây bị lãng quên, đang quan sát, gương mặt ông ta căng thẳng lên, mắt ông ta sưng húp, đầu ông ta hơi cụp xuống. Đêm ấy quả là một đêm thật dài, dài nhất trong cả cuộc đời ông ta. Có bao nhiêu giờ đồng hồ đã trôi qua kể từ bữa ăn ấy trên cái phòng cao? Sáu, có thể là bảy, ai biết được? Sau khi ông ta rời đi, ông ta đi thẳng đến với các thầy cả thượng phẩm để thực hiện sự sắp xếp sau cùng. Thế rồi có một lối đi ngắn trong bóng tối băng qua Trũng Kít-rôn đi lên dốc của Núi Ôlive. Toàn bộ sự việc đã kéo dài không đầy 5 phút. Trong chỗ lờ mờ đó, một vài lời nói, một nụ hôn, một vài lời căm giận của Phierơ và nhiều người khác nữa, thế là Chúa Jêsus đã bị bắt rồi bị giải đi.
Mặt trời mọc lên, ông ta đã đổi ý
Trong hai bàn tay của Giuđa, ông ta cầm cái túi nhỏ chứa ba mươi miếng bạc. Ông ta còn áy náy đến nỗi chưa đếm túi tiền ấy nữa. Không một ai chú ý đến ông ta lúc ấy. Sự thể giống như ông ta còn là tin tức của ngày hôm qua vậy. Không một ai buồn nói tới một kẻ phản bội.
Ông ta đã chờ đợi qua cả đêm hôm ấy, cứ bám lấy rìa của đám đông, lắng nghe coi sự việc đã diễn ra thể nào. Chính xác thì ông ta trông đợi điều gì chứ? Không một ai dám chắc. Nhưng nếu lúc nửa đêm ông ta muốn nhìn thấy Chúa Jêsus chết đi, thì khi mặt trời mọc ông ta đã đổi ý của mình.
Những ký ức kia cứ bám riết lấy lý trí ông ta. Những việc Chúa Jêsus đã nói, giống như những câu nói đùa mà các sứ đồ thường hay nói, những câu chuyện mà Chúa Jêsus đã kể lại thật nhiều lần. Những hình ảnh nhỏ đã tự chúng tô điểm trong bóng tối tăm — nụ cười trên gương mặt đứa con gái của Giairu khi Chúa Jêsus làm cho nó sống lại từ kẻ chết, cái nhìn trên gương mặt của Phierơ khi ông đi bộ trên mặt biển và hình ảnh ấy cứ khuấy đảo ông luôn, hình ảnh 12 giỏ bánh đầy kia sau khi Chúa Jêsus cho hơn 5.000 người ăn. Ông ta có thể nhìn thấy hình ảnh ấy rất rõ ràng và lắng nghe mọi sự mà ký ức đã ghi nhận lấy thật nhiều việc.
Thế rồi tiếng đồn lan nhanh là Chúa Jêsus bị kết án tử hình. Ông ta không lấy làm lạ, song ông ta đã. Trong một phút đồng hồ, có một sự chấn động trong pháp đình và Giuđa nhìn thấy Chúa Jêsus khi Ngài bị giải sang cho Phi-lát. Ông ta không nhìn thấy rõ Ngài, chỉ thoang thoáng gương mặt Ngài ở một khoảng xa xa, song ông ta biết đấy là Chúa Jêsus.
Bị áp đảo. Đấy là từ duy nhứt phải sử dụng. Giuđa bị áp đảo với tư tưởng Chúa Jêsus sắp bị tử hình. Trong giây phút ấy, tư tưởng đó thoạt đến với ông ta như một tia chớp làm lóe mắt: Ông ta đã phạm một lỗi lầm rất nghiêm trọng trong cuộc đời của mình, một lỗi lầm nghiêm trọng đến nỗi ông ta phải tìm một phương thế nào đó để sửa cho ngay lại.
Quá trễ
Với tư tưởng ấy đầy dẫy lý trí mình, ông ta cầm lấy cái túi tiền rồi tìm cách trả nó lại. Nhưng các thầy cả thượng phẩm đã cười nhạo ông ta. Họ chẳng còn cần đến ông ta hay tiền bạc của ông ta nữa. Họ đã có những gì họ mong muốn.
Trong nổi thất vọng ấy, Giuđa đã kêu la lên: “Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội” (Mathiơ 27.4). Từng chữ ấy đều là sự thực cả. Ông ta đã phạm vào tội ấy; những gì ông ta đã làm là tội lỗi tệ hại nhất có thể tưởng tượng được; ông ta đã phản Chúa Jêsus, dù Ngài vô tội, là Đấng sắp sửa trả giá bằng huyết Ngài cho tội ác của Giuđa.
Với nổi thất vọng đó, ông ta đã ném số tiền lại vào trong đền thờ, những đồng tiền lăn tròn, kêu lên những tiếng leng keng khi chúng chạm xuống cái nền bằng đá kia. Khi Giuđa xây đi, 30 miếng bạc còn ở lại phía sau. Không những Giuđa đánh mất Chúa của mình, ông ta còn mất cả tiền bạc. Sau đó, ông ta còn mất mạng sống của mình nữa
Về sự tự tử của ông ta, chẳng có điều gì cần phải nói tới. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “hắn bỏ đi rồi tự treo cổ mà chết”. Đây là hành động sau cùng của một người không thể sống với chính mình và ký ức của những gì mình đã làm. Trong cái mỉa mai nhắm vào cái ngày thê thảm nầy, Giuđa đã chết trước khi Chúa Jêsus gục chết.
Sự thể là như thế
Nhưng sự thể không luôn luôn theo cách ấy. Nếu chúng ta đi từ lúc bắt đầu, chúng ta thấy một loạt những điều đáng nhớ về Giuđa:
1. Cá nhân ông ta được Đức Chúa Jêsus Christ chọn là sứ đồ.
2. Ông ta đã lìa bỏ mọi sự để theo Chúa.
3. Ông ta đã dành ra 3 năm rưỡi đi dọc đi ngang xứ Israel với Đấng Christ.
4. Ông ta đã đích thân nhìn thấy nhiều phép lạ của Đấng Christ.
5. Ông ta đã nghe Đấng Christ ban ra mọi bài giảng nổi tiếng của Ngài.
6. Ông ta đã quan sát khi Đấng Christ chữa lành kẻ đau, làm sống lại kẻ chết và đuổi tà ma.
7. Ông ta, cùng với các sứ đồ khác, đã được sai đi ra rao giảng Tin Lành.
8. Ông ta là một trong các cấp lãnh đạo của nhóm sứ đồ.
9. Không một ai có thể hồ nghi ông ta về sự phản bội.
Trong giới hạn của kinh nghiệm, bất cứ điều chi bạn có thể nói về Giacơ, Phierơ và Giăng, bạn cũng có thể nói về Giuđa. Bất cứ đâu họ đi, ông cũng đi tới. Ông đã có mặt ở đó, luôn luôn ở bên cạnh Chúa Jêsus. Ông đã nghe hết mọi sự, đã nhìn thấy mọi sự, đã kinh nghiệm mọi sự. Tuy nhiên, khi bạn giải thích sự ông ta đào ngũ, bạn không thể nói ông ta thiếu kinh nghiệm hơn các vị sứ đồ khác.
Nếu có điều chi khác, ông ta là một trong các cấp lãnh đạo. Rốt lại, các vị sứ đồ khác đã chọn ông ta cho việc giữ lấy tiền bạc. Bạn không chọn một người để trao tiền bạc cho họ giữ mà bạn nghi ngại về lòng trung thành của họ được. Làm như thế là điên. Bạn chọn người tốt nhứt, người xứng đáng nhứt, người duy nhứt bạn biết mình có thể tin tưởng. Đấy là lý do tại sao họ đã chọn Giuđa.
Phần thú vị nhất trong toàn bộ mô tả kia, ấy là các vị sứ đồ khác rõ ràng đã nhìn thấy chỉ có mặt tích cực nơi Giuđa. Cho tới chừng họ nhìn lại sự việc thì họ mới nhận ra các mặt tiêu cực. Trước khi ông ta phản bội Chúa Jêsus, ông ta trông rất tốt cũng như bao người khác còn lại, mà kỳ thực trông ông ta còn tốt nhứt nữa kìa. Theo ánh sáng đó, chúng ta hãy lưu ý phần tường trình thêm một lần nữa đi: Chẳng có ai nghi ngờ Giuđa hết. Không một ai cả.
I. Hai thắc mắc về Giuđa
Có hai việc khiến cho chúng ta phải bối rối về Giuđa. Thứ nhứt, tại sao Giuđa làm điều đó? Thứ hai, sau khi ông ta đã làm điều đó, tại sao ông ta cảm thấy có tội chứ? Ông ta gian ác đến nỗi đã bán Chúa Jêsus để lấy 30 miếng bạc. Thế rồi sau đó, ông ta cảm thấy hối hận đến nỗi phải tự tử.
Thắc mắc 1: Tại sao Giuđa phản bội Chúa Jêsus?
Tại sao Giuđa làm điều đó? Thế lực nào đã khiến ông ta phản bội Chúa của mình? Trải qua nhiều thế kỷ, những đầu óc lỗi lạc đã suy gẫm về câu hỏi ấy. Nếu bạn muốn có một nghiên cứu đầy lý thú, hãy bước vào thư viện của trường thần học, rồi đọc kỹ về Giuđa. Bạn sẽ khám phá ra cả danh mục nhiều lý thuyết rất rối rắm. Các trước giả Tin Lành hiến cho chúng ta một vài manh mối. Ấy chính họ cũng không hề biết đâu là câu trả lời. Khi Giuđa tự tử trong vài giờ đồng hồ sau khi phản Ngài, chúng ta không có câu nói nào cung ứng mặt trái câu chuyện của ông. Vì lẽ đó, chúng ta cần phải suy gẫm về những động lực của ông.
Ba lý thuyết dường như luôn có sẵn:
• Ông ta phản bội Chúa Jêsus là vì tiền bạc. Điều nầy rất rõ ràng ở Giăng 12:6 cho chúng ta biết Giuđa đã lấy cắp tiền từ cái túi bạc. Nhưng nếu ông ta phản bội Chúa Jêsus chỉ để lấy tiền bạc thôi, ông ta đã bán Ngài quá rẻ. Ba mươi miếng bạc chỉ bằng 20USD ngày nay thôi.
• Ông ta phản bội Chúa Jêsus vì ông ta bị vỡ mộng. Có lẽ đây là lý thuyết được lòng người nhất. Lý thuyết nầy cho rằng Giuđa trông mong Chúa Jêsus lãnh đạo một cuộc lật đổ chống lại Rôma. Khi ông ta thấy Đấng Christ chẳng có một dự tính nào kiểu như vậy, ông ta bắt giận dữ rồi phản bội Ngài.
• Ông ta đã phản bội Chúa Jêsus vì ông ta lo sợ. Khi ông ta nhìn thấy những đám mây giông tố nhóm lại trong mấy ngày sau cùng đó, ông ta phản Chúa để cứu lấy bản thân mình.
Tất cả các lý thuyết ấy đều có ý nghĩa của nó, và tất cả ba lý thuyết nầy đang góp phần cho câu trả lời. Sau khi mọi bàn bạc đã xong, chúng ta vẫn không dám chắc lý do tại sao Giuđa đã làm những điều mà ông ta đã làm. Nhưng điều nầy là chắc nhất đây: Khi Giuđa phản bội Chúa Jêsus, ông ta đã phạm phải lầm lỗi to lớn nhất mà bất cứ người nào cũng dám phạm phải.
Thắc mắc 2: Tại sao ông ta cảm thấy hối hận?
Câu trả lời là đây: Giuđa rất giống với hết thảy chúng ta nơi người bề trong — bị xâu xé bởi những xung lực đối ngược. Ông ta phải tốt hơn hoặc ông ta sẽ tệ hại hơn. Nếu ông ta là một người tốt hơn, ông ta sẽ không bao giờ phản bội Chúa. Còn nếu ông ta tệ hại hơn, ông ta sẽ không cảm thấy hối hận như thế. Ông ta đã chết một cái chết thật thê thảm — tồi tàn và nhơ nhớp tội lỗi với huyết của Con Đức Chúa Trời trên tay mình.
II. Một thắc mắc về Giuđa
Vậy thì, Giuđa đang ở đâu hôm nay? Có phải ông ta đang ở trên thiên đàng hay ông ta đang ở trong địa ngục? Kinh Thánh nói rất rõ ràng ở điểm nầy: Giuđa đang ở trong địa ngục. Trong Công Vụ các Sứ đồ 1:25, Phierơ đã nói tới Giuđa là kẻ bỏ chức vụ sứ đồ “đặng đi nơi của nó”. Sát nghĩa, câu nầy đọc là: “đến với chỗ riêng của nó”. “Chỗ riêng của nó” là địa ngục. Nếu thấy khó hiểu, hãy xem lời lẽ của Chúa Jêsus ở Giăng 6:70-71 khi Ngài phán:
“Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ! Vả, Ngài nói về Giu-đa con Si-môn Ích-ca-ri-ốt; vì chính hắn là một trong mười hai sứ đồ, sau sẽ phản Ngài”.
