Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Mathiơ 26:14-16: "Ba Mươi Miếng Bạc"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Ba Mươi Miếng Bạc –
Mathiơ 26:14-16
Có hai việc làm cho chúng ta phải bối rối về Giuđa. Thứ nhứt, tại sao ông ta đã làm những việc mà ông ta đã làm? Thứ hai, sau khi ông ta làm việc ấy, sao ông ta không cảm thấy tội lỗi chứ? Ông ta gian ác đến nỗi ông ta đã bán Chúa Jêsus để lấy ba mươi miếng bạc thôi sao! Thế rồi sau đó, ông ta cảm thấy hối hận để rồi phải tự tử.
Trải qua nhiều thế kỷ, có nhiều phản ứng khác nhau đối với câu chuyện nói tới ông ta. Có nhiều người thù ghét Giuđa vì những gì ông ta đã làm và gán ông ta cùng giai cấp với Hitler. Nhiều người khác thương hại ông ta, vì ngay thời điểm nhận chân sự việc, đúng là quá trễ không thể xóa bỏ được việc làm đại ác của mình được nữa. Một vài người xem ông ta là một vị anh hùng. Nhiều người khác vẫn thắc mắc sự công bằng của Đức Chúa Trời khi để cho một người gánh chịu nhiều tội lỗi vì sự chết của Chúa Jêsus.
Thực vậy, ông ta là một sự kín nhiệm. Không một sứ đồ nào khác lôi cuốn lý trí giống như Giuđa. Tất cả những người khác chúng ta có thể hiểu được — ngay cả Phierơ — nhưng Giuđa cứ mãi là một sự kín nhiệm được gói ghém ở trong chỗ rất khó hiểu. Điều gì đã khiến ông ta ra kẻ đáng khinh như thế chứ? Có phải ông ta quanh quẹo ngay từ lúc đầu? Chúa Jêsus đã nói gì khi Ngài phán rằng Giuđa đã bị “định cho phải hư mất” để Kinh Thánh được ứng nghiệm? Và Luca và Giăng đã nói gì khi họ cho rằng Satan đã nhập vào Giuđa? Nhiều thắc mắc như thế đã trêu kẻ có lý trí.
Phần cuối của câu chuyện
Có lẽ chỗ phải bắt đầu là phần cuối của câu chuyện. Lúc bấy giờ là sáng sớm ngày thứ Sáu tại thành Jerusalem — có khi là giữa nửa đêm và bình minh — và người Do thái đã xong việc với Chúa Jêsus. Họ đã có phiên tòa chiếu lệ với những bản án mang tính cách vu cáo cùng những kẻ làm chứng dối của họ. An-ne đã có một vòng với Chúa Jêsus và Cai-phe cũng thế. Cáo trạng của họ rất rõ ràng — người nầy là một kẻ phạm thượng đáng chết. Sự tụ tập của các cấp lãnh đạo tôn giáo được đề ra để bắt Chúa Jêsus giải sang cho Phi-lát, quan tổng đốc Lamã. Ông ấy mới là người có thể ra lịnh tử hình Chúa Jêsus.
Có một sự chuyển dịch, ồn ào, huyên náo khi cả nhóm di chuyển hướng đến pháp đình. Trong bóng tối, có một người, giờ đây bị lãng quên, đang quan sát, gương mặt ông ta căng thẳng lên, mắt ông ta sưng húp, đầu ông ta hơi cụp xuống. Đêm ấy quả là một đêm thật dài, dài nhất trong cả cuộc đời ông ta. Có bao nhiêu giờ đồng hồ đã trôi qua kể từ bữa ăn ấy trên cái phòng cao? Sáu, có thể là bảy, ai biết được? Sau khi ông ta rời đi, ông ta đi thẳng đến với các thầy cả thượng phẩm để thực hiện sự sắp xếp sau cùng. Thế rồi có một lối đi ngắn trong bóng tối băng qua Trũng Kít-rôn đi lên dốc của Núi Ôlive. Toàn bộ sự việc đã kéo dài không đầy 5 phút. Trong chỗ lờ mờ đó, một vài lời nói, một nụ hôn, một vài lời căm giận của Phierơ và nhiều người khác nữa, thế là Chúa Jêsus đã bị bắt rồi bị giải đi.
Trong hai bàn tay của Giuđa, ông ta cầm cái túi nhỏ chứa ba mươi miếng bạc. Ông ta còn áy náy đến nỗi chưa đếm túi tiền ấy nữa. Không một ai chú ý đến ông ta lúc ấy. Sự thể giống như ông ta còn là tin tức của ngày hôm qua vậy. Không một ai buồn nói tới một kẻ phản bội.
Ông ta đã chờ đợi qua cả đêm hôm ấy, cứ bám lấy rìa của đám đông, lắng nghe coi sự việc đã diễn ra thể nào. Chính xác thì ông ta trông đợi điều gì chứ? Không một ai dám chắc. Nhưng nếu lúc nửa đêm ông ta muốn nhìn thấy Chúa Jêsus chết đi, thì khi mặt trời mọc ông ta đã đổi ý của mình.
Những ký ức kia cứ bám riết lấy lý trí ông ta. Những việc Chúa Jêsus đã nói, giống như những câu nói đùa mà các sứ đồ thường hay nói, những câu chuyện mà Chúa Jêsus đã kể lại thật nhiều lần. Những hình ảnh nhỏ đã tự chúng tô điểm trong bóng tối tăm — nụ cười trên gương mặt đứa con gái của Giairu khi Chúa Jêsus làm cho nó sống lại từ kẻ chết, cái nhìn trên gương mặt của Phierơ khi ông đi bộ trên mặt biển và hình ảnh ấy cứ khuấy đảo ông luôn, hình ảnh 12 giỏ bánh đầy kia sau khi Chúa Jêsus cho hơn 5.000 người ăn. Ông ta có thể nhìn thấy hình ảnh ấy rất rõ ràng và lắng nghe mọi sự mà ký ức đã ghi nhận lấy thật nhiều việc.
Thế rồi tiếng đồn lan nhanh là Chúa Jêsus bị kết án tử hình. Ông ta không lấy làm lạ, song ông ta đã. Trong một phút đồng hồ, có một sự chấn động trong pháp đình và Giuđa nhìn thấy Chúa Jêsus khi Ngài bị giải sang cho Phi-lát. Ông ta không nhìn thấy rõ Ngài, chỉ thoang thoáng gương mặt Ngài ở một khoảng xa xa, song ông ta biết đấy là Chúa Jêsus.
Bị áp đảo. Đấy là từ duy nhứt phải sử dụng. Giuđa bị áp đảo với tư tưởng Chúa Jêsus sắp bị tử hình. Trong giây phút ấy, tư tưởng đó thoạt đến với ông như một tia chớp làm lóe mắt: Ông ta đã phạm một lỗi lầm rất nghiêm trọng trong cuộc đời của mình, một lỗi lầm nghiêm trọng đến nỗi ông ta phải tìm một phương thế nào đó để sửa cho ngay lại.
Với tư tưởng ấy đầy dẫy lý trí mình, ông ta cầm lấy cái túi tiền rồi tìm cách trả nó lại. Nhưng các thầy cả thượng phẩm đã cười nhạo ông ta. Họ chẳng còn cần đến ông ta hay tiền bạc của ông ta nữa. Họ đã có những gì họ mong muốn.
Trong nổi thất vọng ấy, Giuđa đã kêu la lên: “Tôi đã phạm tội bằng cách phản bội huyết vô tội”. Từng chữ ấy đều là sự thực cả. Ông ta đã phạm vào tội ấy; những gì ông ta đã làm là tội lỗi tệ hại nhất có thể tưởng tượng được; ông ta đã phản Chúa Jêsus, dù Ngài vô tội, là Đấng sắp sửa trả giá bằng huyết Ngài cho tội ác của Giuđa.
Với nổi thất vọng đó, ông ta đã ném số tiền lại vào trong đền thờ, những đồng tiền lăn tròn, kêu lên những tiếng leng keng khi chúng chạm xuống cái nền bằng đá kia. Khi Giuđa xây đi, 30 miếng bạc còn ở lại phía sau. Không những Giuđa đánh mất Chúa của mình, ông ta còn mất cả tiền bạc. Sau đó, ông ta còn mất mạng sống của mình nữa.
Về sự tự tử của ông ta, chẳng có điều gì cần phải nói tới. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “hắn bỏ đi rồi tự treo cổ mà chết”. Đây là hành động sau cùng của một người không thể sống với chính mình và ký ức của những gì mình đã làm. Trong cái mỉa mai nhắm vào cái ngày thê thảm nầy, Giuđa đã chết trước khi Chúa Jêsus gục chết.
Giuđa đang ở đâu hôm nay?
Vậy thì, Giuđa đang ở đâu hôm nay? Có phải ông đang ở trên thiên đàng hay ông ta đang ở trong địa ngục? Kinh Thánh nói rất rõ ràng ở điểm nầy: Giuđa đang ở trong địa ngục. Trong Công Vụ các Sứ đồ 1:25, Phierơ đã nói tới Giuđa là kẻ bỏ chức vụ sứ đồ “đặng đi nơi của nó”. Sát nghĩa, câu nầy đọc là: “đến với chỗ riêng của nó”. “Chỗ riêng của nó” là địa ngục. Nếu thấy khó hiểu, hãy xem lời lẽ của Chúa Jêsus ở Giăng 6:70-71 khi Ngài phán:
“Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ! Vả, Ngài nói về Giu-đa con Si-môn Ích-ca-ri-ốt; vì chính hắn là một trong mười hai sứ đồ, sau sẽ phản Ngài”.
Ngài không nói cụ thể Giuđa là một con quỉ, nhưng Giuđa khi ấy (khoảng 1 năm trước khi Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá) đã hành động dưới ảnh hưởng của Satan.
Sau cùng, hãy lắng nghe Chúa Jêsus khi Ngài cầu nguyện trên phòng cao vào tối thứ Năm. Giuđa đã rời đi để lo chuyện sắp xếp sau cùng. Ngay khi ấy những tên lính đã tụ tập lại cho cuộc diễu hành lên Núi Ôlive. Hành động sau cùng tự nó sắp sửa phô diễn ra. Đồng thời, Chúa Jêsus đang cầu nguyện cho các môn đồ Ngài: “Đang khi Con còn ở với họ, Con gìn giữ họ, trừ đứa con của sự hư mất ra, thì trong đám họ không một người nào bị thất lạc, hầu cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm” (Giăng 17:12).
Giuđa đang ở trong địa ngục hôm nay. Ông ta đã ở đó cả 2.000 năm và ông ta sẽ ở đó cho đến đời đời. Ông ta đã trả toàn bộ cái giá cho tội ác phản bội Con Đức Chúa Trời.
Nếu có ai hỏi: “Phải chăng Giuđa đã đánh mất ơn cứu rỗi của mình?” Câu trả lời là “Không”. Ông ta đã không đánh mất ơn cứu rỗi vì ông ta chưa hề có nó. Bất cứ điều chi khác bạn có thể nói về ông ta, ông ta chưa bao giờ là một môn đồ của Đức Chúa Jêsus Christ theo cùng một ý nghĩa giống như các môn đồ khác. Ông ta chưa được cứu và rồi bị hư mất. Ông ta bị hư mất vì ông ta chưa hề được cứu trong chỗ thứ nhứt.
Nhưng sẽ có người thắc mắc: “Phải chăng Giuđa đi địa ngục vì ông ta đã tự tử?” Thắc mắc hay đấy, và câu trả lời là “không” một lần nữa. Tự tử là một tội, nhưng đấy chẳng phải là lý do để Giuđa đi địa ngục. Giuđa đi địa ngục vì ông ta chưa hề thực sự phó chính mình cho Đức Chúa Jêsus Christ. Sự phản bội của ông ta đã minh chứng cho sự việc ấy; sự ông ta tự tử chỉ đóng ấn số phận của ông ta mà thôi.
Một thắc mắc sau cùng: “Có phải Kinh Thánh nói rằng Giuđa đã ‘ăn năn’”? Những bản dịch xưa quả thật đã sử dụng từ ngữ ấy ở Mathiơ 27:3. Một sự dịch thuật chính xác hơn là “bị hối hận bắt lấy”. Mặc dù Giuđa bị sự sai lầm nơi những gì ông đã làm kẹp chặt lấy, ông ta không hề van xin ơn tha thứ. Có một thế giới khác biệt giữa hai sự việc ấy. Có nhiều người thực sự cảm thấy buồn rầu vì cớ tội lỗi, song họ không hề đến với Đức Chúa Trời và van xin ơn tha thứ bao giờ. Giuđa đã tìm cách tháo gỡ sự phản bội của mình, song sự việc đã quá trễ rồi. Tôi không nghi ngờ ông đã khóc lóc với những giọt nước mắt cay đắng lúc ông ta ném số tiền trở lại đền thờ. Nhưng sự hối hận của ông (dù cho có thành thật đi) thì cũng chẳng phải là sự ăn năn thật và nó không dẫn tới chỗ được tha thứ. Thay vì thế, nó dẫn tới chỗ phải tự tử, là minh chứng trọn vẹn rằng Giuđa đã chết như một người không được tha thứ.
Sự thể là như thế
Nhưng sự thể không luôn luôn theo cách ấy. Nếu chúng ta đi từ lúc bắt đầu, chúng ta thấy một loạt những điều đáng nhớ về Giuđa:
1. Cá nhân ông ta được Đức Chúa Jêsus Christ chọn là sứ đồ.
2. Ông ta đã lìa bỏ mọi sự để theo Chúa.
3. Ông ta đã dành ra 3 năm rưỡi đi dọc đi ngang xứ Israel với Đấng Christ.
4. Ông ta đã đích thân nhìn thấy nhiều phép lạ của Đấng Christ.
5. Ông ta đã nghe Đấng Christ ban ra mọi bài giảng nổi tiếng của Ngài.
6. Ông ta đã quan sát khi Đấng Christ chữa lành kẻ đau, làm sống lại kẻ chết và đuổi tà ma.
7. Ông ta, cùng với các sứ đồ khác, đã được sai đi ra rao giảng Tin Lành.
8. Ông ta là một trong các cấp lãnh đạo của nhóm sứ đồ.
9. Không một ai có thể hồ nghi ông về sự phản bội.
Trong giới hạn về kinh nghiệm, bất cứ điều chi bạn có thể nói về Giacơ, Phierơ và Giăng, bạn cũng có thể nói về Giuđa. Bất cứ đâu họ đi, ông cũng đi tới. Ông đã có mặt ở đó, luôn luôn ở bên cạnh Chúa Jêsus. Ông đã nghe hết mọi sự, đã nhìn thấy mọi sự, đã kinh nghiệm mọi sự. Tuy nhiên, khi bạn giải thích sự ông ta đào ngũ, bạn không thể nói ông ta thiếu kinh nghiệm hơn các vị sứ đồ khác.
Nếu có điều chi khác, ông ta là một trong các cấp lãnh đạo. Rốt lại, các vị sứ đồ khác đã chọn ông cho việc giữ lấy tiền bạc. Bạn không chọn một người để trao tiền bạc cho họ giữ mà bạn nghi ngại về lòng trung thành của họ được. Làm như thế là điên. Bạn chọn người tốt nhứt, người xứng đáng nhứt, người duy nhứt bạn biết mình có thể tin tưởng. Đấy là lý do tại sao họ đã chọn Giuđa.
“Giuđa, kẻ đã phản bội Ngài”
Mác đã viết như thế. Họ không hề, không bao giờ tưởng được rằng Giuđa có sự phản bội ở trong lòng ông ta. Rõ ràng, cho đến cuối cùng, họ đã thấy cách xử sự của ông ta còn cao hơn cả sự ngờ vực nữa. Bạn sẽ nghĩ nếu một người sống gian ác đủ để phản bội Chúa, điều đó sẽ thể hiện ra trên gương mặt của hắn ta, ở một điểm nào đó cái hầm phân ở bên trong sẽ sủi bọt ra nơi bề mặt. Song điều đó không hề xảy ra.
Lúc bấy giờ là năm 65SC. Ba mươi năm hơn đã trôi qua kể từ khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá. Mathiơ ngồi lại để viết sách Tin Lành của mình. Khi ông để chỗ liệt kê ra tên tuổi của các vị sứ đồ, ông bắt đầu “Phierơ, Giacơ, Giăng” rồi kế đó là những người khác. Giuđa nằm ở sau cùng, luôn luôn là vậy. Nhưng không phải chỉ có “Giuđa” thôi đâu, mà là “Giuđa, là kẻ đã phản Ngài”. Khi Mác viết sách Tin Lành của mình, thì cũng thế: “Giuđa, là kẻ đã phản Ngài”. Khi Luca viết sách Tin Lành mình, thì cũng y như thế: “Giuđa, là kẻ đã phản Ngài”. Rồi 30 năm sau đó, Giăng — lúc bấy giờ đã vào khoảng thập niên 80 hay thập niên 90 tuổi của ông — viết sách Tin Lành mình. Ông đã gọi ông ta: “Giuđa, là kẻ về sau đã phản Chúa”.
Sự thể cho thấy họ không hề chấp nhận những gì đã xảy ra. Khoảng thời gian không làm mờ đi tầm cỡ tội ác của ông ta. Đối với họ điều đó là cực kỳ tàn ác trong lúc họ tuổi già cũng y như lúc họ còn trẻ tuổi vậy.
Đôi khi họ gọi ông ta là “Giuđa, là một trong 12 môn đồ”, nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết ông ta đã có với Đấng Christ. Đôi khi lại là “Giuđa, là kẻ đã cùng ăn với Ngài”, nhấn mạnh ông ta đã nhảy ra khỏi mối dây tương giao ấy. Ăn với một người bạn và rồi phản bội người — làm sao có được sự ấy chứ?
Ông ta là kẻ biết nhiều thứ, là kẻ đã nhìn thấy nhiều điều, là kẻ đã kinh nghiệm Chúa Jêsus thật gần gũi và riêng tư, làm sao một người như thế lại phản thùng được chứ?
Từ tiềm năng đến khả năng có thật
Trước khi chúng ta cố gắng giải đáp thắc mắc ấy, chúng ta hãy suy gẫm lại những gì Chúa Jêsus đã nhìn biết và những gì Giuđa đã biết vào lúc ban đầu. Khi Chúa Jêsus kêu gọi Giuđa làm sứ đồ, có phải Ngài biết rõ những gì Giuđa sẽ làm không? Câu trả lời phải là “Đúng”. Chúa Jêsus vốn biết rõ ngay từ đầu rằng Giuđa sẽ phản Ngài. Rốt lại, Ngài là Con của Đức Chúa Trời.
Hãy xoay vấn đề lại xem. Khi Giuđa đáp ứng lại lời kêu gọi của Đấng Christ, có phải ông ta tham gia vào nhóm của Chúa với dự tính trở thành một kẻ phản bội không? Câu trả lời phải là “không”. Mọi bằng chứng chỉ theo hướng đó. Từ mọi điều chúng ta nhìn biết, Giuđa phải là một môn đồ thành thật cũng như bao nhiêu người khác thôi … ngay từ đầu. Thật vậy, chúng ta có thể cho rằng Giuđa đã nhìn thấy nơi Chúa Jêsus nguồn hy vọng tràn trề cho dân Israel. Chúng ta biết từ Giăng 6 rằng đấy là cách mà người dân bình thường đã nhìn xem Chúa Jêsus — nghĩa là, như một vị vua hay làm phép lạ, vua nầy sẽ giúp họ cất bỏ cái ách của Rôma. Đâu lẽ nào lại là bất thường nếu có ai trong hàng sứ đồ chia sẻ chính sự trông mong đó? Thật vậy, sẽ không là bất thường nếu họ không chia sẻ kìa? Thật là dễ tin việc tham gia của Giuđa với Chúa Jêsus là một sự bùng nổ của lòng sốt sắng ghê gớm lắm, thế rồi sau cùng ông ta tìm gặp một người mà mình đi theo cách dè dặt. Chuổi phép lạ lớn lao, những bài giảng long trọng, những lần trao đổi tư riêng, những lần đối mặt công khai với hàng chuyên gia tôn giáo sẽ chỉ góp phần làm cho nổi lên những cảm xúc ấy.
Chúng ta không thể nói chính xác ở chỗ nào, hay làm thế nào hoặc lý do tại sao những cảm xúc giận dữ và thất vọng bắt đầu chiếm lấy tấm lòng của Giuđa. Chắc chắn chúng đang chi phối (dù các sứ đồ khác không lưu ý) cả năm trước khi Chúa bị đóng đinh trên cây thập tự. Những hột giống đã có ở đó ngay từ buổi ban đầu. Nhưng nói như thế không có ý nói rằng ông ta tham gia với Chúa Jêsus với dự tính phản bội Ngài đâu. Tại sao ông lại chờ đến 3 năm rưỡi chứ? Một người khôn khéo sẽ tìm (hay tạo ra) nhiều cơ hội để bán vị lãnh tụ của mình.
