Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2010

Malachi 3.8-12: "Tôi Ăn Trộm Đức Chúa Trời Như Thế Nào?"



"TÔI ĂN TRỘM ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ THẾ NÀO?"
Malachi 3.8-12
PHẦN GIỚI THIỆU:
Có một đề tài trong sự giảng dạy khiến cho người ta thực sự bị mích lòng, và đây không phải là đề tài nói tới "tội lỗi" … hay nói tới sự tái lâm của Chúa Jêsus … hoặc "Địa ngục" … mà đó là tiền bạc!
Có nhiều người đã thờ lạy tiền bạc hơn bất cứ một hình tượng hay tà thần nào khác, và có lẽ đây là lý do tại sao nó đập mạnh vào thần kinh khi đây là đề tài của một bài giảng. Thêm nữa, chẳng có một thứ nào khác trong cuộc sống chạm đến từng lãnh vực của cuộc sống chúng ta nhiều hơn là tiền bạc, trừ chính mình Đức Chúa Trời ra. Tiền bạc có thể được sử dụng cho điều thiện hay điều ác, nó rất cần thiết cho cuộc sống. Có lẽ đây là lý do tại sao Chúa Jêsus phán về chức năng quản lý hay các vấn đề về tiền bạc ở 17 trong 36 thí dụ mà Ngài đã đưa ra … gần phân nửa!
Đây là một việc khi thế gian có một thái độ xấu về tiền bạc đã được đem dâng cho Đức Chúa Trời, hồ như bạn cũng nghĩ như thế, nhưng nhiều lần không phải người chưa được cứu phải nổi giận khi đề tài dâng hiến được đưa ra … mà là những người nhìn biết Đức Chúa Trời!
MINH HOẠ:
Một câu chuyện kể về một người có tiền của bước tới đóng góp cho một cuộc vận động về tài chính. Nhu cần cấp bách và trường hợp bắt buộc đã được trình bày, và sự kêu gọi phần tài trợ của ông ta đã được đưa ra. Người kia đáp: "Tôi hiểu lý do tại sao ông nghĩ tôi có thể hiến 15.000USD. Tôi là một người với sự kinh doanh riêng và, thực vậy, tôi có tất cả những dấu hiệu về sự giàu có. Nhưng có một số việc mà ông chưa biết. Ông có biết rằng mẹ tôi đang ở trong một ngôi nhà của nữ điều dưỡng rất đắt tiền không?" Đúng là chúng ta không biết được rồi. "Anh có biết không, em tôi đã qua đời, và rời bỏ gia đình chúng tôi năm người ở lại và chẳng có một bảo đảm nào cả?" Không, chúng ta không biết đâu. "Ông có biết con trai của tôi đời sống tôn giáo rất sâu sắc, nó đã đi vào công việc xã hội, làm cho cấp độ nghèo khó của tình trạng của xứ sở giảm đi và làm thoả mãn mọi nhu cần của nhân loại?" Không, chúng tôi cũng chẳng biết đâu. "Được thôi, thế rồi, nếu tôi không dâng cho bất kỳ ai trong số họ một đồng xu, thì lý do tại sao ông nghĩ là tôi sẽ dâng đồng xu ấy cho ông?" -- Donald E. Messer -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988) pp. 239-240.
Về nguyên tắc, trong khi hầu hết Cơ đốc nhân đều đồng ý rằng chúng ta nên dâng một điều gì đó cho Đức Chúa Trời, dường như tiền bạc trở thành một quyền lực, không bao lâu nữa chúng ta sẽ có nhiều hơn, có một cấp độ ngần ngại lớn lao hơn không muốn trao nó cho Đức Chúa Trời hay cho ai khác.
MINH HOẠ.
Con trai tôi 14 tuổi là Joel Porter, có việc làm trong năm nay. Nó nhận được lương chính thức lần đầu tiên. Nó rất xúc động. Nó về tới nhà và trình cho tôi xem sổ lương của nó. Kế đó, nó chạy ùa vào phòng Mẹ nó rồi nói: "Mẹ biết không, con đã suy nghĩ về số tiền nầy và con không chắc là con có thể dâng phần mười". Nó có nhiều tiền ở trong tay hơn nó từng có trước đây, và điều chi xảy ra? Đột nhiên chúng tôi nói: "Con thực sự cần số tiền nầy cho chuyện khác ư?" Thoát ra từ miệng của một thiếu niên 14 tuổi, rất thực như bổn tánh của nó, là cả câu hỏi nầy: "Con đặt Đức Chúa Trời ở đâu chứ?" Có phải Ngài là trên hết? Phải chăng Ngài thuộc hàng thứ nhì? Liệu Ngài ở hàng thứ năm chăng? Có phải Ngài thuộc vào hàng thứ hai mươi ba trong đời sống của tôi? Đức Chúa Trời đang ở đâu? -- John Maxwell, "God's Trust Test," Preaching Today, Tape No. 156.
Bổn tánh tội lỗi của chúng ta có một thời điểm khó nhọc không muốn dâng cho Đức Chúa Trời. Đây là một câu chuyện xưa rồi, Israel cũng khám phá ra dâng hiến vốn khó khăn là dường nào, và cũng thấy khó khăn nhiều hơn nữa khi KHÔNG dâng hiến cho Đức Giêhôva!
Kinh thánh dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời xem trọng cách sử dụng tiền bạc, chúng ta không nói tôn kính Đức Chúa Trời với lời lẽ mà không tôn kính với ví tiền của chúng ta. Từ chối không dâng hiến cho Đức Chúa Trời là ngang với việc trộm hay cướp của Đức Chúa Trời và nhơn đó dời chúng ta ra khỏi nhiều ơn phước của Đức Chúa Trời. Thờ lạy BAO GỒM việc dâng hiến của cải của mình với sự công nhận rằng Đức Chúa Trời là chủ nhân hợp pháp của muôn vật.
I. CĂN BỊNH NGUY HIỂM NƠI NGƯỜI DÂNG HIẾN! (3.8-9)
A. Được kêu gọi phải trình sổ (3.8)
1. Đức Chúa Trời bắt đầu tiểu đoạn nầy với một bản cáo trạng, Israel đã nổ lực để "ăn trộm" của Đức Chúa Trời!
a. Ăn trộm của con người là một việc, còn ăn trộm của Đức Chúa Trời thực sự là rút ruột từ bên trong!
b. Nhưng đây đúng là ngôn ngữ mà Đức Chúa Trời sử dụng về thất bại của họ không dâng hiến cho Ngài!
2. Đáp ứng của họ trước mạng lịnh của Đức Chúa Trời chỉ là: "Chúng tôi ăn trộm Chúa ở đâu?"
a. Đồng thời, họ nổi giận với Đức Chúa Trời vì không chúc phước cho họ, họ kháng cự không dâng hiến cho Đức Chúa Trời phần mười cùng các của dâng của họ.
b. Đây là một sự mỉa mai, họ không thích Đức Chúa Trời giữ lại các ơn phước của Ngài, nhưng họ lại cầm lại của dâng, không dâng lên cho Ngài và không nhìn thấy điều chi sai trái với việc làm đó!
3. Thế gian xem việc dâng hiến cho Đức Chúa Trời là một việc rồ dại, nếu bạn cần dâng điều gì thì chỉ dâng ít ít thôi.
MINH HOẠ.
Trong nhiều năm chúng tôi sinh sống trong một thị trấn nhỏ kia với một nhà băng và ba nhà thờ. Sáng sớm thứ Hai nọ, nhà băng kêu gọi ba nhà thờ đó với cùng một lời mời mọc: "Quí vị có thể đem tiền dâng của ngày Chúa nhựt đến ngay được không? Chúng tôi hết tiền lẽ 1 USD rồi" -- Clara Null, Oklahoma City, Oklahoma, Christian Reader, "Lite Fare."
a. Trong khi thế gian không mong đợi nhiều từ sự dâng hiến của chúng ta, Đức Chúa Trời mong đợi!
b. Tại sao?
(1. Vì điều ấy tỏ ra sự đầu phục của chúng ta đối với quyền chủ tể của Đức Chúa Trời.
(2. Điều ấy khiến chúng ta nhận ra rằng mọi sự chúng ta có đều đến từ bàn tay của Ngài, chớ không phải do tài khéo của chính chúng ta đâu.
(3. Chúng ta hãy giữ sự khiêm nhường, chúng ta không làm chủ muôn vật đâu!
(4. Điều ấy ngăn cản chúng ta không thờ lạy "của cải".
(5. Khi chúng ta học biết dâng hiến các thứ vật chất của mình, dâng những thứ phi vật chất của chúng ta cho Đức Chúa Trời là điều rất dễ dàng hơn, tỉ như linh hồn của chúng ta!
B. Sự rủa sả được phóng ra! (3.9)
1. Sự keo kiệt đã đặt họ ở dưới một lời ruả sả … Sự lựa chọn lời lẽ là của Đức Chúa Trời, chớ không phải của tôi!
a. Cựu Ước có những điều khoản gồm cả "lành" và "dữ" – Phục truyền luật lệ ký 11.29: "Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi khiến ngươi vào xứ đặng nhận lấy, thì phải rao sự chúc lành trên núi Ga-ri-xim, và sự chúc dữ trên núi Ê-banh".
b. Vâng lời đem lại những điều lành, còn bất tuân đem lại những điều dữ.
c. Sự lựa chọn và chất lượng đời sống của họ đều nương theo những lựa chọn họ đưa ra về việc vâng theo hay không vâng theo giao ước.
2. Vì họ đã chọn bất tuân đối với giao ước đã được lập với Đức Chúa Trời, giờ đây họ đang kinh nghiệm những sự chúc dữ … tuy nhiên, mọi việc có thể thay đổi nếu họ chịu thay đổi!
3. Chúng ta đổ thừa cho Đức Chúa Trời rất nhiều về những rối rắm trong cuộc sống của chúng ta, đủ thứ điều mà chúng ta đang kinh nghiệm.
4. "Ăn trộm" của Đức Chúa Trời là sự chọn lựa tệ hại nhất mà họ đã đưa ra, họ sẽ chẳng kiếm được gì vì giữ lấy những thứ thuộc về Đức Chúa Trời, thực vậy, họ đang đánh mất tất cả những sự chúc lành của Đức Chúa Trời!
a. Đây là một ý niệm rất khó nắm bắt cho một số người … dâng hiến cho Đức Chúa Trời không khiến cho bạn còn lại ít ỏi đâu, mà bạn còn kiếm được rất nhiều nữa đấy!
b. Đức Chúa Trời luôn luôn là thành tín giúp đỡ cho những ai biết vâng theo các đường lối của Ngài, và dâng hiến là một trong những đường lối của Ngài!
5. Israel đã khám phá ra rằng bởi việc ăn trộm của Đức Chúa Trời, họ càng suy thoái, chớ không phải được lợi bao giờ.
MINH HOẠ.
Ở vùng Trung Đông thuộc kỷ nguyên Cựu Ước, không phải là bất thường khi nhìn thấy con chim phượng hoàng bay xà xuống cướp lấy của dâng ngay trên bàn thờ đang khi nó được xông khói. Nhưng, con chim phượng hoàng khi làm vậy, nó thấy một sự ngạc nhiên rất lớn khi quay về tổ để chia sẻ con sinh vừa cướp được với các con nhỏ của nó. Thường thì của lễ bị cướp đi có mấy hòn than còn nóng dính theo, khi nó bị cướp phăng đi khỏi bàn thờ, những hòn than nóng bị dính trong thịt khi nó đang được xông khói. Những đóm than nóng nầy sẽ tiếp tục bám vào của lễ và nóng hơn khi con chim phượng hoàng sà xuống cắp lấy. Khi chim mẹ đưa của lễ kia vào trong tổ cho con nhỏ của nó ăn, những hòn than nóng đó mau chóng làm cháy tổ chim và con nhỏ nó sẽ mau chóng bị giết chết bởi ngọn lửa, và cái tổ chim phải xây dựng lâu ngày kia sẽ nhanh chóng bị đốt cháy trong khói lửa, khiến cho chim mẹ phải thấy cần thiết lo khởi sự xây dựng lại cái tổ khác, và lo nuôi lứa chim con khác. Đánh cướp lấy của dâng ra khỏi bàn thờ của Đức Chúa Trời không thuộc về chúng phải trả giá bằng cả cái tổ cùng sinh mạng của chim con, thứ ấy không phải là của chúng, không nên lấy đi như vậy. -- Copied -- unknown source
6. Thật là mỉa mai, họ rất rồ dại vì Đức Chúa Trời đã cầm giữ lại những ơn phước không ban cho họ khi họ giữ lại phần mười và các thứ của dâng không dâng cho Ngài, mù loà dường bao!
II. THÁCH THỨC CỦA NGƯỜI DÂNG (3.10-12)
A. Thách thức được chấp nhận (3.10)
1. Đức Chúa Trời hiến cho họ một giải pháp theo hình thái một sự thách thức, mọi việc sẽ thay đổi cho họ.
a. Hãy chú ý sự thách thức cho rõ ràng: "Các ngươi hãy đem HẾT THẢY PHẦN MƯỜI vào kho … KHÁ LẤY ĐIỀU NẦY MÀ THỬ TA, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, …"
b. Sự thách thức không nhằm vào việc khởi sự theo cách càng lúc càng tăng, sự thách thức là đem HẾT THẢY PHẦN MƯỜI … một bước đòi hỏi đức tin!
c. Không có đức tin thì không có thế ở cho đẹp lòng Đức Chúa Trời được!
2. Vấn đề ở đây là TIN CẬY … họ phải TIN CẬY Đức Chúa Trời chăm sóc họ nếu họ thực thi phần của họ trong việc dâng HẾT THẢY PHẦN MƯỜI, không phải một phần, mà là hết thảy!
a. Phần mười thực sự là vấn đề tin cậy, không phải nơi tiền bạc mà là nơi Đức Chúa Trời!
b. Bạn có thể tin ai nhiều hơn?
MINH HOA.
Một tín đồ của Hội thánh đang gặp rắc rối với ý tưởng dâng phần mười. Ngày kia, ông ta tỏ ra những điều hồ nghi với vị Mục sư của mình. "Thưa Mục sư, tôi thấy mình không thể dâng phần mười thu nhập trong khi tôi phải ôm lấy cả đống hoá đơn như thế nầy". Vị Mục sư đáp: "John ơi, nếu tôi hứa tạo ra sự khác biệt nơi các hoá đơn của ông nếu ông thiếu hụt, ông có nghĩ là ông sẽ thử dâng phần mười chỉ một tháng thôi sao?" Sau khi suy nghĩ một lúc, John đáp: "Được, nếu ông hứa lo chỗ thiếu hụt của tôi, tôi nghĩ tôi có thể dâng phần mười trong một tháng thôi". Vị Mục sư nói tiếp: "Bây giờ, ông nghĩ sao về việc dâng phần mười". "Ông nói ông sẽ bằng lòng đặt lòng tin cậy của ông vào một người như tôi, là kẻ chỉ có ít của cải, nhưng ông không thể tin cậy Cha thiên thượng của mình là Đấng sở hữu cả vũ trụ sao!" Chúa nhựt sau, John đã dâng phần mười của mình, và đã trung tín dâng như thế từ dạo ấy. -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988), p. 461.
3. Quả là mỉa mai khi có những người có xu hướng ít tin cậy vào Đức Chúa Trời hơn là tin cậy vào tiền bạc của họ trong khi những kẻ có ít tiền bạc lại có lòng tin cậy rất lớn nơi Đức Chúa Trời!
a. Về mặt lịch sử đây luôn luôn là trường hợp.
b. Bà goá phụ đã dâng 2 đồng xu của mình, mọi sự bà ta đã có trong thời Chúa Jêsus đang khi kẻ giàu thường chỉ ném mấy đồng xu lẽ mà thôi.
Đôi khi chẳng có gì làm rối trí chúng ta với nhiều tiền bạc, nhìn xem Đức Chúa Trời là điều dễ dàng hơn!
MINH HOA.
Một số người của chúng ta tiếp tục chuyến hành trình truyền giáo ở Đông Âu cách đây mấy tuần. Khi họ quay trở về, họ kể cho tôi nghe thực sự họ có ấn tượng với sự dâng hiến của Cơ đốc nhân tại xứ Rumania. Cơ đốc nhân ở đó không có nhiều tiền, nhưng họ tin họ phải dâng phần mười. Họ nghĩ đấy là tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời. Nhưng nhà cầm quyền xứ Rumania thì rất là hà khắc, và họ được phép chỉ dâng 2,5% thu nhập của họ cho các tổ chức từ thiện. Họ đang ra sức thu nhỏ lại cơ hội cho bất cứ tổ chức nào chống lại nhà cầm quyền. Cho nên, người Rumania đang tìm những kẻ hở trong luật pháp, hầu cho họ có thể dâng trọn phần mười. Những Cơ đốc nhân người Rumania có ít tiền bạc lắm, và họ tìm cách để dâng 1/10. Chúng ta có nhiều tiền, và chúng ta được tự do dâng hiến khi chúng ta đẹp lòng. Thực ra, chúng ta tạo ra thế phá vỡ thứ thuế ấy khi làm như vậy, và chúng ta đang tìm những kẻ hở trong Kinh thánh để tránh dâng phần mười. Đúng là điều phải lên án. -- Bob Russell, "Take the Risk," Preaching Today, Tape No. 143.
5. Đây là chỗ duy nhứt trong Kinh thánh ở đó chúng ta được mời gọi hãy "KHÁ LẤY ĐIỀU NẦY MÀ THỬ TA" rồi nhìn xem coi điều nầy có tác động và có thực hay không!?!
a. Nhiều lần trong Kinh thánh nói chúng ta không "nên thử Chúa" trừ ra ở đây!
b. Một là nó có tác động, hoặc không có tác động, và bạn có quyền "lấy điều nầy mà thử Chúa".
c. Rõ ràng họ muốn Đức Chúa Trời chúc lành TRƯỚC HẾT, tiếp đến họ sẽ dâng, nhưng sự việc không tác động theo cách nầy. Sự thực, ấy là NẾU Đức Chúa Trời chúc phước trước hết, họ sẽ tìm nhiều lý do tại sao họ vẫn không thể dâng phần mười, đấy là lý do tại sao chúng ta phải khởi sự TRƯỚC HẾT!
6. Có một sự tự do và vui mừng xảy đến khi chúng ta chỉ tin cậy Đức Chúa Trời với việc chăm sóc chúng ta, khi chúng ta đáp ứng bằng đức tin trong lãnh vực dâng phần mười cùng các của dâng nầy.
a. Điều nầy nhất định giúp đỡ lòng tin và sự chúng ta tin cậy nơi Đức Chúa Trời phải tấn tới khi chúng ta trung tín trong sự dâng hiến của mình.
b. Chúng ta học hỏi để thể hiện ra mỗi tuần trong sự tin cậy lúc chúng ta dâng phần mười.
