Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Giăng 18:25-27: "Trước khi gà gáy"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Trước khi gà gáy

Giăng 18:25-27
Có một số âm thanh mà chúng ta không thường nghe thấy. Một trong số đó là tiếng gà gáy. Ở Chicago, bạn có thể nghe thấy hầu hết bất cứ thứ gì, nhưng có lẽ bạn phải đi đến sở thú mới nghe được tiếng gà gáy. Chúng ta có đủ thứ âm thanh song hành với cuộc sống hiện đại — đủ thứ còi hiệu của các loại xe hơi, xe bus, tàu hỏa, xe tải. Trong thành phố đông đúc, bạn có thể nghe tiếng trẻ con kêu khóc và âm nhạc om sòm, máy đếm tiền rung lên và tiếng phi cơ rú lên trên đỉnh đầu. Nhưng bạn sẽ khó mà nghe được tiếng gà gáy.
Bạn phải ra ngoài thành phố mới nghe được tiếng gáy đó. Đâu đó phía Tây hay ở đây miền Nam. Đâu đó ở một nông trại trong xứ. Đâu đó không phải nơi đông đúc hay om sòm như ở Chicago.
Nếu chúng ta nghe tiếng gà gáy vào sáng mai lúc mặt trời mọc, chúng ta khó mà biết phải làm gì. Những con gà trống không thuộc về thành phố. Ai nấy đều biết rõ như thế. Chúng thuộc về ngoại thành, ở đó chúng có thể gáy lên trước bình minh và đánh thức những kẻ ngủ với những tin tức báo rằng một ngày mới đã đến.
Đức Chúa Trời đã dựng nên những con gà trống cho lý do đó. Đóng vai trò như những tiếng kèn thổi lên lúc ban mai. Báo hiệu cho biết rằng một ngày mới đã đến. Làm cho những kẻ ngủ phải vực dậy ra khỏi giường của họ. Để nhắc cho mấy đứa trẻ nhớ rồi thức giấc mà uống sửa bò.
Một âm thanh khó quên
Phierơ vốn biết rõ mọi sự về tiếng gà gáy. Rốt lại, bạn không thể sống trong khu vực nông thôn giống như xứ Galilê mà không nhận rõ được tiếng hát hàng ngày mang âm hưởng của một chú gà trống. Ông đã nghe những chú gà trống gáy lên kể từ ngày mà ông ra đời. Tiếng ấy rất quen thuộc với ông giống như âm thanh của chiếc radio đối với chúng ta ngày nay. Tiếng gáy của con gà trống có ý nói: “Dậy đi! Dậy đi! Một ngày mới đang bắt đầu!”
Trải qua nhiều năm tháng, ông đã nghe tiếng ấy cả ngàn lần hoặc hơn. Nhưng trong số những lần ấy và trong những tiếng gà gáy, ông chỉ nhớ có một lần và một con gà trống với một tiếng gáy mà thôi.
Chuyện đã xảy ra vào sáng thứ Sáu kia trong thành Jerusalem. Con gà trống gáy lên, và Phierơ không bao giờ quên được tiếng gáy ấy. Bao lâu ông còn sống, ông không hề quên tiếng ấy, và ông không hề mệt mõi khi thuật lại câu chuyện. Thực vậy, ông kể lại câu chuyện thường xuyên đến nỗi nó đã được ghi ra bốn lần khác nhau — một lần do Mathiơ, một lần do Mác, một lần do Luca, và một lần do Giăng.
Và bản thân câu chuyện đã được lặp đi lại nhiều lần bởi thế hệ Cơ đốc nhân đầu tiên. Họ không bao giờ quên câu chuyện ấy và họ không thấy mệt mõi khi kể lại nó. Câu chuyện ấy trở thành một trong phần quen thuộc và được ưa chích nhất trong truyện tích Tin Lành.
Và trong 2.000 năm, câu chuyện nầy — đã thuật lại và đã được thuật lại, được thêm thắt với nhiều chi tiết rất sống động — đã khích lệ nhiều Cơ đốc nhân trong từng xứ sở. Bất cứ đâu câu chuyện nói tới Chúa Jêsus bị bắt được thuật lại, truyện tích nói tới Phierơ và con gà trống chắc chắn cũng được kể lại nữa. Chúng ta thích câu chuyện nầy vì chúng ta hiểu rõ nó và vì chúng ta có thể nhìn thấy bản thân mình trong đó. Một vài truyện tích Kinh Thánh nói tới chúng ta giống như câu chuyện nầy vậy.
Cụ Mục sư Matthew Henry đáng kính — đã viết cách đây hơn 300 năm — đã chia câu chuyện nầy ra làm hai phần — Phần 1 — Sự sa ngã của Phierơ và Phần II — Phierơ chổi dậy lại. Chúng ta sẽ theo bố cục đơn sơ ấy khi chúng ta nhìn vào câu chuyện nầy. Khi chúng ta nhìn vào đó, chúng ta hãy cảm tạ Đức Chúa Trời, mặc dù Phierơ sa ngã, thực ra ông đã chổi dậy lại rồi!
Sự sa ngã của Phierơ
Khi ấy là cuối đêm thứ Năm tại thành Jerusalem. Chúa Jêsus mới vừa bị bắt rồi bị giải đến nhà của thầy cả thượng phẩm. Hầu hết các môn đồ không thấy họ đâu hết. Họ đã bỏ đi, bị tan tác, lạc lỏng trong bóng tối tăm, họ bị sốc và giận hoảng lắm bởi những hành vi của Giu-đa đến nỗi chẳng làm được việc chi khác nữa.
Khi tốp lính dẫn Chúa Jêsus đi rồi, Phierơ quyết định đi theo họ. Ông đã hứa không hề rời khỏi Chúa Jêsus, và ông chưa khởi sự đi trong lúc nầy. Trong chỗ lộn xộn đó, đi lẽo đẽo ở đàng sau đám đông thì dễ hơn. Dường như chẳng có ai để ý tới ông. Chắc chắn không một người nào nhận ra ông là một trong những người hàng đầu của Chúa Jêsus.
Ông đi theo đám đông đến nhà của thầy cả thượng phẩm. Ngôi nhà rộng mở vào cái sân chỉ có thể bước vào qua một cánh cổng gần lối đi. Lúc ấy, Phierơ đến tại đó, mấy tên lính giải Chúa Jêsus vào bên trong để gặp thầy cả thượng phẩm. Đám đông phần nào đã giải tán, trời đã khuya và sự phấn khích theo thời gian đã lắng dịu xuống. Có người đã về nhà, nhiều người khác đang ngồi sưỡi ấm gần ngọn lửa ở trong sân. Khi ấy là đầu tháng Tư và nhiệt độ có cao hơn 40o F.
Thật là khó cho Phierơ phải thuật lại có bao nhiêu người có mặt ở đó. Có thể là 50, hay có thể nhiều hơn thế. Có những tên lính bước tới lo xay bột và những tớ gái mãi lo các việc vặt. Có nhiều kẻ “ăn theo” và khách qua đường (chính xác là phạm trù mà chính Phierơ rất thích ứng với) họ đang đợi để xem coi điều gì xảy ra cho gã Jêsus nầy.
Để hiểu rõ những gì xảy ra kế đó, cần phải nhớ rằng bấy giờ là sau nửa đêm rồi. Trong bóng tối tăm, Phierơ đến tại cánh cổng rồi chờ được cho vào. Không ai ở đó biết ông là ai (ông nghĩ thế), vì vậy sẽ là an toàn trọn vẹn cho ông khi bước vào bên trong. Thực thế, giờ đây ông đang ở trong lãnh thổ của kẻ thù, nhưng trời đang lúc nửa đêm, và chẳng có một lý do nào cho họ để nghi ngờ ông. Được trang bị với tư tưởng ấy, ông chạm trán ngay với người tớ gái trên đường đến bên ngọn lửa ở trong sân.
Chối bỏ bằng mánh khóe lừa bịp
Ngay khi ông vừa đến bên ngọn lửa, người tớ gái kia chổi dậy rồi nói: “Ngươi đã ở với Jêsus người Naxarét đến từ xứ Galilê”. Lời lẽ ấy đụng vào Phierơ giống như bị điện giật vậy. Làm sao cô ta biết ông chứ? Không ai biết cả. Điều đó thực sự chẳng phải là vấn đề. Và cô ta không biết tên của ông cũng chẳng phải là vấn đề. Cái điều là vấn đề, ấy là không cứ cách nào đó cô ta đã kết ông với Chúa Jêsus.
Phierơ phải suy nghĩ thật nhanh. Theo bản năng, ông lằm bằm lạc điệu xưa nhất trên thế gian: “Ta không biết ngươi đang nói gì”. Đúng thế. Chỉ là kịch câm. Hãy hành động giống như bạn không biết cô ta đang nói tới điều gì!
Hành động ấy có hiệu lực. Hay ít nhất Phierơ đã nghĩ nó có tác động. Nhưng khi ông đứng quanh ngọn lửa trao đổi với mấy tên lính, ông để ý thấy có hai ba người đang nhìn ông chằm chằm. Thật kỹ. Thật cẩn thận. Một hay hai người đã gật gù nhìn về phía ông rồi thì thầm.
Nhiều phút đồng hồ trôi qua và Phierơ xây đi muốn bước ra khỏi sân. Có một số việc mang một ít nguy hiểm rồi. Khi ông dợm bước, một tớ gái thứ nhì (bạn của tớ gái kia), thình lình lên tiếng: “Gã nầy là một trong số họ”. Phierơ tìm cách trầm tỉnh, nhưng ông cảm thấy trái tim mình như muốn xổ ra khỏi lồng ngực vậy. Mau mau lên, bạn phải nói gì đi chứ! Suy nghĩ. Suy nghĩ xem. Đừng nên đứng thừ ra đó. Vì vậy, ông nói: “Ta không biết người ấy”.Nhưng khi ông thốt ra câu ấy, mặt ông ửng đỏ lên và ông có thể bảo cô gái kia đừng tin ông.
“Mẹ kiếp, ta không biết người ấy”
Phierơ vốn biết rằng ông đã thực sự rơi vào chỗ rối rắm rồi. Hãy nói về việc ở trong chỗ sai lầm vào thời điểm không thích hợp. Ông đang ở trong trại quân của kẻ thù tự sưỡi ấm mình quanh ngọn lửa của kẻ thù. Nếu ông tìm cách ra khỏi đó lúc bây giờ, điều nầy sẽ làm phát sinh nhiều nghi ngờ thêm. Nhưng nếu ông trụ lại, họ sẽ nhận ra ông ngay thôi.
Thời gian cứ trôi đi, với nhiều cái nhìn và nhiều tiếng thì thào nhắm về ông. Sau gần một giờ đồng hồ, rõ ràng là cuộc phỏng vấn Chúa Jêsus với thầy cả thượng phẩm sắp sửa xong rồi. Lính gát đi tới đi lui khắp ngôi nhà và nhịp độ ở trong sân như tăng tốc lên vậy. Phierơ thở một hơi dài khuây khỏa. Có thể ông sẽ không còn chịu đựng lâu nữa đâu.
Đúng ngay giờ phút ấy, có một người lên tiếng từ bên kia ngọn lửa. Ông ta phát tiếng như chắc chắn và tỏ vẻ thù nghịch nhiều hơn hai tớ gái kia: “Ta há chẳng từng thấy ngươi ở trong vườn với người sao?” Phierơ ngước mắt nhìn ông ta rồi tìm cách chơi kịch câm. Lần nầy màn diễn ấy chẳng có hiệu lực nữa. Rõ ràng, gã nầy đã đi với đám đông đến bắt Chúa Jêsus. Tệ hại thật, hắn ta là người bà con của Malchus, là kẻ bị Phierơ chém đứt tai.
Phierơ bị gài bẫy và ông biết rõ điều đó. Gã nầy đã nhìn thấy ông với Chúa Jêsus. Thêm nữa, gã đã nhìn thấy rõ những gì Phierơ đã làm. Khi người ta bị dồn vào góc kẹt, người ấy sẽ làm bất cứ việc gì để tự cứu lấy mình. Trong trường hợp nầy, Phierơ bắt đầu rủa sả và thế thốt.
“Mẹ kiếp, ta không biết người ấy. Sao ngươi không để ta yên chứ? Nguyện Đức Chúa Trời đánh ta chết đi nếu ta từng nghe nói về người nầy {Chúa Jêsus}”. Lời lẽ đã thốt ra hết rồi, những từ ngữ cũ rích phát sinh từ sợ hãi và cùng kiệt. Những từ Phierơ đã không dùng tới kể từ khi ông còn là ngư phủ.
Ngay giờ phút đó, sau khi lời lẽ ấy phát ra từ môi miệng của ông, con gà trống bắt đầu gáy lên.
Sợ hãi và cùng kiệt
Bây giờ, câu chuyện ấy được để ra ở trước mặt chúng ta, chúng ta nên đưa ra một số câu hỏi, chủ yếu giữa vòng chúng là điều chi đã khiến cho Phierơ phải chối không biết Chúa Jêsus. Câu trả lời không khó tìm ra đâu. Phierơ đã hoảng sợ và ông rất là mệt mõi. Nói như thế không phải là miễn giảm cho cách ông xử sự đâu, song nó làm cho dễ hiểu câu chuyện hơn. Rốt lại, mọi sự ấy đã xảy ra, Phierơ sau cùng đã cùng kiệt, không còn sức lực nữa.
Hãy xét vấn đề từ nhận định của ông. Trường hợp của Chúa Jêsus dường như là vô vọng rồi. Những thầy cả thượng phẩm sau cùng đã bắt lấy Ngài và họ sẽ không thả Ngài ra cho tới chừng Ngài phải chết mất thôi. Rõ ràng là như thế đấy. Trong lý trí của bạn giờ đây còn có nhận định nào khác nữa không?
Hơn nữa, Phierơ đã mệt mõi lắm, cô độc, bị mất phương hướng một ít rồi. Thêm nữa — và đây là yếu tố chính — ông không mong bị hỏi han bởi người tớ gái. Câu hỏi của cô ta khiến ông mất cảnh giác hoàn toàn, và ông đã thốt ra một câu trả lời gần như là chẳng suy nghĩ gì hết. Nhưng một lần ông chối không biết Chúa Jêsus thì chẳng có chỗ để quay lại nữa. Ông đã lạc điệu rồi.
Con chó săn của ma quỉ đang chạy có bầy
Đấy là phần mỉa mai của câu chuyện nầy. Phierơ đã chối Đấng Christ với một cô tớ gái. Không phải với thầy cả thượng phẩm. Không phải với một tên lính. Không phải với ai đó quan trọng. Mà với một tớ gái xoàng xỉnh.
Tôi nghĩ Phierơ đã sẵn sàng chịu chết cho Đấng Christ tối hôm ấy. Chỉ hai giờ đồng hồ trước đó ông đã chém đứt vành tai của một người rồi mà. Không, Phierơ chẳng phải là kẻ hèn nhát đâu. Và ông biết rõ sự liều lĩnh khi dấn thân vào trong sân của nhà thầy cả thượng phẩm. Và tôi nghĩ (dù tôi không thể minh chứng điều nầy) rằng nếu Phierơ bị đưa đến trước mặt thầy cả thương phẩm, ông vẫn sẽ nói: “Phải, tôi là môn đồ của Chúa Jêsus” rồi với một nụ cười trên gương mặt, ông sẽ theo Chúa của ông đến với thập tự giá. Ông là loại người như thế đấy.
Điều chi đã xảy ra? Ông hoàn toàn chưa chuẩn bị gì hết khi bị cô tớ gái kia hỏi han. Cô ta khiến ông mất cảnh giác và ông đã nói dối về việc nhìn biết Chúa Jêsus. Nhưng một lời nói dối dẫn tới lời nói dối khác. Giống như Alexander Maclaren đã nói: “Một tội làm ra nhiều tội. Con chó săn của ma quỉ chạy có bầy”.
Bảy lầm lỗi quan trọng của Phierơ
Những gì đã xảy ra cho Phierơ không có cơ may thắng thế đâu. Ông đã tự cột mình bằng một sợi dây dài những quyết định xấu xa. Đây là bảy lầm lỗi quan trọng mà ông đã phạm phải trong đêm đó:
1. Ông đã nói khi ông đáng phải lắng nghe. Tại bữa Tiệc Ly, khi Chúa Jêsus phán rằng tất cả các môn đồ của Ngài sẽ bỏ Ngài, Phierơ mạnh dạn thốt ra: “Dù mọi người khác bỏ Ngài, tôi sẽ không bỏ Ngài đâu”. Trong vòng 6 tiếng đồng hồ, Phierơ sẽ đạt tới chỗ nuối tiếc về những lời nói dạn dĩ kia.
2. Ông không chấp nhận tình trạng yếu đuối của bản thân ông.
3. Ông bất chấp lời cảnh cáo của Chúa Jêsus.
4. Ông đi theo xa xa. Ông đã đi theo Chúa Jêsus, nhưng với một khoảng cách xa xa, khi lẽ ra ông phải sát cánh với Ngài. Trong trường hợp nầy, theo Chúa Jêsus xa xa chỉ làm cho ông thêm phần rối rắm mà thôi.
5. Ông đã tự mình sưỡi ấm nơi ngọn lửa sai trái. Phierơ chẳng có việc gì phải sưỡi ấm trong hội kẻ thù của Chúa. Như một nhà văn đã nói: “nếu đức tin của ông chưa nguội lạnh, ông không cần phải sưỡi ấm mình bên ngọn lửa”. Qua cách giao kết với những kẻ đã bắt Chúa Jêsus, Phierơ đang tự đặt mình vào một tình thế mà ở đó ông chắc chắn gần như bị phơi bày ra. Phierơ đã sưỡi ấm mình bên ngọn lửa sai trái cho tới chừng mọi việc quá nóng bỏng cho ông.
6. Ông chưa sẵn sàng khi cuộc tấn công xảy đến.
7. Ông đã làm cho tội lỗi ông phải tồi tệ thêm bởi lần nói dối thứ nhứt, kế đó là sự chối bỏ và sau cùng là thế thốt. Nhưng điều nầy không thể tránh được. Đã tự đặt mình vào sự sa ngã và khi sự ấy đến, đó là một sự sa ngã rất lớn. “Ôi, đúng là mạng lưới lộn xộn mà chúng ta đang đan dệt, khi trước hết chúng ta thực hiện sự nói dối”. Thật là thú vị khi để ý thấy Phierơ chỉ làm cho bản thân mình ra dại dột. Những người khác không hề thực sự tin theo ông. Họ đã ý thức, nhận ra ông đang nói dối. Có cái gì đó trên gương mặt và âm điệu trong giọng nói của ông đã xua ông đi.
Và thế là Phierơ — “Hòn Đá" — đã vụn nát ra ngay giờ phút ấy. Ông đã chối Chúa của mình không phải một lần, mà những ba lần. Đây là sự thất bại mà ông sẽ ghi nhớ trong phần còn lại của đời mình. Khi chúng ta suy gẫm về câu chuyện nầy, chúng ta hãy nhận vào lòng câu nói ở I Côrinhtô 10:12: “Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã”.
Phierơ chổi dậy lại
Có bốn bước trong sự Phierơ xây trở lại với Chúa:
1. Tiếng gà gáy. Các sách Tin Lành đều nhất trí ở một điểm. Con gà trống gáy đúng giây phút Phierơ chối Chúa lần thứ ba. Khi những lời lẽ dại dột thốt ra khỏi miệng ông — ngay giây phút đó — ở đàng xa đâu đó con gà trống bắt đầu gáy lên.
Con gà trống gáy, và Phierơ đã nhớ lại. William Hendriksen nói về sự việc nầy như sau: “Ký ức kín giấu nầy sẽ kéo sợi dây rung lên tiếng chuông lương tâm của Phierơ”.
Thình lình mọi sự đã trở nên rõ ràng. Sáu giờ trước đó, ông đã hấp tấp là dường nào, ông đã tự mãn lắm, ông tin cậy vào sức riêng mình, ông dám chắc về mọi khả năng riêng. Tiếng gà gáy như có ý nói: “Phierơ ơi, ta cảnh cáo ngươi điều nầy sẽ xảy ra và người không tin ta”.
2. Cái nhìn của Chúa Jêsus. Câu chuyện của Luca chứa một chi tiết mà người khác đã bỏ sót. Luca 22:61 chép rằng khi gà gáy: “Chúa xây mặt lại ngó Phi-e-rơ”. Khi điều nầy diễn ra lúc nửa đêm, sự việc đã xảy ra khi mấy tên lính giải Chúa Jêsus từ chỗ Caiphe phỏng vấn ra chịu xét xử trước Tòa Công Luận. Rõ ràng mấy tên lính đang giải Chúa Jêsus qua sân tòa án ngay khi Phierơ đang chối Đấng Christ lần thứ ba. Trong giây phút ấy, Phierơ đã rủa sả, con gà trống gáy lên, Phierơ ngước mắt nhìn lên và nom thấy Chúa Jêsus đang nhìn thẳng vào ông.
Vào lúc đó, gương mặt Chúa Jêsus mang màu xanh đen, hai mắt Ngài sưng húp lên, hai gò má Ngài bầm tím và đầy nước dãi. Một vết máu nhỏ giọt từ đôi môi Ngài. Mặc dù sự việc xảy ra trong bóng chết chóc của ban đêm, Phierơ có thể nhìn thấy Ngài trọn vẹn trong ánh lửa. Và Chúa Jêsus có thể nhìn thấy ông.
Ngài không thốt ra một lời nào cả. Ngài nhìn thẳng vào Phierơ, ông đã chối Ngài lần thứ ba. Mọi sự đã xảy ra y như Ngài đã nói trước.
A. Đây là cái nhìn rất thuyết phục. “Ngươi đã nói ngươi không biết ta. Hãy nhìn ta xem, Phierơ ơi. Hãy nhìn ta xem. Ngươi chẳng biết ta sao?”
