Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2010

Khải huyền 1:12-18, 20: "CHÚA VINH HIỂN"





Khải huyền 1:12-18, 20
CHÚA VINH HIỂN
Phần giới thiệu: Vừa qua, chúng ta đã thấy bạn chúng ta là Giăng, ông đã được “Đức Thánh Linh cảm hóa, nhằm ngày của Chúa”, câu 10. Khi ông thờ phượng, Giăng nghe đàng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa. Tiếng nầy bắt lấy sự chú ý của ông và ông xây lại nhìn thấy nguồn của tiếng vang nầy.
Khi Giăng xây lại, ông nhìn thấy hai điều. Thứ nhứt, ông nhìn thấy bảy chân đèn vàng, câu 12. Kế đó, ông nhìn thấy một người mà ông mô tả giống như “Con Người”, câu 13. Cụm từ nầy xuất hiện trong Cựu Ước, và ở Đaniên 7:13-14, cụm từ nầy được sử dụng để nói tới Đấng Mêsi hầu đến. Tước hiệu nầy cũng là tước hiệu mà Chúa Jêsus rất ưa thích khi Ngài phán về chính mình Ngài trong Tân Ước. Chúa Jêsus đã sử dụng cụm từ nầy 81 lần trong các sách Tin Lành. Khi Êtiên bị ném đá, ông ngước mắt nhìn lên trời và ông đã nom thấy Chúa Jêsus, là Đấng ông nói tới là “Con Người”, Công Vụ các Sứ Đồ 7:56.
Vì vậy, khi Giăng xây lại, ông nhìn thấy Đức Chúa Jêsus Christ. Bây giờ, đây là lần đầu tiên Giăng đã nhìn thấy Chúa trải qua hơn 60 năm. Và, chắc ông không nhìn thấy một điều chi khác hơn ông thường nhìn thấy! Giăng vốn biết Chúa Jêsus rất rõ. Kinh Thánh dường như chỉ ra ở Mác 15:40-41 và Giăng 19:25 rằng mẹ của Giăng và mẹ của Chúa Jêsus là hai chị em ruột. Nếu đấy là sự thật, thế thì họ là anh em bà con. Vì lẽ đó, có lẽ Giăng biết rõ Chúa Jêsus khi còn nhỏ. Ông biết rõ Chúa Jêsus là một giáo sư, một người hay làm phép lạ, một tôi tớ, và một người chinh phục linh hồn. Ông đã quan sát khi Chúa Jêsus đang phục vụ và ông đã quan sát khi Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá. Giăng đã nhìn thấy ngôi mộ trống và ông đã nhìn thấy Đấng Christ phục sinh. Giăng có mặt ở đó khi Chúa Jêsus thăng thiên về trời. Và, thậm chí Giăng đã tựa đầu vào ngực Chúa trong bữa tiệc ly. Giăng vốn biết Chúa Jêsus rất rõ. Lời làm chứng của ông có thể được thấy ở I Giăng 1:1.
Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, Giăng nhìn thấy Chúa Jêsus giống như ông chưa hề nhìn thấy Ngài trước đó. Trong mấy câu nầy, Giăng nhìn thấy Chúa của sự vinh hiển. Ông nhìn thấy Đấng Christ đã được vinh hiển, and Giăng cố gắng thực hiện một điều rất khó; ông ra sức mô tả Chúa của sự vinh hiển cho chúng ta biết. Tôi muốn hiệp với Giăng khi trong sự lạ lùng ông nhìn xem Chúa Của Sự Vinh Hiển. Tôi muốn chúng ta nên đọc về Đấng mà chúng ta sẽ tự mình nhìn thấy ở cuối con đường sự sống. Chúng ta hãy chú ý những phương thức mà Giăng đang mô tả Chúa Của Sự Vinh Hiển cho chúng ta hôm nay.
I. CHÚA VINH HIỂN TRONG VẺ OAI NGHI CỦA NGÀI (các câu 12-16)
A. Ngài oai nghi trong hoạt động của Ngài (các câu 12-13a) – Khi Giăng xây lại, ông nhìn thấy bảy chân đèn bằng vàng. Mấy chân đèn nầy, hay cây đèn có 7 ngọn, đã có mặt ở chỗ những ngọn đèn dầu được đặt để thắp sáng phòng ốc. Người Do thái gọi chúng là “menorah”. Ngọn đèn menorah có 7 nhánh và được sử dụng trong Đền tạm, Xuất Êdíptô ký 25:31. Cây đèn có 7 ngọn được làm bằng vàng, là thứ kim loại quí báu nhất, và được châm đầy dầu rồi được gắn bấc vào để thắp lên cung ứng ánh sáng. Đèn 7 ngọn tượng trưng cho Đức Thánh Linh và khả năng của Ngài chiếu ánh sáng vào trong thế gian. Đèn 7 ngọn là kiểu mẫu nói tới Đấng Christ. Chúa Jêsus đã đến trong thế gian nầy như một người, nhưng là một người được đầy dẫy Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và Ngài đã phục vụ như Sự Sáng của thế gian, Giăng 8:12.
Ở đây, chúng ta thấy Chúa Jêsus đang “ở giữa những chân đèn”. Đèn 7 ngọn trong phân đoạn Kinh Thánh nầy được xác định cho chúng ta ở câu 20. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng chúng tiêu biểu cho 7 Hội Thánh được nhắc tới ở Khải huyền 1:11.
Đèn 7 ngọn đều bằng vàng, tiêu biểu cho bản chất quí báu của Hội Thánh. Chẳng có một thể chế nào trên đất là quí báu và xinh đẹp như Hội Thánh được! Hội Thánh rất quí báu đối với Đức Chúa Trời đến nỗi Chúa Jêsus đã bằng lòng mua lấy nó bằng chính huyết của Ngài!
Có 7 chân đèn. Một lần nữa, 7 là con số của sự trọn vẹn hay hoàn toàn. Bảy chân đèn nầy chỉ về các Hội Thánh thật, nhưng chúng cũng tiêu biểu cho các Hội Thánh địa phương trải qua các thời đại.
Tuy nhiên, sứ điệp thật nói tới các chân đèn nằm trong mục đích của chúng. Đèn 7 ngọn phác họa Hội Thánh giống như “sự sáng của thế gian”, Philíp 2:15; Êphêsô 5:8; Mathiơ 5:16.
Vì thế, điều đó đưa tôi đến với những gì tôi muốn nói về câu Kinh Thánh nầy. Chúa Jêsus được phác họa là đang ở giữa các Hội Thánh của Ngài. Khi chúng ta nhóm lại, Ngài luôn ở đây với chúng ta, Mathiơ 18:20. Ngài hiện đang ở đây vùa giúp chúng ta; đang phán dạy chúng ta; đang bảo hộ chúng ta; đang dẫn dắt chúng ta; đang chúc phước cho chúng ta; đang khích lệ chúng ta và đang thách thức chúng ta. Ngài ở giữa dân sự Ngài khi chúng ta sinh sống, thờ phượng và đang hướng tới sự vinh hiển. Có những lúc chúng ta có thể công nhận sự hiện diện của Ngài và có những lúc chúng ta quên Ngài đang hiện diện ở đây. Ngài vẫn ở với chúng ta y như thế. Nếu chúng ta từng quên đi nhóm; lịch phục vụ; những mối quan tâm của chúng ta; và hãy công nhận sự hiện diện của Chúa trong Hội Thánh của Ngài, điều đó sẽ làm biến đổi những buổi lễ thờ phượng của chúng ta.
Cảm tạ Đức Chúa Trời, Ngài yêu thương chúng ta và mong muốn gặp gỡ chúng ta! Bạn và tôi có thể không có mặt tại nơi thờ phượng, nhưng Chúa Jêsus không hề bỏ sót một buổi thờ phượng nào cả!
B. Ngài oai nghi trong dáng dấp của Ngài (các câu 13b-16) – Đây là chỗ mà Giăng bắt đầu nổ lực thực hiện điều rất khó ấy. Ông cố gắng mô tả Chúa của Sự Vinh Hiển bằng những từ ngữ mà chúng ta có thể hiểu được.
1. Áo của Ngài (câu 13b) – Chúa Jêsus “mặc áo dài, thắt đai vàng ngang trên ngực”. Đây là y phục của cả hai: Vua và Thầy Tế Lễ. Là Vua, Chúa Jêsus là Chủ Tể Tối Cao. Ngài đang cầm quyền tuyệt đối và Ngài đang tể trị hôm nay, thậm chí dù thế gian không công nhận Ngài, Khải huyền 17:14. Chúa Jêsus đang tể trị trên các Hội Thánh của Ngài và trên thế gian.
Là Thầy Tế Lễ, Chúa Jêsus là “nhân vật nơi người bề trong” của chúng ta. Ngài là Đấng Cầu Thay của chúng ta; Ngài là Đấng cầu thay cho chúng ta ở trên trời hết ngày nầy sang ngày khác, Hêbơrơ 7:25; Rôma 8:34; I Timôthê 2:5; I Giăng 2:1. Khi chúng ta trông thấy Ngài, chúng ta sẽ nhìn thấy Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm và Vua của chúng ta.
2. Đầu và Tóc của Ngài (câu 14a) – Điều nầy nói tới sự thanh sạch và tình trạng thái cổ của Ngài. Chúng ta được nhắc cho nhớ rằng Ngài là vô tội, Hêbơrơ 7:26; II Côrinhtô5:21; I Phierơ 2:22. Chúng ta cũng được nhắc cho nhớ rằng Ngài không có tuổi tác! Cái thấy nầy về Chúa Jêsus đồng hóa Ngài với “Đấng Thượng Cổ” ở Đaniên 7:9. Ngài là Đấng luôn luôn hằng hữu! Con Trẻ Jêsus đã được đặt trong máng cỏ ở thành Bếtlêhem cũng chính là Đấng đã đứng ở chỗ không không và đã dựng nên muôn vật từ lúc sáng thế! Ngài là vô hạn và đời đời!
Giăng đang nói cái đầu của Ngài. Cái đầu ấy đã được đặt nơi ngực của Mary để được yên ủi như một đứa con. Cái đầu ấy khi là một người trưởng thành không có một chỗ nào để nghỉ ngơi. Cái đầu ấy bị đội cho chiếc mão đan bằng gai và huyết của chính Ngài bị pha trộn với nước bọt của kẻ thù Ngài. Cái đầu ấy đã được đặt trong một mộ địa bằng đá tăm tối và được quấn với vải lịm. Ngày kia, một ngày vinh hiển, cái đầu ấy sẽ được tôn tặng với thật nhiều mão triều thiên!
3. Đôi mắt của Ngài (câu 14b) – Chúng nói tới sự toàn tri của Ngài; sự thông thái và sáng suốt của Ngài, Hêbơrơ 4:13; Châm ngôn 15:3. Không một điều gì có thể giấu kín khỏi mắt Ngài! Xachê trèo lên cây, Phierơ bên ngọn lửa, tấm lòng của người Pharisi ngạo mạn kia cũng không giấu được Ngài! Không, Ngài nhìn thấy từng động lực, tội lỗi và kín nhiệm trong tấm lòng và trong đời sống của chúng ta. Đôi mắt ấy từng nhòa lệ dành cho Laxarơ, cho thành Jerusalem và cho chúng ta. Đôi mắt ấy vẫn nhìn thấy mọi sự trong đời sống chúng ta hôm nay!
4. Hai bàn chân của Ngài (câu 15a) – Đồng, trong Kinh Thánh nói tới sự phán xét. “Con rắn bằng đồng”, Dân số ký 21, là biểu tượng tội lỗi của dân sự bị xét đoán bởi sự sửa phạt của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus xuất hiện ở đây giữa các Hội Thánh Ngài là Đấng đang cầm quyền phán xét. Ngài nhìn thấy mọi sự và khi Ngài nhìn thấy điều chi không đẹp lòng Ngài, Ngài thực thi quyền bính của mình trong vai trò là Vua và là Chúa, Ngài hành động trong sự phán xét để sửa ngay lại mọi việc.
Hai bàn chân quí báu của Chúa Jêsus đã chạm đến đất nầy lần đầu tiên khi Ngài chỉ là một đứa trẻ. Chúng đã đưa Ngài dọc theo những con đường bụi bặm trong xứ Israel khi Ngài phục vụ và giảng dạy cho dân chúng. Chúng đưa Ngài lên đỉnh đồi Gôgôtha, ở đó hai bàn chân ấy đã cảm nhận nổi đau của những mũi đinh đóng xuyên qua chúng. Hai bàn chân ấy đã được trông thấy lần sau cùng khi Ngài trở lại với ngôi của Cha Ngài. Trong 2.000 năm qua hai bàn chân ấy chẳng cảm nhận được gì trừ ra những con đường bằng vàng của thành ấy. Không bao lâu nữa, hai bàn chân ấy sẽ cỡi những đám mây trở lại với thế gian nầy khi Chúa Jêsus kêu gọi cô dâu của Ngài đến với chính mình Ngài. Thế thì một ngày kia, hai bàn chân ấy một lần nữa sẽ chạm đến thế gian nầy. Ngài sẽ đến trong năng quyền để phán xét tội lỗi, Satan và con người tội lỗi khi Ngài giày đạp thùng rượu thạnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Ngài đến trong vai trò một Quan Xét!
5. Tiếng của Ngài (câu 15b) – Khi Giăng lần đầu tiên nghe thấy Chúa, tiếng của Ngài được mô tả vang dội giống như tiếng loa, câu 10. Tiếng của Ngài đã đến đòi hỏi sự chú ý của Giăng. Còn bây giờ, Giăng mô tả tiếng của Chúa giống như “tiếng nước lớn”. Tôi chưa hề đến Thác Niagara, nhưng người nào đó thuật cho tôi biết tiếng của những dòng nước tuôn xuống rất khác biệt. 12 triệu m3 nước chảy trong một phút đổ xuống cái thác lớn ấy và giống như dòng nước đó đập mạnh vào những vầng đá bên dưới, nó tạo ra tiếng vang duy nhứt mà người ta nghe thấy được, và chỉ có tiếng ấy mới thực sự là vấn đề.
Tiếng vang ấy được kể giống với tiếng của Chúa Jêsus. Ngày nay, có nhiều người đang xây cái lỗ tai điếc đối với tiếng phán của Ngài; nhưng có một ngày hầu đến khi Ngài sẽ phán và tiếng của Ngài sẽ là một tiếng chẳng ai có thể bỏ qua được. Ngày kia, từng đầu gối sẽ phủ phục xuống và mọi lưỡi sẽ xưng Ngài là Chúa khi nghe thấy tiếng vang dội ấy. Đây cũng chính là tiếng đã phán với thế gian nầy để nó được tồn tại. Đây chính là tiếng đã công bố công tác cứu chuộc đã được trọn, Giăng 19:30. Đây cũng chính là tiếng sẽ vời Cô Dâu lên trong sự vinh hiển, I Têsalônica 4:16-17. Tiếng nầy rất nghiệt ngã nhất sẽ rơi vào hai lỗ tai của kẻ bị hư mất, Mathiơ 7:23. Nhưng, tiếng ấy sẽ là tiếng quí báu nhất mà những ai được cứu bởi ân điển sẽ nghe thấy, Mathiơ 25:23.
Tôi rất vui sướng khi nghe được tiếng ấy kêu gọi tôi đến với Ngài một ngày kia. Tôi rất vui sướng khi tôi nghe tiếng ấy từng ngay một khi tôi đang trên đường hướng tới sự vinh hiển. Tôi rất biết ơn vì tôi sẽ nghe tiếng ấy ở cuối con đường khi Ngài phán: “Mừng ngươi về đến quê hương!”
6. Hai bàn tay của Ngài (câu 16a) – Trong bàn tay phải của Ngài, là bàn tay nói tới quyền lực, Chúa Jêsus đang cầm lấy 7 ngôi sao. Các ngôi sao nầy được xác định ở câu 20. Chúng là các “thiên sứ của 7 Hội Thánh”. Có người tin mấy ngôi sao nầy có ý nói tới một thiên sứ canh gát được ban cho quyền hành trên từng Hội Thánh. Nhiều người khác cảm thấy rằng mấy ngôi sao có ý nói tới quí Mục sư của các Hội Thánh nầy. Riêng tôi thì nghiêng hẳn về sự giải thích sau.
Chúa Jêsus được phác họa là đang cầm lấy các tôi tớ Ngài trong tay Ngài, bảo hộ họ bởi quyền phép của Ngài. Giăng đang viết cho hạng người đã gánh chịu sự bắt bớ nghiệt ngã. Họ cần sự tái bảo đảm nầy khi họ phấn đấu. Nhưng, cũng thế cho bạn và tôi! Thật là yên ủi cho tấm lòng của tôi khi biết rằng mình được an ninh ở trong tay Ngài, Giăng 10:28-29! Hai bàn tay ấy đã nắn đúc ra con người từ bụi đất; đã rờ đến người phung; đã mở mắt kẻ mù; đã cho đoàn dân đông ăn và chắc chắn đã bị đóng đinh trên thập tự giá chính là hai bàn tay đang nắm giữ bạn và tôi ngày nay! Khi bạn ở trong tay Ngài, bạn đang ở trong một nơi thật an ninh tuyệt đối và trọn vẹn!
