Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

I Giang 2:18-27: "Máy Khám Phá Sự Dối Trá"



I Giăng 2.18-27
MÁY KHÁM PHÁ SỰ DỐI TRÁ

“Có người mẹ kia từng hỏi con gái mình: ‘Con có biết điều chi xảy ra cho con gái hay nói dối không?’
“Đứa con gái nghe xong đáp: ‘Tất nhiên là con biết đấy. Nó lớn lên rồi nói cho con cái của chúng biết chúng có thể làm cho tóc quăn nếu chúng chỉ ăn rau’”
“Bà Brown bị sốc khi biết đứa con ấy đã nói dối. Sau khi đem đứa trẻ ra một bên để trao đổi từ lòng tới lòng, bà giải thích rất sinh động mọi hậu quả của tánh nói dối.
“’Ngươi đờn ông cao lớn kia với ánh mắt rực lửa và hai cái sừng nhọn hoắc bắt lấy mấy đứa con nít hay nói dối đem chúng đi trong ban đêm. Ông ta đưa chúng đến sao Hoả, ở đó chúng phải lao động nhọc nhằn trong một hẽm núi chừng 50 năm! Còn bây giờ, bà ta kết luận: ‘con sẽ không được nói dối nữa, nghe không?’
“’Không đâu mẹ ơi - đứa nhỏ ấy nghiêm nét mặt nói: ‘Mẹ nói dối còn hay hơn cả con đấy!’”
Nói chung, trẻ con là những cái máy khám phá sự dối trá rất là tốt.
Và có nhiều lần khi quí vị có thể thuật lại ai đó đang nói dối. Hoặc giả nếu họ không nói dối, quí vị biết rằng họ hoàn toàn không nói ra sự thật.
Là một Mục sư, tôi có ấn tượng với khả năng nói dối của con người. Tôi đã nhìn thấy người ta ở hai mặt của một vấn đề, họ kể cho tôi nghe hai câu chuyện khác nhau, rồi phải đến với phần kết là ít nhất một trong hai câu chuyện không hoàn toàn là sự thật.
Mỗi một người chúng ta đều có cái “máy khám phá sự dối trá”, thật là thú vị khi chúng ta có thể biết được ai đang nói dối và ai đang nói ra lẽ chân thật?
Nhu cần phải có một cái “ máy khám phá sự dối trá” là quan trọng hơn quí vị có thể suy tưởng.
Giăng 8.44 – “Các ngươi bởi cha mình, là ma quỉ, mà sanh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, vì không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối”.
Đặc biệt con người rất giỏi trong việc nói dối vì cớ tác động của Satan.
Là “Cha sự nói dối”, quí vị nghĩ Ma Quỉ có trình độ nói dối về điều gì?
Tôn giáo, tất nhiên rồi!
Con đường dẫn tới thiên đàng
Con đường dẫn tới sự cứu rỗi
Sự sống đời đời
Thần tính của Đức Chúa Jêsus Christ
Satan là một kẻ thù, hắn chẳng muốn người nào tìm được sự sống đời đời.
Khi chúng ta trở lại với I Giăng và phần nghiên cứu của chúng ta về Cơ đốc giáo chơn thật, chúng ta đến với I Giăng 2.18-27. Ở đây chúng ta thấy rằng Satan hiện đang hành động khuyến khích sự nói dối hầu giữ con người không tin Đức Chúa Jêsus Christ là Cứu Chúa.
Cảm tạ Chúa, chúng ta là những Cơ đốc nhân có một cái máy khám phá ra sự dối trá, cái máy ấy có thể giữ chúng ta không chào thua trước sự dối trá của Satan.
SỰ DỐI TRÁ
I Giăng 2.18-19 – “Hỡi các con cái ta, giờ cuối cùng là đây rồi, các con đã nghe nói rằng Kẻ địch lại Đấng Christ phải đến. Vừa lúc bây giờ, có nhiều kẻ địch lại Đấng Christ; bởi đó, chúng ta biết rằng ấy là giờ cuối cùng. Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta; vì nếu chúng nó thuộc về chúng ta, thì đã ở cùng chúng ta; song điều đó đã xảy đến, hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy”.
Đây là thời điểm cuối cùng hay “giờ cuối cùng”, theo câu 18.
Đây không phải là giờ giấc theo nghĩa đen, mà là một thời kỳ.
Đây là thời điểm khi ai đó được cứu lúc người đặt đức tin và lòng tin cậy của mình nơi một mình Đấng Christ để được tha tội và được sự sống đời đời.
Đây cũng là thời điểm khi Đức Chúa Jêsus Christ có thể tái lâm vào bất cứ giờ phút nào để tiếp rước các thánh đồ của Ngài, và đề ra bối cảnh cho các biến cố long trọng sau cùng của lịch sử.
Quí vị sẽ nói: “Vậy thì một giờ sẽ kéo dài bao lâu?”
“Để định liệu cho mọi việc, tại sao Đức Chúa Trời phải lâu lắc như thế chứ?
“Đã hơn 2.000 năm qua rồi, tại sao Đức Chúa Trời không kết liễu việc nầy đi?”
Chúng ta trả lời cho thắc mắc đó tuần qua khi chúng ta trưng dẫn II Phierơ 3.8-9 – “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày. Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn”.
Sau khi Chúa Jêsus đến tiếp rước các thánh đồ Ngài có lời hứa về sự hiện ra của nhân vật mà Giăng nói với các độc giả đã nghe rằng hắn sẽ hiện đến. Giăng gọi hắn là “antichrist” “Kẻ địch là Đấng Christ” .
H.A. Ironside – “Giăng là trước giả duy nhứt sử dụng từ ngữ đặc biệt đó; những từ ngữ khác đã được sử dụng ở các phần khác trong Kinh Thánh; kẻ thờ lạy hình tượng, kẻ phi luật pháp, Vua ngoan cố, đứa con của sự đoạ đày, con người tội lỗi, tiên tri giả, và là kẻ sẽ hiện đến theo danh xưng của hắn. Những từ ngữ nầy đang mô tả cùng một nhân vật, là kẻ sẽ dấy lên trong thời kỳ đại nạn rồi dẫn những người Cơ đốc và Do thái giáo bội đạo tội lỗi đi thật xa khỏi Đức Chúa Trời hơn là họ đang đứng trong thời hiện tại đây” H.A. Ironside, Epistles of John and Jude, (Neptune, New Jersey, Loizeaux Brothers, 1931), p. 90
Tôi xem Antichrist là nổ lực tột bậc quan trọng nhất trong kỷ nguyên nầy để lật đổ Đức Chúa Jêsus Christ. Tất nhiên, điều nầy sẽ không đạt được mục tiêu đó đâu. Chúa Jêsus sẽ huỷ diệt hắn.
Satan không phải là không làm gì cả đâu, hắn đang chờ đợi để tỏ ra antichrist của hắn đấy thôi.
Trong câu 18 Giăng nói rằng chúng ta biết đây là giờ cuối cùng vì quanh đấy đã có nhiều antichrist rồi.
Chúng không phải là vô quyền đâu. Chúng không phải là không nguy hiểm đâu. Chúng không phải là không thuyết phục đâu. Nhưng chúng rất có quyền lực, nguy hiểm, và rất thuyết phục đủ để làm cho nhiều người phải lạc sai!
Chữ “anti” chúng ta nghĩ nó có ý nghĩa “địch lại”.
Cho nên thật là tự nhiên, một antichrist là kẻ nói năng nghịch lại với Đấng Christ.
Bất luận chúng ta nói về Đấng Christ có hay như thế nào, hắn đang nghịch lại Ngài.
Một số antichrist ăn nói rất hoa mỹ về Chúa Jêsus. Nhưng nếu quí vị cẩn thận lắng nghe mọi điều họ đang nói, quí vị khám phá ra rằng họ đang chối bỏ Ngài là Cứu Chúa, là Đấng Christ, là Đấng Mêsi, là Con Đức Chúa Trời.
Ngoài ra, giới từ nầy, “anti”, còn có ý nghĩa khác nữa. Nó cũng có nghĩa là “bắt chước”.
Những antichrist ngày hôm nay là một sự bắt chước Đấng Christ và bắt chước theo Cơ đốc giáo chơn thật.
Chúng đã được hoạch định bởi Satan làm công cụ của sự nói dối, là một sự dối trá!
Câu 19 – “Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta”.
Nói cách khác, đa phần các antichrist nầy, các giáo sư giả nầy đều khởi từ trong Hội Thánh, đã khởi sự từ giữa vòng các môn đồ, nhưng họ chưa hề thực sự được cứu.
Một lời cảnh cáo đang có ở đây. Quí vị đang ngồi nghe tôi nói, điều đó không bảo đảm cho sự quí vị được cứu đâu. Người ta có thể hiện diện trong nhà thờ hết Chúa nhựt nầy đến Chúa nhựt khác, hết tháng nầy sang tháng khác, hết năm nầy sang năm khác mà không được cứu!
Đấy là trường hợp của một số giáo sư giả, họ đã khởi sự các tôn giáo giả.
Warren Wiersbe – “Nếu bạn nghiên cứu lịch sử các hệ thống tà giáo cùng các hệ thống chống nghịch đạo Cơ đốc trong thế giới ngày nay, quí vị sẽ thấy rằng trong hầu hết các trường hợp những nhà sáng lập của chúng đều xuất thân từ một Hội Thánh địa phương nào đó! Họ đã ở với chúng ta, song không thuộc về chúng ta, vì vậy họ đã ra khỏi chúng ta rồi mở ra các nhóm riêng của họ” Warren Wiersbe, The Bible Exposition Commentary, Volume 2, (Wheaton, Illinois, Victor Books, 1989) p. 499
Câu 19 nói tiếp “…hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy”.
Và tại sao chẳng thuộc về chúng ta? Nếu họ ở lại trong chính Hội Thánh đó họ sẽ rao bán sự dạy giả dối của họ dễ dàng hơn.
Nhưng Đức Chúa Trời đã lo liệu cho chúng ta:
“… song điều đó đã xảy đến, hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy”.
Họ đã bị biệt ra khỏi Cơ đốc giáo chơn thật để tỏ ra tỏ tường rằng họ chẳng thuộc về chúng ta. Tất nhiên thế gian vẫn cố gắng nhóm các giáo sư giả lại dưới tiêu đề Cơ đốc giáo.
Mới đây Herbert W. Armstrong, người sáng lập “Giáo hội Hoàn cầu của Đức Chúa Trời” (The Worldwide Church of God), là một giáo sư giả.
Ông ta là một người thiên về với luật pháp.
Ông ta không phải là một Cơ đốc nhân chính thống theo ý nghĩa của sự dạy con đường chơn thật để được cứu.
Tuy nhiên, khi ông ta qua đời một bài báo tôi đã đọc gọi ông ta là một nhân vật theo trào lưu chính thống.
Nhưng ông ta, giống như hệ phái Mormons, những chứng nhân Giêhôva, Khoa học Cơ đốc, và nhiều người khác, đã tách biệt khỏi chúng ta, vì họ không thuộc về chúng ta!
Có một sự dối trá lộ ra ở đây!
Satan có nhiều antichrist của hắn.
Phải cẩn trọng. Phải biết lo toan về những kẻ chuyên dối trá đó.
SỰ DỐI TRÁ
KHÁM PHÁ – Các câu 20-21
Có phương thức nói ra lẽ thật từ sự dối trá không?
Một Cơ đốc nhân có thể nói giáo sư nào là đúng và giáo sư nào là sai không?
Một Cơ đốc nhân có thể tránh không rơi vào chỗ dại dột chăng? Những giáo sư giả nầy chắc chắn ra từ những Cơ đốc nhân đã được “biến đổi”.
Tất nhiên câu trả lời là “Có”!
Đức Chúa Trời đã cung ứng một hệ thống khám phá cho chúng ta.
I Giăng 2.20 – “Về phần các con, đã chịu xức dầu từ nơi Đấng thánh, thì đã biết mọi sự rồi”.
Hãy lưu ý chữ “xức dầu”.
Có một sự xức dầu đã diễn ra ngay giây phút người ta được cứu.
Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã làm phép báptêm, nhúng xuống nước, hay đặt mỗi một tín đồ vào trong thân thể của Đấng Christ.
I Côrinhtô 12.13 – “Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa”.
Và khi Đức Thánh Linh làm phép báptêm cho chúng ta Ngài đã ngự vào trong lòng chúng ta. Chúng ta có Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang ngự ở trong lòng.
Thánh Linh của Đức Chúa Trời, ngôi thứ ba của Ba Ngôi Đức Chúa Trời là một Vị Giáo Sư.
Giăng 16.12-14 – “Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi”.
Sự dạy của Đức Thánh Linh giúp chúng ta biết phân biệt lúc nào có một vị giáo sư giả. Câu 20 kết luận “các con…đã biết mọi sự rồi”. Câu nói nầy có ý nói: “hết thảy các con đều đã biết”. Nói cách khác, mỗi Cơ đốc nhân chơn thật có thể phân biệt đâu là thật đâu là giả nhờ ảnh hưởng của Đức Thánh Linh.
Warren Wiersbe – “Một vị giáo sĩ cùng với một người bạn da đỏ, người bạn nầy là một tân tín hữu, đến với người Mỹ da đỏ sống ở Los Angeles. Khi họ bước đi trên đường phố, họ đi ngang một người đứng ở góc đường đang giảng đạo với quyển Kinh Thánh trên tay. Vị giáo sĩ vốn biết rõ người nầy là đại diện cho một hệ thống thờ lạy hình tượng, còn người da đỏ chỉ nhìn thấy quyển Kinh Thánh. Anh ta đứng lại lắng nghe bài giảng.
“Vị giáo sĩ thầm nghĩ trong lòng: “Tôi hy vọng người bạn của tôi không rơi vào chỗ nhầm lẫn”, rồi bắt đầu cầu nguyện. Trong vài phút người da đỏ kia tách ra khỏi chỗ đó và cùng với vị giáo sĩ đi đường mình.
Vị giáo sĩ bèn hỏi: “’Anh nghĩ sao về nhà truyền đạo đó?”
Người da đỏ kia đáp ngay: “’Khi tôi nghe ông ta nói, ‘có điều chi đó ở trong lòng tôi cứ nhắc, kẻ nói dối, kẻ nói dối!’”
Câu 21 – “Ta viết cho các con, chẳng phải vì các con không biết lẽ thật, nhưng vì các con biết lẽ thật, và hiểu rằng chẳng có sự dối trá nào bởi lẽ thật mà ra”.
Giăng quyết chắc với độc giả của mình rằng ông đang viết không phải vì họ không biết lẽ thật, mà vì họ biết rõ lẽ thật.
Và vì họ biết rõ lẽ thật, ông muốn nhắc cho họ nhớ rằng lẽ thật không chứa một sự dối trá nào hết.
Giăng còn nhắc cho độc giả của ông biết rằng không một sự dối trá nào bởi lẽ thật mà ra.
Điều nầy có ý nói rằng không một ai trong chúng ta nên ngồi lại và nhìn xem những tín đồ Mormons hay Những chứng nhân Giêhôva, rồi nói: “Hay, có chút ít lẽ thật ở đó, điều đó khiến họ ra như thật”. Sự dạy giả dối chẳng đếm xỉa gì đến bất kỳ một lẽ thật nào.
Hệ thống thờ lạy hình tượng nầy không nhất thiết phải là sai trong giáo lý của họ hầu dẫn người ta đi lạc. Chỉ cần một ít độc tố thấm vào miếng cơm ngon thì giết chết ngay một con chuột.
Chúng ta phải làm gì với hệ phái Mormons, Những chứng nhân Gêhôva, cùng các phần tử tà giáo khác mà chúng ta biết?
Hãy yêu thương họ!
Hãy cầu nguyện cho họ!
Hãy tìm kiếm những cơ hội để chia sẻ lẽ thật cho họ.
Nếu có một sự dối trá trong sự dạy cơ bản về Đấng Christ và về ơn cứu rỗi, không có một lẽ thật nào ở đó, và là Cơ đốc nhân chúng ta có khả năng khám phá ra sự dối trá đó.
SỰ DỐI TRÁ
KHÁM PHÁ
CHỐI BỎ – Các câu 22-23
I Giăng 2.22 – “Ai là kẻ nói dối, há chẳng phải kẻ chối Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ sao? Ay đó là Kẻ địch lại Đấng Christ, tức là kẻ chối Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con!”
Bây giờ Giăng nói cho chúng ta biết ai là kẻ nói dối.
Có những người đang là đòn xóc hai đầu với giáo lý nói tới Đấng Christ.
Họ chối không nhận Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, nghĩa là, Con Đức Chúa Trời ở trong loài xác thịt.
Họ chối Chúa Jêsus không phải là Đấng Mêsi.
I Giăng 2.23 – “Ai chối Con, thì cũng không có Cha: ai xưng Con, thì cũng có Cha nữa”.
Câu 23 – Chối bỏ thần tính của Đấng Christ là tỏ ra quí vị không có Đức Chúa Cha đang ngự ở trong lòng quí vị.
Xưng nhận Đức Chúa Con là Cứu Chúa tỏ ra rằng Đức Chúa Cha đang ngự ở trong quí vị đấy.
Giăng 14.21 – “Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta; người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết ta”.
Người theo đạo Hồi không công nhận thần tính của Đấng Christ, họ không có Đức Chúa Cha.
Người theo Do thái giáo không công nhận thần tính của Đấng Christ, họ không có Đức Chúa Cha.
Những chứng nhân Giêhôva không công nhận thần tính của Đấng Christ. Họ không có Đức Chúa Cha.
Hệ phái Mormons không công nhận thần tính của Đấng Christ theo cùng một cách chúng ta xưng nhận. Họ không có Đức Chúa Cha.
Hãy xem xét mọi điều một giáo sư đang nói về Đấng Christ, và nếu ông ta là một giáo sư giả, một antichrist, quí vị sẽ nhìn thấy sự chối bỏ Đấng Christ đâu đó trong sự dạy của ông ta.
SỰ DỐI TRÁ
KHÁM PHÁ
CHỐI BỎ
BẢO VỆ – Các câu 24-27
Vậy thì chúng ta phải canh chừng như thế nào hầu chống lại sự dạy giả dối?
Đâu là sự phòng thủ của chúng ta để chống lại cuộc tấn công như thế nầy của Satan?
I Giăng 2.24 – “Còn như các con, điều mình đã nghe từ lúc ban đầu phải ở trong các con. Nếu điều các con đã nghe từ lúc ban đầu ở trong mình, thì các con cũng sẽ ở trong Con và trong Cha”.
Có một số điều không thể đánh đổ được trong đức tin của quí vị.
Có một số lẽ thật quí vị đang tin theo, quí vị đã nghe từ lúc ban đầu về đức tin Cơ đốc của quí vị.
Nếu những điều không thể đánh đổ được cứ ở trong quí vị, mối giao thông của quí vị với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con cứ thêm lên và tiếp tục.
Những điều không thể đánh đổ nầy là Tin Lành (gospel).
G – Đức Chúa Trời yêu thương quí vị.
O – Đức Chúa Jêsus Christ là Con độc sanh
S – Tội lỗi, ai cũng có
P – Huyết quí báu của Đấng Christ đã đổ ra vì chúng ta
E – Cứu Chúa hằng sống
L – Hãy mời Ngài ngự vào lòng
I Giăng 2.25 – “Lời hứa mà chính Ngài đã hứa cùng chúng ta, ấy là sự sống đời đời”.
Người nào thực sự được sanh lại sẽ trụ lại với Tin lành và nhận lãnh lời hứa sự sống đời đời.
I Giăng 2.26-27 – “Ta đã viết cho các con những điều nầy, chỉ về những kẻ lừa dối các con. Về phần các con, sự xức dầu đã chịu từ nơi Chúa vẫn còn trong mình, thì không cần ai dạy cho hết; song vì sự xức dầu của Ngài dạy các con đủ mọi việc, mà sự ấy là thật, không phải dối, thì hãy ở trong Ngài, theo như sự dạy dỗ mà các con đã nhận”.
Giăng đã viết những điều nầy vì cớ những người sẽ quyến dụ hay dẫn dắt các Cơ đốc nhân đi lạc.
Trong câu 27 ông quyết chắc rằng chúng ta có sự xức dầu của Đức Thánh Linh đang ngự trong chúng ta. Sự xức dầu nầy có liên tục
Đây là công tác của Đức Thánh Linh bảo hộ chúng ta chống lại sự quyến dụ của các giáo sư giả.
Chính Đức Thánh Linh là Đấng đang dạy dỗ chúng ta, để chúng ta không cần tới các giáo sư giả đang gọi mời chúng ta.
Phân đoạn Kinh Thánh nầy không có ý nói rằng chúng ta không cần các giáo sư Kinh Thánh. Đấy là điều chính bản thân Giăng đang làm, đang dạy Kinh Thánh!
Chính mình Chúa Jêsus đã bảo chúng ta phải dạy dỗ trong Sứ Mệnh Cao Cả của Ngài.
Mathiơ 28.19-20 – “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”.
Phaolô đã chỉ định các vị giáo sư.
Phaolô bảo Timôthê dạy người khác nên dạy cho những người khác nữa.
II Timôthê 2.1-2 – “Vậy, hỡi con, hãy cậy ân điển trong Đức Chúa Jêsus Christ mà làm cho mình mạnh mẽ. Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác”.
Tôi nghĩ mục đích của Giăng, ấy là quí vị và tôi đều có sự phòng thủ chống lại các giáo sư giả. Đây là công tác dạy dỗ của Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh sẽ dùng Lời của Đức Chúa Trời, sự thông sáng riêng tư của Ngài, và sự dạy của các giáo sư tin kính giữ chúng ta trên con đường hẹp và thẳng tắp kia.
Và chúng ta càng để cho Đức Thánh Linh dạy dỗ chúng ta, chúng ta càng cứ ở trong Ngài luôn.
Vì vậy Đức Chúa Trời đã trang bị cho chúng ta với một cái máy khám phá sự dối trá.
SỰ DỐI TRÁ
KHÁM PHÁ
CHỐI BỎ
BẢO VỆ
***

