Thứ Ba, 27 tháng 4, 2010

Mathiơ 13.44-46: "Các ví dụ nói tới giá trị"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Các ví dụ nói tới giá trị
Mathiơ 13.44-46
1. Suốt cả phân đoạn nầy của sách Mathiơ có tám ví dụ nói về Nước Trời.
A. Trong 13.1-9 và các câu 18-23 chúng ta học Ví dụ nói tới người gieo giống, trong đó Chúa Giêxu mô tả người ta tiếp nhận tin lành bằng nhiều cách thức khác nhau.
B. Trong các câu 24-30, trong Ví dụ nói tới Lúa Mì và Cỏ Lùng, chúng ta học biết thể nào người tin và người không tin Chúa sẽ cùng tồn tại cho tới Ngày Phán Xét.
C. Trong Ví dụ nói tới Hột Cải (các câu 31-32) và Ví dụ nói về Men (câu 33), chúng ta học biết Quyền phép của Nước Trời và quyền phép ấy rải ra như thế nào!?!
2. Trong phân đoạn nầy, Ví dụ nói tới của báu và Ví dụ nói tới Ngọc châu vô giá, Chúa Giêxu dạy về giá trị của Nước Trời và làm thế nào để thưởng thức nó.
I. Ví dụ nói tới Của Báu (câu 44).
A. Nước Trời giống như "Của báu chôn trong đám ruộng kia".
1. Những thứ có giá trị cao thường được chôn trong đất ở các thời kỳ Kinh Thánh. Không có ngân hàng hoặc các hộp gửi tiền an toàn nào đâu! Nếu người ta có thứ gì giá trị như tiền bạc ngọc ngà châu báu, người ấy phải đặt thứ ấy vào một chiếc hộp làm bằng đất hay hộp bằng cây rồi đem chôn nó.
2. Trong thời kỳ chiến tranh, dân Israel sẽ cất giấu quần áo, lương thực, cùng các thứ có giá trị để bảo vệ chúng không bị những kẻ xâm lược lấy cướp.
3. Đôi khi người chủ đất sẽ qua đời hay bị trục xuất ra khỏi đất đai của mình hoặc bị lưu đày đến một xứ xa và của cải của người ấy sẽ bị thất lạc cho tới chừng có người khám phá ra của ấy nhiều năm về sau.
B. Khi người kia tìm được một của báu, người ấy bán hết mọi thứ để mua nó.
1. Trong ví dụ, Chúa Giêxu mô tả một người tìm được "của báu chôn trong đám ruộng kia". Có lẽ người ấy là một người được thuê mướn đã tình cờ đào được nó khi người đang cày ruộng. Có thể người đang đi ngang qua cánh đồng rồi nhìn thấy góc chiếc hộp lòi ra từ đất.
2. Tuy nhiên, vì ruộng không phải là của người, người "bán hết gia tài mình, mua đám ruộng đó".
3. Của báu mà người tìm được có giá trị cao hơn mọi thứ khác mà người đang có. Người bằng lòng bán đi hết mọi của cải đời nầy để mua lấy “của báu” đặc biệt nầy.
4. Có người cho rằng việc mua đám ruộng kia là không đúng với nguyên tắc xử thế. Không phải như vậy đâu! Cho phép tôi đưa ra cho quí vị thấy ba lý do tại sao:
a. Thứ nhứt, người chủ hiện tại không biết về của báu hoặc người đã đào nó lên trước khi đem bán nó.
b. Thứ hai, luật của các rabi tuyên bố một nguyên tắc "ai tìm thấy thì giữ lấy". Luật ấy chép như sau: "nếu có ai tìm được trái cây hay tiền bạc rơi rớt, tiền ấy thuộc về người tìm thấy".
c. Thứ ba, nếu người không lương thiện, người sẽ lấy đi “của báu” thay vì bán đi “gia tài mình” để mua đám ruộng đó.
II. Ví dụ về ngọc châu (các câu 45-46).
A. Nước Trời giống như "người lái buôn kiếm ngọc châu tốt" (câu 45).
1. “Người lái buôn” [emporos] là một người chuyên mua bán, công việc của người là mua và bán hàng hoá để kiếm lời. Người sẽ đi đó đi đây để mua các thứ hàng hoá và rồi bán chúng với giá cao hơn trong các khu vực khan hiếm hàng hoá.
2. Trong thời của Chúa Giêxu, các thương buôn theo kiểu du cư đã đem các thứ gia vị, vải vóc, dầu thơm, và những món nữ trang từ Đông phương đến bán cho những người mua hàng ở vùng Trung Đông.
3. Người lái buôn đặc biệt mà Chúa Giêxu nói tới ở đây là người đi đây đi đó để "kiếm ngọc châu tốt". Họ là tay buôn chuyên nghiệp. Người sẽ đi qua các khu vực thuộc miền biển, ở đây châu ngọc được cất giữ dành dụm và mặc cả với nhiều giá cả khác nhau.
4. "Ngọc châu" là thứ hàng hoá có giá trị rất cao trong thế giới thời xa xưa. Thường thì chúng được người ta mua lấy như vốn đầu tư, giống như kim cương ngày nay vậy. Với thứ hàng hoá đắt giá như châu ngọc, một sự đầu tư lớn lao sẽ được giấu đi ở một khu chợ nhỏ.
5. Trong Mathiơ 7.6, Chúa Giêxu đã bảo các môn đồ Ngài đừng "ném ngọc châu cho heo". Ngài có ý nói nói rằng chúng ta đừng lo lắng chi về việc bố thí một thứ quí báu và vô giá như Tin Lành cho những kẻ hay chỉ trích, phê phán, họ chỉ muốn làm cho lẽ thật phải suy giảm đi mà thôi.
6. Cần phải nói thêm rằng vì Hoàng đế La mã điên cuồng là Caligula sẽ phô trương sự giàu có cực độ của mình bằng cách làm cho một viên ngọc phải tan ra trong giấm rồi uống lấy giấm đó.
7. Trong Khải huyền 21.21, Giăng mô tả thành Jerusalem Mới rất xinh đẹp nơi mỗi cánh cỗng trong 12 cỗng của nó "một hột châu". Mục đích là, trong lý trí của khán thính giả của Chúa Giêxu, không có một thứ gì có giá trị cho bằng một viên ngọc châu.
B. Khi một lái buôn tìm gặp một viên Ngọc Châu có giá trị, người sẽ bán hết gia tài mà mua nó (câu 46).
1. “Tên lái buôn” trong ví dụ của Chúa Giêxu đã tìm được "một hột châu quí giá" hay một “giá cao” đến nỗi chỉ có ông mới có ngọc châu đó. Người xem ngọc châu nầy không những là có giá trị cao hơn hết thảy những viên ngọc châu khác của ông ta hợp lại, mà còn giá trị hơn mọi thứ mà ông đã có.
2. Giống như người kia đã tìm ra của báu chôn trong ruộng, người nầy vui sướng bán đi mọi thứ của cải đời nầy để mua lấy “một viên châu ngọc” có giá trị vô giá.
III. Các nguyên tắc thực tế từ những thí dụ.
A. Thứ nhứt, Nước Trời có tính cách cá nhân.
1. Lẽ thật chính cho cả hai ví dụ nầy, ấy là Nước Trời phải thích ứng theo cách cá nhân. Chúng ta không trở thành công dân của Nước Trời bởi ưu điểm của sự sanh ra theo phần xác mà bởi sự chọn lựa.
2. Cả hai nhân vật trong hai ví dụ đều tìm thấy một thứ có giá trị cao nhất so với những gì họ đã có kết hợp lại. Cả hai nhân vật nầy đều bằng lòng bán đi tất cả gia tài của họ để mua lấy kho báu mà họ mới tìm được.
3. Sự cứu rỗi trong Đức Chúa Giêxu Christ là "kho báu" và là "hột châu quí giá". Để cho một người thực sự nhận được ơn cứu rỗi nầy, người ấy phải bằng lòng bỏ đi mọi sự khác trong cuộc sống.
4. Giống như hai nhân vật trong ví dụ sẽ xem xét mọi của cải mà không có mua chúng, cũng một thể ấy nhiều người sẽ xem xét của báu quí giá của Nước Trời. Họ đi nhà thờ, lắng nghe sự dạy dỗ theo Kinh Thánh, đọc Kinh Thánh, và ngay cả chịu phép báptêm và có địa vị thuộc viên của Hội Thánh nữa. Họ có thể làm theo mọi sự nầy mà không từng bước vào Nước Trời hay được cứu cách thực sự.
5. Chúng ta không được cứu do đạo đức của đức tin của bố mẹ mình, do phép báptêm bằng nước, do địa vị thuộc viên của Hội Thánh, do trung tín nhóm lại, do các việc lành dù bất cứ ở khả năng nào (Êphêsô 2.8-9).
6. Chúng ta được cứu chỉ bởi đến với Đấng Christ trong sự nghèo khó về mặt thuộc linh, bằng lòng từ bỏ bất cứ điều chi để nhận được ơn cứu rỗi.
7. Tôi tin có nhiều người đã “tuyên xưng đức tin”, nhận lãnh phép báptêm và địa vị thuộc viên Hội Thánh, họ lại chưa được cứu cách thực sự và không phải là "con cái của Nước Trời”. Tại sao vậy? Vì họ muốn thêm Chúa Giêxu vào trong đời sống của họ, chớ không muốn xưng Ngài làm Chúa đâu. Họ không hề bằng lòng từ bỏ mọi sự để đổi lấy Đấng Christ. Trong ngày phán xét, họ sẽ bị "quăng… vào lò lửa…" , ở đó sẽ có "khóc lóc và nghiến răng" (câu 42).
B. Thứ hai, Nước Trời là vô giá.
1. Sách Gióp mô tả con người tìm kiếm của cải nhất thời, theo đời nầy (28.12-15, 21, 23, 28).
2. Dù giá trị sự sáng tạo của Đức Chúa Trời rất là cao, món trang sức cứu rỗi thuộc linh là vô giá. Vì người ta sẽ lấy chi mà mua linh hồn đời đời của họ được? Điều chi có giá trị trong thế giới tạm bợ đời nầy được xem là có giá trị hơn mọi sự giàu có đời đời của Nước Trời?
3. Chúa Giêxu phán trong Mathiơ 6.20-21: "nhưng phải chứa của cải ở trên trời, là nơi chẳng có sâu mối, ten rét làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy. Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó”.
4. Phaolô đã nói trong II Côrinhtô 4.7: "Nhưng chúng tôi đựng của quí nầy trong chậu bằng đất, hầu cho tỏ quyền phép lớn dường ấy là bởi Đức Chúa Trời mà ra, chớ chẳng phải bởi chúng tôi”. Phierơ mô tả trong giá trị ấy trong I Phierơ 1.4 như sau: "là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho anh em".
Hãy lắng nghe phần mô tả của Thomas Guthrie: "Trong huyết của Đấng Christ tẩy sạch mọi tì vít đen tối nhất của tội lỗi, trong ân điển của Đức Chúa Trời làm cho tấm lòng bẩn thỉu nhất được thanh sạch, trong sự bình an làm cho mọi cơn bão hung hãn nhất của cuộc sống phải bình tịnh, trong sự trông cậy làm cho giờ tối tăm nhất của tội lỗi được vui vẻ, trong sự dạn dĩ dám thách thức sự chết và bình thản đi thẳng vào huyệt mộ, với mọi sự ấy làm cho người nghèo trở nên giàu có nhất và làm cho kẻ giàu nhất ra nghèo khó, thực vậy, tin lành ‘có của báu quí giá hơn cả đông và tây phương trải rộng ra, và phần thưởng của nó là quí giá hơn mọi kho vàng ròng nữa".
C. Thứ ba, Nước Trời không thấy được cách dễ dàng đâu.
1. Có bao nhiêu người đã bước đi bên cạnh hay đi ngang qua của báu trong ruộng kia mà không nhìn thấy nó? Có bao nhiêu người đã chú ý viên ngọc quí giá mà không lường được chân giá trị của nó?
2. Cũng một thể ấy, có nhiều người nghe Tin Lành, nhưng lại kháng cự sự kêu gọi của Đức Thánh Linh ở trong lòng họ. Satan đang làm mù lòng họ với nhiều trò lôi cuốn hấp dẫn và họ không tin.
3. I Côrinhtô 2.14 chép: "Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự dồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng”.
D. Thứ tư, Nước Trời là Nguồn vui mừng thật.
1. Chúa Giêxu phán rằng nhân vật trong ví dụ thứ nhứt đã bán đi gia tài mình có để mua lấy thửa ruộng "vì sự vui mừng của nó".
2. Là con người, chúng ta bỏ cả cuộc đời để truy tìm sự vui mừng. Chúng ta sẽ tìm thấy sự vui mừng nhất thời nơi của cải mới hay tình bạn mới, còn niềm vui mừng đời đời duy nhất chúng ta có thể tìm được thì có ở trong ơn cứu rỗi đời đời!