Cái mà chúng ta có thể nói nhiều nhất là điều nầy. Giuđa là một kẻ phản bội có tiềm năng ngay lúc ban đầu. Những hoàn cảnh chắc chắn đã đưa đẩy ông trở thành một kẻ phản bội thực sự. Ông ta không hề dự tính mọi việc cho đến cuối cùng giống như chúng đã xảy có không làm cho tội lỗi của ông ta suy giảm đi đâu. Nó chỉ làm nổi bật thảm họa của đời sống ông ta mà thôi.
Mô tả sơ lược về nhân cách
Nếu chúng ta muốn có một mô tả sơ lược về nhân cách của Giuđa trên cơ sở bản tường trình trong Kinh Thánh, thì có lẽ là một số việc như sau:
Tích cực Tiêu cực
Cẩn thận Dối gạt
Trung thành Tinh thần ôn hòa
Một nhà tổ chức khéo Nông cạn
Một vận động viên trong toàn đội Tham lam
Đáng tin cậy Một tay nói giỏi
Thuyết phục Bóng bẩy
Phần thú vị nhất trong toàn bộ mô tả kia, ấy là các vị sứ đồ khác rõ ràng đã nhìn thấy chỉ có mặt tích cực nơi Giuđa. Cho tới chừng họ nhìn lại sự việc thì họ mới nhận ra các mặt tiêu cực. Trước khi ông ta phản bội Chúa Jêsus, ông ta trông rất tốt cũng như bao người khác còn lại, mà kỳ thực trông ông còn tốt nhứt nữa kìa. Theo ánh sáng đó, chúng ta hãy lưu ý phần tường trình thêm một lần nữa đi: Chẳng có ai nghi ngờ Giuđa hết. Không một ai cả.
Thắc mắc quan trọng
Sau cùng, chúng ta đến với thắc mắc tối quan trọng đây. Tại sao Giuđa làm điều đó? Thế lực nào đã khiến ông phản bội Chúa của mình? Trải qua nhiều thế kỷ, những đầu óc lỗi lạc đã suy gẫm về câu hỏi ấy. Nếu bạn muốn có một nghiên cứu đầy lý thú, hãy bước vào thư viện của trường thần học, rồi đọc kỹ về Giuđa. Bạn sẽ khám phá ra cả danh mục nhiều lý thuyết rất rối rắm. Các trước giả Tin Lành hiến cho chúng ta một vài manh mối. Ấy chính họ cũng không hề biết đâu là câu trả lời. Khi Giuđa tự tử trong vài giờ đồng hồ sau khi phản Ngài, chúng ta không có câu nói nào cung ứng mặt câu chuyện của ông. Vì lẽ đó, chúng ta cần phải suy gẫm về những động lực của ông
Ba lý thuyết dường như luôn có sẵn:
1. Ông ta phản bội Chúa Jêsus là vì tiền bạc. Lý thuyết nầy cho rằng khi chúng ta biết Giuđa là một tên trộm (Giăng 12:6), vì thế tham lam đóng một vai trò trong quyết định của ông ta. Nan đề duy nhứt với lý thuyết nầy, ấy là 30 miếng bạc không phải là một số tiền lớn. Nếu tánh tham là động lực, ông ta đang có một số tiền nhỏ không chỉ ra hết rắc rối của ông ta.
2. Ông ta phản bội Chúa Jêsus vì ông ta bị vỡ mộng. Có lẽ đây là lý thuyết được lòng người nhất. Nó dựa trên sự thực có nhiều người xem Chúa Jêsus là một loại Mêsi chính trị, Ngài sẽ lãnh đạo xứ sở trong việc lật đổ cái ách của Rôma. Giăng 6:14-15 ám chỉ đến điều nầy khi nhắc tới đám dân đông họ “có ý đến ép Ngài để tôn làm vua”.
Lý thuyết nầy cho rằng Giuđa đã dự vào một sự sốt sắng đang xảy có nầy. Ngay lúc đầu, khi Chúa Jêsus càng được lòng dân, chắc chắn Ngài đã được tung hô nhiệt liệt rồi. Song khi thời gian trôi qua, và sự chống đối tăng lên, thì rõ ràng là Chúa Jêsus sẽ bị kết án tử hình. Chính mình Chúa Jêsus đã nói trước cái chết của mình rất nhiều lần — một sự thực mà các môn đồ không thể hiểu được. Ngay cả việc đọc các sách Tin Lành cũng vậy, rõ ràng là âm điệu chức vụ của Chúa Jêsus đã thay đổi khi Ngài càng tiếp cận với chuyến đi sau cùng lên thành Jerusalem. Mọi sự cổ vũ của đám dân đông trước đó đã qua hết rồi. Chúng được thay thế bằng những đám mây chống đối tụ tập lại và sấm sét về cái chết bạo hành ở đàng xa kia. Chúa Jêsus vốn biết rõ điều chi sắp xảy đến và cứ hướng mặt Ngài bền chắc về thành Jerusalem. Mọi sự Ngài đã làm trong mấy tháng sau cùng đó đã được thực thi dưới cái bóng đang trải ra của thập tự giá.
Nếu sự thực Giuđa đã xem Chúa Jêsus là một Mêsi chính trị, thì sự thay đổi trong chức vụ của Chúa Jêsus sẽ gây thất vọng cực kỳ. Trong trường hợp đó, mỗi lần nhắc tới cái chết sẽ bị coi là một dấu hiệu yếu đuối và là công nhận sự thất bại. Mọi lời lẽ nói tới “vương quốc ta không thuộc về thế gian nầy” sẽ chẳng là chi hết trừ ra sự thoái thác trách nhiệm. Giuđa không muốn một vương quốc trong đời hầu đến; ông ta muốn một vương quốc ngay ở đây và ngay bây giờ.
Vì thế có khả năng Giuđa — bị tác động giống như ông bị tác động bởi tánh tham lam và tham vọng — rồi bị lèo lái bởi cơn giận phát sinh nơi thất bại của Chúa Jêsus không hoàn tất được sứ mệnh của mình — đã phản bội Ngài vì ông ta đã bị vỡ mộng rất trầm trọng.
Có khả năng Giuđa là một loại “vận động viên có triễn vọng thành công” ông ta thích là một kẻ chiến thắng. Ông ta đã ở với Chúa Jêsus khi ông ta trông nhơn đức lắm, nhưng ông ta phải té ngã khi mọi việc dường như trở nên bất lợi rồi. Trong trường hợp đó, sự phản bội của ông là một phương thức thoát ra khỏi bên thua trận mà bước theo bên thắng trận.
Cũng có khả năng Giuđa ở lại với Chúa Jêsus bao lâu ông ta nghĩ rằng điều đó sẽ tốt cho cá nhân ông. Rốt lại, chúng ta biết các môn đồ ưa tranh luận giữa vòng họ xem ai là lớn nhất khi Đấng Christ dựng nước của Ngài lên. Một người có thể hình dung ra Giuđa đang rất năng động trong cuộc tranh cãi ấy.
Không may, từ nhận định quá con người, sự đóng đinh trên thập tự giá không phải là một động lực cho sự nghiệp cao cả đâu. Bị đóng đinh trên thập tự giá là chẳng còn phương thế nào nữa để thu phục bàn bè và ảnh hưởng trên dân chúng. Đối với Giuđa, Chúa Jêsus dường như là một kẻ thua thiệt rồi.
Nhìn theo ánh sáng ấy, sự phản bội của Giuđa nắm lấy một ánh sáng mới mẻ. Có lẽ trong sự giận dữ và thất vọng của mình, ông ta chỉ làm thay những gì mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng sẽ làm — tìm kiếm Nhân Vật Số 1.
3. Ông ta đã phản bội Chúa Jêsus vì ông lo sợ. Lý thuyết nầy cho rằng ông ta đã từng nhìn thấy bàn tay viết trên tường, ông ta đến gặp các thầy cả thượng phẩm với kế hoạch nhỏ của ông ta hầu giải cứu riêng mình ông ta thôi. Tại sao không chứ? Lúc bấy giờ rõ ràng là các cấp lãnh đạo tôn giáo đang nhắm mũi dùi vào Chúa Jêsus. Những ngày của Ngài đã được đếm hết rồi. Chính mình Chúa Jêsus đã nói tới cái chết của chính Ngài rất nhiều lần. Nhưng một khi họ bắt lấy Chúa Jêsus, điều chi sẽ xảy ra cho những người đi theo Ngài chứ? Một vài điều khả thi thoạt đến trong trí, chẳng một ai trong số họ lấy làm vui vẻ nữa. Giuđa cùng những người khác bản thân họ sẽ bị bắt rồi bị xét xử cùng với Chúa Jêsus. Và đấy là cách mà mọi việc sẽ xảy ra, hết thảy họ sẽ bị kết án tử hình. Vì vậy, Giuđa đã phản bội Chúa Jêsus chỉ để tự cứu lấy mình.
Tất cả các lý thuyết ấy đều có ý nghĩa của nó, và tất cả ba lý thuyết nầy đang góp phần cho câu trả lời. Sau khi mọi bàn bạc đã xong, chúng ta vẫn không dám chắc lý do tại sao Giuđa đã làm những điều mà ông ta đã làm. Nhưng điều nầy là chắc nhất đây: Khi Giuđa phản bội Chúa Jêsus, ông ta đã phạm phải lầm lỗi to lớn nhất mà bất cứ người nào cũng dám phạm phải.
Tội lỗi bị kết án
Theo một ý nghĩa, các động lực của ông ta không phải là vấn đề. Lý do tại sao ông ta đã làm những gì ông ta đã làm có lẽ luôn luôn là một điều kín nhiệm đối với chúng ta. Nhưng bản tường trình ghi rõ về những gì ông ta đã làm:
1. Ông ta suy nghĩ dựng lên chương trình phản bội Chúa Jêsus.
2. Ông ta tiếp cận mấy thầy cả thượng phẩm với ý tưởng đó.
3. Ông ta thực hiện công việc.
4. Ông ta đã cầm lấy số tiền.
5. Ông ta rời bữa Tiệc Ly kia để đi gặp mấy tên lính.
6. Ông ta dẫn binh lính đến chỗ Chúa Jêsus.
7. Ông ta đã hôn gò má Chúa Jêsus.
Nói ngắn gọn, ông ta đã nghĩ suy việc ấy, ông ta đã hoạch định các chi tiết và ông ta thực thi chương trình của mình thật sát nút. Ông ta có ý phản bội Chúa Jêsus và đấy chính xác là những điều mà ông ta đã làm.
“Sự ngươi làm hãy làm mau đi”
Chúng ta hãy vặn đồng hồ chạy ngược lại một vài giờ đi. Lúc bấy giờ là 9:45 tối. Chúa Jêsus mới vừa ăn xong Lễ Vượt Qua với các môn đồ Ngài. Tâm trạng thật buồn rầu và cứ trầm ngâm mãi. Một ý thức rắc rối sắp xảy đến đang treo lơ lửng trên khoảng không. Một hay hai trong số những người ở đó đang trao đổi trong thầm thì. Phần còn lại đang quan sát Chúa Jêsus.
Thình lình Ngài đưa ra một lời công bố làm cho choáng váng đến tận xương tủy: “Một người trong các ngươi sẽ phản ta”. Hỗn loạn, sốc, huyên náo, vô tín, hoang mang. “Sự ấy không thể được đâu. Ai nỡ làm một việc như thế chứ? Ngài nói gì vậy? Chúng tôi không bao giờ phản Ngài đâu, Chúa ơi”.
Song vẻ mặt của Chúa Jêsus đã nói cho họ biết từng lời của Ngài rất có ý nghĩa. Mọi sự trầm hẳn xuống. Thế rồi có câu hỏi sâu sắc hơn: “Lạy Chúa, có phải tôi không?” Từng người đã đưa ra câu hỏi. Không một ai dám chắc hết.
Rồi có lời phán nầy: “Ấy là kẻ mà ta trao cho miếng bánh ta sẽ nhúng đây”. Họ vẫn chưa hiểu. Chúa Jêsus cầm lấy bánh, nhúng một miếng rồi trao nó cho Giuđa với lời nầy: “Sự ngươi làm hãy làm mau đi” (Giăng 13:27)
Những nhà giải kinh cho chúng ta biết rằng với biểu tượng của lễ Vượt Qua, thứ nước chấm có rượu tiêu biểu cho bông trái của Đất Hứa. Khi Chúa Jêsus trao bánh cho Giuđa, không những Ngài xác định ông ta là kẻ phản bội, mà Ngài còn đưa ra lời kêu gọi sau cùng bảo Giuđa phải đổi ý định của mình đi.
“Giuđa ơi, ta biết điều chi có ở trong lòng ngươi. Giờ phút quyết định đã đến rồi. Ngươi có thể phản ta hay ngươi có thể theo ta. Song ngươi phải quyết định ngay lúc bây giờ thôi. Bất cứ điều chi người sắp làm, hãy làm đi ngay bây giờ”. Đấy là sự ban cho ân điển lần sau cùng của Chúa Jêsus cho Giuđa.
Giuđa cầm lấy bánh và ngay lập tức rời khỏi căn phòng để thực hiện mọi sự sắp xếp của mình với mấy tên lính. Giăng nói cho chúng ta biết “liền khi Giu-đa đã lấy miếng bánh, thì quỉ Sa-tan vào lòng người” (13:27). Lúc ấy ông nói thêm: “khi ấy đã tối” (13:30). Giuđa rời khỏi Sự Sáng của Thế Gian rồi băng mình vào đêm tối, những bước chân ông đã được chúa của sự tối tăm dẫn dắt.
Nụ hôn chết chóc
Sau đó một lát, Chúa Jêsus rời khỏi đó cùng với các môn đồ và lên đường đến vườn Ghết-sê-ma-nê. Cùng lúc ấy Giuđa gặp gỡ mấy tên lính rồi sắp đặt dẫn họ đến tại chỗ hẹn. Khi ấy trời đã tối và ông ta không muốn Chúa Jêsus vuột mất trong lúc lộn xộn, ông ta sẽ dành cho Ngài một nụ hôn chào đón. Sẽ chẳng có một sự lộn xộn nào khả thi tại nơi ấy.
Các trước giả Tin Lành thuật lại câu chuyện rất đơn sơ. Mấy tên lính đến, Giuđa hôn Chúa Jêsus, họ bắt Ngài rồi giải đi. Nhưng Giăng nói thêm một chút. Khi mấy tên lính đến trước, Chúa Jêsus phán với họ rõ ràng trước khi chúng có thể nói ra chuyện gì. Đang khi Chúa Jêsus nói với mấy tên lính, Giăng đã thêm một chi tiết nhỏ nầy: “Giu-đa là kẻ phản Ngài cũng đứng đó với họ” (Giăng 18:5).
Có một thế giới đầy ý nghĩa trong cụm từ ngắn ngủi ấy. Giuđa đã đứng hẳn qua một bên. Ông ta không những đứng đó “với họ” theo cách thuộc thể. Giờ đây ông ta còn đứng “với họ” về mặt thuộc linh nữa. Sự phản bội của ông ta như thế là rõ ràng, công khai và không thể chối cãi chi hết.
Sau cùng, giờ phút đã đến cho nụ hôn. Giuđa bước tới phía trước rồi nói “Thưa Thầy!” rồi hôn Ngài. Từ ngữ Hylạp nói tới nụ hôn theo cách nồng nhiệt, thật tình cảm. Đó là nụ hôn nồng ấm mà một người chỉ dành cho bạn hữu yêu dấu mình. Với một nụ hôn như vậy, Giuđa đã phản bội Con của Đức Chúa Trời.
Có một việc về hành động nầy rất ghê tởm và đáng ghét. Phản bội Chúa Jêsus là tồi tệ rồi, nhưng phản bội Ngài với một nụ hôn tình cảm là tội ác khôn xiết kể. Đây là nụ hôn trên hết mọi sự khác đã kiếm cho Giuđa sự tán thành của Cơ đốc nhân xuyên suốt bao thế kỷ. Đó là “việc làm dại dột bám lấy cái tên của ông giống như cái áo dơ bẩn vậy”.
Có phải Giuđa đang sống hôm nay không?
Khi bạn đã thông vấn đề nầy rồi, Giuđa đáng phải là một người tốt hơn hay một người tồi tệ hơn!?! Nếu ông ta là người tốt hơn, ông ta sẽ không làm một việc gian ác dường ấy. Còn nếu ông ta tệ hại hơn, ông ta sẽ không cảm thấy hối hận như thế. Như câu chuyện cho thấy, ông ta đã tồi tệ đủ để làm ra sự việc ấy và tốt đủ để không thể mang lấy xấu hổ về việc đó. Chúng ta sẽ hoàn toàn phạm sai lầm nếu chúng ta xếp loại Giuđa cùng với một kẻ như Adolph Hitler. Nếu chúng ta nghĩ Giuđa giống như Hitler, thế thì chúng ta bỏ sót bài học về đời sống của ông ta.
Những gì đã xảy ra cho ông ta có thể xảy ra cho tôi. Những gì ông ta đã làm, tôi có thể làm. Nếu tôi nghĩ khác đi, thế thì tôi đã bỏ sót mục tiêu của câu chuyện nầy. Giuđa giống với chúng ta nhiều lắm và chúng ta cũng giống với ông ta nhiều như thế. Thực vậy, chúng ta càng sống theo tôn giáo, chúng ta càng trở nên giống như Giuđa. Rốt lại, bạn không thể tiếp thu nhiều về tôn giáo hơn là một sứ đồ. Ông ta đã “ở trong” y như bất kỳ người nào có thể ở rồi.
Ấy thế mà ông ta đã phản bội Chúa.
Có phải Giuđa còn sống hôm nay không? Không, nhưng tinh thần của ông ta vẫn còn sống đấy. Nó sống trong tất cả những ai đang chơi trò chơi tôn giáo. Nó sống trong những ai đến với nhà thờ vì mọi điều họ có thể nhận được từ nhà thờ đó. Nó sống trong hết thảy những người nào giả vờ phục theo Đức Chúa Jêsus Christ trong khi thực sự tận đáy lòng họ chẳng có chi hết. Nó sống trong tất cả những ai chỉ nếm trải những động thái Cơ đốc. Nó sống trong những người nào đến với nhà thờ, dâng hiến tiền bạc, noi theo những luật lệ, và thế mà chẳng kính mến Chúa Jêsus.
Đây là phần đáng ngạc nhiên. Có phải bạn biết người nào là một Giuđa trong nhà thờ nầy không? Tôi đây. Là Mục sư quản nhiệm, tôi đứng trong phép loại suy gần gũi nhứt so với chỗ mà Giuđa đã đứng. Có người nói: “Mục sư ơi, chắc chắn không phải ông đâu”. Đấy là điều mà họ đã nói về Giuđa. Hãy nhớ, cú sốc phản bội của Giuđa, ấy là ông ta trông rất nhơn đức ở bề ngoài. Nếu tôi là Mục sư của bạn, có thể thuật lại cho bạn câu chuyện nầy mà không dò xét tấm lòng của chính tôi, thế thì tôi đã bỏ sót mục tiêu rồi.
Cái giá của một nô lệ
Một trong những phần mỉa mai trong câu chuyện nầy, ấy là Giuđa đã không nhận được nhiều tiền bạc đâu. Vào thời buổi ấy, 30 miếng bạc là cái giá của một nô lệ. Hãy suy nghĩ xem. Ông ta đã phản bội Con của Đức Chúa Trời để lấy cái giá của một nô lệ. Nói khác đi, Giuđa đi địa ngục và cái giá cho tấm vé của ông ta là 30 miếng bạc.
Một số thắc mắc
Bạn nhận được gì khi bán Con của Đức Chúa Trời?
Bạn sẽ phản bội Ngài là vì tiền bạc chăng?
Bạn sẽ phản bội Ngài để lấy một việc làm khá hơn chăng?
Bạn sẽ phản bội Ngài chỉ để ôm lấy công việc mà bạn đang có sao?
Bạn sẽ phản bội Ngài để cứu lấy bản thân mình sao?
Bạn sẽ phản bội Ngài vì Ngài không sống theo những điều bạn trông mong sao?
Bạn sẽ phản bội Ngài vì bạn tưởng Ngài sẽ để cho bạn bị hạ thấp sao?
Bạn sẽ phản bội Ngài nếu bạn nghĩ bạn sẽ tìm được ơn của hạng người quan trọng sao?