B. Đây là cái nhìn thương xót. “Phierơ ơi, ngươi yếu đuối là dường nào. Giờ đây, ngươi biết rõ là chẳng có ta ngươi chẳng làm được chi hết”.
C. Đây là cái nhìn ủy thác. “Hãy khóc đi, Phierơ ơi, và hãy nhớ mọi lời nói của ngươi. Thế thì hãy đi và làm vững anh em ngươi”.
3. Lời lẽ của Chúa Jêsus. Mathiơ, Mác và Luca, hết thảy đều nhấn mạnh rằng khi gà gáy, Phierơ đã nhớ lại lời nói của Chúa Jêsus: “Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần”. Chính ký ức nầy còn hơn bất cứ thứ chi khác đã mang Phierơ về lại cho Đức Chúa Trời. Không những Phierơ đã sa ngã, ông đã sa ngã theo tánh khoe khoang hư không của ông. Sự việc đã xảy ra y như Chúa Jêsus đã nói trước. Lời lẽ nầy — được thốt ra trong tình yêu thương — đã nhập sâu vào trong những đường kẻ lý trí của Phierơ. Có nhiều việc đã xảy ra trong mấy giờ đồng hồ ấy mà Phierơ đã quên. Nhưng ở một phút thích ứng, ông đã nhớ lại những gì Chúa Jêsus đã phán.
4. Những giọt nước mắt của Phierơ. Lời lẽ được sử dụng có ý nói rằng Phierơ đã khóc lóc cách cay đắng. Chúng là một dấu cho thấy sự ăn năn sâu sắc của ông. Ông nhận ra những gì mình đã làm vào lúc sau cùng, ông đã sa ngã sâu xa dường nào, những sự chối bỏ của ông đã làm tổn thương Chúa.
Nhưng Giu-đa cũng khóc lóc nữa. Những giọt nước mắt của hắn ta dẫn tới chỗ phải tự tử; những giọt nước mắt của Phierơ dẫn tới sự ăn năn. Những giọt nước mắt là tốt đẹp nếu chúng dẫn tới một sự tin kính mới mẻ đối với Đức Chúa Jêsus Christ và một quyết định mới muốn hầu việc Ngài. Chúng ta có thể khóc lóc và khóc lóc, nhưng nếu tấm lòng của chúng ta không dịu hơn và rộng mở trước mặt Chúa, những giọt nước mắt của chúng ta chẳng làm cho chúng ta ra tốt đẹp hơn. Đối với Phierơ, những giọt nước mắt của ông báo hiệu sự tan vỡ của tấm lòng vì cớ tội lỗi của ông. Như tác giả Thi thiên đã nói: “Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu” (Thi thiên 51:17).
Lòng can đảm, chớ không phải đức tin ông
Tôi kết thúc từ mọi sự nầy, và Phierơ về mặt cơ bản đã trung thành với Đức Chúa Jêsus Christ. Rốt lại, ít nhất ông đã theo Chúa Jêsus vào cái sân kia. Phần còn lại các môn đồ thậm chí đã không làm được như thế. Theo lời lẽ của Mục sư William Barclay:
Phierơ rơi vào một sự cám dỗ chỉ xảy đến với con người dũng cảm. Con người dũng cảm luôn luôn liều lĩnh hơn kẻ tìm kiếm sự an bình. Không có khả năng trước sự cám dỗ là cái giá mà một người phải trả khi người đang mạo hiểm cả trong lý trí và trong hành động. (Luke, p. 270)
Phierơ không làm chủ được bản thân mình, nhưng ít nhất ông đã có mặt ở đó. Sự thất bại của ông là rất khủng khiếp, song ít nhất ông đã quan tâm đủ để cố gắng đi theo Chúa của mình. Điều đó không miễn trừ cho tội lỗi của ông, song nó giúp chúng ta nhìn thấy bức tranh lớn lao hơn.
Cuối cùng, ấy chẳng phải đức tin của Phierơ đã thất bại đâu, mà chính lòng can đảm của ông kìa. Chúa Jêsus đã nói cho Phierơ biết: “Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn” (Luca 22:32). Lời cầu nguyện của Ngài đã được nhậm. Phierơ không hề mất đức tin của ông; trong giờ phút khủng hoảng, ông đánh mất lòng can đảm của mình.
Sự thực cho thấy rằng Phierơ đã lớn tiếng, báng bổ và thô tục trong đêm đó. Cũng rất thực khi bên dưới mọi sự đó, ông rất mực kính mến Chúa Jêsus và đã có mặt trong cái sân kia — với mọi lầm lỗi của mình — cứ giữ một mắt nhìn vào Ngài. Rốt lại, Phierơ là một người tốt, ông đã thất bại không sống theo những dự tính tốt đẹp nhứt trong tấm lòng mình.
Ba bài học quan trọng
1. Satan thường tấn công chúng ta ngay thời điểm chúng ta mạnh mẽ, chớ không vào thời điểm chúng ta yếu đuối. Rốt lại, há Phierơ không dạn dĩ nói: “Dù ai bỏ Thầy, tôi sẽ không bỏ Thầy đâu?” Nếu bạn yêu cầu Phierơ sáu giờ trước đó liệt kê ra những điểm mạnh của ông, chắc chắn ông sẽ đưa ra sự dạn dĩ và lòng can đảm ngay ở hàng đầu bảng danh sách. Ông sẽ nói: “Có lúc tôi tra chơn vào miệng mình, nhưng ít nhất tôi không sợ phải nói ra đâu. Chúa Jêsus vốn biết rõ tôi luôn luôn có mặt ở đó khi Ngài cần đến tôi”.
Nhưng khi Satan tấn công, sự thể xảy đến cách thình lình, thật nhanh chóng, thất bất ngờ đến nỗi “vị sứ đồ dạn dĩ phải trở nên màu mè”. Từ tận đáy lòng, Phierơ là vô dụng. Trong giây phút khủng hoảng, Phierơ thất bại ngay thời điểm mà ông thề sẽ trung thành cho đến đời đời.
Điều nầy có làm cho chúng ta phải ngạc nhiên không? Rốt lại, tại sao Satan chỉ tấn công vào thời điểm yếu đuối của bạn chứ? Nếu bạn biết mình có một sự yếu đuối, đấy chính là lãnh vực mà bạn nên canh chừng cẩn thận nhất. Nếu bạn biết bạn có một nan đề với giận dữ hay với sự biếng nhác hoặc với tư dục hay với tánh tham ăn, liệu bạn có nên canh chừng e mình sẽ sa ngã chăng?
Nhưng không phải như thế với sức lực của bạn. Bạn phải cẩn thận với những lãnh vực đó. Bạn nói: “Đấy chẳng phải là nan đề đối với tôi. Tôi có những nan đề khác, nhưng lãnh vực ấy chẳng thực là cảm dỗ chi cả đâu”.
Hãy coi chừng! Hãy treo cờ đỏ lên đi! Có nguy hiểm ở trước mặt đấy. Khi một người cho bất cứ lãnh vực nào trong cuộc sống là hiển nhiên, đấy là một lãnh vực mà Satan muốn tấn công đấy. Tại sao chứ? Vì đấy là một lãnh vực mà ở đó bạn chẳng canh chừng sự tấn công của hắn.
Điều đó đã xảy ra cho Phierơ. Điều đó chẳng sớm thì muộn sẽ xảy ra cho bạn và cho tôi.
2. Đức Chúa Trời để cho bạn thất bại để tước đi sự tự tín quá đáng của chúng ta. Phierơ sẽ không còn khoe khoang khoác lác giống như ông đã làm trong đêm ấy nữa. Ông sẽ không còn cho mình là tốt hơn các anh em của mình nữa. Ông sẽ không còn tự mãn và tự tín nữa. Mọi sự ấy đã qua đi cho đến đời đời, một phần của cái giá mà Phierơ đã trả cho sự ông thất bại trong giờ phút khủng hoảng.
Đúng là một việc rất tốt khi Chúa cho phép điều nầy xảy ra cho chúng ta. Bởi việc vấp ngã, chúng ta buộc phải nhìn nhận rằng không có Chúa chúng ta sẽ chẳng làm chi được trừ ra thất bại. Chúng ta càng mau học biết rằng (và chúng ta không bao giờ học biết trọn vẹn được) không biết chừng nào chúng ta sẽ được tốt hơn. Thất bại dường như không bao giờ là một việc tốt đẹp khi nó xảy ra, nhưng nếu thất bại tước đi sự tự tín tự mãn của chúng ta, thế thì thất bại hoàn toàn là một sự ban cho đến từ Đức Chúa Trời.
Cách đây một vài năm, tôi đã ở ngay điểm xoay chiều chính trong cuộc đời của tôi. Khi tôi đau khổ trước sự lựa chọn mà tôi phải đưa ra, một số bạn hữu đã đến để cung ứng cho tôi lời khuyên vô tư của họ. Lúc bấy giờ, tôi chẳng muốn nghe những gì họ đã nói. Điều đó (tôi nghĩ) đã không được đưa ra trong tình yêu thương. Tôi cảm thấy họ quá gay gắt và có tính xét đoán trong các vụ việc mà họ đã nói.
Khi tôi lắng nghe, tôi cứ giận dữ thêm cho tới chừng tôi không còn kềm chế được nữa và đã nói ra một số việc mà sau đó tôi phải hối tiếc mãi thôi. Tôi đã sử dụng những từ ngữ mà tôi không dám lặp lại ở đây. Cơn giận cứ sôi sụt ở bên trong tôi và lời lẽ thốt ra giống như dung nham nóng chảy ra từ miệng núi lửa vậy. Sau khi chuyện qua đi, tôi ngồi thừ trên chiếc ghế, hoảng sợ nơi cơn giận cứ âm ỉ mãi ở trong tôi.
Nhiều ngày trôi qua và cơn giận bên trong đã lắng đi từ từ. Mặc dù vậy, nó đã từng dâng lên cao tới đỉnh, tôi không thể khoác lại nó một lần nữa được. Cơn giận của tôi lóe lên mỗi lần tôi nghĩ tới cuộc gặp gỡ ấy.
Một tháng sau, trong khi tham dự một hội nghị ở tiểu bang khác, tôi có gặp một người đã trở thành bạn thân của tôi. Một tối kia, chúng tôi ở lại trễ và tôi nói, với chi tiết tận cùng, câu chuyện nói tới sự bùng nổ của tôi. Khi tôi kể lại câu chuyện ấy, tôi bắt giận dữ rất nhiều lần.
Bạn tôi lắng nghe toàn bộ câu chuyện và rồi anh ấy nói: “Ray, bạn là người may mắn đấy. Những gì đã xảy ra cho bạn là một dấu hiệu của ân điển Đức Chúa Trời”. Tôi nghĩ anh ấy đã điên khi nói với tôi như thế, nhưng anh ấy nói tiếp: “Trong nhiều năm trời, bạn đã mang lấy hình ảnh của một người tiết độ hoàn toàn trong cuộc sống của mình. Bạn tỏ ra cái bề ngoài rất thoải mái. Nếu có ai nói: ‘Ông có hay cáu không?’, bạn sẽ bật cười rồi nói: ‘Không dám đâu’. Bạn không thể nói như thế được nữa. Sự ấy giống như thể Đức Chúa Trời với xuống rồi lột cái màn che đời sống bạn ra rồi tỏ ra cho bạn thấy hành động đồi bại của bạn. Từ giờ trở đi, bạn sẽ không còn nói: ‘Tôi không bực tức đâu’ vì bạn có bực tức đấy. Đức Chúa Trời để cho bạn nói ra những việc khủng khiếp ấy với bạn bè của mình hầu cho bạn không còn giả vờ giống như bạn chưa biết vậy. Đấy là ân điển của Đức Chúa Trời đang tác động trong đời sống của bạn đó”.
Tôi tin từng lời nói mà bạn tôi đã nói tuyệt đối là sự thực. Đức Chúa Trời để cho tôi thất bại trong giờ phút khủng hoảng và khi làm như vậy, Ngài đã tỏ ra cho tôi thấy một phần cái tôi mà tôi chưa hề thấy trước đây.
Đấy là những gì Ngài đã làm cho Phierơ. Phierơ không còn chổi dậy và khoe khoang về sự can đảm của mình nữa. Thay vì thế, trong tương lai ông ấy sẽ nói về sự hạ mình.
3. Đức Chúa Trời có thể chuộc lấy mọi lỗi lầm của bạn nếu bạn chịu để cho Ngài làm. Tôi để ý thấy hai sự kiện rất thú vị về phương thức Chúa Jêsus đối xử với Phierơ: 1. Ngài không hề phê phán ông và, 2. Ngài không từ bỏ ông. Chúa Jêsus vốn biết rõ về sự Phierơ chối bỏ từ trước khi việc đó xảy ra nữa kìa. Ngài biết rõ những điều Phierơ sẽ làm, Ngài biết rõ ông sẽ phản ứng ra sao nữa kìa, và Ngài biết rõ loại người mà Phierơ sẽ trở thành sau đó.
Có một nguyên tắc rất quan trọng đang tác động ở đây. Một cái xương bị gãy thường trở nên cứng hơn sau khi được lành. Một việc gì đó trong tiến trình chữa lành làm cho chỗ gãy được cứng cáp hơn trước đó. Cũng thực như thế về một sợi dây bị đứt. Trong tay của một mấu nối bậc thầy, sợi dây từng được sửa chữa, nó sẽ cứng cáp hơn trước đó.
Cũng thực như thế cho những thất bại của chúng ta. Đức Chúa Trời có thể nắm lấy chúng ta ở chỗ chúng ta bị tan vỡ rồi khiến chúng ta mạnh mẽ hơn trước đó. Mặc dù chúng ta vấp ngã và sa ngã, và dù mặt chúng ta phủ đầy với đồ rác rưỡi nét dữ tợn cay đắng do thất bại, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể chổi dậy từ chỗ thất bại đó mà tiến bước luôn với sự đắc thắng mới.
Đấy là những gì đã xảy ra cho Phierơ. Lỗi lầm của ông được đổi thành ân điển; sự xấu hổ của ông được đổi thành thông cảm; thất bại của ông được đổi thành sự trung tín.
Đây là minh chứng: Phierơ đã làm rất nhiều việc cho Đức Chúa Jêsus Christ sau khi ông vấp ngã hơn ông đã làm trước đó. Trước khi ông vấp ngã, ông hay lớn tiếng, hiếu động và không đáng tin cậy; sau đó ông đã trở thành một nhà truyền đạo nóng cháy của Tin Lành. Trước đó ông là một tay nói cao kỳ; sau đó ông chỉ nói những gì Đức Chúa Jêsus Christ có thể nói cho tha nhân. Ông cũng chính là một người ấy, nhưng ông đã khác biệt rồi. Ông vẫn là Phierơ mãi thôi, nhưng ông đã bị Satan sàng sảy và trong việc sàng sảy đó, rơm rạ trong đời sống ông đã bị thổi tung đi hết.
Đây là những gì bị mất trong thất bại của ông:
Lòng tự cao tự đại của ông
Sự kiêu căng của ông
Sự tự tín của ông
Tính bốc đồng của ông
Tình trạng không đáng tin cậy của ông
Đây là những gì Phierơ đã có được sau khi được phục hồi:
Hạ mình
Lòng tin cậy mới mẻ đặt nơi Đức Chúa Trời
Lòng dạn dĩ đã được thử nghiệm
Quyết tâm mới muốn hầu việc Đức Chúa Jêsus Christ
Một sự bằng lòng sử dụng kinh nghiệm của mình để giúp đỡ cho tha nhân
Những việc ông bị mất mát thực sự ông chẳng cần đến nữa; những việc ông có được không thể đến bởi con đường nào khác. Cũng một thể ấy, Đức Chúa Trời chuộc mọi lầm lỗi của chúng ta bằng cách dời đi những việc hạ thấp chúng ta rồi thay thế chúng bằng những đức tính mà chúng ta luôn luôn có cần song dường như chẳng thể tìm được.
Hy vọng dành cho kẻ vấp ngã
Có nhiều điều trong câu chuyện nầy sẽ khích lệ chúng ta. Ấy chẳng phải Phierơ kia, người đã chối Chúa đâu; đó là Phierơ thật, là người đã bước theo Ngài vào trong sân. Ấy chẳng phải Phierơ kia, là người đã rủa sả và thề thốt; đó là Phierơ thật, là người đã nói: “Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống”. Khi Chúa nhìn vào bạn và tôi, Ngài không nhìn vào chúng ta rồi chỉ nhìn thấy các thất bại của chúng ta đâu. Ngài nhìn qua bên kia mọi lỗi lầm của chúng ta nhìn thấy lòng trung thành nằm ở bên dưới đó. Ngài nhìn thấy nổi đau, những hàng nước mắt và ao ước sốt sắng nhất của chúng ta muốn làm đẹp lòng Ngài. Ngài nhìn thấy chúng ta trong các nổ lực loạng choạng của chúng ta khi bước theo Ngài.
Câu chuyện nầy được áp dụng cho ai đây? Trước hết, cho bạn là kẻ đang chịu cám dỗ, là kẻ cảm thấy cái lôi kéo của hoàn cảnh hòng kéo bạn xa khỏi Chúa. Hãy vững lòng đi! Bạn có cảm thấy yếu đuối và bối rối không? Phierơ cũng đã cảm thấy thế đấy. Có phải bạn ngã lòng về cuộc đời của mình chăng? Phierơ cũng đã cảm thấy ngã lòng nữa đấy. Bạn có cảm thấy mình bị vùi vào trong góc kẹt không? Phierơ đã cảm nhận thế đấy. Câu chuyện nầy là dành cho bạn đó.
Thứ hai, câu chuyện nầy dành cho những ai đã vấp ngã. Có lẽ bạn nhường bước trước áp lực trong tuần nầy. Có lẽ bạn đang vác lấy gánh nặng từ một lời nói không suy nghĩ nào đó đã thốt ra trong vội vàng. Có lẽ bạn đã chối Chúa bằng cách giữ im lặng ở sở làm khi bạn nên phải nói ra. Có lẽ bạn đã sử dụng lối nói tục tằn trong tuần nầy — dù chỉ thốt ra dưới hơi thở của mình. Có lẽ bạn có mặt ở chỗ mà bạn không nên có mặt. Có lẽ bạn đã thấy rõ cái tôi của mình trong mối quan hệ mà bạn biết là sai trái. Hãy vững lòng đi! Không những Phierơ đã cảm thấy y như bạn, mà ông ấy còn vấp ngã giống như bạn nữa đấy.
Thứ ba, câu chuyện nầy dành cho những ai đang xây trở lại với Đức Chúa Trời. Có lẽ bạn biết rõ mọi sự về khóc lóc với những giọt lệ cay đắng rồi. Có phải bạn cảm thấy giống như thể Đức Chúa Trời đang ở cách xa bạn lắm, có phải không? Dường như giống như bạn đang đang lê bước một mình qua một sa mạc rộng lớn vậy? Bạn có cảm thấy bối rối và bị sỉ nhục bởi những việc bạn đã làm và đã nói vì chúng đã nhận bạn vào mớ rối rắm kia chăng? Hãy vững lòng đi! Phierơ cũng đã cảm thấy như vậy đấy.
Không một truyện tích nào trong cả Kinh Thánh cung ứng cho chúng ta hy vọng càng hơn. Nếu Phierơ có thể vấp ngã, ai cũng có thể vấp ngã hết. Nếu Phierơ có thể quay trở lại, ai cũng có thể quay trở lại được mà.
“Hãy xem những điều đã xảy ra cho tôi”
Một điểm sau cùng. Câu chuyện nầy xuất phát từ đâu vậy? Làm sao nó được ghi trong Kinh Thánh chứ? Ai thuật lại câu chuyện nầy ở chỗ đầu tiên? Câu chuyện ấy chỉ có thể đến từ Phierơ thôi. Không một ai khác có mặt ở đó để thuật lại những gì đã xảy ra.
Chúng ta không làm được như vậy. Chúng ta che giấu lầm lỗi của mình với sự biết chắc không ai tìm ra chúng. Phierơ không như vậy đâu. Ông đã từng được phục hồi, ông không thể thôi không nói về những điều Chúa Jêsus đã làm cho ông.
Phierơ vẫn còn nói với chúng ta hôm nay: “Nếu bạn nghĩ bạn thiếu sót, nếu bạn cảm thấy mình đã chối bỏ Ngài, hãy nhìn vào những điều đã xảy ra cho tôi. Đừng thất vọng. Đức Chúa Trời vẫn yêu thương bạn, và Ngài yêu thương bạn nhiều đến nỗi bạn đã làm gì đều chẳng phải là vấn đề đâu. Nếu Đức Chúa Trời có thể tha thứ cho tôi, Ngài có thể tha thứ cho bất kỳ ai. Ngài yêu thương bạn lắm đấy, Ngài luôn luôn đã và luôn luôn sẽ yêu thương đấy thôi”.
Có hy vọng cho hết thảy chúng ta — người tốt nhứt trong chúng ta, kẻ tệ hại nhất trong chúng ta, và phần còn lại trong chúng ta. Nếu bạn đã vấp ngã, Ngài có thể nâng bạn lên. Nếu bạn tan vỡ, Ngài có thể khiến bạn lại lành. Nếu bạn thất bại, Ngài có thể khiến bạn ra hữu dụng. Nếu bạn đánh mất lòng dạn dĩ mình, Ngài có thể ban nó lại cho bạn ngay.
Hãy vững lòng và tin theo những tin tức tốt lành. Nếu Ngài đã làm điều đó cho Phierơ, Ngài có thể làm điều đó cho bạn đấy.

