Hiển thị các bài đăng có nhãn Kings. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kings. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2010

Mathiơ 28.16-20: "Một dân hàng đầu"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Một dân hàng đầu
Mathiơ 28.16-20
Khi bình luận phân đoạn Kinh Thánh nầy, John MacArthur đã viết: "Nếu một Cơ đốc nhân hiểu hết phần còn lại của sách Tin lành Mathiơ nhưng lại không hiểu phân đoạn kết thúc nầy, người ấy đã bỏ sót mục tiêu của toàn bộ quyển sách. Phân đoạn nầy là đỉnh cao và là mục tiêu chính không những của sách Tin lành nầy mà là của cả Tân ước nữa. Nói như thế chẳng phải là cường điệu lắm đâu, bằng một nhận định rộng rãi nhất, đây là tiêu điểm của cả Kinh Thánh, Cựu cũng như Tân ước".
Thường được xem là đề cập tới Sứ Mệnh Cao Cả, phân đoạn nầy là một phân đoạn được biết nhiều nhất trong cả Kinh Thánh. Tôi đã nghe phân đoạn nầy được giảng dạy suốt cả cuộc đời tôi. Những tín đồ Báp-tít đặc biệt vốn ưa thích trưng dẫn mấy câu nầy, nhất là trong phạm trù truyền giáo trên toàn cầu. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không phó thác công việc lớn lao của Ngài cho các giáo sĩ và mục sư. Ngài đã giao công việc ấy cho hết thảy các tín hữu được chọn lọc và cho mỗi cá nhân. Buồn thay, có nhiều Cơ đốc nhân không áp dụng sứ mệnh nầy theo cách riêng. Họ đi theo Đấng Christ chỉ xa xa khi Ngài làm thoả mãn mọi nhu cần thuộc thể của họ mà thôi. Họ phục vụ trong Hội Thánh bao lâu tuỳ theo các lợi ích của họ.
Chúng ta hãy làm một cuộc trưng cầu dân ý. Hãy viết ra đáp ứng của quí vị trước câu hỏi nầy. Mục tiêu của Hội Thánh là gì? Có nhiều câu trả lời khả thi, thờ phượng, dạy Kinh Thánh, thông công, phục vụ, v.v…Tuy nhiên, nếu Chúa chỉ muốn sự thờ lạy từ phía chúng ta, tại sao Ngài không đem chúng ta về trời, là nơi mà sự thờ lạy rất trọn vẹn? Cũng một thể ấy khi nói tới sự dạy Kinh Thánh, thông công và phục vụ. Lý do duy nhứt Đức Chúa Trời đã để chúng ta lại đây trên đất, ấy là chúng ta phải làm vinh hiển cho Ngài khi dự phần vào mục tiêu cứu chuộc hạng tội nhân hư mất về cho chính mình Ngài.
Chúa Jêsus đã phán trong Luca 19.10: "Bởi Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất". Trong Giăng 17.18, Ngài cầu nguyện: "Như Cha đã sai Con trong thế gian, thì Con cũng sai họ trong thế gian". Nói cách khác, ưu tiên một trong vai trò dân sự của Đức Chúa Trời nơi chúng ta phải là ưu tiên một mà Chúa Jêsus đã có trong suốt chức vụ của Ngài. Ngài phán trong Giăng 20.21: "Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy".
Thật là dễ dàng cho chúng ta bị sai lạc trong sự bận rộn của Hội Thánh đến nỗi chúng ta lạc mất mục tiêu cho những điều cần phải ưu tiên. Giống như Mathê trong căn bếp của nàng ấy, chúng ta có thể rơi vào chỗ bận rộn trong sự phục vụ Chúa đến nỗi chúng ta bị cuốn ra khỏi những gì cần phải ưu tiên trước hết. Trong phân đoạn kết thúc nầy, tôi muốn xem xét 5 chìa khoá cho việc duy trì công cuộc truyền giáo, vì là một dân hàng đầu.
I. Chúng ta phải trở thành một dân sẵn lòng (câu 16).
A. Các môn đồ đi đến nơi Chúa đã bảo họ.
Mathiơ nói rằng "mười một môn đồ" đi qua xứ "Ga-li-lê, lên hòn núi mà Đức Chúa Jêsus đã chỉ cho".
Trước và sau sự sống lại, Chúa Jêsus đã hoạch định một cuộc gặp gỡ với các môn đồ Ngài tại xứ Galilê. Ngài phán trong Mathiơ 26.32: "Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi". Ngài đã phán với mấy người đàn bà tại ngôi mộ rằng Ngài sẽ "đi trước các ngươi qua xứ Galilê" (28.7). Thêm nữa, Ngài phán: "Đừng sợ chi cả; hãy đi bảo cho anh em ta đi qua xứ Ga-li-lê, ở đó sẽ thấy ta" (câu 10). Kinh Thánh không nói khi nào hay ở đâu theo cách đặc biệt họ phải nhóm lại, nhưng Chúa Jêsus đã "chỉ cho" hay đã ấn định một thời điểm đặc biệt trên "núi".
Chúng ta biết Chúa Jêsus đã hiện ra cùng các môn đồ Ngài mấy lần trải qua một thời gian 40 ngày. Công vụ Các Sứ Đồ 1.3 chép Ngài: "lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Đức Chúa Trời". Giăng 20.26 cho chúng ta biết rằng lần hiện ra sau cùng của Ngài tại thành Jerusalem là tám ngày sau sự sống lại. Chuyến đi đến Galilê ít nhất phải diễn ra cả tuần lễ. Ở đó Ngài gặp gỡ mười một môn đồ lúc họ đánh cá bên bờ hồ (Giăng 21). Lần hiện ra đặc biệt nầy trên núi đã diễn ra trong phần sau rốt của 40 ngày.
Mathiơ chỉ nhắc tới "mười một" người đang hiện diện, nhưng ông không nói họ ở riêng một mình đâu. Chúa Jêsus bảo cho mấy người đàn bà biết Ngài sẽ "đi trước các ngươi" dường như gồm có cả họ nữa. Về mặt lịch sử, hầu hết các học giả Kinh Thánh đều dạy rằng nơi gặp gỡ trên đỉnh núi nầy chính là thời điểm mà Phaolô nhắc tới trong I Côrinhtô 15.6, ở đó "cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy".
Khi các môn đồ đến tại xứ Galilê rồi, dường như rõ ràng là họ chẳng có ý niệm gì về điều chi sẽ xảy ra. Họ không biết mình cần phải trông mong điều gì. Họ chỉ bằng lòng nhận lấy Chúa Jêsus theo Lời của Ngài và vâng phục tuân giữ sự kết ước của họ với Ngài. Tôi nghĩ họ đã đến với nhận thức sẵn lòng và bằng lòng giống như nhận thức mà Êsai đã nói: "Có tôi đây! Xin hãy sai tôi" (Êsai 6.8).
B. Tài sản lớn lao nhất chúng ta có đối với Đấng Christ là sự bằng lòng.
Bằng lòng là chìa khoá cho tính hiệu quả. Bất luận một người có năng khiếu hay tài năng như thế nào đi nữa thì chẳng thành vấn đề nếu người ấy không bằng lòng. Tôi biết có nhiều Cơ đốc nhân được ơn và có tài, họ đã vô dụng đối với Đức Chúa Trời chỉ vì họ không tự làm cho mình ra hữu dụng cho Ngài.
Các môn đồ vốn chẳng biết Chúa Jêsus mong muốn gì nơi họ, nhưng họ rất sẵn lòng để được sử dụng, để gặp gỡ Ngài theo ý muốn của Ngài.
Quí vị có để ý thấy rằng Đức Chúa Trời, mặc dù Ngài biết rõ tương lai một cách trọn vẹn, Ngài ít tỏ ra tương lai ấy cho chúng ta biết trước thời điểm, có phải không? Ngày cả lời tiên tri trong Kinh Thánh thường nặng nề với nhiều hình bóng, kiểu cách kín nhiệm. Đức Chúa Cha biết rõ chúng ta cần phải kinh nghiệm tương lai trước một ngày là điều tốt nhứt.
Khi tôi bắt đầu bước đi với Đấng Christ ở tuổi 14, tôi chẳng có ý niệm gì mình sẽ trở thành Mục sư như ngày nay. Khi Deb và tôi lấy nhau, chúng tôi chẳng có ý niệm gì về việc chúng tôi sẽ hầu việc Chúa và dấy lên gia đình của chúng tôi tại Amarillo. Ngay bây giờ, tôi chẳng có ý niệm về Đức Chúa Trời sẽ làm gì trong phần còn lại của đời sống và chức vụ của tôi.
Đức Chúa Trời chưa để lộ ra toàn bộ chương trình cho chúng ta biết. Ngài chỉ kêu gọi chúng ta phải bằng lòng, phải sẳn sàng, phải linh động và dễ nắn đúc. Đấy là thái độ của các môn đồ và trong vòng một vài năm họ "đã gây cho thiên hạ nên loạn lạc" (Công vụ Các Sứ Đồ 17.6).
Ân tứ quan trọng nhất chúng ta có thể dâng cho Đức Chúa Trời là sự bằng lòng của chúng ta. Chẳng có một giới hạn nào cho mọi điều Đức Chúa Trời sẽ làm qua một Hội Thánh biết sẵn lòng.
II. Chúng ta phải trở thành một dân có tấm lòng biết tôn thờ (câu 17).
A. Các môn đồ phủ phục xuống trước Đấng Christ trong sự thờ phượng.
Hãy hình dung ra bối cảnh nầy. Đạo đã được rao giảng ra, hết thảy những ai đi theo Chúa Jêsus, không những 11 môn đồ còn lại, mà nhiều, thêm nhiều môn đồ của Ngài đã đi lên xứ Galilê chiếu theo lời hứa cho biết Chúa Jêsus sẽ hiện ra với hết thảy họ. Tôi tưởng tượng Ba-ti-mê đang đi cùng với La-xa-rơ, Mathê và Mary. Có thể người đờn bà bị bịnh mất huyết, cùng với bà goá phụ ở Nain cũng đến hiệp với họ. Có lẽ Giairu đã có mặt ở đó với con gái của ông ta. Xa-chê chắc chắn đã đến nơi rồi. Cho nên có nhiều, nhiều khoảng 500 người, đã có mặt ở đó chờ đợi Chúa Jêsus xuất hiện.
"Khi môn đồ thấy Ngài" thì họ "thờ lạy Ngài". Họ đã úp mặt xuống đất trước mặt Ngài với sự tôn kính thật trọn vẹn. Hãy tưởng tượng cả đám đông đang quì gối ở trước mặt Ngài. Chúng ta không biết họ đã nói gì nhưng tình cảm của họ rất giống với tình cảm của Thôma khi sau cùng ông trông thấy Chúa phục sinh. Ông nói: "Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!" (Giăng 20.28).
Vì lâu nay, nhiều người trong số họ đã phát triển một ý thức về sự thân quen với Chúa Jêsus. Họ vốn biết rõ giọng nói và nụ cười của Ngài. Ngài là Con của Đức Chúa Trời, phải, nhưng cũng là một trong số họ. Giờ đây tính cách thân quen đó đã được thay thế bằng một ý thức kính sợ! Một ít buổi thờ phượng ở trên đất có thể đem sánh với cái ngày đó!
Thật nghiêm túc, Mathiơ thêm: "nhưng có vài người nghi ngờ". Đúng là một bằng chứng cho tính cách đáng tin của các sách Tin lành! Nếu họ đang ra sức che đậy một lời nói dối, tại sao Mathiơ lại quá thành thực như thế chứ!?! Chúng ta biết Mathiơ không cố ý nói tới "mười một" người vì họ hết thảy đều đã trông thấy Chúa phục sinh. Có lẽ điều nầy đề cập tới một số người đứng ở phía sau đám đông, họ chưa nhìn thấy Ngài và đang lấy làm lạ không biết đây có phải là một vụ chơi khăm hay không!?! Tuy nhiên, giống như Thôma, họ cũng đã xác nhận rằng Ngài thực sự đã sống lại.
Nói chung, hàng trăm người đã quì gối xuống và Đấng Christ là toàn bộ tiêu điểm của họ.
B. Thờ phượng tự bản thân nó không phải là cứu cánh.
Có nhiều Cơ đốc nhân hành động y như buổi thờ phượng mọi điều mà Đấng Christ kêu gọi chúng ta phải lo làm. Nếu đây là trường hợp, hết thảy chúng ta sẽ được ở trong thiên đàng, ở đó chúng ta sẽ thờ lạy một cách xứng hiệp. Tuy nhiên, thờ phượng có ý nói chúng ta nên học biết yêu mến Đấng Christ. Thờ phượng đối với chúng ta là phải ném bỏ hết mọi sự thân quen rồi phủ phục xuống kính sợ nơi bệ chơn của Ngài.
Đừng nói với tôi về chất lượng của âm nhạc hay tài hùng biện của nhà truyền đạo. Nếu quí vị muốn xem xét sự thờ phượng của một Hội Thánh, nếu quí vị muốn biết một hội chúng có yêu mến Chúa Jêsus hay không, hãy nhìn xem họ yêu mến hạng người bị hư mất như thế nào!?! Hãy quan sát xem họ có chú tâm chia sẻ Tin lành hay không!?!
Nếu chúng ta yêu mến Chúa Jêsus, chúng ta sẽ yêu mến tha nhân. Homer Lindsey từng nói: "Thưa Mục sư, nếu ông muốn Hội Thánh ông phát triển, hãy dạy dân sự ông biết yêu mến Chúa Jêsus. Nếu họ yêu mến Chúa Jêsus, họ sẽ yêu mến tha nhân mà Chúa Jêsus yêu thương và họ sẽ đem Tin lành đến cho tha nhân".
III. Chúng ta phải trở thành một dân biết đầu phục (câu 18).
A. Chúa Jêsus công bố thẩm quyền của Ngài.
Sự sống lại của Chúa Jêsus chứng minh thẩm quyền tuyệt đối, vô hạn, tối cao của Ngài. Ngài phán: "Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta". Ngài là Vua các vua, mọi đầu gối sẽ quì xuống trước mặt Ngài! Ngài phán trong Giăng 3.35: "Cha yêu Con, và đã giao hết mọi vật trong tay Con".
Đaniên đã nói tiên tri về thẩm quyền của Ngài. Ông đã nhìn thấy: "có một người giống như con người đến với những đám mây trên trời; người tới đến Đấng Thượng Cổ và bị dẫn đến trước mặt Ngài. Người được ban cho quyền thế, vinh hiển, và nước; hầu cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng đều hầu việc người. Quyền thế người là quyền thế đời đời chẳng qua đi, và nước người không bao giờ phải hủy phá…" (Đaniên 7.13-14).
B. Chúng ta cần phải sống trong sự đầu phục quyền Chủ Tể của Ngài.
Nếu chúng ta cần phải trở thành một dân hàng đầu, nếu chúng ta cần phải sống theo ý chỉ của Đức Chúa Trời, chúng ta phải phục theo uy quyền của Ngài. Chúng ta không thể nói: "Tôi biết Kinh Thánh nói gì, nhưng…". Chúng ta không thể làm mọi việc theo đường lối riêng của mình. Chúng ta không thể làm điều chi là đúng theo con mắt của chính mình. Chúng ta phải phục theo uy quyền của Ngài như đã được tỏ ra trong Lời của Ngài.
IV. Chúng ta phải trở thành một dân thận trọng (các câu 19-20a).
Hãy chú ý từ: "Vậy". Chúng ta cần phải "đi dạy dỗ muôn dân” vì “quyền phép” vô hạn của Chúa Jêsus.
Đức Chúa Trời không đặt chúng ta ở đây để nghe âm nhạc hay nhất, sự rao giảng thuyết phục nhất và các chương trình đầy sáng tạo nhất. Hết thảy những việc ấy đều tốt đẹp nhưng chúng là cánh cửa sổ thực sự chỉ thẳng vào điều ưu tiên một. Trừ phi chúng ta đi ra thận trọng dưới "quyền phép" của Chúa Jêsus với điều ưu tiên một tối thượng nhắm vào việc giảng đạo và môn đồ hoá kẻ bị hư mất, chúng ta đã bỏ sót toàn bộ mục tiêu.