3. Trong Giăng 15, khi Chúa Giêxu nói tới gốc nho và các nhánh nho trong bài giảng của Ngài, Ngài nói thêm ở Giăng 15.11: "Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta ở trong các ngươi, và sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn”. Nếu quí vị xưng mình biết Đấng Christ, nhưng vẫn còn tìm kiếm niềm vui trong những việc nhất thời, hãy tự hỏi lòng mình xem mình có thực sự nhìn biết Ngài chưa!?!
E. Thứ năm, có thể bước vào Nước Trời từ những hoàn cảnh khác nhau.
1. Trong ví dụ thứ nhứt, người nầy đến với của báu của mình do tình cờ. Trong ví dụ thứ hai, người lái buôn tìm thấy ngọc châu quí giá như một kết quả của sự tìm kiếm lâu dài.
2. Người ta bước vào Nước Trời bằng nhiều đường lối khác nhau.
F. Thứ sáu, Nước Trời được thiết lập do cách giải quyết cá nhân.
1. Cả hai nhân vật đều bán đi mọi sự để mua của báu cho mình. Chúng ta biết rằng ơn cứu rỗi là một ơn miễn phí và không bao giờ mua được. Tuy nhiên, có một ý nghĩa trong đó người tin Chúa thực sự đem mọi sự mà đầu phục Đấng Christ.
2. Chúng ta đánh đổi đời sống cũ rích của mình để lấy một đời sống mới. Chúng ta hãy xem xét ở Luca 14.28-33 và Philíp l.3, 5-7.
***

Mathiơ 13.24-43: "Một bộ ba thí dụ"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Một bộ ba thí dụ
Mathiơ 13.24-43
1. Tuần qua chúng tôi đã giới thiệu chương Kinh Thánh nầy nói về các thí dụ. Chúa Giêxu "lấy lời ví dụ mà phán những điều đó". Câu 34 cho chúng ta biết rằng "Ngài chẳng phán điều gì cùng họ mà không dùng lời ví dụ".
A. "Ví dụ" ra từ chữ parabole, là một từ kép gồm ballo, "ném hay đặt để", và para, có nghĩa là "kề bên". Như vậy ví dụ là một câu chuyện hay một minh hoạ được đặt kề bên một lẽ thật hay một nguyên tắc theo Kinh Thánh để so sánh, để làm cho sáng tỏ và dễ hiểu.
B. Mặc dù Chúa Giêxu đã sử dụng rồi một số minh hoạ trong phần nghiên cứu của chúng ta về sách Mathiơ, phân đoạn nầy được ghi ra vì những câu chuyện đặc biệt được xem là ví dụ và vì ý nghĩa chỉ được tỏ ra cho các môn đồ mà thôi.
2. Chúng ta cũng hãy xét lại bối cảnh trong các câu 1-2.
A. Hướng về cuối một ngày bận rộn, "cũng ngày ấy" Chúa Giêxu "ra khỏi nhà" nơi mà Ngài mới dạy dỗ và tranh cãi với các thầy thông giáo và người Pharisi rồi "ngồi bên mé biển".
B. Trong khi Ngài ngồi ở đó nhìn ra phía biển: "đoàn dân nhóm họp xung quanh Ngài đông lắm". Vì vậy, Chúa Giêxu "phải xuống thuyền mà ngồi" và dân chúng thì đứng trên “bờ”. Bờ biển ấy đã được dựng nên như một giảng đường thiên nhiên và nước vọng lại giọng nói của Ngài hầu cho hết thảy mọi người đều nghe được.
C. Trong khi ngồi trên chiếc thuyền ấy: "Ngài dùng thí dụ mà giảng nhiều điều cho họ".
3. Trong mỗi thí dụ nầy, Chúa Giêxu ví "nước thiên đàng" với các sự cố hay những hoàn cảnh trong cuộc sống hàng ngày ở xứ Palestine trong thế kỷ đầu tiên. "Nước thiên đàng" được định nghĩa là quyền cai trị và sự trị vì của Đức Chúa Giêxu Christ trong đời sống của chúng ta. Cụm từ ấy đề cập tới vương quốc thuộc linh hiện tại của Đấng Christ một ngày kia sẽ trở thành một Nước thuộc thể.
4. Chúng ta tiếp tục xem xét những sự dạy của Chúa Giêxu theo cách ví dụ: Ví dụ nói tới lúa mì và cỏ lùng, Ví dụ nói tới hột cải và Ví dụ nói về men.
I. Ví dụ nói tới lúa mì và cỏ lùng (các câu 24-30).
A. Hành động phá hoại của một vụ mùa (các câu 24-26).
1. Trước tiên Chúa Giêxu nói tới "người kia", một nông dân "gieo giống tốt trong ruộng mình". Trong Ví dụ nói về người gieo giống, Chúa Giêxu đã sử dụng hình bóng nói về đất để giải thích lẽ thật của Kinh Thánh. Lần nầy vấn đề không phải là đất nữa mà là giống.
2. Tuy nhiên, sau khi “giống tốt" đã được gieo ra, "đang khi người ta ngủ" (không phải do biếng nhác, mà vì khi ấy là đêm tối) "kẻ thù" đã đột nhập vào ruộng rồi "gieo cỏ lùng vào trong lúa mì".
3. "Cỏ lùng" ra từ chữ Hy lạp zizanion (dziz-an'-ee-on) có ý nói tới loại cỏ lúa ma hay giống giả. “Cỏ lùng” rất giống với lúa mì cho tới khi lúa mì đã chín và trổ bông. Vì “cỏ lùng” có thể làm hư hại hoặc huỷ diệt một vụ lúa, một hành động như thế bị xem là một tội ác và bị ngăn cấm bởi luật lệ của người La mã.
4. Một vài tuần sau: "khi lúa mì lớn lên và trổ bông" thì "cỏ lùng cũng lòi ra" công việc của kẻ thù quá rõ ràng.
B. Các thắc mắc của hàng tôi tớ (các câu 27-28).
1. Khi các tôi tớ nhìn thấy “cỏ lùng”, họ "bèn đến với chủ" rồi hỏi: "Thưa chủ, chủ không gieo giống tốt trong ruộng chủ sao? Vậy thì cỏ lùng bởi đâu mà ra". Họ đã lẫn lộn rồi.
2. Người “chủ” chỉ cho họ thấy manh mối khi người nói: "Ấy là một kẻ thù đã làm điều đó". Không phải là bất thường cho một ít “cỏ lùng” hay các thứ cỏ khác mọc lên trong một ruộng lúa, nhưng số lượng nầy chỉ có thể có từ một sự phá hoại có chủ ý.
3. Các tôi tớ đưa ra thắc mắc khác: "Vậy chủ có muốn chúng tôi đi nhổ cỏ đó chăng [cỏ lùng]?" Họ đã lo sợ “cỏ lùng” sẽ phá hoại hoàn toàn lúa mì và họ tìm cách cứu lấy những gì có thể thu hoạch được.
C. Đáp ứng của người gieo giống (các câu 29-30).
1. Người "chủ" là một nông dân rất khôn ngoan. Ông ta vốn biết rõ việc nhổ bỏ cỏ lùng cũng sẽ làm trốc rễ cây lúa mì vì rễ của chúng không nghi ngờ chi nữa đã đan quyện vào nhau. Ông ta nói: "Chẳng nên, e khi nhổ cỏ lùng, hoặc các ngươi nhổ lộn lúa mì đi chăng".
2. Ông ta cũng sợ rằng lúa tốt sẽ bị xem là cỏ lùng, vì vậy ông ta nói: "Hãy để cho cả hai thứ cùng lớn lên cho đến mùa gặt".
3. Khi tới lúc gặt hái, ông ta sẽ đưa “con gặt” đến, họ vốn biết rõ phải làm gì khi thu hoạch hơn "các tôi tớ" của ông ta. Ông ta sẽ bảo “các con gặt trước hết hãy nhổ cỏ lùng" rồi tiếp đến "bó lại từng bó mà đốt đi". Chỉ khi đó họ mới "thâu trữ lúa mì" vào nhà "kho".
4. Giống như Ví dụ nói về người gieo giống, chúng ta sẽ trông thấy sau đó trong các câu 36-43 rằng Chúa Giêxu đã giải thích ví dụ nầy cho các môn đồ Ngài.
II. Ví dụ nói tới hột cải (các câu 31-32).
A. Hột cải là hột nhỏ nhất trong các loại giống (câu 31).
1. Một lần nữa, khi nói với “đoàn dân đông” Chúa Giêxu đã phán rằng "nước thiên đàng" thì giống như "một hột cải" đã được “gieo ra” trong “ruộng”.
2. Tính chất đặc biệt rõ ràng nhất của “hột cải” là kích cở rất nhỏ của nó. Trong câu 32, Chúa Giêxu phán rằng hột ấy "thật nhỏ hơn cả các giống khác".
3. Những kẻ hay chỉ trích Kinh Thánh đã chỉ vào câu nói nầy hầu tìm cách chứng minh rằng Kinh Thánh là sai lầm và Chúa chẳng toàn tri chi hết. Cả hai đề nghị đều là những lời giả dối được truyền ra bởi những kẻ không muốn tin theo.
4. Theo văn mạch, Chúa Giêxu đang phán về các thứ “giống” của nhà nông. Có các thứ giống khác nhỏ hơn giống cải, thế nhưng chúng không phải là loại giống để làm vườn. Tân ước sử dụng từ ngữ "hột giống" luôn luôn đề cập tới loại giống làm vườn.
5. "Cải" là một thứ hoa màu được sử dụng rộng rãi trong từng nơi trên thế giới. Ngày nay nó được sử dụng trong công nghệ thương mại về phim ảnh.
B. Hột cải lớn lên thành một cây lớn (câu 32).
1. Mặc dù "hột cải" thì nhỏ hơn mọi thứ giống làm vườn khác: "khi đã mọc lên" thì nó lớn hơn các loại cây khác trong vườn, lớn đến nỗi nó "trở thành cây cối", một cây lớn đủ "cho đến nỗi chim trời tới làm ổ trên nhành nó được".
2. Mặc dù có nhiều loại cây cải trở thành những bụi gai nhỏ, đã có một số cây cải trong xứ Palestine lớn lên cao khoảng 12 đến 15 feet.
C. Hiểu biết thí dụ nói tới hột cải.
1. Chúng ta không có một tường trình nào nói về Chúa Giêxu giải thích ý nghĩa của ví dụ nầy. Sở dĩ như vậy là vì ý nghĩa quá rõ ràng rồi.
2. Ý nghĩa của ví dụ hoàn toàn rất đơn giãn. Giống như một "hột cải", Nước khởi sự rất là nhỏ, và rồi lớn lên rất to lớn.
3. Khi Chúa Giêxu bắt đầu giảng đạo, Ngài đã có một vài môn đồ vào lúc ban đầu, kế đó họ lớn lên với một số lượng rất lớn.
4. Trong kỷ nguyên của Hội Thánh, trước ngày Lễ Ngũ Tuần, đã có chừng 120 người trong Hội Thánh. Tuy nhiên, chỉ có một vài chương sau đó các vị sứ đồ được gọi là: "những người làm đảo lộn thế gian”.
5. Khi chúng ta chia sẻ Tin lành nói tới Nước Trời, nó khởi sự thật nhỏ với những lần làm chứng của chúng ta, vững chắc đối với Kinh Thánh, ngợi khen Chúa, tuy nhiên Tin lành ấy có thể lớn lên làm thay đổi nhiều đời sống và nhiều thế hệ tân tín hữu.
6. Trong nhà thờ nầy, công tác của chúng ta dành cho Nước Trời dường như nhỏ bé lắm, mà còn đời đời nữa, nó sẽ nói ra công việc lớn lao là thể nào!
7. Bất chấp tầm cỡ, bất chấp sự chống đối, bất chấp “cỏ lùng”, "bụi gai" và "kẻ thù", Nước Trời sẽ cứ tồn tại. Chúa Giêxu đã phán trong Mathiơ 16.18: "Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó”.
III. Ví dụ nói về men (câu 33).
A. Ví dụ nầy cũng dạy cho chúng ta biết rằng những việc nhỏ có thể có ảnh hưởng rất lớn.
1. “Người đàn bà kia” đang làm bánh là một cảnh tượng thông thường trên khắp xứ Palestine trong thời của Chúa Giêxu. Mỗi ngày những người đàn bà trong các gia đình đều lo làm bánh. Công việc nầy đã và đang là yếu tố chính trong cuộc sống.
2. Theo hàng trăm năm truyền khẩu, một người đàn bà sẽ tiết kiệm một ít “men” trước khi nướng bánh rồi dùng nó qua ngày sau cho đồ ăn của ngày hôm sau. Một trong những truyền khẩu về đám cưới nói người mẹ phải ban cho con gái mình một ít “men” trong ngày cưới.
3. Mặc dù “men” giống như “hột cải” khởi sự rất nhỏ, nó ảnh hưởng đến hết thảy “các đấu bột”, cho tới chừng nào bột dậy cả lên.
4. Phần nhỏ nhất trong “Nước” của Đức Chúa Trời vẫn có ảnh hưởng rất lớn, vì ảnh hưởng của “Nước” có chứa quyền phép của Đức Chúa Trời, và Lời của Ngài.