Ngài không nói cụ thể Giuđa là một con quỉ, nhưng Giuđa khi ấy (khoảng 1 năm trước khi Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá) đã hành động dưới ảnh hưởng của Satan.
Hãy lắng nghe Chúa Jêsus khi Ngài cầu nguyện trên phòng cao vào tối thứ Năm. Giuđa đã rời đi để lo chuyện sắp xếp sau cùng. Ngay khi ấy những tên lính đã tụ tập lại cho cuộc diễu hành lên Núi Ôlive. Hành động sau cùng tự nó sắp sửa phô diễn ra. Đồng thời, Chúa Jêsus đang cầu nguyện cho các môn đồ Ngài: “Đang khi Con còn ở với họ, Con gìn giữ họ, trừ đứa con của sự hư mất ra, thì trong đám họ không một người nào bị thất lạc, hầu cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm” (Giăng 17:12).
Giuđa đang ở trong địa ngục hôm nay. Ông ta đã ở đó cả 2.000 năm và ông ta sẽ ở đó cho đến đời đời. Ông ta đã trả toàn bộ cái giá cho tội ác phản bội Con Đức Chúa Trời.
Nếu có ai hỏi: “Phải chăng Giuđa đã đánh mất ơn cứu rỗi của mình?” Câu trả lời là “Không”. Ông ta đã không đánh mất ơn cứu rỗi vì ông ta chưa hề có nó. Bất cứ điều chi khác bạn có thể nói về ông ta, ông ta chưa bao giờ là một môn đồ của Đức Chúa Jêsus Christ theo cùng một ý nghĩa giống như các môn đồ khác. Ông ta chưa được cứu và rồi bị hư mất. Ông ta bị hư mất vì ông ta chưa hề được cứu trong chỗ thứ nhứt.
Nhưng sẽ có người thắc mắc: “Phải chăng Giuđa đi địa ngục vì ông ta đã tự tử?” Thắc mắc hay đấy, và câu trả lời là “không” một lần nữa. Tự tử là một tội, nhưng đấy chẳng phải là lý do để Giuđa đi địa ngục. Giuđa đi địa ngục vì ông ta chưa hề thực sự phó chính mình cho Đức Chúa Jêsus Christ. Sự phản bội của ông ta đã minh chứng cho sự việc ấy; sự ông ta tự tử chỉ đóng ấn số phận của ông ta mà thôi.
Một thắc mắc sau cùng: “Có phải Kinh Thánh nói rằng Giuđa đã ‘ăn năn’”? Những bản dịch xưa quả thật đã sử dụng từ ngữ ấy ở Mathiơ 27:3. Một sự dịch thuật chính xác hơn là “bị hối hận bắt lấy”. Mặc dù Giuđa bị sự sai lầm nơi những gì ông ta đã làm kẹp chặt lấy, ông ta không hề van xin ơn tha thứ. Có một thế giới khác biệt giữa hai sự việc ấy. Có nhiều người thực sự cảm thấy buồn rầu vì cớ tội lỗi, song họ không hề đến với Đức Chúa Trời và van xin ơn tha thứ bao giờ. Giuđa đã tìm cách tháo gỡ sự phản bội của mình, song sự việc đã quá trễ rồi. Tôi không nghi ngờ ông đã khóc lóc với những giọt nước mắt cay đắng lúc ông ta ném số tiền trở lại đền thờ. Nhưng sự hối hận của ông ta (dù cho có thành thật đi) thì cũng chẳng phải là sự ăn năn thật và nó không dẫn tới chỗ được tha thứ. Thay vì thế, nó dẫn tới chỗ phải tự tử, là minh chứng trọn vẹn rằng Giuđa đã chết như một người không được tha thứ.
III. Ba thắc mắc dành cho chúng ta
Khi chúng ta suy gẫm lại câu chuyện lạ lùng, đáng buồn nói tới Giuđa, một vài thắc mắc nổi lên trên bề mặt. Có những thắc mắc không phải về Giuđa, mà về bạn và tôi. Chúng yêu cầu chúng ta phải xem xét Giuđa sống cở nào trong từng người chúng ta hôm nay. Và trước khi chúng ta xem xét mấy thắc mắc nầy, hãy xét điều nầy xem: Bạn càng sống tôn giáo chừng nào, bạn càng muốn làm theo những gì Giuđa đã làm. Nếu Giuđa còn sống hôm nay, chỗ tốt nhứt để gặp ông ta sẽ là ở nhà thờ vào sáng Chúa nhựt. Ông ta sẽ đến thật sớm, ngồi ở phía trước, hát những bài thánh ca với tiếng vỗ tay thưởng thức trong lúc hợp xướng, rồi nói Amen suốt cả bài giảng. Nếu Giuđa sống ở đây tại Oak Park, tôi dám chắc ông ta sẽ đến dự nhóm ở nhà thờ Calvary Memorial. Ông ta là loại người thể ấy. Ai biết được chứ? Ông ta sẽ ngồi gần bạn trên hàng ghế. Hoặc ông ta còn ngồi gần hơn thế nữa.
A. Đức Chúa Trời đã làm cho bạn thất vọng cở nào?
Nếu có bất kỳ phương thức nào để hiểu rõ Giuđa, thì chính tại điểm thất vọng riêng tư nầy đây. Có lẽ ông thực sự tin rằng Chúa Jêsus đã làm cho ông ta thất vọng và đường lối riêng cong quẹo của ông ta cảm thấy được xưng công bình trong hành động bội phản của ông ta. Song điều đó khác biệt rất nhiều so với cách chúng ta cảm nhận khi chúng ta nghĩ Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta thất vọng?
Vì vậy tôi đưa ra thắc mắc nầy: Đức Chúa Trời đã làm cho bạn thất vọng cở nào? Đối với một số người, điều đó đến từ những ước mơ bị tan tác và những hy vọng đẹp khòng còn có nữa. Đối với nhiều người khác, điều đó đến từ mối hôn nhân thất bại hay con cái xây trở nghịch lại bạn. Có lẽ bạn đã cầu nguyện và cầu thay cho người thân được chữa lành ung thư chỉ để dự đám tang của họ sau đó. Có thể bạn cảm thấy sâu sắc ở trong lòng rằng Đức Chúa Trời đã không sống theo cứu cánh dự tính của Ngài. Dù bạn không hề nói ra điều đó trong nhà thờ, bạn cảm thấy như mình đã bị Chúa bịp vậy.
Chúng ta hãy đối diện với sự thực là Đức Chúa Trời thường thất bại không sống theo mọi sự trông mong của chúng ta. Có khi Ngài không làm những gì chúng ta nghĩ Ngài sẽ làm. Chúng ta có những tiêu chuẩn nhất định về Đức Chúa Trời của vũ trụ — và Ngài không luôn luôn làm cho họ thỏa mãn. Giuđa không thể sống với nổi thất vọng, vì thế ông ta đã phản Chúa. Còn bạn thì sao?
B. Bạn sẽ đổi gì để lấy Chúa Jêsus?
Một trong những phần mỉa mai trong câu chuyện nầy, ấy là Giuđa đã không nhận được nhiều tiền bạc đâu. Vào thời buổi ấy, 30 miếng bạc là cái giá của một nô lệ — khoảng 20USD. Giuđa đi địa ngục và cái giá cho tấm vé của ông ta là 30 miếng bạc.
Bạn sẽ đổi gì để lấy Chúa Jêsus?
• Bạn sẽ phản bội Ngài là vì tiền bạc chăng?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để lấy một việc làm khá hơn chăng?
• Bạn sẽ phản bội Ngài chỉ để ôm lấy công việc mà bạn đang có sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để cứu lấy bản thân mình sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để được vào một lớp khá hơn ở trong trường?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để hẹn hò đi chơi sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để lấy một hợp đồng mới sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để lấy 1 triệu USD chăng?
• Bạn sẽ phản bội Ngài để kiếm một người chồng hay một người vợ sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài vì Ngài không sống theo những điều bạn trông mong ư?
• Bạn sẽ phản bội Ngài vì bạn tưởng Ngài đã làm cho bạn thất vọng sao?
• Bạn sẽ phản bội Ngài nếu bạn nghĩ bạn sẽ tìm được ơn của hạng người quan trọng sao?
Câu chuyện nói tới Giuđa yêu cầu chúng ta phải thăm dò lại động lực của chính chúng ta. Tại sao bạn hầu việc Chúa không cứ cách nào? Con Đức Chúa Trời xứng đáng với bạn ở tầm cở nào vậy?
C. Có phải bạn là Giuđa thứ hai không?
Cách đây nhiều năm, tôi có nghe một nhà truyền đạo giảng một bài với đề tựa rất hay: “Giuđa thứ hai”. Bài giảng ấy nhắm vào các thuộc viên của nhà thờ gồm những ai chưa thực sự được sanh lại. Như tôi nhớ, ông kể lại câu chuyện nói tới Giuđa và rồi nói về bản thân ông — thể nào ông đã lớn lên trong Hội Thánh, dự lớp trường Chúa nhựt trong nhiều năm trời, nhập học ở một trường Cơ đốc — và nếu tôi nhớ chính xác — đã trở thành Mục sư trước khi ông nhận ra ông chưa thực sự được sanh lại. Bản thân ông là Giuđa thứ hai. Thật là tầm thường và đau đớn cho ông khi đối mặt với sự thực ông đã tự lừa dối mình, song khi ông đối diện với nó, ông được biến đổi cách lạ lùng bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Điều đó có thể xảy ra cho bất kỳ ai trong chúng ta. Giuđa đã hôn cánh cửa thiên đàng nhưng lại phải xuống địa ngục. Chúa Jêsus đã chọn ông ta làm một sứ đồ, song ông ta phải xuống địa ngục. Ông ta đã sống với Chúa Jêsus trọn ba năm ấy mà vẫn phải xuống địa ngục. Ông ta đã thấy Chúa Jêsus đi bộ trên mặt biển mà vẫn phải xuống địa ngục. Ông ta đã nghe Bài Giảng Trên Núi mà vẫn phải xuống địa ngục. Ông ta đã ăn uống với Chúa Jêsus, trò chuyện với Chúa Jêsus, và lắng nghe Chúa Jêsus rao giảng hết ngày nầy sang ngày khác, tháng nầy qua tháng khác, năm nầy qua năm khác. Ông ta vốn biết rõ Chúa Jêsus như một người từng nhìn biết Chúa Jêsus mà ông ta vẫn phải xuống địa ngục.
Và hãy ghi nhớ điều nầy. Không một ai trong các môn đồ đã nghi ngờ ông ta. Đấy là lý do ông ta được chọn làm người giữ tiền. Họ đã tin cậy ông ta biết giữ gìn tiền bạc của họ. Thậm chí tại bữa Tiệc Ly, khi Chúa Jêsus xác nhận Giuđa cách công khai, họ vẫn không thể hình dung ra được việc ấy.
Hãy dò xét lòng mình
Có phải bạn biết người nào là một Giuđa trong nhà thờ nầy không? Tôi đây. Là Mục sư quản nhiệm, tôi đứng trong phép loại suy gần gũi nhứt so với chỗ mà Giuđa đã đứng. Có người nói: “Mục sư ơi, chắc chắn không phải ông đâu”. Đấy là điều mà họ đã nói về Giuđa. Hãy nhớ, cú sốc phản bội của Giuđa, ấy là ông ta trông rất nhơn đức ở bề ngoài. Nếu tôi là Mục sư của bạn, có thể thuật lại cho bạn câu chuyện nầy mà không dò xét tấm lòng của chính tôi, thế thì tôi đã bỏ sót mục tiêu rồi.
Tôi muốn bạn nhìn biết rằng tôi rất tin vào sự bảo đảm ơn cứu rỗi qua Lời của Đức Chúa Trời và sự làm chứng của Đức Thánh Linh. Tôi không dám chắc về việc thường xem xét nội tâm mình có phải hay không phải là một Cơ đốc nhân. Nhưng có một chỗ cho sự tự xét rất lành mạnh trong đời sống Cơ đốc. Không một ai dám hy vọng chắc mình sẽ được lên thiên đàng. Tôi muốn nói cách rõ ràng rằng tôi đã xem xét vấn đề trong tuần nầy, tư tưởng xảy đến với tôi là nếu tôi đúng là một Cơ đốc nhân, ấy chẳng phải vì tôi là một Mục sư, một trưởng lão, một thuộc viên Hội Thánh, một người chồng, một người cha, hay một người chuyên làm lành. Không một việc nào trong các việc nầy ít nhất là vấn đề khi phải đến với sự cứu rỗi đời đời. Nếu tôi đúng là một Cơ đốc nhân, ấy là vì tôi đang tin cậy Đức Chúa Jêsus Christ và chỉ một mình Ngài để được tha tội mình. Tôi đang đóng cây cọc hy vọng của tôi về thiên đàng trên sự thực Chúa Jêsus đã chịu chết vì tôi và đã sống lại từ kẻ chết. Nếu Ngài không thể đưa tôi vào thiên đàng, thế thì tôi sẽ không vào được đó.