7. Miệng của Ngài (câu 16b) – Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “thanh gươm hai lưỡi” thò ra từ miệng của Đấng Christ vinh hiển. Điều nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng Ngài không đến với lời lẽ bình an và phước hạnh đâu; mà với lời lẽ công bình và xét đoán. Khi Chúa Jêsus đến lần đầu tiên, Ngài đã đến với một sứ điệp thật bình an và cứu rỗi. Lần tới Ngài đến, Ngài sẽ xét đoán thế gian với một lời ra từ miệng Ngài. Giống như cái đâm của thanh gươm nhọn có thể xoáy tận xương cốt và đem lại sự chết tức thì; một ngày kia Chúa Jêsus sẽ phán và kẻ thù Ngài sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn, Khải huyền 19:15. Giống như Ngài đã phán: “Phải có sự sáng” thì có sự sáng; Ngài phán thì việc liền có!
Lời của Đức Chúa Trời, bị rủa sả bởi kẻ vô thần, bởi kẻ theo thuyết bất khả tri, bởi kẻ không tin đạo, và bởi kẻ theo phái ý chí tự do, một ngày kia sẽ là tiêu chuẩn bởi đó mọi người sẽ bị phán xét! Lời của Đức Chúa Trời sẽ xét đoán con người một ngày kia, Khải huyền 20:12; Giăng 12:48.
8. Mặt của Ngài (câu 16c) – Giăng nói rằng mặt của Chúa vinh hiển trông giống như mặt trời khi soi sáng hết sức. Giăng đã nhìn thấy gương mặt nầy trước đây rồi. Khi Chúa Jêsus hóa hình trong Mathiơ 17, Giăng có mặt ở đó mà. Khi Chúa Jêsus đến với trần gian nầy và sống tại thành Bếtlêhem, Ngài đã che giấu sự vinh hiển của Ngài bên dưới chiếc áo xác thịt con người. Khi Ngài đến lần thứ nhứt, người ta có thể tiếp cận Ngài. Bất cứ ai muốn bước vào sự hiện diện của Ngài khi ấy, và nhiều người đã làm được. Những đứa trẻ nhỏ, vị quan giàu có, các cấp lãnh đạo tôn giáo, người nghèo, kẻ đau bịnh, thậm chí kẻ bị xã hội ruồng bỏ như người phung, đều có thể tiếp cận Chúa Jêsus bất cứ khi nào họ muốn. Nhưng, khi Ngài lại đến, hạng người tội lỗi thậm chí sẽ không được nhìn đến Ngài, nói chi đến tiếp cận Ngài.
Khi Chúa Jêsus đến lần thứ nhứt, mặt Ngài là gương mặt của một con người bình thường, Êsai 53:2. Kẻ thù Ngài đã rứt bánh ra khỏi mặt Ngài và chúng khạc nhổ vào gương mặt ấy, Êsai 50:6. Mặt Ngài bị đánh đập và dọc ngang đầy máu của chính Ngài. Thế nhưng, chính gương mặt ấy đã khiến cho Êsai phải kêu lên mà nói: “Khốn nạn cho tôi!”, Êsai 6:5. Chính gương mặt ấy đã khiến cho Gióp phải nói: “Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi” Gióp 42:5-6. Một ngày kia, hạng người gian ác sẽ kêu lên vì núi non sẽ úp đổ trên họ mà giấu họ khỏi mặt Ngài, Khải huyền 6:16.
Một ngày kia, chúng ta sẽ nhìn thấy gương mặt ấy! Khi chúng ta nhìn thấy, sẽ chẳng có một vết thâm tím, chẳng có máu chảy dọc ngang ở đó nữa. Khi chúng ta nhìn thấy gương mặt ấy, chúng ta sẽ thấy Ngài trong sự vinh hiển của Ngài và chúng ta sẽ có quyền nhìn ngắm sự vinh hiển của Ngài, vì chúng ta sẽ giống như Ngài trong ngày đó, I Giăng 3:2.
I. Chúa vinh hiển trong vẻ oai nghi của Ngài
II. CHÚA VINH HIỂN TRONG ƠN THƯƠNG XÓT CỦA NGÀI (câu 17a)
A. Phản ứng của Giăng – Giăng đang làm cái việc mà bất kỳ tội nhân nào cũng sẽ làm trong sự hiện diện của Chúa: ông ngã xuống đất như chết! Hạng người bị hư mất hay khoe khang và cung bàn tay họ lại trước mặt Đức Chúa Trời; nhưng ngày hầu đến khi từng kẻ ghét bỏ Đức Chúa Trời và chối bỏ Đấng Christ sẽ quì gối của họ (nam hay nữ) xuống trong sự hiện diện của Đức Chúa Jêsus Christ. Giăng chỉ tỏ ra cho chúng ta thấy những gì mà hết thảy tội nhân sẽ làm một ngày kia. Bây giờ có thể bạn chưa hiểu hết được điều nầy đâu, nhưng có một ngày hầu đến khi địa ngục sẽ trở thành nơi tiếp đón dành cho hạng tội nhân hư mất, họ phải đứng trước mặt Chúa Jêsus trong sự phán xét một ngày kia, Minh họa: Philíp 2:9-11; Khải huyền 20:11-15.
Đồng thời, tôi rất vui sướng khi tôi đã quì gối xuống rồi trước mặt Ngài và công nhận Ngài là Chúa, là Đức Chúa Trời và là Vua! Tôi rất biết ơn khi mỗi ngày tôi, chẳng có lưỡng lự chi hết, quì gối trước mặt Ngài và xưng Ngài là Chúa của tôi. Còn bạn thì sao?
B. Sự tái bảo đảm của Đấng Christ – Khi Giăng ngã xuống như chết, Chúa Jêsus làm việc mà Ngài luôn luôn làm: Ngài phán bình an cho con cái Ngài! Hãy suy nghĩ về điều nầy xem! Chúa Jêsus sử dụng bàn tay hữu của Ngài, là bàn tay với nó Ngài bảo hộ các tôi tớ Ngài. Ngài sử dụng bàn tay ấy và dịu dàng chạm đến Giăng. Thế rồi Ngài phán cùng Giăng. Chính tiếng nói ấy sấm sét với quyền bính và oai lực; chính tiếng nói ấy một ngày kia sẽ phán xét các nước; chính tiếng nói ấy phán bình an cho tấm lòng của Giăng! Đây chẳng phải là lần đầu tiên Giăng đã nghe Ngài phán “Bình an!” Giăng đã nghe Ngài phán: “Hãy êm đi, lặng đi”, Mác 4:39, và cả vùng biển thịnh nộ nằm xuống dưới chơn Ngài giống như một con búp bê vậy. Sự bình an đó xua tan đi nổi lo sợ mà các môn đồ đã cảm nhận trong đêm ấy. Ông đã nghe Ngài phán: “Bình an cho các ngươi”, Giăng 20:19, vào cái ngày mà Ngài đã sống lại từ kẻ chết. Sự bình an ấy xua tan đi hết mọi nghi ngờ và sợ hãi mà các môn đồ đã có sau cái chết của Ngài. Bây giờ, Giăng đang nghe Ngài phán “bình an” một lần nữa. Lần nầy từ ngữ bình an khiến cho Giăng nhìn biết rằng ông chẳng có gì phải lo sợ đối với Chúa Jêsus cả. Chúa Jêsus không đến như Quan Xét đối với Giăng; mà là Đấng Cứu Chuộc và là Bạn hữu của ông! Halêlugia, đúng là Cứu Chúa!
Chúa Jêsus có thể là Vua các vua; song Ngài là Thiết Hữu của chúng ta! Có thể Ngài là Chủ Tể Tối Cao của vũ trụ; song Ngài là người Anh Cả của chúng ta! Có thể Ngài là Đức Chúa Trời, là Đấng hành động trong năng quyền và vinh quang, hoàn thành nhiều việc mà suy tưởng của chúng ta không sao hiểu tới nổi; song Ngài vẫn có thì giờ để cho các nhu cần của chúng ta chạm đến, Hêbơrơ 4:15, và Ngài vẫn đưa bàn tay của Ngài xòe ra trong đời sống của chúng ta để khích lệ chúng ta và để phán bình an cho tấm lòng chúng ta.
I. Chúa vinh hiển trong vẻ oai nghi của Ngài
II. Chúa vinh hiển trong ơn thương xót của Ngài
III. CHÚA VINH HIỂN TRONG CHỨC VỤ CỦA NGÀI (các câu 17b-18)
(Minh họa: Tiểu đoạn sau cùng phác họa Chúa Jêsus trong công tác của Ngài. Mấy câu nầy cho chúng ta biết Ngài là ai và Ngài đang làm gì).
A. Ngài là Đấng đang tể trị – Ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng – Giăng được nhắc nhớ rằng Chúa Jêsus là Đấng “Tác Giả và Thành Toàn” của muôn vật. Ngài là Đấng luôn luôn hiện hữu và là Đấng luôn hằng hữu. Chúa Jêsus đứng như Đầu và là Cuối của lịch sử. Các bậc vua chúa sẽ đến rồi đi, còn Chúa Jêsus đã, đang và sẽ trị vì cho đến đời đời. Ngài là vô hạn và Ngài là đời đời!
B. Ngài là Đấng Phục Sinh – là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, Amen; - Chúa Jêsus đã làm một việc mà chẳng có ai khác làm được: Ngài đã bước vào sự chết theo thời khắc của chính Ngài, theo phương thức của chính Ngài và Ngài đã bước ra khỏi sự chết khi Ngài đã sẵn sàng. Ngài đã chịu chết trên thập tự giá và rồi Ngài đã sống lại từ kẻ chết, Mathiơ 28:1-6. Cảm tạ Đức Chúa Trời: “Ngài sống! Ngài sống! Chúa Jêsus sống hiện rày! Đi chung trò chuyện suốt lối hẹp hòi. Tâm tôi vui mừng thơ thái! Ngài sống! Ngài sống! Để ban ơn cứu ta đấy. Nếu hỏi chứng cứ Chúa sống đâu nào? Rằng Chúa sống trong lòng nầy!”
C. Ngài là Đấng Cứu Chuộc – “là Đấng Sống, ta đã chết” – Chúa Jêsus đã chết, nhưng cái chết của Ngài chẳng giống với cái chết nào khác trong lịch sử của thế giới. Ngài đã chết, không phải vì Ngài, mà Ngài đã chịu chết cho nhiều người khác. Ngài bước lên thập tự giá đó để trả cái giá mà Ngài không mắc; vì một dân mắc một giá mà họ không thể trả được. Ngài đã phó mọi sự của Ngài cho những kẻ chẳng có gì để dâng lên. Ngài đã trả toàn bộ cái giá để chuộc lấy dân sự Ngài ra khỏi tội lỗi của họ, Êsai 53:4-6; I Phierơ 1:18-19; Khải huyền 1:5. Ngài đã hoàn thành một của lễ mà hàng triệu gallons máu con sinh đã không bao giờ có thể, cũng sẽ không bao giờ có thể đủ trọn được. Ngài đã trả cái giả đủ cứu chuộc cho những ai sẽ kêu cầu Ngài bởi đức tin, Hêbơrơ 10:10-14; Hêbơrơ 9:12; 25-28.
D. Ngài là Đấng y như nguyên cũ – kìa nay ta sống đời đời – Khi từng bậc chủ quyền và từng kẻ bị trị nhạt nhòa dần đi qua cái khung thời đại; khi từng người giàu có và mỗi người nghèo khó bị xóa đi khỏi ký ức của thời gian; khi từng đế quốc và từng việc làm phai dần đi bởi dòng lịch sử; Đức Chúa Jêsus Christ vẫn sẽ là Chúa Tể và Ngài vẫn sẽ là Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng y như nguyên cũ! Đừng lo về việc gì sẽ xảy ra cho Ngài! Khi bụi thời gian bị quét vào cái thùng rác của cõi đời đời, Chúa Jêsus vẫn sẽ là Vua các vua và Chúa các chúa! Điều đó đã đem lại sự yên ủi cho từng con cái của Đức Chúa Trời và giáng sự kinh khiếp vào lòng của từng ma quỉ và tội nhân.
E. Ngài là Đấng giải phóng – Ta cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ – Chìa khóa nói tới lối vào và quyền hành. Tôi có nhiều chìa khóa ngay ở đây. Vì tôi có chúng, tôi có lối vào với những vật kia. Vì tôi có mấy chiếc chìa khóa, tôi có thể vào những nơi mà người khác không được phép vào. Cũng thực sự một thể ấy với Chúa Jêsus!
Đức Chúa Jêsus Christ quyết định mọi vấn đề của sự sống và sự chết. Ngài quyết định ai sống và ai chết. Vì Chúa Jêsus đã bước vào sự chết và đã thắng hơn nó, Ngài có những chìa khóa của sự chết. Vì Ngài đã bước vào chỗ mà người chết đang ở và đã bước ra khỏi đó, Ngài đang cầm lấy chìa khóa của địa ngục. Chúa Jêsus là nhân vật chính! Ngài là một người nhơn đức để người ta phải nhìn biết! Vì tôi nhìn biết Ngài, tôi không thể đi địa ngục, Ngài đã khóa cánh cửa ấy rồi! Vì tôi nhìn biết Ngài, tôi sẽ vào thiên đàng; Ngài đã mở toang hai cánh cổng của thành ấy cho con cái của Ngài.
Có phải bạn biết rõ Ngài đang cầm lấy những chiếc chìa khóa và từng mồ mả trong thế gian không? Ngài có quyền làm cho những người thân của bạn sống lại từ kẻ chết, I Têsalônica 4:13-18. Có phải bạn nhìn biết rằng Ngài đã mở cánh cửa giữa sự sống và sự chết cho hết thảy dân sự Ngài không? Khi tôi đi đến mức cuối của sự sống, tôi sẽ có quyền bước ra khỏi sự sống đời nầy mà bước vào trong sự sống thiên thượng đó vì Ngài đã mở cánh cửa ra rồi.
Phần kết luận: Một người cha đang cố gắng đọc tờ báo ngày Chúa nhựt. Đứa con gái nhỏ của ông ta, như mấy đứa trẻ nhỏ thường làm, thường xuyên ngắt ngang ông rồi đưa ra mấy câu hỏi với ông. Sau cùng, không muốn nó quấy rối nữa, ông cắt tấm bản đồ thế giới, trao cho nó, và bảo nó ghép lại với nhau. Ông nghĩ điều nầy sẽ làm cho nó không làm rộn ít nhất cũng là một thời gian nào đó. Tuy nhiên, chỉ trong mấy phút nó quay trở lại với tấm bản đồ và từng mảnh kia được ráp vào đúng chỗ.
Người cha lấy làm kinh ngạc lắm rồi nói: “Làm sao mà con ráp nối mấy mảnh ấy nhanh thế? Con đâu có biết gì về địa lý, có phải không”. Đứa bé gái kia đáp: “Dạ phải, bố ơi, có một bức tranh về Chúa Jêsus ở mặt kia kìa, và con biết con ráp khuôn mặt ấy cho đúng chỗ, thì cả thế giới cũng sẽ y khuôn mà”.
Đúng là một sự thực! Đấy là điều mà Giăng đang ra sức làm ở đây, ngay mỗi chặng đường của sách Khải huyền. Ông đang cố gắng buộc chúng ta phải nhìn xem Chúa Jêsus y như Ngài vốn có thật vậy! Ngài không phải là con người khiêm hạ xứ Galilê nữa. Ngài là Vua các vua và Chúa các chúa và Ngài đáng được thờ lạy, đáng được phục sự và đáng được vinh hiển. Khi Ngài đang ngự ở đúng chỗ, toàn bộ thế gian cũng sẽ được an bài. Cho tới khi ấy, thế gian sẽ mất cân đối và sẽ tiếp tục chao đảo dưới những tác dụng của tội lỗi và sự loạn nghịch, cho tới chừng Chúa Jêsus ngự đến và sắp đặt lại mọi việc.
Có việc gì ở đây dành cho bạn không? Có việc nầy đây: Có phải Chúa Jêsus ngự vào đúng vị trí trong tấm lòng và đời sống của bạn không? Nếu Ngài đang ở đó, thế thì bạn đã được cứu và bạn đang hạ mình phục sự Ngài. Nếu Ngài chưa có ở đó, như vậy có nghĩa là đời sống của bạn đang mất cân đối và giống như cái ruột xe không có hơi và đang hướng tới sự hủy diệt.
Bạn và tôi đều có cơ hội để đến trước mặt Ngài hôm nay để ngợi khen Ngài vì Ngài là ai. Chúng ta có cơ hội sấp mình xuống trước mặt Ngài; để cảm tạ Ngài và tôn vinh Ngài. Hôm nay, chúng ta có thể làm điều ấy một cách tự nguyện, vì nhiều người rồi đây sẽ bị buộc phải sấp mình xuống đấy.