MINH HOẠ.
Có tiếng gõ nơi của lều của một vị giáo sĩ ở châu Phi. Sau khi trả lời, vị giáo sĩ thấy một trong những thiếu niên bản xứ cầm con cá lớn ở trong tay. Cậu thiếu niên ấy nói: "Thưa Mục sư, ông đã dạy chúng con phần mười là gì, vì vậy ở đây – con đem đến cho ông phần mười của con". Khi vị giáo sĩ cầm lấy con cá với vẻ biết ơn, ông hỏi cậu thiếu niên ấy: "Nếu đây là phần mười của con, thì chín con cá kia đâu?" Nghe xong, cậu thiếu niên ấy bật cười rồi nói: "Ồ, chúng bơi trở lại sông rồi. Giờ đây con quay trở lại để bắt chúng”. -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988), p. 458.
7. Đức Chúa Trời hoàn toàn trong sáng về những gì họ có thể trông đợi trong vai trò một quốc gia khi họ học biết sống trung tín trong sự dâng hiến của họ … những cánh cửa sổ của thiên đàng sẽ mở ra và phước hạnh của Ngài sẽ đổ ra với số lượng lớn lao hơn là họ trông đợi nữa.
a. Điều nầy nghe giống như "đầu tư nội bộ" … những kết quả được đảm bảo trước khi đầu tư!
b. Họ sẽ rơi vào chỗ sai lạc như thế nào? Do không dâng hiến!
c. Thực sự chẳng có gì phải mất cả, chỉ có lợi mà thôi!
8. Không có điều chi phải thay đổi nơi Đức Chúa Trời … và buồn thay, với nhiều người ngày nay không có gì thay đổi, họ đã cầm giữ lại không dâng phần mười và các của dâng cho Đức Chúa Trời.
MINH HOẠ.
Một người đến gặp vị Mục sư để hỏi han đôi ba việc. Ông ta rất tin tưởng về việc dâng phần mười, ông ta thường dâng phần mười rất trung tín khi tiền lương mỗi tuần của ông ta chỉ có 250USD. Giờ đây ông ta làm ra 1.000USD một tuần và xưng nhận với Mục sư rằng ông ta đã vật vã với ý tưởng dâng phần mười với số lương cao như thế, nhưng ông ta chẳng có vấn đề gì với việc dâng phần mười ở số lương 250USD một tuần. Ông ta xin Mục sư cầu nguyện cho ông ta, đây là lời cầu nguyện của vị Mục sư: "Lạy Cha, làm ơn đưa người nầy quay lại với tiền lương 250USD một tuần để ông ta có thể quay trở lại với ý chỉ của Ngài và vui vẻ dâng hiến". Không như những gì ông trông mong, nhưng lời cầu nguyện ấy có hiệu quả nơi người tín đồ kia! –nguồn vô danh.
B. Giao ước bị thử nghiệm! (3.11-12)
1. Những kết quả nơi sự trung tín của họ trong việc dâng hiến cho Đức Chúa Trời không những rất rõ ràng đối với họ, mà nó còn rõ ràng đối với nhiều người khác nữa, thậm chí với các dân khác!
a. Đức Chúa Trời sẽ tôn cao mặt giao ước của Ngài, Ngài chúc phước cho họ và giúp đỡ cho mùa màng của họ … dấu hiệu của sự thịnh vượng.
b. Các dân khác sẽ lấy làm ngạc nhiên khi thấy thể nào Đức Chúa Trời đã chúc phước cho họ.
c. Họ sẽ trở thành giỏ bánh của thế gian, một phòng trưng bày những gì có thể xảy ra với sự trợ giúp của Đức Chúa Trời.
2. Các nguyên tắc của Đức Chúa Trời vận hành, và những kết quả có thể thấy được bằng mắt thường và có thể thử nghiệm được trong lãnh vực nầy.
a. Ngay cả tình hình ở trong xứ cũng sẽ thay đổi, đất ấy sẽ trở thành "đất vui thích".
b. Vui mừng là sản phẩm của sự dâng hiến!
MINH HOẠ.
Giáo sĩ hệ phái Trưởng lão mà tôi đến thăm tại Ghana cho tôi biết một việc rất thú vị về Hội thánh Trưởng lão tại xứ Ghana. Tín đồ Trường lão là nhóm Cơ đốc lớn nhất tại xứ ấy. Nhà thờ được thiết lập cách đây hơn 100 năm bởi các tín hữu Trưởng lão Tô cách Lan, và buổi thờ phượng của họ rất đông giống như buổi thờ phượng của người Tô cách Lan vậy. Mới đây họ đã cho phép kinh nghiệm truyền thống của người châu Phi vào trong sự thờ phượng lúc dâng hiến. Đến giờ dâng hiến, họ để cho dân sự nhảy múa. Đó là một phần văn hoá của người châu Phi trong sự thờ phượng thuộc linh, tôn giáo. Họ để cho dân sự nhảy múa khi họ đem những của dâng lên phía trước nhà thờ. Thực sự họ đã quì xuống. Âm nhạc trổi lên, và họ từng cá nhân nhảy múa khi họ đem của dâng đến đĩa dâng hiến. Họ cũng chiếm nhiều thì giờ nữa. Cuộc dâng hiến tiếp tục trong một thời gian dài vì họ nhảy múa suốt dọc cầu thang. Đây là thời điểm mà họ mỉm cười trong suốt buổi thờ phượng. Tôi nghĩ, thú vị thay. Thì giờ duy nhứt trong buổi thờ phượng khi họ mỉm cười là lúc họ dâng hiến tiền bạc của mình. -- Don McCullough, "Whom Do You Serve?" Preaching Today, Tape No. 110.
3. Họ không mất mát gì, đất đai của họ sẽ trở thành một khuôn mẫu những gì xảy ra với sự dâng hiến rời rộng … Đức Chúa Trời chúc phước cho xứ sở nào biết dâng hiến!
a. Điều nầy vẫn còn là sự thực … ngay cả chính Quốc Gia của chúng ta đang tỏ ra điều nầy!
b. Nói chung, những người dâng hiến thường là hạng người rất hạnh phúc.
4. Có một ý thức rất kỳ diệu về sự bình an của Đức Chúa Trời ở trong lòng chúng ta khi chúng ta sống trung tín với Đức Chúa Trời trong lãnh vực nầy của cuộc sống chúng ta, vì tiền bạc tiêu biểu cho mọi sự chúng ta đang làm theo cách nầy hay cách khác.
a. Thà là tin cậy nơi Đức Chúa Trời còn hơn là tin cậy vào chính tiền bạc.
b. Ngay cả đồng tiền của chúng ta nói tốt nhất: "In God We Trust" (chúng ta tin cậy nơi Đức Chúa Trời) … nguyện cứ luôn luôn là như thế!
5. Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn làm việc tốt hơn với sự chúc lành cho bạn hơn là bạn có thể làm để chúc lành cho mình!
MINH HOẠ.
Trong thời buổi có nhiều cửa hàng trong xứ, một cậu bé thường đi mua sắm với mẹ. Nhân viên bán hành luôn luôn nói: "Nầy cháu, cầm lấy cây kẹo nè". Nhưng cậu ta không dám cầm. Nhân viên bán hàng sẽ đến gần cái hộp và trao cho nó. Ngày kia, mẹ nó hỏi: "Sao kỳ vậy, ông ấy yêu cầu con cầm lấy, con không cầm?" Cậu bé đáp: "Vì hai bàn tay của ông ấy to hơn hai bàn tay của con" -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
a. Vậy, lý do tại sao không để cho Ngài chúc lành chứ?
b. Bạn đang ở trong hai bàn tay nhơn lành với ĐỨC CHÚA TRỜI!
6. Vậy, có phải bạn sẽ thử Đức Chúa Trời hay không thử? Đức Chúa Trời phán: "HÃY LẤY ĐIỀU NẦY MÀ THỬ TA".
PHẦN KẾT LUẬN. Tại sao Đức Chúa Trời quan tâm đến việc dâng phần mười? Há Ngài không "sở hữu" muôn vật rồi sao? Về mặt cơ bản, dâng hiến có hai việc: (1. Dâng hiến chứng tỏ hiển nhiên CHÚNG TA công nhận rằng Đức Chúa Trời có quyền chủ tể trên muôn vật; (2. Dâng hiến bao gồm toàn bộ linh hồn chúng ta trong sự thờ phượng. Sự thực, ấy là người nào (nam hay nữ) không giao thác cho Đức Chúa Trời những thứ vật chất trong đời sống của họ là không ký thác phần phi vật chất trong đời sống họ cho Đức Chúa Trời! Nếu luật pháp không mong tới 10% hãy nghĩ xem tình yêu thương sẽ làm gì nào! Đức Chúa Trời yêu kẻ thí của cách vui lòng, bạn vui lòng ở tầm cỡ nào?
***

Malachi 3.6-7: "Tại Sao Tôi Phải Ăn Năn?"



"TẠI SAO TÔI PHẢI ĂN NĂN?"
Malachi 3.6-7
PHẦN GIỚI THIỆU.
Có nhiều việc trong vũ trụ nầy không bao giờ thay đổi, nếu chúng thay đổi chúng ta sẽ không sử dụng khoa học để nói trước được việc gì. Cấu trúc phân tử của các nguyên tố luôn luôn không đổi, các định luật vật lý được xem là bất biến hoặc chúng ta không thể tiên đoán được điều chi là chắc chắn. Ngay cả những nhà vật lý đang ra sức khám phá một sự bất biến trong vũ trụ mà họ tin đang tồn tại hầu giúp xây dựng Lý thuyết Grand Unified (viết tắt là G.U.T), họ tin lý thuyết nầy sẽ mở ra đủ loại tri thức về vũ trụ hiện đang làm cho nhân loại phải mù mờ .
Có một sự bất biến trong vũ trụ … ĐÓ LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI! Ngài không hề thay đổi, Ngài là một sự bất biến mà bạn không thể tính được. Đây là một điều cung ứng cho chúng ta sự yên ủi, vì nếu Đức Chúa Trời thay đổi chúng ta sẽ không bao giờ biết được từ thế hệ nầy sang thế hệ kia những gì Ngài mong muốn hay Ngài là ai. Sự thực Ngài không thay đổi có nghĩa là chúng ta có thể có từng thế hệ khám phá Ngài rồi chuyển giao những lẽ thật quan trọng đó từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.
Mỉa mai thay, chúng ta lại thích sự thay đổi rồi đánh trận với sự đổi thay đó cùng một lúc. Chúng ta thích như thế là vì nó giúp chúng ta lớn lên, nhưng chúng ta đánh trận với nó là vì chúng ta thích có những việc không thể nói trước được.
MINH HOẠ.
Bức thư nầy đã được gửi cho Tổng thống Jackson vào ngày 31 tháng Giêng năm 1829 vào ngay khai mào kỷ thuật mới được gọi là xe lửa: "Kính thưa Tổng thống Jackson, hệ thống kênh đào của xứ sở nầy đang bị đe doạ bởi sự lan rộng của hình thức giao thông được biết là xe lửa. Chính quyền liên bang phải bảo vệ những tuyến kênh đào vì các lý do sau đây: Một, nếu những chiếc tàu bị thay thế bởi những chiếc xe lửa thì tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng sẽ xảy ra. Nhiều thuyền trưởng, thợ nấu ăn, tài công, người coi sóc chuồng ngựa, thầy thợ, thợ sửa khoá sẽ thất nghiệp không có công ăn việc làm, chưa nhắc tới số đông nông dân hiện đang được thuê trồng cỏ cho bầy ngựa nữa. Hai, những thợ đóng tàu sẽ chịu khổ và những nhân công chuyên làm dây thừng, dây cáp và yên cương sẽ rơi vào cảnh nghèo khó. Ba, những chiếc tàu qua kênh tuyệt đối rất quan trọng cho quốc phòng của nước Mỹ. Trong biến cố rắc rối với Anh quốc, kênh đào Erie là phương tiện duy nhứt nhờ đó chúng ta có thể tiếp viện các thứ cho chiến tranh. Nhưng Ngài và tôi đều biết rõ, kính thưa Tổng thống, các toa xe lửa bị kéo đi với tốc độ 15 dặm một giờ bởi những đầu máy chỉ gây hại thêm cho cuộc sống và hành khách, tiếng ồn và khói toả trên tuyến hành trình của chúng qua khắp xứ, gây cháy cho mùa màng, làm kinh hoảng các bầy gia súc, khiến cho phụ nữ và trẻ em phải sợ hãi. Đấng Toàn Năng chắc chắn không hề dự trù cho con người phải di chuyển với một tốc độ khiến cho người ta phải gãy cổ như thế" Kính thư, Martin Van Buren – Thống đốc bang New York. – Nguồn vô danh
Những tin tức tốt lành nói về Đức Chúa Trời, ấy là Ngài không hề thay đổi, điều nầy có ý nói rằng chúng ta PHẢI thay đổi nếu chúng ta muốn có một mối tương giao với Ngài! Tại sao chứ? Vì tội lỗi chúng ta phân rẽ chúng ta ra khỏi Đức Chúa Trời, và nếu Ngài không thể thay đổi, thì chúng ta phải thay đổi! May thay, Đấng Christ đã đến để bắc nhịp cầu ngang qua lổ hỗng đó, Ngài sống trọn vẹn cho chúng ta đến nỗi khi ở trong Ngài một lần nữa chúng ta lại có được mối tương giao với Đức Chúa Trời. Vì thế, chúng ta phải ăn năn tội lỗi của mình để bước vào ân điển của Đức Chúa Trời. Nói như vậy cũng có nghĩa là chúng ta bước theo các đường lối của Ngài chớ không được bước theo những đường lối riêng của chúng ta hầu kinh nghiệm được các ơn phước của Ngài.
Kinh Thánh dạy cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời không hề thay đổi, rồi khi chúng ta có bổn tánh là tội nhân, chúng ta không thể có mối tương giao với Đức Chúa Trời, trừ phi chúng ta ăn năn tội rồi tiếp nhận ân ban Chúa Jêsus Con của Ngài, chỉ một mình Ngài mới có thể đưa chúng ta đến với Đức Chúa Trời mà thôi.
I. BỔN TÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (3.6)
A. Không thay đổi! (3.6a)
1. Muốn hiểu rõ tính không đổi của Đức Chúa Trời thì thật là đơn giãn.
a. Vì việc chi thay đổi hay có khả năng thay đổi, việc ấy là BẤT TOÀN, vì nếu nó trọn vẹn rồi, bất kỳ một sự thay đổi nào đi nữa cũng sẽ không làm cho nó bất toàn được và vì thế không cần thiết đâu!
b. Đức Chúa Trời không thể thay đổi, Ngài là trọn vẹn và bất cứ một sự thay đổi nào sẽ không làm cho Ngài ra kém trọn vẹn được đâu.
2. Chắc chắn sự việc nầy đem lại niềm yên ủi, khi Đức Chúa Trời không thay đổi, điều nầy có nghĩa là Ngài y nguyên cho từng thế hệ, chúng ta không phải lo tái khám phá Đức Chúa Trời là ai hay Ngài giống với cái gì một khi Ngài không hề thay đổi.
a. Hết thảy chúng ta đều có thể lao động theo cùng một cách thức.
b. Chúng ta không phải lo Đức Chúa Trời là một kiểu cách cho thế hệ nầy rồi là kiểu cách khác cho thế hệ kia.
c. Những đường lối của Đức Chúa Trời đều có thể tiên đoán được dựa theo kiểu mẫu cho thấy Ngài là ai.
d. Điều nầy có ý nói sự khải thị cho thấy Đức Chúa Trời là ai có thể được chuyển tiếp qua cho từng thế hệ mà chẳng e sợ về sự đổi thay của Ngài .
3. Có mối tương giao với Đức Chúa Trời có nghĩa là chúng ta phải thay đổi một khi Ngài không thay đổi!
a. Đây là những gì con người đang chống cự, chúng ta không muốn thay đổi!
b. Chúng ta muốn Đức Chúa Trời thay đổi, chớ không phải chúng ta … chúng ta muốn Đức Chúa Trời thay đổi các luật lệ của Ngài sao cho thích ứng với chúng ta … nhưng hãy đoán xem, Ngài sẽ không thay đổi luật lệ để làm cho chúng ta thoả mãn đâu, chúng ta phải thay đổi đường lối của mình nếu chúng ta muốn được cứu!
MINH HOẠ.
Có một vị Sĩ quan Hải quân, ông ta luôn mơ đến việc chỉ huy chiếc tàu chiến. Sau cùng thì ông ta cũng đạt được giấc mơ ấy và được giao cho trọng trách chỉ huy con tàu mới nhất và đầy tự hào nhất trong hạm đội. Một tối đầy giông bão kia, khi con tàu đang rẽ sóng trên đại dương, vị thuyền trưởng đang đứng ở mũi tàu lúc sắp vào cảng, ông ta nhận ra ngọn đèn lạ đang tới gần cách nhanh chóng với con tàu của mình. Ngay lập tức ông ra lịnh cho thủy thủ ra dấu hiệu bằng đèn ghi sứ điệp như sau: "Hãy đổi hướng đi 10o Nam". Bên kia đáp lại ngay tức khắc: "Hãy đổi hướng của bạn sang 10o Bắc đi". Khi quyết định tàu của mình cứ giữ nguyên vị trí chớ không làm việc chi khác, viên thuyền trưởng ra lịnh khác nữa: "Hãy đổi hướng 10o đi – Tôi là HẠM TRƯỞNG đây!" Có lời đáp lại liền như sau: "Hãy đổi hướng đi của bạn 10o ngay – tôi là Thủy thủ cấp Ba, Jones đây". Tức điên lên được, vị hạm trưởng cầm lấy đèn hiệu với hai tay của mình rồi chớp: "Hãy đổi hướng đi ngay, tôi là tàu chiến đây". Lời đáp có theo sau tức khắc: "Hãy đổi hướng đi của bạn ngay, tôi là ngọn hải đăng đây". Bất luận chúng ta nghĩ mình lớn hay nhỏ như thế nào đi nữa, Lời của Đức Chúa Trời trụ vững như ngọn đèn hiệu không bao giờ thay đổi. Hết thảy những đường lối khác phải thay đổi so với đường lối của Ngài. -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988) p. 208.
4. Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi, các nguyên tắc của Ngài sẽ không thay đổi, Ngài không thay đổi!
a. Xã hội sẽ thay đổi, con người sẽ thay đổi, nhân loại sẽ đổi bộ luật đạo đức, còn Lời của Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi!
b. Chúng ta sẽ luôn luôn đối mặt với những quyết định phải nắm giữ điều gì, cồn cát xã hội đang sập sình kia hay vầng đá tảng Đấng Christ.
