Thứ Ba, 4 tháng 5, 2010

Mathiơ 18.10-14: "Ngược đãi con cái Đức Chúa Trời"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Ngược đãi con cái Đức Chúa Trời
Mathiơ 18.10-14
1. Tôi thích một đoạn trích ngắn được gọi là “Những luật lệ riêng của trẻ con”. Một số người trong quí vị có thể thuật lại rất dễ dàng. 1. Nếu tôi thích món đó, thì nó là của tôi. 2. Nếu cái gì ở trong tay tôi, thì đó là của tôi. 3. Nếu tôi lấy cái đó từ tay bạn, thì cái đó là của tôi. 4. Nếu tôi cầm cái đó một chút thôi, thì cái đó là của tôi. 5. Nếu cái đó là của tôi, thì không bao giờ là của bạn đâu. 6. Nếu tôi đang làm hay đang dựng lên một việc gì, hết thảy các chi tiết đều là của tôi tất. 7. Nếu cái gì đó giống của tôi, thì nó là của tôi. 8. Nếu tôi nhìn thấy cái đó trước, thì đó là của tôi. 9. Nếu bạn đang chơi với cái gì đó mà để nó xuống đất, thì tự nhiên cái đó là của tôi. 10. Nếu cái gì đó bị hư hỏng, thì cái đó là của bạn.
2. Ai nấy đều biết những đứa trẻ mới biết đi chúng sống rất nhẫn tâm. Nếu một đứa trẻ dư cân một chút, nó có mụn trứng cá rất xấu xí, hai lỗ tai thật to hay một dáng dấp bất thường nào đó dễ trông thấy, những đứa khác sẽ thường dằn vặt nó một cách rất tàn nhẫn. Có thể quí vị là đứa trẻ đó. Có thể quí vị không phải là một phần tử trong "băng". Có thể quí vị đã cảm thấy sự khinh rẻ của những đứa trẻ khác khi còn là trẻ con, một thiếu niên hay thậm chí là một người lớn. Bị xem khinh là một cảm xúc rất cô đơn.
3. Là bậc cha mẹ, nhiều người trong chúng ta không những nhớ những lần vật vã ở lứa tuổi thanh niên, nhưng chúng ta đang nếm trải chúng một lần nữa với con cái của mình. Nhìn thấy chúng bị tổn thương, chúng ta cũng thấy bị thương tổn. Trong phân đoạn Kinh Thánh, chúng ta có một cái nhìn thoáng vào lòng của Đức Chúa Cha khi con cái Ngài bị xem khinh và bị chối bỏ.
4. Nội dung của chương nầy là mối quan hệ của chúng ta trong vai trò con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta thuộc về gia đình đời đời của Ngài: "anh em chúng ta trong đức tin" (Galati 6.10). Khi Chúa Jêsus bằt đầu phần dạy dỗ nầy, Ngài "gọi một đứa trẻ đến". Tôi tưởng tượng đứa trẻ nầy đang ngồi bên hông Chúa Jêsus khi Ngài giải thích trở nên con cái Ngài có ý nghĩa như thế nào!
A. Thứ nhứt, Chúa Jêsus dạy rằng chỉ khi nào chúng ta "đổi lại [được thay đổi] và nên như đứa trẻ" thì chúng ta sẽ "được vào Nước thiên đàng" rồi được làm con nuôi trong gia đình của Đức Chúa Trời.
B. Thứ hai, mặc dù Chúa Jêsus đang dạy về "những đứa trẻ", cũng có thể được áp dụng đúng cho những kẻ đang là con trẻ theo phần xác, phần ứng dụng thực sự là cho con cái về mặt thuộc linh, là những tín đồ.
C. Thứ ba, vì con cái của Đức Chúa Trời là rất quan trọng đối với Ngài, Chúa Jêsus đã dạy về mối nguy hiểm của việc gây cho chúng phải sa vào tội lỗi.
5. Trong phân đoạn Kinh Thánh hôm nay, chúng ta sẽ xem mạng lịnh trực tiếp và phần giải thích chi tiết về việc không nên xem khinh bất kỳ ai thuộc về gia đình của Đức Chúa Trời.
I. Mạng lịnh trực tiếp về con cái của Đức Chúa Trời (câu 10a).
A. Phần định nghĩa về việc xem khinh các tín đồ khác.
1. Với "con trẻ" kia, có lẽ vẫn còn ngồi trên gối của Ngài đóng vai trò như một minh hoạ, Chúa Jêsus phán: "Hãy giữ mình đừng khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ nầy".
2. Chúa Jêsus phán: "Hãy giữ…" hay "Phải cẩn trọng". Trong Tân ước Hy lạp, điều nầy đề nghị tính cách gắt gao. Đây là một lời cảnh cáo mà Đức Chúa Trời sẽ không đẹp lòng nếu chúng ta "khinh dể" bất kỳ một con cái nào của Ngài.
3. Cho phép tôi đóng ngoặc đơn: "Hãy lắng nghe cho kỹ và hãy chú ý. Đức Chúa Trời rất nghiêm ngặt về cách thế chúng ta đối xử với con cái của Ngài". Đừng quên hình ảnh ở trong câu 6.
4. Từ ngữ "khinh dể" sát nghĩa là "suy nghĩ thấp kém". Nó có ý nói tới việc đối xử với một Cơ đốc nhân theo cách ráng sức làm cho người ấy ra đáng khinh.
5. Các môn đồ đang cãi nhau giữa vòng họ xem ai là lớn nhất đã làm bật ra sự dạy nầy. Trong tham vọng ích kỷ của họ muốn leo lên tới đỉnh cao, họ sẵn lòng hạ thấp nhau.
6. Chúa Jêsus đang phán rằng không nên để mắt dưới cái mũi kiêu căng của mình để nhìn bất kỳ một tín hữu nào khác. Trong nước của Đức Chúa Trời, chúng ta ngang bằng nhau. Chúng ta không nên xem khinh nhau. Điều nầy phản văn hoá… thậm chí trong Hội Thánh!
B. Một số trường hợp về việc xem khinh các tín hữu khác.
1. Chúng ta "khinh dể"các tín hữu khác khi chúng ta KHOE KHOANG VỀ SỰ TỰ DO của chúng ta. Chúa Jêsus đã đến để khiến cho chúng ta "thực được tự do". Tôi xuất thân từ một lai lịch xứng đáng và thật là kỳ diệu khi học biết quyền tự do của mình trong Đấng Christ. Tuy nhiên, chúng ta từng thấy quyền tự do của chúng ta có một sự cám dỗ rất tinh vi khiến cho chúng ta trở nên kiêu ngạo về mặt thuộc linh rồi nhìn xuống hay "khinh dể" các Cơ đốc nhân khác. I Phierơ 2.16 chép: "Hãy ăn ở như người tự do, nhưng chớ dùng tự do làm cái màn che sự hung ác, song phải coi mình là tôi mọi Đức Chúa Trời".
2. Chúng ta "khinh dể" các tín hữu khác khi chúng ta ĐƯỢC MẾN CHUỘNG. Trong bất kỳ một Hội Thánh nào, ai ăn mặc đẹp, chỉnh tề sẽ nhận lãnh một sự tiếp đón nồng hậu nhiều hơn kẻ ăn mặc xoàng xỉnh và không sạch sẽ. Có nhiều tín hữu bị lôi cuốn theo dáng dấp bề ngoài. Hãy chú ý Giacơ 2.2-8.
3. Chúng ta "khinh dể" các tín hữu khác khi chúng ta KHÔNG GIÚP ĐỠ ĐƯỢC NGƯỜI KHÁC KHI HỌ CÓ CẦN. Phaolô đã trách cứ Hội Thánh Côrinhtô vì những kẻ có dư dật, họ đã từ chối không chia sẻ với những kẻ túng ngặt. Hỡi Hội Thánh, tôi lấy làm tự hào về quí vị trong phương thức quí vị phục vụ lẫn nhau. I Giăng 3.17-18 chép: "Nếu ai có của cải đời nầy, thấy anh em mình đang cùng túng mà chặt dạ, thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được! Hỡi các con cái bé mọn, chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật”.
4. Chúng ta "khinh dể" các tín hữu khác khi chúng ta CHẾ GIỄU BỀ NGOÀI CỦA HỌ. Một số tín hữu thành Côrinhtô đã chế giễu bề ngoài của Phaolô. Ông trách cứ họ về thái độ nhỏ nhen ấy. "Có người nói rằng các thơ của người nặng lời và bạo mạnh; nhưng đến khi có mặt thì người yếu đuối và lời nói chẳng có giá gì" (II Côrinhtô 10.10). Trong Galati 4.14, Phaolô khen ngợi người thành Galati vì ơn của họ: "vì xác thịt tôi yếu đuối sanh ra sự rèn thử cho anh em mặc dầu, anh em cũng chẳng khinh tôi, chẳng chối tôi, mà lại tiếp rước tôi". Sở dĩ như thế là vì người ta nhìn xem hay hành động khác nhau không có nghĩa là chúng ta được tự do "khinh dể" họ. Hãy nhớ, họ là con cái của Đức Chúa Trời.
5. Chúng ta "khinh dể" các tín hữu khác khi chúng ta XEM HỌ LÀ KHÔNG CÓ HY VỌNG. Khi một Cơ đốc nhân vấp ngã và sa vào tội lỗi, nơi họ rất dễ thối lui. Có phải quí vị từng nói: "Ông ta biết nhiều quá và giờ đây ông ta chịu lấy điều ông ta đáng chịu"? Galati 6.1-2 chép: "Hỡi anh em, ví bằng có người nào tình cờ phạm lỗi gì, anh em là kẻ có Đức Thánh Linh, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại; chính mình anh em lại phải giữ, e cũng bị dỗ dành chăng. Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ”. Hãy nhớ bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể vấp ngã lắm đấy, bất cứ lúc nào.
6. Chúng ta "khinh dể" các tín hữu khác khi chúng ta BỰC TỨC MỘT TÍN HỮU ĐANG ĐỐI ĐẦU VỚI CHÚNG TA. Khi chúng ta phạm tội, dù cố ý hay không cố ý và một anh em đến đối mặt với chúng ta, đánh trả lại họ là điều rất dễ dàng. Hết thảy chúng ta đều cần sự quở trách trong tình yêu thương và sửa chữa từ từ. Khi điều ấy xảy ra, phải cảm tạ người có lòng quan tâm. Phaolô nói với Tít: "Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con" (Tít 2.15).