Khải huyền 1:10-11; 2:7: "KHI CHÚA JÊSUS ĐEM SỨ ĐIỆP ĐẾN"



Khải huyền 1:10-11; 2:7
KHI CHÚA JÊSUS ĐEM SỨ ĐIỆP ĐẾN
Phần giới thiệu: Thường thì nhà truyền đạo hay có một số sửa đổi những bài giảng mà ông rao giảng. Tuy nhiên, nếu ông lắng nghe Chúa, trong thực tế ông chỉ là một người phát thư mà thôi. Khi bài giảng được dựa theo Kinh Thánh và nhà truyền đạo được đầy dẫy Đức Thánh Linh, thì Chúa chịu trách nhiệm về bài giảng và về nội dung của bài giảng đó! Với điều nầy trong trí, hãy xét xem sẽ ra sao nếu chính mình Chúa đến đây để giảng tối nay. Nhiều anh em có ấn tượng rằng Chúa Jêsus là một loại truyền đạo nhút nhát, ăn nói nhỏ nhẹ, tư thế dịu dàng. Nhưng, tôi tin rằng Chúa Jêsus đã bằng lòng rao giảng lẽ thật và tỏ ra điều ác giữa vòng dân sự Ngài. Dù người ta có nghĩ gì, mọi sự sẽ không là OK đối với Chúa đâu! Đôi khi tội lỗi phải bị quở trách và điều ác phải được xử lý. Vì vậy, sẽ ra sao nếu Chúa đến giảng tối nay, Ngài nhìn quanh rồi bắt đầu rao giảng cho Hội Thánh nầy? Trong sách Khải huyền, có 7 Hội Thánh được nhắc tới. Chúa Jêsus dành thì giờ để phán với hết thảy các Hội Thánh ấy. Chỉ có 2 Hội Thánh, Simiệcnơ – Hội Thánh bị bắt bớ, và Philađenphia – Hội Thánh chuyên về truyền giảng, là không nhận được một lời than phiền nào từ Chúa Jêsus. 5 Hội Thánh bị quở trách vì cớ họ thất bại. Có thể lắm, hôm nay có một số dấu vít khiến cho Chúa Jêsus phải quở trách các Hội Thánh nầy, sẽ được tìm thấy ở đây tại Gilead. Nếu đấy là trường hợp, thế thì chúng ta phải xử lý với những dấu vít nầy. Làm sao Chúa Jêsus rao giảng cho chúng ta được nếu Ngài đến đây hôm nay? Mọi sự có ở trong chỗ suông sẻ không? Hay Chúa tìm ra nhiều việc để nói nghịch lại? Tối nay, chúng ta hãy lắng nghe khi CHÚA JÊSUS đem sứ điệp đến. Chúng ta hãy chú ý 5 lời quở trách mà Ngài đã đưa ra với dân sự Ngài.
I. NHÀ TRUYỀN ĐẠO
A. LAI LỊCH CỦA NGÀI - 1:10-18 – Chính mình Chúa Jêsus. Chúa Jêsus vốn rất thích thú về các sinh hoạt trong Hội Thánh. Ngài quan sát mọi sự đang diễn ra. Ngài chẳng bỏ sót một điều gì!
B. SỰ PHẪN NỘ CỦA NGÀI - Chúa rất đau buồn vì cớ tội lỗi của dân sự Ngài. Họ không ra đi mà không bị phản đối, hay được làm ngơ đâu – Dân số ký 32:23; Galati 6:7 (Hêbơrơ 12:29)
C. NHỮNG DỰ TÍNH CỦA NGÀI – Ngài muốn Hội Thánh của Ngài phải chu toàn Sứ Mệnh Cao Cả của Ngài – Mathiơ 28:18-20; I Côrinhtô 10:31
II. CÁC NAN ĐỀ
A. MẤT LÒNG KÍNH MẾN BAN ĐẦU (2:4)- (Minh họa: Lòng kính mến ban đầu – đầu tiên, tình cảm, động lực) (Minh họa: mọi lễ phục của Cơ đốc giáo, tuy nhiên, họ đã thôi không còn kính mến Chúa Jêsus như lúc ban đầu nữa rồi! – Mọi sự chúng ta làm phải được làm ra từ tình yêu không giới hạn dành cho Chúa Jêsus, hay tất cả chỉ là vô giá trị! - I Côrinhtô 13:1-3. Có phải bạn yêu mến Ngài, như bạn đáng phải yêu mến không? (Minh họa: Giăng 14:15).
B. DUNG DƯỠNG TỘI LỖI TRONG HỘI THÁNH (2:14-15) (Bẹt-găm) – Hội Thánh nầy đã dung dưỡng tội lỗi ở giữa vòng nó. Họ dạy rằng phạm tội thì không sao, rốt lại họ là dân sự của Đức Chúa Trời. (Minh họa: Balaam – Dân số ký 22-24) (Minh họa: Người Bẹt-găm = Hôn nhân). Hội Thánh lấy người thế gian là không hề đúng đắn. Minh họa: II Côrinhtô 6:17. (Minh họa: Đảng Nicôlai – Hãy đặt một sự phân biệt giữa hàng giáo phẩm và người thế tục – tất cả dân sự của Đức Chúa Trời đều là thầy tế lễ! – Khải huyền 1:6) (Người nào dung dưỡng tội lỗi thì cũng giống như như kẻ phạm tội!) II Têsalônica 3:6; Rôma 16:17
C. DUNG DƯỠNG CÁC TIÊN TRI GIẢ (2:20) (Thiatiarơ) Hội Thánh nầy có lẽ do một phụ nữ sáng lập, Minh họa: Ly-đi – Công Vụ các Sứ đồ 16. Chắc chắn bị xáo trộn bởi một phụ nữ. (Minh họa: Nữ giới của chúng ta!) Bà nầy đã dẫn dắt dân sự của Đức Chúa Trời lạc sai với đạo giả. Đạo giả phải không được dung dưỡng! (Minh họa: Giê-sa-bên!) (Minh họa: Chủ nghĩa Giê-sa-bên đang nổi cộm ngày hôm nay!) Chẳng có gì sai trái khi rao giảng dựa theo Kinh Thánh! Galati 1:7-8
D. KHÔNG XÁC THỰC (3:1) - (Sạt-đe) Hội Thánh nầy có tiếng là sống, nhưng chẳng có một xác thực nào cả. Họ chẳng có một đốm lửa nào để hong lại tiếng tăm của họ. Bằng chứng quan trọng nhất mà một Hội Thánh có thể mang lấy, ấy là công việc của nó được hoàn tất. (Minh họa: Họ không đến được thiên đàng). (Minh họa: Làm mà qua loa). (Minh họa: Tiếng tăm chỉ vô ích trừ phi có một sự thực ở đàng sau nó! Chúng ta có sống thực không? Có phải mọi việc làm của chúng ta đến tận thiên đàng?) (Minh họa: Những dấu hiệu của sự sống – Lớn lên, hài hòa, tình cảm!)
E. HÂM HẨM (3:15-17) - (Laođixê) Hội Thánh nầy có hai vấn đề: 1. Dửng dưng về mặt thuộc linh; 2. Dốt nát về mặt thuộc linh. Họ đã tiếp xúc đủ với sự thật phải biết rõ hơi nóng, tuy nhiên đã dửng dưng đối với sự nhận biết đó. Vì thế, họ là một sự pha trộn giữa Nóng và Lạnh và họ đã làm cho Đức Chúa Trời phải buồn rầu. (Minh họa: Nhiều người ở đây hôm nay!) Chúa Jêsus biết rõ sự thật! (Minh họa: Hư mất, thập tự giá, chẳng quan tâm, chẳng chút cảm động nào về Chúa cả, bóp méo Chúa Jêsus).
III. ĐƠN THUỐC
A. Chúa Jêsus phán với từng Hội Thánh và ban cho họ phương thuốc chữa nan đề của họ. Nếu chúng ta đã xét mình và đã nhìn thấy một nan đề, cũng có phương thuốc chữa cho chúng ta nữa. Hãy chú ý Ngài phán gì với từng Hội Thánh.
B. PHƯƠNG THUỐC CHỮA
1. KHÔNG CÓ LÒNG KÍNH MẾN – Khải huyền 2:5 – Hãy nhớ, ăn năn, lặp lại hoặc bỏ đi
2. DUNG DƯỠNG TỘI ÁC – Khải huyền 2:16 – Ăn năn – Xây đi hoặc đối diện với cơn thạnh nộ của Chúa Jêsus.
3. DUNG DƯỠNG CÁC TIÊN TRI GIẢ – Khải huyền 2:24-25 – Hãy đứng vững chắc với lẽ thật. Bạn sẽ không bao giờ đứng một mình khi bạn đứng với Chúa.
4. THIẾU THỰC TẾ – Khải huyền 3:2-3 – Họ cần phải chổi dậy và làm lại điều chi còn thiếu sót. Minh họa: Rôma 13:11
5. HÂM HẨM – Khải huyền 3:18-20 – Công nhận một sư nương cậy nơi Chúa và hãy ăn năn về những thất bại. Nhưng, đặc biệt hãy mở ra những cánh cửa của cả hai: tấm lòng của dân sự và của chính Hội Thánh rồi mời Ngài bước vào trong! Hầu cho Ngài phải ở vị trí đầu hết.
C. BẠN PHẢI LÀM GÌ VỀ CÁCH ĂN Ở CỦA MÌNH VỚI CHÚA? Chúa Jêsus có phương thuốc chữa mà bạn đang có cần. Hãy luôn nhớ rằng dù bạn đang sống ở nơi nào trong lúc bây giờ, Chúa Jêsus có thể đặt bạn ở nơi mà Ngài muốn bạn phải ở. Từ chìa khóa cho tất cả các Hội Thánh là ĂN NĂN. Nếu chúng ta đến, Ngài sẽ làm cho sạch - I Giăng 1:9
Phần kết luận: Nếu Chúa Jêsus đang đứng trước mặt bạn tối nay, với ánh mắt như ngọn lửa hừng, bạn sẽ đáp ứng thể nào với sứ điệp nầy? Có thể bạn không nhìn thấy Ngài, nhưng Ngài đang hiện diện ở đây! Ngài đang quan sát và Ngài đang chờ đợi để xem coi Hội Thánh Gilead sẽ sử dụng những thứ mà Hội Thánh được ban cho như thế nào!?! Ngài đang quan sát để xem coi chúng ta thuộc loại Hội Thánh nào!?! Tôi thách từng người ở đây hãy hướng nội ngay giờ nầy và hãy tự hỏi mình: "Tôi đang đứng đâu trước mặt Chúa?” Trong sự phục vụ, trong thái độ, trong công cuộc truyền giảng, trong sự tấn tới về mặt thuộc linh, trong tình cảm dành cho Đức Chúa Trời và anh em, v.v… Tiếp đến, hãy đến với Ngài và làm sự hòa thuận lại đi.

Khải huyền 1:9-20: "CƠ SỞ CHO SỰ MẶC THỊ"



Khải huyền 1:9-20
CƠ SỞ CHO SỰ MẶC THỊ
Phần giới thiệu: Để hiểu bất kỳ sách nào trong Kinh Thánh, đặc biệt trừ ra sách Khải huyền với sự phức tạp và chiều sâu của nó, chúng ta phải hiểu bối cảnh, hay cơ sở ngược lại với những gì đã được viết ra. Nhiều sách đòi hỏi nghiên cứu theo chiều sâu mới tìm ra phần thông tin nầy, nhưng sách nầy cung ứng mọi sự ấy cho chúng ta ngay ở đây trong mấy câu nầy. Tối nay, khi chúng ta nghiên cứu phân đoạn Kinh Thánh nầy, nguyện Đức Thánh Linh phán với tấm lòng bạn và tôi bảo đảm rằng bạn sẽ được phước. Chúng ta cùng nhau xem CƠ SỞ CHO SỰ MẶC THỊ.
I. SỰ SẮP XẾP CỦA QUYỂN SÁCH (các câu 9-10a)
A. Ai đã viết ra quyển sách? Giăng (90-100 tuổi!)
1. Anh em - (Minh họa: Không có sự phân biệt nào giữa Mục sư và hội chúng!)
2. Bạn – Sự bắt bớ, II Timôthê 3:12; Sự phục vụ; Canh chừng
B. Giăng ở đâu? Bát-mô – Một hòn đảo dài 10 dặm, rộng 6 dặm trong vùng Biển Địa Trung Hải. Hòn đảo nầy được Lamã sử dụng làm một nhà tù lao động khổ sai. (Minh họa: Sự tể trị của Đức Chúa Trời - Domitian đã cố gắng giết Giăng, nhưng khi ông ta không thể làm được, ông ta đã trục xuất Giăng ra đảo Bát-mô. Một nơi mà ở đó Đức Chúa Trời có thể gặp riêng và phán dạy ông). (Minh họa: Ông đã ở đó về phần xác, nhưng ông cũng ở đó về phần tâm linh nữa!) (Minh họa: Tất cả những tín đồ đều ở trong hai địa điểm:
1. (câu 9b) – Địa điểm theo đời nầy – Bát-mô
2. (câu 10a) – Địa điểm về mặt thuộc linh – Trong tâm linh (Minh họa: Cần thiết cho sự cân đối). (Minh họa: Chúng ta cần phải thờ phượng bằng tâm thần - Giăng 4:24) (Minh họa: Một mình Giăng trong nhà thờ – bất cứ cuộc thờ phượng nào chúng ta tạo ra!)
C. Tại sao ông có mặt ở đó?
1. Sự giảng đạo của ông - I Côrinhtô 1:18
2. Sự chứng đạo của ông - Minh họa: Cơ đốc giáo là một hoạt động liên quan đến tội phạm.
II. SỰ PHÂN CHIA CỦA QUYỂN SÁCH (các câu 11b & 19)
A. (câu 11b) Mạng lịnh Giăng đã tiếp thu – Hãy viết ra mạng lịnh ấy rồi gửi đi - Minh họa: Tại sao phải là 7 Hội Thánh nầy?
B. (câu 19) Những điều kiện Giăng đã tiếp thu - (Bố cục thiêng liêng của Đức Chúa Trời):
1. Quá khứ - (Chương 1)
2. Hiện tại - (Các chương 2-3)
3. Viễn cảnh - (Các chương 4-22)
(Đây là câu CHÌA KHÓA của sách Khải huyền. Bạn quên câu ấy thì bạn sẽ rơi vào những sự giải thích sai lầm ngay).
III. NHỮNG VIỆC MÀ QUYỂN SÁCH QUAN TÂM ĐẾN (các câu 10b, 11a, 12-20).
(Minh họa: Chúa Jêsus là trọng tâm của sách Khải huyền, câu 1a).
A. (câu 13) 7 chân đèn bằng vàng - (Minh họa: Đèn 7 ngọn) Một hình ảnh nói tới Hội Thánh, Mathiơ 5:16.
B. (câu 13) Chúa Jêsus đang ngự giữa các Hội Thánh Ngài! Mathiơ 18:20. Ngài gặp gỡ chúng ta ở đây! (Minh họa: Ngài sẽ làm gì khi Ngài đến với Hội Thánh?)
C. (các câu 14-18) Chúa Jêsus được tỏ ra - Minh họa: Khi Giăng xây lại, ông nhìn thấy:
1. (câu 11a) Nhân cách của Ngài - Minh họa: Đấng Tác Giả và là Đấng Thành Toàn - Hêbơrơ 12:2; Giăng 8:58
2. (câu 13) Địa vị của Ngài - (Minh họa: Con Người - Giăng vốn biết rõ Ngài! Giăng 19:26; 13:25; 21:7). (Minh họa: Ngài được nhìn biết bởi áo xống của Ngài). (Minh họa: Y phục không tạo nên con người, chúng đánh dấu người. Áo xống của Ngài đánh dấu Ngài là: Thầy tế lễ (cầu nguyện); Vua (Dẫn dắt); Quan xét (Xét đoán)
3. (các câu 14-16) Thân Vị của Ngài.
a. (câu 14) Đầu và Tóc – (Tinh khiết, Tuổi tác, Khôn ngoan; I Phierơ 2:22; Đaniên 7:9)
b. (câu 14) Mắt – Tri giác - Hêbơrơ 4:13
c. (câu 15) Chơn – Sự bền đỗ - (Minh họa: Sẽ không bao giờ bỏ cuộc, Minh họa: Cuộc sống của Ngài). (Minh họa: Sự phán xét – Sẽ nặng nề đối với mọi kẻ thù của Ngài - Hêbơrơ 10:12-13)
d. (câu 15) Tiếng nói – Quyền lực - (Minh họa: Giọng nói của quyền lực; Thác Niagara, đại dương). (Không thể tranh luận với). (Minh họa: Ngài sẽ có tiếng nói sau cùng!)
e. (câu 16) Các ngôi sao ở trong tay – Sự bảo hộ - (Minh họa: An ninh ở trong tay Chúa Jêsus - Côlôse 3:3).
f. (câu 16) Miệng – Sự trọn vẹn - Hêbơrơ 4:12, Chúa Jêsus luôn luôn phán ra Lời thật trọn vẹn.
g. (câu 16) Gương mặt – Vô song - (Minh họa: Ngài chẳng có ai tương xứng!) (Minh họa: Mặt trời!)
(Các Hội Thánh = Các chân đèn; Các sứ giả = Những ngôi sao; Chúa Jêsus = Mặt trời – Ngài chiếu sáng chúng hết thảy!)
4. (câu 17) Sự bình an của Ngài - Minh họa: Phản ứng của Giăng và cái chạm của Chúa Jêsus. Ngài luôn luôn phát ra sự bình an - Minh họa: Giăng 6:20; Giăng 14:27.
5. (câu 18) Quyền phép của Ngài – Câu nầy nói ra mọi sự chúng ta cần phải biết để cung ứng cho chúng ta sự bình an về tương lai! Chúa Jêsus đang nắm lấy quyền tể trị mọi sự, Mathiơ 28:18.
a. Sự sống lại – của Ngài và của chúng ta.
b. Quyền hạn của Ngài – Ngài đang cầm xâu chìa khóa mở ra cánh cửa sự chết! (Ngài là nhân vật chính!). (Minh họa: Nhà tù). Ngài có quyền trên sự chết và sự phán xét - Minh họa: Êphêsô 4!

Khải huyền 1:9-11; 19: "TÔI LÀ GIĂNG"