Giuđa dành cho chúng ta một sự ưu ái nếu câu chuyện của ông ta khiến cho chúng ta phải suy nghĩ lại sự cam kết cơ bản của chúng ta đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Bạn tự nhận mình là một Cơ đốc nhân. Nhưng có phải bạn là một môn đồ thật hay bạn chỉ có những động thái bề ngoài? Có phải bạn là kẻ giả vờ hay là một tín đồ thật? Có phải bạn thực sự đã xây khỏi tội lỗi mình và đã tin cậy Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa? Có phải bạn là một bạn hữu tùy thời của Cứu Chúa?
Có những thắc mắc dễ hỏi hơn là dễ trả lời. Tôi yêu cầu bạn đừng xem nhẹ chúng. Bài học chính từ đời sống của Giuđa là hư mất trừ phi ít nhất chúng ta tự hỏi mình những câu hỏi ấy.
Rốt lại, nếu một người có thể trở thành một sứ đồ của Đấng Christ mà vẫn bị hư mất, bạn thì sao và tôi sẽ như thế nào đây? Có lẽ chúng ta sẽ kết luận vấn đề theo cách nầy. Một sứ đồ bị hư mất, để không một ai dám làm liều. Mười một người đã được cứu, để không ai sẽ thất vọng. Cuối cùng, hầu hết chúng ta là những người tự nhận mình là Cơ đốc nhân sẽ dò xét tấm lòng mình rồi kết luận rằng “Phải”, mặc dù chúng ta làm buồn lòng Ngài trong nhiều cách thức, chúng ta vẫn kính mến Ngài và xưng Ngài là Cứu Chúa của chúng ta. Phải đúng như vậy đấy. Câu chuyện của Giuđa có ở trong Kinh Thánh vì nhiều lý do, ít nhất là dẫu thế nào thì chúng ta cũng phải đưa ra câu hỏi mà các vị sứ đồ khác đã đưa ra trong cái đêm số phận kia:
“Lạy Chúa, có phải tôi không?”
Vẫn như xưa kia, con người đã định giá cho mình.
Giuđa đã bán chính mình chớ không phải Đấng Christ, để lấy 30 miếng bạc.

Luca 23:1-12: "Người nầy là Vua sao: Đấng Christ phán về tánh tò mò phù phiếm"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Người nầy là Vua sao: Đấng Christ phán về tánh tò mò phù phiếm
- Luca 23:1-12
Đây là câu chuyện nói tới một người đã có cơ hội song không nắm lấy nó và không bao giờ được hiến cho một cơ hội khác nữa. Tên của người nầy là Hê-rốt An-ti-ba. Vào buổi sáng ngày thứ Sáu tốt lành, Chúa Jêsus đứng trước mặt ông ta trong một phiên xử. Những gì đã xảy ra trong cái ngày định mệnh ấy dẫn trực tiếp tới sự đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá. Nó cũng đóng ấn số phận đời đời cho Hê-rốt.
Khi xem xét câu chuyện nầy, đã có ba sự kiện sẽ giúp cho chúng ta nắm được toàn bộ bối cảnh theo mọi chiều kích của nó. Thứ nhứt, Hê-rốt An-ti-ba là con trai của Hê-rốt khác nữa; nhân vật được lịch sử gọi là “Đại Đế Hê-rốt”. Cái tên được dùng trại đi nói tới ông ta đúng ra phải là “đồ tể Hê-rốt”. Ông ta rất độc ác, có tánh thù hiềm, là người khát máu, ông ta xem mạng sống con người với một giá trị rất thấp. Ông ta là Hê-rốt, là người đã ra lịnh giết các con trẻ tại thành Jerusalem một thời gian ngắn sau khi Chúa Jêsus giáng sinh (Mathiơ 2:16). Khi ông ta qua đời, vương quốc của ông ta bị chia ra làm bốn phần. Con trai ông ta là Hê-rốt An-ti-ba cai trị một trong bốn phần đó. Thứ hai, Hê-rốt An-ti-ba là người đã ra lịnh chặt đầu Giăng Báp-tít. Thứ ba, ông ta người duy nhứt mà Chúa Jêsus từ chối không đáp một lời.
Chúa Jêsus không nói với ông ta!
Sự kiện sau cùng đó là một sự kiện khiến chúng ta phải chú ý. Hãy suy nghĩ trong một phút xem. Có phải chúng ta thường không nói tới Chúa chúng ta là bạn hữu của hạng tội nhân sao? Để cho một kỵ nữ lau chơn Ngài với những giọt nước mắt của nàng và Ngài tuyên bố rằng tội lỗi nàng đã được tha. Để cho một người mù kêu xin sự thương xót và Chúa Jêsus dừng chuyến hành trình lại mà chữa lành cho người. Để cho một người thu thuế trèo lên cây kia để nhìn thấy Ngài và Chúa Jêsus không những bảo ông ta xuống, mà Ngài còn đi đến nhà của ông ta để ăn tối nữa. Ngài hoan nghênh hết thảy mọi người và chẳng hất hủi một ai. Thế mà lại từ chối không chịu nói chi với Hê-rốt.
Người nầy đã làm gì để xứng với cách xử sự như thế từ Con của Đức Chúa Trời? Như Mục sư G. Campbell Morgan đề ra trong quyển The Great Physician {Vị Y Sĩ Đại tài}, câu chuyện nầy có cả sự trang trọng và đáng kinh hãi. Chúng ta đã nghe nói tới tình yêu thương của Chúa Jêsus. Nhưng đây là một câu chuyện nói tới sự thạnh nộ của Chiên Con. Mục sư Campbell lưu ý rằng cách xử sự của Chúa Jêsus với Hê-rốt có thể được tóm tắt trong ba câu nói đơn sơ:
1) Ngài tránh né ông ta.
2) Ngài gửi đến ông ta một sứ điệp quở trách đầy nhức nhối.
3) Ngài không muốn nói một điều gì với ông ta.
Cách xử sự nầy bởi Chúa chúng ta là cách xử sự rất bất thường, vì vậy nó xứng đáng cho chúng ta để ý đến. Chắc chắn có một sứ điệp ở đây mà chúng ta cần phải suy gẫm.
Hê-rốt An-ti-ba đôi khi được nhắc tới trong Tân Ước. Chúng ta thấy ông ta rất rõ ràng chỉ trong hai chỗ — cái chết của Giăng Báp-tít và phiên xét xử Chúa Jêsus một vài giờ đồng hồ trước khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Ghép hai sự kiện nầy lại với nhau, một hình ảnh nổi bật lên về Hê-rốt chứa một hỗn hợp những đức tính thật lạ lùng. Ông ta rất kiêu ngạo, hiếu kỳ về mặt thuộc linh, yếu đuối về mặt đạo đức, dễ bị thuyết phục, có khuynh hướng đưa ra những câu nói thiếu suy nghĩ, và không bằng lòng tự mình phục theo lẽ thật.
Khi tôi nghiên cứu những lần gặp gỡ của ông ta với Giăng Báp-tít và với Chúa Jêsus, tôi thấy một người mà đời sống của ông ta đã kết thúc trong thảm họa thuộc linh. Thuộc về ông ta là một câu chuyện mang tính cảnh báo về 7 bước trên đường đến với Địa Ngục.
Bước #1: Phân tâm - Mác 6:17-20
Câu chuyện nói tới sự tự hủy diệt của Hê-rốt không bắt đầu với Chúa Jêsus mà với Giăng Báp-tít. Đây là hai nhân vật dường như chẳng có điểm nào chung hết. Hê-rốt là một vị vua điển hình — rất quyền lực, tự kỷ, và chú trọng vào chính khoái lạc và sự giàu có của riêng mình. Với bất kỳ phương diện nào khác, Giăng là một nhân vật rất lạ lùng, một người tu khổ hạnh đã sinh sống trong sa mạc, mặc áo bằng da lạc đà, rồi ăn châu chấu và mật ong rừng. Những đoàn dân đông đã nhóm lại từ khắp cả xứ Israel để nghe ông giảng đạo. Thế rồi Hê-rốt và Giăng Báp-tít gặp nhau và dường như họ đã trở thành bạn hữu. Mác 6:20 cho chúng ta biết “vì Hê-rốt sợ Giăng, biết là một người công bình và thánh. Vua vẫn gìn giữ người, khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà vua bằng lòng nghe”.
Hê-rốt ưa thích Giăng, song ông ta có một con mắt ngó về vợ của em mình — một phụ nữ có tên là Hê-rô-đia. Để làm cho các vấn đề ra tệ hại hơn, nàng cũng là cháu gái của ông. Bất chấp mọi hình thái lễ nghi phép tắc, Hê-rốt đã lấy Hê-rô-đia làm vợ mình, vì thế phạm cả hai tội: tà dâm và loạn luân. Giăng gặp ông ta mặt đối mặt, nói cho ông ta biết những gì ông ta đã làm là sai trái. Và dường như ông đã lặp lại sứ điệp ấy thật nhiều lần, là điều sẽ trở thành án tử hình chắc chắn cho bất cứ ai khác, nhưng Hê-rốt đã lắng nghe và đã xem xét lời lẽ của ông. Thậm chí ông ta đã bỏ Giăng vào ngục để bảo hộ cho Giăng tránh khỏi các kế hoạch của Hê-rô-đia.
Đây đúng là hình ảnh nói tới một linh hồn bị hành hại, luôn bối rối và bị dày vò. Một phần trong ông ta nhìn biết rằng Giăng nói ra sự thật. Không giống như những kẻ bợ đỡ đang có mặt ở quanh ông ta, con người nầy chẳng quan tâm gì đến tiếng tăm hay tiền bạc hoặc quyền lực hay bất cứ bổng lộc nào khác theo đến với một vì vua. Giăng chỉ quan tâm đến sự công bình. Vì thế, Hê-rốt đã lắng nghe và lắng nghe hoài. Phần khác trong ông ta đã ao ước cái điều mà Đức Chúa Trời đã phán mà ông ta không nên có — một phụ nữ đã kết hôn với người đàn ông khác.
Vì thế, Hê-rốt làm những gì mà nhiều người khác trước và sau ông đã làm: Ông tìm cách có được cả hai sự ấy. Ông ta bỏ tù Giăng để ông có thể bảo hộ cho Giăng và lấy người đàn bà kia làm vợ mình để phu phỉ mọi ham muốn về xác thịt của ông ta. Nhưng chẳng một người nào có thể sống trung lập cho đến đời đời được. Chẳng sớm thì muộn, bạn phải đưa ra một sự lựa chọn. Rõ ràng Hê-rốt vốn biết rõ sự thực khi ông ta nghe thấy nó. Ông ta đã phạm sai lầm khi giữ lấy sự thực trong một ngăn nhỏ, ở đó nó không thể quấy rối ông ta nhiều được. Nhưng điều đó không có hiệu quả. Sự thực đòi hỏi một quyết định. Ông ta sẽ làm gì bây giờ?
Bước #2: Những lời hứa dại dột - Mác 6:21-28
Khi đối diện với một cơn khủng hoảng, Hê-rốt đã và không thể đưa ra một quyết định. Ông ta không thể bỏ Hê-rô-đia được, nhưng ông ta không kết án tử hình Giăng. Ông ta là một “kẻ phân tâm”, không ổn định trong mọi chiều hướng của mình. Ông ta biết rõ sự thật nhưng không thể tuân theo nó. Ông ta muốn người đàn bà nầy nhưng biết rõ mình không nên lấy nàng. Thế là bị xâu xé bởi những ham muốn kình chống nhau, ông ta sống trong một vùng đất kinh khiếp không người. Ông ta sẽ làm gì đây? Câu trả lời đến tại bữa tiệc sinh nhật.
“Nhưng, vừa gặp dịp tiện, là ngày sanh nhựt Hê-rốt, vua đãi tiệc các quan lớn trong triều, các quan võ, cùng các người tôn trưởng trong xứ Ga-li-lê. Chính con gái Hê-rô-đia vào, nhảy múa, đẹp lòng Hê-rốt và các ngươi dự tiệc nữa. Vua nói cùng người con gái ấy rằng: Hãy xin ta điều chi ngươi muốn, ta sẽ cho. Vua lại thề cùng nàng rằng: Bất kỳ ngươi xin điều chi, ta cũng sẽ cho, dầu xin phân nửa nước ta cũng vậy. Nàng ra khỏi đó, nói với mẹ rằng: Tôi nên xin điều chi? Mẹ rằng: Cái đầu của Giăng Báp-tít. Tức thì nàng vội trở vào nơi vua mà xin rằng: Tôi muốn vua lập tức cho tôi cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm. Vua lấy làm buồn rầu lắm; nhưng vì cớ lời thề mình và khách dự yến, thì không muốn từ chối nàng. Vua liền sai một người lính thị vệ truyền đem đầu Giăng đến. Người ấy đi chém Giăng trong ngục; rồi để đầu trên mâm đem cho người con gái, và người con gái đem cho mẹ mình” (Mác 6:21-28).
Trước tiên, có một bữa tiệc sinh nhựt mà mọi cận thần của ông ta đều đã được mời đến. Chắc chắn rượu được chiêu đãi miễn phí. Hiển nhiên là con gái của Hê-rô-đia (một thiếu nữ có tên là Salome) đến để nhảy múa trước mặt nhà vua. Người Hy lạp cho rằng đây là một buổi biểu diễn đầy nhục dục với ý đồ kích động và làm dậy lên những thứ tình cảm đê tiện nhất của ông ta. Điều đó đã tác động vì nhân vật nầy đã đưa ra một lời thề ngu xuẫn quan trọng. Khi cô gái yêu cầu cái đầu của Giăng Báp-tít, nhà vua bị sốc, nhưng không thể để mất mặt được, vì thế ông ta đồng ý. Không bao lâu sau đó, cái đầu bị chặt đứt rời kia được đem trình cho cô gái, rồi cô ta trình nó cho mẹ mình, là người chắc chắn đã mĩm cười khi bà ta quay mặt đi khỏi cái cảnh bạo lực đó.
Làm sao một việc như thế đã xảy ra được chứ? Có một thứ như lương tâm “chai lì” như thế, là thứ mà bạn đang có khi bạn nghe biết lẽ thật thật nhiều lần mà chẳng làm chi hết về sự ấy. Đây là mối nguy hiểm cực kỳ bị phơi ra trước sự dạy của Lời Đức Chúa Trời khi chẳng có một đáp ứng cá nhân nào hết. Chẳng sớm thì muộn, tấm lòng của bạn trở nên cứng cỏi, lương tâm của bạn bị chai lì, và hai lỗ tai bạn thôi không còn nghe thấy nữa hầu cho lẽ thật không còn chạm đến bạn được. Thật tốt cho Hê-rốt là thà không gặp Giăng Báp-tít hơn là đã nghe sứ điệp của Giăng mà chẳng có một sự đổi thay nào trong đời sống của ông ta cả. Lẽ thật thay vì buông tha cho ông được tự do đã kết thúc trong việc xét đoán ông ta.
Bước #3: Những nỗi lo sợ về tội lỗi - Mác 6:14-16
Phần đạo đức của câu chuyện đáng buồn nầy không nằm ở phần cuối rốt mà nằm ở phần mở đầu. Khi lời đồn đại về quyền năng làm phép lạ của Chúa Jêsus lan ra, có người tưởng rằng Ê-li đã trở lại từ kẻ chết. Nhiều người khác cho rằng đây là một trong những vị tiên tri thời Cựu Ước. Nhưng Hê-rốt đạt tới chỗ kết riêng thật lạ lùng: “Nhưng Hê-rốt nghe vậy, thì nói rằng: Ấy là Giăng mà ta đã truyền chém, người đã sống lại” (Mác 6:16). Ông đã tin chắc rằng Giăng là một người thánh và ông ta biết rõ Giăng đã rao giảng lẽ thật. Khi quay nhìn lại, ông ta nuối tiếc nhiều về lời thề dại dột của mình dẫn tới cái chết của người Đức Chúa Trời. Giờ đây, huyết của một người công bình đang ở trên hai bàn tay ông ta. Tội lỗi thật của ông ta đã dẫn tới nhiều nổi sợ hãi — rằng người mà ông ta chặt đầu đã quay trở lại để ám ảnh ông ta thêm một lần nữa.
Chúng ta hãy tiếp thu từ lẽ thật đáng buồn và trang trọng nầy: Sự sáng đã nhận được dẫn tới thêm nhiều sự sáng hơn. Sự sáng bị chối bỏ chỉ dẫn tới bóng tối tăm mà thôi!
Bước #4: Những chương trình gian ác – Luca 13:31-33
Khi tiếng tăm Chúa Jêsus được lan truyền đi, Hê-rốt muốn gặp Ngài như ông ta đã từng gặp gỡ với Giăng Báp-tít vậy. Nhưng Chúa Jêsus giống như một hình ảnh mờ nhạt trong lớp sương mù. Ngài xuất hiện ở xa xa và rồi biến mất ở ngoài xứ. Lâu ngày, tánh khí Hê-rốt thay đổi và ông ta quyết định Chúa Jêsus là một mối phiền toái rất nguy hiểm, là kẻ phải bị kết án tử hình. Khi người dòng Pharisi cảnh cáo Chúa Jêsus phải rời khỏi khu vực vì sự an ninh của chính Ngài, Chúa đáp lại với những lời lẽ duy nhứt mà Ngài nhắm thẳng vào bản thân Hê-rốt: “Ngài đáp rằng: Hãy đi nói với con chồn cáo ấy rằng: Ngày nay, ngày mai, ta đuổi quỉ chữa bịnh, đến ngày thứ ba, thì đời ta sẽ xong rồi. Nhưng ngày nay, ngày mai, và ngày kia ta phải đi, vì không có lẽ một đấng tiên tri phải chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem” (Luca 13:32-33). Theo suy nghĩ của người Do thái, khi gọi ai đó là “chồn cáo” có nghĩa là họ rất tinh ranh, xảo quyệt, ranh mãnh, mưu mẹo, lén lút và hay lừa đảo. Chúa Jêsus đã nhìn thấy sự gian ác được chôn giấu ở bên dưới qua sở thích và lối phân biệt hời hợt của Hê-rốt. Sứ điệp của Ngài cho “con chồn cáo đó” thật là đơn giản: “Ngươi sẽ chẳng bao giờ giết được ta bất luận ngươi khó nhọc dường nào. Ta đến để làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời và chẳng ai chặn được ta cho tới chừng công tác ta đã hoàn tất”.
Tại sao Hê-rốt muốn giết Chúa Jêsus chứ? Câu trả lời không phải là khó tìm thấy đâu! Những gì chúng ta không nắm bắt được, chúng ta lo sợ. Những gì chúng ta lo sợ, chúng ta tìm cách hủy diệt nó. Bối cảnh giờ đây đề ra cho màn cuối cùng.
Bước #5: Tánh tò mò – Luca 23:8-9
Bấy giờ là sáng sớm ngày thứ Sáu tốt lành. Chúa Jêsus đã bị người Do thái bắt lấy đâu đó lúc nửa đêm. Khi ấy Ngài đã bị đưa trình hết người nầy đến người kia: An-ne, Cai-phe, Tòa công luận. Hết thảy họ đều nhắm vào Ngài. Đồng thời, Ngài đã gánh chịu nhiều chế giễu, sỉ nhục, và những lời vu cáo. Người Do thái muốn Ngài phải chết, song chỉ có người Lamã mới có quyền thi hành án phạt ấy. Thế là Ngài bị giải đến trước mặt Bôn-xơ Phi-lát, quan Tổng đốc xứ Giu-đê. Phi-lát là người Lamã được bổ nhiệm vào chức vụ ấy có rất ít hiểu biết về người Do thái và tôn giáo của họ. Công việc chính của ông ta là lo thu thập các thứ thuế và giữ gìn hòa bình. Khi Chúa Jêsus bị giải đến trước mặt ông ta, một cuộc xét hỏi nhanh chóng chẳng tỏ ra được điều gì xưng công bình cho án tử hình hết. Khi ông ta nghe nói Chúa Jêsus xuất thân từ xứ Galilê, ông ta tìm cách thoát ra khỏi tình thế khó xử ấy. Khi Hê-rốt đang xử lý mọi vấn đề tại xứ Galilê, và khi ông ta có mặt tại thành Jerusalem trong tuần lễ đó, ông ta đã trả Chúa Jêsus về cho Hê-rốt rồi để cho ông ta phán xử vấn đề phức tạp nầy.
