Hiển thị các bài đăng có nhãn MountUnion. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn MountUnion. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 7 tháng 7, 2010

Hạng Người Chân Thật Có Tấm Lòng Dành Cho Đức Chúa Trời



HẠNG NGƯỜI CHÂN THẬT CÓ TẤM LÒNG DÀNH CHO ĐỨC CHÚA TRỜI
Đây là một bài học trọn vẹn.

Công Vụ các Sứ Đồ 13.22 – “…Ta đã tìm thấy Đa-vít con của Gie-sê, là người vừa lòng ta, người sẽ tuân theo mọi ý chỉ ta…”

 Chúng ta muốn nói gì hôm nay khi chúng ta nói ai đó có tấm lòng?
 Đức Chúa Trời muốn nói gì khi Ngài phán rằng David là một người vừa lòng Ngài?
 Tại sao đây lại là lời khen ngợi tốt nhứt mà bất kỳ ai cũng có thể nhận được?
 Những sự cố nào trong đời sống của David cho thấy rằng ông thực sự là một người vừa lòng Đức Chúa Trời?

Các Thi thiên của David là một trong các phương thức hay nhất để thấy rõ thể nào David đã có một tấm lòng dành cho Đức Chúa Trời. Là “hạng người chân thật” chúng ta sẽ muốn bắt chước theo cách ông ăn ở với Đức Chúa Trời.

ĐƯỢC THANH TẨY BỞI ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Thi thiên 3.1-2

"Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình! Được khỏa lấp tội lỗi mình! Phước thay cho người nào Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho, và trong lòng không có sự giả dối!”

 Phaolô cho rằng David đã bởi đức tin nương cậy vào ân điển của Đức Chúa Trời để được xưng là công bình. Roma 4.6-8
 David đã nhìn nhận điều chi về bản thân ông hầu cho mỗi một người chúng ta phải biết nhìn nhận về bản thân của mình?
 Tội lỗi được che đậy như thế nào?
 Tội lỗi bị gạt ra khỏi sổ trên trời của chúng ta như thế nào? Côlôse 2.13-14
 Tại sao hạng người chân thật đến với Đức Chúa Trời cùng một phương thức như David đã đến, như được mô tả trong Thi thiên 32:1-2 là quan trọng?

TÁN DƯƠNG SỰ KHEN NGỢI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Thi thiên 34.1-3

“Tôi sẽ chúc tụng Đức Giê-hô-va luôn luôn, sự khen ngợi Ngài hằng ở nơi miệng tôi. Linh hồn tôi sẽ khoe mình về Đức Giê-hô-va, những người hiền từ sẽ nghe, và vui mừng. Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giê-hô-va, chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh của Ngài”.

 Sự ngợi khen Đức Chúa Trời làm thay đổi thái độ của một người ra sao?
 Tại sao ngợi khen phải là một việc liên tục?
 Một đôi điều đáng cho người ta “khoe” là gì?
 Tại sao khoe về Chúa trước mặt người ta là khó chứ?
 Đâu là những ích lợi cho việc ngợi khen Chúa với các tín hữu khác?

PHỤC THEO LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Thi thiên 19.7-11

“Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan. Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; Điều-răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân-thật, thảy đều công bình cả. Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng; Lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong. Các điều ấy dạy cho kẻ tôi tớ Chúa được thông hiểu; Ai gìn giữ lấy, được phần phương lớn thay”.

 Theo phân đoạn nầy Lời Đức Chúa Trời làm những việc gì cho quí vị nếu quí vị để cho Lời ấy làm?
 Lời Đức Chúa Trời có giá trị như thế nào đối với Cơ đốc nhân? Tại sao Lời ấy thường bị người ta bất chấp hay bỏ qua?

Thi thiên 1.2-3
Thi thiên 1.2-3 – “Song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm. Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước, sanh bông trái theo thì tiết, lá nó cũng chẳng tàn héo; mọi sự người làm đều sẽ thạnh vượng”.

 Lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giêhôva có ý nghĩa như thế nào?
 Một người suy gẫm Lời Đức Chúa Trời bằng cách nào?
 Đâu là những lợi ích của việc suy gẫm Lời của Đức Chúa Trời?

CẦU XIN SỰ GIÚP ĐỠ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Thi thiên 3

Thi thiên 3.1-8 – “Đức Giê-hô-va ôi! kẻ cừu địch tôi đã thêm nhiều dường bao! Lắm kẻ dấy lên cùng tôi thay! Biết bao kẻ nói về linh hồn tôi rằng: Nơi Đức Chúa Trời chẳng có sự cứu rỗi cho nó. Nhưng, hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là cái khiên chở che tôi; Ngài là sự vinh hiển tôi, và là Đấng làm cho tôi ngước đầu lên. Tôi lấy tiếng tôi mà kêu cầu Đức Giê-hô-va, từ núi thánh Ngài đáp lời tôi. Tôi nằm xuống mà ngủ; Tôi tỉnh thức, vì Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi. Tôi sẽ không nao muôn người vây tôi khắp bốn bên. Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy chổi dậy; Hỡi Đức Chúa Trời tôi, hãy cứu tôi! Vì Chúa đã vả má các kẻ thù nghịch tôi, và bẻ gãy răng kẻ ác. Sự cứu rỗi thuộc về Đức Giê-hô-va. Nguyện phước Ngài giáng trên dân sự Ngài!”
 Các câu 1-3 – Có phải Đức Chúa Trời vui sướng khi chúng ta chẳng có nguồn nào khác hơn cho các nan đề của chúng ta trừ ra Ngài? Tại sao vậy?
 Câu 4 – Có phải quí vị nghĩ David là đặc biệt với Đức Chúa Trời về các nan đề của ông chăng? Tại sao? Thi thiên 55.22
 Có hai kết quả của việc trao sự lo lắng của quí vị cho Đức Chúa Trời được nhắc tới trong các câu 5-6. Chúng nói gì và tại sao chúng là quan trọng chứ?

XƯNG RA TỘI LỖI CỦA ÔNG
Thi thiên 51.1-3

“Đức Chúa Trời ôi! xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhơn từ của Chúa; Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ-bi rất lớn của Chúa. Xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian ác, và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi. Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, tội-lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi”.
 Thi thiên 51 đã được viết ra với sự David công nhận mọi tội lỗi của mình. Chúng là những tội lỗi nào?
 Phải chăng những sự xưng tội như thế đã diễn ra sau khi một người đã được cứu? Tại sao vậy?
 Tại sao thành thật với Đức Chúa Trời về mọi tội lỗi của mình là điều tốt nhất? Điều gì xảy ra nếu chúng ta không xưng tội?
 Tại sao I Giăng 1.9 là một câu Kinh Thánh quan trọng?

I Giăng 1.9 – “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”.
TIN CẬY VÀO KHẢ NĂNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Thi thiên 27.1

“Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai?”

 Ba việc nào được nhắc tới ở đây sẽ cung ứng cho chúng ta lòng tin cậy?
 Tin cậy vào khả năng của chúng ta có quan hệ thế nào với sự tin cậy nơi khả năng của Đức Chúa Trời? Hai sự tin cậy ấy có hợp nhau không?
Thi thiên 27.13-14
“Ôi! Nếu tôi không tin chắc rằng sẽ thấy ơn của Đức Giê-hô-va tại đất kẻ sống, thì tôi hẳn đã ngã lòng rồi!... Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va; Hãy vững lòng bền chí! Phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va”.

 Tin nơi sự nhơn từ của Đức Chúa Trời giúp chúng ta không ngã lòng như thế nào?
 Tại sao chờ đợi nơi Đức Chúa Trời sẽ có được sự can đảm?

TƯƠNG GIAO VỚI CON ĐỨC CHÚA TRỜI
Giăng 10.27-28
“Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta. Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta”.

Thi thiên 23
“Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì. Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi, dẫn tôi đến mé nước bình tịnh. Ngài bổ lại linh hồn tôi, dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ danh Ngài. Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi; cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi. Chúa dọn bàn cho tôi trước mặt kẻ thù nghịch tôi; Chúa xức dầu cho đầu tôi, chén tôi đầy tràn. Quả thật, trọn đời tôi phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi; Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài”.

 Hãy ôn lại Thi thiên.
 Người chăn và bầy chiên trong mối tương giao với nhau như thế nào?
 Người chăn chịu trách nhiệm như thế nào đối với bầy chiên?
***

Giao Thông



GIAO THÔNG
1 Giăng 1.3-4
Mùa thu trong năm, Linda, một thiếu nữ, một mình lái xe trên con đường không được tốt lắm từ Alberta đến Yukon. Linda không biết đừng nên đi một mình đến Whitehorse trên chiếc Honda Civic, vì vậy cô đã lái xe vào con đường dành cho xe bốn bánh thường mạo hiểm đi qua.
Buổi tối đầu tiên cô tìm gặp một căn phòng trên vùng núi gần đỉnh cao rồi hỏi thuê cho đến 5 giờ sáng, cô định dậy sớm để đi tiếp. Cô không hiểu lý do tại sao người chủ nhà trọ dường tỏ vẻ kinh ngạc nơi lời yêu cầu đó, nhưng khi cô thức giấc lúc trời còn sương mù đang vây quanh mấy đỉnh núi, cô mới hiểu ra.
Không màng đến điều chi khác, cô bật dậy đi ăn sáng. Hai tài xế xe tải mời cô cùng ăn với họ, và khi thấy nơi ấy chật chội quá, cô phải miễn cưỡng ngồi ăn chung với họ.
Một trong hai tài xế kia hỏi. “Cô tính đi tới đâu vậy”.
‘Whitehorse’
“Bằng chiếc Civic nhỏ bé ấy à? Không được đâu! Đi như thế rất NGUY HIỂM với thời tiết như thế nầy đấy”.
“Được mà, tôi quyết định thử xem”, là đáp ứng dũng cảm của Linda, giống như chưa hay biết gì cả vậy.
Viên tài xế kia đề nghị. “Vậy thì tôi đoán, chúng tôi sẽ phải bám sát cô thôi”.
Linda lùi lại. “Không sao đâu, tôi sẽ chẳng để cho mấy anh đụng đến tôi đâu!”
Viên tài xế chắt lưỡi. “Không phải như vậy đâu, chúng tôi sẽ một chiếc chạy trước cô và một chạy ở phía sau. Theo cách đó, chúng tôi sẽ đưa cô qua dãy núi nầy”.
Thế là buổi sáng đầy sương mù đó Linda đã theo hai chiếc xe tải màu đỏ, một ở đàng trước và một ở đàng sau cô và có sự bảo đảm được hộ tống ở đàng sau khi họ băng qua dãy núi cách an toàn – [Don Graham Swindoll, Growing Strong, p. 286 http.//www.bible.org/illus/f/f-27.htm#TopOfPage].
Cô gái nầy, Linda, không quen biết với hai viên tài xế đó, và có lẽ chưa bao giờ gặp lại họ. Nhưng trong một vài giờ ngắn ngủi, cô đã có mối giao thông với họ trong nổ lực băng qua dãy núi mà đến tại Whitehorse.
Chúng ta có mấy người bạn đến viếng chúng ta sáng nay. Tôi có biết Frank Todd trong gần 40 năm. Chúng tôi đã quen với ông ta và Carol để lo liệu và để vui hưởng nhiều điều. Và Frank và Carol đã có mặt ở đó vì chúng tôi trong những lúc thuận lẫn nghịch cảnh.
Có những người quí vị quen biết với. Có lẽ quí vị có những người bạn thân thiết cùng đâu vai sát cánh với nhau trong tình bạn bè. Quí vị sẽ bằng lòng tham dự với họ trong bất cứ nổ lực nào vì quí vị tin tưởng họ và biết rằng họ cũng rất thích kề vai sát cánh với quí vị.
Kinh Thánh sử dụng một từ khác cho việc quan hệ ấy. Từ ngữ ấy là “mối giao thông”. Giờ đây, khi chúng ta suy nghĩ tới mối giao thông, chúng ta nghĩ tới việc uống cà phê hay ăn cái gì đó trong một thời gian ngắn. Chúng ta nghĩ tới tình bạn. Thực vậy, tình bạn ấy rất đáng vui hưởng, mối giao thông chân thật còn sâu sắc hơn thế nữa.
John Phillips – Chữ được sử dụng cho “mối giao thông” ở đây là koinonia, có nghĩa là “thông công, chia sẻ, có chung nhiều việc” [John Phillips, Exploring the Epistles of Giăng, (Grand Rapids MI, Kregel Publications) p.30].
Khi có mối giao thông thì có một sự chia sẻ liên tục quanh những thứ mà ai nấy đều có chung với nhau. Đó là một quan hệ chung với nhau trong tình bạn.
Khi chúng ta nghiên cứu thư tín 1 Giăng sáng nay, tôi bị kéo đến với từ ngữ giao thông làm chữ chìa khoá trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta.
1 Giăng 1.3-4 – “Chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng tôi viết những điều đó cho anh em, hầu cho sự vui mừng của chúng tôi được đầy dẫy”.
Tuần qua, chúng ta đã giải thích lẽ đạo của I Giăng là Cơ đốc giáo chân thật hay điều chi là “thực”. Chúng ta cần phải ra vẻ là Cơ đốc nhân, hay nếm trải dáng dấp của Cơ đốc nhân, chúng ta cần phải trở thành Cơ đốc nhân thực sự.
Để trở thành Cơ đốc nhân thực sự, chúng ta phải trở thành hạng người có mối quan hệ hay có mối giao thông.
Giăng đã viết thơ 1 Giăng để cho các độc giả của ông sẽ có mối quan hệ hay có mối giao thông với nhau. Theo phân đoạn nầy, có ba mối quan hệ sẽ phải diễn ra.
GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA
GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CON
GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ
Tại sao quí vị cần tới loại quan hệ hay giao thông đó?
Câu 4 cho quí vị biết lý do tại sao, hầu cho sự vui mừng của quí vị được đầy dẫy.
Quí vị không thể có sự vui mừng thực trong đời sống của mình nếu quí vị không có mối giao thông thực.
Quí vị có đủ thứ thay thế cho sự vui mừng, nhưng quí vị sẽ không nhận biết được niềm vui mừng thực cho tới chừng nào quí vị có ba mối quan hệ hay giao thông nầy.
Niềm vui mừng thực được thấy trong mối giao thông với Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và với các anh chị em của mình trong Đấng Christ, họ cũng có mối quan hệ với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Chính Đức Chúa Thánh Linh đang thực thi mối quan hệ nầy.
I Côrinhtô 12.13 – “Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa”.

GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA
Vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha,
Giăng nói về việc có mối giao thông với Đức Chúa Trời.
Ông đang nói về một tình bạn, về việc có những cái chung chung, về một mối tương giao với Đức Chúa Trời.
Ngay lập tức có một nan đề. Tôi có cái gì chung với Đức Chúa Trời? Tôi làm bạn với Đức Chúa Trời trên nền tảng nào?
Đức Chúa Trời là ngay thẳng hay công bình, tôi không phải vậy. Tôi là một tội nhân.
Đức Chúa Trời là thánh khiết, biệt riêng ra đối với tội lỗi. Tôi không phải như vậy.
Đức Chúa Trời là trọn lành, tôi không phải như vậy.
Vì cớ tội lỗi của tôi, tôi gặp rắc rối chẳng có cái gì chung với Đức Chúa Trời hết.
Đức Chúa Trời đã giải quyết nan đề của tôi. Đây là bước thứ nhứt trong mối giao thông với Đức Chúa Trời.

 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI MỘT NGƯỜI CHA
Đức Chúa Trời vốn biết rõ chúng ta sẽ có nan đề đối với tội lỗi.
Đức Chúa Trời vốn biết rõ chúng ta sẽ không sống ngay thẳng hay công bình đủ để có mối giao thông với Ngài mà không có sự vùa giúp của Ngài.
Đấy là lý do tại sao Ngài đã sai Con Ngài đến để chịu chết vì tội lỗi chúng ta, vì vậy Ngài có thể công bố chúng ta là công bình hay ngay thẳng, có mối giao thông với Ngài.
II Côrinhtô 5.21 – “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời”.
Roma 5.9 – “Huống chi nay chúng ta đã nhờ huyết Ngài được xưng công bình, thì sẽ nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào”.
Không những chúng ta được xưng công bình, được xưng là ngay thẳng và xứng đáng cho mối giao thông dựa theo huyết của Ngài đã đổ ra, mà còn dựa trên cơ sở sự đầu phục của đức tin cá nhân, lòng tin cậy của chúng ta đặt nơi Đức Chúa Giêxu Christ là Cứu Chúa của chúng ta nữa.
Roma 5.1 – “Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”.
Giờ phút chúng ta tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa một mối quan hệ đã diễn ra tuyệt đối là đáng kinh ngạc và kỳ diệu. Chúng ta được sanh vào trong gia đình của Đức Chúa Trời. Chúng ta trở nên con cái của Ngài theo một phương thức thân tình nhất.
Giăng 1.12-13 – “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy”.
Giờ đây chúng ta có mối giao thông với Đức Chúa Cha như con cái quí báu của Ngài.
Roma 8.15 – “Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha!”

 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI MỘT NGƯỜI CHA
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI SỰ NGỢI KHEN
Một trong những phương thức chúng ta có mối giao thông với Đức Chúa Cha là bằng cách dâng lên Ngài lời ngợi khen mà Ngài đáng được.
Tôi sẽ có mối giao thông với Đức Chúa Cha, khi tôi hướng lòng, trí và lời lẽ tựu trung về Ngài chớ không phải về tôi.
Hêbơrơ 13.15 – “Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra”.
Thi thiên 96.1-2 – “Hãy hát một bài ca mới cho Đức Giê-hô-va; Hỡi cả trái đất, khá hát xướng cho Đức Giê-hô-va. Hãy hát xướng cho Đức Giê-hô-va và chúc tụng danh Ngài; Từng ngày hãy truyền ra sự cứu rỗi của Ngài”.
Thi thiên 47.6-7 – “Hãy hát ngợi khen Đức Chúa Trời, khá hát đi; Hãy hát ngợi khen Vua chúng tôi, khá hát đi; Vì Đức Chúa Trời là Vua của cả trái đất; Hãy hát ngợi khen cách thông hiểu”.
Chúng ta giao thông với Đức Chúa Cha khi chúng ta thờ phượng Ngài. Đôi khi chúng ta không thấy gần gũi với Đức Chúa Trời vì chúng ta chưa phát triễn thái độ thờ phượng đó.

 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI MỘT NGƯỜI CHA
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI SỰ NGỢI KHEN
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO BẰNG SỰ CẦU NGUYỆN
Chúng ta không thể có mối giao thông, sự quan hệ, nếu không có dây liên lạc. Chúng ta được kêu gọi vào một mối liên lạc kỳ diệu, riêng tư với Đức Chúa Trời qua sự cầu nguyện. Và chúng ta đến với Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện vì chúng ta có chung một Đấng, là Con của Ngài. Chúng ta cầu nguyện trong danh của Chúa Jêsus, trong thẩm quyền của Ngài.
Giăng 16.24 – “Đến bây giờ, các ngươi chưa từng nhân danh ta mà cầu xin điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn”.
I Phierơ 5.7 – “lại hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em”.

 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO CÓ MỤC ĐÍCH
Khi tôi giao thông với Cha trên trời của mình, tôi có cùng mục đích y như Đức Chúa Trời vậy. Vậy thì mục đích của Đức Chúa Trời là gì? Mục đích của Đức Chúa Trời là đem sự vinh hiển cho chính mình Ngài.
Êsai 42.8 – “Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!”
Điều nầy khiến cho việc đưa ra quyết định càng dễ dàng hơn.
Nếu tôi đưa ra mỗi quyết định dựa theo lý thuyết cho rằng Đức Chúa Trời phải được vinh hiển, hầu hết các quyết định đều trở thành “chẳng có trí tuệ” gì hết. Chúng ta phải chọn làm điều chi đem lại sự vinh hiển chỉ cho một mình Ngài mà thôi!

 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI MỘT NGƯỜI CHA
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI SỰ NGỢI KHEN
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO BẰNG SỰ CẦU NGUYỆN
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO CÓ MỤC ĐÍCH

GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA
GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CON

Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ,
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CON LÀ TƯƠNG GIAO VỚI CHÚA CỦA TÔI
Có ai đó sẽ là chủ của đời sống tôi. Ông chủ đó có phải là tôi không?
Có thể đó là một người khác! Có thể đó là một thói xấu, một sở thích riêng, một môn thể thao, công việc làm ăn hay tiền bạc của tôi?
Hay ông chủ đó chính là CHÚA JÊSUS?
Giăng 13.13 – “Các ngươi gọi ta bằng Thầy bằng Chúa; các ngươi nói phải, vì ta thật vậy”.
Giăng 12.24-26 – “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu hột giống lúa mì kia, chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất đi, ai ghét sự sống mình trong đời nầy thì sẽ giữ lại đến sự sống đời đời. Nếu ai hầu việc ta, thì phải theo ta, và ta ở đâu, thì kẻ hầu việc ta cũng sẽ ở đó; nếu ai hầu việc ta, thì Cha ta ắt tôn quí người…”.
Muốn sống kết quả và giao thông với Chúa Jêsus, chúng ta phải chết bản ngã mình và Ngài phải là Chúa. Chúng ta ghét đời sống của chính mình hầu cho chúng ta sẽ hầu việc và bước theo Chúa Jêsus.
Jêsus là Chúa, nhưng quí vị sẽ không giao thông với Ngài nếu như quí vị không công nhận địa vị Chủ Tể và quyền phép của Ngài đối với quí vị!

 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CON LÀ TƯƠNG GIAO VỚI CHÚA CỦA TÔI
 GIAO THÔNG VỚI CHÚA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM CỦA TÔI
Hêbơrơ 4.14-16 – “Ấy vậy, vì chúng ta có thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời, tức là Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời, thì hãy bền giữ đạo chúng ta đã nhận tin. Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng”.

 GIAO THÔNG VỚI CHÚA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI QUYỀN PHÉP CỦA NGÀI
Philíp 4.13 – “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi”.
Công Vụ các Sứ Đồ 1.8 - “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất”.
Galati 2.20 – “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi”.

 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CON LÀ TƯƠNG GIAO VỚI CHÚA CỦA TÔI
 GIAO THÔNG VỚI CHÚA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM CỦA TÔI
 GIAO THÔNG VỚI CHÚA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI QUYỀN PHÉP CỦA NGÀI
GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA
GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CON
GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ
Chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi.
Chúng ta đang sống trong một kỹ nguyên khi Hội Thánh đã thôi không còn gắn bó với nhau nữa. Người ta đến rồi đi hết Chúa nhựt nầy tới Chúa nhựt khác, nhưng ít người có mối giao thông đích thực với nhau.
Vì vậy có phải chúng ta có mối giao thông với các tín hữu khác, là các thánh đồ không?

 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ, CHÚNG TA CHIA SẺ.
Chúng ta chia sẻ với các thánh đồ khác, bằng cách cùng nhau thờ phượng.
Chúng ta chia sẻ với các thánh đồ khác khi chúng ta chia sẻ sự làm chứng của mình. Chúng ta làm điều nầy vào các tối Chúa nhựt.
Chúng ta chia sẻ với các thánh đồ khác khi chúng ta trao đổi với họ, hãy giúp họ chia sẻ các gánh nặng của họ, và chia sẻ gánh nặng của chúng ta với họ.
Chúng ta chia sẻ với các thánh đồ khi chúng ta khích lệ họ.
Hêbơrơ 10.24-25 – “Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành; chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy”.

 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ, CHÚNG TA CHIA SẺ.
 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ CHÚNG TA PHỤC VỤ.
Tôi vừa nói với quí vị rằng hết thảy chúng ta đều có các ân tứ thuộc linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Chúng ta không nên sống ích kỷ với các ân tứ nầy, nhưng chúng ta cần phải phục vụ nhau với các ân tứ đó.
Người hát trong ca đoàn chia sẻ các ân tứ của mình (nam hay nữ).
Người dạy Kinh Thánh chia sẻ các ân tứ của mình (nam hay nữ).
Mục sư chủ toạ chia sẻ các ân tứ của mình.
Người nào có các tài khéo đặc biệt chia sẻ các ân tứ của mình (nam hay nữ).
Mỗi Cơ đốc nhân đều có ân tứ nào đó để người (nam hay nữ) có thể đem ra mà phục vụ.
Galati 5.13 – “Hỡi anh em, anh em đã được gọi đến sự tự do, song chớ lấy sự tự do đó làm dịp cho anh em ăn ở theo tánh xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau”.
Một phương thức khác chúng ta phục vụ là qua sự cầu nguyện của chúng ta cho nhau.
Êphêsô 6.18 – “Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ”.
Vẫn có phương thức khác chúng ta chia sẻ là bởi cùng nhau làm việc để đưa Tin lành vào thế gian. Chúng ta làm vậy qua dâng hiến cho công cuộc truyền giáo và chính chúng ta phải ra đi, ít nhất là đến với người lân cận của mình.
Chúng ta cần phải cộng sự với nhau để rao giảng Tin lành.
 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ, CHÚNG TA CHIA SẺ.
 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ CHÚNG TA PHỤC VỤ.
 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ LÀ BÀY TỎ RA!
Giăng 13.34-35 – “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta”.
Đây là lúc cho chúng ta phải gắn bó với nhau, phải có mối giao thông
1 Giăng 1.3-4 – “chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng tôi viết những điều đó cho anh em, hầu cho sự vui mừng của chúng tôi được đầy dẫy”.

GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA

 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI MỘT NGƯỜI CHA
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO VỚI SỰ NGỢI KHEN
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO BẰNG SỰ CẦU NGUYỆN
 GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CHA LÀ TƯƠNG GIAO CÓ MỤC ĐÍCH
GIAO THÔNG VỚI ĐỨC CHÚA CON
 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ, CHÚNG TA CHIA SẺ.
 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ CHÚNG TA PHỤC VỤ.
 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ LÀ BÀY TỎ RA!

GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ

 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ, CHÚNG TA CHIA SẺ.
 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ CHÚNG TA PHỤC VỤ.
 GIAO THÔNG VỚI CÁC THÁNH ĐỒ LÀ BÀY TỎ RA!
***

Hạng Người Chân Chính Là Hạng Người Đã Được Thay Đổi



HẠNG NGƯỜI CHÂN CHÍNH LÀ HẠNG NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC THAY ĐỔI
Bài 1 – Câu chuyện nói về Phaolô – Công vụ Các Sứ Đồ 9
(Đây là phần bố cục và những câu hỏi tôi thường dạy dỗ khi nghiên cứu Kinh Thánh về hạng người nầy).

 “Chân chính” hay “đáng tin” có nghĩa gì?
 Tại sao Cơ đốc nhân là “chân chính”?
 Một số nhân vật trong Kinh Thánh nào là “chân chính”?
 Các nhân vật trong Kinh Thánh như thế nầy có thể giúp gì được cho chúng ta?

Chúng ta đang khởi sự một loạt bài học về “hạng người chân chính”và sẽ nghiên cứu đời sống của các nhân vật trong Kinh Thánh, họ có thể giúp đỡ chúng ta vì họ là hạng người “chân chính”.