7. Chúng ta "khinh dể" các tín hữu khác khi chúng ta CHIẾM ƯU THẾ TRÊN HỌ. Trong I Têsalônica 4.6 Phaolô cảnh cáo rằng "Chớ có ai phỉnh phờ anh em mình, …, vì Chúa là Đấng báo oán…". Chúng ta cần phải yêu thương nhau, phục vụ nhau, cầu nguyện cho nhau, giúp đỡ nhau, khích lệ nhau nhưng không hề lợi dụng nhau.
II. Phần giải thích chi tiết về con cái của Đức Chúa Trời (các câu 10b-14).
A. Chúng ta không nên khinh dể các tín hữu khác vì Đức Chúa Trời sai thiên sứ đến phục vụ họ (câu 10b).
1. Trong phân nửa thứ nhì của câu 10, Chúa Jêsus phán: "vì Ta bảo các ngươi…" Câu nầy có tính cách nhấn mạnh. Giống như Chúa đã chiếm lấy một chỗ đứng để làm chứng và khẳng định thực tại của thiên đàng.
2. Chúa Jêsus đã khẳng định, nhấn mạnh điều gì? Ngài phán rằng "các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha ta, là Đấng ở trên trời".
3. Có một sự hấp dẫn với thiên sứ trong nền văn hoá của chúng ta. Một trong những chương trình được ưa thích trên TV là “được thiên sứ chạm đến”. Rủi thay, phần lớn cốt chuyện được viết và được nói về các thiên sứ trong thời buổi ấy không song hành với Kinh Thánh.
4. Hêbơrơ 1.14 nói tới vai trò của các thiên sứ thánh khi chép: "Các thiên sứ há chẳng phải đều là thần hầu việc Đức Chúa Trời, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao?" Nói cách khác, Đức Chúa Trời đã chỉ định các thiên sứ phải làm thoả mãn mọi nhu cần của con cái Ngài, hết thảy các tín đồ. Thiên đàng chỉ biết cách thức họ lo bảo hộ và tiếp trợ cho mỗi một người chúng ta trong sự thầm lặng và theo cung cách không thấy được bằng mắt thường.
John Paton là một giáo sĩ ở quần đảo New Hebrides. Một tối kia, những người bản xứ có vẻ thù nghịch đã đến bao vây trạm truyền giáo, họ tính thiêu cháy gia đình Paton rồi giết chết họ. Paton cùng vợ mình đã cầu nguyện suốt buổi tối kinh khiếp ấy, họ xin Đức Chúa Trời giải cứu họ. Khi sáng ra, họ lấy làm kinh ngạc khi thấy những kẻ tấn công ấy đã bỏ đi. Một năm sau, viên tù trưởng của bộ lạc đã trở lại đạo cùng Đấng Christ. Sau khi nhớ lại những gì đã xảy ra, Paton đến hỏi vị tù trưởng điều gì đã giữ tay ông ta lại không đốt cháy ngôi nhà và giết chết họ. Vi tù trưởng đáp trong nỗi kinh ngạc: "Những người ở với ông là ai vậy?" Paton biết rõ chẳng có ai hiện diện ở đấy – nhưng viên tù trưởng nói ông ta lấy làm sợ hãi không dám tấn công vì ông ta đã trông thấy hàng trăm người cao lớn với áo xống sáng láng cầm gươm trần đứng vây quanh trạm truyền giáo (Today in the Word, MBI, October, 1991).
5. Nhiều người xem mệnh đề "thiên sứ của chúng nó" là khả thi vì mỗi tín đồ đều có một hay nhiều thiên sứ bảo vệ. Đây là một đề tài rất thú vị dành cho một thời điểm khác.
6. Hãy xem kỹ lời lẽ của Chúa Jêsus: "các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha ta, là Đấng ở trên trời". Tôi tin Chúa Jêsus đang nói cho chúng ta biết rằng các thiên sứ không hề dời mắt khỏi Đức Giêhôva. Họ đang chăm chú nhìn vì Ngài đang điều khiển họ theo cách cá nhân phải ra đi và phục vụ vì ích cho chúng ta.
7. Nếu mỗi một tín đồ là rất quan trọng đối với Đức Chúa Trời đến nỗi các thiên sứ đã được giao cho phần việc làm thoả mãn mọi nhu cần của họ, thì chúng ta là ai mà dám "khinh dể" và xem thường họ chứ?
Nhà truyền đạo lỗi lạc G. Campbell Morgan đã viết: "Đừng quên rằng các thiên sứ không khinh dể con cái [của Đức Chúa Trời] đâu. Thiên sứ quan phòng và canh chừng họ, rồi đứng biện hộ trước toà án trên trời cho họ … Và nếu quí vị phiêu bạt xa cách Đức Chúa Cha dịu dàng kia, thiên sứ của quí vị vẫn đang đi theo quí vị, và nếu không có âm thanh gì hết, một lần nữa quí vị xây lại cùng Đức Chúa Trời, hết thảy các thiên sứ sẽ hiệp với niềm vui của thiên sứ ấy, là Đấng công bố sự quí vị quay trở lại… Những đứa nhỏ đều có các thiên sứ trong tư thế chờ đợi".
John MacArthur trình bày điều nầy như sau: "Sự thực cho thấy rằng Đức Chúa Trời Toàn Năng vốn quan tâm về sự chăm sóc con cái yêu dấu của Ngài đến nỗi Ngài có những đoàn đông các thiên binh thiên sứ trong sự hiện diện của Ngài sẵn sàng chịu sai đi hầu sự vùa giúp của họ bày tỏ ra rõ ràng cho thấy các tín đồ có giá trị là ngần nào và kẻ ác sẽ chịu những người mà Đức Chúa Trời đánh giá cao xem khinh".
B. Chúng ta không khinh dể các tín hữu khác vì Đức Chúa Trời đang chăm sóc cho họ như một Đấng Chăn cho Dân Ngoại (các câu 11-13).
1. Một số bản Kinh Thánh Tân ước xưa nhất bỏ sót câu 11 và các bản dịch hiện đại cũng không có ghi câu nầy. Tuy nhiên, lẽ thật của nó không bị bỏ sót. Luca 19.10 chép: "Bởi Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất".
2. Đây là phương châm cho sứ mệnh của Chúa Jêsus. Mỗi tín hữu chân chính đều là một với Đấng Christ. Hãy xem lại câu 5: "Hễ ai vì danh ta chịu tiếp một đứa trẻ thể nầy, tức là chịu tiếp ta". Chúa Jêsus phán trong Luca 10.16: "Ai nghe các ngươi, ấy là nghe ta; ai bỏ các ngươi, ấy là bỏ ta; còn ai bỏ ta, ấy là bỏ Đấng đã sai ta". Vì lẽ đó "khinh dể" bất kỳ một Cơ đốc nhân chân chính nào tức là "khinh dể" chi thể của thân Đấng Christ và khinh dể chính mình Đức Giêhôva.
3. Trong thời buổi của Chúa Jêsus giống như hôm nay, phần tinh tuý tôn giáo hay xem khinh các giai cấp thấp kém hơn. Ngược lại, Chúa Jêsus yêu thương họ. Êsai 42.3 nói tiên tri về Ngài: "Người sẽ chẳng bẻ cây sậy đã giập, và chẳng dụt tim đèn còn hơi cháy. Người sẽ lấy lẽ thật mà tỏ ra sự công bình".
4. Kế đó Chúa Jêsus chia sẻ Thí dụ nói tới con chiên lạc. Một người chăn có "một trăm con chiên" và "một con bị lạc mất". Người chăn nhơn lành kia mới "để chín mươi chín con" lại "trên núi rồi đi tìm con đã lạc mất". Khi người tìm được con chiên lạc, người "lấy làm vui mừng về con đó hơn chín mươi chín con không lạc".
5. Chúa Jêsus đã sử dụng thí dụ ấy trong Luca 15 để dạy về mối quan tâm của Đức Chúa Trời đối với người chưa tin Chúa. Tuy nhiên, ở đây, thí dụ nầy phác hoạ ra một trong các con cái của Đức Chúa Trời đã bị lạc cách xa bầy. Chúa Jêsus theo đuổi người, xử lý với các vết thương rồi đem người về ràng trở lại.
6. Nét đẹp của hình ảnh nầy, ấy là một người trong chúng ta đi lạc không thành vấn đề, Chúa Jêsus quan tâm đồng đều với mỗi một người chúng ta!
7. Dù khi chúng ta dại dột, theo ý riêng và loạn nghịch, tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta không bị cắt giảm đi. Ngài không chờ đợi chúng ta trở lại bằng sức riêng của mình, nhưng Ngài khôn khéo theo đuổi chúng ta!
Hơn hai năm rồi, chúng ta có hai con cái trong Hội Thánh của chúng ta bị nhiễm hình thức ung thư khác nhau. Một trong hai người đã về nước Chúa, còn người kia dường như đã được chữa lành. Một số người trong chúng ta nhớ lại thể nào cả Hội Thánh nhóm lại với hai gia đình nầy trong lúc họ có cần. Đấy là những gì Chúa Jêsus làm khi một người trong chúng ta đi lạc.
Có nhớ cách đấy mấy năm khi bé Jessica té giếng ở Midland, Texas không? Trong mấy tiếng đồng hồ, cả thế giới đều hướng về sự giải cứu cho bé. Mọi người đều vui vẻ khi nó được cứu thoát. Có phải nó quan trọng hơn bất kỳ một đứa trẻ nào khác không? Không, nhưng nhu cần của nó là rất lớn.
8. Nếu Chúa Jêsus bước đi với lòng thương xót rất lớn dành cho một trong "những đứa trẻ" của Đức Chúa Trời, chúng ta là ai mà dám "khinh dể" họ hay xem thường họ chứ?
C. Chúng ta không hề xem khinh các tín hữu khác vì Đức Chúa Trời không muốn bất kỳ ai trong số họ bị hư mất (câu 14).
1. Chúa Jêsus phán "Cha các ngươi ở trên trời không muốn cho một đứa nào trong những đứa trẻ nầy phải hư mất". "Hư mất" ra từ chữ Hy lạp có thể được sử dụng theo hai cách. Nó có ý nói tới bị huỷ diệt hoàn toàn hoặc đổ nát hay hư mất.
2. Ở đây "hư mất" có ý nói tới sự lớn lên về mặt thuộc linh nơi đời sống của một cá nhân. Đức Chúa Trời không muốn bất kỳ ai trong các "con trẻ" của Ngài phải bị thiệt hại theo một phương thức ngăn chận sự lớn lên của họ.
3. Còn đối với một tín đồ làm cho một tín đồ khác bị "hư mất" hay bị huỷ diệt về mặt thuộc linh có nghĩa là tuyệt đối vi phạm ý chỉ của "Cha chúng ta ở trên trời".