B. Men ở trong Bánh là ảnh hưởng chính.
1. Bánh có men luôn luôn là ăn ngon hơn và đáng thưởng thức hơn bánh không men. Nó tiêu biểu cho những việc tốt lành trong cuộc sống.
2. Khi Đức Chúa Trời truyền cho dân sự Ngài phải lìa Ai cập, Ngài đã bảo họ trộn bánh không men để nhắc cho họ nhớ về những lúc khó khăn trong khi sống trong một xứ tà giáo.
3. Mặc dù men đôi khi mới được dùng trong Kinh Thánh tiêu biểu cho năng lực lan toả của tội lỗi, đấy không phải là trường hợp ở đây.
C. Ảnh hưởng tích cực của Nước Đức Chúa Trời đến từ bên trong.
1. Người đàn bà trong ví dụ đã "trộn" men trong “bột”. Bà ta ấn sâu men vào bột để nó lan rộng và khiến cho bột dậy lên.
2. Cũng một thể ấy, chúng ta phải bị “trộn” trong xã hội của chúng ta, không phải để cho chúng ta được chú ý tới, mà chúng ta cần phải xâm nhập thật sâu vào bên trong đó.
3. Mục đích chính của cả hai ví dụ nầy là giúp cho các môn đồ đầu tiên hiểu rằng Nước mà họ đã dâng mình phục vụ đó sẽ không hề thất bại, song phồn vinh và trỗi hơn mọi điều mà họ có thể suy tưởng.
IV. Mục đích và sự giải thích các ví dụ (các câu 34-43).
A. Các ví dụ làm ứng nghiệm lời tiên tri (các câu 34-35). Cách thức Chúa Giêxu khi nói ra các ví dụ không phải là một lời giải thích đến sau mà là một phần của chương trình đời đời của Đức Chúa Trời. Hàng trăm năm trước đó, Asáp đã viết ra những lời mà Chúa Giêxu trưng dẫn ở đây trong Thi thiên 78.
B. Sự giải thích ví dụ nói về lúa mì và cỏ lùng (các câu 36-43).
1. Khi Chúa Giêxu "để cho chúng về", các môn đồ đã đến cùng Ngài "trong nhà" rồi yêu cầu Ngài giải thích Ví dụ về cỏ lùng. Rõ ràng là họ hiểu rõ một phần những gì Chúa Giêxu đã phán, song không hiểu hết. Họ vốn biết rõ rằng "cỏ lùng" là những người không tin Chúa và ví dụ đã nói về sự phán xét. Tuy nhiên, thắc mắc của họ giống như thắc mắc của các tôi tớ, họ đã hỏi: "Vậy chủ có muốn chúng tôi đi nhổ cỏ đó chăng?"
2. Chúa Giêxu "Con Người" là người gieo giống trong ví dụ nầy.
3. "Ruộng là thế gian". Một số học viên Kinh Thánh đã giải thích sai ruộng khi đề cập tới dân sự của Đức Chúa Trời hay Hội Thánh nói chung. Ví dụ không nói về người tin Chúa và người không tin Chúa trong nhà thờ. Ví dụ không nói tới người thế gian trong Hội Thánh, mà nói tới Hội Thánh trong thế gian.
4. Trong ví dụ nầy, "giống tốt là con cái nước thiên đàng". Chúng ta cần phải bắt rễ và kết quả. "Cỏ lùng" là “con cái quỉ dữ” không được cứu.
5. Giống như lúa mì và cỏ lùng lớn lên bên cạnh nhau. Con cái Đức Chúa Trời và con cái “quỉ dữ” sống bên cạnh nhau. Chúng ta thưởng thức cùng những phước hạnh, ăn cùng thứ đồ ăn, học cùng một trường, làm việc chung một sở làm, và thậm chí đi chung những nhà thờ. Điều nầy kết thúc cho tới lúc "mùa gặt".
6. “Con gặt", là thiên sứ báo thù của Đức Chúa Trời sẽ thiêu đốt cỏ lùng trong “lửa”, lửa là biểu tượng cho sự hành hình của địa ngục với "khóc lóc và nghiến răng".
7. Lúa mì sẽ được nhập vào kho (24.31). Ở đó, trong sự công bình đời đời của Đấng Christ, chúng ta sẽ "chói rạng như mặt trời trong Nước của cha [chúng ta] mình" (Đaniên 12.3).
8. Chúa Giêxu phán: "Ai có tai, hãy nghe". Mỗi người đang trong tâm trạng bất an, sẽ hỏi: "Có phải tôi là lúa mì hay tôi là cỏ lùng trông giống như lúa mì?”
***

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

Mathiơ 13.1-23: "Chúa Giêxu và các thí dụ"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Chúa Giêxu và các thí dụ
Mathiơ 13.1-23
1. Khi chúng ta trở lại với phần nghiên cứu đời sống của Đấng Christ trong sách Mathiơ, chúng ta đến với phần nhắc nhở đầu tiên về các thí dụ trong sách. Thí dụ là kỹ năng giảng dạy quan trọng của Chúa Giêxu và chúng ta sẽ học hỏi nhiều về chúng sau khi chúng ta xem xét kỹ phần nội dung.
2. Trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu bối cảnh (các câu 1-2).
A. Câu 1 bắt đầu bằng cách thuật lại cho chúng ta biết các sự cố trong chương 13 đã diễn ra "cũng ngày ấy" như một phần của các sự cố trong chương 12. Chính "cũng ngày ấy" mà mẹ và các em của Chúa Giêxu đã đến nói chuyện với Ngài (các câu 46-47). Chính "cũng ngày ấy" một đám đông người đau bịnh và có nhu cầu đã kéo đến cùng Ngài và Ngài "đã chữa lành cả" (câu 15). Chính cũng ngày ấy Ngài đã làm ra nhiều phép lạ chữa lành khác khiến cho người ta phải thắc mắc: "Có phải người đó là con cháu Vua David chăng" (Đấng Mêsi)?
B. Cũng trong chính ngày ấy Chúa Giêxu "ra khỏi nhà", nơi mà Ngài đã giảng dạy mà đi ra mé biển. Thật là thú vị khi thấy ngay từ đầu chức vụ của Chúa Giêxu, Ngài đã để ra nhiều thì giờ để ở trong: nhà dân, nhà hội, trụ sở công cộng, còn bây giờ chúng ta thấy Ngài giảng dạy ở ngoài trời. Sở dĩ như vậy là vì có hai tình huống. Thứ nhứt, người Do thái đã bắt đầu chối bỏ Ngài. Ngài không còn được tiếp đón, hoan nghênh tại nhà của họ nữa. Thứ hai, vì dân chúng yêu mến Ngài và đến với Ngài bằng "đoàn dân đông".
C. Vì "đoàn dân đông" đến với Ngài, Chúa Giêxu "phải xuống thuyền mà ngồi" còn dân chúng thì đứng trên “bờ". Bờ biển biến thành giảng đường tự nhiên và biển khuếch đại giọng nói của Ngài hầu cho ai nấy có thể nghe thấy được.
3. Kế đó, hãy tiếp thu phần định nghĩa về từ "thí dụ" (câu 3a).
A. Chúa Giêxu "dùng thí dụ mà giảng nhiều điều". Câu 34 cho chúng ta biết rằng "Ngài chẳng phán điều gì cùng họ mà không dùng lời ví dụ".
B. "Thí dụ" [parable] ra từ chữ parabole, đây là một từ kép ra từ chữ ballo, "đưa vào hay đặt vào" và para, có nghĩa là "kế bên". Vì thế, thí dụ là một câu chuyện được đưa vào kề bên một lẽ thật của Kinh Thánh hay một nguyên tắc để so sánh, để soi sáng và làm cho dễ hiểu. Đây là một hình thái thông thường trong sự giảng dạy của người Do thái. "Thí dụ" được nhắc tới khoảng 45 lần trong bản Kinh Thánh 70 hay bản Kinh Thánh Cựu ước Hy lạp.
C. Giảng dạy bằng các thí dụ vẫn còn là một kỹ năng rất có hiệu quả.
D. Mặc dù Chúa Giêxu đã sử dụng rồi một số minh họa trong phần nhgiên cứu sách Mathiơ của chúng ta, phân đoạn nầy đề xướng ra vì các câu chuyện đặc biệt được đồng hoá như các thí dụ và vì ý nghĩa chỉ được tỏ ra cho các môn đồ mà thôi.
4. Trong sứ điệp nầy, chúng ta sẽ thấy Phần giới thiệu thí dụ, Mục đích của thí dụ, và phần giải thích thí dụ.
I. Giới thiệu thí dụ (các câu 3-9).
Chúa Giêxu nói cho họ biết rằng có "người gieo giống đi ra đặng gieo". Đây là bối cảnh thường hay có ở xứ Galilê, một người với cái túi hột giống đeo trên vai đang dùng tay gieo ra những hột giống trên các luống đất. Kế đó, chúng ta học về bốn loại đất mà hột giống rơi trên đó.
A. Một phần giống rơi “dọc đường" (các câu 3-4).
1. “Dọc đường” tiêu biểu cho các con đường, lối đi chữ chi trong các cánh đồng ruộng xứ Galilê. Chúa Giêxu và các môn đồ đang đi trên một con đường, khi ấy họ bứt bông lúa mì mà ăn trong 12.1.
2. Vì đất “dọc đường” sẽ rất thô cứng do người ta đi lại nhiều trên đó, hột giống không thể châm rễ vào đất được, mà nằm đó chờ "chim bay xuống và ăn".
B. Một phần khác rơi nhằm chỗ “đất đá sỏi" (các câu 5-6).
1. Nhà nông luôn luôn cẩn thận di dời các hòn đá ra khỏi ruộng của họ. Tuy nhiên, vì địa thế của xứ Galilê, đã có nhiều lớp đá cứng nằm bên dưới. Có đất đủ cho cày cấy, song không sâu đủ cho lúa bắt rễ.
2. Hột giống rơi trên chỗ "đất đá sỏi" như thế, ở đó "ít đất thịt, bị lấp không sâu" nên chúng liền "mọc lên" nhưng "phải héo" và mau chóng chết đi vì bị mặt trời "đốt" và vì chúng "không có rễ".
C. Một phần khác rơi nhằm “bụi gai" (câu 7).
1. Đôi khi đồng ruộng ở xứ Palestine song hành với những hàng bụi gai. Những bụi gai nầy trở thành loại hàng rào tự nhiên giữ cho thú vật không đột nhập vào ruộng lúa.
2. Lúc nào cũng vậy, một phần hột giống "rơi nhằm bụi gai". Vì khi gặp đất tốt, chúng liền mọc lên, lớn lên. Tuy nhiên, trước khi chúng có thể lớn đủ để kết quả, "gai mọc rậm lên, phải nghẹt ngòi".
D. Một phần khác nữa rơi nhằm “chỗ đất tốt" (các câu 8-9).
1. “Đất tốt” nầy nằm giữa ruộng, ở xa "dọc đường", "đất đá sỏi" và "bụi gai".
2. Vì chúng rơi trên "đất tốt" và không bị ngăn trở, chúng liền "sanh trái". Đã có một mùa gặt thật trúng.
3. Cần phải nói rằng ở xứ Palestine trong thời đó tỉ lệ giống gieo gặt là 8/1. Tuy nhiên Chúa Giêxu mô tả kết quả là "một hột ra được một trăm, hoặc một hột sáu chục, hoặc một hột ba chục". Nói cách khác, đã có vụ mùa 100%, vụ 60% và vụ 30%. Tỉ lệ phần trăm nầy thực sự có thể nhận thức được bằng giác quan.
4. Kế đó Chúa Giêxu phán: "Ai có tai, hãy nghe!" Nói cách khác: "Nếu các ngươi hiểu thí dụ, thì hiểu đi". Cần phải có sự sáng láng về mặt thuộc linh mới hiểu được thí dụ. Tôi nghĩ Chúa Giêxu đang mời mọc người nào muốn hiểu thêm nên đến gặp Ngài theo cách riêng, như các môn đồ đã làm.
II. Mục đích của thí dụ (các câu 10-17).
Các môn đồ đã hỏi Chúa Giêxu một câu rất riêng tư: "Sao thầy dùng thí dụ mà phán cùng chúng vậy?". Tôi đoán là họ đang nghĩ: "Sao Ngài không nói thẳng ra cho họ biết, để ai nấy có thể hiểu được?"
A. Thí dụ chúc phước cho người nào tin (các câu 11-12).
1. Trong câu 11, Chúa Giêxu đưa ra hai lý do cho việc chia sẻ các thí dụ không thể lý giải được: để tỏ ra ý nghĩa cho những ai đã tiếp nhận Ngài và để che giấu ý nghĩa đối với những kẻ đã chối bỏ Ngài.
2. Chúa Giêxu định nói cho các môn đồ "biết những điều mầu nhiệm của Nước thiên đàng". "Những điều mầu nhiệm" không có ý nói tới một số mưu đồ quái dị hay khó hiểu, mà nói tới các lẽ thật của Đức Chúa Trời chưa được tỏ ra trong quá khứ. ”Nước” có ý nói tới sự tể trị của Chúa Giêxu trong tấm lòng của loài người.