Mác 15:1-5: "Người có tên là Phi-lát"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Người có tên là Phi-lát
–
Mác 15:1-5
Đây là một nhân vật khác mà hết thảy chúng ta đều muốn gặp gỡ. Thuộc về ông ta là một câu chuyện nói tới một người bị kéo vào một tình thế chẳng đặng đừng rất tồi tệ. Vô luận chúng ta đọc bao nhiêu lần câu chuyện nầy, kỳ thực vẫn chưa rõ ràng ở chỗ không biết ông ta đã nghĩ gì và thực sự ông ta cảm thấy như thế nào!?! Tên của ông ta là Bôn-xơ Phi-lát. Ông ta là người đã trao Chúa Jêsus cho người ta đem đóng đinh trên cây thập tự.
Chúng ta biết rất nhiều về lai lịch của ông ta. Các trước giả Tin Lành gọi ông ta là quan “tổng đốc” xứ Giu-đê. Tước phẩm của ông ta phải gọi là “thái thú Lamã”. Trong hệ thống của người Lamã, các quan thái thú là những người nào xuất thân từ giai cấp chuyên làm xiếc trên lưng ngựa, người “lính canh Lamã”. Nói như thế có nghĩa là họ là hạng người thuộc giai cấp trung lưu, họ có một số tài sản. Họ thường được bổ nhiệm vào những vùng lãnh thổ nhỏ cần phải coi chừng thật kỹ lưỡng.
Phi-lát là vị thái thú thứ 5 của xứ Giu-đê. Hoàng đế Tiberius đã chỉ định ông ta theo cách riêng vào năm 26SC. Ông ta lập căn cứ đầu não tại thành Caesarea thuộc Lamã nằm trên bờ biển Địa Trung Hải, nơi Hê-rốt xây một cung điện thật lớn. Nhưng bất cứ lúc nào người Do thái có một sự tập trung đông đảo tại thành Jerusalem, ông ta sẽ đến đó để biết chắc mọi sự đang ở dưới sự phong tỏa.
Đấy là công việc chính của các quan Tổng đốc Lamã: Để giữ cho mọi việc trong vòng kềm tỏa, chọn lọc các thứ thuế rồi giữ sao cho yên ổn. Để làm được điều đó, người Lamã thường để cho dân địa phương giữ lấy phần tôn giáo của chính họ, và nếu có thể được, quản lý mọi vụ việc của riêng họ.
Cũng vì thế nên Phi-lát đã từ Rome đến Israel khoảng 7 năm trước đó. Ít nhứt, ở một phương diện, ông ta là một người Lamã điển hình. Khi ông ta đến, ông ta chẳng biết gì về luật lệ và thông tục của người Do thái. Bằng chứng cho thấy rằng ông ta đã làm rất ít để khắc phục thiếu sót đó. Rồi, xem như đấy là một vấn đề rõ ràng, những gì chúng ta biết về Phi-lát đưa chúng ta đến chỗ kết luận rằng ông ta đã xem khinh người Do thái và họ trả lại bằng sự quý mến. Một vài sự việc không may đã xảy ra — một vài chuyện đổ máu không cần thiết, một vài sự quấy rối khiêu khích — khiến cho người Do thái xem ông ta là một kẻ độc ác và vô tâm.
Bầu không khí rắc rối
Giờ đây là mùa lễ Vượt Qua và Bôn-xơ Phi-lát đang có mặt tại thành Jerusalem. Chắc chắn ông ta đang ở trong cung điện của Hê-rốt. Hê-rốt cũng đang có mặt trong thành phố, mặc dù về chuyên môn đây không phải là khu vực của ông ta. An-ne, thầy cả thượng phẩm, và Cai-phe, thầy cả đương niên cũng có mặt ở đó. Cũng một thể ấy, có hàng ngàn khách hành hương người Do thái, họ đã đến từ các phần khác trong xứ Israel. Có ai đó cũng có mặt trong thành phố. Chúa Jêsus đang ở đây với các môn đồ Ngài. Hết thảy đều đang tụ tập lại. Thảm kịch sau cùng đã bắt đầu.
Phi-lát biết rõ Chúa Jêsus như thế nào là một thắc mắc mà chúng ta không dám chắc trả lời. Nhưng chúng ta có thể cho rằng ông ta biết rõ một số điều về Ngài. Rốt lại, đấy là công việc của viên quan tổng đốc. Ông ta đã biết về sự Chúa Jêsus được lòng dân rồi. Ông ta đã biết thầy cả thượng phẩm và các thầy thông giáo chẳng có ích chi cho ông ta hết. Ông ta đã nghe nhiều tiếng đồn đại lan rộng khắp cả xứ rồi. Đây là công việc của một nhà chính trị cần phải biết rõ những sự việc nầy và, như chúng ta sẽ thấy, Phi-lát là một nhà chính trị rất tinh ranh. Ông ta luôn luôn biết rõ gió đang thổi ở chiều nào.
Tòa án trò hề
Các trước giả Tin Lành nhấn mạnh rằng cuộc xét xử Chúa Jêsus đã diễn ra vào buổi sáng sớm. Phiên xử đã xảy ra theo cách ấy vì các quan tổng đốc Lamã rất giống với những quan tòa hiện đại lắm. Họ thích khởi sự thật sớm, hoàn tất sớm rồi có thì giờ dành cho một cuộc tiêu khiển nào đó vào buổi trưa.
Chúa Jêsus đã bị bắt vào khoảng trưa ngày thứ Năm. Ngài đã có một phiên tòa ở trước mặt An-ne, rồi trước mặt Cai-phe, và sau cùng ở trước mặt Tòa Công Luận, Tòa Án Thượng Thẩm của người Do thái. Họ đã tìm cách gán tội phạm thượng trên Ngài. Phạm thượng có thể bị hình phạt bằng sự chết, và thực sự đấy là điều mà họ đang mong muốn — một cuộc hành quyết, chớ chẳng phải một cuộc xét xử công bằng. Nhưng có một sự cản trở duy nhứt. Người Do thái có thể xét đoán một người phải chết, song họ không thể thi hành án ấy được. Người Lamã đã tước cái quyền ấy khỏi họ. Trước khi Chúa Jêsus chịu án, Phi-lát phải đồng ý với án đó. Điều nầy là lý do tại sao vào sáng sớm ngày thứ Sáu, họ đã đưa Chúa Jêsus tới pháp đình.
Pháp đình là sảnh đường phán xét, là địa điểm mà ở đó quan tổng đốc sẽ lắng nghe các vụ kiện rồi đưa ra bản án. Lúc bấy giờ là vào khoảng giữa 6 và 7 giờ sáng. Hết thảy họ đều có mặt ở đó. Thầy cả thượng phẩm, các thầy thông giáo, người dòng Pharisi, hết thảy họ. Và họ đưa Chúa Jêsus theo với, trói lại như một tội phạm.
Người Lamã đã theo một thủ tục nhất định trong mọi cuộc xét xử của họ. Vị thẩm phán sẽ yêu cầu một phát biểu theo hình thức về bản án. Khi ấy ông ta sẽ hỏi bên kiện và bên bị. Những người làm chứng sẽ đứng ở phía trước, đưa ra luận chứng của họ và được xem xét. Sau khi nghe làm chứng rồi, vị thẩm phán sẽ lui về phòng làm việc của mình, hội ý với các đồng sự, rồi trở lại với phần quyết định. Bản án sẽ được đưa ra ngay tức thì. Phi-lát đã theo sát thủ tục nầy khi Chúa Jêsus được đưa đến trước mặt ông ta.
Bản tường trình nói rõ về các sự kiện trong buổi sáng thứ Sáu đó. Phi-lát đã đưa ra các câu hỏi theo thủ tục — đại loại như: “Đâu là bản án nghịch lại người nầy?” Giăng nói cho chúng ta biết người Do thái không muốn trả lời trực tiếp. Vấn đề, ấy là chẳng có một luật nào của người Lamã nghịch lại tội phạm thượng cả. Đấy là chuyện của người Do thái. Họ không thể nói: “Người nầy xưng mình là Đấng Mêsi”, vì Phi-lát sẽ khoác tay và chắc phải là như thế. Phi-lát không ưa thích người Do thái, không thực sự hiểu luật pháp của họ, và không muốn bị kéo vào một cuộc tranh cãi theo kiểu xoi mói của tôn giáo.
“Lẽ thật là gì?”
Đoạn, ông ta quay sang thắc mắc với Chúa Jêsus. Tất cả bốn sách Tin Lành đều nhất trí với câu hỏi đầu tiên mà Phi-lát đưa ra — "Ấy chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không?” Đấy là những gì các cấp lãnh đạo Do thái đang tố cáo, ông ta nói. Đấy là một việc đối với họ, song là một việc khác đối với người Lamã. Câu trả lời của Chúa Jêsus thật là khó hiểu: “Thật như lời”, nghĩa là: “Phải, ta là vua, song không phải loại vua mà ngươi đang nghĩ đâu”.
Thế nào, Ngài là vua hay không phải vua? Một lần nữa, Giăng cung ứng một số chi tiết mà các trước giả khác bỏ sót. Vấn đề, ấy là đối với Phi-lát, tước hiệu “Vua dân Giu-đa” ám chỉ một cấp chỉ huy quân sự, nhưng đối với người Do thái, đó có nghĩa là Đấng Mêsi. Các thầy tế lễ cả có ý làm cho Phi-lát phải lúng túng trong suy nghĩ Chúa Jêsus là một loại lãnh tụ cách mạng, và nhơn đó là một mối đe dọa đối với Rome. Việc nầy chẳng có hiệu quả vì Chúa Jêsus đã nói với ông ta: “Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy. Ví bằng nước ta thuộc về thế gian nầy, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận, đặng ta khỏi phải nộp cho dân Giu-đa; nhưng hiện nay nước ta chẳng thuộc về hạ giới” (Giăng 18:36).
Chính tại điểm nầy Phi-lát đưa ra câu hỏi kiếm được cho ông ta một chỗ đứng trong lịch sử. Khi Chúa Jêsus phán: “Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta”. Phi-lát hỏi: “Lẽ thật là cái gì?” Không một ai biết chính xác ông ta muốn nói điều gì. Có phải thắc mắc của ông ta là một ao ước cố ý muốn biết rõ lẽ thật chăng? Phải chăng đấy là sự giễu cợt theo triết lý? Có phải đây là một trò đùa hay thực sự không hiểu biết? Có phải ông ta đang cáu tiết hay đang dửng dưng? Có phải ông ta đang nói ra từ một nhu cần sâu sắc ở bên trong? Không có cách nào để biết chắc lý do tại sao Phi-lát đã đưa ra câu hỏi đó. Nhưng chúng ta biết nhiều về điều nầy. Ngay giây phút ấy, Phi-lát đã đứng gần với lẽ thật hơn ông ta đã từng đứng trước đây và sẽ gần hơn bao giờ hết.
Baraba hay Jêsus?
Giây phút ngắn ngủi đã trôi qua và các cấp lãnh đạo người Do thái đã bắt đầu tố cáo Chúa Jêsus. Kinh Thánh nói rất đơn giản: “Song Đức Chúa Jêsus không đáp lại một lời gì, đến nỗi làm cho quan tổng đốc lấy làm lạ lắm” (Mathiơ 27:14). Điều đó khiến cho chúng ta cảm thấy hối tiếc cho Phi-lát. Rõ ràng, ông ta chẳng muốn có phần nào trong đám đông kia. Không giận dữ, không đe dọa, chỉ lấy làm lạ và bối rối sâu sắc. Người nầy là ai chứ? Tại sao ông ta lại có mặt ở đây? Và lý do tại sao người Do thái muốn ông ta phải chết chứ?
Phải làm gì bây giờ đây? Phi-lát có được một ý tưởng. Một ý định cầu may, thực vậy, nhưng nó sẽ đưa ông ta ra khỏi chỗ căng thẳng ấy. Có một tục lệ vào thời buổi ấy dành cho quan tổng đốc tha cho một tù phạm trong dịp Lễ Vượt Qua hàng năm. Điều nầy làm tăng uy thế cho người Lamã. Đây là một trong vài việc mà Phi-lát đã làm mà người Do thái rất ưa thích. Người ta có thể nhìn thấy tia sáng lóe lên trong óc của Phi-lát khi ý tưởng nầy ụp lấy ông ta. Có thể ông ta sẽ tuyên bố Jêsus người nầy vô tội — và rồi để cho Ngài đi. Ông ta có thể làm cho tình huống lắng dịu đi một cách thật nhẹ nhàng, với một chút ồn ào thôi.
Chỉ là bế tắc tạm thời mà thôi. Dân chúng phải đồng ý. Đây chẳng phải là sự lựa chọn của ông ta. Vì vậy, ông ta đưa ra cho họ hai người — Chúa Jêsus và một tội phạm khét tiếng có tên là Baraba. Baraba là một kẻ sát nhân. Đấy là mọi sự mà bạn có thể nói về hắn ta. Hắn là một tay giết người, một tên khủng bố, một kẻ chuyên giết người không chút tình cảm chi hết. Theo những tiêu chuẩn bình thường, hắn là người sau cùng mà dân Do thái muốn loại bỏ trên những đường phố. Ai nấy đều chợp mắt được đôi chút với Baraba ở đàng sau các chấn song. Nhưng đây là một ngày quái dị và lạ lùng khi các giá trị đương thời bị úp đổ hết. Có nhiều việc không còn như trước nữa. Phi-lát, hy vọng có một phương thức tránh thoát dễ dàng, đã hỏi đám đông một câu thật đơn giản: “Các ngươi muốn ta tha ai — Baraba hay Jêsus?”