 Chúng ta tìm kiếm những sự thay đổi nào khi có người tuyên xưng đức tin nơi Đấng Christ?
 Trong tất cả những người quí vị thấy họ đến với Đấng Christt, ai là người thay đổi nhiều nhất?
 Tại sao chúng ta phải đặt phần nhấn mạnh về sự “thay đổi” cho một Cơ đốc nhân? II Côrinhtô 5.7

Một trong những người được thay đổi nhiều nhất xuất hiện trong Kinh Thánh là Sứ đồ Phaolô. Sự thay đổi gây ấn tượng sâu sắc trong đời sống ông xứng đáng cho sự tra xét.

PHAOLÔ, NGƯỜI THEO TRUYỀN THỐNG – Philíp 3.3-6
 Một người theo truyền thống là người như thế nào?
 Phaolô một người theo truyền thống ra sao trước khi ông gặp gỡ Đấng Christ?
 Phaolô nương vào điều gì để có được sự sống đời đời?
 Tại sao Phaolô đã sai lầm?

PHAOLÔ, KẺ GÂY KINH HÃI – Công vụ Các Sứ Đồ 7.58, 8.3, 9.1-2
 Êtiên bị ném đá và Phaolô giữ áo xống. Điều nầy có nghĩa gì?
 Tại sao quí vị nghĩ Phaolô quá cứng rắn chống lại các Cơ đốc nhân?
 Công vụ Các Sứ Đồ 9.2 cho quí vị biết gì về thái độ hay tình trạng tâm trí của Phaolô?

PHAOLÔ, KẺ BỊ KINH HÃI – Các câu 3-9
 Điều chi đáng lưu ý về sự hiện ra của Chúa với Phaolô?
 Tại sao Phaolô đã hoảng sợ như thế?
 Phải chăng Đức Chúa Trời từng “gây lo sợ” cho người ta hôm nay để họ đưa ra quyết định? Có phải chúng ta sử dụng sợ hãi làm một phương tiện để thuyết phục người ta rằng họ cần phải tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa? Giuđe 1.22-23
 Có phải Đức Chúa Trời từng gây sợ hãi cho quí vị để quí vị đưa ra quyết định không?
 Các câu 6-7 cho biết điều gì khiến Phaolô phải tin theo Đấng Christ? Ngày nay niềm tin có thể biểu lộ ra cùng một cách như thế không?

PHAOLÔ, NGƯỜI ĐƯỢC BIẾN ĐỔI – Các câu 10-18, Philíp 3.7-9
Tại sao Anania ngần ngại không muốn gặp Phaolô?
Đáp ứng của Chúa trong các câu 15-16 cho quí vị biết gì về mọi dự tính của Đức Chúa Trời dành cho các tân tín hữu? Xem Êphêsô 2.10.
Biểu lộ nào cho thấy Anania tin Phaolô đã được thay đổi?
Phép báptêm của Phaolô chỉ ra điều gì? Tại sao tín đồ chịu phép báptêm là quan trọng?
Câu nói của Phaolô ở Philíp 3.7-9 có tầm quan trọng như thế nào?

PHAOLÔ, NGƯỜI CÓ TÀI DẠY DỖ – Galati 1.15-18
Mathiơ 28.20 – “và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi…”
Có gì đặc biệt về sự học hỏi mà Phaolô đã có sau khi được cứu? Tại sao Đức Chúa Trời lại chọn một phương pháp đặc biệt như thế đối với Phaolô?
Một tân tín hữu cần phải khao khát điều gì? Tại sao?
Chúng ta phải giúp đỡ cho các tân tín hữu như thế nào?
Có gì đáng buồn về các tín hữu khi họ già dặn hơn? II Phierơ 3.18
PHAOLÔ, CHỨNG NHÂN – Các câu 18-22
Tại sao người ta lấy làm lạ khi Phaolô làm chứng cho Đấng Christ?
Tại sao sự làm chứng công khai của Phaolô là cần thiết?
Tại sao sự làm chứng của tân tín hữu là quan trọng?
Xem Roma 10.9-10.

PHAOLÔ, MỤC TIÊU – Các câu 23-28
Của người Do thái – Các câu 23-25
Điều chi khiến cho sự Phaolô bị bắt bớ ra mỉa mai?
Có thể nào chúng ta sẽ hứng chịu cùng một phản ứng như thế không? II Timôthê 3.12

Của Cơ đốc nhân – Các câu 26-28
Liệu quí vị sẽ nghi ngờ Phaolô chăng? Tại sao?
Điều nầy cho chúng ta biết điều gì về đáp ứng của chúng ta đối với các tân tín hữu?
Liệu chúng ta có nên xử sự giống như Banaba không?
***

Được Đức Chúa Trời Gìn Giữ



Thi thiên 121
ĐƯỢC ĐỨC CHÚA TRỜI GÌN GIỮ
Khi Rod Cooper lớn lên, gia đình đã nuôi nhiều lợn trong trang trại của họ. Họ đã nuôi khoảng một ngàn con lợn trong một năm. Trong một thửa ruộng kia, họ thả hai hay ba trăm con lợn nhỏ ăn quanh đó. Mỗi ngày, lúc 4 giờ sáng, khi Rod tản bộ trong cánh đồng để lo cho bầy súc vật đó ăn, chúng đi tản lạc khắp nơi. Có một con lợn nhỏ chạy đến rồi cạp lấy chân anh ta, vì thế anh ta ẳm nó lên và nựng nịu nó. Chừng một chút, thì nó muốn được thả xuống.
Anh ta nói: "Không, tao sẽ để mày xuống đất khi tao đã sẵn sàng rồi". Ngay khi ấy, anh ta kêu lên tiếng eng éc (bắt chước theo tiếng lợn) thật là khó tin. Chừng khoảng hai giây đồng hồ, ba chục con lợn nái nặng khoảng năm đến sáu trăm cân Anh đều hướng đầu về phía Rod. Anh ta đặt con lợn nhỏ xuống rồi ngóng ra phía hàng rào. Anh đã dựng lên chiếc hàng rào đó, và tất cả những con lợn nái đều kêu lên eng éc, chúng chạy tới chạy lui, lo lắng cho một trong mấy đứa con nhỏ của chúng.
Cooper nói: “Tôi nhìn lại chúng và nhận ra thằng nhóc kia không có quậy quọ chi hết. Nó chẳng có phá phách gì hết, nó cũng không chọc bầy heo”. Thế thì tại sao chứ? Bởi vì một con lợn ré lên, nó muốn cảnh cáo phải coi chừng kẻ có nhiều thủ đoạn, vì cớ con của nó.
“Bây giờ, cho phép tôi hỏi quí vị một điều nhé! Nếu một trong những loài thọ tạo của Đức Chúa Trời nhạy bén với tiếng kêu la của con nó, càng nhạy bén hơn dường bao là Cha thiên thượng trước tiếng kêu la của con cái Ngài?”
Khi W. B. Davidson còn là một thiếu niên, ông đã đi bộ với bố 3 dặm đường từ nhà của mình đến nhà của bà nội ông. Khi họ còn ở đó, thì mặt trời đã lặn đi. Davidson viết: "Giữa ngôi nhà của chúng tôi và nhà của bà nội là cái đầm lầy. Đêm hôm đó tiếng kêu ộp ộp của loài cóc nhái, tiếng rúc của loài dế, và bóng của rừng cây làm cho tôi phải sợ hãi. Tôi hỏi cha tôi không biết có nguy hiểm gì đang rình đợi chúng tôi không, nhưng ông quả quyết với tôi rằng không có gì phải sợ hãi hết.
Rồi vì thế, ông nói khi nắm lấy tay tôi: 'Bố sẽ không để cho một điều gì làm hại con đâu'. Ngay lập tức mọi nỗi sợ hãi của tôi không còn nữa và tôi sẵn sàng đối diện với thế gian”.
Giống như mấy con lợn nái lo bảo vệ một con lợn con trong bầy của nó, và giống như một người cha yêu ủi đứa con của mình, cũng một thể ấy Cha trên trời của chúng ta đem sự bảo hộ và yên ủi đến cho những ai là con cái của Ngài.
Khi quí vị được phái tới Iraq và phải để người thân mình ở lại. Chắc quí vị có ngay một nhận thức về quyền phép gìn giữ của Đức Chúa Trời đối với quí vị và người thân mình còn ở lại.
Khi có ai đó trong quí vị gặp phải gian truân và thử thách. Chắc quí vị có ngay một nhận thức về quyền phép gìn giữ của Đức Chúa Trời ở giữa mọi gian truân của quí vị.
Một số người trong quí vị đang đối mặt với gian truân và thử thách ngay lúc bây giờ. Chắc quí vị có ngay một nhận thức về quyền phép gìn giữ của Đức Chúa Trời ở giữa mọi thử thách của quí vị.
Phân đoạn mà tôi đã chọn cho ngày Chúa nhật nầy là Thi thiên 121. Khi tôi còn nằm trong bịnh viện cách đây khoảng 6 năm rưỡi, gia đình tôi đã vào thăm. Tôi yêu cầu Mark là con trai tôi đọc một hai đoạn Kinh Thánh cho tôi nghe. Mark đã nói một câu đại loại như thế nầy: “Bố ơi, nếu bố đọc Kinh Thánh cho ai đó nghe, bố nên đọc Thi thiên 121”. Và thực như thế, phần nhiều người trong quí vị đã nghe tôi chia sẻ Thi thiên nầy với quí vị hay với người khác rồi.
Thi thiên 121 là một Thi thiên nói với những Cơ đốc nhân nào đã được tái sanh rồi, họ đã được gìn giữ bởi Đức Chúa Trời!
Trong Thi thiên nầy chúng ta khám phá ra rằng:
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN – Các câu 1-2
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI RẤT CHU ĐÁO – Các câu 3-4
SỰ GIN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ SỰ YÊN ỦI – Các câu 5-6
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI RẤT TRỌN VẸN – Các câu 7-8

SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN – Các câu 1-2
Sáng nay quí vị đang tin cậy ai đó hay vật gì đó gìn giữ quí vị và ban cho quí vị một ý thức về giá trị.
Sự lựa chọn thuộc về quí vị. Có nhiều việc xấu phải tin tưởng và có một việc duy nhất là tốt đẹp.
Thi thiên 121.1 – “Tôi ngước mắt lên trên núi: sự tiếp trợ tôi đến từ đâu?”
Có thể đây là bài ca của một khách hành hương, ông ta đang đến gần thành Jerusalem, là một thành phố lớn có đồi núi bao quanh.
Ông ta hiển nhiên đang đưa ra một thắc mắc ở đây. “Ta nhìn thấy những ngọn núi, nhưng có phải đấy là nơi mà sự cứu giúp của ta ra từ đó chăng?”
+ Đồi núi là những thứ to lớn. Chúng cung ứng sự bảo hộ. Chúng cung ứng sự an ninh.
+ Đồi núi là những thứ cao lớn. Chúng thường là những nơi thờ phượng hình tượng, tà thần.
+ Đồi núi là những thứ có thể sai lạc. Đồi núi không luôn luôn bảo hộ chúng ta theo cách mà chúng ta mong muốn.
+ Đồi núi thường không đủ sức làm thoả mãn mọi nhu cần của chúng ta.
Tất cả chúng ta đều có những những ngọn núi mà chúng ta trông ngóng vào đó.
Mặc dù là đồi núi, Jerusalem thường bị đánh bại. Đồi núi không phải là nguồn cứu giúp.
Đâu là loại “đồi núi” mà người ta hay trông ngóng hôm nay?
+ Có ngọn núi khả năng của chính tôi và nổ lực riêng của chính tôi.
Tôi có thể làm điều đó bằng sức riêng của tôi. Tôi lấy làm yên ủi vì tôi có khả năng lèo lái mọi việc.
+ Có ngọn núi bạn bè – Tôi sẽ nương vào bạn bè của tôi, họ sẽ yên ủi, gìn giữ, và cứu giúp tôi.
+ Có những ngọn núi tôn giáo kể cả ngọn núi tuân giữ luật pháp.
Nếu tôi sống tôn giáo, đi nhà thờ, chịu phép báptêm, làm chứng đạo, làm những việc tôn giáo, thì tôi sẽ được gìn giữ an toàn.
+ Có ngọn núi đạo đức.
Nếu tôi sống đời sống đường hoàng, thanh sạch, đạo đức, sự sống ấy sẽ giúp vượt qua mọi nan đề và khiến cho tôi đáng được tiếp nhận trước mặt Đức Chúa Trời.
+ Có ngọn núi những việc lành.
Vì vậy tôi biết tôi không trọn vẹn, nhưng nếu tôi làm nhiều việc lành cho người ta, tôi sẽ được gìn giữ và được an ninh.
+ Có ngọn núi được sanh trong gia đình đàng hoàng, đứng đắn.
Nếu tôi được sanh trong và/hay chịu phép báptêm trong một gia đình Cơ đốc, thì tôi sẽ được Đức Chúa Trời gìn giữ và được an ninh.
+ Có những ngọn núi sở thích và thể thao.
Tôi có nhiều đồ chơi và chơi thật nhiều trò. Tôi sẽ tin cậy những điều nầy vì được yên ủi và tiêu khiển khi mọi việc ra xấu xa.
+ Có ngọn núi được lòng người.
Bao lâu tôi được nhiều người khác yêu mến và tiếp nhận, tôi thấy hài lòng chừng nấy.
Có phải đây là những ngọn núi mà sự cứu giúp của tôi ra từ đấy không?
+ Ngọn núi bạn bè – bạn bè thường làm buồn lòng chúng ta, làm cho chúng ta thất vọng, và thậm chí phải chết nữa.
+ Ngọn núi tôn giáo – có nhiều tôn giáo giả lắm, và sống theo tôn giáo không bao giờ đưa ai vào thiên đàng bao giờ .
Châm ngôn 14.12 – “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết”.
Êxêchiên 18.4 – “linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết”.
+ Ngọn núi khả năng riêng và tự gắng sức – Tôi là con người. Tôi có thể sai lầm. Tôi là một tội nhân. Tôi đã làm phật lòng Đức Chúa Trời.
Êsai 64.6 – “Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi”.
+ Ngọn núi đạo đức – Ai nấy đều phá vỡ 10 điều răn.
Một trường hợp – Mathiơ 5.21-22 – “Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ giết ai; và rằng: Hễ ai giết người thì đáng bị tòa án xử đoán. Song ta phán cho các ngươi: Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; ai mắng anh em mình là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục hình phạt”.
Ai nấy trong chúng ta đều lộ vẻ giận dữ không có lý do. Vì cớ đó hết thảy chúng ta đều đã phá vỡ mọi điều răn của Đức Chúa Trời.
+ Ngọn núi gia đình – Họ cũng làm phật lòng tôi nữa. Và giống như sanh ra trong một gia đình Cơ đốc không làm cho tôi thành ra một Cơ đốc nhân, y như sanh ra trong một garage không khiến tôi trở thành chiếc xe hơi được.
+ Ngọn núi sở thích và thể thao – Ở cuối đời, chúng sẽ đem lại giá trị gì?
+ Ngọn núi được lòng người – Điều nầy chỉ tạm thời và dễ sai lạc.
Nếu những điều nầy là “những ngọn núi” của tôi, tôi không giúp chi được.
1 Giăng 2.17 – “Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời”.
Thi thiên 121.2 – “Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giê-hô-va, là Đấng đã dựng nên trời và đất”.
Chúa có tư cách nào để giúp đỡ cho chúng ta? Ngài có đủ quyền phép cần thiết như Đấng Tạo Hoá của vũ trụ!
Tôi đã nhắc rồi, thể nào chúng ta là con người, không toàn hảo, và tội lỗi.
Nếu một Đức Chúa Trời công bình có việc cần phải làm với chúng ta, Ngài phải làm một việc gì đó để giúp đỡ chúng ta với nan đề tội lỗi của chúng ta.
Ngài đã làm việc ấy.
Ngài đã sai Con độc sanh của Ngài, Đức Chúa Giêxu Christ, Con vô tội của Đức Chúa Trời đến với đất.
Trên đất, Đức Chúa Con vô tội đã chịu chết trong chỗ của quí vị và của tôi vì cớ tội lỗi của chúng ta.
Êsai 53.5-6 – “Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người”.
II Côrinhtô 5.21 – “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời”.
Những tin tức tốt lành, ấy là Chúa Giêxu đã không chết luôn. Ngài đã sống lại!
Hãy lưu ý trong sách Thi thiên, một quyết định đã được đưa ra nơi phần của tác giả. “Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giê-hô-va, là Đấng đã dựng nên trời và đất”.
Quí vị cần đưa ra một quyết định tương tự.
Quí vị cần phải quyết định thôi không nhìn lên “các ngọn núi” để tìm sự cứu giúp và hãy đặt lòng tin cậy nơi Chúa Giêxu.
Được Đức Chúa Trời gìn giữ là quyết định mà quí vị phải đưa ra.
Quí vị đưa ra quyết định đó khi quí vị đặt lòng tin cậy nơi Chúa Giêxu là Cứu Chúa của quí vị.
Roma 10.9-10 – “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi”.
Roma 10.13 – “Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu”.
Nếu quí vị không lập Chúa Giêxu là sự lựa chọn của quí vị, quí vị đang rơi vào chỗ sai lầm rồi.
Giăng 3.18 – “Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Đức Chúa Trời”.
Nếu quí vị đưa ra sự lựa chọn tin theo Đấng Christ, quí vị được Đức Chúa Trời gìn giữ. Quí vị là con cái của Ngài!
Giăng 1.12-13 – “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy”.
Bây giờ nếu quí vị là một Cơ đốc nhân, nếu quí vị tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa, sự tiếp trợ của quí vị đến từ đâu?
Có phải sự tiếp trợ của quí vị đến từ sự tán thưởng của ngươi khác không?
Có phải sự tiếp trợ của quí vị đến từ các sở thích và bộ môn thể thao?
Có phải sự tiếp trợ của quí vị đến từ nhà cầm quyền không?
Có phải sự tiếp trợ của quí vị đến từ gia đình của quí vị không?
Có phải sự tiếp trợ của quí vị đến từ nổ lực riêng của quí vị không?
Quí vị dành thì giờ cho điều chi chính là sự biểu lộ nơi mà ý thức của quí vị biết rõ sự tiếp trợ đến từ đó.
Phải biết chắc sự tiếp trợ của quí vị đến từ Đức Giêhôva.
Hãy biến Ngài thành sự lựa chọn của quí vị.
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN – Các câu 1-2
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI RẤT CHU ĐÁO – Các câu 3-4
Thi thiên 121.3-4 – “Ngài không để cho chơn ngươi xiêu tó; Đấng gìn giữ ngươi không hề buồn ngủ. Đấng gìn giữ Y-sơ-ra-ên không hề nhắp mắt, cũng không buồn-ngủ”.
Chúng ta hãy xét xem. Tôi đã xuất ngủ ra khỏi quân đội vào năm 1972. Tháng Tư nầy là đủ 32 năm. Tôi nghĩ kỹ luật không còn có hiệu lực nữa!
Tôi không có ý theo kỹ luật đó nữa. Nhưng đã có một đôi lần tôi đã ngủ gà ngủ gật khi canh gát. Tôi không muốn như thế, song đôi mắt tôi như sụp xuống và tôi đã ngủ ngon lành.
Tôi dám chắc rằng tôi không phải là người đầu tiên hay là người cuối cùng ngủ như thế.
Hỡi Cơ đốc nhân, Đức Chúa Trời đã đưa ra lời hứa gìn giữ quí vị.
Hỡi Cơ đốc nhân, Chúa Giêxu đã lập một lời hứa gìn giữ quí vị.
Giăng 10.27-30 – “Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta. Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta. Cha ta là Đấng lớn hơn hết đã cho ta chiên đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha. Ta với Cha là một”.
Đức Chúa Trời Toàn Năng đang quan phòng quí vị 24/7.
Ngài không chợp mắt. Ngài không hề nhắp mắt.
Ngài rất chu đáo.
Điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với chúng ta?
Khi Kinh Thánh nói trong I Phierơ 5.7 – ‘lại hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em!”
Tôi có thể trao mọi sự cho Ngài, vì Ngài giữ nhiệm vụ quan phòng tôi và người thân của tôi 24/24 giờ một khi họ cũng là Cơ đốc nhân.
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN – Các câu 1-2
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI RẤT CHU ĐÁO – Các câu 3-4
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ ĐIỀU RẤT YÊN ỦI – Các câu 5-6
Thi thiên 121.5-6 – “Đức Giê-hô-va là Đấng gìn giữ ngươi; Đức Giê-hô-va là bóng che ở bên hữu ngươi. Mặt trời sẽ không giọi ngươi lúc ban ngày, Mặt trăng cũng không hại ngươi trong ban đêm”.
Tôi đã thực thi việc canh giữ theo thì giờ của tôi.
Tôi đã giữ một lớp 6 trong giờ học.
Tôi đã giữ một số vật kiểng gồm 3 con mèo và ít nhất 5 con chó. Không phải tất cả cùng một lúc đâu!
Tôi đã giữ một người vợ, và nàng đã giữ lấy tôi.
Tôi đã giữ 3 đứa con và một người cha vợ.
Gìn giữ có nghĩa là tôi chịu trách nhiệm cho sự sống còn của họ.
Không những tôi bảo hộ họ bằng nhiều cách thức, mà tôi còn tìm cách chu cấp cho mọi nhu cần của họ nữa.
Là con người, tôi không luôn luôn là người canh giữ.
Còn Đức Chúa Trời luôn luôn là một Đấng Canh Giữ vĩ đại!
Ngài có đủ tài nguyên của vũ trụ theo cách bố trí của Ngài để làm thoả mãn mọi nhu cần của tôi.
Ngài có đủ quyền phép toàn năng để bảo hộ tôi, hầu cho chẳng một điều chi ở dưới mặt trời hay dưới mặt trăng có thể làm hại tôi, trừ phi sự ấy xảy ra theo ý muốn trọn vẹn của Ngài dành cho đời sống của tôi.
Nếu chúng ta có đủ thì giờ sáng nay, chúng ta có thể có một số bằng chứng cho thấy thể nào Đức Chúa Trời đã gìn giữ mỗi một người chúng ta.
Ngài đã gìn giữ chúng ta khi tài chính cạn kiệt.
Ngài đã gìn giữ chúng ta khi chúng ta lâm nguy.
Ngài đã gìn giữ chúng ta tránh khỏi sự vu khống của người khác.
Ngài đã gìn giữ chúng ta trong suốt thời gian đau bịnh và lành mạnh.
Ngài đã gìn giữ chúng ta sống động, và thậm chí khi chúng ta qua đời, Ngài vẫn gìn giữ cho chúng ta sống động.
Giăng 11.25-26 – “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống mà tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?”
Và tôi muốn đưa ra một sự nhắc nhớ cho Cher, Jodie và bất kỳ người vợ nào có chồng đã qua đời. Thật là tự nhiên khi phải lấy làm lạ không biết ai sẽ gìn giữ quí vị khi chồng đã qua đời, và thể nào quí vị sẽ đứng vững vàng, và ai sẽ tiếp trợ cho con cái của quí vị.
Đức Chúa Trời sẽ gìn giữ quí vị.
Và trong nhiều trường hợp Ngài sẽ kêu gọi chính gia đình của quí vị và gia đình Hội thánh của quí vị tiếp trợ cho.
Tôi nghĩ tôi đang giảng cho cả gia đình Hội thánh khi tôi nói rằng chúng tôi sẽ tìm cách nhận rõ mọi nhu cần của quí vị và thể nào Đức Chúa Trời sẽ sử dụng chúng tôi để tiếp trợ cho.
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN – Các câu 1-2
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI RẤT CHU ĐÁO – Các câu 3-4
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ ĐIỀU RẤT YÊN ỦI – Các câu 5-6
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ TRỌN VẸN – Các câu 7-8
Thi thiên 121.7-8 – “Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ ngươi khỏi mọi tai họa. Ngài sẽ gìn giữ linh hồn ngươi. Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ ngươi khi ra khi vào, Từ nay cho đến đời đời”.
Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc cho quí vị dù khi quí vị đối mặt với điều ác.
Ngài chăm sóc như thế nào?
Ngài hứa rằng không một điều gì phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
Roma 8.35-39 – “Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng? Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt. Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta. Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng? Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt. Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta”.
Tôi có thể hứa rằng Đức Chúa Trời không để cho binh lính của chúng ta đối mặt với bất kỳ một tổn hại nào tại Iraq không?
Không, tôi không dám hứa.
Nhưng tôi có thể hứa rằng tình yêu thương của Đức Chúa Trời sẽ vây phủ và gìn giữ người tin Chúa, vô luận là hoàn cảnh nào.
Thậm chí nếu Cơ đốc nhân nào đối mặt với thảm họa, thì chẳng có tai vạ gì đâu.
Vì người tin Chúa có linh hồn mình được Đức Chúa Trời gìn giữ.
Và mỗi người nam người nữ Cơ đốc một ngày kia sẽ ở trong sự hiện diện của Chúa Giêxu đến cả đời đời.
Và ai trong chúng ta là người còn ở lại sau, sau khi nhiều người khác lên trước đều được đảm bảo bởi lời hứa sau cùng trong Thi thiên nây.
“Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ ngươi khi ra khi vào, từ nay cho đến đời đời”.
Nếu quí vị nhận biết Chúa là Cứu Chúa, quí vị được Đức Chúa Trời gìn giữ.
Nếu những người thân của quí vị nhận biết Chúa Giêxu làm Cứu Chúa, họ được Đức Chúa Trời gìn giữ.
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN – Các câu 1-2
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI RẤT CHU ĐÁO – Các câu 3-4
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ ĐIỀU RẤT YÊN ỦI – Các câu 5-6
SỰ GÌN GIỮ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ TRỌN VẸN – Các câu 7-8
***

Công Việc Của Tình Yêu Thương



Thi thiên 119.97
CÔNG VIỆC CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG

Có một cặp vợ chồng khiến cho nhân viên bịnh viện luôn luôn nhớ đến. Người chồng, nạn nhân của bịnh tim, đã được nhân viên bịnh viện đưa nhanh đi. Nhiều giờ trôi qua, trước khi vợ ông được phép vào thăm ông. Bà mất tinh thần khi thấy ông bị gài dính vào những máy móc phức tạp có những vệt sáng trên màn hình, có tiếng rít, tiếng bíp bíp liên tục.
Bà rón rén đi hướng về giường của ông nằm, nghiêng đầu xuống thì thầm nơi lỗ tai ông: “George ơi, em đây”. Kế đó, bà hôn ông. Thình lình có tiếng bíp bíp liên tục từ chiếc máy. Về sau bà giải thích: “Ông ấy mạnh rồi. Nhưng sau 47 năm chung sống, thật là vui khi biết tôi vẫn còn khiến cho tim ông đập liên hồi lúc tôi hôn ông ấy” [Katie Barnes].
Quí bạn tôi ơi, đó là công việc của tình yêu thương rất đáng phải noi theo!
Trong thời gian ông tìm hiểu một thiếu nữ còn trẻ tên là Julia Dent, Ulysses S. Grant có lần đã đưa nàng đi chơi bằng xe độc mã. Ra tới một nhánh sông nước chảy xiết, chiếc cầu bắc qua đó trông rất yếu ớt, Grant quả quyết với nàng rằng băng qua cầu ấy không sao đâu. Ông nói: “Đừng sợ, anh sẽ theo sau em”. Julia đáp: “Được thôi, em sẽ bám lấy anh cho dù có việc gì xảy ra”.
Đúng như nàng nói, nàng đã bám thật chặt cánh tay của Grant khi họ lái xe băng qua cầu. Grant đã im lặng lái xe trong mấy phút, thế rồi anh tằng hắng nói: “Julia, hồi nãy em nói là em sẽ bám lấy anh cho dù có việc gì xảy ra. Em có muốn bám lấy anh trong suốt cuộc đời còn lại của chúng ta không?” Nàng muốn, và họ đã cưới nhau vào tháng 8 năm 1848.
Một việc khác của tình yêu thương!
Đôi bàn tay — đôi bàn tay xinh xắn, cân đối
Những ngón tay dài thon thả
Làn da rám nắng do ở ngoài trời nhiều
Thật không thể tin nổi hai bàn tay của vợ tôi.
Hai bàn tay xương xẩu — viêm khớp
Bị méo mó do tuổi tác và tật bịnhGiờ đây chẳng còn lanh lợi bao lăm nữaNhưng vẫn hữu ích, thật là khó tin.Tôi biết người khác đang nhìn thấyHai bàn tay y như họ đang thấy hôm nayNhưng tôi nhìn thấy hai bàn tay xinh xắn, cân đối.Hai bàn tay của vợ tôi.
Và một gương mặt, đôi mắt nâu bồ câu thật đẹpĐôi môi mọng thật ngọt ngàoLàn da giống màu ngà thật ấm ápĐôi gò má ửng hồng của nàngDễ thương đến nỗi khó tin được.
Làn da nhăn nheo tuổi tácĐồi mồi nổi ở đây và ở kiaĐôi mắt mờ dần với thời gianĐôi môi giờ đây nhợt nhạt và mỏng dần điTôi biết người khác đang nhìn thấyMột gương mặt y như thế hôm nayNhưng tôi nhìn thấy một gương mặtDễ thương đến nỗi khó tin được.
Gương mặt vợ của tôi
Vẫn có một việc kỳ diệu khác của tình yêu thương!
Như quí vị thấy đấy, tôi không định nghĩa công việc của tình yêu thương như một điều gì đó xơ xác hay đồi bại. Tôi đang định nghĩa một công việc của tình yêu thương như một sự phó thác luôn luôn của tình yêu, vô luận là hoàn cảnh nào.
Con người không có những công việc yêu thương với con người.
Có người có những công việc đáng ưa thích, phải nói như thế, với bộ môn thể thao, với y phục, với đồ ăn, với máy tính, với các loại súng ống và một loạt nhiều thứ khác nữa.
Tác giả Thi thiên, là người đã viết Thi thiên 119 có một công việc của tình yêu thương.
Công việc của tình yêu của ông đã đặt vào Lời của Đức Chúa Trời.
Thi thiên 119.113 – “Tôi ghét những kẻ hai lòng, nhơn yêu mến luật pháp của Chúa”
Thi thiên 119.163 – “Tôi ghét, tôi ghê sự dối trá, song tôi yêu mến luật pháp Chúa”.
Thi thiên 119.165 – “Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn; Chẳng có sự gì gây cho họ sa ngã”.
Thi thiên 119.47 – “Tôi sẽ vui vẻ về điều răn Chúa, là điều răn tôi yêu mến”.
Thi thiên 119.48 – “Tôi cũng sẽ giơ tay lên hướng về điều răn Chúa mà tôi yêu mến, và suy gẫm các luật lệ Chúa”.
Và câu gốc của chúng ta cho sáng nay:
Thi thiên 119.97 – “Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy”.
Sáng nay tôi muốn đề nghị với quí vị rằng một công việc yêu mến liên tục đối với Lời Đức Chúa Trời là một công việc mà mỗi Cơ đốc nhân đáng phải có. Nếu quí vị xưng nhận mình biết Chúa Giêxu là Cứu Chúa, yêu mến Ngài, và kính sợ Cha của quí vị ở trên trời, một sự yêu mến Lời của Đức Chúa Trời sẽ trở thành một đặc điểm trong đời sống của quí vị.
Tôi muốn chúng ta phải trả lời hai câu hỏi về công việc của tình yêu thương đối với Lời của Đức Chúa Trời.
TẠI SAO TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI?
TÔI PHẢI YÊU MẾN LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ THẾ NÀO?

TẠI SAO TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI?
1. TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ LỜI ĐÓ ĐÚNG LÀ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
Lời của Đức Chúa Trời là gì?
Đó là sự mặc khải của Đức Chúa Trời cho con người.
Lời đó đúng y như điều chúng ta gọi: LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI!
II Timôthê 3.16 – “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình”.
Lời của Đức Chúa Trời được “Đức Chúa Trời hà hơi”, Lời ấy được cảm thúc bởi Ngài!
II Phierơ 1.20-21 – “Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh lấy ý riêng giải nghĩa được. Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là Ngài Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời”.
Đức Chúa Trời sử dụng nhân cách và mọi hoàn cảnh của người viết để ban Lời Ngài cho chúng ta, vì thế âm điệu của Phaolô khác biệt với Phierơ, là người có giọng điệu rất khác với Êsai. Thế nhưng mỗi người trong số họ đều phân phát Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta.
Nếu Đức Chúa Trời không quan phòng chúng ta, Ngài sẽ không phiền ban cho chúng ta Lời của Ngài. Sự thật cho thấy rằng một Đức Chúa Trời công bình, yêu thương, toàn năng đã tương giao với chúng ta, đây là lý do đúng đắn để yêu mến Lời của Đức Chúa Trời.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ LỜI ĐÓ ĐÚNG LÀ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
2. TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ GIÁ TRỊ CỦA LỜI ẤY.
Chính Lời của Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy đường lối cứu rỗi nhơn đức tin nơi Đấng Christ.
Galati 3.24 – “Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình”.
Chính luật pháp của Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy chúng ta là hạng tội nhân đang có cần một Cứu Chúa.
I Phierơ 1.23 – “anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời”.
Chính Lời của Đức Chúa Trời được sử dụng để đưa người ta đến với đức tin trong Đấng Christ. Thánh Linh của Đức Chúa Trời sử dụng Lời của Đức Chúa Trời đem lại sự tái sanh.
II Timôthê 3.16 – “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình”.
Lời Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng ta.
Lơi Đức Chúa Trời quở trách chúng ta.
Lời Đức Chúa Trời sửa đổi chúng ta.
Lời Đức Chúa Trời chỉ cho chúng ta cách thức sống công bình
Làm ơn bước sang phần đọc Kinh Thánh sáng nay, Thi thiên 19.7-11.
Hãy chú ý Lời Đức Chúa Trời dạy gì trong mấy câu nầy.
Câu 7 – Lời ấy làm biến đổi, làm thay đổi, hay lời ấy “bổ” linh hồn lại và lời ấy khiến cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan.
Câu 8 – Lời Đức Chúa Trời làm cho lòng vui mừng và cũng làm cho mắt được sáng sủa. Và tôi tin chính con mắt tâm linh đã được soi sáng. Chúng ta nhìn thấy những việc thuộc linh càng rõ ràng hơn.
Câu 9 – Lời của Đức Chúa Trời còn đến đời đời , Lời Đức Chúa Trời là chơn thật và công bình.
Câu 10 – Lời Đức Chúa Trời có giá trị nhiều hơn vàng ròng và ngọt hơn mật ong.
Câu 11 – Lời của Đức Chúa Trời cảnh cáo chúng ta. Đức Chúa Trời ban thưởng cho những ai biết vâng theo Lời của Ngài.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ LỜI ĐÓ ĐÚNG LÀ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ GIÁ TRỊ CỦA LỜI ẤY.
3. TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ TÔI BIẾT ĐẤNG TÁC GIẢ THEO CÁCH RIÊNG
Thực chất đây không phải là một sứ điệp cứu rỗi, nhưng sẽ ra sao khi một người nhận biết rằng mình là tội nhân, rằng Chúa Giêxu đã chịu chết vì tội lỗi của mình, và duy đức tin đó đem lại sự tha thứ và sự sống đời đời? Sẽ ra sao khi người ấy được “cứu”?
Người ấy đã được thay đổi.
II Côrinhtô 5.17 – “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới”.
Người ấy trở nên con cái của Đức Chúa Trời.
Giăng 1.12-13 – “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy”.