Bây giờ, cuối cùng thì Hê-rốt gặp được Chúa Jêsus. Nhưng chẳng phải là điều mà ông ta trông đợi đâu. “Vua Hê-rốt thấy Đức Chúa Jêsus thì mừng lắm; vì lâu nay vua muốn gặp Ngài, nhân đã nghe nói về chuyện Ngài, và mong xem Ngài làm phép lạ. Vậy, vua hỏi Ngài nhiều câu, song Ngài không trả lời gì hết” (Luca 23:8-9). Ông ta “mừng lắm” vì ông ta nghĩ Chúa Jêsus sẽ làm một phép lạ (hay hai hoặc ba) cho ông ta xem. “Jêsus ơi, ta nghe nói ngươi có thể hóa nước thành rượu. Đây, một chậu nước đây. Cho ta xem phần ảo thuật của ngươi đi”. “Họ nói ngươi có thể đi bộ trên mặt nước. Sao ngươi không lướt đi trên hồ bơi ở sau cung điện ta?” Nhiều điều nữa đã được tra hỏi, Hê-rốt đưa ra hết câu nầy đến câu khác cho Chúa Jêsus. Ông ta rất tò mò, phải, nhưng ông ta chẳng phải là một kẻ tìm kiếm lẽ thật. Hê-rốt chẳng gì khác hơn một kẻ tìm kiếm cảm xúc. Tôi dám chắc ông ta đã bị sốc và rồi đã chán nản khi Chúa Jêsus từ chối không nói chi hết với ông ta. Không một người nào dám đối xử với ông ta như thế. Và cảm xúc đổi thành lúng túng và chắc chắn thành ra giận dữ.
Có những lúc trong cuộc sống, khi im lặng nói lớn tiếng hơn là lời nói. Đây là một trong những cơ hội đó. Chúa Jêsus vốn biết rõ rằng Hê-rốt đang vặt vãnh với Ngài và những thắc mắc của ông ta không xuất phát từ một tấm lòng thành. Ngài chẳng có lý do gì để trả lời cả, và vì thế Ngài “không trả lời gì hết”. Có lẽ Ngài nhớ lại Châm ngôn 26:4: “Chớ đáp với kẻ ngu si tùy sự ngu dại nó, E con giống như nó chăng”. Trong Bài giảng trên núi, Chúa Jêsus đã cảnh cáo chống lại việc đặt ngọc trai trước mặt heo hay trao vật chi thánh cho loài chó (Mathiơ 7:6). Hê-rốt thuộc về giai cấp những kẻ nào cứng cổ như thế trong sự mù loà thuộc linh của họ và lì lợm trong sự họ kháng cự lại lẽ thật đến nỗi chẳng có gì phải nói và chẳng có gì nên nói với họ nữa.
Khi Hê-rốt giết Giăng, ông ta đã giết chết chính linh hồn ông ta. Ông ta mắt khả năng để lắng nghe tiếng phán của Chúa Jêsus. Chẳng có gì Chúa Jêsus có thể nói sẽ tạo ra sự khác biệt nhỏ nhất trong tình huống ấy. Bởi sự im lặng của Ngài, điều đó đang nói: “Ngươi không muốn nghe lẽ thật khi Giăng nói. Ngươi đã đáp “không”. Giờ đây ngươi sẽ không bao giờ nghe thấy lẽ được nữa đâu. Ta chấp nhận câu trả lời “không” của ngươi đấy”.
Bước #6: Chế giễu công khai – Luca 23:10-11a
“Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo ở đó, cáo Ngài dữ lắm. Bấy giờ vua Hê-rốt và quân lính hầu vua đều đãi Ngài cách khinh dể và nhạo báng Ngài” (Luca 23:10-11a). Khi Chúa Jêsus từ chối không nói chi hết với ông ta, tánh tò mò phù phiếm của Hê-rốt mau đổi thành chế nhạo công khai. Ông ta và quân lính mình hiệp với người Do thái chế giễu Con của Đức Chúa Trời, Ngài đang đứng yên lặng trước mặt họ. Thế là Hê-rốt tỏ ra bản chất thật của ông ta. Bất cứ một sở thích thuộc linh chân chính nào ông ta có thể có đã biến mất từ lâu rồi. Tánh khí ông ta mau chóng thay đổi là dường nào khi Chúa Jêsus từ chối không tham dự trò chơi của ông ta.
Bước #7: Tánh hèn nhát – Luca 23:11b-15
Một trong những cái mỉa mai trong câu chuyện nầy, ấy là cả hai: Phi-lát và Hê-rốt đều biết rõ Chúa Jêsus là vô tội. Sự thực ấy được làm cho rõ ràng bởi lời tuyên bố của Phi-lát khi Chúa Jêsus bị trả về lại cho ông ta lần sau cùng. “đoạn, họ mặc áo hoa hòe cho Ngài, rồi giao Ngài về cho Phi-lát. Trước kia Phi-lát với vua Hê-rốt thù hiềm nhau, nhưng nội ngày ấy trở nên bạn hữu. Phi-lát hiệp các thầy tế lễ cả, các quan đề hình và dân chúng lại, mà nói rằng: Các ngươi đã đem nộp người nầy cho ta, về việc xui dân làm loạn; nhưng đã tra hỏi trước mặt các ngươi đây, thì ta không thấy người mắc một tội nào mà các ngươi đã cáo; vua Hê-rốt cũng vậy, vì đã giao người về cho ta. Vậy, người nầy đã không làm điều gì đáng chết” (Luca 23:11b-15). Hê-rốt chế giễu Chúa Jêsus nhưng ông ta không thể tìm thấy Ngài có lỗi lầm gì hay tội ác nào cả. Phi-lát rõ ràng đã bối rối bởi người nầy xuất thân từ xứ Galilê và muốn tìm cách nào đó để thả Ngài đi. Chẳng ai có thể giúp được gì cho ông ta. Còn Hê-rốt thì dự vào tội ác lớn lao hơn nữa, vì ông ta biết nhiều hơn Phi-lát. Qua Giăng Báp-tít ông ta đã bị phơi bày ra trước lẽ thật. Đối với người nào được ban cho nhiều, người ấy sẽ bị đòi lại nhiều. Trong giây phút lúc sau cùng ông ta gặp gỡ Chúa Jêsus, Hê-rốt đã thất bại một cách hoàn toàn.
Khi chúng ta đưa câu chuyện nầy đến chỗ kết thúc, chúng ta hãy lưu ý bản tường trình thể nào Đấng Christ sốt sắng đáp ứng lại với bất cứ ai kêu cầu Ngài. Ngài tiếp đón hạng kỵ nữ, kẻ say sưa, những người thu thuế bị thù ghét, và người Samari bị khinh dễ. Ngài vui vẻ gặp gỡ với một người Pharisi đến với Ngài trong ban đêm và thậm chí Ngài trả lời cho các thầy thông giáo nào tìm cách gặp Ngài với những thắc mắc hóc búa. Bất cứ lúc nào Đấng Christ tìm được một tấm lòng đang rộng mở, Ngài đáp ứng với ân điển và lẽ thật. Nhưng tấm lòng của Hê-rốt đã đóng kín lại kể từ lúc có cái chết của Giăng Báp-tít. Ông ta không hề kêu cầu Đấng Christ và không hề đến với Ngài với bất cứ điều chi giống như một tấm lòng rộng mở cả. Và đấy là lý do tại sao Chúa Jêsus chẳng nói một lời với ông ta.
Ông ta đã giết Giăng.
Ông ta đã tò mò về Chúa Jêsus.
Ông ta đã tìm cách giết Ngài.
Ông ta đã đối xử với Ngài giống như một cuộc biểu diễn hội hè.
Đến cuối cùng, mọi khả năng đạo đức của ông ta đều bị tê liệt hết. Ông ta không đáp ứng vì ông ta không thể đáp ứng. Số phận đời đời của ông ta đã bị đóng ấn từ lâu trước khi có sự chết đời nầy của ông ta nữa. Sự im lặng của Chúa Jêsus là bản án phán xét của Ngài giáng trên Hê-rốt.
Cái chết thình lình!
Cho phép tôi lặp lại một lần nữa lẽ thật trọng tâm cho mọi người chúng ta suy gẫm. Sự sáng đã nhận được dẫn tới nhiều sự sáng nữa. Sự sáng bị chối bỏ chỉ dẫn đến bóng tối tăm mà thôi. Đức Chúa Trời không bị buộc phải sai Đức Thánh Linh đến hoài với tấm lòng của bạn đâu. Đừng nói: “Ta sẽ đến với Đấng Christ sau. Ta sẽ sống cho Ngài sau khi ta tốt nghiệp, sau khi ta ra trường, sau khi ta có một cuộc vui chơi, sau khi ta kết hôn. Ta sẽ là một Cơ đốc nhân một ngày kia khi sau cùng ta đã ổn định rồi”. Đừng nói: “Ta biết mình cần phải lo toan về Chúa nhưng ta chỉ muốn vui chơi đã”. Bây giờ, đây là thì thuận tiện để đến với Đấng Christ. Bây giờ là ngày tốt nhứt bạn đang có để dâng tấm lòng mình cho Chúa. Bây giờ là giây phút trọn vẹn phải tính toán về việc theo Chúa Jêsus. Mà nầy, bây giờ là ngày cứu rỗi đấy!
Ai biết được? Có lẽ bạn sẽ vào bịnh viện tuần nầy để chịu tiểu phẩu. Thế rồi sau giải phẩu bạn sẽ sống mạnh giỏi và rồi chết thình lình. Chính việc ấy đã xảy ra cho một thuộc viên của Hội Thánh chúng ta vào tuần nầy. Tôi không thổi phồng đâu. Một trong các thuộc viên của chúng ta đã chết thình lình sau giải phẩu. Bà ta dường như sống rất mạnh giỏi và rồi bà ta ra đi. Tôi không sợ về linh hồn của bà ấy vì đức tin của bà đặt rất mạnh mẽ nơi Đấng Christ. Nhưng tôi dám chắc bà ấy không mong chết khi bà ấy qua đời. Tôi nhấn mạnh ở chỗ nầy vì chẳng có ai biết ngày mai sẽ đem lại điều gì. Hãy hầu việc Chúa hôm nay vì hôm nay là mọi sự bạn đang có. Ngày mai có thể sẽ không bao giờ đến với bạn đâu.
Hê-rốt đã nghe biết lẽ thật rất nhiều lần từ Giăng Báp-tít. Và lẽ thật thay vì đã cứu lấy ông ta lại kết thúc trong việc xét đoán ông ta.
Nghe lẽ thật cũng chưa phải là đủ.
Biết lẽ thật cũng chưa phải là đủ.
Thích lẽ thật cũng chưa phải là đủ.
Nghe lẽ thật nhiều lần cũng chưa phải là đủ.
Thấy rõ về lẽ thật cũng chưa phải là đủ.
Đừng vặt vãnh với Chúa Jêsus!
Thấy rõ về tội lỗi là rất nguy hiểm nếu nó không dẫn bạn đến với sự ăn năn. Thà là kẻ dị giáo ở trong rừng và chưa hề nghe Tin Lành hơn là nghe Tin Lành nhiều lần mà chẳng làm chi hết đối với Tin Lành ấy. Bất chấp sự thuyết phục dẫn tới tình trạng dửng dưng thuộc linh và lương tâm bị chai lì. Đức Chúa Trời sai Đức Thánh Linh đến để thuyết phục bạn về tội lỗi hầu cho bạn sẽ đến với Đấng Christ trong sự ăn năn và đức tin. Nếu sau khi bị thuyết phục về tội lỗi, bạn không đến với Đấng Christ, bạn đang ở trong khuôn khổ tệ hại nhất ở phần cuối rốt hơn là ở phần mở đầu.
Toàn bộ bài giảng của tôi — và sứ điệp cuộc gặp gỡ của Hê-rốt với Chúa Jêsus — có thể được tóm tắt lại trong hai câu ngắn ngủi:
Rất nguy hiểm khi học đòi theo Chúa Jêsus.
Rất nguy hiểm khi vặt vãnh với Con của Đức Chúa Trời.
Chúa Jêsus không có thì giờ cho người nào vặt vãnh với Ngài. Và đấy là lý do tại sao Ngài chẳng nói chi hết với nhiều câu hỏi của Hê-rốt. Êsai đã nói tiên tri về giây phút ấy 700 năm trước, khi ông viết: “Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng” (Êsai 53:7).
Khi tôi suy gẫm bối cảnh nầy với triễn vọng lớn lao hơn, ba tư tưởng sau cùng thoạt đến với lý trí:
1) Chúa Jêsus đã gánh chịu quá nhiều điều trên đường Ngài đến với thập tự giá.
2) Đáng buồn làm sao khi Chúa Jêsus bị kết án tử hình bởi hạng người biết rõ Ngài là vô tội.
3) Lạ lùng làm sao, Đức Chúa Trời đã sử dụng sự hèn nhát về đạo đức của hạng người gian ác để chu cấp ơn cứu rỗi cho chúng ta.
Một ánh sáng thánh khiết quanh thập tự giá
Lúc ấy khoảng 6H30 sáng vào ngày thứ Sáu tốt lành. Sáu phiên xét xử Chúa Jêsus đang đến với mức cuối cùng. Không bao lâu nữa Ngài sẽ bị đánh đòn, bị chế giễu, đổ huyết ra, và bị đội lấy chiếc mão gai. Ngài sẽ dẫn đám rước từ từ qua những con đường hẹp của thành Jerusalem. Khi Ngài vấp ngã dưới gánh nặng, Simôn người Siren được gọi đến từ đám đông để vác lấy cây thập tự. Không lâu sau đó, họ sẽ đến tại Đồi Sọ và những tên lính Lamã sẽ bắt đầu công việc của họ. Lúc 9 giờ sáng, Con của Đức Chúa Trời sẽ bị đóng đinh trên thập tự giá.
Và thế là Chúa Jêsus bị dẫn đi như chiên con trước mặt kẻ hớt lông. Ngài không kháng cự, Ngài không đánh trả, và Ngài không kêu gọi các đạo binh thiên sứ đến để giúp Ngài. Và Chúa đã gánh lấy trên chính mình Ngài mọi tội của chúng ta. Gánh nặng với tội lỗi của thế gian, Chúa Jêsus không được buông tha đối với sự thương khó của Ngài, cho tới chừng Ngài đã hoàn tất ý chỉ của Đức Chúa Cha qua cái chết đổ máu của Ngài trên cây thập tự.
Mọi hành vi của con người tội lỗi và các bậc cai trị hèn nhát kia chìm vào trong cái nền tối tăm. Quanh thập tự giá chiếu ra một tia sáng thánh khiết từ trời. Chúa Jêsus đang ở đây vì Ngài đã vâng theo ý chỉ của Cha Ngài. Không có gì xảy ra do tình cờ, từng chi tiết đều phù hợp với chương trình đã định sẵn của Đức Chúa Trời. Mười ngàn lần mười ngàn lời ngợi khen sẽ dâng lên cho Ngài, là Chúa Jêsus, là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng gánh lấy tội lỗi của cả thế gian.
Khi tôi soạn bài giảng nầy, lời lẽ của một bài thánh ca xưa đã gán cho Bernard xứ Clairvaux vào thế kỷ thứ 12 cứ rung lên trong lý trí tôi:
Thiết Hữu ôi, tôi sẽ dùng lời nào để cảm tạ Ngài, vì sự buồn rầu nầy, vì sự thương xót không dứt của Ngài sao? Ôi, xin hãy khiến tôi thuộc Ngài; tôi sẽ không chút e thẹn, lạy Chúa, xin khiến tôi yêu mến Ngài luôn.

Giăng 20:24-29: "Vị Sứ Đồ Không Chịu Tin: Đấng Christ phán về những ước mơ bị tan vỡ"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Vị Sứ Đồ Không Chịu Tin: Đấng Christ phán về những ước mơ bị tan vỡ
Giăng 20:24-29
Bạn có tin phép lạ không? Bạn có tin vào những hành động thật thà nhơn từ theo một hình thức nào đấy của Đức Chúa Trời không? Đấy là một câu hỏi rất hay cần phải đưa ra vào ngày Chúa nhựt phục sinh. Tôi nghĩ, hầu hết chúng ta đều sẽ trả lời ngay: “Có chứ, tôi tin phép lạ đấy”. Và tôi cũng sẽ nói y như thế. Nếu tôi hỏi bạn đã từng nhìn thấy bao nhiêu phép lạ rồi, có lẽ bạn sẽ đáp: “Ồ, tôi không biết nữa. Tôi nghĩ những gì thuộc về cuộc sống đều là phép lạ cả”. Hay bạn sẽ nói: “Tôi đã đóng xong thuế thu nhập của mình tối qua và đấy là phép lạ”.
Cả hai việc ấy đều là trường hợp của từ Anh ngữ “miracle” (phép lạ), nhưng đấy chưa chính xác là điều tôi muốn nói tới khi tôi nói: “Bạn có tin phép lạ không?” Tôi không nghĩ tới các biến cố đáng kinh ngạc trong cuộc sống hay những dự án khó khăn sau cùng đã hoàn tất. Bởi từ “miracle” tôi muốn nói tới những sự cố khả thi ngược lại với tiềm năng của con người, nhưng thứ ấy không lý giải theo cách tự nhiên được. Bạn nói: “Ồ, loại phép lạ ấy à. Được, tôi tin vào loại phép lạ đó”. Nhưng giờ đây bạn không chắc lắm đâu. Qua cách xác định, loại phép lạ ấy không xảy ra từng ngày được. Thực vậy, chúng rất hiếm xảy ra. Khi chúng xảy ra, thật khó mà tin nơi chúng được — một phần vì chúng không thường xảy ra và một phần vì chúng ta không thể lý giải chúng được. Ngay cả trong Kinh Thánh, loại phép lạ ấy không phải là loại xảy ra thường nhựt đâu.
Những ngôi mộ trống bằng bạc nho nhỏ
Sự sống lại của Chúa Jêsus chính là loại phép lạ đó. Sự sống lại ấy hoàn toàn không thể lý giải được bởi bất cứ người nào hay bất kỳ phương tiện thiên nhiên nào. Có thể đấy là lý do tại sao chúng ta không nói nhiều về sự ấy. Chúng ta không dám chắc làm sao nó xảy ra được. Chúng ta có thể hiểu được việc đóng đinh trên thập tự giá; còn sự sống lại là một vấn đề khác. Đây là minh chứng: Có nhiều người mang những cây thập tự bằng bạc quanh cổ của họ. Bạn không thấy có ai mang ngôi mộ trống bằng bạc nho nhỏ kia đâu.
Vì vậy, tôi hỏi lại một lần nữa: Bạn có tin phép lạ không? Đặc biệt là điều nầy, bạn có tin vào phép lạ lớn lao nhứt trong mọi phép lạ — sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ không? Trong trường hợp bạn nghĩ bạn phải trả lời “Có” chỉ vì bạn phải có mặt trong Hội Thánh, hãy để cho lý trí bạn thư thả một chút xem. Nếu bạn đáp “không” hay “tôi không chắc”, bạn đang ở trong một hội tốt đó. Có nhiều người ngày nay họ không dám chắc họ có tin hay không nữa. Và có nhiều người vào ngày Chúa nhựt phục sinh đầu tiên họ cũng không dám chắc nữa. Những người như Phierơ, Giacơ, Giăng, Mathiơ, Ba-thê-lê-my, Simôn người Xê-lốt, và một người có tên đồng nghĩa với nghi ngờ — Thôma. Thôma nghi ngờ.
Trong sứ điệp nầy, tôi muốn quan sát kỹ hơn vào Thôma, vì tôi nghĩ ông ấy có tánh phát biểu quá nhanh. Khi tôi nghiên cứu câu chuyện nói về ông, tánh nghi ngờ của ông dường như rất dễ hiểu đối với tôi. Tôi nghĩ một sự xem xét các bằng chứng sẽ giúp cho chúng ta nhìn thấy ông theo một ánh sáng khác.
I. Nhân vật
A. Ông ấy là một người sanh đôi.
Kinh Thánh không nói nhiều cho chúng ta biết về Thôma. Chúng ta không biết điều chi về nơi ông xuất thân hay ông đã làm gì trước khi trở thành một môn đồ. Chúng ta có ít manh mối về gia đình của ông ấy. Khi bạn đọc về Thôma, ông ấy thường được giới thiệu theo cách nầy — "Thôma, người còn được gọi là Đi-đim”. Giờ đây, điều nầy chẳng có nói gì quan trọng với chúng ta, nhưng các độc giả nguyên thủy đều công nhận điều đó ngay lập tức. Tên “Thôma” ra từ chữ Aram có ý nói tới “sanh đôi”. Và Đi-đim là từ Hylạp nói tới “sanh đôi”. Thôma có một người anh hay chị sanh đôi, và “Twin” (sanh đôi) là tên riêng của ông. Trong Hội Thánh đầu tiên, đã có một sự suy đoán về ai là người sanh đôi cùng với ông. Có người cho là Mathiơ, song chẳng ai biết chắc cả.