4. Chúng ta đã xem khinh hay coi thường ai?
Cách đây mấy năm, một người có tánh hay giận chạy đến một viện bảo tàng ở Amsterdam cho tới khi ông ta đến đứng trước bức tranh nổi tiếng của Rembrandt là “Nightwatch”. Ông ta rút ra con dao rồi rạch lấy rạch để bức tranh trước khi ông ta ngừng tay lại. Một thời gian ngắn sau đó, một kẻ quẩn trí, có tánh thù nghịch nhào đại vào Thánh đường St Peter ở Rome với một cây búa rồi bắt đầu bổ vào bức tượng xinh đẹp của Michelangelo. Hai tác phẩm nghệ thuật nầy đã bị thiệt hại trầm trọng. Thế rồi giới chức có thẩm quyền đã làm gì? Ném bỏ rồi quên các tác phẩm ấy chăng? Tuyệt đối không! Sau khi sử dụng các chuyên gia, họ đã lao động với toàn bộ sự quan tâm và độ chính xác, họ đã đưa ra từng nổ lực để phục hồi các tác phẩm quí giá đó. Bởi ân điển kỳ diệu của Ngài, Đức Chúa Trời đang phục hồi thậm chí những đời sống bị tàn phá ghê gớm nhất. Chúng ta là ai mà dám "khinh dể" người khác chứ?
***

Mathiơ 18.1-9: "Con cái của Nhà Vua"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Con cái của Nhà Vua
Mathiơ 18.1-9
1. Dân sự của Đức Chúa Trời được mô tả bằng nhiều cách thức xuyên suốt Kinh Thánh. Tuy nhiên, một trong những chữ thường được nói tới là con cái. Chúng ta được gọi là con cái của lời hứa, con cái của ban ngày, con cái sự sự sáng, con cái yêu dấu, con cái của Đức Chúa Trời.
2. Là con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta tận hưởng mọi ơn phước kỳ diệu của gia đình đời đời. Chúng ta cũng mang lấy bản chất yếu đuối, chưa trưởng thành của con cái. Trong tiểu đoạn nầy, Jesus nói tới việc trở thành một con cái của Đức Chúa Trời (các câu 1-4) và làm tổn thương một con cái của Đức Chúa Trời (các câu 5-9).
I. Trở thành một con cái của Đức Chúa Trời (các câu 1-4).
A. Một câu hỏi đặt ra cho Chúa Jêsus (câu 1).
1. Chúa Jêsus đã tỏ ra sự hạ mình rất lớn, trong đó Ngài đã nộp một thứ thuế thay vì "làm mất lòng" người Giuđa. Còn bây giờ, theo sát việc nộp thuế đó, các môn đồ tỏ ra thái độ kiêu ngạo bằng cách hỏi: "Ai là lớn hơn hết trong nước thiên đàng?"
2. Câu hỏi nầy hình thành từ một cuộc biện luận mà các môn đồ đã có giữa vòng họ. Luca 9.46 chép: "Các môn đồ biện luận cùng nhau cho biết ai là lớn hơn hết trong hàng mình".
3. Các môn đồ đã nhìn thấy "nước thiên đàng" là một thứ mà hết thảy họ đều sẽ được hưởng. Họ đang biện luận xem coi ai sẽ được chia phần “lớn hơn hết”.
Hãy tưởng tượng xem họ đã tự đề bạt mình trong suốt cuộc "biện luận" nầy. Phierơ nói ông là người lớn hơn hết vì ông đã có mặt tại chỗ Hoá Hình và thêm nữa, ông đã đi bộ trên mặt biển. Giăng nhắc cho Phierơ nhớ rằng ông cũng đã bị chìm lĩm rồi cho rằng mình là người lớn nhứt vì ông là môn đồ thân cận nhất với Chúa Jêsus, ông là môn đồ được Chúa yêu. Anhrê nói ông đã tìm gặp Chúa trước nhất. Mathiơ nói ông đã bỏ đi cái nghề dễ làm giàu, sinh lợi nhiều nhất để đi theo Chúa Jêsus. Mỗi người trong số họ đều có lý do để tin rằng mình là người “lớn hơn hết”. Còn Chúa Jêsus mới là Đấng định liệu cuộc biện luận nầy.
4. Samuel Taylor Coleridge từng nói: "Nếu bạn cố quyết với một ý chí cao cả, hãy để cho người ta có ấn tượng về bạn; còn nếu bạn chỉ có một quyết tâm nhỏ nhoi, hãy để cho người ta thổ lộ ra ấn tượng về bản thân họ".
5. Trong khi chúng ta chưa có đủ can đảm để cầu xin một vị trí đặc biệt ở trong vương quốc, tôi dám chắc một số điều cầu xin của chúng ta cũng rất tư kỷ và tầm thường tương đương như thế với Đức Chúa Trời. Trong khi chúng ta nài xin một chiếc xe hơi đời mới, Chúa Jêsus muốn chúng ta nài xin ơn cứu rỗi cho một người bạn bị hư mất kia kìa. Trong khi chúng ta nài xin được giải cứu ra khỏi nỗi đau đớn của móng chân mọc ngược, Ngài mong mỏi chúng ta cầu xin ơn cứu ra khỏi tội lỗi đang ràng buộc chúng ta.
B. Minh họa của đức tin giống như con trẻ (các câu 2-3).
1. Chúng ta biết rằng Chúa Jêsus đã có mặt trong "nhà" ở tại Cabênaum. Có lẽ đây là nhà của Phierơ. "Đứa trẻ" mà Chúa Jêsus "gọi" đến với chính mình Ngài có lẽ là đứa trẻ trong gia đình của Phierơ. Từ ngữ nói tới "đứa trẻ" có ý nói tới một đứa trẻ hãy còn nhỏ, một đứa trẻ mới biết đi mà thôi.
2. Chúa Jêsus vốn yêu thương trẻ con. Ở một vài cơ hội trong các sách Tin lành, chúng ta thấy Ngài đang bồng ẳm trẻ con bên hông mình, Ngài đặt tay trên chúng rồi chúc phước cho.
3. Trong Mác 10 chúng ta đọc thấy đặc biệt những bậc làm cha mẹ đem con cái của họ đến cùng Chúa Jêsus "để Ngài rờ đến chúng" nhưng các môn đồ đã "quở" họ rồi tìm cách đuổi chúng đi chỗ khác. Chúa Jêsus đã phán: "Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng cấm chúng nó; vì nước Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy" (Mác 10.14).
4. Chúa Jêsus đã lấy "con trẻ" nầy rồi "để ở giữa môn đồ". Hãy tưởng tượng xem Chúa Jêsus cùng với một đứa trẻ nhỏ ngồi trên đầu gối của Ngài và tất cả 12 môn đồ nhóm lại chung quanh khi Chúa Jêsus bắt đầu dạy dỗ. Hỡi Hội thánh, chúng ta cũng hãy nhóm lại quanh đây mà nghe những lời dạy của Chúa Jêsus trong tiểu đoạn nầy. Mọi lời dạy về việc trở thành một đứa trẻ.
5. Chúa Jêsus phán rằng trừ phi chúng ta "đổi lại" rồi nên "như đứa trẻ" chúng ta sẽ "chẳng được vào nước thiên đàng đâu". Chúa Jêsus muốn nói rằng trừ phi chúng ta nhơn đức tin đến với Đức Chúa Trời y như đứa trẻ a vào vòng tay của Ngài, chúng ta sẽ không được cứu đâu.
6. "Đổi lại" ra từ chữ Hy lạp strepho, có nghĩa là "vặn cong, xoay lại hay đổi lại". Quí vị có bao giờ sử dụng bộ phận đổi điện cho các dụng cụ điện của mình chưa? Chúa Jêsus đang kêu gọi người ta hãy cắm sợi dây điện nối vào chính mình Ngài.
C. Minh hoạ của sự hạ mình giống như con trẻ (câu 4).
1. Các môn đồ đã được biến đổi do họ biết đặt đức tin mình nơi Đấng Christ để được cứu. Tuy nhiên, họ cần phải được biến đổi trong lối suy nghĩ của họ nữa.
2. Spurgeon đã nói: "Các vị sứ đồ đã được biến đổi theo một ý nghĩa, thế nhưng họ cũng cần một sự biến đổi sâu xa hơn. Họ cần được biến đổi từ chỗ lo nghĩ về mình trước tiên đến chỗ biết hạ mình xuống và hài lòng. Một đứa trẻ không có một mơ mộng tham vọng nào hết; nó thấy thoả lòng với những việc nhỏ; nó tin cậy; nó không nhắm vào việc lớn; nó biết vâng lời".
Khi Nữ Hoàng Victoria còn là một đứa trẻ, bà không biết mình sẽ đứng ở chỗ kế vị ngai vàng của nước Anh. Các gia sư của bà, khi tìm cách sửa soạn bà cho tương lai đó, họ bị thất bại vì bà không hành xử theo cách vương giả và chẳng chú tâm bao nhiêu vào các vụ việc của hoàng gia. Sau cùng, các gia sư của bà quyết định nói cho bà biết rằng một ngày kia bà sẽ trở thành nữ hoàng Anh quốc. Khi bà nhìn biết mình sẽ trở thành Nữ hoàng, khi ấy bà mới hướng mắt chú trọng đến sự cao trọng ấy.
3. Thế gian khích lệ các cư dân của mình phải thăng cao lên, phải dấy lên đến địa vị cao cả. Thiên đàng khích lệ các cư dân của mình phải hạ thấp xuống, phải hạ xuống càng thật thấp. Xác thịt kêu la đòi hỏi sự công nhận, đòi hỏi sự cao trọng. Đức Thánh Linh dẫn dắt chúng ta vào con đường có địa vị tôi tớ và sự hạ thấp.
4. Một người trở thành con cái của Đức Chúa Trời bằng cách nào? Bằng cách tự hạ mình xuống. Nếu quí vị đã được cứu, quí vị đã đến một chỗ mà quí vị đã công nhận tình trạng tội lỗi của mình. Quí vị cũng nhận biết tình trạng bất khả trọn lành của mình không làm chi được về tình trạng của mình. Trong sự hạ mình, giống như một "đứa trẻ" quí vị kêu la với Đức Chúa Trời xin được cứu.
5. Chúng ta trở thành con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta bước vào "nước thiên đàng" bằng cách tự hạ mình xuống giống như "con trẻ". Tuy nhiên, người nào sẽ là "lớn hơn hết" trong nước của Đức Chúa Trời phải tiếp tục "tự hạ mình xuống". Nền kinh tế của Nước rất khác với thế gian. Chúng ta hạ xuống, tự hạ mình xuống hay xuống thấp để bước vào sự cao trọng.