Giuđa dành cho chúng ta một sự ưu ái nếu câu chuyện của ông ta khiến cho chúng ta phải suy nghĩ lại sự cam kết cơ bản của chúng ta đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Bạn tự nhận mình là một Cơ đốc nhân. Nhưng có phải bạn là một môn đồ thật hay bạn chỉ có những động thái bề ngoài? Có phải bạn là kẻ giả vờ hay là một tín đồ thật? Có phải bạn thực sự đã xây khỏi tội lỗi mình và đã tin cậy Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa? Có phải bạn là một bạn hữu tùy thời của Cứu Chúa?
Có những thắc mắc dễ hỏi hơn là dễ trả lời. Tôi yêu cầu bạn đừng xem nhẹ chúng. Bài học chính từ đời sống của Giuđa là hư mất trừ phi ít nhất chúng ta tự hỏi mình những câu hỏi ấy.
Rốt lại, nếu một người có thể trở thành một sứ đồ của Đấng Christ mà vẫn bị hư mất, bạn thì sao và tôi sẽ như thế nào đây? Có lẽ chúng ta sẽ kết luận vấn đề theo cách nầy. Một sứ đồ bị hư mất, để không một ai dám làm liều. Mười một người đã được cứu, để không ai sẽ thất vọng. Cuối cùng, hầu hết chúng ta là những người tự nhận mình là Cơ đốc nhân sẽ dò xét tấm lòng mình rồi kết luận rằng “Phải”, mặc dù chúng ta làm buồn lòng Ngài trong nhiều cách thức, chúng ta vẫn kính mến Ngài và xưng Ngài là Cứu Chúa của chúng ta. Phải đúng như vậy đấy. Câu chuyện của Giuđa có ở trong Kinh Thánh vì nhiều lý do, ít nhất là dẫu thế nào thì chúng ta cũng phải đưa ra câu hỏi mà các vị sứ đồ khác đã đưa ra trong cái đêm số phận kia:
“Lạy Chúa, có phải tôi không?”

Mathiơ 26:14-16: "Ba Mươi Miếng Bạc"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Ba Mươi Miếng Bạc –
Mathiơ 26:14-16
Có hai việc làm cho chúng ta phải bối rối về Giuđa. Thứ nhứt, tại sao ông ta đã làm những việc mà ông ta đã làm? Thứ hai, sau khi ông ta làm việc ấy, sao ông ta không cảm thấy tội lỗi chứ? Ông ta gian ác đến nỗi ông ta đã bán Chúa Jêsus để lấy ba mươi miếng bạc thôi sao! Thế rồi sau đó, ông ta cảm thấy hối hận để rồi phải tự tử.
Trải qua nhiều thế kỷ, có nhiều phản ứng khác nhau đối với câu chuyện nói tới ông ta. Có nhiều người thù ghét Giuđa vì những gì ông ta đã làm và gán ông ta cùng giai cấp với Hitler. Nhiều người khác thương hại ông ta, vì ngay thời điểm nhận chân sự việc, đúng là quá trễ không thể xóa bỏ được việc làm đại ác của mình được nữa. Một vài người xem ông ta là một vị anh hùng. Nhiều người khác vẫn thắc mắc sự công bằng của Đức Chúa Trời khi để cho một người gánh chịu nhiều tội lỗi vì sự chết của Chúa Jêsus.
Thực vậy, ông ta là một sự kín nhiệm. Không một sứ đồ nào khác lôi cuốn lý trí giống như Giuđa. Tất cả những người khác chúng ta có thể hiểu được — ngay cả Phierơ — nhưng Giuđa cứ mãi là một sự kín nhiệm được gói ghém ở trong chỗ rất khó hiểu. Điều gì đã khiến ông ta ra kẻ đáng khinh như thế chứ? Có phải ông ta quanh quẹo ngay từ lúc đầu? Chúa Jêsus đã nói gì khi Ngài phán rằng Giuđa đã bị “định cho phải hư mất” để Kinh Thánh được ứng nghiệm? Và Luca và Giăng đã nói gì khi họ cho rằng Satan đã nhập vào Giuđa? Nhiều thắc mắc như thế đã trêu kẻ có lý trí.
Phần cuối của câu chuyện
Có lẽ chỗ phải bắt đầu là phần cuối của câu chuyện. Lúc bấy giờ là sáng sớm ngày thứ Sáu tại thành Jerusalem — có khi là giữa nửa đêm và bình minh — và người Do thái đã xong việc với Chúa Jêsus. Họ đã có phiên tòa chiếu lệ với những bản án mang tính cách vu cáo cùng những kẻ làm chứng dối của họ. An-ne đã có một vòng với Chúa Jêsus và Cai-phe cũng thế. Cáo trạng của họ rất rõ ràng — người nầy là một kẻ phạm thượng đáng chết. Sự tụ tập của các cấp lãnh đạo tôn giáo được đề ra để bắt Chúa Jêsus giải sang cho Phi-lát, quan tổng đốc Lamã. Ông ấy mới là người có thể ra lịnh tử hình Chúa Jêsus.
Có một sự chuyển dịch, ồn ào, huyên náo khi cả nhóm di chuyển hướng đến pháp đình. Trong bóng tối, có một người, giờ đây bị lãng quên, đang quan sát, gương mặt ông ta căng thẳng lên, mắt ông ta sưng húp, đầu ông ta hơi cụp xuống. Đêm ấy quả là một đêm thật dài, dài nhất trong cả cuộc đời ông ta. Có bao nhiêu giờ đồng hồ đã trôi qua kể từ bữa ăn ấy trên cái phòng cao? Sáu, có thể là bảy, ai biết được? Sau khi ông ta rời đi, ông ta đi thẳng đến với các thầy cả thượng phẩm để thực hiện sự sắp xếp sau cùng. Thế rồi có một lối đi ngắn trong bóng tối băng qua Trũng Kít-rôn đi lên dốc của Núi Ôlive. Toàn bộ sự việc đã kéo dài không đầy 5 phút. Trong chỗ lờ mờ đó, một vài lời nói, một nụ hôn, một vài lời căm giận của Phierơ và nhiều người khác nữa, thế là Chúa Jêsus đã bị bắt rồi bị giải đi.
Trong hai bàn tay của Giuđa, ông ta cầm cái túi nhỏ chứa ba mươi miếng bạc. Ông ta còn áy náy đến nỗi chưa đếm túi tiền ấy nữa. Không một ai chú ý đến ông ta lúc ấy. Sự thể giống như ông ta còn là tin tức của ngày hôm qua vậy. Không một ai buồn nói tới một kẻ phản bội.
Ông ta đã chờ đợi qua cả đêm hôm ấy, cứ bám lấy rìa của đám đông, lắng nghe coi sự việc đã diễn ra thể nào. Chính xác thì ông ta trông đợi điều gì chứ? Không một ai dám chắc. Nhưng nếu lúc nửa đêm ông ta muốn nhìn thấy Chúa Jêsus chết đi, thì khi mặt trời mọc ông ta đã đổi ý của mình.
Những ký ức kia cứ bám riết lấy lý trí ông ta. Những việc Chúa Jêsus đã nói, giống như những câu nói đùa mà các sứ đồ thường hay nói, những câu chuyện mà Chúa Jêsus đã kể lại thật nhiều lần. Những hình ảnh nhỏ đã tự chúng tô điểm trong bóng tối tăm — nụ cười trên gương mặt đứa con gái của Giairu khi Chúa Jêsus làm cho nó sống lại từ kẻ chết, cái nhìn trên gương mặt của Phierơ khi ông đi bộ trên mặt biển và hình ảnh ấy cứ khuấy đảo ông luôn, hình ảnh 12 giỏ bánh đầy kia sau khi Chúa Jêsus cho hơn 5.000 người ăn. Ông ta có thể nhìn thấy hình ảnh ấy rất rõ ràng và lắng nghe mọi sự mà ký ức đã ghi nhận lấy thật nhiều việc.
Thế rồi tiếng đồn lan nhanh là Chúa Jêsus bị kết án tử hình. Ông ta không lấy làm lạ, song ông ta đã. Trong một phút đồng hồ, có một sự chấn động trong pháp đình và Giuđa nhìn thấy Chúa Jêsus khi Ngài bị giải sang cho Phi-lát. Ông ta không nhìn thấy rõ Ngài, chỉ thoang thoáng gương mặt Ngài ở một khoảng xa xa, song ông ta biết đấy là Chúa Jêsus.
Bị áp đảo. Đấy là từ duy nhứt phải sử dụng. Giuđa bị áp đảo với tư tưởng Chúa Jêsus sắp bị tử hình. Trong giây phút ấy, tư tưởng đó thoạt đến với ông như một tia chớp làm lóe mắt: Ông ta đã phạm một lỗi lầm rất nghiêm trọng trong cuộc đời của mình, một lỗi lầm nghiêm trọng đến nỗi ông ta phải tìm một phương thế nào đó để sửa cho ngay lại.
Với tư tưởng ấy đầy dẫy lý trí mình, ông ta cầm lấy cái túi tiền rồi tìm cách trả nó lại. Nhưng các thầy cả thượng phẩm đã cười nhạo ông ta. Họ chẳng còn cần đến ông ta hay tiền bạc của ông ta nữa. Họ đã có những gì họ mong muốn.
Trong nổi thất vọng ấy, Giuđa đã kêu la lên: “Tôi đã phạm tội bằng cách phản bội huyết vô tội”. Từng chữ ấy đều là sự thực cả. Ông ta đã phạm vào tội ấy; những gì ông ta đã làm là tội lỗi tệ hại nhất có thể tưởng tượng được; ông ta đã phản Chúa Jêsus, dù Ngài vô tội, là Đấng sắp sửa trả giá bằng huyết Ngài cho tội ác của Giuđa.
Với nổi thất vọng đó, ông ta đã ném số tiền lại vào trong đền thờ, những đồng tiền lăn tròn, kêu lên những tiếng leng keng khi chúng chạm xuống cái nền bằng đá kia. Khi Giuđa xây đi, 30 miếng bạc còn ở lại phía sau. Không những Giuđa đánh mất Chúa của mình, ông ta còn mất cả tiền bạc. Sau đó, ông ta còn mất mạng sống của mình nữa.
Về sự tự tử của ông ta, chẳng có điều gì cần phải nói tới. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “hắn bỏ đi rồi tự treo cổ mà chết”. Đây là hành động sau cùng của một người không thể sống với chính mình và ký ức của những gì mình đã làm. Trong cái mỉa mai nhắm vào cái ngày thê thảm nầy, Giuđa đã chết trước khi Chúa Jêsus gục chết.
Giuđa đang ở đâu hôm nay?
Vậy thì, Giuđa đang ở đâu hôm nay? Có phải ông đang ở trên thiên đàng hay ông ta đang ở trong địa ngục? Kinh Thánh nói rất rõ ràng ở điểm nầy: Giuđa đang ở trong địa ngục. Trong Công Vụ các Sứ đồ 1:25, Phierơ đã nói tới Giuđa là kẻ bỏ chức vụ sứ đồ “đặng đi nơi của nó”. Sát nghĩa, câu nầy đọc là: “đến với chỗ riêng của nó”. “Chỗ riêng của nó” là địa ngục. Nếu thấy khó hiểu, hãy xem lời lẽ của Chúa Jêsus ở Giăng 6:70-71 khi Ngài phán:
“Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ! Vả, Ngài nói về Giu-đa con Si-môn Ích-ca-ri-ốt; vì chính hắn là một trong mười hai sứ đồ, sau sẽ phản Ngài”.
Ngài không nói cụ thể Giuđa là một con quỉ, nhưng Giuđa khi ấy (khoảng 1 năm trước khi Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá) đã hành động dưới ảnh hưởng của Satan.
Sau cùng, hãy lắng nghe Chúa Jêsus khi Ngài cầu nguyện trên phòng cao vào tối thứ Năm. Giuđa đã rời đi để lo chuyện sắp xếp sau cùng. Ngay khi ấy những tên lính đã tụ tập lại cho cuộc diễu hành lên Núi Ôlive. Hành động sau cùng tự nó sắp sửa phô diễn ra. Đồng thời, Chúa Jêsus đang cầu nguyện cho các môn đồ Ngài: “Đang khi Con còn ở với họ, Con gìn giữ họ, trừ đứa con của sự hư mất ra, thì trong đám họ không một người nào bị thất lạc, hầu cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm” (Giăng 17:12).
Giuđa đang ở trong địa ngục hôm nay. Ông ta đã ở đó cả 2.000 năm và ông ta sẽ ở đó cho đến đời đời. Ông ta đã trả toàn bộ cái giá cho tội ác phản bội Con Đức Chúa Trời.
Nếu có ai hỏi: “Phải chăng Giuđa đã đánh mất ơn cứu rỗi của mình?” Câu trả lời là “Không”. Ông ta đã không đánh mất ơn cứu rỗi vì ông ta chưa hề có nó. Bất cứ điều chi khác bạn có thể nói về ông ta, ông ta chưa bao giờ là một môn đồ của Đức Chúa Jêsus Christ theo cùng một ý nghĩa giống như các môn đồ khác. Ông ta chưa được cứu và rồi bị hư mất. Ông ta bị hư mất vì ông ta chưa hề được cứu trong chỗ thứ nhứt.