Vợ của Phi-lát
Hiển nhiên là dân chúng không trả lời cách mau mắn. Họ vòng quanh đó trong chốc lát, và sau đó sứ điệp kỳ lạ ra từ vợ của Phi-lát, nàng đã nằm chiêm bao về Chúa Jêsus và giấc chiêm bao ấy làm cho nàng phải chao đảo. Nàng gửi lời cho chồng đừng làm hại chi đến người.
Không có một lý do nào để nghĩ vợ của Phi-lát đã từng gặp gỡ hay đã nghe Chúa Jêsus giảng dạy. Chắc chắn nàng đã biết nhiều về Ngài rồi. Đấy là những gì khiến cho câu chuyện đáng để ý đến. Trong giây phút ngắn ngủi đó, trước khi bản án được đưa ra, vợ của Phi-lát đã gửi một sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời.
Chúng ta ao ước chúng ta muốn biết thật nhiều từ chỗ nầy. Chắc chắn Phi-lát đã dừng lại trong giây lát. Chắc chắn sứ điệp gửi từ vợ ông ta đến đã làm lay động ông ta. Có lẽ ông ta nhìn trừng trừng lên khoảng không trong đôi ba phút. Mathiơ cung ứng phần ấn tượng cho thấy Phi-lát chỉ ngồi thừ ở đó. Ông ta đã đưa ra câu hỏi, rồi trong khoảnh khắc ấy sứ điệp đã đến từ vợ của mình. Bây giờ, ông ta đang suy nghĩ về chuyện đó.
Nhưng không một ai có thể suy nghĩ về Chúa Jêsus cho đến đời đời được. Sẽ có một thời điểm khi quyết định phải được đưa ra. Phi-lát không có suy nghĩ sâu xa chi khác hơn ngày nghỉ cuối tuần. Ông ta phải quyết định ngay khi ấy. Và giống như nhiều người khác đã làm, ông ta chẳng làm chi hết.
Nhân vật biết quá nhiều
Từ trên xuống, các cấp lãnh đạo bắt đầu kích động đám đông, lay động họ với hành động quyết định. Từ từ những tiếng kêu la dậy lên, lúc đầu thấp giọng và chậm chạp, rồi lớn tiếng và nhanh hơn: “Hãy trao cho chúng tôi Baraba. Chúng tôi muốn Baraba”.
Giây phút cho sự quyết định đã trôi qua. Dân chúng đã lên tiếng. Họ muốn con người tội phạm được buông tha. Họ muốn Jêsus phải chịu chết.
Chắc chắn Phi-lát là một con người đang rơi vào chỗ bối rối. Từ điểm thuận lợi của những năm 2.000, thật chẳng khó khi cảm thấy hối tiếc cho ông ta. Ông ta không hề thắc mắc về tình trạng khủng khiếp nầy. Ông ta không hề có ý định buông tha cho một kẻ chuyên giết người. Trong lý trí, ông ta biết Jêsus là vô tội. Ông ta biết rõ như thế. Vợ ông ta đã trao cho ông ta sứ điệp của Đức Chúa Trời. Nhưng dân chúng đã xin kẻ giết người. Thêm một lần nữa, ông ta cố gắng: “Thế thì, ta sẽ làm gì với Jêsus?” Đây là hành động của một con người đang lâm cảnh tuyệt vọng. Ông ta biết rõ điều mình sẽ làm, song lại sợ không dám làm điều đó.
Thật vậy, nếu bạn gắn những câu chuyện Tin Lành lại với nhau, thì thấy rõ rằng Phi-lát đã cố gắng đến bốn lần để tránh không kết án Chúa Jêsus phải chết. Lần thứ nhứt, ông ta bảo người Do thái phải lo chuyện của họ. Lần thứ hai, ông ta chuyển vụ việc sang cho Hê-rốt. Lần thứ ba, ông ta tìm cách xoa dịu người Do thái bằng cách đánh đòn Chúa Jêsus thay vì đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Lần thứ tư, ông ta cố gắng tạo ra một sự thỏa thuận, song thay vì thế dân chúng lại chọn Baraba.
Hăm dọa!
Ngay tại điểm nầy câu chuyện của Phi-lát trở nên hấp dẫn thêm. Nhiều lần các trước giả Tin Lành nhấn mạnh rằng ông ta thấy Chúa Jêsus là vô tội. Nhưng ông ta sẽ làm gì chứ? Tôi nghĩ trước mọi áp lực, Phi-lát vẫn muốn tha Chúa Jêsus với chỉ một sự đánh đòn trừ ra một việc. Người Do thái đã chơi lá bài chủ của họ. Họ nói với Phi-lát: “Ví bằng quan tha người nầy, thì quan không phải là trung thần của Sê-sa” (Giăng 19:12). Phi-lát vốn biết chính xác họ có ý nói gì rồi.
Hoàng đế Tiberius đã lâm trọng bịnh, hay nghi ngờ và thường tỏ ra bạo lực. Ông ta sẽ chẳng thích việc tiếp lấy một báo cáo xấu nói tới một trong những quan tổng đốc của ông ta. Và Phi-lát đã có nhiều thứ muốn che đậy. Quá khứ của ông ta sau cùng đã bắt kịp ông ta.
Đó là một sự hăm dọa, đơn sơ và rõ ràng. Và nó đã tác động. Bạn thấy đấy, nếu sự chọn lựa là đơn giản giữa Chúa Jêsus và người Do thái, Phi-lát sẽ để cho Chúa Jêsus đi. Nhưng việc đó không chính xác là điều đã xảy ra. Sự hăm dọa khiến phải đưa ra một sự lựa chọn giữa Chúa Jêsus và Rome. Một người sẽ làm nhiều việc để cứu lấy chỗ đứng của mình. Cuối cùng, phải đặt lợi ích riêng lên phần của Phi-lát.
Hai bàn tay đẩm máu: Rửa
Cho phép tôi tóm tắt lại vụ kiện như tôi xem thấy. Phi-lát không thực sự hiểu được Chúa Jêsus, song ông ta cũng muốn kết án tử hình Ngài cho rồi. Ông ta đã bị những lời kêu nài của người Do thái làm cho ngây đi trước luật pháp của người Lamã. Và ông ta biết rõ Chúa Jêsus là vô tội. Ông ta đã nói như thế nhiều lần lắm.
Về cơ bản, sự việc đã xảy ra theo cách nầy: Phi-lát muốn thả Chúa Jêsus nhưng chẳng một giá nào trả cho ông ta về mặt cá nhân. Ông ta muốn thả Ngài đi, song không còn chỗ đứng cho ông ta nữa. Ông ta đã hâm mộ, song chưa đủ để tin theo Ngài. Ông ta sau cùng đã đầu hàng trước lời hăm dọa riêng tư và áp lực của đám đông. Và vì vậy, ông ta đã kết án tử hình Chúa Jêsus.
Nhưng trong hành động sau cùng của một lương tâm bị cấu xé, ông ta đã lấy một chậu nước rồi rửa tay mình. Đây là một hành động mà người Do thái sẽ hiểu rõ vì hành động ấy ra từ Cựu Ước. Thực vậy, hành động ấy ra từ Phục truyền luật lệ ký 21, ở đây Đức Giêhôva đề ra một nghi thức cho trường hợp làm chết người không cố ý. Nó bao gồm việc rửa tay mình trên con bò cái tơ đã bị vặn cổ chết. Nghi thức có ý nói: “Ngài là vô tội và ta cũng thế”.
Cơ bản là Phi-lát hiện đang làm đúng y như thế. Chỉ có một nan đề mà thôi. Phi-lát đang phạm tội. Tất cả nước của một ngàn ngọn thác Niagaras không thể gột sạch được tội lỗi của ông ta. Ông ta đang phạm tội hèn nhát về đạo đức trong giây phút khủng hoảng. Ông ta phạm phải tội bán đứng một người vô tội để cứu lấy chỗ đứng của chính ông ta. Ông ta đang phạm phải tội xét đoán một người mà ông ta biết rõ là vô tội.
Không, Phi-lát ơi, chuyện ấy sẽ không xong đâu. Hãy nhìn đi, nhìn đi, hãy nhìn vào hai bàn tay của ông kìa. Huyết vô tội đang bao phủ chúng. Ông đã đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá bằng sự do dự, sự dao động, sự hèn nhát, sự ích kỷ của ông. Mặc dù ông sống để rồi trở thành một cụ già, già lắm, ký ức nầy sẽ ám ảnh ông cho đến đời đời. Những tiếng kêu gào từ đồi Gôgôtha sẽ rung lên trong tai ông cho tới ngày ông qua đời. Và rồi đây, tên tuổi của ông sẽ là một biểu tượng cho mọi điều ác đã được làm ra cho Chúa Jêsus.
Việc ấy đã xảy ra. Chính ngày nầy, trong hàng trăm hàng ngàn Hội Thánh, Cơ đốc nhân đã đọc lại bài tín điều các sứ đồ. Chỉ có ba danh xưng được thấy có trong bài tín điều ấy — Chúa Jêsus, Mary và … Bài tín điều đọc như sau: “Sanh bởi nữ đồng trinh Mary, chịu thương khó dưới tay Bônxơ Phi-lát”. Tuy nhiên, Phi-lát đã biết rõ Chúa Jêsus là vô tội. Ông ta đã cố gắng những bốn lần hòng thả Ngài đi — và đã nói: “Ta chẳng thấy người có tội lỗi gì cả”. Đấy là lẽ mầu nhiệm và rất khó hiểu trong câu chuyện của ông ta.
Một người yếu đuối và đáng thương
Ông ta đã rửa tay mình, song huyết sẽ chẳng sạch được. Ông ta đã bỏ qua trách nhiệm, song nó lại trở đến ông ta. Ông ta tìm cách đưa ra một thỏa thuận, song cuộc diện không thành. Ông ta đã tìm cách thỏa hiệp rồi kết thúc ở chỗ bị hăm dọa. Cuối cùng, Phi-lát dường như đáng thương, sợ hãi, yếu đuối, không thể làm được điều mà ông ta biết là đúng.
Phi-lát ơi, ông đã nói gì với vợ ông trong đêm đó? Ông giải thích thế nào về những điều ông đã làm? Ông đã rửa tay mình ở trước mặt nàng sao?
Có nhiều điều bi thảm trong câu chuyện nầy, nhưng có lẽ cái điều bi thảm nhất là đây: Phi-lát không hề muốn dính dáng vào. Và ông ta không hề ghét bỏ Chúa Jêsus. Ông ta chỉ muốn giữ lấy sự hòa thuận, đổ dầu ra trên vũng nước rối rắm, làm cho mọi người nguôi ngoai đi.
Ông ta biết rõ lẽ thật, mặc dù về sự ấy, đã trì trệ quá lâu. Phi-lát đã có cơ hội của mình mà không nắm lấy. Ông ta nói: “Lẽ thật là cái gì?”, khi Đấng Chơn Thật đang đứng cách ông ta chỉ có mấy cm. Ông ta không thể nhìn thấy điều đó; ông ta vốn chẳng hiểu được điều đó; ông ta sẽ không tin lẽ thật ấy, và vì thế, ông ta đã không bước theo lẽ thật. Ông ta đã ở gần đủ để chìa tay ra rồi chạm đến Đấng Chơn Thật, nhưng ông ta đã không làm được điều đó.
“Ta sẽ làm gì với Jêsus?”
Câu hỏi sau cùng của Phi-lát với đám đông vẫn còn rung lên qua nhiều thế kỷ: “Thế thì, ta sẽ làm gì với Jêsus?” Đấy, câu hỏi của nhiều thế đại và từng người chắc chắn phải đưa ra câu trả lời.
Chỉ có hai câu trả lời khả thi. Tôi có thể tôn vinh Ngài hoặc tôi sẽ đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Chẳng có câu trả lời nào khác nữa, không có một chỗ đứng trung lập đâu.
Chúng ta hãy đưa câu hỏi ấy đi vòng quanh rồi lập nó sao cho thật cá nhân hơn: “Ta sẽ làm gì với Jêsus?” Nếu Ngài là Con của Đức Chúa Trời, vậy thì hãy tôn cao Ngài là Chúa trong đời sống của bạn rồi dâng tấm lòng của bạn cho Ngài. nếu Ngài là kẻ lừa lọc, vậy thì với bất cứ giá nào hãy đóng đinh Ngài trên cây thập tự đi.
Song tôi không thể quyết thay cho bạn được. Không một ai có thể trả lời cho câu hỏi đó trừ ra bạn. Bạn hữu của Chúa Jêsus không thể trả lời thay cho bạn đâu. Những kẻ thù của Ngài cũng thế. Phi-lát đã tìm cách rửa tay mình, nhưng nước sẽ không rửa sạch được loại huyết ấy. Bạn không thể xưng mình trung lập được. Một là tham gia vào với những kẻ đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá hoặc tham gia vào với những kẻ bước theo Ngài.
Tôi đưa ra câu hỏi thêm một lần nữa: Bạn sẽ làm gì với Chúa Jêsus? Hãy trả lời câu hỏi ấy, đừng bỏ qua. Trước khi mỗi một người chúng ta rời khỏi địa điểm nầy, ai nấy phải đưa ra một quyết định về Chúa Jêsus hoặc chống lại Ngài.
Lời lẽ sau cùng của tôi cho bạn là đây: Nếu bạn chọn Chúa Jêsus, bạn sẽ không bao giờ hối tiếc. Một người lấy làm lạ, không biết Phi-lát nghĩ gì về mọi vụ việc trong buổi sáng thứ Sáu đó. Khi ông ta nhìn lại ba mươi năm sau đó, ông ta có hối tiếc về sự do dự của mình không? Có phải ông ta nhũ thầm: “Phải chi nếu mình mạnh mẽ hơn?” Đây là một điều luật tốt lành của cuộc sống để sống, hầu cho bạn chẳng có gì phải hối tiếc về sau. Nói như thế có nghĩa là hãy bước theo lẽ thật khi Đấng Chơn Thật đang đứng trước mặt bạn.

