Thứ Ba, 8 tháng 6, 2010

Xuất Êdíptô ký 1-2:10: "Cứu Đấng Cứu Tinh"



Môise – Hoàng Tử của Israel
Cứu Đấng Cứu Tinh
Xuất Êdíptô ký 1-2.10
1. Cách đây mấy tuần, một cuốn phim đầy sức sống mới đã được trình chiếu trên các màn ảnh trong xứ sở chúng ta. Tên cuốn phim là Hoàng Tử xứ Ai cập và các chi tiết của nó, 2/3 phần đầu là nói tới đời sống của Môise. Tôi đã đưa mấy đứa con gái của tôi đến xem phim và chúng tôi đã thưởng thức cuộn phim đó. Mặc dù cuộn phim không xác thực lắm ở từng chi tiết, lẽ thật về sự giải cứu lạ lùng của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài và sự họ xuất Ai cập là rất rõ ràng.
2. Môise quả thực là Hoàng Tử xứ Ai cập. Ông đã được nuôi dạy, lớn lên trong nét huy hoàng rực rỡ của hoàng gia Ai cập. Tuy nhiên, ông còn tiếp thu nhiều hơn thế nữa. Đức Chúa Trời đã giải cứu ông để trở thành "Hoàng Tử xứ Israel" là đấng ban ra luật pháp, là cứu tinh của dân tộc ông.
3. Môise, giống như chúng ta, là một nỗi trớ trêu. Ở mặt nầy ông là một nhân vật mạnh sức của Đức Chúa Trời và ở mặt kia, ông là một con người thường hấp tấp, thiếu suy nghĩ và bốc đồng. Kinh Thánh chia đời sống ông thành ba phần, mỗi phần là bốn mươi năm. Nhà truyền đạo lỗi lạc D.L. Moody đã nói về ông như sau: "Môise để ra bốn mươi năm suy nghĩ mình là một nhân vật quan trọng, bốn mươi năm ông là một người chẳng ra gì, và bốn mươi năm học biết mọi điều Đức Chúa Trời có thể làm với một kẻ chẳng ra gì".
4. Để hiểu rõ ngọn ngành đời sống của Môise, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ tính tàn bạo mà Israel gặp phải trong xứ Ai cập và các bối cảnh kỳ lạ vây quanh sự ra đời của ông. Sau đó, chúng ta sẽ áp dụng ba lẽ thật có tính cách biến đổi cho hôm nay.
I. Tính tàn bạo của xứ Ai cập (1.1-22).
A. Di sản của Giôsép (các câu 1-7).
1. Xuất Ai cập có nghĩa là "thoát ra" hay "ra khỏi". Các câu 1-7 nói cho chúng ta biết thể nào Israel đã vào sống trong xứ Ai cập. Phần còn lại của quyển sách nói cho chúng ta biết phương thức họ ra khỏi xứ ấy.
2. Israel bắt đầu với Ápraham và người con có lời hứa của ông là Ysác. Ysác có người con trai tên là Giacốp, ông nầy có 12 con trai. Một trong 12 người là Giôsép. Các anh người đều rất ganh ghét ông rồi vì thế họ đã bán ông đi làm nô lệ trong xứ Ai cập. Đức Chúa Trời đã ở cùng Giôsép và sau nhiều thử thách đã tôn cao ông lên tới địa vị Thủ Tướng. Vì cớ nạn đói rất nghiệt ngã trong vùng Trung đông, các anh của Giôsép đã vào xứ Ai cập đặng mua lương thực. Hiển nhiên là Giôsép đã bày tỏ chính mình ông ra và Pharaôn đã ban cho họ vùng đất trù phú ở Ai cập có tên là Gôsen.
3. Tại xứ Gôsen, gia đình người Hêbơrơ đã được hanh thông (đối chiếu Sáng thế ký 47.27). Trải qua 400 năm kế đó, họ đã sống trong sự thịnh vượng rất lớn và số lượng ngày càng đông thêm. Hãy chú ý sự thêm nhiều lạ lùng ở trong câu 7: "con cháu Israel thêm nhiều lạ lùng". Câu nầy nói họ "thêm nhiều lạ lùng". Họ đã "thêm nhiều" và "nẩy nở ra" (sát nghĩa, trở nên ngày càng đông). Sau cùng, "cả xứ đều đầy dẫy".
B. Nan đề của người Hêbơrơ (các câu 8-10).
1. Sống trong xứ Ai cập – Về văn hoá. Chúng ta hãy suy nghĩ trong một phút về “sống trong xứ Ai cập là như thế nào” đối với dân Hêbơrơ trong suốt khoảng thời gian nầy.
a. Ai cập là vùng đất trù phú. Sông Nile đã được sử dụng cho việc tưới tiêu. Mỗi năm nước tràn lên hai bên bờ đem lại nhiều phù sa cho đồng ruộng. Khí hậu rất ôn hoà và gần như mọi thứ đều mọc lên được ở đó.
b. Ai cập rất giàu có về các tài nguyên thiên nhiên. Có nhiều loại cá và vô số loài chim nước. Nhiều đồng ruộng phì nhiêu cung ứng đồng cỏ phong phú cho các bầy gia súc. Nhiều cây cối cung cấp nguyên liệu cho nghề làm giấy, đan rỗ, giày dép, v.v…Có một nguồn cung cấp đất sét làm gạch không hề cạn. Bờ vực sát mé sông cung cấp sa thạch, đá vôi, đá granite và các khoáng sản khác. Đồng đỏ ra từ hoang mạc và vàng ra từ các vùng cao.
c. Ai cập là một xã hội rất tinh vi. Ai cập là một xứ sở thuộc về văn học. Công vụ Các Sứ Đồ 7.22 chép: "Môi-se được học cả sự khôn ngoan của người Ê-díp-tô; lời nói và việc làm đều có tài năng". Ngày nay có nhiều di tích các bản văn tượng hình của họ. Một số bản văn đó có niên đại hơn 1500 năm trước thời của Môise. Họ rất xuất sắc về nghệ thuật, kể cả hội họa, điêu khắc và làm nữ trang đẹp. Người Ai cập hầu hết được ghi nhớ về khoa học và về nghề kiến trúc của họ. Kim Tự Tháp tại Gizsa có nền vuông vức 775 feet mỗi cạnh, cao 481 feet và do 2,5 triệu khối đá hình thành, mỗi khối đá cân nặng 2,5 tấn. Đến thời của Môise, Đền Thờ Karnak đã được xây dựng và Tượng Nhân Sư đã được chạm khắc rồi.
d. Ai cập có một nền văn hoá thờ lạy hình tượng. Trong mọi sự học hỏi của họ, họ chẳng có chút tri thức gì về Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hoá cả. Họ đã thờ thần sông, các loài thú đồng và tin vua của họ là một vì thần.
2. Sống dưới thời Tân Pharaôn – Hoàn toàn đa nghi.
a. Câu 8 chép: "Nhưng bấy giờ tại nước Ê-díp-tô, có một vua mới lên ngôi, chẳng quen biết Giô-sép". Trong 400 năm, người Ai cập đã làm ơn cho người Hêbơrơ. Bây giờ mọi sự sắp sửa phải đổi thay.
b. Tân Pharaôn chỉ ra rằng "dân Israel đông và mạnh hơn chúng ta". Ông ta e rằng họ sẽ tiếp tục "đông thêm" và nếu có chiến tranh, họ sẽ "hiệp cùng quân nghịch đánh bại ta". Hãy chú ý, ông ta e sợ họ sẽ "ra khỏi xứ chăng!?!" Không những ông ta e sợ họ, mà còn muốn lấn lướt trên họ nữa.
c. Nhiều học giả đặt niên đại cho cuộc Xuất Ai cập vào triều đại thứ 18 của người Ai cập. Nếu thực vậy, điều nầy tạo ra một sự song hành rất thú vị về mặt lịch sử. Các Pharaôn mới vừa cởi bỏ triều đại bị người ngoại quốc cai trị bởi nhà Hyksos (hick’-sos), "các vì vua chăn chiên" rồi đưa xứ sở trở lại với những nhà cai trị bản xứ. Sự họ không tin tưởng vào các người ngoại là rất dễ hiểu.
C. Các chiến lược của Pharaôn (các câu 11-22). Ở câu 10, Pharaôn nói: "Hè, ta hãy dùng chước khôn ngoan đối với họ". Khi ấy ông ta bắt đầu thực thi chiến lược đầu tiên trong ba chiến lược không đội trời chung.
1. Chiến lược 1 – Bắt buộc làm nô lệ (các câu 11-14).
a. Trong các thời kỳ xa xưa, vấn đề phải đưa ra cho phân nửa dân cư nầy là bắt phân nửa số dân kia làm nô lệ. Có điều quan trọng ở đây tạo ra vấn đề có một không hai, ấy là cả dân Israel đều bị bắt làm nô lệ.
b. Họ đã đặt những "kẻ đầu xâu" hay "cai nô lệ" cai quản họ. Thay vì một đời sống thịnh vượng và bình an, toàn bộ dân Israel đã trở thành hạng nô lệ rồi bị sử dụng để xây cất "thành Phithom và Ramse" ở sườn phía Đông xứ Ai cập.
c. Sinh mạng của nô lệ rất rẻ rúng. Đức Chúa Trời biết rõ có hàng ngàn người đã ngã chết khi xây dựng các đền đài ở Ai cập cổ xưa. Pharaôn nghĩ tình trạng nô lệ sẽ giết thật nhiều người và làm sụp đổ tinh thần của họ. Câu 12 chép: "Nhưng người Ê-díp-tô càng bắt làm khó nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều lên, và tràn ra chừng nấy". Gần tới thời kỳ ra khỏi xứ Ai cập, đã có hơn 600.000 người nam trên độ tuổi 20 cùng nhiều phụ nữ và trẻ em (12.37; 38.26).
d. Cũng hãy chú ý, "Người Ê-díp-tô bèn đem lòng ghen ghét dân Israel". "Ghen ghét" ra từ chữ Hy bá lai, chữ nầy mô tả một sự ghen ghét rất mạnh, nó gây ra một chứng bịnh rất tự nhiên. Họ, người Ai cập, đã xem dân Hêbơrơ như chứng ung thư đang tràn ngập xứ sở của họ và họ rất đỗi sợ hãi dân nầy, họ đang mắc một chứng đau bịnh rất tự nhiên đó.
e. Người Ai cập bắt dân Israel "làm khó nhọc" hay rất khắc nghiệt. Người Ai cập khiến cho đời sống dân Israel "nên cay đắng". Lạ lùng thay, dân Hêbơrơ vẫn tràn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tình trạng nô lệ chẳng có hiệu lực chi cả.
2. Chiến lược 2 – Nạo thai (các câu 15-21).
a. Nạo thai không những là một sự tàn bạo rất hiện đại. Nó còn là sách lược thứ nhì trong cái túi mưu mẹo gian ác của Pharaôn kia.
b. Chẳng có ai dám chắc về "các bà mụ Hêbơrơ" có ý nghĩa gì. Có thể đây là những người Hêbơrơ hay họ phục vụ cho người Hêbơrơ. Ý thứ hai dường như thích ứng vì người Hêbơrơ không muốn giết chóc dân tộc của họ và vì cớ câu 16, 19.
c. "Siếp-ra" và "Phu-a" hai bà mụ bị đòi tới gặp Pharaôn cũng được truyền cho giống như các bà mụ khác. Pharaôn buộc họ phải giết bất kỳ một trẻ nam sơ sinh nào đang khi bà mẹ đương ở trên "bàn sinh". Một đứa gái sẽ được phép để cho sống.
d. Trong xứ sở của chúng ta ngày nay, phá thai là hợp pháp. Nhân viên phá thai đỡ đẻ rồi giết nó khi nó mới vừa lọt lòng. Pharaôn buộc các bà mụ phải làm như thế đối với các trẻ nam sơ sinh.
e. Pharaôn cho rằng với một thế hệ nam giới không còn nữa, nữ giới sẽ lấy người Ai cập làm chồng và trong vài năm dân Hêbơrơ sẽ biến thành chủng dân Ai cập.
f. Câu 17 chép: "nhưng các bà mụ kính sợ Đức Chúa Trời". Không nghi ngờ chi nữa, mấy bà mụ giữ trọn luật pháp rõ ràng đã e sợ Pharaôn. Tuy nhiên, họ "kính sợ Đức Chúa Trời" hơn vì họ "để cho các con trai sống hết".
g. Pharaôn đã nổi giận khi nhìn thấy các trẻ nam sơ sinh Hêbơrơ. Ông ta đã hỏi: "Sao các ngươi làm như vậy?" Mấy bà mụ đã đưa ra một nửa sự thực. Họ nói cho ông ta biết rằng mấy người đờn bà Hêbơrơ "mạnh khoẻ hơn", rằng họ "đã sanh nở trước khi mụ đến". Sự thực, có lẽ mấy bà mụ đã cố tình đến muộn.
h. Một lần nữa chúng ta thấy trong câu 20 rằng: "dân sự gia thêm và trở nên đông đúc". Đức Chúa Trời cũng ban thưởng cho các bà mụ vì họ biết kính sợ Ngài. Ngài "làm cho nhà họ được thạnh vượng", nghĩa là, Ngài đã ban cho họ được thêm nhiều gia đình.
3. Chiến lược 3 – Diệt chủng (câu 22).
a. Đã quyết định không cho số dân Hêbơrơ lạ lùng nầy tràn ra thêm, Pharaôn truyền lịnh cho "cả dân mình". Ông ta bảo họ: "Phàm con trai của dân Hê-bơ-rơ mới sanh, hãy liệng xuống sông; còn con gái, thì để cho sống".
b. Không nghi ngờ chi nữa, có lẽ hàng trăm hàng ngàn con trẻ nam Hêbơrơ đã chết mất dưới dòng sông Nile. Tuy nhiên, đã có một đứa trẻ mà ngay cả Pharaôn mạnh sức kia không thể giết chết được.
II. Sự ra đời của đấng cứu tinh (2.1-10).
A. Nỗi sợ của một người mẹ trong tâm trạng thất vọng (các câu 1-2).
1. Câu 1 mô tả bố mẹ của Môise là "một người trong họ Lêvi" và "con gái Lêvi". Ở các chỗ khác trong Kinh Thánh, chúng ta biết được tên của họ là Amram và Giôkêbết.
2. Amram có nghĩa là "người được tôn cao". Tên của ông nhắc tới ở các bản gia phổ khác trong Cựu ước. 6.20 chép ông đã sống tới 137 tuổi.
3. Giôkêbết có nghĩa là "tôn cao Đức Giêhôva". Bà được nhắc tới bằng tên chỉ ở 6.20 và Dân số ký 26.59.
4. Môise cũng có hai anh chị ruột. Miriam có lẽ được 8-10 tuổi khi ông ra đời. Arôn đã được ba tuổi (Xuất Êdíptô ký 7.7).
5. Họ là một gia đình tin kính. Tên tuổi của họ phản ảnh tính cách của họ trong một thời kỳ khi có nhiều người Hêbơrơ thờ lạy các thần giả dối của xứ Ai cập, bố mẹ họ rất trung tín với Đức Giêhôva. Ở giữa một xã hội thờ lạy hình tượng, đức tin được bền giữ trong một gia đình. Hỡi các bậc bố mẹ, đức tin phải được gây dựng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.
6. Hãy tưởng tượng nỗi sợ và mối lo của họ sau khi nhìn biết lịnh lạc của nhà vua, khi họ nhận biết Giôkêbết có lòng trông mong. Hãy tưởng tượng niềm vui mừng cùng nỗi kinh hãi của họ khi câu hỏi "Cái gì vậy?" được trả lời: "Ấy là một đứa trai!" Hỡi các bà mẹ, hãy suy nghĩ về việc cưu mang một đứa trẻ trong 9 tháng với sự nhìn biết nhà vua đã ra lịnh tất cả trẻ nam sơ sinh đều sẽ bị giết.
7. Câu 2 và Hêbơrơ 11.23 nói Môise là "một đứa trẻ ngộ". Công vụ Các Sứ Đồ 7.20 chép ông "người xinh tốt khác thường". Ý tưởng ở đàng sau mấy câu nầy, ấy là ông là một đứa trẻ rất khác thường hay phi thường. Hết thảy chúng ta đều biết rằng "chẳng có bà mẹ nào có một đứa con xấu xí cả". Nhưng Môise rất khác biệt và gia đình ông đều biết rõ sự khác biệt ấy.