Nhưng sẽ có người thắc mắc: “Phải chăng Giuđa đi địa ngục vì ông ta đã tự tử?” Thắc mắc hay đấy, và câu trả lời là “không” một lần nữa. Tự tử là một tội, nhưng đấy chẳng phải là lý do để Giuđa đi địa ngục. Giuđa đi địa ngục vì ông ta chưa hề thực sự phó chính mình cho Đức Chúa Jêsus Christ. Sự phản bội của ông ta đã minh chứng cho sự việc ấy; sự ông ta tự tử chỉ đóng ấn số phận của ông ta mà thôi.
Một thắc mắc sau cùng: “Có phải Kinh Thánh nói rằng Giuđa đã ‘ăn năn’”? Những bản dịch xưa quả thật đã sử dụng từ ngữ ấy ở Mathiơ 27:3. Một sự dịch thuật chính xác hơn là “bị hối hận bắt lấy”. Mặc dù Giuđa bị sự sai lầm nơi những gì ông đã làm kẹp chặt lấy, ông ta không hề van xin ơn tha thứ. Có một thế giới khác biệt giữa hai sự việc ấy. Có nhiều người thực sự cảm thấy buồn rầu vì cớ tội lỗi, song họ không hề đến với Đức Chúa Trời và van xin ơn tha thứ bao giờ. Giuđa đã tìm cách tháo gỡ sự phản bội của mình, song sự việc đã quá trễ rồi. Tôi không nghi ngờ ông đã khóc lóc với những giọt nước mắt cay đắng lúc ông ta ném số tiền trở lại đền thờ. Nhưng sự hối hận của ông (dù cho có thành thật đi) thì cũng chẳng phải là sự ăn năn thật và nó không dẫn tới chỗ được tha thứ. Thay vì thế, nó dẫn tới chỗ phải tự tử, là minh chứng trọn vẹn rằng Giuđa đã chết như một người không được tha thứ.
Sự thể là như thế
Nhưng sự thể không luôn luôn theo cách ấy. Nếu chúng ta đi từ lúc bắt đầu, chúng ta thấy một loạt những điều đáng nhớ về Giuđa:
1. Cá nhân ông ta được Đức Chúa Jêsus Christ chọn là sứ đồ.
2. Ông ta đã lìa bỏ mọi sự để theo Chúa.
3. Ông ta đã dành ra 3 năm rưỡi đi dọc đi ngang xứ Israel với Đấng Christ.
4. Ông ta đã đích thân nhìn thấy nhiều phép lạ của Đấng Christ.
5. Ông ta đã nghe Đấng Christ ban ra mọi bài giảng nổi tiếng của Ngài.
6. Ông ta đã quan sát khi Đấng Christ chữa lành kẻ đau, làm sống lại kẻ chết và đuổi tà ma.
7. Ông ta, cùng với các sứ đồ khác, đã được sai đi ra rao giảng Tin Lành.
8. Ông ta là một trong các cấp lãnh đạo của nhóm sứ đồ.
9. Không một ai có thể hồ nghi ông về sự phản bội.
Trong giới hạn về kinh nghiệm, bất cứ điều chi bạn có thể nói về Giacơ, Phierơ và Giăng, bạn cũng có thể nói về Giuđa. Bất cứ đâu họ đi, ông cũng đi tới. Ông đã có mặt ở đó, luôn luôn ở bên cạnh Chúa Jêsus. Ông đã nghe hết mọi sự, đã nhìn thấy mọi sự, đã kinh nghiệm mọi sự. Tuy nhiên, khi bạn giải thích sự ông ta đào ngũ, bạn không thể nói ông ta thiếu kinh nghiệm hơn các vị sứ đồ khác.
Nếu có điều chi khác, ông ta là một trong các cấp lãnh đạo. Rốt lại, các vị sứ đồ khác đã chọn ông cho việc giữ lấy tiền bạc. Bạn không chọn một người để trao tiền bạc cho họ giữ mà bạn nghi ngại về lòng trung thành của họ được. Làm như thế là điên. Bạn chọn người tốt nhứt, người xứng đáng nhứt, người duy nhứt bạn biết mình có thể tin tưởng. Đấy là lý do tại sao họ đã chọn Giuđa.
“Giuđa, kẻ đã phản bội Ngài”
Mác đã viết như thế. Họ không hề, không bao giờ tưởng được rằng Giuđa có sự phản bội ở trong lòng ông ta. Rõ ràng, cho đến cuối cùng, họ đã thấy cách xử sự của ông ta còn cao hơn cả sự ngờ vực nữa. Bạn sẽ nghĩ nếu một người sống gian ác đủ để phản bội Chúa, điều đó sẽ thể hiện ra trên gương mặt của hắn ta, ở một điểm nào đó cái hầm phân ở bên trong sẽ sủi bọt ra nơi bề mặt. Song điều đó không hề xảy ra.
Lúc bấy giờ là năm 65SC. Ba mươi năm hơn đã trôi qua kể từ khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá. Mathiơ ngồi lại để viết sách Tin Lành của mình. Khi ông để chỗ liệt kê ra tên tuổi của các vị sứ đồ, ông bắt đầu “Phierơ, Giacơ, Giăng” rồi kế đó là những người khác. Giuđa nằm ở sau cùng, luôn luôn là vậy. Nhưng không phải chỉ có “Giuđa” thôi đâu, mà là “Giuđa, là kẻ đã phản Ngài”. Khi Mác viết sách Tin Lành của mình, thì cũng thế: “Giuđa, là kẻ đã phản Ngài”. Khi Luca viết sách Tin Lành mình, thì cũng y như thế: “Giuđa, là kẻ đã phản Ngài”. Rồi 30 năm sau đó, Giăng — lúc bấy giờ đã vào khoảng thập niên 80 hay thập niên 90 tuổi của ông — viết sách Tin Lành mình. Ông đã gọi ông ta: “Giuđa, là kẻ về sau đã phản Chúa”.
Sự thể cho thấy họ không hề chấp nhận những gì đã xảy ra. Khoảng thời gian không làm mờ đi tầm cỡ tội ác của ông ta. Đối với họ điều đó là cực kỳ tàn ác trong lúc họ tuổi già cũng y như lúc họ còn trẻ tuổi vậy.
Đôi khi họ gọi ông ta là “Giuđa, là một trong 12 môn đồ”, nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết ông ta đã có với Đấng Christ. Đôi khi lại là “Giuđa, là kẻ đã cùng ăn với Ngài”, nhấn mạnh ông ta đã nhảy ra khỏi mối dây tương giao ấy. Ăn với một người bạn và rồi phản bội người — làm sao có được sự ấy chứ?
Ông ta là kẻ biết nhiều thứ, là kẻ đã nhìn thấy nhiều điều, là kẻ đã kinh nghiệm Chúa Jêsus thật gần gũi và riêng tư, làm sao một người như thế lại phản thùng được chứ?
Từ tiềm năng đến khả năng có thật
Trước khi chúng ta cố gắng giải đáp thắc mắc ấy, chúng ta hãy suy gẫm lại những gì Chúa Jêsus đã nhìn biết và những gì Giuđa đã biết vào lúc ban đầu. Khi Chúa Jêsus kêu gọi Giuđa làm sứ đồ, có phải Ngài biết rõ những gì Giuđa sẽ làm không? Câu trả lời phải là “Đúng”. Chúa Jêsus vốn biết rõ ngay từ đầu rằng Giuđa sẽ phản Ngài. Rốt lại, Ngài là Con của Đức Chúa Trời.
Hãy xoay vấn đề lại xem. Khi Giuđa đáp ứng lại lời kêu gọi của Đấng Christ, có phải ông ta tham gia vào nhóm của Chúa với dự tính trở thành một kẻ phản bội không? Câu trả lời phải là “không”. Mọi bằng chứng chỉ theo hướng đó. Từ mọi điều chúng ta nhìn biết, Giuđa phải là một môn đồ thành thật cũng như bao nhiêu người khác thôi … ngay từ đầu. Thật vậy, chúng ta có thể cho rằng Giuđa đã nhìn thấy nơi Chúa Jêsus nguồn hy vọng tràn trề cho dân Israel. Chúng ta biết từ Giăng 6 rằng đấy là cách mà người dân bình thường đã nhìn xem Chúa Jêsus — nghĩa là, như một vị vua hay làm phép lạ, vua nầy sẽ giúp họ cất bỏ cái ách của Rôma. Đâu lẽ nào lại là bất thường nếu có ai trong hàng sứ đồ chia sẻ chính sự trông mong đó? Thật vậy, sẽ không là bất thường nếu họ không chia sẻ kìa? Thật là dễ tin việc tham gia của Giuđa với Chúa Jêsus là một sự bùng nổ của lòng sốt sắng ghê gớm lắm, thế rồi sau cùng ông ta tìm gặp một người mà mình đi theo cách dè dặt. Chuổi phép lạ lớn lao, những bài giảng long trọng, những lần trao đổi tư riêng, những lần đối mặt công khai với hàng chuyên gia tôn giáo sẽ chỉ góp phần làm cho nổi lên những cảm xúc ấy.
Chúng ta không thể nói chính xác ở chỗ nào, hay làm thế nào hoặc lý do tại sao những cảm xúc giận dữ và thất vọng bắt đầu chiếm lấy tấm lòng của Giuđa. Chắc chắn chúng đang chi phối (dù các sứ đồ khác không lưu ý) cả năm trước khi Chúa bị đóng đinh trên cây thập tự. Những hột giống đã có ở đó ngay từ buổi ban đầu. Nhưng nói như thế không có ý nói rằng ông ta tham gia với Chúa Jêsus với dự tính phản bội Ngài đâu. Tại sao ông lại chờ đến 3 năm rưỡi chứ? Một người khôn khéo sẽ tìm (hay tạo ra) nhiều cơ hội để bán vị lãnh tụ của mình.
Cái mà chúng ta có thể nói nhiều nhất là điều nầy. Giuđa là một kẻ phản bội có tiềm năng ngay lúc ban đầu. Những hoàn cảnh chắc chắn đã đưa đẩy ông trở thành một kẻ phản bội thực sự. Ông ta không hề dự tính mọi việc cho đến cuối cùng giống như chúng đã xảy có không làm cho tội lỗi của ông ta suy giảm đi đâu. Nó chỉ làm nổi bật thảm họa của đời sống ông ta mà thôi.
Mô tả sơ lược về nhân cách
Nếu chúng ta muốn có một mô tả sơ lược về nhân cách của Giuđa trên cơ sở bản tường trình trong Kinh Thánh, thì có lẽ là một số việc như sau:
Tích cực Tiêu cực
Cẩn thận Dối gạt
Trung thành Tinh thần ôn hòa
Một nhà tổ chức khéo Nông cạn
Một vận động viên trong toàn đội Tham lam
Đáng tin cậy Một tay nói giỏi
Thuyết phục Bóng bẩy
Phần thú vị nhất trong toàn bộ mô tả kia, ấy là các vị sứ đồ khác rõ ràng đã nhìn thấy chỉ có mặt tích cực nơi Giuđa. Cho tới chừng họ nhìn lại sự việc thì họ mới nhận ra các mặt tiêu cực. Trước khi ông ta phản bội Chúa Jêsus, ông ta trông rất tốt cũng như bao người khác còn lại, mà kỳ thực trông ông còn tốt nhứt nữa kìa. Theo ánh sáng đó, chúng ta hãy lưu ý phần tường trình thêm một lần nữa đi: Chẳng có ai nghi ngờ Giuđa hết. Không một ai cả.
Thắc mắc quan trọng
Sau cùng, chúng ta đến với thắc mắc tối quan trọng đây. Tại sao Giuđa làm điều đó? Thế lực nào đã khiến ông phản bội Chúa của mình? Trải qua nhiều thế kỷ, những đầu óc lỗi lạc đã suy gẫm về câu hỏi ấy. Nếu bạn muốn có một nghiên cứu đầy lý thú, hãy bước vào thư viện của trường thần học, rồi đọc kỹ về Giuđa. Bạn sẽ khám phá ra cả danh mục nhiều lý thuyết rất rối rắm. Các trước giả Tin Lành hiến cho chúng ta một vài manh mối. Ấy chính họ cũng không hề biết đâu là câu trả lời. Khi Giuđa tự tử trong vài giờ đồng hồ sau khi phản Ngài, chúng ta không có câu nói nào cung ứng mặt câu chuyện của ông. Vì lẽ đó, chúng ta cần phải suy gẫm về những động lực của ông
Ba lý thuyết dường như luôn có sẵn:
1. Ông ta phản bội Chúa Jêsus là vì tiền bạc. Lý thuyết nầy cho rằng khi chúng ta biết Giuđa là một tên trộm (Giăng 12:6), vì thế tham lam đóng một vai trò trong quyết định của ông ta. Nan đề duy nhứt với lý thuyết nầy, ấy là 30 miếng bạc không phải là một số tiền lớn. Nếu tánh tham là động lực, ông ta đang có một số tiền nhỏ không chỉ ra hết rắc rối của ông ta.
2. Ông ta phản bội Chúa Jêsus vì ông ta bị vỡ mộng. Có lẽ đây là lý thuyết được lòng người nhất. Nó dựa trên sự thực có nhiều người xem Chúa Jêsus là một loại Mêsi chính trị, Ngài sẽ lãnh đạo xứ sở trong việc lật đổ cái ách của Rôma. Giăng 6:14-15 ám chỉ đến điều nầy khi nhắc tới đám dân đông họ “có ý đến ép Ngài để tôn làm vua”.