Khải huyền 1:9-11; 19
TÔI LÀ GIĂNG
Phần giới thiệu: Trong khi sách Khải huyền là quyển sách của lời tiên tri mở rộng mọi con đường dẫn tới cõi đời đời; sách ấy cũng là một quyển sách riêng tư nữa. Giăng đã cung ứng rồi cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua những gì chúng ta có thể trông mong khi chúng ta lần theo quyển sách quan trọng nầy. Giờ đây, Ông bắt đầu ghi lại những biến cố và bối cảnh sau khi ông tiếp nhận sự mặc thị. Trong những câu nầy, chúng ta được cung ứng cho phần thông tin về sứ đồ Giăng và những gì ông đã trải qua khi Chúa đến cùng ông với sự mặc thị nầy.
Khi chúng ta cùng nhau nhìn vào mấy câu Kinh Thánh nầy hôm nay, tôi muốn bạn phải giữ điều nầy trong trí: Con người là vấn đề với Đức Chúa Trời. Quyển sách nầy xử lý với những lời tiên tri phức tạp, những sự phán xét rất kinh khủng và những lẽ thật quan trọng; tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn dành thì giờ để cung ứng cho Giăng một cái nhìn thoáng qua. Vì vậy, chỉ trong một ít phút thôi, Giăng đưa ra những điểm nổi bật trong sách Khải huyền. Chúng ta hãy cùng nhau xem xét mấy câu Kinh Thánh nầy trong ít phút hôm nay. Tôi muốn rao giảng về tư tưởng Tôi là Giăng. Khi tôi nói, tôi muốn bạn nhìn xem một vài khía cạnh mà phân đoạn Kinh Thánh nầy tỏ ra về Giăng.
I. GIĂNG, CHỨNG NHÂN (câu 9)
(Minh họa: Câu đầu tiên nầy cho chúng ta biết nhiều về tác giả của quyển sách nầy. Thật vậy, câu nầy giải đáp cho ba thắc mắc quan trọng về Sứ đồ Giăng. Chúng ta hãy lưu ý xem xét những câu trả lời cho các thắc mắc đó).
A. Thắc mắc “Ai” – Nếu chúng ta muốn biết đôi điều về nhân vật đã viết ra quyển sách nầy, câu nầy cung ứng cho chúng ta một số thông tin quí báu về Giăng là ai.
1. Ông là một thánh đồ – Giăng nầy chẳng là ai khác hơn chính mình vị Sứ đồ vĩ đại. Giăng đã lìa khỏi nghề đánh cá của cha mình mà đi theo Chúa Jêsus khi ông còn là một thanh thiếu niên, Mathiơ 4:21-22. Giăng đã đi theo Chúa Jêsus suốt những năm tháng chức vụ của Ngài ở trên đất. Giăng có mặt ở đó trên hòn núi Hẹtmôn có tuyết phủ, khi Chúa Jêsus hóa hình, Mathiơ 17. Ông có mặt ở đó khi Chúa Jêsus làm cho con gái của Giairu sống lại từ kẻ chết, Mác 5. Giăng sống gần gũi Chúa Jêsus đến nỗi ông đã nghiêng trên ngực Ngài tại bữa tiệc ly, Giăng 13. Ông đã có mặt ở đó khi Chúa Jêsus bị bắt, Giăng 18. Ông đã có mặt ở đó khi Chúa Jêsus bị xét xử trước mặt thầy tế lễ thượng phẩm, Giăng 18:16. Ông đã có mặt ở đó khi Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá, Giăng 19:26. Giăng là người tiếp nhận những lời lẽ sau cùng của Chúa Jêsus khi Ngài chịu chết trên thập tự giá. Ông được giao cho trọng trách chăm sóc Mary mẹ của Chúa Jêsus, Giăng 19:25-27. Giăng đã có mặt ở đó tại ngôi mộ trống; ông có mặt giữa vòng những người đầu tiên để tin, Giăng 20:8. Ông được biết là “môn đồ mà Chúa Jêsus yêu”.
Giờ đây, gần 70 năm Giăng là một tôi tớ của Chúa Jêsus. Ông là một Mục sư cao trọng cho dân sự của Đức Chúa Trời. Ông được Chúa sử dụng để viết sách Tin Lành cùng ba thư tín mang tên ông. Giăng là một con người rất quí báu, rất đặc biệt của Đức Chúa Trời. Có thể Giăng là mối nối kết sống động duy nhứt với Đức Chúa Jêsus Christ, 1 Giăng 1:1. Đây là nhân vật mà chúng ta đang nói tới hôm nay. Đây là nhân vật mà Đức Chúa Trời đã chọn để làm ống dẫn qua đó Ngài sẽ gửi sự mặc thị của Ngài nói tới những thời kỳ sau rốt.
Tuy nhiên, khi Lời của Đức Chúa Trời bắt đầu đến theo đường lối của Ngài, Giăng nói: “Tôi là Giăng!” Nói như thế giống như ông rất đỗi kinh ngạc khi Đức Chúa Trời phán cùng ông; ít nhiều gì cũng là qua ông. Phải, Giăng là một con người rất đặc biệt, nhưng một trong những việc khiến ông ra đặc biệt, ấy là sau mọi sự ông đã nhìn thấy và đã kinh nghiệm, ông vẫn khiêm nhường và lấy làm lạ nơi ân sũng của Đức Chúa Trời!
2. Ông là một con cái – Trong khi Giăng là sứ đồ quan trọng và chắc chắn là Cơ đốc nhân lỗi lạc nhất còn sống; ông không xem mình theo những thuật ngữ đó. Ông nói với hàng độc giả của mình như sau: “Giăng…là anh em”. Há đấy chẳng phải là một ơn phước sao? Sau mọi sự ông đã nhìn thấy và là một phần trong đó, ông vẫn xem mình chỉ là một thánh đồ khác của Đức Chúa Trời mà thôi.
(Lưu ý: Đúng là một bài học dành cho các thánh đồ của Đức Chúa Trời! Chúng ta đã được cứu bởi ân điển và được phép kinh nghiệm một số phước hạnh lớn lao nhất mà con người biết được. Đức Chúa Trời rất nhơn từ đối với chúng ta, và thậm chí Ngài đã đại dụng một số người trong phòng nhóm nầy vì sự vinh hiển của Ngài. Khi điều đó xảy ra, có một khuynh hướng của con người muốn làm vinh hiển trong chỗ chúng ta là ai và những gì chúng ta đã làm. Chúng ta cần phải nhớ rằng chúng ta chẳng là gì hết khi Chúa tìm gặp và cứu chúng ta; và chúng ta sẽ không hề là cái gì đó quan trọng tách rời khỏi Ngài. Phaolô đã nói đúng khi ông nói: “Nhưng tôi nay là người thể nào, là nhờ ơn Đức Chúa Trời” (I Côrinhtô 15:10).
Một trong những lý do Chúa sử dụng Giăng trong một vai trò quan trọng như thế là vì Giăng là một tôi tớ rất khiêm nhường. Ngài sẽ sử dụng chúng ta nếu chúng ta cũng biết nhớ đến mình ra từ đâu và Ngài là nguồn của năng lực chúng ta, (Giacơ 4:6; 10; I Phierơ 5:5-6).
(Lưu ý: Đồng thời, câu nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng nhà truyền đạo không lớn lao hơn dân sự! Tôi tin người của Đức Chúa Trời cần phải được tôn trọng vì cớ sự kêu gọi của ông và vì Đạo mà ông đang rao giảng; nhưng ông không cao hơn phần còn lại trong những thuộc viên của Hội Thánh. Có nhiều hội chúng đã thoái hóa thành một hệ thống thờ lạy nhà truyền đạo. Khi điều đó xảy ra, và một người được ban cho quyền lực tuyệt đối trong một nhà thờ, kết quả là xác thịt và tội lỗi. Có người nói: “Nếu uy quyền suy sụp, thì quyền lực tuyệt đối suy sụp một cách tuyệt đối”. Tôi đã nói lâu nay rằng Chúa là Đầu của Hội Thánh Ngài. Còn bạn thì sao?)
3. Ông là một người chịu khổ – Giăng cũng tự nhận mình là “bạn của các anh em về hoạn nạn”. Giăng đang viết cho các thánh đồ nào đang chịu hoạn nạn vì cớ Đấng Christ. Họ bị đánh đập dưới roi vọt của những nhà cầm quyền Lamã. Những tín đồ thật trong thời ấy đã trả cái giá thật khủng khiếp vì cớ đức tin họ đặt nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Thật là yên ủi cho tấm lòng của họ khi biết được rằng ngay cả nhân vật lỗi lạc nhất giữa vòng họ cũng đang mang lấy thập tự giá của mình vì sự vinh hiển của Chúa.
(Lưu ý: Đồng thời, không một ai nói hầu việc Chúa Jêsus sẽ luôn luôn là dễ dàng. Thật vậy, Chúa Jêsus đã nói ngược lại một cách chính xác. Đời sống Cơ đốc nhân trung bình được mô tả là một đời sống của sự chối bỏ mình; tự chết đi và mang lấy thập tự giá, Mathiơ 16:24. Những tín đồ của mọi thời đại đều bị cảnh cáo về cái giá của sự phục vụ Chúa Jêsus, II Timôthê 3:12.
Quí bạn ơi, chúng ta đang sống trong một thời kỳ phước hạnh. Chúng ta chưa bị bắt bớ vì cớ đức tin của chúng ta. Tuy nhiên, nếu bạn chịu giữ mắt mình vào các tin tức thì rõ ràng là Cơ đốc giáo đang chịu sự tấn công. Mỗi năm trên thế giới của chúng ta hàng trăm ngàn Cơ đốc nhân vẫn đang tuận đạo vì cớ đức tin của họ. Ngày ấy không bao lâu nữa sẽ đến tại nước Mỹ. Chúng ta cần phải biết chắc rằng chúng ta đã sẵn sàng để trả giá).
4. Ông là một tôi tớ – Khi Giăng sử dụng cụm từ “bạn của các anh em về hoạn nạn, về nước, về sự nhịn nhục trong Đức Chúa Jêsus”, ông đang sử dụng lối nói xác nhận ông là một người đang trông đợi và canh chừng sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ. Từ ngữ “nước” ám chỉ sự việc ấy. Từ ngữ “nhịn nhục” đề cập tới sự trông đợi. Giăng đang trung tín làm việc cho Chúa Jêsus và ông đang trông đợi Ngài tái lâm. Chỉ vì Giăng là một cụ già không có nghĩa là ông đã thôi không phục vụ nữa. Ông vẫn đang làm việc cho Chúa. Ông vẫn đang trông đợi Chúa. Ông vẫn là một chứng nhân cho Chúa.
(Lưu ý: Đây là phần mô tả thể nào chúng ta hết thảy nên sống đời sống của chúng ta. Chẳng có một chỗ nào để dừng lại; không một chỗ nào để bỏ cuộc; chẳng có một chỗ nào để ngồi lại mà chẳng làm gì hết. Cho tới khi Chúa đến để đón tiếp chúng ta, chúng ta phải quyết định sống từng giây phút cho sự vinh hiển Ngài, trong sự thờ phượng Ngài, tìm kiếm sự hiện ra của Ngài. Rốt lại, đấy là lý do tại sao Ngài đã cứu chúng ta, Êphêsô 2:10).
B. Thắc mắc “ở đâu” – Sau khi nói cho chúng ta biết ông là ai, Giăng nói cho chúng ta biết nơi ông đang ở khi sự mặc thị nầy đến với ông. Ông đang ở “trong đảo gọi là Bát-mô”. Bát-mô là một hòn đảo nhỏ nằm trên Biển Aegean khoảng 30 dặm tính từ thành Êphêsô. Hòn đảo dài khoảng 10 dặm và rộng 6 dặm. Đảo nầy hình thành từ thứ đá gồ ghề phun ra từ núi lửa và người Lamã đã sử dụng làm nhà tù trong thời của Giăng. Những tù nhân được gửi đến đó để làm việc trong những khu mỏ đồng.
Bây giờ, Bát-mô không phải là một nơi đến lý tưởng đâu. Những người được chôn cất ở đó đã chịu khổ rất khủng khiếp! Họ không có áo quần, đồ ăn hay nơi ở thích nghi. Họ bị buộc phải ngủ ngoài trời trên những rặng đá trơ trụi. Họ bị buộc phải lao động trong những khu mỏ và họ đã chịu khổ kinh khủng dưới lằn roi của những tên lính Lamã.
Đấy là chỗ mà Giăng đang ở khi ông tiếp nhận sự mặc thị. Điều nầy góp phần để nhắc cho chúng ta nhớ rằng Đức Chúa Trời có thể sử dụng ngay cả hoàn cảnh ghê khiếp nhất trong mọi hoàn cảnh trong đời sống chúng ta vì cớ sự vinh hiển của Ngài và vì ích cho chúng ta, Rôma 8:28.
C. Thắc mắc “tại sao” – Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Giăng bị trục xuất ra đảo Bát-mô. Truyền khẩu cũng cho chúng ta biết rằng trước khi Hoàng đế Domitian trục xuất Giăng ra đảo Bát-mô; ông ta đã tìm cách đặt Giăng vào chảo dầu sôi để giết ông. Giăng vẫn còn sống, bị đưa đi bỏ. Họ không thể giết được ông, vì vậy họ tìm cách bỏ rơi ông; không nhìn biết rằng Đức Chúa Trời sẽ cùng đi với ông và sử dụng ông theo một phương thức lớn lao nhất khả thi. (Đồng thời, bạn và tôi cũng không thể bị đánh bại cho tới chừng Chúa Jêsus làm xong việc với chúng ta!) Tại sao con người khốn khó nầy, ít nhất đã 90 tuổi rồi, bị gửi tới trại tù trên hòn đảo khắc nghiệt đó? Phải, có vài lý do tại sao nhiều tín đồ trong thời đó bị thù ghét và bị đối đãi nghiệt ngã như thế bởi người Lamã. Cho phép tôi cung ứng cho bạn một vài lý do hôm nay.
+ Họ bị thù ghét vì những lý do chính trị – Các Hoàng đế Lamã đều được thờ lạy như những vì thần bởi công dân của họ. Người Lamã bị buộc phải bước vào một đền thờ dành cho các Caesars và họ bị buộc phải đốt hương, đặt nó trên bàn thờ rồi nói: “Caesar là Chúa Tể!” Nhiều Cơ đốc nhân từ chối không làm theo điều nầy và kết quả là họ sẽ bị bắt bớ.
+ Họ bị thù ghét vì những lý do tôn giáo – Người Lamã cũng thờ lạy các vị thần cổ của họ, được tiêu biểu bởi những hình tượng. Nhiều Cơ đốc nhân từ chối không công nhận các thần linh của người Lamã. Người Lamã mê tín tin rằng hành động từ chối của Cơ đốc nhân bị đỗ thừa cho những thảm họa thiên nhiên, những dịch lệ, chiến tranh, đói kém, v.v… Trong vài thập niên đầu tiên sau sự chết của Chúa Jêsus, nhiều Cơ đốc nhân bị xem là một nhánh khác của Do thái giáo. Nhưng, khi người Lamã nhìn thấy sự thù hận mà người Do thái có đối với Cơ đốc nhân, người Lamã đã xem Cơ đốc giáo là một tôn giáo phân biệt. Từ khi Cơ đốc giáo kháng cự lại luật pháp để hình thành một tôn giáo mới, Cơ đốc giáo bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và nhiều Cơ đốc nhân bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và trở thành mục tiêu của sự bắt bớ nghiệt ngã.
+ Họ bị thù ghét vì những lý do xã hội – Xã hội Lamã được xây dựng trên một hệ thống giai cấp rất cứng rắn. Tầng lớp thượng lưu có ít việc phải làm với các giai cấp thấp kém hơn. Cơ đốc nhân được dạy rằng tất cả mọi người đều bình đẳng trước mắt của Đức Chúa Trời. Điều nầy đã đe dọa hạ thấp cấu trúc xã hội của Lamã và nhiều Cơ đốc nhân cũng bị bắt bớ về điều nầy nữa. Nhiều Cơ đốc nhân cũng từ chối không tham dự các trò chơi của người Lamã, những lễ hội cùng những sinh hoạt khác của xã hội tà giáo đó. Sự thực cho thấy rằng họ đã chọn làm một dân phân biệt khiến họ bị thù ghét triệt để.
+ Họ bị thù ghét vì những lý do kinh tế – Vì Cơ đốc nhân không thờ lạy hình tượng và thậm chí đã rao giảng chống lại các hình tượng, giáo lý của họ làm tổn thương sự thương mại của các thầy tế lễ, thợ thủ công và những thương buôn nào xây dựng cuộc sống họ từ chỗ thờ lạy hình tượng.
1. Điều Giăng đã rao giảng – Giăng bị chọn cho sự bắt bớ bởi Hoàng đế Lamã Domitian vì cớ đạo mà Giăng đã rao giảng. Thay vì rao ra một sứ điệp làm đẹp lòng người Lamã, Giăng đã rao giảng lẽ thật. Ông đã xét đoán tội lỗi và ông đã rao giảng Tin Lành. Cả hai việc nầy đã khiến cho người Lamã nổi thịnh nộ trên ông.
2. Đấng Giăng đã rao giảng – Cái dầm xóc thật trong xác thịt của họ là sự khăng khăng của Giăng cho rằng Đức Chúa Jêsus Christ là Con của Đức Chúa Trời. Ông đã rao giảng Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá và đã sống lại từ kẻ chết. Giăng đã rao giảng Chúa Jêsus là phương thức duy nhứt để được cứu rỗi. Ông đã xét đoán các thần tượng của người Lamã, phương thức sống của người Lamã, luật lệ của người Lamã và xã hội của người Lamã. Ông chỉ cho người ta thấy Chúa Jêsus và ông bị thù ghét vì cớ đó!
(Lưu ý: Ngày nay, chúng ta hưởng sự tự do thờ phượng trong xứ sở nầy. Tôi có thể bước lên giảng đường nầy và rao giảng bất cứ điều chi tôi đẹp lòng từ quyển Kinh Thánh nầy và tôi được bảo hộ theo luật pháp của xứ sở chúng ta. Nhưng, có một ngày hầu đến trong nước Mỹ, khi điều đó sẽ bị xem là sự giảng đạo bất hợp pháp nghịch lại những tội lỗi nhất định nào đó; Khi ấy, xét đoán xã hội, nhà cầm quyền và tôn giáo giả sẽ là bất hợp pháp. Có một ngày hầu đến, khi trưng dẫn Giăng 14:6 sẽ là một tội ác. Ngày ấy đang tới đến! Tôi nguyện rằng tôi sẽ có sự dạn dĩ để đối mặt với điều đó giống như Giăng và phần còn lại của các Sứ đồ đã có!)
I. Giăng, chứng nhân
II. GIĂNG, CON NGƯỜI THỜ PHƯỢNG (câu 10a)
(Minh họa: Chúng ta đã thấy Giăng là chứng nhân, giờ đây chúng ta hãy nhìn vào Giăng là con người thờ phượng. Đây là ông, 90 tuổi, bị trục xuất sang đảo tù, bị buộc phải lao động trong các khu mỏ và phải chịu đựng hoàn cảnh nghiệt ngã nhất trong mọi hoàn cảnh. Thế nhưng, Giăng đang làm gì khi chúng ta dõi theo ông? Ông đang thờ lạy! Hãy cùng với tôi xem xét ba tư tưởng ngắn gọn về Giăng, con người thờ phượng).
A. Xem xét phần tuổi tác của Giăng – Ông được 90 tuổi và ông vẫn còn đang thờ phượng! Một người kém tuổi hơn đã nói: “Tôi đã nộp các thứ thuế! Để ai đó mang gánh nặng trong một chút. Tôi đã qua được thời thế!” Quí bạn ơi, nếu bạn là con cái của Đức Chúa Trời, bạn cần phải biết rằng sẽ chẳng có một ngày sẽ đến trong đời sống của bạn khi bạn thôi không là một người thờ phượng nữa. Đức Chúa Trời trông mong chúng ta bước vào sự hiện diện của Ngài để thờ lạy bao lâu Ngài ban cho chúng ta khả năng để thờ phượng.
(Lưu ý: Tôi ngợi khen Chúa vì anh em quí báu của chúng ta lớn tuổi hơn. Anh em là một sự cảm hứng và là một sự thách thức cho phần còn lại của chúng tôi. Bất chấp tuổi tác, chứng viêm khớp, và nghịch cảnh, anh em đang trung tín đến với nhà của Đức Chúa Trời. Tôi muốn anh em nhìn biết rằng tôi tán thưởng anh em! Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì cớ anh em! Tôi nguyện rằng khi tuổi tác tôi cao lên, tôi có thể sống giống như anh em. Bây giờ, đối với phần còn lại trong chúng ta: Xấu hổ, xấu hổ, xấu hổ! Chúng ta có thể học được nhiều điều từ những thánh đồ cao trọng nầy! Khi bạn lập Chúa Jêsus làm ưu tiên một trong đời sống của bạn, sự thờ phượng sẽ đến thật dễ dàng với bạn!)
B. Xem xét hoàn cảnh của Giăng – Giăng không phải ở khách sạn Hilton trên đảo Bát-mô khi ông hạ mình xuống trong sự thờ phượng. Ông không ở trong một tòa nhà có máy điều hòa không khí, ngồi trên hàng ghế có bọc nệm đâu. Ông đang ở tù! Ông đang chịu khổ. Ông đang lạnh lẽo. Ông đang đói khát. Nhưng, bất chấp mọi sự mà ông đang đối mặt với, ông vẫn đang thờ phượng! Một người kém tuổi hơn đã nói: “Hầu việc Chúa không có lương bổng chi hết. Tôi đã trung tín với Ngài và hãy xem tôi được gì!?! Tôi sẽ bỏ cuộc đây! Chẳng có lợi lộc chi hết!” Nhưng, Giăng không như vậy đâu, bất chấp tình trạng của mình, ông đi trước mặt Chúa trong sự thờ phượng.
(Lưu ý: Nhiều tín đồ ngày nay có thể sử dụng một liều lượng những gì Giăng đã có! Liều lượng ấy giữ được Cơ đốc nhân hiện đại không ra khỏi nhà thờ. Một cơn đau nhỏ, một nan đề nhỏ, một cảm xúc tổn thương nhỏ, thế là họ ra khỏi đó ngay! Họ có thể bỏ đi và không nghĩ đến điều đó một chút nào nữa!
Tôi ngợi khen Chúa vì những thánh đồ ấy, những người nhìn biết vị trí của họ ở đâu rồi biết quyết định ở tại chỗ đó với từng cơ hội. Tôi tán thưởng những thánh đồ ấy, những người không tìm cách họ sẽ “nhận được” gì ở nhà thờ; nhưng họ vui vẻ trong những gì họ “ban cho”. Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời vì những người yêu mến thờ phượng Chúa của họ).
C. Xem xét sự đầu phục của Giăng – Hãy nhìn vào câu Kinh Thánh nầy: “Nhằm ngày của Chúa, tôi được Đức Thánh Linh cảm hóa”. Cụm từ “nhằm ngày của Chúa” được rút ra từ tham khảo “ngày của Đức Giêhôva”; là thời điểm khi Chúa Jêsus sẽ đến với đất nầy trong quyền phép và sự vinh hiển. Người ta cho rằng Giăng đã được “chuyển” vào cõi tương lai đúng vào ngày của Đức Giêhôva. Chúa Jêsus đã nói điều nầy với Phierơ: “Nếu ta muốn người cứ ở cho tới khi ta đến, thì can hệ gì với ngươi?” Giăng 21:22. Có người nghĩ rằng đây là một tham khảo đến câu nói đó.
Tôi nghĩ điều nầy đề cập đến “ngày của Chúa”. Tôi nghĩ Kinh Thánh nói rằng Giăng đã thấy mình đang ở một chỗ thờ phượng ngay trên đảo Bát-mô. Thế thì, một ngày Chúa nhựt khi Giăng đã ở trong sự thờ phượng, Chúa hiện ra gặp gỡ ông. Quí bạn ơi, chúng ta không hề biết Chúa sẽ làm gì và khi nào Ngài sẽ hiện ra trong nhà của Ngài. Cần phải hiện diện khi Ngài ngự đến (Minh họa: Thôma – Giăng 20:19-28).
Bất chấp mọi sự Giăng đã đối diện với trên hòn đảo xa xôi ấy, ông đã vượt lên trên hết mọi sự rồi thấy mình đang ở trong sự hiện diện của Chúa trong sự thờ phượng. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng ông được “cảm hóa”. Vị trí địa lý của Giăng là hòn đảo Bát-mô; nhưng vị trí thuộc linh của ông là ở trong sự hiện diện của Chúa. Giăng đã có được hai thế giới trong cùng một lúc. Phiêu lạc trong sự thờ phượng sẽ khiến cho bạn bước ra khỏi thế giới nầy trong một lúc. (Minh họa: Gióp – Gióp 1:20-21). Cảm tạ Đức Chúa Trời vì hạng người giống như Giăng, họ thờ lạy Chúa của họ bất chấp mọi sự mà họ đang đối diện với trong cuộc sống.
I. Giăng, chứng nhân
II. Giăng, con người thờ phượng
III. GIĂNG, TÁC GIẢ (các câu 10b-11, 19)
(Minh họa: Giờ đây, Giăng đang lúi cúi nói về sự mặc thị mà ông sắp mở ra. Ông tỏ ra một vài sự kiện về tư liệu nầy).
A. Đạo diễn tác phẩm của ông (các câu 10b-11a) – Khi Giăng thờ lạy, chính mình Chúa đã thăm viếng ông. Khi Chúa phán, tiếng phán của Ngài nghe như tiếng “loa”. Đây là thứ âm thanh lôi kéo sự chú ý của Giăng tức thì. Khi chúng ta lần qua các trang sách Khải huyền, chúng ta sẽ nghe thêm nhiều tiếng loa nữa. Mỗi tiếng loa giới thiệu một biến cố nghiêm trọng. Tiếng phán đặc biệt nầy mời Giăng phải lắng nghe rồi viết ra những gì ông đã nghe.
Khách Viếng thiên thượng nầy, và lời lẽ Ngài phán ra, là một sự nhắc nhớ cho chúng ta rằng những gì chúng ta đang đọc và cùng nhau nghiên cứu không phải là một quyển sách do con người viết ra. Giăng chỉ là người viết; tác giả của quyển sách nầy, cùng với từng sách khác trong Kinh Thánh, là chính mình Chúa, II Timôthê 3:16.
B. Nơi đến của tác phẩm (câu 11b) – Sự mặc thị nầy sẽ được gửi đến bảy Hội Thánh được kể tên ra trong câu nầy. Chúng ta sẽ xem xét các Hội Thánh ấy theo cách riêng trong mấy tuần sắp đến. Còn bây giờ, cho phép tôi nhắc cho bạn nhớ rằng các Hội Thánh nầy là những Hội Thánh có thật đấy. Giăng sẽ phải gửi trực tiếp bức thư nầy cho họ. Các Hội Thánh nầy cũng là đại biểu của Hội Thánh như một tổng thể. Sự mặc thị nầy không những đã tồn tại trong kỷ nguyên ấy; chúng cũng là một sứ điệp cho chúng ta trong thời buổi của chúng ta nữa.
Đức Chúa Trời có đôi điều để nói với từng Hội Thánh từng tồn tại trong thư tín nầy. Ngài cũng có đôi điều để nói với từng cá nhân trong các Hội Thánh ấy nữa. Ngài có đôi điều để nói với bạn và với tôi.
C. Những sự phân chia trong tác phẩm của ông (câu 19) – Câu nầy là bố cục đầy cảm hứng về mặt thiêng liêng của sách Khải huyền. Câu nầy tỏ ra cho chúng ta thấy cách thức chúng ta cần phải chia ra và giải thích quyển sách nầy. Để làm cho tươi mới ký ức của chúng ta, câu nầy chia sách Khải huyền ra làm ba phần rõ ràng. Đấy là:
+ Những sự ngươi sẽ thấy – Các biến cố ở chương 1
+ Những việc nay hiện có – Các biến cố ở các chương 2-3
+ Những việc sau sẽ đến – Những biến cố ở các chương 4-22.
Bây giờ, có người sẽ lấy làm lạ, tôi lấy ý tưởng ở đâu khi cho rằng chương 4 đánh dấu một sự phân chia chính trong sách nầy!?! Câu trả lời được thấy ở cụm từ “sau sẽ đến”. Cụm từ nầy dịch hai từ Hylạp. Đấy là “meta” và “tauta”. “Meta” có nghĩa là “sau” và “tauta” có ý nói “những điều nầy”. Hai từ nầy kết hợp nhau cũng được thấy ở câu đầu tiên của chương 4, ở đây Kinh Thánh chép: “điều sau nầy …”. Nói cách khác, Kinh Thánh chỉ ra rõ ràng rằng chương 4 nằm trên dòng phân cách giữa “những việc nay hiện có” và “những việc sau sẽ đến”.
Phần kết luận: Chúng ta đã được cung ứng phần lai lịch quan trọng về sứ đồ Giăng từ phân đoạn Kinh Thánh nầy. Chúng ta cũng được phép có cái nhìn thoáng qua về công tác mà ông được kêu gọi phải lo làm. Hiểu biết Giăng là ai; tại sao ông đã làm những gì ông đã làm; và loại tấm lòng ông đã có cho Chúa Jêsus sẽ giúp đỡ chúng ta khi chúng ta lần theo sách Khải huyền.
Khi tôi soạn bài giảng nầy, Chúa đã sử dụng nó để phán với lòng tôi về cấp độ đầu phục của chính tôi đối với Ngài. Tôi không biết về bạn, nhưng tôi muốn được tìm thấy là trung tín cho tới chừng Ngài gọi tôi về quê hương. Tôi muốn hầu việc Ngài, yêu mến Ngài, thờ phượng Ngài và nếu cần thiết, tôi muốn chịu khổ vì Ngài. Có lẽ Ngài đã phán với tấm lòng bạn về cách bạn ăn ở với Ngài. Nếu Ngài đã chạm đến một số cấp độ nào đó tối nay, bàn thờ nầy đang rộng mở đây. Ngài sẽ gặp gỡ bạn ở đây và Ngài sẽ vùa giúp cho bạn. Chỉ hãy đến với Ngài!