I Phierơ 3:18-22: "Đấng Christ Đắc Thắng"



Đấng Christ Đắc Thắng
I Phierơ 3:18-22

Đây là phân đoạn khó nhất trong Tân Ước.
Đấy là điều mà vị Giáo sư người Hylạp của tôi đã nói khi chúng tôi cùng nghiên cứu thư tín I Phierơ trong Thần Học Viện. Tôi nhớ ông nói rằng có nhiều nhận định khả thi về mấy câu Kinh Thánh nầy mà không dám chắc chúng có ý nói tới điều gì. Vấn đề một phần có quan hệ đến chính nguyên bản Hy lạp hay không (Chính xác thì Phierơ đang nói tới điều gì chứ?) và một phần quan hệ tới sự diễn dịch của phân đoạn (Phierơ có ý nói tới điều gì?) Khi Martin Luther phê bình phân đoạn Kinh Thánh nầy, ông đã nói như sau: “Tôi không dám chắc Phierơ có ý nói gì trong phân đoạn Kinh Thánh nầy”. Nhiều nhà giải kinh khác cũng đã nói y như thế.
Cho phép tôi nếu tôi có thể làm cho vấn đề ra rõ ràng cho bạn thấy. Đây là một danh sách các đề tài mà Phierơ phủ lấy chỉ trong 5 câu Kinh Thánh:
Đấng Christ đã chịu chết vì tội lỗi một lần đủ cả để đem chúng ta đến với Đức Chúa Trời.
Ngài đã chịu chết và đã được làm cho sống về mặt thuộc linh (hay trong Đức Thánh Linh).
Ngài đã giảng đạo cho những linh hồn ở trong ngục tù.
Những linh hồn ấy đã bất tuân trong thời Nôê khi con tàu đang được đóng.
Chỉ có tám người được cứu trong chiếc tàu.
Họ được cứu bởi nước.
Nước làm biểu tượng cho phép báptêm.
Phép báp-têm cứu chúng ta.
Nhưng không phải là rửa sạch bề ngoài mà là một sự liên lạc lương tâm tốt với Đức Chúa Trời.
Phép báptêm cứu chúng ta qua sự sống lại của Đấng Christ.
Đấng Christ giờ đây đang ngồi bên hữu của Đức Chúa Trời.
Tất cả mọi uy quyền thuộc linh giờ đây đã được trao cho Ngài.
Khi viết ra danh sách ấy cũng thấy khá lộn xộn rồi. Phierơ đang nói tới chính xác điều gì ở chỗ nầy? Vì vậy, chúng ta hãy rút ngắn bảng danh sách nầy lại một chút:
Đấng Christ đã chịu chết.
Ngài giảng đạo cho những linh hồn bị tù.
Tám người được cứu trong chiếc tàu.
Nước lụt tiêu biểu cho phép báp-têm.
Phép báp-têm cứu qua sự sống lại của Đấng Christ.
Đấng Christ giờ đây đang ngồi bên tay hữu của Đức Chúa Trời.
Như vậy là khá hơn rồi đấy, song có cái gì đó chưa rõ ràng. Tư tưởng duy nhất xuyên suốt qua phân đoạn Kinh Thánh nầy cần phải nhắm vào Đức Chúa Jêsus Christ. Phierơ muốn nhấn mạnh rằng giống như Đấng Christ đã chịu thương khó trong chỗ bất công, thậm chí chúng ta có thể chịu khổ rất bất công nữa. Và ông sử dụng câu chuyện của Nôê gần như là “minh họa kèm” giống như muốn nói: “Điều chi đã xảy ra cho Chúa Jêsus (và cho Nôê nữa) có thể và sẽ xảy ra cho bạn đấy”. Vì thế, nếu chúng ta để riêng phần Nôê qua một bên (trong một lát thôi), chúng ta còn lại với bốn câu nói liên quan tới Đức Chúa Jêsus Christ:
Ngài đã chịu chết (câu 18).
Ngài đã giảng đạo (câu 19).
Ngài đã sống lại từ kẻ chết (câu 21).
Ngài đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời (câu 22).
Phân đoạn Kinh Thánh nầy toàn bộ là nói về Chúa Jêsus. Hãy chú ý thể nào những gì khởi sự với sự thương khó kết thúc với sự đắc thắng. Chúng ta bỏ qua điểm chính nếu chúng ta cứ trụ mãi ở chỗ nói tới nước lụt của Nôê. Chỉ hãy nhớ điều nầy: Nôê đã gánh chịu sự chối bỏ, nhưng đến cuối cùng đã được công nhận là đúng. Đấy là một minh họa nhỏ về những gì đã xảy ra cho Chúa Jêsus theo một phương thức lớn hơn. Ngài đã bị đóng đinh vào thập tự giá, song giờ đây đang ngồi bên tay hữu của Đức Chúa Cha. Và cả hai câu chuyện ấy minh họa những gì xảy ra cho những ai bước theo Đấng Christ. Điều chi khởi sự với “đau thương thất bại” (chịu khổ bất công) kết thúc với “rung động đắc thắng” (được xác nhận qua Đấng đắc thắng). Đấy là mũi nhọn chính của phân đoạn Kinh Thánh nầy. Phierơ giới thiệu cho chúng ta với bốn yếu tố nói tới sự đắc thắng vinh hiển của Đấng Christ.
I. Ngài đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta
“Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời” (câu 18).
Phierơ khẳng định 5 sự kiện quan trọng về cái chết của Đấng Christ. Thứ nhứt, đây là cái chết rất khủng khiếp. Từ ngữ nói tới “chịu chết” trong câu 18 không những nói tới cái chết theo phần xác, mà cũng nói tới sự đau đớn kinh khủng nữa. Năm ngoái khi Mel Gibson làm ra cuốn phim “Sự thương khó của Đấng Christ”, ông đã bị chỉ trích kịch liệt vì tính tàn bạo mà với đó ông mô tả cái chết của Chúa chúng ta. Để đáp lại sự phê phán ấy, ông đưa ra một phiên bản “cắt lại” của cuốn phim nói về ngày thứ Sáu. Nó ngắn hơn 6 phút vì ông đã cắt phần bối cảnh đánh bằng roi và phần bối cảnh đóng đinh trên thập tự giá. Ông cũng thay đổi một số chỗ lồng tiếng và những góc độ mấy cảnh phim để làm dịu đi cú sốc của cuốn phim. Nhưng cách đây 2.000 năm, chẳng một người nào có thể làm dịu đi sự đóng đinh trên thập tự giá dành cho Chúa Jêsus cả. Những gì họ đã làm cho Ngài còn tệ hại hơn bất cứ cuốn phim nào Hollywood đã cho quay. Thứ hai, đây là cái chết có tính cách hy sinh. Ngài đã chịu chết “vì tội lỗi”. Hãy chú ý cho cẩn thận, Phierơ đã nhấn mạnh ở chỗ đó. Ngài không chịu chết vì tội lỗi của chính Ngài, vì Ngài không hề phạm tội. Ngài là con người trọn vẹn duy nhứt đã từng sống. Chúa Jêsus đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta. Thứ ba, đây là cái chết không thể được lặp lại. Khi Phierơ nói Ngài đã chịu chết “một lần đủ cả”, ông có ý nói cái chết của Đấng Christ là đủ cho mọi thời đại và vì lẽ đó không thể được lặp lại bởi bất kỳ ai khác. Thậm chí chính mình Đấng Christ cũng không thể chết một lần nữa vì tội lỗi chúng ta. Những gì huyết của bò đực và dê đực không làm được, Chúa Jêsus đã làm trong sự chết của Ngài trên thập tự giá. Chúa Jêsus đã chịu chết nhằm ngày Lễ Vượt Qua của người Do thái. Nhiều học giả cho rằng 250.000 con chiên sẽ bị giết mỗi năm vào dịp Lễ Vượt Qua. Nhưng dòng sông huyết thú vật lớn lao kia không thể đồng nghĩa với những gì Chúa Jêsus đã đạt được khi Ngài gục chết trên thập tự giá vì chúng ta.
Thứ tư, đây là cái chết mang tính cách thay thế. Sự chết của Ngài là “Đấng công bình thay cho kẻ không công bình”. Ngài đã gánh lấy chỗ của chúng ta, Ngài mang lấy nổi xấu hổ của chúng ta. Ngài đã trả cái giá dành cho mọi tội chúng ta. Cho phép tôi minh họa. Trong mấy tuần lễ vừa qua, tôi đã huấn luyện nhân sự tại First Watch vào những buổi sáng thứ Năm với phương pháp “tin tốt-tin xấu” chia sẻ về Đấng Christ. Điểm đầu tiên của những tin tức tốt lành là “Đấng Christ chịu chết vì chúng ta” và phần Kinh Thánh là Rôma 5:8: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết”. Đấy là lẽ thật rất tuyệt vời, nhưng bạn giải thích lẽ thật ấy như thế nào với người ta? Tôi nói cho nhân sự sử dụng minh họa nầy khi họ làm chứng với ai đó về Đấng Christ: Chúng ta giả sử rằng bạn có bịnh ung thư, và chứng ung thư của bạn đã phát triển rất nhiều đến nỗi y sĩ nói cho bạn biết rằng chẳng còn có hy vọng chi nữa. Tất cả những phương pháp chẫn trị đều đã cạn kiệt rồi. Chẳng có việc gì nữa họ có thể lo liệu. Không có một phép lạ, bạn sẽ chết. Vì vậy tôi đến với bạn rồi nói: “Tôi muốn cứu bạn ra khỏi đấy. Tôi muốn lấy từng tế bào ung thư ra khỏi thân thể bạn rồi gắn nó vào thân thể tôi”. Bạn nhìn tôi với một sự kinh ngạc pha lẫn với sự vui mừng khôn tả. Chính chứng bịnh đang giết chết bạn sắp sửa được dời đi ra khỏi thân thể bạn. Sau khi bạn nói thế với người ấy, khi đó bạn hãy đưa ra câu hỏi nầy: “Nếu điều đó khả thi, thì điều chi sẽ xảy ra cho tôi và điều gì sẽ xảy đến cho bạn?” Câu trả lời là: “Tôi sẽ chết và bạn sẽ sống”. Tại sao chứ? Vì tôi đã lấy chứng bịnh gây ra cái chết của bạn rồi đặt nó trên chính mình tôi, và tôi chết đi giống như thay thế cho bạn vậy.
Đấy là điều mà Chúa Jêsus đã làm cho chúng ta. Ngài đã gánh lấy án phạt dành cho tội lỗi của chúng ta rồi Ngài đặt nó trên chính mình Ngài. Điều nầy giải thích lý do tại sao Đấng Christ phải chịu chết. Ngài không chịu chết như một gương tốt, và Ngài không chết để dạy dỗ chúng ta phải sống và phải chết như thế nào đâu. Ngài đã chịu chết vì Ngài đã gánh lấy án phạt của chúng ta trên chính mình Ngài. Một giai điệu ngắn đã mô tả điều đó như sau:
Ngài đã trả món nợ mà Ngài không mắc,
Tôi mắc món nợ mà tôi không thể trả.
Tôi cần ai đó rửa sach tội lỗi tôi
Và giờ đây tôi hát bài ca mới: Ân điển Lạ lùng Vì Chúa Jêsus đã trả món nợ mà tôi không thể trả được.
Thứ năm, đây là cái chết phục hòa. Ngài đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta, trong chỗ của chúng ta, để Ngài có thể đem chúng ta đến với Đức Chúa Trời. Trong Cựu Ước, có bức màn thật dày phân biệt Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh. Bức màn là một sự nhắc nhớ thấy được bằng mắt thường mà chẳng có ai khác trừ ra Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm mới được bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và ông ấy chỉ có thể vào mỗi năm có một lần, và chỉ trong Ngày Chuộc Tội mà thôi, và chỉ với huyết của con bò đực hay con dê. Khi Chúa Jêsus chịu chết, bức màn đã bị xé làm hai, ám chỉ rằng sự chết của Ngài mở ra cánh cửa cho bất kỳ ai tin mà đến với Đức Chúa Trời.
II. Ngài đi giảng cho các linh hồn bị tù
Hầu hết chúng ta đều không nghĩ Chúa Jêsus là một nhà truyền đạo, nhưng Ngài chính là một nhà truyền đạo. Mathiơ 4:23 chép rằng: “Đức Chúa Jêsus đi khắp xứ Ga-li-lê, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng Tin Lành của nước Đức Chúa Trời và chữa lành mọi thứ tật bịnh trong dân”. Luca 20:1 chép rằng trong tuần lễ cuối trước khi bị đóng đinh trên cây thập tự, Chúa Jêsus “đang dạy dỗ dân chúng trong đền thờ và rao truyền Tin Lành”. Vì thế, chắc chắn Chúa Jêsus là một nhà truyền đạo. Đấy là điều khiến cho phân đoạn Kinh Thánh ra hấp dẫn. Câu 19 cho chúng ta biết rất rõ ràng rằng Chúa Jêsus đã đi giảng cho “các linh hồn bị tù”. Giờ đây, có nhiều thắc mắc về vấn đề nầy. Ai là “các linh hồn” nầy, Chúa Jêsus đã giảng cho họ ở đâu và lúc nào? Câu 20 cung ứng cho chúng ta một phần của câu trả lời. Những linh hồn nầy bị tù “tức là kẻ bội nghịch thuở trước, về thời kỳ Nô-ê, khi Đức Chúa Trời nhịn nhục chờ đợi, chiếc tàu đóng nên”. Câu nầy trợ giúp đôi chút thôi, chớ không phải là nhiều đâu. Chúng ta biết từ sách Sáng thế ký, trong thời kỳ trước nạn lụt, điều ác đã hoàn toàn chế ngự cả thế gian. Đức Chúa Trời đã sai nạn lụt đến trong sự đáp ứng với tình trạng gian ác lan tràn, không kềm chế được trong thời buổi ấy. Con người không những đã chối bỏ Đức Chúa Trời, mà họ còn làm thế công khai, ngang ngược, và bạo hành nữa. Làm sao thế gian mà Đức Chúa Trời đã dựng nên lại trở xấu đi hoàn toàn và nhanh chóng như thế chứ? Sáng thế ký 6:1-2 cung ứng một câu trả lời “Vả, khi loài người khởi thêm nhiều trên mặt đất, và khi loài người đã sanh được con gái rồi, các con trai của Đức Chúa Trời thấy con gái loài người tốt đẹp, bèn cưới người nào vừa lòng mình mà làm vợ”. Có một vài giải thích cho mấy câu nầy. Sự giải thích xưa nhất cho rằng cụm từ “các con trai của Đức Chúa Trời” đề cập tới các thiên sứ nào nổi loạn nghịch cùng Đức Chúa Trời (chúng ta sẽ gọi họ mà ma quỉ), cư trú trong thân thể loài người, lấy những phụ nữ loài người làm vợ, rồi sanh ra “người cao lớn trên mặt đất” ở câu 4, họ phiêu bạt trên đất giống như những kẻ bạo ngược và hay ức hiếp người khác đời xưa. Ở bề mặt của nó, quan điểm nầy dường như lạ lùng và thậm chí quái lạ, theo suy xét của tôi, đấy là những gì phân đoạn Kinh Thánh nầy đang dạy dỗ. Ở một mặt, cụm từ “các con trai của Đức Chúa Trời” trong Cựu Ước trong tất cả những lần xảy có của nó luôn luôn chỉ đề cập đến hàng thiên sứ. Và sự giải thích nầy rất phù hợp với Sáng thế ký 3:15, là chỗ nhấn mạnh “cuộc chiến” lâu dài của Satan nghịch lại “dòng dõi của người nữ” chắc chắn sẽ tạo ra Đấng Mêsi. Cách tốt nhứt hòng hủy diệt Đấng Mêsi hầu đến là làm suy bại hoàn toàn dòng giống con người qua sự giới thiệu thuyết tin theo ma quỉ? Và đây thực sự là lối giải thích xa xưa nhứt. Đây là cách các học giả Do thái phiên dịch Cựu Ước sang tiếng Hy lạp (bản 70), họ hiểu rõ phân đoạn gốc nầy khoảng 2 thế kỷ trước khi Đấng Christ giáng sinh. Và lối giải thích nầy giúp chúng ta hiểu rõ hai phân đoạn khó hiểu trong Tân Ước.
“Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét; nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi” (2 Phierơ 2:4-5).
“còn các thiên sứ không giữ thứ bậc và bỏ chỗ riêng mình thì Ngài đã dùng dây xích họ trong nơi tối tăm đời đời, cầm giữ lại để chờ sự phán xét ngày lớn. Lại như thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ cùng các thành lân cận cũng buông theo sự dâm dục và sắc lạ, thì đã chịu hình phạt bằng lửa đời đời, làm gương để trước mặt chúng ta” (Giu-đe 6-7).
Cả hai phân đoạn mô tả một sự phán xét rất mạnh mẽ giáng trên những thiên sứ không những họ đã phạm tội mà còn “bỏ chỗ riêng mình” nữa. Hãy chú ý trong phân đoạn thứ nhứt, các thiên sứ được nhắc tới trước tiên, rồi mới tới Nôê và nước lụt. Trong thơ Giu-đe, cụm từ “lại như” gắn các thiên sứ với câu chuyện nói tới thành Sôđôm và Gô-mô-rơ. Và đâu là tội lỗi của thành Sôđôm và thành Gô-mô-rơ? Đây là hình thức “phi đạo đức nặng nề” bao gồm việc chạy theo “xác thịt lạ”. Đây không phải là tham khảo nói tới tình trạng đồng tính luyến ái. Sáng thế ký 19 cho chúng ta biết dân cư thành Sôđôm và Gô-mô-rơ đã sẵn sàng cưỡng hiếp hai thiên sứ đóng vai trò khách viếng xuất hiện theo hình thể con người. Ghép lại với nhau thì câu chuyện sẽ ra như thế nầy đây: Trong thời buổi trước nước lụt, các thiên sứ đã nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời rồi nhập vào thân thể con người trong hình thái quỉ ám, cưới cho họ những người vợ loài người. Sự ăn ở chung đụng kết quả trong việc tạo ra một hình thái dòng dõi gian ác phiêu bạt trên đất như những gã giềng giàng, bạo ngược và những kẻ tạo ra điều ác rất kinh khủng. Về tội lỗi gớm ghiếc nầy, các thiên sứ bị bỏ vào cái hố sâu tối tăm và thế giới trong thời của Nôê đã bị quét sạch trong cơn đại hồng thủy.