A. Chúng ta phải thận trọng môn đồ hoá.
"Môn đồ hoá" thực ra có nghĩa là phát triển thêm nhiều người học việc. Một môn đồ là một kẻ học việc. Một môn đồ là người ngồi nơi chơn của thầy mình nhai nuốt lấy từng lời một. Một môn đồ là người ao ước biến đời sống mình ra giống với đời sống của thầy mình. Vì vậy, "môn đồ hoá" có nghĩa là giúp những kẻ chưa tin Chúa trở thành hạng môn đồ tin kính trọn vẹn của Đức Chúa Jêsus Christ.
Mặc dù điều nầy bao gồm công cuộc truyền giáo, nó còn hơn cả công cuộc truyền giáo nữa. Một số Hội Thánh nhấn mạnh cá nhân chứng đạo, đem linh hồn về với Chúa, thăm viếng từng nhà một, những cơn phấn hưng và công cuộc thập tự chinh cho tới chừng mỗi người đều xưng nhận Đấng Christ, họ tiến tới chỗ trở thành một con người mới.
Mặt khác, có những Hội Thánh dạy, dạy, dạy. Họ cung ứng từng cơ hội cho một người tin Chúa chơn thật kiếm được một nhận thức đầy đủ về lẽ đạo trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, họ hiếm khi dẫn dắt người chưa tin Chúa đến với Đấng Christ. Họ cần phải “chú ý” rằng họ hiếm khi làm chứng cho ai khác lắm.
Ưu tiên một của chúng ta trong vai trò dân sự của Đấng Christ là phải hữu dụng cho Đức Chúa Trời trong công tác môn đồ hoá “muôn dân”. Chúng ta cần phải trở thành "những tay đánh lưới người" (Mathiơ 4.19). Người nào thực sự là môn đồ phải trở thành hạng người chuyên thực thi công tác môn đồ hoá đó.
Những điều ưu tiên một của chúng ta có tính chọn lọc không? Những điều ưu tiên một của chúng ta có tính riêng tư không? Có phải chúng ta thực sự hiểu rõ và có phải chúng ta thực sự thể hiện điều ưu tiên cao nhất trong việc đem lại cho Đức Chúa Trời sự vinh hiển trong công tác chia sẻ sự sáng của Ngài cho thế gian?
Chúng ta cần phải "đi" ra để "môn đồ hoá" muôn dân. Chúng ta không phải chờ đợi hạng môn đồ có khả năng đến tại đây. Chức năng của Hội Thánh không phải được ấn định làm công việc lôi cuốn những kẻ tìm kiếm chưa được cứu, mà Hội Thánh có chức năng trang bị cho những người làm công tác môn đồ hoá đi ra với “muôn dân”.
Đến với Hội Thánh không phải là một việc giống như đi ra với thế gian đâu. Hội Thánh không phải là địa điểm chính cho việc chứng đạo. Công tác chứng đạo cần phải diễn ra tại gia đình, nơi sở làm, vùng lân cận, trường học… Cho tới khi nào chúng ta hiểu rõ điều nầy, chúng ta đã bỏ sót mục tiêu của Tin lành.
B. Chúng ta phải thận trọng làm phép báptêm.
Phép báptêm tất nhiên có nghĩa là "nhúng hay dìm xuống nước". Phép báptêm minh hoạ cho sự chết, sự chôn và sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ. Phép ấy làm biểu tượng cho sự chúng ta hội hiệp với Ngài và với dân sự của Ngài.
Phép báptêm không có quyền giải cứu, mà chỉ là một hình ảnh có tính biểu tượng thôi. Phép báptêm không cứu được ai hay thậm chí đóng ấn sự cứu rỗi của người ấy (nam hay nữ). Trở thành một môn đồ có nghĩa là chúng ta bằng lòng bước theo Chúa Jêsus. Chỗ đầu tiên Ngài hướng dẫn chúng ta là qua làn nước đồng hoá công khai với Ngài.
Chúng ta làm phép báptêm trong "danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh". Chẳng có một quyền phép thiêng liêng nào trong lời lẽ nầy, mặc dù Hội Thánh đã sử dụng chúng trong 2.000 năm qua. Sách Công vụ Các Sứ Đồ không chứa một tham khảo nào đến câu nói nầy đã được sử dụng khi làm phép báptêm. Chúng không phải là một nghi thức hay công thức, mà là một câu nói đặc biệt nói tới sự hội hiệp của chúng ta với Ba Ngôi Đức Chúa Trời.
Vì chúng ta đã được cứu, chúng ta đang ở trong sự hội hiệp với Ba Ngôi Đức Chúa Trời giống như mỗi Ngôi trong Ba Ngôi ấy đang ở trong sự hiệp một vậy. Chúng ta cần phải chịu phép báptêm trong "danh", nghĩa là, một tên, chớ không phải ba tên.
C. Chúng ta phải thận trọng dạy dỗ.
Một người từng được cứu và đã chịu phép báptêm, quá trình cả đời trong việc dạy và học đang bắt đầu. Chúng ta cần phải dạy "hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi". Như Phaolô nói với các trưởng lão thành Êphêsô trong Công vụ Các Sứ Đồ 20.27: "Vì tôi không trễ nải một chút nào để tỏ ra cho biết hết thảy ý muốn của Đức Chúa Trời". Chúng ta cần phải dạy hết thảy ý muốn ấy. Chúng ta cần phải phấn đấu và vật lộn với Lời của Đức Chúa Trời và thể hiện suy tưởng cùng hành động của chúng ta song hành với Lời ấy.
V. Chúng ta phải trở thành một dân đáng tin cậy (câu 20b).
Chúa Jêsus đã hứa ở cùng dân sự Ngài "luôn cho đến tận thế". Chúng ta không cần phải nương vào kế hoạch đầy sáng tạo, khéo léo, có chiến lược của mình, mà phải nương vào quyền phép ở bên trong của Ngài nơi đời sống của chúng ta.
***

Mathiơ 28.11-15: "“Suỵt, đừng nói tới chuyện sống lại”"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
“Suỵt, đừng nói tới chuyện sống lại”
Mathiơ 28.11-15
Ai thực sự bắn Tổng Thống John F. Kennedy? Phải chăng Oswald hành động có một mình? Thực sự có ai đó trên ngọn đồi cỏ kia không? Điều chi thực sự tiếp diễn tại khu vực 51? Đâu là sự thực về cái chết của Vince Foster? Mối liên kết giữa chế độ của Clinton và Trung quốc là gì? Những học thuyết về che giấu đang bao trùm lấy xã hội của chúng ta. Mới đây, tôi thực hiện một cuộc tra cứu trên Internet về "học thuyết che giấu và tìm thấy hàng tá trường hợp được bày ra cho việc thăm dò vô số học thuyết nằm ở đàng sau các thắc mắc nầy và nhiều nữa”.
Đối với nhiều người, sự sống lại của Đấng Christ chỉ là một học thuyết che giấu rất xa xưa. Ở bề mặt chứng cớ khó có thể vượt qua được, họ tuyệt đối từ chối không chịu tin rằng sự thực của Tin lành, ấy là Chúa Jêsus chịu chết, bị chôn, và đã sống lại ra khỏi mồ mả. Để ủng hộ cho sự chối bỏ Đấng Christ đã sống lại với nhiều bằng chứng như thế, người ta đã nghĩ ra một số học thuyết để lý giải khác đi về sự sống lại.
Quí vị có bao giờ tranh luận về sự sống lại với một người chưa tin Chúa chưa? Quí vị có thể trình ra bằng chứng về việc Đấng Christ thắng hơn sự chết không? I Phierơ 3.15 chép: "nhưng hãy tôn Đấng Christ, là Chúa, làm thánh trong lòng mình. Hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em, song phải hiền hòa và kính sợ".
Hôm nay, chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách nhìn vào một số học thuyết đang cố gắng bài bác sự sống lại. Kế đó chúng ta tra xét từ phân đoạn Kinh Thánh gốc một sự che đậy có mưu tính, một lời nói dối đã được dự trù để bài bác sự sống lại, nhưng thực tế lại trở thành chứng cớ cho sự sống lại đó.
I. Các học thuyết có mưu tính đang cố gắng bài bác sự sống lại.
A. Học thuyết về ngôi mộ khác.
Trải qua nhiều thế kỹ, một số những nhà phê bình đã đề ra ý tưởng cho rằng mấy người đàn bà đã đến thăm mộ của Đấng Christ vào buổi sáng phục sinh đầu tiên đó đã nhầm lẫn và đã bước vào ngôi mộ khác. Ý tưởng nầy cho rằng họ đã bước vào một ngôi mộ mới khác chưa có ai được chôn ở đó, và họ tưởng Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết. Phần còn lại của các chi tiết có trong các câu 1-10 được xem là cánh cửa sổ trình bày câu chuyện và làm cho câu chuyện ra dễ tin hơn.
Chúng ta chỉ ra vài vấn đề rất rõ ràng với học thuyết nầy. Thứ nhứt, mấy người đàn bà vốn biết rõ ngôi mộ thật nằm ở chỗ nào rồi. Họ đã ở lại với Chúa Jêsus và đã quan sát Ngài đã gục chết trên thập tự giá (27.55-56). Sau đó, ít nhất một số người trong họ đã đi theo Giô-sép người Arimathê và Ni-cô-đem ra đến mộ. 27.61 cho biết họ đã "ngồi đối ngang [ở trước mặt] huyệt". Có lẽ họ đã trợ giúp trong việc sửa soạn cho thi thể nữa. Họ đã trở lại "sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng". Họ vốn biết chắc về địa điểm của ngôi mộ đến nỗi họ đã đến trong ánh sáng mờ mờ của buổi sáng sớm (28.1).
Thứ hai, nếu mấy người đàn bà đã đưa ra những lời xưng nhận như thế sau khi thăm qua ngôi mộ khác, các cấp lãnh đạo người Do thái sẽ dễ dàng chấm dứt câu chuyện bằng cách chỉ ra rằng ngôi mộ đúng vẫn còn mang lấy dấu ấn La mã và vẫn còn được mấy tên lính La mã canh gát, vẫn còn chứa thi hài của Chúa Jêsus ở bên trong. Tuy nhiên, họ bị buộc phải chứng kiến im lặng với các của hối lộ.
Thứ ba, nếu đây là trường hợp ngôi mộ khác, tại sao Giô-sép và Ni-cô-đem không chỉ ra ngôi mộ thật? Sao các môn đồ không suy nghĩ sâu xa hơn? Làm sao họ có thể dâng đời sống của họ để rao truyền một niềm tin như thế và chịu chết cho niềm tin đó nếu họ không dám chắc đấy là ngôi mộ thực?
B. Học thuyết Đấng Mêsi bị ngất đi.
Tôi đã nhắc tới vấn đề nầy trước đây rồi, nhưng có một số người tin rằng Chúa Jêsus không thực sự chết trên thập tự giá, mà chỉ ngất đi, do bị sốc, mất máu, và kiệt sức. Học thuyết nầy cho rằng không cứ cách nào đó Ngài đã hồi tỉnh lại trong không khí lạnh lẽo của ngôi mộ, đã thoát ra khỏi ngôi mộ rồi xuất hiện cùng các môn đồ của Ngài. Tiếp đến, Ngài đã sống phần đời còn lại của mình trong bóng tối tăm. Một người có tên là Venturini khoảng năm 1600 đã đưa ra nhận định nầy.
Thứ nhứt, mỗi nổ lực được lập ra để bảo đảm rằng Chúa Jêsus đã chết. Mấy tên lính, họ là hạng người chuyên hành quyết đã công bố Ngài đã chết. Họ chẳng phiền đánh gãy chân của Ngài mà chỉ đâm mũi giáo vào sườn của Ngài. Giăng 19.33-34 đặc biệt chép: "Khi quân lính đến nơi Đức Chúa Jêsus, thấy Ngài đã chết rồi, thì không đánh gãy ống chân Ngài; nhưng có một tên lính lấy giáo đâm ngang sườn Ngài, tức thì máu và nước chảy ra (cho thấy Ngài đã chết trước đó rồi)". Thêm nữa, Mác 15.43-45 cho rằng Phi-lát đã sai “một thầy đội” La mã đến để xác định Chúa Jêsus đã chết trước khi ông ta cho Giô-sép người Arimathê gỡ lấy xác xuống.
Thứ hai, hãy xét qua những trở ngại mà một Đấng Mêsi bị ngất sẽ phải thắng hơn. Trước tiên Ngài phải thoát ra khỏi lớp vải liệm quấn thật chặt, lớp nầy chứa "khoảng một trăm cân" một dược (Giăng 19.39). Tiếp đến, Ngài phải lăn hòn đá nặng nề kia rồi phải chiến đấu với khoảng cả tá binh lính La mã thuần thục.
Rồi Ngài phải đi bộ 7 dặm tới Emmaút, người ta đã gặp Ngài ở đó theo (Luca 24.13-41). Cũng một thể ấy, Ngài phải đi bộ ngược về lại thành Jerusalem, các vị sứ đồ cũng đã trông thấy Ngài ở đây (các câu 32-49).
Tôi vẫn ưa thích câu chuyện mà tôi đã chia sẻ cách đây mấy tuần nói về một phụ nữ đã viết cho J. Vernon McGee nói về vị truyền đạo của bà đã tin theo học thuyết Chúa bị ngất xỉu đi. Ông đáp: "Thưa bà chị, hãy quất vị giáo sư ấy bằng 39 roi da bò cạp. Hãy đóng đinh ông ấy trên thập tự giá. Hãy treo ông ấy giữa trời trong 6 tiếng đồng hồ. Hãy đâm ngọn giáo qua trái tim của ông ta. Hãy ướp xác ông ta. Hãy đặt ông ta vào ngôi mộ không có không khí trong ba ngày. Kế đó, hãy chờ xem điều gì xảy ra".
C. Học thuyết về ảo giác.
Học thuyết nầy cho rằng những lần xuất hiện hậu-phục sinh của Đấng Christ không phải là những lần hiện ra có thực đâu, mà những kẻ tự nhận mình trông thấy Chúa Jêsus chỉ đang kinh nghiệm những ảo giác về tôn giáo đấy thôi. Có nhiều nan đề với quan điểm nầy rất là rõ ràng.
Thứ nhứt, nhiều cá nhân có ảo giác, chớ không phải nhiều nhóm người. Nhiều nhóm người đã trông thấy Chúa Jêsus sau sự sống lại của Ngài. Có hai môn đồ đang trên đường về làng Em-ma-út trong Luca 24.13-15. 10 trong số các môn đồ đang ẩn náu tại thành Jerusalem khi Chúa Jêsus thình lình hiện ra trong căn phòng theo Giăng 19.19-25. Còn đáng tin hơn thế nữa, I Côrinhtô 15.6 chép: "Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ còn sống, nhưng có mấy người đã ngủ rồi".
Thứ hai, học thuyết về ảo giác mâu thuẩn đối với các định luật và nguyên tắc của khoa học vốn là rất quan trọng với các sự cố gây ảo giác. Thí dụ, chỉ có một số người nhất định nào đó mới kinh nghiệm các loại ảo giác. Thường thì chỉ có hạng người có trí tưởng tượng cao độ, có vấn đề về thần kinh mới kinh nghiệm ảo giác đó. Người nào mắc phải chứng hoang tưởng và tâm thần phân liệt là đối tượng mạnh nhất cho ảo giác. Các nhà tâm lý học cũng cho rằng những ảo giác luôn luôn được nối kết với tiềm thức của một người. Nhiều cá nhân có một tiềm thức. Các nhóm người không có một tiềm thức chọn lọc được. Thường thì ảo giác tiêu biểu cho sự tán thưởng các sự cố trong tương lai. Các môn đồ không tin sự sống lại thậm chí sau khi họ đã nhìn thấy ngôi mộ trống. Thôma vốn không tin dù Chúa Jêsus đã hiện ra cho nhiều người khác thấy.