3. Người nào tin thì được ban cho sự hiểu biết. Người nào chối bỏ không được "ban cho" sự hiểu biết. Thực ra "Vì sẽ cho thêm kẻ nào đã có". Người tín đồ nào có sự sáng láng hiểu biết của Đức Chúa Trời sẽ nhận lãnh thêm tri thức khi người ấy chịu khó nghiên cứu và học hỏi.
4. Mặc khác, người không tin, "kẻ nào không có" ngay cả sự sáng láng tối thiểu hay sự hiểu biết, “thì lại bị cất luôn điều họ đã có nữa”.
5. Về mặt thuộc linh, dù là cao hay thấp. Người nào "đói khát sự công bình" sẽ được "no đủ". Người nào chối bỏ ân điển của Đức Chúa Trời sẽ mất đi điều họ đã có nữa.
B. Thí dụ làm cho kẻ không tin phải lầm lẫn (câu 13).
1. Chúa Giêxu phán về hạng người vô tín, những kẻ đã nghe giảng sứ điệp của Ngài: "xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe, và không hiểu chi hết". Lời của Ngài là sự nhắc lại lời nói của Êsai, Ngài trưng dẫn ở các câu 14-15.
2. Tại sao họ không thể thấy hay nghe hoặc hiểu chứ? Vì họ chọn không thấy, không nghe và không hiểu. Đặc biệt nói về người Do thái trong câu 15, Êsai đã nói tiên tri: "dân nầy nặng tai…"
3. Họ đã chối bỏ Đấng Mêsi của họ, rồi vì cớ đó họ không thể hiểu được. Cũng thực như thế với những người vô tín ngày nay. Vì họ chối bỏ Đấng Christ, họ không có chức vụ của Đức Thánh Linh. Không có Đức Thánh Linh họ sẽ chẳng biết chi về “những lẽ mầu nhiệm” trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời đã ấn định theo chiều hướng đó.
C. Thí dụ làm ứng nghiệm lời tiên tri (các câu 14-15). Sự ứng nghiệm đầu tiên lời tiên tri của Êsai là sự phu tù ở Babylôn. Sự ứng nghiệm tối hậu là chức vụ của Chúa Giêxu.
D. Thí dụ bày tỏ ra lẽ mầu nhiệm của Đức Chúa Trời (các câu 16-17).
1. “Mắt” và “tai” của Cơ đốc nhân đều được phước vì chúng có sự hiện diện ở bên trong của Đức Thánh Linh dẫn dắt chúng (I Côrinhtô 2.9-10).
2. Ở cuối loạt thí dụ nầy, Chúa Giêxu đã hỏi các môn đồ Ngài ở câu 51: "Các ngươi có hiểu điều đó chăng?" Họ đáp: "Có hiểu" không phải vì họ thông minh siêu đẳng đâu, mà vì họ có Đức Thánh Linh dẫn dắt!
3. Chúa Giêxu nhắc cho họ nhớ trong câu 17, thậm chí "có nhiều Đấng tiên tri, nhiều người công chính" đời xưa "đã ước ao" song không thể thấy hoặc nghe những gì họ đã thấy và nghe.
III. Phần giải thích thí dụ (các câu 18-22).
A. Hiểu hột giống rơi "dọc đường" (các câu 18-19).
1. Lý do người nầy "không hiểu" đạo là vì người không muốn hiểu. Giống như con đường khó hột giống không thể bắt rễ được, người nầy làm cho tấm lòng mình chai cứng đối với Tin lành.
2. Tiếp đến Satan, "quỉ dữ" giống như bầy chim trong thí dụ "cướp đi" sứ điệp “đã gieo trong lòng mình".
3. Giống như “dọc đường” chai cứng do người ta đi lại nhiều, Satan giúp làm chai cứng tấm lòng của nhiều người với “sự đi lại nhiều” của thuyết duy lý trí [intellectualism], sự bận rộn, và phương tiện truyền thông đại chúng…
4. Satan thậm chí “cướp đi" lẽ thật ra khỏi những người tin Chúa. Có bao nhiêu lần quí vị chẳng nhận được gì từ Kinh Thánh? Quí vị đã làm chai cứng tấm lòng mình rồi đấy!
B. Hiểu hột giống rơi trên “đất đá sỏi” (các câu 20-21).
1. “Đất đá sỏi” tiêu biểu cho tấm lòng nông cạn. Mặc dù người nầy lúc đầu "liền vui mừng chịu lấy [đạo]" chỉ “tạm thời” mà thôi, vì không có gốc rễ đào sâu vào vùng đất ân điển của Đức Chúa Trời.
2. Vì một số ảnh hưởng bên ngoài như "sự cực khổ, sự bắt bớ" người nầy liền "vấp phạm". Có bao nhiêu lần quí vị gặp một người tuyên xưng đức tin, nhận lãnh phép báptêm, chịu khó làm việc vì mùa vụ rồi chỉ thấy trắng tay không?
3. Có thể đây chính là quí vị đấy. Quí vị chưa thực sự được cứu.
C. Hiểu hột giống rơi giữa “bụi gai" (câu 22).
1. Giống như hột giống bị nghẹt ngòi giữa “bụi gai”, có người nghe giảng Tin lành, bị Đấng Christ kích thích, nhưng lại nghẹt ngòi do "lo lắng về đời nầy, và sự mê đắm về của cải".
2. Chúng ta hãy xem xét trường hợp của "người trai trẻ giàu có” ở Mác 10.17-23.
D. Hiểu hột giống rơi trên “đất tốt” (câu 23).
1. Người nào là “đất tốt” vì hột giống thuộc linh đáp ứng theo ba cách: người "nghe đạo", "hiểu" (người không chối bỏ đạo), và "được kết quả" đức tin hiển nhiên trong đời sống của mình.
2. Chúng ta hãy xem xét kết quả của một tín đồ thực trong Galati 5.22-25.
3. Không những một tín đồ thực "được kết quả", mà người sẽ "một hột ra một trăm, hột khác sáu chục, hột khác ba chục". Mặc dù những ai kết trái thuộc linh đều là hạng tín đồ chơn thật, một số người vì sự đầu phục và vâng lời của họ mà kết quả nhiều người các người khác.
Hai lẽ thật sau cùng: Thứ nhứt, chúng ta không chịu trách nhiệm về mùa gặt, chỉ chịu trách nhiệm về việc gieo mà thôi. Thứ hai, chúng ta chịu trách nhiệm về bông trái của mình.
***

Mathiơ 12.43-50: "Mối nguy hiểm của sống đạo đức mà không có giá trị thuộc linh"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Mối nguy hiểm của sống đạo đức mà không có giá trị thuộc linh
Mathiơ 12.43-50
1. Hết thảy các tín đồ đã sanh lại theo lời Kinh Thánh đều có lòng quan tâm đến luân thường đạo lý, đạo đức. Mỗi ngày chúng ta nhìn thấy sự suy đồi của một quốc gia đã từ chối gốc rễ Cơ đốc xuất phát từ Kinh Thánh. Chúng ta nhìn thấy sự đồi bại cùng cực ở các chức vụ cao trong chính phủ. Chúng ta nhìn thấy nhiều gia đình tan vỡ, một cấp độ ly dị ngày càng tăng, và tội ác lạm dụng ngược đãi trẻ em. Chúng ta nhìn thấy bạo lực ngày càng tăng trên các đường phố. Chúng ta nhìn thấy mọi sự nầy được chiếu lên, được mở rộng, thậm chí gia tăng trên phương tiện truyền thông đại chúng, dường như họ muốn kích động tánh ác trong chúng ta. Roma 3.15 rất chính xác khi nói tới hạng người: "Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu".
2. Là tín đồ và là người canh giữ mọi lẽ thật của Kinh Thánh, những Cơ đốc nhân Tin lành than tiếc việc bỏ qua các giá trị cùng những đức tính theo truyền thống và sự phát sinh triết lý không có các giá trị tuyệt đối. Lối suy tưởng rất thịnh hành ngày nay là: "Cái điều thực cho anh sẽ không thực cho tôi". Với cấu trúc không có giá trị cụ thể, giống như Israel đời xưa, mọi người đang làm "đúng theo mắt mình cho là phải". Triết lý nầy đứng nghịch chiều với hệ thống luật định của chúng ta và chúng ta là những chứng nhân cho sự tự huỷ diệt của triết lý đó.
3. Vấn đề là: chúng ta được khuyến khích sống đạo đức mà không cần giá trị thuộc linh đích thực. Đạo đức tự nó trong nhiều phương thức rất nguy hiểm hơn cả tình trạng phi đạo đức nữa. Người dòng Pharisi cùng các cấp lãnh đạo tôn giáo của Israel là một điển hình cho lẽ thật nầy.
4. Là học viên của Tân ước, chúng ta có khuynh hướng chê bai "các thầy thông giáo và người dòng Pharisi". Tuy nhiên, họ là hạng người vô cùng đạo đức. Họ sống theo những sự hướng dẫn nghiêm ngặt về cách ứng xử mà họ đạt tới mức tin tưởng rằng họ đã ở trong tình trạng tự chủ. Họ mù quáng do sự tự dối gạt mình đến nỗi khi Đức Chúa Trời đến với họ bằng hình thể con người, khi Đấng Mêsi mà lâu nay họ mong đợi đã hiện đến, họ đã không chịu công nhận Ngài. Đúng là tồi tệ, họ đã xem Ngài là một mối đe doạ và họ đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Quí vị có thấy Chúa Giêxu đã không ngần ngại khi đến với hạng đĩ điếm, những kẻ tà dâm, kẻ giết người, và người thu thuế. Đúng thế, một vài cấp lãnh đạo tôn giáo đã dành thì giờ lúc ban ngày cho Ngài, ít nhiều gì cũng đã tin nơi Ngài.
5. Một trường hợp về tình trạng đạo đức tự dối gạt của họ được thấy trong Luca 18.10-14. Họ đã không thấy bản thân họ là hạng tội nhân, mà chỉ thấy họ là hạng người thanh sạch, công bình. Như một kết quả, họ đã chối bỏ ân điển của Đức Chúa Trời. Hãy chú ý Chúa Giêxu tiếp cận họ trong 23.25-32.
6. Đáng buồn thay, chúng ta nhìn thấy vấn đề sống đạo đức như thế nầy mà chẳng có giá trị thuộc linh chi hết hãy còn tiếp diễn ngày hôm nay. Chúng ta nhìn thấy trong giới cầm quyền, trong giới giáo dục, trong xã hội và thậm chí trong các nhà thờ nữa. Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, chúng ta sẽ nhìn thấy hai hình ảnh về sống đạo đức mà chẳng có chút giá trị thuộc linh nào, một từ LÃNH VỰC THUỘC LINH và một từ LÃNH VỰC GIA ĐÌNH.
I. Một hình ảnh từ lãnh vực thuộc linh (các câu 43-45).
A. Sự bất an của một tà ma bị trục xuất (câu 43).
1. Trong phân đoạn lạ lùng nầy, Chúa Giêxu đang nói tới “một tà ma”. Qua câu chuyện nầy Ngài đề cập tới một tà ma, một thiên sứ sa ngã, một con chốt của Satan và là một chi thể của thế lực gian ác của địa ngục. Bởi "tà ma", Kinh Thánh có ý nói rằng hắn rất độc ác và rất gớm ghiếc. Tuy nhiên, như chúng ta nhìn thấy sau đó, đã có nhiều quỉ "dữ hơn" hắn nữa.
2. Câu nầy đặc biệt không nói bằng cách nào "tà ma ra khỏi một người". Rõ ràng, Chúa Giêxu đã đuổi nhiều quỉ (đối chiếu câu 22). Tuy nhiên, có lẽ người nầy đã đưa ra quyết định sống đạo đức muốn quên đi tội lỗi, là điều đã khiến cho tà ma phải bỏ chạy.
3. Khi “tà ma’ ra khỏi người, "thì nó đi đến nơi khô khan kiếm chỗ nghỉ, nhưng kiếm không được". Tà ma không cần thức ăn hay nước uống, vì lẽ đó, chúng ta phải hiểu "khô khan" là cách nói bóng bẩy mà thôi. Khi ra khỏi một người, tà ma không có một chỗ nào tiện nghi để “nghỉ” hết.
4. Dường như tà ma thích ở trong loài vật hơn nếu chúng không thể ám vào con người. Tà ma khi ám vào người xứ Ga-đa-ren bị Chúa Giêxu đuổi ra đã xin Ngài cho phép ám vào bầy heo (8.31).
5. Tà ma cần loài thọ tạo, đặc biệt là con người để thực thi công việc xấu xa nhất của chúng. Một tà ma không chiếm hay không ám vào một người, hắn đang ở một nơi “khô khan” hay hoang vu lắm.
B. Sự trở về của tà ma bị trục xuất (câu 44).
1. Ở một góc độ của hình ảnh nầy, tà ma nói: "Ta sẽ trở về nhà ta mà ta mới ra khỏi". Cụm từ "nhà ta" cho thấy bản chất hay ám thị của ma quỉ. Tà ma nầy đã xem thân thể của con người chính là “nhà” của hắn, là nơi chiếm ngự, điều khiển của hắn.