Lý thuyết nầy cho rằng Giuđa đã dự vào một sự sốt sắng đang xảy có nầy. Ngay lúc đầu, khi Chúa Jêsus càng được lòng dân, chắc chắn Ngài đã được tung hô nhiệt liệt rồi. Song khi thời gian trôi qua, và sự chống đối tăng lên, thì rõ ràng là Chúa Jêsus sẽ bị kết án tử hình. Chính mình Chúa Jêsus đã nói trước cái chết của mình rất nhiều lần — một sự thực mà các môn đồ không thể hiểu được. Ngay cả việc đọc các sách Tin Lành cũng vậy, rõ ràng là âm điệu chức vụ của Chúa Jêsus đã thay đổi khi Ngài càng tiếp cận với chuyến đi sau cùng lên thành Jerusalem. Mọi sự cổ vũ của đám dân đông trước đó đã qua hết rồi. Chúng được thay thế bằng những đám mây chống đối tụ tập lại và sấm sét về cái chết bạo hành ở đàng xa kia. Chúa Jêsus vốn biết rõ điều chi sắp xảy đến và cứ hướng mặt Ngài bền chắc về thành Jerusalem. Mọi sự Ngài đã làm trong mấy tháng sau cùng đó đã được thực thi dưới cái bóng đang trải ra của thập tự giá.
Nếu sự thực Giuđa đã xem Chúa Jêsus là một Mêsi chính trị, thì sự thay đổi trong chức vụ của Chúa Jêsus sẽ gây thất vọng cực kỳ. Trong trường hợp đó, mỗi lần nhắc tới cái chết sẽ bị coi là một dấu hiệu yếu đuối và là công nhận sự thất bại. Mọi lời lẽ nói tới “vương quốc ta không thuộc về thế gian nầy” sẽ chẳng là chi hết trừ ra sự thoái thác trách nhiệm. Giuđa không muốn một vương quốc trong đời hầu đến; ông ta muốn một vương quốc ngay ở đây và ngay bây giờ.
Vì thế có khả năng Giuđa — bị tác động giống như ông bị tác động bởi tánh tham lam và tham vọng — rồi bị lèo lái bởi cơn giận phát sinh nơi thất bại của Chúa Jêsus không hoàn tất được sứ mệnh của mình — đã phản bội Ngài vì ông ta đã bị vỡ mộng rất trầm trọng.
Có khả năng Giuđa là một loại “vận động viên có triễn vọng thành công” ông ta thích là một kẻ chiến thắng. Ông ta đã ở với Chúa Jêsus khi ông ta trông nhơn đức lắm, nhưng ông ta phải té ngã khi mọi việc dường như trở nên bất lợi rồi. Trong trường hợp đó, sự phản bội của ông là một phương thức thoát ra khỏi bên thua trận mà bước theo bên thắng trận.
Cũng có khả năng Giuđa ở lại với Chúa Jêsus bao lâu ông ta nghĩ rằng điều đó sẽ tốt cho cá nhân ông. Rốt lại, chúng ta biết các môn đồ ưa tranh luận giữa vòng họ xem ai là lớn nhất khi Đấng Christ dựng nước của Ngài lên. Một người có thể hình dung ra Giuđa đang rất năng động trong cuộc tranh cãi ấy.
Không may, từ nhận định quá con người, sự đóng đinh trên thập tự giá không phải là một động lực cho sự nghiệp cao cả đâu. Bị đóng đinh trên thập tự giá là chẳng còn phương thế nào nữa để thu phục bàn bè và ảnh hưởng trên dân chúng. Đối với Giuđa, Chúa Jêsus dường như là một kẻ thua thiệt rồi.
Nhìn theo ánh sáng ấy, sự phản bội của Giuđa nắm lấy một ánh sáng mới mẻ. Có lẽ trong sự giận dữ và thất vọng của mình, ông ta chỉ làm thay những gì mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng sẽ làm — tìm kiếm Nhân Vật Số 1.
3. Ông ta đã phản bội Chúa Jêsus vì ông lo sợ. Lý thuyết nầy cho rằng ông ta đã từng nhìn thấy bàn tay viết trên tường, ông ta đến gặp các thầy cả thượng phẩm với kế hoạch nhỏ của ông ta hầu giải cứu riêng mình ông ta thôi. Tại sao không chứ? Lúc bấy giờ rõ ràng là các cấp lãnh đạo tôn giáo đang nhắm mũi dùi vào Chúa Jêsus. Những ngày của Ngài đã được đếm hết rồi. Chính mình Chúa Jêsus đã nói tới cái chết của chính Ngài rất nhiều lần. Nhưng một khi họ bắt lấy Chúa Jêsus, điều chi sẽ xảy ra cho những người đi theo Ngài chứ? Một vài điều khả thi thoạt đến trong trí, chẳng một ai trong số họ lấy làm vui vẻ nữa. Giuđa cùng những người khác bản thân họ sẽ bị bắt rồi bị xét xử cùng với Chúa Jêsus. Và đấy là cách mà mọi việc sẽ xảy ra, hết thảy họ sẽ bị kết án tử hình. Vì vậy, Giuđa đã phản bội Chúa Jêsus chỉ để tự cứu lấy mình.
Tất cả các lý thuyết ấy đều có ý nghĩa của nó, và tất cả ba lý thuyết nầy đang góp phần cho câu trả lời. Sau khi mọi bàn bạc đã xong, chúng ta vẫn không dám chắc lý do tại sao Giuđa đã làm những điều mà ông ta đã làm. Nhưng điều nầy là chắc nhất đây: Khi Giuđa phản bội Chúa Jêsus, ông ta đã phạm phải lầm lỗi to lớn nhất mà bất cứ người nào cũng dám phạm phải.
Tội lỗi bị kết án
Theo một ý nghĩa, các động lực của ông ta không phải là vấn đề. Lý do tại sao ông ta đã làm những gì ông ta đã làm có lẽ luôn luôn là một điều kín nhiệm đối với chúng ta. Nhưng bản tường trình ghi rõ về những gì ông ta đã làm:
1. Ông ta suy nghĩ dựng lên chương trình phản bội Chúa Jêsus.
2. Ông ta tiếp cận mấy thầy cả thượng phẩm với ý tưởng đó.
3. Ông ta thực hiện công việc.
4. Ông ta đã cầm lấy số tiền.
5. Ông ta rời bữa Tiệc Ly kia để đi gặp mấy tên lính.
6. Ông ta dẫn binh lính đến chỗ Chúa Jêsus.
7. Ông ta đã hôn gò má Chúa Jêsus.
Nói ngắn gọn, ông ta đã nghĩ suy việc ấy, ông ta đã hoạch định các chi tiết và ông ta thực thi chương trình của mình thật sát nút. Ông ta có ý phản bội Chúa Jêsus và đấy chính xác là những điều mà ông ta đã làm.
“Sự ngươi làm hãy làm mau đi”
Chúng ta hãy vặn đồng hồ chạy ngược lại một vài giờ đi. Lúc bấy giờ là 9:45 tối. Chúa Jêsus mới vừa ăn xong Lễ Vượt Qua với các môn đồ Ngài. Tâm trạng thật buồn rầu và cứ trầm ngâm mãi. Một ý thức rắc rối sắp xảy đến đang treo lơ lửng trên khoảng không. Một hay hai trong số những người ở đó đang trao đổi trong thầm thì. Phần còn lại đang quan sát Chúa Jêsus.
Thình lình Ngài đưa ra một lời công bố làm cho choáng váng đến tận xương tủy: “Một người trong các ngươi sẽ phản ta”. Hỗn loạn, sốc, huyên náo, vô tín, hoang mang. “Sự ấy không thể được đâu. Ai nỡ làm một việc như thế chứ? Ngài nói gì vậy? Chúng tôi không bao giờ phản Ngài đâu, Chúa ơi”.
Song vẻ mặt của Chúa Jêsus đã nói cho họ biết từng lời của Ngài rất có ý nghĩa. Mọi sự trầm hẳn xuống. Thế rồi có câu hỏi sâu sắc hơn: “Lạy Chúa, có phải tôi không?” Từng người đã đưa ra câu hỏi. Không một ai dám chắc hết.
Rồi có lời phán nầy: “Ấy là kẻ mà ta trao cho miếng bánh ta sẽ nhúng đây”. Họ vẫn chưa hiểu. Chúa Jêsus cầm lấy bánh, nhúng một miếng rồi trao nó cho Giuđa với lời nầy: “Sự ngươi làm hãy làm mau đi” (Giăng 13:27)
Những nhà giải kinh cho chúng ta biết rằng với biểu tượng của lễ Vượt Qua, thứ nước chấm có rượu tiêu biểu cho bông trái của Đất Hứa. Khi Chúa Jêsus trao bánh cho Giuđa, không những Ngài xác định ông ta là kẻ phản bội, mà Ngài còn đưa ra lời kêu gọi sau cùng bảo Giuđa phải đổi ý định của mình đi.
“Giuđa ơi, ta biết điều chi có ở trong lòng ngươi. Giờ phút quyết định đã đến rồi. Ngươi có thể phản ta hay ngươi có thể theo ta. Song ngươi phải quyết định ngay lúc bây giờ thôi. Bất cứ điều chi người sắp làm, hãy làm đi ngay bây giờ”. Đấy là sự ban cho ân điển lần sau cùng của Chúa Jêsus cho Giuđa.
Giuđa cầm lấy bánh và ngay lập tức rời khỏi căn phòng để thực hiện mọi sự sắp xếp của mình với mấy tên lính. Giăng nói cho chúng ta biết “liền khi Giu-đa đã lấy miếng bánh, thì quỉ Sa-tan vào lòng người” (13:27). Lúc ấy ông nói thêm: “khi ấy đã tối” (13:30). Giuđa rời khỏi Sự Sáng của Thế Gian rồi băng mình vào đêm tối, những bước chân ông đã được chúa của sự tối tăm dẫn dắt.
Nụ hôn chết chóc
Sau đó một lát, Chúa Jêsus rời khỏi đó cùng với các môn đồ và lên đường đến vườn Ghết-sê-ma-nê. Cùng lúc ấy Giuđa gặp gỡ mấy tên lính rồi sắp đặt dẫn họ đến tại chỗ hẹn. Khi ấy trời đã tối và ông ta không muốn Chúa Jêsus vuột mất trong lúc lộn xộn, ông ta sẽ dành cho Ngài một nụ hôn chào đón. Sẽ chẳng có một sự lộn xộn nào khả thi tại nơi ấy.
Các trước giả Tin Lành thuật lại câu chuyện rất đơn sơ. Mấy tên lính đến, Giuđa hôn Chúa Jêsus, họ bắt Ngài rồi giải đi. Nhưng Giăng nói thêm một chút. Khi mấy tên lính đến trước, Chúa Jêsus phán với họ rõ ràng trước khi chúng có thể nói ra chuyện gì. Đang khi Chúa Jêsus nói với mấy tên lính, Giăng đã thêm một chi tiết nhỏ nầy: “Giu-đa là kẻ phản Ngài cũng đứng đó với họ” (Giăng 18:5).
Có một thế giới đầy ý nghĩa trong cụm từ ngắn ngủi ấy. Giuđa đã đứng hẳn qua một bên. Ông ta không những đứng đó “với họ” theo cách thuộc thể. Giờ đây ông ta còn đứng “với họ” về mặt thuộc linh nữa. Sự phản bội của ông ta như thế là rõ ràng, công khai và không thể chối cãi chi hết.
Sau cùng, giờ phút đã đến cho nụ hôn. Giuđa bước tới phía trước rồi nói “Thưa Thầy!” rồi hôn Ngài. Từ ngữ Hylạp nói tới nụ hôn theo cách nồng nhiệt, thật tình cảm. Đó là nụ hôn nồng ấm mà một người chỉ dành cho bạn hữu yêu dấu mình. Với một nụ hôn như vậy, Giuđa đã phản bội Con của Đức Chúa Trời.
Có một việc về hành động nầy rất ghê tởm và đáng ghét. Phản bội Chúa Jêsus là tồi tệ rồi, nhưng phản bội Ngài với một nụ hôn tình cảm là tội ác khôn xiết kể. Đây là nụ hôn trên hết mọi sự khác đã kiếm cho Giuđa sự tán thành của Cơ đốc nhân xuyên suốt bao thế kỷ. Đó là “việc làm dại dột bám lấy cái tên của ông giống như cái áo dơ bẩn vậy”.
Có phải Giuđa đang sống hôm nay không?
Khi bạn đã thông vấn đề nầy rồi, Giuđa đáng phải là một người tốt hơn hay một người tồi tệ hơn!?! Nếu ông ta là người tốt hơn, ông ta sẽ không làm một việc gian ác dường ấy. Còn nếu ông ta tệ hại hơn, ông ta sẽ không cảm thấy hối hận như thế. Như câu chuyện cho thấy, ông ta đã tồi tệ đủ để làm ra sự việc ấy và tốt đủ để không thể mang lấy xấu hổ về việc đó. Chúng ta sẽ hoàn toàn phạm sai lầm nếu chúng ta xếp loại Giuđa cùng với một kẻ như Adolph Hitler. Nếu chúng ta nghĩ Giuđa giống như Hitler, thế thì chúng ta bỏ sót bài học về đời sống của ông ta.