5. Nan đề của Israel trong thời của Malachi là một nan đề rất quen thuộc, họ muốn Đức Chúa Trời phải điều chỉnh theo các đường lối tội lỗi của họ thay vì ăn năn tội rồi làm những việc theo đường lối của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời sẽ không điều chỉnh cho thích ứng với họ hoặc không chúc phước cho họ .
B. Không tránh thoát được (3.6b)
1. Họ cảm thấy rằng Đức Chúa Trời đã dời đi mọi hạnh phước của Ngài ra khỏi đời sống của họ, họ đã đúng … nhưng họ muốn Đức Chúa Trời điều chỉnh chính mình Ngài theo các đường lối của họ mà vẫn chúc phước cho họ, và họ rất dại dột vì Ngài không thay đổi.
a. Họ không nghĩ rằng họ cần phải bước theo Đức Chúa Trời bởi các luật lệ của Ngài, họ muốn Đức Chúa Trời phải điều chỉnh theo mọi đường lối của họ.
b. Họ đã định rằng Đức Chúa Trời không mực thước với thời gian, nghĩa là họ rất mau lẹ còn Đức Chúa Trời thì lùi lại ở phía sau thời gian.
c. Sự kiêu căng của họ khiến cho họ phải trả giá, kiêu ngạo thường là như vậy đấy!
2. Bất cứ lúc nào chúng ta quyết định Đức Chúa Trời cần phải điều chỉnh theo chúng ta, chúng ta đã tự đặt lên cao hơn cả Ngài, và khi chúng ta tin nơi bản ngã của mình chúng ta không thể làm cho Đức Chúa Trời và người khác ra dại dột được đâu!
MINH HOẠ.
Vào năm 1715, Vua Louis XIV của nước Pháp băng hà. Louis, người tự gọi mình là "LỚN" là vị vua đã đưa ra câu nói nổi tiếng nhất: "TA LÀ NHÀ NƯỚC". Cung điện của ông ta ra huy hoàng nhất ở châu Âu, và tang lễ của ông ta rất là rực rỡ. Thi hài của ông ta được đặt trong một cổ quan tài bằng vàng. Để làm cho sự lớn lao của nhà vua quá cố kia ra long trọng hơn, nhiều lịnh lạc đã được đưa ra buộc giáo đường phải đốt đèn mờ mờ thôi, với chỉ một ngọn đèn thật đặc biệt đặt trên quan tài của ông ta hầu cho ai nấy đều nhìn thấy bối cảnh kỳ lạ nhất trong giáo đường. Hàng ngàn người đứng đợi trong im lặng, khi ấy Giám Mục Massilon bắt đầu rao giảng. Từ từ bước tới gần, ông cầm ngọn đèn kia lên rồi nói: "CHỈ CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI MỚI LÀ LỚN THÔI!" – nguồn vô danh
3. Đức Chúa Trời không quên các lời hứa phước hạnh của Ngài, tuy nhiên họ đã không sống cách vâng phục để kinh nghiệm các lời hứa ấy.
a. Họ đã giữ theo ý riêng của mình; phải, họ không tuân theo Đức Chúa Trời, nhưng rồi họ cũng chẳng nhận được ơn phước của Ngài!
b. Họ muốn phước hạnh của Đức Chúa Trời mà không theo đường lối của Đức Chúa Trời … một sự kết hợp bất khả thi!
4. Họ cứ chờ trông Đức Chúa Trời thay đổi … nhưng Ngài không thay đổi!
5. Một số người trong họ đã nghĩ rằng nếu họ bất chấp Đức Chúa Trời, họ sẽ thoải mái mà không cần có Ngài.
MINH HOẠ .
"Người ta bất chấp Đức Chúa Trời, không có nghĩa là Ngài không tồn tại" -- Croft M. Pentz, The Complete Book of Zingers (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc., 1990).
a. Đây là đường lối mà có nhiều người đang sống đời sống của họ hôm nay!
b. Một ngày kia, hết thảy chúng ta sẽ đối diện với Đức Chúa Trời dù chúng ta có muốn hay là không.
6. Tuy vậy, thực tại của Đức Chúa Trời là lý do cho sự họ tồn sinh, và đúng thế, tình trạng không thể thay đổi của Ngài là điều đã giữ họ không bị hủy diệt!
a. Đức Chúa Trời đã hứa với các tổ phụ của họ rằng Ngài sẽ bảo tồn họ.
b. Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa của Ngài … sự thực cho thấy rằng Đức Chúa Trời KHÔNG thay đổi là điều đã giữ họ được tồn tại, Đức Chúa Trời sẽ không phá vỡ Lời của Ngài! "Vì vậy, hỡi các ngươi, là dòng dõi của Gia-cốp, các ngươi sẽ không bị hủy diệt".
c. Họ ĐÁNG PHẢI VUI MỪNG khi thấy Đức Chúa Trời KHÔNG THAY ĐỔI, mặc dù vì cớ tội lỗi của họ, điều nầy đã khiến cho họ luôn tồn sinh!
7. Và sự nầy vẫn còn rất thực hôm nay!
a. Vì cớ con người lún sâu vào tội lỗi ngay hôm nay không có nghĩa là luật pháp đã thay đổi đâu, hay Đức Chúa Trời không cảm nhận về tội lỗi như trước đó, sở dĩ như thế là vì Đức Chúa Trời đang để cho thời kỳ ân điển xảy ra để chúng ta chọn bước theo Ngài, vì thế Ngài đang cho phép con người được quyền tự do lựa chọn.
b. Việc thiếu sự phán xét về tội lỗi trong hiện tại không phải là một dấu cho rằng Đức Chúa Trời đã thoải mái hoặc đã đổi ý của Ngài về mọi sự, điều nầy có nghĩa là Ngài đang gia ơn khi ban bố thì giờ cho chúng ta để ăn năn rồi bước theo Ngài đấy thôi.
8. Ngài KHÔNG thay đổi … và thậm chí trong Kinh Cựu Ước, Xuất Êdíptô ký 34.6 có chép: "Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực".
a. Điều nầy đã được thốt ra ít nhất 9 lần trong Cựu Ước!
b. Hãy xem Xuất Êdíptô ký 34.6; Dân số ký 14.18; Nêhêmi 9.17; Thi thiên 86.15; 103.8; 145.8; Giôên 2.13; Giôna 4.2; Nahum 1.3
9. Tình trạng không thay đổi của Đức Chúa Trời là điều cung ứng cho chúng ta hy vọng và sự an ninh!
II. BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI (3.7)
A. Xấc láo! (3.7a)
1. Con người luôn luôn tìm cách tái định lại Đức Chúa Trời, biến Đức Chúa Trời ra theo ảnh tượng của chính mình!
a. Đây là sự đảo lộn công cuộc sáng tạo, ở đó Đức Chúa Trời đã dựng nên con người theo ảnh tượng của chính Ngài.
b. Khi chúng ta biến Đức Chúa Trời ra theo ảnh tượng của chính chúng ta, Ngài sẽ có những sai sót và chỉ là bất toàn giống như chúng ta thôi!
2. Chúng ta thích Đức Chúa Trời sống y như chúng ta, vì khi ấy chúng ta không phải lo lắng về tội lỗi, nếu Ngài sống y như chúng ta thì khi đó chúng ta sẽ ok!
MINH HOẠ.
Giống như cậu bé kia đang vẽ chân dung cho Art Linkletter. Khi Art Linkletter hỏi cậu bé đang vẽ cái gì đó, cậu ta đáp: "Một bức tranh về Đức Chúa Trời". Linkletter nói co cậu bé biết rằng chưa có ai nhìn thấy chính xác Đức Chúa Trời giống với cái gì, cậu bé đáp liền: "họ sẽ thấy khi cháu hoàn chỉnh bức tranh nầy!" – nguồn vô danh
3. Hình tượng chẳng là gì khác hơn nổ lực của con người khi muốn tái định lại Đức Chúa Trời theo phương thức để họ được an ủi.
a. Không có gì phải ngạc nhiên, các hình tượng thường có ít đòi hỏi nơi những kẻ theo chúng, chúng đã để cho những cuộc truy hoan, chè chén thoải mái và trụy lạc để làm thoả mãn tiên vị của tội lỗi .
b. Hoặc, hình tượng sẽ đòi hỏi những sự hy sinh và mất mát thật đau đớn, mọi nổ lực hành xác mình.
4. Lịch sử chứa đầy những nổ lực của con người khi muốn nắn đúc lại Đức Chúa Trời theo ảnh tượng của chính họ … luôn luôn với những hậu quả thật tai hại cho các cá nhân cùng xã hội.
a. Đức Chúa Trời đang mời mọc họ trong câu nầy, hãy nhìn lại đi rồi thấy ngay cả các tổ phụ của họ đều đã có khuynh hướng xây khỏi Đức Chúa Trời, muốn tái tạo Đức Chúa Trời theo ảnh tượng của chính họ.
b. Ngài cũng mời mọc họ nhìn xem những gì đã xảy ra với các tổ phụ của họ trong lịch sử, những mất mát thê thảm trong cuộc sống, của một xứ sở bị bắt đi làm phu tù, về sự tan vỡ của đơn vị gia đình … hết thảy là vì họ đã quên Đức Giêhôva và thờ lạy các thứ hình tượng thay vì Đức Chúa Trời chơn thật!
c. Bất kỳ quốc gia nào xây khỏi Đức Chúa Trời cùng đường lối của Ngài vẫn sẽ kinh nghiệm loại mất mát thê thảm nầy theo thời gian, mỗi vương quốc trong hơn 6.000 năm qua đã xây khỏi Đức Chúa Trời rồi kết thúc trong đống bụi cát của lịch sử.
d. Sẽ chẳng có gì khác biệt cho nước Mỹ nếu chúng ta xây lưng lại với Đức Chúa Trời .
5. Khi con người hay một cá nhân suy nghĩ họ có thể sống tốt đẹp mà không có Đức Chúa Trời hay đường lối của Ngài, họ sẽ thấy ngay là họ sẽ thiệt mất trong lúc cuối cùng.
6. Đây là nan đề của Israel trong thời của Malachi, họ đang nhìn thấy xứ sở họ đang suy sụp vì họ đã dại dột trước mặt Đức Chúa Trời vì Ngài không chúc phước cho họ giống như Ngài đã từng làm trước kia … họ đã thất bại không nhìn xem bản ngã hay đường lối của mình để khám phá ra nan đề, họ muốn Đức Chúa Trời thay đổi, chớ không phải họ !
a. Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi vì Ngài không thể thay đổi, bất cứ một sự đổi thay nào sẽ có chỉ là tệ hại hơn thôi, một khi Ngài là trọn vẹn rồi!
b. Sự lựa chọn duy nhứt dành cho họ là phải thay đổi!
c. Đức Chúa Trời đang hy vọng rằng bởi việc dấy lên lại lịch sử của họ, họ sẽ nhìn thấy vấn đề nầy.
B. Lời mời! (3.7b)
1. Dầu trong lúc bây giờ Đức Chúa Trời đang gay gắt với họ, sự ban hiến của Ngài rất giàu ơn: "Hãy trở lại cùng ta, thì ta sẽ trở lại cùng các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy".
a. Kẻ bị bỏ không phải là Đức Chúa Trời, mà là chính họ … còn nếu họ trở lại cùng Đức Chúa Trời, họ sẽ khám phá ra rằng Đức Chúa Trời sẽ trở lại với họ ngay tức khắc!
b. Đức Chúa Trời không phát triển những luật lệ để cất bỏ đi sự vui mừng, hay làm cho cuộc sống ra tẻ nhạt đâu, Ngài có những điều luật để bảo hộ tâm trí của chúng ta … và bởi việc trở lại cùng Đức Chúa Trời họ sẽ tái khám phá ra sự vui mừng và nhiều phước hạnh một lần nữa … và một xứ sở hùng mạnh!
2. Đức Chúa Trời không lấy làm vui thích trong việc sửa phạt họ, Ngài muốn chúc phước cho họ, nhưng họ phải trở lại cùng Ngài để kinh nghiệm điều nầy.
a. Đức Chúa Trời giàu ơn đưa ra cho họ một sự ban hiến, một sự ban hiến mà họ không nên từ chối!
b. Đây là tấm lòng của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ chúc phước cho bất kỳ linh hồn nào biết trở lại cùng Ngài.
3. Đức Chúa Trời sẽ tiếp nhận chúng ta mau chóng là dường nào, mọi sự chúng ta cần phải làm là thành thực xưng ra nhu cần của mình về Ngài, hãy trở lại cùng Ngài và chúng ta sẽ tìm được sự tự do không có tội lỗi và hình phạt!
MINH HOẠ.
Lloyd H. Steffen đã viết trong thế kỷ Cơ đốc thể nào khi Vua Frederick II, một vị vua xứ Prussia vào thế kỷ thứ 18, đến thăm quan một nhà tù tại Berlin, những tù phạm đều tìm cách minh chứng cho ông thấy thể nào họ đã bị bỏ tù rất bất công. Tất cả đều bất công, chỉ trừ một người. Người đó đã ngồi yên lặng trong một góc, trong khi phần còn lại đang cố sức trình bày sự vô tội của họ. Khi nhìn thấy người nầy ngồi ở đó, yên lặng trước sự lộn xộn kia, nhà vua đến hỏi ông ta tại sao ông ta có mặt ở đó: "Tâu Bệ Hạ, cướp có vũ trang". Nhà vua hỏi: "Ngươi có phạm tội không?" Ông ta đáp: "Thưa Bệ Hạ có ạ! Tôi xứng đáng với án phạt của tôi". Khi đó, nhà vua mới truyền cho lính canh: "Hãy thả kẻ tội đồ nầy ra. Ta không muốn hắn làm hư hỏng tất cả những kẻ vô tội nầy" -- Donal W. Brenneman APO, Miami, Florida. Leadership, Vol. 12, no. 2.
4. Thắc mắc của họ là: "Bởi đâu chúng tôi sẽ trở lại?"
a. Câu nói nầy chỉ ra một sự cứng cỏi của tấm lòng, họ biết rõ ăn năn đường lối của họ có nghĩa gì rồi, một việc mà họ không sẵn lòng làm theo.
b. Họ cần phải tiếp nhận Đức Chúa Trời y như vậy, không phải theo ý thích của họ .
c. Tất nhiên điều nầy có nghĩa là họ phải xưng nhận rằng họ đã sai lầm và sẽ thay đổi … Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi, họ phải thay đổi!
d. Họ không thích ý tưởng là họ cần phải thay đổi, đây là cốt lõi của tội lỗi!
5. Đức Chúa Trời cung ứng cho cơ hội, nhưng Ngài không ép buộc chúng ta … thất bại của họ không chịu ăn năn rồi vì thế trở lại cùng Đức Chúa Trời sẽ có nghĩa là sự sụp đổ của vương quốc họ, một việc xảy ra sau đó vì họ cứ khăng khăng trong tội lỗi của họ.
a. Còn chúng ta thì sao? Có phải chúng ta đòi hỏi rằng Đức Chúa Trời đang xoay quanh ý tưởng của chúng ta?
b. Có phải chúng ta cần ăn năn rồi trở lại cùng Đức Chúa Trời không?
c. Chúng ta có thể có cùng tình trạng cứng lòng mà Israel đã có và cũng đánh mất ơn phước của Đức Chúa Trời trên đời sống của họ nữa!
6. Khi một sự thay đổi là cần thiết, hãy nhớ ai phải chịu thay đổi … CHÚNG TA!
PHẦN KẾT LUẬN. Khi điều chi trọn vẹn rồi, nó không thể thay đổi, trừ phi nó chưa trọn vẹn đủ kìa. Khi Đức Chúa Trời đã trọn vẹn rồi, Ngài không thể thay đổi, bất cứ một sự đổi thay nào diễn ra sẽ có nghĩa là chưa đủ trọn vẹn. Khi Ngài không thay đổi, chúng ta phải thay đổi nếu chúng ta muốn có một mối tương giao với Đức Chúa Trời. Israel đã cảm thấy Đức Chúa Trời xa xăm lắm – nhưng không phải như vậy là vì Đức Chúa Trời đã thay đổi đâu, sở dĩ như thế là vì họ đã lìa bỏ Đức Chúa Trời và lẽ thật của Ngài. Giải pháp duy nhứt dành cho họ là phải thay đổi … trở lại cùng Đức Chúa Trời. Con đường trở lại cùng Đức Chúa Trời phải đi ngang qua sự ăn năn. Liệu bạn sẽ chịu thay đổi hầu cho bạn sẽ nhận biết sự vui mừng cùng ơn phước của Ngài?
***

Malachi 2.17-3.5: "Hầu Việc Đức Chúa Trời: Có Gì Khác Biệt?"



"HẦU VIỆC ĐỨC CHÚA TRỜI: CÓ GÌ KHÁC BIỆT?"
Malachi 2.17 - 3.5
PHẦN GIỚI THIỆU.
Thế gian đầy dẫy sự bất công … và đôi khi điều nầy làm cho chúng ta cảm thấy chúng ta sống nhơn đức thế nào đi nữa thì không ăn thua gì cả, đặc biệt khi những kẻ làm ác dường như chẳng bị phạt vạ gì cả.
Chúng ta sống như thế nào có tạo ra điều chi khác biệt không? Liệu những kẻ làm ác luôn luôn thoải mái với tội lỗi của họ chăng? Chắc có một thời điểm, khi mọi người đều sẽ bị phán xét không?
Điều nầy đang TẠO RA một sự khác biệt trong cách sống của chúng ta … và sẽ có một thời khi điều nầy được thể hiện ra rõ nét ngay cả khi nó không luôn luôn xảy ra trong lúc bây giờ!
Hết thảy chúng ta đều thích sự công bình ngay ở đây và trong lúc bây giờ, nếu mọi sự đều giống như sự nầy.
MINH HOẠ.
Sẽ không hay sao nếu đây là loại công bình luôn luôn xảy ra, hãy xem xét những câu chuyện có thực sau đây. Có một phụ nữ kia sống ở Prague trong xứ Cộng Hoà Tiệp Khắc. Bà ta khám phá ra chồng mình đã không chung thủy với bà, và cảm thấy ông ấy luôn như vậy, trong khi một mình bà chịu khổ, bà đã quyết định nhảy qua cửa sổ tự tử. Bà đã nhảy qua cánh cửa ấy và sẽ chết mất từ cú ngã ở tầng lầu ba, nhưng bà ta rơi trúng một người đi ở dưới đường, ông ta bị thương nặng, còn bà thì không sao, rủi ro thay, cú ngã lầu đó đã giết chết người kia – là kẻ đã phải chết do người chồng không chung thủy của bà ta! Hoặc giống như kẻ tình nghi buôn bán ma túy nọ. Cảnh sát dường như không bao giờ muốn bắt ông ta. Ngày nọ, ông nầy gọi một trong mấy kẻ buôn bán kia, họ mắc nợ tiền thuốc của ông ta và sau đó có người trả tiền cho ông ta, nhưng tình cờ hắn ta quay số không đúng … rồi bị bắt vào đồn cảnh sát, sau khi thẩm tra viên cảnh sát thấy được số phone của người bị tình nghi kia … viên cảnh sát đón ông ta với hai cánh tay rộng mở … và chiếc còng tay, họ đã bắt ông ta với bằng chứng trong tay.