D. Học thuyết mạo nhận danh nghĩa người khác.
Như danh xưng ấy ám chỉ, học thuyết nầy cho rằng Đấng Christ thực sự không hề hiện ra sau sự chết của Ngài, mà có ai đó đã mạo nhận Ngài. Những kẻ đề xướng quan điểm nầy chỉ ra các kinh nghiệm của những người không công nhận Ngài khi lần đầu tiên họ nhìn thấy Ngài là bằng chứng. Rõ ràng có những lỗ hỗng trong học thuyết nầy.
Thứ nhứt, các môn đồ đã hiện diện với Chúa Jêsus trong hơn ba năm trời. Trong khoảng thời gian ấy, họ rất ít khi rời khỏi Ngài. Liệu có ai đó đến mạo nhận một trong các thành viên trong gia đình của quí vị và làm cho quí vị ra dại dột không?
Thứ hai, một kẻ mạo danh cũng phải có cùng những vết thương mà Đấng Christ đã có. Người ấy đã bị đòn vọt, bị đội bằng mão gai, bị đóng bằng nhiều mũi đinh và bị một mũi giáo đâm vào sườn mình. Thôma nghi ngờ kia, một người hay nghi ngờ theo lẽ tự nhiên hoàn toàn bị thuyết phục khi Chúa Jêsus bảo ông ta: "Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây, và xem bàn tay ta; cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn ta, chớ cứng lòng, song hãy tin!" (Giăng 20.27).
Thứ ba, một kẻ mạo danh phải có phép lạ dấu kỳ. Như trong Giăng 20.19, người ấy cần có khả năng đi xuyên qua bức tường rồi xuất hiện trong căn phòng cách thình lình. Như trong Giăng 21.1-7, người ấy cần phải có khả năng tạo ra một ngư trường trong biển Galilê.
Thứ tư, vượt cao hơn tất cả, là một kẻ mạo danh phải có quyền phép cao hơn mấy tên lính canh cửa mộ, cướp lấy thi hài của Chúa Jêsus rồi đem giấu đi để chẳng ai khám phá ra.
E. Học thuyết lầm lẫn lai lịch.
Học thuyết nầy cho rằng những kẻ trông thấy hình thái sống lại của Đấng Christ là không đúng đâu. Thí dụ, khi Mary Mađơlen trông thấy Chúa Jêsus lần đầu tiên, nàng tưởng Ngài là người làm vườn, Quan điểm nầy cho rằng Ngài thực sự là người làm vườn và Mary đã lầm lẫn khi nghĩ ông ta là Chúa Jêsus.
Một lần nữa, nan đề vẫn như nhau. Làm sao các môn đồ của Chúa Jêsus lại lầm lẫn về nhân vật mà họ vốn biết rất rõ chứ? Làm sao họ có thể lầm bởi các vết thương của Ngài cho được? Làm sao họ có thể lầm lẫn về các phép lạ hậu phục sinh của Ngài chứ? Có ai xuất hiện trong căn phòng theo cách lạ lùng chưa? Phải chăng họ đã nhìn thấy nhân vật chưa biết chắc đó thăng thiên về trời?
F. Học thuyết sống lại về mặt thuộc linh.
Một số nhà thần học theo phái phê bình, họ không thể chấp nhận một sự sống lại thuộc thể, theo phần xác thịt; họ cho rằng Chúa Jêsus không sống lại từ kẻ chết về phần xác mà các môn đồ đã trông thấy linh hồn của Ngài. Họ nói rằng các trước giả Tin lành nói tới xác thịt của Ngài để minh hoạ cho sự sống lại về mặt thuộc linh.
Nếu đó là một sự sống lại về mặt thuộc linh, thì ngôi mộ không bị quấy rối và rất dễ lật tẩy câu chuyện tai nghe mắt thấy bằng cách tạo ra thi hài đã chết của Chúa Jêsus.
Thêm nữa, những tường trình của những người chứng kiến cho thấy thể nào họ đã trông thấy Chúa Jêsus ăn thức ăn. Linh hồn không có ăn uống. Họ đã chạm vào thân thể phục sinh của Ngài bằng chính bàn tay của họ.
Luca 24.36-43 cho biết khi Chúa Jêsus hiện ra cùng họ, họ "đều sửng sốt rụng rời, tưởng thấy thần". Chúa Jêsus phán: "Hãy xem tay chân ta: thật chính ta. Hãy rờ đến ta, và hãy xem; thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có". Các câu 41-43 chép: "Nhưng vì cớ môn đồ vui mừng nên chưa tin chắc, và lấy làm lạ, thì Ngài phán rằng: Ở đây các ngươi có gì ăn không? Môn đồ dâng cho Ngài một miếng cá nướng. Ngài nhận lấy mà ăn trước mặt môn đồ".
Mặc dù có vô số tham khảo đến thân thể của Chúa theo phần xác sau sự sống lại, tôi vẫn ưa thích nhất câu nói của Giăng, ông đã viết khi là một cụ già quay nhìn lại cuộc đời của mình. Ông nói ở 1 Giăng 1.1-2: "Điều có từ trước hết, là điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã ngắm và tay chúng tôi đã rờ, về lời sự sống; vì sự sống đã bày tỏ ra, chúng tôi có thấy, và đang làm chứng cho, chúng tôi rao truyền cho anh em sự sống đời đời vốn ở cùng Đức Chúa Cha và đã bày tỏ ra cho chúng tôi rồi".
II. Học thuyết có mưu tính góp phần minh chứng cho sự sống lại.
Bảng liệt kê của chúng ta không cạn kiệt đâu. Có vô số học thuyết khác, chúng ta khó mà bàn bạc hết cho được. Thực vậy, có một học thuyết rất hợp lý giải thích bài bác sự sống lại, và nó đã được các cấp lãnh đạo Do thái ngay lập tức đưa ra liền. Mathiơ ghi lại học thuyết đó cho chúng ta trong phân đoạn Kinh Thánh gốc ở trên. Đây là học thuyết cho rằng các môn đồ đã đánh cắp thi thể của Chúa Jêsus rồi dựng lên phần còn lại. Tuy nhiên, Chúa toàn năng của chúng ta đã sử dụng học thuyết nầy làm bằng chứng thuyết phục rất sâu sắc cho thực tại sự sống lại.
A. Trả tiền cho mấy tên lính (các câu 11-14).
Câu 1 cho chúng ta biết rằng "trong khi hai người đàn bà đó đi đường" để báo cho các môn đồ về ngôi mộ trống và đang khi họ gặp gỡ chính mình Chúa Jêsus trên đường, mấy tên lính La mã đã tỉnh ra từ chỗ chết điếng người. Hãy nhớ câu 4 chép rằng khi họ trông thấy thiên sứ, họ đã "sợ hãi run rẩy, trở nên như người chết". Họ bị như thế khi nhìn thấy hòn đá lăn trở ra và ngôi mộ trống trơn.
Tôi tưởng tượng họ đang bàn bạc trong nỗi sợ hãi và thất kinh mọi điều mà họ sẽ làm. Phi-lát chắc chắn sẽ tử hình họ vì để cho dấu ấn La mã bị phá đi và thi thể bị đánh cắp mất. Có lẽ họ đã xét tới việc gọi lực lượng đặc nhiệm. Rõ ràng, họ đã quyết định phái "mấy tên" hay đại biểu đến gặp các cấp lãnh đạo Do thái. Phần còn lại trong số họ đã ở lại trạm gát cho đến chừng họ có lịnh giải tán.
"Mấy tên lính canh vào thành thuật lại cho các thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy đến". Họ biết rõ họ đã ở trong chỗ phục vụ tạm thời cho người Do thái và biết rõ rằng với người Do thái họ sẽ rơi vào chỗ ít rắc rối hơn là với Phi-lát. Có lẽ các cấp lãnh đạo nầy sẽ che chở cho chúng không bị án phạt khó có thể tránh được.
Họ báo cáo lại "mọi việc đã xảy đến". Tôi cho rằng họ đã trình lại về cơn động đất, sự xuất hiện đáng sợ của thiên sứ đến lăn hòn đá đi và thể nào họ thức tỉnh khi thấy ngôi mộ trống và thiên sứ đã đi mất rồi. Các cấp lãnh đạo Do thái rất cứng lòng trong sự vô tín đến nỗi họ không chấp nhận câu chuyện mắt thấy nầy. Có lẽ họ đã hay về sự sống lại của Chúa Jêsus trước các môn đồ của Ngài.
Họ mau chóng "nhóm lại cùng các trưởng lão đặng bàn luận". Họ có một buổi nhóm lại ứng khẩu với cả toà công luận rồi đưa ra một kế hoạch. Họ "cho những lính đó nhiều tiền bạc" và bảo chúng đi nói: "Môn đồ nó đã đến lúc ban đêm, khi chúng tôi đang ngủ, mà lấy trộm nó đi". Họ quyết chắc với chúng rằng họ sẽ "khuyên giải" Phi-lát và làm cho chúng "khỏi lo sợ". Dù chúng có trình sự vụ ra trước mặt Phi-lát hay không hoặc chúng bị án phạt chi đó thì chẳng ai biết được.
B. Lời nói dối của các cấp lãnh đạo Do thái (câu 15).
Mấy tên lính đã bớt căng thẳng khi được người Do thái săn đón đàng hoàng. Họ vui sướng "lấy bạc, và làm theo y như lời". Họ đã phụ giúp phổ biến lời nói dối, lời ấy đã trở thành học thuyết mói tới thi hài bị đánh cắp, như Mathiơ ghi lại rằng "Tiếng ấy đã đồn ra trong dân Giu-đa cho đến ngày nay", khoảng 30 năm sau, vào năm 63SC.
C. Quyền tể trị của Chúa.
Đức Chúa Trời trong sự tể trị của Ngài đã sử dụng lời nói dối nầy làm bằng cớ cho sự sống lại. Sự thật cho thấy rằng các kẻ thù của Đấng Christ rao truyền chuyện bịa đặt khó tin nầy, nó củng cố mạnh cho sự thực của sự sống lại của Ngài. Sự thật cho thấy rằng câu chuyện nầy là câu chuyện hay nhất được dựng lên với nhiều bằng chứng về sự sống lại.
Thứ nhứt, binh lính La mã KHÔNG NGỦ khi canh gát. Nếu họ ngủ mê, làm sao họ biết chính các môn đồ đến lấy cắp thi thể? Làm sao hòn đá lớn kia bị lăn ra mà không làm cho họ thức giấc? Tại sao họ không lần theo dấu vết của các môn đồ và thẩm tra họ cho đến chừng nào họ chịu tội mới thôi? Phải chăng các môn đồ liều mạng sống họ để tích cực ủng hộ một lời nói dối?
Bằng chứng thổi tung hết mọi học thuyết có mưu tính nói về sự sống lại là Hội Thánh sống động của Đức Chúa Jêsus Christ. Các môn đồ nhỏ bé nầy đã trở thành những sứ đồ mạnh mẽ và đã "gây thiên hạ nên loạn lạc" (Công vụ Các Sứ Đồ 17.6). Những lời dối trá không làm được như thế đâu, chỉ có lẽ thật mới có thể làm thay đổi thế gian mà thôi.
***

Mathiơ 28.1-10: "Đáp ứng với sự sống lại"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Đáp ứng với sự sống lại
Mathiơ 28.1-10
Cơ đốc giáo đứng trên hai cột trụ: sự chết và sự sống lại của Đấng Christ. Như chúng ta đã nghiên cứu tuần vừa qua, Đức Chúa Cha đã cẩn thận ràng hai sự cố bắt buộc nầy với sự chôn cất đã được sắp xếp cách thiêng liêng, có bằng chứng hẳn hoi. Vì thế, Phaolô cung ứng cho chúng ta một phần xác định tổng quát về sứ điệp Tin Lành ở I Côrinhtô 15.3-4: "Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh". Cả sự chết và sự sống lại đều rất quan trọng cho sự cứu rỗi chúng ta. Sự sống lại mà không có sự chết chuộc tội thì sẽ là vô quyền. Sự chết của Đấng Christ mà không có sự sống lại sẽ là vô mục đích.
Các tín đồ chân chính luôn luôn nhắm đến sự sống lại. Điều nầy chắc chắn là thực đối với các thánh đồ thời Cựu ước. ÁPRAHAM đã dâng con của ông, Y-sác làm của lễ vì ông tin "rằng Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến kẻ chết sống lại; cũng giống như từ trong kẻ chết mà người lại được con mình" (Hêbơrơ 11.19). Các TÁC GIẢ THI THIÊN công bố sự sống lại. Thi thiên 49.15 chép: "Nhưng Đức Chúa Trời sẽ chuộc linh hồn tôi khỏi quyền âm phủ, vì Ngài sẽ tiếp rước tôi". Thi thiên 73.24 chép: "Chúa sẽ dùng sự khuyên dạy mà dẫn dắt tôi, rồi sau tiếp rước tôi trong sự vinh hiển". Tiên tri ÊSAI công bố: "Những kẻ chết của Ngài sẽ sống, những xác chết của tôi đều chổi dậy! Hỡi kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy, hãy hát! Vì hột móc của Ngài như hột móc lúc hừng đông, đất sẽ buông các âm hồn ra khỏi" (Êsai 26.19). ĐANIÊN cũng khẳng định đức tin nơi sự sống lại. Đaniên 12.2 chép: "Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì để chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời".
Có lẽ một trong các quyển sách xưa nhất trong Cựu ước là sách Gióp. Ông tuyên bố: "Còn tôi, tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống, đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất. Sau khi da tôi, tức xác thịt nầy, đã bị tan nát, bấy giờ ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Đức Chúa Trời" (Gióp 19.25-26).
Các vị Sứ đồ và Hội Thánh đầu tiên thường giảng về sự sống lại vì chẳng có người nào chối bỏ sự sống lại trở thành Cơ đốc nhân thực đâu! Đúng vậy, chính bài giảng đầu tiên của Hội Thánh, vào ngày Lễ Ngũ Tuần đã tựu trung vào sự sống lại. PHIERƠ đã giảng ở Công Vụ các Sứ Đồ 2.23-24: "Người đó bị nộp theo ý định trước và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi. Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó".
PHAOLÔ đã giảng về sự sống lại rất thường xuyên. Thực vậy, trong thư tín thứ nhứt gửi cho người thành Côrinhtô, Đức Thánh Linh đã cảm thúc ông viết ra chương thứ 15 lạ lùng nhất, chương phục sinh của Kinh Thánh! GIĂNG, vị sứ đồ sau cùng khi bị lưu đày trên đảo Bát-mô, đã nhìn thấy Chúa Jêsus, Ngài phán cùng ông: "là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ" (Khải huyền 1.18).
Có nhiều người xuyên suốt 2.000 năm qua, họ đã tìm cách bài bác sự sống lại của Đấng Christ. Cũng có nhiều người không chối bỏ cũng không tiếp nhận sự sống lại ấy, song đã bất chấp nó. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời luôn luôn có dân sự Ngài, những người đáp ứng lại sự sống lại với đức tin lớn lao. Thực vậy, đây là trường hợp với những chứng nhân đầu tiên, hai người đàn bà tin kính đã nhìn thấy cả sự chết của Chúa Jêsus và đã chứng kiến sự sống lại của Ngài. Chúng ta hãy xem xét 5 phần đáp ứng lúc ban đầu của họ trước Chúa phục sinh.
I. Mấy người đàn bà đã đến với sự chiêm bái (câu 1).
A. Thời điểm thăm viếng của họ.
Trong câu 1 chúng ta đọc thấy hai người đàn bà đã đến tại ngôi mộ "Sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng". Hãy nhớ, ban ngày của người Do thái bắt đầu lúc mặt trời mọc và kết thúc lúc mặt trời lặn. Chúng ta những người phương Tây tính ban ngày là thời gian 24 tiếng đồng hồ từ 00 giờ sáng đến 12 giờ trưa. Tuy nhiên, những người ở vùng Trung đông tính ban ngày từ 6 giờ chiều hôm nay đến 6 giờ chiều ngày mai. Vì lẽ đó, ngày "Sabát" bao gồm cả chiều hôm trước. Lúc bấy giờ là "sau ngày sabát". Theo cách suy nghĩ của họ "ngày thứ nhứt trong tuần lễ" hay ngày Chúa nhựt bắt đầu trước đó 10-12 tiếng đồng hồ rồi.