Roma 8.15-16 – “Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha! Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời”.
Quí vị và tôi có thể gọi Đức Chúa Trời là “Cha” khi chúng ta là con cái của Ngài.
Vì chúng ta là con cái của Ngài, tất nhiên chúng ta phải yêu mến Ngài. Và nếu chúng ta yêu mến Ngài, chúng ta cũng phải yêu mến Lời của Ngài.
Tôi yêu mến Cha tôi. Tôi kính trọng Ngài. Lời của Ngài rất đặc biệt đối với tôi.
Nếu tôi yêu mến Cha của tôi ở trên trời, tôi sẽ kính trọng Cha trên trời của tôi. Lời của Ngài luôn luôn là đặc biệt đối với tôi.
Tôi có chút hồ nghi nếu có người xưng mình là một Cơ đốc nhân đã sanh lại mà chẳng có thích thú gì về việc nghe Ngôi Lời được rao giảng ra và chẳng thấy lý thú chi trong việc đọc Lời ấy, hoặc nếu người ấy không thể đọc được, hay có người đến đọc cho ông ta nghe.
Làm sao quí vị nói được rằng quí vị là con cái của Đức Chúa Trời mà chẳng có chút thú vị gì về Lời của Ngài?
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ LỜI ĐÓ ĐÚNG LÀ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ GIÁ TRỊ CỦA LỜI ẤY.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ TÔI BIẾT ĐẤNG TÁC GIẢ THEO CÁCH RIÊNG.
4. TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ TẦM QUAN TRỌNG CỦA LỜI ẤY ĐỐI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI
Làm ơn mở Thi thiên 138 ra.
Đức Chúa Trời là Cha trên trời của tôi nếu tôi đã được cứu hay đã được tái sanh.
Tôi phải quan tâm tới những gì Cha trên trời của tôi quan tâm.
Cha trên trời của tôi đã khiến cho Lời của Ngài ra quan trọng đối với chính mình Ngài.
Thi thiên 138.2 – “Tôi sẽ thờ lạy hướng về đền thánh của Chúa, cảm tạ danh Chúa vì sự nhơn từ và sự chơn thật của Chúa; vì Chúa đã làm cho lời Chúa được tôn cao hơn cả danh-thinh Chúa”.
Quí vị có nhìn thấy câu nầy nói gì ở đây không?
“Vì Chúa đã làm cho lời Chúa được tôn cao hơn cả danh-thinh Chúa”.
Không có điều gì quan trọng đối với Đức Chúa Trời hơn Lời của Ngài.
James Montgomery Boice – “Nói như thế giống như thể Đức Chúa Trời đang phán: ‘Ta xem trọng tính ngay thẳng của ta trên hết mọi sự khác. Ta muốn được người ta tin theo hơn cả mọi sự khác’. Câu nầy không có ý nói rằng mọi thuộc tính khác của Đức Chúa Trời bị chuyển vào hàng thứ yếu đâu”.
Thi thiên 119.97 - “Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy”.
TẠI SAO TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI?
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ LỜI ĐÓ ĐÚNG LÀ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ GIÁ TRỊ CỦA LỜI ẤY.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ TÔI BIẾT ĐẤNG TÁC GIẢ THEO CÁCH RIÊNG.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ TẦM QUAN TRỌNG CỦA LỜI ẤY ĐỐI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI
TÔI PHẢI YÊU MẾN LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ THẾ NÀO?
Thi thiên 119.97 chép: “Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy”.
Rõ ràng câu nầy có ý nói rằng người nào thực sự yêu mến Lời của Đức Chúa Trời sẽ suy gẫm luôn Lời ấy. Nghĩa là, người ấy [nam hay nữ], sẽ suy gẫm Lời Đức Chúa Trời cách liên tục, tìm cách hiểu biết Lời ấy và tìm cách áp dụng Lời ấy vào đời sống của mình.
Sẽ có không có một ham thích nào lớn lao hơn là học biết Lời của Đức Chúa Trời và áp dụng Lời ấy theo cách riêng.
Sự học hỏi nầy có tính lý thuyết, song nó còn đi xa hơn thế.
Sự học hỏi nầy có tính cách thuộc linh!
Sự học hỏi nầy cung ứng sự hiểu biết về mặt thuộc linh.
Thi thiên 119.99 – “Tôi có trí hiểu hơn hết thảy kẻ dạy tôi, vì tôi suy gẫm các chứng cớ Chúa”.
Suy gẫm luôn Lời Đức Chúa Trời cũng dẫn tới chỗ vâng phục.
Giôsuê 1.8 – “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước”.
Thi thiên 119.11 – “Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa”.
Vâng lời quan trọng như thế nào đối với Đức Chúa Trời?
I Samuên 15.22-23 – “...Vả, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ; sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực; sự bội nghịch cũng đáng tội bằng sự tà thuật; sự cố chấp giống như tội trọng cúng-lạy hình tượng...”
Không những suy gẫm Lời Đức Chúa Trời dẫn tới việc học hỏi và vâng lời, suy gẫm còn dẫn tới đức tin nữa.
Roma 10.17 – “Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng”.
Tôi càng suy gẫm Lời Đức Chúa Trời, đức tin của tôi càng mạnh mẽ hơn. Khi đức tin tôi càng mạnh mẽ hơn, tôi thấy mình càng ở trong sự bình an hơn.
Thi thiên 119.165 – “Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn; chẳng có sự gì gây cho họ sa ngã”.
Vậy thì chúng ta sẽ phải suy gẫm Kinh Thánh như thế nào đây?
Rất mong mỏi quí vị sẽ suy gẫm Kinh Thánh vào sáng nay, như quí vị sẽ ảnh hưởng hổ tương với sự dạy của Lời Đức Chúa Trời!
Chúa Giêxu đã Jesus truyền rằng Lời của Ngài phải được dạy dỗ luôn
Mathiơ 28.19-20 – “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”.
Chúa Giêxu phán: “hãy đi dạy dỗ”, và sự học tập đòi hỏi phải suy gẫm luôn điều đã được rao giảng ra. Quí vị không nên học hỏi nhiều nếu những gì vị giáo sư dạy đi “từ lỗ tai nầy và ra khỏi lỗ tai kia”.
Êphêsô 4.11-13 – “Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư, để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ, cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhơn, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ”.
Có bốn lần trong một tuần Lời Đức Chúa Trời được rao giảng trong nhà thờ nầy. Có Lớp Trường Chúa Nhật, Nhóm buổi sáng, Nhóm buổi chiều và Nhóm Cầu Nguyện. Bốn lần một tuần quí vị có cơ hội học hỏi Lời của Đức Chúa Trời. Lời của Đức Chúa Trời được rao giảng ở đây. Quí vị sẽ khai tâm bởi sự suy gẫm luôn Lời ấy khi Lời ấy được rao giảng và khi quí vị ôn lại trong trí mình sau đó.
Nếu quí vị thực sự yêu mến Lời của Đức Chúa Trời, quí vị cần phải gạt qua một bên mọi trở ngại của mình rồi tới đây trong những dịp khác để được khai tâm thêm nữa Lời của Đức Chúa Trời. Sẽ có 100% người đến dự nhóm vào Buổi thờ phượng tối và buổi nhóm cầu nguyện bởi vì quí vị và tôi đều yêu mến Lời của Đức Chúa Trời.
Chúng ta suy gẫm Kinh Thánh theo một cung cách khác, bằng cách đọc Kinh Thánh cho mình nghe. Theo cách riêng tôi đã thay đổi mọi thói quen đọc sách của mình.
Tôi đọc ít và nhận được nhiều.
Tôi đọc một câu rồi suy gẫm câu ấy, và áp dụng câu đó cho chính đời sống của mình.
Hãy dành thì giờ mỗi ngày với quyển Kinh Thánh của quí vị, hãy đọc Kinh Thánh, rồi cầu xin Đức Chúa Trời chỉ cho quí vị thấy lẽ thật trong đó. Tôi đề nghị quí vị nên khởi sự với sách Mathiơ và đọc suốt cả Tân Ước.
Đừng đề ra trước một mục tiêu nào hết, song hãy đọc cho đủ ngày và hãy nhận lãnh điều dạy dỗ từ việc đọc đó.
Cũng là một ý hay khi suy nghĩ quí vị sẽ đọc gì trong ngày. Hãy tắt radio đi và tưởng đến Kinh Thánh.
Một cách để khởi sự việc đọc của quí vị là đọc theo lịch soạn sẵn.
Thi thiên 119.18 – “Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp của Chúa”.
Cách suy gẫm khác về Lời Đức Chúa Trời là nhờ sự học thuộc lòng.
Chúng ta đã nhắc tới Thi thiên 119.11 rồi – “Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa”.
Trước khi chúng ta giấu Lời Đức Chúa Trời vào lòng, chúng ta cần phải giấu Lời ấy vào đầu của mình.
Khi chúng ta chọn lọc và học thuộc lòng những câu Kinh Thánh đặc biệt, rồi hãy suy gẫm chúng luôn, điều nầy sẽ giúp chúng ta lãnh hội những câu Kinh Thánh từ cái lý trí đến lòng của mình.
Tôi đề nghị quí vị nên học thuộc lòng ít nhất một câu một tuần, khi ấy hãy tiếp tục ôn lại hết những câu đã học.
Sự suy gẫm Kinh Thánh có giá trị như thế nào?
Thi thiên 1.1-3 – “Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ, chẳng đứng trong đường tội nhơn, không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng; Song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm. Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước, sanh bông trái theo thì tiết, lá nó cũng chẳng tàn héo; mọi sự người làm đều sẽ thạnh vượng”.
Tại sao phải suy gẫm Kinh Thánh? Đó là một phần việc của tình yêu thương đang hiện hữu giữa mỗi một người chúng ta và Lời Đức Chúa Trời.
Thi thiên 119.97 – “Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy”.
TẠI SAO TÔI PHẢI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI?

TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ LỜI ĐÓ ĐÚNG LÀ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ GIÁ TRỊ CỦA LỜI ẤY.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ TÔI BIẾT ĐẤNG TÁC GIẢ THEO CÁCH RIÊNG.
TÔI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ TẦM QUAN TRỌNG CỦA LỜI ẤY ĐỐI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI

TÔI PHẢI YÊU MẾN LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ THẾ NÀO?
Hãy suy gẫm Lời của Đức Chúa Trời
Qua sự suy gẫm ấy, Lời Đức Chúa Trời dạy dỗ cho quí vị bốn lần một tuần.
Qua việc đọc Lời Chúa.
Qua sự học thuộc lòng.

***

Tại Sao Phải Tôn Kính



Thi thiên 89.7-18
TẠI SAO PHẢI TÔN KÍNH?
Angie 6 tuổi và Joel em nó 4 tuổi đang ngồi chơi với nhau trong nhà thờ. Joel cười khúc khích, cất tiếng hát, rồi nói chuyện lớn tiếng.
Sau cùng, chị cả nó lên tiếng: "Em không được nói chuyện lớn tiếng trong nhà thờ".
"Sao chớ? Ai có quyền cấm cản em?" Joel thắc mắc.
Angie chỉ ra phía sau nhà thờ rồi nói: "Có thấy hai người đang đứng gần cánh cửa kia không? Họ có nói chuyện đâu".
“Cách đây mấy năm, tôi đi xem một buổi hoà nhạc ngoài trời. Đây không phải là buổi hoà nhạc xưa đâu! Van Cliburn đang tấu bản giao hưởng của Tchaikovsky với dàn nhạc Philadelphia -- Eugene Ormandy chỉ huy. Loại âm nhạc đó nghe thật hay mà quí vị có thể đích thân thưởng thức một vài lần trong đời.
“Ngồi trước mặt tôi khoảng năm sáu em thiếu niên. Chúng đang ăn cốm bắp. Loại âm nhạc đó rất đáng thưởng thức trong lịch sử của thế gian. Nhưng thường thì không có Eugene Ormandy chỉ huy. Chúng có nghe thì cũng giống như một nhạc công chơi dương cầm thôi.
“Sự kiện nầy đã trở thành một phép ẩn dụ đối với tôi về cách thức chúng ta sinh sống trong vũ trụ của Đức Chúa Trời. Với một ít kinh ngạc. Một ít kính trọng. Chúng ta như đang sinh sống trong đống rác rưỡi do con người tạo ra hầu cho chúng ta tán thưởng vẽ đẹp và sự diệu kỳ mà Đức Chúa Trời đã vầy quanh chúng ta. Chúng ta dường như phân biệt giữa Rặng núi Rocky và căn bếp Formica vậy”.
Thế gian không thiếu gì những điều kỳ diệu, mà thiếu một nhận thức về sự kỳ diệu đó.
“Nếu thờ phượng chỉ là một việc mà chúng ta phải làm, mọi sự đều là trần tục hết. Nếu thờ phượng là một việc chúng ta phải làm, mọi sự đều diễn ra theo ý nghĩa đời đời”.
Thi thiên 89.7-18
Quí vị sẽ nói sao khi người ta có ít hay không có sự tôn kính dành cho Đức Chúa Trời?
Quí vị sẽ nói sao khi quí vị tôn kính Đức Chúa Trời?
Thi thiên 89.7 – “Đức Chúa Trời thật rất đáng sợ trong hội các thánh, đáng hãi hùng hơn kẻ đứng chầu chung quanh Ngài”.
Hầu hết các nhà giải kinh đều nghĩ rằng câu nầy đang nhắc tới một bối cảnh ở trên trời với các thiên sứ là “những người thánh” được nhắc tới ở đây. Và có lẽ điều nầy là sự thực.
Nhưng nếu Đức Chúa Trời cần phải được tôn kính bởi những kẻ đứng chầu chung quanh Ngài, điều nầy cũng phải áp dụng cho những người trong chúng ta, là những người nhận biết Chúa Giêxu làm Cứu Chúa. Chúng ta đang “đứng chầu chung quanh Ngài” vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời.
I Côrinhtô 6.19 – “Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao?”
Đừng nhìn vào câu Kinh Thánh trong một phút, làm ơn cho tôi biết lý do tại sao Cơ đốc nhân cần phải tôn kính Đức Chúa Trời?
Tối nay chúng ta xem xét Thi thiên 89.7-18.
Trong mấy câu nầy, tôi thấy một số lý do tại sao Cơ đốc nhân cần phải tôn kính Đức Chúa Trời.
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI LÀ MẠNH MẼ – Các câu 8-10, 13
Câu 8 – Không có ai quyền năng hơn Đức Chúa Trời!
Kẻ thù của quí vị không mạnh hơn Đức Chúa Trời.
Bạn bè của quí vị không mạnh hơn Đức Chúa Trời.
Các thành viên trong gia đình của quí vị không mạnh hơn Đức Chúa Trời.
Nhà cầm quyền không mạnh hơn Đức Chúa Trời.
Không một quyền lực cấp thế giới nào mạnh hơn Đức Chúa Trời.
Thi thiên 89.7-18
Do đó, vì Đức Chúa Trời mạnh mẽ hơn hết thảy, Ngài đáng được kính sợ và được tôn kính.
Chúa Giêxu đã dạy rằng khi kính sợ Đức Chúa Trời, không phải sợ hãi ai nữa hết.
Luca 12.4-7 – “Ta nói cùng các ngươi, là bạn hữu ta: Đừng sợ kẻ giết xác rồi sau không làm gì được nữa. Song ta chỉ cho các ngươi biết phải sợ ai: phải sợ Đấng khi đã giết rồi, có quyền bỏ xuống địa ngục; phải ta nói cùng các ngươi, ấy là Đấng các ngươi phải sợ! Người ta há chẳng bán năm con chim sẻ giá hai đồng tiền sao? Nhưng Đức Chúa Trời không quên một con nào hết. Dầu đến tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm cả rồi. Đừng sợ chi, vì các ngươi trọng hơn nhiều chim sẻ”.
Thi thiên 89.9 – “Chúa cai trị sự kiêu căng của biển: Khi sóng nổi lên, Chúa làm cho nó yên lặng”.
Có ít nhất hai lần trong Kinh Thánh khi Đức Chúa Trời quở biển yên lặng.
+ Khi Đức Chúa Trời rẽ Biển Đỏ để con cháu có thể băng ngang qua.
+ Khi Chúa Giêxu đứng trên chiếc thuyền rồi quở Biển Galilê phải im lặng đi.
Và Chúa Giêxu vẫn còn quở biển lo sợ của chúng ta, nó đang gầm rống hôm nay, nếu chúng ta để cho Ngài làm. Ngài mạnh sức đủ để ban cho chúng ta sự bình an qua bất kỳ cảnh khó nào.
Hôm nay Đấng Christ vẫn còn làm cho giông bão phải im lặng – không phải biển Galilê
Nhưng trong lòng tôi;
tôi hãy còn nghe "Hãy êm đi lặng đi".
Ở đó, trong tôi, một cơn giông tố đang dậy lên,
Và e rằng tôi sẽ hư mất
đã làm cho tôi phải nhuốm bịnh.
Thi thiên 89.7-18
Chiếc thuyền kia là đời sống tôi
dường như bị bão đánh chòng chành,
Và tôi quên phứt Đấng Christ
là Đấng biết rõ con tthuyền của chúng ta.
Tấm lòng tôi bị dìm xuống thật sâu,
tôi e rằng mình sẽ bị hư mất,
Vì thế tiếng kêu la "Xin cứu tôi!"
vừa thoát ra khỏi môi miệng tôi.
Tôi xây sang Ngài và biết rõ Ngài có quyền cứu,
Nên tôi phó thác mọi thử thách của mình
cho ý chỉ Ngài;
Tôi cảm thấy sự êm dịu lặng lẽ của con sóng
Tôi cỡi con sóng ấy,
khi Đấng Christ phán: "Hãy êm đi lặng đi!" Hazel Hartwell Simon
Câu 10 – Raháp là một từ ngữ được dùng để ám chỉ Ai cập.
Hebert Lockyer nói rằng “Raháp” có nghĩa là “Sức mạnh”, là “kiêu ngạo”.
Ai cập là một quốc gia vừa mạnh vừa kiêu ngạo.
Song Đức Chúa Trời vẫn mạnh sức hơn.
Cũng chính vùng biển mà Đức Chúa Trời đã quở im lặng để bảo vệ Israel, cũng chính biển ấy đã tấn công Pharaôn cùng quân đội của người.
Hãy suy nghĩ xem. Không một kẻ thù nào của Đức Chúa Trời có thể đứng chống lại sức mạnh của Ngài. Ngay cả Satan cũng không phải là địch thủ của Đức Chúa Trời và đã bị định cho phải thất trận!
Thi thiên 89.13 – “Chúa có cánh tay quyền năng, bàn tay Chúa có sức mạnh, và tay hữu Chúa giơ cao lên”.
Đức Chúa Trời được phác hoạ với một cánh tay thật mạnh sức, bàn tay mạnh mẽ, và tay hữu đầy quyền năng.
Nan đề của chúng ta, ấy là chúng ta không nhớ Đức Chúa Trời mạnh mẽ như thế nào khi chúng ta thờ phượng. Và chúng ta không nhớ Đức Chúa Trời mạnh sức như thế nào khi chúng ta đối diện với những rắc rối.
Giêrêmi 32.17 – “Ôi! Hỡi Chúa Giê-hô-va! Chính Ngài đã dùng quyền phép lớn và cánh tay giơ ra mà làm nên trời và đất; chẳng có sự gì là khó quá cho Ngài cả”.
Thi thiên 89.7-18
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI LÀ MẠNH MẼ – Các câu 8-10, 13
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI LÀ CHỦ CỦA MUÔN VẬT – Các câu 11-12
Thi thiên 89.11 – “Các từng trời thuộc về Chúa, đất cũng thuộc về Chúa; Chúa đã sáng lập thế gian và mọi vật nó chứa”.
Khi mấy đứa con của tôi thấy rằng Dottie từng sở hữu một chiếc Mustang đời 1968, chúng đã có một sự kính nể mới dành cho Mẹ của chúng.
Quí vị sẽ kính trọng ai đó có một ngôi nhà đẹp, một ngôi vườn đẹp, một chiếc xe hơi đẹp, một người vợ đẹp, một gia đình đẹp.
Chúng ta càng phải thờ phượng Đức Chúa Trời nhiều hơn nữa vì Ngài là chủ của nhiều ngôi sao và nhiều hành tinh.
Và chúng ta càng phải thờ phượng Đức Chúa Trời nhiều hơn nữa vì Ngài là chủ của cả thế gian.
Ngài là chủ của mọi loài chim.
Ngài là chủ của mọi loài cá.
Ngài là chủ của mọi loài thú, dù là nuôi trong nhà hay hoang dã.
Thi thiên 50.10 – “Vì hết thảy thú rừng đều thuộc về ta, các bầy súc vật tại trên ngàn núi cũng vậy”.
Ngài là chủ mọi cây cối, mọi loài côn trùng.
Ngài là chủ của mọi người.
Thi thiên 24.1 – “Đất và muôn vật trên đất, thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giê-hô-va”.
Đức Chúa Trời đặc biệt là chủ của Cơ đốc nhân.
I Côrinhtô 6.19-20 – “Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời”.
Thi thiên 89.7-18
Trong thời buổi nô lệ đầy kinh hãi kia trên nước Mỹ, những người chủ nô đòi hỏi sự tôn kính.
Ở sở làm, nhiều người chủ đòi hỏi sự tôn trọng.
Trong học đường, các vị giáo sư đòi hỏi sự tôn trọng.
Trong gia đình, cha mẹ đòi hỏi sự kính trọng.
Đức Chúa Trời còn xứng đáng với sự tôn kính của chúng ta nhiều dường bao, vì Ngài là chủ của chúng ta.
Thi thiên 89.12 – “Phương bắc, phương nam cũng bởi Chúa dựng nên; Tha-bô và Hẹt-môn đều vui mừng vì danh Chúa”.
Tha-bô và Hẹt-môn là các ngọn núi nằm ở đông và tây xứ Israel. Vì vậy, Đức Chúa Trời đang phán rằng mọi sự, đông tây nam bắc, đều được Ngài dựng nên cả.
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI LÀ MẠNH MẼ – Các câu 8-10, 13
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI LÀ CHỦ CỦA MUÔN VẬT – Các câu 11-12
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ BỔN TÁNH CỦA NGÀI – Câu 14
Thi thiên 89.14 – “Sự công bình và sự chánh trực là nền của ngôi Chúa; Sự nhơn từ và sự chơn thật đi trước mặt Chúa”.
Chữ công bình có ý nói tới “công nghĩa”.
Đức Chúa Trời là công nghĩa.
Ngài luôn luôn được xem là làm điều phải.
Vì Đức Chúa Trời là công bình, sự phán xét của Ngài là chính xác.
Khi kẻ ác bị xét đoán tại Ngai Phán Xét Lớn, họ sẽ bị phán xét rất công bình.
Thi thiên 89.7-18
Khải huyền 20.12 – “Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy”.
Khi quí vị và tôi bị xét đoán tại Ngai Phán Xét của Đấng Christ, chúng ta sẽ bị xét đoán theo cách công bình.
II Côrinhtô 5.10 – “Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt”.
I Côrinhtô 4.5 – “Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự khen ngợi mình đáng lãnh”.
Tôi rất vui sướng vì có sự cầm cân nảy mực nơi Đức Chúa Trời.
Phải, có sự phán xét công bình.
Nhưng phần bổn tánh của Đức Chúa Trời cũng là thương xót và chơn thật, hay chúng ta sẽ dùng các từ “yêu thương và thành tín”.
Chúng ta biết Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta vì Ngài đã sai Con Ngài đến chịu chết vì tội lỗi chúng ta.
Chúng ta biết Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta vì Ngài đã cứu chúng ta.
Chúng ta biết Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta vì Ngài lập chúng ta làm con cái của Ngài.
Chúng ta biết Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta vì Ngài đáp trả mọi lời cầu nguyện của chúng ta.
Chúng ta biết Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta vì Ngài bảo hộ chúng ta.
Chúng ta biết Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta vì Ngài đang sắm sẵn một chỗ cho chúng ta ở trên trời.
Thi thiên 89.7-18
Và Đức Chúa Trời là thành tín.
Đức Thánh Linh là thành tín cầu thay trong chúng ta.
Roma 8.26-27 – “Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy”.
Đức Chúa Con cũng thành tín cầu thay cho chúng ta.
Hêbơrơ 7.24-25 – “Nhưng Ngài, vì hằng có đời đời, nên giữ lấy chức tế lễ không hề đổi thay. Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy”.
Đức Chúa Cha là thành tín tha tội cho chúng ta.
1 Giăng 1.9 – “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”.
Ca thương 3.22-23 – “Ấy là nhờ sự nhơn từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm”.
Chúng ta tôn kính người nào đối xử tử tế với chúng ta.
Chúng ta càng phải tôn kính và sùng bái Đức Chúa Trời càng nhiều hơn nữa, Ngài đối xử với chúng ta tốt hơn bất kỳ một người nào khác!
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI LÀ MẠNH MẼ – Các câu 8-10, 13
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI LÀ CHỦ CỦA MUÔN VẬT – Các câu 11-1
Thi thiên 89.7-18
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ BỔN TÁNH CỦA NGÀI – Câu 14
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI MANG LẠI NIỀM VUI MỪNG – Các câu 15-16
Thi thiên 89.15 – “Phước cho dân nào biết tiếng vui mừng! Hỡi Đức Giê-hô-va, họ bước đi trong ánh sáng của mặt Chúa”.
Albert Barnes nói – “Trong những kỳ lễ lớn của người Do thái, có tiếng kèn tham dự vào sự kỷ niệm, và không có gì phải nghi ngờ nữa, đây là sự tôn kính. Ý ở đây là họ được chúc phước cho, họ là những người thờ lạy Đức Giêhôva, là Đức Chúa Trời chơn thật; họ nhóm lại để phục sự Ngài; họ nhóm lại ở nơi thờ lạy Ngài”.
Cơ đốc nhân nào biết tiếng vui mừng của sự thờ phượng là những người thật được phước.
Cơ đốc nhân nào biết tiếng vui mừng của sự thờ phượng không những thờ phượng với hội chúng vào ngày Chúa nhựt. Mà họ còn thờ phượng Đức Chúa Trời một cách liên tục nữa.
Thi thiên 89.16 – “Hằng ngày họ vui mừng vì danh Chúa, được nhắc cao lên vì sự công bình Chúa”.
Êphêsô 5.18-20 – “Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Hãy lấy ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa. Hãy thường thường nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta”.
Thi thiên 89.7-18
Hêbơrơ 13.15 – “Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra”.
Hãy lưu ý là nếu quí vị tôn kính Đức Chúa Trời đủ để thờ lạy Đức Chúa Trời, nụ cười của Đức Chúa Trời sẽ ở cùng quí vị.
“Họ sẽ bước đi trong ánh sáng mặt Ngài”.
Alexander MacLaren đã nói: “Chúng ta sẽ đem Đức Chúa Trời theo với chúng ta bất cứ đâu chúng ta đi tới, nếu chúng ta chỉ nhớ rằng nơi chúng ta không đem Ngài theo được thì chúng ta chẳng nên đi tới đó”.
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI MANG LẠI NIỀM VUI MỪNG – Các câu 15-16
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ SỰ GIÚP ĐỠ CỦA NGÀI – Các câu 17-18
Thi thiên 89.17 – “Vì Chúa là sự vinh hiển về sức lực của họ; Nhờ ơn Chúa, sừng chúng tôi sẽ được ngước cao lên”.
Đúng là sức mạnh thực khi chúng ta ra từ Đức Chúa Trời.
Thi thiên 27.1 – “Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai?”
Sừng của chúng ta sẽ được ngước cao lên – Albert Barnes đã nói: “Sừng là dấu hiệu của sức mạnh... Ý ở đây là, sức mạnh của họ được rút ra từ Đức Chúa Trời; hay mọi thứ góp phần vào sự tôn cao và vinh quang của họ trong thế gian, đã được rút ra từ nơi Ngài”.
Thi thiên 89.18 – “Vì Đức Giê-hô-va là cái khiên của chúng tôi, Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên là Vua chúng tôi”.
Có sự bảo hộ nào tốt hơn để cho chúng ta có cần hơn là được Đức Chúa Trời bảo hộ cho?
Thi thiên 89.7-18
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI LÀ MẠNH MẼ – Các câu 8-10, 13
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI LÀ CHỦ CỦA MUÔN VẬT – Các câu 11-1
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ BỔN TÁNH CỦA NGÀI – Câu 14
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ NGÀI MANG LẠI NIỀM VUI MỪNG – Các câu 15-16
CHÚNG TA PHẢI TÔN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ SỰ GIÚP ĐỠ CỦA NGÀI – Các câu 17-18
***