Hoặc như kẻ cướp ngân hàng đã tìm cách đánh cướp nhà băng tại Buffalo, Nữu Ước cách đây mấy năm. Hắn ta bước tới gần nhân viên thu ngân rồi nói: "Đây là một vụ cướp!" Nhân viên thu ngân đáp lại: "Ông không có phiếu đòi tiền à?" Kẻ cướp kia đáp rằng hắn không có phiếu và nói thêm đây là vụ cướp miệng. Nhân viên thu ngân khi ấy đòi nhìn thấy khẩu súng làm chứng minh! Tên cướp khua lạch cạch và không có súng, hắn nói: "Cô nầy, cô điên à!" … rồi bỏ trốn!
Hay, giống như một nổ lực cướp ngân hàng khác, trong vụ nầy tên cướp đã trao cho nhân viên thu ngân tờ phiếu. Sau khi đọc nó, cô ta nói với tên cướp: "Xin ông chờ một phút, cấp trên tôi sẽ duyệt loại phiếu nầy". Cô ta để hắn đứng đó đi vào phòng sau, cô ta rung chuông báo động đang khi tên cướp đừng chờ cách kiên nhẫn. Khi trở lại, cô ta nói với tên cướp: "Cấp trên của tôi chỉ đồng ý có 150 USD thôi, thưa ông". Tên cướp nói rằng như vậy cũng được, rồi khi cô ta đếm tiền, cô ta đòi hắn ký vào hoá đơn, hắn đã làm theo! Ngay khi đó, cảnh sát bước qua cánh cửa rồi tóm lấy hắn! – Vô danh
Nếu cuộc sống chỉ LUÔN LUÔN giống như câu chuyện nầy, nhưng chúng ta biết nhiều hơn! Sự thực, ấy là đôi khi người ta xoay xở với tội ác … nhưng chỉ tạm thời mà thôi! Chúng ta không ngã lòng trong sự hầu việc Đức Chúa Trời dầu khi chúng ta không luôn luôn được ban thưởng ở đây, bây giờ và khi những kẻ làm ác dường như sống mạnh giỏi … ở đây và bây giờ. Một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ liệu định mọi sự cân đối và ngày ấy sẽ xác minh sự phục vụ Chúa đúng đắn!
Thường thì người ta có hai cách đáp ứng đối với những bất công trong hiện tại bằng sự công bình trong thế gian nầy.
1. Họ giữ đức tin nơi Đức Chúa Trời là Đấng một ngày kia sẽ sửa lại mọi sự sai trái và ban thưởng cho kẻ nào trung tín.
2. Hoặc, họ sẽ trở nên hoài nghi về Đức Chúa Trời, về đức tin, rồi sống không còn đắn đo để có được mọi thứ mà họ có thể có ngay ở đây và bây giờ theo cách họ có thể làm.
Israel đang thực thi cách thứ hai trong thời của Malachi, họ đã phát triễn thái độ: "Phục vụ Đức Chúa Trời, tạo ra sự khác biệt gì?" Họ đã nhìn thấy những kẻ làm ác xoay xở với điều ác rồi chẳng bị hình phạt gì hết và nhìn thấy kẻ sống công bình đang chịu khổ vì làm điều lành … và họ lấy làm mệt mõi về sự bất công và tùy tiện trong cách họ ăn ở với Đức Chúa Trời. Họ sống hoài nghi thay vì ổn định.
Kinh thánh phán rõ ràng rằng Đức Chúa Trời là công bình và một ngày kia mọi người đều sẽ bị xét đoán cách trực tiếp và công bằng. Phải, sự bất công có mặt ở nhiều thời điểm … nhưng Đức Chúa Trời đã quan sát thấy khi nó xảy ra, Ngài sẽ sửa lại những sự bất công trong tương lai. Thái độ tin cậy của chúng ta nơi Đức Chúa Trời sẽ giúp chúng ta đứng nghịch lại sự bất công trong thời hiện tại nầy, có một phần thưởng chắc chắn cho kẻ nào trung tín, cũng như có án phạt nhất định cho điều ác.
I. "CHÚNG TÔI CÓ LÀM PHIỀN NGÀI Ở ĐÂU?" – HỌ NÓI! (2.17):
A. Hoài nghi! (2.17a)
1. Họ đã làm cho Đức Chúa Trời phải mệt mõi với những lời ta thán liên tục của họ về sự bất công trong thế gian!
a. Họ thường chỉ tay vào Đức Chúa Trời rằng những kẻ làm ác thường xoay xở với điều ác, rõ ràng chẳng thấy phạt vạ gì cả.
b. Họ cũng đối chiếu điều nầy với những kẻ đã sống đời sống trung tín, thế mà lại chịu khổ … "thì nào Đức Chúa Trời của sự chánh trực ở đâu?" họ nắm rất vững!
2. Nghe giống như những sự bàn bạc mà thế gian vẫn dùng để gạt bỏ Cơ đốc giáo vậy!
3. Nghe giống như một số Cơ đốc nhân trở nên cay đắng và than phiền về việc sống cho Đức Chúa Trời trong một thế giới mà ở đó sự bất công thường hay thấy có!
a. Đặc biệt, họ đang nói: "Phục vụ Đức Chúa Trời, có gì khác biệt?"
b. Họ đã đánh mất động lực họ phải có khi phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách chú vào sự bất công hiện tại trong thế gian.
c. Và đấy là vấn đề, tiêu điểm của họ đang tập trung vào việc sai quấy!
MINH HOẠ.
Một chủ xí nghiệp làm xà bông và một vị Mục sư cùng đi xuống phố trong một thành phố lớn. Chủ xí nghiệp nói: "Ttin lành mà ông rao giảng chưa làm trọn việc của nó, có phải không? Chỉ là nhận xét thôi. Vẫn còn có quá nhiều điều ác trong thế gian, và cũng có quá nhiều hạng người gian ác nữa!" Vị Mục sư chẳng đáp chi hết cho tới khi họ đi ngang qua một đứa trẻ bẩn thỉu lấy bùn làm bánh chơi trong cái mương kia. Nắm lấy cơ hội, vị Mục sư nói: "Tôi thấy xà bông chưa tốt đủ trong thế gian; vì có quá nhiều bẩn thỉu, và nhiều người dơ bẩn ở quanh đây". Chủ xí nghiệp đáp: "Ồ, phải rồi, xà bông chỉ hữu dụng khi nó được đem ra xài mà thôi". Và vị Mục sư nói: "Đúng rồi, cũng một thể ấy với Tin Lành" -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988), p. 354.
4. Thất bại của họ không nhìn được qua bên kia sự bất công nhất thời để thấy được Đức Chúa Trời nên họ đã hoài nghi.
a. Điều đó cũng giải thích được những thứ của lễ bịnh hoạn của họ, họ đã đem dâng những con sinh ốm yếu và bệnh hoạn.
b. Họ chẳng có lòng dạ nào dành cho Đức Chúa Trời cả, họ đã bị hư mất với hình thái hoài nghi trong một thế giới hỗn loạn, sự bất công được thấy có ở đó.
B. Vô tâm! (2.17b)
1. Với một thái độ hoài nghi, yếm thế thật là dễ dàng nhận ra lối sống của họ, với một phương thức rất vô tâm … vì họ nghĩ: "chúng tôi sống ra sao thì có nhằm nhò gì đâu?"
2. Họ biếm nhẽ lòng vòng rằng Đức Chúa Trời vốn đẹp mắt với kẻ làm ác … với sự thực hiển nhiên là Đức Chúa Trời không hề phạt vạ họ, vì vậy Ngài đã giống như họ!
a. Họ trở nên cứng lòng!
b. Họ không với tới điểm nầy trong khoảnh khắc, chính phương án tiệm tiến của sự thất bại từ từ, từ từ.
c. Trong quá trình đó, họ đã từ từ thay đổi lòng tin của họ nơi Đức Chúa Trời bằng hình thái hoài nghi, yếm thế.
MINH HOẠ.
Giống như những tiếng sôi sùn sụt vào năm 79 SC của Núi Vesuvius và các thành phố lân cận của Pompeii và Herculaneum … vì cớ những tiếng sôi sùn sụt liên tục đã xảy ra từ ngọn núi lửa, họ đã có lòng hồ nghi về bất cứ một sự bùng nổ nào thực sự khả thi, lên tới một điểm mà họ bất chấp toàn bộ những tiếng sôi ùn ùn đó. Tất nhiên điều nầy minh chứng sẽ là một thảm hoạ cho các thành phố nầy cùng cư dân của chúng khi Núi Vesuvius phun trào và hủy diệt toàn bộ các thành phố cùng mọi cư dân đã bất chấp những sự cảnh báo. Họ đã có nhiều thời gian để di dời và thay đổi mọi sự, nhưng hình thái hoài nghi của họ đã minh chứng cho cái chết của họ! – Vô danh
3. Lối sống vô tâm là kết quả của việc có thái độ hoài nghi, yếm thế.
II. "TA HỨA CHẮC!" – NGÀI PHÁN! (3.1)
A. Tin cậy! (3.1a)
1. Đức Chúa Trời đáp ứng đối với hình thái hoài nghi của họ bằng cách khẳng định lại một lời hứa xưa kia … rằng Đấng Mêsi sẽ ngự đến và sự đến của Ngài sẽ làm thay đổi mọi sự!
a. Trong khi mọi sự trong thời buổi đó dường như bất công, đây chỉ là một việc nhất thời.
b. Đức Giêhôva đang đến với đền thờ của Ngài … và sự đến của Ngài sẽ cân đối lại sự bất công.
2. Đức Chúa Trời không để cho kẻ làm ác thoát khỏi án phạt, việc ấy chỉ chậm trễ trong sự thương xót để họ có thì giờ mà ăn năn.
a. Đôi khi điều nầy khó mà chấp nhận được, đặc biệt với những kẻ có lòng khó chịu mà chúng ta thường hay nhìn thấy.
b. Nhưng một số người khó chịu nhất đã tan vỡ ở trước mặt Đức Chúa Trời … hãy nhìn vào kẻ giết người Sau-lơ, sau nầy trở thành sứ đồ Phaolô xem!
3. Việc duy nhứt họ nắm bắt được là việc đã giải cứu họ … Đức Chúa Trời trong ơn thương xót đã không hình phạt tội lỗi ngay tức khắc! Điều nầy có ý nói họ cũng có thời gian để thay đổi đường lối của họ trước khi sự công bình THỰC đến với họ!
a. Đức Chúa Trời sẽ không để cho điều ác xảy ra mà không bị hình phạt, đây đúng là vấn đề VÀO LÚC NÀO một khi tội lỗi bị hình phạt mà thôi.
MINH HOẠ.
Nemesis là con gái của thần Ban Đêm và là nữ thần công bình của người Hy lạp. Bà ta đã theo đuổi và hình phạt kẻ kiêu ngạo, kẻ xấc láo, và tội phạm. Điều nầy làm phát sinh cụm từ "gặp gỡ thần Ban Đêm". Tất nhiên, có nhiều người chưa thoả mãn, ít nhất là chưa trong cuộc đời của họ. Đời sống của chúng ta kinh nghiệm nhiều sự bất công và chỉ ở trong cõi đời đời mọi sự sai trái mới được sửa ngay lại và sự công bình trọn vẹn sẽ được làm ra – Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
b. Sự bất công ở mặt nầy của cõi đời đời, Đức Chúa Trời sẽ mang lại sự công bình cho mọi sự sai trái do kẻ dữ làm ra nếu họ trải qua đời nầy mà chưa chịu ăn năn tội lỗi của họ.
c. Họ sẽ chẳng thoát khỏi sự phán xét, nó chỉ chậm trễ mà thôi!
4. Đức Chúa Trời có một chương trình … Đấng Mêsi sẽ NGỰ ĐẾN, và đó sẽ là khởi đầu của cứu cánh dành cho kẻ ác.
a. Đấng Mêsi từng ngự đến, số phận của tội lỗi sẽ bị đóng ấn!
b. Họ cần phải có lòng tin cậy về những lời hứa của Đức Chúa Trời.
5. Cũng thực như thế cho chúng ta ngày hôm nay, trong khi chúng ta chờ đợi sự tái lâm của Chúa Jêsus, chúng ta không nên bị mất tinh thần nơi thành công nhất thời của kẻ làm điều ác … họ sẽ bị mang ra toà phán xử, nếu không ở trong toà án của con người, chắc chắn trong toà án của Đức Chúa Trời!
6. Hiển nhiên là sự công bình sẽ thắng hơn!
MINH HOẠ:
Nhân vật đã phát minh ra súng bắn bằng rađa bị triệu hồi bởi cảnh sát có tên là Sir Robert Watson Watt. Cách đây vài năm, ông ta bị bắt do Radar theo dõi ở Canade vì chạy quá nhanh! Ông viết cho một bài thơ ngắn về kinh nghiệm đó. "Ông Robert Watson Watt đáng thương ơi, là mục tiêu kỳ lạ của máy radar kia, và người nầy, với nhiều người khác nữa tôi sẽ nhắc tới, là nạn nhân của chính phát minh của mình" – Vô danh
7. Theo một ý nghĩa, họ đã đúng, Đức Chúa Trời KHÔNG công bằng!!! Sự công bằng có nghĩa là tất cả những kẻ làm ác phải nhận lãnh án phạt công bình của họ ngay lập tức kìa … nhưng nó sẽ tiêu diệt tất cả con người ngay vì mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời!
a. Đức Chúa Trời KHÔNG công bằng theo ý nghĩa nầy … Ngài vốn giàu ơn và chậm giận, Ngài thích thương xót hơn và vì vậy chúng ta không bị tiêu diệt ngay tức khắc!
b. Cảm tạ Đức Chúa Trời, Ngài không công bằng ngay tức khắc!!!
8. Nhưng Đức Chúa Trời là công bình, và đúng kỳ sự công bình của Ngài sẽ thắng hơn!
B. Giao ước (3.1b)
1. Mục đích của Đức Chúa Trời sẽ đứng vững bất luận nan đề của con người có đến đâu đi nữa … và sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời giờ đây với những kẻ làm ác rất đơn sơ đối với hai việc:
a. Trong thời gian đó, họ phải ăn năn tội lỗi của mình và được cứu.
b. Để minh chứng tình trạng cứng lòng của họ bằng những hành động và sự công bình của Đức Chúa Trời một ngày kia trong sự phán xét giáng trên họ vì họ đã thất bại không nắm lấy cơ hội của tình yêu và lòng độ lượng của Đức Chúa Trời.
2. Chương trình của Đức Chúa Trời bao gồm sự đến của Đấng Mêsi … nhưng ngay trong lần đến thứ nhứt Đấng Mêsi sẽ không mang theo sự phán xét sau cùng, Ngài sẽ chịu chết vì tội lỗi và hạng tội nhân hầu cho họ có một cơ hội để được cứu trước khi sự tái lâm của Ngài, khi ấy Ngài ngự đến trong sự phán xét chống lại mọi tội lỗi.
a. Chúng ta đang sống trong giao ước của ân sũng trong lúc bây giờ!
b. Sự ngự đến lần thứ hai của Đấng Mêsi là để phán xét nghịch lại với mọi tội lỗi.
3. Đức Chúa Trời đang nói cho Israel biết trong thời của Malachi rằng có một chương trình, họ cần phải biết nhịn nhục.
a. Họ không nên nghĩ rằng điều ác đang tránh thoát sự phán xét, nó chỉ bị hoãn lại đấy thôi.
b. Ngày đến, khi mọi sự đều trở nên công bằng!
MINH HOẠ.
Trở lại năm 1908 vào ngày 28 tháng Chạp tại một thành phố xinh đẹp ở Italy gọi là Messina, một sự cố bất thường đã xảy ra nhắc cho chúng ta nhớ đến sự công bình trọn vẹn của Đức Chúa Trời. Messina là một thành phố bất cần đạo lý. Dân chúng đã có thái độ thù ghét đối với Đức Chúa Trời và sáng sớm ngày đó các bậc trưởng thượng của thành phố đã thực thi một vài quyết tâm chế giễu Đức Chúa Trời và Lời của Ngài. Tờ báo địa phương trong ngày đó về đề tài Giáng sinh đã in một hình ảnh châm biếm rất gớm ghiếc, Đấng Toàn Năng nầy đã làm cho mọi người nhận biết Ngài bằng cách sai một trận động đất xảy ra có tính cách hủy diệt thành phố của họ! Đức Chúa Trời ấn định đúng ngày 28 tháng Chạp năm 1908 … 84.000 cư dân đã ngã chết trong đó và thành phố đã ra hoang tàn! Dĩ nhiên, những kẻ châm biếm, hoài nghi giữa vòng chúng ta ngày nay sẽ cho rằng đấy chỉ là một rủi ro tình cờ mà thôi! – Vô danh
4. Giao ước của Đức Chúa Trời sẽ đứng vững … họ cần phải dành thì giờ với giao ước ấy!
III. "TA MUỐN SỰ THANH SẠCH!" – CÒN CHÚNG TA THÌ SAO? (3.2-5)
A. Luyện lọc! (3.2-4)
1. Khi Ngài ngự đến sẽ giống như lửa của thợ luyện hay tro của thợ giặt! (3.2)
a. Nói cách khác, Ngài sẽ luyện lọc tình trạng bẩn thỉu mà con người đã làm nên!
b. Nói cách khác, sự công bình thật sẽ diễn ra, vì những tội lỗi trong quá khứ và trong hiện tại.
2. Ý tưởng ở đây là một sự kêu gọi phải thanh sạch … cho mọi người!
a. Ngày hôm nay, thế gian gật đầu mĩm cười với tội lỗi, chúng ta thì không như vậy!
MINH HOẠ.
Một người có tánh cẩu thả nộp đơn xin việc làm thư ký báo chí cho một vị thượng nghị sĩ. Không lâu sau đó, văn phòng thượng nghị sĩ cho mời ông đến rồi cho biết như sau: "Lý lịch của ông thì đầy những cường điệu, méo mó, không đúng sự thật, và nhiều lời nói dối quá … vì vậy khi nào thì ông có thể khởi sự làm việc vào ngày Thứ Hai!?" Rõ ràng (rất hy vọng!) đây là một chuyện tưởng tượng, nhưng nhiều khôn khéo trong xã hội chúng ta ngày na! – Vô danh
b. Gần như đây là một mẫu chuyện vui trong thế gian về điều ác, nhưng một ngày kia thì không còn là chuyện để cười được đâu.