A.W. Tozer đã trình bày điều đó như sau: "Một Cơ đốc nhân chân thật không cứ cách nào đó là một con số lẽ. Người cảm nhận tình yêu tối thượng dành cho Đấng mà người không xem thấy; trò chuyện cách quen thuộc mỗi ngày với Đấng mà người không thấy; mong được vào trong thiên đàng nhờ vào công đức của Đấng khác; tự làm cho mình trống không để được làm cho đầy dẫy; nhìn nhận mình là sai quấy hầu cho mình được xưng là đúng đắn; hạ thấp xuống để được nâng lên cao; là mạnh mẽ nhất khi người yếu đuối nhất; giàu có nhất khi người nghèo khó nhất và hạnh phúc nhất khi người cảm thấy tệ hại nhất. Người chết đi để người có thể sống; người quên đi để được nhận lại; bố thí hết để người có thể được lại; thấy điều không thấy được, nghe điều không nghe được, và biết được những gì được chuyển thành tri thức".
II. Làm tổn thương con cái của Đức Chúa Trời (các câu 5-9).
A. Nguyên tắc tiếp nhận một người tin Chúa (câu 5).
1."Đứa trẻ" nầy trên hông Chúa Jêsus là một minh hoạ cho con cái của Đức Chúa Trời, là người tin Chúa. Dĩ nhiên là Chúa Jêsus muốn chúng ta vui sướng tiếp nhận người nào là con cái theo phần xác, nhưng bài học thuộc linh quan trọng nhắm vào việc tiếp nhận con cái thuộc linh của Chúa.
Quí vị có bao giờ để ý thấy những đứa trẻ làm quen với nhau mau lắm không? Cách đây không lâu lắm, gia đình tôi và tôi có một cuộc đi dạo quanh vùng lân cận đây. Bạn tôi giới thiệu chúng tôi với một gia đình khác mới chuyển tới đây thôi. Trong khi chúng tôi những người lớn lo làm quen với nhau bằng các câu chuyện về xã hội, mấy đứa con của chúng tôi đã bắt đầu chơi đùa với nhau rồi. Trẻ con mau mắn tiếp nhận các đứa trẻ khác. Nếu chúng ta sống giống như "con trẻ" với sự hạ mình của chúng ta, chúng ta sẽ mau mắn tiếp nhận lẫn nhau.
2. Vui thích trong sự hạ mình, khiêm tốn và hạ thấp xuống trong thế gian nầy là vui thích trong Đấng Christ. Nếu chúng ta vui mừng phục vụ con trẻ và người có sự khiêm hạ cùng các tín hữu khác, chúng ta đang vui vẻ phục sự Chúa Jêsus.
B. Mối nguy hiểm của việc làm tổn thương một người tin Chúa (các câu 6-7).
1. Một lần nữa, khi Chúa Jêsus nói tới "những đứa nhỏ" Ngài có ý ám chỉ tới những Cơ đốc nhân vì Ngài phán họ là những người "đã tin ta".
2. Chúa Jêsus nói tới những kẻ làm cho Cơ đốc nhân "phạm tội" hay sa vào tội lỗi. Từ ngữ Hy lạp là skandalizo, có nghĩa là "làm cho vấp ngã". Đức Chúa Trời có sự xét đoán nghiêm trọng đối với người nào chịu trách nhiệm gây cho một người tin Chúa phạm tội.
3. Chúa Jêsus phán thà "buộc cối đá vào cổ, mà quăng nó xuống đáy biển còn hơn". Loại "cối đá" mà Chúa Jêsus nói tới là cối đá thật to đòi hỏi một con la hay con bò kéo mới chuyển động được. Thường thì cối đá đó nặng khoảng vài trăm cân Anh. Người La mã đôi khi đã thực hành thể thức hành quyết như thế nầy.
4. Hãy tưởng tượng cú sốc lướt qua các môn đồ xem khi họ nghe thấy câu nói nầy. Trong cuộc biện luận của họ về ai sẽ là người "lớn hơn hết" họ đã vừa gây cho nhau phạm tội hay vấp ngã bởi sự tỏ ra thái độ ghen ghét, tranh cạnh và giận dữ.
5. Xachari 2.8 chép về dân sự của Đức Chúa Trời "vì ai đụng đến các ngươi tức là đụng đến con ngươi mắt Ngài". Đức Chúa Trời quan phòng dân sự Ngài đến nỗi họ giống như giác mạc của con mắt, là chi thể mỏng mảnh nhất trong cơ thể của con người. Người nào gây cho họ phạm tội đang chọt ngón tay vào con ngươi của mắt Đức Chúa Trời.
6. Chúng ta gây cho người khác phạm tội hay vấp ngã như thế nào?
a. Thứ nhứt, bằng cách cám dỗ người khác với thái độ không tin kính của chúng ta. Êva đã cám dỗ Ađam. Arôn đã khiến cho dân Israel phạm tội bằng cách đúc ra và thờ lạy con bò con bằng vàng.
b. Thứ hai, bằng cách nâng cao các truyền thống do con người lập ra như tương đương hay cao hơn Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta cung ứng cho người ta sự kiêu ngạo và sự hạ mình giả dối.
c. Thứ ba, bằng cách nêu một gương xấu. Mọi điều chúng ta đang làm đều quan trọng y như mọi lời chúng ta đang nói ra. Tôi run sợ khi suy nghĩ tới chỗ tôi đã làm phật lòng Đức Chúa Trời theo chiều hướng nầy. Hãy tưởng tượng có người nói như thế nầy xem: "Mục sư của tôi [giáo sư, chấp sự, v.v….] làm hay nói…". Thay vì thế, chúng ta cần phải nêu một gương tốt. Phaolô đã nói với Timôthê: "Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ".
d. Thứ tư, bằng cách không dẫn dắt họ vào các lối công bình. Đôi khi chúng ta giấu đi các kinh nghiệm và hiểu biết về mặt thuộc linh với Chúa thay vì chia sẻ chúng với ai đó đang có cần các điều ấy. Hêbơrơ 10.24 chép: "Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành".
William Barclay đã thuật lại về một cụ già đang nằm trên giường chờ chết đã xưng ra một trò tinh quái mà ông ta làm khi còn là một đứa trẻ. Ông ta đã đảo ngược một tấm biển dấu đi đường ở một ngã tư. Ông ta nói: "Tôi không hề lấy làm ngạc nhiên khi thấy có nhiều người bị dẫn vào nẻo sai lầm do việc mà tôi đã làm". Có bao nhiêu lần chúng ta dẫn người khác sa vào chốn sai lầm bởi một gương xấu hay bởi thiếu đi một gương tốt.
7. Chúa Jêsus tiếp tục phán "khốn nạn" hay một lời rủa sả hoặc một lời xét đoán "cho thế gian vì sự gây nên phạm tội" hay vầng đá vấp váp. Ngài phán "Vì sự gây nên phạm tội phải có". Thế gian đầy dẫy những điều lôi kéo phải phạm tội. Nhiều cạm bẫy đã được gài đặt ở từng góc cạnh.
8. Chúa Jêsus phán: "song khốn nạn thay cho ai là kẻ gây nên phạm tội!" Ngài đã phán rồi điều nầy thà là cột cối đá vào kẻ đó mà quăng xuống đáy biển. Giờ đây Ngài nói thêm rằng tội lỗi như thế mang lại sự phán xét của Đức Chúa Trời.
Là bậc phụ huynh, quí vị và tôi sẽ làm một việc gì đó để bảo hộ cho con cái của chúng ta. Chúng ta sẽ hiến mạng sống của chúng ta vì sự sống của chúng nó. Chúng ta đề ra những đường biên giới ở chung quanh chúng nó. Chúng ta giữ một con mắt hay canh chừng trên bạn bè của chúng. Nếu chúng ta hạng người tội lỗi còn có sự phó thác như thế nầy cho con cái của mình, Cha chúng ta ở trên trời còn cảm nhận nhiều hơn về con cái của Ngài là dường nào?
C. Tránh đừng làm tổn thương một người tin Chúa (các câu 8-9).
1. Đây là lối nói bóng bẩy rất rõ ràng vì chúng ta biết không một chi thể nào trong thân thể vật lý của chúng ta khiến cho chúng ta phải phạm tội cả.
2. Nếu chúng ta cắt đứt một chi trong thân hay móc một con mắt, cho dù đến như thế đi nữa, hành động cố quyết ấy vẫn không giữ chúng ta không phạm tội đâu.
3. Mấy câu nầy rất giống với các câu nói mà Chúa Jêsus đã giảng trong Bài Giảng Trên Núi ở 5.29-30.
4. Chúa Jêsus sử dụng lối nói bóng bẩy hầu đưa ra được một điểm cụ thể, chúng ta nên làm bất cứ điều chi là cần thiết để cất bỏ tội lỗi ra khỏi đời sống chúng ta và giữ đừng gây cho người khác phải phạm tội.
5. Không một điều chi có giá trị, quan trọng, và cần thiết đến nỗi nó giữ chúng ta không theo đuổi một đời sống vâng phục đối với Đấng Christ. Đây là lời kêu gọi phải có hành động cụ thể chống lại tội lỗi.
Mục sư George Sweeting thuật lại câu chuyện kể về quan sát tảng băng đang trôi trên dòng sông rồi lao thẳng vào thác Niagara. Cá đông lại trong băng và những con mòng biển đậu trên đó kiếm ăn. Khi băng trôi đến rìa thác, cánh của chúng vỗ lên, và chúng sẽ thoát ra khỏi thác nước. Ông nói: "Tôi quan sát thấy một con mòng biển dường như vỗ cánh quá trễ. Nó mãi mê rỉa xác con cá, rồi khi tảng băng trôi tới rìa thác nước, đôi cánh của nó không còn có tác dụng nữa. Con chim vỗ cánh đen đét và cứ vỗ như thế, nó nhấc luôn tảng băng ra khỏi mặt nước, và tôi nghĩ là nó sẽ thoát được. Nhưng đã trễ quá, mấy cái móng chân của nó đã bị dính chặt vào tảng băng. Sức nặng của tảng băng quá lớn, và con chim mòng biển lao thẳng xuống vực sâu".
6. Cho phép tôi chỉ ra rõ ràng chỉ có những người không tin Chúa mới ở trong sự nguy hiểm của "lửa địa ngục". Tuy nhiên, những người tin Chúa có thể hiểu từ sự dạy nầy tầm mức nghiêm trọng mà với nó Đức Chúa Trời đang nhìn xem tội lỗi và hấp lực của việc khiến cho người khác phạm tội.