2. Chúng ta biết rằng không phải người nào tin nơi Chúa Giêxu đều được sạch cả đâu. Có thể ai đó đã cất bỏ được thế lực của ma quỉ ra khỏi đời sống của mình bằng cách đưa ra một sự lựa chọn thích ứng sống đạo đức mà không nhất thiết phải tin theo Đấng Christ. Ở đây, chúng ta thấy vấn đề: ấy là sống đạo đức mà chẳng cần giá trị thuộc linh đích thực.
3. Khi tà ma trở về với nạn nhân của hắn, hắn: "thấy nhà không, quét sạch, và sửa soạn tử tế". “Quét sạch và sửa soạn tử tế" là cách nói thông thường dành cho việc dọn dẹp đời sống của một người, để đón nhận những điều xứng đáng hơn.
4. Mặc dù đời sống của người nầy đã được cải thiện. Mặc dù là “nhà không” chẳng có tà ma nào hết, mặc dù ngôi nhà ấy đã “quét sạch" tội lỗi, mặc dù ngôi nhà đó "sửa soạn tử tế", song không có một sự thay đổi thuộc linh nào cả. Cây cối bị đốn hạ, song gốc rễ tội lỗi hãy còn đó. Đã có sống đạo đức mà chẳng có giá trị thuộc linh nào đích thực hết.
5. Tội lỗi cơ bản phải được xử lý trước khi tội lỗi bị chinh phục. Đấy là lý do tại sao có nhiều người không bao giờ đến với Đấng Christ. Họ nói họ sẽ đến khi đời sống họ đàng hoàng hơn...nhưng họ không bao giờ đến với Ngài.
C. Sự tái định cư của một tà ma bị trục xuất (câu 45).
1. Tà ma đầu tiên khi ấy "bèn lại đi, đem về bảy quỉ khác dữ hơn nó nữa, cùng vào nhà đó mà ở". Hắn tìm kiếm bạn bè nào xấu xa, tồi tệ và thích huỷ diệt hơn cả hắn trước đó.
2. Giờ đây hết thảy tám tà ma cùng "vào" người ấy "mà ở đó". Từ ngữ "ở" mang ý tưởng định cư, ở thường trực luôn.
3. Chúa Giêxu phán: "vậy số phận người ấy sau lại xấu hơn trước".
Quí vị có biết người nào đã đưa ra một quyết định có ý thức muốn dọn dẹp đời sống của mình. Có thể người ấy (nam hay nữ) bỏ uống rượu, không còn tụm năm tụm ba nữa hay quyết định bỏ đi một tật xấu nào đó. Dường như họ giữ rất tốt trong một khoảng thời gian...có thể họ đã khởi sự nhóm lại với một Hội Thánh gần nhà. Sau cùng, khi họ không theo nỗi phần cải cách mà họ mới tìm được, họ cảm thấy thất vọng vô cùng. Tại sao điều nầy xảy ra? Vì duy các quyết định sống đạo đức vẫn chưa đủ để có sự thắng hơn tội lỗi. Đắc thắng sau cùng đối với tội lỗi đòi hỏi phải có quyền năng thuộc linh và quyền năng nầy chỉ đến qua một mối tương giao với Đức Chúa Giêxu Christ mà thôi.
4. Chúa Giêxu phán: "Dòng dõi hung dữ nầy cũng như vậy". Chúa Giêxu đã phán với dòng dõi Pharisi: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi" (Mathiơ 23.15). Chúng ta hãy xem lời lẽ của Phierơ ở II Phierơ 2.20-21.
II. Một hình ảnh từ lãnh vực gia đình (các câu 46-50).
A. Sự đến của gia đình theo phần xác của Chúa Giêxu (các câu 46-47).
1. Câu 46 chép rằng “mẹ và anh em Ngài đến đứng NGOÀI". Mathiơ 13.1 chép rằng Chúa Giêxu "ra khỏi nhà". Vì thế chúng ta kết luận rằng Chúa Giêxu đang dạy dỗ cho "dân chúng" ở trong một ngôi nhà chật cứng người.
2. Rõ ràng, có ai đó đã ngăn Chúa Giêxu, có lẽ là một trong các môn đồ Ngài với tin tức về sự đến của “mẹ và anh em Ngài”.
3. Họ đang “muốn nói cùng Ngài”. Ở điểm nầy, anh em của Chúa Giêxu chưa tin Ngài (Về sau Giacơ trở thành Giám Mục Trưởng Hội Thánh Jerusalem và viết thư tín mang tên ông). Trong phần mô tả chính bối cảnh nầy, Mác 3.21 ghi lại họ đã nói: "Ngài mất trí khôn".
4. Có lẽ gia đình của Chúa Giêxu đã lấy làm lo bởi phương thức Ngài phản kháng cấu trúc tôn giáo thời bấy giờ. Họ vốn biết Chúa Giêxu chế giễu những người kia giống như một quả bom hẹn giờ vậy. Có thể họ muốn đưa Ngài đi khỏi đó, và làm cho bầu không khí chính trị lắng dịu xuống.
5. Ở bất kỳ một cấp độ nào, có người đến nói công khai với Chúa Giêxu: "xem kìa, mẹ và anh em Thầy đang đứng ở ngoài, muốn nói cùng Ngài".
B. Sự thực về gia đình thuộc linh của Chúa Giêxu (các câu 48-50).
1. Dường như Chúa Giêxu chẳng có gì phải lúng túng hết. Không nghi ngờ chi nữa, Ngài liếc nhìn quanh các môn đồ khi Ngài phán: "với kẻ đến nói cùng Ngài", Ngài hỏi: "Ai là mẹ, ai là anh em ta?" Chắc chắn, dân chúng đang đứng gần đó đã lấy làm lạ bởi câu hỏi kỳ dị nầy.
2. Chúng ta biết Chúa Giêxu không phải là đoạn tuyệt hoặc không công nhận gia đình của mình đâu. Ngài vốn yêu thương sâu sắc và lo chăm sóc cho họ. Từ trên thập tự giá, lời nói sau cùng của Ngài cho người môn đồ yêu dấu là Giăng, Ngài bảo ông phải chăm sóc cho mẹ Ngài. Tình yêu của Ngài trói buộc anh em của Ngài gắn bó với nhau trong Công vụ Các Sứ Đồ 1, họ được tính chung với các môn đồ ở trên phòng cao.
3. Khi ấy Chúa Giêxu "giơ tay chỉ các môn đồ mình" và phán với mọi người: "Nầy là mẹ cùng anh em ta". Ngài có ý nói rằng mọi người đều được mời trở nên chi thể trong gia đình thuộc linh, đời đời của Ngài. Bất cứ ai cũng đều có thể trở thành chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta làm theo lời kêu gọi đó, gia đình của Đức Chúa Trời là gia đình duy nhất mới thực sự là vấn đề.
4. Chúa Giêxu lên tới cao điểm của bối cảnh bằng cách nói: "Vì hễ ai làm theo ý muốn Cha ta ở trên trời, thì người đó là anh em, chị em ta, cùng là mẹ ta vậy".
5. Hêbơrơ 2.11-13 cho chúng ta biết rằng Chúa Giêxu "không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em".
6. "Hễ ai" là một từ mời gọi. Từ ấy nhắc cho chúng ta nhớ tới Khải huyền 22.17: "Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không". Hễ ai "làm theo ý muốn Cha ta", nghĩa là người nào tiếp nhận Đức Chúa Giêxu Christ đều là chi thể trong gia đình đời đời của Chúa Giêxu.
KẾT LUẬN: Sống đạo đức mà chẳng có một sự thay đổi thuộc linh thì chẳng thay đổi chi hết. Những việc lành mà không có đức tin nơi Đấng Christ chẳng cứu được ai. Tôn giáo mà chẳng có một mối tương giao với Chúa Giêxu thì chỉ là hư không mà thôi. Đừng lo dọn dẹp bề ngoài của đời sống mình, hãy dâng trọn vẹn đời sống mình cho chính mình Chúa Giêxu.
***

Mathiơ 12.38-42: "Sự phán xét những kẻ chối bỏ"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Sự phán xét những kẻ chối bỏ
Mathiơ 12.38-42
1. Khi còn là sinh viên thần học, tôi đến làm việc trong một tiệm hàn với người chủ tiệm tên là Charles. Charles là một người rất giỏi trong nhiều phương diện. Anh rất chịu khó làm việc và trả công hậu hỉ cho thầy thợ. Anh luôn luôn mau mắn giúp đỡ ai đó khi có cần. Anh rất rời rộng, nhanh nhẹn và là một người rất hoạt bát. Anh rất kỉnh kiền đối với Đức Chúa Trời và sống theo một bộ luật đạo đức rất nghiêm ngặt. Charles có một nan đề không được tốt cho lắm, anh không cần tới Đấng Christ hay Hội Thánh.
2. Thế gian đầy dẫy hạng người ngay thẳng, đạo đức thậm chí rất tôn giáo, họ tin nơi Đức Chúa Trời và cố gắng giúp đỡ cho nhiều người. Có nhiều người đã chịu phép báptêm, năng động dự phần trong Hội Thánh và được giao cho nhiều chức vụ khác nhau. Một số người không đi nhà thờ lại là hạng người nhơn đức đến nỗi họ làm cho những người đi nhà thờ đều đặn phải thấy xấu hổ. Tuy nhiên, vì mọi việc lành, đạo đức và vẻ tôn giáo bề ngoài của họ, có nhiều người trong số đó đã bị hư mất và đang hướng tới địa ngục.
3. Tại sao vậy? Vì mọi việc lành của họ, họ đã chối bỏ Đấng Christ. Người ta không được lên thiên đàng trên cơ sở sống nhơn đức đâu. Không một ai là nhơn đức cả. Không có cây cân lớn nào khi phán xét sẽ cân đối giữa mọi việc lành cùng những tội lỗi của chúng ta đâu! Chúa Giêxu phán rõ ràng: "Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha" (Giăng 14.6). Ngài phán trong Giăng 3.36: "Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó".
4. Trong phân đoạn nầy, Chúa Giêxu xử lý với "các thầy thông giáo và người dòng Pharisi".
A. Thật là dễ cho chúng ta khi cho rằng hạng người nầy là gian ác, nhưng trong thời của họ, họ được người ta tôn kính và không nghi ngờ chi hết, nhiều người trong số họ đều có lòng khao khát muốn phục sự Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, giống như Charles bạn tôi, họ đã cậy vào sự nhơn đức riêng của họ giải cứu họ.
B. Ở bề ngoài, họ tỏ ra rất là tôn giáo, song khi Chúa Giêxu chỉ ra vẻ bề ngoài của họ, tội lỗi của họ bị phơi bày. Trong 23.27-28, Ngài phán: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy. Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi". Trong câu 34 của chương nầy, Ngài ám chỉ họ là "dòng dõi rắn lục".
C. Giống như nhiều người ngày nay, "thầy thông giáo và người dòng Pharisi" đã giả vờ dung chịu chức vụ của Chúa Giêxu. Ngày nay có nhiều nhóm tôn giáo, nhiều hệ phái, cùng nhiều hệ thống thờ lạy hình tượng đã giả vờ có một nhận định cao về Đấng Christ và Kinh Thánh. Tuy nhiên, khi họ đối mặt với những lời tố giác có thẩm quyền của Chúa Giêxu và chính tội lỗi của họ, họ liền chối bỏ Ngài.
D. Hạng người tôn giáo nầy giờ đây đã biết đủ về Chúa Giêxu. Họ đã phơi bày bản chất thực của họ trong câu 14 khi họ "bàn với nhau, lập mưu giết Ngài".
I. Dấu lạ đến từ trời (các câu 38-40).
A. Lời cầu xin ban cho dấu lạ (câu 38).
1. Có lẽ đây là một ban rất đặc biệt được chỉ định nghiên cứu mọi sự dạy của Chúa Giêxu, họ đã đến gặp Ngài trong ngày đó.
2. Họ đã nghe lời quở trách gay gắt của Ngài do họ đưa ra lời nói Ngài đã “nhờ Chúa quỉ” mà đuổi quỉ (câu 24). Không nghi ngờ chi nữa, họ đã sôi sục với cơn giận dữ. Tuy nhiên, họ đã cắn lưỡi của mình khi đưa ra lời cầu xin quá đơn sơ như vậy.
3. Họ gọi Ngài là "Thầy" hay Rabi, thậm chí họ đã tỏ ra xem khinh Ngài. Tước hiệu đáng kính nầy có lẽ là vì cớ đám dân đông.
4. Họ đáp: "Chúng tôi muốn xem thầy làm dấu lạ". Nói cách khác, họ muốn Chúa Giêxu làm ra một phép lạ để minh chứng Ngài chính là Đấng Mêsi. Rõ ràng là họ thực sự không tin và không thuyết phục được Chúa Giêxu sẽ không làm ra một “dấu lạ” nào. Trong 16.1, họ đã đến "có ý thử Ngài, thì xin làm cho xem một dấu lạ từ trên trời xuống".
5. Hãy suy nghĩ trong một phút xem. Họ có mặt trong đám đông ngày ấy. Họ đã chứng kiến lẽ thật ở câu 15: "và Ngài chữa lành cả". Họ đã trông thấy trong nỗi kinh ngạc lúc Chúa Giêxu chữa lành một người bị "quỉ ám, mù và câm". Họ đã nghe đám dân đông hô lớn: "Người nầy có phải là Con Vua David không?" Họ còn muốn trỗi hơn thế nữa!