3. Chỉ có những kẻ tội lỗi họ đã được tha sẽ tránh thoát sự phán xét trong tương lai vì cớ tội lỗi … lần đến đầu tiên của Đấng Mêsi sẽ là một sự kêu gọi một lần nữa phải sống đời sống thanh sạch, phải bước đi trong sự sáng láng, không nên ăn ở trong sự tối tăm.
a. Rồi trong sự tái lâm của Ngài, Ngài sẽ xét đoán kẻ sống và kẻ chết!
b. Ngày nay, chúng ta sống trong thời điểm của cơ hội, thời điểm tội lỗi của chúng ta được tha và đời sống chúng ta được Đức Chúa Trời cai quản chớ không phải bổn tánh tội lỗi của chúng ta.
c. Ngày nay là cơ hội để được luyện lọc, bạn có nắm lấy cơ hội nầy để bạn có thể tránh thoát ngày phán xét khi ngày ấy đến, vì ngày ấy chắc sẽ đến!
B. Thuyết phục (3.5)
1. Đây là điểm sau cùng của Malachi, khi Đức Chúa Trời đáp ứng với thắc mắc nầy: "Hầu việc Đức Chúa Trời, có gì khác biệt?" … Sự phán xét của Đức Chúa Trời không những giáng ra nghịch lại với những kẻ làm ác kia, mà cũng còn nghịch lại họ nữa, nếu họ không chịu sống cho Ngài.
a. Ngài sẽ xử công bình với tất cả mọi người.
b. Ngài ước ao một đời sống được sống trong sự tha thứ.
2. Họ không nên thất vọng trong việc làm theo điều chi là phải, đúng kỳ Đức Chúa Trời sẽ xưng công bình người công bình nhiều y như Ngài sẽ xét đoán kẻ bất công vậy.
MINH HOẠ.
Vào tháng 11 năm 1989, nhà văn William L. Shirer, nổi tiếng vì quyển sách Sự Dấy Lên và Sụp Đổ của Đệ Tam Quốc Xã, đã nhận được giải thưởng Beck cho sự nghiệp của ông. Giải thưởng Beck được gọi theo tên của Edward Scott Beck, cựu biên tập viên Tờ Chicago Tribune, ông đã thuê Shirer làm phóng viên vào năm 1932! Không phải tất cả những bất công trong cuộc sống đều được sửa lại cho đúng đâu, nhưng một số trong chúng đã được sửa lại nếu chúng ta chịu khó chờ đợi. Shirer đã phải đợi đến 57 năm -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
3. Nếu chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời, thì “có sao” không? BẠN BIẾT LÀ “CÓ SAO” MÀ! Sự phục vụ ấy sẽ là vấn đề trong cõi đời đời thậm chí nếu nó không luôn luôn thích nghi trong lúc bây giờ.
a. Thật không công bằng khi xét đoán Đức Chúa Trời ngay lúc những kẻ làm ác dường như đang đắc thắng hay tránh thoát được sự phán xét.
b. Không một ai sẽ thoát được đâu, trừ phi người nào đã tiếp nhận của lễ mà Đấng Christ đã lập cho họ hầu cho tội lỗi họ sẽ được tha.
c. Đấng Christ đã trả giá cao vì tội lỗi chúng ta rồi, chỉ những ai không tiếp nhận ân ban yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ một ngày kia sẽ đứng chịu sự phán xét.
4. Ngày nay là ngày cứu rỗi … có phải bạn đang tận dụng cơ hội để được cứu không? Thực sự, phục vụ Đức Chúa Trời thì phải trả giá đấy thôi!
PHẦN KẾT LUẬN. Có sự bất công trong thế gian lúc bây giờ không? CÓ ĐẤY! Đức Chúa Trời có quan tâm không? CÓ ĐẤY! Có phải những kẻ làm ác đều thoải mái không bị phán xét không? ĐÔI KHI HAY CHỈ MỘT LÚC NÀO ĐÓ THÔI! – nhưng sự phán xét của họ chưa đến với một lượng đầy đủ đâu, mà nó sẽ đến trong một ngày kia! Chúng ta sống thể nào thì có nhằm nhò gì không? – TUYỆT ĐỐI CÓ ĐẤY! Mọi quyển sổ sẽ phải trình ra một ngày kia, đừng ngã lòng khi hầu việc Đức Chúa Trời, cũng đừng nguội lạnh khi điều ác dường như chẳng bị thăm phạt trong lúc bây giờ, phải hầu việc Chúa cho đến cuối cùng!
***

Malachi 2.10-16: "Tại Sao Ngài Không Đáp Trả Lời Cầu Nguyện Của Tôi?"



"TẠI SAO NGÀI KHÔNG ĐÁP TRẢ LỜI CẦU NGUYỆN CỦA TÔI?"
Malachi 2.10-16; I Phierơ 3.7
PHẦN GIỚI THIỆU:
Đề tài ly dị được đưa ra cho hôm nay thì có nhiều người sẽ lo lắng ngay. Tuy nhiên, thảm hoạ của một cuộc hôn nhân tan vỡ sẽ có cái chạm nghiệt ngã trên con cái, xã hội, và đức tin của chúng ta.
Hôn nhân là một mối quan hệ thiêng liêng, chớ không phải là mối quan hệ phàm tục! Chúng ta cần phải hiểu mối quan hệ ấy theo cách đó, và thế gian cần phải nhìn xem nó y như thế. Thái độ của thế gian đối với hôn nhân là CHẲNG RA GÌ so với quan điểm của Cơ đốc nhân!
MINH HOẠ.
Có hai người đang trao đổi về đám cưới sắp tới của một trong hai người. Người đã đính hôn nói với bạn mình: "Bạn biết đấy, chuyện kỳ lắm, nhưng bây giờ tôi đã đính hôn rồi, tôi khởi sự lo về việc thành hôn". Bạn anh ta đáp: "Tôi biết anh muốn nói gì rồi, lo là tự nhiên thôi, hôn nhân là một sự phó thác rất lớn đấy, 7 hay 8 năm sẽ trở thành một thời gian rất dài!" – Vô danh
Mối quan hệ cơ bản nhất mà Đức Chúa Trời đã dựng nên trừ ra mối giao thông của chúng ta với Ngài là mối quan hệ của chúng ta với người bạn đời của mình. Mối quan hệ đúng đắn trong hôn nhân sẽ là then chốt đến nỗi sự quan hệ bất xứng với người bạn đời có thể thực sự ngăn trở những lời cầu nguyện của chúng ta!
Kinh thánh dạy rằng mối hôn nhân phải lành mạnh để đời sống thuộc linh của chúng ta cũng được lành mạnh. Cái nầy tác động cho cái kia!
I. NHỮNG MỐI QUAN HỆ VÔ TRÁCH NHIỆM (2.10-12):
A. Con người (2.10)
1. Nan đề ly dị rất phổ thông trong thời của Malachi … cũng như trong thời của chúng ta!
a. Nó đã trở thành một thể chế dân sự hơn là một thể chế thiêng liêng … và khi điều nầy xảy ra nó chẳng có gì nghiêm trọng cả.
b. Chúng ta đối diện với chính nan đề nầy hôm nay!
2. Một khi nó KHÔNG được xem là thiêng liêng thì cánh cửa mở ra cho việc thử nghiệm nó.
a. Như trong xã hội chúng ta ngày hôm nay, người ta thường sống chung với nhau trước tiên để xem coi nó có "tác động" gì cho họ không!?!
b. Tuy nhiên, bất kỳ một sự chệch hướng nào đối với chương trình của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân sẽ luôn luôn không còn có lý tưởng nữa!
MINH HOẠ:
Theo một bài báo do Felicity Barringer của tờ New York Times viết, những cuộc hôn nhân “thử” không làm tăng thêm cơ hội cho hôn nhân được dài lâu hoặc thành công. Thực vậy, những người nào sống chung với nhau trước hôn nhân, số lượng phân rẽ và ly dị một cách vô nghĩa còn lớn lao hơn những kẻ đi trực tiếp đến bàn thờ -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
3. Trong thời của Malachi dân sự của Đức Chúa Trời đã xem thường mối hôn nhân của họ, và họ không gặp phải một nan đề nào khi cưới hạng người không tin Chúa hoặc đi đến ly dị.
a. Thất bại không xem hôn nhân là thiêng liêng sẽ tạo ra loại thái độ nầy.
b. Xem hôn nhân theo cách thuộc linh là chẳng có gì khác hơn một hợp đồng dân sự, đôi khi những mối hôn nhân ấy kéo dài, có khi không.
4. Israel trong thời của Malachi đã phá vỡ đức tin với một người khác trong hôn nhân.
a. Việc duy nhứt được xem là thiêng liêng là đời sống cầu nguyện của họ tại đền thờ.
b. Họ đã phân tình trạng thuộc linh của họ ra thành nhiều ngăn.
B. Thế hệ sau (2.11-12)
1. Lấy một người không tin Chúa làm vợ bị luật pháp của Đức Chúa Trời cấm đoán, tuy nhiên họ chẳng gặp phải một việc gì không hay khi đến thờ phượng tại đền thờ mặc dù lấy vợ không tin Chúa.
a. Những gì họ tin và cách họ xử thế không luôn luôn song hành với nhau!
b. Thê thảm thay, cái điều họ chưa nhìn biết, ấy là những cuộc hôn nhân như thế cho thấy rằng con cái của họ sẽ bị kéo đến với các thần khác bởi những người bạn đời vô tín nầy và tương lai dành cho chúng trong vai trò dân sự Đức Chúa Trời một ngày kia sẽ rơi vào chỗ không chắc chắn nếu điều nầy cứ tiếp tục!
c. Tường trình của lịch sử cho thấy rằng những cuộc hôn nhân "chào hàng" thường kéo người tin Chúa xuống hơn là kéo người không tin lên tới thể trạng của người tin Chúa!
d. Một sự kết hiệp thiêng liêng như vậy cần phải gọi là: "THÁNH".
2. Hình tượng có thể sẽ thay đổi, và những cuộc hôn nhân dựa theo thế gian nầy cũng sẽ bị thay đổi y như vậy.
3. Quan niệm của Đức Chúa Trời về hôn nhân khác biệt dường bao đối với thế gian nầy, Ngài dạy chúng ta phải yêu thương người bạn đời của mình suốt cả đời.
MINH HOẠ:
Một cuộc hôn nhân thành công là kết quả của việc thường xuyên đem lòng yêu thương – với cùng một người. -- Croft M. Pentz, The Complete Book of Zingers (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc., 1990).
4. Đức Chúa Trời vốn quan tâm với những gì sẽ xảy ra cho hậu thế của Israel nếu họ cứ tiếp tục mang lấy ách không xứng hợp trong những cuộc hôn nhân hời hợt nầy.
a. Chúng ta thường thất bại không xem cái chạm mà ly dị đụng đến trên con cái, tuy nhiên nó sẽ tác động trên chúng trong một thời gian rất dài!
MINH HOẠ.
Trong quyển Cơ Hội Thứ Nhì (Second Chances), in vào năm 1989 bởi Ticknor và Fields, nhà tâm lý học ở California là Judith S. Wallerstein cho rằng ly dị đang tàn phá hàng con cái. Bà đã nghiên cứu một trăm đứa trẻ trong hơn một thập kỷ và kết luận rằng gần phân nửa đã khổ sở với giận dữ, lo sợ, và tự đánh giá thấp khi chúng bước vào cuộc sống của người lớn. -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
b. Đức Chúa Trời không những quan tâm đến những cặp vợ chồng trong lúc hiện tại, mà còn quan tâm đến sự thiết lập hôn nhân trong tương lai và lai lịch dân sự của Đức Chúa Trời là một dân thánh nữa.
c. Chúng ta không chuẩn bị một vấn đề của ngày mai với một hành động theo luật pháp, nó đến từ tình yêu hiến dâng trong một cuộc hôn nhân!
5. Thật là đáng buồn khi cấp độ ly dị trong Hội thánh cũng giống y như cấp độ ly dị của thế gian, thực sự thì điều nầy không nên có!
a. Có lẽ chúng ta cần phải dạy dỗ nhiều hơn về tình trạng thiêng liêng của hôn nhân!
b. Chắc chắn chúng ta cần phải cung ứng nhiều khuôn mẫu mạnh mẽ về hôn nhân cho con cái chúng ta, chúng sẽ nhìn thấy những mẫu thấp kém hơn trong xã hội của chúng ta.
6. Đức Chúa Trời không muốn họ đi lên đền thờ, cũng không muốn những của dâng của họ trong sự thờ phượng nếu họ không bằng lòng xem trọng những lời thề hôn ước của họ! (2.12)
a. Cũng thực sự như thế cho hôm nay, chúng ta không thể đến tại nhà thờ rồi kêu la với Đức Chúa Trời và dâng lên những của lễ … thực sự chúng ta đang sống rất xa ở bên ngoài Hội thánh!
b. Thật đáng buồn là thần học của chúng ta có đôi chân bước đi tới chỗ đó!
II. NHỮNG ĐÁP ỨNG BẤT XỨNG (2.13-16; I Phierơ 3.7)
A. Cầu nguyện (2.13; I Phierơ 3.7)
1. Đáp ứng cho phần thách thức của Malachi như đã nói trước rồi … họ che lấp bàn thờ bằng nước mắt, nhưng không thay đổi một việc nào về mối hôn nhân của họ!
a. Tại sao họ kêu la chứ? Vì Đức Chúa Trời không còn đáp trả những lời cầu nguyện của họ nữa, cho tới chừng nào họ biết xem trọng mối hôn nhân của họ!
b. Thật là khó cho Đức Chúa Trời đáp trả những lời cầu nguyện của chúng ta khi chúng ta không ăn ở phải lẽ với nhau, ít nhiều gì với người bạn đời của chúng ta!
2. Họ cần phải học biết tầm quan trọng nơi các huấn thị của Đức Chúa Trời về hôn nhân.
3. Không luôn luôn là khó khi xây bỏ một mối hôn nhân xấu, đôi khi điều nầy sẽ xảy ra với một tình yêu tin kính trước sau như một!
MINH HOẠ.
Một người nữ đến gặp vị luật sư kia rồi nói: "Tôi muốn ly dị. Tôi thực sự ghét chồng của tôi, và tôi muốn làm tổn thương hắn. Xin giúp tôi vài lời khuyên". Thêm vào với việc muốn nhận được vàng và trao cho chồng cái cán cuốc, bà ta lấy làm lạ về một cách khác mà bà có thể làm cho chồng mình: "Hãy nhìn đây, không cứ cách nào đó bà sẽ ly dị với chồng mình, vì vậy trong ba tháng đừng chỉ trích hắn ta nữa. Hãy nói lời ngọt ngào với hắn. Hãy gây dựng hắn. Mỗi lần hắn làm nghĩa cử gì đó cao đẹp, hãy khen ngợi việc ấy. Hãy nói với hắn: “Anh đúng là một người đàn ông”, và cứ làm như thế trong ba tháng. Sau khi hắn tưởng rằng hắn có được lòng tin và tình yêu thương của bà rồi, hãy đá hắn bằng những tin tức và nó sẽ gây tổn thương cho hắn". Bà kia suy nghĩ: "Tôi không thể phạm sai lầm với việc nầy đâu. Không cứ cách nào thì tôi sẽ ly dị với ông ta. Tại sao tôi phải nói xấu về ông ấy chứ? Tôi sẽ nói tốt về ông ta". Thế là, bà ta ca ngợi chồng mình về mọi sự mà ông ta đã làm. Trong ba tháng , bà nói cho ông biết ông là một người xuất chúng. Bạn biết điều chi đã xảy ra cho mối quan hệ ấy chưa? Sau ba tháng, họ đã quên đi việc ly dị rồi tiếp tục kỳ trăng mặt thứ nhì. -- Erwin Lutzer, "Learning to Love," Preaching Today, Tape No. 99.
a. Phải nhìn nhận là hầu hết những cuộc hôn nhân chỉ có thể được cứu vãn nếu hai bên đều đưa ra nổ lực, nhưng có những lúc khi sức mạnh của tình yêu thậm chí bởi người nầy cũng có thể làm thay đổi người kia.
b. Đây chính là điều mà Phaolô đã in trong trí ở I Côrinhtô 7.12-13: "Đến như những kẻ khác, chẳng phải Chúa, song là chính tôi bảo họ rằng: Nếu người anh em nào có vợ ngoại đạo bằng lòng ở đời với mình, thì không nên để bỏ. Lại nếu một người đờn bà có chồng ngoại đạo bằng lòng ở đời với mình, thì vợ cũng không nên lìa chồng”. Có thể là Phaolô đã suy nghĩ sẽ có một cơ hội qua tình yêu tin kính làm biến đổi người không tin Chúa, vì vậy không nên vội vàng ly dị mà chi.
4. Những sự bừa bãi mà Israel có đối với mối kết hiệp hôn nhân đã tạo nên tình trạng thuộc linh tùy tiện, Đức Chúa Trời không đáp ứng với những lời cầu nguyện của họ cho tới chừng nào họ biết xem trọng mối hôn nhân ấy.
5. Phierơ đã phát biểu y như vậy trong I Phierơ 3.7: "Hỡi người làm chồng, hãy tỏ điều khôn ngoan ra trong sự ăn ở với vợ mình, như là với giống yếu đuối hơn; vì họ sẽ cùng anh em hưởng phước sự sống, nên phải kính nể họ, hầu cho không điều gì làm rối loạn sự cầu nguyện của anh em".
a. Rõ ràng là trong phân đoạn nầy Phierơ đang nói rằng những lời cầu nguyện của họ đã bị ngăn trở khi họ, trong vai trò làm chồng, đã không đối xử với vợ mình cách xứng hiệp!
b. Hãy chú ý trong câu nầy Đức Chúa Trời gọi người làm vợ là "bạn" chớ không phải "tài sản" hay "của cải".
c. Họ là người bạn trọn đời!
6. Chúng ta không thể có một con người thuộc linh hay một nước thuộc linh chỉ bằng cách cầu nguyện … những mối quan hệ của chúng ta phải phản ảnh sự thực là những lời cầu nguyện của chúng ta đều có hai chân, hai tay trong sự hổ tương với nhau cùng với họ!
a. Chẳng có vấn đề gì với các hình tượng cả … chúng chẳng là gì hết, chỉ là những hình tượng bằng đá hay gỗ, vì vậy những lời cầu nguyện với chúng chẳng có gì khác biệt bất luận mối quan hệ hôn nhân là gì đi nữa … nhưng với một Đức Chúa Trời hằng sống lời cầu nguyện sẽ tạo ra một sự khác biệt đấy!
b. Chúng ta không thể đạt tới một cấp độ cao về chiều sâu thuộc linh nếu không yêu thương nhau!