I Giăng 2:15-17: "Yêu Mến Đức Chúa Trời"



I Giăng 2.15-17
Yêu mến Đức Chúa Trời

Lạy Chúa, con yêu Ngài; không phải vìcon hy vọng được lên thiên đàng đâu,Cũng không phải vì có ai đó chẳng yêu mến Ngàimà bị hư mất cho đến đời đời.
Ôi Chúa Jêsus ơi, Ngài đã ôm lấy conTrên cây thập tự;Vì con, Ngài đã mang lấy những dấu đinh,
mũi giáo, Và bị ghét bỏ,
Thêm nhiều đau khổ vô số,Và giọt mồ hôi thống khổ;Phải, cả sự chết nữa; và hết thảy là vì conlà kẻ thù của Ngài.
Ôi Đức Chúa Jêsus Christ phước hạnh ơi,
thế thì tại sao,con chưa yêu Ngài đủ chứ?Không phải vì cớ được lên thiên đàng,cũng không phải vì thoát khỏi địa ngục;
Không phải từ hy vọng kiếm được chút gì, không phải tìm kiếm một phần thưởng;Nhưng như Ngài đã yêu thương con,Ồ Chúa yêu thương cho đến đời đời.
Lạy Chúa yêu dấu, con sẽ yêu mến Ngài, và sẽ hát ca tụng Ngài;Chỉ vì Ngài là Đức Chúa Trời của con,Và là Vua yêu thương nhất của con.
[Francis Xavier, 1506-1552, do Edward Caswall dịch ra Anh ngữ, 1814-1878 http.//www.bible.org/illus.asp?topic_id=917].

Chúng ta nói về việc yêu mến Đức Chúa Trời sáng nay.
Chúng ta sẽ sử dụng I Giăng 2.15-17, tiểu đoạn kế trong loại bài về I Giăng như một phần bàn luận quan trọng.
Nhưng, chúng ta sẽ nói tới các tiểu đoạn khác nữa. Chúng ta hãy xem xét:

MẠNG LỊNH PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
NGUYÊN NHÂN CHO VIỆC YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
PHẦN THÁCH THỨC PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
PHẤN ĐẤU TRONG VIỆC YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI

MẠNG LỊNH PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
Mathiơ 22.35-40 – “Có một thầy dạy luật trong bọn họ hỏi câu nầy để thử Ngài: Thưa thầy, trong luật pháp, điều răn nào là lớn hơn hết? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. ấà điều răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra”.

Chúa Jêsus đã tóm tắt toàn bộ luật pháp và các sách tiên tri trong Cựu ước bằng hai dẫn chứng.

Phục truyền luật lệ ký 6.4-5 – “Hỡi Y-sơ-ra-ên! hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai. Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi”.

Lêvi ký 19.18 – “Chớ toan báo thù, chớ giữ sự báo thù cùng con cháu dân sự mình; nhưng hãy yêu thương kẻ lân cận ngươi như mình: Ta là Đức Giê-hô-va”.

 Theo John MacArthur, hết lòng yếu mến Đức Chúa Trời là yêu mến Ngài từ “trung tâm sự sống của một người”.
 Hết linh hồn yêu mến Đức Chúa Trời là tương đương với tình cảm. Về mặt tình cảm chúng ta phải tận tâm tận tình dành tình cảm của chúng ta cho Đức Chúa Trời.
 Hết ý yêu mến Đức Chúa Trời “được sử dụng ở đây theo ý nghĩa trí khôn, cương quyết và sẵn lòng, có cả hai ý nghĩa về trí khôn và hết sức lực” [John MacArthur, The MacArthur New Testament Commentary, Matthew 16-23 (Chicago, Moody Press, 1988), p.339]

Bây giờ, nói theo con người khi yêu mến Giêhôva Đức Chúa Trời theo một phương thức như vậy, tôi muốn giữ luật pháp Cựu ước, đặc biệt là 10 Điều Răn. Bốn điều răn thứ nhứt nằm trong mối quan hệ cho việc yêu mến Đức Chúa Trời. Sáu điều răn sau cùng nằm trong mối quan hệ với việc yêu tha nhân. Vì chúng ta đang nói tới việc yêu mến Đức Chúa Trời, chúng ta hãy liệt kê 4 điều răn thứ nhứt.

1. Xuất Êdíptô ký 20.3 – “Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác”.

2. Xuất Êdíptô ký 20.4-6 – “Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta”.

3. Xuất Êdíptô ký 20.7 – “Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Đức Giê-hô-va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi”.

4. Xuất Êdíptô ký 20.8 – “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh”.

Vì vậy sự yêu mến Đức Chúa Trời đã được truyền dạy. Nhưng có một vấn đề. Quí vị không thể làm theo lời dạy đó!

Quí vị không thể hết lòng, hết linh hồn, hết ý yêu mến Giêhôva Đức Chúa Trời của mình, quí vị cũng không thể yêu mến người lân cận như mình được.

Ở đâu đó, dọc theo con đường sự sống, quí vị đã phá vỡ 10 Điều Răn, và vì lẽ đó, đã thất bại không yêu mến Đức Chúa Trời theo cách mà quí vị phải yêu mến.

Roma 3.23 – “vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”.

Êsai 64.6 – “Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi”.

Trước khi có 10 Điều Răn, Ađam và Êva ở trong vườn Êđen cũng đã thất bại không vâng theo Đức Chúa Trời khi họ ăn trái cấm. Sự bất tuân của họ cho thấy họ không hết lòng, hết linh hồn và hết ý yêu mến Đức Chúa Trời. Quí vị cũng đã thất bại không vâng theo Đức Chúa Trời và không hết lòng, hết linh hồn và hết ý yêu mến Ngài.

MẠNG LỊNH PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
NGUYÊN NHÂN CHO VIỆC YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI

Có một nguyên nhân, một lý do cho chúng ta phải yêu mến Đức Chúa Trời cách trọn vẹn.
Chúng ta sẽ không yêu mến Đức Chúa Trời theo cách chúng ta đáng phải yêu mến. Chúng ta sẽ không vâng theo các điều răn của Ngài. Chúng ta thất bại không yêu mến Đức Chúa Trời.

Nhưng Đức Chúa Trời không thất bại trong việc yêu thương chúng ta.

I Giăng 4.10 – “Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta”.

Roma 5.6-8 – “Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết”.

Một người phải trả giá cho tội lỗi của chính mình rồi phải ở đời đời trong địa ngục, hay ai đó cần phải làm thoả mãn sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời bằng cách trả giá thay cho chúng ta. Nhân vật nào trả giá thay cho tội lỗi chúng ta phải là nhân vật bản thân người không có tội lỗi. Nhân vật ấy chính là Đức Chúa Jêsus Christ.

Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho chúng ta tình yêu thương! Tình yêu ấy trở nên hiện thực trong đời sống chúng ta khi chúng ta tiếp nhận Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa của mình, khi chúng ta tin cậy Ngài để được tha thứ và được sự sống đời đời.

Giăng 3.16 – “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời”.

Hầu hết chúng ta trong phòng nhóm nầy sáng nay đều đã tin cậy Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa của mình rồi. Nếu quí vị chưa tin nhận Ngài, làm ơn tiếp nhận ơn yêu thương của Đức Chúa Trời bằng cách tin cậy nơi một mình Ngài để được tha thứ và được sự sống đời đời!

Nếu quí vị đã tin cậy Đấng Christ sáng nay, quí vị có từng lý do và từng động lực để hết lòng, hết linh hồn và hết ý mà yêu mến Giêhôva Đức Chúa Trời của quí vị. Quí vị có thể nói với tác giả Thi thiên:

Thi thiên 40.2 – “Ngài cũng đem tôi lên khỏi hầm gớm ghê, khỏi vũng bùn lấm; Ngài đặt chân tôi trên hòn đá, và làm cho bước tôi vững bền”.

I Giăng 4.19 – “Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước”.

Tình yêu chúng ta dành cho Đức Chúa Trời sẽ nằm trong phần đáp ứng với tình yêu mà Ngài dành cho chúng ta!
Chúng ta phải yêu mến Ngài một cách hoàn toàn, vì Ngài yêu thương chúng ta cách trọn vẹn!

William Law nói: “Muốn yêu mến Đức Chúa Trời cách hết lòng, chúng ta phải tin chắc rằng hạnh phúc duy nhứt của chúng ta chỉ ở trong chính một mình Ngài mà thôi. Chúng ta không thể tin điều nầy cho tới chừng chúng ta đoạn tuyệt mọi nổ lực khác khi tìm kiếm hạnh phúc. Nếu chúng ta trông mong Đức Chúa Trời ban cho phân nửa hạnh phúc thôi, chúng ta chỉ có thể yêu Ngài với phân nửa tấm lòng của chúng ta” – [William Law in Christian Perfection (a contemporary version by Marvin D. Hinten). Christianity Today, Vol. 36, no. 9. Bible Illustrator 3.0].
MẠNG LỊNH PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
NGUYÊN NHÂN CHO VIỆC YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
PHẦN THÁCH THỨC PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI

Mặc dù chúng ta có nguyên nhân phải yêu mến Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn, chúng ta bị thách thức trong tình cảm của chúng ta. Điều nầy đưa chúng ta đến với I Giăng.
I Giăng 2.15 – “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy”.

Chúng ta bị thách thức bởi sự lôi kéo của “thế gian”.
Thế gian muốn chúng ta phải yêu mến nó.

Trong câu nầy từ “thế gian” không có ý nói tới quả đất, từ nầy cũng không nói tới con người ở trên đất. Nói có ý nói tới “hệ thống thế gian” hay đường lối gian ác của thế gian trong việc làm ra mọi sự.
Đức Chúa Trời đang nói cho chúng ta biết ở đây, chúng ta một là yêu mến đường lối gian ác của thế gian hoặc chúng ta sẽ yêu mến Đức Chúa Trời. Một là cái nầy hay là cái kia. Người nào yêu mến Đức Chúa Trời thì không yêu mến thế gian.
Người nào yêu thế gian thì không yêu mến Đức Chúa Trời.