Khải huyền 1:1-8: "HÉ LỘ MẶC KHẢI"



Khải huyền 1:1-8
HÉ LỘ MẶC KHẢI

Phần giới thiệu: Tại sao phải nghiên cứu sách nầy? Có vài lý do! Satan thù ghét sách ấy; Sách ấy áp dụng cho thời buổi của chúng ta; Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho sự nghiên cứu, chúng ta cần phải nghe theo, chúng ta được truyền phải rao giảng cho cả hội chúng, Ngôi Lời và Sự Khải Thị là một phần của sách ấy. Một số người tin rằng chúng ta không được rối với sách nầy. Họ tuyên bố rằng sách nầy không thể hiểu nổi.
Phải, Ngôi Lời được hiểu rõ là do công việc của Đức Thánh Linh chớ không phải của loài người.
Đề tựa của quyển sách được thấy ở câu 1: SỰ MẶC THỊ CỦA ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST.
Sách được viết ra để tỏ cho chúng ta biết về những mục đích, thân vị và các chương trình của Chúa Jêsus.
Thay vì những việc nầy bị che kín như có người nói, ngay cả từ ngữ Mặc Thị có nghĩa là "một sự hé lộ". Chúng ta có thể hiểu được quyển sách và chúng ta có thể tiếp thu nhiều điều từ đó. Chúng ta hãy dành thời gian tối nay và nghiên cứu 8 câu đầu tiên của sách Khải huyền. Hãy chú ý:
I. HÉ LỘ MỤC ĐÍCH CỦA NGÀI (các câu 1-4)
A. Ý nghĩa của quyển sách (các câu 1a-b) - (Một sự hé lộ – Minh họa: Bức tượng)
1. Thân Vị của Đấng Christ được tỏ ra (câu 1a) – Chúa Jêsus được tỏ ra trong mọi sự vinh hiển Ngài
2. Mục đích của Đức Chúa Trời được tỏ ra (câu 1b) – Tỏ ra những gì sắp xảy ra
B. Ký hiệu của quyển sách (các câu 1c – 2)
1. Ông đã nhận sự mặc thì nầy cách lạ lùng (câu 1c) – Minh họa: Có ý nghĩa; (Đèn = các hội chúng; ngôi sao = thiên sứ; hương = sự cầu nguyện, v.v…) (Minh họa: Tất cả các biểu tượng đã được giải thích trong sách nầy hay ở chỗ khác trong Kinh Thánh) (Minh họa: Lời lẽ thay đổi = Các biểu tượng không thay đổi!)
2. Ông đã ghi lại sự mặc thị nầy thật tỉ mỉ (câu 2) – Ông đã ghi lại những điều mà ông được truyền cho, không mâu thuẫn, song xây dựng bằng chứng nói tới Chúa Jêsus.
C. Tính độc nhất của quyển sách (câu 3) – Sách nầy đứng một mình trong Kinh Thánh.
1. Có một lời hứa đặc biệt – Một ơn phước có ba phần - (Minh họa: Khải huyền 22:14; 18-19)
2. Có một thời gian đặc biệt – Minh họa: Đây là những ngày sau rốt – Minh họa: Israel – Mathiơ 24:32-34. (Tỏ ra những biến cố liên quan đến thời buổi của chúng ta!)
Lời tạ ơn – Trong các câu 4-5, Giăng bắt đầu nói tới 7 Hội Thánh trong Tiểu Á. Ông nói cho họ biết hai việc:
1. Ân điển – Sự thương xót của Đức Chúa Trời đang sẵn có cho mọi người, và Ngài sẽ xem xét dân sự Ngài.
2. Bình an – Thậm chí ở giữa sự hỗn loạn, Ngài vẫn là Chúa bình an. Ngài cũng tỏ ra Đấng mà từ đó có sứ điệp nầy:
1. Đức Chúa Cha – Xuất Êdíptô ký 3:14
2. Đức Thánh Linh – Trong sự dư dật quyền phép Ngài (Minh họa: Số 7 đầu tiên trong nhiều số 7!) (Minh họa: Các ngôi sao, các Hội Thánh, các ngọn đèn, 7 lần 7, v.v…)
3. Đức Chúa Con - Adonay Yeshua Meshach
II. HÉ LỘ THÂN VỊ NGÀI (các câu 5-6)
A. Chức vụ có ba phần của Chúa Jêsus (câu 5)
1. Chức vụ nói tiên tri của Ngài – Đấng làm chứng thành tín, Ngài làm chứng cho:
a. Bản chất tội lỗi
b. Tính cần thiết nếu công bình
c. Sự phán xét đang ở gần
d. Những tin tức về ơn cứu rỗi (Minh họa: Êsai 55:4; Giăng 18:37)
2. Chức vụ tế lễ của Ngài – Sanh đầu nhất từ trong kẻ chết
a. Đấng dâng của lễ đặc biệt – Huyết thanh sạch của Ngài, và là Đấng cầu thay cho linh hồn con người, Hêbơrơ 5:6; 7:25.
b. Người đầu tiên sống lại không còn chết nữa, lời hứa hầu đến - I Côrinhtô 15:3-23 (Minh họa: Sanh đầu nhứt = Protokos – nguyên mẫu của những gì sẽ theo sau!!)
3. Chức vụ của Ngài trong tương lai – Ngài hoàn toàn là Đấng tể trị trời và đất - I Timôthê 6:15
B. Lý do có ba phần cho sự ngợi khen (các câu 5b-6) (Bài ca ngợi của Giăng)
1. Ngài yêu chúng ta (câu 6a) - (Thì hiện tại)
a. Tình yêu riêng tư – Giăng 3:16
b. Tình yêu đời đời, Giêrêmi 31:3
2. Ngài buông tha chúng ta (câu 6b) - (Thì quá khứ) (Minh họa: Rửa sạch = Louo - Dual Trans)
a. Ngài rửa sạch chúng ta khỏi mọi vết uế tội lỗi - I Giăng 1:7 – rửa sạch hoàn toàn – Nhúng xuống nước
b. Ngài buông tha chúng ta khỏi xiềng xích tội lỗi – Rôma 6:6-7
c. Ngài buông tha chúng ta khỏi mọi đòi hỏi của tội lỗi – Rôma 6:23
3. Ngài cất nhắc chúng ta lên (câu 6)
a. Bậc vua chúa – Đồng trị với Chúa Jêsus - II Timôthê 2:12
b. Thầy tế lễ – Không cần đến một vị trí nào khác nữa. Chúng ta đến gần trực tiếp với Nơi Chí Thánh. Hêbơrơ 10:19.
(Minh họa: Ngài xứng đáng được ngợi khen. Minh họa: Sự tể trị sẽ được chuyển giao cho Ngài một ngày gần đây!)
III. HÉ LỘ CHƯƠNG TRÌNH CỦA NGÀI (các câu 7-8)
A. Một chương trình sắp hiển hiện (câu 7a) – Tái lâm trong vinh hiển – Xachari 13:6 (Minh họa: Sự tái lâm có hai phần - Cất lên và Vinh hiển)
B. Một chương trình tối hậu (câu 7b) – Tể trị trên muôn loài – Hêbơrơ 10:12-13
C. Chìa khóa cho chương trình của Ngài (câu 8) - (Mọi sự đều xoay quanh chỗ Ngài là ai!)
1. Cơ bản của Đức Chúa Trời - (Minh họa: Ngài THỰC SỰ là ai!)
2. Đấng Toàn Năng - (Minh họa: Lịch sử là...câu chuyện của Ngài!) (Minh họa: Hiện Có, Đã có, và Còn Đến!)
Phần kết luận: Có những ngày rất khích lệ sống động và đặc biệt đối với việc trở thành một Cơ đốc nhân. Hãy tự mình sửa soạn để rời khỏi thế giới nầy không bao lâu nữa! Đồng thời, có những người hư mất ở xung quanh, họ cần đến sứ điệp, hãy mời họ đến với những buổi nghiên cứu như thế nầy và nói cho họ biết về Chúa. Thì giờ ngắn ngủi, Satan đang hoạt động và dân sự của Đức Chúa Trời cũng cần phải làm việc tích cực nữa!

Khải huyền 1.4-8: "NHÌN SƠ VÀO NHỮNG ĐIỂM HẤP DẪN SẮP XẢY ĐẾN"