Như tôi đã giải thích trước đây, người Do thái nói tới một ngày là bất kỳ lúc nào trong một ngày. Ngày Chúa nhựt là ngày thứ ba của thời điểm Chúa Jêsus ở trong mồ mả. Ngài đã bị chôn vào ngày thứ Sáu, thứ Bảy và ngày Chúa nhựt, ba ngày tất cả.
Chúng ta hãy suy nghĩ về ngày "Sabát" trong một phút đi. Trong 10 Điều Răn, Đức Chúa Trời bảo dân Israel phải làm việc trong sáu ngày nhưng phải trừ ra ngày thứ bảy, là ngày "Sabát" dành cho sự nghỉ ngơi và thờ phượng (Xuất Êdíptô ký 20.8-11). Nhiều Cơ đốc nhân đã cố gắng biến ngày Chúa nhựt thành một ngày “sa-bát dân Ngoại” theo đúng luật pháp. Tuy nhiên, ngày nầy là ngày sa-bát sau cùng cho dân sự của Đức Chúa Trời vì vào "ngày thứ nhứt của tuần lễ" Chúa Jêsus đã sống lại ra khỏi mồ mả và đem lại Giao Ước Mới cho dân sự của Ngài. "Tưng tưng sáng" không những là biểu tượng của lời hứa cho một ngày mới mà còn là một kỹ nguyên mới trong lịch sử cứu chuộc nữa!
Khi ban ngày bắt đầu "tưng tưng sáng", Mathiơ nói rằng "có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ". Giăng 20.1 chép họ đã đến “lúc rạng đông, trời còn mờ mờ".
B. Mục đích cuộc thăm viếng của họ.
Mặc dù Mathiơ đặc biệt nhắm vào "Mary Mađơlen" và "Mary khác", bà là mẹ của Giacơ nhỏ và là vợ của Cơ-lê-ô-ba, các sách Tin lành khác cho chúng ta biết Salômê (Bà Xê-bê-đê) và Gioan-na cũng đã có mặt nữa (Mác 16.1; Mathiơ 27.56).
Mấy người đàn bà có lòng đau đớn buồn rầu nầy đã đến "để thăm mộ". Mathiơ 27.61 cho chúng ta biết họ đã có mặt khi Giô-sép người Arimathê và Ni-cô-đem lo sửa soạn cho thi thể của Chúa. Có lẽ họ đã bắt tay phụ giúp. Bây giờ họ đã quay trở lại với các thứ thuốc thơm của chính họ (Luca 24.1).
Truyền khẩu Do thái cho rằng linh hồn con người ở lại với thi thể cho tới 4 ngày sau khi chết, cho tới chừng tình trạng thối rửa làm biến dạng thi thể đến nỗi linh hồn không còn nhận ra nó nữa. Có lẽ đấy là điều mà Mathê đã nói khi Laxarơ đã chết, và nàng đã thưa với Chúa Jêsus: "Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày rồi" (Giăng 11.39).
Mấy người đàn bà tin kính nầy đã đến để làm một việc trang trọng sau cùng. Lý trí họ không hề nghĩ Chúa Jêsus sẽ không có ở trong ngôi mộ. Làm sao họ lăn hòn đá nặng kia ra cho được? Có lẽ họ nghĩ về sự ấy hoặc có lẽ họ nghĩ mấy tên lính kia sẽ giúp cho họ. Họ đã không hiểu lời hứa đắc thắng của Ngài đối với mồ mả, nhưng họ cứ trung tín với Chúa cho đến cuối cùng.
II. Mấy người đàn bà lui lại trong sợ hãi (các câu 2-7).
A. Họ sợ động đất (câu 2a).
Hãy chú ý chữ "Và nầy". Dường như là họ đã đến tại ngôi mộ, hai người đàn bà đã kinh nghiệm "đất rúng động dữ dội".
Mùa hè vừa qua, Amarillo đã kinh nghiệm một loạt ngắn các trận động đất nhỏ. Tôi chỉ nhớ có một cảm xúc nhẹ mà thôi, thậm chí không đủ để công nhận điều chi đã xảy ra cho tới chừng tôi nghe thấy các tin tức. Có ai trong quí vị đã sống tại California đều có nhận thức lớn hơn về điều mà mấy người đàn bà nầy đã kinh nghiệm qua vào buổi sáng sớm hôm ấy!
Lịch sử và lời tiên tri trong Kinh Thánh dạy cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời thường sử dụng những trận động đất khi Ngài tỏ chính mình Ngài ra theo một phương thức rất đặc biệt (ban bố luật pháp, Êli, v.v…). Trong ngày thứ Sáu trước đó, khi Chúa Jêsus đã làm xong công tác của Ngài trên thập tự giá "đất thì rúng động, đá lớn bễ ra" (27.51).
B. Họ sợ thiên sứ (các câu 2b-4).
"Động đất" có cùng nghĩa với sự hiện ra của "thiên sứ của Chúa" là Đấng "ở trên trời xuống" và "đến lăn hòn đá ra mà ngồi ở trên".
Qua nhiều năm tháng, nhiều lễ lạc Phục sinh mang dấu thiên sứ, dường như có ý cho rằng thiên sứ lăn hòn đá đi để cho Chúa Jêsus bước ra ngoài. Không một điều gì có thể vượt quá sự thật. Đấng Dựng Nên trời và đất không bị trói buộc bởi sự chết hoặc bị cầm giữ bởi một hòn đá! Trong thân thể phục sinh của Ngài, Chúa Jêsus đã đi xuyên qua các bức tường (đối chiếu Luca 4.31). Thiên sứ đã lăn hòn đá không phải để cho Chúa Jêsus bước ra ngoài mà là để cho mấy người đàn bà kia bước vào bên trong!
Giăng cung ứng cho chúng ta thêm một yếu tố quan trọng của câu chuyện ở đây. Rõ ràng, Mary Mađơlen đã nhìn thấy hòn đá đã bị dời đi nhưng không thấy thiên sứ vì nàng "chạy tìm Si-môn Phi-e-rơ và môn đồ khác, là người Đức Chúa Jêsus yêu, mà nói rằng: Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài tại đâu" (Giăng 20.2). Phierơ và Giăng đã chạy đua đến ngôi mộ để chính bản thân họ xem thấy.
Đồng thời, mấy người đàn bà khác đều bị sốc khi nhìn thấy vị thiên sứ sáng láng nầy. Gần như mỗi lần chúng ta đọc thấy các thiên sứ hiện ra cho loài người, họ đều nói: "Đừng sợ" hay "Đừng kinh hãi" vì sự hiện ra của thiên sứ là một bối cảnh đáng sợ lắm.
"Hình dong của thiên sứ giống như chớp nháng, và áo trắng như tuyết". Giống như Môise, khi ông từ trên Núi Sinai xuống, thiên sứ đã phản ảnh sự vinh hiển Shekinah của Đức Chúa Trời. Áo trắng như tuyết của Ngài làm biểu tượng cho sự thánh khiết khi ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Không những mấy người đờn bà nầy lấy làm sợ hãi, mà các toán quân lính cứng lòng kia của Rôma cũng lấy làm kinh hãi nữa! Họ "sợ hãi run rẩy, trở nên như người chết". Thú vị thay, từ ngữ Hy lạp dịch là động đất trong câu 2 là seismos giống như "seismograph" (máy ghi địa chấn). Gốc của chữ seio được dịch là "run rẩy" trong câu nầy. Nói cách khác, khi thiên sứ hiện ra không phải hết thảy đất đều run rẩy như thế đâu! Họ đã run rẩy ghê lắm trước mặt Ngài và như bị chấn thương bởi sự sợ hãi đến nỗi họ "trở nên như người chết", trong khi bị sốc, họ mất đi sự tỉnh biết rồi.
C. Họ đã nghe được những tin tức tốt lành (các câu 5-7).
Không nghi ngờ chi nữa, mấy người đàn bà cũng bị lay động dữ lắm, song thiên sứ phán: "Các ngươi đừng sợ chi cả; vì ta biết các ngươi tìm Đức Chúa Jêsus, là Đấng bị đóng đinh trên thập tự giá". Ngài phán: "Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán". Chúa Jêsus đã làm đúng những điều Ngài đã phán Ngài sẽ làm. Có lẽ khi di chuyển tới ngôi mộ đã mở rộng cửa, thiên sứ đã mời họ: "Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm". Ngài thúc giục họ "hãy đi mau nói cho môn đồ Ngài hay" rằng Ngài sẽ gặp họ tại "xứ Galilê".
Tại sao thiên sứ ban sứ điệp nầy ra cho mấy người đàn bà? Có nhiều sự giải thích khả thi, song đối với tôi dường như lý do chính đáng ấy là họ đã có mặt ở đó. Họ muốn đến gần Chúa. Chúng ta càng đến gần với Đấng Christ chừng nào thì chúng ta càng nhìn thấy công việc của Ngài chừng nấy.
Chúa Jêsus sẽ gặp họ tại "xứ Galilê" không có nghĩa là Ngài không hiện ra cho nhiều người trong số họ vài lần trước cuộc gặp gỡ ấy. Tuy nhiên, tại xứ Galilê là sự hiện ra của Ngài trong đó Ngài tỏ chính mình Ngài ra cho "hơn năm trăm anh em xem thấy" (I Côrinhtô 15.6).
III. Mấy người đàn bà ra đi với sự vui mừng (câu 8).
Một trong những câu Kinh Thánh Cựu ước rất ưa thích của tôi là Thi thiên 30.11: "Ngài đã đổi sự buồn rầu tôi ra sự khoái lạc, mở áo tang tôi, và thắt lưng tôi bằng vui mừng". Chắc chắn mấy người đàn bà nầy đã có cùng chứng cớ ấy. Ngay lập tức họ vâng theo thiên sứ và "vội vàng ra khỏi mộ" vẫn còn trong nỗi "sợ", nỗi sợ nầy mau chóng bị phủ lấp bởi một nhận thức "cả mừng" trước ý nghĩa của những điều mà họ đã chứng kiến bắt đầu thành hình rõ nét trong lý trí của họ. Sự "cả mừng" của họ lớn lao đến nỗi họ đã "chạy báo tin cho các môn đồ".
Theo Giăng 20, sau khi Mary Mađơlen báo tin ngôi mộ trống cho Giăng và Phierơ biết, nàng đã chạy theo họ khi họ chạy ra ngôi mộ. Họ thấy tấm vải liệm và "cái khăn liệm trùm đầu Đức Chúa Jêsus chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi khác". Họ vừa mừng vừa sợ vì họ không hiểu Ngài đã sống lại. Họ đã "trở về nhà mình". Tuy nhiên, Mary "đứng bên ngoài, gần mộ, mà khóc. Người vừa khóc, vừa cúi xuống dòm trong mộ". Nàng nhìn thấy ở đó "hai vị thiên sứ mặc áo trắng, một vị ngồi đàng đầu, một vị ngồi đàng chân, chỗ xác Đức Chúa Jêsus đã nằm". Họ hỏi: "Hỡi đờn bà kia, sao ngươi khóc?" Nàng đáp: "Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu". Khi ấy nàng xây lại rồi nhìn thấy một người mà nàng chẳng nhận ra đứng bên cạnh nàng. Người ấy cũng hỏi tại sao nàng khóc và nàng tưởng đấy là người làm vườn. Lúc đó, người mới gọi: "Mary!" và nàng nhận ra Ngài là Chúa rồi gọi: "Ra-bu-ni!" Khi ấy Mary cũng trải hết niềm vui mừng của mình ra với mọi người (các câu 1-18).
Tôi tin bất kỳ ai đã được sanh lại đều đã kinh nghiệm cùng sự “vui mừng” đó. Quí vị có thể nhớ lại niềm vui ấy chăng? Đấy là lý do tại sao vào mùa Lễ Phục Sinh chúng ta nói với Hội Thánh của mọi thời đại "Ngài đã sống lại rồi; Quả thực, Ngài đã sống lại rồi".
IV. Mấy người đàn bà phủ phục xuống trong sự tôn kính (câu 9).
Dường như khi mấy người đàn bà "vội vàng" rời khỏi ngôi mộ rồi trên đường báo tin cho các môn đồ mà "Chúa Jêsus đã gặp họ", giống như Mary Mađơlen, lúc đầu họ không nhận ra Ngài hay chú ý đến Ngài cho tới khi mở miệng phán. Ngài phán: "Mừng các ngươi". Cụm từ nầy dịch từ chữ Hy lạp chairo, đây là một lời chào chung chung. Lời chào ấy giống như Ngài đang phán: "Chào quí bà" vậy thôi.
Đáp ứng của họ có ngay tức thì và theo bản năng. Họ quì gối phủ phục xuống đất và "ôm chân Ngài và thờ lạy Ngài". Ngay tại đó trên đường phố một buổi thờ phượng đã được mở ra. Họ đã cảm thấy động đất, đã nhìn thấy thiên sứ và đã xem qua ngôi mộ trống, nhưng việc nhìn thấy Chúa Jêsus gồm tóm hết mọi sự ấy. Sự nhầm lẫn không còn có nữa. Họ đã nhìn thấy Ngài chết trên thập tự giá. Họ đã chứng kiến sự chôn cất Ngài. Giờ đây, họ đã nhìn thấy Chúa phục sinh của họ bằng chính mắt của mình! Hai hàng nước mắt của sự vui mừng khôn tả xiết rơi xuống hai bàn chân mang dấu đinh của Ngài!
Khi chúng ta thực sự nhìn thấy Chúa Jêsus, bất luận chúng ta đang ở đâu hay đang làm gì, chúng ta phải phủ phục xuống trong sự thờ phượng. Thắc mắc là, có phải chúng ta nhìn thấy Chúa Jêsus không? Các môn đồ đã không nhìn thấy Ngài buổi sáng hôm ấy, nhưng mấy người đàn bà đã trông thấy. Tại sao chứ? Họ đang hành động bằng sự tin kính làm theo mọi điều mà Đức Chúa Trời đã truyền cho họ phải lo làm. Khi chúng ta kéo đến gần Chúa và khiêm nhường bước đi trong sự vâng phục đối với Ngài, chúng ta nhìn thấy Chúa Jêsus đang hành động chung quanh chúng ta. Thế thì sự thờ phượng xảy ra theo bản năng ở trong chúng ta, sự thờ phượng ấy đã có ở trong họ. Chúng ta phục xuống nơi chơn của Ngài.
V. Mấy người đàn bà nhìn tới đàng trước trong Hy vọng (câu 10).
Hãy gạch dưới hay khoanh tròn một từ rất quan trọng trong câu 10: "anh em". Chúa Jêsus đã nhắc lại lời dạy của thiên sứ là đừng sợ hãi, nhưng phải đi gặp các môn đồ rồi bảo họ phải "qua xứ Galilê" ở đó Ngài sẽ gặp gỡ họ. Tuy nhiên, Chúa Jêsus không nói: "hãy đi bảo các môn đồ ta". Ngài phán: "hãy đi bảo cho anh em ta".
Đây là một tư tưởng rất đáng sợ! Các môn đồ đã vừa chối Chúa Jêsus và lìa bỏ Ngài. Sâu xa như chúng ta biết, chỉ có Giăng hiện diện tại nơi hành hình, lúc Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá. Phần còn lại đã bỏ trốn trong sợ hãi khi họ đi ẩn mình trong các hẽm hóc của thành Jerusalem. Họ lấy làm kinh hãi lắm vì sợ mình cũng sẽ bị bắt. Tuy nhiên, ngay khi họ đang còn ẩn náu, Ngài gọi họ là "anh em".
Quí vị có biết Ngài cũng đang gọi quí vị là anh [chị] em của Ngài không? Hêbơrơ 2.11 phác hoạ ra bối cảnh trên trời, ở đó tất cả những kẻ được chuộc, là “hội”đời đời, là Hội Thánh của con trưởng nam đã nhóm lại quanh Chúa Jêsus. Câu nầy đọc như sau: "Vì Đấng làm nên thánh và kẻ được nên thánh, đều bởi một Cha mà ra. Cho nên Ngài không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em".
Hy vọng có nghĩa là dù khi chúng ta sợ hãi, dù khi chúng ta bị xấu hổ, sự chết, sự chôn và sự sống lại của Chúa Jêsus khiến cho chúng ta ra "anh em" của Ngài.