Mathiơ 6.24 – “Chẳng ai được làm tôi hai chủ; vì sẽ ghét người nầy mà yêu người kia, hoặc trọng người nầy mà khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi Ma-môn nữa”.

Warren Wiersbe – “Thế gian nhập vào một Cơ đốc nhân qua tấm lòng của người. “Chớ yêu thế gian!” Bất cứ điều chi cướp mất nơi Cơ đốc nhân sự thưởng thức tình yêu của Đức Chúa Cha, hay cướp mất lòng ham mến làm theo ý chỉ của Đức Chúa Cha, đều là thế gian và phải tránh né nó. Mỗi tín đồ, trên cơ sở Lời Đức Chúa Trời, phải nhận dạng các việc ấy ở trong lòng”. Warren Wiersbe, The Bible Exposition Commentary (New Testament,, volume 2, (Wheaton Illinois, Victor Books, 1989) p. 497

Phần thách thức của chúng ta là đây. Thậm chí đối với chúng ta là những Cơ đốc nhân, yêu mến thế gian là điều rất dễ dàng. Và sự yêu mến thế gian là việc sau cùng mà chúng ta sẽ muốn làm theo!
Giacơ 4.4 – “Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ nghịch thù cùng Đức Chúa Trời vậy”.

Vậy thì chúng ta yêu mến cái gì khi chúng ta yêu mến thế gian?
I Giăng 2.16 – “Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra”.

Mê tham là ham muốn. Không phải mọi sự ham muốn là sai cả đâu. Nếu chúng ta không ham muốn đồ ăn chúng ta sẽ không ăn. Nếu những người làm chồng và những người làm vợ không ham muốn nhau thì sẽ chẳng có đứa con nào. Nếu chúng ta không ham muốn yên nghỉ chúng ta sẽ không ngủ đâu. Nếu chúng ta không ham muốn rượu chúng ta sẽ không uống.

“Sự mê tham của xác thịt” là khi mọi sự ham muốn nầy nằm ngoài tầm kiểm soát.
Người nào mê tham đồ ăn là kẻ tham ăn.
Người nào mê tham tình dục là một kẻ gian dâm, một kẻ tà dâm, hay tồi tệ hơn!
Người nào mê tham ngủ nghỉ là kẻ biếng nhác!
Người nào mê tham rượu chè là kẻ say sưa!

Bất cứ lúc nào tôi để cho mọi ham muốn xác thịt của mình nằm ngoài tầm kiểm soát, tôi đã phạm vào “sự mê tham của xác thịt”.

“Sự mê tham của mắt” là khi tôi ham muốn làm đẹp mắt mình hơn là tôi cố gắng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Khiêu dâm là sai, hầu hết chúng ta không bàn cãi chi về điều nầy! Ấy là khi tôi để cho mắt mình nhắm vào những việc gợi dục.

Nhưng bất cứ lúc nào chúng ta nhìn xem đối tượng của tình dục với một động lực sai lầm, chúng ta đang phạm vào sự mê tham của mắt.

Mathiơ 5.27-28 – “Các ngươi có nghe lời phán rằng: Ngươi chớ phạm tội tà dâm. Song ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi”.

Sự mê tham của mắt thường khiến chúng ta bước vào một thế giới giải trí tưởng tượng lôi cuốn chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời.

Những người Mỹ ưa thích thưởng thức các môn thể thao, môn giải trí bằng video, giải trí bằng TV và giải trí trên trang web của họ. Và khi mọi điều nầy đầy dẫy chúng ta với cái nhìn thấy và tư tưởng ngược lại với sự thánh khiết của Đức Chúa Trời hoặc cướp mất thì giờ của chúng ta đáng phải dâng cho Đức Chúa Trời, họ đang ở trong chỗ sai lầm!

Ở chỗ khác “sự mê tham của mắt” đang tác động chúng ta qua sự ham muốn những gì người khác đang có. Chúng ta mong muốn xe hơi, nhà cửa, súng đạn, quần áo mà chúng ta thực sự không cần tới, nhưng chúng ta muốn có chúng hơn chúng ta muốn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời!

Khi những việc nầy cướp mất nơi chúng ta sự đầu phục, tình cảm và lòng trung thành đối cùng Đức Chúa Trời, những điều đó là sai rồi!

“Sự mê tham của xác thịt”, “Sự mê tham của mắt” và “sự kiêu ngạo của đời”.

Chẳng có gì là sai với việc lộ vẽ tự hào trong công việc của mình hay nơi dáng dấp bề ngoài của quí vị.
Kiêu ngạo là sai khi quí vị nghĩ mình tốt hơn người khác và thậm chí nói ra như thế!
Kiêu ngạo là điều thường giữ chúng ta không công nhận mình là sai, hay xin lỗi, hoặc xin tha thứ.

Giăng gói ghém tiểu đoạn Kinh Thánh nầy bằng cách nói trong câu 17: “Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời”.

 Người nào yêu mến thế gian theo thói quen, họ đang tin vào những việc chắc chắn sẽ qua đi.
 Người nào yêu mến Đức Chúa Trời theo thói quen sẽ được cứu và sẽ lên Thiên đàng.
 Người nào yêu mến Đức Chúa Trời theo thói quen đang xây dựng một cõi đời đời đầy những phần thưởng.

I Côrinhtô 3.11-15 – “Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jêsus Christ. Nếu có kẻ lấy vàng, bạc, bửu thạch, gỗ, cỏ khô, rơm rạ mà xây trên nền ấy, thì công việc của mỗi người sẽ bày tỏ ra. Ngày đến sẽ tỏ tường công việc đó; nó sẽ trình ra trong lửa, và công việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chỉ ra. Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình. Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy”.

Chúng ta đang có một sự thách thức trên hai bàn tay của mình. Chúng ta bị thách thức phải yêu mến Đức Chúa Trời và không yêu mến thế gian, và thực hoàn toàn, điều nầy không dễ dàng. Chúng ta có xu hướng mà Kinh Thánh gọi là “bổn tánh cũ” muốn yêu mến thế gian thay vì muốn yêu mến Đức Chúa Trời.

Chúng ta cần sự giúp đỡ và mục tiêu sau cùng của chúng ta cung ứng sự vùa giúp đó.

MẠNG LỊNH PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
NGUYÊN NHÂN CHO VIỆC YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
PHẦN THÁCH THỨC PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
PHẤN ĐẤU TRONG VIỆC YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
Tôi không thể tự cứu lấy mình được, để tự xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời.
Tôi không thể yêu mến Đức Chúa Trời cách trọn vẹn bằng sức riêng của tôi trước khi tôi được cứu.
Tôi không thể yêu mến Đức Chúa Trời cách trọn vẹn bằng sức riêng của tôi sau khi tôi được cứu.
Tôi sẽ không chống cự nổi thế gian.

Phần giúp đỡ mà tôi đang có cần dựa theo sự thực tôi được đồng hoá với Đấng Christ trong sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài.

Roma 6.3-4 – “Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp-têm trong Đức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp-têm trong sự chết Ngài sao? Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-têm trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy”.

Khi Đấng Christ chết, tôi chết.
Khi Đấng Christ bị chôn, tôi bị chôn.
Khi Đấng Christ sống lại theo đời mới, tôi sống lại theo đời mới.

Roma 8.1-4 – “Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ; vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Jêsus Christ buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết. Vì điều chi luật pháp không làm nổi, tại xác thịt làm cho luật pháp ra yếu đuối, thì Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã vì cớ tội lỗi sai chính Con mình lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi chúng ta, và đã đoán phạt tội lỗi trong xác thịt, hầu cho sự công bình mà luật pháp buộc phải làm được trọn trong chúng ta, là kẻ chẳng noi theo xác thịt, nhưng noi theo Thánh Linh”.
Sự công bình của Luật pháp là hết lòng, hết linh hồn, hết ý kính sợ Giêhôva Đức Chúa Trời. Tôi sẽ làm theo điều nầy khi tôi được Đức Thánh Linh cai quản.
Sự công bình của Luật pháp được phu phỉ trong tôi khi tôi ăn ở dưới quyền điều khiển của Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang ngự trong đời sống tôi.
Ngài là Đấng duy nhất có thể khiến tôi ăn ở theo Đức Thánh Linh!

Galati 5.16 – “Vậy tôi nói rằng: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt”.

Galati 5.22-24 – “Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ: không có luật pháp nào cấm các sự đó. Vả, những kẻ thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tự giá rồi”.

Làm thế nào quí vị được đầy dẫy Đức Thánh Linh?

 Hãy tự xem mình đã “bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ”.
Galati 2.20 – “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi”.

 Hãy cầu xin Đức Chúa Trời làm đầy dẫy quí vị với Thánh Linh Ngài và tin Ngài sẽ làm cho!
Luca 11.13 – “Vậy nếu các ngươi là người xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài!”

Giăng 14.13 – “Các ngươi nhân danh ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh nơi Con”.

Cách duy nhứt quí vị sẽ thực sự yêu mến Đức Chúa Trời là khi quí vị thưởng thức mọi điều Chúa Jêsus đã làm cho quí vị, phục theo Ngài là Chúa của đời sống quí vị, và cầu xin Ngài điều khiển quí vị bởi Thánh Linh của Ngài.

MẠNG LỊNH PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
NGUYÊN NHÂN CHO VIỆC YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
PHẦN THÁCH THỨC PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
PHẤN ĐẤU TRONG VIỆC YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI
***

I Giăng 2:12-14: "Lời Khôn Ngoan"



1 Giăng 2.12-14
LỜI KHÔN NGOAN

Dwight L. Moody - “Tôi cầu nguyện xin cho có Đức Tin, và có thể một ngày kia Đức Tin sẽ ngự đến và đánh vào tôi như tia chớp. Nhưng Đức Tin dường như không đến. Ngày nọ tôi đọc Roma 10. "Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng". Tôi xếp quyển Kinh Thánh lại, và cầu nguyện xin cho có Đức Tin. Giờ đây tôi mở quyển Kinh Thánh ra, và bắt đầu nghiên cứu, thế rồi Đức Tin lớn lên từ đó”.

Christian Johnson. “Một quyển Kinh Thánh bị bỏ bê có lẽ là của ai đó không đọc nó”.

John R. W. Stott (1921). “Một người yêu vợ mình sẽ yêu các bức thư cùng những tấm ảnh của nàng vì chúng nói cho người ấy biết về nàng. Cũng vậy, nếu chúng ta yêu mến Chúa Jêsus, chúng ta sẽ yêu Kinh Thánh vì Kinh Thánh nói cho chúng ta biết về Ngài”.

Theodore Roosevelt (1858-1919). “Một sự hiểu biết thấu đáo Kinh Thánh còn có giá trị hơn cả tốt nghiệp ở trường Đại học”.
J. I. Packer (1926). “Đức Chúa Cha là Đấng ban cho Kinh Thánh; Đức Chúa Con là lẽ đạo của Kinh Thánh; còn Đức Thánh Linh là tác giả, Đấng chuẩn y, và là Đấng giải thích Kinh Thánh”. Tất cả những trưng dẫn nầy rút ra từ Edythe Draper, Quyển sách gồm những trưng dẫn của Draper dành cho thế giới Cơ đốc (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc., 1992).

Những trưng dẫn nầy về Kinh Thánh đều phát xuất ra từ những con người.
Giờ đây hãy nghe Đức Chúa Trời phán gì về Kinh Thánh.

Thi thiên 12.6-7 – “Các lời Đức Giê-hô-va là lời trong sạch, dường như bạc đã thét trong nồi dót bằng gốm, luyện đến bảy lần. Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ gìn giữ các người khốn cùng, hằng bảo tồn họ cho khỏi dòng dõi nầy”.

Thi thiên 19.7-11 – “Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan. Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật, thảy đều công bình cả. Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng; Lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong. Các điều ấy dạy cho kẻ tôi tớ Chúa được thông hiểu; Ai gìn giữ lấy, được phần thưởng lớn thay”.

II Timôthê 3.16-17 – “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành”.

Roma 15.4 – “Vả, mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy”.

II Phierơ 1.20-21 – “Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh lấy ý riêng giải nghĩa được. Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời”.

Kinh Thánh là một quyển sách rất khác thường.
Kinh Thánh là Quyển Sách của Đức Chúa Trời.
Chúng ta sống khôn ngoan khi chúng ta yêu mến quyển sách nầy.
Chúng ta sống khôn ngoan khi chúng ta học hỏi quyển sách nầy.
Chúng ta sống khôn ngoan khi chúng ta vâng theo quyển sách nầy.

Sứ đồ Giăng, viết ra những lời được Đức Chúa Trời cảm thúc, ông đưa ra lời lẽ mạnh mẽ cho hàng độc giả của ông trong Thư Tín được gọi là: “I Giăng”, như sau:

1 Giăng 1.6 – “Ví bằng chúng ta nói mình được giao thông với Ngài, mà còn đi trong sự tối tăm, ấy là chúng ta nói dối và không làm theo lẽ thật”.

1 Giăng 2.4 – “Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người”.

1 Giăng 2.11 – “Nhưng ai ghét anh em mình, thì ở trong sự tối tăm, làm những việc tối tăm, và không biết mình đi đâu, vì bóng tối tăm đã làm mù mắt người”.

Bây giờ, ở I Giăng 2.12-14. dường như Giăng thốt ra lời lẽ nhẹ nhàng hơn. Giống như ông đã nói: “Mặc dù tôi cần phải dạy cho anh em các lẽ thật rất khó nghe nầy để anh em không bị những cái giả hiệu lôi kéo, tôi thực sự tin rằng anh em là Cơ đốc nhân thực”.

1 Giăng 2.12-14 – “Hỡi các con cái bé mọn ta, ta viết cho các con, vì tội lỗi các con đã nhờ danh Chúa được tha cho. Hỡi các phụ lão, tôi viết cho các ông, vì các ông đã biết Đấng có từ lúc ban đầu. Hỡi kẻ trẻ tuổi, ta viết cho các ngươi, vì các ngươi đã thắng được ma quỉ. Hỡi con trẻ, ta đã viết cho các con, vì các con đã biết Đức Chúa Cha. Hỡi phụ lão, tôi đã viết cho các ông, vì các ông đã biết Đấng có từ lúc ban đầu. Hỡi kẻ trẻ tuổi, ta đã viết cho các ngươi, vì các ngươi là mạnh mẽ, lời Đức Chúa Trời ở trong các ngươi, và các ngươi đã thắng được ma quỉ”.

Cụm từ “Ta viết” xuất hiện 4 lần trong bản Kinh Thánh King James về phân đoạn nầy. Cụm từ “Ta đã viết” xuất hiện 2 lần. Giăng đã viết cái gì vậy? Dưới sự cảm thúc của Đức Thánh Linh, ông đã viết ra Kinh Thánh. Ông đã viết ra một phần của Kinh Thánh.

 Ông đã viết cho những người đã được khôn ngoan rồi do biết sử dụng đúng đắn Lời của Đức Chúa Trời.
 Ông đã viết cho những người cần được làm cho khôn ngoan hơn do sử dụng đúng những lời mà ông đã viết ra, cũng là Lời của Đức Chúa Trời.
Vô luận chúng ta đang ở đâu trong sự tấn tới về mặt thuộc linh của mình, chúng ta cần phải sống theo “Lời Khôn Ngoan”, hay khôn ngoan trong cách sử dụng Kinh Thánh của chúng ta.

Torng phân đoạn nầy, chúng ta khám phá ra rằng Ngôi Lời, hay Kinh Thánh hiện hữu cho ba nhóm người.