7. Phaolô đã nói trong I Côrinhtô 9.27: "song tôi đãi thân thể mình cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng". Tác giả thơ Hêbơrơ khích lệ chúng ta phải "quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta" (Hêbơrơ 12.1).
Quí vị có biết người Eskimos giết sói như thế nào không? Trước hết, người Eskimo tẩm lưỡi dao bằng máu thú vật rồi để cho nó đông cứng lại. Kế đó người nhúng con dao vào máu nhiều lần nữa, cho tới chừng lưỡi dao hoàn toàn bị phủ hoàn toàn bởi huyết đông cứng lại. Người cắm con dao vào đất với bề lưỡi day trở lên. Khi con sói đánh hơi bằng mũi rất thính của nó tới chỗ có mùi máu, nó liếm chỗ máu đó, nếm mùi máu tươi đông cứng đó. Nó liếm nhanh hơn quanh lưỡi dao cho tới khi phần sắc bén lòi ra. Cái thèm khát của nó lớn đến nỗi nó chẳng để ý thấy phần sắc bén như dao cạo của lưỡi dao trần ra đó ngay cái lưỡi của nó, nó cũng không nhận ra bản năng cơn khát của nó lúc nào mới được thoả bởi CHÍNH máu nóng của nó. Sáng ra họ thấy nó nằm chết ở trong tuyết. Tội lỗi giống y như thế đấy. Điểm khác biệt là, không những tội lỗi làm hại cho quí vị, tội lỗi của quí vị còn làm hại cho người khác nữa đấy!
***

Mathiơ 17.22-27: "Quyền công dân và người tin Chúa "



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Quyền công dân và người tin Chúa
Mathiơ 17.22-27
1. Cách đây chừng hai tuần lễ, tôi đến dự một bữa tiệc, trong đó vị Mục sư đã thuật lại Hội thánh địa phương của ông rất có hiệu quả trong việc thay đổi ban giám hiệu của học đường trong cộng đồng của họ. Từ những gì ông cho biết, tôi đồng ý là ban giám hiệu của học đường đã cần đến một vài sự thay đổi cơ bản. Tôi khen ngợi chỗ đứng mà ông và Hội thánh của ông đã có được trong việc duy trì các tiêu chuẩn đạo đức theo Kinh Thánh trong cộng đồng đó. Trong khi tôi có thể nhất trí với các Cơ đốc nhân năng động trong đấu trường chính trị công khai, tôi nhận ra có một sự thử thách khá tinh tế đối với đích nhắm hoàn toàn thiên về chính trị và không còn là thuộc linh của chúng ta nữa.
2. Vai trò của một tín hữu biết đầu phục và chính quyền luôn luôn là một trắc nghiệm khó. Một số người là NHÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ, họ muốn xác nhận chất lượng của các ứng cử viên và các đảng chính trị. Họ muốn nói phải bỏ phiếu như thế nào và chúng ta phải đầu phiếu cho ai. Đôi khi họ thắc mắc tính cách thuộc linh của người tín đồ nào không nhất trí hoặc không đồng cảm về mặt chính trị. Mặt khác, có NHỮNG NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA BIỆT LẬP, những Cơ đốc nhân nào ngại xuất hiện công khai trước chính quyền, họ tin rằng con người trần tục nên điều khiển chính quyền trần tục và người tín đồ dính dáng vào những việc như thế đương nhiên họ là thế gian và xác thịt.
3. Cả hai thái cực nầy đều không đúng đâu. Cần có phải một sự cân đối nào đó. Hãy mở ra ở Philíp 3.20-21. Trong khi chúng ta đang có "quyền công dân ở trên trời", chúng ta vẫn còn sinh sống ở trên đất. Chúng ta biết sự thay đổi sau rốt phải đến từ sự biến đổi thuộc linh, nhưng chúng ta cũng phải sống trong thế gian nầy. Trong phân đoạn nầy Chúa Jêsus nói tới vấn nạn: người tin Chúa và quyền công dân. Tuy nhiên, trước tiên một lần nữa Ngài nói tiên tri về thập tự giá của Ngài.
I. Lời tiên tri của Chúa Jêsus về thập tự giá (các câu 22-23).
A. Chúa Jêsus dẫn các môn đồ qua xứ Galilê (câu 22a).
1. Sau một thời gian ngắn thi hành chức vụ ở khu vực phía Bắc xứ Israel gần Sêsarê Philíp, Chúa Jêsus dẫn các môn đồ quay trở lại vùng Biển Galilê quen thuộc, gần thành Cabênaum.
2. Đặc biệt, họ đã ở "trong xứ Galilê". Theo nghĩa đen, câu Kinh Thánh nói rằng họ đã "nhóm lại với nhau" tại đó. Câu Kinh Thánh cho rằng họ đã ở trong khu vực một thời gian ngắn khi Chúa Jêsus dạy dỗ họ.
3. Tại thời điểm nầy, Chúa Jêsus bắt đầu để ít thì giờ với đoàn dân đông và nhiều thời gian với các môn đồ. Họ đang bước vào một trường tập huấn sẽ giúp cho họ phục vụ tốt sau Lễ Ngũ Tuần.
B. Chúa Jêsus dạy dỗ các môn đồ về thập tự giá (các câu 22b-23).
1. Đây là lần thứ ba Mathiơ ghi lại về lời báo trước của Chúa Jêsus về sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài (đối chiếu 16.21; 17.12).
2. Tôi không tin rằng cơ hội đặc biệt nầy là những thời điểm duy nhất Chúa Jêsus đã dạy về mọi điều đang chờ đợi Ngài, mà là tượng trưng của nhiều lần Ngài nổ lực giải thích mọi sự nầy cho các môn đồ rõ.
3. Chúa Jêsus phán Ngài sẽ "bị nộp trong tay người ta". Spurgeon nói sự kiện nầy như sau: "Ngài sống vì con người, Ngài bị nộp bởi con người, và Ngài chịu chết cũng bởi con người ".
4. Hơn nữa, Chúa Jêsus phán: "họ sẽ giết Ngài". Từ Hy lạp nói tới "giết" ở đây có nghĩa là bị hành quyết hay bị kết án tử hình.
5. Chúa Jêsus không thụ động hay bất lực về sự thập tự giá đã quy cho Ngài. Ngài chủ động đối mặt với nó. Luca 9.51 chép khi giờ ấy đến, Ngài "quyết định đi thành Giê-ru-sa-lem". Trong Luca 18.31 Ngài phán: "Kế đó, Đức Chúa Jêsus đem mười hai sứ đồ riêng ra mà phải rằng: Nầy, chúng ta lên thành Giê-ru-sa-lem, mọi điều mà các đấng tiên tri đã chép về Con người sẽ ứng nghiệm". Chúng ta hãy đọc lời lẽ của Chúa Jêsus từ Giăng10.15-18.
6. Chúa Jêsus không những đã để lại cho họ với những tin tức xấu. Ngài còn nói cho họ biết các tin tức tốt lành nữa! Ngài phán về "ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại". Một giáo sư Kinh Thánh đã phê bình: "Ngài bọc đường cho viên thuốc đắng sự chết của Ngài với mùi vị ngọt ngào của sự Ngài chắc chắn sẽ sống lại".
7. Hãy chú ý họ "lo buồn lắm". Họ không thích những gì Ngài đã phán. Chúng ta nhớ Phierơ đã tìm cách "can" Chúa vì đã nói ra những việc như vậy. Có lẽ đấy là lý do tại sao Mác 9.32 chép: "Nhưng môn đồ không hiểu lời ấy, lại sợ không dám hỏi Ngài".
8. Họ đã "lo buồn lắm" vì họ không thể nhìn xuyên qua thập tự giá để thấy sự sống lại. Thậm chí sau Sự Hoá Hình và sự chữa lành cho cậu bé bị quỉ ám, họ vẫn "chưa tin" khi phải đến với chương trình của Đức Chúa Trời.
9. Lời Đức Chúa Trời khi được hiểu có phân nửa thì "đáng buồn lắm". Nếu họ chỉ hiểu Chúa Jêsus sẽ bị "nộp" và "bị giết" chắc chắn họ sẽ buồn rầu. Nếu họ đã hiểu rõ sự sống lại cùng mọi hàm ý đời đời của nó, thay vì buồn rầu, họ sẽ vui mừng lắm.
10. Nếu chúng ta chỉ hiểu phần [a] của Roma 6.23: "Vì tiền công của tội lỗi là sự chết", quả thực điều nầy đúng là đáng buồn.
11. Niềm vui của chúng ta được trọn vẹn ở phần [b] của câu: "…sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta".
II. Sự Chúa Jêsus nộp thuế (các câu 24 -25a).
A. Câu hỏi tại thành Cabênaum (câu 24a).
1. Ngay sau khi họ đã "đến thành Cabênaum" trong xứ Galilê, "những người thâu thuế của đền thờ" đã đến gần Phierơ hỏi về sự nộp thuế của Chúa Jêsus. Có lẽ họ đã đưa ra câu hỏi nầy khi các môn đồ vào trong thành phố.
2. Tại sao họ đến với Phierơ? Thứ nhứt, Phierơ là công dân của thành Cabênaum. Ông đã sống và đã hành nghề đánh cá ở đó trước khi ông gặp Chúa. Thứ hai, ai cũng biết Phierơ là một lãnh đạo giữa vòng các môn đồ. Thứ ba, có lẽ Chúa Jêsus đang ngụ trong nhà của Phierơ.
B. Thắc mắc về thuế đền thờ (câu 24b).
1. "Thuế đền thờ” hay "tiền thuế" là thuế gì? Từ ngữ Hy lạp là didrachmon, có nghĩa là "hai đồng [tiền Hy lạp]" hay tương đương với tiền công của hai ngày lao động.
2. Đây là món thuế được người Do thái thu lấy với sự cho phép của Rôma dành cho sinh hoạt của đền thờ tại thành Jerusalem. Đây là tiền nộp của tôn giáo có nguồn gốc theo luật pháp Cựu Ước, nhưng đã được mở rộng bởi truyền khẩu.
3. Hãy trở lại với Xuất Êdíptô ký 30.11-16. Về nguồn gốc "hai đồng bạc thuế" hay “nửa siếclơ” mà mỗi người phải nộp trong các năm họ bị điểm số. Đây không phải là một thứ thuế thu hàng năm đâu.
4. Người nào nghĩ họ kỉnh kiền, họ luôn luôn nộp thuế dù không bắt buộc. Từ từ "thuế đền thờ" đã được những người Do thái tin kính mong đóng dù luật pháp không bắt buộc.