8. Họ đem ông "giấu đi trong ba tháng". Hêbơrơ 11.23 chép: "Họ không sợ chiếu mạng vua".
9. Không nghi ngờ chi nữa, họ đã sống trong khu xóm nô lệ, ở đó các ngôi nhà làm gạch bằng bùn đâu mái vào nhau. Hãy tưởng tượng họ đang rên siết qua bóng đêm tăm tối. Hãy tưởng tượng có bao nhiêu lần chú ý buộc ông phải câm nín. Khi ông ngày càng lớn lên thêm, Giôkêbết vốn biết rõ khó mà che giấu ông được nữa.
B. Đức tin của bà mẹ có tánh thận trọng (các câu 3-4).
1. "Nhưng giấu lâu hơn nữa không được", bà mới đan một "cái rương mây". Thú vị thay, từ Hêbơrơ [ark] nầy đã được dùng ở chỗ khác khi nói tới chiếc tàu của Nôê. Hãy suy nghĩ về những điểm tương ứng với nhau!
2. Sau khi sử dụng nhiều cói hay "mây" với "chai và nhựa thông", bà làm cho nó nổi và không thấm nước. Kế đó bà lấy chiếc rương quí báu đó rồi "để đứa trẻ vào, đem thả trong đám sậy dựa mé sông". Hãy tưởng tượng xem công việc nầy thật khó nhọc là dường nào!
3. Giôkêbết sai Miriam, chị của Môise "đứng xa" nơi đó. Miriam phải đứng trông chừng chiếc rương. Điều nầy cho chúng ta biết đôi điều về đức tin của Giôkêbết. Bà tin Đức Chúa Trời sẽ can thiệp. Quí vị không sai một cô gái mới có 10 tuổi ra mé sông để coi chừng đứa em sơ sinh của nó sẽ bị cá sấu ăn thịt bao giờ.
4. Giôkêbết đã lập ra các chương trình của mình và bà đã thốt ra những lời cầu nguyện. Bà phó thác đứa con quí báu của mình cho Đức Giêhôva.
Hỡi các bậc phụ huynh, chúng ta phải làm theo y như thế. F.B. Meyer đã viết: "Có nhiều biện minh mà câu chuyện nầy đưa ra, cho bậc phụ huynh Cơ đốc phó thác con cái của họ cho Đức Chúa Trời. Người mẹ có đứa con gái đi kiếm sống giữa vòng những người lạ; người cha có đứa con trai phải rời bỏ vùng quê an bình vào sống trong thành thị náo nhiệt; bậc phụ huynh nào, là giáo sĩ, không thể nuôi dưỡng con cái mình trong công trường truyền giáo …, hay những ai trên giường hấp hối phải trao con trẻ của mình cho người lạ chăm sóc, hết thảy sẽ học được một bài học từ đức tin phó thác con cái mình vào sự tể trị của Đức Chúa Trời, một cách tuyệt đối hơn cả sông Nile làm cho chiếc rương nổi lên nữa. Đức Chúa Trời hằng sống, yêu thương và đang chăm sóc. Mau mắn và dịu dàng hơn cả sự mau lẹ và dịu dàng của Miriam, Ngài không hề nhắp mắt cũng không buồn ngủ" (Devotional Commentary on Exodus, pp.26-27).
C. Phần thưởng của một người cha có lòng trung tín (các câu 5-10).
1. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy đức tin của Giôkêbết, Ngài lắng nghe những lời cầu nguyện của họ và đã ban thưởng cho bà thật rời rộng.
2. Nhiều học giả tin "con gái của Pharaôn" là Hatshepsut, con gái của Vua Thutmose I và về sau trở thành mẹ của Vua Thutmose III, là vì vua trong thời kỳ dân Israel Xuất Ai cập.
3. Có người cho rằng vào thời điểm nầy, nàng son sẻ và dành thì giờ ra bờ sông để cầu nguyện với thần sông Nile, là thần Hapi để được hanh thông. Dù là lý do nào, Đức Chúa Trời của sự khôn ngoan đã dẫn dắt các bước chân nàng đến gần chiếc rương mây quí báu kia.
4. Nàng nói ngay lập tức: "Ấy là một đứa con của người Hêbơrơ". Thực vậy, nàng đã "động lòng thương xót".
5. Miriam tự mình khẳng định và đề nghị tìm "một người vú trong bọn đờn bà Hêbơrơ" đặng cho "đứa trẻ bú". Công Chúa đồng ý và Miriam chạy về mẹ mình với các tin tức thật tốt lành. Công Chúa bảo đem đứa trẻ về nhà và hứa trả "tiền công" cho công việc của bà. Bà ẳm lấy con mình và món tiền công đó!
6. Giôkêbết có lẽ đã giữ đứa trẻ trong 2-3 năm trời, thời gian bình thường mà mấy người nữ Hêbơrơ lo liệu cho con cái của họ. Hãy tưởng tượng xem nỗi khó khăn của bà khi "bà dẫn nó vào cho Công Chúa".
7. Công Chúa đặt tên cho ông là "Môise" có nghĩa là "vớt ra khỏi nước". Nàng nói: "Ta đã vớt nó khỏi nước".
III. Ba lẽ thật làm biến đổi cho ngày hôm nay.
A. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của sự giải cứu. Mặc dù người Hêbơrơ sống rất "nhọc nhằn" và "đời sống họ bị sự nô dịch làm cho cay đắng", dù con trẻ sơ sinh của họ bị quăng cho bầy cá sấu ăn, Đức Chúa Trời đã ở với họ. Ngài đã giữ cả thảy các lời hứa mà Ngài đã lập với họ (xem Sáng thế ký 15.13-14). Sau cùng, Ngài đã giải cứu họ. Chính Đức Chúa Trời Toàn Năng nầy, elohim của chúng ta cũng sẽ giải cứu chúng ta ra khỏi lò thử thách.
B. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của sự trớ trêu. Cho phép tôi trình cho quí vị thấy ba điểm trớ trêu có quan hệ đến phân đoạn Kinh Thánh gốc của chúng ta hôm nay.
1. Pharaôn tưởng những người nam Do thái là kẻ thù của mình, song lại là những người nữ, là những người đã bảo tồn sinh mạng của Môise. Trước tiên là mấy bà mụ, kế đó là Giôkêbết, rồi Miriam và cô Công Chúa.
2. Sông Nile bị định là chốn chết của Môise, thế nhưng dòng sông ấy đã trở thành nơi giải cứu.
3. Môise được "vớt ra khỏi" dòng sông để ông "cứu vớt" dân Israel ra khỏi Ai cập.
4. Giôsép đã nói với các anh em mình ở Sáng thế ký 50.20: "Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi". Điều chi dường như là xấu xa trong đời sống của quí vị, Đức Chúa Trời sẽ sử dụng để làm ích cho. Hãy tin cậy Ngài!
C. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời hay ban thưởng.
1. Giôkêbết không những đã cầu nguyện. Không những bà đã lập một chương trình dựa theo sự khôn khéo của con người. Bà đã lập một chương trình rất hợp lý và đã tin cậy Đức Chúa Trời vùa giúp mình. Ngài đã ban thưởng cho đức tin của bà một cách rời rộng!
2. Hãy thốt ra những lời cầu nguyện của quí vị, hãy lập chương trình của mình đi: "Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu" (Hêbơrơ 13.5).
Xuất Êdíptô ký 1-2.10
1. Cách đây mấy tuần, một cuốn phim đầy sức sống mới đã được trình chiếu trên các màn ảnh trong xứ sở chúng ta. Tên cuốn phim là Hoàng Tử xứ Ai cập và các chi tiết của nó, 2/3 phần đầu là nói tới đời sống của Môise. Tôi đã đưa mấy đứa con gái của tôi đến xem phim và chúng tôi đã thưởng thức cuộn phim đó. Mặc dù cuộn phim không xác thực lắm ở từng chi tiết, lẽ thật về sự giải cứu lạ lùng của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài và sự họ xuất Ai cập là rất rõ ràng.
2. Môise quả thực là Hoàng Tử xứ Ai cập. Ông đã được nuôi dạy, lớn lên trong nét huy hoàng rực rỡ của hoàng gia Ai cập. Tuy nhiên, ông còn tiếp thu nhiều hơn thế nữa. Đức Chúa Trời đã giải cứu ông để trở thành "Hoàng Tử xứ Israel" là đấng ban ra luật pháp, là cứu tinh của dân tộc ông.
3. Môise, giống như chúng ta, là một nỗi trớ trêu. Ở mặt nầy ông là một nhân vật mạnh sức của Đức Chúa Trời và ở mặt kia, ông là một con người thường hấp tấp, thiếu suy nghĩ và bốc đồng. Kinh Thánh chia đời sống ông thành ba phần, mỗi phần là bốn mươi năm. Nhà truyền đạo lỗi lạc D.L. Moody đã nói về ông như sau: "Môise để ra bốn mươi năm suy nghĩ mình là một nhân vật quan trọng, bốn mươi năm ông là một người chẳng ra gì, và bốn mươi năm học biết mọi điều Đức Chúa Trời có thể làm với một kẻ chẳng ra gì".
4. Để hiểu rõ ngọn ngành đời sống của Môise, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ tính tàn bạo mà Israel gặp phải trong xứ Ai cập và các bối cảnh kỳ lạ vây quanh sự ra đời của ông. Sau đó, chúng ta sẽ áp dụng ba lẽ thật có tính cách biến đổi cho hôm nay.
I. Tính tàn bạo của xứ Ai cập (1.1-22).
A. Di sản của Giôsép (các câu 1-7).
1. Xuất Ai cập có nghĩa là "thoát ra" hay "ra khỏi". Các câu 1-7 nói cho chúng ta biết thể nào Israel đã vào sống trong xứ Ai cập. Phần còn lại của quyển sách nói cho chúng ta biết phương thức họ ra khỏi xứ ấy.
2. Israel bắt đầu với Ápraham và người con có lời hứa của ông là Ysác. Ysác có người con trai tên là Giacốp, ông nầy có 12 con trai. Một trong 12 người là Giôsép. Các anh người đều rất ganh ghét ông rồi vì thế họ đã bán ông đi làm nô lệ trong xứ Ai cập. Đức Chúa Trời đã ở cùng Giôsép và sau nhiều thử thách đã tôn cao ông lên tới địa vị Thủ Tướng. Vì cớ nạn đói rất nghiệt ngã trong vùng Trung đông, các anh của Giôsép đã vào xứ Ai cập đặng mua lương thực. Hiển nhiên là Giôsép đã bày tỏ chính mình ông ra và Pharaôn đã ban cho họ vùng đất trù phú ở Ai cập có tên là Gôsen.
3. Tại xứ Gôsen, gia đình người Hêbơrơ đã được hanh thông (đối chiếu Sáng thế ký 47.27). Trải qua 400 năm kế đó, họ đã sống trong sự thịnh vượng rất lớn và số lượng ngày càng đông thêm. Hãy chú ý sự thêm nhiều lạ lùng ở trong câu 7: "con cháu Israel thêm nhiều lạ lùng". Câu nầy nói họ "thêm nhiều lạ lùng". Họ đã "thêm nhiều" và "nẩy nở ra" (sát nghĩa, trở nên ngày càng đông). Sau cùng, "cả xứ đều đầy dẫy".
B. Nan đề của người Hêbơrơ (các câu 8-10).
1. Sống trong xứ Ai cập – Về văn hoá. Chúng ta hãy suy nghĩ trong một phút về “sống trong xứ Ai cập là như thế nào” đối với dân Hêbơrơ trong suốt khoảng thời gian nầy.
a. Ai cập là vùng đất trù phú. Sông Nile đã được sử dụng cho việc tưới tiêu. Mỗi năm nước tràn lên hai bên bờ đem lại nhiều phù sa cho đồng ruộng. Khí hậu rất ôn hoà và gần như mọi thứ đều mọc lên được ở đó.
b. Ai cập rất giàu có về các tài nguyên thiên nhiên. Có nhiều loại cá và vô số loài chim nước. Nhiều đồng ruộng phì nhiêu cung ứng đồng cỏ phong phú cho các bầy gia súc. Nhiều cây cối cung cấp nguyên liệu cho nghề làm giấy, đan rỗ, giày dép, v.v…Có một nguồn cung cấp đất sét làm gạch không hề cạn. Bờ vực sát mé sông cung cấp sa thạch, đá vôi, đá granite và các khoáng sản khác. Đồng đỏ ra từ hoang mạc và vàng ra từ các vùng cao.
c. Ai cập là một xã hội rất tinh vi. Ai cập là một xứ sở thuộc về văn học. Công vụ Các Sứ Đồ 7.22 chép: "Môi-se được học cả sự khôn ngoan của người Ê-díp-tô; lời nói và việc làm đều có tài năng". Ngày nay có nhiều di tích các bản văn tượng hình của họ. Một số bản văn đó có niên đại hơn 1500 năm trước thời của Môise. Họ rất xuất sắc về nghệ thuật, kể cả hội họa, điêu khắc và làm nữ trang đẹp. Người Ai cập hầu hết được ghi nhớ về khoa học và về nghề kiến trúc của họ. Kim Tự Tháp tại Gizsa có nền vuông vức 775 feet mỗi cạnh, cao 481 feet và do 2,5 triệu khối đá hình thành, mỗi khối đá cân nặng 2,5 tấn. Đến thời của Môise, Đền Thờ Karnak đã được xây dựng và Tượng Nhân Sư đã được chạm khắc rồi.
d. Ai cập có một nền văn hoá thờ lạy hình tượng. Trong mọi sự học hỏi của họ, họ chẳng có chút tri thức gì về Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hoá cả. Họ đã thờ thần sông, các loài thú đồng và tin vua của họ là một vì thần.
2. Sống dưới thời Tân Pharaôn – Hoàn toàn đa nghi.
a. Câu 8 chép: "Nhưng bấy giờ tại nước Ê-díp-tô, có một vua mới lên ngôi, chẳng quen biết Giô-sép". Trong 400 năm, người Ai cập đã làm ơn cho người Hêbơrơ. Bây giờ mọi sự sắp sửa phải đổi thay.
b. Tân Pharaôn chỉ ra rằng "dân Israel đông và mạnh hơn chúng ta". Ông ta e rằng họ sẽ tiếp tục "đông thêm" và nếu có chiến tranh, họ sẽ "hiệp cùng quân nghịch đánh bại ta". Hãy chú ý, ông ta e sợ họ sẽ "ra khỏi xứ chăng!?!" Không những ông ta e sợ họ, mà còn muốn lấn lướt trên họ nữa.
c. Nhiều học giả đặt niên đại cho cuộc Xuất Ai cập vào triều đại thứ 18 của người Ai cập. Nếu thực vậy, điều nầy tạo ra một sự song hành rất thú vị về mặt lịch sử. Các Pharaôn mới vừa cởi bỏ triều đại bị người ngoại quốc cai trị bởi nhà Hyksos (hick’-sos), "các vì vua chăn chiên" rồi đưa xứ sở trở lại với những nhà cai trị bản xứ. Sự họ không tin tưởng vào các người ngoại là rất dễ hiểu.
C. Các chiến lược của Pharaôn (các câu 11-22). Ở câu 10, Pharaôn nói: "Hè, ta hãy dùng chước khôn ngoan đối với họ". Khi ấy ông ta bắt đầu thực thi chiến lược đầu tiên trong ba chiến lược không đội trời chung.
1. Chiến lược 1 – Bắt buộc làm nô lệ (các câu 11-14).
a. Trong các thời kỳ xa xưa, vấn đề phải đưa ra cho phân nửa dân cư nầy là bắt phân nửa số dân kia làm nô lệ. Có điều quan trọng ở đây tạo ra vấn đề có một không hai, ấy là cả dân Israel đều bị bắt làm nô lệ.
b. Họ đã đặt những "kẻ đầu xâu" hay "cai nô lệ" cai quản họ. Thay vì một đời sống thịnh vượng và bình an, toàn bộ dân Israel đã trở thành hạng nô lệ rồi bị sử dụng để xây cất "thành Phithom và Ramse" ở sườn phía Đông xứ Ai cập.
c. Sinh mạng của nô lệ rất rẻ rúng. Đức Chúa Trời biết rõ có hàng ngàn người đã ngã chết khi xây dựng các đền đài ở Ai cập cổ xưa. Pharaôn nghĩ tình trạng nô lệ sẽ giết thật nhiều người và làm sụp đổ tinh thần của họ. Câu 12 chép: "Nhưng người Ê-díp-tô càng bắt làm khó nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều lên, và tràn ra chừng nấy". Gần tới thời kỳ ra khỏi xứ Ai cập, đã có hơn 600.000 người nam trên độ tuổi 20 cùng nhiều phụ nữ và trẻ em (12.37; 38.26).
d. Cũng hãy chú ý, "Người Ê-díp-tô bèn đem lòng ghen ghét dân Israel". "Ghen ghét" ra từ chữ Hy bá lai, chữ nầy mô tả một sự ghen ghét rất mạnh, nó gây ra một chứng bịnh rất tự nhiên. Họ, người Ai cập, đã xem dân Hêbơrơ như chứng ung thư đang tràn ngập xứ sở của họ và họ rất đỗi sợ hãi dân nầy, họ đang mắc một chứng đau bịnh rất tự nhiên đó.
e. Người Ai cập bắt dân Israel "làm khó nhọc" hay rất khắc nghiệt. Người Ai cập khiến cho đời sống dân Israel "nên cay đắng". Lạ lùng thay, dân Hêbơrơ vẫn tràn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tình trạng nô lệ chẳng có hiệu lực chi cả.