KINH THÁNH CHO NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC CỨU
KINH THÁNH CHO HẠNG NGƯỜI MẠNH MẼ
KINH THÁNH CHO HẠNG NGƯỜI ĐÃ ỔN ĐỊNH

Giăng đang nói với ba nhóm người ở các chặng đường khác nhau trong sự tấn tới của họ về đời sống Cơ đốc, “Con cái bé mọn”, “Phụ lão”, và “Con trẻ”. Thực như thế, hết thảy ba chặng đường sẽ hiện thực cho tất cả các Cơ đốc nhân bất cứ vào thời điểm.

KINH THÁNH CHO NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC CỨU

“ta viết cho các con, vì tội lỗi các con đã nhờ danh Chúa được tha cho”.

“Con cái bé mọn” đã được Lời Đức Chúa Trời dạy dỗ khôn ngoan rồi. Họ được sanh vào trong gia đình của Đức Chúa Trời bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời là Đấng đang sử dụng Lời của Đức Chúa Trời.

Galati 3.24 – “Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình”.

II Timôthê 3.15 – “và từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ”.

I Phierơ 1.23 – “anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời”.

Con cái bé mọn đã được ghi trong Kinh Thánh vì tội lỗi họ đã được tha “nhờ danh Chúa”.
Chúng ta đã phạm tội và đã làm buồn lòng Đức Chúa Trời. Chúng ta không đáng được ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, bây giờ hay sau nầy trên Thiên đàng.

Còn Đức Chúa Trời, trong tình yêu thương của Ngài đã sai Chúa Jêsus đến chịu chết vì chúng ta.

Roma 5.6-8 – “Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết”.

Dĩ nhiên, Chúa Jêsus không chết luôn mà đã sống lại từ kẻ chết rồi sau đó đã thăng thiên về trời.

Chúa Jêsus đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta. Vì vậy khi có ai xây sang Đức Chúa Jêsus Christ và chịu tin nơi Ngài, người ấy được tha thứ vì cớ danh của Chúa Jêsus. Người ấy được tha thứ vì mọi điều Chúa Jêsus đã làm.

Giăng 3.36 – “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó”.

Giăng nói ta viết cho các con vì tội lỗi các con đã được tha.
Nầy quí bạn ơi, tôi nhắc lại cho quí vị biết rằng Giăng đã viết dưới sự cảm thúc của Đức Chúa Trời. Ông đã viết ra Lời của Đức Chúa Trời. Ông đã viết Kinh Thánh.

Nếu tội lỗi quí vị đã được tha vì cớ danh của Chúa Jêsus, Kinh Thánh hiện hữu là vì quí vị đấy.
Quí vị phải biết thưởng thức mọi điều Chúa Jêsus đã làm cho quí vị để quí vị muốn nghe mọi sự mà Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh đã phán về quí vị.
Trong buổi nhóm hội đồng của chúng tôi tối hôm kia, Dan nói cho Don và Dwight biết ông đã đánh giá đúng đắn họ. Và vì Dan đánh giá họ đúng, khi họ nói, Dan lắng nghe.

Quí vị có đánh giá Chúa Jêsus đúng đắn không?

Vậy thì hãy chú ý khi Ngài phán dạy trong Lời của Ngài!

Là “con cái bé mọn” của Đức Chúa Trời, có cái gì đó phải thành thực nơi chúng ta.
Không những chúng ta được tha thứ vì cớ danh Chúa Jêsus, mà chúng ta còn biết Đức Chúa Cha nữa.

I Giăng 2.13c – “…Hỡi con cái bé mọn, ta viết cho các ngươi, vì các ngươi đã biết Đức Chúa Cha”.

Nếu quí vị đã được cứu, có một số điều kỳ diệu đã xảy ra cho quí vị. Không những quí vị có sự tha thứ và sự sống đời đời, không những quí vị đã được “sanh lại” bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời, không những quí vị có sự hiện diện của Thánh Linh Đức Chúa Trời trong đời sống của mình, mà Đức Chúa Trời còn thực sự là “Cha trên trời” của quí vị nữa.

Giăng 1.12-13 – “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy”.

 Một người cha theo đời nầy biết chăm sóc và thương xót con cái của mình. Cha của quí vị ở trên trời chăm sóc và động lòng thương xót đối với quí vị.
 Một người cha theo đời nầy lắng nghe con cái của mình. Cha của quí vị ở trên trời lắng nghe quí vị.
 Một người cha theo đời nầy nhậm lời cầu xin của con cái mình. Cha của quí vị ở trên trời nhận lời cầu xin của quí vị.
 Một người cha theo đời nầy lo bảo hộ con cái của mình. Cha của quí vị ở trên trời lo bảo hộ cho quí vị.
 Một người cha theo đời nầy sửa phạt con cái mình. Cha của quí vị ở trên trời lo bảo hộ cho quí vị.
 Một người cha theo đời nầy tiếp trợ cho con cái của mình. Cha của quí vị ở trên trời tiếp trợ cho quí vị.

Nếu quí vị có một Đức Chúa Cha biết thương xót, yêu thương, chăm sóc như thế ở trên trời, thì lắng nghe mọi điều Ngài phán dạy há chẳng nên sao?
Nếu quí vị có một Cứu Chúa kỳ diệu như thế, thì lắng nghe mọi điều Ngài phán dạy há chẳng nên sao?

KINH THÁNH CHO NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC CỨU
KINH THÁNH CHO HẠNG NGƯỜI MẠNH MẼ

I Giăng 2.13b – “Hỡi kẻ trẻ tuổi, ta viết cho các ngươi, vì các ngươi đã thắng được ma quỉ”.
I Giăng 2.14b – “Hỡi kẻ trẻ tuổi, ta đã viết cho các ngươi, vì các ngươi là mạnh mẽ, lời Đức Chúa Trời ở trong các ngươi, và các ngươi đã thắng được ma quỉ”.

Hạng người trẻ tuổi luôn bươn tới trong cách ăn ở của họ với Đức Chúa Trời.
Hạng người trẻ tuổi dường như là những người luôn gắn bó với chiến trận thuộc linh.
Hạng người trẻ tuổi là những người đầu phục Đấng Christ đúng mức.

Có lý do đúng đắn cho Giăng để viết Kinh Thánh cho hạng người nầy.
Hạng người nầy vốn sẵn mạnh mẽ về mặt thuộc linh. Nhưng làm ơn lưu ý rằng sức lực thuộc linh không có nghĩa là chúng ta phát triển nhu cầu của chúng ta nhiều hơn Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta không sao hơn được Lời ấy!

Họ rất mạnh mẽ về mặt thuộc linh vì Lời Đức Chúa Trời đang ở trong họ.

Lời Đức Chúa Trời ở trong quí vị, nói như thế có nghĩa gì?

 Nếu Lời của Đức Chúa Trời đang ở trong quí vị, quí vị sẽ đọc và ứng dụng Lời ấy cho đời sống của mình.
II Timôthê 3.16-17 – “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành”.

 Nếu Lời của Đức Chúa Trời ở trong quí vị, quí vị phải học thuộc lòng Lời ấy.

Thi thiên 119.16 – “Tôi ưa thích luật lệ Chúa, Sẽ chẳng quên lời của Chúa”.

 Nếu Lời của Đức Chúa Trời ở trong quí vị. Quí vị phải suy gẫm Lời ấy.
Giôsuê 1.8 – “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước”.

 Nếu Lời của Đức Chúa Trời ở trong quí vị, quí vị phải ham thích Lời ấy!
Thi thiên 119.97 – “Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy”.

Giêrêmi 15.16 – “Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì tôi được xưng bằng danh Ngài!”
 Nếu Lời của Đức Chúa Trời ở trong quí vị, quí vị phải vâng theo Lời ấy!
Thi thiên 119.11 – “Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa”.

Chính khi Lời của Đức Chúa Trời ở trong quí vị, thì quí vị sẽ được mạnh mẽ.
Chính khi Lời của Đức Chúa Trời ở trong quí vị, thì quí vị sẽ thắng hơn kẻ ác!

Ai là “kẻ ác”?

Kẻ ác chính là ma quỉ, là Satan.

Cơ đốc nhân được cảnh báo trong I Phierơ 5.8-9 – “Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được. Hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự nó, vì biết rằng anh em mình ở rải khắp thế gian, cũng đồng chịu hoạn nạn như mình”.

Chúng ta chỉ có thể kháng cự ma quỉ khi chúng ta bền đỗ trong “đức tin”.
Chúng ta chỉ có thể bền đỗ trong đức tin nếu chúng ta bền đỗ trong Lời của Đức Chúa Trời.

Có khi chúng ta lấy làm lạ không biết tại sao chúng ta lại yếu đuối đến thế trong khả năng của chống ta khi chống cự Satan. Tôi tin lý do chính là vì chúng ta yếu đuối đối với Lời của Đức Chúa Trời.
 Phần nhiều người trong quí vị, nếu không phải là hầu hết, chỉ đến dự một buổi thờ phượng ở nơi Lời Đức Chúa Trời được dạy dỗ. Chúng ta có 4 buổi thờ phượng, có phải không? Quí vị ở đâu trong 2 hay 3 buổi thờ phượng kia?
 Phần nhiều người trong quí vị, nếu không phải là hầu hết, không đọc Kinh Thánh trên cơ sở đều đặn.
 Phần nhiều người trong quí vị, nếu không phải là hầu hết, không học thuộc lòng Kinh Thánh.
 Phần nhiều người trong quí vị, nếu không phải là hầu hết, không suy gẫm Kinh Thánh.

Đây là lúc để ăn năn và trở nên sốt sắng đối với Lời của Đức Chúa Trời nếu chúng ta muốn chống cự Kẻ Ác! Giăng viết Kinh Thánh cho những người đã mạnh mẽ hầu cho họ được mạnh mẽ hơn!

Chúng ta hãy phấn đấu để được mạnh mẽ nơi Lời của Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH CHO NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC CỨU
KINH THÁNH CHO HẠNG NGƯỜI MẠNH MẼ
KINH THÁNH CHO NGƯỜI ĐÃ ỔN ĐỊNH

I Giăng 2.13a – “Hỡi các phụ lão, tôi viết cho các ông, vì các ông đã biết Đấng có từ lúc ban đầu….”
I Giăng 2.14a – “Hỡi phụ lão, tôi đã viết cho các ông, vì các ông đã biết Đấng có từ lúc ban đầu…”
Tôi cảm thấy rằng các phụ lão trong phân đoạn nầy là những người chín chắn và trưởng thành hơn về mặt thuộc linh.
Có một thời họ từng là con cái bé mọn trong đức tin.
Có một thời khi họ là hạng người trẻ tuổi chiến đấu trong các chiến trận thuộc linh.

Giờ đây họ đã ổn định rồi.
Giờ đây họ đã trưởng thành rồi.
Họ có một bảng thành tích rất dài về sự nhận biết Đức Chúa Trời, là Đấng có “từ lúc ban đầu”, Ngài sống đời đời.
Nhưng Giăng cũng đang viết ra Kinh Thánh cho họ nữa!
Họ vẫn còn cần tới Lời của Đức Chúa Trời!
Họ vẫn còn cần được dạy dỗ!
Họ vẫn còn cần phải học thuộc lòng!
Họ vẫn còn cần phải suy gẫm!
Họ vẫn còn cần phải tấn tới!

Giăng đã viết cho ba nhóm người.
Ông đang viết ra Kinh Thánh, là Lời của Đức Chúa Trời.
Ông đang viết cho hết thảy Cơ đốc nhân, bất luận họ đang ở đâu trên hành trình thuộc linh của họ. Hết thảy họ đều cần tới Lời của Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH CHO NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC CỨU
KINH THÁNH CHO HẠNG NGƯỜI MẠNH MẼ
KINH THÁNH CHO NGƯỜI ĐÃ ỔN ĐỊNH

Kinh Thánh đang dành cho họ!
Quí vị sẽ làm gì với Kinh Thánh?
***

I Giăng 1:7-11: "Hai Điều Khả Thi"



I Giăng 2.7-11
HAI ĐIỀU KHẢ THI

Corrie Ten Boom, tác giả quyển The Hiding Place [Nơi ẩn náu], cùng chị của mình là Betsie là tù nhân trong một trại tập trung của quân Đức trong suốt Đệ II Thế Chiến. Betsie đã ngã chết ở đó, nhưng Corrie còn sống sót.
Bà đã viết.

CHÍNH TRONG MỘT NHÀ THỜ ở Munich nơi tôi đã rao giảng vào năm 1947 mà tôi đã trông thấy người đó – một gã đầu hói to con trong chiếc áo choàng màu xám, một cái nón dạ màu nâu được giữ chặt giữa hai bàn tay của gã. Trong một phút tôi nhìn thấy chiếc áo choàng và cái nón màu nâu, kế đó, là bộ đồng phục màu xanh, một chiếc mũ lưỡi trai với mấy cái xương đan tréo hình sọ người trên đó.

Những ký ức của trại tập trung trở lại thật nhanh. Căn phòng to lớn với mấy cái bóng đèn treo trên trần nhà xù xì của nó, hàng đống quần áo và giày dép ở giữa nền nhà, nỗi xấu hổ của việc đi trần truồng ngang qua người đờn ông nầy. Tôi có thể nhìn thấy hình hài yếu đuối của chị tôi ở trước mặt tôi, mấy chiếc xương sườn lồ lộ ra bên dưới làn da …

Giờ đây hắn đang ở trước mặt tôi, bàn tay giơ lên. "Một sứ điệp rất hay, cô gái ơi! Thật là vui khi biết rằng, như cô nói, mọi tội lỗi của chúng ta đang ở dưới đáy đại dương!" Đây là lần đầu tiên kể từ khi tôi được tự do, tôi đã mặt đối mặt với một trong những kẻ bắt dẫn tù tôi và máu tôi dường như đông cứng lại.

Hắn ta đang nói: "Cô đã nhắc tới Ravensbruck trong bài giảng luận của cô. Tôi là lính gát ở đó. Nhưng từ dạo ấy" hắn nói tiếp: "tôi đã trở thành một Cơ đốc nhân. Tôi biết rằng Đức Chúa Trời đã tha thứ cho tôi về những việc làm gian ác mà tôi đã làm ở đó, nhưng tôi muốn nghe sự tha thứ đó từ môi miệng của cô. Cô gái ơi” – một lần nữa bàn tay đã giơ cao lên - "liệu cô có tha thứ cho tôi không?"
Và tôi đã đứng ở đó – không thể được. Betsie đã chết tại nơi ấy – liệu hắn có thể xoá đi cái chết khủng khiếp từ từ của chị ấy khi xin tha thứ xuông như vậy thôi sao?
Hắn đã đứng ở đấy nhiều giây đồng hồ rồi, bàn tay giơ cao lên, nhưng đối với tôi dường như là nhiều giờ đã trôi qua khi tôi vật vã với điều khó khăn nhất mà tôi đã gặp phải.

Vì tôi phải tính đến việc ấy – tôi biết rõ như thế. Sứ điệp nói rằng Đức Chúa Trời tha thứ có một điều kiện tiên quyết. Rằng chúng ta tha thứ cho những kẻ làm tổn thương chúng ta. Chúa Jêsus phán: "Nếu ngươi không tha thứ những quá phạm cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời sẽ không tha thứ cho các quá phạm của ngươi đâu".

Tôi hãy còn đứng ở đó với sự lạnh giá bao phủ lấy tấm lòng tôi. Nhưng tha thứ - là một hành động của ý chí, và ý chí sẽ hành động bất chấp nhiệt độ của tấm lòng. Tôi thầm nguyện: "Lạy Chúa Jêsus, xin giúp con! Con có thể giơ tay mình cao lên. Con có thể làm được điều đó. Nguyện Ngài cung ứng sức lực cho".
Và thật là vụng về, máy móc, tôi đưa tay hướng về cánh tay giơ ra hướng về tôi. Và khi tôi đưa tay ra, một việc khó tin đã diễn ra. Có dòng điện khởi sự từ bờ vai của tôi, chạy dài theo cánh tay, lan ra tới hai bàn tay. Rồi kế đó sự ấm áp có tính cách chữa lành nầy dường như dâng tràn lên khắp người tôi, khiến cho mắt tôi phải tuôn tràn giọt lệ. "Người anh em ơi, tôi tha thứ cho anh", tôi gào lên: "với hết lòng tôi!" [Corrie Ten Boom, I’m Still learning to forgive, http.//www.circlegame.com/live/boom.htm].