B. Ông có lòng dạn dĩ lắm.
Thật là không hay lắm khi Thôma được người ta nhớ tới với một ánh sáng rất tiêu cực. Có nhiều điều về nhân vật nầy hơn là chỉ có nghi ngờ. Những bước đầu tiên của ông bước vào bối cảnh lịch sử của Kinh Thánh nằm ở Giăng 11. Laxarơ đã chết tại thành Bêthany — một vùng ngoại ô của thành Jerusalem. Chúa Jêsus cùng các môn đồ đang có mặt trong khu vực thành Giê-ri-cô khi họ hay tin đó. Khi Chúa Jêsus quyết định đi đến thành Bêthany, các môn đồ Ngài nhắc cho Ngài nhớ lần cuối cùng Ngài đến gần thành Jerusalem, các cấp lãnh đạo đã tìm cách ném đá Ngài cho tới chết. Trở lại đó chẳng khác gì là tự tử. Dầu sao thì Chúa Jêsus cũng quyết định phải tới đó. Nhưng các môn đồ chẳng lấy làm thuyết phục lắm. Ở điểm đó, Thôma vụt dậy mà nói: “Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài!” (Giăng 11:16). Đây là một câu nói ngắn gọn tỏ ra lòng dạn dĩ lớn lắm. Thôma đồng ý các cấp lãnh đạo người Do thái có lẽ sẽ giết Chúa Jêsus nếu Ngài trở lại thành Jerusalem. Những biến cố không bao lâu nữa sẽ minh chứng ông là chính xác. Nhưng bạn có thể nói gì về nhân vật chổi dậy nói: “Nếu họ giết Ngài, họ cũng sẽ phải giết tôi nữa đó?” Một con người chững chạc hay nói như thế. Có tình cảm, lòng trung thành, thất vọng, hy sinh và đầu phục hoàn toàn trong câu nói đó. Có thể là Thôma hiểu rõ hơn bất kỳ môn đồ nào khác điều chi sắp sửa xảy đến. Và câu nói can đảm ấy — nếu bạn suy nghĩ đến nó — có thể giải thích những điều hồ nghi của ông sau đó.
C. Ông không chấp nhận những câu trả lời dễ dàng.
Sách Tin Lành Giăng nhắc tới Thôma vào thời điểm trước khi Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá. Vào đêm thứ Năm trên căn phòng cao kia. Chúa Jêsus vừa rửa chơn các môn đồ xong, Ngài ban cho họ mạng lịnh phải yêu thương nhau. Giu-đa rời căn phòng để nhuốm vào công việc bẩn thỉu kia. Phần còn lại trong các môn đồ tụ tập lại quanh Chúa của họ, nhìn biết sự cuối cùng không còn xa xôi nữa. Đối với họ — hạng người trung thành kia đã đứng với Ngài trong giờ thử thách của Ngài — Chúa Jêsus phán:
“Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó. Các ngươi biết ta đi đâu, và biết đường đi nữa” (Giăng 14:1-4).
Thôma đứng yên lắng nghe, chăm chú, cẩn thận lắm. Cách nói về sự đến rồi đi nầy là quá nhiều đối với ông. Dường như có gì đó mập mờ và bí nhiệm nữa. Trong giây phút thành thật nhất ông thốt ra: “Lạy Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu; làm sao biết đường được?” (Giăng 14:5). Đấy là lời lẽ của một con người hoàn toàn thành thật. Phần còn lại các môn đồ chỉ bị bối rối, nhưng chỉ có Thôma là dám nói ra. Hết thảy chúng ta đều biết rõ hạng người như thế — nếu họ không hiểu, họ sẽ không chịu cho qua đâu. Họ cứ hỏi luôn cho tới chừng nào sự việc đã ra rõ ràng mới thôi. Đấy là Thôma. Và đấy là chìa khóa thứ hai cho thấy nhân cách của ông. Ông là một nhà tư tưởng độc lập, một người hay suy nghĩ, không dễ rối loạn đâu. Ông sẽ không đưa ra lời tuyên xưng đức tin trừ phi ông đã tin chắc đấy là sự thực. Hãy để cho những người khác có thứ đức tin dễ bộc lộ, thứ đức tin đến mà không suy nghĩ và suy nghĩ sâu sắc. Thôma không phải vậy. Thuộc về ông là một thứ đức tin có được qua một sự lăn lộn phấn đấu cá nhân.
D. Ông tin kính trọn vẹn đối với Đức Chúa Jêsus Christ.
Vì thế, bức tranh chúng ta có về Thôma ngay trước khi Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá là đây: Ông là một con người can đảm, trung thành tận tụy và đầu phục sâu sắc đối với Chúa Jêsus. Nếu cần, ông sẵn sàng phó chính mạng sống của ông. Chắc chắn ông có khuynh hướng nhìn vào nơi mặt tối của cuộc sống. Ông thành thật hoàn toàn về những điều ông hồ nghi, lo toan và sợ hãi. Và ông không lấy làm thỏa lòng với những câu trả lời hụ hợ.
Thế là bối cảnh được đặt ra cho cơn khủng hoảng lớn lao nhất trong cuộc đời ông.
II. Tình huống
Chúng ta có khuynh hướng quên tình huống vào buổi sáng Phục sinh đầu tiên đó. Thật là đáng để tự hỏi mình: nếu chúng ta có mặt ở đó, liệu chúng ta có tin hay chúng ta sẽ nghi ngờ? Hoặc đưa ra câu hỏi theo cách khác, điều chi sẽ thuyết phục bạn tin rằng người mà bạn yêu thương đã trở lại sau khi chết ba ngày? Giả sử đó là người bạn thân hay một thành viên trong gia đình mà bạn đã thấy họ chết rồi? Điều chi có cần để thuyết phục bạn đây? Hoặc giả có cách nào bạn sẽ tin theo chăng? Sống lại từ kẻ chết không phải là một việc có thường đâu. Rõ ràng nhứt là việc ấy không xảy ra trong nhiều thế kỷ rồi. Nếu chúng ta có mặt ở đó tại thành Jerusalem với Mathiơ, Giacơ và Giăng, liệu chúng ta sẽ tin theo những tiếng đồn lạ lùng kia vào sáng Chúa nhựt ấy chăng? Trong việc trả lời cho câu hỏi đó, nó giúp cho nhớ lại thể nào những kẻ quen biết Chúa Jêsus đã phản ứng tối đa trước các tin tức nói tới sự sống lại của Ngài.
A. Trước hết, chẳng có môn đồ nào chịu tin cả.
Rất là đơn giản, họ không trông mong một sự sống lại. Bấy giờ, thật sự là Chúa Jêsus đã nói trước rằng Ngài sẽ bị giết và rồi sẽ sống lại. Nhưng các môn đồ Ngài lại không hiểu được điều đó. Sống lại là một việc xa vời nhất đối với lý trí của họ. Quên phứt đi những lời loan báo trước của Ngài. Quên phứt đi mọi thứ mà lòng dạn dĩ đã nói ra. Họ đã thối lui rồi. Ai thực sự trông mong một sự sống lại vào sáng Chúa nhựt đó? Các môn đồ đâu có trông mong đâu. Chính các cấp lãnh đạo người Do thái, họ đã khuyên người Lamã nên đóng ấn ngôi mộ. Những kẻ thù của Chúa Jêsus đã lo sợ một việc gì đó sẽ xảy ra. Những bạn hữu của Ngài lại không trông mong chi hết.
Mác 16 nói rằng mấy người đàn bà đã đến mộ Ngài vào sáng Chúa nhựt để xức dầu cho xác Ngài. Đấy là một phần trong quá trình ướp xác. Trong lúc lộn xộn lo đưa xác Chúa vào trong mộ trước khi mặt trời lặn vào ngày thứ Sáu, một dược đã được ướp trên thi hài Chúa Jêsus, song không phải là dầu. Mấy người đàn bà đã đến lo liệu việc ướp xác của Ngài. Họ đã thấy gì khi vào đó? Hòn đá đã bị lăn ra và ngôi mộ trống trơn. Tất cả bốn sách Tin Lành đều nhất trí ở sự kiện nầy. Mấy người đàn bà không có một ý nhỏ nào về những điều đã xảy ra. Họ không trông mong một sự sống lại.
Mác nói rằng ngay sau khi thiên sứ giải thích những gì đã xảy ra, họ rời khỏi ngôi mộ trong run rẩy và sợ hãi (Mác 16:8). Giăng nói rằng ngay cả Mary đã tưởng ai đó đến lấy cắp xác Ngài đi (Giăng 20:2). Luca nói thêm rằng khi mấy người đàn bà đến nói cho các môn đồ biết những gì thiên sứ đã phán: “Song các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không” (Luca 24:11). Không tin. Tất nhiên. Không có người nào sống lại từ kẻ chết đâu. Không có ai sống lại sau khi chết ba ngày hết. Không có ai sống lại sau khi bị đánh đòn chết. Không có ai sống lại sau khi bị treo trên cây thập tự những sáu giờ đồng hồ liền. Không có ai sống lại sau khi mũi giáo đâm thủng hông của Ngài. Không có ai sống lại sau khi được ướp với 100 cân một dược và bị quấn với vải liệm. Không có ai sống lại sau khi ngôi mộ bị niêm phong. Không, tỉ lệ nghịch lại sự ấy. Sự ấy quả là bất khả thi. Ngài là một người tử tế. Ngài nói ra điều lành. Hết thảy chúng ta đều yêu mến Ngài. Chúng ta bước đi với Ngài khi Ngài thuật cho biết những câu chuyện kỳ diệu kia. Và, ồ, các phép lạ mà Ngài đã làm ra. Chúng ta bật cười khi Ngài bắt chẹt người Pharisi. Còn về thời điểm Ngài làm ra phép lạ với mấy ổ bánh và mấy con cá kia thì sao? Chúng ta nghĩ việc ấy là long trọng lắm.
Chắc chắn, Ngài phán Ngài sẽ sống lại. Hết thảy chúng ta đều tin sự ấy. Thậm chí Ngài cũng đã tin sự ấy nữa. Ngài không hề sai trật trước đây bao giờ. Tại sao không tin chứ? Ngài đã phán Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Chúng ta biết chắc mình luôn nhớ đến Ngài. Ngài không nói sai đâu? Không một ai chịu tin vào sự ấy cả. Đúng là một bữa tiệc mà chúng ta đang có đây. Và Mác nói: “Nhưng các người ấy vừa nghe nói Ngài sống,… thì không tin” (Mác 16:11). Ai sẽ đổ lỗi cho họ chứ? Nếu bạn có mặt ở đó, liệu bạn có chịu tin sự ấy không?
B. Thôma không có mặt.
Giăng nói cho chúng ta biết rằng Thôma không có mặt vào buổi chiều Chúa nhựt khi Chúa Jêsus thình lình hiện ra ở giữa họ (Giăng 20:19-25). Kinh Thánh không nói lý do tại sao, nhưng tôi nghĩ tôi biết. Về mặt cơ bản có hai cách khác nhau mà người ta đáp ứng với sự buồn rầu và tai vạ. Có người tìm sự khuây khỏa trong số bạn bè của họ. Họ muốn người ta ở chung quanh giúp cho họ nói ra nổi lòng ấy. Nhiều người khác thích ở một mình hơn với mọi suy nghĩ của họ. Đấy là Thôma. Nếu điều nầy là thực, Thôma đã nhìn biết nhiều hơn các người khác những gì sắp sửa xảy ra tại thành Jerusalem, ông đã bị tổn thương sâu sắc lắm cũng là điều rất thực. Ông không có mặt với các môn đồ vì tấm lòng ông đã bị chà nát. Mọi sự ông đã có, ông đã dâng cho Chúa Jêsus, và Chúa Jêsus đã chết. Ông vẫn yêu, vẫn lo, vẫn muốn tin, song tấm lòng ông vụn nát cả rồi. Ông không phải là một người xấu, sự hồ nghi của ông cũng không phải là tội lỗi. Sâu sắc ở bên trong, ông rất muốn tin. Đừng quá hạ thấp ông. Hết thảy chúng ta đều ở cùng một chỗ đấy thôi.
III. Phần giải thích
Nếu bạn muốn gọi Thôma là một kẻ nghi ngờ, làm ơn đừng xem ông là một kẻ vô tín. Có người đã tìm cách đặt ông vào hội của những nhà phê bình, chỉ trích. Ông không thuộc về nơi đó. Thôma dứt khoát không phải là một kẻ hay phê phán hay là kẻ theo chủ nghĩa duy lý. Những điều nghi ngờ của ông đến từ sự tin kính dành cho Đấng Christ. Chẳng có một sự hồ nghi nào giống như sự nghi ngờ của một tấm lòng đã vụn nát. Nghi ngờ Sự Ra Đời Bởi Nữ Đồng Trinh là một việc. Còn mất mát người bạn yêu thương rồi lấy làm lạ không biết có một Đức Chúa Trời ở trên trời hay không là một việc khác nữa.
A. Thôma không phải là kẻ chỉ trích, phê bình.
Có hai loại kẻ hồ nghi trong lãnh vực lẽ thật thuộc linh. Có những kẻ chuyên duy lý, họ nói: “Ta không tin sự ấy và chẳng có một điều gì làm cho ta tin được sự ấy đâu”. Hạng người thể ấy thích sự hồ nghi của họ, nói về nó, bật cười về nó, rồi bắt giận dữ khi họ bị bẻ bác. Một người như thế không tìm kiếm câu trả lời; người tìm kiếm một sự bàn bạc. Người đếm những khó khăn, nắm bắt các đối tượng, rồi tìm những chỗ sơ hở. Người Pharisi rơi vào phạm trù đó. Khi họ xin Chúa làm một dấu lạ, Ngài đã từ chối, gọi họ là: “dòng dõi hung ác gian dâm” (Mathiơ 16:1-4).
B. Sự nghi ngờ của ông bung ra từ một tấm lòng bị tan vỡ.
Nhưng có một hạng hồ nghi khác nữa, người nào nói: “Ta không tin nhưng ta bằng lòng tin nếu ta có thể tận mắt mình nhìn thấy”. Thôma phù hợp với phạm trù nầy. Ông không phải là kẻ phê phán vô tín; ông là một tín đồ bị thương tích. Hãy nhớ, nói chung Thôma không nghi ngờ sự lạ lùng. Ông đã nhìn thấy nhiều phép lạ lớn lao nhất của Chúa Jêsus. Nhưng phép lạ nầy quá lớn không thể nghe theo lời của ai khác được đâu. Ông phải thấy thì mới tin. Và ai có thể đổ lỗi cho ông?
C. Ông không phải là không bằng lòng tin, mà là không thể.
Không ai muốn tin hơn Thôma đâu. Nhưng ông đã nhìn thấy quá nhiều, ông biết quá nhiều; tất cả những sự kiện đều chỉ về một hướng. Trước khi Thôma chịu tin, cá nhân ông phải nhìn thấy Chúa Jêsus đã. Và ông phải biết chắc đó là Chúa Jêsus — không phải mộng mơ hay chiêm bao. Ông phải biết chắc ấy chính là Chúa Jêsus mà ông đã thấy Ngài chết rồi. Đấy là lý do tại sao ông không thể nương theo lời lẽ của các môn đồ. Không nương vào một điều chi khác hơn là điều nầy. Không phải ông không bằng lòng tin, mà là không thể tin.
Có người lấy làm thỏa lòng với bằng chứng của nhiều người khác. Có người không chịu đâu. Thôma đã không chịu kìa. Có phải ông nghi ngờ tính chân thật của mấy người kia? Không, ông biết rõ họ đã tin họ đã nhìn thấy Chúa Jêsus. Nhưng như thế vẫn chưa phải là đủ đâu. Có nhiều người nghĩ họ nhìn thấy nhiều việc. Thôma không thể bỏ qua sự nghi ngờ họ đã nhìn thấy một con ma. Ông không thể sống với thứ đức tin phụ thuộc được. Ông phải tận mắt mình nhìn thấy kia. Khi ông nói: “Trừ phi tôi chạm đến những thương tích của Ngài, tôi sẽ không tin đâu”, còn có nhiều thứ hơn là nghi ngờ nữa. Có tình yêu thương, buồn rầu, đau đớn, và một chút hy vọng nhỏ nhoi. Thôma đang đứng cho mọi thời đại là một người thất vọng nhất muốn tin chỉ khi ông biết chắc mà thôi. Bạn có thể đổ lỗi cho ông ấy không? Bạn có sự khác biệt nào chăng?
IV. Cách giải quyết
A. Chúa Jêsus mời Thôma đến nhìn cho tận mắt.
Sau từng ấy tháng năm, Thôma đã nhận được một tiếng xấu. Thôma nghi ngờ, chúng ta gọi ông như thế. Chúng ta có khuynh hướng xem thường ông. Còn Chúa Jêsus thì không như vậy đâu. Tám ngày sau đó, Chúa Jêsus đã hiện ra với các môn đồ lần thứ hai. Lần nầy Thôma đã có mặt cùng với họ. Chúa Jêsus phán với ông như với một người có đức tin yếu ớt, chớ không phải với kẻ có tấm lòng gian ác. Ngài phán: “Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây, và xem bàn tay ta; cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn ta, chớ cứng lòng, song hãy tin!” (Giăng 20:27). Cái điều đáng phải để ý là Chúa Jêsus vốn biết rõ mọi sự về những điều hồ nghi của Thôma. Ngài biết rõ cơn bão thịnh nộ trong tấm lòng của ông. Và Ngài đã đến để cho Thôma có thể biết chắc. Chúa Jêsus không xem thường ông. Ngài phán: “Lại đây, hãy xem cho chắc những gì ngươi lấy làm lạ. Hãy tận mắt mình xem đi Đừng nghi ngờ nữa và hãy tin”. Đây là lẽ thật rất tuyệt vời: Những kẻ hồ nghi được chào đón tại ngôi mộ trống.
Bạn có tin phép lạ không? Bạn có tin vào phép lạ mà chúng ta tổ chức trong dịp Lễ Phục Sinh không? Nếu bạn trả lời “không” hay “tôi không dám chắc” thế thì hoan nghênh bạn. Là một kẻ hồ nghi chơn thật thì có sao đâu. Nếu bạn đến theo cách ấy rồi muốn ra về theo cách ấy, không sao đâu. Khi bạn sẵn sàng, Ngài sẽ ở đó chờ đợi bạn. Có khi chúng ta hành động giống như thể nghi ngờ là tội lỗi và hạng người có những điểm hồ nghi sẽ không được hoan nghênh trong nhà thờ. Và có khi chúng ta tìm cách giả vờ rằng Cơ đốc nhân có sắp xếp cái gì đó, mọi thắc mắc được trả lời, và chúng ta không hề có những chỗ nghi ngờ. Thái độ ấy có cả hai: buồn và sai lầm. Hết thảy chúng ta đều có những chỗ hồ nghi và hầu hết chúng ta đều mạnh mẽ hơn nếu chúng ta nhìn nhận sự thực ấy. Chúa chúng ta hoan nghênh từng con người thành thật rồi nài mời những kẻ nghi ngờ kiểm tra lại bằng chứng cho chính họ.
Câu chuyện nầy dạy cho chúng ta biết rằng Cơ đốc giáo dựa theo bằng chứng rất xác đáng. Đấng Christ không hề buộc chúng ta phải tin theo mà chẳng vì một lý cớ nào hết. Ngài bảo Thôma kiểm tra lại bằng chứng rồi đến với kết luận của chính mình. Ngài đưa ra chính lời mời gọi ấy cho bạn và cho tôi nữa. Thuộc về chúng ta là một thế hệ hoài nghi, nhọc nhằn đã tiếp thu thắc mắc về mọi sự. Chúng ta bị lừa dối bởi nhà cầm quyền, bị lầm lạc thường bởi phương tiện truyền thông và bởi Hollywood đến nỗi chúng ta nghi ngờ bất cứ lời xưng nhận nào liên quan tới lẽ thật tuyệt đối một cách máy móc. Khi Cơ đốc nhân công bố rằng Đấng Christ đã sống lại từ kẻ chết, chúng ta không nên lấy làm lạ khi có ai đó nói: “Ồ? Tôi đã xem chương trình đặc biệt của David Copperfield tối qua”. Trải qua nhiều thế kỷ, hạng người vô tín đã đề xuất ra nhiều học thuyết hòng lý giải sự sống lại về phần xác của Chúa Jêsus: Chúa Jêsus ấy thực sự chưa chết đâu, Ngài chỉ đi ngang qua rồi hồi sinh trong ngôi mộ; mấy người đàn bà kia đã đến với một ngôi mộ khác; có người đã lấy cắp thi hài — người Lamã, người Do thái, các môn đồ; không cứ cách nào đó Chúa Jêsus đã giả chết rồi giả vờ trở lại từ kẻ chết; các môn đồ đã có ảo giác rồi tưởng tượng rằng Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết; Chúa Jêsus đã sống lại về mặt thuộc linh khi thân thể Ngài còn ở trong mộ; Hội Thánh đầu tiên đã bịa ra toàn bộ câu chuyện. Ngay cả hôm nay, có những người vẫn còn bám lấy những ý tưởng đầy nghi ngờ nầy. Chúng ta nói với mọi người cái điều Chúa Jêsus đã nói với Thôma: “Hãy đến xem tận mắt mình. Hãy kiểm tra lại bằng chứng. Hãy đọc câu chuyện với tấm lòng rộng mở và một tâm trí rộng mở. Hãy thôi đừng nghi ngờ nữa mà hãy tin”. Chúng ta tin rằng khi mọi bằng chứng đã được đánh giá công bằng rồi, phần kết luận duy nhứt khả thi sẽ là vào ngày thứ Sáu Tốt Lành, Chúa Jêsus đã chịu chết, bị chôn, rồi vào sáng Chúa nhựt phục sinh Ngài đã sống lại từ kẻ chết. Toàn bộ đức tin Cơ đốc treo trên sự thực nầy: Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết — sát nghĩa, về phần xác, về phần thuộc thể, mắt thường trông thấy được.