Điều nầy giúp cho nhớ lại trong các sách Tin Lành, chúng ta học biết ma quỉ nài xin thân thể để cư trú vào đó. Khi “quân đội” của ma quỉ bị trục xuất ra khỏi người Gadarene bị quỉ ám, chúng đã nài xin được phép nhập vào một bầy heo (Mác 5:1-20). Khi chúng ta nhìn biết những việc như thế là khả thi, thì chẳng có gì phải ngạc nhiên khi toàn bộ sự chối bỏ Đức Chúa Trời dẫn tới tội lỗi về tình dục quái lạ và một sự nổ ra điều ác chưa từng thấy trong lịch sử thế giới.
Chẳng có gì phải ngạc nhiên khi toàn bộ sự chối bỏ Đức Chúa Trời dẫn tới tội lỗi về tình dục quái lạ và một sự nổ ra điều ác chưa từng thấy trong lịch sử thế giới.
Giờ đây, chúng ta nhận định được gì ở 1 Phierơ 3:19? Về mặt cá nhân, tôi tin rằng Chúa Jêsus đã giảng cho các linh hồn thuộc về ma quỉ đó và đã công bố sự đắc thắng hoàn toàn đối với họ. Khi nói Ngài “giảng” cho họ thì có nghĩa là Ngài đã hiến ơn cứu rỗi cho họ. Ơn cứu rỗi là dành cho loài người, chớ không dành cho hàng thiên sứ hay ma quỉ. Động từ “giảng” có ý nói đưa ra lời tuyên bố công khai. Đấy là việc một sứ giả sẽ làm khi người đi từ thành nầy đến thành khác lo công bố chiếu chỉ của nhà vua. Tôi tin rằng Chúa Jêsus, một là giữa sự chết và sự sống lại của Ngài hay sau sự sống lại đó, đã công bố sự đắc thắng của Ngài với các linh hồn thuộc về ma quỉ đã loạn nghịch rất lớn chống lại Đức Giêhôva trong thời của Nôê.
III. Ngài đã sống lại từ kẻ chết
Trong các câu 20-21, Phierơ sử dụng câu chuyện nói tới Nôê và chiếc tàu giải thích ơn cứu cao sâu mà Đấng Christ mang lại cho thế gian. Ông chỉ ra rằng Đức Chúa Trời đã “nhịn nhục chờ đợi” trong 120 năm đang khi Nôê lo đóng tàu. Khi Nôê cũng là một nhà truyền đạo, chúng ta biết rằng lúc ông đóng chiếc tàu đồ sộ đó, ông đã rao giảng liên tục cho những kẻ đồng thời với mình, cảnh cáo họ phải tránh sự phán xét hầu đến. Ai nấy đều bất chấp ông, trừ ra gia đình ông. Khi nước lụt xảy đến và bao phủ cả thế gian, chỉ có tám người bước vào tàu — Nôê, Bà Nôê, ba người con trai và vợ của chúng. Chỉ bấy nhiêu thôi. Mọi người khác đều quá bận rộn. Họ lo cưới, gả, ăn, uống (Luca 17:26-27). Điều gì giống như thời của Nôê? Ấy là “làm ăn là bình thường”. Trong khi Nôê nhịn nhục lo đóng tàu và cảnh cáo người ta về sự phán xét hầu đến, họ đã cười nhạo ông rồi nói: “Chuyện ấy có bao giờ xảy ra đâu”. Nôê đã sống trong thời buổi giống rất nhiều với thời buổi của chúng ta — một kỷ nguyên vô tín và chẳng có lòng quan tâm. Nôê càng rao giảng, những kẻ đồng thời của ông càng chế nhạo ông. Họ đã từ chối không tin bất cứ điều chi giống như nạn đại hồng thủy sẽ là khả thi. Ý niệm lố bịch đến nỗi họ không xem Nôê là quan trọng. Với từng ngày trôi qua, cụ Nôê trông giống như một kẻ dại hơn ngày trước đó. Nhưng sau cùng, các từng trời mở ra và mưa trút xuống. Khi Nôê bước vào tàu, tôi dám chắc những người hàng xóm đến đứng nơi cửa rồi nói: “Nôê ơi, chúng tôi lấy làm tiếc quá. Ông đã đúng và chúng tôi sai rồi. Xin mở cửa ra. Cho chúng tôi vào với”. Nhưng quá trễ rồi.
Khi ấy Phierơ giải thích câu chuyện nầy thể nào đã minh họa cho ơn cứu rỗi. Thứ nhứt, nước tiêu biểu cho sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nước trong thời của Nôê đã hủy diệt toàn bộ thế giới trừ ra gia đình của Nôê. Đây là nước của sự phán xét đã quét sạch thế gian xưa. Thứ hai, chiếc tàu tiêu biểu cho ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Hãy chú ý, Phierơ nói gì về hòm giao ước: “trong đó có ít người được cứu bởi nước, là chỉ có tám người” (câu 20). Họ đã được cứu “bởi nước”, nhưng nếu họ đã ở “trong” nước chớ không phải “ở trong” chiếc tàu, nước đã cứu họ sẽ hủy diệt họ. Nước đã quét sạch thế gian xưa và đưa họ vào một thế giới mới. Thứ ba, nước tiêu biểu cho phép báptêm. Phierơ có ý nói gì? Cho phép tôi trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi khác. Có bao nhiêu nước thực sự đụng đến gia đình Nôê và gia đình ông? Không một chút nước nào hết. Nước “đã cứu” họ không bao giờ đụng đến họ. Nước chỉ “cứu” họ vì họ đã ở trong chiếc tàu rồi. Phép báptêm bản thân nó không thể cứu được ai. Chính Đấng Christ mới là Đấng cứu chúng ta. Phép báptêm bản thân nó không thể rửa sạch tội lỗi của chúng ta. Chúng ta phải đến với Đấng bởi đức tin để được cứu. Nhưng phép báptêm chỉ quan trọng vì đấy là sự liên lạc lương tâm tốt với Chúa. Phép báptêm giống như lời hứa gắn bó với Đức Chúa Jêsus Christ. Đây là giây phút trong đó chúng ta “băng qua lằn ranh” và chiếm lấy chỗ đứng công khai của chúng ta cho Chúa. Trong các quốc gia theo Hồi giáo, những Cơ đốc nhân trở lại đạo không bị bắt bớ cho tới khi họ chịu phép báptêm. Ở Sudan, Libya, Niger, Saudi Arabia, phép báptêm có thể là một quyết định sống hay chết. Nó có ý nói bạn đã quyết định lìa bỏ thế giới cũ ở sau lưng rồi bước vào Tàu Cứu Rỗi — là Đức Chúa Jêsus Christ.
Vấn đề không phải là: “Bạn đã chịu phép báptêm chưa?” nhưng thay vì thế: “Bạn đã trở thành môn đồ của Chúa Jêsus chưa?” Chúng ta không được cứu bởi nước theo sát nghĩa chẳng khác gì hơn Nôê đã được cứu bởi nước. Nhưng cũng nước ấy hủy diệt nhiều người khác, nó đã cứu ông và gia đình ông vì đã ở trong chiếc tàu.
Vấn đề không phải là: “Bạn đã chịu phép báptêm chưa?” nhưng thay vì thế: “Bạn đã trở thành môn đồ của Chúa Jêsus chưa?”
Khi ấy Phierơ thêm một cụm từ lúc ông nói chúng ta đã được cứu “bởi sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ” (câu 21). Há bạn chẳng vui sướng sao khi Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết? Chúng ta không thờ lạy một Jêsus chết sáng nay đâu. Nếu chúng ta thờ lạy như thế, mọi hy vọng, ước mơ của chúng ta sẽ dãy chết cùng với Ngài. Chúng ta đang thờ lạy Đấng Christ phục sinh. Và giờ đây chúng ta nhìn thấy bức tranh thực sự trọn vẹn là dường nào. Nước của nạn đại hồng thủy phác họa nước của phép báptêm, và nước của phép báptêm chỉ ra sự chết, sự chôn và sự sống lại của Đấng Christ. Ai trong các bạn đã thấy tôi làm phép báptêm cho người khác đều biết rằng mỗi lần tôi làm phép báptêm, tôi luôn nói phép báptêm là một “bài giảng không lời”. Khi một ứng viên chịu phép báptêm đứng trước mặt tôi, người ấy tiêu biểu cho Chúa Jêsus đang chịu chết trên thập tự giá. Nhận họ xuống trong nước tiêu biểu cho Chúa Jêsus bị chôn trong mồ mả. Vực họ dậy ra khỏi nước tiêu biểu cho Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết. Toàn bộ Tin Lành được thấy trong từng phép báptêm, và từng phép báptêm rao giảng sứ điệp Tin Lành.
IV. Ngài thăng thiên về trời
Phierơ kết thúc phần làm chứng của mình với một câu vút bay cao lên nói tới Chúa chúng ta “là Đấng đã được lên trời, nay ngự bên hữu Đức Chúa Trời, các thiên sứ, các vương hầu, các quyền thế thảy đều phục Ngài” (câu 22). Trong Kinh Thánh, bên tay hữu là địa vị vinh dự và uy quyền. Ở bên tay hữu của Đức Chúa Trời có nghĩa là bạn đang ở trong một địa vị nổi bật, chỗ cao nhứt trong cả vũ trụ. Đấng Christ giờ đây ở trên trời vì công tác cứu chuộc của Ngài trên đất hiện đã hoàn tất rồi. Và bởi sự chết và sự sống lại của Ngài, Ngài đã bắt phục mọi tạo vật thuộc linh trước quyền tể trị của Ngài. Động từ Hylạp được dịch “phục” có ý nói xếp hàng dưới quyền ai đó. Đây là một từ quân sự. Ma quỉ phải xếp hàng dưới quyền Chúa Jêsus và nhận lịnh lạc từ nơi Ngài. Mặc dù hắn chiến đấu chống lại Ngài, hắn biết rõ không thể thắng Ngài được.
Ở trên trời, Jêsus là Chúa!
Trong địa ngục, Jêsus là Chúa!
Trên khắp vũ trụ, Jêsus là Chúa!
Một ngày kia, hết thảy chúng ta sẽ sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài. Tại sao chúng ta không khởi sự ngay bây giờ?
Cuộc chiến đã được thắng rồi, chiến tranh qua đi, Chúa Jêsus là Đấng Đắc Thắng. Và Chúa cao cả của vũ trụ đã trở thành một con người, và người ấy đã chịu chết thay tôi. Chúa chúng ta đang ngồi bên hữu Đức Chúa Cha ở trên trời, ma quỉ và chính ma quỉ phải sấp mình xuống trước mặt Ngài. Nhưng đây là điểm tốt nhứt trong mọi luận điểm — Đấng đã chịu chết vì tôi giờ đây đang tể trị cõi vũ trụ, và Ngài là bạn tôi. Ngài làm cho mặt trời chiếu sáng, Ngài dựng nên các vì sao lấp lánh, và Ngài đặt ánh trăng vàng kia vào đúng chỗ của nó. Ngài là Đấng đắc thắng. Ngài là Cứu Chúa của thế gian. Và Ngài là bạn tôi.
Cuộc chiến đã được thắng rồi, chiến tranh qua đi, Chúa Jêsus là Đấng Đắc Thắng.
Bạn có nhìn biết Ngài chưa? Đấy là câu hỏi rất quan trọng. Chúa Jêsus đã thắng hơn tội lỗi, sự chết và các thế lực của ma quỉ trong địa ngục. Bạn có nhìn biết Ngài chưa? Ngài đã đắc thắng và giờ đây đang ngồi bên hữu tay của Đức Chúa Cha ở trên trời. Bạn có nhìn biết Ngài chưa? Ngài là Vua các vua và Chúa các chúa. Bạn có nhìn biết Ngài chưa?
Một bức thư gửi đến từ Lonnie
Mới đây, tôi có nhận một bức thư gửi đến từ một tù phạm, anh ta đã đọc quyển sách của tôi, có đề tựa là Cái Neo Cho Linh Hồn. Đây là một phần những gì anh ta đã viết:
Kính thưa Mục sư,
Xin phép được nói chuyện với ông chừng một giây thôi? Tên tôi là Lonnie và tôi là một tù phạm vì ăn cướp có vũ trang. Tôi chỉ mới có 17 tuổi và họ đã kết án tôi 10 năm. Và tôi đã tìm đủ thứ cách để làm hòa lại với Đức Chúa Trời. Tôi đã được cứu. Tôi đã cầu xin Đức Chúa Trời ngự vào lòng tôi, và tôi đã đọc một quyển sách mà tôi chưa hề biết đến — quyển Kinh Thánh trong 6 tháng. Tôi đã tìm được quyển sách của ông, Cái Neo Cho Linh Hồn. Tôi đã đọc quyển sách trong 7 ngày = một tuần lễ. Quyển sách nầy là quyển sách hay nhứt mà tôi đã từng đọc, tôi có thể hiểu được nó và quyển sách đã cung ứng 10 Điều Răn, cung ứng một lời cầu nguyện, đưa ra nhiều thắc mắc. Chương 8 là chương mà tôi ưa thích nhứt trong quyển sách — "Đến với Đấng Christ”.
Khi ấy Lonnie kể ra một lời cầu nguyện trong bức thư của anh ta:
Tôi rất biết ơn Đấng Christ đến nỗi trong mắt Ngài, tôi chẳng còn tội lỗi nữa. Cảm tạ Ngài vì mọi sự Ngài đã làm cho tôi. Cảm tạ Ngài, Lạy Chúa, vì khiến tôi được sạch và trọn vẹn. Amen.
Tái bút: Xin tha thứ vì bức thư viết tay. Tôi chưa hoàn tất trung học và tôi là một học trò hạng A & B.
Kính, Lonnie
Hãy suy nghĩ về những điều anh ta đã viết trong lời cầu nguyện đó: “Tôi biết ơn Đấng Christ đến nỗi trong mắt Ngài, tôi chẳng còn tội lỗi nữa”. Bạn có thể nói như thế không? Bạn có sự bảo đảm ấy ở trong lòng chưa? “Lạy Chúa, cảm tạ Ngài vì khiến tôi được sạch và trọn vẹn”. Bạn có thể nói ra những lời ấy và hiểu ý của chúng chăng? Chúa có làm cho bạn được sạch và trọn vẹn chưa? Nếu bạn không thể nói ra những lời ấy, bạn có thể đi nhà thờ mỗi ngày Chúa nhựt, nhưng bạn sẽ sống tệ hại hơn Lonnie là kẻ đang sống trong tù trong 10 năm nữa đấy.
Tối qua, tôi đến dự Đêm Tráng Niên ở Trung tâm thể thao Wheaton. Khi tôi bước vào khu vực nhóm lại rồi nhìn thấy người bạn đang băng ngang phòng nhóm, tôi gọi lớn: “Nè, Mike!” Anh ấy xoay người lại, nhìn thấy tôi và mĩm cười, và thay vì đáp: “Chào Mục sư” anh ấy chỉ hô lớn: “Đang chạy đến với thập tự giá!”
Câu nói ấy đúng là một sứ điệp quan trọng. Chạy đến với thập tự giá! Đấy là điều mà Lonnie đã làm. Đấy là những gì hết thảy chúng ta cần phải làm. Đúng là khá tồi tệ có khi chúng ta phải kết thúc trong nhà tù hay trong một loại rắc rối nào khác trước khi chúng ta làm những gì chúng ta mong muốn lâu nay. Khi chúng ta kết thúc sứ điệp nầy, tôi muốn đề nghị một lời cầu nguyện xưng tội và đức tin mà bạn có thể cầu nguyện. Hãy nhớ, chúng ta không được cứu bởi sự cầu nguyện. Chính Đấng Christ mới là Đấng cứu chúng ta. Nhưng lời cầu nguyện có thể là phương tiện bởi đó đức tin của chúng ta với tới Ngài. Đây là lời cầu nguyện:
Lạy Chúa Jêsus, con cần Ngài trong đời sống con. Từ lâu lắm rồi, con đã cố gắng sống mà không có Ngài. Con biết con là một tội nhân và đã phá vỡ luật pháp thánh khiết của Ngài. Lạy Chúa Jêsus, con thực sự tin Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Cảm tạ Ngài vì đã chịu chết trên thập tự giá trong chỗ của con. Cảm tạ Ngài vì đã trả giá án phạt cho tội lỗi của con. Cảm tạ Ngài vì đã sống lại từ kẻ chết vào ngày thứ ba. Ở đây và bây giờ, với hết lòng mình, con tin cậy Ngài làm Cứu Chúa và Chúa của con. Xin ngự vào lòng và giải cứu con. Đây là lời cầu nguyện của con, Trong danh Chúa Jêsus, Amen.
Nếu lời cầu nguyện ấy bày tỏ ra ước ao của tấm lòng bạn, tôi khuyên bạn nên cầu nguyện lớn tiếng đi. Hãy dùng nó làm lời lẽ riêng của bạn. Hãy viết nó ra rồi ký tên trên đó. Hãy gắn nó ở chỗ nào bạn có thể nhìn thấy rõ ràng. Nếu bạn đã cầu nguyện lời cầu nguyện ấy, tôi muốn nghe thấy lời ấy ra từ bạn
Chúa Jêsus đã thắng hơn tội lỗi, thắng hơn sự chết, thắng hơn ma quỉ, và Ngài đã cung ứng ơn cứu rỗi cho hết thảy những ai chịu tin cậy Ngài. Ngày nay, Ngài tể trị từ bên tay hữu của Đức Chúa Cha ở trên trời. Một ngày nào đó không bao lâu nữa, Ngài sẽ trở lại để tể trị trên đất. Ngài là Đấng Christ đắc thắng. Hãy tin cậy Ngài! Hãy yêu mến Ngài! Hãy hầu việc Ngài! Hãy thờ lạy Ngài! Amen.