Đối với Corrie Ten Boom đã có hai điều khả thi. Bà sẽ tha thứ hoặc sẽ sống cay đắng. Bà sẽ yêu thương hoặc bà sẽ thù hận. Bà đã chọn sự tha thứ và yêu thương trong tình huống của mình. Có nhiều người đã chọn sự cay đắng, không tha thứ và thù hận.

Sáng nay chúng ta trở lại với thơ I Giăng, thơ tín mô tả Cơ đốc giáo chơn thật. Trong phân đoạn Kinh Thánh ở trước mặt chúng ta, I Giăng 2.7-11 chúng ta đối mặt với hai điều khả thi, thù hận hoặc yêu thương. Sau khi diễn giải một câu nói đời xưa về trang phục cưới của cô dâu (“một chút cũ, một chút mới, một chút vay mượn, một chút màu xanh), tôi đã tóm tắt phân đoạn nầy như sau:

ĐIỀU RĂN CŨ – câu 7
ĐIỀU RĂN MỚI – câu 8
ĐIỀU GÌ ĐÓ LÀM CHO MÙ QUÁNG – Các câu 9, 11
ĐIỀU GÌ ĐÓ CHƠN THẬT – câu 10
ĐIỀU RĂN CŨ – câu 7

“Hỡi kẻ rất yêu dấu, ấy chẳng phải là điều răn mới mà ta viết cho anh em, bèn là điều răn cũ anh em đã nhận lấy từ lúc ban đầu; điều răn cũ nầy tức là lời anh em đã nghe”.

Điều răn cũ phải yêu thương được đề cập tới ở đây đã có từ lâu rồi. Điều răn nầy bắt đầu như một lẽ thật của giao ước cũ.
Lêvi ký 19.18 – “Chớ toan báo thù, chớ giữ sự báo thù cùng con cháu dân sự mình; nhưng hãy yêu thương kẻ lân cận ngươi như mình: Ta là Đức Giê-hô-va”.

Điều răn phải yêu thương cũng là cũ theo ý nghĩa mà bất cứ ai nghe giảng sứ điệp Tin lành qua chiều dài thời gian sẽ đối diện với mạng lịnh phải yêu thương của Đức Chúa Trời.

Mathiơ 22.37-40 – “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra”.

Giăng 13.34-35 – “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta”.
Từ ban đầu các môn đồ đã đối diện với mạng lịnh phải yêu thương ở một cấp độ cao hơn. Họ được kêu gọi phải yêu thương nhau nhiều y như Chúa Jêsus đã yêu thương họ vậy.

Chúng ta được kêu gọi phải yêu nhau nhiều y như Chúa Jêsus đã yêu thương chúng ta.
Chúa Jêsus yêu thương chúng ta nhiều chừng nào?
 Ngài yêu thương chúng ta đủ để rời bỏ mọi vinh quang của thiên đàng, nơi Ngài ngự trị với Đức Chúa Cha để đến với đất và trở nên con người giống như chúng ta.
 Ngài yêu thương chúng ta đủ để chịu đựng 33 năm sống giữa vòng họ thật là thấp hèn.
 Ngài yêu thương chúng ta đủ để chịu chết trên thập tự giá ở đồi Gôgôtha, trả giá cho tội lỗi mà quí vị và tôi đã phạm. Tình yêu nầy không những đã đến từ Đức Chúa Con, mà cũng đến từ Đức Chúa Cha nữa.

I Giăng 4.10 – “Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta”.
 Ngài yêu thương chúng ta đủ để ban ra ơn tha thứ và sự sống đời đời cho hết thảy những ai chịu tin theo Ngài.

Giăng 3.16 – “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời”.
 Ngài yêu thương chúng ta đủ để tiếp tục cầu thay cho chúng ta bên tay hữu của Đức Chúa Trời.

Chúa Jêsus phán với quí vị và tôi: “Ta muốn các ngươi phải yêu nhau nhiều cũng y như ta đã yêu các ngươi vậy. Nếu các ngươi làm theo điều nầy, thế gian sẽ nhìn biết các ngươi là môn đồ ta”.
Chúa Jêsus gọi đây là “điều răn mới”. Giăng gọi đó là điều răn cũ, song chỉ theo ý nghĩa của những điều Giăng đã nghe đã viết ra từ lúc ban đầu họ tiếp xúc với Tin lành của Đấng Christ. Điều nầy là cũ theo thời gian nhưng mới ở sức sống của nó.

ĐIỀU RĂN CŨ – câu 7
ĐIỀU RĂN MỚI – câu 8

“Song le, ta cũng viết cho anh em điều răn mới, là điều chân thật trong Chúa và trong anh em, vì sự tối tăm đã tan rồi, và sự sáng thật đã soi sáng”

Làm sao có cái gì đó vừa cũ lại vừa mới cùng lúc cho được?
Cho phép tôi đưa ra cho quí vị thấy vài trường hợp.
Không đầy một tháng mấy trăm thợ săn đuổi theo một con nai ra khỏi khu rừng.
Đối với hầu hết các thợ săn nầy đây là một việc cũ. Họ đã làm như thế nhiều lần trước đây rồi.
Tuy nhiên, niềm vui của việc ở trong rừng, và niềm vui của người thợ săn là mới mỗi lần kinh nghiệm điều nầy. Kinh nghiệm trở nên mới trong sự thích thú và cảm xúc mãnh liệt.

Hầu hết quí vị đều biết rõ chúng ta là bậc ông bà rồi.
Đối với chúng ta sự thể nầy chẳng phải là mới lạ đâu. Chúng ta đã là ông bà trong gần 7 năm trời rồi.
Nhưng mỗi lần có một đứa cháu được thêm vào trong gia đình thì đó là “mới”. Có một sự sống mới, một trẻ con mới cung ứng cho chúng ta niềm vui và sự thích thú mới mỗi lần kinh nghiệm có thêm một đứa cháu.

Điều răn phải yêu thương ở một cấp độ cao hơn là thật trong Chúa Jêsus. Ngài đi lên thập tự giá vì chúng ta.
Nhưng ngay cả lúc nầy đây, Ngài vẫn còn yêu thương chúng ta. Tầm cở tình yêu của Ngài đang kéo dài ra. Cường độ yêu thương của Ngài cứ tiếp tục tăng thêm.
Tình yêu của Ngài là mới theo chiều rộng và theo cường độ mỗi lần Ngài cứu một linh hồn.
Tình yêu của Ngài là mới theo chiều rộng và theo cường độ mỗi lần Ngài ban ơn tha thứ cho một tín đồ.
Tình yêu của Ngài là mới theo chiều rộng và theo cường độ mỗi lần Ngài trả lời cho một lời cầu nguyện.
Tình yêu của Ngài là mới theo chiều rộng và theo cường độ mỗi lần Ngài trình với Đức Chúa Trời vì ích cho chúng ta.
Điều răn mới phải yêu thương là chơn thật trong Ngài.

Và điều răn mới phải yêu thương cũng là chơn thật trong chúng ta nếu chúng ta thực sự được sanh lại.

II Côrinhtô 5.17 – “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới”.

Có một niềm vui và cường độ mới mỗi lần chúng ta giúp đỡ ai đó xuất phát từ tình yêu dành cho Đấng Christ.
Có một niềm vui và cường độ mới khi chúng ta tha thứ cho ai đó xuất phát từ tình yêu dành cho Đấng Christ.
Có một niềm vui và cường độ mới khi chúng ta gắn bó với nhau trong mối tương giao với các Cơ đốc nhân khác.
Có một niềm vui và cường độ mới khi chúng ta đưa ai đó về với Đấng Christ.

Giờ đây tại sao điều răn mới phải yêu thương nầy lại là khả thi?
Vì sự tối tăm đã qua rồi!

Êphêsô 2.1 – “Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình”.

Tại sao điều răn mới phải yêu nhau là khả thi?
Vì bóng tối tăm đã qua và sự sáng thật đà soi sáng!

Sự sáng thật hiện đang soi sáng trong tấm lòng của chúng ta.
Giăng 8.12 – “Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống”.
Và quí bạn tôi ơi, sự sáng của sự sống là sự sáng của tình yêu thương. Chúng ta càng để cho sự sáng của Chúa Jêsus chiếu sáng qua chúng ta, tình yêu của chúng ta càng thêm lên trong sự vui mừng và nơi cường độ.
Điều răn phải yêu thương là mới theo một ý nghĩa khác nữa.
Mỗi ngày Chúa Jêsus đang tìm kiếm các phương thức mới để yêu thương chúng ta. Thí dụ, tuần nầy Ngài chọn yêu thương gia đình của Peter khi chúng ta nhóm lại để chôn cất hài cốt của mẹ tôi. Ngài cũng yêu thương chúng ta bằng cách mau mau cung ứng một người đến mua căn nhà của bố mẹ tôi.

Mỗi ngày chúng ta sẽ tìm thấy các phương thức mới để yêu nhau. Tình yêu không bị nhốt trong cái ao tù. Tình yêu ấy lớn dần lên.

ĐIỀU RĂN CŨ – câu 7
ĐIỀU RĂN MỚI – câu 8
ĐIỀU GÌ ĐÓ LÀM CHO MÙ QUÁNG – Các câu 9, 11

I Giăng 2.9 – “Kẻ nào nói mình ở trong sự sáng, mà ghét anh em mình thì còn ở trong sự tối tăm”.

Có người xưng nhận mình đã được cứu, đã được sanh lại. Thế mà đời sống của những người nầy đầy dẫy với thù hận.

Có khi họ thù ghét người mang chủng tộc khác.
Có khi họ thù ghét người mang quốc tịch khác.
Có khi họ thù ghét người nào làm tổn thương họ.
Có khi họ thù ghét kẻ làm tổn thương người họ yêu thương.
Có khi họ thù ghét những Cơ đốc nhân khác vì những Cơ đốc nhân nầy đã gây tổn thương cho họ, hay cho người họ yêu thương, hoặc vì họ bị Cơ đốc nhân khác đố kỵ.
Có khi họ thực sự thù ghét mọi người.

Người nào ghét anh em mình thì còn ở trong sự tối tăm.
Người nào ghét anh em mình có thể xưng mình đang bước đi trong sự sáng của Chúa, nhưng sự thật đang kết án người.

I Giăng 2.11 – “Nhưng ai ghét anh em mình, thì ở trong sự tối tăm, làm những việc tối tăm, và không biết mình đi đâu, vì bóng tối tăm đã làm mù mắt người”.

Giờ đây chúng ta đang hợp lý hoá thái độ thù ghét nầy. Chúng ta có thể gọi đấy là cái gì đó khác hơn thù ghét.
 “Ồ tôi không ghét anh ấy đâu. Tôi chỉ không muốn ở gần anh ấy thôi”.
 “Ồ tôi không ghét ông ấy đâu. Tôi không thể nghe ông ấy dạy nữa, sau khi biết rõ những điều ông ấy đã làm cho tôi”.
 “Ồ tôi không ghét cô ấy đâu. Tôi không thể quên được thể nào cô ấy đã làm tổn thương tôi”.

Thật là vui cho Dottie và tôi khi có Mục sư Tim Cappucci cùng vợ của ông ấy, Mirielie ở trong nhà của chúng tôi trong suốt Recharge Weekend. Tôi từng làm chủ toạ Hội Thánh mà ông đang làm chủ toạ, vì vậy chúng tôi quan tâm đến đời sống của dân sự. Một số điều chúng tôi đã nghe đều rất khích lệ.

Một số việc chúng tôi nghe nói không khích lệ lắm đâu.
Chúng tôi đã nghe nói tới một cặp vợ chồng kia chúng tôi làm phép giao cho rồi họ đã ly dị. Cô ấy đã không tha thứ cho một sai phạm mà anh ấy mắc phải rồi gạt bỏ anh ấy để đi tìm một lối sống khác.
Chúng tôi cũng nghe nói về một người mà vợ của ông ta đã đăng ký dạy trong Trường Cơ đốc của chúng tôi hơn 20 năm. Ông ta cho rằng vợ của mình rất nhiệt tình và vẫn cứ nói hoài về việc đó!
Chúng tôi cũng nghe nói về những người đã phá vỡ mối tương giao với gia đình cùng những bạn bè thân quen. Điều nầy làm phân rẽ Hội Thánh.

I Giăng 2.11 – “Nhưng ai ghét anh em mình, thì ở trong sự tối tăm, làm những việc tối tăm, và không biết mình đi đâu, vì bóng tối tăm đã làm mù mắt người”.

Chúng ta biết rõ người nào đã “bị mù bởi sự thù ghét”.
Chúng ta biết rõ người nào làm sụp đổ hai toà nhà (11/9) và giết người vô tội vì cớ thù hận.
Chúng ta biết người nào đã giết người hoặc hãm hại gia đình hay bạn bè trong cơn giận của thù hận. Tin tức lúc nào cũng có thông tin đó.

Và chúng ta không nghĩ rằng thù hận đang tác động vào chúng ta.
Nếu chúng ta giữ sự oán hận đối cùng người khác
Nếu chúng ta không tha thứ
Nếu chúng ta giữ mối ác cảm
Nếu chúng ta có điều chi nghịch cùng người khác
Chúng ta đang bước đi trong bóng tối tăm và chúng ta không thể suy nghĩ rõ ràng vì chúng ta bị lừa dối.

Hêbơrơ 12.15 – “Khá coi chừng kẻo có kẻ trật phần ân điển của Đức Chúa Trời, kẻo rễ đắng châm ra, có thể ngăn trở và làm ô uế phần nhiều trong anh em chăng”.
Khi chúng ta không tha thứ chúng ta không để cho ân điển của Đức Chúa Trời điều khiển chúng ta.
Khi chúng ta thù hận chúng ta không để cho ân điển của Đức Chúa Trời cai quản chúng ta.
Khi chúng ta có điều chi nghịch cùng người khác, chúng ta không để cho ân điển của Đức Chúa Trời điều khiển chúng ta.
Chúng ta đã làm buồn ân điển của Đức Chúa Trời.
Một ngọn rễ cay đắng sẽ đâm ra và làm rối rắm chúng ta.
Nó khiến cho chúng ta phạm sai lầm và chúng ta thất bại không suy nghĩ hành động rõ ràng vì chúng ta đã bị làm cho mù quáng rồi.
Và phần tệ hại nhất là đây, có nhiều người bị ô uế do sự cay đắng của chúng ta.

Họ bị tổn thương bởi lời nói và hành động cay đắng của chúng ta rồi bản thân họ cũng cay đắng nữa.
Họ sẽ thừa tự tình trạng cay đắng của chúng ta đối cùng nhiều người khác.
Con trai hay con gái, chồng hay vợ, anh hay chị có thể trở nên cay đắng nghịch lại người khác vì sự cay đắng của một thành viên trong gia đình.
Một người bạn có thể trở nên cay đắng vì cớ tình trạng cay đắng của một thành viên gia đình khác.
Tôi muốn quí vị dừng lại và suy nghĩ trong một phút.
Quí vị có bị mù quáng bởi tình trạng cay đắng hay thù hận không?

ĐIỀU RĂN CŨ – câu 7
ĐIỀU RĂN MỚI – câu 8
ĐIỀU GÌ ĐÓ LÀM CHO MÙ QUÁNG – Các câu 9, 11
ĐIỀU GÌ ĐÓ CHƠN THẬT – câu 10

I Giăng 2.10 – “Ai yêu mến anh em mình, thì ở trong sự sáng, nơi người đó chẳng có điều chi gây cho vấp phạm”.