***

Mathiơ 27.55-66: "Hậu quả của sự đóng đinh Chúa trên thập tự giá"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Hậu quả của sự đóng đinh Chúa trên thập tự giá
Mathiơ 27.55-66
Đối với tôi, ngày nay khi Cơ đốc nhân nói tới Tin lành, có phần nhấn mạnh về sự sống lại hơn là sự đóng đinh trên thập tự giá. Thật là đáng tiếc khi nói như thế, vì chắc chắn đây không phải là chủ ý của các vị sứ đồ. Sự rao giảng của họ tựu trung nhiều vào sự chết của Đấng Christ y như sự sống lại. Phaolô đã viết ở I Côrinhtô 1.23: "chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự…". Sau đó trong 2.2, ông nói: "Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự". Ông nói ở Galati 6.14: "Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta". Các vị sứ đồ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đóng đinh vào thập tự giá vì không có công tác cứu chuộc của thập tự giá, sự sống lại sẽ chẳng có quyền gì để cứu chúng ta cả. Romans 6 nhắm vào sự dạy dỗ nầy. Đặc biệt hãy chú ý câu 8: "Vả, nếu chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ, thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài".
Trong bài nghiên cứu vừa qua, chúng ta thấy rằng "Thầy đội và những lính cùng với người" đã lấy làm ngạc nhiên bởi các biến cố lạ lùng nơi sự chết của Chúa Jêsus và đã kết luận: "Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời".
Hãy tưởng tượng các bạn hữu cùng những môn đồ của Chúa Jêsus và những kẻ đã được chữa lành đã cảm nhận như thế nào! Họ đã có đức tin lớn nơi Chúa Jêsus nhưng giờ đây Ngài đã chết. Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét ba nhóm người đã đáp ứng như thế nào trước hậu quả của sự Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá.
I. Những người đờn bà trung tín đã than khóc (các câu 55-56, 61).
Mathiơ cho chúng ta biết "nhiều người đàn bà đứng coi ở đàng xa". Giăng 19.25-27 cho chúng ta biết trước đó, cùng với Giăng, họ đang đứng "bên thập tự giá". Một lúc nào đó, họ đã đứng lui lại cách xa thập tự giá. Tôi không nghĩ họ đã đứng cách xa như thế là vì sự bất trung, mà vì Chúa Jêsus giờ đây đã chết, và ở một khoảng cách như thế, họ nhìn thấy thân thể Ngài bị treo ở đó. Cũng một thể ấy, rất khó quan sát thân thể của một người thân ở trong cổ quan tài, họ không thể chịu nổi bối cảnh thân thể Chúa Jêsus bị treo trên thập tự giá.
Chúng ta không nên quá khó khăn đối với mấy người đàn bà nầy. Họ đã ở lại. Họ có mặt ở đó với Chúa Jêsus cho đến cuối cùng. Với Giăng và Giu-đa là ngoại lệ, giờ đây họ đã qua đời, các môn đồ đã bỏ trốn vì cớ mạng sống của họ. Ngay cả Phierơ đã thất kinh và không còn đứng ở gần thập tự giá nữa.
Chúng ta không biết bao nhiêu người có mặt ở đó; Mathiơ nói có "nhiều" người lắm. Họ là những "người đã đi theo Đức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê để hầu việc Ngài". Ngay từ đầu chức vụ của Ngài, một số phụ nữ dường như đã sống gần gũi với Chúa Jêsus. Luca 8.3 chép họ đã "giúp của cải cho Ngài". "Hầu việc" trong câu nầy ra từ chữ diakoneo, là hình thái động từ của danh từ mà từ đó chúng ta có chữ "deacon" [chấp sự]. Mấy người đàn bà lo phục sự nầy họ đứng đầu trong một hàng dài những người hầu việc Chúa trong vai trò chấp sự (Rôma 16.1).
Mặc dù vai trò của nữ giới rất khác biệt với nam giới trong Hội Thánh, họ có tầm quan trọng rất lớn. Nhiều người đàn bà đã ở lại với Chúa Jêsus tại thập tự giá. Nữ giới là những người đầu tiên chứng kiến sự phục sinh. Nữ giới luôn luôn có mặt và sẽ luôn luôn có tầm vóc quan trọng cho công việc của Chúa.
"Mary Mađơlen" đặc biệt được nhắc tới. Theo Luca 8.2, Chúa Jêsus đã đuổi "bảy con quỉ" ra khỏi nàng. Nàng đến từ Magdala, gần Cabênaum. Nàng chưa lập gia đình và đã dâng đời sống mình vào sự phục vụ.
"Mary, mẹ của Gia-cơ và Giô-sép" đặc biệt cũng được liệt kê ra ở đây. "Giacơ" nầy là một trong số các sứ đồ thường được biết là "Giacơ nhỏ" (Mác 15.40) và "Giacơ con của A-phê" (Mathiơ 10.3). Giăng 19.25 mô tả người đờn bà nầy là "Mary vợ của Cờ-lê-ô-ba" là tên khác của “A-phê”.
"Mẹ hai con trai của Xê-bê-đê" cũng có mặt. Mác 15.40 gọi bà là "Salômê". Người mẹ tin kính nầy của hai “người con của sấm sét” (Mác 3.17) đã đến với Chúa Jêsus trước đây để xin một sự ưu ái đặc biệt cho hai con trai của bà (Mathiơ 20.20-21).
Giăng 19.26-27 cho chúng ta biết Mary mẹ của Chúa Jêsus cũng có mặt bên thập tự giá. Tôi dám chắc lời tiên tri của cụ Si-mê-ôn đang râm rang trong hai lỗ tai của bà ngày đó: "Đây, con trẻ nầy đã định làm một cớ cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc dấy lên, và định làm một dấu gây nên sự cãi trả; còn phần ngươi, có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng ngươi. Ấy vậy tư tưởng trong lòng nhiều người sẽ được bày tỏ" (Luca 2.34-35).
Những người đàn bà đang khóc than nầy sẽ được ghi nhớ mãi vì lòng trung tín của họ đối với Đấng Christ. Họ đúng là một tấm gương cho chúng ta ngày nay.
II. Người giàu có đứng ra xin xác (các câu 57-60).
Trong I Côrinhtô 15.3-4, Phaolô cung ứng cho chúng ta phần xác quyết về sứ điệp Tin lành: "Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh". Không những chúng ta không được bỏ qua tầm quan trọng của sự chết của Chúa Jêsus, sự chôn cất Ngài còn cho chúng ta thấy được sự quan phòng theo ý của Đức Chúa Trời nữa. Khoảng 600 năm trước, Êsai đã nói tiên tri: "Người ta đã đặt mồ người với những kẻ ác, nhưng khi chết, người được chôn với kẻ giàu" (Êsai 53.9).
Câu 57 chép: "Đến chiều tối". Đối với chúng ta, buổi tối đến sau 6 giờ chiều. Tuy nhiên, đối với người Do thái, buổi tối là khoảng thời gian giữa 3 giờ chiều và 6 giờ chiều. Trong văn hoá của họ, ngày mới khởi sự từ 6 giờ chiều thay vì lúc nửa đêm. Khi ấy là 3 giờ chiều hay "giờ thứ chín" (câu 46) Chúa Jêsus đã "trút linh hồn".
Luôn luôn có một sự lầm lẫn về thời điểm sự chết, sự chôn và sự sống lại của Chúa Jêsus. Vấn đề của chúng ta, ấy là chúng ta thường tiếp cận thời điểm của các biến cố nầy theo chiếc đồng hồ của tây phương.
Là người Do thái ở xứ Galilê, Chúa Jêsus cùng các môn đồ Ngài đã tưởng niệm Lễ Vượt Qua vào buổi tối thứ Năm theo lịch của họ. Người Do thái xứ Giu-đê ăn lễ Vượt Qua vào tối thứ Sáu. Vì thế, khi Chúa Jêsus chết vào lúc 3 giờ chiều ngày thứ Sáu, "Chiên Con của Đức Chúa Trời" đã bị giết đúng thời điểm chiên con làm sinh tế bị giết tại đền thờ.
Chúa đã nói tiên tri ở Mathiơ 12.40: "Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm" (đối chiếu 16.21; 26.61). Khi tính toán câu nầy theo suy nghĩ của Tây phương về 24 giờ một ngày, chúng ta sẽ đẩy sự đóng đinh trên thập tự giá lùi lại ngày thứ Tư. Tuy nhiên, Giăng 19.31 chép rằng Chúa Jêsus đã chết vào "ngày Sắm Sửa" hay vào ngày trước ngày "Sabát", là ngày thứ Bảy. Vì lẽ đó, theo suy nghĩ của Đông phương, Chúa Jêsus đã được chôn trước cuối ngày thứ Sáu, bị giữ trong mồ mả suốt ngày thứ Bảy và một phần của ngày Chúa nhựt, như vậy là ba ngày. Đây chưa đủ thời gian 24 tiếng đồng hồ, nhưng là số ngày theo sự tính toán của người Do thái.
Thân thể của Chúa Jêsus khi ấy đã được đem xuống khỏi thập tự giá "khi buổi tối đến". Ngài đã được chôn cất trước 6 giờ chiều ngày thứ Sáu. Giăng 19.31 chép: "Vì bấy giờ là ngày sắm sửa về ngày Sa-bát, mà Sa-bát nầy là rất trọng thể, nên dân Giu-đa ngại rằng những thây còn treo lại trên thập tự giá trong ngày Sa-bát chăng, bèn xin Phi-lát cho đánh gãy ống chân những người đó và cất xuống". Những sự đóng đinh trên thập tự giá thường kết thúc trong nhiều ngày. Mục tiêu của sự đóng đinh nầy, là phương tiện đem lại cái chết sao cho đau khổ được kéo dài ra. Tuy nhiên, vì ngày hôm sau là ngày "Sabát" và là một "ngày trọng thể", ngày ăn bánh không men, người Do thái theo Phục truyền luật lệ ký 21.23 muốn những kẻ bị giết và thi thể của họ được dời xuống khỏi thập tự giá. Đập gãy xương chân của họ sẽ làm mất đi khả năng nâng gánh nặng thân thể của họ và họ sẽ mau chóng chết cái chết bị ngạt thở.
Giăng 19.32-35 cho chúng ta biết mấy tên lính đã đánh gãy chân của hai tên cướp kia, "Khi quân lính đến nơi Đức Chúa Jêsus, thấy Ngài đã chết rồi, thì không đánh gãy ống chân Ngài". Đúng thế, một tên lính "lấy giáo đâm ngang sườn Ngài" tức thì "máu và nước" chảy ra từ vết thương. Hành động đâm ấy được gọi là "chết đột quỵ".
Hơn nữa, trong các câu 36-37, Giăng chỉ ra có hai lời tiên tri đã được ứng nghiệm. Thi thiên 34.20 chép: "Ngài giữ hết thảy xương cốt người, chẳng một cái nào bị gãy". Xachari 12.10 chép: "… chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm". Vết thương từ mũi giáo lớn đến nỗi Chúa Jêsus bảo Thôma hãy thò tay ông ta vào đấy (Giăng 20.27).
John MacArthur viết: "…mấy tên lính, khi thấy Chúa Jêsus đã chết rồi, họ quyết định không đánh gãy xương của Ngài nữa. Thay vì thế, họ đã lấy giáo đâm vào sườn Ngài, để xác minh Ngài đã chết… nước và huyết có lẽ là thứ huyết thanh dư thừa tích tụ ở màng ngoài tim (màng bọc tim). Huyết là một sự chỉ ra rằng mũi giáo đã đâm trúng tim hay động mạch chủ cũng như màng ngoài tim. Sự thực cho thấy rằng huyết và nước đã tuôn ra riêng biệt từ một vết thương cho thấy rằng sự chết đã diễn ra ở thời điểm trước khi có vết thương đó, vì vậy huyết của Đấng Christ – ngay cả vùng tim – đã bắt đầu rồi quá trình kết đông".
Thi thể của Chúa Jêsus, một là bị ném vào ngôi mộ hoang nào đó, hoặc là bị ném vào cái lò lửa Gehenna nằm ở phía Nam thành phố, nếu như không có sự can thiệp của "Giô-sép", ông nầy "đến nơi Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus". Đức Chúa Trời đã sai phái Giô-sép đến thật đúng lúc. Nếu ông ấy đến sớm hơn, Chúa Jêsus sẽ không chết đâu. Nếu ông đến muộn hơn, sẽ không đủ thời gian sửa soạn cho thi thể để đem chôn trước khi ngày sa-bát bắt đầu.
Giô-sép là một "người giàu có", ông đã làm ứng nghiệm lời tiên tri của Êsai. Theo Mác 15.43, ông " là nghị viên tòa công luận có danh vọng, cũng trông đợi nước Đức Chúa Trời". Ông đã ngồi ở Toà Công Luận, nhưng theo Luca 23.51, ông: "không đồng ý và cũng không dự việc các người kia đã làm". Ông là "người chánh trực công bình" (Luca 23.50) ông đã đến từ "Arimathê" giả định là ở gần thành Jerusalem.
Giô-sép chính "là một môn đồ của Chúa Jêsus". Ông đã theo Chúa Jêsus "một cách kín giấu, vì sợ dân Giu-đa" (Giăng 19.38). Nếu ông theo Chúa Jêsus cách công khai, ông sẽ mất địa vị trên Toà Công Luận cũng như gia đình, sự nghiệp và sự giàu có của ông. Cho tới lúc nầy, giống như khi ông được cần tới hơn hết, Giô-sép mới "bạo gan" (Mác 15.43) đến xin Phi-lát để lấy xác của Chúa. Phi-lát không nhìn thấy một môn đồ tin kính nào trước mặt mình, mà là một thành viên của Toà Công Luận. Ông không còn muốn có nan đề nào khác nữa đối với người Do thái, vì vậy ông "bèn truyền cho".
Mặc dù ông có nhiều tôi tớ, dường như chính Giô-sép đã tự mình vác lấy cái xác. Ông không mong Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết hoặc ông đã không sửa soạn cho cái xác với nhũ hương và "một tấm vải liệm trắng".
Thực ra, Giăng nói cho chúng ta biết Giô-sép đã hiệp tác cùng với Nicôđem, một thành viên khác của Toà Công Luận (Giăng 3.1). Ông đã đem theo "độ một trăm cân một dược hòa với lư hội". "Vậy, hai người lấy xác Đức Chúa Jêsus, dùng vải gai và thuốc thơm gói lại, theo như tục khâm liệm của dân Giu-đa" (Giăng 19.39-40). Có lẽ "Mary Mađơlen" và "Mary khác" sau đó được thấy "ngồi đối ngang huyệt" đã trợ giúp cho họ (Mathiơ 27.61).
Mỉa mai dường bao, các môn đồ nào công khai đi theo Chúa Jêsus trong suốt đời sống Ngài đã bỏ trốn khi Ngài chịu chết. Tuy nhiên, các môn đồ nào đã đi theo Chúa Jêsus cách kín giấu trong suốt đời sống Ngài lại công khai phục vụ Ngài sau khi Ngài đã chết.
Sau cùng, Giô-sép đặt thi thể Chúa Jêsus "trong một cái huyệt mới mà người đã khiến đục cho mình trong hòn đá [một công việc đắt giá] đoạn, lăn một hòn đá lớn đến trước cửa mồ, rồi đi".
III. Hạng người gian ác mưu tính (các câu 62-66).
Hãy hình dung "các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si" gian ác, họ đã cẩn thận sắp đặt cuộc hành hình Chúa Jêsus. Đến ngày thứ Sáu, họ trở về nhà chúc tụng nhau về một việc làm quá mỹ mãn. Thế rồi, một nỗi lo lắng mới đã đến với họ suốt cả đêm. Họ nhớ lại rằng Chúa Jêsus có nói Ngài sẽ sống lại sau ba ngày (Mathiơ 12.38-40). Mặc dù họ không tin Ngài sẽ sống lại, họ sợ rằng các môn đồ Ngài sẽ đánh cắp lấy thi hài rồi công bố Ngài đã sống lại. Không nghi ngờ chi nữa, họ đã thất kinh khi hay được rằng hai trong số các thành viên quản trị Toà Công Luận đã đến lấy xác của Chúa Jêsus từ trên thập tự giá, sắm sửa cho thi hài ấy để lo chôn cất rồi đặt thi hài vào một ngôi mộ rất đắt tiền.