Khải huyền 1.4-8
NHÌN SƠ VÀO NHỮNG ĐIỂM HẤP DẪN SẮP XẢY ĐẾN
Phần giới thiệu: Sách Khải huyền là một quyển sách rất lạ lùng. Đó cũng là một quyển sách rất phức tạp. Có nhiều chỗ quanh co, và đồ thị những diễn biến phát triển nhanh chóng trên từng trang sách ấy. Sách nầy chứa mọi yếu tố ly kỳ long trọng. Trên từng trang sách, bạn sẽ thấy hành động, hồi hộp, mầu nhiệm, lạ lùng, sợ hãi, kịch tính, khủng khiếp, và nhiều phấn khích. Trong khi quyển sách có tới 22 chương chỉ ra mọi hành động dẫn tới phát triển thật hoàn toàn; Giăng cung ứng cho chúng ta Một Cái Nhìn Sơ Vào Những Điểm hấp Dẫn Sắp Xảy Đến ở đây ngay ở phần mở đầu. Ông kích thích mọi khẩu vị của chúng ta cho những gì sẽ xảy đến trên đường lối của chúng ta trong phần còn lại của quyển sách.
Những câu Kinh Thánh chúng ta đọc hôm nay là phần giới thiệu cho tư liệu sẽ được khai triển khi chúng ta bước qua những câu nói của sách Khải huyền. Với điều đó trong trí, chúng ta hãy xem phân đoạn Kinh Thánh theo đề tựa nầy Một Cái Nhìn Sơ Vào Những Điểm Hấp Dẫn Sắp Xảy Đến.
I. KHÚC DẠO ĐẦU CỦA SÁCH KHẢI HUYỀN (các câu 4-5a)
A. Nơi đến của bức thư – “gởi cho bảy Hội thánh ở xứ A-si” – Bức thư nầy được gửi cho 7 Hội Thánh đặc biệt thuộc Tiểu Á. Các Hội Thánh nầy được nhắc tới đích danh ở câu 11 và chúng được xử lý thật chi tiết ở chương 2 và 3. Chúng ta sẽ xem xét từng hội chúng nầy khi chúng ta đến với những câu Kinh Thánh đó.
Vì thời gian có hạn, những điều chúng ta cần phải ghi nhớ về các Hội Thánh nầy là đây:
+ Thứ nhứt, đấy là những hội chúng có thật, cụ thể đã tồn tại vào thời điểm Giăng viết quyển sách nầy. Chúa Jêsus đã phán với họ về những thánh đồ thật, những tội nhân thật, những tình huống thật và những giải pháp thật.
+ Thứ hai, các Hội Thánh nầy là đại biểu cho từng Hội Thánh Cơ đốc từng tồn tại. Mỗi Hội Thánh chứa một số đặc điểm đánh dấu các Hội Thánh ban đầu nầy. Vì thế, trong khi bức thư nầy không nhắc tới Hội Thánh sở tại; sách nầy có nhiều điều để nói với chúng ta một khi sách ấy nhắc tới chúng ta.
(Minh họa: Bức thư nầy được gửi đến cho “bảy Hội Thánh”. Đây là chỗ sử dụng lần đầu tiên con số 7 trong sách Khải huyền. Đây là con số sẽ xảy có rất nhiều lần khi chúng ta nghiên cứu quyển sách. Bảy là con số chỉ ra “sự trọn vẹn, hoàn toàn và đầy đủ”. Vì vậy, khi Kinh Thánh nhắc tới 7 Hội Thánh, Kinh Thánh đề cập tới Hội Thánh trong chỗ đầy đủ nhất của nó. Đấy là lý do tại sao tôi nói rằng dù quyển sách đặc biệt không được viết cho chúng ta, nó vẫn nói với chúng ta như vốn có thật vậy.
Bảy là con số nổi bật lên trong thế giới của chúng ta. Có 7 màu tạo nên quang phổ ánh sáng. Có 7 nốt trên khuôn nhạc. Có 7 ngày trong một tuần lễ.
Bảy xuất hiện thường xuyên trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời đã truyền ra 7 điều trong luật pháp. Có 7 bí quyết, hay sự kín nhiệm, trong các thí dụ Đấng Christ nói tới Vương quốc. Có 7 câu nói của Chúa Jêsus trên thập tự giá. Ở thành Giêricô, 7 thầy tế lễ mang 7 cây kèn tiếng vang diễu hành quanh thành phố trong 7 ngày. Vào ngày thứ 7, họ diễu hành quanh thành phố 7 lần.
Trong quyển sách nầy, con số 7 được dử dụng 49 lần, nghĩa là 7 lần 7. Sau đây là những lần con số 7 xuất hiện trong sách Khải huyền:
+ 7 Hội Thánh – 1.4
+ 7 vị thần – 1.4
+ 7 ngôi sao – 1.16
+ 7 ngọn đèn – 4.5
+ 7 sừng – 5.6
+ 7 mắt – 5.6
+ 7 ống loa – 8.2
+ 7 thiên sứ – 8.2
+ 7 tiếng sấm – 10.3
+ 7 đầu – 12.3
+ 7 mão triều thiên – 12.3
+ 7 tai nạn – 15.1
+ 7 bát – 17.1
+ 7 hòn núi – 17.9
+ 7 vì vua – 17.10
Có nhiều con số 7 khác nữa trong sách nầy, đây chỉ là một điển hình nhỏ của nhiều điều mà chúng ta sẽ xem xét).
B. Mong muốn của bức thư – “nguyền xin ân điển và sự bình an ban cho anh em” – Đây là lời đề tặng cổ điển của Tân Ước. Giăng chào thăm họ với lời cầu nguyện rằng họ sẽ tiếp tục vui hưởng ân điển trọn vẹn của Đức Chúa Trời và sự bình an của Ngài trổi hơn mọi sự thông biết. Trong khi sách Khải huyền là một quyển sách khó, nó đầy dẫy với những bối cảnh xét đoán và phán xét; đây là quyển sách nói tới sự vui mừng. Sách ấy tỏ ra ân điển của Đức Chúa Trời trong đời sống của dân sự Ngài và sách ấy chỉ ra một thế giới hầu đến, nơi ân điển và bình an sẽ trị vì cho đến đời đời. Đây là phương thức giới thiệu quyển sách rất thích đáng.
C. Thần tính của bức thư – Lời hứa long trọng nầy về ân điển và bình an đến với chúng ta từ Ba Ngôi Thanh Đức Chúa Trời. Hãy chú ý chữ “từ nơi” ở các câu 4-5. Từ ngữ nầy được sử dụng ba lần. Mỗi lần nó xuất hiện, nó giới thiệu một thuộc viên khác trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là nguồn của mọi ân điển và sự bình an.
Hai câu nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng sách nầy không phải là sáng tạo của con người đâu. Đây là Lời của Đức Chúa Trời ban cho loài người! Vì lẽ đó, sách ấy mang theo với nó quyền phép đáng sợ và thẩm quyền thiêng liêng tối hậu. Chúng ta hãy xem xét Thần Tính nằm ở đàng sau bức thư.
1. Đức Cha Chí Cao – Điều nầy nhận dạng Đức Chúa Trời, Ngài là “Tự Hữu”. Đức Chúa Trời tự gọi Ngài là “Đấng Ta Là” ở Xuất Êdíptô ký 3.14. Đức Chúa Trời là Đấng luôn luôn hiện hữu trong nguồn của ân điển và bình an. Đức Chúa Trời Ngài là Đấng đời đời; Ngài sống trong ba chiều kích, quá khứ, hiện tại và tương lai, tất cả mọi chiều kích cùng một lúc. Ngài là nguồn của ân điển và bình an. Đức Chúa Trời nầy, là Đấng luôn luôn hằng hữu; Ngài đang hiện hữu; và Ngài sẽ luôn luôn hằng hữu, là nguồn của ân điển và sự bình an nầy. Đức Chúa Trời nầy là Đấng không hề thay đổi, Malachi 3.6; Hêbơrơ 13.8; Giacơ 1.17; Ngài là nguồn cội của chúng ta!
2. Đức Thánh Linh – Cụm từ “bảy vị thần ở trước ngôi Ngài” nói tới “sự đầy dẫy, sự trọn vẹn, sự hoàn toàn” của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Cụm từ ấy ám chỉ chức vụ của Ngài trong đời sống của chúng ta. Ngài có quyền ban cho chúng ta ân điển và sự bình an của Ngài vì Ngài là trọn vẹn và hoàn toàn. Ngài là mọi sự chúng ta có cần khi chúng ta trải qua đời nầy. Ngài là sự đầy dẫy! Cụm từ nầy cũng có tham khảo đến Êsai 11.2, ở đây Kinh Thánh chép: “Thần của ĐỨC GIÊ-HÔ-VA sẽ ngự trên Ngài, tức là thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ ĐỨC GIÊ-HÔ-VA”.
3. Đức Chúa Con – Giờ đây, Giăng nói cho chúng ta biết có nguồn thứ ba về ân điển và sự bình an. Ông nói cho chúng ta biết những việc nầy đều đến từ “Đức Chúa Jêsus Christ”. Khi Giăng nhắc tới Đức Cha và Đức Thánh Linh, ông nói tới họ bằng ngôn ngữ có tính cách biểu tượng. Khi ông nói tới Chúa Jêsus, ông sử dụng cách nói thẳng thừng và đặt Chúa Jêsus ngay ở bối cảnh trung tâm. Tại sao chứ? Phải, mục đích của quyển sách nầy là tỏ ra, tiết lộ Chúa Jêsus ra.
Vì thế, ngay tại đây ở phần mở đâu, Giăng nói cho chúng ta biết chính xác Chúa Jêsus là ai. Ông không muốn có bất kỳ một sự nhầm lẫn nào về Chúa Jêsus, Ngài là ai, hay Ngài sẽ làm gì. Giăng biết rõ khi tin tưởng đúng về Chúa Jêsus thì mọi sự khác sẽ tuyệt đối đúng đắn hết. Nếu bạn có những niềm tin lẫn lộn của Chúa Jêsus, bạn sẽ chao đảo trong mọi sự bạn đang tin. Giăng cung ứng cho chúng ta phần mô tả ba chi tiết về Thân Vị và công tác của Đức Chúa Jêsus Christ.
a. Sự mặc thị của Ngài – Chúa Jêsus được gọi là “Đấng làm chứng thành tín”. Cụm từ nầy gợi cho lý trí nhớ tới sự đến thế gian của Ngài lần đầu tiên. Chúa Jêsus đã đến để tỏ ra Đức Chúa Cha, Giăng 14.7-9; 12.45; Côlôse 1.15; Hêbơrơ 1.3. Chúa Jêsus là Thân Vị duy nhứt trong lịch sử, là Đấng có quyền mang tước hiệu “Chứng nhân của Đức Giêhôva”!
Bạn thấy đấy, trong Cựu Ước, Israel là chứng nhân của Đức Chúa Trời cho thế gian, Êsai 43.10. Trong kỷ nguyên nầy, Hội Thánh là chứng nhân của Ngài cho thế gian, Mathiơ 28.19-20; Công Vụ các Sứ đồ 1.8. Tuy nhiên, cả Hội Thánh và Israel đều không phải là chứng nhân trung thành. Thực vậy, chúng ta tốt đẹp nhất thể nào chỉ là một phản ảnh về Đức Chúa Trời và về ân điển của Ngài. Đức Chúa Jêsus Christ đã và đang là Đức Chúa Trời ở trong xác thịt của con người. Ngài còn hơn là một sự phản ảnh nữa, Ngài chính là Đức Chúa Trời! Vì lẽ đó, Ngài có quyền ban cho một “Đấng làm chứng thành tín” cho Thân Vị và công tác của Đức Chúa Cha, Giăng 18.37; I Timôthê 6.13.
b. Sự sống lại của Ngài – Chúa Jêsus được gọi là “Đấng sanh đầu nhất từ trong kẻ chết”. Giờ đây, Chúa Jêsus không phải là người đầu tiên sống lại từ kẻ chết. Có một số người trong Cựu Ước và một vài người trong các sách Tin Lành. Nhưng, Chúa Jêsus là người đầu tiên sống lại và cứ sống mãi. Những người kia đã chết một lần nữa!
Từ ngữ được dịch là “sanh đầu nhất” ra từ chữ cung ứng cho chúng ta từ ngữ “prototype” (nguyên mẫu). Chúa Jêsus đề ra tiêu chuẩn mà những người còn lại sẽ phải noi theo. Khi Kinh Thánh nói rằng Chúa Jêsus là “Đấng sanh đầu nhất từ trong kẻ chết”, Kinh Thánh không có ý nói rằng Ngài là người đầu tiên sống lại. Kinh Thánh muốn nói rằng Ngài là đầu nhất trong sự ưu việt. Nói cách khác, Ngài đề ra tiêu chuẩn! Ngài là nguyên mẫu. Ngài là tấm gương của những gì sẽ xảy đến cho hết thảy những ai chịu tin theo Ngài. Giống như Ngài sống lại để sống mãi ra khỏi mồ mả cho đến đời đời, cũng vậy những ai tin cậy Ngài cũng sẽ kinh nghiệm một sự sống lại một ngày kia. Vì Ngài sống, những ai có đức tin nơi Ngài sẽ “qua sự chết mà đến sự sống”, Giăng 5.24, và họ “sẽ không hề chết”, Giăng 11.25-26.
c. Nét vương giả của Ngài – Tước hiệu thứ ba được ban cho Chúa Jêsus trong câu nầy là “Chúa của các vua trong thế gian”. Tước hiệu nầy lập Chúa Jêsus làm “Vua các vua và Chúa các chúa”. Cụm từ nầy phác họa Ngài là Đấng đang nắm quyền tể trị tuyệt đối. Chúng ta sẽ thấy Satan sai vua của hắn là Antichrist, vào trong thế gian. Hắn sẽ hung hăng và tự tôn mình lên trên “mọi sự và tự nhận là Đức Chúa Trời”. Nhưng, hắn sẽ có một Chủ, và danh Ngài là Jêsus. Một ngày kia, từng vị vua, từng bạo chúa, từng nhà độc tài, từng quân vương, từng kẻ chuyên quyền v.v… nào từng sống sẽ sấp mình xuống trước đôi chân bị đinh đóng của Đức Chúa Jêsus Christ rồi gọi Ngài là “Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha”, Philíp 2.9-10. Tuyệt đối Ngài là Vua!
II. SỰ NGỢI KHEN CỦA SÁCH KHẢI HUYỀN (các câu 5b-6)
(Minh họa: Sau khi đã trình bày cho chúng ta biết về Ba Ngôi Đức Chúa Trời, nguồn ân điển và bình an, Giăng nhắm tới Chúa Jêsus là ai, khi ấy ông hiến cho chúng ta bài thánh ca ngợi khen Chiên Con của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy dành ra một phút để nghe bài ca khen ngợi của Giăng).
A. Ngài được ngợi khen vì chức vụ yêu thương của Ngài – “Đấng Yêu thương chúng ta” – Đừng để cho động từ thì quá khứ làm cho bạn phải bối rối. Giăng đang nhắc cho chúng ta nhớ rằng Chúa Jêsus yêu thương chúng ta bất chấp chúng ta đã và đang làm gì!?! Tình yêu của Ngài là tình yêu không thôi, không phai và không có điều kiện. Ngài yêu thương chúng ta và đấy là nguyên nhân đủ cho sự ngợi khen lớn tiếng, lâu dài được đem hiến cho Ngài. Chính tình yêu của Ngài dành cho chúng ta đã đưa Ngài đến với trần gian, Giăng 3.16. Chính tình yêu của Ngài dành cho chúng ta đã trói buộc Ngài trên cây thập tự, Rôma 5.8. Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta là một sự bảo đảm tình yêu ấy không hề thất bại, Rôma 8.38-39.
B. Ngài được khen ngợi vì chức vụ của Ngài – “đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta” – Từ ngữ được dịch là “rửa” có ý nói làm cho “sạch”! Chúa Jêsus đã đổ huyết Ngài ra trên thập tự giá và khi chúng ta tin cậy Ngài; huyết của Ngài rửa chúng ta ra trắng hơn tuyết và làm cho chúng ta sạch hết mọi ô uế của tội lỗi, I Giăng 1.7.
Đồng thời, bạn có biết mỗi một người chúng ta mang theo điều chi đến với việc được gọi là sự cứu rỗi không? Câu Kinh Thánh chép: “tội lỗi chúng ta” và “Huyết của Ngài”. Mọi sự chúng ta phải góp phần vào sự cứu rỗi của chúng ta là tội lỗi. Ngài đã góp huyết của Ngài. Và, huyết của Ngài tẩy sạch mọi tội chúng ta, Êphêsô 1.7!
C. Ngài được ngợi khen vì chức vụ cao trọng của Ngài – “và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài” – Cụm từ nầy cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus cần phải được ngợi khen vì Ngài đã từ chối không lìa khỏi chúng ta giống như khi Ngài đã tìm gặp chúng ta. Ngài đã tìm gặp chúng ta trong tội lỗi; Ngài yêu thương chúng ta; Ngài tẩy sạch chúng ta bằng huyết của Ngài và đã cứu chúng ta; rồi Ngài nhấc chúng ta lên khỏi tình trạng đó, và thay đổi chúng ta vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, II Côrinhtô 5.17. Ngài lấy những tội nhân bị địa ngục trói buộc kia rồi khiến cho họ thành ra “các vua và thầy tế lễ”.
Là vua chúa, các thánh đồ sẽ đồng trị với Chúa Jêsus một ngày kia, II Timôthê 2.12. Là thầy tế lễ, chúng ta được trực tiếp đến gần ngôi của Đức Chúa Trời, Hêbơrơ 4.16; 10.19. Ngài đáng được ngợi khen vì chăm sóc chúng ta; tẩy rửa chúng ta và thay đổi chúng ta cho sự vinh hiển của Ngài!
(Minh họa: “Ngài đã làm chúng ta nên…” – Đứa con trai hoang đàng rời khỏi gia đình, nó nói “hãy đưa cho tôi”. Nó trở về nhà, tan vỡ, bẩn thĩu và tiếng kêu thất bại “xin khiến tôi”. Khi Chúa chạm đến tấm lòng bạn, bạn sẽ được đưa vào một địa vị mà ở đó bạn sẽ bằng lòng để cho Đức Chúa Trời biến bạn thành điều mà Ngài đẹp lòng. Và bạn ơi, Ngài không hề muốn nơi bạn có chút gì là xấu xí hết. Ngài muốn biến bạn thành bậc vua chúa và thầy tế lễ. Ngài muốn biến bạn thành một người có giá trị!)
(Minh họa: Giăng nói cho chúng ta biết mọi sự nầy về Chúa Jêsus và rồi ông bật ra sự ngợi khen. Ông nói: “nguyền Ngài đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men”. Đây là bài ca ngợi đầu tiên, hay bài hát ngợi khen, trong sách Khải huyền. Nhưng, bấy nhiêu chưa phải là hết đâu. Khi quyển sách được mở ra, nhiều bài ca ngợi còn dài hơn và chi tiết hơn nữa. Mỗi lần, Chúa Jêsus được tôn cao ngày càng hơn nữa. Ngài càng được tỏ ra trong sách nầy, Ngài càng được ngợi khen trong sách nầy.
Đồng thời, ca ngợi như thế là phải lẽ lắm! Chúng ta càng đến gần Ngài, chúng ta càng muốn ngợi khen Ngài. Chúng ta càng học biết về Ngài, tấm lòng chúng ta càng bị khuấy khuất muốn dâng lên Ngài sự ngợi khen, tôn quí và vinh hiển).
III. LỜI HỨA CỦA SÁCH KHẢI HUYỀN (các câu 7-8)
(Minh họa: Hai câu sau cùng nầy cung ứng cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua những gì chúng ta có thể trông mong quyển sách nầy mở ra. Chúng cung ứng một lời hứa cho chúng ta, rằng một số việc phấn khích sẽ xảy ra trong sách nầy. Chúng ta hãy xem xét lời hứa của sách Khải huyền).
A. Lời hứa về Đấng hầu đến (câu 7) – Thế gian đã trông đợi khoảng 6.000 năm, mong Đấng Cứu Chuộc ngự đến. Ngài đã đến lần thứ nhứt, ra đời bởi một nữ đồng trinh rồi chịu chết trên thập tự giá để mua lấy sự chuộc tội. Ngài sẽ trở lại trong những đám mây trên đất nầy để đón Cô Dâu của Ngài trong sự cất lên. Thế rồi một ngày kia, Chúa Jêsus sẽ tái lâm trên đất nầy trong vinh hiển và quyền phép. Ngài sẽ đánh bại các kẻ thù của Đức Chúa Trời và Ngài sẽ thiết lập Vương quốc của Ngài ở đây và Ngài sẽ trị vì ở đây trong 1.000 năm. Câu nầy nói tới sự cố đó. Câu nầy không nói tới sự cất lên, mà nói tới sự mặc thị của Ngài.
1. Phương pháp ngự đến của Ngài – “Ngài đến giữa những đám mây” – Đây chẳng phải là lần đầu tiên Chúa Jêsus khoác lấy những đám mây trên chính mình Ngài. Ngài dẫn dắt Israel ngang qua đồng vắng trong một trụ mây, Xuất Êdíptô ký 13.21-22. Ngài thăng thiên về trời trên đám mây làm xe Ngài, Công Vụ các Sứ đồ 1.9. Kih Ngài tái lâm, sẽ có những đám mây vây quanh Ngài và sẽ xuất hiện trong sự vinh hiển và quyền phép. Ngài đang đến đấy!
2. Biểu thị sự đến của Ngài – “mọi mắt sẽ trông thấy” – Tư tưởng nói tới mọi người có thể nhìn thấy cùng một việc và cùng một thời điểm trên khắp thế giới đã bị coi là khó chỉ cách đây vào thập kỷ. Nhưng, với sự tiến bộ của kỷ thuật vệ tinh, con người trên khắp thế giới sẽ chứng kiến cùng một biến cố cùng một lúc. Nhưng, khi Chúa Jêsus ngự đến, Ngài sẽ không cần đến Fox News hay CNN để loan báo sự đến của Ngài. Ngài sẽ xuất hiện trên những đám mây và cả thế gian sẽ có thể nhìn thấy Ngài cùng một lúc. Điều nầy cho chúng ta biết rằng sự hiện diện và vinh hiển của Ngài sẽ không ai chối cãi trong ngày đó.
3. Nổi khổ trong khi Ngài ngự đến – Kinh Thánh nói rõ ràng rằng sự Tái Lâm của Chúa Jêsus sẽ không phải là một biến cố vui vẻ cho dân cư trên thế gian. Người Do thái và dân Ngoại như nhau sẽ than khóc khi họ chứng kiến sự đến của Ngài. Người Do thái sẽ khóc than vì tổ phụ của họ đã chối bỏ Ngài và dân sự của họ phải trả giá một giá cao vì sự loạn nghịch của họ. Dân Ngoại sẽ than khóc vì Ngài đến để xét đoán tội lỗi và tội nhân như nhau. Khi Chúa Jêsus đến, sẽ có sự phán xét kinh khủng lắm khi Ngài “giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng” (Khải huyền 19.15).
(Minh họa: Giăng nghe thấy điều nầy rồi nói: “Amen!” nghĩa là: “Nguyện xảy ra như Lời”. Đây là lời cầu nguyện mà mỗi thánh đồ đều sẽ vang tiếng. Chúng ta hãy cầu nguyện với bất cứ giá nào, Chúa Jêsus sẽ ngự đến và biến thế gian nầy ra như nó đáng phải có).
B. Lời hứa của phần kết cuộc (câu 8) – Phải, Chúa Jêsus sẽ ngự đến và điều đó sẽ đánh dấu sự phán xét rất kinh khủng dành thế giới gian ác nầy. Nhưng, điều nầy cũng sẽ đánh dấu đỉnh điểm của muôn vật. Những gì Đức Giêhôva khởi sự trong sách Sáng thế ký, Ngài sẽ kết thúc trong sách Khải huyền.
1. Lời loan báo của Chúa – “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là đầu và là rốt, Đức Giêhôva phán vậy”. Là “Anpha và Ômêga” Chúa Jêsus là Đấng biết rõ mọi sự. Anpha là mẫu tự đầu tiên của mẫu tự Hy lạp và Ômêga là mẫu tự cuối. Các mẫu tự nầy và những mẫu tự khác ở giữa có thể được sử dụng để chỉ ra ý tưởng và sự hiểu biết của nhân loại. Chúa Jêsus khiến cho chúng ta biết rằng Ngài là Đấng Toàn Tri. Ngài trông thấy mọi sự và Ngài biết rõ mọi sự.
Cụm từ “đầu và rốt” nhắc cho chúng ta nhớ Ngài là Đấng đã khởi sự vũ trụ nầy như hiện có và Ngài là Đấng lèo lái nó cho đến kết cuộc thích ứng của nó. Nói cách khác, Ngài tự tuyên bố Ngài là Đấng đang nắm quyền tể trị! Ngài là “Chúa”!
2. Thẩm quyền của Chúa – Chúa Jêsus cũng gọi Ngài là “Đấng Hiện Có, Đã Có, Và Còn Đến”. Với cụm từ nầy, Ngài công bố thần tính của Ngài! Rốt lại, đây là tước hiệu được dùng để mô tả Đức Chúa Cha ở câu 4. Là Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus là Đấng toàn tại, toàn tri và toàn năng, Ngài trổi hơn thời gian và không gian. Ngài có quyền làm tất cả những việc mà Ngài phán sẽ xảy ra trong sách nầy. Nói cách khác, Ngài sẽ nhìn thấy mọi sự diễn ra theo như Ngài đã hoạch định và mọi sự đã được nói trước trong sách nầy sẽ xảy ra y như Ngài đã phán! Vì vậy, đừng lo lắng, hỡi thánh đồ của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của bạn đang nắm quyền tể trị! Nhưng, nếu bạn chưa được cứu, bạn cần phải được cứu! Rốt lại, chắc chắn như có một Thiên đàng cho những người được chuộc, có một Địa Ngục cho những ai bị hư mất.
3. Khả năng của Chúa – Chúa Jêsus công bố chính mình Ngài là “Đấng Toàn Năng”. Cụm từ nầy có nghĩa là: “Đấng toàn quyền trên muôn vật”. Cụm từ ấy công bố Ngài là Chúa tể của vũ trụ. Ngài là Đấng có quyền làm cho mọi sự Ngài đã hoạch định và hứa hẹn sẽ diễn ra. Ngài sẽ thực hiện và chẳng một người nào có quyền chặn đứng việc ấy!
(Minh họa: John Phillips thuật lại câu chuyện sau đây: “Một trong tranh sách rung động nhất trong lịch sử Anh quốc nói tới những cuộc chinh phạt và chiến dịch của Richard I, người có tấm lòng như sư tử. Trong khi Richard đang thắng đậm Saladin, vương quốc của ông rơi vào những thời điểm xấu. Người anh xảo quyệt và vô ơn của ông là John, đã lật đổ mọi đặc quyền của nhà vua rồi lên cai trị. Dân chúng của nước Anh phải chịu khổ, họ ao ước sự trở về của Nhà Vua, và cầu xin việc ấy sớm xảy ra. Thế rồi, một ngày kia Richard về đến. Ông cặp bến Anh quốc rồi đi thẳng đến ngai vàng của mình. Xung quanh việc về đến ấy, nhiều câu chuyện đã được thuật lại, đang dệt thành những truyền thuyết của nước Anh. (Một trong số chúng là câu chuyện nói tới Robin Hood). Những tòa lâu đài của John bị lật đổ giống như những món đồ chơi vậy. Hoàng đế Richard xưng nhận ngai vàng là của ông, và không một ai dám đứng chặn trên đường lối của ông nữa. Dân chúng hô to niềm vui thích của họ. Họ rung lên hết hồi chuông nầy đến hồi chuông khác. Con Sư Tử đã trở lại! Nhà Vua vạn tuế!
Một ngày kia Vì Vua còn lớn lao hơn Richard sẽ xưng nước mình còn lớn lao hơn Anh quốc. Người nào đã ngược đãi đất trong khi Ngài vắng mặt, đã chiếm lấy quyền uy của Ngài, và quản trị tồi thế giới của Ngài sẽ bị quét sạch hết).
Phần kết luận: Quí bạn ơi, đấy là một cái nhìn trước sơ khởi thôi! Và, từng điều một sẽ diễn ra, y như Ngài đã hứa vậy. Minh họa: Vì thế, chúng ta sẽ làm gì với phần thông tin nầy? Chúng ta sẽ làm gì một khi Ngài tái lâm? Hãy cho phép tôi trình bày một số tư tưởng về những gì cần phải làm với một sứ điệp giống như vầy:
+ Chúng ta dám chắc rằng chúng ta đã sẵn sàng đón tiếp Ngài khi Ngài ngự đến – Mathiơ 24.44.
+ Chúng ta sẽ ở trong sự cầu nguyện cho những ai chưa sẵn sàng; và chúng ta sẽ bận rộn lo bảo cho họ biết cách thức phải sẵn sàng – Mác 16.15.
+ Chúng ta sẽ nhận ra thì giờ là ngắn ngủi trong đời nầy và chúng ta sẽ dâng mình lo làm mọi chúng ta có thể làm cho Ngài đang khi vẫn còn có thì giờ – Giăng 9.4.
Có việc gì Ngài muốn bạn làm hôm nay không?