2. Chiến lược 2 – Nạo thai (các câu 15-21).
a. Nạo thai không những là một sự tàn bạo rất hiện đại. Nó còn là sách lược thứ nhì trong cái túi mưu mẹo gian ác của Pharaôn kia.
b. Chẳng có ai dám chắc về "các bà mụ Hêbơrơ" có ý nghĩa gì. Có thể đây là những người Hêbơrơ hay họ phục vụ cho người Hêbơrơ. Ý thứ hai dường như thích ứng vì người Hêbơrơ không muốn giết chóc dân tộc của họ và vì cớ câu 16, 19.
c. "Siếp-ra" và "Phu-a" hai bà mụ bị đòi tới gặp Pharaôn cũng được truyền cho giống như các bà mụ khác. Pharaôn buộc họ phải giết bất kỳ một trẻ nam sơ sinh nào đang khi bà mẹ đương ở trên "bàn sinh". Một đứa gái sẽ được phép để cho sống.
d. Trong xứ sở của chúng ta ngày nay, phá thai là hợp pháp. Nhân viên phá thai đỡ đẻ rồi giết nó khi nó mới vừa lọt lòng. Pharaôn buộc các bà mụ phải làm như thế đối với các trẻ nam sơ sinh.
e. Pharaôn cho rằng với một thế hệ nam giới không còn nữa, nữ giới sẽ lấy người Ai cập làm chồng và trong vài năm dân Hêbơrơ sẽ biến thành chủng dân Ai cập.
f. Câu 17 chép: "nhưng các bà mụ kính sợ Đức Chúa Trời". Không nghi ngờ chi nữa, mấy bà mụ giữ trọn luật pháp rõ ràng đã e sợ Pharaôn. Tuy nhiên, họ "kính sợ Đức Chúa Trời" hơn vì họ "để cho các con trai sống hết".
g. Pharaôn đã nổi giận khi nhìn thấy các trẻ nam sơ sinh Hêbơrơ. Ông ta đã hỏi: "Sao các ngươi làm như vậy?" Mấy bà mụ đã đưa ra một nửa sự thực. Họ nói cho ông ta biết rằng mấy người đờn bà Hêbơrơ "mạnh khoẻ hơn", rằng họ "đã sanh nở trước khi mụ đến". Sự thực, có lẽ mấy bà mụ đã cố tình đến muộn.
h. Một lần nữa chúng ta thấy trong câu 20 rằng: "dân sự gia thêm và trở nên đông đúc". Đức Chúa Trời cũng ban thưởng cho các bà mụ vì họ biết kính sợ Ngài. Ngài "làm cho nhà họ được thạnh vượng", nghĩa là, Ngài đã ban cho họ được thêm nhiều gia đình.
3. Chiến lược 3 – Diệt chủng (câu 22).
a. Đã quyết định không cho số dân Hêbơrơ lạ lùng nầy tràn ra thêm, Pharaôn truyền lịnh cho "cả dân mình". Ông ta bảo họ: "Phàm con trai của dân Hê-bơ-rơ mới sanh, hãy liệng xuống sông; còn con gái, thì để cho sống".
b. Không nghi ngờ chi nữa, có lẽ hàng trăm hàng ngàn con trẻ nam Hêbơrơ đã chết mất dưới dòng sông Nile. Tuy nhiên, đã có một đứa trẻ mà ngay cả Pharaôn mạnh sức kia không thể giết chết được.
II. Sự ra đời của đấng cứu tinh (2.1-10).
A. Nỗi sợ của một người mẹ trong tâm trạng thất vọng (các câu 1-2).
1. Câu 1 mô tả bố mẹ của Môise là "một người trong họ Lêvi" và "con gái Lêvi". Ở các chỗ khác trong Kinh Thánh, chúng ta biết được tên của họ là Amram và Giôkêbết.
2. Amram có nghĩa là "người được tôn cao". Tên của ông nhắc tới ở các bản gia phổ khác trong Cựu ước. 6.20 chép ông đã sống tới 137 tuổi.
3. Giôkêbết có nghĩa là "tôn cao Đức Giêhôva". Bà được nhắc tới bằng tên chỉ ở 6.20 và Dân số ký 26.59.
4. Môise cũng có hai anh chị ruột. Miriam có lẽ được 8-10 tuổi khi ông ra đời. Arôn đã được ba tuổi (Xuất Êdíptô ký 7.7).
5. Họ là một gia đình tin kính. Tên tuổi của họ phản ảnh tính cách của họ trong một thời kỳ khi có nhiều người Hêbơrơ thờ lạy các thần giả dối của xứ Ai cập, bố mẹ họ rất trung tín với Đức Giêhôva. Ở giữa một xã hội thờ lạy hình tượng, đức tin được bền giữ trong một gia đình. Hỡi các bậc bố mẹ, đức tin phải được gây dựng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.
6. Hãy tưởng tượng nỗi sợ và mối lo của họ sau khi nhìn biết lịnh lạc của nhà vua, khi họ nhận biết Giôkêbết có lòng trông mong. Hãy tưởng tượng niềm vui mừng cùng nỗi kinh hãi của họ khi câu hỏi "Cái gì vậy?" được trả lời: "Ấy là một đứa trai!" Hỡi các bà mẹ, hãy suy nghĩ về việc cưu mang một đứa trẻ trong 9 tháng với sự nhìn biết nhà vua đã ra lịnh tất cả trẻ nam sơ sinh đều sẽ bị giết.
7. Câu 2 và Hêbơrơ 11.23 nói Môise là "một đứa trẻ ngộ". Công vụ Các Sứ Đồ 7.20 chép ông "người xinh tốt khác thường". Ý tưởng ở đàng sau mấy câu nầy, ấy là ông là một đứa trẻ rất khác thường hay phi thường. Hết thảy chúng ta đều biết rằng "chẳng có bà mẹ nào có một đứa con xấu xí cả". Nhưng Môise rất khác biệt và gia đình ông đều biết rõ sự khác biệt ấy.
8. Họ đem ông "giấu đi trong ba tháng". Hêbơrơ 11.23 chép: "Họ không sợ chiếu mạng vua".
9. Không nghi ngờ chi nữa, họ đã sống trong khu xóm nô lệ, ở đó các ngôi nhà làm gạch bằng bùn đâu mái vào nhau. Hãy tưởng tượng họ đang rên siết qua bóng đêm tăm tối. Hãy tưởng tượng có bao nhiêu lần chú ý buộc ông phải câm nín. Khi ông ngày càng lớn lên thêm, Giôkêbết vốn biết rõ khó mà che giấu ông được nữa.
B. Đức tin của bà mẹ có tánh thận trọng (các câu 3-4).
1. "Nhưng giấu lâu hơn nữa không được", bà mới đan một "cái rương mây". Thú vị thay, từ Hêbơrơ [ark] nầy đã được dùng ở chỗ khác khi nói tới chiếc tàu của Nôê. Hãy suy nghĩ về những điểm tương ứng với nhau!
2. Sau khi sử dụng nhiều cói hay "mây" với "chai và nhựa thông", bà làm cho nó nổi và không thấm nước. Kế đó bà lấy chiếc rương quí báu đó rồi "để đứa trẻ vào, đem thả trong đám sậy dựa mé sông". Hãy tưởng tượng xem công việc nầy thật khó nhọc là dường nào!
3. Giôkêbết sai Miriam, chị của Môise "đứng xa" nơi đó. Miriam phải đứng trông chừng chiếc rương. Điều nầy cho chúng ta biết đôi điều về đức tin của Giôkêbết. Bà tin Đức Chúa Trời sẽ can thiệp. Quí vị không sai một cô gái mới có 10 tuổi ra mé sông để coi chừng đứa em sơ sinh của nó sẽ bị cá sấu ăn thịt bao giờ.
4. Giôkêbết đã lập ra các chương trình của mình và bà đã thốt ra những lời cầu nguyện. Bà phó thác đứa con quí báu của mình cho Đức Giêhôva.
Hỡi các bậc phụ huynh, chúng ta phải làm theo y như thế. F.B. Meyer đã viết: "Có nhiều biện minh mà câu chuyện nầy đưa ra, cho bậc phụ huynh Cơ đốc phó thác con cái của họ cho Đức Chúa Trời. Người mẹ có đứa con gái đi kiếm sống giữa vòng những người lạ; người cha có đứa con trai phải rời bỏ vùng quê an bình vào sống trong thành thị náo nhiệt; bậc phụ huynh nào, là giáo sĩ, không thể nuôi dưỡng con cái mình trong công trường truyền giáo …, hay những ai trên giường hấp hối phải trao con trẻ của mình cho người lạ chăm sóc, hết thảy sẽ học được một bài học từ đức tin phó thác con cái mình vào sự tể trị của Đức Chúa Trời, một cách tuyệt đối hơn cả sông Nile làm cho chiếc rương nổi lên nữa. Đức Chúa Trời hằng sống, yêu thương và đang chăm sóc. Mau mắn và dịu dàng hơn cả sự mau lẹ và dịu dàng của Miriam, Ngài không hề nhắp mắt cũng không buồn ngủ" (Devotional Commentary on Exodus, pp.26-27).
C. Phần thưởng của một người cha có lòng trung tín (các câu 5-10).
1. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy đức tin của Giôkêbết, Ngài lắng nghe những lời cầu nguyện của họ và đã ban thưởng cho bà thật rời rộng.
2. Nhiều học giả tin "con gái của Pharaôn" là Hatshepsut, con gái của Vua Thutmose I và về sau trở thành mẹ của Vua Thutmose III, là vì vua trong thời kỳ dân Israel Xuất Ai cập.
3. Có người cho rằng vào thời điểm nầy, nàng son sẻ và dành thì giờ ra bờ sông để cầu nguyện với thần sông Nile, là thần Hapi để được hanh thông. Dù là lý do nào, Đức Chúa Trời của sự khôn ngoan đã dẫn dắt các bước chân nàng đến gần chiếc rương mây quí báu kia.
4. Nàng nói ngay lập tức: "Ấy là một đứa con của người Hêbơrơ". Thực vậy, nàng đã "động lòng thương xót".
5. Miriam tự mình khẳng định và đề nghị tìm "một người vú trong bọn đờn bà Hêbơrơ" đặng cho "đứa trẻ bú". Công Chúa đồng ý và Miriam chạy về mẹ mình với các tin tức thật tốt lành. Công Chúa bảo đem đứa trẻ về nhà và hứa trả "tiền công" cho công việc của bà. Bà ẳm lấy con mình và món tiền công đó!
6. Giôkêbết có lẽ đã giữ đứa trẻ trong 2-3 năm trời, thời gian bình thường mà mấy người nữ Hêbơrơ lo liệu cho con cái của họ. Hãy tưởng tượng xem nỗi khó khăn của bà khi "bà dẫn nó vào cho Công Chúa".
7. Công Chúa đặt tên cho ông là "Môise" có nghĩa là "vớt ra khỏi nước". Nàng nói: "Ta đã vớt nó khỏi nước".
III. Ba lẽ thật làm biến đổi cho ngày hôm nay.
A. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của sự giải cứu. Mặc dù người Hêbơrơ sống rất "nhọc nhằn" và "đời sống họ bị sự nô dịch làm cho cay đắng", dù con trẻ sơ sinh của họ bị quăng cho bầy cá sấu ăn, Đức Chúa Trời đã ở với họ. Ngài đã giữ cả thảy các lời hứa mà Ngài đã lập với họ (xem Sáng thế ký 15.13-14). Sau cùng, Ngài đã giải cứu họ. Chính Đức Chúa Trời Toàn Năng nầy, elohim của chúng ta cũng sẽ giải cứu chúng ta ra khỏi lò thử thách.
B. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của sự trớ trêu. Cho phép tôi trình cho quí vị thấy ba điểm trớ trêu có quan hệ đến phân đoạn Kinh Thánh gốc của chúng ta hôm nay.
1. Pharaôn tưởng những người nam Do thái là kẻ thù của mình, song lại là những người nữ, là những người đã bảo tồn sinh mạng của Môise. Trước tiên là mấy bà mụ, kế đó là Giôkêbết, rồi Miriam và cô Công Chúa.
2. Sông Nile bị định là chốn chết của Môise, thế nhưng dòng sông ấy đã trở thành nơi giải cứu.
3. Môise được "vớt ra khỏi" dòng sông để ông "cứu vớt" dân Israel ra khỏi Ai cập.
4. Giôsép đã nói với các anh em mình ở Sáng thế ký 50.20: "Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi". Điều chi dường như là xấu xa trong đời sống của quí vị, Đức Chúa Trời sẽ sử dụng để làm ích cho. Hãy tin cậy Ngài!
C. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời hay ban thưởng.
1. Giôkêbết không những đã cầu nguyện. Không những bà đã lập một chương trình dựa theo sự khôn khéo của con người. Bà đã lập một chương trình rất hợp lý và đã tin cậy Đức Chúa Trời vùa giúp mình. Ngài đã ban thưởng cho đức tin của bà một cách rời rộng!
2. Hãy thốt ra những lời cầu nguyện của quí vị, hãy lập chương trình của mình đi: "Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu" (Hêbơrơ 13.5).

Đaniên 1:1-21: "Đức Tin Sánh Với Tự Do"



"ĐỨC TIN SÁNH VỚI TỰ DO"
Đaniên 1.1-21
PHẦN GIỚI THIỆU. Chúng ta vừa kỷ niệm "Ngày Lễ Độc Lập"...là ngày tôn vinh sự tự do của chúng ta! Dĩ nhiên là chúng ta đang có rất nhiều quyền tự do. Tự do được tôn vinh như đặc ân lớn lao của nhân loại...trải hàng ngàn năm con người đã đánh nhau và đã dâng đời sống họ cho “tiếng gọi của tự do”! Tuy nhiên, có một thứ thậm chí còn quí báu hơn loại tự do mà chúng ta đang tôn vinh, đó là sự tự do cá nhân của chúng ta...đây là sự tự do ở ngoài tội lỗi! Đặc ân lớn lao nhất không phải là TỰ DO, mà là ĐỨC TIN!
Sự tự do của quí vị có thể bị tước đoạt, nhưng với đức tin của quí vị thì không đâu, điều nầy quí vị phải để lộ ra! "INDEPENDENCE" [độc lập] không quan trọng bằng "DEPENDENCE" [nương cậy] nơi Đức Chúa Trời!
Trong công việc của Đức Chúa Trời, mất đi những quyền tự do chắc chắn có thể trở thành mảnh đất gieo ra những cơ hội đặc biệt. Thực vậy, là Cơ đốc nhân, chúng ta đôi khi phải bằng lòng từ bỏ đi những quyền tự do của mình để phục vụ cho tha nhân trong lãnh vực đức tin. Phải chăng chúng ta đánh mất thứ chi đó khi những quyền tự do nầy bị tước đi? Không đâu, nếu chúng ta nắm giữ lấy đức tin của mình và phục vụ!
Kinh thánh dạy rằng đặc ân lớn lao của nhân loại không phải là tự do, mà là đức tin! Đức tin bị hạn chế bởi sự mất mát tự do, thực vậy, những sự hạn chế cung ứng các cơ hội đặc biệt để bày tỏ Đấng Christ ra cho một thế giới sa ngã, thế giới ấy không ở trong sự “TỰ DO” mà đang bị làm nô lệ cho tội lỗi!
I. MẤT TRỞ THÀNH ĐƯỢC! (1.1-7)
A. Những người trong hoàng gia (1.1-4)
1. Đaniên và 3 bạn của mình có lẽ thuộc về hàng quí tộc, họ có huyết thống hoàng gia.
a. So với nhiều người khác, họ có nhiều quyền tự do!
b. Họ đang có một cuộc sống mà nhiều người khác vốn trông đợi nơi họ.
2. Thậm chí Đaniên đã được định cho một ngày kia sẽ cai trị trên phần đất của người Do thái.
a. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời vốn có nhiều chương trình lớn lao hơn, tại sao phải cai trị trên một lãnh địa nhỏ là xứ Giu-đa khi Đức Chúa Trời có thể biến Đaniên thành một TÔI TỚ và khiến ông cai trị cả thế giới!?
b. Đức Chúa Trời xác định lại "sự cai trị"...theo từ vựng của Ngài, người nào "cai trị" thì phải qua "hầu việc"!