6. Đây là một lẽ thật quan trọng nói về Chúa Giêxu: “Ngài dành giữ phép lạ dấu kỳ của Ngài cho những người mà Ngài động lòng thương xót cho”. Chúa Giêxu vui sướng chữa lành cho từng thứ bịnh tật nơi họ. Ngài quở biển đang gầm rống phải im lặng để minh chứng tình yêu của Ngài dành cho các môn đồ Ngài. Thế mà Ngài không hề, không bao giờ và không làm một phép lạ nào cho những kẻ chỉ trích phê phán nhìn thấy.
a. Ngài từ chối không nhảy xuống từ nóc đền thờ cho Satan thấy (Mathiơ 4.6-7).
b. Ngài không làm phép lạ cho Hêrốt xem (Luca 23.8).
c. Ngài không làm phép lạ cho các "thầy thông giáo cùng người dòng Pharisi" xem.
B. Đáp ứng cho lời xin một dấu lạ (câu 39).
1. Chúa Giêxu đã chỉ ra rằng không phải một người có đức tin đòi hỏi một dấu lạ mà là "dòng dõi hung ác gian dâm". Chắc chắn động lực của họ đều là “xấu”. Họ muốn làm mất uy tín của Chúa Giêxu. Họ không phải là hạng người thành thật tìm kiếm chân lý. Họ cũng là “gian dâm” nữa. Họ đã quên lẽ thật của Đức Chúa Trời nói về sự thờ lạy hình tượng. Mặc dù họ không thờ lạy các hình tượng kể từ thời kỳ lưu đày, họ đã làm ra nhiều thứ hình tượng cho tôn giáo của họ và theo truyền khẩu do con người lập ra.
2. Chúa Giêxu còn nói thêm rằng "sẽ chẳng cho một dấu lạ khác". Ban dấu lạ cho hạng người chuyên phê phán chỉ trích, điều nầy ngược lại với bổn tánh và chương trình của Ngài. Ngài có thể ban cho dấu lạ, nhưng Ngài không làm thế.
3. Ngoại lệ duy nhất mà Chúa Giêxu thực thi cho đáp ứng nầy là "dấu lạ của Đấng tiên tri Giôna".
C. Dấu lạ của Giôna (câu 40).
1. Giôna, tất nhiên, là tiên tri thời Cựu ước, Đức Chúa Trời bảo ông phải ra di và rao giảng cho thành "Nineve". Thay vì thế, ông đã trốn sang thành Ta-rê-si trên một chiếc tàu. Đức Giêhôva đã sai một cơn bão lớn đến và Giôna đã bị ném xuống biển để cứu chiếc tàu.
2. Đức Chúa Trời khiến ông bị một “con cá lớn” nuốt lấy và ông đã ở trong “bụng” cá trong "ba ngày ba đêm" cho tới khi ông bị con cá mửa ra trên bờ biển gần thành "Nineve".
3. Chúa Giêxu phán rằng câu chuyện của Giôna là một HÌNH BÓNG một kiểu cách của “dấu lạ”. Ngài muốn nói “ba ngày ba đêm trong bụng cá” của Giôna làm hình bóng cho Chúa Giêxu sẽ phải ở "ba ngày ba đêm trong lòng đất".
4. Giống như Giôna đã bị chôn trong biển sâu, Chúa Giêxu sẽ bị chôn trong đất. Giống như Giôna đã bị mửa ra bởi quyền phép của Đức Chúa Trời, Chúa Giêxu sẽ sống lại từ trong kẻ chết.
5. “Dấu lạ của…Giôna" đích thực chính là dấu lạ sự sống lại của Ngài. Điều nầy không phải là việc mà các cấp lãnh đạo Do thái có thể hiểu được, mà còn lấy làm lạ thêm nữa.
II. Sự phán xét đến từ trời (các câu 41-42).
A. Sự phán xét của “dân thành Ninive” (câu 41).
1. Mặc dù sự ngần ngại của Giôna không muốn rao giảng cho “dân thành Ninive”, họ đã nghe được sứ điệp của ông, họ đã "ăn năn" và tránh được cơn phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên thành và trên gia đình của họ.
2. “Dân thành Ninive” không những là dân Ngoại, bất chấp lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời, mà họ còn là người Asiri thù nghịch, hung ác... là hạng người cực kỳ gian ác. Dù vậy Giôna 3.5-6 cho chúng ta biết khi họ nghe xong lời của Đức Giêhôva họ đã "rao ra sự kiêng ăn và mặc bao gai" là một biểu tượng của sự họ ăn năn và hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời.
3. Mặt khác, dân Israel đã có luật pháp, các sách tiên tri và các dấu kỳ phép lạ vô số đến từ Chúa, thế mà họ lại không nghe theo tiếng của Ngài. Dù có người "lớn hơn Giôna", Con độc sanh của Đức Chúa Trời đã ngự đến giữa vòng họ, họ đã từ chối không chịu nghe theo Ngài.
4. Vì họ chối bỏ Đấng Christ, thậm chí “dân thành Ninive” ngoại đạo sẽ “đứng dậy mà lên án nó”.
B. Sự phán xét của “Nữ hoàng Nam phương” (câu 42).
1. “Nữ hoàng Nam phương” là Nữ Hoàng Sêba, một nữ hoàng giàu có của một xứ xa vùng Arabia, khoảng 1.200 dặm về phía Nam. Đối với dân trong khu vực, 1200 dặm dường như là "từ nơi đầu cùng đất".
2. Vị Nữ hoàng nầy đã đi một chuyến hành trình thật dài băng ngang qua sa mạc nắng nóng để "nghe lời khôn ngoan của Vua Salômôn". Thậm chí bà còn đem theo dâng lên nhà Vua mọi của báu từ đất nước giàu có của bà như một cống thuế.
3. Mục tiêu của Chúa Giêxu là đúng đắn. Đây là một người Ả rập ngoại giáo, có lòng thù ghét và là một phụ nữ chuyên tra khảo những ai tìm kiếm ân điển nơi Đức Chúa Trời vì chuyến hành trình hạ mình của bà đến gặp Salômôn.
4. Chúa Giêxu phán: "mà đây nầy, có một người tôn trọng hơn vua Sa-lô-môn!" Nếu Nữ hoàng phải trả giá như thế để gặp một con người, các lãnh đạo Do thái nầy là ai mà từ chối không tin theo Con Đức Chúa Trời là Đấng đang đứng trước mặt họ!
5. Thực vậy "nữ hoàng nam phương" sẽ "chổi dậy mà lên án" dòng dõi người Do thái vô tín nầy.
III. Ba lẽ thật cho ngày hôm nay.
A. Mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời phải dựa theo đức tin, chớ không phải dựa theo dấu lạ.
1. Người ta ngày hôm nay vẫn còn muốn trông thấy một dấu lạ. Họ muốn được chữa lành, làm cho đời sống của họ được phong phú và loại bỏ hết mọi khó khăn trước khi họ tin. Đây là miếng mồi của hệ thống thờ lạy hình tượng và các tôn giáo giả ngày hôm nay.
2. Lẽ thật Kinh Thánh trong Êphêsô 2.8: "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu".
B. Những người rất gần gũi với lẽ thật đôi khi quên phứt lẽ thật đó.
1. Người Do thái đã có từng lý do để tin theo Chúa Giêxu, thế mà họ không tin. Cũng một thể ấy, nhiều người ngày nay sống rất gần gũi với các lẽ thật của Chúa Giêxu, nhưng chỉ muốn đoạt làm của riêng mà thôi. Họ có mặt trong nhà thờ nhưng không có mặt trong Nước Trời.
2. Hết thảy chúng ta đều cần phải bước theo mưu luận của II Côrinhtô 13.5, câu nầy chép: "Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng. Hãy tự thử mình: anh em há không nhận biết rằng có Đức Chúa Jêsus Christ ở trong anh em sao? miễn là anh em không đáng bị bỏ".
C. Sự cứu rỗi dựa theo sự công bình của Chúa Giêxu chớ không dựa vào sự nhơn đức của chúng ta.
1. Vô luận bạn tôi Charles có sống nhơn đức thể nào, sự nhơn đức của anh ta không thể dời đi tội lỗi của mình được.
2. Nếu ơn cứu rỗi của chúng ta không duy bởi “đức tin”, thì chẳng có ơn cứu rỗi chi hết.
***

Mathiơ 12.33-37: "Sự làm chứng của cái lưỡi"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Sự làm chứng của cái lưỡi
Mathiơ 12.33-37
1. Câu chuyện kể về ba vị Mục sư, họ cùng nhau đi câu cá trong hoang vắng phía Bắc Canada. Trong khi họ ở đó, họ làm quen với nhau và bắt đầu nói về những tư tưởng tận đáy lòng của họ. Một người xưng rằng ông đã vật vã với sự thành thật và đã phạm phải tội xén bớt tiền bạc từ ngân sách của Hội Thánh của mình. Sau khi đưa ra lời xưng tội đáng giật mình nầy, ông đã khuyến khích hai người kia xưng ra tội lỗi của họ. Vị Mục sư thứ hai xưng rằng ông đã vật vã với tội lỗi về tình dục và đã phạm tội tà dâm với vài phụ nữ trong khi thi hành chức vụ của mình. Vị Mục sư thứ ba thì giữ im lặng trong một lúc lâu. Sau cùng khi bị thúc đẩy bởi hai người đồng sự, ông mới tỏ bày ra các điểm yếu của mình, ông nói: "Anh em ơi, tôi không nghĩ anh em muốn biết những điểm yếu của tôi, nhưng khi anh em cố quyết, tôi sẽ nói cho anh em biết. Tôi chỉ thích ngồi lê đôi mách, và tôi không muốn về nhà".
2. Trong tất cả tội lỗi mà người ta đã phạm phải, tội thông dụng nhất là tội lỗi của cái lưỡi.
A. Giacơ 3.8 chép: "nhưng cái lưỡi, không ai trị phục được nó; ấy là một vật dữ người ta không thể hãm dẹp được: đầy dẫy những chất độc giết chết”.
B. Giacơ 3.2 chép: "Chúng ta thảy đều vấp phạm nhiều cách lắm. Nếu có ai không vấp phạm trong lời nói mình, ấy là người trọn vẹn, hay hãm cầm cả mình".
3. Cần phải tính rằng một người trung bình phải trò chuyện 30 lần trong ngày. Mỗi ngày lời nói của người ấy có thể đóng thành một quyển sách dày khoảng 50-60 trang. Mỗi năm lời nói của người ấy có thể chứa trong hơn 100 quyển sách, mỗi quyển dày 200 trang. Cho nên chẳng có gì là lạ hết khi nói chúng ta phạm tội trong lời nói. Chúng ta sử dụng lời nói quá nhiều.
4. Tuần qua chúng ta đã học biết người Pharisi vu cáo Chúa Giêxu bằng cách nói: "Người nầy chỉ nhờ Bê-ên-xê-bun là chúa quỉ mà trừ quỉ đó thôi" (câu 24). Sau khi chỉ ra lời vu cáo của họ lố bịch là dường nào, Chúa Giêxu đã chỉ ra họ đã phạm thượng đối với Đức Thánh Linh bằng cách từ chối không chịu tin nơi Ngài mặc dù có chứng cớ rõ ràng Ngài đã và đang là Con của Đức Chúa Trời.
5. Trong phân đoạn nầy, Chúa Giêxu cho chúng ta thấy thể nào cái lưỡi tỏ ra những điều chất chứa trong tấm lòng và mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời Toàn Năng.
I. Thí dụ về cây (câu 33).
A. Chúa Giêxu gọi người Pharisi là "bịa" trong lý trí của họ.
1. Khi Chúa Giêxu phán: "Hoặc cho...", từ ngữ "make" (cho) có nghĩa là "xem xét, đánh giá, hay phán đoán". Chúng ta dùng chính từ nầy khi chúng ta nói: "Make up your mind" (hãy quyết định đi).
2. Chúa Giêxu đang phán: "Hãy quyết định về ta đi. Hoặc cho là ta tốt và công việc của ta làm là tốt, hoặc cho là ta xấu và công việc của ta làm là xấu".
B. Chúa Giêxu dạy rằng bởi lời nói và việc làm thì biết được người ta.
1. Chúa Giêxu phán: "Hoặc cho là cây tốt thì trái cũng tốt, hoặc cho là cây xấu thì trái cũng xấu”. Ngài tiếp tục phán: “vì xem trái thì biết cây”
2. Chúa Giêxu đã sử dụng chính thí dụ nầy trong Bài Giảng Trên Núi của Ngài ở 7.17 ở đó Ngài phán như sau: "Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu thì sanh trái xấu".
3. Cây táo sanh trái táo. Cây đào sanh trái đào. Cây sầu riêng sanh trái sầu riêng có gai nhọn. Quí vị không thấy cây sầu riêng sanh trái đẹp bao giờ. Quí vị cũng không thể thấy cây đào sanh trái có gai đâu!?!