Trong thời buổi thay đổi thất thường theo sau cuộc Cách Mạng Pháp, người kia quyết định khởi sự tôn giáo của mình, song lại thấy rằng người đã gặp khó khăn trong việc lôi cuốn những người mới theo đạo. Khi ông ta xin giúp lời khuyên, một người bạn đến nói cho ông ta biết điều nầy: “Để bảo đảm thành công cho tôn giáo mới của ông, mọi sự ông cần phải làm là tự đóng đinh mình trên thập tự giá rồi sống lại từ kẻ chết vào ngày thứ Ba”. Tôn giáo của ông ta biến mất vì ông ta không thể làm theo lời khuyên ấy. Chúa Jêsus là con người duy nhứt trong lịch sử từng thỏa mãn vấn đề đó.
B. Những kẻ hồ nghi mạnh mẽ nhất thường trở thành hạng tín đồ vững chắc nhất.
Nghi ngờ có sự hữu dụng của nó. Nghi ngờ sâu sắc thường là khúc mở đầu cho một đức tin sâu sắc hơn. Tôi thích cách Frederick Buechner tỏ ra như sau: “Trong trường hợp đức tin của bạn cho rằng có một Đức Chúa Trời hay không có một Đức Chúa Trời, nếu bạn không có một điểm nghi ngờ nào, một là bạn tự lừa dối mình hay bạn đang ngủ mê. Những điểm nghi ngờ là mấy con kiến sống bị kẹt trong hai ống quần của đức tin. Chúng cứ thức tỉnh và di động luôn” (trích từ quyển Wishful Thinking). Đây là một lẽ thật tuyệt vời: những kẻ hồ nghi dữ tợn nhứt thường trở thành hạng tín đồ vững chắc nhứt. Và những chỗ hồ nghi thành thật nhất — từng được giải quyết — thường trở thành cái nền cho đức tin không lay chuyển. Bạn đã từng hồ nghi điều gì rồi, bạn sẽ tin quyết điều ấy, đây là một sự thực. Trong lịch sử giáo hội Cơ đốc, những kẻ hồ nghi quan trọng nhứt thường trở thành hạng tín đồ vững chải nhứt. Đấy là lý do tại sao có câu chuyện của Thôma trong Kinh Thánh — để những kẻ hồ nghi chơn thật được khích lệ đem những điều họ nghi ngờ chân thật kia vào ngôi mộ trống. Thôma đã nghi, và những sự hồ nghi của ông bị phủi sạch bởi Thân Vị của Đức Chúa Jêsus Christ — sống lại từ kẻ chết.
C. Ơn phước đến với người nào tin theo những gì Đức Chúa Trời đã phán dạy.
Mọi sự Đức Chúa Trời đòi hỏi, ấy là con người phải trước sau như một với bản thân họ. Ngài đòi hỏi bạn phải dành cho câu chuyện nầy cùng một cách đối xử với bất kỳ câu chuyện nào khác. Hãy chọn lọc bằng chứng, xét đoán bản tường trình rồi đến với một kết luận. Nghi ngờ, được đấy, nhưng đừng để những điều bạn hồ nghi lôi bạn đi mất. Hãy đến với ngôi mộ trống rồi tận mắt mình xem thấy. Khi Thôma nhìn thấy Chúa Jêsus rồi, ông đã sấp mình xuống hô lên: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi” (Giăng 20:28). Chỗ đứng ấy là bằng chứng quan trọng nhất đã được đưa ra bởi bất kỳ ai trong số các môn đồ. Đó là cao điểm của sách Tin Lành Giăng. Và nó đến từ một người đã có những điều nghi ngờ mạnh mẽ nhất.
Chúng ta thích ứng với ở chỗ nào? Rốt lại, Chúa Jêsus đã trở về lại thiên đàng. Chúng ta không có cùng cơ hội như Thôma đã có khi nhìn thấy Chúa Jêsus mặt đối mặt. Chúng ta làm gì với những điều chúng ta nghi ngờ đây? Chúa Jêsus cũng có một lời cho chúng ta nữa đấy: “Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!” (Giăng 20:29). Có những người họ nói rằng sự sống lại của Đấng Christ là không quan trọng, cái điều là vấn đề, ấy là Chúa Jêsus đang sống ở trong lòng chúng ta. Nhưng nếu Chúa Jêsus vẫn còn ở trong mồ mả, Ngài không sống trong lòng chúng ta được. “Và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình” (I Côrinhtô 15:17). Có rất nhiều người, kể cả một số Cơ đốc nhân, đang tiếp cận loại đức tin giống như cậu thiếu niên kia đã nói: “Đức tin là tin theo những gì bạn biết là không thật”. Sai! Đức tin của chúng ta được lập trên những sự thực của lịch sử. Nếu có nhà vô thần nào hay Phật tổ hoặc Ấn độ giáo hay người chạy theo thuyết duy vật hoặc Hồi giáo hay bất kỳ ai khác đang đứng trong phòng cao ấy, người ấy sẽ thấy rõ những điều mà Thôma đã trông thấy. Người ấy sẽ nhìn thấy Chúa Jêsus vì Ngài đang thực sự có mặt ở đó — sống lại từ kẻ chết. Nếu chúng ta có mặt ở đó, chúng ta có thể chạm đến những vết sẹo bằng chính hai bàn tay của chúng ta.
Chúng ta không có mặt ở đó, chúng ta đang có mặt ở đây, 2.000 năm đã trôi qua, và Chúa Jêsus hứa một ơn phước đặc biệt cho những ai trong chúng ta chịu tin mà không thấy. Nếu bạn trông đợi một loại minh chứng bằng số học rằng Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết, tôi không thể cung ứng con số ấy cho bạn được đâu. Thế nhưng bản tường trình của lịch sử đang hiện hữu ở đó cho mọi người xem xét. Nó chứa nhiều bằng chứng cho người nào chọn tin theo, và người nào quyết định không tin có thể luôn luôn tìm được lý do để mà không tin.
D. Đừng để những điều hồ nghi của bạn lôi bạn ra khỏi Chúa Jêsus.
Không một ai có thể giữ trung lập mãi cho đến đời đời được. Bạn có thể đem những điều bạn hồ nghi đến với ngôi mộ trống, song bạn phải đưa ra một sự lựa chọn. Bạn không thể trụ lại bên chiếc hàng rào mãi được đâu. Một là bạn tin hoặc bạn không tin. Đây là ngày Chúa nhựt Phục sinh. Đúng là một ngày tuyệt vời để đưa ra sự lựa chọn đó. Đúng là một ngày quan trọng để thôi không nghi ngờ nữa rồi khởi sự tin theo.
Bạn biết rõ Chúa Jêsus đã chịu chết. Chẳng có gì phải hồ nghi về điều đó hết. Bạn biết rõ Ngài đã chịu chết thay cho bạn. Bạn biết rõ Ngài đã sống lại từ kẻ chết. Thắc mắc mà Đức Chúa Trời đang thăm hỏi là: “Bạn đã làm gì với Con của Ngài?”
Chúa Jêsus phán: “Thôi đừng hồ nghi nữa, song hãy tin”.
Lạy Cha, chúng con cảm tạ Ngài vì vẻ đẹp của Lễ Phục Sinh. Chúng con cảm tạ Ngài vì những thắc mắc sâu sắc nhất trong cuộc sống đã được trả lời với tính cách đơn sơ của ngôi mộ trống. Xin dẫn chúng con vào trong ngôi vườn của sự sống lại, ở đó chúng con có thể gặp gỡ Chúa phục sinh của chúng con. Nguyện chúng con sẽ không được sống lại nếu như Chúa Jêsus đã chết. Nguyện những ai hồ nghi sẽ đạt tới đức tin cứu rỗi và tìm được sự sống qua danh của Ngài. Trong danh của Chúa Jêsus là Đấng đã chịu chết và đã sống lại, và Ngài hằng sống cho đến đời đời. Amen.

Luke 22:49-51: "Phép lạ lúc nửa đêm"



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Phép lạ lúc nửa đêm

Luke 22:49-51
“Những người ở với Ngài thấy sự sắp xảy đến, bèn nói rằng: Thưa Chúa, chúng tôi nên dùng gươm đánh chăng: Một người trong các sứ đồ đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm và chém đứt tai bên hữu. Nhưng Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Hãy để cho họ đến thế! Ngài bèn rờ tai đầy tớ ấy, làm cho nó được lành” (Luca 22:49-51).
Khi ấy là nửa đêm ở trong vườn Ghết-sê-ma-nê.
Chúa Jêsus đang cầu nguyện có một mình. Ở khoảng cách xa xa, các môn đồ có thể nhìn thấy những ánh lửa lập lòe khi tốp lính băng ngang qua trũng Kít-rôn. Giu-đa đã dẫn đường cho chúng.
Mọi sự xảy ra rất nhanh chóng. Một cuộc trao đổi ngắn, một nụ hôn vội vàng trên má, mấy tên lính tiến tới phía trước giải Chúa Jêsus đi. Trong chỗ tranh tối tranh sáng, Phierơ biết mình phải hành động, phải làm một việc gì đó để bảo vệ thầy của mình. Nắm chặt lấy thanh gươm, ông lia mũi kiếm đó đặc biệt chẳng nhắm vào một ai hết. Thanh gươm đi theo đường của nó song không như Phierơ dự tính. Nếu ông mong làm cho mấy tên lính kia hoảng sợ, điều đó chẳng có hiệu lực đâu. Nếu ông mong giục giã được các môn đồ khác, điều đó cũng chẳng được nếu Chúa Jêsus không bước vào.
Ông đã chém đứt lỗ tai tôi tớ của thầy cả thượng phẩm. Không nghi ngờ chi nữa, gã tôi tớ kia té ngã xuống đất rồi bắt đầu kêu la trong đau đớn. Máu phun ra từ cái lỗ, nơi cái tai gắn liền ở đó. Mấy tên lính đã rút gươm ra khỏi vỏ, họ sẵn sàng giết chết Phierơ. Nhưng trước khi mọi chuyện xảy ra ngoài tầm tay, Chúa Jêsus rờ đến tai của gã tôi tớ đó, chữa lành nó ngay lập tức. Và cuộc khủng hoảng những tưởng đã qua rồi.
Điều đó đã gây ra một ấn tượng trên các môn đồ vì sự cố nhỏ nầy đã được ghi lại trong bốn sách Tin Lành. Chỉ có Giăng thuật lại cho chúng ta biết chính Phierơ đã vung gươm lên và Man-chu kia là tên của gã tôi tớ. Chỉ có Luca thuật cho chúng ta biết Chúa Jêsus đã chữa lành cho lỗ tai của hắn. Khi chúng ta suy gẫm lại những gì đã xảy ra trong đêm đó, sự phản bội và sự bắt lấy Chúa Jêsus lôi cuốn mọi sự chú ý, nhưng các môn đồ không bao giờ quên được cái điều đã xảy ra cho Man-chu. Dường như nếu sự việc nầy là quan trọng đối với Mathiơ, Mác, Luca và Giăng, nếu Hội Thánh đầu tiên không hề quên được câu chuyện nầy, thế thì chắc chắn nó chứa nhiều bài học quan trọng cho chúng ta. Chúng ta có thể đưa ra thắc mắc như thế nầy: Môn đồ của Đấng Christ phản ứng như thế nào khi mọi sự rơi vào chỗ thua thiệt? Chúng ta làm gì khi mơ ước của mình dường như biến mất trong tối tăm? Câu chuyện ngắn ngủi nầy cung ứng một vài giải đáp rất quan trọng.
Chúng ta phản ứng thẳng thừng khi mọi sự rơi vào chỗ thua thiệt …
I. Bằng cách từ chối không nhượng bộ trước sự giận dữ.
Chúng ta sẽ hiểu dễ dàng ước muốn đánh trả của Phierơ. Trong chỗ tranh tối tranh sáng đó, ông đã nhìn thấy Thầy mình đang bị đe dọa, và ông quyết định đánh trả. Ai có thể đổ lỗi cho ông chứ? Vì thế, nắm chặt lấy thanh gươm (chúng ta biết từ Luca 22:38 rằng các môn đồ có hai thanh gươm đi kèm với họ), ông lia gươm ấy và cắt đứt tai của Man-chu. Chắc chắn ông có ý định chặt đầu hắn nhưng gươm đã đi lố đà qua góc phải – và tôi dám chắc Man-chu không đứng yên đâu – vì thế mới bị đứt lỗ tai bên phải. Trong nổi lo sợ, giận dữ và thất vọng, Phierơ đã nhắm vào mục tiêu ở gần nhất, gã tôi tớ của thầy cả thượng phẩm, gây thương tích cho hắn song không giết chết hắn.
Mọi sự trong câu chuyện nầy đều có ý nghĩa hẳn hoi. Bạn có thể khó mà đổ lỗi cho các môn đồ vì đã suy nghĩ: “Đến lúc phải đánh nhau rồi”, và tất nhiên, chúng ta chẳng trông mong gì hơn nữa nơi Phierơ, nhà lãnh đạo bất ổn, rất tình cảm, ông đã hành động trước rồi mới suy nghĩ sau. Toàn bộ bối cảnh nhắc cho tôi nhớ đến bài viết từ một quyển sách thương mại bán chạy nhất ca tụng “xu hướng phải hành động”. Bài viết nầy bắt đầu với tiêu đề Phierơ sẽ nhất trí – ấy là "Sẵn sàng. Khai hỏa. Nhắm”. Điều nầy mô tả chính xác những gì đã xảy ra.
Chính tại điểm nầy mà chúng ta nhớ lại lời lẽ của Giacơ, ông viết nhiều năm sau đó: “Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận; vì cơn giận của người ta không làm nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (Giacơ 1:19-20). Chậm giận. Có bao nhiêu người trong chúng ta làm được như thế? Hãy giơ tay lên nếu bạn biết chậm giận. Tôi dám chắc có mấy người thành thật nói: “Tôi biết chậm giận đây”, nhưng về phần còn lại chúng ta, đây là một sứ điệp đến từ Chúa. Cơn giận của bạn và sự công bình của Đức Chúa Trời cả hai đều đi ngược chiều nhau.
Cách đây nhiều năm tôi lắng nghe một nhà tư vấn Cơ đốc trên đài phát thanh khi ông ấy đưa ra một lưu ý mà tôi không bao giờ quên. Khi bạn thấy mình giận lên, ông ấy nói, hãy tự hỏi mình câu hỏi nầy: “Tôi sợ cái gì chứ?” Hầu hết cơn giận của chúng ta đều bắt nguồn từ chỗ sợ hãi, và hầu hết nổi sợ của chúng ta đều đến từ quan niệm cho rằng chúng ta đang mất quyền tự chủ. Hãy dừng lại và suy nghĩ về việc nầy trong một phút xem. Bao lâu chúng ta ngồi trên chiếc ghế của người lái xe và mọi việc đều suông sẻ, hiếm khi chúng ta nổi giận lắm. Thế nhưng khi mọi việc nằm ngoài tầm với của chúng ta, như đã có trong cái đêm mấy tên lính đến để bắt Chúa Jêsus, và nổi sợ hãi đang phủ lấy. Như vậy, chỉ cần một bước ngắn ngủi từ sợ hãi đến với giận dữ ngay, và từ giận dữ thình lình mọi thứ ác cũng ụp đến theo.
II. Bằng cách chọn thua thiệt thay vì thắng hơn nhờ sức mạnh thô bạo.
Thua thiệt không phải là một quan niệm được nhiều người ưa thích hôm nay đâu. Đấy chẳng phải là một ý niệm rất Mỹ đâu. Như George Patton đã nói: “Người Mỹ yêu kẻ chiến thắng. Nước Mỹ sẽ không khoan dung cho một kẻ thua trận”. Hết thảy chúng ta đều muốn có mặt trong một đội chiến thắng, có phải không? Đấy là lý do tại sao hàng triệu người đang tập trung vào tuần nầy. Chúng ta muốn nói: “Đội của tôi thắng hết đấy”. Chẳng có một người Mỹ nào muốn chọn thua trận cả.
Nhưng đấy đúng là những gì các môn đồ của Chúa Jêsus đôi khi được kêu gọi phải lo làm. Trong Nước của Đấng Christ, những giá trị của thế gian sẽ bị lật đổ hết.
Người nào cứu sự sống mình sẽ bị mất. Hãy vác lấy thập tự giá mà theo ta. Nếu được cả thế gian mà mất linh hồn mình thì có ích chi? Người nào muốn làm đầu trong các ngươi thì phải làm tôi tớ cho mọi người. Ai yêu sự sống mình sẽ mất nó. Còn ai mất sự sống mình thì sẽ được lại.
Đôi khi, lúc bạn đi theo Chúa Jêsus, bạn phải thua để mà thắng. Đấy là điều Chúa Jêsus muốn nói khi Ngài phán cùng Phierơ: “Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm” (Mathiơ 26:52). Sức mạnh thô bạo không làm cho Nước của Đấng Christ tiến triển. Chúng ta không thể hoàn thành công việc của Đức Chúa Trời bằng cách ép buộc người ta phải thần phục được. Khi chúng ta tìm cách tiếp cận theo cách ấy, nó có thể tạo ra những kết quả ngắn hạn song nó luôn luôn đem lại kết quả ngược với mong đợi ở phần cuối vì thực hiện sức mạnh thô bạo có nghĩa là chúng ta không thực sự tin theo Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta làm thế, chúng ta sẽ không nắm lấy mọi vấn đề trong hai bàn tay của mình. “Ngươi tưởng ta không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?” (câu 53). Mười hai đạo thiên sứ có ít nhất 72.000 thiên sứ. Có phải bạn nghĩ 72.000 thiên sứ có thể ngăn trở mấy tên lính không bắt được Chúa Jêsus chăng? Nhưng nếu Chúa Jêsus đã có loại thế lực ấy trong sự tùy nghi sử dụng của Ngài, sao Ngài không sử dụng nó chứ? Câu 54 chép rằng Chúa Jêsus đã kềm chế không gọi các thiên sứ ấy vì Ngài biết rõ sự bắt bớ Ngài là cần thiết để chu toàn chương trình của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus phán: “Mọi sự phải xảy ra theo cách nầy”.
Tôi không đổ lỗi cho Phierơ vì ông không hiểu trọn hết lời lẽ nầy. Sau nửa đêm, và ông rất mệt mỏi, quẫn trí, bối rối, giận dữ, kiệt sức, đảo lộn, và trong nổi thất vọng, ông muốn làm một việc gì đó, bất cứ việc gì, để giải cứu Chúa Jêsus.
Nhưng Chúa Jêsus không cần sự cứu giúp của ông. Ngài không muốn được giải cứu.
Chúa Jêsus có thể tự lo cho mình. Điều chi dường như là rối loạn, lộn xộn của các sự cố đổi thành chương trình của Đức Chúa Trời mở ra để đem sự cứu rỗi cho cả thế gian. Khi điều ác dường thắng hơn, Đấng Christ bình tỉnh cam chịu, với sự biết rõ rằng đến cuối cùng, ý chỉ của Đức Chúa Trời sẽ được nên.
J. C. Ryle trình bày như sau:
Ngài chịu chết vì Ngài không thể làm chi khác được; Ngài cam chịu thương khó vì Ngài không thể tránh né. Tất cả binh lính trong quân đội của Philát không thể bắt được Ngài, nếu Ngài không để cho họ bắt. Họ không thể làm tổn thương dù một sợi tóc trên đầu Ngài, nếu Ngài không cho phép họ.