3. Đaniên hãy còn là một thanh niên...ông có thể đến rồi đi theo như ông muốn, có bất cứ thứ chi ông muốn, không một quyền tự do nào bị từ khước đối với ông...nhưng tất cả mọi điều nầy sẽ thay đổi...và trong nhiều phương thức!
a. Đaniên có thể làm rất nhiều việc cho Đức Chúa Trời và vương quốc của Ngài bằng cách hạn chế mọi quyền tự do của mình hơn là dâng chúng cho Ngài.
b. "Địa vị tôi tớ" có ý nói tới sự mất đi nhiều quyền tự do, nhưng không có nghĩa là mất đi quyền phép của Đức Chúa Trời!
4. Đột nhiên tất cả những quyền tự do của ông đều bị mất đi...ông là một thanh niên, ngay thời điểm trong đời sống ông, khi ông đang nhắm tới mọi quyền tự do đó, giờ đây ông là một nô lệ!
a. Những gì ông biết rõ là tự do, giờ đây không còn có nữa!
b. Nhưng còn về đức tin của ông nơi Đức Chúa Trời? Đây mới chỉ là phần khởi đầu để chiếu sáng nó ra mà thôi!
B. Bị hạn chế! (1.5-7)
1. Giờ đây, hạn chế là một con đường sống!
a. Ông có thể than vãn đối với việc mình bị mất nhiều quyền tự do.
b. Thình lình ông thấy mình sống trong một xã hội trần tục và tội lỗi, lúc nào cũng cặm cụi với một phần việc khó nhọc!
c. Ông không còn đến rồi đi theo ý mình muốn nữa.
2. NHƯNG...ông vẫn có nhiều cơ hội để bày tỏ ra đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời.
a. Thực vậy, trong một phương thức nào đó, những sự hạn chế của ông sẽ giúp cho ông đến con người mà ông sẽ chẳng bao giờ có cơ hội để đến với họ trước đó!
b. Tiêu điểm của ông không còn nhắm vào những quyền “tự do” nữa, mà nhắm vào các "bổn phận" của mình.
c. Không một người nào có thể tước đi quyền "tự do" tôn cao Đức Chúa Trời ra khỏi chúng ta, trừ phi chúng ta ném bỏ quyền ấy đi mà thôi!
3. Giờ đây, mọi việc thực sự là gay go, đâu là tiêu điểm của Đaniên?
a. Phải xét lại quyền tự do của ông chăng? Không!
b. Hay, tìm kiếm những cách thức để thể hiện lối sống của ông vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bất luận ông đang thấy mình sống ở đâu chăng? PHẢI!
c. Tự do không phải là mục tiêu lớn lao nhất của ông, tôn cao Đức Chúa Trời mới là mục tiêu lớn lao nhất!
4. Chúng ta sẽ làm rất nhiều việc khá hơn trong quốc gia nầy, nếu chúng ta sẽ học chính bài học ấy, chẳng phải quyền hạn của tôi là quan trọng nhất, dù con người có hoà thuận lại với Đức Chúa Trời hay chưa!
5. Những thời điểm gay go có thể mài dủa các cơ hội hầu việc Đấng Christ của chúng ta, thậm chí với ít quyền tự do nữa kìa!
MINH HOẠ. Sau khi khoai tây được thu hoạch rồi, chúng sẽ được đem phơi rồi phân loại, hầu thu được nhiều đôla nhất. Chúng được phân chia theo kích cở...lớn, vừa, nhỏ. Chỉ sau khi khoai tây được phân loại và vô bao, chúng được chở đi bằng xe tải ... đây là phương pháp mà các nhà nông chuyên trồng loại khoai Idaho sử dụng .... trừ một người! Một nhà nông không bao giờ lo phân loại khoai tây của mình trước khi đem ra chợ, và ông ta kiếm được khá nhiều tiền! Một người hàng xóm thấy kỳ kỳ, sau cùng bước qua hỏi nhà nông nầy đâu là bí quyết của ông ta!?! Ông ta đáp: "Đơn giãn thôi, tôi chỉ chất đầy thùng xe với khoai tây rồi bắt con đường gồ ghề kia mà đi xuống phố. Trong chuyến đi 8 dặm ấy, những củ khoai nhỏ luôn luôn bị chèn xuống dưới đáy thùng xe, những củ khoai cở vừa luôn luôn nằm ở giữa, còn những củ khoai lớn nhất thì nằm ở trên, do xe bị “vùng lắc”! Nếu anh muốn những củ khoai lớn nhất, hãy đưa chúng xuống con đường gồ ghề kia và chúng sẽ nổi lên trên cho xem!
6. Chưa hề có một linh hồn hư mất nào được biến đổi nhờ sự tự do cả...chính những người nam người nữ có đức tin, họ đã sử dụng từng cơ hội để hầu việc Đấng Christ, họ cũng đã kết quả trong việc tìm gặp Đấng Christ nữa!
II. ÍT THÀNH RA NHIỀU! (1.8-16)
A. Kiên quyết! (1.8)
1. Đaniên có thể chấp nhận việc mình bị mất đi nhiều quyền tự do, mà không đem đức tin của mình ra mà thoả hiệp!
a. Đaniên sẽ không làm bất cứ điều gì tỏ ra dấu hiệu cho thấy rằng ông sẽ đem Lời Đức Chúa Trời ra mà thoả hiệp ... không vì sự tự do của bất cứ ai!
b. Đaniên có thể sống trong một xã hội trần tục giống như Babylôn, nhưng không phải bằng cách sống giống như họ!
c. Có một sứ điệp quan trọng trong tấm gương Đaniên ở đây. Ông hoàn toàn bằng lòng làm theo những luật lệ bao lâu chúng không buộc ông phải đi ngược lại với Lời của Đức Chúa Trời.
2. Đaniên song hành với Lời của Đức Chúa Trời...còn chúng ta thì sao?
3. Ông có thể sống mà không có quyền tự do của mình, nhưng ông không bằng lòng sống mà không có đức tin ông đang có!
4. Hãy chú ý, ông thực hiện từng nổ lực để giữ lấy đức tin của mình còn nguyên vẹn trong khi tìm kiếm một giải pháp thích ứng để lo liệu công việc đời thường của mình!
a. Phần lớn các tín đồ sẽ nói: "Được thôi, nào, bạn phải cùng đi với họ nếu bạn muốn tấn tới trong thế gian nầy...đấy là cách hữu hiệu!"
b. hay: "Cho nên, tôi sẽ đem những việc nhỏ ra mà thoả hiệp, còn các việc lớn thì không đâu".
c. rốt lại, có phải việc ăn thức ăn từ trên bàn tiệc của Vua Babylôn là một việc lớn không? Chính Đaniên ... ông vốn biết rõ là nếu ông khởi sự thoả hiệp một ít, thì sẽ càng dễ thoả hiệp hơn cho lần sau!
B. Danh tiếng (1.9-14)
1. Thái độ của Đaniên đối với sự mất mát đã chinh phục cho ông nhiều bạn bè trong một xứ bất kỉnh nầy.
2. Đaniên tỏ ra một chương trình để bảo hộ cho mọi người – đời thường & thuộc linh mà không đem đức tin mình ra mà thoả hiệp!
a. Trong 10 ngày, lính canh chỉ đem rau và nước đến ... nếu trông ông không khá hơn những tên nô lệ khác sau thời điểm nầy, Đaniên sẽ ăn thịt đã được đem dâng cho các hình tượng!
(1. Hãy chú ý lòng tin cậy của Đaniên đặt nơi Lời của Đức Chúa Trời!
(2. Cũng hãy chú ý các quyết định của Đaniên dựa theo các mạng lịnh rõ ràng của Kinh thánh, chớ không đặt trên những sự chọn lựa cá nhân.
(3. Đaniên không bằng lòng buộc những người khác phải vâng theo Lời của Đức Chúa Trời, mà bản thân mình đã nêu gương!
(4. Nếu điều nầy tác động hay không tác động, lính canh sẽ được an toàn, vì đây chỉ là thử nghiệm trong 10 ngày thôi, nếu nó không tác động vẫn còn có thì giờ để làm cho ông mập mạnh lại trước khi ông xuất hiện trước mặt nhà vua, như vậy cũng là cách để bảo tồn mạng sống của lính canh.
b. Nhà vua sẽ không phải chịu một sự mất mát nào cả. Đaniên vẫn được sửa soạn để phục vụ và làm hết sức của mình.
c. Nhân vật duy nhứt có thể mất mát chính là Đức Chúa Trời ... và Ngài không hề mất gì cả!
3. Sự Đaniên bằng lòng chịu kém đi vì Lời của Đức Chúa Trời nói rõ ràng rằng sẽ là một lợi lớn cho ông và nhiều người khác.
MINH HOẠ: Người kia tên là Worral bị viêm khớp mãn tính ở tuổi 15. Khi ông được 45 tuổi, ông hoàn toàn bị liệt trừ một ngón tay, và ông nói được và hoàn toàn chẳng thấy đường. Nhưng, với ngón tay còn tốt kia, ông cột một sợi dây vào một máy ghi âm mà ông thường viết nhiều bài cho một tạp chí. Ông là một nhà văn, một tác giả của vài quyển sách ... và tin hay không tin, ông ấy đã sống một cuộc sống rất hạnh phúc và ảnh hưởng từ chiếc giường của mình! Sau nhiều năm trời cầu nguyện mà chẳng được chữa lành, ông đã chấp nhận tình trạng của mình và cầu xin Chúa giúp cho ông "khoanh cuộc sống theo đúng kích cở” Đức Chúa Trời đã ban cho ông! Ông xin Chúa giúp cho ông bày tỏ ra cho thế gian thấy được những gì ông có thể tấn tới trên kích cở nhỏ bé của mình. Mặc dù ông có rất ít tự do, ông đã ảnh hưởng trên hàng ngàn người với sự khôn ngoan và viết lách của mình. Đức tin luôn lớn lao hơn sự ông bị mất nhiều quyền tự do! Và, ông đã tôn vinh Đức Chúa Trời trong nhiều phương thức lớn!
4. Thái độ của ông đã làm cho ông được sự tôn trọng từ các bạn đồng tù của mình ... và họ đã làm mọi sự họ có thể để giúp cho ông sống cho Đức Chúa Trời!
a. Dù nếu thế gian không chấp nhận Lời của Đức Chúa Trời, nếu chúng ta sống đúng theo Lời ấy, họ sẽ ít nhất tôn trọng Lời của Đức Chúa Trời ... và dân sự của Đức Chúa Trời!
b. Không nghi ngờ chi nữa, báo cáo về Đaniên đã giúp nói thay cho ông.
5. Danh tiếng của Đaniên là không tì vít và vững chắc!
C. Được kính nể! (1.15-16)
1. Quí vị chú ý câu 12, Đaniên đưa ra lời yêu cầu không thích nghi với sự thờ lạy hình tượng, ông đã cầu xin bằng cách nói: "TÔI XIN ÔNG HÃY THỬ NHỮNG KẺ TÔI TỚ ÔNG..."!
a. Thái độ là điều mà đôi khi...ông không đưa ra lời lẽ tự xưng công bình, người Babylôn gian ác là dường nào và thể nào hết thảy họ sẽ đi địa ngục!
b. Ông không tôn mình lên cao trên phần còn lại của thế gian .. ông tự nhận mình là tôi tớ!
c. Loại thể hiện nầy trong sự tin kính lôi cuốn sự chú ý của thế gian ... và sự tôn trọng!
2. Có một sự khác biệt đáng chú ý giữa Đaniên và 3 bạn trẻ đối với phần còn lại: những kẻ khôn ngoan của Babylôn!
a. Lời của Đức Chúa Trời sẽ làm cho chúng ta trông khác biệt đối với thế gian.
b. Thế gian sẽ nhìn thấy những người nam người nữ có đức tin là đáng tin cậy và kiên định, vì đời sống chúng ta thực sự phản ảnh điều nầy!
c. Thế gian đang khao khát muốn tin một việc gì đó, chúng ta hãy cung ứng cho họ một việc kiên định để tin theo qua tấm gương của chúng ta, chớ không chỉ có tín điều mà thôi!
MINH HOẠ. Bày tỏ ra một Đức Chúa Trời “thực” không có gì là khó cả! Họ đang tìm cách tin theo một việc gì đó, chúng ta đang tỏ ra cho họ điều gì? Chỉ hãy nhìn vào các thứ mà thế gian đang tìm cách tin theo xem. Trong mấy tấm bảng kê ở cửa hàng, đây là một đôi dòng vắn tắt: *KHỦNG LONG KÊU GIỐNG NHƯ LOÀI NAI *NHỮNG TẤM ĐỆM BẰNG DA BÒ GIÚP CHO LOÀI BÒ SẢN XUẤT NHIỀU SỮA. *TRÊN THỰC ĐƠN CỦA MẸ CHỈ CÓ GÀ ĐẺ TRỨNG LỚN! *OANH TẠC CƠ THỜI ĐỆ II THẾ CHIẾN ĐƯỢC THẤY CÓ TRÊN MẶT TRĂNG! *PHỤ NỮ ĐẺ RA ĐỨA TRẺ 2 TUỔI. ĐỨA TRẺ BƯỚC ĐI & NÓI CHUYỆN TRONG BA NGÀY! *XƯƠNG CỐT CỦA AĐAM & ÊVA ĐƯỢC TÌM THẤY Ở Á CHÂU. ÊVA LÀ MỘT NGƯỜI SỐNG NGOÀI KHÔNG GIAN! Những Cơ đốc nhân trung tín tỏ ra điều gì cho thế gian thấy để tin theo nếu họ bộc lộ ra một việc có thực?
3. Đaniên không chịu thua, ông cũng không thực thi một chương trình nào gây nguy hiểm cho người nào chưa được cứu, ông sử dụng sự khôn ngoan trong việc sống cho Đức Chúa Trời và tỏ ra điều chi Đức Chúa Trời có thể làm trong đời sống của một người tin Chúa.
a. Người Babylôn có thể nhìn thấy bằng chính mắt của họ một sự khác biệt giữa những người tin Chúa và những kẻ không tin Chúa! Ngày nay quí vị có nghĩ người thế gian nhìn thấy như vậy không?
b. Chúng ta đánh trận vì sự tự do hay vì đức tin của chúng ta? Đaniên không có nhiều tự do, nhưng có nhiều đức tin để bước theo Đức Chúa Trời và lãnh đạo bằng tấm gương trong một xứ bất kỉnh hơn ông đã có khi sống tại thành Jerusalem!
4. Một xứ hoàn toàn tà giáo sắp sửa tiếp thu lấy một liều lượng sống cho Đức Chúa Trời là như thế nào .. và sự khác biệt mà liều lượng ấy tạo ra, mọi sự vì một vài tín hữu hiện nay có ít ỏi, nhưng có thể ban ra nhiều!
a. Người thành Babylôn nào chưa bao giờ nghe nói về Đức Chúa Trời sẽ nhận ra Đức Chúa Trời cả thể là dường nào, cái giá của sự phu tù dành cho dân sự của Đức Chúa Trời giờ đây đang tạo ra sự kiện nầy!
b. Ít sắp sửa trở thành nhiều!
5. Đaniên không chịu thua. "Cứ đi tới đi thì bạn sẽ thấy, và khi bạn tới đó rồi bạn luôn luôn thấy nhiều thêm!" .. đây là những gì Đaniên đã nói!
a. Đức Chúa Trời không hạ thấp ông vì cớ cất đi mọi quyền tự do của ông, Đức Chúa Trời đã mở ra nhiều cơ hội lớn.
b. Đaniên là nhân vật sẽ cai trị trên một nước nhỏ sẽ dấy lên cai trị một đế quốc to lớn ... tất cả là vì ông đã chấp nhận sự mất mát các quyền tự do và thay vì thế đã luyện tập đức tin của mình.
6. Ấy không phải việc mất đi sự tự do đang làm hại cho xứ sở nầy ... thực vậy, chúng ta cũng bị ám ảnh với sự "tự do" ... chúng ta nên bị ám ảnh với đức tin!
a. Trong xã hội loạn "tự do" của chúng ta, ai nấy đang xưng nhận “quyền” của họ đã bị vi phạm!
b. Còn về Cơ đốc nhân thì sao? Có phải chúng ta đang hô hào về "quyền" của chúng ta bị vi phạm?
(1. "Tôi không muốn có buổi thờ phượng hơn một tíêng đồng hồ!"
(2. "Dâng hiến cho Đức Chúa Trời hay không là quyền lựa chọn của tôi".
(3. "Không một nhà truyền đạo nào nói cho tôi biết điều chi phải làm".