Hết thảy những điều nầy đã làm cho họ phải lo lắng nhiều đến nỗi: "Đến ngày mai (là ngày sau ngày sắm sửa)" đúng vào ngày thứ Bảy, là ngày Sabát [ngày sa-bát lễ vượt qua, một ngày rất thánh] họ "cùng nhau đến Phi-lát". Dường như họ đã gặp ông ta theo cách riêng tại Trường án. Họ đã lo lắng về thi thể của Chúa Jêsus đến nỗi họ đã vi phạm chính thói tục riêng của họ.
Họ nói: "Thưa chúa, chúng tôi nhớ người gian dối nầy [họ ghét Chúa đến nỗi họ không muốn nhắc tới tên của Ngài], khi còn sống, có nói rằng: Khỏi ba ngày thì ta sẽ sống lại". Họ nài nỉ: "Vậy, xin hãy cắt người canh mả cẩn thận [cùng một từ Hy lạp được sử dụng trong Công vụ Các Sứ Đồ 16.24 khi bắt giữ Phaolô và Sila] cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với chúng rằng: Ngài đã từ kẻ chết sống lại".
Nói cách khác: "Nếu chúng ta không đóng ấn và canh giữ ngôi mộ, các môn đồ của hắn sẽ lấy xác đi rồi nói rằng hắn đã sống lại từ kẻ chết và dân chúng dại dột, mê tín sẽ tin theo từng lời của cái xác đó. Hắn đã chết mà còn nguy hiểm hơn khi còn sống nữa".
Theo chính lời nói riêng của họ: "Sự gian dối sau đó sẽ tệ hơn sự gian dối trước".
Phi-lát bực tức nói: "Các ngươi có lính canh; hãy đi canh giữ theo ý các ngươi". Dường như ông ta đang cung cấp cho họ mấy tên lính trong thời gian ba ngày rồi truyền cho họ phải "canh giữ chắc chắn ngôi mộ" y như "niêm phong mả lại" và "cắt lính canh giữ". Con niêm có lẽ là một loại chất sáp mang hình quan tổng đốc chứng tỏ rằng nếu có ai không có thẩm quyền phá vỡ nó, kẻ ấy sẽ bị tử hình.
Đây đúng là một bối cảnh rất nghiêm trọng, hòn đá lớn, con niêm của đế quốc, binh lính thuần thục đang đứng gác với tư thế cẩn trọng ở trước ngôi mộ. Các cấp lãnh đạo dân Do thái đã tự chúc tụng mình một lần nữa khi giải quyết xong một vấn đề khác. Họ trở về nhà tin rằng mình đã cản trở được một trò chơi khăm.
Quả là họ không thể tin được, Đức Chúa Trời của tổ phụ họ đã sử dụng mọi hành động gian ác của họ để minh chứng rằng sự sống lại quả nhiên là sự thực và không thể là một cuộc chơi khăm đâu. Với sự chắc chắn như thế, không một ai dám tin rằng các môn đồ vụng về kia đến đánh cắp thi thể của Ngài. Thay vì dứt bỏ quan niệm về sự sống lại, họ đã minh chứng tính xác thật của sự sống lại đó!
Trải qua nhiều năm tháng, nhiều người chưa tin Chúa cùng các học giả đời nầy đã cố gắng đưa ra bằng chứng nghịch lại sự sống lại về phần xác của Đấng Christ. Một phụ nữ đã viết cho J. Vernon McGee, vị giáo sư dạy Kinh Thánh nổi tiếng qua đài phát thanh: "Vị giáo sư của chúng tôi nói rằng vào ngày Lễ Phục Sinh, Chúa Jêsus chỉ bất tỉnh trên thập tự giá và các môn đồ đã làm hô hấp nhân tạo cho Ngài tỉnh lại. Ông nghĩ sao?" Với cá tính xuất sắc và khôn ngoan, McGee đáp: "Thưa bà chị, hãy quất vị giáo sư ấy bằng 39 roi da bò cạp. Hãy đóng đinh ông ấy trên thập tự giá. Hãy treo ông ấy giữa trời trong 6 tiếng đồng hồ. Hãy đâm ngọn giáo qua trái tim của ông ta. Hãy ướp xác ông ta. Hãy đặt ông ta vào ngôi mộ không có không khí trong ba ngày. Kế đó, hãy chờ xem điều gì xảy ra".
Đức Chúa Trời cao cả của chúng ta là toàn năng và toàn tri! Mặc dù loài người đưa ra mọi quyết định, Ngài đang nắm quyền tể trị từng cục diện trong cuộc sống! Giô-sép vị tộc trưởng, đã nói với các người anh chuyên lừa gạt của mình như sau: "Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi" (Sáng thế ký 50.20).
Rôma 8.28 bảo đảm với chúng ta: "Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định". Dường như khi hoàn cảnh đang nghịch lại với quí vị, hãy nhớ rằng Ngài là Đấng đang nắm quyền tể trị hoàn cảnh, Ngài đang hiệp mọi sự lại đặng làm ích cho quí vị đấy!
***

Mathiơ 27.45-54: "Những hiển thị lạ lùng khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Những hiển thị lạ lùng khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá
Mathiơ 27.45-54
Sự chết, sự chôn và sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ là đỉnh cao của lịch sử. Không một biến cố nào khác, bất luận có làm choáng cả đất thể nào đi nữa cũng không bằng sự kiện đó. Các sách tin lành dường như chia 6 giờ đồng hồ sự đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá thành hai phần. Theo Mác 15.25, Chúa Jêsus đã bị đóng đinh vào thập tự giá vào "giờ thứ ba" hay 9 giờ sáng. Ngài bị treo ở đó cho tới "giờ thứ chín" hay trong khoảng thời gian 6 tiếng đồng hồ.
Trong ba giờ đầu tiên đó, từ 9 giờ sáng cho tới giữa trưa, Chúa Jêsus đã đưa ra ba câu nói. Luca 23.34 cho chúng ta biết một thời gian ngắn sau khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài đã kêu lên: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì". Tất nhiên là họ hiểu rõ họ sẽ làm gì, nhưng họ lại chẳng hiểu tầm mức quan trọng nơi mọi hành động của họ. Họ không biết họ đang đóng đinh Con của Đức Chúa Trời trên thập tự giá: "bởi chưng, nếu đã biết thì họ chẳng đóng đinh Chúa vinh hiển trên cây thập tự đâu" (I Côrinhtô 2.8). Chúa Jêsus đã cầu xin sự tha thứ cho bất kỳ ai trong số họ biết ăn năn. Hàng ngàn người trong số họ một vài ngày sau đó đã có mặt trong dịp lễ Ngũ Tuần!
Thứ hai, khi một trong hai tên cướp bên cạnh Ngài nài xin: "Lạy Chúa, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!". Chúa Jêsus đã giàu ơn đáp: "Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi" (Luca 23.42-43). Chúa Jêsus không nói: "Ngươi sẽ ở trong nơi Ba-ra-đi" mà là "Ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi". Thiên đàng không phải là một địa điểm mà đó là một Thân Vị!
Thứ ba, Chúa Jêsus đã tiếp trợ cho Mary mẹ Ngài. Chỉ về Giăng, Ngài phán: "Hỡi đàn bà kia, đó là con của ngươi!" Đối với Giăng, Ngài phán: "Đó là mẹ ngươi!" (Giăng 19.26-27). Dù ở trong chỗ đau đớn thật nhiều, Chúa Jêsus đã nghĩ tới nhiều người khác.
Các sách Tin lành dường như tập trung vào phương diện thuộc thể của sự Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá trong suốt 3 tiếng đồng hồ đầu tiên. Tuy nhiên, như chúng ta nhìn thấy từ phân đoạn Kinh Thánh gốc, trong 3 giờ đồng hồ sau đó, từ giữa trưa cho tới 3 giờ chiều, mục tiêu dường như đặt vào những sự hiển thị lạ lùng kèm theo sự chết chuộc tội của chúa tể trời và đất.
Trong bài nghiên cứu nầy, chúng ta sẽ xem xét bảy hiển thị lạ lùng của sự đóng đinh trên thập tự giá.
I. Bầu trời trở nên tối tăm (câu 45).
Quí vị có nhớ các sự cố lạ lùng xây quanh sự giáng sinh của Chúa Jêsus không? Chúa Jêsus ra đời vào lúc ban đêm, dưới sự che phủ của bóng tối tăm. Tuy nhiên, khi các thiên sứ loan báo sự giáng sinh của Ngài cho mấy gã chăn chiên biết, bóng tối tăm đã bị phá vỡ bởi một thứ ánh sáng siêu nhiên khi "sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh".
Mỉa mai dường bao, Chúa Jêsus đã chịu chết vào lúc giữa trưa, khi mặt trời mọc ở đỉnh cao nhất của nó. Câu 45 chép như sau: "Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt". Giống như một thứ ánh sáng siêu nhiên xuyên thủng bóng tối tăm mù mịt của ban đêm khi Ngài giáng sinh, một thứ tăm tối siêu nhiên đã che phủ ánh sáng ban ngày lúc Ngài chịu chết.
Hãy tưởng tượng bối cảnh khi ấy xem! Hãy tưởng tượng đoàn dân đông đến xét đoán Chúa Jêsus, những kẻ đứng chế giễu Ngài giống như “bóng tối tăm” quái dị đã che phủ đất vào lúc giữa ban ngày xem. Từ ngữ Hy lạp dịch "xứ" cũng có nghĩa là "đất" nữa. Chúng ta không biết bóng tối tăm nầy dày đặc bao nhiêu. Không những nó che phủ trên thành Jerusalem, mà nó còn che phủ cả đất nữa.
Mặc dù Kinh Thánh đặc biệt không nói tới mục đích của “bóng tối tăm” nầy, các rabi đã xem bóng tối tăm nầy nói tới sự phán xét của Đức Chúa Trời. Một triết gia người Ai cập có tên là Diogenes đã nói: "Một là chính thần tính của Ngài đã chịu khổ trong giờ phút nầy, hoặc là Ngài đang đồng cảm với Đấng đang chịu khổ kia". Tôi tin hiện tượng nầy đã biểu thị cho sự phán xét của Đức Chúa Trời vì tội lỗi của nhân loại và nỗi buồn rầu của Ngài khi Con của Ngài phải hy sinh như thế.
II. Cứu Chúa kêu la (các câu 46-47).
Sau khi "bóng tối tăm" che phủ bầu trời trong ba giờ đồng hồ, "ước chừng giờ thứ chín" hay 3 giờ chiều, "Đức Chúa Jêsus kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma sa-bách-ta-ni?" Mathiơ giải thích các từ ngữ Hêbơrơ nầy cho chúng ta biết. Chúng có nghĩa là: "Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! sao Ngài lìa bỏ tôi?"
Hầu hết các học viên Kinh Thánh đều biết rõ, có phải "mấy người đứng ở đó" nghe Chúa Jêsus thốt ra lời lẽ của Thi thiên 22.1: "Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? Nhân sao Ngài đứng xa, không giúp đỡ tôi, và chẳng nghe lời rên siếc tôi?" không? Họ đã chế giễu Ngài vì đã xưng mình là Con Đức Chúa Trời (câu 43), họ tiếp tục cuộc nhiếc móc nầy bằng cách nói: "Nó kêu Êli".
Câu nầy là một trong những lẽ mầu nhiệm của Kinh Thánh. Không cứ cách nào đó, trên thập tự giá, Đức Chúa Con đã bị phân rẽ ra khỏi Đức Chúa Cha. Lầy duy nhứt trong lịch sử, Chúa Jêsus không còn là một với Cha của Ngài nữa. Chúa Jêsus đã gánh lấy tội lỗi của thế gian trên chính mình Ngài. Ngài đã bị che phủ với sự ô uế cùng cực của từng tội lỗi của từng con người trong dòng giống của Ađam. Trong sự thánh khiết của Ngài, Đức Chúa Cha dường như xây mặt Ngài khỏi Đức Chúa Con đã khoác lấy chiếc áo tội lỗi.
Habacúc 1.13 chép về Đức Giêhôva như sau: "Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược". Tội lỗi đã phân rẽ Đức Chúa Con ra khỏi Đức Chúa Cha … tội lỗi của chúng ta.
Sự thật nầy mầu nhiệm đến nỗi Martin Luther đã bước vào chỗ kín đáo, riêng tư trong một thời gian khá lâu để tìm kiếm và hiểu rõ nó. Ông đã chịu thua và rút lui lại như khi ông bắt đầu.
Chúng ta chỉ có thể dám chắc mọi điều mà Kinh Thánh đã nói. Êsai 53.5 chép: "Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương…" Rôma 4.25 chép: "Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta". I Côrinhtô 15.3 chép: "Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh". II Côrinhtô 5.21 chép như sau: "Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời". Galati 3.13 chép: "Đấng Christ … đã nên sự rủa sả vì chúng ta". I Phierơ 2.23 chép Ngài: "Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ". I Phierơ 3.18 chép: "Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình". 1 Giăng 2.2 chép: "Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa".
Trong một phương thức mầu nhiệm, không thể tưởng được, không những Chúa Jêsus đã gánh chịu nỗi khổ đau hết mức về phần xác trên thập tự giá, mà Ngài còn gánh chịu nỗi đau khổ khôn tả xiết của sự bị phân rẽ ra khỏi Cha của Ngài khi Ngài gánh lấy tội lỗi của chúng ta. Chỉ có Đức Chúa Trời mới thấu hiểu hết chiều sâu của sự hy sinh ấy mà thôi.
Chúa Jêsus không thôi là Con của Đức Chúa Trời giống như quí vị có thể thôi là bố mẹ của con trai hay con gái của mình. Ngài không mất đi thần tính của mình, nhưng trong một thời gian ngắn, Ngài đã mất đi mối giao thông mật thiết với Đức Chúa Cha.
III. Trút linh hồn (các câu 48-50).
Giăng 19.28 cho chúng ta biết rằng đến lúc đó, Chúa Jêsus kêu lớn tiếng lên: "Ta khát". Có ai đó, có lẽ là tên lính La mã: "chạy lấy một miếng bông đá, và thấm đầy dấm, để trên đầu cây sậy mà đưa cho Ngài uống". Giăng nói đó là một miếng "bông đá” thấm đầy giấm. Đây không phải là một hành động thương xót đâu, nhưng là để kéo dài nối đau khổ của kẻ tội phạm mà thôi.
Rõ ràng, "những kẻ khác", các cấp lãnh đạo Do thái trong đám đông kia đã chống lại sự giúp đỡ nầy. Họ nói: "Hãy để vậy, coi thử có Ê-li đến giải cứu nó chăng". Chẳng có chi hết, thậm chí bóng tối tăm không làm cho họ phải bối rối, họ cũng chẳng đổi ý muốn nhìn xem Chúa Jêsus phải gục chết.
Có lẽ Chúa Jêsus đã sử dụng tính ẩm ướt của miếng “bông đá” kia để làm sạch cổ họng của mình vì "Ngài kêu lên một tiếng lớn nữa". Dù Ngài đã chịu khổ như thế rồi, Ngài vẫn có một sự dự trữ về sức lực.
Sự sống của Chúa Jêsus không bị tách ra khỏi Ngài khi Ngài càng lúc càng yếu đi. Thay vì thế, Ngài "đã trút linh hồn". "Trút" ra từ một chữ có nghĩa là "để cho đi hay sai đi, chỉ ra một hành động tự nguyện". Chúa Jêsus vốn biết rõ cái giá phải trả. Ngài biết rõ thời điểm đã đến gần. Ngài đã gánh chịu đủ rồi.
Tôi luôn luôn tin mẹ tôi đã chờ đợi cho tới khi sau khi tôi rời khỏi phòng bịnh viện của bà, trước khi bà trút linh hồn. Bà cứ kéo dài bao lâu tôi còn ở bên bà, và sau đó bà đã ra đi.