Khải huyền 1:1-3: "Sự Mặc Thị Của Quyển Sách"


Ngược về với tương lai
Bài giảng #1

Phần giới thiệu loạt bài giảng sách Khải huyền. Trong phần nghiên cứu nầy, chúng ta sẽ bắt tay vào một chuyến phiêu lưu đầy phấn khích. Chúng ta sẽ nghiên cứu sách Khải huyền nói tới Đức Chúa Jêsus Christ. Đây là một quyển sách kỳ diệu. Sách ấy bị hiểu sai, giải thích sai và lý giải sai bởi nhiều người. Sách Khải huyền bị tránh né vì dường như nhiều người tin rằng sách ấy khó hiểu lắm, còn đọc, nghiên cứu và giảng dạy từ sách ấy chỉ sẽ dẫn tới sự nhầm lẫn. Thật đáng buồn, vì bất cứ ai dành thì giờ nghiên cứu sách Khải huyền không bao lâu sẽ khám phá ra rằng sách ấy chẳng khó hiểu lắm đâu. Thực vậy, quyển sách chỉ không rõ nét đối với người không tin Chúa mà thôi, Luca 8.10; I Côrinhtô 2.14. Phần nghiên cứu tỉ mỉ quyển sách cũng sớm khám phá ra sự thực là Đức Chúa Jêsus Christ được tỏ ra trong sáng hơn Ngài hiện diện ở bất kỳ chỗ nào khác trong Lời của Đức Chúa Trời. Đây là quyển sách không nên tránh né; đây là quyển sách cần phải đọc và nghiên cứu.
Vì thế, bắt đầu hôm nay, tôi muốn chúng ta bắt lấy cuộc hành trình. Không phải một hành trình đến bất cứ một địa điểm nào về mặt địa ký, mà là chuyến hành trình nhắm đến tương lai. Tôi muốn lần qua quyển sách kỳ diệu nầy từng đoạn một và đưa đến bạn một loạt bài giảng mà tôi thích đặt cho đề tựa là Ngược Về Với Tương Lai.
Qua cách giới thiệu, tôi muốn nhắc vắn tắt bốn phương pháp giải kinh mà người ta sử dụng khi họ tiếp cận với sách Khải huyền. Cách thức bạn tiếp cận với quyển sách nầy sẽ quyết định cách thức bạn giải thích nó; và cách bạn giải thích nó sẽ quyết định những gì bạn sẽ nhận lãnh từ nơi nó. Có bốn cách giải thích chính cho sách Khải huyền. Đấy là:
1. Lối giải thích thiên về với quá khứ (Preterist Interpretation) – Quan điểm nầy nhìn xem các biến cố được ghi lại trong sách Khải huyền như là bản tường trình lịch sử những biến cố của thế kỷ đầu tiên. Nhận định nầy đòi hỏi một niềm tin cho rằng Chúa Jêsus đã trở lại với đất rồi, và nó bất chấp sự kiện cho rằng sách Khải huyền xưng nhận rằng nó có nội dung tự nhiên rõ ràng là nói tiên tri, 1.3; 22.7, 10, 18-19.
2. Lối giải thích lý tưởng (Idealist Interpretation) – Đây là quan điểm theo phái tự do. Người hay lý tưởng hóa nhìn xem sách Khải huyền giống như một tuyển tập những biểu tượng và truyện tích được dàn dựng để mô tả cuộc xung đột giữa thiện và ác. Nhận định nầy không xem các biến cố trong sách Khải huyền là những biến cố có thật, mà là những chuyện thần thoại và hư cấu.
3. Lối giải thích theo chủ nghĩa lịch sử (Historicist Interpretation) – Quan điểm nầy xem sách Khải huyền là tổng quan chung chung về lịch sử Hội Thánh. Nó xem sách nầy là khoảng thời gian lịch sử Hội Thánh kể từ kỷ nguyên sứ đồ đến thì hiện tại nầy. Hầu hết các biến cố trong sách nầy bị xem là những sự cố xảy ra trong quá khứ. Người nào giữ theo trường phái giải thích nầy thường hay thuộc linh hóa câu gốc và xem đấy hoàn toàn là biểu tượng. Quan điểm nầy bất chấp những lời xưng nhận của quyển sách là lời tiên tri và cung ứng cách lý giải linh tinh và những ứng dụng kỳ lạ của câu gốc.
4. Lối giải thích theo thuyết vị lai (Futurist Interpretation) – Quan điểm nầy nhìn vào sách Khải huyền xem các biến cố còn ở thì tương lai. Nhận định nầy cho rằng sách Khải huyền tự nhiên thiên hẳn về phương diện tiên tri. Quan điểm nầy có một sự tiếp cận cụ thể với lối giải thích. Lối giải thích theo thuyết vị lai cho rằng mọi sự cố trong sách Khải huyền đều là những biến cố cụ thể. Con người, địa điểm và những điều xảy ra không bị thuộc linh hóa và gạt bỏ lãnh vực biểu tượng và huyền thoại. Mọi sự trong quyển sách nói từ sự cất lên của Hội Thánh đến sự đến lần thứ hai của Chúa Jêsus với một vương quốc ngàn năm, được xem là một biến cố có thật, cụ thể và còn trong tương lai. Đây là trường phái giải thích duy nhứt xem sách Khải huyền y như nó đã được viết ra và mục đích rõ ràng mà vì đó sách được viết ra, 1.1, 3. Đây là lối giải thích mà chúng ta sẽ lần theo cho phần nghiên cứu của chúng ta.
Sau đây là một vài tư tưởng đề ra bối cảnh cho phần chúng ta nghiên cứu quyển sách nầy.
Niên đại: Năm 95SC – Nhiều người theo chủ nghĩa tự do tìm cách đặt niên đại cho quyển sách, nhưng chẳng có bằng chứng nào cho những lời xưng nhận của họ và bằng chứng vững chắc nhứt đặt niên đại cho sách nầy nằm trong thế kỷ thứ nhứt.
Trước giả: Giăng môn đồ được yêu, cũng là vị Sứ đồ đã viết sách Tin Lành và ba thư tín mang tên ông. Điều nầy thực sự không nằm trong tranh cãi theo như vấn đề đã được trình bày rất rõ ràng:1.1, 4, 9; 22.8.
Đề tựa: Sự khải thị về Đức Chúa Jêsus Christ. (Minh họa: Không phải “những phát hiện”) Từ ngữ Khải huyền dịch theo tiếng Hylạp avpoka,luyij apokalupsis {ap-ok-al'-oop-sis} có nghĩa là “một sự tiết lộ”. Có nhiều điều sẽ được nói tới về từ ngữ đó trong một phút đồng hồ.
Câu gốc: Khải huyền 1.19 – Câu nầy cung ứng phần tóm tắt sáng sủa, có ba phần đối với những biến cố trong sách Khải huyền. Câu nầy cũng là chìa khóa cho sự suy hiểu quyển sách. Khải huyền là quyển sách duy nhứt trong Kinh Thánh chứa phần tóm lược thiêng liêng đã được cảm thúc của nó. Phần tóm lược được sắp xếp như sau:
I. Những sự ngươi đã thấy – Chương 1
II. Những việc nay hiện có – Chương 2-3
III. Những việc sau sẽ đến – Chươngs 4-22
Lai lịch: Quyển sách nầy đã được viết ra trong suốt thời kỳ tối tăm của Hội Thánh đầu tiên. Họ đã gánh chịu sự bắt bớ dưới bàn tay sắt của các Hoàng đế La mã. Quyển sách nầy đã được viết ra để cung ứng hy vọng, sự yên ủi và sự khích lệ trong những khốn khó mà họ đã đối diện với. Quyển sách nầy cũng được viết ra để giúp cho họ biết thể nào chương trình của Đức Chúa Trời sẽ được bày tỏ ra! Họ được dựng nên để hiểu rõ rằng Đức Chúa Trời có một chương trình cho tương lai, và chương trình của Ngài bao gồm sự hủy diệt Satan, tội lỗi và thế giới độc ác nầy; và sự cứu chuộc loài thọ tạo và tuyển dân của Đức Chúa Trời, và sự tôn vinh Đức Chúa Jêsus Christ. Chương trình vĩ đại nầy sẽ hình thành những khuôn khổ càng rõ nét hơn khi chúng ta lần qua những trang của quyển sách nầy.
Điều tối thiểu bạn cần phải biết. Quyển sách nầy là quyển sách nói tiên tri. Nó nói tới các biến cố trong tương lai với lối nói có tính cách biểu tượng. Tuy nhiên, lối nói đó đã được xác định và giải thích rất rõ ràng.
Đây là quyển sách được gắn chặt chẽ với Cựu Ước. Trong 404 câu của sách Khải huyền, 278 câu đề cập tới Cựu Ước. Trong 278 câu đó, có hơn 800 cách ám chỉ tới các sự cố trong Cựu Ước. Vì thế, một sự hiểu biết năng động về toàn bộ Kinh Thánh là cần thiết để hiểu rõ mọi sự đang diễn ra trong sách nầy.
Sách Khải huyền và sách Sáng thế ký đứng trụ như cốt lõi quan trọng nói tới sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Nhiều việc có phần khởi sự của chúng trong sách Sáng thế ký đều có phần kết cuộc của chúng trong sách Khải huyền. Những việc như tội lỗi, Satan, sự sáng tạo, sự rủa sả, trời, đất, sự cứu chuộc, v.v…, hết thảy đều kết thành vòng tròn theo thời gian bạn đến với sách Khải huyền.
Bây giờ, bấy nhiêu đó là đủ cho phần giới thiệu. Tôi hy vọng tôi không làm cho bạn phải lạc lỏng. Nếu bạn có mặt ở đây, chúng ta hãy bắt đầu chuyến hành trình qua quyển sách kỳ diệu, quan trọng nầy. Chúng ta hãy đi “Ngược Về Với Tương Lai”.