(4. "Tôi không phải phục vụ..”
c. Sự ám ảnh về tự do đang giết chết xứ sở của chúng ta...những gì chúng ta cần là tập trung nhiều vào ĐỨC TIN! Đaniên đã khám phá ra, có một việc gì đó quan trọng hơn sự tự do, có thể chúng ta cũng khám phá ra như thế!
III. SỰ TIN KÍNH HÀ HƠI SỐNG! (1.17-21)
A. Thủ tục (1.18)
1. Bề ngoài cần có nơi một Cơ đốc nhân!
a. Ngày đến khi Đaniên và mấy người bạn của ông phải đối diện với sự thử nghiệm của thế gian!
b. Cơ đốc giáo không phải là một việc riêng! Cơ đốc giáo phải là một việc chung!
2. Đức Chúa Trời không yêu cầu chúng ta phải sống rất thuộc linh trước mặt nhiều Cơ đốc nhân khác và cứ để cho thế gian đoán chúng ta đang đứng ở đâu trong những vụ việc thuộc linh!
3. Có một thời điểm nào đó, hết thảy chúng ta phải đứng trước mặt những “NÊBUCÁTNẾTSA” của thế gian nầy!
a. Chúa Jêsus đã phán chúng ta không phải là "ngọn đèn đặt dưới cái thùng"!
b. Thế gian có quyền thử nghiệm chúng ta ... để xem coi chúng ta có thực tốt hơn thế gian hay không!?!
c. Nếu thế gian thử nghiệm Cơ đốc giáo hôm nay dựa theo cung cách sống của Cơ đốc nhân, họ sẽ thấy chúng ta tốt hơn, y như vậy, hay tệ hơn?
4. Đường nứt ngày càng to giữa những gì Cơ đốc nhân tin và những gì họ đang làm không tôn vinh Đức Chúa Trời! Paul Harvey đã nói: "Nếu bạn không sống đạo, bạn không tin đạo!" Ông nói đúng lắm đấy!
B. Nhìn nhận! (1.19-21)
1. Đaniên cùng mấy người bạn của ông đã thành công mỹ mãn!
a. Sự khác biệt giữa họ và hạng người khôn ngoan của đời nầy là sống dại dột!
b. Có một sự công nhận ngay lập tức bởi Vua Babylôn đối với sự khác biệt giữa các tín đồ nầy và những kẻ không tin! Đây vẫn còn là trường hợp hôm nay?
2. Nhà vua đưa họ vào sự phục vụ ... ông ta biết đây là hạng người mà quí vị phải trông mong luôn! Có phải đây là thái độ mà thế gian đối với Cơ đốc nhân ngày nay không?
a. Thái độ ấy phải có đối với chúng ta!
b. Sống "thành thật" đòi hỏi bông trái thật nhìn thấy được!
MINH HỌA. Nếu quí vị nhìn vào từ ngữ "SINCERE" [THÀNH THẬT] trong quyển tự điển, quí vị sẽ thấy rằng chữ nầy ra từ hai chữ La tinh: "SINE" và "CERE" có nghĩa là “KHÔNG CÓ SÁP”. Cách đây nhiều năm, một người thợ gốm thường đóng ấn hay tem của mình lên một chiếc bình làm trọn vẹn với dòng chữ: "SINE CERE". Dòng chữ nầy có ý nói rằng theo tri thức của anh ta thì chẳng có tì vít gì trong công đoạn làm ra chiếc bình đó. Nếu người thợ gốm làm nứt chiếc bình, ông ta phải cẩn thận trám lại chiếc bình bị nứt bằng cách trám sáp ở chỗ nứt để đóng ấn lên nó, khi ấy ông ta sẽ quan sát chiếc bình, nhưng trong trường hợp nầy, chiếc bình không xứng đáng với con tem "SINE CERE" nữa! Đây vẫn còn là điều mà Đức Chúa Trời và thế gian đang tìm kiếm, quí vị có phải là tốt nhứt chưa?
3. Trong từng phương thức mà con người được thử nghiệm, Đaniên cùng mấy người bạn của mình đã trội hơn các tiêu chuẩn của thế gian! ... thực vậy, Nêbucátnếtsa đã thấy họ "10 lần tốt hơn" thế gian! Điều nầy có thực đối với chúng ta chưa?
4. Quí vị sẽ thấy câu cuối cùng nói rất đơn giãn rằng: "Vậy, Đa-ni-ên cứ ở đó cho đến năm đầu đời vua Si-ru".
a. Thế là đã 66 năm sau biến cố của chương nầy!
b. Đối với Đaniên, thua thiệt những sự tự do trong hơn 66 năm đã không ngăn trở ông không hết lòng phục vụ cho cả Đức Chúa Trời và xứ sở của ông, thậm chí cho một quốc gia không phải là một quốc gia có đức tin nữa!
c. Đối với toàn bộ đời sống ông, ông đã mất hết quyền tự do mà hầu hết chúng ta đều than vãn hay có lẽ chúng ta sẽ cay đắng hơn đối với các sự mất mát đó...nhưng đức tin của Đaniên không hề chao đảo, đức tin ấy còn quan trọng rất nhiều đối với ông hơn cả những sự tự do kia nữa. Còn chúng ta thì sao?
5. Điều tệ hại mất đi sự tự do không phải là sự tự do mà chúng ta thường hay ấp ủ. Sự tự do ấy phải là sự tự do phục vụ Đức Chúa Trời và tha nhân! Đây là sự tự do không thể bị tước đoạt, sự tự do ấy có thể được chúng ta làm cho rộng thêm ra mà thôi! Nếu Đaniên có thể ấp ủ đức tin của mình trên cả những quyền tự do của ông, thì chúng ta cũng phải như vậy!
a. Thay vì sự áp bức ... Đaniên đã tìm được cơ hội!
b. Thay vì phu tù ... Đaniên đã tìm được sự thương xót!
c. Thay vì những hạn chế ... Đaniên đã tìm được sự công bình!
d. Thay vì nô lệ ... Đaniên đã tìm được địa vị tôi tớ!
PHẦN KẾT LUẬN. Đaniên đã mất vương miện, tổ quốc, thậm chí tiền bạc của mình...tuy nhiên ông đã kiếm được rất nhiều trong đức tin hơn là ông bị mất các quyền tự do! Quí vị cũng một thể ấy! Đức tin nơi Đức Chúa Trời sẽ thắng hơn bất kỳ một sự mất mát tự do nào, những sự mất mát ấy có thể kiếm được khi chúng ta phát triển một tấm lòng của hạng tôi tớ và tin cậy nơi Đức Chúa Trời!

Đaniên 2:1-49; "Đức Tin Sánh Với hư Cấu"



"ĐỨC TIN SÁNH VỚI HƯ CẤU!"
Đaniên 2.1-49
PHẦN GIỚI THIỆU: Xã hội chúng ta đang mong muốn đạt tới việc tin tưởng một điều gì đó một lần nữa. Trong khi mong muốn như thế nầy là rất tốt theo một chiều hướng nào đó, đối với nhiều người Chiêm Tinh và những sự dạy về Kỷ Nguyên Mới đã trở thành loại sở thích rất đậm nét. Chúng ta có những phu nhân Tổng Thống đang tìm tư vấn với những môi giới, đồng cốt trên mạng, những sách báo Kỷ Nguyên Mới thuộc về loại bán chạy nhất trên thị trường, và nhiều nhiều người nữa đang hướng vào những điều thần bí! Chúng ta lấy làm mệt mõi về loại tiếng “lạ” nầy, chúng chẳng hiến cho điều chi khác hơn là hư cấu!
MINH HỌA: Khi Barbara Bush là vợ và là phó Tổng Thống George Bush, người ta nói cho bà biết vì cả hai, chồng bà và bà đều là những người có cung song sinh, họ không nên lấy nhau! Bà nói, bà không biết phải làm gì về sự kiện nầy cho đến sau 43 năm sống chung vợ chồng! Phước cho bà vì trò đùa ở lời khuyên dại dột kia!
Không may, khi chúng ta đến gần với thiên niên kỷ kế tiếp, chúng ta sẽ thấy thậm chí một sở thích còn lớn lao hơn trong sự thờ lạy hình tượng và những điều thần bí. Đời sống của con người vốn trống rỗng và họ đang tìm kiếm hư cấu thay vì đức tin!
MINH HỌA: Trong thời gian 11 năm gần đây, tỉ lệ những người lớn nói họ đã ở trong sự đụng chạm với người chết đã tăng từ 27% đến 42%. Gần 20 triệu người Mỹ giờ đây hay nói tới những kinh nghiệm thần bí, kể cả sự chữa lành. (Psychology Today. January 1989 Issue. T. George Harris)
Cái điều đáng ngạc nhiên là hạng người thông minh, họ hay chế nhạo ý tưởng Chúa Jêsus là Con của Đức Chúa Trời, là Đấng đã chịu chết vì tội lỗi của họ, họ sẽ tin theo một kẻ nào đó lạ lùng, là kẻ hiến cho họ có được cái chạm với một người bà con đã quá cố!
Kinh Thánh dạy chúng ta rằng chúng ta cần phải có đức tin nơi một mình Đức Chúa Trời! Chúng ta có việc thật để hiến cho thế gian!
I. TÂM THẦN BỐI RỐI! 2.1-16
A. Bị bối rối! (2.1)
1. Khi ấy nhằm vào năm thứ hai đời trị vì của Nêbucátnếtsa ... Ông ta bồn chồn điều gì đến nỗi tâm thần ông ta bối rối đến độ như thế chứ?
a. Thông lệ của một tân vương là sai binh lính của mình ra vùng ngoài vương quốc, dọa dẫm những ai ở dưới quyền cai trị của mình, và thu lấy các thứ thuế đem về cho ông ta từ các thần dân bị nô dịch để bảo đảm chắc chắn cho căn cứ quyền lực của mình.
b. Trong năm nầy, ông ta đã sai một lực lượng đến Ashkelon, một thành phố của người Philitin ở gần thành Jerusalem để làm cho người ta biết oai của mình ... thành phố đã không nhân nhượng kháng cự và Nêbucátnếtsa đã để cho quân đội mình đánh trận trong nhiều tháng trời mong đoạt được chiến thắng! Nếu ông ta thua trận, toàn bộ sự trị vì của ông ta sẽ lui đi vì các tỉnh thành khác chắc chắn cũng sẽ khởi sự nổi loạn luôn nữa. Đây có thể là lý do tại sao ông ta không thể ngủ được, việc nầy phải mất nhiều tháng trời ổn định và chờ đợi chiến thắng, và toàn bộ sự trị vì của ông ta trong tương lai đang đặt trên các binh đoàn thắng trận để tỏ ra oai lực của ông ta trước tiên!
c. Vì lẽ đó, chắc chắn ông ta đang suy nghĩ về tương lai của mình ... và tương lai của Babylôn là một đế quốc trên thế gian ... điều nầy đề ra bối cảnh cho sự trợ giúp của Đaniên!
d. Thường thì đây là trường hợp, khi chúng ta lo toan và sợ hãi, chúng ta không thể ngủ được, và những cơn ác mộng, chiêm bao có thể xảy đến!
2. Ông ta không thể ngủ được vì toàn bộ sự trị vì của ông ta đã đến từ thế lực của con người ... chính các binh đoàn của ông và sự thành công của họ sẽ quyết định địa vị của ông trong lịch sử. Khác biệt dường bao với đời sống của Đaniên, sự trông cậy của người đặt nơi Đức Chúa Trời, chớ không đặt nơi con người!
a. Con người không có Đức Chúa Trời chẳng có hy vọng gì về tương lai!
b. Không có Đức Chúa Trời, chúng ta chỉ là loài thú vật đang chờ chết mà thôi, chẳng có một chỗ nào để đi hết!
c. Cho nên, không có gì phải ngạc nhiên khi người nào chẳng có đức tin nơi Đức Chúa Trời tìm gặp đời sống của họ rung chuyển với hết lo lắng nầy đến sợ hãi khác!
3. Với nhiều, nhiều áp lực trong thời buổi nầy, người ta đang hướng vào đủ thứ trò huyền bí để tìm kiếm hy vọng và bình an. Họ là những linh hồn luôn bối rối đang hướng tới loại tâm thần không ổn định!
B. Các nhà tư vấn!? (2.2-11)
1. Nhà vua triệu các nhà "tư vấn" của mình đến – những nhà thần bí!
a. Những người nầy cũng được gọi là chuyên gia trong lãnh vực siêu nhiên, họ có hệ thống phát triển để thực thi mánh khóe của họ!
b. Từ những đào bới của khoa khảo cổ, chúng ta đã tìm được những bản chép về một số "sách" nầy mà các thầy bói trong triều đình đã sử dụng. Họ có những quyển sách thật to ghi lại tư liệu lịch sử và mọi việc đã xảy ra từng sự cố, thế rồi khi nhà vua có một loại chiêm bao, họ sẽ lấy điềm chiêm bao dõi theo việc gì phù hợp với quá khứ tương ứng với điềm chiêm bao và bởi cách sử dụng thông tin trên những gì đã xảy ra sau biến cố lịch sử ấy, họ có thể đưa ra một số lời tiên đoán có cơ sở những điều xảy ra căn cứ trên điềm chiêm bao mới!
c. Vì thế, chẳng có gì là "thần bí" cả, đấy chỉ là việc đoán giỏi căn cứ theo những điểm khả thi và mẫu mực của quá khứ … hoặc theo dữ liệu "tổng quát" có thể áp dụng cho ai đó, biến cố nào đó gần gũi, giống như các chiêm tinh gia ngày nay đang làm vậy! Những trang web về chiêm tinh, tử vi đều có một cơ sở dữ liệu thật rộng lớn chắc chắn với loại thông tin nầy để đưa ra "những lời tiên đoán" có thể đôi lúc tạo ra nhiều ngạc nhiên!
d. Tất nhiên, có một cái chốt để làm suông sẻ một việc, bạn phải biết điềm chiêm bao hầu cho lần theo những quyển sách để tìm một biến cố tương tự rồi tiên đoán kết quả! ... một việc gì đó trên cơ hội nầy Nêbucátnếtsa đã chọn không giao cho họ!
2. Nhà vua thực sự bối rối lắm, và không nghi ngờ chi nữa, tận đáy lòng ông vốn biết rõ những gã nầy chỉ là những gã đoán mò hay nhất mà thôi. Ông muốn điều gì đó khác hơn là đoán mò, thực sự ông muốn biết rõ từ lãnh vực siêu nhiên điều chi đã có trong tương lai của ông ta.
a. Những nhà chiêm tinh đã sẵn sàng để thực hiện phần việc của họ, họ nịnh đỡ nhà vua và rồi yêu cầu muốn biết điềm chiêm bao của ông hầu cho họ có thể giải thích đúng mức nó cho ông ta nghe.
b. Nhà vua muốn biết điều chi mới mẻ lần nầy, ông "quyết chắc" rằng ông sẽ không nói cho họ biết điềm chiêm bao! Ông muốn họ phải nói ra điềm chiêm bao và sự giải thích, ông muốn và cần nghe điều chi đó có thật và chắc chắn, chớ chẳng phải là hư cấu nữa!
c. Trong tâm trạng vỡ mộng và nỗi sợ hãi ấy, ông muốn điều chi đó phải hơn cả hư cấu kìa, ông muốn một việc gì đó để tin theo, nó phải có thật và thuộc lãnh vực đức tin!
3. Mãi cho tới bấy giờ, những nhà thần bí nầy cứ lui cui với một đời sống quá đầy đủ, mọi sự hư cấu và dối trá họ đã nói cũng góp phần cho họ mạnh giỏi, nhưng bây giờ nhà vua yêu cầu một việc quá khó cho họ không thể đưa ra một sự đánh lừa rồi thoải mái với nó được. Chẳng chóng thì chầy, hư cấu và dối trá sẽ bị lộ diện!
MINH HỌA: Bốn học sinh trung học đến lớp muộn một ngày kia. Chúng vào lớp rồi nghiêm trang nói với giáo viên rằng chúng bị xẹp lốp xe. Vị giáo viên tỏ vẻ thông cảm, mĩm cười, rồi nói cho chúng biết chúng đi học muộn là xấu lắm vì chúng đã quên làm bài tập quan trọng sáng nay. Nhưng bà bằng lòng để cho chúng làm lại. Bà trao cho chúng một tờ giấy, một cây viết chì, rồi bắt mỗi đứa ra mỗi góc phòng. Khi ấy, bà bảo chúng sẽ vượt qua nếu chúng có thể trả lời đúng chỉ một câu hỏi ... câu hỏi là: "Cái lốp nào bị xẹp?" Chúng đã bị kết tội rồi!!!