5. Không một người Do thái tự trọng nào mà chậm trễ nộp thuế hết. Người ấy cũng nộp thuế nầy theo một cách thức mà người khác nhìn biết người đã nộp thuế ấy rồi.
C. Thắc mắc có một câu trả lời thật dễ dàng (câu 25a).
1. Phierơ mau mắn trả lời: "Có". Ông chẳng chút nghi ngờ chi vì Chúa Jêsus đã nộp các thứ thuế, Ngài luôn luôn làm như vậy.
2. Hơn nữa, tôi nghĩ Phierơ là người bị phật lòng bởi câu hỏi giống như thể họ đã thắc mắc về tính trung thực của Chúa vậy.
III. Nguyên tắc của Chúa Jêsus về chính quyền (các câu 25b-27a).
A. Chúa Jêsus khởi xướng cuộc bàn luận (câu 25a).
1. Trong khi Phierơ trao đổi với những người đến thu thuế, điều nầy cho thấy Chúa Jêsus đã ở “trong nhà”, có lẽ là nhà của Phierơ.
2. Sau khi khẳng định Chúa Jêsus quả thực có nộp “thuế đền thờ" rồi trở vào "trong nhà", câu 25 nói rằng Chúa Jêsus đã "hỏi trước” Phierơ.
3. Nhiều lần trong các sách Tin lành, chúng ta đọc thấy Chúa Jêsus có thói quen nói tới những suy nghĩ của con người. Trong sự toàn tri của Ngài, Chúa Jêsus vốn biết rõ sự bàn bạc giữa những người thu thuế và Ngài phán với Phierơ về cuộc trao đổi đó trước khi Phierơ thưa trình lại.
B. Chúa Jêsus đưa ra một câu hỏi có tính cách quyết định (các câu 25b-26)
1. Chúa Jêsus hỏi: "Hỡi Si-môn, ngươi nghĩ sao? Các vua thế gian thâu lương lấy thuế ai? Thâu của con trai mình hay là của người ngoài?"
2. Trong thời buổi đó, những người cai trị hay "các vua thế gian" thường đề ra các tiêu chuẩn để thu thuế. Gia đình của họ cũng như những ai thân cận với họ thường được miễn xâu thuế. Phierơ vốn hiểu rõ thói tục nầy nên ông trả lời ngay: "Người ngoài". Ông biết rõ "các con trai" được miễn hết. Chúa Jêsus khẳng định: "Vậy thì các con trai được miễn thuế".
3. Hãy suy nghĩ trong một phút về ý nghĩa của "thuế đền thờ". Đền thờ thuộc về ai nào? Đức Chúa Trời. Còn Chúa Jêsus là ai? Con Đức Chúa Trời. Nếu có ai được miễn khỏi phải nộp "thuế đền thờ" thì chắc chắn đó là Chúa Jêsus. Trong 16.16, Phierơ tuyên bố: "Chúa là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống". Người Do thái không có quyền bắt Chúa Jêsus phải nộp thuế.
C. Chúa Jêsus đưa ra một nguyên tắc lâu dài (câu 27).
1. Ngài bảo Phierơ thuế phải nộp: "để chúng ta khỏi làm gương xấu cho họ". Thật là giàu ơn làm sao! Chúa Jêsus không buộc phải nộp, tuy nhiên việc Ngài nộp thuế lại gây ra xôn xao trong dư luận. Giăng 1.17 chép: "Vì luật pháp đã ban cho Môi-se, còn ơn và lẽ thật bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà đến".
2. Nguyên tắc thật đơn giản: “Thà nộp một thứ thuế bất hợp lý hơn là gây ra một sự mích lòng”.
3. Chúng ta cần phải phục theo các bậc cầm quyền và nộp các thứ thuế vì quyền bính của họ đến từ Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy đọc Roma 13.1-7.
4. I Timôthê 2.2 dạy chúng ta phải cầu nguyện "cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn".
John MacArthur đã nói theo cách nầy: "Một người tin Chúa buộc phải chu toàn mọi bổn phận của mình như một công dân của đời nầy. Mặc dù quyền công dân đời đời và trọn vẹn của người là ở trên trời và chính quyền loài người hết thảy đều ở trong các cấp độ đồi bại khác nhau, trong khi người còn ở trên đất, người cũng còn ở dưới sự bó buộc của nhà cầm quyền loài người. Trừ phi việc thực thi quyền công dân đời nầy khiến cho người phải trực tiếp bất tuân Đức Chúa Trời, người bị luật pháp thiêng liêng buộc phải phục theo luật pháp của con người".
5. Cách duy nhất chúng ta được xưng công bình khi bất tuân là khi luật pháp con người khiến chúng ta làm trái với Lời của Đức Chúa Trời. Như Phierơ và Giăng đã nói với Toà Công Luận trong Công Vụ các Sứ Đồ 4.19-20 khi họ bị buộc phải thôi không được rao giảng về Chúa Jêsus nữa: "Nhưng Phi-e-rơ và Giăng trả lời rằng: Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng? Vì, về phần chúng tôi, không có thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe”.
IV. Sự tiếp trợ của Chúa Jêsus cho một nhu cần (câu 27b).
A. Một đồng bạc rút ra từ ngân hàng của Đức Chúa Trời.
Một người kia đến nghỉ hè tại Acapulco nghe thấy tiếng la của người đờn bà bên bờ biển khi bà ta quì gối trước một đứa trẻ. Đứa trẻ nầy đã nuốt một đồng tiền. Ông ta bèn nắm lấy hai gót chân của đứa nhỏ, rồi lắc mạnh đứa trẻ mấy cái, và đồng xu rớt xuống đất, người đờn bà kia kêu kên: "Ôi, cảm ơn ông!" "Ông biết cách lấy đồng tiền ra khỏi cháu. Phải ông là bác sĩ không?" Ông kia đáp ngay: "Không phải đâu, thưa bà". "Tôi làm việc trong Sở Thuế Hoa Kỳ đấy ạ".
1. Chúa Jêsus bảo Phierơ hãy "ra biển". Hãy nhớ rằng họ đang ở tại thành Cabênaum trên bờ biển Galilê. Có lẽ đây là một chuyến đi bộ ngắn mà thôi.
2. Chúa Jêsus cũng bảo Phierơ "câu cá". Nghề trước kia của ngư phủ Phierơ là nghề đánh bắt cá để bán. Trong các phần ghi chép khác của Kinh Thánh về những lần ra khơi đánh cá của ông, ông hay sử dụng một tấm lưới.
3. Chẳng có một dấu hiệu nào cho thấy ông sử dụng mồi câu cả! Lần tới tôi đi câu cá, tôi muốn Chúa Jêsus làm người bạn đồng hành với tôi!
4. Chúa Jêsus phán: "hãy bắt lấy con cá nào dính câu trước tiên". Dường như Phierơ đã quăng lưới mà không có mồi, có một con cá liền cắn lấy lưỡi câu. Có còn nhớ khi Chúa Jêsus bảo Phierơ ném lưới mình ở bên kia chiếc thuyền không?
5. Kế đó, Chúa phán: "Rồi khi ngươi banh miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc ở trong". Làm sao đồng tiền đó lại lọt vào miệng con cá cho được chứ? Có phải Đức Chúa Trời đã tình cờ khiến cho đồng tiền đó bị rơi xuống nước và con cá đó đã nuốt lấy nó, rồi cắn câu của Phierơ chăng? Phải chăng Đức Chúa Trời đã khiến cho đồng tiền xuất hiện trong miệng của con cá trước khi ông giăng câu không?
6. Bằng cách nào đồng tiền lọt vào miệng con cá thì chẳng phải là vấn đề, nó có mặt ở đó đúng lúc lắm. Giống như bà goá Sarépta, dầu và bột của bà ta vẫn cứ còn không bao giờ hết, Đức Chúa Trời đang tiếp trợ.
7. "Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jêsus Christ" (Philíp 4.19).
B. Một minh hoạ cho tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
1. Chúa Jêsus bảo Phierơ đi lấy "tiền" từ miệng con cá rồi "đem nộp thuế cho ta với ngươi". Ngài cần phải nộp "thuế đền thờ" với đồng tiền.
2. Khi Phierơ banh miệng con cá ra, "đồng tiền" mà ông tìm được không phải là đồng tiền Hy lạp didrachmon đâu, "thuế đền thờ" đó là tiền vàng cỗ Hy lạp, một đồng tiền có giá gấp bằng hai, một đồng tiền có giá trị gấp bằng hai đồng didrachmon, giá chính xác của “thuế đền thờ” là hai đồng, nộp cho cả Chúa Jêsus và Phierơ.
3. Đây là một bức tranh đẹp nói về thập tự giá. Dù Chúa Jêsus là Con vô tội của Đức Chúa Trời đã không mắc một món nợ nào về tội lỗi cả. Ngài đã chịu chết vì tội lỗi giống như thể chính mình Ngài là một tội nhân vậy. Cũng thế, Ngài bằng lòng trả giá tội lỗi bằng một sự hy sinh.
4. Là Con của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus có quyền từ chối không nộp thuế. Tuy nhiên, Ngài giàu ơn, sẵn lòng bỏ đi quyền ấy rồi nộp đủ số, không những nộp cho Ngài mà còn nộp cho Phierơ nữa.
C. Một phương ngôn trong chương trình của Đức Chúa Trời.
1. Chắc chắn Phierơ đã nhớ tới đồng tiền trong miệng cá khi ông viết mấy lời nầy trong I Phierơ 2.9-17.
2. Có gì sai với những Cơ đốc nhân đang làm việc trong các chức vụ được bầu chọn không? Không, tất nhiên là không rồi. Trọng tâm của chúng ta có đáng phải là một chương trình hoạt động về chính trị không? Không. Chúng ta đang ở trong thế gian, song không thuộc về thế gian. Chúng ta có quyền công dân trên đất, nhưng sâu sắc hơn là quyền công dân ở trên trời kìa.
Trong “Bức thư viết cho Dignetus”, một tài liệu cổ vào khoảng thế kỷ thứ hai sau công nguyên, một nhà văn giấu tên mô tả một dân sống trên thế gian song lại không thuộc về thế gian. Ông viết: "Cơ đốc nhân không có gì khác biệt với nhiều người khác về địa dư, về ngôn ngữ, và tập tục; quí vị thấy đấy, họ không sống trong các thành thị riêng, hay nói một thổ ngữ kỳ dị nào đó… Họ sinh sống trong cả xứ Hy lạp cùng các thành dân Ngoại khác, tùy theo cơ hội cho phép. Họ vẫn làm theo các tập tục của địa phương trong cách ăn mặc, và các phương diện khác trong cuộc sống. Nhưng đồng thời, họ còn bày tỏ ra cho chúng ta thấy hình thái khác thường về quyền công dân của họ. Họ sống tại nguyên quán của họ, nhưng như người xa lạ… Đối với họ, từng xứ lạ nào cũng y như là nguyên quán của họ vậy, và từng nguyên quán cũng giống như xứ lạ vậy".