Lấy hết sức lực mình, Ngài kêu lên vào lúc sau cùng: "Mọi sự đã được trọn!" (Giăng 19.30) và nói: "Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha!” Luca còn thêm: "Ngài vừa nói xong thì tắt hơi” (Luca 23.46).
Mặc dù bị treo trên thập tự giá, Chúa Jêsus vẫn nắm lấy quyền tể trị trên toàn bộ bối cảnh nầy. Ngài đã phán về sự sống của Ngài trong Giăng 10.18: "Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại; ta đã lãnh mạng lịnh nầy nơi Cha ta".
Những sự đóng đinh trên thập tự giá thường kết thúc lâu hơn là sáu tiếng đồng hồ. Đôi khi nó kéo dài qua nhiều ngày. Khi Giô-sép người Arimathê đến xin Phi-lát để lấy xác của Chúa Jêsus, quan Tổng đốc: "lấy làm lạ về Ngài đã chết mau như vậy" nên đã sai một thầy đội đến xác nhận lại thông tin đó.
IV. Bức màn đền thờ bị xé rách làm hai (câu 51a).
Kế đó, Mathiơ chép: "Và nầy [‘Wow! Đừng lẫn lộn ở đây!’ – sự giải thích của tôi] cái màn trong đền thờ, bị xé ra làm hai từ trên chí dưới". Phần nơi thánh bên trong đền thờ, là Nơi Chí Thánh bị chia ra với nơi thánh ở bên ngoài bằng một bức màn lớn khoảng 60 feet chiều cao, 30 feet chiều rộng và bề dày bằng lòng bàn tay của quí vị vậy. Sử gia Josephus nói bức màn có màu xanh nước biển và được trang hoàng rất công phu. Mỗi năm, vào ngày lễ chuộc tội, thầy tế lễ thượng phẩm phải bước qua bức màn để rãi huyết trên ngôi thương xót là biểu tượng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Đúng giờ đó, khi Chúa Jêsus gục chết "bức màn bị xé ra làm hai". Đặc biệt hãy chú ý, bức màn bị xé ra làm hai "từ trên chí dưới". Giống như có một thanh gươm rọc bức màn vậy. Nó bị rọc "từ trên chí dưới" vì Đức Chúa Trời đã xé nó, chớ không phải con người đâu.
Không có cần có một bức màn hay một thầy tế lễ thượng phẩm con người để dâng con sinh tế nữa. Khi Chúa Jêsus hoàn tất công tác của Ngài trên thập tự giá, bất kỳ người nào muốn bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời đều nhờ vào đức tin nơi Ngài. Của lễ một lần đủ cả đã được lập rồi. Vì thế Hêbơrơ 4.16 chép: "Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng".
V. Đất rúng động (câu 51b).
Đúng lúc đó, khi Chúa Jêsus "kêu lên một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn" không những bức màn đền thờ bị xé ra làm hai, mà "đất thì rúng động [lay động mạnh], đá lớn bể ra". Đây chẳng phải là động đất tình cờ đâu, mà là một dấu chỉ về sự phán xét của Đức Chúa Trời.
Nhiều lần xuyên suốt Cựu ước, những trận động đất đều kèm theo sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Thí dụ, khi Đức Chúa Trời gặp gỡ Môise trên Núi Sinai: "lớn kia, và cả hòn núi đều rung động cách kịch liệt" (Xuất Êdíptô ký 19.18). khi Đức Giêhôva hiện ra với tiên tri, I Các Vua 19.11 chép: "Nầy Đức Giê-hô-va đi ngang qua, có một ngọn gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Ngài, xé núi ra, và làm tan nát các hòn đá…Sau trận gió có cơn động đất". Trong nhiều phân đoạn Kinh Thánh khác, chúng ta thấy đất lay động trong sự hiện diện của Đức Giêhôva.
Quí vị có nhớ Chúa Jêsus đã phán gì về những kẻ đến thờ phượng lúc Ngài vào thành đắc thắng không? Ngài phán trong Luca 19.40: "Ta phán cùng các ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên". Trong khi Ngài bị treo trên thập tự giá, chẳng có ai ca hát hay hô lên những lời ca ngợi Ngài nữa, nhưng một cơn động đất siêu nhiên đánh dấu sự hoàn tất công tác cứu chuộc của Ngài hay loan báo trước sự phán xét hầu đến của Đức Chúa Trời.
VI. Kẻ chết sống lại (các câu 52-53).
Khi "đất thì rúng động, đá lớn bể ra" Mathiơ nói rằng "mồ mả mở ra". Sự nầy chẳng phải là bất thường trong một cơn động đất, nhưng bất thường ở chỗ "nhiều thây của các thánh qua đời được sống lại".
Không phải hết thảy mà là "nhiều" linh hồn của các thánh đã hiệp lại với thân thể của họ đã được làm cho vinh hiển. Họ báo trước sự Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá mọi điều sẽ kèm theo công việc của Ngài trong thời kỳ sau rốt khi "kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại" (I Têsalônica 4.16).
Bãn dịch tiếng Anh có chỗ không đúng lắm. Ở đấy chép các thánh độ Cựu ước nầy không ra khỏi mồ mả cho tới sau khi Ngài sống lại. Tuy nhiên, ý nghĩa cho thấy rằng "Sau khi Đức Chúa Jêsus đã sống lại, các thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào thành thánh, và hiện ra cho nhiều người thấy". Họ không đi thẳng vào thành Jerusalem cho tới sau khi Chúa Jêsus sống lại hầu cho Ngài trở thành "trái đầu mùa của những kẻ đã ngủ" (I Côrinhtô 15.20).
VII. Thầy đội La mã tin quyết (câu 54).
"Thầy đội" là một sĩ quan chỉ huy hơn 100 lính. Ông và "những lính cùng với người" đã giám sát và canh chừng cuộc đóng đinh trên thập tự giá, họ đã trông thấy những điều đã xảy ra cho Chúa Jêsus. Có lẽ họ đã có mặt trong bọn đông người đến bắt Ngài tại vườn Ghếtsêmanê. Chắc chắn họ đã trông thấy Ngài bị sĩ nhục tại trường án. Có thể họ có mặt giữa vòng những kẻ đã chế giễu Ngài và đã đội chiếc mão gai trên đầu Ngài. Dĩ nhiên họ là những người đã đóng xuyên các mũi đinh vào hai bàn tay, hai bàn chân Ngài và bóc thăm lấy áo xống của Ngài.
Chắc chắn bóng tối tăm thình lình lúc giữa trưa đã làm cho họ phải khó chịu. Tuy nhiên, khi đất bắt đầu lay động mạnh và đá thì bễ ra: "họ sợ hãi lắm". "Sợ hãi" được rút ra từ chữ phobeo từ đó chúng ta có chữ "phobia" [khiếp đảm]. "Thầy đội La mã" cùng lính của ông đã ý thức được rằng đây không phải là một bối cảnh lạ lùng nào đó, mà là mọi điều Chúa Jêsus đã phán đều là sự thực. Họ hô lên: "Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời".
Chẳng có phép lạ nào lớn lao hơn khi Đức Chúa Trời biến đổi bất kỳ người nào từ một tội nhân cứng lòng thành một thánh đồ biết hạ mình. Có lẽ bằng chứng quan trọng nhất về công tác của Chúa Jêsus trên thập tự giá, ấy là những kẻ đã khởi sự ngày sĩ nhục Ngài nhưng lại hoàn tất ngày ấy trong sự tôn kính Ngài.
Có nhiều điều thú vị sau khi đánh bom Trân Châu Cảng bởi không quân Nhật bản vào ngày 7 tháng Chạp năm 1941. Có ít người biết câu chuyện lạ lùng kể về Mitsuo Fuchida. Ông là phi công trưởng lực lượng không quân thuộc Hải quân Nhật bản vào năm 1941 và được lịnh chỉ huy chiến dịch tấn công vào Trân Châu Cảng. Giọng chỉ huy của Fuchida ban ra sứ điệp "Tora! Tora! Tora!" (Cọp! Cọp! Cọp!) chỉ ra sự thành công của chiến dịch ấy. Ông đã có mặt trong nhiều chiến dịch khác rồi bị bắn hạ trong chiến trận Midway vào năm 1942. Jacob DeShazer là thành viên của trận đột kích Doolittle. Bị bắn hạ trong chiến dịch đánh bom trên thủ đô Đông Kinh, ông bị bắt giữ làm tù binh chiến tranh tại Trung quốc. Ở đấy ông đã gặp gỡ Đấng Christ. Ông thấy tấm lòng mình nhẹ nhàng đi đối với các lính canh Nhật bản. Sau khi được thả tự do, ông đã viết một bài tiểu luận ngắn được phân phối cách rộng rãi với đề tựa: "Tôi là tù binh của người Nhật", mô tả chi tiết mọi kinh nghiệm làm tù binh, được biến đổi và sự tha tội. Fuchida và DeShazer gặp nhau vào năm 1950. DeShazer đã trở lại Nhật bản vào năm 1948 trong vai trò một giáo sĩ. Fuchida đã đọc bài làm chứng của DeShazer, đã mua một quyển Kinh Thánh, rồi được biến đổi từ Phật giáo sang Cơ đốc giáo. DeShazer đã tiếp đón vị tân tín hữu nầy và đã khích lệ ông chịu phép báptêm. Trong khi DeShazer cứ tiếp tục mở mang các Hội Thánh khắp nước Nhật, Fuchida đã trở thành một vị giáo sĩ, lo rao giảng Tin lành khắp nước Nhật. Ông qua đời vào ngày 30 tháng 5 năm 1976. Ông viết: "Buổi sáng hôm ấy [ngày 7 tháng Chạp] …tôi đã vén bức màn chiến tranh bằng cách ban ra mạng lịnh đáng rủa sả đó, và tôi đã đặt hết toàn bộ nổ lực của mình vào cuộc chiến nối theo sau.… [Thế nhưng] sau khi mua và đọc quyển Kinh Thánh, lý trí của tôi cảm thấy có ấn tượng rất mạnh mẽ và bị bắt phục. Ngày nay tôi nghĩ tôi có thể nói không có gì phải lưỡng lự rằng ân điển của Đức Chúa Trời đã giáng trên tôi" (Elesha Coffman, trong quyển Bên kia Trân Châu Cảng).
***

Mathiơ 27.27-44: "Điều tốt nhứt của Đức Chúa Trời,Điều tệ hại nhất của con người"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Điều tốt nhứt của Đức Chúa Trời, Điều tệ hại nhất của con người
Mathiơ 27.27-44
Án tử hình, án phạt chính, án chết, đây là những vấn đề tranh cãi gay gắt nhất trong xứ sở của chúng ta ngày nay. Chỉ cách đây có mấy ngày thôi, kẻ giết người tệ hại nhất trong lịch sử nước Mỹ đã bị hành quyết ở Terra Haute, Indiana, án tử hình đầu tiên đã được thực thi bởi nhà cầm quyền liên bang kể từ đầu thập niên 1960. Nếu có ai đáng bị án tử hình, thì đó phải là Timothy McVeigh, là người đã công khai nhìn nhận hoạch định đánh bom làm chết 168 người ở thành phố Oklahoma vào năm 1995.
Nếu có ai không đáng bị án tử hình, thì đó phải là Đức Chúa Jêsus Christ. Chiên Con vô tội của Đức Chúa Trời đã bằng lòng phó sự sống vô tội của Ngài vì cớ tình trạng tội lỗi của chúng ta. Tác giả thánh ca lỗi lạc Isaac Watts đã viết: "Thương vì vua tôi thân hình đẫm máu. Con Trời nay chết thế sao? Gẫm tấm thân tôi, đáng giá con sâu. Chúa phải dâng thánh thủ sao? Thay vì tôi Jêsus chịu ác báo, trên thập tự cam khổ đau. Biển ái non ân quá đỗi sâu cao. Chẳng có chi sánh nổi đâu!"
Thực vậy, thập tự giá tiêu biểu cho điều tốt nhứt của Đức Chúa Trời và là điều tệ hại nhứt của con người. Thập tự giá là đỉnh cao tối hậu của lịch sử cứu chuộc, là sự khải thị trọn vẹn của ân điển Đức Chúa Trời, là tình yêu thương và lòng thương xót dành cho nhân loại. Tuy nhiên, nó phác hoạ thật trọn vẹn sự băng hoại hoàn toàn tội lỗi của con người. Trong sự đóng đinh trên thập tự giá, chúng ta nhìn thấy chỗ cao cả nhất của Đức Chúa Trời và chỗ thấp hèn nhất của con người. Mỗi trước giả sách Tin lành phác hoạ ra những phương diện khác nhau của đời sống Chúa Jêsus. Trong sự đóng đinh trên thập tự giá, Giăng dường như tập trung vào hành động yêu thương và ân điển cả thể của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Mathiơ dường như quyết tỏ ra giờ tối tăm nhất tình trạng tội lỗi của con người đối chiếu với sự hy sinh của Con độc sanh Đức Chúa Trời.
Sự băng hoại tăm tối của con người đã được thấy rõ trong sự tra tấn từ phía mấy tên lính, sự sĩ nhục của hai tên cướp, sự chế giễu của kẻ qua đường và sự nhạo báng của các cấp lãnh đạo tôn giáo.
I. Sự tra tấn từ mấy tên lính (các câu 27-37).
A. Sự ngược đãi trong Trường án (các câu 27-31).
Chúng ta nhớ từ bài nghiên cứu vừa qua rằng quan Tổng đốc La mã, Phi-lát đã không cự nổi sự doạ dẫm của Toà Công Luận. Mặc dù ông ta biết rõ Chúa Jêsus không phạm vào một tội nào hết, ông ta đã chọn động cơ chính trị cá nhân và làm thoả mãn bọn dân đông kia bằng cách phó Chúa Jêsus để bị đóng đinh trên thập tự giá (câu 26). Vì thế, ông ta đã giao Ngài qua cho lính canh bên Trường án. Mathiơ đề cập tới họ trong câu 27 là: "lính của quan Tổng đốc". Có lẽ họ là đội quân xuất sắc trong đoàn quân viễn chinh La mã.
"Mấy tên lính" đã dẫn Chúa Jêsus vào trong công đường và "nhóm cả cơ binh vây lấy Ngài". Một cơ binh La mã gồm có 600 người. Rôma thường động viên bắt lính đi chinh phục các nước. Vì hầu hết người ta sẽ không đánh trận nghịch lại chính xứ sở của họ, họ thường sử dụng những người từ xứ đối nghịch để tuần tra các vùng lãnh thổ họ đã chiếm đóng. Nhiều người tin rằng cơ binh của Phi-lát gồm toàn người Syri khi họ rất ghét người Do thái, nhưng vẫn nói theo ngôn ngữ của họ.
Đối với mấy tên lính, Chúa Jêsus chỉ là một người Do thái khác bị kết án mà thôi. Họ được tự do ngược đãi nhiều và lâu Ngài bao nhiêu theo ý họ muốn, và họ chẳng giết chết Ngài. Sau khi biết rõ các bản án nghịch lại Ngài rồi, và Ngài tự xưng mình là Vua nữa, họ đã thể hiện một sự chế giễu rất nghiệt ngã.
Thứ nhứt, họ "cổi áo Ngài ra, lấy áo điều mà khoác cho Ngài". Hãy nhớ, Phi-lát đã cho “đánh đòn” Ngài rồi (câu 26). Da của Ngài đã bị rách nát từ vai xuống quá khỏi mông của Ngài. Họ đã lột bỏ khỏi Ngài áo xống không có đường may rồi khoác chiếc "áo điều" quanh vai của Ngài. Đây có lẽ là một trong những áo choàng không tay kiểu quân đội của họ. Mác và Giăng nói rằng chiếc áo có màu "điều" (Giăng 19.2; Mác 15.17). Màu điều là màu truyền thống của hoàng gia và "áo điều" là áo rất hạn chế đối với họ.
Mặc dù đây không phải là chủ ý của họ, khi mấy tên lính khoác cho Chúa Jêsus chiếc "áo điều" đó, họ đã làm biểu tượng thể nào Ngài không bao lâu nữa sẽ khoác lấy tội lỗi màu điều của cả nhân loại. Trong Êsai 1.18, Đức Giêhôva phán: "Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên". Chúa Jêsus đã tình nguyện khoác lấy tội lỗi đỏ như son trên chính mình Ngài.