4. Chẳng có mưu mẹo gì cho loại thắc mắc nầy cả, trong khi họ tập trung lại lo đoán chừng cách giải thích và đưa ra những câu trả lời chung chung sao cho phù hợp với bất kỳ tình huống nào, không một người nào có thể nói cho nhà vua biết ông đã thấy cái gì trong điềm chiêm bao của ông hết!
a. Họ đáp rằng chẳng có vua nào từng đưa ra một việc như thế trước đây ... nhà vua đã làm khó cho họ không sao dối gạt được nữa!
b. Họ nói rằng cái điều yêu cầu họ quả là rất khó!!! (2.11)
c. Chỉ có các thần mới có thể thực thi điều mà nhà vua yêu cầu, và các thần của họ lại không sẵn sàng! (2.11b)
5. Những vua rất mệt mõi đối với hư cấu, ông ta sợ hãi và lo lắng, ông ta cần phải tin vào một việc gì đó có thật, một Đức Chúa Trời chơn thật với quyền phép thực sự!
C. Bị xét đoán! (2.12-16)
1. Nhà vua nổi giận dữ! Ông phát ốm vì hy vọng trống không, vì hư cấu thay vì đức tin! Trong cơn khủng hoảng, những nhà thần bí của ông không thể hiến cho một hy vọng thực sự nào hết!
a. Ông ra lịnh giết hết thảy "những bác sĩ"!
b. Không may thay, mạng lịnh bao gồm cả Đaniên và ba bạn của ông!
2. Đấy là thời điểm cho Đức Chúa Trời tiến tới trước và chứng tỏ đức tin thực ở giữa tình trạng vô vọng và hư cấu, thế là Đaniên bước tới!
3. Tin là một từ ngữ có tác động rất mạnh! Hãy chú ý xem Đaniên bình tỉnh là dường nào, ông cẩn thận với sự tiếp cận của mình là bao, không giống như nhà vua đang sốc nổi, Đaniên vốn dĩ có lòng tin cậy và cẩn thận, đức tin ông rất vững vàng!
a. Ngay ở giữa án tử hình, đức tin của Đaniên giữ cho ông được bình tịnh!
b. Ai nấy đang chạy quanh hoảng loạn, nhưng đức tin đang tể trị thời thế đó!
MINH HỌA: Sholem Asch trong quyển sách của ông với đề tựa là "Kiddush Ha-Shem" thuật lại một sộ cố đã xảy ra trong cuộc tàn sát khủng khiếp người Do thái ở Ba Lan thuộc Nga vào thế kỷ thứ 17. Những người đàn ông, đàn bà và trẻ con đều bị giết; nhiều gia đình bị phân tán và hủy diệt. Chỉ có sự chết dường năng động mà thôi. Một người sống sót đang đi dạo trên đường phố trong thị trấn bị hoang tàn và hủy diệt, đang ra sức tìm hiểu sự việc. Khi ông ta đi ngang qua khu chợ, ông nhìn thấy những người buôn bán với lều rạp của họ đã được dựng lên rồi, họ bán đồ ăn và quần áo. Trong một cái sạp, cụ già Do thái kia đang ngồi trong đống rác. Việc lạ lùng ở chỗ cái sạp của ông ta hoàn toàn trống không, chẳng có đồ ăn hay quần áo chi hết, tuyệt đối chẳng có gì để bán. Và ông cụ ngồi ở đó! Trong sự kinh ngạc, kẻ sống sót kia đi tới gặp ông cụ rồi hỏi: "Sao cái sạp của ông trống không, vậy thì ông cụ bán cái gì mới được?" Ông cụ Do thái kia xây lại nhìn người nầy với một nụ cười héo hắt rồi từ từ nói: "Ta bán đức tin, Ta bán đức tin!" Khi mọi sự khác không còn nữa, đức tin vẫn có thể thường gặp được! Ai nấy đều có chút đức tin!
4. Đaniên không hỏi nhà vua về điềm chiêm bao, thay vì thế mọi sự ông yêu cầu là thời gian!
a. Đây là sự cầu xin hợp lý, một lời cầu xin mà nhà vua chắc chắn sẽ ban cho.
b. Nhà vua đang muốn tìm hiểu không biết có cái gì thật để tin theo hay không, vì cớ nầy ông có thể bằng lòng chờ một chút, ông không bằng lòng cung ứng thời gian cho những kẻ trì hoãn để rồi cung ứng cho ông một hư cấu!
5. Tất cả sự cứu rỗi của những thầy bác sĩ đều bám vào đức tin của Đaniên!
a. Điều nầy cũng rất thực với thế gian ngày hôm nay nữa, ấy chẳng phải sự khôn ngoan của con người đang giữ cho địa cầu xoay quanh, chính niềm tin của dân sự Đức Chúa Trời và hoạt động của Đức Chúa Trời một cách siêu nhiên đang giữ cho thế giới nầy vận hành!
b. Nếu chẳng phải vì Hội Thánh, thế gian nầy sẽ rơi vào đủ loại hư cấu và thần bí, chúng ta có chìa khóa cho sự cứu rỗi, ấy là đức tin nơi Đấng Christ!
II. HẠNG TÔI TỚ BIẾT TIN CẬY! (2.17-30)
A. Thách thức! (2.17-18)
1. Hãy lưu ý việc đầu tiên Đaniên lo làm, ông tập trung bạn bè tin kính lại để chia sẻ gánh nặng rồi yêu cầu họ cầu nguyện!
a. Họ không chạy đến với những quyển sách thần bí đâu, họ đến với Đức Chúa Trời!
b. Đaniên đã hứa với nhà vua một câu trả lời trước khi ông có một câu trả lời! ... Điều nầy vận dụng lấy đức tin!
c. Cái gì khó cho con người thì lại dễ với Đức Chúa Trời!
2. Ở một cấp độ nào đó, thế gian sẽ thử thách chúng ta và cũng thử thách đức tin của chúng ta nữa. Họ đang ra sức muốn nhìn thấy không biết điều đó có thực chăng!?! Chúng ta có thể tin Đức Chúa Trời giúp chúng ta làm được việc khó khi thấy là cần thiết?
a. Đôi khi rất cần thiết khi bước ra ngoài lề để chờ đợi Đức Chúa Trời và đức tin!
b. Có phải chúng ta thực sự tin cậy rằng đức tin của chúng ta còn tốt hơn mọi hư cấu của đời nầy không?
B. Tin cậy! (2.19-24)
1. Suốt cả đêm, Đức Chúa Trời ban cho Đaniên cả hai: điềm chiêm bao và sự lý giải!
a. Lòng tin cậy của Đaniên nơi Đức Chúa Trời không phải là không đúng chỗ!
b. Đức Chúa Trời là thành tín với các tôi tớ Ngài, những ai biết tin cậy Ngài và tự đặt mình vào vòng lửa ấy!
c. Sự Đaniên ăn ở với Đức Chúa Trời ưu tiên cho điều nầy là chắc chắn, Đức Chúa Trời có thể tin tưởng ông, đây cũng là một phần của đức tin, sự sống của chúng ta đáng cho Đức Chúa Trời sử dụng!
2. Đaniên thức giấc và làm một việc duy nhứt mà một người nên làm khi Đức Chúa Trời tỏ ra sự siêu nhiên ... ông phá ra trong sự ngợi khen Đức Chúa Trời!
a. Thực vậy, các câu 20-23 là một bài thánh ca được viết ra bởi Đaniên, một bài thánh ngợi khen và cảm tạ.
b. Đaniên thậm chí chẳng đoán chi hết về những gì ông lãnh hội từ Đức Chúa Trời có phải là việc thật hay không, ông lãnh hội với lòng tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã ban cho ông những gì ông có cần.
c. Khi Đức Chúa Trời gửi đến một câu trả lời, ông xem trọng câu trả lời khi nhận lãnh nó!
3. Một số người trong chúng ta sẽ đứng suốt đêm lấy làm lạ: "Chiêm bao nầy có thực sự đúng hay chỉ là sự tưởng tượng của tôi?"
4. Mối quan hệ của Đaniên với Đức Chúa Trời mỹ mãn đến nỗi ông không sao nói khác đi từ chính điềm chiêm bao của mình và những gì đến từ Đức Chúa Trời.
5. Ông không để phí mất một giây nào trong buổi tối để lo đoán những gì Đức Chúa Trời đã ban cho ông, ông sử dụng thì giờ cho việc ngợi khen Đức Chúa Trời.
C. Truyền đạt! (2.25-30)
1. Hãy chú ý ai tìm cách cướp đi sự nổi bật ở đây. Ariốc đưa Đaniên vào rồi cho là đã "tìm thấy" người giúp đỡ cho nhà vua!
a. Thậm chí ông ta không nhắc tới tên của Đaniên nữa!
b. Chắc chắn ông ta hy vọng rằng nếu xong việc nầy, nhà vua sẽ ban thưởng cho ông ta vì đã tìm ra giải pháp cho vấn đề của nhà vua.
c. Không có gì phải ngạc nhiên khi ông ta bằng lòng giúp đỡ Đaniên, đây là cơ hội để kiếm được sự ưu ái của nhà vua! Ông ta phải có lòng tin nơi Đaniên mới dám nắm lấy cơ hội nầy!
2. Đaniên đã được sửa soạn để trả lời vì cớ đức tin ông đặt nơi Đức Chúa Trời.
a. Hãy chú ý Đaniên chẳng lấy gì làm cho mình ra siêu đẳng hết (xem 2.27)
b. Người thực sự thuộc linh không lôi kéo ai chú ý đến kỷ năng thuộc linh của chính họ, họ sẽ luôn luôn hướng sự chú ý vào Đức Chúa Trời, chớ không vào chính mình họ!
c. Sở thích của Đaniên đặt vào việc chỉ ra Đức Chúa Trời là Đấng duy nhứt tỏ ra những điều kín nhiệm, không một hình tượng nào có thể làm được điều nầy!
3. Đức Chúa Trời đang tìm cách đưa Nêbucátnếtsa và Babylôn đến với lẽ thật, Đức Chúa Trời luôn luôn ra sức tìm kiếm kẻ bị mất!
4. Đaniên giải thích cả hai lý do cho sự mất ngủ của Nêbucátnếtsa trong đêm đó, và điềm chiêm bao ông ta đã có nữa! (2.29)
a. Đức Chúa Trời vốn nhìn biết rõ ràng tấm lòng và những sự phấn đấu của hạng tội nhân!
b. Đức Chúa Trời còn bằng lòng sai phái những người nam người nữ có đức tin đến với họ bằng một sứ điệp. Thắc mắc duy nhứt là có phải chúng ta bằng lòng ra đi và rao giảng đức tin nầy không?
c. Nếu Đaniên chưa được sửa soạn để nói đến Đức Chúa Trời, tất cả thứ dân nầy đều sẽ bị hư mất!
5. Đaniên giải thích rằng Đức Chúa Trời đã tỏ ra sự hiện thấy cho ông không phải vì ông có gì hơn bất kỳ ai khác, song để cho nhà vua đạt tới mức nhìn biết Đức Chúa Trời chơn thật!
a. Điều nầy rất thực cho chúng ta ngày hôm nay, phước hạnh của Đức Chúa Trời giáng trên chúng ta và sự hiểu biết của chúng ta về Ngài không được ban ra để chúng ta có thể khoe khoang hay có gì hơn những người khác, sở dĩ như thế là để đem sự hiểu biết Đức Chúa Trời đến cho kẻ bị mất!
b. Công việc của chúng ta là truyền đạt những gì Đức Chúa Trời đang ra sức nói cho kẻ bị mất biết rằng có một Đức Chúa Trời ở trên trời, Ngài là Đấng biết rõ mọi sự, và Ngài muốn có một mối quan hệ với chúng ta qua Đấng Christ.
III. SỰ CỨU RỖI CỦA NGÀY MAI! (2.31-49)
A. Các nước! (2.31-43)
1. Không giống với các nhà chiêm tinh thường cung ứng loại sứ điệp mập mờ và chung chung, Đaniên hoàn toàn nói đặc biệt đến những gì là chương trình của Đức Chúa Trời dành cho tương lai của nhân loại!
a. Cái đầu bằng vàng là Nêbucátnếtsa và đế quốc Babylôn.
b. Cái ngực bằng bạc, hai cánh tay bằng bạc là đế quốc Mêđi Batư, đế quốc nầy sẽ đến sau khi Nêbucátnếtsa đã qua đi, đây là sứ điệp mà ông tìm thấy trong đó sự hy vọng, có nghĩa là ông sẽ sống và trị vì thành công suốt đời. Đây là vấn đề đã khiến cho ông phải sợ hãi ở chỗ thứ nhứt, Đức Chúa Trời ở đây quyết chắc với ông về địa vị của ông trong cõi lịch sử.
c. Cái bụng và hông bằng đồng sẽ là đế quốc Hylạp.
d. Hai chân bằng đồng sẽ là đế quốc Lamã phía Tây và phía Đông, biểu tượng bằng sắt thậm chí được loan báo trước hàng trăm năm!
e. Hai bàn chơn và các ngón chơn bằng sắt/đất sét tiêu biểu cho thì tương lai khi các yếu tố của đế quốc Lamã suy sụp vẫn sẽ còn ở chung quanh, nhưng các nước hay quốc gia chỉ được nối kết với nhau cách lỏng lẻo – biểu tượng đất sét. Không còn gắn bó như dưới thời đế quốc Lamã, nhưng có những yếu tố của nó hãy còn trong đó (tình trạng các nước hôm nay!)
f. Ở chặng cuối nầy của lịch sử, một hòn đá thật to bị cắt ra bởi bàn tay con người sẽ đánh vào hình tượng nầy và mọi đế quốc sẽ biến mất và hòn đá ấy sẽ đầy dẫy khắp cả đất. Vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ đến trong sự đầy dẫy của nó và thủ tiêu hết mọi nước khác vì ích cho! (Điều nầy sẽ xảy đến, nhưng chúng ta đang ở trong thời điểm phần cuối cùng của các ngón chơn nửa bằng sắt nửa bằng đất sét, vì vậy điều nầy sẽ xảy đến bất cứ ngày giờ nào!)
2. Một thời gian ngắn trước cái chết của Đaniên, ông đã nhìn thấy đế quốc thứ hai trong các đế quốc nầy đã bước vào hiện thực, đế quốc Mêđi Batư, nhưng ông đã nói trước thật chính xác đế quốc Hylạp và Lamã và thời kỳ chúng ta đang sinh sống trong lúc bây giờ!
a. Bạn sẽ lưu ý rằng những ngón chơn bằng sắt và đất sét là chặng sau cùng của lịch sử con người trước khi Đức Chúa Trời dựng lên vương quốc thiên hi niên!
b. Điều nầy có ý nói sẽ chẳng có một vương quốc nào khác đi qua những gì chúng ta hiện đang kinh nghiệm trong thế gian. Satan sẽ thực hiện một nổ lực, song nổ lực ấy sẽ trở thành lời hoan hô sau cùng dành cho hắn và thế gian nầy. Đấng Christ sẽ chinh phục và cai trị, trị vì trong 1.000 năm!
c. Hòn đá nầy không được cắt bởi tay người ta đập mạnh vào bức tượng mà chẳng có một lời cảnh báo, Đấng Christ sẽ đến bất kỳ ngày giờ nào ... bạn hiện sẵn sàng chưa?
3. Không phải ai nói: "Lạy Chúa, lạy Chúa!" đều sẽ trở thành một chi thể trong vương quốc của Ngài đâu!
a. Đây là mạng lịnh: chúng ta phải sống một đời sống thánh khiết ở trước mặt Chúa.
b. Ngài sẽ tái lâm để đón một cô dâu không tì vít, chớ không đón một cô dâu bẫn thỉu đâu!
c. Nếu Ngài đến ngay hôm nay, bạn có sẵn sàng chưa?
4. Nếu sự hiện thấy và sự giải thích của Đaniên chính xác 100%, thế thì phần còn lại thì sao!? SỰ VIỆC SẼ XẢY RA!
5. Từng vương quốc sẽ bớt hào nhoáng đi, nhưng nhiều quyền lực hơn, cho thấy bởi sự thay đổi của các thứ kim loại, và mỗi vương quốc sẽ còn kéo dài hơn nữa!
a. Những vị vua quân chủ giống như Nêbucátnếtsa có thể gây dựng những đế quốc giàu sụ vinh hiển, nhưng họ không kéo dài được ... đây là trường hợp với Babylôn.
b. Khi từng đế quốc đến, cái nầy kế cái kia, mỗi đế quốc ít nương vào một cá nhân và đã đến để chia sẻ quyền lực với nhiều người, vì thế ít vinh hiển giống như vàng đổi thành sắt, và rồi sắt thành đất sét.
c. Sắt và đất sét cuối cùng chỉ ra chế độ dân chủ, không vinh quang nhiều cho bất cứ cá nhân nào, và chỉ có một sự nối kết lỏng lẻo giữa từng quốc gia hay từng dân tộc.
d. Thể chế dân chủ có một khuynh hướng kéo dài hơn các chế độ độc tài, và đây là trường hợp với lịch sử của các nước. Babylôn đã sinh tồn ngắn ngủi trong vai trò một đế quốc, đế quốc Hylạp kéo dài hơn, đế quốc Lamã còn dài hơn nữa ... và chúng ta đã có toàn bộ lịch sử lâu dài giờ đây với đế quốc Lamã phục hưng bởi các quốc gia bằng sắt và đất sét.
e. Nhưng sẽ có một đích cuối cùng ... và thình lình! Đấng Christ sẽ đến ("Hòn Đá của mọi thời đại") và đặt một dấu chấm hết cho nhà cầm quyền con người và Ngài sẽ cai trị và tể trị, hết thảy các thánh đồ Ngài với Ngài!
f. Điều nầy có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào trở đi kể từ bây giờ!