***

Mathiơ 17.14-21: "Đức Tin Dời Núi"



MATHIƠHIƠ – VUA CÁC VUA
Đức Tin Dời Núi
Mathiơ 17.14-21
1. Kent Hughes viết: "Trong phòng trưng bày ở Vatican có treo bức tranh cuối cùng của Raphael, có người nghĩ đây là kiệc tác hay nhất của ông. Bức tranh ấy có ghi đề tựa là: “Sự Hoá Hình”. Phần trên cùng vẽ Chúa Jêsus với hình thái đã biến hoá, với Môise ở bên trái và Êli ở bên phải. Ở phần dưới là ba môn đồ, Phierơ, Giacơ và Giăng, họ vừa tỉnh thức và đang che mắt mình lại trước sự chói sáng làm quáng mắt của Chúa Jêsus. Trên mặt đất là cậu bé bị quỉ ám đáng thương, miệng của nó đang há ra ngáp trông rất tởm. Bên cạnh nó là người cha với vẻ mặt thất vọng lắm. Chung quanh họ là số môn đồ còn lại, một số họ tay chi lên chỗ Đấng Christ đang đứng với ánh sáng chói loà kia – Ngài mới là câu trả lời duy nhất cho cậu bé ấy. Raphael đã nắm bắt được đôi điều về sự đối ngược giữa Núi Hoá Hình vinh hiển và thế giới đau khổ đang chờ đợi ở bên dưới".
2. Trong những câu đứng trước, chúng ta đã học biết sự vinh hiển oai nghi của Chúa Jêsus trong Sự Hoá Hình, một cái nhìn trước về sự Tái Lâm của Ngài. Còn trong phân đoạn trước mặt chúng ta, chúng ta sẽ học biết về sự phục vụ trong đức tin cho một thế giới đầy đau khổ kia.
3. Đức tin tuyệt đối là cần thiết để sống đời sống Cơ đốc. Hãy xem xét ba điểm khác biệt của đức tin. Thứ nhứt, có ĐỨC TIN CỨU RỖI là ơn Đức Chúa Trời ban, là khả năng tin theo Đấng Christ để được cứu rỗi. Thứ hai, có ĐỨC TIN NÊN THÁNH, là đức tin mà chúng ta bước đi khi chúng ta được biến đổi theo ảnh tượng của Chúa Jêsus. Thứ ba, có ĐỨC TIN ĐẦY TRỌN, là đức tin để tin nơi quyền phép của Đấng Christ, chớ không phải tin vào khả năng riêng của mình. Đây là đề tài cho phân đoạn Kinh Thánh có ở trước mặt chúng ta.
4. Phân đoạn nầy là phần khởi đầu thời kỳ huấn luyện ngắn đặc biệt dành cho các môn đồ trước khi Chúa Jêsus chịu chết. Vài biến cố kế tiếp đóng vai trò như một trường đào tạo mà không có sự hiện diện của Chúa Jêsus.
5. Chúng ta hãy để ý 4 tiểu đoạn đã được phân chia tự nhiên trong phân đoạn nầy.
I. Tình trạng đáng thương của cậu bé (các câu 14-15).
A. Chúa Jêsus và Ba Môn Đồ Vòng Trong từ núi xuống.
1. Phierơ, Giacơ và Giăng mới vừa nhìn thấy bối cảnh không tưởng nổi trong đời sống của họ. Họ đã nhìn thấy Chúa Jêsus trong sự vinh hiển oai nghi của Ngài hai bên có cả Môise và Êli. Giờ đây, sau mặc khải về quyền phép của Đức Chúa Trời trên đỉnh núi nầy, họ đã đi xuống núi để học bài học về sự họ thiếu quyền năng của chính họ.
2. Bên dưới ngọn núi, có lẽ tại Sêsarê Philíp hoặc một ngôi làng lân cận nào đó, họ đã gặp một "đoàn dân", một đám đông dân chúng đang vòng quanh 9 môn đồ kia.
3. Trong một câu chuyện tương tự, Mác 9.14 chép: "Đức Chúa Jêsus với ba người đến cùng các môn đồ khác, thì thấy đoàn dân rất đông vây chung quanh, và mấy thầy thông giáo đương cãi lẽ với các môn đồ ấy". Dường như mấy thầy thông giáo đang tranh cãi với 9 môn đồ còn ở lại đó.
4. Sự thể cho thấy 9 môn đồ đồ nầy đã cố sức đuổi quỉ ra khỏi cậu bé mà không được. Tôi hình dung ra "mấy thầy thông giáo" đã chỉ ra về sự bất khả của họ, họ bị gọi là lang băm, hay đồ dỏm.
B. Một người cha đau khổ đến gần Chúa Jêsus.
1. Đám đông có lẽ đã mê mãi nhìn vào cuộc tranh luận nóng bỏng nầy đến nỗi họ không để ý Chúa Jêsus đang bước tới. Một người, là cha của đứa con bị quỉ ám kia, đã trông thấy Ngài.
2. Ông ta đến "quì xuống” trước mặt Chúa Jêsus. Mác 9.15 thêm: "Cả đoàn dân nầy vừa thấy Ngài, liền lấy làm lạ, thảy đều chạy đến chào Ngài". Tôi tưởng tượng họ đang nói: "Lạy Chúa Jêsus! Ngài có đây rồi! Chúng tôi đang nói về Ngài đây!"
3. Rõ ràng, người cha đau khổ nầy đã có một ý thức về đức tin và sự tôn kính dành cho Chúa Jêsus vì ông thưa với Ngài là "Lạy Chúa". Ông nài nỉ: "Xin Chúa thương đến con trai tôi".
C. Phần mô tả về cậu bé khốn khổ.
1. Thứ nhứt, người cha mô tả con của mình mắc chứng "phong điên". Bản dịch Kinh Thánh KJV sử dụng đúng từ nầy. Nói đúng ra, chứng nầy giống như bịnh “gàn dỡ” vậy. Người xưa tin theo vòng quay của mặt trăng đã khiến ra bịnh phong điên nầy. Quan niệm cho rằng cậu bé bị phong điên thời ấy, thời nay người ta nghĩ đó là chứng động kinh.
2. Thứ hai, người cha nói rằng con của ông ta "phải chịu đau đớn quá". Điều nầy cho thấy rằng tình trạng bịnh hoạn của nó là trầm trọng bất thường và có lẽ còn tệ hại thêm theo thời gian.
3. Thứ ba, người cha nói con của ông ta "thường khi té vào lửa". Thường hay có những đám lửa lộ thiên. Khi bị động kinh, cậu bé "thường" bị đốt nóng và lãnh lấy nhiều vết sẹo rất gớm ghiếc.
4. Thứ tư, người cha nói con của ông ta cũng "thường" té "xuống nước". Nó té vào những cái giếng nước công cộng. Vì nó thường xuyên ở trong mối nguy hiểm dễ bị thiêu cháy hay dễ bị chết đuối, luôn luôn phải có người ở bên cạnh nó.
5. Thứ năm, Mác 9.17 thêm rằng người cha nói đứa con bị "quỉ câm ám" nên nó nói không được.
6. Một chỗ tương ứng khác trong Luca 9.39 thêm phần mô tả linh động nầy: "Một quỉ ám nó, thình lình kêu la; quỉ vật vã nó dữ tợn, làm cho sôi bọt miếng, mình mẩy nát hết, rồi mới ra khỏi".
7. Không phải ai bị chứng động kinh cũng là bị quỉ ám hết đâu. Tuy nhiên, chẵng có chút nghi ngờ gì đối với những người đang có mặt rằng một con quỉ đang gây ra nỗi khốn khổ của cậu bé nầy.
II. Nổ lực vô quyền của các môn đồ (câu 16).
A. Người cha đã đem đứa con đến với Chúa Jêsus để được chữa lành.
1. Hãy tưởng tượng tình trạng tuyệt vọng của người cha nầy xem. Giống như bất kỳ một bậc cha mẹ nào biết thương con, ông ta sẽ làm bất cứ điều gì để giúp cho đứa con của mình. Không nghi ngờ chi nữa, ông đã để ra nhiều tiền bạc và thì giờ chạy tìm ai đó có thể cứu chữa cho đứa con đáng thương của mình.
2. Ông ta nghe nói về Chúa Jêsus cùng các môn đồ của Ngài. Ông ta biết họ có quyền phép để chữa lành kẻ đau và đuổi quỉ, vì vậy với sự toan liệu hết mình, ông đem đứa con đến với họ.
3. Khi ông tìm gặp các môn đồ, Chúa Jêsus không có ở đó với họ. Các môn đồ bảo ông ta đừng lo, họ có thể giúp đỡ cho ông ta. Có lẽ họ nói: "Chúa Jêsus không có mặt ở đây, nhưng chúng tôi có thể giải quyết nan đề nầy. Chúng tôi đã từng làm việc nầy trước đây mà".
B. Các môn đồ không thể làm được việc gì.
1. Người cha tuyệt vọng kia công nhận với Chúa Jêsus: "Tôi đã đem nó cho môn đồ Chúa, nhưng chữa không được".
2. Trong 10.6-8, Chúa Jêsus đã ủy thác và mặc lấy quyền phép cho các môn đồ Ngài. Mác 6.13 chép họ: "đuổi ma quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh và chữa cho được lành". Họ đã kinh nghiệm. Đây không phải là trường hợp đầu tiên của họ đâu.
3. Với lòng tin lớn, 9 môn đồ đã cố gắng đuổi quỉ, thế nhưng việc lại chẳng thành. Có lẽ họ lấy làm ngạc nhiên. Hãy tưởng tượng mấy thầy thông giáo mãi mắng nhiếc khiến cho họ phải tức điên lên được.
4. Thế thì đâu là vấn đề? Họ đã đuổi quỉ trước đó khi không có sự hiện diện của Chúa Jêsus. Họ đã ra sức để vận hành quyền năng của chính họ, chớ không phải quyền phép của Chúa Jêsus.
C. Không có Chúa Jêsus chúng ta không làm được việc gì hết.
1. Giống như các môn đồ, chúng ta có thể tin tưởng rất mạnh mẽ vào mọi truyền thống, những thành công trong quá khứ, các chương trình trong hiện tại đến nỗi chúng ta quên phứt quyền phép làm biến đổi lưu xuất ra từ Chúa Jêsus.