4. Satan đã đưa tội lỗi vào trong thế gian. Từ tội lỗi đó xảy ra tật bịnh, sự chết, sự huỷ diệt và quỉ ám. Chúa Giêxu đã đến trong thế gian chữa lành từng thứ bịnh tật, làm cho kẻ chết sống lại, và đuổi quỉ. Ngài mang theo một sứ điệp nói về đức tin và sự tha thứ. Thật là dại dột khi nói rằng Ngài đã làm công việc của mình bằng quyền phép của Satan khi Ngài tước đoạt công việc của Satan.
5. Những việc lành của Chúa Giêxu đều là bằng chứng khó tranh cãi về sự nhơn từ và quyền phép thiêng liêng của Ngài.
6. Cũng một thể ấy, người ta được nhận biết bởi trái của họ. Quí vị có thể nhìn thấy tánh tình bề trong của ai đó bởi đường lối họ đang sinh sống và lời lẽ mà họ đang nói ra.
II. Điều ác của tấm lòng (các câu 34-35).
A. Chúa Giêxu gọi người Pharisi là "dòng dõi rắn lục" (câu 34a).
1. Không những Chúa Giêxu sánh người Pharisi với một "cây" mà lại là cây "xấu", mà Ngài còn gọi họ là "dòng dõi rắn lục” nữa.
2. Trong 3.7, Giăng Báptít đã sử dụng phần mô tả nầy khi họ đến với ông để chịu phép báptêm. Về sau trong 23.33, Chúa Giêxu đã sử dụng phần nầy một lần nữa khi Ngài công bố một loạt "khốn thay" giáng trên họ vì sự dối trá của họ.
3. "Rắn lục" là một danh xưng dành cho loài rắn độc dữ đã tràn vào xứ Palestine. Chúng là loại độc dữ gây CHẾT CHÓC và phần lớn các nạn nhân của chúng đều ngã chết cách mau chóng. Chúng cũng là loài TRÁ HÌNH, trà trộn với cây cối. Một con rắn độc như thế đã cắn vị sứ đồ Phaolô trong Công vụ Các Sứ Đồ 28.3-6.
4. Một con rắn mẹ sẽ ôm ấp một số trứng và khi chúng nở ra, một "bầy" rắn nhỏ được thả vào trong thế gian.
5. Giống như một "dòng dõi rắn lục", người Pharisi đã rãi chất độc tôn giáo của họ về sự tuân giữ luật pháp và những lời truyền khẩu do con người lập ra. Mathiơ 23.15 chép: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi".
6. Mặc dù chúng ta được kêu gọi phải sống nhu mì, chúng ta cũng phải noi theo gương của Chúa chúng ta tỏ ra cho những kẻ xuyên tạc con đường cứu rỗi vì họ quả là loài “rắn lục” trá hình, gây chết chóc. Hầu hết hệ thống thờ lạy hình tượng đều có cơ sở của chúng nơi Cơ đốc giáo theo Kinh Thánh.
B. Tấm lòng gian ác của người Pharisi bị nhận ra là bởi lời nói của họ (câu 34b).
1. Chúa Giêxu hỏi: "làm sao các ngươi nói được sự tốt?" Bởi lời nói phạm thượng của họ, người Pharisi đã tỏ ra sự đồi bại của họ. Quả thực họ là "xấu" và mọi sự họ có thể "nói" cũng là "xấu" và tự mãn. Nếu họ chịu tìm kiếm điều “tốt” họ đã tiếp nhận Đấng Christ rồi.
2. Có lẽ sự nổi bật của tiểu đoạn nầy là câu nói: "Bởi vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra".
a. Trong Kinh Thánh, "lòng" là ngai của ý chí và sinh hoạt của tư tưởng. Tấm lòng tiêu biểu cho cá tánh bề trong của một người.
b. Chính do "sự đầy dẫy ở trong lòng" nên "miệng" mới “nói ra". Bất cứ điều chi lý trí quí vị định liệu, quí vị sẽ đặt thành lời bằng cái “miệng” của mình.
c. Êlihu, sau khi chờ một lúc lâu, ông đã nói với Gióp trong 32.18-20: "Vì tôi đã đầy dẫy lời nói, trí trong lòng tôi cảm giục tôi nói. Nầy, lòng tôi như rượu chưa khui, nó gần nứt ra như bầu rượu mới. Tôi sẽ nói và được nhẹ nhàng; Tôi sẽ mở môi miệng ra và đáp lời".
d. Châm ngôn 23.7 chép: "Vì hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy".
C. Chúng ta nói ra sự đầy dẫy của tấm lòng (câu 35).
1. Trong câu 35, Chúa Giêxu phán về "nơi chứa điều thiện" và "nơi chứa điều ác" của tấm “lòng".
2. "Nơi chứa” (Treasure) ra từ chữ Hy lạp thesauros, từ chữ nầy chúng ta có "thesaurus", nơi chứa lời nói. Ý nghĩa là nhà kho.
3. Tấm "lòng" là nơi chứa tư tưởng, những điều ham muốn, tình cảm và các thái độ. Người có “tấm lòng” đầy dẫy với ý tốt nói ra “những việc tốt". Người có “tấm lòng” đầy việc ác sẽ nói ra “điều ác”.
4. Trong Giacơ 3.11, ông hỏi: "Có lẽ nào một cái suối kia, đồng một mạch mà ra cả nước ngọt và nước đắng sao?"
III. Sự phán xét cái lưỡi (các câu 36-37).
A. Người ta sẽ bị phán xét bởi "từng lời hư không" (câu 36).
1. Vì lời nói của chúng ta đưa ra từng đánh giá chính xác của tấm lòng mình, chính vì lời nói của chúng ta mà chúng ta "sẽ khai ra" trong "ngày phán xét”.
2. Chúng ta không được cứu hay chịu phán xét bởi lời nói hay việc làm của chúng ta vì sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin nơi Đấng Christ mà thôi. Tuy nhiên, lời nói và việc làm của chúng ta là bằng chứng của đức tin chúng ta nơi Đấng Christ.
3. Trong "ngày phán xét", khi Đức Chúa Trời xem lại đời sống của những tín đồ thực, mối tương giao của họ với Ngài sẽ được minh chứng bằng lời nói và hành động của họ. Mặt khác, khi Ngài xem lại đời sống của những người không tin, vô luận là rất tôn giáo hay rất kỉnh kiền thể nào, lời nói và việc làm của họ sẽ minh chứng sự họ thiếu đi một mối tương giao với Đấng Christ.
4. Không những người ta sẽ “khai ra” vì "phạm thượng nghịch lại Đức Thánh Linh" , mà còn vì “mọi lời nói hư không” nữa.
5. "Hư không" ra từ chữ argos có nghĩa là "vô giá trị, trơ trẻn hay vô ích". Những lời nói "hư không" là bất kỳ lời nói nào là vô dụng, suồng sã, hay không thích nghi.
6. Không những phải khai ra loại câu nói rủa sả và cách nói năng tục tỉu, mà còn cả cách ăn nói giả hình của người thiên về tôn giáo nữa. Chúa phán trong Êsai 29.13: "Vì dân nầy chỉ lấy miệng tới gần ta, lấy môi miếng tôn ta, mà lòng chúng nó thì cách xa ta lắm".
7. Các tín đồ sẽ vẫn có nhiều nan đề với cách ăn nói hết lúc nầy sang lúc khác. Chúng ta nên dâng lên lời cầu nguyện của tác giả Thi thiên trong Thi thiên 141.3: "Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy giữ miệng tôi, và canh cửa môi tôi".
Một người chơi gôn gặp một ngày khủng khiếp hết chuyện nầy tới chuyện khác. Ở lổ sau cùng, ông ta đã nổi cáu, rủa sả và chửi thề, rồi dùng gậy đập xuống đất. Sau cùng, khi bình tỉnh lại, ông nhìn bạn cùng chơi với mình nói nhỏ: "Tôi đoán là tôi phải bỏ đi thôi?" Người kia hỏi: "Bỏ chơi golf sao?" "Không, không phải golf đâu" ông ta buồn buồn nói: "bỏ chức vụ của tôi kìa".
8. Hết thảy mọi lời nói của người không tin Chúa đều vô giá trị về mặt thuộc linh. Người ấy chẳng có điều chi “tốt” ở trong lòng mình vì Đấng Christ không ngự ở đó.
B. Chúng ta một là “được xưng công bình” hoặc là “chịu xét đoán” bởi lời nói của chúng ta (câu 37).
1. "Ngày phán xét" dành cho người vô tín được gọi là Toà Lớn và Trắng (đối chiếu Khải huyền 20.11). Ở đây mọi tội lỗi, lời nói và việc làm sẽ diễu hành trước mặt người và người sẽ chịu “phán xét” vì người đã chối bỏ sự Đấng Christ trả thay cho nợ tội của người trên thập tự giá.
2. "Ngày phán xét" dành cho người tin Chúa được gọi là Toà Án Đức Chúa Trời (đối chiếu Roma 14.10). Mặc dù không có một sự phán xét nào dành cho người tin Chúa, chúng ta nhận lãnh phần thưởng hay mất phần thưởng vì những việc đã làm lúc còn trong xác thịt. Hết thảy chúng ta sẽ mất phần thưởng dựa theo những lời nói "hư không" và những việc làm vô ý tứ.
Có người nói: "Cái muỗng luôn luôn rộng gấp bằng hai khi bạn lấy một liều thuốc cho mình". Trong ánh sáng sự dạy của Chúa Giêxu trong Mathiơ 12, chúng ta phải đóng ngoặc đơn lẽ thật đó: "Lời nói tỏ ra là nhỏ nhoi hư không và tầm phào ở đây sẽ hiện ra to lớn như dãy núi sai lầm khi chúng ta đối diện với chúng trong sự phán xét!" Không những mấy lời gian ác mà lưỡi thốt ra sẽ chổi dậy nghịch lại chúng ta trong ngày ấy, mà còn mọi lời nói hư không, dại dột mà chúng ta sẽ phải khai trình nữa!
PHẦN KẾT LUẬN:
1. Từng người phải xem xét bông trái của mình để thấy mình có ở trong đức tin hay không!?!
2. Những người tin Chúa phải cẩn thận về "mọi lời nói hư không" vì sự thiệt hại sẽ giáng trên cả ở đây và trong cõi đời đời nữa đấy.
***

Mathiơ 12.22-32: "Tội không đáng tha thứ"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Tội không đáng tha thứ
Mathiơ 12.22-32
1. Hết lúc nầy đến lúc khác, có người đến hỏi tôi: "Thưa Mục sư, ông có tin vào tội không đáng tha thứ không?" Những điều họ muốn nói là tôi có tin rằng có người phạm tội tồi tệ đến nỗi Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ tha thứ cho người ấy chăng? Liệu có người trở thành tay giết người, say xỉn, hư hỏng, lừa đảo, v.v... đến nỗi người ấy đã đi quá mức ân điển của Đức Chúa Trời không? Không, tôi không tin như thế đâu!
2. Đức Chúa Trời của chúng ta được đánh dấu bằng sự tha thứ.
A. Thi thiên 86.5 chép: "Chúa ôi! Chúa là thiện, sẵn tha thứ cho, ban sự nhơn từ dư dật cho những người kêu cầu cùng Chúa".
B. Thi thiên 103.3 cho biết: "Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, chữa lành mọi bịnh tật ngươi".
C. Đaniên 9.9 nhắc cho chúng ta nhớ: "Những sự thương xót và tha thứ đều thuộc về Chúa là Đức Chúa Trời chúng tôi; bởi chúng tôi đã bạn nghịch cùng Ngài".
D. Xuất Êdíptô ký 34.6-7 chép: "Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời".
3. Kinh Cựu Ước đầy dẫy với những điển hình về sự tha thứ của Đức Chúa Trời, nào là Ađam và Êva, Ápraham, Ysác, Giacốp, Môise. Di sản của nước Israel là di sản của tội lỗi và sự tha thứ.
4. Kinh Tân Ước có nhiều sự dạy về ơn tha thứ của Đức Chúa Trời.
A. Êphêsô 1.7 chép: "Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài".
B. 1 Giăng 1.9 chép: "Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác".
C. Tội lỗi tệ hại nhất mà chúng ta có thể hình dung được là tội giết chính Con một của Đức Chúa Trời đang khi Ngài ra sức tìm cứu chúng ta. Ấy là từ trên thập tự giá, Chúa Giêxu đã cầu nguyện: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài" (Luca 23.34).
5. Ở một chừng mực nào đó, thậm chí Đức Chúa Trời tha thứ cho tội chối bỏ Đấng Christ, vì trước khi chúng ta trở thành người tin Chúa, hết thảy chúng ta đều là hạng người chối bỏ Đấng Christ.
6. Mặc dù ít nhất là một năm trước khi Chúa Giêxu bị người ta đóng đinh trên thập tự giá, các cấp lãnh đạo tôn giáo đã xem Ngài là một mối đe doạ cho Do thái giáo và bắt đầu tỏ vẽ thù nghịch tấn công vào Ngài.