7. Hành động kêu la tại bàn thờ phải đối mặt với việc cố gắng sống trong hôn nhân!
B. Người bạn đời (2.14-16)
1. Những người nam trong Israel đến với vợ của họ giống như những bộ quần áo cũ … họ chẳng ý thức được sự phó thác trọn đời cho người kia.
a. Hôn nhân không nói tới một khoản thời gian, hôn nhân nói tới trọn một đời!
b. Thích bước lên bàn thờ khi cưới xin thì rất là dễ, còn phải có nhân cách và trọn đời sống chung, yêu thương người bạn đời của mình suốt mọi trăn trở, khó nhọc cùng những thời điểm đặc biệt khác nữa là một tặng phẩm khác!
2. Những mối hôn nhân Cơ đốc đáng phải là hình ảnh của sự thường trực, vĩnh viễn!
MINH HOẠ.
Những đám cưới trong nhà thờ luôn luôn có việc thắp sáng ngọn đèn của sự hiệp một. Trong một vỡ kịch mới tập đây, tôi đã giải thích biểu tượng của nghi thức thắp đèn, tôi nói: "Sau khi ngọn đèn cháy được phân nửa rồi, thổi từ hai phía có nghĩa là hai người đã trở nên một" Một khách tham dự phát biểu với sự kinh ngạc: "Ồ, tôi nghĩ như thế sẽ là 'chẳng còn lửa!' nữa chứ" -- Greg Asimakoupoulos, Concord, California. "Rolling Down the Aisle," Christian Reader.
a. Nếu có khó khăn, thì hãy tìm kiếm những câu trả lời để giúp chữa lành mối quan hệ, ít nhất chúng ta sống trong một ngày khi sự cứu vãn ấy khả thi.
b. Chúa Jêsus thường khẳng định hôn nhân là trọn đời, thậm chí khi Ngài công nhận rằng Môise đã cho phép lý dị vì cớ "lòng cứng cỏi", Ngài phán rằng "từ lúc ban đầu" không có như vậy đâu. Mathiơ 19.8: “Ngài phán rằng: Vì cớ lòng các ngươi cứng cỏi, nên Môi-se cho phép để vợ; nhưng, lúc ban đầu không có như vậy đâu".
c. Thay vì luôn luôn chiếu theo những ngoại lệ của luật lệ, chúng ta cần phải nhấn mạnh luật lệ một lần nữa – đây nhất định là quan điểm của Chúa Jêsus trong câu nói nầy.
3. Đức Chúa Trời rất đau buồn, Ngài nhấn mạnh trên sự hiểu biết và đầu phục quá nông cạn của họ về hôn nhân cùng những sự tùy tiện qua đó họ đã ly dị. Malachi 2.16 chép: "Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán rằng ta ghét người nào bỏ vợ…"
a. Hãy chú ý, Đức Chúa Trời KHÔNG PHÁN Ngài ghét "hạng người ly dị", mà ghét "ly dị!"
b. Đức Chúa Trời hiểu rõ nỗi đau phủ lút trên một người, một gia đình, và một xã hội khi ly dị đánh mạnh vào.
4. Đức Chúa Trời không yêu cầu họ tìm những người bạn đời trọn vẹn, mà tìm một người thật tin kính.
a. Yêu ai đó không có nghĩa là bạn phải hiểu rõ mọi sự về họ rồi mới cưới hỏi, cưới hỏi có nghĩa là yêu thương người bạn đời của mình!
b. Một người không phải là chuyên gia trong mọi sự mới có một mối quan hệ đúng đắn, mà là chuyên gia nơi người bạn đời của họ!
MINH HOẠ.
Bà Albert Einstein từng được phỏng vấn không biết bà có hiểu lý thuyết tương đối của chồng mình hay không!?! Bà đáp: "Không, nhưng tôi biết ông thích uống trà như thế nào" -- Christian Reader, Vol. 33, no. 6.
5. Hãy chú ý ở Malachi 2.14, Đức Chúa Trời gọi những người vợ nầy là "bạn" chớ không phải là "tài sản!"
a. Chúng ta chia sẻ với họ nhiều hơn sự giàu có của chúng ta, chúng ta cũng chia sẻ với họ tâm linh của chúng ta nữa.
b. Họ là những kẻ "đồng kế tự" với chúng ta về mọi lời hứa của Đức Chúa Trời.
6. Đức Chúa Trời thách thức họ … và chúng ta bằng những lời nầy: "… Vậy các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình; chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ".
a. Nếu họ muốn những lời cầu nguyện của họ được nhậm, họ phải làm nhiều hơn là chỉ có khóc lóc tại bàn thờ, họ phải trở về nhà rồi thể hiện một sự phó thác và lối sống tin kính trong mối hôn nhân của họ.
b. Đáp ứng của Đức Chúa Trời đối với họ được kết nối với đáp ứng của họ đối với người bạn đời của họ … quả thực Đức Chúa Trời vẫn còn làm điều nầy hôm nay.
7. Đời sống cầu nguyện của bạn như thế nào? Đời sống hôn nhân của bạn ra sao rồi? Sẽ có một sự gắn bó giữa hai khoản nầy hơn là bạn nghĩ nữa đấy!
KẾT LUẬN. Người nào chúng ta kết bạn với là loại người mà chúng ta trở nên một với họ. Chúng ta được biệt riêng ra khỏi thế gian để chúng ta sẽ sống khác biệt với nó, để chúng ta tỏ ra cho thế gian thấy một phương thức sống tốt đẹp hơn. Mối quan hệ theo chiều dọc với Đức Chúa Trời ĐƯỢC tác động bởi những mối quan hệ hàng ngang của chúng ta với nhau. Ai là "bạn đời" trong cuộc sống của bạn vậy?
***

Malachi 1.6-2.9: "Có Điều Chi Sai Với Sự Phục Vụ Của Tôi?"



"CÓ ĐIỀU CHI SAI VỚI SỰ PHỤC VỤ CỦA TÔI?"
Malachi 1.6-2.9
PHẦN GIỚI THIỆU.
Sống cho Đức Chúa Trời có thể trở thành một nghi thức thay vì là một mối tương giao! Khi đó là nghi thức, thì rõ ràng là do thiếu sự vui mừng chân thật và những của lễ có chất lượng tồi. Khi thực sự đó là mối tương giao, chúng ta có sự vui mừng cả thể nơi việc dâng của lễ vì hy sinh cho những người chúng ta yêu thương là một việc rất tự nhiên.
Thắc mắc thứ hai của Israel đối với Đức Chúa Trời phải làm với những của lễ và sự phục vụ của họ trước mặt Đức Chúa Trời … dường như Đức Chúa Trời không đẹp lòng với: một là của lễ hoặc sự phục vụ của họ, và thắc mắc của họ về mặt cơ bản là: "Có điều chi sai với sự phục vụ của chúng tôi?"
Họ đã dâng của lễ cho Đức Giêhôva, họ đã tham dự các buổi thờ phượng tại Đền Thờ … vậy thì có điều chi sai chứ? Ấy không phải CÁCH họ đã dâng, bèn là THỨ mà họ đã dâng … những con thú bịnh tật đau yếu làm những của lễ và tham dự chiếu lệ tại Đền Thờ không có một sự vui mừng hay cảm tạ chân thật trong lòng họ đối cùng Đức Chúa Trời!
Họ đã đánh mất mục tiêu của họ trong mục đích của sự thờ phượng và sự phục theo giao ước …!
MINH HOẠ.
Một Hội thánh nhỏ vùng nông thôn xứ Thụy điển cách đây nhiều năm đã gặp phải một sự cố bất ngờ. Nhà Vua Thụy điển đã có mặt trong buổi thờ phượng của họ vào sáng Chúa nhựt kia. Mục sư chủ toạ, nhìn thấy sự hiện diện của nhà Vua trong hội chúng và bị áp đảo với sự hiện diện của hoàng gia nên gạt qua một bên bài giảng đã soạn sẵn của mình cho ngày đó rồi nói về những phẩm hạnh của nhà Vua xứ Thụy điển. Sau buổi thờ phượng, nhà Vua đến gặp vị Mục sư tại cửa, cảm ơn ông, rồi nói cho ông biết rằng ông sẽ nhận lãnh một món quà từ nhà Vua. Vị Mục sư hồi hộp với những tin tức nầy. Ông nghĩ rõ ràng là nhà Vua ưa thích những điều ông đã nói. Vài tuần lễ trôi qua, và một cái hộp thật lớn được gửi đến tại Hội thánh. Vị Mục sư mở cái hộp ra với chút ít lo âu. Bên trong hộp là một bức tượng cở lớn Chúa Jêsus đang bị treo trên thập tự giá, có lời chú thích kèm theo bức tượng đó: "hãy treo bức tượng Chúa Jêsus nầy trên cây cột đối ngang với toà giảng để ông sẽ luôn luôn được nhắc nhớ tới đối tượng thích hợp khi rao giảng!" – Vô danh
Họ đã đánh mất mục tiêu của họ, và thắc mắc của họ tỏ ra họ đã lạc sai rất xa đối với sự thờ phượng thật! Thắc mắc thứ hai một kẻ tái phạm hỏi Đức Chúa Trời là: "Có gì sai với sự phục vụ của tôi?"
Đức Chúa Trời mong đợi điều tốt nhứt nơi chúng ta vì Ngài luôn luôn ban điều tốt nhứt của Ngài cho chúng ta, chúng ta không thể biết được sự vui mừng thực sự trong mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời nếu chúng ta dâng lên những của lễ bịnh hoạn, sự thờ phượng sẽ trở thành nghi thức nếu chúng ta làm như vậy.
I. KHÔNG TÔN KÍNH BỔN TÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (1.6-14):
A. Nghi thức (1.6-10):
1. Khi mối tương giao quan trọng với Đức Chúa Trời rơi vào một sự phục theo hàng tuần phải có mặt tại Đền Thờ, niềm vui mừng mau chóng biến mất khỏi sự thờ phượng.
a. Thay vì tìm cách đến với đền thờ đặng thờ lạy, họ đã tìm cách ra khỏi đền thờ để về nhà! (nghe quen quá phải không?)
b. Sự tham dự chiếu lệ đã tạo ra một loại bực bội khi dâng của lễ … thay vì dâng thứ tốt nhứt, họ đã dâng những của lễ và phần thừa thải tồi tệ nhất của họ!
2. Chẳng bao lâu thì họ đã quên chỗ đặc biệt mà họ đã có ở trong lòng Đức Chúa Trời, và không có sự vui mừng nơi họ là ai, họ không còn giữ một sự tôn kính nào cho Đức Chúa Trời ở trong tấm lòng của họ nữa!
a. Họ là những kẻ thờ phượng miễn cưỡng!
b. Họ là những người dâng hiến miễn cưỡng!
3. Trong sự thịnh vượng mới mẻ của họ, họ lấy làm bực bội những điều Đức Chúa Trời muốn nơi họ, Ngài muốn thứ tốt nhứt của họ và không muốn thứ thừa thải của họ … đây là sự mỉa mai của sự thịnh vượng, chúng ta có khuynh hướng dâng tốt hơn khi chúng ta có ít hơn lúc chúng ta có nhiều!
4. Họ đã đánh mất mục tiêu nơi Đức Chúa Trời và nhận lãnh sự thua thiệt nơi bản ngã cùng những nghi thức thờ phượng!
MINH HOẠ.
Khi Giáo Hoàng John 23 có khán giả đầu tiên của mình trong vai trò Giáo Hoàng, ông tìm gặp giữa vòng những người khách đến viếng đầu tiên là mẹ ruột của ông! Bà là một phụ nữ đã sống trong nghèo khó trọn cả đời mình. Khi bước vào Vatican, bà lấy làm kinh ngạc nơi sự trang trí lộng lẫy của các toà nhà, kể cả nhân vật là con trai của bà là Giáo Hoàng hiện đang ngồi ở trong đó. Nhóm của bà đã vào tận bên trong và đã đến gần con trai Giáo Hoàng của bà, bà để ý thấy thể nào họ quì gối xuống để hôn chiếc nhẫn của ông ta. Khi tới phiên của bà, bà cũng quì gối xuống, công nhận quyền bính thuộc linh theo nghi thức của ông ta trên đời sống của bà. KHI ẤY, sau khi hôn chiếc nhẫn rồi, bà nhìn thẳng vào con trai mình và đưa tay ra mà nói: "Bây giờ, hỡi con, con hãy hôn chiếc nhẫn của mẹ, vì nếu chẳng có chiếc nhẫn nầy thì con sẽ không đeo được chiếc nhẫn ấy đâu". Tấm lòng của người mẹ mong muốn tạo nên viễn cảnh cho người con đã đánh mất tầm nhìn vào sự vinh quang đáng phải có! – Vô danh
5. Họ đã quá kiêu ngạo khi gọi mình là: "con cái của Đức Chúa Trời" thế mà chẳng tôn kính Đức Chúa Trời như một người cha xứng đáng!
a. Đức Chúa Trời phán: "Vậy nếu ta là cha, nào sự tôn kính thuộc về ta ở đâu? và nếu ta là chủ, nào sự kính sợ ta ở đâu?" (1.6).
b. Họ rất tốt đẹp khi nói ra điều đó, nhưng không tốt đẹp khi tỏ ra điều đó!
6. Ồ phải rồi, họ vẫn còn làm dấu, vẫn đến đền thờ, đem theo của lễ, đọc những lời cầu nguyện, đã hát những bài hát, v.v… nhưng tấm lòng của họ thì xa cách Đức Chúa Trời.
a. Điều nầy rất rõ ràng khi đi nhà thờ mà không có sự vui mừng
b. Điều nầy rất rõ ràng bởi những thứ của lễ bịnh hoạn
c. Điều nầy rất rõ ràng bởi thái độ tệ hại
7. THẾ MÀ … họ dám hỏi Đức Chúa Trời: "Có gì sai với sự phục vụ của tôi?"
8. Đức Chúa Trời yêu cầu họ phải xem xét việc dâng những của lễ CÙNG chất lượng cho quan trấn thủ của họ và nhìn thấy ông ta ưa thích như thế nào! Malachi 1.8: "Thử dân nó cho quan trấn thủ ngươi, thì người há đẹp lòng và vui nhận cho ngươi sao? Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vậy".
9. Vấn đề không phải là thiếu phục vụ, mà là chất lượng của sự phục vụ!
B. Kháng cự! (1.11-14)
1. Sự kháng cự của họ không tôn kính Đức Chúa Trời sẽ không ngăn được Đức Chúa Trời không được tôn kính trong thế gian … Đức Chúa Trời vẫn sẽ được tôn kính bởi các dân theo đúng kỳ định!
a. Sự họ kháng cự không thờ lạy Đức Chúa Trời thích đáng sẽ là phần thua thiệt CỦA HỌ.
b. Họ chống cự là bản chất trong sự họ dâng hiến có lẽ bởi sự bào chữa rằng họ sẽ dâng có từng đó mà thôi!
2. Họ kháng cự không dâng hiến cho Đức Chúa Trời điều tốt nhứt của họ … nhưng họ vốn quan tâm đến hình tượng của họ, vì vậy họ đã dâng, nhưng họ đã dâng thứ rác rưỡi của họ!
a. Ấy chẳng phải Đức Chúa Trời sẽ không nhận một của lễ nghèo nàn đâu … nếu quả thực của lễ ấy đến từ người thực sự nghèo, nhưng đây không phải là trường hợp, họ vốn giàu có và rất được phước, nhưng họ đã cầm thứ tốt nhứt lại cho chính mình đang khi dâng cho Đức Chúa Trời thứ tệ hại nhất trong những gì họ có.
b. Đức Chúa Trời rõ ràng nhận ra vấn đề trong lời bình của Ngài ở đây: "Đáng rủa thay là kẻ hay lừa dối, trong bầy nó có con đực, mà nó hứa nguyện và dâng con tàn tật làm của lễ cho Chúa!"
c. Hãy chú ý Đức Chúa Trời gọi một người thể ấy là kẻ hay "lừa dối", là kẻ có thể dâng những của lễ tốt hơn nhưng lại chọn làm khác đi.
3. Trông mong Đức Chúa Trời tiếp tục ban phước cho họ với thứ tốt nhứt của Ngài là giả hình khi họ từ chối không chịu dâng thứ tốt nhứt của họ!
MINH HOẠ.
Đế quốc của dòng họ Franks đã có một sự đầu phục bất thường đối với Đấng Christ, đôi khi cả đạo quân đều chịu phép báptêm là Cơ đốc nhân vì sự trở lại Cơ đốc giáo của cấp chỉ huy của họ. Tuy nhiên, họ đang lâm chiến, và vì cớ điều nầy nên nỗi họ không muốn ở lâu trong quân đội. Vì vậy, một giải pháp đã được tìm ra, khi làm phép báptêm cho dòng họ Franks ... như đã được nói, đôi khi cả đạo quân làm một lượt, các chiến binh sẽ đi xuống nước với bàn tay mặt giơ cao lên khỏi mặt nước hầu cho đó là phần chi thể chưa chịu phép báptêm. Theo cách nầy, họ có thể làm nguôi lương tâm của họ trong chiến tranh bằng cách giết chóc cách tàn nhẫn kẻ thù vì bàn tay của họ chưa chịu phép báptêm! Trong khi chúng ta không làm theo cách nầy với gươm giáo, có người đã giữ cho bóp tiền của họ cao lên khỏi mặt nước để chúng không phải chịu phép báptêm, và họ không để cho phần tài chính của họ phục theo Chúa! – Vô danh
4. Điều nầy cũng có thể trở thành thái độ của những người đến thờ phượng hôm nay nữa, chúng ta muốn thứ tốt nhứt của Đức Chúa Trời nhưng không dâng cho Đức Chúa Trời thứ tốt nhứt của chúng ta.
a. Thực vậy, đôi khi chúng ta từ chối không chịu dâng điều chi đó cho Đức Chúa Trời vì chúng ta rất cay đắng rằng Đức Chúa Trời không ban phước cho chúng ta tốt hơn!
b. Không những Israel đời xưa đã phấn đấu với thái độ trong sự thờ phượng, đây là một vấn đề tồn đọng lâu dài với dân sự của Đức Chúa Trời.
5. Nếu chúng ta có khả năng dâng cho Đức Chúa Trời những của lễ tốt và thay vì thế chúng ta lại dâng cho Đức Chúa Trời những thứ của lễ nghèo nàn, chúng ta sẽ không tìm được niềm vui mừng trong mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời.
a. Chúng ta thành thực phản ảnh loại vui mừng chúng ta đang có trong mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời bằng loại của lễ mà chúng ta dâng lên cho Ngài.
b. Đây là lý do tại sao "Đức Chúa Trời yêu kẻ dâng của cách vui lòng" … vì Ngài biết họ có sự vui mừng trong khi họ dâng hiến.