Một bài thánh ca xưa nhắc cho chúng ta nhớ rằng đôi khi chúng ta phải “học thua thiệt với Đức Chúa Trời”. Và trong sự mất mát thế lực, tầm quan trọng, địa vị của chúng ta trong chỗ sáng láng, tiếng tăm, số phận và mọi sự chúng ta yêu dấu, đặc biệt tiếng tăm của chúng ta trong thế gian, trong việc mất hết mọi thứ ấy, sự thua thiệt của chúng ta với Đức Chúa Trời đem lại cho chúng ta một ơn phước mà thế gian không thể địch nổi và không thể hiểu được.
III. Bằng cách nương cậy hoàn toàn và sức mạnh tói thượng của Đấng Christ thay vì sức mạnh có hạn của chúng ta.
Đôi khi chúng ta phải bỏ đi. Đối với hầu hết chúng ta, điều nầy rất khó dường bao. Bỏ đi không chính xác có nghĩa là chịu thua. Nó không có nghĩa là ngồi đợi trong tiêu cực đang khi thế gian nắm lấy ưu thế trên chúng ta.
Bỏ đi có nghĩa là thôi không nắm lấy quyền chủ động nữa.
Bỏ đi có nghĩa là nhìn nhận rằng bạn không mời gọi tất cả những phát đạn.
Bỏ đi có nghĩa là bạn chọn không điều khiển người khác nữa.
Bỏ đi có nghĩa là nhìn nhận rằng bạn không có tất cả những câu trả lời.
Bỏ đi có nghĩa là đem tình cảm mình phục theo Chúa.
Bỏ đi có nghĩa là từ bỏ địa vị mình là Chủ của Vũ trụ.
Đức Chúa Trời có thể đổi mọi việc ra khác vì cớ Chúa Jêsus không? Câu trả lời là có. Ngài là Đức Chúa Trời. Ngài đã sắp xếp mọi hoàn cảnh theo cách nào Ngài chọn. Nhưng Đức Chúa Trời đã chỉ định rằng Con Ngài sẽ chết: “Đức Giê-hô-va lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người, và khiến gặp sự đau ốm” (Êsai 53:10).
Chúa Jêsus phải chết!
Hãy suy gẫm câu nói ấy trong một phút xem, và bạn sẽ biết lý do tại sao Chúa Jêsus không đánh trả. Ngài biết rõ không có sự chết của Ngài, cả thế gian sẽ bị hư mất. Vì vậy, để phục theo ý chỉ tốt lành của Đức Chúa Trời, Ngài đã gánh chịu sự sỉ nhục của đám du thủ du thực kia, những lời vu cáo giả dối, sự đánh đập thô bạo, và nổi xấu hổ của cái chết trên thập tự giá.
Thứ Sáu Tốt Lành luôn luôn đến trước ngày Chúa nhựt Phục sinh. Chẳng có sự sống lại nếu không có sự đóng đinh trên thập tự giá, và chẳng có con đường tắt nào trên đường đến với sự vinh hiển. Lần tấn công man dại của Phierơ, chắc chắn bị tác động bởi tình yêu đang trong chỗ thất vọng, nghĩa là ông vẫn chưa hiểu rõ Chúa Jêsus phải chịu chết. Và đấy là lý do tại sao ông nương cậy vào gươm của mình để bảo vệ Con của Đức Chúa Trời. Khi Thomas Whitelaw viết về câu chuyện nầy, ông sử dụng 5 từ bắt đầu với chữ “U” để giải thích sự dại dột của Phierơ. Việc ông sử dụng bạo lực là . . .
Unavailing (vô ích). “Những công cụ yếu đuối của Hội Thánh có thể làm một ít việc chống lại quân nhiều tướng mạnh của thế gian giống như thanh gươm của Phierơ có thể làm để chống lại binh lính của Caesar”.
Unnecessary (không cần thiết). Nếu bạn có thể ra lịnh cho 72.000 thiên sứ (và tất cả thiên đàng đi nữa), bạn không cần thanh gươm nhỏ bé của Phierơ để bảo vệ cho bạn đâu.
Unchristian (phi Cơ đốc). Khi tấn công gã tôi tớ kia, Phierơ đã đi ngược lại với sự dạy của chính Chúa Jêsus là đưa luôn má bên kia khi bạn bị tấn công (Mathiơ 5:39).
Unreasonable (quá đáng). Ngay cả nếu Phierơ ngăn được sự bắt bớ, điều đó sẽ chẳng có giá trị gì hết. Mục tiêu của chúng ta là biến đổi đối thủ của mình nhờ vào tình yêu thương, chớ không phải ép buộc họ bằng sức mạnh.
Unwise (không khôn ngoan). Nổ lực hư không của Phierơ hòng bảo vệ Chúa Jêsus đã không cản trở được mục đích của Đức Chúa Cha mong đem ơn cứu rỗi đến qua sự chết của Con Ngài.
Unsafe (không an toàn). Hành động đột ngột của Phierơ đã mời gọi sự chú ý đến chính bản thân ông và ông dễ dàng bị nhận ra sau đó tại sân nhà của thầy cả Cai-phe. Sự ông nổ lực giải cứu giống như gậy ông đập lưng ông và chỉ gây tổn thương cho ông mà thôi.
IV. Bằng cách mở rộng tình thương chữa lành của Đấng Christ cho những người gây tổn thương cho chúng ta.
Sau khi Chúa Jêsus quở trách Phierơ về việc tấn công gã tôi tớ kia, Ngài làm ra một phép lạ thật bất ngờ. Ngài phục hồi lại lỗ tai của hắn: “Ngài bèn rờ tai đầy tớ ấy, làm cho nó được lành” (Luca 22:51). Điều nầy thật bất ngờ vì Chúa Jêsus đã chữa lành cho một người tham gia vào nhóm đã đến đó đặng bắt Ngài.
Sự việc đã xảy ra thật mau chóng.
Phierơ tấn công, chém đứt lỗ tai, máu phun ra ở khắp nơi. Chúa Jêsus quở trách Phierơ. Khi ấy Ngài chìa tay ra, rờ đến chỗ đang phun máu, nơi cái tai nằm ở đó, và thình lình cái tai được phục hồi.
Phierơ đã làm những gì mọi người đều có khuynh hướng làm khi chúng ta bị tổn thương và hoảng sợ. Ông đã tấn công trong giận dữ và hoảng loạn, gây thương tích cho gã tôi tớ của thầy cả thượng phẩm. Dường như đấy là một việc tự nhiên phải làm.
Đánh trả!
Bí lối!
Khiến ai đó phải trả giá!
Gây tổn thương cho họ theo cách họ làm tổn thương mình!
Nhưng ngay cả trong trường hợp nầy, chúng ta thấy cái dại dột của sự trả đủa. Tại sao lại tấn công gã tôi tớ của thầy cả thượng phẩm chứ? Hắn chỉ làm điều chi người khác sai biểu thôi mà. Nhưng như chúng ta đã thấy, Phierơ đã đánh trong man dại, trong giận dữ và thất vọng, muốn gây tổn thương cho ai đó, với sự mong muốn bảo hộ cho Thầy của mình. Nhưng việc chém đứt một cái tai sẽ không chặn được họ khỏi bắt Chúa Jêsus đâu. Thực vậy, nếu Chúa Jêsus không chữa lành cho gã nầy, việc ấy sẽ làm giới cầm quyền Do thái nổi thịnh nộ thêm. Khi cố gắng làm cho mọi việc ra tốt hơn, Phierơ đã làm cho chúng ra tệ hại hơn.
Chúa Jêsus đã làm những gì chỉ có Con Đức Chúa Trời mới có thể làm được mà thôi. Ngài đã chữa lành cho kẻ đến đặng làm tổn thương Ngài.
Sẽ ra sao nếu Phierơ thành công trong đêm đó? Sẽ ra sao nếu ông lãnh đạo các môn đồ khác trong cuộc chiến đấu cho đến người cuối cùng để bảo vệ cho Chúa Jêsus? Tất nhiên là điều đó đã không xảy ra, vì các cấp lãnh đạo Do thái có quyền lực của Rôma ở bên cạnh họ. Nhưng nếu cách nào đó Phierơ thành công trong việc “bảo vệ” Chúa Jêsus, Ngài sẽ không bao giờ bước lên thập tự giá, chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời sẽ thất bại, và sẽ chẳng có Tuần Lễ Thánh, chẳng có ngày thứ Sáu Tốt Lành và chẳng có Lễ Phục Sinh chi hết.
Ta há chẳng uống chén ấy sao?
Điều đó đưa chúng ta đến với lời lẽ sau cùng của Chúa Jêsus trước khi bị bắt: “Hãy nạp gươm ngươi vào vỏ; ta há chẳng uống chén mà Cha đã ban cho ta uống sao?” (Giăng 18:11). Chúa Jêsus luôn luôn nắm lấy quyền bính, thậm chí ở trong vườn, trong bóng tối của ban đêm, bị mấy tên lính vây lấy, họ đến để giải Ngài đi. Ngài đã đến đặng uống cái chén thương khó, và Ngài phải uống cái chén ấy.
Ôi Đấng Christ ơi, gánh nặng nào làm gục đầu Ngài!
Gánh nặng của chúng ta đã chất trên Ngài;
Ngài đứng trong chỗ của tội nhân –
Đã gánh lấy mọi bịnh tật thay tôi:
Một nạn nhân bị dẫn đi, huyết Ngài đổ ra!
Giờ đây chẳng có gánh nặng nào cho tôi nữa.
Sự chết và sự rủa sả đều ở trong cái chén ấy –
Ôi Đấng Christ ơi, quả là đong đầy cho Ngài!
Nhưng Ngài đã uống cạn cho tới giọt cuối cùng:
Chẳng còn gì hết cho tôi.
Cái chén cay đắng ấy, tình yêu đã uống cạn nó,
Giờ đây ơn phước tuôn tràn trên tôi.
Và Chúa Jêsus bị giải đi trong đêm khi các môn đồ bỏ trốn và Phierơ đi theo ở một khoảng xa xa. Hai tay ông bó lại, bị canh chừng giống như ông là một tên tội phạm vậy, Chúa Jêsus đi đối mặt với những kẻ vu cáo Ngài. Chưa đầy 12 giờ đồng hồ Ngài đã bị treo trên một cây thập tự. Nhưng khi Ngài bước đi, có một người cứ xoa mãi một bên đầu mình và nhớ rằng Chúa Jêsus đã rờ đến rồi chữa lành cho hắn ta.
Đây thực sự là phép lạ bị quên lãng trong dịp Lễ Phục Sinh. Và điều nầy xảy ra như phép lạ cuối cùng về sự chữa lành thân thể mà Chúa Jêsus đã từng làm ra. Đây là một mảng nhỏ trong cuộc sống, một cuộc gặp gỡ lúc nửa đêm, một phép lạ nho nhỏ trên đường dẫn tới phép lạ to lớn hơn. Và đó là một sự khải thị về tấm lòng chơn thật của Chúa Jêsus. Trong câu chuyện ngắn ngủi nầy, chúng ta nhìn thấy cách thức Chúa Jêsus đối xử với kẻ thù của Ngài. Khi họ đến để bắt Ngài, Ngài không kháng cự. Khi họ bị thương tích, Ngài chữa lành cho. Ngài tiếp nhận những cuộc tấn công của họ rồi bị giải đi để chịu chết cho chính những kẻ đã kết án tử hình Ngài. Ngài sẽ không sử dụng quyền phép thiêng liêng của Ngài để tránh thoát nanh vuốt của họ. Ngài chỉ sử dụng quyền phép của Ngài để chữa lành cho những kẻ bị thương tích bởi các môn đồ Ngài gây ra.
Tội lỗi của chúng ta đều chất thảy trên Ngài. Nếu chúng ta không được cứu, chúng ta không thể đổ lỗi cho Chúa Jêsus được. Lỗi hết thảy ở về phía chúng ta. Ngài bằng lòng tha thứ khi Ngài bị giải đi như hàng tội phạm, phải đổ máu ra và chịu chết.
Đúng là Đấng Christ!
Đúng là Ngài đã đem lại ơn cứu rỗi!
Vinh hiển cho danh Ngài cho đến đời đời. Amen.

Cai-phe: Gần nhưng chưa gần đủ



Những khuôn mặt quanh thập tự giá
Cai-phe: Gần nhưng chưa gần đủ
Thứ Năm, ngày 5 tháng 4, năm 33SC, 5:45 Sáng. Mặt trời nổi lên trên đường chân trời phía Đông khi thành phố vừa thức giấc. Những nhà buôn lo cuốn mấy tấm nệm của họ, các loài thú bắt đầu khua động chuồng của chúng, tiếng chó sủa vọng về từ đâu đó. Từ từ lớp sương mù ban đêm tan đi và trong giây phút ấy gần như mọi người đều thức dậy. Hôm ấy cũng là một ngày nắng nóng tại thành Jerusalem. Ở góc Tây nam của thành phố, một cung điện lớn đang từ từ bước vào nhịp sống. Đây là cung điện của Cai-phe, thầy cả thượng phẩm của người Do thái.
Trong tòa nhà ấy, Cai-phe đang mặc bộ áo xống tế lễ của mình. Hôm nay ông ta cảm thấy khá hơn trong nhiều tuần lễ. Và ông ta rất khỏe khoắn. Hôm nay là ngày cuối trong những ngày sửa soạn cho Lễ Vượt Qua. Thành phố đã chật ních sức chứa với những khách du lịch, khách hành hương, và nhiều đoàn dân đông Do thái đến từ các nơi trong xứ. Khi ông ta mặc xong phần sau cùng của bộ áo xống, đây là lễ Vượt Qua lần thứ 15 và dù ông ta biết rõ thủ tục tận đáy lòng, ông ta chưa hề thấm mệt vì thủ tục ấy. Rốt lại, mang lấy chức vụ tế lễ nầy là một việc thật phi thường. Trước ông ta, đã có ba thầy tế lễ thượng phẩm phục vụ trong nhiều năm trời. Nhiều người đến rồi đi trước khi bạn nhìn biết họ là ai. Nhưng không phải thế với Cai-phe. Không cứ cách nào đó, ông ta luôn luôn biết rõ phải làm sao để nắm lấy quyền lực. Ông ta là một nhà chính trị có tài, ông biết làm thế nào để giữ lấy hạnh phúc của người Lamã bằng cách nắm chặt lấy yếu tố Do thái thuần nhất. Ông biết rõ cách thức thể hiện quan điểm, ông biết rõ kinh Torah, ông rất hùng biện khi có cần, và ông biết rõ cách thức làm việc với đám đông. Giống như nhiều nhà lãnh đạo đang nắm lấy quyền lực trong một thời gian dài, lợi thế chính của ông ta là thủ đoạn. Ông ta sẽ phân xử một vụ việc khi vụ việc ấy góp phần cho các mục đích của ông ta.
8:00 sáng. Ban ngày đã bắt đầu trọn vẹn nhất vào thời điểm nầy. Các đường phố đã đông đảo với những khách hành hương, họ tụ tập lại quanh các lều quán lo mua mấy con chim bồ câu, chiên con, và rau đắng cho Lễ Vượt Qua. Trong chính Đền thờ, các con buôn đã dựng lên mấy cái chuồng và tận tình bắt đầu việc mua bán thêm một lần nữa. Người tạo ra rắc rối, Jêsus người Nazarét đã đến rất sớm trong tuần, người hô lên lớn tiếng và gọi họ là quân trộm cướp. Ngài lật đổ bàn của họ rồi gần như đã tạo ra một cuộc hỗn loạn. Một nhân vật thật lạ lùng.
Trong cung điện nguy nga ấy, Cai-phe đã sửa soạn đi lên đền thờ. Mọi việc hầu như đã sẵn sàng. Ông ta đã thốt ra những lời cầu nguyện ban sáng, dự điểm tâm, và bây giờ truyền lịnh cho đoàn tùy tùng các tôi tớ và bạn hữu dẫn đường lên Đền thờ. Nhưng lý trí ông ta đang chiếu theo một việc hoàn toàn khác. Ông ta cũng đã suy nghĩ về người Galilê có tên là Jêsus. Nhưng ông ta chẳng hề suy nghĩ về bản thân mình hơi lâu mà không bắt giận dữ. Ông ta chẳng là gì cả, song là một kẻ gây rối đột ngột được thăng tiến. Từ chính giây phút ông ta nghe nói về Jêsus nầy, Cai-phe đã không ưa thích người. Không bao lâu trước đó, ông ta đã nói với Tòa Công Luận rằng tốt hơn Jêsus phải chịu chết hơn là cả nước phải hư mất trong tay của người Lamã. Tốt hơn cho một người phải chịu chết thay cho dân chúng, còn hơn là cả nước sẽ bị hư mất. Và đấy là mảng thủ đoạn chính trị — hy sinh một người vì cớ nhiều người – đã dẫn tới âm mưu giao Chúa Jêsus vào trong tay của ông ta. Chúa Jêsus là mối đe dọa cho trật tự công cộng, một kẻ quấy rối hòa bình, một sự phiền hà của xã hội, và đã có một số người gọi Ngài là Vua của dân Do thái. Nếu người Lamã tiếp lấy luồng gió ấy, sẽ có rắc rối trầm trọng lắm. Michael Sadgrove gọi lời lẽ của Cai-phe với Tòa công luận là “một cách nói bóng bẩy bởi một người của thế gian, ông ta biết rõ khán thính giả của mình, nhìn biết họ sợ cái gì, đồng thời xem thường họ: `các ngươi không biết chi hết’. Và xem khinh cách kín đáo? Một sự tư lợi được giấu kỹ nhanh chóng khi xử lý với sự bất đồng và làm cho nó ra vô hiệu. Và trên hết mọi sự, mùi của sự sợ hãi”, Chúa Jêsus phải chịu chết. Tốt hơn là không bao lâu nữa. Cơn giận dữ của Cai-phe đã chuyển thành một nụ cười. Không bao lâu nữa ông ta sẽ phải quan tâm đến Chúa Jêsus một lần đủ cả.
11:15 sáng. Nắng nóng mặt trời úp đổ trên thành phố. Không một đám mây trên bầu trời. Nhiệt độ gần 80o F. Và đám dân đông vẫn vênh váo. Đây là ngày sau cùng và tốc độ nhanh lên ở từng góc thành phố. Những tay buôn đang lo liệu công việc bán buôn, những người buôn thú vật đã hình dung mình sẽ bán được nhiều lắm.
Cai-phe đang gặp gỡ với các bạn bè thân cận nhất của ông ta. Nhưng đây chẳng phải là buổi nhóm cầu nguyện đâu. Đây là phiên họp chiến lược tối mật. Đây là lần ôn lại cuối cùng các chương trình hòng giết chết nhân vật có tên là Jêsus. Sự bàn bạc đã diễn ra liên tục. Đây là phương án tốt nhứt để thực hiện mục tiêu đó? Đây là một vấn đề đòi hỏi phải xử lý thật thận trọng. Có nhiều điều Cai-phe không ưa Chúa Jêsus đã được bật ra. Một người nào đó đã đến từ xứ Galilê. Nhiều người khác chỉ nghe nói về các phép lạ của nhân vật nầy. Đến cuối cùng, họ phải thật cẩn thận trong dịp Lễ Vượt Qua. Với thành phố đông đúc, người Lamã rất bực mình, và nhiều tiếng đồn lan rộng như ngọn lửa. Nếu mưu định của họ bị lộ ra, các kết quả sẽ là thảm hại lắm.
Cú đột phá đã đến trong ngày thứ Tư. Trong ngày ấy một gã có tên là Giu-đa đã rời bỏ Jêsus rồi giúp hiến kế bắt người. Hiển nhiên là toàn bộ sự việc đã đưa Cai-phe đến chỗ ngạc nhiên. Ông ta không quen biết Giu-đa và nói thẳng ra, sau khi nhận xét dáng dấp của hắn ta, ông ta cần phải giữ kẻ.
Cai-phe lấy làm lạ ở trong lòng, suy nghĩ lý do tại sao Giu-đa đã bí mật đến, hiến kế dẫn binh lính đến chỗ Jêsus trong ban đêm. Hắn ta chẳng đưa ra một lý cớ nào cả, và chẳng ai hỏi han hết. Điều đó chẳng tạo ra một khác biệt nào. Có nhiều việc đã rơi đúng chỗ của nó. Và đấy là lý do tại sao Cai-phe đã mĩm cười khi ánh nắng mặt trời lúc giữa trưa chiếu thẳng xuống đỉnh đầu.
5:00 Chiều. Mặt trời đang ở về Tây, vẫn còn nóng rát khi thành phố chìm xuống sau một ngày sôi nổi. Đó đây những người mua sắm muộn các con thú cho bữa ăn Lễ Vượt Qua hay lo mặc cả về giá các thứ rau trong khu chợ. Nhưng sinh hoạt gần như đã xong xả hết rồi.