Kế đó, mấy tên lính "đã đương một cái mão gai" rồi tròng nó lên trên đầu Ngài. Không nghi ngờ chi nữa, cái mão nầy giả bắt chước theo vòng nguyệt quế mà Xê-sa đã đội trên đầu. "Mão gai" cũng có tính cách tượng trưng. Một phần trong lời rủa sả của Sự Sa Ngã là "gai góc và chà chuôm" nó hành hại con người (Sáng thế ký 3.18). Chúa Jêsus đã gánh chịu sự sĩ nhục của chiếc "mão gai" cho thấy Ngài đã gánh lấy sự rủa sả của Sự Sa Ngã vì ích cho chúng ta.
Mấy tên lính cũng để "một cây sậy trong tay hữu Ngài" rồi "quì xuống trước mặt Ngài mà nhạo báng" bằng câu nói "Lạy Vua của dân Giu-đa". Cây "sậy" tiêu biểu cho cây trượng của nhà vua, tiêu biểu cho quyền lực. Thay vì cúi mình xuống khiêm nhường trước mặt Vua các vua, chúng đã "nhổ trên Ngài" rồi "lấy cây sậy đánh đầu Ngài".
Khải huyền 19.15 cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus một ngày kia sẽ "cai trị họ bằng một cây gậy sắt". Thay vì là cây "sậy" Ngài sẽ "đánh các nước" bằng một "lưỡi gươm bén" và “giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng”.
Sau cùng cuộc chơi đã qua đi. Toàn bộ bối cảnh được vẽ ra rất tàn nhẫn để sĩ nhục hết mức luôn. Nhưng khi mấy tên lính thấm mệt sự sĩ nhục vô tâm của chúng, chúng "cổi áo điều ra" mà "mặc áo của Ngài lại" rồi kế đó "đem Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự".
Chính tại điểm nầy mà Giăng nói cho chúng ta biết Phi-lát đã thử lần cuối cùng làm thoả mãn bọn dân đông kia đang thèm thuồng sự chết của Ngài. Một lần nữa, chúng ta hãy đọc Giăng 19.4-16.
B. Một người mang thế thập tự giá (câu 32).
Nhiều học giả Kinh Thánh khác nhau phác hoạ người mang thập tự một cách khác nhau. Có người cho rằng Ngài chỉ mang phần ngang của cây thập tự mà thôi, nhưng dường như có lẽ Ngài đã mang toàn bộ thập tự giá đó, nặng khoảng 200 pounds. Phần sĩ nhục công khai của sự đóng đinh vào thập tự giá là phải vác lấy công cụ cho cái chết của chính mình ngang qua những con đường hẹp, quanh co và đông người ở thành Jerusalem.
Chúa Jêsus đã chịu khổ thật là khủng khiếp. Đêm trước đó Ngài đã không ngủ một chút nào rồi. Gương mặt của Ngài bị đánh đòn be bét máu. Ngài đang mang lấy những vết thương lở loét do đòn vọt của người La mã. Hãy nhớ, sự kinh khủng về mặt tình cảm và về mặt tâm linh khi trở thành của lễ cho tội lỗi gần như đã giết chết Ngài ở trong vườn (26.38). Ngài không còn chút sức lực nào để vác lấy thập tự giá nữa.
Điều nầy rất rõ ràng vì "khi họ đi ra" khỏi công đường, mấy tên lính "gặp một người ở thành Sy-ren" tên là "Simôn" thì bắt người "vác cây thập tự".
"Simôn" là cái tên rất phổ thông. "Syren" là một thành phố nằm ở Bắc Phi châu với dân cư Do thái rất đông đúc. Mác nói: "Simôn ở ngoài ruộng về, đi ngang qua đó", rõ ràng là một khách hành hương người Do thái (15.21). Thêm nữa, Mác nói rằng ông là "cha A-léc-xan-đơ và Ru-phu". Hai người nầy dường như rất quen thuộc đối với Mác và các độc giả của ông tại Rôma. Trong Rôma 16.13, sứ đồ Phaolô nói: "Hãy chào Ru-phu, người được chọn của Chúa, và chào mẹ người, cũng là mẹ tôi".
Dường như việc Simôn vác thập tự giá của Chúa Jêsus không những đã đưa ông đến với đức tin, mà còn cả gia đình của ông nữa. Việc vác thập tự giá của Đấng Christ đã đánh dấu cho thấy ông đã dâng phần đời còn lại cho Chúa.
Luca cho chúng ta biết rằng chính ở phần mở đầu đám rước khủng khiếp nầy mà Chúa Jêsus đã ban ra bài giảng sau cùng công khai với mấy người đờn bà ở thành Jerusalem, họ đang kêu khóc ở đàng sau Ngài. Trong Luca 23.28-31 Ngài phán: "Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi. Vì nầy, ngày hầu đến, người ta sẽ nói rằng: Phước cho đàn bà son, phước cho dạ không sanh đẻ và vú không cho con bú! Bấy giờ, người ta sẽ nói với núi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta! với gò rằng: Hãy che chúng ta! Vì nếu người ta làm những sự ấy cho cây xanh, thì cây khô sẽ xảy ra sao?" Nếu người La mã đã ngược đãi tồi tệ một người vô tội, họ còn đối xử với dân Israel phạm tội nhiều dường bao. Lời tiên tri nầy đã thành hiện thực với lần bao vây của các binh đoàn của Titus vào năm 70SC.
C. Đồi Gôgôtha (các câu 33-37).
Chúa Jêsus bị dẫn ra "một chỗ gọi là Gôgôtha, nghĩa là chỗ Cái Sọ". Luật pháp Môise cấm hành quyết ở bên trong thành phố, vì vậy Chúa Jêsus phải "chịu khổ tại ngoài cửa thành" (Hêbơrơ 13.12). Địa điểm cho sự đóng đinh trên thập tự giá đã được gọi theo một từ Aram là "Gôgôtha" có nghĩa là cái "sọ". Chữ Latinh là calvaria từ đó chúng ta có chữ "Calvary". Danh xưng nầy được đọc theo hình dáng của sườn núi.
"Gôgôtha" nằm bên cạnh con đường có nhiều người qua lại, nó dẫn vào thành phố. Quân La mã đã đóng đinh các tội phạm ở một chỗ cao ráo có lưu thông qua lại nhiều hay trên sườn đồi vì họ muốn nhiều người phải nhìn thấy điều chi xảy ra cho những kẻ chống đối lại luật lệ của La mã.
Câu 34 chép rằng họ "cho Ngài uống rượu trộn với mật đắng". Nhiều người tin đây là một loại thức uống có chất ma túy làm cho kẻ tội phạm thấy thoải mái khi các mũi đinh đóng vào thân thể hầu cho họ không phải vật vã nhiều. Châm ngôn 31.6 cho thấy rằng một số phụ nữ Do thái đã có cách "ban vật uống say cho người gần chết". Có lẽ chính mấy người đờn bà đã đưa thức uống nầy cho Chúa Jêsus.
Kinh Thánh chép: "song Ngài nếm", khi Ngài biết mục đích gây tê của nó "thì không chịu uống". Chúa Jêsus đã quyết định uống cho tới cặn cái chén thạnh nộ của Đức Chúa Trời và tội lỗi của chúng ta. Ngài không thu nhỏ lại cấp độ đầy trọn của sự Ngài chịu khổ vì ích cho chúng ta. Ngài chấp nhận toàn bộ cái chén ấy trong chỗ của chúng ta.
Câu 35 chép: "Họ đã đóng đinh Ngài trên cây thập tự rồi". Sự đóng đinh trên thập tự giá rất phổ thông đối với hạng độc giả trong thế kỷ đầu tiên đến nỗi các trước giả Tin lành cung ứng rất ít chi tiết. Tuy nhiên, lịch sử của người La mã cung cấp cho chúng ta với nhiều phân tích rất sinh động. Thứ nhứt, Chúa Jêsus đã bị lột hết áo xống của Ngài rồi bị đặt nằm trên cây thập tự. Kế đó một cây đinh lớn đóng ngay giữa hai xương cổ tay gần mạch máu. Theo thuật ngữ của Kinh Thánh, bàn tay có ý nói tới khu vực từ cùi chỏ ra tới ngón tay. Những xương nhỏ trong lòng bàn tay không thể nâng được sức nặng của cả thân thể. Tiếp đến, hai đầu gối của Chúa Jêsus bị gấp cong lại nơi mắt cá và một cây đinh được đóng thấu cả hai bàn chân vào thân gỗ. Hai đầu gối bị uốn cong khiến cho tội phạm phải chỏi trên cây đinh để phổi có thể hít lấy hơi được. Sau cùng, thập tự giá được dựng đứng lên và cho lọt vào một cái lỗ đào sẵn ở trên mặt đất. Hãy tưởng tượng nỗi đau kinh khủng lần qua cả toàn thân của Chúa Jêsus khi cây thập tự đụng đến đáy lổ đó xem! Có lẽ đây là điều mà Thi thiên 22.14 muốn nói: "Các xương cốt tôi đều rời rã; Trái tim tôi như sáp, Tan ra trong mình tôi".
Hãy lắng nghe phần mô tả nầy nói tới cái chết khi bị đóng đinh trên thập tự giá: "Tình trạng cực kỳ độc ác đó làm cho mỗi phút thêm cực kỳ đau đớn; các mạch máu bị đứt nát ra cùng những dây gân bị chằng siết rung lên với nỗi đau khôn tả xiết; các vết thương bị phơi ra, bị kích động mạnh, dần dần bị thối rửa; các động mạch – đặc biệt ở đầu và bụng – bị phồng ra và bị ép khi máu chạy quá tải, và khi từng cơn đau ở từng phần thân thể cứ tiếp tục tăng dần lên, thêm vào với chúng là một cơn khát nước dậy lên ghê gớm, và tất cả các biến chứng theo phần xác nầy đã gây ra một sự lo sợ và kích động, tạo ra cái chết – về cái chết đó, là kẻ thù vô danh, nó tiếp cận với tội phạm làm ra những cơn rùng mình, run rẩy dữ dội lắm". Hãy so sánh toàn bộ phần mô tả nầy với những vụ hành quyết hiện đại như cuộc hành quyết tử tội Timothy McVeigh!
Câu 35 cũng nói mấy tên lính: "bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài". Chúng đã đùa giỡn trên đồ đạt của Ngài, như áo xống và đặc biệt trên chiếc “áo choàng” trong của Ngài, là chiếc áo dài "không có đường may, nguyên một tấm vải dệt ra, từ trên chí dưới" (Giăng 19.23-24). Bản thảo sách Mathiơ xưa nhất không có phần cuối của câu 35, nhưng tuyệt đối có Thi thiên 22.18 và Giăng 19.24. Ngay cả các chi tiết từng phút sự hy sinh của Chúa Jêsus đã được loan báo trước trong Cựu ước rồi.
Trong khi Chúa Jêsus bị treo trên thập tự giá đang nếm sự chết vì mọi người (Hêbơrơ 2.9), mấy tên lính "ngồi đó mà canh giữ Ngài". Chúng phải có mặt ở đó cho tới khi Ngài đã chết hầu cho bạn bè không thể đưa Ngài xuống hoặc kết liễu mạng sống Ngài theo cách thương xót được.
Người La mã đã hoàn tất hành động chế giễu sau cùng. Họ đặt tấm bảng "trên đầu Ngài" đề chữ: "Người nầy là Jêsus, Vua dân Giu-đa". Giăng 19.20 chép câu nầy được viết bằng tiếng Hy bá lai, tiếng Hy lạp và tiếng Latinh. Toà Công Luận muốn câu đó được ghi như vầy: "Người nói: Ta là Vua dân Giu-đa". Phi-lát bèn đáp cùng chúng rằng: "Lời ta đã viết, thì ta đã viết rồi".
II. Sự sĩ nhục từ phía hai tên cướp (các câu 38, 44).
Câu 38 cho chúng ta biết rằng cũng có "hai tên trộm cướp" bị đóng đinh cùng lượt với Chúa Jêsus: "một tên ở cây thập tự bên hữu, một tên ở cây thập tự bên tả". Nhiều người tin rằng đây là đồng bọn của tên tội phạm khét tiếng Baraba và lẽ ra hắn đã bị đóng đinh ngay tại chỗ của Chúa Jêsus. Từ ngữ Hy lạp nói tới "trộm cướp" dường như chỉ ra rằng hai người nầy không phải là hạng trộp cướp thông thường đâu, mà là những kẻ giết người rất độc ác, chúng thích thú trò hành hạ và giết chóc các nạn nhân cũng như cướp lấy tài sản của họ.
Câu 44 cho chúng ta biết rằng "hai tên trộm cướp" bị treo bên cạnh Chúa Jêsus cũng "nhiếc móc Ngài" với cùng những lời chửi bới và sĩ nhục y như bọn dân đông dưới kia vậy. Ngài đã bị sĩ nhục từ mọi phía.
III. Sự chế giễu từ khách qua đường (các câu 39-40).
Nhiều người tập trung lại quanh thập tự giá. Không nghi ngờ chi nữa, số dân đông đã kêu gào với Phi-lát giờ đây đã hướng tới đồi Gôgôtha. Cả thành phố đông lúc nhúc với khách hành hương, họ đã đi theo với sự phấn khích. "Những kẻ đi ngang qua đó" có tới hàng trăm, nếu không phải là hàng ngàn người.
Phần lớn số người nầy đã nhìn thấy các phép lạ của Chúa Jêsus và đã nghe sự dạy đầy quyền phép của Ngài. Nhiều người đã tung hô chúc tụng Ngài là Vua và tuyên bố Ngài là Đấng Mêsi của Israel lúc đắc thắng vào thành. Giờ đây, họ "chê cười, lắc đầu" trong sự chế giễu và đã nói "phạm thượng cùng Ngài".
Hiển nhiên là các thầy tế lễ đã truyền ra câu nói sai trái từ Chúa Jêsus về sự huỷ diệt và tái thiết lại đến thờ với đám đông. Họ sử dụng điều nầy để khích họ nghịch Ngài. Họ kêu gào: "Ngươi là kẻ phá đền thờ và dựng lại trong ba ngày, hãy cứu lấy mình đi!" Nhiều người khác nói: "Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự!"
Họ giống như nhiều người ngày nay thường đi nhà thờ và thường nghe giảng Tin lành. Họ đã nhảy qua mấy vòng truyền đạo, nhưng khi Chúa Jêsus không làm thành những ao ước đầy ích kỷ và tội lỗi của họ, họ không còn theo Ngài nữa. Họ không muốn nghe về tội lỗi của chính họ và cần phải ăn năn và sự tha thứ. Có nhiều người đi ngang qua nhà thờ, họ từng ngợi khen Chúa Jêsus song giờ đây đã chế giễu Ngài.
IV. Sự nhạo báng từ phía các cấp lãnh đạo tôn giáo (các câu 41-43).
"Các thầy tế lễ cả", Toà Công Luận cũng hiệp "nhạo" với "các thầy thông giáo và các trưởng lão". Họ là bộ máy gây xáo trộn, chính họ đã đem lại sự đóng đinh trên thập tự giá nầy.
Họ nói: "Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được". Sự thực là nếu Ngài cứu được mình, Ngài sẽ không bao giờ cứu người khác! Họ nói: "Nếu phải Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự đi, thì chúng ta mới tin". Đây là một lời dối trá. Họ đã có bằng chứng rõ ràng để tin theo, nhưng tấm lòng họ đã bị chai cứng. Họ cũng nói: "Nó nhờ cậy Đức Chúa Trời; nếu Đức Chúa Trời yêu nó thì bây giờ Ngài phải giải cứu cho". Sự thực, ấy là Chúa Jêsus đã đầu phục trọn vẹn với ý chỉ của Đức Chúa Cha là lý do tại sao Ngài đã bị treo trên thập tự giá.
Nếu thập tự giá là điều tốt nhứt của Đức Chúa Trời, thì thực sự nó là điều tệ hại nhất của con người. Chúng ta hãy kết thúc bằng cách đọc Thi thiên 22.
***