II. KHÔNG TÔN KÍNH GIAO ƯỚC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (2.1-9)
A. Quở trách! (2.1-6)
1. Giờ đây Đức Chúa Trời hướng thái độ không đẹp lòng của Ngài vào những kẻ thất bại không chỉnh đốn dân sự của Đức Chúa Trời, là dòng thầy tế lễ!
a. Các cấp lãnh đạo thuộc linh phải nói ra vấn đề, nhưng họ không nói!
b. Họ cũng rất lo lắng về sự họ được lòng người thay vì tôn kính dành cho Đức Chúa Trời.
c. Họ sợ phải đối diện với dân sự về việc dâng hiến của họ, thay vì thế, họ lại chọn ngồi yên và than vãn về những phần mà họ nhận lãnh từ các thứ của lễ tồi kia.
(1. Hãy nhớ, phần được trao cho thầy tế lễ được trích từ những thứ của lễ!
(2. Vì vậy, họ đã nhận những con sinh bịnh hoạn để mà ăn … chẳng có gì phải ngạc nhiên, Đức Chúa Trời nói ra phản ứng của họ ở 1.13: "Ôi! việc khó nhọc là dường nào! rồi các ngươi khinh dể nó".
(3. Họ nổi giận dữ đối với những gì họ đã nhận, nhưng chưa đủ để đối mặt với dân sự về sự dâng hiến của họ!
2. Đức Chúa Trời nổi giận với các thầy tế lễ, các cấp lãnh đạo thuộc linh vì họ đã kềm lại trong sợ hãi không đối mặt với thứ của lễ có chất lượng nghèo nàn mà dân sự đã đem dâng, e rằng dân sự sẽ không thích họ hoặc không còn dâng cho họ thứ chi đó nữa nếu họ kêu nài với dân sự về chất lượng của lễ đã được đem dâng.
a. Họ không thích những thứ mà họ đã nhận, nhưng không muốn mất hết mọi sự.
b. Họ quan tâm nhiều đến lợi ích của họ hơn là lợi ích của Đức Chúa Trời!
c. Họ là những kẻ hèn nhát trong việc rao giảng lẽ thật!
3. Điều nầy sẽ phản ảnh những ngày sau rốt khi các cấp lãnh đạo sẽ e sợ không dám rao giảng lẽ thật và vì thế sẽ giảng dạy những gì "lỗ tai ngứa" muốn nghe mà thôi!
4. Chúng ta rao giảng lẽ thật là điều vốn dĩ bắt buộc … chúng ta nhận được loại Hội thánh mà chúng ta giảng đạo cho!
a. Nếu không bị thách thức, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ xa cách đối với lẽ thật.
b. Đây là một vấn đề cũ rích!
5. Đôi khi cấp lãnh đạo phải đứng lên phấn đấu vì cớ Đức Chúa Trời, chớ không phải vì cớ riêng của mình!
MINH HOẠ.
Charles Spurgeon, nhà truyền đạo lỗi lạc của nước Anh, từng được một người giàu có mời đến và giảng trong nhà thờ của họ. Ông được người giàu có nầy mời giúp đỡ cho thuộc viên Hội thánh địa phương của họ gây quỹ để trả cho xong một món nợ. Người ấy nói cho Spurgeon biết ông được thoải mái sử dụng ngôi nhà riêng tại địa phương, ngôi nhà trong thành phố, hay ngôi biệt thự nằm ở mé biển khi ông đến, bất cứ ngôi nhà nào ông muốn ở thì ở. Spurgeon đã viết phúc đáp cho người giàu có nầy như sau: "Hãy bán bớt một trong mấy ngôi nhà kia rồi hãy tự mình đi trả nợ!" ... và thế là Spurgeon từ chối không chịu đến! – Vô danh
6. Giao ước của Đức Chúa Trời bao gồm việc ban bố thứ tốt nhứt của Ngài khi họ dâng thứ tốt nhứt của họ … vì dòng thầy tế lễ đã nhận lãnh thứ kém cõi hơn giờ đây họ đang kinh nghiệm thứ kém cõi hơn của Đức Chúa Trời … và họ tiếp tục nhận lãnh sự đầu phục nghèo nàn nầy.
a. Giao ước với người Lêvi là một sự đầu phục với lẽ thật, với sự chổi dậy vì Đức Chúa Trời và rao giảng lẽ thật.
b. Đức Chúa Trời đã chúc phước cho Lêvi vì ông đã xây anh em mình ra khỏi tội lỗi, Đức Chúa Trời đã có một giao ước bình an với Lêvi và dòng dõi của ông vì họ không e sợ khi phải rao giảng cho Đức Chúa Trời.
c. Thế nhưng giờ đây thế hệ dòng Lêvi nầy đã quên bẳng đi sự ký thác của họ, và thay vì xây người đến thờ phượng khỏi tội lỗi của họ, dòng thầy tế lễ chỉ nhận lãnh chất lượng nghèo nàn các thứ của lễ của dân sự, vì thế đã cho phép họ phạm tội!
7. Vai trò của thầy tế lễ không phải là lo được lòng với người ta, mà phải với Đức Chúa Trời … và vì thế người (nam hay nữ) phải đứng ngay chỗ lỗ hỗng rồi lấy lòng yêu thương mà rao giảng lẽ thật.
a. Chẳng có gì phải ngạc nhiên, Đức Chúa Trời đã quở trách dòng thầy tế lễ trong thời của Malachi … họ đã thất bại không làm được điều nầy.
b. Những kết quả rất rõ ràng trong sinh hoạt của xứ sở, dân sự đã thờ lạy Đức Chúa Trời là do bổn phận chớ không phải do tấm lòng của họ.
B. Từ chối (2.7-9)
1. Đức Chúa Trời phán rằng sự họ thất bại không rao giảng lẽ thật đã "vấp ngã" giao ước với Lêvi.
a. Từ ngữ được sử dụng ở đây "vấp ngã" có ý nghĩa trong tiếng Hy bá lai "đồi bại về mặt đạo đức".
b. Họ đã có ảnh hưởng lớn, không may thay, ảnh hưởng của họ thể hiện tình trạng suy đồi về đạo đức qua sự thoả hiệp.
c. Vai trò của họ đã bị thoả hiệp, điều nầy dẫn tới sự đồi bại.
2. Mỉa mai thay, họ đã thất bại không chỉnh đốn được dân sự với hy vọng rằng dân sự sẽ "ưa thích họ" thay vì họ khám phá ra sự ngược ngạo, họ bị dân sự "khinh bĩ"!
a. Bạn đừng muốn được lòng người bằng cách nói cho người ta những gì họ muốn nghe, bạn phải nói cho họ biết lẽ thật.
b. Một Tin Lành suy đồi như thế không làm cho nhà truyền đạo được chấp nhận THÊM đối với thế gian, nó chỉ tỏ ra cho nhà truyền đạo thấy rằng (ông hay bà) đang phung phí ta-lâng nếu mọi sự chúng ta phải nói là những gì thế gian đã nói rồi!
3. Chúng ta không thể giả vờ như mình là quan trọng bằng cách giả vờ rao giảng lẽ thật, chúng ta trông như dại dột mà thôi!
MINH HOA.
Một Đại tá quân đội mới thăng cấp chuyuển sang văn phòng mới của mình. Khi ông ngồi phía sau cái bàn mới thật to thì có tiếng gõ nơi cửa. Đại tá đáp: “Chờ một chút đi, tôi đang trả lời điện thoại". Ông nhấc máy điện thoại lên rồi nói lớn tiếng đủ cho người đứng ngoài cửa nghe: "Dạ thưa Trung Tướng, tôi sẽ gọi Tổng Thống ngay trưa nay. Không thưa Ngài, tôi sẽ không hối tiếc đâu". Thế rồi ông treo máy lên rồi mời người kia vào: "Tôi giúp gì được cho ông đây?" ông vừa nói khi người kia bước vào. "Thưa ông, tôi đến để mắc điện thoại cho ông đây!" – Vô danh
4. Cái điều thực sự đáng kể trong cuộc sống, ấy là Đức Chúa Trời đẹp lòng với chúng ta, phần còn lại đến từ chỗ tin rằng người khác nhìn biết chúng ta chịu kỷ luật đủ để bước theo các đường lối của Đức Chúa Trời thay vì thế gian
5. Đức Chúa Trời phán gì về những của lễ của bạn đây?
a. Có phải bạn dâng cho Ngài thứ tốt nhứt … hay các thứ thừa thải và thứ bịnh hoạn?
b. Có phải bạn tìm được sự vui mừng thực sự trong sự thờ phượng, hay đấy chỉ là nghi thức đối với bạn?
c. Có phải bạn thấy mình muốn làm cho Đức Chúa Trời ít, ít hơn nữa?
KẾT LUẬN. Một mối tương giao với Đức Chúa Trời có sự hy sinh rất nhỏ sẽ có một ít vui mừng! Đầu tư ít đi, lãi ròng sẽ kém thiếu! Đây là một lẽ thật đơn sơ nhưng không kém phần quan trọng vì sức sống đức tin của chúng ta chỉ tốt đẹp giống như giá trị các thứ của lễ của chúng ta! Israel đã dâng những thứ của lễ tồi tệ nhất nhưng lại muốn thứ tốt nhứt của Đức Chúa Trời – thay vì thế, mọi sự họ có chỉ là một tấm lòng trống rỗng. Sự bạn đồng đi với Đức Chúa Trời như thế nào rồi, bạn đang dâng món gì thế?
***









Malachi 1.1-5: "Ngươi Yêu Ta Thế Nào?"



"NGƯƠI YÊU TA THẾ NÀO?"
Malachi 1.1-5
PHẦN GIỚI THIỆU.
Bịnh mắt có nhiều hình thức, có một thứ bịnh mắt rất bất thường được gọi là "thị trường hình ống” (Tunnel Vision). Thứ bịnh nầy gây cho bạn mất đi tầm nhìn ngoại vi, tất cả những gì bạn nhìn thấy ở trước mặt bạn là một phạm vi hẹp, giống như nhìn qua một hình ống hẹp vậy, vì vậy mới có từ "tunnel vision". Cái hoạ của căn bịnh nầy, ấy là một người không bao giờ có một hình ảnh thực hoàn toàn những gì ở xung quanh họ, và họ có thể vấp ngã hoặc va mạnh vào những đồ vật rồi gây thương tích vì tầm nhìn quá hẹp của họ.
Có căn bịnh "Tôi" thuộc linh tương tự trong tự nhiên đối với chứng bịnh "mắt" thuộc thể nầy. Dân Israel đã phát triển căn bịnh "tunnel vision" rất nhiều lần, và nó gây ra tổn thương và thiếu tầm nhìn đã kết quả trong sự tái phạm với Đức Chúa Trời. Trong loạt bài giảng nầy, chúng ta sẽ xem xét "7 thắc mắc mà kẻ tái phạm gạn hỏi Đức Chúa Trời" … sách Malachi được xây dựng quanh 7 thắc mắc nầy, do một dân hay tái phạm đưa ra … và phần đáp ứng của Đức Chúa Trời đối với họ.
Căn bịnh "Tôi" thuộc linh rất dễ chẫn đoán. Cá nhân hay dân tộc nào phát triển nó chỉ nhìn thấy một tầm nhìn hẹp mà thôi, thường thì họ luôn là thiếu thốn và có cần. Hạnh phúc của họ chỉ tồn tại khi mọi sự rõ ràng theo đường của chúng, khi ơn phước của Đức Chúa Trời ra không dứt … và những ơn phước nầy chỉ được hiểu theo một phương thức rất hẹp hòi, phương thức mà họ muốn họ phải trở thành. Khi các PHẦN THƯỞNG quan trọng hơn TRÁCH NHIỆM các nan đề "Tôi" bèn phát triển.
MINH HOẠ.
Tái phạm là việc làm dễ nhất – bạn chẳng làm chi hết. Đôi khi người ta đánh mất tôn giáo của họ chỉ bằng một cơn giận – thường là một sự rò rỉ thật chậm -- Croft M. Pentz, The Complete Book of Zingers (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc., 1990).
Đây là chỗ mà chúng ta tìm gặp dân Israel trong thời của Malachi, một dân tộc đang tái phạm.
1. Khi ấy là thời bình, nhưng với dân Ê-đôm ở chung quanh họ, có lẽ họ đã kinh nghiệm những lần tấn công khủng bố thỉnh thoảng từ kẻ thù thời xa xưa của họ, vì thế làm vở mộng của họ … nghe giống với thời nầy quá!
2. Kinh tế của Israel rất thịnh vượng, nhưng nó đang suy bại và đối diện với một số khó khăn … điều nầy có thể giải thích một số thất bại của họ không dâng phần mười những gì họ đang có (Malachi 3.6).
3. Sự thờ phượng của họ đã sa sút thành những nghi thức, không có chút sự sống nào trong đó … phần lớn dân sự trong nước đều là tôn giáo mà chẳng thực sự thuộc linh chút nào … nghe quen không?
4. Kỷ nguyên những phép lạ chắc chắn đã trôi qua rồi, họ có những truyện tích nói về Ê-li, nhưng dường như chẳng có gì xảy ra nữa trong lãnh vực phép lạ.
5. Họ đã ngày càng mệt mõi đối với những lời tiên tri nói tới Đấng Mêsi không bao lâu nữa sẽ đến, dường như sự việc nầy chẳng hề xảy ra.
6. Họ buồn đến chết mất trong cuộc sống, đây là thế hệ thứ hai hay thứ ba kể từ khi có sự tái thiết đền thờ và sự phấn hưng của họ đối với đất đai dưới quyền của Nêhêmi.
Ở chỗ sự phu tù trước kia của họ đã chữa lành sự thờ lạy hình tượng, lối sống vô tư lự hiện tại của họ đã tạo ra tính lãnh đạm và không thoả lòng. Họ đã trở thành những kẻ tái phạm đối với Đức Chúa Trời, và thái độ của họ được phản ảnh trong 7 thắc mắc mà họ đã gạn hỏi Malachi và Đức Chúa Trời ... thắc mắc đầu tiên chỉ ra sự nghi ngờ về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho họ. Điều nầy thường là điều mà chúng ta tỏ ra khi chúng ta đang sống xa cách Đức Chúa Trời!
Chúng ta phải cẩn thận không nên đánh giá tình yêu của Đức Chúa Trời chỉ bởi những hoàn cảnh trong một phút đồng hồ, "tunnel vision" ấy sẽ không để cho chúng ta nhìn thấy tình yêu thương của Đức Chúa Trời một cách đầy trọn được, nhưng khi nhìn thấy ở một tầm nhìn rộng lớn hơn tình yêu thương của Đức Chúa Trời sẽ ra rất rõ ràng.
I. TÌNH YÊU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI BỊ NGHI NGỜ (1.1-2b).
A. Lòng thương xót của Đức Chúa Trời (1.1-2a).
1. Căn bịnh "Tôi" thường có nghĩa là thất bại không nhìn thấy được tình yêu của Đức Chúa Trời!
a. Và họ đã có cái nhìn tồi tệ ấy!
b. Đức Chúa Trời đã phán rõ ràng rằng Ngài yêu thương họ … nhiều lần trong lịch sử, và mới đây khi họ ra khỏi cảnh phu tù tội nhân đã từ Babylôn trở về đất hứa đang ở dưới quyền các tổ phụ họ.
2. Sự thực cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã cho phép lần phu tù trước đó của họ, để chữa cho họ lành căn bịnh thường xuyên thờ lạy hình tượng của họ … nhưng Ngài đã không ném họ đi và hủy diệt họ.
a. Đây là bằng chứng chỉ ra tình yêu thương liên tục của Ngài dành cho họ.
b. Họ đã thất bại không nhìn thấy được đấy là tình yêu thương.
c. Phần lớn con cái không nhìn thấy kỷ luật là tình yêu thương khi nó tạo ra nhiều đau đớn!
3. Nhưng họ đã tìm lại được sự tự do, và sự thịnh vượng … tuy nhiên, họ lại than phiền rằng họ không nhìn thấy tình yêu của Đức Chúa Trời!
4. Đức Chúa Trời bèn nhắc cho họ nhớ lịch sử của họ … họ là dòng dõi của Gia-cốp, và Đức Chúa Trời đã yêu thương Gia-cốp, làm sao họ nói họ chẳng được yêu thương?
a. Họ không nhìn thấy tình yêu ấy vì họ chỉ nhắm vào cái BÂY GIỜ … thị trường hình ống của họ không khiến họ nhìn thấy nhận định lịch sử vừa được mở rộng ra.
b. Phần lớn thời gian khi chúng ta cảm nhận giống như "Đức Chúa Trời không quan tâm hay chẳng yêu thương tôi" thì cái BÂY GIỜ chính là lý do đó!
5. Sự thực cho thấy rằng Đức Chúa Trời vốn yêu thương họ nhiều hơn là họ tưởng nữa … thực vậy, ấy không phải vì họ tốt hơn các dân khác mà Đức Chúa Trời đem lòng yêu thương họ đâu, sở dĩ Ngài yêu thương họ là vì Đức Chúa Trời CHỌN yêu thương họ … trước tiên Ngài đã tìm kiếm họ!
MINH H0Ạ:
Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải thờ lạy Ngài. Ngài không cần chúng ta, vì Ngài không thể là một Đức Chúa Trời tự mãn và cần điều chi hay cần ai, nhưng Ngài muốn chúng ta. Khi A-đam phạm tội, ấy chẳng phải là ông kêu lên: "Lạy Chúa, Ngài ở đâu?" Mà chính Đức Chúa Trời đã gọi: "Hỡi A-đam, ngươi ở đâu?" -- A.W. Tozer, Worship. The Missing Jewel. Christianity Today, Vol. 41, no. 5.
a. Điều nầy luôn luôn là trường hợp … Đức Chúa Trời tìm kiếm chúng ta trước khi chúng ta tìm kiếm Ngài.
b. Đây là minh chứng về tình yêu của Ngài dành cho chúng ta.
6. NHƯNG … xây khỏi tình yêu Ngài là điều khả thi, là đây là điều mà dân Israel đang làm!
B. Hầp dẫn dân sự! (1.2b).
1. Họ thắc mắc: "Chúa yêu chúng tôi ở đâu?"
a. Họ không nhìn thấy tình yêu của Đức Chúa Trời, họ cũng bị hạn chế trong tầm nhìn của họ, chỉ giây phút hiện tại là tiêu điểm của họ.
b. Chúng ta không thể xét đoán tình yêu của Đức Chúa Trời căn cứ theo cơ hội, tình yêu của Đức Chúa Trời đang tác động qua thời gian và cần phải có thì giờ mới nhìn thấy tình yêu ấy cách thích ứng.
2. Thường thì chúng ta thất bại không nhìn thấy tình yêu của Đức Chúa Trời khi chúng ta đối diện với những hạn chế, hay nan đề, hoặc đau khổ … nhưng chúng ta phải hiểu rằng dầu các biến cố nầy có thể là một dấu chỉ về tình yêu của Ngài nếu chúng đang dạy cho chúng ta biết cách tránh né những lựa chọn không lành mạnh trong cuộc sống của chúng ta.