Bên ngoài thành phố, một số người đã sửa soạn bước vào bữa ăn Lễ Vượt Qua. Hai người đi trước để biết chắc mọi sự đã sẵn sàng. Trong chỉ mấy phút, nhóm nhỏ nầy gồm 13 người đã vào thành phố ở góc Đông Nam, theo bức tường phía Nam của thành phố, qua cổng khác, rồi vào căn phòng cao của một ngôi nhà mượn. Những người nầy sẽ dự bữa tối với nhau ở đó. Với sự ngẫu nhiên lạ lùng, ngôi nhà họ sử dụng không cách xa cung điện của Cai-phe lắm.
Bây giờ, sức mạnh của các biến cố bắt đầu diễn ra. Cai-phe biết chắc các biến cố phải lên tới cao điểm vào tối nay. Ông ta biết rất ít về nhân vật đang ăn lễ Vượt Qua với các môn đồ người ở cách đó chưa đầy ¾ dặm đường.
8:30 tối. Khắp cả thành, nhiều gia đình nhóm lại dự bữa ăn Lễ Vượt Qua. Trong các gia đình dọc theo từng ngõ đường, các bậc làm cha giải thích cho con cái biết biểu tượng của bữa ăn, hồi tưởng lại sự giải cứu của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài ra khỏi tay của Pharaôn trong xứ Aicập. Ở bên ngoài, các đường phố không trống vắng đâu – họ không ở trong thành Jerusalem – nhưng hầu hết thì cư ngụ ở đó. Đó đây người ta nghe giọng trầm bổng những lời cầu nguyện khi bữa ăn diễn ra.
Và trong ngôi nhà mượn kia, Chúa Jêsus gặp gỡ với các môn đồ Ngài lần cuối cùng. Không một lời cảnh báo, Ngài tuyên bố: “Một trong các ngươi sẽ phản Ta”. Những cái nhìn thật sốc, giận dữ và sợ hãi hiện rõ trên từng gương mặt. Họ mau lấy làm lạ: “Có phải tôi không?” Chỉ có một người không lấy làm lạ. Giu-đa biết rõ sự thật, nhìn thẳng vào Chúa Jêsus rồi nói: “Chắc chắn không phải là ta đâu”. Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi đã nói ra điều đó”. Rõ ràng chẳng một ai khác nghe hay hiểu cả. Giu-đa đứng dậy, tự cáo lỗi, rồi rời khỏi đó.
Chỉ đi bộ một khoảng ngắn thôi trên con đường ấy thì đến cung điện của Cai-phe. Các cấp lãnh đạo đang đợi hắn ta ở bên trong. Giu-đa trên đường đến với Cai-phe rồi nói: “Tối nay. Tôi có thể đưa các ông đến gặp người tối nay”. “Tuyệt vời quá, tuyệt vời quá”. Hắn đến thật mau chóng, Giu-đa băng mình vào bóng đêm.
Trong lý trí, Cai-phe mưu định bước kế tiếp. Ông ta không thể cùng đi với binh lính đặng bắt Chúa Jêsus. Điều đó cũng rất dễ hiểu. Hơn nữa, có một việc gì đó sẽ là sai lầm. Đây có thể là một cái bẫy. Không, ông ta sẽ ở lại và những người khác sẽ ra đi. Bản thân ông ta không nên dính dáng trực tiếp vào. Và đấy là cái cớ mà Cai-phe đã trụ lại trong chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm quá lâu như thế. Ông ta rất tinh ranh, không có lòng thương xót, hung ác và khác thường. Luôn luôn suy tính về từng góc độ.
11:00 tối. Đến lúc nầy thì bữa ăn trong ngôi nhà mượn đã xong hết rồi. Chúa Jêsus dẫn 11 người kia ra ngoài thành theo ngõ mà họ đã vào, chẳng để ý chi hết trong bóng đêm. Ngang qua trũng Kidron ở bên ngoài thành phố, họ đi thẳng lên đỉnh núi Olives. Không ai lấy làm ngạc nhiên cả. Đây luôn luôn là một địa điểm mà Chúa Jêsus rất ưa thích để suy gẫm trong yên tỉnh. Tối nay trong vườn Ghết-sê-ma-nê, Ngài đến đó đặng cầu nguyện.
Đồng thời, Cai-phe đang lo âu trông đợi. Tại sao vẫn chưa thấy gì cả? Mọi sự trong mọi sự, ông ta vẫn phải lo toan. Giờ đây, đã nửa đêm rồi mà chẳng có một dấu hiệu nào về Jêsus nầy hay về Giu-đa cho vấn đề đó. Nhưng chẳng có việc gì phải làm trừ ra chờ đợi. Và thế là Cai-phe, thầy cả thượng phẩm của dân Israel, người Do thái quan trọng nhất ở trong xứ, đang chờ đợi với hết cả thần kinh trong ngôi nhà rộng lớn của ông ta về một việc quan trọng – bất kỳ việc gì – phải xảy ra. Ban ngày đã ló dạng thật rực rỡ và đầy hy vọng chỉ có 18 giờ qua dường như không bao giờ dứt. Ông ta ngồi xuống và trông đợi. Rồi lấy làm lạ.
12:15 sáng. Sáng thứ Sáu. Bây giờ cả thành đang say ngủ. Đó đây các binh lính Lamã đang đứng gát. Nhiều ngọn đèn đã tắt, các loài thú đang ở trong chuồng của chúng, ai nấy yên nghỉ trước ngày Lễ Vượt Qua trọng đại ấy.
Bên ngoài thành, các biến cố đã lên tới cao điểm. Một cuộc diễu hành các ngọn đuốc sáng rực qua bóng tối tăm khi một tốp người băng mình xuyên qua rừng cây olive dọc theo sườn phía Tây của ngọn núi. Họ đang hướng tới khu vườn có máy ép dầu ở đó, một nơi được gọi là Ghết-sê-ma-nê. Không bao lâu sau đó, họ gặp được người ấy. Họ vòng quanh chỗ cong cuối cùng rồi bắt đường thẳng vào khu vườn. Giu-đa nói: “Kìa, hắn kia”. Nhưng hắn còn trễ hơn. Chúa Jêsus đã trông thấy họ rồi. Ngài biết rõ giờ phản Ngài đã đến.
Đã có một nụ hôn, một cuộc trao đổi thì thầm, những lời lẽ giận dữ ra từ các môn đồ, và mọi sự đã xong rồi. Toàn bộ vụ việc đã kết thúc không đầy 5 phút đồng hồ. Người ta rời khỏi khu vườn và bắt con đường dọc theo sườn núi mà đi xuống, ngang qua trũng rồi trở lại thành phố. Họ kéo theo tù phạm của họ.
1:00 sáng. Cai-phe nghe thấy âm thanh nhiều giọng nói trong sân cung điện, và cả lính gát cũng đến nữa. Và với tên lính đó là người đến từ xứ Galilê có tên là Jêsus. Cai-phe không thể mĩm cười được. Ông ta đang có người mà ông ta muốn.
Bây giờ, chương trình đã được soạn sẵn phải mở tung ra. Các thầy tế lễ cả và những trưỡng lão đều bước vào phòng trong chờ xét xử. Cai-phe biết rõ phải giữ từng dáng dấp của việc tuân thủ pháp luật.
1:15 sáng. Chúa Jêsus đứng ở giữa căn phòng, Cai-phe và người của ông ta ngồi ở chung quanh ông ta. Người chứng đầu tiên bước tới, nhưng rõ ràng là hắn không hề biết Chúa Jêsus là ai nữa. Rồi người chứng khác và khác nữa, cho tới chừng có hơn một tá người chứng đứng ra. Hết thảy đều nói về những tội ác khác nhau, nhưng lời lẽ của họ chẳng liên can gì đến Chúa Jêsus cả. Những người chứng công khai đấu đá nhau và những lời chứng của riêng họ cũng thế. Một số người ngửi thấy mùi rượu, nhiều người khác còn đọc sai tên của người bị tố cáo. Cai-phe lằm bằm ở trong lòng. Tới chỗ nầy rồi, sẽ mất cả đêm mới công bố được bản án.
2:05 sáng. Sau cùng, có hai người đưa ra phần làm chứng thật có ích. Họ tố cáo Chúa Jêsus về câu nói Ngài sẽ phá đổ đền thờ rồi dựng lại trong ba ngày. Đây chẳng có gì chính xác hết về những gì Ngài đã phán. Ngài đã phán về thân thể Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết. Ngài không lãnh đạo một cuộc nổi dậy để phá đổ đền thờ của Hê-rốt đâu. Nhưng Cai-phe không quan tâm đến những luận điểm sau cùng. Sự tố cáo là gần đủ cho một việc mà Chúa Jêsus đã nói trong giờ cuối cùng nầy.
Cai-phe vẫn chưa thấy thỏa lòng. Sự tố cáo không thực sự đủ để kết án tử hình một người. Và có một việc đã làm cho ông phải bối rối. Tại sao Jêsus nầy chẳng đưa ra một lời biện bác nào cả? Hết người chứng nầy đến người chứng khác đã nói nghịch Ngài. Người nầy có điên không chứ? Có phải hắn chẳng quan tâm?
Sau cùng, những giờ căng thẳng, mật ý, sự chờ đợi lo âu rung lên tiếng chuông của chúng và Cai-phe chổi dậy đưa ra câu hỏi đã có trong lý trí ông ta ngay từ ban đầu.
“Ta buộc ngươi phải lấy Đức Chúa Trời hằng sống mà thề: hãy nói cho chúng ta biết ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hay không!?!”
Thời gian như dừng lại. Không một ai cử động hết. Các cấp lãnh đạo đang buồn ngủ thình lình tỉnh giấc. Đây là câu hỏi rất quan trọng, là câu hỏi mà hết thảy họ đều lấy làm lạ. Người nầy là ai? Có thể nào hắn là ……..? Có phải như vậy không?
Và đây là giây phút mà Chúa Jêsus đã trông đợi. Ngài nhìn thẳng vào mặt Cai-phe rồi đáp: “Thật như lời”. Đâu đó có người thở hỗn hễn. Người nầy đã xưng mình là Con của Đức Chúa Trời. Những tiếng đồn đại kia là thực rồi. Khi ấy Chúa Jêsus thêm một lời mà họ không trông đợi. “Cai-phe, ngươi sẽ nhìn thấy Con Người ngồi bên tay hữu của Đấng Toàn Năng và ngự đến trên các đám mây trời”.
Ngài đã xưng mình là Đức Chúa Trời. Cai-phe đã nghe đủ rồi. Ông ta chổi dậy, xé áo mình rồi la lên: “Phạm thượng”. Cai-phe quay sang đám người kia, họ vẫn còn bị sốc, rồi hỏi: “Các ngươi nghĩ làm sao?”
Họ vốn chẳng trông đợi như thế. Rốt lại, ai biết rõ người nầy thực sự là ai chứ? Tại sao Cai-phe không quyết định? Nhưng quá trễ cho điều đó. Giờ đây họ phải nói. Như một người, họ đã chôn vùi mọi hồ nghi của họ. Người đầu tiên rồi người khác nữa đã nói: “Hắn phạm tội đáng chết”. Đừng phiền hà vì họ không có quyền thi hành bản án, đừng bao giờ phiền hà khi họ không dự định nhóm lại lúc nửa đêm, đừng phiền hà với những lời chứng dối. Người nầy phải chết. Người nầy quá nguy hiểm không thể để cho sống được.
Và thế là sự việc đã được định liệu. Cai-phe đã có được những gì ông ta mong muốn. Sau cùng, ông ra sắp loại bỏ được Jêsus, là kẻ gây rắc rối. Ông ta quay đi rời khỏi căn phòng ấy. Lúc bấy giờ khoảng gần 3:00 sáng. Ông ta cần ba tiếng đồng hồ ngủ nghĩ nếu ông ta vội vã. Khi ông ta rời đi, những người khác đã nhóm lại quanh nhân vật không may kia và khạc nhổ trên Ngài.
6:00 sáng. Chúa Jêsus bị xét xử trước Tòa Công Luận
6:30 sáng. Người ta đưa Ngài sang gặp Phi-lát
7:15 sáng. Bị đưa đến gặp Hê-rốt
7:45 sáng. Đưa trở lại gặp Phi-lát
9:00 sáng. Bên ngoài thành, trên ngọn đồi có hình như cái sọ, người có tên là Jêsus bị đóng đinh trên cây thập tự
9:15 sáng. Cai-phe nhận được tin tức và mĩm cười ở trong lòng: “Sau cùng, ta đã loại bỏ người ấy”.
Nhưng Cai-phe ơi, ông đã lầm rồi. Ông không thể loại bỏ Ngài được đâu. Ông sẽ gặp lại Ngài đấy.
Cai-phe, Cai-phe ơi, bất cứ ông ở đâu, ông có thể nghe tôi nói không? Ông đã hỏi đúng câu rồi đấy. Ngài đã ban cho ông đúng câu trả lời nữa. Và ông đã không chịu tin. Cai-phe ơi, bây giờ ông có chịu tin chưa? Bây giờ, có phải ông nhìn biết người nầy rồi chứ? Tôi nghĩ ông biết đấy, song đã quá trễ cho ông rồi.
Gần đấy, song chưa gần đủ
Chúng ta không bỏ qua cái điều mỉa mai lắm trong câu chuyện của Cai-phe. Một tuần trước đó, khi tiếng đồn rằng Chúa Jêsus đã làm cho Laxarơ sống lại từ kẻ chết, Tòa Công Luận đã nhóm lại để xem xét phải xử thế nào về “nan đề Jêsus”. Các cấp lãnh đạo người Do thái không thể chối bỏ các dấu lạ mà Ngài đã làm ra. Họ biết rõ Laxarơ đã chết mà giờ đây anh ta còn sống. Vì vậy, họ nói: “Nếu chúng ta để cho người làm, thì thiên hạ tin người, rồi dân Rô-ma sẽ đến diệt nơi nầy và cả nước chúng ta nữa”. Những nhà chính trị, thậm chí là những nhà chính trị tôn giáo, luôn luôn suy nghĩ y như thế. Họ sợ bất cứ điều chi làm lật đổ nguyên trạng. Đấy là lúc Cai-phe thốt ra câu nói nổi tiếng nhất của mình: “Các ngươi chẳng biết gì hết! Các ngươi chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư mất”. Khi Giăng thuật lại câu chuyện, ông nói thêm rằng Cai-phe đã nói nhiều hơn ông ta biết vì câu nói của ông ta là một lời tiên tri nói tới sự chết của Đấng Christ, thể nào sự chết đổ huyết ra của Ngài sẽ cung ứng ơn cứu rỗi cho hết thảy những ai chịu tin theo Ngài. Trong chỉ một câu nói, Cai-phe đã mở ra trọng tâm của Tin Lành:
Một người chịu chết cho nhiều người.
Người vô tội chịu chết cho kẻ có tội.
Người công bình chịu chết cho kẻ bất nghĩa.
Con Đức Chúa Trời chiếm lấy chỗ của hàng tội nhân.
Ngài đã trả giá.
Ngài đã gánh lấy án phạt.
Ngài chịu khổ trong chỗ của bạn.
Nếu có một tội nào mà Đấng Christ không trả được, hay thậm chí một ác tưởng nào mà Ngài không mang nổi, nếu Ngài không gánh lấy mọi tội chúng ta, thế thì chẳng có hy vọng gì cho bạn và cho tôi. Nhưng Ngài đã hoàn tất công tác cứu rỗi. Ngài đã chịu thương khó hầu cho chúng ta sẽ không chịu khổ vì cớ tội lỗi của mình. Cái giá đã được trả trọn hết rồi.
Thà Ngài chịu chết cho chúng ta hơn là chúng ta sẽ chịu chết vì những tội lỗi của chính mình.
Cai-phe đã ở gần với lẽ thật. Gần như thế song chưa gần đủ. Ông ta là một nhà lãnh đạo tôn giáo, ông ta lẽ ra phải biết mọi sự trong Cựu Ước chỉ về Đấng Christ mới phải. Câu chuyện của ông ta minh chứng rằng là một lãnh đạo tôn giáo không bảo đảm được bất cứ cấp độ nào về sự sáng láng thuộc linh. Ông ta đã mù lòa như vậy do sự thù ghét của ông ta đối với Đấng Christ đến nỗi ông ta không thể nhìn thấy được thực sự mình là ai. Thậm chí ông ta đã thốt ra sự thực và nói tiên tri những gì Đấng Christ sẽ hoàn thành bởi sự chết của Ngài.
Khi tôi viết những dòng nầy, chúng ta chỉ còn mấy ngày cách Tuần Lễ Thánh. Chẳng có thì giờ nào tốt hơn để suy gẫm những gì đã xảy ra cho Cai-phe. Nếu chúng ta thương hại ông ta, chúng ta bỏ sót luận điểm của câu chuyện mà Đức Chúa Trời muốn gây ấn tượng trên tấm lòng của chúng ta. Ông ta rất tôn giáo, và chính tôn giáo của ông ta đã làm mù mắt ông ta. Tuy nhiên, tôn giáo mà ông ta theo là tôn giáo mà Đức Chúa Trời đã tỏ ra qua Môise. Chúng ta không cần để thì giờ để tranh luận người Do thái đã lạc sai ra khỏi sự trọn vẹn được tỏ ra trên Núi Sinai. Đấy là sự thực, không một ai có thể chối cãi, nhưng nó tạo ra vấn đề trầm trọng vì hết thảy đã lạc sai đối với lý tưởng thiêng liêng, và khi chúng ta có thể bàn bạc Hội Thánh nào đạt tới mức gần nhứt, không ai trong chúng ta có thể xưng mình trọn vẹn được. Khi đưa Đấng Christ đi để đóng đinh trên thập tự giá, Cai-phe tưởng ông ta đang làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời. Mặc dù ông ta làm theo những gì Môise đã làm. Mặc dù ông ta làm theo luật pháp của Đức Chúa Trời. Mặc dù ông ta đang làm một việc rất thận trọng bằng cách giải thoát cho xứ sở khỏi kẻ lừa đảo chuyên làm phép lạ nầy, là kẻ khuấy động dân sự và mời gọi sự trả đủa của người Lamã. Cai-phe tưởng ông ta đang làm theo Đức Chúa Trời trong những giờ sớm sủa ấy vào sáng thứ Sáu. Là cấp lãnh đạo tôn giáo chủ chốt của người Do thái, ông ta là lãnh đạo mù dẫn đường cho người mù.
Chúng ta đừng nghĩ rằng được miễn trừ đối với sai lầm thê thảm nầy. Trong sự sốt sắng phục vụ Đức Chúa Trời, chúng ta có thể kết thúc giống như ông ta. Hy vọng duy nhứt của chúng ta là ném mình nơi Chúa, nhìn nhận nổi yếu đuối của mình, rồi cầu xin sự soi sáng thật đến từ Đức Thánh Linh.
Và thế là chúng ta còn lại với câu hỏi mà thầy tế lễ cả đã hỏi mấy người kia khoảng 2 giờ sáng vào sáng thứ Sáu: “Các ngươi nghĩ làm sao?” Cai-phe đã có từng lý do để đến với câu trả lời đúng cho câu hỏi kia, và không biết sao ông ta đã bỏ sót nó. Ông ta có thể biết rõ lẽ thật – và đã biết lẽ thật ấy – vì một tối số phận kia trong thành Jerusalem, Đấng Chơn Thật đã đứng trước mặt ông ta.
Đêm ấy Chúa Jêsus đã đứng chịu xét xử trước mặt Cai-phe – duy nhứt không phải Chúa Jêsus là Đấng chịu xét xử đâu. Mà chính là Cai-phe. Ông ta đứng trong vai trò cấp lãnh đạo tôn giáo, là người sợ mình không hiểu rõ và thù ghét những gì ông ta không nắm được, ông ta kết án tử cho một người mà ông ta không thể dọa dẫm được. Khi ông ta xét xử Chúa Jêsus, ông ta tự xét xử mình vì đã hy sinh sự công bình trên danh nghĩa thủ đoạn.
Nguyện câu chuyện của ông ta đứng như một lời cảnh cáo nghiêm trọng, đặc biệt cho từng người tôn giáo đang đọc mấy lời nầy. Chúa Jêsus vẫn là một nan đề cho thế gian. Ngài vẫn còn bị xét xử trong từng tấm lòng con người. Mỗi một người chúng ta phải lựa chọn những gì chúng ta tin về Con Người xuất thân từ xứ Galilê. Nguyện chúng ta chiếm lấy chỗ đứng của mình với Chúa Jêsus và tấm gương của Cai-phe sẽ không hề được đưa ra trong chỗ hư không.