Những gì đã xảy ra cho ông ta có thể xảy ra cho tôi. Những gì ông ta đã làm, tôi có thể làm. Nếu tôi nghĩ khác đi, thế thì tôi đã bỏ sót mục tiêu của câu chuyện nầy. Giuđa giống với chúng ta nhiều lắm và chúng ta cũng giống với ông ta nhiều như thế. Thực vậy, chúng ta càng sống theo tôn giáo, chúng ta càng trở nên giống như Giuđa. Rốt lại, bạn không thể tiếp thu nhiều về tôn giáo hơn là một sứ đồ. Ông ta đã “ở trong” y như bất kỳ người nào có thể ở rồi.
Ấy thế mà ông ta đã phản bội Chúa.
Có phải Giuđa còn sống hôm nay không? Không, nhưng tinh thần của ông ta vẫn còn sống đấy. Nó sống trong tất cả những ai đang chơi trò chơi tôn giáo. Nó sống trong những ai đến với nhà thờ vì mọi điều họ có thể nhận được từ nhà thờ đó. Nó sống trong hết thảy những người nào giả vờ phục theo Đức Chúa Jêsus Christ trong khi thực sự tận đáy lòng họ chẳng có chi hết. Nó sống trong tất cả những ai chỉ nếm trải những động thái Cơ đốc. Nó sống trong những người nào đến với nhà thờ, dâng hiến tiền bạc, noi theo những luật lệ, và thế mà chẳng kính mến Chúa Jêsus.
Đây là phần đáng ngạc nhiên. Có phải bạn biết người nào là một Giuđa trong nhà thờ nầy không? Tôi đây. Là Mục sư quản nhiệm, tôi đứng trong phép loại suy gần gũi nhứt so với chỗ mà Giuđa đã đứng. Có người nói: “Mục sư ơi, chắc chắn không phải ông đâu”. Đấy là điều mà họ đã nói về Giuđa. Hãy nhớ, cú sốc phản bội của Giuđa, ấy là ông ta trông rất nhơn đức ở bề ngoài. Nếu tôi là Mục sư của bạn, có thể thuật lại cho bạn câu chuyện nầy mà không dò xét tấm lòng của chính tôi, thế thì tôi đã bỏ sót mục tiêu rồi.
Cái giá của một nô lệ
Một trong những phần mỉa mai trong câu chuyện nầy, ấy là Giuđa đã không nhận được nhiều tiền bạc đâu. Vào thời buổi ấy, 30 miếng bạc là cái giá của một nô lệ. Hãy suy nghĩ xem. Ông ta đã phản bội Con của Đức Chúa Trời để lấy cái giá của một nô lệ. Nói khác đi, Giuđa đi địa ngục và cái giá cho tấm vé của ông ta là 30 miếng bạc.
Một số thắc mắc
Bạn nhận được gì khi bán Con của Đức Chúa Trời?
Bạn sẽ phản bội Ngài là vì tiền bạc chăng?
Bạn sẽ phản bội Ngài để lấy một việc làm khá hơn chăng?
Bạn sẽ phản bội Ngài chỉ để ôm lấy công việc mà bạn đang có sao?
Bạn sẽ phản bội Ngài để cứu lấy bản thân mình sao?
Bạn sẽ phản bội Ngài vì Ngài không sống theo những điều bạn trông mong sao?
Bạn sẽ phản bội Ngài vì bạn tưởng Ngài sẽ để cho bạn bị hạ thấp sao?
Bạn sẽ phản bội Ngài nếu bạn nghĩ bạn sẽ tìm được ơn của hạng người quan trọng sao?
Giuđa dành cho chúng ta một sự ưu ái nếu câu chuyện của ông ta khiến cho chúng ta phải suy nghĩ lại sự cam kết cơ bản của chúng ta đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Bạn tự nhận mình là một Cơ đốc nhân. Nhưng có phải bạn là một môn đồ thật hay bạn chỉ có những động thái bề ngoài? Có phải bạn là kẻ giả vờ hay là một tín đồ thật? Có phải bạn thực sự đã xây khỏi tội lỗi mình và đã tin cậy Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa? Có phải bạn là một bạn hữu tùy thời của Cứu Chúa?
Có những thắc mắc dễ hỏi hơn là dễ trả lời. Tôi yêu cầu bạn đừng xem nhẹ chúng. Bài học chính từ đời sống của Giuđa là hư mất trừ phi ít nhất chúng ta tự hỏi mình những câu hỏi ấy.
Rốt lại, nếu một người có thể trở thành một sứ đồ của Đấng Christ mà vẫn bị hư mất, bạn thì sao và tôi sẽ như thế nào đây? Có lẽ chúng ta sẽ kết luận vấn đề theo cách nầy. Một sứ đồ bị hư mất, để không một ai dám làm liều. Mười một người đã được cứu, để không ai sẽ thất vọng. Cuối cùng, hầu hết chúng ta là những người tự nhận mình là Cơ đốc nhân sẽ dò xét tấm lòng mình rồi kết luận rằng “Phải”, mặc dù chúng ta làm buồn lòng Ngài trong nhiều cách thức, chúng ta vẫn kính mến Ngài và xưng Ngài là Cứu Chúa của chúng ta. Phải đúng như vậy đấy. Câu chuyện của Giuđa có ở trong Kinh Thánh vì nhiều lý do, ít nhất là dẫu thế nào thì chúng ta cũng phải đưa ra câu hỏi mà các vị sứ đồ khác đã đưa ra trong cái đêm số phận kia:
“Lạy Chúa, có phải tôi không?”
Vẫn như xưa kia, con người đã định giá cho mình.
Giuđa đã bán chính mình chớ không phải Đấng Christ, để lấy 30 miếng bạc.

Luca 23:1-12: "Người nầy là Vua sao: Đấng Christ phán về tánh tò mò phù phiếm"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Người nầy là Vua sao: Đấng Christ phán về tánh tò mò phù phiếm
- Luca 23:1-12
Đây là câu chuyện nói tới một người đã có cơ hội song không nắm lấy nó và không bao giờ được hiến cho một cơ hội khác nữa. Tên của người nầy là Hê-rốt An-ti-ba. Vào buổi sáng ngày thứ Sáu tốt lành, Chúa Jêsus đứng trước mặt ông ta trong một phiên xử. Những gì đã xảy ra trong cái ngày định mệnh ấy dẫn trực tiếp tới sự đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá. Nó cũng đóng ấn số phận đời đời cho Hê-rốt.
Khi xem xét câu chuyện nầy, đã có ba sự kiện sẽ giúp cho chúng ta nắm được toàn bộ bối cảnh theo mọi chiều kích của nó. Thứ nhứt, Hê-rốt An-ti-ba là con trai của Hê-rốt khác nữa; nhân vật được lịch sử gọi là “Đại Đế Hê-rốt”. Cái tên được dùng trại đi nói tới ông ta đúng ra phải là “đồ tể Hê-rốt”. Ông ta rất độc ác, có tánh thù hiềm, là người khát máu, ông ta xem mạng sống con người với một giá trị rất thấp. Ông ta là Hê-rốt, là người đã ra lịnh giết các con trẻ tại thành Jerusalem một thời gian ngắn sau khi Chúa Jêsus giáng sinh (Mathiơ 2:16). Khi ông ta qua đời, vương quốc của ông ta bị chia ra làm bốn phần. Con trai ông ta là Hê-rốt An-ti-ba cai trị một trong bốn phần đó. Thứ hai, Hê-rốt An-ti-ba là người đã ra lịnh chặt đầu Giăng Báp-tít. Thứ ba, ông ta người duy nhứt mà Chúa Jêsus từ chối không đáp một lời.
Chúa Jêsus không nói với ông ta!
Sự kiện sau cùng đó là một sự kiện khiến chúng ta phải chú ý. Hãy suy nghĩ trong một phút xem. Có phải chúng ta thường không nói tới Chúa chúng ta là bạn hữu của hạng tội nhân sao? Để cho một kỵ nữ lau chơn Ngài với những giọt nước mắt của nàng và Ngài tuyên bố rằng tội lỗi nàng đã được tha. Để cho một người mù kêu xin sự thương xót và Chúa Jêsus dừng chuyến hành trình lại mà chữa lành cho người. Để cho một người thu thuế trèo lên cây kia để nhìn thấy Ngài và Chúa Jêsus không những bảo ông ta xuống, mà Ngài còn đi đến nhà của ông ta để ăn tối nữa. Ngài hoan nghênh hết thảy mọi người và chẳng hất hủi một ai. Thế mà lại từ chối không chịu nói chi với Hê-rốt.
Người nầy đã làm gì để xứng với cách xử sự như thế từ Con của Đức Chúa Trời? Như Mục sư G. Campbell Morgan đề ra trong quyển The Great Physician {Vị Y Sĩ Đại tài}, câu chuyện nầy có cả sự trang trọng và đáng kinh hãi. Chúng ta đã nghe nói tới tình yêu thương của Chúa Jêsus. Nhưng đây là một câu chuyện nói tới sự thạnh nộ của Chiên Con. Mục sư Campbell lưu ý rằng cách xử sự của Chúa Jêsus với Hê-rốt có thể được tóm tắt trong ba câu nói đơn sơ:
1) Ngài tránh né ông ta.
2) Ngài gửi đến ông ta một sứ điệp quở trách đầy nhức nhối.
3) Ngài không muốn nói một điều gì với ông ta.
Cách xử sự nầy bởi Chúa chúng ta là cách xử sự rất bất thường, vì vậy nó xứng đáng cho chúng ta để ý đến. Chắc chắn có một sứ điệp ở đây mà chúng ta cần phải suy gẫm.
Hê-rốt An-ti-ba đôi khi được nhắc tới trong Tân Ước. Chúng ta thấy ông ta rất rõ ràng chỉ trong hai chỗ — cái chết của Giăng Báp-tít và phiên xét xử Chúa Jêsus một vài giờ đồng hồ trước khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Ghép hai sự kiện nầy lại với nhau, một hình ảnh nổi bật lên về Hê-rốt chứa một hỗn hợp những đức tính thật lạ lùng. Ông ta rất kiêu ngạo, hiếu kỳ về mặt thuộc linh, yếu đuối về mặt đạo đức, dễ bị thuyết phục, có khuynh hướng đưa ra những câu nói thiếu suy nghĩ, và không bằng lòng tự mình phục theo lẽ thật.
Khi tôi nghiên cứu những lần gặp gỡ của ông ta với Giăng Báp-tít và với Chúa Jêsus, tôi thấy một người mà đời sống của ông ta đã kết thúc trong thảm họa thuộc linh. Thuộc về ông ta là một câu chuyện mang tính cảnh báo về 7 bước trên đường đến với Địa Ngục.
Bước #1: Phân tâm - Mác 6:17-20
Câu chuyện nói tới sự tự hủy diệt của Hê-rốt không bắt đầu với Chúa Jêsus mà với Giăng Báp-tít. Đây là hai nhân vật dường như chẳng có điểm nào chung hết. Hê-rốt là một vị vua điển hình — rất quyền lực, tự kỷ, và chú trọng vào chính khoái lạc và sự giàu có của riêng mình. Với bất kỳ phương diện nào khác, Giăng là một nhân vật rất lạ lùng, một người tu khổ hạnh đã sinh sống trong sa mạc, mặc áo bằng da lạc đà, rồi ăn châu chấu và mật ong rừng. Những đoàn dân đông đã nhóm lại từ khắp cả xứ Israel để nghe ông giảng đạo. Thế rồi Hê-rốt và Giăng Báp-tít gặp nhau và dường như họ đã trở thành bạn hữu. Mác 6:20 cho chúng ta biết “vì Hê-rốt sợ Giăng, biết là một người công bình và thánh. Vua vẫn gìn giữ người, khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà vua bằng lòng nghe”.
Hê-rốt ưa thích Giăng, song ông ta có một con mắt ngó về vợ của em mình — một phụ nữ có tên là Hê-rô-đia. Để làm cho các vấn đề ra tệ hại hơn, nàng cũng là cháu gái của ông. Bất chấp mọi hình thái lễ nghi phép tắc, Hê-rốt đã lấy Hê-rô-đia làm vợ mình, vì thế phạm cả hai tội: tà dâm và loạn luân. Giăng gặp ông ta mặt đối mặt, nói cho ông ta biết những gì ông ta đã làm là sai trái. Và dường như ông đã lặp lại sứ điệp ấy thật nhiều lần, là điều sẽ trở thành án tử hình chắc chắn cho bất cứ ai khác, nhưng Hê-rốt đã lắng nghe và đã xem xét lời lẽ của ông. Thậm chí ông ta đã bỏ Giăng vào ngục để bảo hộ cho Giăng tránh khỏi các kế hoạch của Hê-rô-đia.
Đây đúng là hình ảnh nói tới một linh hồn bị hành hại, luôn bối rối và bị dày vò. Một phần trong ông ta nhìn biết rằng Giăng nói ra sự thật. Không giống như những kẻ bợ đỡ đang có mặt ở quanh ông ta, con người nầy chẳng quan tâm gì đến tiếng tăm hay tiền bạc hoặc quyền lực hay bất cứ bổng lộc nào khác theo đến với một vì vua. Giăng chỉ quan tâm đến sự công bình. Vì thế, Hê-rốt đã lắng nghe và lắng nghe hoài. Phần khác trong ông ta đã ao ước cái điều mà Đức Chúa Trời đã phán mà ông ta không nên có — một phụ nữ đã kết hôn với người đàn ông khác.