MINH HOẠ.
Trong một kỳ trại hè tôn giáo dành cho các em thiếu nhi, một trong những nhà tư vấn đã hướng dẫn cuộc thảo luận về mục đích mà Đức Chúa Trời đã có trong mọi sự mà Ngài đã dựng nên. Chúng bắt đầu tìm ra những lý do đúng đắn nói tới những đám mây, cây cối, núi non, sông rạch, các loài thú đồng cùng mọi sự khác trong thiên nhiên. Sau cùng, một em thiếu nhi nói: "Nếu Đức Chúa Trời đã có một mục đích đúng đắn cho muôn vật, vậy tại sao Ngài dựng nên cây độc (ivy) kia vậy?" Người hướng dẫn cuộc thảo luận mắc nghẹn và ông ta đã vật vã với câu hỏi ấy, một em thiếu nhi khác đáp thay lời như sau: "Lý do Đức Chúa Trời dựng nên cây độc ấy là vì Ngài muốn chúng ta biết có những việc nhất định chúng ta chớ có mó tay vào" -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988) p. 254.
3. Đức Chúa Trời không cho phép đau khổ chỉ làm cho chúng ta thêm khổ đau, mà để khiến cho chúng ta lớn lên và mạnh mẽ hơn!
a. Đôi khi dân Israel thất bại không nhìn thấy điều nầy, và kết quả luôn luôn y như thế, một sự nguội lạnh về mặt thuộc linh và thắc mắc về tình yêu và sự quan phòng của Đức Chúa Trời đối với họ.
b. Mọi sự trong cuộc sống phải được xem xét trong một phạm trù rộng lớn hơn để tán thưởng tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta.
4. Tai hại thay, đã có 2 hay 3 thế hệ kể từ khi dân Israel quay trở về xứ và tái thiết đền thờ, rồi thay vì họ trưởng thành hơn họ lại thấy đau khổ hơn!
a. Đây quả là điều không may, nhưng đôi khi lớn tuổi thêm chỉ làm cho dân sự THÊM cay đắng chớ không thêm được về mặt thuộc linh!
MINH HOẠ.
Quả là tai hại khi biết được rằng hầu hết những người thất bại với Kinh thánh đã thất bại trong phân nửa thứ nhì cuộc đời của họ -- Joe Aldrich, Leadership, Vol. 13, no. 3.
b. Bạn có thể vấp ngã sau nầy dễ dàng trong cuộc sống cũng như bạn có thể vấp ngã trước đó trong cuộc sống.
5. Chẳng có một điều gì đau khổ hơn một tín đồ nghi ngờ tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho họ!
a. Mối nghi ngờ của họ về tình yêu của Đức Chúa Trời đã kết quả trong sự thờ phượng nặng về nghi thức không có sự sống.
b. Mối nghi ngờ của họ về tình yêu của Đức Chúa Trời đã kết quả trong việc dâng hiến nghèo nàn, cầm giữ lại phần mười của họ (Malachi 3.6…).
c. Mối nghi ngờ của họ về tình yêu của Đức Chúa Trời đã kết quả trong sự chán chường với cuộc sống.
d. Mối nghi ngờ của họ về tình yêu của Đức Chúa Trời đã kết quả trong chỗ thiếu tình yêu thương dành cho nhau, vì vậy ly dị đã cực kỳ phát triển, và lấy người vô tín (làm chồng, vợ) đã rất phổ thông.
6. Khi bạn không còn tin Đức Chúa Trời yêu thương bạn, sẽ chẳng khó sống trong việc không tỏ ra tình cảm với ai khác!
II. TÌNH YÊU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ ĐƯỢC TỎ RA! (1.2c-5).
A. Lấy lại được tầm nhìn (1.2c-3).
1. Giống như một phương thức mở ra tầm nhìn của họ, Đức Chúa Trời nhắc cho họ nhớ tới tình yêu của Ngài dành cho Gia-cốp … là tổ phụ của họ.
a. Bằng cách làm nầy, Ngài đang nhắc cho họ nhớ tới giao ước của Ngài … luôn luôn yêu thương dòng dõi của Gia-cốp, HỌ!
b. Thực sự họ cần phải nhìn thấy BÊN KIA tình trạng hiện tại của họ, và lịch sử cung ứng bằng cớ về sự hiện diện và tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
c. Cũng vậy, chúng ta thất bại không nhìn thấy y như thế, chúng ta giận dữ với Đức Chúa Trời về một việc MỚI VỪA xảy ra mà quên hết những ơn thương xót kia của Ngài trong quá khứ.
2. Đây là một sự thật rất đơn sơ, nhưng nó có lắm quyền phép trên đời sống của chúng ta … ĐỨC CHÚA TRỜI YÊU THƯƠNG CHÚNG TA!
MINH HOẠ.
Karl Barth được mời làm diễn giả đặc biệt tại một thần học viện ở Đông phương, và trong khi ông có mặt ở đó một nhóm Mục sư, các nhà thần học cùng giới chức của nhà thờ đến ngồi bên cạnh ông để chất vấn ông. Có người đưa ra thắc mắc: "Thưa Mục sư Barth, đâu là tư tưởng quan trọng nhất mà ông biết?" Đây là câu đáp của ông: "Chúa Jêsus yêu thương tôi, tôi biết rõ điều nầy, vì Kinh thánh nói cho tôi biết như vậy" -- W. Frank Harrington, "The Love That Brought Him," Preaching Today, Tape No. 51.
3. Những kẻ nào quan tâm đến sự chối bỏ đều là dòng dõi của Ê-sau … họ đã chối bỏ quyền con trưởng và giao ước, nhưng dân Israel không có lý do gì để nghi ngờ tình yêu của Đức Chúa Trời cả.
a. Đức Chúa Trời phán ở đây: "Ta ghét Ê-sau".
b. Điều nầy không phải là thất thường đâu, sở dĩ như vậy là vì họ đã chối bỏ giao ước, thế nên họ bị "ghét".
4. Dân Israel không phải là những người đang lâm cảnh hiểm nghèo, những điều họ nghi ngờ về tình yêu thương của Đức Chúa Trời là vô căn cứ.
a. Nghịch cảnh và sự phu tù trước đó của họ không phải là những dấu hiệu chỉ ra sự Đức Chúa Trời thù ghét họ, mà là bằng chứng của tình yêu Ngài, để xây họ ra khỏi sự gian ác của họ!
MINH HOẠ.
Trong Đệ II Thế Cjhiến, viên phi công nổi tiếng người Mỹ, Đại úy Eddie Rickenbacker, đã bay với một sứ mệnh đặc biệt đến các quần đảo Thái Bình Dương. Chiếc máy bay bị bắn rơi, và Rickenbacker cùng phi hành đoàn của mình bị lạc trên biển trong 21 ngày. Rickenbacker đã viết về kinh nghiệm ấy. "Lúc đầu phần nhiều người trong số họ đều là những kẻ vô thần cũng như theo thuyết bất khả tri, nhưng sau cùng của cơn thử thách khủng khiếp ấy, theo đường lối riêng của mỗi người đều đã khám phá ra Đức Chúa Trời. Mỗi người tìm gặp Đức Chúa Trời trong đại dương trống không, rộng lớn đó. Mỗi người đã tìm được ơn cứu rỗi và sức lực trong sự cầu nguyện, và cả nhóm đã phát triển một cảm xúc tạo ra một sự sôi nổi trong mối tương giao và sự thờ phượng của con người và một ý thức về sự bình an thật dịu dàng” -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988) p. 254.
b. Đôi khi những lúc gian truân trong đời sống chúng ta giúp gạn lọc khuynh hướng của chúng ta hay xây khỏi Đức Chúa Trời, chúng ta đến với Ngài vì chúng ta CẦN đến Ngài.
B. Chương trình của Đức Chúa Trời (1.4)
1. Thế thì có Ê-đôm … có lẽ dân Israel rất giận dữ vì Ê-đôm kẻ thù của họ vẫn thịnh vượng … Ê-đôm cũng đang tái thiết ở gần đó, và Ê-đôm rất kiêu ngạo về khả năng thịnh vượng bởi sức riêng của họ.
a. Tuy nhiên, Êxêchiên đã nói tiên tri rằng họ sẽ bị hoang vu (Êxêchiên 35).
b. Giêrêmi đã nói tới sự phục hưng của dân Israel và sự hủy diệt của dân Ê-đôm. Ca thương 4.22: "Hỡi con gái Si-ôn, sự phạt tội lỗi mầy đã trọn, Ngài không đày mầy đi làm phu tù nữa! Hỡi con gái Ê-đôm, Ngài sẽ thăm phạt tội mầy; phô bày gian ác mầy!"
c. Xachari cũng nói y như vậy (Xachari 5.5-11).
2. Sự khoe khoang khoác lác của Ê-đôm một ngày kia sẽ bị chỉ ra là điên dại … kiêu ngạo luôn luôn là sự mở đầu cho bại hoại!
MINH HOẠ.
Một vị Mục sư, một tay hướng đạo, và một chuyên gia vi tính là những hành khách duy nhứt trên một chuyến máy bay nhỏ. Viên phi công quay ra phía cabin rồi nói máy bay sẽ rơi và rủi thay chỉ có 3 chiếc dù trong máy bay trong khi họ có tới 4 người. Ông nói thêm: "Khi tôi là phi công và có 3 đứa con, một vợ nên tôi lấy một cái" rồi ông ta nhảy ra khỏi máy bay. Wiz chuyên gia vi tính nói tiếp: "Tôi phải có một chiếc dù vì tôi là người thông minh nhất trên thế gian và ai nấy đều cần đến tôi" vì vậy ông ta lấy một chiếc dù rồi nhảy ra. Vị Mục sư xây sang tay hướng đạo rồi với nụ cười buồn bã nói: "Bạn còn trẻ và cả cuộc đời bạn đang ở trước mặt bạn, tôi đã sống một đời sống rất phong phú và lâu dài, vì vậy bạn hãy lấy chiếc dù còn lại rồi tôi sẽ rơi xuống cùng chiếc máy bay". Tay hướng đạo kia đáp: "Thong thả đã Mục sư ơi, người thông minh nhất trên thế gian đã lấy túi xách của tôi và đã nhảy ra rồi … chúng ta mỗi người có một chiếc dù đây!" Quá đủ cho sự kiêu ngạo!!! -- source unknown
3. Thất bại của họ không tin Đức Chúa Trời yêu thương họ là bằng chứng của sự họ thất bại không tin theo Lời của Đức Chúa Trời từ khi Lời ấy nói rất rõ ràng cái ngày Ê-đôm sẽ sụp đổ.
a. Vấn đề, ấy là họ thực sự hiểu sai về tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
b. Họ đã nghĩ tình yêu của Đức Chúa Trời có nghĩa là họ được miễn trừ trách nhiệm và nổ lực.
c. Có nhiều lần chúng ta cầu nguyện theo đường lối sai lầm khi mọi sự đi vào chỗ sai lầm … chúng ta muốn Đức Chúa Trời phải "pha trộn" nan đề mà không có sự dính díu của chúng ta, nhưng sự cầu nguyện của chúng ta thực sự giống như vầy hơn.
MINH HOẠ.
Tôi đã xin Đức Chúa Trời cất sự kiêu ngạo của tôi đi, và Đức Chúa Trời đáp “không”. Ngài phán cất đi không phải là việc của Ngài, mà tôi phải từ bỏ nó đi. Tôi xin Đức Chúa Trời chữa lành cho toàn thân thể của đứa con tôi bị tật nguyền, và Đức Chúa Trời phán: "Không, tâm linh của nó đã được lành rồi. Thân thể của nó chỉ là tạm thời mà thôi”.
Tôi đã xin Đức Chúa Trời kiên nhẩn chịu đựng tôi, và Đức Chúa Trời trả lời “không”. Ngài phán rằng kiên nhẩn là phó phẩm của cơn đại nạn. Đức tính ấy không được phê chuẩn; phải kiếm mới có được đức tính ấy.
Tôi xin Đức Chúa Trời ban cho tôi hạnh phúc; Đức Chúa Trời trả lời “không”. Ngài phán Ngài ban cho nhiều ơn phước; hạnh phúc đang đến với tôi. Tôi xin Đức Chúa Trời buông tha nỗi đau cho tôi, và Đức Chúa Trời trả lời “không”. Ngài phán tôi phải tự mình tấn tới, nhưng Ngài tỉa xén tôi để khiến tôi được kết quả.
Tôi xin Đức Chúa Trời không biết Ngài có yêu thương tôi hay không, và Đức Chúa Trời đáp “có”. Ngài ban cho tôi Con độc sanh của Ngài là Đấng đã chịu chết vì tôi, và tôi sẽ được ở trong thiên đàng một ngày kia vì tôi tin.
Tôi xin Đức Chúa Trời giúp tôi biết yêu thương tha nhân giống như Ngài đã yêu tôi, và Đức Chúa Trời phán: "Ahhh, sau cùng! Giờ đây ngươi có ý hay rồi đó" -- A Christmas card cited by Vic Pentz, "A Twinge of Nostalgia," Preaching Today, Tape No. 88.
4. Họ không có một lý do gì để nghi ngờ tình yêu của Đức Chúa Trời cả, họ vẫn thất bại giống như trong quá khứ … được bảo đảm bằng những lời hứa của Đức Chúa Trời, đây không phải là lúc để buồn bã, héo hon vì những gì tức thời họ cảm nhận.
C. Lời hứa cao cả! (1.5).
1. Đức Chúa Trời bảo đảm với họ: "Mắt các ngươi sẽ thấy, và các ngươi sẽ nói rằng: Nguyền Đức Giê-hô-va là lớn ngoài cõi Y-sơ-ra-ên!"
a. Trong khi họ nhất thời bị kẹt trong thị trường hình ống và vì lẽ đó không thể nhìn thấy bên kia phạm vi hẹp của "hôm nay" không bao lâu nữa sẽ có một thời kỳ khi họ chứng kiến Đức Chúa Trời hành động, thậm chí ở bên kia các đường biên giới của Israel, và họ sẽ nhận ra rằng quả thực Đức Chúa Trời rất yêu thương họ.
b. Đức Chúa Trời đang bảo đảm cho họ về tương lai … sau khi nhắc lại quá khứ, để nâng họ ra khỏi chỗ tái phạm trong hiện tại.
2. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời đang hành động không thể luôn luôn thấy được CHỈ trong giây lát, hay chỉ trong đời sống RIÊNG TƯ của chúng ta … chúng ta cần phải nhìn chung quanh! Và nếu chúng ta thực nhìn quanh rồi, sẽ có nhiều chứng cớ cho thấy rằng Đức Chúa Trời đang yêu thương chúng ta!
a. Tái phạm bắt đầu với nan đề "Tôi", và nó phải được chỉnh sửa với thấu kính của quá khứ và tiêu điểm của Lời Đức Chúa Trời về tương lai … khi ấy bạn sẽ có "tầm nhìn" đúng đắn.
b. Cảm tạ Đức Chúa Trời tình yêu thương của Ngài không giống như tình yêu của chúng ta!!!
MINH HOẠ.
Nếu Đức Chúa Trời yêu thương bạn nhiều như bạn yêu thương Ngài, bạn sẽ ở đâu? - Edythe Draper, Draper's Book of Quotations for the Christian World (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry 4765.
3. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời có quyền phép đủ để làm thay đổi mọi sự ở quanh họ, và mọi sự ở trong họ … nhưng chỉ khi tình yêu ấy không bị nghi ngờ!
MINH HOẠ.
Trong cuộc chiến ở Hàn quốc, một công dân Cơ đốc Nam hàn bị những người Bắc hàn bắt và ra lịnh thủ tiêu. Nhưng khi viên chỉ huy Bắc hàn trẻ tuổi thấy tù phạm đang chăm sóc một viện mồ côi, đang lo cho các em thiếu nhi còn nhỏ tuổi, anh ta quyết định tha cho Cơ đốc nhân nầy rồi thay vì thế giết con trai của ông ta. Thế là họ bắt đứa con 19 tuổi rồi bắn nó ngay trước mặt Cơ đốc nhân kia. Sau đó, số phận cuộc chiến thay đổi và chính viên chỉ huy Bắc Hàn trẻ tuổi kia bị lực lượng Liên Hiệp Quốc bắt giữ, bị xét xử rồi bị kết án tử hình. Nhưng trước khi bản án được thi hành, Cơ đốc nhân có đứa con trai bị giết hôm nọ đã đến và nài xin mạng sống của kẻ giết người. Ông tuyên bố rằng người Bắc hàn nầy còn trẻ, anh ta thực sự không biết mình đang làm gì nữa. Cơ đốc nhân ấy nói: "Xin trao anh ta cho tôi, và tôi sẽ huấn luyện anh ta". Các lực lượng Liên Hiệp Quốc chấp nhận lời thỉnh cầu đó và người cha đem kẻ giết con mình kia về nhà riêng rồi chăm sóc cho anh ta. Và ngày nay, chàng thanh niên đó, trước kia phục vụ cho một chủ nghĩa, là một Mục sư Cơ đốc, đang phục vụ Đấng Christ. Đây là quyền phép của tình yêu thương có tính tha thứ chỉ có thể được mô tả là loại tình yêu siêu nhiên, loại tình yêu mà Ê-tiên đang hấp hối phản ảnh trong sách Công vụ các sứ đồ -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988) p. 224.
4. Còn bạn thì sao? Có phải bạn tin Đức Chúa Trời yêu thương bạn không? Nếu bạn nghi ngờ điều nầy, nó sẽ tỏ ra trong cách bạn yêu tha nhân cũng như cách bạn yêu cái tôi của mình … và nếu bạn không nghi ngờ tình yêu ấy, bạn sẽ ở đúng tư thế tỏ ra cho thế gian biết quyền phép của tình yêu Đức Chúa Trời trong đời sống của một người!
a. Tái phạm khởi sự ở chỗ nầy đây … nghi ngờ tình yêu của Đức Chúa Trời.
b. Đây là thắc mắc mà kẻ tái phạm hay hỏi: "Chúa yêu tôi ở đâu?"
PHẦN KẾT LUẬN. Một trong những dấu hiệu sống xa cách Đức Chúa Trời là cay đắng và nghi ngờ về tình yêu của Ngài. Chúng ta thường "xét đoán" Đức Chúa Trời dựa theo các ơn phước vật chất hay chỉ trong giây lát. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời phải được quan sát trọn cả một đời hoặc chúng ta thất bại không nhìn thấy được tình yêu ấy theo đúng cách. Thất bại không nhìn thấy tình yêu của Đức Chúa Trời là nan đề "Tôi" nghiêm trọng, và chúng ta cần có tầm nhìn sao cho đúng đắn. Đức Chúa Trời sẽ không làm cho chúng ta thất bại đâu – Ngài yêu thương nhiều lắm chúng ta nên tin cậy Ngài!
***