Khải huyền 1.1-3
SỰ MẶC THỊ CỦA QUYỂN SÁCH
Phần giới thiệu: Trong ba câu đầu nầy, chúng ta được cung ứng cho một lời giới thiệu vững chắc chỉ ra nội dung và mục đích của quyển sách nầy. Chúng ta hãy đào sâu vào mấy câu nầy trong vài phút rồi tìm cách mót lấy một sự hiểu biết long trọng hơn trong mọi sự mà chúng ta sẽ nghiên cứu và khi những tuần lễ nầy trôi qua. Tôi muốn đặt đề tựa cho phần nghiên cứu đầu tiên của chúng ta là “Sự Mặc Thị Của Quyển Sách”. Ba câu ngắn ngủi nầy tỏ ra một số nguyên tắc quan trọng quản trị nội dung của sách Khải huyền.
I. NHÂN VẬT CỦA SÁCH KHẢI HUYỀN (câu 1a)
A. Quyển sách nầy là quyển sách nói tới Chúa Jêsus! Quyển Kinh Thánh của bạn đã đặt đề tựa cho sách nầy là “Khải thị thiêng liêng của Thánh Giăng”. Đấy là đề tựa được gắn cho quyển sách nầy theo một số người. Tuy nhiên, đề tựa thật của sách nầy đã được cung ứng cho trong câu 1. Đề tựa ấy được gọi là “Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ”. Đấy là những gì quyền sách nầy muốn nói tới.
B. Đức Chúa Jêsus Christ là lẽ đạo của Kinh Thánh. Bạn có thể nói rằng Kinh Thánh là quyển sách nói về “Ngài”. Đây là quyển sách nói về Ngài! Mọi sự trong Kinh Thánh đều chỉ ra Chúa Jêsus ở phương diện nầy hay phương diện khác. Bạn có thể tìm gặp Ngài trên từng trang giấy, trên từng chương, và trong từng biến cố. Thế nhưng, sách Khải huyền, còn đặc biệt hơn bất cứ sách nào khác trong Kinh Thánh, là một quyển sách nói về Ngài! Đây là một sự “mặc thị” hay một “tiết lộ” về Thân Vị, các mục đích, những chương trình, quyền phép, và sự thăng hoa của Đức Chúa Jêsus Christ.
C. Khi Chúa Jêsus còn sống ở đây lần đầu tiên, Ngài đã bị che giấu. Hầu hết người ta đều không nhận ra Ngài chính là Đức Chúa Trời, mặc dù Ngài đã và đang là Đức Chúa Trời ở trong loài xác thịt, Philíp 2.5-8. Kinh Thánh cho biết như thế ở I Côrinhtô 2.8 rằng nếu họ nhìn biết Chúa Jêsus là ai, họ sẽ chẳng đóng đinh Ngài trên thập tự giá đâu.
Giờ đây, có một cơ hội khi bức màn xác thịt được vén lên và sự vinh hiển Ngài được tỏ ra. Điều nầy đã xảy ra trên Núi Hóa Hình, Mathiơ 17.1-8. Ở đó, sự vinh hiển thiên thượng bị che đậy dưới xác thịt con người của Ngài bị hở ra. Tuy nhiên, biến cố đó chỉ được chứng kiến bởi Phierơ, Giacơ và Giăng. Số người còn lại không nhìn thấy sự vinh hiển của Ngài.
Khi thế gian nhìn xem Chúa Jêsus, mọi sự họ trông thấy là cảnh nghèo khổ, nhân tính của Ngài. Họ đã nhìn thấy một người thợ mộc xuất thân từ thành Naxarét. Có kẻ nhìn thấy một người mới phất lên; một người với sự dạy lạ lùng và nguy hiểm. Nhận định sau cùng thế gian đã có về Chúa Jêsus là họ nhìn thấy một tội phạm bị kết án, gục chết trong đau buồn, xấu hổ và khổ sở trên thập tự giá của người Lamã.
D. Sách Khải huyền cho chúng ta biết rằng thế gian không nhìn thấy sự cuối cùng của Chúa Jêsus! Ngài sẽ tái lâm. Khi Ngài đến lần thứ hai, Ngài không bị định cho một thập tự giá, mà cho một mão triều thiên. Ngài không đến như một Chiên Con chịu thương khó đâu, mà là một Chúa Tể. Ngài không đến trong xấu hổ và khó nghèo nữa, mà trong đại quyền đại vinh. Có một ngày sắp đến, khi Đức Chúa Jêsus Christ ngự đến và được tỏ ra cho cả thế gian trông thấy. Họ sẽ nhìn thấy y như Ngài có vốn thật vậy. Đây là sự dạy rõ ràng của Kinh Thánh, I Côrinhtô 1.7 (chữ “hiện đến” là “apokalupsis”); II Têsalônica 1.7 (chữ “hiện đến” là “apokalupsis”); I Phierơ 1.7 (chữ “hiện ra” là “apokalupsis”). Bạn có tiếp thu được bức tranh chưa? Chúa Jêsus sẽ ngự đến và cả thế gian sẽ trông thấy Ngài y như vốn có thật vậy, Khải huyền 1.7.
E. Khi các chương của sách nầy mở ra, chúng ta sẽ thấy Chúa Jêsus là giải pháp cho mọi nan đề của trần gian. Chúng ta sẽ thấy rằng Ngài là nguồn hy vọng duy nhứt cho con người sa ngã. Chúng ta sẽ thấy một thế giới trong loạn lạc và đại nạn, còn Chúa Jêsus là giải đáp cho nhu cầu. Chúng ta sẽ thấy khi mọi sự qua đi; khi tội lỗi, Satan và buồn rầu hết thảy đều bị đánh bại; Chúa Jêsus vẫn sẽ là Chúa tể. Bất chấp bạn đang đối diện với điều gì hôm nay, hãy nhớ rằng Đức Chúa Jêsus Christ là giải đáp. Ngài là nguồn hy vọng duy nhứt của chúng ta. Ngài là “đường đi, lẽ thật và sự sống, chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha”.
F. Chúng ta sẽ nhìn thấy lời hứa của Đức Chúa Trời cho Chúa Jêsus ở Philíp 2.9-11 được ứng nghiệm trong quyển sách nầy. Chúa Jêsus đã đến với thế gian nầy để phó mạng sống Ngài cho nhân loại. Ngài đã đến để tỏ ra Đức Chúa Trời và chuộc lấy kẻ được chọn của Đức Chúa Trời. Ngài đã phó mạng sống Ngài cho chúng ta và Đức Chúa Trời đã hứa tôn cao Ngài vì cớ đó. Chúng ta sẽ nhìn thấy điều đó được hoàn tất trong quyển sách nầy.
Câu 1 chép: “mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài”. Điều nầy nhắc cho chúng ta nhớ, khi Chúa Jêsus trở thành một con người, Ngài đã tình nguyện bỏ đi sự sử dụng một số thần quyền của Ngài. Khi Chúa Jêsus còn ở đây, Ngài chỉ nói rằng Ngài không biết giờ giấc sự hiện đến của chính Ngài, Mác 13.32. Có người tin rằng sách Khải huyền là Đức Chúa Trời ban cho phần thông tin nầy về Chúa Jêsus. Nhưng, có một vấn đề với nhận định nầy; quyển sách nầy không nói cho chúng ta biết ngày và giờ khi Chúa Jêsus sẽ hiện đến. Tuy nhiên, sách ấy cung ứng một khải thị đầy đủ về sự vinh hiển Ngài sẽ tỏ ra và nhận lãnh trong tương lai.
II. MỤC ĐÍCH CỦA SỰ MẶC THỊ (câu 1b)
A. Mục đích của sách nầy đã được trình bày rất rõ ràng ở câu 1: “đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến”. Quyển sách nầy được ban cho dân sự của Đức Chúa Trời để họ có thể hiểu được chương trình chủ động của Đức Chúa Trời cho thì tương lai. Câu 3 nhắc cho chúng ta nhớ rằng quyển sách nầy là quyển sách của “lời tiên tri”. Bây giờ, có hai loại lời tiên tri. Một ý nghĩa của lời tiên tri là “nói trước”. Đấy là điều tôi sẽ nói ngay bây giờ đây. Tôi sẽ lấy Lời của Đức Chúa Trời rồi tôi “nói trước” Lời ấy. Có một ý nghĩa trong đó giảng dạy là nói tiên tri. Cách dùng khác của chữ mang ý tưởng “nói ra”. Nghĩa là, về sự tỏ ra những lẽ thật và các sự cố trước khi chúng xảy ra. Cả hai loại nói tiên tri nầy xảy ra trong sách Khải huyền. Khải huyền 1-3 là các chương “nói trước”. Các chương 4-22 là các chương “nói ra”.
B. Mặc khải nầy về Chúa Jêsus đã được ban cho các “tôi tớ Ngài”. Từ ngữ tôi tớ là chữ dou/loj (doulos {doo'-los}). Từ ngữ nầy đề cập tới “kẻ phó mình cho ý muốn của người khác; một nô lệ”. Từ ngữ đó đem vào trong lý trí luật lệ của tôi tớ trong Xuất Êdíptô ký 21.1-6. Nếu một người mắc nợ người kia, người ấy phải lao động trả món nợ đó trong 7 năm nô lệ cho chủ nợ. Cuối 7 năm, món nợ được xem là đã chi trả và tôi tớ ấy được đi tự do. Tuy nhiên, nếu hắn muốn ở lại với chủ và cứ hầu việc người, thì lỗ tai hắn phải được xỏ lỗ để hắn trở thành nô lệ cả đời. Cái lỗ nơi tai sẽ đánh dấu hắn là người phục vụ chủ do chọn lựa, xuất phát từ tình cảm.
Quyển sách nầy được viết ra cho dân sự của Đức Chúa Trời! Người nam hay người nữ bị hư mất sẽ thấy khó nắm bắt được những lẽ thật chứa trong sách nầy vì đấy là những lời được dự trù cho những ai hầu việc Chúa xuất phát từ một tấm lòng đầy tình yêu thương. Như tôi đã nói trước, đây là những vụ việc “được phân biện về mặt thuộc linh”.
C. Kinh Thánh cho chúng ta biết mục đích khác của sách nầy là tỏ ra “những điều kíp phải xảy đến”. Nhiều người đọc chỗ nầy và suy nghĩ tới sự ngắn ngủi của thời gian. Nếu đấy là trường hợp, thì chúng ta có một vấn đề. Thế là đã 2.000 năm kể từ khi những việc nầy đã được viết ra và hầu hết chúng đều chưa ứng nghiệm. Cụm từ nầy chỉ có ý nói rằng khi các sự cố nầy bắt đầu diễn ra, chúng sẽ xảy ra trong khoảng thời gian thật ngắn ngủi. Vì vậy, các sự cố trong sách Khải huyền đã được thiết lập rõ ràng cách đây 2.000 năm qua, nhưng các sự cố bắt đầu mở ra; cái nầy sẽ nối theo cái kia với sự tiếp nối rất nhanh chóng. Từ ngữ “kíp” dịch hai chữ Hy lạp: đó là “en” (en) nghĩa là “với” và “tachos” (tachos) nghĩa là “sự mau chóng; mau lẹ”. Chúng ta có chữ “taxi” ra từ chữ nầy. Bạn cần phải đến một nơi nào đó trong sự vội vàng, vì thế bạn ngoắc một chiếc taxi, bạn sẽ được toại nguyện. Đấy là cách thức các biến cố trong kỳ tận thế sẽ diễn ra. Một khi chúng khởi sự, chúng sẽ “tích tắc giống như chiếc taxi chạy tốc độ” vậy. (Minh họa: Kinh nghiệm của tôi một tài xế người Iran ở Washington, DC).
D. Câu 1 chép rằng Ngài “đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó”. Từ ngữ “thiên sứ” ám chỉ đến một “sứ giả”. Chúa Jêsus gửi lời nầy cho Giăng bởi một sứ giả thiên thượng; giống như sự ra đời bởi nữ đồng trinh đã được loan báo cho Mary. Nhưng, chữ “tỏ” rất là quan trọng cho sự hiểu biết quyển sách nầy. Sát nghĩa, nó có ý nói “cung ứng dấu hiệu”. Nói cách khác, Chúa đang giúp cho chúng ta nhìn biết Ngài sẽ phán bằng ngôn ngữ biểu tượng và bức tranh bằng lời trong sách Khải huyền. Tại sao Chúa sử dụng những dấu hiệu và biểu tượng? Có mấy lý do:
1. Những biểu tượng nầy là mật mã thuộc linh. Hội Thánh trong thời đó đã ở dưới sự bắt bớ kịch liệt lắm. Ngôn ngữ được sử dụng sẽ là rõ ràng cho người được chuộc, song khó hiểu cho kẻ bị mất, họ muốn sử dụng sứ điệp của quyển sách để tấn công các thánh đồ.
2. Ngôn ngữ thay đổi, biểu tượng không thay đổi. Giăng đang ra sức viết về những sợ cố, hình ảnh và con người còn ở phần tương lai xa. Ông không có từ vựng thích ứng để mô tả những điều ông đang xem thấy. Ông sử dụng ngôn ngữ trong thời của ông để mô tả những biến cố trong thời của chúng ta và xa hơn nữa. Đấy là lý do tại sao Chúa gửi sứ điệp nầy bằng những dấu hiệu và biểu tượng. Khi ngôn ngữ đã thay đổi, các biểu tượng vẫn giữ lấy sức mạnh của chúng và chúng vẫn nói hôm nay.
Đừng lo lắng về những dấu hiệu và biểu tượng mà chúng ta sẽ gặp gỡ trong sách nầy. Chúng đã được lý giải rất cẩn thận và trọn vẹn cho chúng ta. Hãy nhớ, đây không phải là một quyển sách có tính che đậy; đây là một sự mặc khải, một sự tiết lộ về lẽ thật đời đời. Chúng ta sẽ gặp gỡ những con số quan trọng mang tính biểu tượng: 3, 4, 6, 7, 12, 666 và hết thảy chúng đều được giải thích trong sách nầy. Chúng ta sẽ đọc về những cây kèn, những cái bát và mấy cái ấn; hết thảy chúng đều được giải thích. Từng biểu tượng chúng ta sẽ gặp gỡ đã được xác định cho chúng ta.
III. TÁC GIẢ CỦA SỰ MẶC THỊ (các câu 1c-2)
A. Giăng đã được định cho phải trở thành tác giả con người. Đây là con trai của Xêbêđê. Ông là người được biết ở Giăng 20.2 và 21.20 là “môn đồ Chúa Jêsus yêu”. Ông là người đã nghiêng đầu trên ngực Chúa Jêsus tại bữa Tiệc Thánh, Giăng 13.23. (Minh họa: Ở đó, ông rất kín đáo trước những bí mật thiêng liêng. Điều đó khiến ông được ở gần Chúa. Ngài tỏ ra nhiều việc với bạn hữu mình, Sáng thế ký 18.17; Giăng 15.15). Ông là người đã bỏ mọi sự mà theo Chúa Jêsus, Mathiơ 4.22. Ông là người đứng bên thập tự giá của Chúa Jêsus khi Chúa bị treo chết ở đó, Giăng 19.26-27. Ông là người đã nhìn vào ngôi mộ trống vào buổi sáng phục sinh và đã tin, Giăng 20.8. Đấy là tác giả của quyển sách nầy! Ông là người bạn trung tín với Chúa Jêsus và là học giả trung thành của Lời Đức Chúa Trời. Giăng nói cho chúng ta biết rằng ông trung tín ghi chép lại mọi sự đã được tỏ ra cho ông. Giống như Giăng đã trung tín ghi chép lại bản tường trình chính xác sự đến lần đầu tiên của Chúa Jêsus, Giăng 19.35; 21.42; I Giăng 1.2; 4.14,ông thuật lại cho chúng ta biết ông sẽ làm y như thế với phần mặc thị nầy đã được Ngài trao cho ông.
B. Những mặc thị nầy đã phủ lấp Cụ Sứ Đồ. Nhưng, ông cung ứng cho chúng ta một bản tường trình rất trung tín về sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ.
IV. LỜI HỨA CỦA SỰ MẶC THỊ (câu 3)
A. Đây là quyển sách duy nhứt trong Kinh Thánh được xây dựng trên sự hứa hẹn cho người nào đọc, nghe và ấp ủ sứ điệp. Đức Chúa Trời hứa một ơn phước đặc biệt cho những ai dành thì giờ với quyển sách phước hạnh nầy.
B. Có ba từ ở thì hiện tại được sử dụng để mô tả người nào có thể mong được lãnh hội phước hạnh nầy. Họ phải đọc, nghe và giữ theo.
1. Kẻ đọc – Điều nầy nói tới người nào chịu đọc những lời nầy khi công khai nhóm lại. Trong thời buổi đó, những bản chép Kinh Thánh rất hiếm. Thường thì có một bản sao cho hội chúng, và một người sẽ đứng đọc để hết thảy mọi người đều có thể nghe được hết những lời đọc đó. Người nào đọc quyển sách, được hứa cho một phước hạnh.
2. Kẻ nghe – Điều nầy nói tới hội chúng đang lắng nghe những lời lẽ được đọc lên. Có một ơn phước đặc biệt gắn với việc nghe sách nầy được đọc.
3. Kẻ giữ theo – Điều nầy nói tới những ai đem sứ điệp nầy vào lòng. Người nào nghe theo, tin theo, và sống theo sứ điệp đó có thể trông mong Chúa chúc phước cho họ vì mọi nổ lực của họ về quyển sách nầy.
C. Chúng ta có thể trông mong Chúa trưởng dưỡng chúng ta và dạy dỗ chúng ta khi chúng ta nhắm vào quyển sách quan trọng nầy. Nhưng, chúng ta cũng có thể trông mong Chúa chúc phước cho chúng ta vì chúng ta đang nắm lấy Ngài nơi Lời của Ngài và chúng ta đang đọc, nghe, và giữ theo những lời lẽ của sách tiên tri nầy.
Đấy là lý do tại sao tôi khích lệ bạn hãy nài mời những kẻ bị hư mất đến với những nghiên cứu nầy. Tôi tin Chúa sẽ cứu họ! Hãy nài mời những tín hữu khác nữa; nếu họ đến họ sẽ được phước cùng với chúng ta.
Phần kết luận: Bây giờ, chúng ta được thuật cho biết lý do tại sao quyển sách nầy lại quan trọng đến thế trong phần cuối của câu 3. Ở đây chép: “vì thì giờ đã gần rồi”. Từ ngữ “thì giờ” trong câu nầy không đề cập đến thời gian trên chiếc đồng hồ; nó có ý nói: “thời; kỳ; kỷ nguyên”. Đức Chúa Trời đang nói cho chúng ta biết rằng chúng ta đang ở gần sự cuối rốt của muôn vật và quyển sách nầy sẽ cung ứng cho chúng ta sự giúp đỡ và hy vọng khi chúng ta nhìn thấy sự cuối cùng đang đến gần.
Nếu thì giờ đã gần cách đây 2.000 năm, tại sao những việc nầy chưa xảy ra? Thứ nhứt, cái đồng hồ của Đức Chúa Trời không hoạt động giống như cái đồng hồ của chúng ta. Minh họa: II Phierơ 3.8: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày”. Đức Chúa Trời làm mọi việc theo thì giờ của chính Ngài và chiếu theo kế hoạch của chính Ngài. Thứ hai, Đức Chúa Trời đang ban cho hạng tội nhân hư mất thì giờ để được cứu trong thời kỳ ân điển nầy, II Phierơ 3.9: “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn”. Và, II Phierơ 3.15: “Lại phải nhìn biết rằng sự nhịn nhục lâu dài của Chúa chúng ta cốt vì cứu chuộc anh em…”.
Quí bạn ơi, nếu bạn có mặt ở đây, đang bị hư mất hôm nay, bạn cần phải đến với Chúa Jêsus và được cứu. Một ngày kia, Ngài sẽ tái lâm và khi ấy sẽ là quá trễ đấy. Bây giờ, nếu Chúa phán với tấm lòng của bạn với bất cứ cấp độ nào trong sứ điệp nầy, tôi nài mời bạn hãy đến trước mặt Ngài và làm theo những gì Ngài đang dẫn dắt bạn phải làm.