Vì thế, Hê-rốt làm những gì mà nhiều người khác trước và sau ông đã làm: Ông tìm cách có được cả hai sự ấy. Ông ta bỏ tù Giăng để ông có thể bảo hộ cho Giăng và lấy người đàn bà kia làm vợ mình để phu phỉ mọi ham muốn về xác thịt của ông ta. Nhưng chẳng một người nào có thể sống trung lập cho đến đời đời được. Chẳng sớm thì muộn, bạn phải đưa ra một sự lựa chọn. Rõ ràng Hê-rốt vốn biết rõ sự thực khi ông ta nghe thấy nó. Ông ta đã phạm sai lầm khi giữ lấy sự thực trong một ngăn nhỏ, ở đó nó không thể quấy rối ông ta nhiều được. Nhưng điều đó không có hiệu quả. Sự thực đòi hỏi một quyết định. Ông ta sẽ làm gì bây giờ?
Bước #2: Những lời hứa dại dột - Mác 6:21-28
Khi đối diện với một cơn khủng hoảng, Hê-rốt đã và không thể đưa ra một quyết định. Ông ta không thể bỏ Hê-rô-đia được, nhưng ông ta không kết án tử hình Giăng. Ông ta là một “kẻ phân tâm”, không ổn định trong mọi chiều hướng của mình. Ông ta biết rõ sự thật nhưng không thể tuân theo nó. Ông ta muốn người đàn bà nầy nhưng biết rõ mình không nên lấy nàng. Thế là bị xâu xé bởi những ham muốn kình chống nhau, ông ta sống trong một vùng đất kinh khiếp không người. Ông ta sẽ làm gì đây? Câu trả lời đến tại bữa tiệc sinh nhật.
“Nhưng, vừa gặp dịp tiện, là ngày sanh nhựt Hê-rốt, vua đãi tiệc các quan lớn trong triều, các quan võ, cùng các người tôn trưởng trong xứ Ga-li-lê. Chính con gái Hê-rô-đia vào, nhảy múa, đẹp lòng Hê-rốt và các ngươi dự tiệc nữa. Vua nói cùng người con gái ấy rằng: Hãy xin ta điều chi ngươi muốn, ta sẽ cho. Vua lại thề cùng nàng rằng: Bất kỳ ngươi xin điều chi, ta cũng sẽ cho, dầu xin phân nửa nước ta cũng vậy. Nàng ra khỏi đó, nói với mẹ rằng: Tôi nên xin điều chi? Mẹ rằng: Cái đầu của Giăng Báp-tít. Tức thì nàng vội trở vào nơi vua mà xin rằng: Tôi muốn vua lập tức cho tôi cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm. Vua lấy làm buồn rầu lắm; nhưng vì cớ lời thề mình và khách dự yến, thì không muốn từ chối nàng. Vua liền sai một người lính thị vệ truyền đem đầu Giăng đến. Người ấy đi chém Giăng trong ngục; rồi để đầu trên mâm đem cho người con gái, và người con gái đem cho mẹ mình” (Mác 6:21-28).
Trước tiên, có một bữa tiệc sinh nhựt mà mọi cận thần của ông ta đều đã được mời đến. Chắc chắn rượu được chiêu đãi miễn phí. Hiển nhiên là con gái của Hê-rô-đia (một thiếu nữ có tên là Salome) đến để nhảy múa trước mặt nhà vua. Người Hy lạp cho rằng đây là một buổi biểu diễn đầy nhục dục với ý đồ kích động và làm dậy lên những thứ tình cảm đê tiện nhất của ông ta. Điều đó đã tác động vì nhân vật nầy đã đưa ra một lời thề ngu xuẫn quan trọng. Khi cô gái yêu cầu cái đầu của Giăng Báp-tít, nhà vua bị sốc, nhưng không thể để mất mặt được, vì thế ông ta đồng ý. Không bao lâu sau đó, cái đầu bị chặt đứt rời kia được đem trình cho cô gái, rồi cô ta trình nó cho mẹ mình, là người chắc chắn đã mĩm cười khi bà ta quay mặt đi khỏi cái cảnh bạo lực đó.
Làm sao một việc như thế đã xảy ra được chứ? Có một thứ như lương tâm “chai lì” như thế, là thứ mà bạn đang có khi bạn nghe biết lẽ thật thật nhiều lần mà chẳng làm chi hết về sự ấy. Đây là mối nguy hiểm cực kỳ bị phơi ra trước sự dạy của Lời Đức Chúa Trời khi chẳng có một đáp ứng cá nhân nào hết. Chẳng sớm thì muộn, tấm lòng của bạn trở nên cứng cỏi, lương tâm của bạn bị chai lì, và hai lỗ tai bạn thôi không còn nghe thấy nữa hầu cho lẽ thật không còn chạm đến bạn được. Thật tốt cho Hê-rốt là thà không gặp Giăng Báp-tít hơn là đã nghe sứ điệp của Giăng mà chẳng có một sự đổi thay nào trong đời sống của ông ta cả. Lẽ thật thay vì buông tha cho ông được tự do đã kết thúc trong việc xét đoán ông ta.
Bước #3: Những nỗi lo sợ về tội lỗi - Mác 6:14-16
Phần đạo đức của câu chuyện đáng buồn nầy không nằm ở phần cuối rốt mà nằm ở phần mở đầu. Khi lời đồn đại về quyền năng làm phép lạ của Chúa Jêsus lan ra, có người tưởng rằng Ê-li đã trở lại từ kẻ chết. Nhiều người khác cho rằng đây là một trong những vị tiên tri thời Cựu Ước. Nhưng Hê-rốt đạt tới chỗ kết riêng thật lạ lùng: “Nhưng Hê-rốt nghe vậy, thì nói rằng: Ấy là Giăng mà ta đã truyền chém, người đã sống lại” (Mác 6:16). Ông đã tin chắc rằng Giăng là một người thánh và ông ta biết rõ Giăng đã rao giảng lẽ thật. Khi quay nhìn lại, ông ta nuối tiếc nhiều về lời thề dại dột của mình dẫn tới cái chết của người Đức Chúa Trời. Giờ đây, huyết của một người công bình đang ở trên hai bàn tay ông ta. Tội lỗi thật của ông ta đã dẫn tới nhiều nổi sợ hãi — rằng người mà ông ta chặt đầu đã quay trở lại để ám ảnh ông ta thêm một lần nữa.
Chúng ta hãy tiếp thu từ lẽ thật đáng buồn và trang trọng nầy: Sự sáng đã nhận được dẫn tới thêm nhiều sự sáng hơn. Sự sáng bị chối bỏ chỉ dẫn tới bóng tối tăm mà thôi!
Bước #4: Những chương trình gian ác – Luca 13:31-33
Khi tiếng tăm Chúa Jêsus được lan truyền đi, Hê-rốt muốn gặp Ngài như ông ta đã từng gặp gỡ với Giăng Báp-tít vậy. Nhưng Chúa Jêsus giống như một hình ảnh mờ nhạt trong lớp sương mù. Ngài xuất hiện ở xa xa và rồi biến mất ở ngoài xứ. Lâu ngày, tánh khí Hê-rốt thay đổi và ông ta quyết định Chúa Jêsus là một mối phiền toái rất nguy hiểm, là kẻ phải bị kết án tử hình. Khi người dòng Pharisi cảnh cáo Chúa Jêsus phải rời khỏi khu vực vì sự an ninh của chính Ngài, Chúa đáp lại với những lời lẽ duy nhứt mà Ngài nhắm thẳng vào bản thân Hê-rốt: “Ngài đáp rằng: Hãy đi nói với con chồn cáo ấy rằng: Ngày nay, ngày mai, ta đuổi quỉ chữa bịnh, đến ngày thứ ba, thì đời ta sẽ xong rồi. Nhưng ngày nay, ngày mai, và ngày kia ta phải đi, vì không có lẽ một đấng tiên tri phải chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem” (Luca 13:32-33). Theo suy nghĩ của người Do thái, khi gọi ai đó là “chồn cáo” có nghĩa là họ rất tinh ranh, xảo quyệt, ranh mãnh, mưu mẹo, lén lút và hay lừa đảo. Chúa Jêsus đã nhìn thấy sự gian ác được chôn giấu ở bên dưới qua sở thích và lối phân biệt hời hợt của Hê-rốt. Sứ điệp của Ngài cho “con chồn cáo đó” thật là đơn giản: “Ngươi sẽ chẳng bao giờ giết được ta bất luận ngươi khó nhọc dường nào. Ta đến để làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời và chẳng ai chặn được ta cho tới chừng công tác ta đã hoàn tất”.
Tại sao Hê-rốt muốn giết Chúa Jêsus chứ? Câu trả lời không phải là khó tìm thấy đâu! Những gì chúng ta không nắm bắt được, chúng ta lo sợ. Những gì chúng ta lo sợ, chúng ta tìm cách hủy diệt nó. Bối cảnh giờ đây đề ra cho màn cuối cùng.
Bước #5: Tánh tò mò – Luca 23:8-9
Bấy giờ là sáng sớm ngày thứ Sáu tốt lành. Chúa Jêsus đã bị người Do thái bắt lấy đâu đó lúc nửa đêm. Khi ấy Ngài đã bị đưa trình hết người nầy đến người kia: An-ne, Cai-phe, Tòa công luận. Hết thảy họ đều nhắm vào Ngài. Đồng thời, Ngài đã gánh chịu nhiều chế giễu, sỉ nhục, và những lời vu cáo. Người Do thái muốn Ngài phải chết, song chỉ có người Lamã mới có quyền thi hành án phạt ấy. Thế là Ngài bị giải đến trước mặt Bôn-xơ Phi-lát, quan Tổng đốc xứ Giu-đê. Phi-lát là người Lamã được bổ nhiệm vào chức vụ ấy có rất ít hiểu biết về người Do thái và tôn giáo của họ. Công việc chính của ông ta là lo thu thập các thứ thuế và giữ gìn hòa bình. Khi Chúa Jêsus bị giải đến trước mặt ông ta, một cuộc xét hỏi nhanh chóng chẳng tỏ ra được điều gì xưng công bình cho án tử hình hết. Khi ông ta nghe nói Chúa Jêsus xuất thân từ xứ Galilê, ông ta tìm cách thoát ra khỏi tình thế khó xử ấy. Khi Hê-rốt đang xử lý mọi vấn đề tại xứ Galilê, và khi ông ta có mặt tại thành Jerusalem trong tuần lễ đó, ông ta đã trả Chúa Jêsus về cho Hê-rốt rồi để cho ông ta phán xử vấn đề phức tạp nầy.
Bây giờ, cuối cùng thì Hê-rốt gặp được Chúa Jêsus. Nhưng chẳng phải là điều mà ông ta trông đợi đâu. “Vua Hê-rốt thấy Đức Chúa Jêsus thì mừng lắm; vì lâu nay vua muốn gặp Ngài, nhân đã nghe nói về chuyện Ngài, và mong xem Ngài làm phép lạ. Vậy, vua hỏi Ngài nhiều câu, song Ngài không trả lời gì hết” (Luca 23:8-9). Ông ta “mừng lắm” vì ông ta nghĩ Chúa Jêsus sẽ làm một phép lạ (hay hai hoặc ba) cho ông ta xem. “Jêsus ơi, ta nghe nói ngươi có thể hóa nước thành rượu. Đây, một chậu nước đây. Cho ta xem phần ảo thuật của ngươi đi”. “Họ nói ngươi có thể đi bộ trên mặt nước. Sao ngươi không lướt đi trên hồ bơi ở sau cung điện ta?” Nhiều điều nữa đã được tra hỏi, Hê-rốt đưa ra hết câu nầy đến câu khác cho Chúa Jêsus. Ông ta rất tò mò, phải, nhưng ông ta chẳng phải là một kẻ tìm kiếm lẽ thật. Hê-rốt chẳng gì khác hơn một kẻ tìm kiếm cảm xúc. Tôi dám chắc ông ta đã bị sốc và rồi đã chán nản khi Chúa Jêsus từ chối không nói chi hết với ông ta. Không một người nào dám đối xử với ông ta như thế. Và cảm xúc đổi thành lúng túng và chắc chắn thành ra giận dữ.
Có những lúc trong cuộc sống, khi im lặng nói lớn tiếng hơn là lời nói. Đây là một trong những cơ hội đó. Chúa Jêsus vốn biết rõ rằng Hê-rốt đang vặt vãnh với Ngài và những thắc mắc của ông ta không xuất phát từ một tấm lòng thành. Ngài chẳng có lý do gì để trả lời cả, và vì thế Ngài “không trả lời gì hết”. Có lẽ Ngài nhớ lại Châm ngôn 26:4: “Chớ đáp với kẻ ngu si tùy sự ngu dại nó, E con giống như nó chăng”. Trong Bài giảng trên núi, Chúa Jêsus đã cảnh cáo chống lại việc đặt ngọc trai trước mặt heo hay trao vật chi thánh cho loài chó (Mathiơ 7:6). Hê-rốt thuộc về giai cấp những kẻ nào cứng cổ như thế trong sự mù loà thuộc linh của họ và lì lợm trong sự họ kháng cự lại lẽ thật đến nỗi chẳng có gì phải nói và chẳng có gì nên nói với họ nữa.