Chúng ta đã nhìn thấy Chúa Jêsus là sự sáng của thế gian.
Nếu chúng ta ở trong sự sáng đó, chúng ta sẽ để cho Chúa Jêsus chiếu sáng qua chúng ta.
Khi chúng ta ở trong sự sáng, Chúa Jêsus điều khiển chúng ta qua Thánh Linh Ngài.
Khi chúng ta ở trong sự sáng, chúng ta để cho Chúa Jêsus thanh tẩy chúng ta khỏi mọi tội lỗi.
Khi chúng ta ở trong sự sáng, Chúa Jêsus yêu thương tha nhân qua chúng ta.

Và chúng ta yêu tha nhân, chúng ta sẽ không vấp ngã trong bóng tối tăm.
Nhưng còn quan trọng hơn thế nữa, người khác sẽ không làm cho chúng ta vấp phạm! Chúng ta sẽ không gây cho người khác vấp phạm.
Nếu Cơ đốc nhân chỉ biết thể nào sự cay đắng của họ khiến cho nhiều người khác phải vấp ngã! Họ càng bằng lòng để cho Chúa Jêsus thay đổi họ.

Có một câu chuyện của người Tây ban Nha kể về một người cha và đứa con đã bị tống đi xa. Đứa con bỏ đi, và người cha bắt đầu lên đường tìm kiếm nó. Ông đã tìm kiếm trong nhiều tháng trời mà chẳng được gì. Sau cùng, trong một nổ lực cuối cùng để tìm đứa con, người cha đăng quảng cáo trên tờ báo ở Madrid. Tờ quảng cáo đăng như sau: “Paco yêu dấu, hãy đón cha ở trước toà soạn tờ báo nầy vào buổi trưa ngày thứ Bảy. Tha thứ hết mọi sự. Cha yêu con. Cha của con”.

Đến ngày thứ Bảy 8 giờ sáng Pacos xuất hiện, đang tìm sự tha thứ và tình yêu thương từ cha của nó. [Bits & Pieces, October 15, 1992, p. 13, http.//www.bible.org/illus.asp?topic_id=576].

Ai đang cần ơn tha thứ và tình yêu thương của quí vị?
Mẹ và cha của tôi đã lìa khỏi thế gian mới đây.
Đối với sự hiểu biết của tôi, họ đã tha thứ cho bất cứ ai đã làm tổn thương họ.
Theo tôi hiểu thì chẳng ai có điều chi nghịch lại họ cả.
Liệu điều nầy sẽ có thực đối với quí vị khi quí vị qua đời chăng?

Đừng trở thành vầng đá vấp chơn.
Hãy bước đi trong sự sáng!
Hãy yêu thương thay vì thù hận!
Điều nầy rất chơn thật!
Hai điều khả thi là yêu thương và thù hận.

ĐIỀU RĂN CŨ – câu 7
ĐIỀU RĂN MỚI – câu 8
ĐIỀU GÌ ĐÓ LÀM CHO MÙ QUÁNG – Các câu 9, 11
ĐIỀU GÌ ĐÓ CHƠN THẬT – câu 10
***

I Giăng 2:6: "Làm Theo Như Chính Ngài Đã Làm"



1 Giăng 2.6
LÀM THEO NHƯ CHÍNH NGÀI ĐÃ LÀM

Thời điểm nầy hay thời điểm khác, hết thảy chúng ta đều làm gương cho nhiều người khác noi theo. Hết thảy chúng ta đã noi theo tấm gương của nhiều người khác vào lúc nầy hay lúc kia.

Josiah Wedgwood, thợ gốm nổi tiếng người Anh, ngày kia ông hướng dẫn một nhà quí tộc đến tham quan xí nghiệp của ông. Một trong những nhân công của Wedgwood, một thanh niên, cùng đi với họ. Nhà quí tộc kia ăn nói rất tục tằn, lỗ mãng. Lúc đầu, gã thanh niên ấy bị sốc do cách nói năng của ông ta; nhưng rồi anh ta bị lôi cuốn bởi những câu nói bông đùa thô lỗ của người nầy rồi bật cười với họ.

Wedgwood khi ấy đau lòng lắm rồi. Ở cuối chuyến tham quan đó, ông chỉ cho nhà quí tộc kia thấy một cái khuôn bình rất lớn. Người kia bị quyến rũ bởi cái bình thật đẹp và trang nhã ấy. Khi ông ta bước tới gần cái khuôn đó, Ông Wedgwood cố ý để cho nó ngã xuống sàn nhà. Nhà quí tộc kia thốt ra một lời rủa sả, ông ta nói. “Trong sự tuyển chọn của tôi, tôi muốn cái bình đó, và ông đã vô ý làm bể nó rồi!”

Wedgwood đáp. “Thưa ông, có nhiều thứ đổ vỡ khác còn quí giá hơn chiếc bình nầy mà không bao giờ phục hồi lại được. Ông không thể làm cho gã thanh niên nầy, là người mới vừa rời khỏi chúng ta, có lại được sự kính trọng đối với những vụ việc thiêng liêng mà cha mẹ anh ta đã cố công dạy dỗ anh ta trong nhiều năm trời. Ông đã huỷ phá công việc của họ trong vòng chưa đầy một tiếng đồng hồ!” (Morning Glory, Sept.-Oct., 1997, p. 32).
Mới đây thôi, cách ăn ở Cơ đốc của Will Houghton, một nhà truyền đạo đã trở thành Viện trưởng Viện Thần Học Moody trong thập niên 1940, đã đóng một vai trò quan trọng cho việc trở lại đạo của một người theo thuyết bất khả tri (agnostic), ông nầy dự tính tự tử. Kẻ theo chủ nghĩa hoài nghi nầy đang lâm cảnh tuyệt vọng, nhưng ông quyết định rằng nếu ông có thể tìm được một vị Mục sư nào sống theo đức tin mình, ông sẽ nghe theo người ấy. Vì vậy ông mới thuê một thám tử tư để theo dõi Houghton.
Khi báo cáo của tay thám tử kia gửi về, báo cáo ấy ghi rằng đời sống của nhà truyền đạo nầy không thể chê vào đâu được; ông ấy sống rất thực. Người kia bèn đi đến Hội Thánh của Houghton, tiếp nhận Đấng Christ, rồi sau đó đã gửi con mình vào Thần Học Viện Moody. (H.V.L. Our Daily Bread, September 29).

Chúng ta sẽ trở thành một tấm gương
cho nhiều người khác.
Chúng ta có khuynh hướng
noi theo gương của người khác.
Tấm gương tốt nhứt chúng ta có
là Đức Chúa Giêxu Christ.
Ngài sống một đời sống trọn lành.
Ngài là Đức Chúa Trời trong loài xác thịt.
Ngài là tấm gương trọn vẹn.
Câu gốc Kinh Thánh của chúng ta cho sứ điệp sáng nay là 1 Giăng 2.6 – “Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm”.

Lý do cho việc chúng ta muốn làm theo như Chúa Jêsus đã làm được chứa trong mấy câu đi trước đó.
1 Giăng 2.3-5 – “Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. Kẻ nào nói ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài”.

Chúng ta quyết chắc rằng chúng ta nhìn biết Chúa Jêsus là Cứu Chúa khi chúng ta ý thức thực hiện một nổ lực để gìn giữ các điều răn của Ngài. Chúng ta sống không tội lỗi, như chúng ta đã xem xét tuần vừa qua, nhưng chúng ta sẽ phấn đấu để vâng theo nếu chúng ta đã thực sự được cứu.

Nếu chúng ta xưng nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa mà chúng ta không vâng theo Ngài, chúng ta đang nói dối và không có lẽ thật ngự trong chúng ta.
Lẽ thật chúng ta không có là chính mình Chúa Jêsus. Ngài đã phán trong Giăng 14.6,
…Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha”.

Khi chúng ta gìn giữ Lời của Đức Chúa Trời, tình yêu thương của Đức Chúa Trời được trọn vẹn nơi chúng ta.
Khi Lời của Đức Chúa Trời được trọn vẹn nơi chúng ta, chúng ta sẽ có sự bảo đảm là chúng ta đang ở trong Đấng Christ.
Chúng ta là Cơ đốc nhân biết sống vâng phục và có sự bảo đảm về ơn cứu rỗi khi chúng ta làm theo y như chính Chúa Jêsus đã làm.

Nếu quí vị và tôi xưng mình là Cơ đốc nhân đang ở trong Đấng Christ, chúng ta cần phải làm theo như Ngài đã làm! Chúng ta cần phải noi theo các tấm gương của Ngài!

Phần thách thức của tôi cho quí vị sáng nay là "làm theo như chính Ngài đã làm".
Hãy noi theo các tấm gương của Đức Chúa Giêxu Christ.
Sáng nay chúng ta sẽ rút tỉa các tấm giương từ sách Mathiơ, các tấm gương của Chúa Jêsus mà chúng ta cần phải noi theo.

“Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm”.

Trước hết hãy lưu ý:
CHÚA JÊSUS ĐÃ CHỊU PHÉP BÁPTÊM. QUÍ VỊ PHẢI CHỊU PHÉP BÁPTÊM Mathiơ 3.13-17
Hãy đọc phân đoạn Kinh Thánh đó
Giăng Báptít vốn biết rõ Chúa Jêsus là Đấng công bình.
Giăng Báptít đang làm phép báptêm với một phép báptêm làm biểu tượng cho sự ăn năn tội. Chúa Jêsus không có lý do gì để ăn năn cả.
Câu 15 – Để cho Chúa Jêsus làm trọn mọi sự công bình, nghĩa là, mọi sự Đức Chúa Cha muốn Ngài phải lo làm, Ngài phải chịu phép báptêm.

Với phép báptêm, Ngài đang tự đồng hoá với chúng ta, những người là tội nhân đang cần phải ăn năn. Ngài đã đến làm phu phỉ nhu cần của chúng ta.

Báptêm là biểu tượng cho sự chết, sự chôn và sự sống lại. Hãy xem lại Roma 6. Chúa Jêsus sẽ tiếp tục chết vì chúng ta, chịu chôn và sống lại.

Còn phép báptêm ngày nay thì sao?
Chúa Jêsus đã chịu phép báptêm, QUÍ VỊ phải chịu phép báptêm.
Chúa Jêsus đã chịu phép báptêm ở độ tuổi Ngài biết rõ mình đang làm điều gì.
Chúng ta phải chịu phép báptêm ở độ tuổi chúng ta biết mình đang làm điều gì.
Chúa Jêsus đã chịu phép báptêm để làm trọn mọi sự công bình.
Chúng ta chịu phép báptêm, vì đây là điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải lo làm. Chúng ta phải làm điều chi phải lẽ nơi ánh mắt của Đức Chúa Trời.

Mathiơ 28.19 – “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ”.
Khuôn mẫu trong sách Công vụ Các Sứ Đồ là niềm tin nơi Đấng Christ đáng phải noi theo bởi phép báptêm.

Một tấm gương được thấy có trong Công vụ Các Sứ Đồ 10. Phierơ được sai đến một người Ngoại có tên là Cọtnây. Cọtnây đã nhóm lại các người thân cùng bạn hữu của mình. Phierơ đã giảng Tin lành cho họ nghe.
Trước khi Phierơ ngưng giảng, Đức Thánh Linh đã giáng trên họ, ban ra chứng cớ rằng họ đã tin nơi Đấng Christ.

Công vụ Các Sứ Đồ 10.47-48 – “Người ta có thể từ chối nước về phép báp-tem cho những kẻ đã nhận lấy Đức Thánh Linh cũng như chúng ta chăng? Người lại truyền làm phép báp-tem cho họ nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ …”

Hãy lưu ý, Phierơ đã truyền cho họ phải chịu phép báptêm! Đây không phải là một lời đề nghị đâu! Đây là một mạng lịnh! Trong Hội Thánh Tân ước đầu tiên, nếu quí vị đã được cứu, quí vị phải chịu phép báptêm!

Phép báptêm không đưa quí vị vào thiên đàng đâu.
Tin nơi Đấng Christ, quí vị được cứu.
Phép báptêm là bằng chứng cho quí vị thấy rằng quí vị sẽ được lên thiên đàng.
Phép báptêm là bước vâng phục đầu tiên trong cuộc sống Cơ đốc.

Phép báptêm là cách quí vị nói quí vị đang tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa.
Ngài tự đồng hoá mình với chúng ta qua phép báptêm. Chúng ta cần phải đồng hoá với Ngài qua phép báptêm.

CHÚA JÊSUS ĐÃ CHỊU PHÉP BÁPTÊM. QUÍ VỊ PHẢI CHỊU PHÉP BÁPTÊM, nếu chúng ta sống vâng phục, và chúng ta làm như chính Ngài đã làm.

CHÚA JÊSUS KHÁNG CỰ TỘI LỖI. QUÍ VỊ PHẢI KHÁNG CỰ TỘI LỖI Mathiơ 4.1-11

Ngay sau khi Chúa chịu phép báptêm, Chúa chịu sự cám dỗ.
Ngài sống vô tội, và tất nhiên, dù bị cám dỗ qua sự thử nghiệm nầy, Ngài đã kháng cự tội lỗi.

Các câu 1-3 – Ngài đã kiêng ăn trong 40 ngày, và Satan đã đến đặng cám dỗ Ngài. Phần cám dỗ đầu tiên là cám dỗ Chúa Jêsus làm những điều mà Đức Chúa Trời làm. Ngài bị cám dỗ để khiến đá thành bánh.

Tại sao Chúa Jêsus hoá bánh là sai chứ?
Trước tiên, trong câu 1, Ngài đã được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn. Ngài sống không cần bánh vì Đức Chúa Trời đã hoạch định như thế.
Thứ hai, hoá bánh có nghĩa là làm theo mọi sự dẫn dắt của ma quỉ thay vì sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời. Vì lẽ đó, Chúa Jêsus đã từ chối.

Câu 4 – Chúa Jêsus đã trưng dẫn Kinh Thánh và đã kháng cự tội lỗi.

Các câu 5-6 – Chúa Jêsus được đưa lên nóc cao đền thờ và được mời nhảy xuống. Satan trưng dẫn Kinh Thánh về Đức Chúa Trời sẽ bảo hộ Ngài.

Câu 7 – Chúa Jêsus đã từ chối. Ngài đã kháng cự, một lần nữa Ngài đã trưng dẫn Kinh Thánh! Vì Chúa Jêsus nhảy xuống từ nóc cao đền thờ, điều nầy sẽ thử Đức Chúa Trời!

Điều nầy giống như việc quí vị và tôi nhảy ra trước mặt một chiếc xe hơi đang chạy để xem coi Đức Chúa Trời có bảo hộ chúng ta hay không vậy!

Các câu 8-9 – Chúa Jêsus được đưa lên trên núi. Satan chỉ cho Ngài thấy mọi nước thế gian. Hắn hiến chúng cho Ngài, nếu Ngài chịu thờ lạy ma quỉ. Chúa Jêsus không thờ lạy nó.
Satan đang hiến cho Chúa Jêsus một Nước mà chẳng cần gì đến thập tự giá!

Câu 10 – Chúa Jêsus bảo Satan hãy cút đi! Và một lần nữa Ngài trưng dẫn Kinh Thánh.
Chúng ta cần phải làm giống như chính Ngài đã làm. Và mặc dù chúng ta là Cơ đốc nhân sống không tội lỗi, chúng ta cần phải kháng cự tội lỗi.
Đức Chúa Trời biết rõ chúng ta không thể sống như thế được nếu không có sự vùa giúp.

I Côrinhtô 10.13 – “Những sự cám dỗ đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu; nhưng trong sự cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được”.

Khi chúng ta bị cám dỗ, chúng ta cần phải cầu xin và tìm kiếm phương thức tránh thoát của Đức Chúa Trời. Và nếu Chúa Jêsus trưng dẫn Kinh Thánh khi bị cám dỗ, chúng ta cũng phải trưng dẫn Kinh Thánh.

“Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm”.