Công Vụ các Sứ đồ 2:24: "Đấng Christ không hư nát"



Đấng Christ không hư nát
Công Vụ các Sứ đồ 2:24

Lời nói đầu tiên đôi khi quan trọng như lời nói sau cùng.
Bảy tuần lễ đã trôi qua kể từ khi có sự sống lại của Chúa Jêsus. Trong 40 ngày đáng kinh ngạc nầy, Chúa Jêsus đã hiện ra với các môn đồ Ngài trong nhiều cơ hội rồi dạy dỗ họ về Nước của Đức Chúa Trời. Thế rồi Ngài thăng thiên trong những đám mây mà trở về cùng Cha Ngài ở trên trời. Mười ngày trôi qua khi các môn đồ ở lại trên Phòng Cao, chờ đợi, cầu nguyện, canh chừng, lấy làm lạ không biết rồi đây sẽ có chuyện gì xảy ra kế đó. Nhằm vào ngày Lễ Ngũ Tuần (Công Vụ các Sứ đồ 2:1-13), câu trả lời đã đến trong hình thức tiếng lạ, một ngọn gió thổi mạnh và những cái lửa bằng lửa. Phierơ đã chổi dậy để giải thích điều ấy với cả đám đông những người xem thấy. Mọi điều nầy có nghĩa gì chứ? Có phải mấy người nầy đang say rượu không? Không, tất cả họ đều được đầy dẫy với Đức Thánh Linh. Khi ấy Phierơ bắt đầu rao giảng Tin Lành. Ông nhắc cho khán thính giả nhớ rằng với hai bàn tay gian ác họ đã đóng đinh Đức Chúa Jêsus Christ trên thập tự giá. Nhưng đấy chưa phải là phần cuối của câu chuyện đâu. Đến sáng Chúa nhựt, có một việc khó tin được đã xảy ra. Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết.
Đấy là cách Phierơ giải thích vấn đề cho khán thính giả của ông, họ đã sững sờ vì khiếp sợ: “Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó” (Công Vụ các Sứ đồ 2:24). Đây là câu nói đầu tiên công khai bởi bất kỳ một Cơ đốc nhân nào về những gì đã xảy ra vào sáng Chúa nhựt đầu tiên đó, khi mấy người đàn bà tìm thấy ngôi mộ trống.
Câu nói thật đơn sơ về sự thực: “Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết”.
“Bứt đứt dây trói của sự chết”. Sự sống lại của Đấng Christ có ý nói như thế.
“Vì nó không thể giữ Ngài lại dưới quyền nó”. Là lý do mà Chúa Jêsus phải sống lại từ kẻ chết.
Không thể!
Khi nhìn lại, quả là điều khó tránh được đối với Phierơ. Chỉ mới cách đó 50 ngày thôi, ông và các môn đồ khác đã thu mình lại ở đàng sau những cánh cửa đóng kín, bị lo sợ và kinh hãi phủ lút. Sau những biến cố kinh khiếp của ngày Thứ Sáu Tốt Lành, việc sau cùng mà họ đã trông mong là một sự sống lại. Ngay cả mấy người đàn bà đã đến tại ngôi mộ, họ đã đến để xức dầu cho một thi hài đã chết. Họ chẳng nghĩ đến việc tìm gặp ngôi mộ trống đâu. Và khi họ thấy nó trống trơn, họ cho rằng có ai đó đã lấy thi hài đi rồi.
Đúng là sự khác biệt mà ngày ấy đã tạo ra! Sau khi nhìn thấy Chúa Jêsus rất gần và rất tư riêng, Phierơ vốn biết rõ Ngài đã sống lại từ kẻ chết. Điều không thể đã xảy ra. Một người chết rồi đã trở lại với sự sống. Con của Đức Chúa Trời đã phá vở quyền lực của sự chết. Mồ mả đã bị đánh bại rồi. Và giờ đây mọi sự đã ra rõ ràng trong lý trí của ông. Ông phải chổi dậy. Điều nầy không thể tránh được. Cái điều đáng kinh ngạc là không bao lâu nữa ông sẽ nhìn thấy sự ấy. Cụm từ duy nhứt cho sự ấy là “không thể”. Không phải “Chúa Jêsus không thể sống lại” mà là “Chúa Jêsus không thể không sống lại”.
Tro bụi về với bụi tro
Khi chúng ta suy gẫm lại sự biến đổi đáng nhớ đó, hãy xem xét một câu nói mà chúng ta thường nghe thấy ở những đám tang: “Tro bụi về với bụi tro, đất về với đất”. Chúng ta thường hay nghe câu nói ấy lắm, dường như nó rất khuôn sáo!?! Cụm từ như vọng lại sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng cho Ađam trong vườn Ê-đen: “vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi” (Sáng thế ký 3:19).
Vì là bụi, về với bụi.
Vì là đất, về với đất.
Từ đất, về với đất.
Đây là số phận của hết thảy mọi người. Chúng ta phát sinh từ bụi đất, chúng ta sống 40 hay 50 hoặc 60 hay 70 hoặc 80 hay 90 năm, và rồi chúng ta phải trở về bụi đất. Mọi sự sống đúng là một khoảng thời gian tạm trong chuyến hành trình đi từ bụi đất về với bụi đất.
Nhưng đối với Chúa Jêsus thì chẳng phải vậy đâu. Ngài không trở lại với bụi đất. Mặc dù Ngài đã chết, thi thể Ngài không hư hoại trong mồ mả. “Ngài chẳng bị để nơi Âm phủ, và xác thịt Ngài chẳng thấy sự hư nát” (Công Vụ các Sứ đồ 2: 31). Ngài đã chết như một người gánh lấy tội lỗi. Nhưng vì bản thân Ngài không có tội lỗi, thi thể Ngài không hư nát trong mồ mả.
Nhưng lý do tại sao sự chết không thể giữ được Ngài? Có lẽ đây là một phát biểu liên quan tới quyền phép của Ngài. Ở một chỗ kia, Chúa Jêsus đã phán Ngài có quyền phó sự sống của Ngài và Ngài có quyền lấy nó lại (Giăng 10:17-18). Thế nhưng sự sống lại còn hơn cả sự tỏ ra quyền phép thiêng liêng của Ngài nữa kìa. Có lẽ đây là một phát biểu về quyền phép của Đức Chúa Cha. Cách lý luận đúng mức đòi hỏi rằng Đức Chúa Cha không để Con của Ngài ở trong mồ mả cho đến đời đời được. Chắc chắn sự sống lại minh chứng quyền phép của Đức Chúa Trời trên miền của sự chết. Nhưng câu nói của Phierơ còn trổi hơn thế. Có lẽ câu nói ấy đề cập tới sự ứng nghiệm lời tiên tri trong Kinh Thánh. Thậm chí Phierơ còn trưng dẫn Thi thiên 16 là một lời tiên tri nói tới sự sống lại của Đấng Christ. Nhưng tính cách bất khả mà với đó Phierơ đề cập đến còn trổi hơn cả lời tiên tri nữa. Có lẽ câu nói ấy đề cập đến tính cần thiết về mặt đạo đức của việc xác nhận lời lẽ của Chúa Jêsus là đúng. Ngài đã phán thật nhiều lần rằng Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết. Ngài nói cho các môn đồ biết rằng Ngài sẽ bị phản, bị xét xử, bị ngược đãi, bị đóng đinh trên thập tự giá, rồi vào ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết. Ngay cả nếu họ thực sự chưa hề “tiếp thu được” điều đó, Ngài đã nói với họ rất nhiều lần. Nếu Ngài không sống lại từ kẻ chết, thế thì Ngài không phải là “lẽ thật” (Giăng 14:6) như Ngài đã xưng nhận, và lời lẽ của Ngài không đáng tin cậy. Không nghi ngờ chi nữa, điều nầy dính dáng vào sự sống lại của Ngài, nhưng đấy chưa phải là phần cuối của câu chuyện đâu.
Tôi nghĩ yếu tố quan trọng nhất có thể tìm được trong một câu nói mà Phierơ đưa ra ở Công Vụ các Sứ đồ 3:15 khi ông nói với những người sống tại thành Jerusalem biết rằng họ “đã giết Chúa của sự sống mà Đức Chúa Trời đã khiến từ kẻ chết sống lại, và chúng ta là người làm chứng về điều đó”. Hãy suy gẫm tước hiệu kia xem: “Chúa của sự sống”. Những bản dịch khác chép: “Tác Giả của sự sống”. Chúa Jêsus là nguồn của sự sống, Chúa của sự sống, và Chúa của Sự Sống. Ngài là sự sống hóa thân thành nhục thể. Bản thân sự sống ra từ Ngài, và tẻ tách khỏi Ngài thì chẳng có sự sống chi hết. Nếu đấy là sự thực, thì làm sao Ngài lại chết trong chỗ thứ nhứt chứ?
Ngài phải chết để cứu chúng ta.
Ngài không chết luôn cho đến đời đời được.
Sự chết là cần thiết để trả giá cho tội lỗi của chúng ta. Nhưng sự chết không thể giữ được Ngài cho đến đời đời, vì sự chết không bao giờ bắt phục được sự sống. Sự chết là một kẻ thù rất có quyền lực, song sự sống thì tối cao hơn. Sự chết thắng nhiều trận, song Chúa của Sự Sống thắng ở trận cuối cùng.
Sự chết không thể giữ được miếng mồi của nó, Chúa Jêsus là Cứu Chúa của tôi.
Ngài bẻ gãy các chấn song, Chúa Jêsus là Chúa của tôi.
Thật, sự chết không thể giữ lấy Ngài vì sự chết không bao giờ đánh bại được sự sống trong trận cuối cùng. Sự sống luôn luôn thắng hơn vì Chúa của Sự Sống đã thắng trận đánh ấy cách đây 2.000 năm.
Ngài chỉ lướt qua
Thật lấy làm tốt khi tự hỏi mình về Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết như thế nào!?! Hành động sống lại bị che kín đối với con mắt của loài người, và những phương tiện bởi đó Đức Chúa Trời đã làm cho Con Ngài sống lại là trổi hơn sự suy tưởng của con người. Nhưng chúng ta biết nhiều điều về việc nầy. Khi họ lấy thi thể của Chúa Jêsus xuống khỏi thập tự giá, họ đã liệm thi thể ấy rất cẩn thận với nhiều lớp vải cùng với 75 đến 125 cân một dược. Một dược ấy và lớp nhựa thông hình thành một sự ràng buột chặt chẽ với lớp vải liệm để cho nó trở thành một cái túi cứng bao quanh thi thể, bảo hộ nó tránh những kẻ cướp mộ vì nó đã được tạo ra cực kỳ khó di dời như thế. Sau khi đặt thi thể vào trong mộ rồi, một hòn đá thật to đã được lăn ngăn ngay trước lối vào. Sau đó Phi-lát đã cho đóng ấn và đặt lính canh tại lối vào ấy. Sự thực khác duy nhứt mà chúng ta biết, ấy là thi thể của Chúa Jêsus, dù đã chết, đã không chịu bất kỳ một sự phân hủy nào.
Vào thời điểm trước bình minh ngay sáng Chúa nhựt, Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết. Từ phần mô tả của Giăng, dường như là Ngài đã đi thẳng qua lớp vải liệm mà không làm xáo trộn nó. Tôi nói thế vì Giăng tường trình rằng ông và Phierơ đã nhìn vào trong mộ thì thấy vải liệm nằm ở cùng một chỗ mà họ đã thấy vào chiều ngày thứ Sáu, gần giống với cái kén sau khi con bướm đã thoát ra (Giăng 20:3-9). Chúa Jêsus chỉ lướt qua bộ tang phục của Ngài một lần đủ cả. Ngài đã sống lại từ kẻ chết, mạnh khỏe và đầy sinh lực, mang lấy những vết thẹo của sự thương khó, tuy nhiên còn ở trong thân thể loài người và thân thể ấy đã được làm cho vinh hiển.
Điều nầy có ý nói gì với chúng ta ngày nay? Chúa Jêsus đã ban cho chúng ta câu trả lời cho thắc mắc trong đêm trước khi bị đóng đinh trên thập tự giá: “Lòng các ngươi chớ hề bối tối” (Giăng 14:1). Lời lẽ ấy thật là đơn sơ, rõ ràng, và quan trọng dường bao.
Thế gian đầy dẫy với đau khổ. “Lòng các ngươi chớ hề bối rối”.
Có sự đáng buồn nơi mỗi bàn tay. “Lòng các ngươi chớ hề bối rối”.
Hết thảy chúng ta đều có những thắc mắc mà chúng ta không thể trả lời. “Lòng các ngươi chớ hề bối rối”.
Tương lai sẽ có gì đây? “Lòng các ngươi chớ hề bối rối”.
Có nhiều bịnh tật lắm. “Lòng các ngươi chớ hề bối rối”.
Chúng ta thấy chiến cuộc đang mở ra ở vùng Trung Đông. “Lòng các ngươi chớ hề bối rối”.
Hết thảy một ngày kia sẽ chết mất. “Lòng các ngươi chớ hề bối rối”.
Đám tang của Keith Willhite
Sau khi tôi từ Hội Thánh về nhà vào tối thứ Tư, chúng tôi đã nhận được một cú gọi từ Dallas với những tin tức cho biết rằng Keith Willhite đã qua đời. Tin tức không phải là bất ngờ mặc dù ông ấy chỉ mới có 45 tuổi. Vợ ông ấy là Denise đã nói cho chúng tôi biết trước đó một tuần là sự cuối cùng đã đến gần rồi. Lần đầu tiên tôi gặp Keith và Denise khi ông ấy còn là một sinh viên tại Thần Học Viện Dallas và họ đến nhóm ở Hội Thánh mà tôi làm quản nhiệm ở vùng ngoại ô Dallas. Đấy là chuyện cách đây 20 năm. Từ dạo ấy, chúng tôi đã giữ liên lạc khi Keith nhận lấy học vị tiến sĩ của mình và đã dạy dỗ ở Thần học viện Denver và sau đó là Thần Học Viện Dallas. Đến năm 1997, ông bị chẫn đoán với khối u ác tính ở não. Ông đã đánh trả bằng mọi sức lực của mình, chịu đựng bức xạ, hóa trị và giải phẩu. Một thời gian ngắn trước khi ông qua đời, ông bảo Denise ông muốn tôi giảng trong tang lễ của ông nếu tôi có thể. Và thế là người bạn thân của tôi đã xoay sở rồi qua đời ở giữa tuần lễ bận rộn nhất trong năm cho một vị Mục sư. Lúc đầu dường như chúng tôi sẽ không thể đến Dallas được, nhưng chúng tôi có được chuyến bay và chúng tôi tìm cách để sắp đặt lại kế hoạch của mình. Tôi đã giảng lễ một trong hai lễ của ngày thứ Sáu Tốt Lành, và rồi Marlene và tôi bay sang Dallas, đến đấy sau nửa đêm. Lễ tang đã được dự trù vào lúc 10:00 sáng ở Rockwall, vùng ngoại ô ở phía Đông Dallas. Sau buổi lễ, chúng tôi ra đến nghĩa trang, ở đó vị Mục sư của Keith thực hiện vài điều lưu ý ngắn ngủi. Ở phần cuối ông đã làm một việc mà tôi chưa hề thấy trước đó. Ở một số nơi thường thì người ta ném đất vào trong mộ. Khi vị Mục sư nói xong, ông cầm lấy những cánh hoa lấy từ bó cẩm chướng màu đỏ rồi rải chúng lên trên quan tài trong khi đọc nguyên câu Kinh Thánh: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16). Thật là rất cảm động đối với tôi. Biểu tượng ấy đã theo tôi về đến tận nhà sau đó. Bụi đất tiêu biểu cho sự chết, bó hoa kia tiêu biểu cho sự sống. Hay sát nghĩa, khi bông hoa nở ra từ đất, sự sống nở ra từ sự chết.
Khi tôi giảng ở tang lễ trước khi ra nghĩa trang, tôi đã luận rằng nếu bạn phải chết, tuần lễ tốt nhứt trong năm để chết là Tuần Lễ Thánh vì nó luôn luôn kết thúc trong một sự sống lại. Dường như rất có ý nghĩa khi chúng ta sẽ chôn Keith vào ngày thứ Bảy Thánh — là ngày sửa soạn, nó đến giữa ngày thứ Sáu Tốt Lành và ngày Phục Sinh. Sứ điệp của ngày thứ Bảy Thánh là: “Hãy sẵn sàng đi. Một việc quan trọng sắp sửa xảy ra đấy. Nhưng nó chưa xảy ra đâu”. Tôi nói với Denise, bà đang ngồi ngay trước mặt tôi: “vấn đề là, ngày thứ Bảy dường như quá dài. Dường như ai cũng cảm thấy ngày Chúa nhựt không tới đây được vậy. Nhưng tôi đã kiểm lại và dù hôm ấy là ngày thứ Bảy ở đây tại Texas, ngày Chúa nhựt đã đến rồi ở phần bên kia của thế giới. Hãy ra đó, ở giữa vùng biển Thái Bình Dương xem, lễ Phục Sinh đã đến rồi kìa. Và lễ ấy đang đến trong sự trông đợi của chúng ta. Cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng ta không đi ngược lại về hướng sự Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá nữa. Có thể đúng là ngày thứ Bảy, nhưng chúng ta đang hướng tới ngày Phục Sinh. Ngày Chúa nhựt đang tới đến. Mọi sự chúng ta phải làm là chờ đợi một chút nữa thôi và ngày Chúa nhựt không bao lâu nữa sẽ đến đây”.
Tôi kết thúc bài giảng của tôi bằng mấy lời nầy. Nhìn vào cổ quan tài, tôi nói: “Hãy yên nghĩ đi, Keith ơi. Sự chết sẽ không có lời cuối đâu. Chúng ta sẽ gặp lại bạn mà”. Sau đó, tôi đã ngồi xuống.
“Nếu chúng ta tin”
Đấy có phải là sự suy nghĩ đúng đắn không? Đấy có phải là hy vọng ủy mị không? Chúng ta tin trên cơ sở nào chúng ta sẽ gặp lại người thân của mình vậy? Tôi nói cho bạn biết câu trả lời của Kinh Thánh. Chúng ta không tin nơi sự sống lại của các thánh đồ vì bất cứ điều chi chúng ta thấy bằng chính mắt của mình. Mọi sự quanh chúng ta, chúng ta nhìn thấy chết và chết thôi. Sự chết vẫn cai trị trên thế gian. Lâu lắm rồi kể từ khi có ai đó đã nhìn thấy một sự sống lại. Mọi sự chúng ta nhìn thấy bằng chính mắt mình đang tranh luận nghịch lại nó. Song đức tin sẽ đắc thắng vào lúc cuối cùng. Chúng ta không tin nơi sự sống lại của các thánh đồ vì những gì chúng ta nhìn thấy tận mắt mình. Chúng ta tin nơi sự sống lại của các thánh đồ vì chúng ta tin nơi sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ. Hãy lắng nghe Lời của Chúa: “Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus cùng đến với Ngài” (I Têsalônica 4:13-14).
“Nếu chúng ta tin”. Bạn có tin rằng Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết không? Tôi tin đấy.
Đấy là mọi sự bạn phải tin. Nhưng đấy là “toàn bộ trận đấu” theo quan điểm của Đức Chúa Trời. Đấy là toàn bộ sứ điệp của Lễ Phục Sinh. Nếu Đức Chúa Trời đã làm cho Con của Ngài sống lại từ kẻ chết, Ngài sẽ không để trong mồ mả những ai đã tin nơi Chúa Jêsus đang khi họ còn sống. Vì Ngài đã sống lại, chúng ta cũng sẽ sống lại nữa. Vì Ngài sống, chúng ta cũng sẽ sống.
“Nơi ở tạm thời”
Có những tin tức tốt lành từ mồ mả sáng nay.
Những tin tức tốt lành nói rằng ngôi mộ trống trơn.
Những tin tức tốt lành nói rằng Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết.
Những tin tức tốt lành nói rằng ma quỉ không thể giữ được Ngài.
Những tin tức tốt lành nói rằng sự chết đã mất đi cái nọc của nó.
Những tin tức tốt lành nói rằng mồ mả đã mất đi sự đắc thắng của nó.
Những tin tức tốt lành nói rằng chúng ta không cần phải sợ sự chết nữa.
Tôi cảm xúc sâu xa trong lòng mình sáng nay, tôi không sợ chết đâu. Không phải vì tôi dũng cảm cách đặc biệt đâu. Vì tôi không sợ nữa. Nhưng tôi biết điều chi đang có ở bên kia. Chúa của tôi đã sống lại và nói cho tôi biết tôi nên mong đợi điều chi. Tôi chẳng có gì phải lo lắng cả.
Nếu bạn nghe nói tôi đã qua đời tối nay, khi bạn chôn tôi, hãy dựng lên tấm bảng ghi rằng: “Nơi ở tạm thời”. Tôi sẽ trở lại đấy. Bạn có thể tính được điều đó mà. Tôi nói như thế mà chẳng có ý gì khoe khoang hay kiêu ngạo đâu. Vì sự sống lại của tôi không nương vào tôi.
Nó không nương vào các việc lành của tôi.
Nó không nương vào bất cứ công trạng nào nơi tôi.
Nó chỉ hoàn toàn nương vào Đức Chúa Jêsus Christ của tôi, là Đấng đã sống lại từ kẻ chết vào buổi sáng Chúa nhựt Phục Sinh. Ngài đã hứa rằng nếu tôi tin cậy nơi Ngài, một ngày kia tôi sẽ sống lại với Ngài. Tôi phó cả cuộc đời mình trên lời hứa đó. Nếu lời hứa ấy không thật, tôi chẳng còn có hy vọng nào khác.
Nhưng lời hứa ấy là thật. Đấy là lý do tại sao tôi không dự tính mình sẽ chết luôn bao giờ.
Đừng nhìn vào mồ mả
Những tin tức tốt là ra từ mồ mả ư? Đấy là một chỗ lạ lùng cho những tin tức tốt lành. Nhưng đấy là những gì Lễ Phục Sinh nói tới. Nếu bạn tìm kiếm Chúa Jêsus hôm nay, đừng nhìn vào mồ mả. Ngài không có ở đó đâu. Ngài đã ra khỏi mồ mả cách đây 2.000 năm và chưa hề trở lại.
Những tin tức tốt lành thực sự là đây … Nếu bạn tìm kiếm Chúa Jêsus hôm nay, bạn có thể gặp Ngài ngay bây giờ đây. Tôi có thể giới thiệu bạn với Ngài không? Danh Ngài là Jêsus ở Naxarét. Ngài là Con của Đức Chúa Trời đến từ trời. Đức Chúa Trời yêu thương bạn đến nỗi Ngài đã sai Chúa Jêsus đến chịu chết trên thập tự giá vì bạn đấy. Ngài bị chôn trong mộ địa của Giô-sép. Ngài đã sống lại từ kẻ chết vào sáng Chúa nhựt Phục Sinh. Ngài đã trả giá cho tội lỗi của bạn hầu cho nếu bạn tin theo Ngài, bạn sẽ không bao giờ bị hư mất mà được sự sống đời đời.
Bạn có tin Đấng đã sống lại từ kẻ chết không? Chúa Jêsus đang sống và đang đứng với hai cánh tay rộng mở mời gọi bạn tiếp nhận ân ban sự sống đời đời của Ngài kìa. Cánh cửa đến với Thiên đàng đang rộng mở. Tôi mời bạn dở bước đức tin lên rồi để cho Chúa Jêsus minh chứng với bạn rằng Ngài còn sống. Tôi đưa ra cho bạn lời mời gọi cá nhân phải xem xét để trở thành một Cơ đốc nhân: Nếu linh hồn bạn đang khao khát cái gì đó nhiều hơn bạn đã có được, hãy thử Chúa Jêsus đi. Nếu Chúa Jêsus đang gõ nơi cánh cửa lòng của bạn, phải biết chắc bạn mở cánh cửa ấy ra.
Mỗi một người chúng ta đều có một sự chỉ định với cái chết chẳng sớm thì muộn. Nhưng đấy là cái cớ cho sự vui mừng — không phải để lo sợ, nó được cung ứng cho để chúng ta đặt lòng tin cậy nơi Đấng đã cầm lấy chìa khóa của sự sống và sự chết. Đây là minh chứng sau cùng cho thấy sự chết đã bị hủy diệt. Khi Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết, Ngài đã để cho cánh cửa dẫn tới mồ mả mở toang ra. Nói như thế có nghĩa là chúng ta không phải đánh trận để ra khỏi mồ mả khi Ngài kêu gọi chúng ta chổi dậy. Ngài để cánh cửa mở cách đây 2.000 năm. Đấy là sự bảo đảm của Đức Chúa Trời cho dù chúng ta qua đời, chúng ta không chết luôn cho đến đời đời đâu.
Đấy là lời nói sau cùng mà tôi đã nói. Có lẽ bạn đã nhìn thấy bản thông cáo với hình ảnh Chúa Jêsus bị treo trên thập tự giá. Bên dưới bức tranh có hàng chữ nầy: “Đó là phiên của bạn đấy”.
Chúa Jêsus đã chịu chết trên thập tự giá. Giờ là tới phiên của bạn đấy.
Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết. Giờ là tới phiên của bạn đấy.
Đức Chúa Trời đã trả lời cho mọi thắc mắc sâu sắc nhất của chúng ta với tính cách đơn sơ của ngôi mộ trống. Vào sáng Chúa nhựt Phục Sinh hạnh phước nầy, tôi tuyên bố cho bạn biết rằng Đức Chúa Jêsus Christ đang sống. Quí bạn ơi, bạn sẽ nói gì với sự ấy đây? Điều đó đang tạo ra sự khác biệt nào cho bạn vậy? Liệu bạn có dâng tấm lòng của bạn và đời sống của bạn cho Ngài không? Liệu bạn có tin cậy Ngài làm Chúa và Cứu Chúa không?
Giờ là tới phiên của bạn đấy.

Đức tin của một thanh niên 15 tuổi



"SÁCH ĐANIÊN"
Đức tin của một thanh niên 15 tuổi
(Đaniên 1:1-21)