I. Một sự chữa lành đáng ngạc nhiên (các câu 22-23).
A. Chúa Giêxu chữa lành cho kẻ mắc nhiều chứng bịnh (câu 22).
1. Câu 15 cho chúng ta biết rằng "có nhiều người" đã đi theo Chúa Giêxu và "Ngài chữa lành cả". Có lẽ người nầy mới vừa đến. Ông ta không thể tự mình đi theo Chúa Giêxu nên có mấy kẻ "đem" ông ta đến với Ngài.
2. Ngày nay, người ta hiếm khi tìm gặp Chúa Giêxu bằng sức lực riêng của họ. Họ phải được "đem đến".
3. Người nầy có hai nan đề: về thuộc linh và về thuộc thể. Nói theo cách thuộc linh, ông ta đã bị "quỉ ám". Về mặt thuộc thể, ông ta bị "đui" và "câm" , và chắc chắn là điếc nữa, một khi điếc hay đi đôi với câm.
4. Chúa Giêxu đã thực thi quyền phép của Ngài trên cả hai lãnh vực và đã “chữa lành’ cho người đó. Ông ta là người đã bị “đui và câm” giờ đây đã "nói và thấy được".
B. Đoàn dân đông lấy làm lạ (câu 23).
1. Thật là lạ lùng và ngay lập tức, linh hồn đáng thương nầy đã được giải phóng cho. “Đoàn dân đông” nhận rõ sự chữa lành nầy.
2. "Lấy làm lạ" ra từ một từ ngữ Hy lạp không phổ thông lắm có nghĩa là "không giữ bình tỉnh được". Những định nghĩa khác bởi các nhà ngôn ngữ học, tỉ như: "hoàn toàn kinh ngạc", "trong lòng lấy làm lạ và kinh ngạc", "ý thức bị đánh gục", “vẽ kinh ngạc lộ ra nơi tâm trí".
3. Ở một chừng mực nào đó, chúng ta không thể thấy rõ hết, phép lạ đặc biệt nầy đã thắng hơn họ, đoàn dân đông. Phép lạ nầy được phân biệt hiển nhiên với nhiều phép lạ khác.
4. “Đoàn dân đông” trong chính ngày đó đã nhìn thấy Chúa Giêxu làm ra nhiều sự chữa lành. Không một ai phản kháng khả năng chữa lành của Ngài. Tuy nhiên, vì cớ phép lạ phi thường nầy, người ta đã lấy làm lạ khi hỏi: "Có phải người đó là con cháu vua Đa-vít chăng?"
5. "Con cháu David" là tước hiệu của Đấng Mêsi.
II. Một lời vu cáo lố bịch (các câu 24-30).
A. Người Pharisi chỉ ra nguồn quyền phép của Chúa Giêxu (câu 24).
1. Có lẽ chính thắc mắc về địa vị của Đấng Mêsi khiến cho người Pharisi góp ý cho chúng ta thấy một lời đề nghị lố bịch như thế. Rõ ràng đây là câu nói mà lẽ ra không nên nói ra.
2. Họ nói Chúa Giêxu "nhờ Bêên-Xêbun là chúa quỉ mà trừ quỉ đó thôi". Đây là câu nói tương phản với cách nói cho Ngài là “Con cháu David’. “Bêên-Xêbun” là danh xưng của một vị thần xứ Canaan mà dân xứ ấy gọi là “chúa quỉ".
3. Với sự thù ghét, họ đang ra sức đầu độc “đoàn dân đông” chống lại Chúa Giêxu.
B. Chúa Giêxu chỉ ra sự lố bịch trong lời vu cáo của họ (các câu 25-26).
1. Thứ nhứt, hãy chú ý rằng Chúa Giêxu "biết ý tưởng họ". Mặc dù họ cứ đẩy đưa lời nói vu lố bịch nầy qua đám dân đông, Chúa Giêxu vốn biết rõ họ đang suy nghĩ và đang nói gì. Vì vậy Ngài đã giảng cho họ nghe.
2. Ngài phán rằng bất kỳ "nước" nào "tự nó chia xé nhau" sẽ dẫn tới chỗ "bị phá hoang" và bất kỳ "một thành hay một nhà mà chia xé nhau thì không còn được". Sự tranh chấp nội bộ dẫn tới sự hủy diệt. Abraham Lincoln đã trưng dẫn câu nói nầy để chỉ ra thảm họa của cuộc Nội Chiến.
3. Mặc dù Satan là cha của kẻ nói dối, chắc chắn hắn sẽ không để cho các thế lực của hắn đánh đấm lẫn nhau hoặc hắn sẽ hủy diệt chương trình của hắn.
4. Hiểu như thế nầy thì rất là hợp lý: "nếu Satan đánh đuổi Satan, hắn sẽ tự chia xé mình" và "nước" của hắn sẽ không sao “còn” được.
C. Chúa Giêxu chỉ ra lời vu cáo của họ là quá thành kiến (câu 27).
1. Chúa Giêxu phán rằng nếu họ nói Ngài đã đuổi quỉ bằng quyền phép của Satan là đúng, thế thì bởi đâu “các con” của họ trừ quỉ cho được?
2. "Các con" có ý ám chỉ đến các môn đồ hay những kẻ theo họ. Chắc chắn có những người Do thái đã luyện tập phù phép. Josephus nói cho chúng ta biết là họ thường sử dụng bùa ngải phù chú cùng các nghi thức thờ lạy hình tượng để đuổi quỉ.
3. Hãy mở ra Công Vụ các Sứ Đồ 19.13-14 để thấy rõ bằng chứng về cách thực hành nầy.
4. Chúa Giêxu chỉ ra là họ đã chấp nhận các thứ phù chú mà “các con” của họ đã ra sức thực thi như một phần đức tin của họ, nhưng đã từ chối không chấp nhận quyền phép trọn vẹn của Ngài thắng hơn các thế lực của ma quỉ và khả năng của Ngài chữa lành mọi thứ tật bịnh, họ tố cáo Ngài đang làm việc cho Satan!
5. Khi một lý trí có thành kiến, nó không nhìn thấy một điều chi tốt đẹp hết. Một số tín đồ có thành kiến với nhà thờ hay hệ phái khác đến nỗi mọi lập luận của họ không cho phép họ nhìn thấy một việc làm nào tốt đẹp đã được làm ra.
D. Chúa Giêxu chỉ ra lời vu cáo của họ là loạn nghịch (các câu 28-30).
1. Vì rất là lố bịch khi cho rằng quyền phép của của Chúa Giêxu đã ra từ Satan, Ngài nói cho họ biết chỉ có một nguồn khả thi duy nhất mà thôi: "Thánh Linh của Đức Chúa Trời".
2. Nếu Chúa Giêxu đã “cậy Thánh Linh Đức Chúa Trời” mà làm công việc của Ngài thì công việc của Ngài chính là công việc của Đức Chúa Trời và Ngài chính là “con cháu David", là Đấng Mêsi. Nếu Ngài thực sự là “Con cháu David” thì “Nước Đức Chúa Trời " đã đến với họ rồi.
3. Lý do chính mà họ đã đưa ra một sự giải thích lố bịch như thế là vì họ đã ở trong sự loạn nghịch với Đức Chúa Trời. Các Hội thánh, những vị Mục sư, và các giáo sĩ ngày nay chắc chắn không phải là không phạm sai lầm; tuy nhiên, hầu hết những kẻ chỉ trích họ vì những kẻ ấy, bản thân họ đang ở trong sự loạn nghịch với Đức Chúa Trời rồi.
4. Chúa Giêxu đưa ra một câu hỏi có tính cách thăm dò trong câu 29. Để cướp của từ "một người mạnh sức", trước tiên người ta phải "trói người mạnh sức" lại, Satan là kẻ "mạnh sức". Để cho một người “cướp” lấy nước của Satan, người ấy cần phải mạnh sức hơn, để "trói" hắn lại.
5. Rất nhiều lần, Chúa Giêxu đã trói Satan và đã cướp lấy nhà của hắn. Ngài đã giải cứu kẻ bị quỉ ám, đã chữa lành cho người què, kẻ bị mù, người câm điếc và tật bịnh. Thậm chí Ngài còn làm cho kẻ chết sống lại nữa! Chúa Giêxu đã bước đi trên mọi lãnh vực của Satan và hắn đã vô quyền không cản chi được Ngài! Tuy nhiên, với sự loạn nghịch có trong tấm lòng của họ, người Pharisi đã từ chối không chịu tin.
6. Chúa Giêxu phán: "Ai không ở với ta, thì nghịch cùng ta". Chúng ta không công khai chống đối Chúa Giêxu để bị xem là “nghịch” Ngài, chúng ta chỉ “không” ở “với” Ngài mà thôi. Nếu quí vị không ở “với” Chúa Giêxu, quí vị đang “nghịch” lại với Chúa Giêxu.
7. Chúa Giêxu cũng phán: "Ai không thâu hiệp với ta, thì tan ra". Người nào không thâu hiệp” với Ngài, cho dù họ không chống đối Ngài, vẫn "tan ra" nghịch lại Ngài.
8. Chúng ta không thể nói rằng Chúa Giêxu chỉ là một người lành, một giáo sư hay một vị lãnh đạo thuộc linh lỗi lạc. Một là Ngài làm Vua và làm Chúa của đời sống chúng ta hoặc không phải thế. Không có vùng đất trung lập nào hết. Một là chúng ta làm việc “với” Ngài hoặc “nghịch” lại Ngài. Thật là tệ hại khi vẫn có một số người “nghịch” Ngài trong danh nghĩa của tôn giáo.
III. Một tội không thể tha thứ (các câu 31-32).
A. Chúa Giêxu tha thứ từng tội lỗi và sự phạm thượng, trừ ra một tội (câu 31a).
1. Nhờ ân điển và sự thương xót của Ngài, Chúa Giêxu tha thứ mọi hình thái của “tội lỗi”. Thiên đàng có những kẻ giết người, những kẻ hư hỏng đồi trụy đã được chuộc và đã được tha thứ, họ được định cư ở đó. Nếu Đức Chúa Trời không tha thứ cho họ, Ngài không thể tha thứ cho chúng ta.
2. "Phạm thượng" là một loại “tội lỗi”, nhưng cả hai được phân ra riêng biệt trong phân đoạn nầy. Có người định nghĩa "phạm thượng" theo cách nầy "bất kính cố ý, tội cố ý ghê khiếp và công khai nói xấu nghịch lại Đức Chúa Trời thánh khiết hay chế giễu nhạo báng Ngài". Những kẻ phạm thượng đã bị ném đá trong thời kỳ Cựu Ước (Lêvi ký 24.16).
3. Chúa Giêxu phán rằng ngay cả "phạm thượng" cũng sẽ được “tha” khi tội nhân xưng tội và ăn năn.
a. Hãy lắng nghe lời lẽ của sứ đồ Phaolô trong I Timôthê 1.13-14: "ta ngày trước vốn là người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo, nhưng ta đã đội ơn thương xót, vì ta đã làm những sự đó đương lúc ta ngu muội chưa tin. Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta, với đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ”.
b. Khi Phierơ chối Chúa Giêxu, ông đã rủa sả và đã thề thốt, đã phạm thượng với Chúa. Tuy nhiên, Phierơ đã tìm gặp ơn tha thứ và được phục hồi.
B. Phạm thượng nghịch lại Đức Thánh Linh thì không thể tha thứ được (các câu 31b-32).
1. Hỏi: “Lời phạm thượng đến Đức Thánh Linh” là lời gì?" Đáp: "Phạm thượng đến Đức Thánh Linh" là lời từ chối được lặp đi lặp lại, sau khi xem xét mọi chứng cớ, cố ý bất chấp không tiếp nhận Đấng Christ làm Chúa. Người Pharisi đã phạm phải tội không đáng được tha thứ nầy.
2. Chúa Giêxu phán rằng cho dù có ai "nói phạm đến Con Người, thì sẽ được tha". Nếu do sự thiếu hiểu biết, không hiểu Ngài là ai, ai đó chối bỏ Chúa Giêxu hoặc sử dụng danh thánh của Ngài như một sự rủa sả, người ấy vẫn có thể được “tha”. Người ấy đã nói năng hoặc hành động mà không có sự hiểu biết.
3. Tuy nhiên, người nào "nói phạm đến Đức Thánh Linh" sẽ không bao giờ được tha thứ. Tại sao? Đâu là sự khác biệt?
a. Đức Thánh Linh mong muốn nhiều người được cứu. Ngài thuyết phục chúng ta, kêu gọi và buộc chúng ta phải đến với Đấng Christ.
b. Khi có người nào, sau khi nghe và hiểu biết Tin lành, đã cố tình quay mặt đi, người ấy đã phạm thượng đến Đức Thánh Linh và bị hư mất cho đến đời đời.
4. Một người thể ấy còn có thể được cứu không? Chúa Giêxu phán người thể ấy “thì dầu đời nầy hay đời sau cũng sẽ chẳng được tha".
5. “Làm sao một người biết mình ‘đã phạm thượng đến Đức Thánh Linh?’" Nếu một người vẫn còn tìm kiếm, vẫn còn rộng mở, vẫn có lòng tin... người ấy không chối bỏ Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, người ấy chịu phục quay trở lại trước khi đi quá xa.
***