CHÚA JÊSUS KHÁNG CỰ TỘI LỖI. QUÍ VỊ PHẢI KHÁNG CỰ TỘI LỖI
CHÚA JÊSUS BẰNG LÒNG PHỤC VỤ. QUÍ VỊ PHẢI BẰNG LÒNG PHỤC VỤ. Mathiơ 8.1-4

Trong các câu 1-4, một người phung, một người bị chứng nan y với một căn bịnh nhìn vào rất ghê tởm, đến với Chúa Jêsus.

Câu 2 – Ông ta đến với Chúa Jêsus và thờ lạy.

“Lạy Chúa, nếu Chúa khứng, chắc có thể làm cho tôi sạch được". Thực vậy, người phung đáng thương nầy đang cầu xin Chúa Jêsus về dịch vụ, dịch vụ chữa lành.

Khi quí vị nếm trải cuộc sống, người ta sẽ yêu cầu quí vị phục vụ. Họ sẽ nói: "Nếu quí vị khứng, quí có thể…

Dạy Lớp Trường Chúa Nhật.
Phục vụ trong nhà hội.
Giúp đỡ với việc dọn dẹp.
Chăm sóc các em thiếu nhi.
Giúp đỡ với một dự án.
Làm ơn cho ai đó.
Chia sẻ đức tin.
Dâng hiến cho công cuộc truyền giáo.
Hát trong ca đoàn.
Nói tiếng vọng trong chương trình
thánh nhạc đặc biệt.
Câu 3 – Trong trường hợp của Chúa Jêsus, người ta yêu cầu Ngài phục vụ, và Ngài đáp: “Ta sẽ”.
Khi người ta yêu cầu chúng ta phục vụ, chúng ta sẽ trả lời sao?
Liệu chúng ta đáp: "Ta sẽ", hay chúng ta sẽ đưa ra hàng lô lời cáo lỗi không phục vụ tha nhân?

Chúa Jêsus đã phục vụ mọi sự trong cuộc sống.
Ngài phục vụ bằng cách chữa lành cho nhiều người.
Ngài phục vụ bằng cách cho 5.000 người ăn.
Ngài phục vụ qua các công tác giảng dạy.
Ngài phục vụ bằng cách rửa chơn cho các môn đồ.
Hành động phục vụ tối hậu của Ngài là bước lên thập tự giá.

Mathiơ 20.27-28 – “còn kẻ nào muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi các ngươi. Ấy vậy, Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người”.

Galati 6.10 – “Vậy, đang lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin”.

Quí vị noi theo gương Chúa Jêsus qua sự phục vụ như thế nào?
Khi Chúa Jêsus tìm thấy điều chi cần làm, Ngài đã làm điều ấy!
Hãy tìm điều chi cần làm và hãy làm điều đó!

“Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm”.

CHÚA JÊSUS BẰNG LÒNG PHỤC VỤ. QUÍ VỊ PHẢI BẰNG LÒNG PHỤC VỤ.
CHÚA JÊSUS LÀM ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA CHA, QUÍ VỊ PHẢI LÀM ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA CHA. MATHIƠ 17.1-5

Hãy đọc các câu 1-5,
Hãy chú ý câu 5. Đức Chúa Trời đang phán ở đây: "Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường".
Chẳng có một việc nhỏ nào Chúa Jêsus đã làm không đẹp lòng Cha.

Chẳng có một hành động nào.
Chẳng có một thái độ nào.
Chẳng có một lời nào không đẹp lòng Cha chúng ta ở trên trời.

Nếu chúng ta làm theo như chính Chúa Jêsus đã làm, chúng ta phải lo làm đẹp lòng Cha chúng ta ở trên trời trong mọi sự chúng ta nói, suy nghĩ hay làm!

Câu hỏi chúng ta phải đưa ra trước khi chúng ta làm bất cứ việc gì là: "LIỆU ĐIỀU NẦY CÓ LÀM ĐẸP LÒNG CHA TÔI Ở TRÊN TRỜI KHÔNG!?!"

Chương trình vô tuyến truyền hình tôi muốn xem!?!

Trang web nào tôi mở trên máy tính và trò chơi nào tôi phải chơi!?!
Sinh hoạt nào tôi muốn dự phần trong đó!?!
Cách tôi sử dụng thì giờ!?!
Những tư tưởng nầy tôi có!?!
Tình bạn tôi đang có!?!
Mọi điều nầy có làm đẹp lòng Cha tôi ở trên trời không?

Một câu hỏi khác rất hay cần phải đưa ra - "NẾU TÔI CÓ THỂ NHÌN THẤY CHÚA JÊSUS ĐỨNG TRƯỚC MẶT TÔI NGAY BÂY GIỜ, LIỆU TÔI CÓ DỰ VÀO SINH HOẠT NẦY HAY KHÔNG? Nếu câu trả lời là không, đừng tham dự vào đấy.

CHÚA JÊSUS LÀM ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA CHA, QUÍ VỊ PHẢI LÀM ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA CHA.
ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST THỰC HÀNH ĐỨC TIN. QUÍ VỊ PHẢI THỰC HÀNH ĐỨC TIN – Mathiơ 17.14-21

Sau khi Chúa Jêsus từ trên núi xuống, Ngài khám phá ra các môn đồ của Ngài đã gặp rắc rối với việc đuổi quỉ.
Hãy đọc các câu 14-17 – Ngài gọi họ là "dòng dõi không tin và gian tà kia".

Các câu 18-19 – Chúa Jêsus quở ma quỉ và cậu bé được lành ngay. Sau đó, các môn đồ đã hỏi lý do tại sao họ không thể đuổi quỉ được.

Câu 20 – Câu trả lời rất rõ ràng. Ấy chỉ vì họ thiếu đức tin mà thôi.
Chỉ một chút đức tin thôi sẽ dời được núi.
Chúa Jêsus đã hành động trong đức tin. Ngài phán thì việc liền có.

Hêbơrơ 11.6 – “Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài”.

Đức tin chúng ta dựa vào việc tìm kiếm Đức Chúa Trời nơi Lời của Ngài và sự cầu nguyện, cầu nguyện theo ý chỉ của Ngài, hành động theo ý chỉ của Ngài, và tin rằng Ngài sẽ hành động trong và qua chúng ta.

Nhiều việc sẽ đạt được nếu chúng ta tin nơi Đức Chúa Trời!
Khi John Paton đang dịch Kinh Thánh cho bộ tộc ở đảo South Seas, ông khám phá ra rằng họ không có những chữ như “tin cậy” hay “đức tin”. Ngày kia, có một người bản xứ chạy tới ngôi nhà vị giáo sĩ đang trú ngụ, ông ta ngồi lọt vào trong chiếc ghế rồi nói: "Đặt cả trọng lượng của mình lên chiếc ghế nầy thiệt đã quá".
Paton nói: "Đúng như thế, tôi đã dịch “đức tin” là 'đặt toàn bộ trọng lượng của một người lên Đức Chúa Trời'"
Đây đúng chính xác là loại đức tin mà Chúa Jêsus đã có, và loại đức tin mà chúng ta phải có. Chúng ta hãy đặt toàn bộ trọng lượng lên Đức Chúa Trời đi.

ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST THỰC HÀNH ĐỨC TIN. QUÍ VỊ PHẢI THỰC HÀNH ĐỨC TIN
CHÚA JÊSUS ĐỘNG LÒNG THƯƠNG XÓT. QUÍ VỊ PHẢI ĐỘNG LÒNG THƯƠNG XÓT. Mathiơ 20.29-34

Hãy đọc Mathiơ 20.29-34
Quí vị và tôi làm chứng với những động lực nào?
Quí vị và tôi làm các việc lành với động lực nào?
Quí vị và tôi lắng nghe người khác với động lực nào?
Quí vị và tôi đến với người đang có cần với động lực nào?

Một trong các động lực Chúa Jêsus đã có chính là lòng thương xót.
Chúa Jêsus thực sự quan tâm những gì xảy ra cho những người ở quanh Ngài.
Đấy là lý do tại sao Ngài chữa lành cho hai người mù nầy.
Đấy là lý do tại sao Ngài đã bước lên thập tự giá.
Ngài động lòng thương xót quí vị!
Đấy là lý do tại sao Ngài ngồi ở trên trời cầu thay cho quí vị!
Ngài có lòng thương xót.
Quí vị và tôi, phải làm như chính Chúa Jêsus đã làm, phải có lòng thương xót đối với tha nhân.
Khi người lân cận nhìn thấy quí vị quan tâm, người ấy sẽ muốn biết nhiều hơn về Đấng Christ.
Khi các Cơ đốc nhân khác nhìn thấy quí vị quan tâm, họ sẽ được yên ủi, được khích lệ và được vững vàng, và bản thân họ cũng bằng lòng quan tâm nữa.

Khi tôi ôn lại đời sống tôi, tôi có thể thắc mắc, tôi sẽ ở đâu nếu không có những người tỏ ra lòng thương xót cho tôi?

Có một tín hữu tên là Jeff, là bạn tôi khi còn ở Trung học, trong khi nhiều người khác không phải là bạn.
Có Mẹ tôi là người lo liệu cho tôi thoát ra khỏi bế tắc.
Và có Bố nữa, ông đã giúp tôi trong đêm người bạn thân nhất của tôi tính tự tử.
Có thầy giáo, là người giúp tôi làm bài luận hết một trang giấy.
Có ban chấp sự phụ giúp khi tôi cần đến, thay vì bài giảng.
Có Dottie vợ tôi, là người trong 32 năm, đã sống trong sự cảm thông, có lỗ tai biết lắng nghe.

Giờ đây, hãy nhìn xung quanh đi!
Chúa Jêsus đã bày tỏ ra lòng thương xót.
Quí vị đã nhận lãnh lòng thương xót.
Quí vị sẽ tỏ ra lòng thương xót với ai đây?

“Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm”.

CHÚA JÊSUS ĐÃ CHỊU PHÉP BÁPTÊM. QUÍ VỊ PHẢI CHỊU PHÉP BÁPTÊM
CHÚA JÊSUS KHÁNG CỰ TỘI LỖI. QUÍ VỊ PHẢI KHÁNG CỰ TỘI LỖI
CHÚA JÊSUS BẰNG LÒNG PHỤC VỤ. QUÍ VỊ PHẢI BẰNG LÒNG PHỤC VỤ.
CHÚA JÊSUS LÀM ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA CHA, QUÍ VỊ PHẢI LÀM ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA CHA.
ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST THỰC HÀNH ĐỨC TIN. QUÍ VỊ PHẢI THỰC HÀNH ĐỨC TIN
CHÚA JÊSUS ĐỘNG LÒNG THƯƠNG XÓT. QUÍ VỊ PHẢI ĐỘNG LÒNG THƯƠNG XÓT.
***

I Giăng 1:8-2:2: "Của Bạn Mở Hay Tắt?"



1 Giăng 1.8 - 2.2
CỦA BẠN MỞ HAY TẮT?

Nếu bạn sống giống như tôi, bạn để cho những ngọn đèn “mở” khi bạn tắt chúng và để đèn “tắt” khi bạn phải mở chúng.
Là Cơ đốc nhân, chúng ta cần phải bước đi “trong sự sáng”, như chúng ta đã xét qua tuần rồi.
1 Giăng 1.7 – “Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta”.
Là Cơ đốc nhân, chúng ta là “sự sáng trong thế gian”.
Mathiơ 5.14-16 – “Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được: cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người ta để trên chân đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà”.
Vì vậy, hỡi Cơ đốc nhân, bạn là sự sáng của thế gian. Cho phép tôi hỏi bạn: Có phải ngọn đèn của bạn đang “mở” hay đang “tắt”? Bạn đang chiếu sáng hay đang giấu sự sáng đi?
Một sáng kia có người đi làm, một người Cơ đốc thấy phạm lỗi khi lấy hai tờ báo thay vì một. Trước tiên người nghĩ tới việc trả tiền cho người kia vào sáng hôm sau, nhưng rồi sau khi xem xét một phút, người nói: “Tốt hơn tôi nên quay lại với tờ báo nầy. Tôi không muốn người ở sạp báo nghĩ tôi là bất lương”. Người đi lấy xe, rồi lái quay trở lại sạp báo, và trả lại tờ báo.
Một tuần lễ sau, có người lấy cắp tiền từ quầy tạp hoá. Khi cảnh sát hỏi thời gian sự việc xảy ra, nhân viên bán hàng nhớ chỉ có hai người có mặt ở cửa hàng lúc bấy giờ — và một là người Cơ đốc kia.
Nhân viên bán hàng ngay lập tức bác bỏ không nghi ngờ anh ta, rồi nói: “Người ấy rất thành thực. Người ấy vừa trở lại đây chỉ để trả lại tờ báo mà người đã lấy lộn”. Nhân viên cảnh sát tập trung điều tra vào người kia, không bao lâu sau đó người ấy đã nhận tội. Sự thành thật của Cơ đốc nhân đã tạo ra được một ấn tượng lớn trên nhân viên bán hàng chưa tin Chúa (Our Daily Bread, March-May, 1998, p. for April 15, http.//www.bible.org/illus.asp?topic_id=1549).
Đèn của Cơ đốc nhân nầy đã “mở”.
Tôi đã quan sát thấy nhiều Cơ đốc nhân đã mất tính chất của họ và đang sử dụng cách nói năng thật tệ hại. Đèn của họ đã “tắt”.
Tôi đã nhìn thấy nhiều Cơ đốc nhân sống không chân thật. Đèn của họ đã “tắt”.
Có những Cơ đốc nhân đã phạm vào tội lấy cắp. Đèn của họ đã “tắt”.
Tôi là một Cơ đốc nhân đã để cho lo lắng làm cho tôi phải bất động. Đèn của họ đã “tắt”.
Tôi biết một số Cơ đốc nhân đã dính líu vào tội ngược đãi trẻ em, lạm dụng tình dục và nhiều tội khác nữa. Đèn của họ đã “tắt”.
Tôi biết một số Cơ đốc nhân, họ sống bất trung với vợ hay chồng mình. Đèn của họ đã “tắt”.
Sáng nay, chúng ta mở ra ở 1 Giăng, là quyển sách trong Kinh Thánh nói tới việc sống thật, hay Cơ đốc giáo thật. Khi chúng ta nhìn vào 1 Giăng 1.8 - 2.2, tôi muốn bạn đưa ra thắc mắc: “Đèn của tôi là một Cơ đốc nhân đang “mở” hay đang “tắt”?” Bạn không thể làm gì nhiều cho ai khác, nhưng bạn phải biết chắc rằng sự sáng của bạn đang chiếu sáng cho Chúa Jêsus.
Sáng nay chúng ta sẽ xem xét.
NAN ĐỀ KHÔNG THÀNH THẬT – 1.8, 10
LỜI HỨA THA THỨ – 1.9
XU HƯỚNG VỀ SỰ THÁNH KHIẾT – 2.1a
CÓ ĐẤNG CẦU THAY – 2.1-2