Phần giới thiệu:
1. Cựu Ước đầy dẫy vói những tấm gương xứng đáng cho chúng ta học đòi và đua tranh...
a. Tỉ như Giôsép, với vị thế của ông vì Đức Chúa Trời trong nhà của Phôtipha
b. Tỉ như Giôsuê, một nhân vật quan trọng có đức tin và sự tin quyết trong sự phục vụ Đức Chúa Trời
2. Tấm gương khác đã khích lệ chúng ta rất nhiều chính là Đaniên...
a. Là một thanh niên, đức tin của ông cung ứng cho ông lòng can đảm để giữ lòng thành thật với những điều mình tin quyết
b. Là một cụ già, đức tin của ông đã nâng đỡ ông trước sự đe dọa bắt bớ
[Trước tiên chúng ta đọc về Đaniên và đức tin cao cả của ông, ở chương thứ nhứt sách Đaniên...]
I. ĐỨC TIN CỦA ĐANIÊN KHI LÀ THANH NIÊN "15 TUỔI"
A. MỘT NGÀY ẢM ĐẠM TRONG LỊCH SỬ DÂN ISRAEL...
1. Phần bắt đầu cuộc thống trị của người Babylôn – Đaniên 1:1-2
a. Vào năm thứ ba đời Vua Giêhôgiakim (khoảng năm 605TC)
b. Thành Jerusalem bị Vua Nêbucátnếtsa bao vây
c. Giêhôgiakim bị bắt làm phu tù, cùng với những khí mạnh quí báu trong đền thờ
2. Đây là lần đầu tiên trong ba lần Vua Nêbucátnếtsa đến nghịch cùng thành Jerusalem (605, 597, 586TC).
B. ĐANIÊN VÀ NHIỀU NGƯỜI KHÁC ĐƯỢC CHỌN ĐỂ ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT...
1. Nhiều thanh niên bị bắt phục vụ Vua Nêbucátnếtsa – Đaniên 1:3-7
a. Họ thực sự là "phần tốt nhứt của thu hoạch" giữa vòng các phu tù
1) Dễ nhìn không khuyết điểm
2) Được ơn với sự khôn ngoan, tri thức, và khả năng tiếp thu nhanh
b. Phục vụ trong cung điện vua, và được học ngôn ngữ và văn hóa của người Canhđê (người Babylôn)
1) Được ban cho những khoản đặc biệt về đồ ăn thức uống của nhà vua
2) Với ba năm đào tạo đặc biệt
c. Giữa vòng những người được chọn, bốn người được nêu tên, và rõ ràng được đặt tên lại để tôn vinh các thần của người Babylôn
1) Đaniên (Đức Chúa Trời là quan xét của tôi) – Bên-xát-sa (tôi tớ của Bên).
2) Hanania (Đức Giêhôva rất giàu ơn) – Sa-đơ-rắc (được giục giã bởi thần mặt trời)
3) Misaên (giống như Đức Chúa Trời) - Mêsác (người giống như thần mặt trăng)
4) Axaria (Đức Giêhôva cứu giúp) – A-bết-nê-gô (tôi tớ của Nêbô)
2. Những thanh niên nầy đáp ứng ra sao?
a. Có phải họ lụy theo những cám dỗ được đặt ở trước mặt họ?
b. Có phải họ nhượng bộ, tự cáo lỗi thích ứng với tuổi trẻ và không có kinh nghiệm?
-- Bạn sẽ phán ứng thế nào nếu bạn ở trong vị thế của họ?
C. ĐANIÊN ĐƯA RA MỘT QUYẾT ĐỊNH...
1. Ông "quyết định trong lòng" – Đaniên 1:8
a. nghĩa là, ông đưa ra một cam kết
b. Một việc hiếm nghe được hôm nay, ở cả kẻ trẻ và người già
2. Sự cam kết của ông là "không chịu ô uế" với những gì thuộc về nhà vua
3. Đức Chúa Trời chúc phước cho Đaniên và ba bạn của ông ngày càng thêm! – Đaniên 1: 17-20
a. Đức Chúa Trời đã ban cho họ tri thức, tài khéo, sự khôn ngoan, và với Đaniên Ngài ban sự hiểu biết trong những sự hiện thấy và các điềm chiêm bao.
b. Họ đã trở thành người giỏi nhất trong những thanh niên được đào tạo, và phục vụ trước sự hiện diện của vua Nêbucátnếtsa
c. Nhà vua thấy họ giỏi hơn tất cả những thuật sĩ và chiêm tinh của ông
3. Đaniên tiếp tục ở trong triều đình của xứ Babylôn gần 70 năm! – Đaniên 1:21
a. Ngay cả năm thứ nhứt của Vua Siru xứ Batư (539TC).
b. Hiển nhiên trở thành đầu tỉnh và làm đầu các quan cai những bác sĩ của Babylôn – Đaniên 2:48
[Đúng là một tấm gương kỳ diệu của đức tin và sự cam kết, và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời chăm sóc dân sự Ngài! Giờ đây, chúng ta hãy xem xét một số...]
II. BÀI HỌC VÀ ỨNG DỤNG TỪ ĐỨC TIN CỦA ĐANIÊN
A. LÀM SAO ĐỂ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC GIỮ LÒNG CAM KẾT VỚI CHÚA...
1. Phải lễ độ
a. Không có một lý do gì để khiếm nhã hay kiêu căng
b. Sự khiếm nhã chỉ làm cho tình huống trầm trọng thêm thay vì cứu chữa nó – đối chiếu Châm ngôn 15:1
2. Tìm kiếm sự vùa giúp của Đức Chúa Trời
a. Không có Đức Chúa Trời, bất cứ nổ lực nào cũng sẽ uổng công – đối chiếu Thi thiên 127:1-2
b. Đức Chúa Trời tìm cách vùa giúp cho những ai trung thành với Ngài – đối chiếu II Sử ký 16:9
3. Phải bền đổ
a. Đừng tìm cách thối lui sau khi gặp gỡ trở ngại đầu tiên
b. Hãy nhớ Chúa Jêsus đã dạy gì về sự bền đổ:
1) Người nào cứ "xin, tìm, gõ cửa" sẽ được, gặ, cửa sẽ mở ra cho họ – Mathiơ 7:7-11
2) Thí dụ về bà góa bền đỗ kia – Luca 18:1-8
4. Phải bằng lòng chịu thử đức tin mình
a. Nếu không bằng lòng, bạn cam kết tin cậy Đức Chúa Trời như thế nào?
b. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời thường mời người ta thử những lời hứa của Ngài – đối chiếu Malachi 3:10
c. Và Chúa Jêsus cũng một thể ấy – đối chiếu Giăng 7:16-17; Mathiơ 6:31-34
B. MỘT SỐ ỨNG DỤNG...
1. Trẻ ở tuổi đến trường
a. Rời khỏi cái tạp dề của mẹ chúng lần đầu tiên
b. Chúng sẽ đối diện với việc đưa ra những quyết định – Liệu chúng sẽ có đức tin của Đaniên không?
2. Lứa tuổi sinh viên
a. Rời khỏi gia đình lần đầu tiên
b. Rời khỏi môi trường thuộc linh ở gia đình, để đến với một môi trường rất thế gian – Liệu họ có sống và hành động với cùng sự cam kết được thấy có nơi Đaniên không ?
3. Người lớn nơi sở làm
a. Bị cám dỗ phải chấp nhận những công việc đòi hỏi phải thỏa hiệp với những gì mình tin quyết
b. Được yêu cầu phải nói dối cho chủ, tỏ ra lòng trung thành với công ty dù là bất hợp pháp và không đúng quy định – Liệu họ có "đức tin của người thanh niên 15 tuổi kia" không?
4. Những ai với người bạn đời không tin Chúa
a. Phục vụ Đức Chúa Trời và nuôi dạy con cái mình với những đường lối của Chúa bằng khả năng của mình
b. Với ít hoặc không có sự trợ giúp về đạo đức hay tôn giáo từ người bạn đời của họ – Liệu họ có "quyết định ở trong lòng" như Đaniên đã có không?
PHẦN KẾT LUẬN:
1. Nhiều ứng dụng khác có thể được lập ra, nhưng chúng ta học được gì từ "Đức tin của thanh niên 15 tuổi" giống như Đaniên?
a. Ngay cả những người còn trẻ cần phải đưa ra sự cam kết riêng muốn hầu việc Chúa
b. Một người cần phải kiên định trong ý đồ muốn hầu việc Chúa của mình mà không kiêu căng
c. Chúng ta phải trông mong Chúa vùa giúp, và phải bằng lòng tin cậy nơi sự tể trị của Ngài
d. Đức Chúa Trời sẽ chúc phước và tiếp trợ cho những ai đặt lòng tin cậy nơi Ngài và ý chỉ của Ngài
2. Đaniên không phải là người duy nhứt bày tỏ đức tin như thế trong lúc còn tuổi trẻ của mình...
a. Chúng ta đã nhắc tới Giôsép rồi ở trên
b. Chúng ta có những tấm gương khác trong Cựu Ước, tỉ như David và Giôsia
c. Và tất nhiên, chúng ta không quên tấm gương của Mary (mẹ Chúa Jêsus), và tấm gương của Timôthê
Nguyện tấm gương dâng mình của họ cho sự hầu việc Chúa khích lệ chúng ta hết thảy đều "quyết định ở trong lòng" không chịu ô uế bởi những việc của thế gian!

"DÁM TRỞ THÀNH MỘT ĐANIÊN"



"DÁM TRỞ THÀNH MỘT ĐANIÊN"
Làm sao thành công mà không thỏa hiệp

Đaniên 1:8-21; 6:1-10
Phần giới thiệu:
1. Kinh Thánh đầy dẫy với những câu chuyện nói tới những người nam người nữ tin kính, họ xứng đáng với sự đua tranh của chúng ta
2. Một người thể ấy là Đaniên, một nhân vật đã nhận được sự nổi bật và quyền lực trong thời của ông:
a. Ông khởi sự nổi bật giữa vòng con cái Israel – Đaniên 1:3-6
b. Ông kiếm được sự nổi bật giữa vòng các bác sĩ của xứ Babylôn – Đaniên 1:17-20
c. Ông được trao cho quyền lực trên khắp xứ Babylôn – Đaniên 2:48-49; 5:29
d. Ông đã nhận được quyền lực tương tự trên khắp cả đế quốc Batư – Đaniên 6:1-3, 28
3. Làm sao Đaniên có khả năng đạt tới những địa vị quyền lực và ảnh hưởng như thế mà không đem địa vị mình là một người tin kính ra thỏa hiệp?
4. Một cái nhìn thật kỹ sách Đaniên tỏ ra bí quyết của ông, và tỏ ra chúng ta cũng sẽ thành công mà không bán đứng linh hồn mình
[Trước tiên, chúng ta lưu ý rằng ngay cả một người ở tuổi thanh niên...]
I. ĐANIÊN LÀ MỘT NGƯỜI CÓ QUYẾT TÂM
A. "ĐANIÊN QUYẾT ĐỊNH TRONG LÒNG..." - Đaniên 1:8
1. Một thanh niên trong một xứ ngoại bang, Đaniên ngay lập tức đối diện với thách thức vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời bằng cách không dùng đồ ăn của nhà vua
2. Bất chấp sức trai trẻ và những áp lực hiển nhiên, Đaniên "quyết định trong lòng" giữ lấy luật pháp của Đức Chúa Trời, bất luận với giá nào.
3. Vì cớ ông bằng lòng đặt Đức Chúa Trời ở trên hết, Đức Chúa Trời đã ban đặc ân cho Đaniên - Đaniên 1:9
a. Đức Chúa Trời đã ban ơn thế nào thì không được giải thích, nhưng điều đó cũng đã xảy ra trong trường hợp của Giôsép nữa – đối chiếu Sáng thế ký 39:1-4; 21-23
b. Do đặt Đức Chúa Trời ở trên hết, Đức Chúa Trời đã chúc phước cho Giôsép theo cùng một phương thức gây ấn tượng cho nhiều người khác.
B. TỪNG CON CÁI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CẦN PHẢI TRỞ THÀNH CON NGƯỜI CÓ QUYẾT TÂM...
1. Không một ai tôn trọng một người "không có chính kiến rõ ràng", một người không có một hướng đi nào trong đời sống của họ
2. Một quyết tâm mạnh mẽ thường làm phát sinh ra sự tôn trọng và khâm phục nơi người khác
3. Đâu là "quyết tâm" của Cơ đốc nhân?
a. Chúa Jêsus nói rất rõ điều ấy ở Mathiơ 6:33
b. nghĩa là, tìm kiếm ý chỉ của Đức Chúa Trời và làm phu phỉ ý chỉ ấy trong đời sống của chúng ta, dù hoàn cảnh có như thế nào đi nữa
4. Như Chúa Jêsus đã hứa, điều nầy sẽ bảo đảm sự ưu ái của Đức Chúa Trời đối cùng chúng ta và đổi lại khiến cho chúng ta được ơn trước mắt những người ở chung quanh chúng ta
[Liệu bạn có "dám trở thành một Đaniên" và trở thành một người có quyết tâm như ông ấy đã có không? Bất luận người ta trẻ tuổi dường nào, không bao giờ là quá sớm khi "trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài"!
Qua đời sống của ông, Đaniên không những có một quyết tâm rất mạnh mẽ, mà...]
II. ĐANIÊN CÒN LÀ MỘT NGƯỜI RẤT NGUYÊN TẮC NỮA
A. ÔNG TỪ CHỐI KHÔNG ĐEM NHỮNG ĐIỀU MÌNH TIN QUYẾT RA MÀ THỎA HIỆP...
1. Là một thanh niên, bằng cách từ chối dùng thịt của vua ăn hay rượu của vua uống - Đaniên 1:8
2. Là một cụ già, bằng cách từ chối những tặng phẩm của Vua Bên-xát-sa - Đaniên 5:13-17
3. Khi bị đe dọa bắt bớ, ông từ chối không vâng theo chiếu chỉ của Vua Đa-ri-út - Đaniên 6:10
B. NGƯỜI TA KHEN NGỢI HẠNG NGƯỜI NGUYÊN TẮC...
1. Bề ngoài họ có thể chế nhạo, nhưng bề trong họ muốn mình cũng có chính sự dũng cảm chịu đựng ở trong lòng đó
2. Và khi họ cần ai đó có thể tin cậy được, và có thể gánh vác phần việc được giao cho, bạn nghĩ họ sẽ xây sang ai?
3. Đức Chúa Trời cũng khen ngợi những cá nhân nào chịu đứng vững bởi những nguyên tắc của họ, và bởi lời nói của họ – Thi thiên 15:1-5
[Xã hội của chúng ta đang ở trong nhu cần phải có những con người thật nguyên tắc. Người nào "dám trở thành một Đaniên", và chứng tỏ bởi tấm gương giá trị được dẫn dắt bởi "nguyên tắc" thay vì bởi "giá cả", không những được Đức Chúa Trời đánh giá cao mà những người đồng thời với họ cũng đánh giá cao nữa. Nhưng có quyết tâm và nguyên tắc chưa phải là đủ đâu; yếu tố khác cho sự thành công thật được cần đến. Đâu là yếu tố đó? Nó có thể thấy được khi chúng ta lưu ý...]
III. ĐANIÊN LÀ MỘT CON NGƯỜI THANH SẠCH
A. CÁC ĐỐI THỦ CỦA ÔNG KHÔNG TÌM ĐƯỢC MỘT LỖI LẦM NÀO...
1. Tình trạng không vết của ông khi xét đến công tác quản lý mọi việc làm của ông - Đaniên 6:1-4
2. Điều nầy sẽ giúp giải thích việc ông được thăng cấp lên tới những địa vị của trách nhiệm và quyền lực rất lớn
3. Tất nhiên, sự thanh sạch của ông trong công việc có quan hệ tới...
a. Quyết tâm của ông làm đẹp lòng Đức Chúa Trời trước tiên
b. Và sự thực cho thấy rằng một người nguyên tắc đáng tin cậy
B. CƠ ĐỐC NHÂN CŨNG GIỮ SỰ THANH SẠCH TRONG CÁCH XỬ SỰ...
1. Dù trẻ hay già – đối chiếu I Timôthê 4:12; Tít 2:6-8
2. Dù là nô lệ hay tự chủ – đối chiếu Tít 2:9-10
3. Người nào giữ lấy sự thanh sạch trong cách xử sự của họ với người khác thường được giao cho những địa vị có trách nhiệm lớn và đặc ân, vì họ đáng tin cậy khi sử dụng chúng cách khôn ngoan.
[Phải, Đaniên là một người có quyết tâm, nguyên tắc, và thanh sạch (và thế gian cần nhiều người giống như ông dường bao!). Nhưng yếu tố gồm tóm hết mọi điều nầy theo một phương thức để nhận lãnh ơn phước từ Đức Chúa Trời và sự ưu ái của con người là yếu tố...]
IV. ĐANIÊN LÀ MỘT CON NGƯỜI CỦA SỰ CẦU NGUYỆN
A. MỘT CÁI NHÌN THOÁNG QUA "ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN" CỦA ÔNG... - Đaniên 6:10
1. Ông đã quì gối xuống cầu nguyện, chứng tỏ sự hạ mình của ông
2. Ông đã cầu nguyện ba lần một ngày, một chứng tỏ cho thấy ông nương cậy liên tục vào Đức Chúa Trời
3. Ông dâng lời cảm tạ ở giữa sự bắt bớ, một chứng tỏ thái độ biết ơn của ông và sự thực ông luôn mong mỏi được phước của Đức Chúa Trời
4. Những lời cầu nguyện của ông "như vẫn làm khi trước", chứng tỏ sự ông bền đổ, trung tín trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời – Hiển nhiên việc ông giữ cầu nguyện "như vẫn làm khi trước" đã giúp ông luôn là một người có quyết tâm, nguyên tắc và thanh sạch, cho dù ông có được dấy lên trên quyền lực và nổi bật trong đế quốc hay không?
B. CƠ ĐỐC NHÂN NÊN BẮT CHƯỚC THEO GƯƠNG CỦA ĐANIÊN...
1. "Chúng ta hãy tiếp thu bài học mà tôi tớ tốt nhứt của Đức Chúa Trời đã giữ đều đặn thói quen cầu nguyện để tiếp tục kiên định trong sự tin kính đối với Chúa" (Strauss)
2. Là Cơ đốc nhân, chúng ta cũng phải thường xuyên cầu nguyện - I Têsalônica 5:17-18; Côlôse 4:2
3. Nếu mọi nổ lực của chúng ta muốn sống loại đời sống có quyết tâm, nguyên tắc và thanh sạch không được như ý muốn, phải chăng một “đời sống cầu nguyện" vô kỷ luật là lý do?
4. Có phải chúng ta bằng lòng "dám trở thành một Đaniên" về sự cầu nguyện?
PHẦN KẾT LUẬN
1. Có giả định cho rằng muốn "thăng tiến" trong đời nầy, một người phải thích nghi với những cách làm tội lỗi của thế gian!?!
2. Nhưng ngày nay có nhiều Cơ đốc nhân, họ chứng tỏ rằng khi một người "dám trở thành một Đaniên" họ có thể thành công trong những vụ việc của con người mà không bán đứng linh hồn họ cho thế gian.
3. Còn bạn thì sao? Liệu bạn có "dám trở thành một Đaniên" bằng cách trở thành một người có:
a. QUYẾT TÂM?
b. NGUYÊN TẮC?
c. THANH SẠCH?
d. CẦU NGUYỆN?

Nghiên cứu vắn tắt về Đaniên



Nghiên cứu vắn tắt về Đaniên
Phần giới thiệu:
Đaniên là một nhân vật có tên tuổi giữa vòng những Nhân vật Quan Trọng!
Êxêchiên 14:20: "thì dẫu có Nô-ê, Đa-ni-ên và Gióp ở đó, Chúa Giê-hô-va phán, thật như ta hằng sống, họ cũng chẳng cứu được nào con trai nào con gái, chỉ một mình họ cứu được linh hồn mình bởi sự công bình mình thôi"
Đaniên có thể hiểu được các điềm chiêm bao và những sự hiện thấy – Đaniên 1:17
I. Đaniên không thỏa hiệp
Đaniên không ăn thịt vua ăn hay uống rượu vua uống Đaniên 1:8
Hai lý do tại sao Đaniên không ăn thịt và uống rượu nầy:
Lêvi ký 17:10-14 – Thịt không được sửa soạn cách thích hợp
Phục truyền luật lệ ký 5:6-9 – Thịt nầy có liên quan tới thần tượng
Đaniên được thăng chức Đaniên 6:1-3. Kẻ thù của ông tìm cách bắt lỗi ông - hãy chú ý những việc họ đã làm Đaniên 6:4-5. Họ tìm một phương thức Đaniên 6:6-9. Hãy chú ý những gì xảy ra kế đó Đaniên 6:10-14.
II. Đaniên trong hang sư tử
Đức Chúa Trời giải cứu Đaniên – Đaniên 6:16-24
Vua Đariút lập luật mới – Đaniên 6:25-28
Hãy chú ý vũ khí chúng ta cần phải mang lấy Êphêsô 6:10-17, chúng ta cần phải làm theo những gì Đaniên đã làm Êphêsô 6:18!
III. Đaniên nói tiên tri về Nước Trời
Nêbucátnếtsa có một điềm chiêm bao. Ông ta cần ai đó giải thích điềm chiêm bao đó – Đaniên 2:36-45 – Nước không bao giờ bị hủy diệt. Đấng sẽ ra đời, có một Nước đời đời Luca 1:30-35. Nước của Ngài sẽ đứng vững Mathiơ 16:18-19, II Phierơ 1:11 và Hêbơrơ 12:28. Nước của Ngài không thuộc về thế gian nầy Giăng 18:36.
Cũng hãy chú ý Đaniên 7:13-14. Hãy chú ý thể nào Đấng Christ rời khỏi thế gian nầy Công Vụ các Sứ đồ 1:9

IV. Đức Chúa Trời có thể đặt chúng ta vào "vị thế sai, ở thời điểm đúng "
Phaolô và Sila – Công Vụ các Sứ đồ 16:23-34. Sự trở lại đạo của quan cai ngục
Hay ngay cả vị thế đúng ….
Philíp Công Vụ các Sứ đồ 8:26-39 – Sự trở lại đạo của hoạn quan
Kết luận:
Chúng ta cần nhiều người giống như Đaniên hôm nay trong Hội Thánh – Philíp 1:27, Tít 2:11-12, và Khải huyền 2:10