Một Năm Tốt Lành



THI THIÊN 84.10-12
MỘT NĂM TỐT LÀNH
Năm đang đi tới phần kết thúc của nó. Có người nói: "Tôi rất tiếc khi thấy năm đang kết thúc, đây là một năm thật tốt lành".
Nhiều người khác sẽ nói: "Tôi rất vui khi thấy năm đang kết thúc, thật là một năm khủng khiếp!"
Dựa trên cơ sở nào chúng ta quyết định đâu là năm tốt, đâu là năm xấu? Thường thì chúng ta phân biệt một năm tốt với một năm xấu bởi những sự cố đã xảy ra trong năm đó.
Nếu chúng ta và những người sống quanh chúng ta đều cứ mạnh khoẻ, có công ăn việc làm và cứ mạnh khoẻ luôn đối với nhiều người khác, và chẳng gánh chịu mất mát gì cho cam, chúng ta sẽ định rằng ấy là một năm tốt lành.
Mặt khác, nếu chúng ta, và những người quanh chúng ta đều mất công ăn việc làm hay không có thu nhập nữa, có nhiều tranh cãi với người khác, có nhiều nan đề chủ yếu về sức khoẻ và gánh chịu nhiều mất mát, chúng ta có khuynh hướng cho rằng chúng ta đã gặp phải một năm xấu.
Chúng ta thường nghe nói ai đó đã gặp phải một năm hung kiết hay các hoàn cảnh khó khăn, họ cho rằng họ vui sướng khi năm nay qua đi và hy vọng tốt hơn vào năm tới!
Tôi xin phép đề nghị với quí vị sáng hôm nay rằng chẳng có một năm nào là xấu cả! Mỗi năm đều có thể là năm tốt lành. Quí vị đã nghe tôi nói một cách chính xác, chẳng có một năm nào là xấu cả. Mỗi năm đều có thể là năm tốt lành.
Sao tôi dám nói như vậy nhỉ? Chúng ta đánh giá năm tốt và năm xấu bởi các hoàn cảnh. Thay vì thế, chúng ta nên đánh giá các năm của chúng ta bằng cách đồng đi với Đức Chúa Trời! Nếu trong năm 1996 tôi bước đi cách mật thiết với Đức Chúa Trời, vâng theo Ngài, xưng nhận và quên đi tội lỗi khi tôi không xưng nhận.
Nếu tôi cũng tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa của tôi trong năm 1996, khi ấy, tôi sẽ nói năm ấy là năm rất tốt! Cơ sở để tôi nói như vậy là những gì chúng ta thấy Đức Chúa Trời phán dạy về điều Ngài mong mỏi chúng ta trong bất cứ năm nào đã được ban cho.
Phục truyền luật lệ ký 6.4-5: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai. Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi”.
Michê 6.8: “Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhân từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?”
Giăng 15.4-5,7: “Hãy cứ ở trong ta, thì ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho, nếu không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được, cũng một lẽ ấy, nếu các ngươi chẳng cứ ở trong ta, thì cũng không kết quả được. Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được…Ví bằng các ngươi cứ ở trong ta, và những lời ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó”.
Tôi không dám bảo đảm rằng năm 1997 sẽ là một năm tốt một khi các hoàn cảnh hãy còn ở đàng xa kia. Có thể năm nay sẽ là tai vạ cho ai đó, mất mát, đau thương và thất bại. Đối với nhiều người khác, sẽ là tràn ngập vui mừng, mọi hoàn cảnh dường như thuận thì cho họ. Đối với hầu hết chúng ta, năm nay sẽ là một túi đầy sự pha trộn cả vui mừng lẫn buồn rầu.
Làm sao chúng ta dám bảo đảm rằng năm 1987 sẽ là một năm quan trọng về mặt thuộc linh? Làm sao chúng ta dám chắc rằng Đức Chúa Trời phán vào lúc cuối năm 1997, rằng tôi hay quí vị sẽ có một năm tốt lành?
Sáng nay chúng ta hướng sự chú ý vào Thi thiên 84.
Ba câu cuối, 10-12 cho chúng ta thấy rằng đây sẽ là một năm tốt, nếu:
ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ NHÀ CỦA TÔI - Câu 10
ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ SỰ CỨU GIÚP CỦA TÔI - Câu 11
ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ HẠNH PHƯỚC CỦA TÔI - Câu 12
Nếu quí vị đã có những dòng chú thích nầy trong quyển Kinh thánh của quí vị rồi, tôi hay sử dụng phần tóm tắt trước, nhưng đây là một sứ điệp mới. Chúng ta không biết rõ lai lịch của tác giả Thi thiên 84, chúng ta cũng không dám chắc về mọi cảnh ngộ của ông. Có người nghĩ rằng tác giả đang trên chuyến lữ hành thuộc linh đến đền thờ tại thành Jerusalem, Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự hiện diện của Ngài ở đó. Nhiều người khác cảm thấy rằng tác giả không thể lên đền thờ được, và đã ước ao được lên đó. Hoàn cảnh của Thi thiên dù có như thế nào đi nữa, thì Thi thiên nầy đang chỉ ra một thứ tình cảm muốn ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Điều nầy đã được tỏ ra trong các câu 1-4 – HÃY ĐỌC XEM
Quí vị và tôi không phải lên thành Jerusalem để ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Nếu quí vị đã được sanh lại, Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang ngự ở trong quí vị. Quí vị là đền thờ của Đức Chúa Trời.
Rôma 8.9: “Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài”.
I Côrinhtô 6.19-20: “Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời”.
II Côrinhtô 6.16: “Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta”.
Nếu quí vị nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa của quí vị, thân thể của quí vị là đền thờ của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đang ngự ở bên trong quí vị! Đấy là cách có được năm 1997 tốt lành.
1. HÃY BIẾN ĐỨC CHÚA TRỜI THÀNH NGÔI NHÀ CỦA QUÍ VỊ - Câu 10
Hỡi Cơ đốc nhân, vì quí vị là đền thờ của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời đã lập nhà của Ngài ở trong quí vị. Đây là một đặc ân rất lớn. Nhưng với đặc ân như thế, thì trách nhiệm cũng đến nữa.
Đức Chúa Trời đã lập nhà của Ngài ở trong quí vị, nhưng quí vị có lập nhà của mình ở trong Đức Chúa Trời không? Vì đền thờ của Đức Chúa Trời đang ở bên trong quí vị, có phải quí vị đang sống trong ngôi đền thờ ấy, đang biệt riêng thì giờ để ở với Đức Chúa Trời?
Trong câu 10 tác giả Thi thiên bắt đầu bằng cách nói cho chúng ta biết rằng một ngày biệt riêng ra với Đức Chúa Trời thì tốt hơn một ngàn ngày dành cho ai khác, mà không có Ngài.
Tại sao phải nói như thế?
Khi tôi lập Đức Chúa Trời làm nhà của tôi, bằng cách ở riêng ra với Ngài, tôi đang biệt riêng thì giờ ra với Đấng yêu thương tôi. Đức Chúa Trời đã minh chứng tình yêu của Ngài khi Ngài dựng nên quí vị, khi Ngài sai Con Ngài đến chịu chết vì quí vị, bị chôn và đã sống lại, ban cho quí vị niềm hy vọng về sự sống lại. Đức Chúa Trời đã minh chứng tình yêu của Ngài trong ngày Ngài cứu quí vị, ban cho quí vị một quê hương ở trên trời trong tương lai, và hiện đang lập thân thể của quí vị làm nhà của Ngài.
Nếu chúng ta thực sự yêu thương ai đó, chúng ta muốn biệt riêng thì giờ với người đó. Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, và muốn dành thời gian ở với chúng ta.
Nếu chúng ta yêu mến Ngài, há chúng ta không biệt riêng thì giờ ra ở với Ngài?
Một lý do khác cho thấy một ngày trong hành lang Ngài thì tốt hơn một ngàn ngày khác, ấy là khi tôi dành thì giờ ở riêng với Đức Chúa Trời, lập Ngài làm nhà của tôi, tôi đang biệt riêng thì giờ ra ở với Đấng tôi cần phải thờ lạy và tôn kính vì Ngài chính là Đức Chúa Trời của tôi!
Thi thiên 103.1-5: “Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài! Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, chớ quên các ân huệ của Ngài. Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, chữa lành mọi bịnh tật ngươi. Cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát, lấy sự nhân từ và sự thương xót mà làm mão triều đội cho ngươi. Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, tuổi đang thì của ngươi trở lại như của chim phụng-hoàng”.
Thi thiên 66.1-2: “Hỡi cả trái đất, khá cất tiếng reo mừng Đức Chúa Trời. Hãy hát ra sự vinh hiển của danh Ngài, hãy ngợi khen và tôn vinh Ngài. Hãy thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Các việc Chúa đáng sợ thay! Nhân vì quyền năng rất lớn của Chúa, những kẻ thù nghịch Chúa đều sẽ suy phục Chúa”.
Một ngày trong hành lang Chúa cũng là tốt hơn một ngàn ngày ở chỗ khác vì tôi đang biệt riêng thì giờ của mình khi Đức Chúa Trời toàn năng là Đấng đã dựng nên vũ trụ, Ngài đã tạo thành tôi, và hiểu rõ tôi. Tôi đang tận hưởng việc ngồi nơi chơn và học hỏi từ Đấng biết rõ hơn tôi biết! Điều nầy là thực khi tôi biệt riêng thì giờ ra ở với Đức Chúa Trời.
Một ngày trong hành lang Đức Chúa Trời thì tốt hơn bỏ ra cả ngàn ngày ở chỗ khác, vì một mình Đức Chúa Trời là Đấng đáp trả lời cầu nguyện và ban cho tôi sự hướng dẫn.
Giêrêmi 33.3: “Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết”.
Thi thiên 32.8: “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi; Mắt ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi”.
Quí bạn tôi ơi, sao lại phung phí thì giờ với những điều chẳng đem lại sự cứu giúp, hy vọng hay hạnh phước chi hết.
Đây là một vài lý do cho việc để ra nhiều ngày tại gia với Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ làm như vậy chứ?
II Timôthê 2.15: “Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật”.
Thi thiên 119.14-16: “Tôi vui mừng về đường chứng cớ Chúa, như thể vui mừng về của cải hiếm hiệm. Tôi sẽ suy gẫm về giềng mối Chúa, chăm xem đường lối của Chúa. Tôi ưa thích luật lệ Chúa, sẽ chẳng quên lời của Chúa”.
I Têsalônica 5.16-18: “Hãy vui mừng mãi mãi, cầu nguyện không thôi, phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy”.
Thêm một tư tưởng nữa trước khi chúng ta rời khỏi câu 10 – Tác giả Thi thiên nói rằng thà ông làm người giữ cửa trong nhà Đức Chúa Trời hơn là ở trong trại kẻ dữ.
Một người giữ cửa trong nhà Đức Chúa Trời sẽ cần ở kề cận sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Người đang canh giữ cánh cửa. Dầu tác giả Thi thiên đang ở xa không phải là người canh cửa, ông muốn được như thế hơn là ở gần với kẻ dữ.
Đôi khi chúng ta cảm thấy rằng chúng ta rất vô nghĩa, và là thứ ở ngoài lề. Thà là như thế còn tốt hơn là sống trong chỗ sai quấy.
LẬP ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM NHÀ CỦA MÌNH ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT NĂM TỐT LÀNH.
LẬP ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM SỰ CỨU GIÚP CỦA MÌNH ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT NĂM TỐT LÀNH. Câu 11
Hãy đọc câu 11
Chúa là Mặt Trời của chúng ta. Nói như thế có ý đề cập đến sự sáng! Sự sáng chỉ ra con đường phải đi! Vì vậy Đức Chúa Trời thường cung ứng cho chúng ta ánh sáng dẫn đường. Cách đây mấy tuần, tôi phải viết một bức thư. Tôi không biết phải nói cái gì!?! Tôi cầu hỏi Chúa, và Ngài tỏ ra cho tôi đúng những điều tôi cần phải nói.
Khi nói rằng Chúa là Sự Sáng của chúng ta, tôi tin nói như thế cũng đề cập đến sự luyện lọc và sự phơi bày. Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Chúa Trời của sự sáng. Chẳng có tội lỗi, chẳng có sự bất khiết ở nơi Ngài. Ngài tỏ ra những sự bất khiết, tội lỗi mà chúng ta cần phải xử lý với trong đời sống của chúng ta. Trong căn phòng tối, quả là khó nhìn thấy bụi bặm. Trong một căn phòng sáng, nhìn thấy bụi bặm quả là điều rất dễ dàng, và làm bất cứ điều chi về thứ bụi bặm ấy.
I Giăng 1.5-7: “Nầy là lời truyền giảng mà chúng tôi đã nghe nơi Ngài và truyền lại cho anh em rằng Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm đâu. Ví bằng chúng ta nói mình được giao thông với Ngài, mà còn đi trong sự tối tăm, ấy là chúng ta nói dối và không làm theo lẽ thật. Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta”.
Không những Chúa là Đức Chúa Con của chúng ta, mà Ngài còn là cái khiên của chúng ta nữa.
Ngài hiện diện ở đó đặng bảo hộ cho chúng ta khi chúng ta có cần.
Hêbơrơ 1.13-14: “Đức Chúa Trời há có bao giờ phán cùng thiên sứ nào rằng: Hãy ngồi bên hữu ta, cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch làm bệ dưới chân ngươi? Các thiên sứ há chẳng phải đều là thần hầu việc Đức Chúa Trời, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao?”
Thi thiên 34.7: “THIÊN SỨ ĐỨC GIÊ-HÔ-VA ĐÓNG LẠI CHUNG QUANH NHỮNG KẺ KÍNH SỢ NGÀI, VÀ GIẢI CỨU HỌ”.
Không những là Chúa của mặt trời và cái khiên, mà Ngài còn cung ứng ân điển và vinh hiển nữa.
Tôi đã đối diện với những thì khó khăn trong chức vụ là một Mục sư, và Chúa đã ban cho ơn điển.
Tôi đã có trách nhiệm của việc làm cha, và Chúa đã ban cho ơn điển.
Tôi đã gặp phải một số thách thức trong cách ăn ở Cơ đốc, và Chúa tiếp tục ban cho ơn điển!
Chúa cũng ban cho sự vinh hiển nữa. Hãy suy nghĩ về điều nầy:
Đức Chúa Trời ban cho chúng ta vinh hiển của sự Ngài hiện diện trong đời sống chúng ta.
Đức Chúa Trời ban cho chúng ta vinh hiển được làm con cái của Ngài.
Đức Chúa Trời ban cho chúng ta vinh hiển được làm công dân của thiên quốc.
Đức Chúa Trời ban cho chúng ta vinh hiển được làm khâm sai của Ngài, đại biểu của Ngài với Tin Lành.
Đức Chúa Trời là sự cứu giúp thể ấy cho chúng ta nên đã lập ra một lời hứa.
Ngài sẽ chẳng giữ lại một điều tốt lành nào đối với những ai ăn ở ngay thẳng.
Đôi khi Đức Chúa Trời giữ lại những việc mà chúng ta có cần chỉ trong một lúc, hay mãi mãi. Ngài hứa chẳng giữ lại vật tốt lành nào. Nếu Ngài giữ điều đó lại, chúng ta có thể hiểu đây là một việc tốt lành, nhưng Đức Chúa Trời không hề giữ lại đâu! Đâu là đáp án? Hãy biết rằng Đức Chúa Trời có thể giữ lại việc tốt lành vì nó không tốt cho chúng ta.
Chúng ta đã giữ lấy những gì con cái chúng ta tưởng lã các thứ tốt lành, chúng ta không giao cho chúng vì chúng ta biết những điều ấy không tốt cho chúng. Đức Chúa Trời đang làm với chúng ta cũng y như vậy.
Đôi khi những việc tốt lành bị giữ lại vì chúng ta không ăn ở ngay thẳng. Kinh thánh chép: “Nếu lòng tôi có chất chứa điều ác, Đức Chúa Trời ắt chẳng nghe tôi”.
Chúng ta phải thường xem xét đời sống của chúng ta hầu biết chắc rằng chúng ta đang bước đi trên con đường ngay thẳng. Khi chúng ta xưng nhận rồi lìa bỏ tội, Đức Chúa Trời sẽ ban từng thứ tốt lành cho chúng ta.
Đúng là Đức Chúa Trời! Chúng ta có một lời hứa ở đây về sự cứu giúp của Ngài!
LẬP ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM NHÀ CỦA MÌNH ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT NĂM TỐT LÀNH.
LẬP ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM SỰ CỨU GIÚP CỦA MÌNH ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT NĂM TỐT LÀNH. Câu 11
LẬP ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM SỰ HẠNH PHƯỚC CỦA MÌNH ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT NĂM TỐT LÀNH Câu 12
ĐỌC CÂU KINH THÁNH
Chữ “phước” có ý nói tới "hạnh phúc".
Người có hạnh phúc thật biết tin cậy Đức Chúa Trời, và chỉ tin cậy một mình Đức Chúa Trời.
Khi một người thực sự tin cậy Đức Chúa Trời, người ấy (nam hay nữ) tuyệt đối chẳng có gì phải lo nghĩ vì Đức Chúa Trời đang chăm lo việc ấy.
Chúng ta không tin cậy nơi con người, có phải không!?!
Tôi tin công ty điện thoại sẽ nối máy cho tôi, tôi không phải lo gì nữa.
Tôi tin vợ tôi sẽ lo giặt ủi đồ đạt cho tôi, nên chẳng phải lo gì nữa.
Tôi tin Wade viết ngân phiếu cho tôi, nên tôi chẳng phải lo gì nữa.
Tôi chỉ cần biết khi tôi là một con cái của Đức Chúa Trời, tôi có thể tin cậy Đức Chúa Trời trong từng tình huống trong năm 1997, và tôi chẳng phải lo gì nữa! Điều nầy khiến tôi thấy hạnh phúc.
Tôi không biết quí vị sẽ đối diện với điều chi trong năm 1997 cũng như phải bận tâm đến mọi hoàn cảnh như thế nào!?! Hoàn cảnh của quí vị trong năm hầu đến sẽ có cả tốt lẫn xấu.
Tôi có thể dám chắc với quí vị rằng quí vị sẽ có một Năm Mới tốt lành nếu:
ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ NHÀ CỦA TÔI
ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ SỰ CỨU GIÚP CỦA TÔI
ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ HẠNH PHƯỚC CỦA TÔI
***