NAN ĐỀ KHÔNG THÀNH THẬT – 1.8, 10
1 Giăng 1.8 – “Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta”.
Có nhiều người trong thời của Giăng xưng mình đã đạt tới một điểm “vô tội trọn vẹn”. Họ xưng rằng họ không phạm tội gì hết.
Cũng có những người trong thời của chúng ta đưa ra lời xưng nhận đó.
Cái điều tôi đáng lo là chúng ta những Cơ đốc nhân đã được tái sanh. Chúng ta đã tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa. Chúng ta đã được tha thứ và chúng ta sẽ được lên thiên đàng.
Chúng ta sẽ không hề xưng mình là vô tội.
Tuy nhiên, chúng ta không xem những lỗi lầm đặc biệt của chúng ta là tội lỗi.
Chúng ta sẽ gọi chúng là “yếu đuối” hay là “con người” hoặc một kết quả của “mệt mõi”, nhưng chúng ta không gọi chúng như chúng đáng phải vậy, đó là tội lỗi!
Chúng ta nghĩ không sao nếu chúng ta hành động giống như mọi người khác.
Chúng ta có thể nói dối hay chia sẻ một nửa lẽ thật hầu đưa chúng ta ra khỏi rắc rối.
Chúng ta có thể lấy một thứ gì đó không thuộc về chúng ta và xưng công bình lý do tại sao chúng ta lấy thứ đó.
Chúng ta có thể nhìn một người nữ khác với các tư tưởng tham muốn, rồi nói: “Nhìn mà chẳng đụng đến thì đâu có sao”.
Có chắc không?
Mathiơ 5.27-28 – “Các ngươi có nghe lời phán rằng: Ngươi chớ phạm tội tà dâm. Song ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi”.
Chúng ta đánh mất tính chất của mình rồi lây lan qua người khác, thường là một thành viên trong gia đình, và hãy tự xét mình xem làm vậy có đúng hay không!?!
Chúng ta biếng nhác ở sở làm hay ít tham dự vào Hội Thánh của mình rồi tìm những lý do để xưng công bình cho việc ấy.
Chúng ta để cho kiêu ngạo níu kéo chúng ta không nhìn nhận lúc chúng ta sai lầm hay không muốn cầu xin được tha thứ.
Và chúng ta không nghĩ những việc như thế nầy là tội lỗi!
Khi chúng ta sống như thế nầy, không những chúng ta không thành thực, mà chúng ta còn dối mình nữa!
Những người khác có nhìn thấy tội lỗi của bạn không?
Có đấy, họ có thể nhìn thấy nhiều điều trong số đó, và họ biết bạn sai quấy ra sao bất luận bạn xưng công bình hay thoái thác trách nhiệm đến cỡ nào. Và những điều người khác không thể thấy được, Đức Chúa Trời có thể thấy chúng.
Châm ngôn 15.3 – “Con mắt Đức Giê-hô-va ở khắp mọi nơi, xem xét kẻ gian ác và người lương thiện”..
Khi một Cơ đốc nhân sai quấy mà chẳng chịu nhìn nhận, ngòn đèn làm chứng của người đã “tắt”.
Nhiều lần bậc phụ huynh thất bại không chịu xin lỗi con cái mình vì những việc họ đã phạm sai lầm, và điều nầy tạo ra một cái nêm chen vào giữa con cái và cha mẹ.
Nhiều lần một Cơ đốc nhân không nhìn nhận sai lầm trong công việc và điều nầy đã làm ngăn trở người (nam hay nữ) không còn làm chứng tốt được nữa. Ngọn đèn đã “tắt”.
Và hãy chú ý khi chúng ta dối mình với tội lỗi của chúng ta, lẽ thật không còn ở trong chúng ta nữa. Chúng ta đang sống theo một lời nói dối do làm theo điều quấy mà không chịu trách niệm về mình!
1 Giăng 1.10 – “Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta”.
Có lẽ câu nầy nói tới một người xưng mình không hề phạm tội!
Khi một người nói như vầy, người ấy đang gọi Đức Chúa Trời là kẻ nói dối.
Đức Chúa Trời phán hết thảy chúng ta đều đã phạm tội!
Roma 3.10-18 – “như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không. Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng. Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu. Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn, Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an. Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó”.
Roma 3.23 – “vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”.
Nếu một người xưng mình chưa hề phạm tội, không những người đang gọi Đức Chúa Trời là kẻ nói dối, mà còn cho Lời Đức Chúa Trời chắc chắn không chạm đến đời sống của người. Lời Đức Chúa Trời không ở “trong người”.
Chúng ta áp dụng câu nầy cho Cơ đốc nhân bằng cách nào?
Đức Chúa Trời cho chúng ta biết trong Lời của Ngài những sinh hoạt nào là sai quấy và gọi chúng là tội lỗi.
Nếu tôi không gọi tội lỗi trong đời sống tôi là “tội lỗi”, tôi đang gọi Đức Chúa Trời là kẻ nói dối, và Lời của Ngài chắc chắn không chạm vào đời sống của tôi.
Vì vậy, nếu chúng ta không thành thực về tội lỗi trong đời sống của chúng ta, chúng ta đang dối mình và chúng ta đang gọi Đức Chúa Trời Toàn Năng là kẻ nói dối.
Và ngọn đèn chứng cớ của chúng ta đang “tắt”. Chúng ta không thể chạm vào người khác thật hiệu quả cho Ngài được.
NAN ĐỀ KHÔNG THÀNH THẬT – 1.8, 10

LỜI HỨA THA THỨ – 1.9
Khi Chúa Jêsus chịu chết vì tội lỗi chúng ta, Ngài đã chịu chết vì hết thảy tội lỗi, quá khứ, hiện tại và tương lai.
Khi một Cơ đốc nhân phạm tội, ngọn “đèn” chứng cớ của người không còn cháy nữa.
Khi một Cơ đốc nhân phạm tội, Đức Chúa Trời không đáp trả lời cầu nguyện.
Thi thiên 66.18 – “Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi”.
I Phierơ 3.7 – “Hỡi người làm chồng, hãy tỏ điều khôn ngoan ra trong sự ăn ở với vợ mình, như là với giống yếu đuối hơn; vì họ sẽ cùng anh em hưởng phước sự sống, nên phải kính nể họ, hầu cho không điều gì làm rối loạn sự cầu nguyện của anh em”.
I Phierơ 3.12 – “Vì mắt Chúa đoái trông người công bình, tai Ngài lắng nghe lời cầu nguyện người, nhưng mặt Chúa sấp lại nghịch với kẻ làm ác”.
Khi một Cơ đốc nhân phạm tội, Đức Chúa Trời buồn lắm.
Êphêsô 4.25-32 – “Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau. Ví bằng anh em đang cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn, và đừng cho ma quỉ nhân dịp. Kẻ vốn hay trộm cắp chớ trộm cắp nữa; nhưng thà chịu khó, chính tay mình làm nghề lương thiện, đặng có vật chi giúp cho kẻ thiếu thốn thì hơn, chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến. Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc. Phải bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác. Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy”.
Giờ đây hãy suy nghĩ về điều nầy – ĐỨC CHÚA TRỜI ĐAU BUỒN KHI TÔI PHẠM TỘI!
Là một Cơ đốc nhân, là người đã tin cậy Chúa Jêsus làm Cứu Chúa, tôi đang đem sự đau buồn vào lòng Đức Chúa Trời. Đó là việc cuối cùng mà tôi muốn làm!
Khi có ai đó gây tổn thương cho bạn hay làm mích lòng bạn, thật là khó cho bạn có một mối giao hảo tốt với người đó. Bạn muốn tránh né họ, không trò chuyện với họ, hay làm ơn cho họ.
Cũng một thể ấy với Đức Chúa Trời chí thánh, công bình của chúng ta.
Tội lỗi làm đau lòng Đức Chúa Trời và vì lẽ đó Đức Chúa Trời không sẵn sàng có mối giao thông với con cái hay phạm tội của Ngài hoặc để đáp trả những lời cầu nguyện của người (nam hay nữ).
Nhưng có những tin tức tốt lành!
1 Giăng 1.9 – “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”.
Xưng ra mọi tội lỗi chúng ta là công nhận chúng trước mặt Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời biết tội lỗi chúng ta là tội gì. Khi chúng ta biết rõ mọi tội lỗi của mình, chúng ta phải nhìn nhận chúng trước mặt Đức Chúa Trời.
Chúng ta là những con người đặc biệt!
Đức Chúa Trời đang trông đợi chúng ta đọc tên tội lỗi.
Chúng ta không nên cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu con có làm gì sai quấy, xin tha thứ cho con”.
Chúng ta phải cầu nguyện: “Lạy Cha, đây là tội lỗi của con (nói rõ tội lỗi đó) làm ơn tha thứ cho con. Con đã sai rồi”.
Và hãy chú ý khi chúng ta xưng ra tội lỗi của mình, Ngài là thành tín, công bình để tha tội cho chúng ta.
Đức Chúa Trời là thành tín để tha tội vì Ngài đã phán Ngài sẽ tha tội.
Êsai 1.18 – “Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên”.
Đức Chúa Trời là công bình hay công nghĩa tha thứ vì Con của Ngài đã trả giá cho tội lỗi đó rồi.
II Côrinhtô 5.21 – “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời”.
Và Đức Chúa Trời đi từng bước xa hơn trong ơn tha thứ của Ngài.
Khi chúng ta thành thật xét mình rồi xưng ra mọi tội đã biết, Ngài xử lý với những tội mà chúng ta chưa ý thức được.
Chúng ta được thanh tẩy khỏi “mọi sự bất nghĩa”.
Quả là một lời hứa kỳ diệu và đáng khích lệ!
Và khi chúng ta xử lý với tội lỗi của chúng ta trên một cơ sở đều đặn, chúng ta sẽ bước đi trong sự sáng, rồi nhờ đó đèn của chúng ta sẽ ở vị thế “mở”.
NAN ĐỀ KHÔNG THÀNH THẬT – 1.8, 10
LỜI HỨA THA THỨ – 1.9
XU HƯỚNG VỀ SỰ THÁNH KHIẾT – 2.1a
1 Giăng 2.1 – “Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con những điều nầy, hầu cho các con khỏi phạm tội”.
Giăng đang nói cho họ biết lý do tại sao ông chỉ nói tới thực tại của tội lỗi, và sự thực: chúng ta cần phải xưng tội mình.
Mục đích của Giăng khi nói tới tội lỗi, ấy là để cho họ đừng phạm tội nữa.
Chúng ta là Cơ đốc nhân phải xu hướng về sự thánh khiết.
Sự thánh khiết, nghĩa là biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời.
Nếu chúng ta sống biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời, chúng ta cũng phải tách biệt đối với tội lỗi nữa.
Lêvi ký 20.26 – “Đối cùng ta các ngươi hãy nên thánh, vì ta, Đức Giê-hô-va, là thánh; ta đã phân rẽ các ngươi với các dân, để các ngươi thuộc về ta”.
Trong các khu rừng ở miền Bắc Âu châu và Á châu có một loài động vật nhỏ sinh sống có tên là chồn “ermine”, ai cũng biết tới nó với bộ lông trắng như tuyết vào mùa đông. Nó có bản năng bảo hộ chiếc áo choàng màu trắng của mình chống lại bất cứ thứ gì làm bẩn chiếc áo ấy.
Những thợ săn lông thú nắm bắt được ưu điểm của thói tật bất thường nầy của loài chồn. Họ không giăng bẫy để bắt nó, thay vì thế họ tìm hang của nó, thường là một khe đá hay một lỗ sâu trong một cây thật già cỗi. Họ làm bẩn lối vào và bên trong bằng bụi than. Tiếp đến các thợ săn thả chó để tìm và đuổi loài chồn nầy. Con thú hoảng sợ chạy hướng về hang nhưng không vào vì cớ dơ bẩn. Thay vì làm bẩn chiếc áo choàng của nó, nó bị bầy chó chận lại và bắt lấy trong khi lo bảo tồn sự tinh sạch của mình. Đối với loài chồn “ermine”, tinh sạch thì quí báu hơn cả mạng sống nữa – (HGB, Our Daily Bread, April 21, 1997, http.//www.bible.org/illus.asp?topic_id=731).
Giống như loài chồn nầy chúng ta thà chết chứ không chịu làm bẩn mình với bụi than và sự bẩn thỉu của tội lỗi.
Chúng ta đáng phải xu hướng về sự thánh khiết, và đừng phạm tội.
Khi chúng ta làm theo, đèn của chúng ta đang ở vị thể “mở”.
“Một đời sống thánh khiết sẽ tạo được ấn tượng sâu đậm nhất. Hải đăng không thổi ra tiếng kèn nào hết, chúng chỉ chiếu sáng mà thôi” – (D. L. Moody).
NAN ĐỀ KHÔNG THÀNH THẬT – 1.8, 10
LỜI HỨA THA THỨ – 1.9
XU HƯỚNG VỀ SỰ THÁNH KHIẾT – 2.1a
CÓ ĐẤNG CẦU THAY – 2.1-2
Tôi có một người bạn mới. Tên của ông ta là Dave Bursik
Tôi đã gặp ông ta, đã trò chuyện với ông ta mấy lần qua điện thoại.
Gia đình chúng tôi cần thanh toán tài sản của mẹ tôi. Như thế chúng tôi phải liệu định với luật pháp và với các bậc cầm quyền.
Chính Dave, là luật sư, ông ta cho chúng tôi biết mọi điều phải làm, nhìn thấy chúng tôi ký tên trên các giấy tờ hợp lệ, đi đúng chỗ và phải làm mọi điều cần làm, ông giúp đỡ chúng tôi trong lúc có cần.
Chúa bằng lòng, Dave đưa chúng tôi đến với toà án vào sáng Thứ Ba. Ông ấy sẽ nói năng và bào chữa vì ích cho chúng tôi. Chúng tôi gọi xin ông giúp đỡ, vì thế ông đến bên cạnh chúng tôi khi có cần. Dave đang phục vụ trong vai trò trạng sư biện hộ cho chúng tôi.
1 Giăng 2.1-2 – “Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con những điều nầy, hầu cho các con khỏi phạm tội. Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Đấng công bình. Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa”.
Giăng bảo chúng ta đừng phạm tội. Nhưng Giăng vốn biết rõ và nói rằng chúng ta sẽ phạm tội.
Chúng ta không tìm cách phạm tội, nhưng khi chúng ta phạm tội chúng ta có trạng sư, một luật gia, một người được gọi đến bên cạnh chúng ta để giúp đỡ cho chúng ta.
Chúng ta có một đại biểu ở trước mặt Đức Chúa Trời công bình và thánh khiết của chúng ta.
Và đây là một điều đáng mỉa mai.
Gia đình sẽ trả công cho Dave Bursik luật gia vì mọi sự phục vụ của ông.
Còn Chúa Jêsus đã trả giá cho đặc ân làm Đấng cầu thay của chúng ta bằng cách chịu chết vì tội lỗi chúng ta. Ngài đã trả giá bằng chính huyết của Ngài để Ngài có thể làm đại biểu cho chúng ta.
Chúa Jêsus là sự thoả mãn dành cho tội lỗi của chúng ta.
Hãy hình dung ma quỉ xưa, là Satan, hắn đang tố cáo bạn ở trước ngôi của Đức Chúa Trời khi bạn phạm tội.
Kế đó hãy hình dung Chúa Jêsus đang đến trước mặt Đức Chúa Trời và nói: “Lạy Cha, người thuộc về con. Con đã chịu chết thay cho người, và người đã tin cậy con làm Cứu Chúa”.
Và cho phép tôi nói cho bạn biết. Bạn càng xu hướng vào sự thánh khiết chừng nào, bạn càng nhận rõ tội lỗi càng hơn. Và bạn càng nhận rõ tội lỗi trong đời sống của mình, và bạn sẽ càng ngã lòng thêm.
Chúng ta cần phải xưng nhận tội lỗi của mình như chúng ta đã thấy rồi.
Nhưng phải biết chắc rằng bạn đang có một Đấng cầu thay ở bên tay hữu của Đức Chúa Trời, là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm cao cả, Ngài hiện diện ở đó để làm trạng sư, để cầu thay vì ích cho bạn.
Hêbơrơ 7.24-25 – “Nhưng Ngài, vì hằng có đời đời, nên giữ lấy chức tế lễ không hề đổi thay. Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy”.
Bạn ơi, bạn Cơ đốc nhân ơi, bạn cần phải để cho ngọn đèn của mình chiếu sáng ra.
Mathiơ 5.16 – “Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời”.
1 Giăng 1.7 – “Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta”.
Ngọn đèn chứng cớ của bạn sẽ “mở” hay “tắt” vậy?
NAN ĐỀ KHÔNG THÀNH THẬT – 1.8, 10
LỜI HỨA THA THỨ – 1.9
XU HƯỚNG VỀ SỰ THÁNH KHIẾT – 2.1a
CÓ ĐẤNG CẦU THAY – 2.1-2
***