B. Phần kết luận! (2.44-49)
1. Lịch sử đang chuyển tới mức cuối mà Đức Chúa Trời đã ấn định, không phải điều mà những nhà thần bí hoặc những chiêm tinh gia nói cho chúng ta biết đâu!
2. Đến cuối cùng, chẳng phải kẻ nào tin theo hư cấu sẽ được minh chứng là đúng đâu, đấy sẽ là những ai đặt lòng tin cậy và đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời.
3. Đaniên nói điềm chiêm bao là THẬT, và ĐÁNG TIN CẬY!
a. Bạn có thể trông cậy vào đó!
b. Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị, chớ không phải những khẩu súng phòng không hay vũ trụ đâu!
4. Nêbucátnếtsa bỏ sót một điểm chính!
a. Hãy chú ý ông ta ngợi khen Đaniên và chỉ nói rằng Đức Chúa Trời của Đaniên thì tốt hơn các thần khác, ông chỉ vui sướng khi nhìn biết cuộc sống trong hiện tại của ông ta được bảo đảm vì vậy ông ta không sửa soạn để lìa bỏ các thần khác của mình, chỉ thêm Đức Chúa Trời của Đaniên vào bảng danh sách của ông ta mà thôi!
b. Nói cách khác, ông ta bằng lòng công nhận sự tồn tại và quyền phép của Đức Chúa Trời, nhưng không đưa ra một sự đầu phục nào đối với chỉ một mình Ngài!
c. Ngày nay điều nầy cũng rất thực dường bao với nhiều người, họ bằng lòng tin theo Đức Chúa Trời, nhưng không đầu phục hay ký thác đời sống của họ cho Ngài!
5. Nhà vua lấy làm thỏa mãn với sự hiểu biết về sự liên tục trong quyền lực hiện tại của mình, chớ không phải tương lai của thế gian, và vì thế ông ta tấm tắc khen ngợi Đaniên và chẳng chú trọng nhiều đến chính mình Đức Chúa Trời!
a. Đaniên không quên bạn hữu của mình, họ đã cầu thay cho ông, vì vậy ông trình họ với nhà vua và họ cũng được thăng cấp đến những vị trí trọng yếu của chức năng lãnh đạo.
b. Mỉa mai thay, chính đức tin của Đaniên đã cứu hết thảy nhà bác sĩ nào thực hành chẳng chi khác ngoài hư cấu! Họ mắc nợ sinh mạng họ đối với đức tin nơi Đức Chúa Trời, song giống như nhà vua, hầu hết trong số họ chắc chắn chẳng có một sự đầu phục nào đối với Đức Chúa Trời!
6. Còn bạn thì sao, giờ đây bạn nhìn biết lẽ thật về chương trình của Đức Chúa Trời, hầu hết lời tiên tri nầy đã trở thành hiện thực rồi, có phải bạn sửa soạn để đưa ra một sự cam kết với Đức Chúa Trời hay chỉ lấy làm lạ nơi lời tiên tri thôi!?
7. Đây là sự lựa chọn giữa ĐỨC TIN và HƯ CẤU, bạn sẽ theo phần nào?
PHẦN KẾT LUẬN: Đức tin sẽ luôn luôn thắng hơn hư cấu! Trong một thế giới ưa thích mê tín dị đoan, thay vì thế chúng ta kính mến Đấng Cứu Thế! Đức Chúa Trời đã tỏ ra thì tương lai, và chúng ta đang sống trong những ngày sau rốt đó! Đấng Christ sẽ tái lâm ngay, đây chẳng phải là HƯ CẤU đâu, mà là SỰ THẬT đó! Bạn sẵn sàng chưa?

Đaniên 3:1-10: "Đức Tin Sánh Với hư Cấu"



"ĐỨC TIN SÁNH VỚI HƯ CẤU!"
Đaniên 3.1-30
PHẦN GIỚI THIỆU: Như Đaniên, Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô đã khám phá từ lâu, thật không dễ thể hiện đức tin trong một xã hội chú trọng vào thế tục và chuyện giật gân. Họ đã thấy khó mà thể hiện đức tin trong một môi trường duy vật chất, ở đó áp lực thường xuyên nên phải lấy đức tin ra thỏa hiệp để thích ứng với xã hội của họ. Theo chiều hướng nầy, không có nhiều việc đã thay đổi!
Họ thấy mình chịu áp lực phải sấp mình xuống trước các thần bằng vàng và bằng bạc, luôn sống trong e sợ lý trí và quyền lực của con người, nhưng họ sẽ không đem đức tin mình ra mà thỏa hiệp! Không có nhiều việc đã thay đổi trong 2.500 năm! Các thần bằng vàng và bằng bạc có một khuôn khổ khác nhau (giấy bạc hiện nay!) nhưng chúng vẫn được thờ lạy và người ta vẫn "hy sinh" những việc quan trọng đối với họ như gia đình và đức tin của họ! Pho tượng cao 90 foot nói tới một con người mà Nêbucátnếtsa kia phải kính sợ và thờ lạy, nhiều người xem nó chẳng khác gì hơn trung tâm mọi thành tựu của con người và kinh sợ hôm nay trong mọi sự mà con người đã đạt được!
Tuy nhiên, một số người nầy đã từ chối không đem đức tin của họ đặt nơi Đức Chúa Trời ra mà thỏa hiệp để rồi phải sấp mình xuống trước các áp lực nầy từ một xã hội bất kính mà họ đã sống và làm việc trong đó, điều nầy có nghĩa là chúng ta sẽ học đòi từ tấm gương của họ!
Kinh Thánh dạy chúng ta rằng chúng ta không được sấp mình xuống trước các thần bằng vàng và bằng bạc, cũng không thờ lạy hình tượng con người! Đức tin của chúng ta nơi Đức Chúa Trời là ưu tiên một của chúng ta, và không một thỏa hiệp nào có thể thấy được giữa sự thờ phượng Đức Chúa Trời và thờ lạy con người!
Đức Chúa Trời không hứa giữ chúng ta KHỎI ngọn lửa khi chúng ta sống trung tín với Ngài, nhưng Ngài hứa ở cùng chúng ta TRONG ngọn lửa!
I. KÊU GỌI THỎA HIỆP! (3.1-7)
A. Pho tượng (3.1-3)
1. Trọng tâm của một xã hội đời thường có hai phần: TIỀN BẠC & CON NGƯỜI!
a. Nêbucátnếtsa có pho tượng người cao 90 foot được dựng lên để thờ lạy!
b. Pho tượng nầy hoàn toàn được mạ vàng.
c. Pho tượng đã được làm ra để nói tới ông, hay con người nói chung, đây là một pho tượng có ý nghĩa tiêu biểu cho sự cao trọng của con người.
2. Tất cả cấp lãnh đạo của xứ sở sẽ nhóm lại để sấp mình xuống trước pho tượng nầy rồi thờ lạy nó.
a. Việc ấy có khác gì hôm nay không? Điều nầy không đúng là những điều xã hội chúng ta vẫn đang dạy cho lứa tuổi thanh niên sao? Sấp mình xuống trước vị thần chủ nghĩa nhân văn (humanism), được mạ bằng thần vàng – tiền bạc!
b. Chúng ta khoe thế lực của con người, chúng ta thờ lạy những khả năng chúng ta làm mọi việc cho chính mình mà chẳng cần sự trợ giúp từ bất kỳ thần linh nào khác!
c. Đời sống chúng ta nhắm vào trọng tâm kiếm sao cho được thật nhiều tiền bạc!
3. Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô thấy mình đang sống trong một thế giới ở đó các áp lực buộc phải đem đức tin đặt nơi Đức Chúa Trời ra mà thỏa hiệp với những tư tưởng rất nổi bật của thế gian ... chúng ta cũng sống dưới những tình trạng y như thế!
a. Có phải những vụ việc thuộc linh đang ở phía sau công việc làm ăn và lối sống bận rộn của bạn không?
b. Cứ mãi lo toan không có thì giờ cho gia đình của bạn hay cho Đức Chúa Trời?
c. Nếu bạn trả lời "phải", thế thì bạn cũng chưa thỏa hiệp và chỉ sấp mình xuống chút đỉnh thôi sao?
4. Tình trạng thuộc linh trong xứ sở nầy sẽ góp phần như một lời cảnh báo cho rằng chúng ta đang lệch hướng trong sự thỏa hiệp, chúng ta đang thất bại không nghe sứ điệp thật nữa mà đang nghe theo các thần khác!
MINH HỌA: Như chiếc Titanic không thể chìm được đã bị chìm, hết lời cảnh báo nầy đến lời cảnh báo khác đã được gửi đến nói cho họ biết họ đang trực chỉ đến tai họa, nhưng người ta đã bất chấp sứ điệp! Thực vậy, khi một chiếc tàu gần đó gửi một thông điệp khẩn cảnh báo họ rằng họ đang đem sự an toàn của họ mà thỏa hiệp khi đi thẳng vào vùng có băng trôi, nhân viên trực radio trên chiếc Titanic đang trao đổi với Mũi Race về thời điểm các tài xế cần phải đến đón hành khách của con tàu, và loại thực đơn nào cần phải sửa soạn, mọi sự đã chiếm hết thời gian nhân viên trực radio trên chiếc Titanic không phúc đáp lại lời cảnh báo bởi thông điệp nầy. "Im đi! Tôi đang trao đổi với Mũi Race, bạn đang làm nghẽn mạch máy của tôi rồi!" Họ đã thờ lạy sự vinh hiển riêng của họ và bất chấp những lời cảnh báo...sự hủy diệt nối theo sau! Một số việc quá quan trọng đến nỗi không thỏa hiệp được!
5. Tất nhiên, khi Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô mới vừa thăng chức thành những nhà quản trị trên các tỉnh thành Babylôn, họ cũng có mặt ở đó nữa, và người ta yêu cầu họ chỉ sấp mình xuống trước pho tượng con người bằng vàng nầy!
a. Họ đã suy nghĩ: "Chúng ta biết đây chẳng là là thần linh thật, vì vậy nó chẳng có ý nghĩa gì đối với chúng ta, nếu chúng ta sấp mình xuống, việc ấy sẽ giữ chúng ta được bình an".
b. Hoặc, họ sẽ lý luận: "Nếu chúng ta sấp mình xuống trước pho tượng nầy một lần, ít nhất chúng ta sẽ có một cơ hội để chia sẻ đức tin sau đó với tất cả những con người bất kính nầy".
c. Thậm chí họ đã xưng công bình: "Nếu chúng ta không sấp mình xuống và bị giết, ai sẽ ở đây làm chứng cho tất cả những người nầy?"
6. Bất luận lối lý luận có hợp lý dường nào, bất cứ một sự sấp mình xuống sẽ trở thành một sự thỏa hiệp của đức tin đặt nơi Đức Chúa Trời!
B. Sự đầu tư bằng vàng (3.4-7)
1. Đây là một sự đầu tư về tài chính khổng lồ bởi nhà cầm quyền vào pho tượng người nầy!
a. Không có gì lạ lùng khi Nêbucátnếtsa sẽ xem nhẹ bất kỳ nổ lực nào không chịu sấp mình xuống ... nhà cầm quyền phải bỏ ngân sách ra để dựng lên pho tượng nầy!
b. Với loại đầu tư nầy, Nêbucátnếtsa đã trông mong mọi người phải biết kính sợ và đầu phục!
2. Cái giá cao đến nỗi ai nấy đều trông mong được sấp mình xuống trước pho tượng.
3. Nêbucátnếtsa đang hy vọng thực sự tất cả cấp lãnh đạo dưới quyền ông đều bị sợ hãi áp lấy khi nhìn thấy pho tượng người được làm bằng vàng nầy.
4. Pho tượng làm cho mọi người nhìn thấy nó đều lấy làm lạ nơi sự giàu có và quyền lực mà nó tiêu biểu cho.
5. Họ đã suy nghĩ: "chắc chắn chẳng có một nước ào ở trên đất có thế lực và sự giàu có dường ấy".
a. Hãy nhìn thấy bất kỳ điểm tương đồng nào ở đây với chúng ta ngày nay?
b. Mọi sự Nêbucátnếtsa đang yêu cầu là chỉ cần sấp mình xuống một chút thôi, chỉ thờ lạy "pho tượng" nầy một lần thôi.
c. Có bao nhiêu Cơ đốc nhân đã bán linh hồn họ để thờ lạy các tà thần của con người và thần vàng ngày hôm nay? Có bao nhiêu người đã thỏa hiệp những vụ việc thuộc linh quan trọng để tìm kiếm sự chú ý của hình tượng nầy...và đã hy sinh gia đình và linh hồn họ trên bàn thờ của các tà thần nầy?
6. Muốn thuận lợi, Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô sẽ phải đem đức tin của họ ra mà thỏa hiệp chỉ một chút thôi, hoặc sẽ bị thiêu!
7. Tuy nhiên, như J.H. Jowett từng nói: "cái giá thật của sự giàu có đặt nơi giá trị của chúng ta một khi chúng ta mất hết tiền bạc của mình!"
II. KÊU GỌI NHÌN VÀO MỌI HẬU QUẢ (3.8-15)
A. Bất chấp các thần! (3.8-10,12-15)
1. Mấy thuật sĩ người Babylôn, có lẽ do khó chịu từ sự thăng cấp mới đây của Đaniên và ba người bạn của ông, họ nhớ Đaniên đã thực thi những sự thần bí nầy trông giống như kẻ dại trước đây, bây giờ cũng chính những điều thần bí nầy mà đời sống của Đaniên đã được cứu chăng? Họ hoạch định một cơ hội để buộc Đaniên và mấy người bạn kia phải bị tiêu diệt.
a. Họ đã biết rõ số người có đức tin nầy sẽ không chịu thỏa hiệp đâu, thực vậy, để tiêu diệt họ số người gian ác nầy đang tìm kiếm chứng cớ nhất định nào đó!
b. Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô thậm chí không xem việc sấp mình xuống là một sự lựa chọn!
c. Trong khi họ bằng lòng phục vụ nhà vua Babylôn cách trung tín, họ sẽ không đem sự phục vụ của họ ra mà thỏa hiệp với chính mình VUA CÁC VUA, không phải vì đòi hỏi của bất kỳ một người nào mà dám đem mối quan hệ với Đức Chúa Trời ra mà thỏa hiệp!
2. Họ chỉ bất chấp mạng lịnh buộc phải sấp mình xuống, một việc bị để ý bởi nhiều người khác, họ hiện trông thấy một cơ hội để có lại được địa vị cũ như trước đây.
a. Đây chính là những người đã bị ra lịnh đem đi hành quyết trước đó và họ được cứu bởi Đaniên và ba bạn của người!
b. Rõ ràng họ là những kẻ cơ hội, họ quên mất mạng sống của họ trước đây đã được buông tha nhờ vào mấy tín đồ người Hêbơrơ nầy.
c. Thế gian là một nơi rất tàn nhẫn, ai nấy đều vì bản thân mình, và kiếm lợi lộc bằng tổn phí của người khác, đấy là luật, chẳng khác biệt gì ngày nay trong nhiều phương diện!
3. Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô sẽ chẳng có gì làm với loại lối sống hay giá trị nầy, tuy nhiên, họ rút tỉa giá trị của họ từ Nước của Đức Chúa Trời và Lời của Ngài.
a. Họ đã sống bằng những giá trị nầy, vì thế không cần phải thỏa hiệp!
b. và họ sẽ chết bởi những giá trị nầy nếu cần thiết! Một số việc là quan trọng hơn sự thăng cấp và thậm chí chính mạng sống thể xác nầy.
4. Lịch sử thừa mứa với những tấm gương nói tới những người bị hy sinh cho các thần bằng vàng và bằng bạc, và cái giá họ đã trả cho nó!