Khi Hê-rốt giết Giăng, ông ta đã giết chết chính linh hồn ông ta. Ông ta mắt khả năng để lắng nghe tiếng phán của Chúa Jêsus. Chẳng có gì Chúa Jêsus có thể nói sẽ tạo ra sự khác biệt nhỏ nhất trong tình huống ấy. Bởi sự im lặng của Ngài, điều đó đang nói: “Ngươi không muốn nghe lẽ thật khi Giăng nói. Ngươi đã đáp “không”. Giờ đây ngươi sẽ không bao giờ nghe thấy lẽ được nữa đâu. Ta chấp nhận câu trả lời “không” của ngươi đấy”.
Bước #6: Chế giễu công khai – Luca 23:10-11a
“Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo ở đó, cáo Ngài dữ lắm. Bấy giờ vua Hê-rốt và quân lính hầu vua đều đãi Ngài cách khinh dể và nhạo báng Ngài” (Luca 23:10-11a). Khi Chúa Jêsus từ chối không nói chi hết với ông ta, tánh tò mò phù phiếm của Hê-rốt mau đổi thành chế nhạo công khai. Ông ta và quân lính mình hiệp với người Do thái chế giễu Con của Đức Chúa Trời, Ngài đang đứng yên lặng trước mặt họ. Thế là Hê-rốt tỏ ra bản chất thật của ông ta. Bất cứ một sở thích thuộc linh chân chính nào ông ta có thể có đã biến mất từ lâu rồi. Tánh khí ông ta mau chóng thay đổi là dường nào khi Chúa Jêsus từ chối không tham dự trò chơi của ông ta.
Bước #7: Tánh hèn nhát – Luca 23:11b-15
Một trong những cái mỉa mai trong câu chuyện nầy, ấy là cả hai: Phi-lát và Hê-rốt đều biết rõ Chúa Jêsus là vô tội. Sự thực ấy được làm cho rõ ràng bởi lời tuyên bố của Phi-lát khi Chúa Jêsus bị trả về lại cho ông ta lần sau cùng. “đoạn, họ mặc áo hoa hòe cho Ngài, rồi giao Ngài về cho Phi-lát. Trước kia Phi-lát với vua Hê-rốt thù hiềm nhau, nhưng nội ngày ấy trở nên bạn hữu. Phi-lát hiệp các thầy tế lễ cả, các quan đề hình và dân chúng lại, mà nói rằng: Các ngươi đã đem nộp người nầy cho ta, về việc xui dân làm loạn; nhưng đã tra hỏi trước mặt các ngươi đây, thì ta không thấy người mắc một tội nào mà các ngươi đã cáo; vua Hê-rốt cũng vậy, vì đã giao người về cho ta. Vậy, người nầy đã không làm điều gì đáng chết” (Luca 23:11b-15). Hê-rốt chế giễu Chúa Jêsus nhưng ông ta không thể tìm thấy Ngài có lỗi lầm gì hay tội ác nào cả. Phi-lát rõ ràng đã bối rối bởi người nầy xuất thân từ xứ Galilê và muốn tìm cách nào đó để thả Ngài đi. Chẳng ai có thể giúp được gì cho ông ta. Còn Hê-rốt thì dự vào tội ác lớn lao hơn nữa, vì ông ta biết nhiều hơn Phi-lát. Qua Giăng Báp-tít ông ta đã bị phơi bày ra trước lẽ thật. Đối với người nào được ban cho nhiều, người ấy sẽ bị đòi lại nhiều. Trong giây phút lúc sau cùng ông ta gặp gỡ Chúa Jêsus, Hê-rốt đã thất bại một cách hoàn toàn.
Khi chúng ta đưa câu chuyện nầy đến chỗ kết thúc, chúng ta hãy lưu ý bản tường trình thể nào Đấng Christ sốt sắng đáp ứng lại với bất cứ ai kêu cầu Ngài. Ngài tiếp đón hạng kỵ nữ, kẻ say sưa, những người thu thuế bị thù ghét, và người Samari bị khinh dễ. Ngài vui vẻ gặp gỡ với một người Pharisi đến với Ngài trong ban đêm và thậm chí Ngài trả lời cho các thầy thông giáo nào tìm cách gặp Ngài với những thắc mắc hóc búa. Bất cứ lúc nào Đấng Christ tìm được một tấm lòng đang rộng mở, Ngài đáp ứng với ân điển và lẽ thật. Nhưng tấm lòng của Hê-rốt đã đóng kín lại kể từ lúc có cái chết của Giăng Báp-tít. Ông ta không hề kêu cầu Đấng Christ và không hề đến với Ngài với bất cứ điều chi giống như một tấm lòng rộng mở cả. Và đấy là lý do tại sao Chúa Jêsus chẳng nói một lời với ông ta.
Ông ta đã giết Giăng.
Ông ta đã tò mò về Chúa Jêsus.
Ông ta đã tìm cách giết Ngài.
Ông ta đã đối xử với Ngài giống như một cuộc biểu diễn hội hè.
Đến cuối cùng, mọi khả năng đạo đức của ông ta đều bị tê liệt hết. Ông ta không đáp ứng vì ông ta không thể đáp ứng. Số phận đời đời của ông ta đã bị đóng ấn từ lâu trước khi có sự chết đời nầy của ông ta nữa. Sự im lặng của Chúa Jêsus là bản án phán xét của Ngài giáng trên Hê-rốt.
Cái chết thình lình!
Cho phép tôi lặp lại một lần nữa lẽ thật trọng tâm cho mọi người chúng ta suy gẫm. Sự sáng đã nhận được dẫn tới nhiều sự sáng nữa. Sự sáng bị chối bỏ chỉ dẫn đến bóng tối tăm mà thôi. Đức Chúa Trời không bị buộc phải sai Đức Thánh Linh đến hoài với tấm lòng của bạn đâu. Đừng nói: “Ta sẽ đến với Đấng Christ sau. Ta sẽ sống cho Ngài sau khi ta tốt nghiệp, sau khi ta ra trường, sau khi ta có một cuộc vui chơi, sau khi ta kết hôn. Ta sẽ là một Cơ đốc nhân một ngày kia khi sau cùng ta đã ổn định rồi”. Đừng nói: “Ta biết mình cần phải lo toan về Chúa nhưng ta chỉ muốn vui chơi đã”. Bây giờ, đây là thì thuận tiện để đến với Đấng Christ. Bây giờ là ngày tốt nhứt bạn đang có để dâng tấm lòng mình cho Chúa. Bây giờ là giây phút trọn vẹn phải tính toán về việc theo Chúa Jêsus. Mà nầy, bây giờ là ngày cứu rỗi đấy!
Ai biết được? Có lẽ bạn sẽ vào bịnh viện tuần nầy để chịu tiểu phẩu. Thế rồi sau giải phẩu bạn sẽ sống mạnh giỏi và rồi chết thình lình. Chính việc ấy đã xảy ra cho một thuộc viên của Hội Thánh chúng ta vào tuần nầy. Tôi không thổi phồng đâu. Một trong các thuộc viên của chúng ta đã chết thình lình sau giải phẩu. Bà ta dường như sống rất mạnh giỏi và rồi bà ta ra đi. Tôi không sợ về linh hồn của bà ấy vì đức tin của bà đặt rất mạnh mẽ nơi Đấng Christ. Nhưng tôi dám chắc bà ấy không mong chết khi bà ấy qua đời. Tôi nhấn mạnh ở chỗ nầy vì chẳng có ai biết ngày mai sẽ đem lại điều gì. Hãy hầu việc Chúa hôm nay vì hôm nay là mọi sự bạn đang có. Ngày mai có thể sẽ không bao giờ đến với bạn đâu.
Hê-rốt đã nghe biết lẽ thật rất nhiều lần từ Giăng Báp-tít. Và lẽ thật thay vì đã cứu lấy ông ta lại kết thúc trong việc xét đoán ông ta.
Nghe lẽ thật cũng chưa phải là đủ.
Biết lẽ thật cũng chưa phải là đủ.
Thích lẽ thật cũng chưa phải là đủ.
Nghe lẽ thật nhiều lần cũng chưa phải là đủ.
Thấy rõ về lẽ thật cũng chưa phải là đủ.
Đừng vặt vãnh với Chúa Jêsus!
Thấy rõ về tội lỗi là rất nguy hiểm nếu nó không dẫn bạn đến với sự ăn năn. Thà là kẻ dị giáo ở trong rừng và chưa hề nghe Tin Lành hơn là nghe Tin Lành nhiều lần mà chẳng làm chi hết đối với Tin Lành ấy. Bất chấp sự thuyết phục dẫn tới tình trạng dửng dưng thuộc linh và lương tâm bị chai lì. Đức Chúa Trời sai Đức Thánh Linh đến để thuyết phục bạn về tội lỗi hầu cho bạn sẽ đến với Đấng Christ trong sự ăn năn và đức tin. Nếu sau khi bị thuyết phục về tội lỗi, bạn không đến với Đấng Christ, bạn đang ở trong khuôn khổ tệ hại nhất ở phần cuối rốt hơn là ở phần mở đầu.
Toàn bộ bài giảng của tôi — và sứ điệp cuộc gặp gỡ của Hê-rốt với Chúa Jêsus — có thể được tóm tắt lại trong hai câu ngắn ngủi:
Rất nguy hiểm khi học đòi theo Chúa Jêsus.
Rất nguy hiểm khi vặt vãnh với Con của Đức Chúa Trời.
Chúa Jêsus không có thì giờ cho người nào vặt vãnh với Ngài. Và đấy là lý do tại sao Ngài chẳng nói chi hết với nhiều câu hỏi của Hê-rốt. Êsai đã nói tiên tri về giây phút ấy 700 năm trước, khi ông viết: “Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng” (Êsai 53:7).
Khi tôi suy gẫm bối cảnh nầy với triễn vọng lớn lao hơn, ba tư tưởng sau cùng thoạt đến với lý trí:
1) Chúa Jêsus đã gánh chịu quá nhiều điều trên đường Ngài đến với thập tự giá.
2) Đáng buồn làm sao khi Chúa Jêsus bị kết án tử hình bởi hạng người biết rõ Ngài là vô tội.
3) Lạ lùng làm sao, Đức Chúa Trời đã sử dụng sự hèn nhát về đạo đức của hạng người gian ác để chu cấp ơn cứu rỗi cho chúng ta.
Một ánh sáng thánh khiết quanh thập tự giá
Lúc ấy khoảng 6H30 sáng vào ngày thứ Sáu tốt lành. Sáu phiên xét xử Chúa Jêsus đang đến với mức cuối cùng. Không bao lâu nữa Ngài sẽ bị đánh đòn, bị chế giễu, đổ huyết ra, và bị đội lấy chiếc mão gai. Ngài sẽ dẫn đám rước từ từ qua những con đường hẹp của thành Jerusalem. Khi Ngài vấp ngã dưới gánh nặng, Simôn người Siren được gọi đến từ đám đông để vác lấy cây thập tự. Không lâu sau đó, họ sẽ đến tại Đồi Sọ và những tên lính Lamã sẽ bắt đầu công việc của họ. Lúc 9 giờ sáng, Con của Đức Chúa Trời sẽ bị đóng đinh trên thập tự giá.
Và thế là Chúa Jêsus bị dẫn đi như chiên con trước mặt kẻ hớt lông. Ngài không kháng cự, Ngài không đánh trả, và Ngài không kêu gọi các đạo binh thiên sứ đến để giúp Ngài. Và Chúa đã gánh lấy trên chính mình Ngài mọi tội của chúng ta. Gánh nặng với tội lỗi của thế gian, Chúa Jêsus không được buông tha đối với sự thương khó của Ngài, cho tới chừng Ngài đã hoàn tất ý chỉ của Đức Chúa Cha qua cái chết đổ máu của Ngài trên cây thập tự.
Mọi hành vi của con người tội lỗi và các bậc cai trị hèn nhát kia chìm vào trong cái nền tối tăm. Quanh thập tự giá chiếu ra một tia sáng thánh khiết từ trời. Chúa Jêsus đang ở đây vì Ngài đã vâng theo ý chỉ của Cha Ngài. Không có gì xảy ra do tình cờ, từng chi tiết đều phù hợp với chương trình đã định sẵn của Đức Chúa Trời. Mười ngàn lần mười ngàn lời ngợi khen sẽ dâng lên cho Ngài, là Chúa Jêsus, là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng gánh lấy tội lỗi của cả thế gian.
Khi tôi soạn bài giảng nầy, lời lẽ của một bài thánh ca xưa đã gán cho Bernard xứ Clairvaux vào thế kỷ thứ 12 cứ rung lên trong lý trí tôi:
Thiết Hữu ôi, tôi sẽ dùng lời nào để cảm tạ Ngài, vì sự buồn rầu nầy, vì sự thương xót không dứt của Ngài sao? Ôi, xin hãy khiến tôi thuộc Ngài; tôi sẽ không chút e thẹn, lạy Chúa, xin khiến tôi yêu mến Ngài luôn.