MINH HỌA: Vào năm 1923, ở khách sạn bờ biển Edgewater tại Chicago, có một buổi hộp của 9 nhà tài chính thành công nhất. Số người nầy đang có mặt ở đó là: chủ tịch công ty thép lớn nhất; chủ tịch công ty dịch vụ công cộng; chủ tịch thị trường chứng khoán Nữu Ước; một thành viên trong nội các của Tổng Thống; "con gấu" quan trọng nhất của phố Wall; chủ tịch công ty gas lớn nhất; nhà đầu cơ lúa gạo lớn nhất; trưởng dịch vụ mặt hàng độc quyền lớn nhất của thế giới; và chủ tịch ngân hàng hòa giải quốc tế. Đây là những người đã sấp mình xuống trước thần vàng và đã làm giàu mau nhứt. 25 năm sau, đây là tình trạng của họ: chủ tịch công ty thép lớn nhất - CHARLES SCHWAB, đã chết trong tình trạng phá sản và sống bằng tiền vay mượn trong 5 năm trước khi qua đời; chủ tịch công ty dịch vụ công cộng - SAMUEL INSULL, đã chết khi trốn tránh tòa án và không một xu dính túi trên một đất ngoại bang; chủ tịch công ty gas lớn nhất - HOWARD HOSPON, hiện mất trí; nhà đầu cơ lúa gạo lớn nhất - ARTHUR CUTTEN, đã chết không trả được nợ; chủ tịch thị trường chứng khoán Nữu Ước - RICHARD WHITNEY, mới đây đã được tha ra khỏi nhà tù Sing Sing Penitentiary; thành viên nội các của Tổng Thống - ALBERT FALL, đã tự tử; chủ tịch ngân hàng hòa giải quốc tế - LEON FRASER, đã chết cũng bởi tự tử. Hết thảy những người nầy đều học được nghệ thuật làm ra tiền, nhưng không ai trong số họ học biết phải sống hay có đức tin như thế nào! Thần tượng của họ cuối cùng chẳng cứu được họ!
5. Đức tin nơi con người hay vàng có thể cung ứng một số trợ giúp ở đây và bây giờ, nhưng nó chẳng thể làm chi được cho tương lai! Chỉ có đức tin nơi Đức Chúa Trời mới có thể hiến cho hy vọng cho cả bây giờ và trong tương lai! Vì lẽ đó, không cần phải thỏa hiệp! Thậm chí khi đối diện với những hậu quả rất thực, không cần phải thỏa hiệp!
a. Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô không nhắm vào việc đạt lợi tạm thời vì thỏa hiệp đức tin của họ!
b. Sấp mình xuống trước hình tượng nầy thậm chí chẳng phải là điều khả thi trong lý trí của họ nữa!
B. Địa ngục rùng rợn! (3.11)
1. Những hậu quả hoàn toàn rõ ràng nếu họ không chịu thỏa hiệp.
2. Đôi khi có những hậu quả trong cuộc sống chúng ta nếu chúng ta từ chối không thỏa hiệp với thế gian nầy!
3. Thắc mắc duy nhứt là những hậu quả nào chúng ta bằng lòng gánh chịu, vì cũng có những hậu quả thuộc linh cho sự thỏa hiệp nữa!
4. Bây giờ là lửa do con người nhóm lên, hoặc lửa về sau do Đức Chúa Trời nhóm lên nếu họ thỏa hiệp...bạn chọn ngọn lửa nào?
5. Tuy nhiên, chẳng phải họ sợ ngọn lửa của Đức Chúa Trời đã thúc đẩy họ, chính tình yêu của họ dành cho Đức Chúa Trời đã khiến họ không bằng lòng sấp mình xuống trước pho tượng.
III. KÊU GỌI TRƯỚC SAU PHẢI NHƯ MỘT (3.16-23)
A. Bộc trực tin kính! (3.16-18)
1. Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô không sợ nói thẳng với nhà vua về sự thực họ không bằng lòng thỏa hiệp.
a. Họ muốn nhà vua nhìn biết lý do tại sao họ từ chối, ấy chẳng phải một sự không ưa thích đối với nhà vua, vấn đề chỉ là đức tin của họ đặt nơi Đức Chúa Trời mà thôi.
b. Họ cũng sử dụng cơ hội nầy để làm chứng về Đức Chúa Trời mà họ đang phục sự, có bao nhiêu tín đồ ngày hôm nay đã cay đắng khi cho rằng Đức Chúa Trời đã đặt họ trong chỗ nầy, nhưng không phải mấy người bạn nầy, họ sử dụng sự cay đắng nầy để tỏ ra rằng Đức Chúa Trời không giống như các tà thần của người Babylôn, Ngài là Đức Chúa Trời có thể làm được mọi sự! Ngài là một Đức Chúa Trời thậm chí có thể giải cứu họ ra khỏi ngọn lửa của loài người!
c. Tuy nhiên, hãy chú ý rằng họ không lạm dụng lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời, họ không nói rằng Đức Chúa Trời SẼ giải cứu họ ra khỏi những ngọn lửa do con người nhóm lên, chỉ nói rằng Đức Chúa Trời CÓ THỂ giải cứu họ mà thôi!
d. Khi ấy họ nói như thế nầy, nếu Đức Chúa Trời buông tha họ ra khỏi ngọn lửa hoặc nếu Ngài không, thì cách khác, Đức Chúa Trời SẼ giải cứu họ ra khỏi bàn tay và quyền lực của nhà vua!
(1. Nhà vua chỉ có thể giết chết thân thể họ, còn Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc họ sau việc nầy, như giải cứu họ khỏi tay của nhà vua Babylôn!
(2. Họ đang làm chứng cho sự thực rằng nhà vua là tạm thời, còn Đức Chúa Trời thì đời đời!
2. Hành động trung tín của họ không dựa vào chỗ Đức Chúa Trời có làm phép lạ cho họ hay không, hành động ấy dựa trên lòng trung thành của họ khi vâng theo và hầu việc Đức Chúa Trời bất luận việc khủng khiếp nào xảy đến cho họ trong đời nầy.
a. Đây là sự bộc trực tin kính!
b. Có bao nhiêu người bằng lòng hầu việc Đức Chúa Trời khi họ nhận được các phép lạ họ kỳ vọng nhưng lại xây khỏi Đức Chúa Trời khi họ không nhận được những gì họ mong muốn!
c. Không phải mấy chàng trai nầy! Họ rất trung tín bất luận điều chi Đức Chúa Trời cho phép xảy đến trong đời sống của họ.
3. Họ hiểu rõ tầm quan trọng việc giữ lấy danh của Đức Chúa Trời cho dù có điều gì xảy ra. Họ không nhượng bộ vì có những việc rất "nóng" dành cho họ.
MINH HỌA: Giống như một tên lính kia đã phục vụ dưới quyền Đại đến Alexander, anh ta còn trẻ song rất tự hào khi phục vụ. Tuy nhiên, khi cuộc chiến kịch liệt lên, anh ta có thói quen đầu hàng hay bỏ chạy! Đại đế Alexander rất phiền lòng bởi mọi hành vi của chàng trai trẻ nầy, vì anh ta cũng mang cái tên giống như tên của ông - ALEXANDER! Ngày nọ vị tướng lãnh cho đòi người lính trẻ ấy vào rồi long trọng nói với anh ta rằng: "thôi đừng hèn nhát nữa hoặc đừng mang cái tên ấy nữa!"
B. Sự nhất định tin kính! (3.19-23)
1. Nhà vua không dùng ai đứng cạnh ông, rốt lại, ông mới vừa thăng cấp cho mấy gã nầy!
a. Ông đã cố gắng ban cho họ một cơ hội thứ nhì để thỏa hiệp
b. Tuy nhiên, họ không chú ý đến sự thỏa hiệp!
2. Điều nầy làm cho nhà vua giận dữ!
a. Trong cơn giận, ông trở nên mất trí! Giận dữ có thể làm điều nầy với chúng ta!
b. Ông yêu cầu lò lửa phải được đun nóng gấp 7 lần hơn bình thường! (rất khó cho kỷ thuật đương thời! Ông ta đã yêu cầu một việc khó!)
c. Ông cũng yêu cầu những binh lính mạnh sức phải trói mấy gã nầy lại, giống như thể họ là một loại đe dọa cho cả quân đội của ông ta vậy!
d. Mọi hành động của ông ta là một người đang ở trong tình trạng điên tiết...bị thúc đẩy bởi cơn giận không kiểm soát được.
3. Thế gian không lùi lại căn cứ theo những đòi hỏi của họ để chúng ta phải đem đức tin ra mà thỏa hiệp. Nếu chúng ta không thỏa hiệp, họ sẽ điên tiết lên!
4. Hãy chú ý hậu quả của tình trạng điên tiết xem.
a. Những binh sĩ xuất sắc và mạnh mẽ nhất trong binh đoàn của Nêbucátnếtsa ngã chết trong quá trình vâng theo mạng lịnh giận dữ của nhà vua!
b. Dường như nhà vua chẳng chút hối tiếc về sự mất mát các binh sĩ trung thành nhất nầy, họ đang dâng sinh mạng của họ cho quyền lực của ông ta!
c. Nhà vua bị ám ảnh với quyền lực và mọi lịnh lạc của ông ta! Đây là cốt lõi của mọi tội lỗi: sự ích kỷ!
5. Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô thấy mình bị trói rồi rơi vào lò lửa hực khi các binh lính ngã chết trong quá trình trừng phạt họ!
a. Đức Chúa Trời không giữ họ ở ngoài lò lửa hực mặc dù họ đã sống thật trung tín trước mặt Đức Chúa Trời!
b. Đức Chúa Trời không hứa giữ chúng ta ở ngoài lò lửa hực, nhưng Ngài hứa ở cùng chúng ta trong lò lửa ấy!
c. Đức Chúa Trời không lìa bỏ họ trong lò lửa... Ngài cũng chẳng lìa bỏ khi chúng ta là nạn nhân của điều ác trong thế gian nầy, Đức Chúa Trời luôn luôn nắm quyền tể trị đời sống chúng ta là con cái của Ngài!
IV. KÊU GỌI CA TỤNG! (3.24-30)
A. Sự can thiệp của Đức Chúa Trời (3.24-27)
1. Trong khi Đức Chúa Trời không giữ họ ngoài ngọn lửa, Ngài đã giữ ngọn lửa không xém họ!
a. Mặc dù họ phải chịu đựng kinh nghiệm việc bị ném vào lò lửa, Đức Chúa Trời đã giữ cho ngọn lửa không làm hại họ!
b. Thực vậy, ngay cả Nêbucátnếtsa đã để ý thấy một việc khác thường đang diễn ra trong lò lửa, ông biết mình cho ném 3 người vào trong ngọn lửa, song giờ đây ông nhìn thấy có 4 người ở đó!
2. Ông yêu cầu khẳng định lại con số của mình!
3. Giờ đây, chính mình Nêbucátnếtsa đến gần lò lửa ấy và gọi Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô bước ra!
a. Thành viên thứ 4 không có, công việc của Ngài đã hoàn tất!
b. Nhà vua thậm chí để ý thấy thành viên thứ 4 là một Đấng siêu nhiên, tuy nhiên ông ta không nhìn thấy thành viên nầy là Đức Chúa Trời, chỉ là "con trai của các thần" khi cứ giữ sự hiểu biết của mình về niềm tin nơi các thần.
4. Mọi người đều kinh ngạc nơi những gì họ trông thấy!
a. Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô không có mùi lửa ở trên họ, không một thứ chi bị xém trừ ra những sợi dây trói quanh người họ!
b. Thậm chí không một sợi tóc nào trên đầu họ bị xém nữa!
c. Chẳng có nghi ngờ gì về ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA HỌ CHỐNG LẠI NGỌN LỬA!
5. Đức Chúa Trời đã xác minh cho các tôi tớ không hề biết thỏa hiệp của Ngài, và trong quá trình ấy đã tỏ ra sự hiện diện của Ngài cho một dân bất kỉnh!
6. Đức tin của họ đã đắc thắng trong ngày ấy, và đã tỏ ra Đức Chúa Trời chơn thật cho một thế giới sa ngã thỏa hiệp!
7. Khi đối diện với một tình huống khó khăn, họ cứ tiếp tục có hy vọng và tin cậy nơi Đức Chúa Trời, họ không lìa bỏ đức tin và họ không nhượng bộ.
a. Mặc dù họ đã nếm trải ngọn lửa...họ đã bước ra mà thậm chí chẳng có mùi bị lửa xém nữa!
b. Đức Chúa Trời cũng có thể đưa chúng ta qua những ngọn lửa của đời nầy...và chúng ta có thể bước ra mà chẳng hề bị xém trong đời sống của chúng ta!
MINH HỌA: Hai thiếu niên thấy mình đang ở trong một tình huống khó khăn, một chịu thua, nhưng đứa kia thì không. John và Dave đang đi bộ khi chúng phát hiện ra một cơn sư tử đang nhìn chúng trừng trừng, John lạnh cẳng khi nhìn biết đời mình sắp xong rồi, chẳng có một lối thoát nào hết! Nhưng Dave ngồi xuống bên khúc gỗ mới đốn, cỡi giày đi bộ ra rồi mang giày chạy vào! Người bạn tiêu cực của nó, John nói: "phải kêu cứu lớn tiếng lên Dave ạ, bạn không thể chạy nhanh hơn con sư tử đâu!" Bạn nó đáp: "Tớ chẳng chạy nhanh hơn nó, tớ chỉ chạy nhanh hơn cậu mà thôi!"
8. Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô không phải thỏa hiệp mới đắc thắng, họ chỉ phải tin cậy nơi Đức Chúa Trời mà thôi!
B. Đức Chúa Trời được chấp nhận! (3.28-30)
1. Ngay cả Nêbucátnếtsa đã công nhận sự cứu giúp của Đức Chúa Trời đối với những tôi tớ không biết đến thỏa hiệp nầy!
a. Cái gì rõ ràng luôn luôn là rõ ràng!
b. Trong một phương thức thật lạ lùng, nhà vua xứ Babylôn từ giờ trở đi sẽ nhìn biết rằng nếu mấy gã nầy đưa ra một cam kết với việc gì họ đã tin cậy bước theo ... ông sẽ có sự tin tưởng nơi họ lớn lao hơn trước đây!
2. Trong khi chưa có gì rõ ràng là Nêbucátnếtsa từ bỏ niềm tin của mình nơi các thần khác, ông đã bằng lòng ban bố tình trạng hợp pháp cho sự thờ lạy Đức Chúa Trời của Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô.
a. Điều nầy có ý nói rằng sự thờ phượng Đức Chúa Trời trong tương lai sẽ không bị coi là một tội trọng nữa!
b. Điều nầy đã mở ra sự tự do cho nhiều người khác được thờ phượng Đức Chúa Trời cách công khai.
c. Mặc dù điều nầy không xây cả nước đến với một Đức Chúa Trời chơn thật, nó tạo ra một sự khả thi Đaniên và ba bạn của ông thờ phượng Đức Chúa Trời cách tự do trong sự trị vì của người Babylôn và cho nhiều người khác nữa cũng đến với đức tin nơi Đức Chúa Trời chơn thật!
3. Điều nầy chặn đứng bất kỳ một hoạch định nào trong tương lai khiến họ phải gặp rắc rối trong xứ Babylôn bởi những thuật sĩ khác!
4. Danh của Đức Chúa Trời ít nhất đã có chỗ đứng hợp pháp tại xứ Babylôn lúc bấy giờ! Một dân tộc không biết về Đức Chúa Trời đang nhìn biết Ngài càng hơn qua những tôi tớ trung kiên của Ngài và sự làm chứng của họ...có phải đây là trường hợp với chúng ta hôn nay không?
a. Khi chúng ta sống trung tín, và không thỏa hiệp với thế gian nầy, những kẻ lân cận và bạn bè của chúng ta cũng đạt tới mức nhìn thấy Đức Chúa Trời chơn thật!
b. Đức Chúa Trời sẽ xác minh ai đang hầu việc Ngài...và làm cho chính mình Ngài được nhìn biết qua quá trình chúng ta ăn ở trung tín với Ngài!
PHẦN KẾT LUẬN. Sẽ có áp lực từ thế gian buộc phải sấp mình xuống trước các thần tượng bằng vàng và bằng bạc, phải đem đức tin ra mà thỏa hiệp để đạt được lợi ích về chính trị hay vật chất. Sống trung tín với Đức Chúa Trời sẽ không luôn luôn là phương tiện TRÁNH THOÁT được ngọn lửa, nhưng nó sẽ là phương tiện tránh thoát TRONG ngọn lửa! Danh của Đức Chúa Trời đang hiển hiện, có phải bạn sống trung tín đến nỗi Ngài sẽ được tỏ ra cho nhiều người khác biết không?