2. Chúng ta sẽ bị phân tán, tranh cạnh đến nỗi chúng ta giống như cái thùng bị thủng nhiều lỗ, chúng ta không thể nắm lấy quyền phép của Đức Chúa Trời để thi hành chức vụ.
3. Hãy xem lại câu nầy. Ở đây là một nhu cần đúng đắn mà họ đã gặp gỡ nhưng họ "không chữa được”. Có bao nhiêu nhu cần mà chúng ta không chu toàn vì chúng ta thiếu đức tin, lòng tin cậy chúng ta đặt vào năng lực của mình hơn là đặt nơi Chúa Jêsus?
4. Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng đức tin lớn đến từ việc tìm kiếm chương trình, ý muốn và quyền phép của Đức Chúa Trời.
III. Sự chữa lành có mục tiêu của Chúa (các câu 17-18).
A. Chúa Jêsus quở trách dân chúng (câu 17).
1. Bây giờ Chúa Jêsus chia sẻ đau buồn cùng với người cha. Chúng ta có thể nghe thấy trong lời lẽ của Ngài nỗi đau buồn của Ngài khi thấy họ thiếu đức tin (câu 17).
2. Đây là cái nhìn thoáng vào đời sống tư tưởng của Chúa Jêsus. Chúng ta thấy tình cảm của Con Đức Chúa Trời, mà cũng thấy có sự bực tức của Con Người nữa.
3. Chúa Jêsus đã đau buồn vì "dòng dõi không tin và gian tà kia". Ngài buồn bởi "đám đông" vô tín tiêu biểu cho cả nước Israel không có đức tin công nhận Ngài là Đấng Chịu Xức Dầu mà họ vốn chờ đợi lâu nay, là Đấng Mêsi.
4. Cái điều làm cho Chúa Jêsus phải thêm đau buồn chính là đức tin yếu đuối của các môn đồ Ngài. Thay vì quì gối xuống cầu nguyện khẫn thiết khi họ gặp phải một việc khó, họ lại bị kéo vào một cuộc tranh cãi tôn giáo với "mấy thầy thông giáo".
5. Thực vậy, Chúa Jêsus đang thắc mắc: "Các ngươi còn cần cái gì nữa, chỉ nương cậy nơi ta mà thôi?” Chúng ta thích trưng dẫn Philíp 4.13, thế nhưng chúng ta có thường thực hành lẽ thật của câu nói ấy không?
6. Chúng ta cũng nghe sự Chúa Jêsus ao ước về nhà của Cha Ngài. Ao ước của Ngài là trở lại với sự vinh hiển mà chúng ta nhìn thấy trên Núi.
7. MacArthur cho rằng Kẻ Thù đã thì thầm mấy lời không ra chi hết với Ngài: "Nếu họ không tin cậy Ngài trong khi Ngài đang ở với họ, làm thế nào Ngài trông mong họ tin cậy Ngài sau khi Ngài trở về trời chứ?"
B. Chúa Jêsus quở trách ma quỉ (câu 18).
1. Sự đau buồn của Ngài không ngăn trở tình cảm của Ngài. Ngài phán: "Hãy đem con đến đây cho ta".
2. Mác cho chúng ta biết Chúa Jêsus đã phán với người cha: "Kẻ nào tin thì mọi việc đều được cả". Người cha đã đáp lại với lời cầu nguyện thành thực đáng phải có trên môi miệng của chúng ta: "Tôi tin, xin Chúa giúp đỡ trong sự không tin của tôi!" Khi quí vị không dám chắc, hãy nhìn nhận sự không dám chắc đó!
3. Khi Chúa Jêsus "quở trách quỉ" tà linh đã thực hiện cuộc tấn công cuối cùng trên nạn nhân của nó. Mác 9.26 ghi lại: "Quỉ bèn la lớn tiếng lên, vật đứa trẻ mạnh lắm mà ra khỏi; đứa trẻ trở như chết vậy, nên nỗi nhiều người nói rằng: Nó chết rồi".
4. Câu 18 cũng chép: "và từ giờ đó đứa trẻ được lành". Không còn có sự ám ảnh nào nữa, không còn có sùi bọt mép nữa, không còn có cảnh té vào lửa hay vào nước nữa.
5. Luca 9.43 nói về đám dân đông: "Ai nấy đều lấy làm lạ về quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời".
6. Đức tin đầy trọn chỉ đến khi chúng ta chịu đầu phục, chỉ khi chúng ta xưng ra chúng ta thiếu đức tin và thiếu khả năng. Chúng ta phải làm cho mình ra trống không trước khi được đầy dẫy Chúa Jêsus.
IV. Thực tại đắc thắng của đức tin (các câu 19-21).
A. Một câu hỏi riêng tư (câu 19).
1. Sau sự cố nầy, "môn đồ bèn đến gần Chúa Jêsus". Mác cho chúng ta biết họ đã vào trong một ngôi nhà. Có lẽ họ đang vui hưởng sự mến khách của gia đình cậu bé vừa được Chúa Jêsus chữa lành cho.
2. Họ hỏi: "Vì cớ gì chúng tôi không đuổi quỉ ấy được?" Một lần nữa, họ đã đưa ra một câu hỏi theo cách riêng tư. Không nghi ngờ chi nữa cái tôi của họ đã bị bầm dập do sự bất khả của họ. Họ đã đuổi nhiều quỉ rồi mà. Chắc chắn điều thất bại vừa rồi đã cung ứng cho họ một nhận thức về uy quyền và quyền phép. Tại sao họ đã thất bại đáng thương như vậy, còn Chúa Jêsus thì lại thành công dễ dàng như thế chứ?
3. Tôi thấy rất là thú vị khi Phierơ bình thường rất sốc nổi dường như đã im lặng như tờ. Ông đã có mặt trên núi với Chúa Jêsus. Ông đã nhìn thấy sự vinh hiển.
B. Một câu trả lời khó (câu 20).
1. Câu trả lời của Chúa Jêsus thì ngắn gọn, đơn giản và đối với họ thì rất là khó nghe: "Ấy là tại các ngươi ít đức tin" hay "vì các ngươi thiếu lòng tin". Họ đã có đức tin cứu rỗi, đức tin nên thánh, nhưng chưa có đức tin trọn vẹn cho nan đề nầy.
2. Khi Chúa Jêsus quở bão yên lặng, Ngài đã hỏi: "Hỡi kẻ ít đức tin kia, cớ sao các ngươi sợ?" (Mathiơ 8.26). Sau đó khi Phierơ bắt đầu chìm xuống nước, Ngài đã hỏi: "Hỡi kẻ ít đức tin kia, sao ngươi nghi ngờ làm vậy?"
3. "Ít đức tin" có nghĩa gì chứ? Ấy là tin vào sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời khi quí vị đang có mọi sự quí vị cần rồi. "Ít đức tin" là tin cậy sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời khi con đường ở trước mặt quá rõ ràng. "Ít đức tin" là tin vào sự nhơn từ của Đức Chúa Trời khi mọi sự đang nở ra hoa hồng.
4. Đức tin lớn là tin vào sự tiếp trợ mà quí vị chưa có, nhắm vào một hướng đi mà ở đó con đường không rõ rệt hoặc tin cậy vào bổn tánh của Đức Chúa Trời khi thời thế quá khó khăn.
5. Dường như đây là một sự mâu thuẫn nhỏ khi Chúa Jêsus nói ra sự họ “ít đức tin”, nhưng tiếp đó Ngài nói tới “đức tin như hột cải nhỏ". Đức tin như hột cải tiêu biểu cho đức tin thoát ra từ chỗ rất nhỏ nhưng rồi nó lớn lên. Một hột cải là một hột giống rất nhỏ, nó mọc lên thành một cây lớn. Chúa Jêsus có ý nói rằng một đức tin tấn tới là một đức tin đầy quyền phép!
6. Chúa Jêsus nói cho các môn đồ biết rằng nếu họ có "đức tin bằng hột cải" hay một đức tin tấn tới "sẽ khiến núi nầy rằng: Hãy dời đây qua đó, thì nó liền dời qua”. Ngài còn nói thêm: “và không có sự gì mà các ngươi chẳng làm được".
7. Chúng ta biết Chúa Jêsus không nói theo nghĩa đen về việc dời đi một ngọn núi. "Có khả năng dời núi" là cách nói bóng bẩy trong thời ấy, có ý nói tới khả năng thắng hơn mọi trở ngại.
8. Khi chúng ta đối diện với những khó khăn có tầm cở của ngọn núi trong cuộc sống như các môn đồ đã gặp khi xử lý với cậu bé bị quỉ ám, chúng ta cần phải nhớ rằng đức tin là chìa khoá. Thay vì lo lắng, tranh cãi, hay than vản, chúng ta nên quì gối xuống và đầu phục trọn vẹn đối với Đức Chúa Trời.
C. Một nguyên tắc sau cùng (câu 21).
1. Chúa Jêsus thêm rằng "thứ quỉ nầy nếu không cầu nguyện không kiêng ăn thì chẳng trừ nó được”.
2. "Kiêng ăn" là một kỹ thuật rất quan trọng, một kỷ luật thuộc linh đưa chúng ta vào sự cầu nguyện. Cầu nguyện là chìa khoá. Khi chúng ta không biết phải làm gì, chúng ta nên cầu nguyện, Cầu Nguyện, CẦU NGUYỆN!!!
3. Quí vị ơi, trong nhiều thể cách chúng ta giống y như các môn đồ. Chúng ta biết rõ những truyền thống. Chúng ta có những chương trình dành cho từng loại chức vụ. Chúng ta hiểu nhu cần phải cầu nguyện. Những gì chúng ta cần chỉ là cầu nguyện mà thôi. Chúng ta cần phải đem bản ngã mình đầu phục Đức Chúa Trời rồi để cho Ngài sử dụng chúng ta.
4. Có còn nhớ bức tranh không? Các môn đồ đang chỉ tay về phía Chúa đã hoá hình kia kìa. Đấy là điều chúng ta phải làm. Hãy quì gối xuống rồi chỉ cho người ta nhìn về Chúa Jêsus.
***

Mathiơ 17.1-13: "Một đỉnh cao nơi sự tái lâm"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Một đỉnh cao nơi sự tái lâm
Mathiơ 17.1-13
1. Những bộ phim mới thường đưa ra "những đỉnh cao" trước buổi trình chiếu đầu tiên cho toàn thể công chúng xem. Dân chúng sống trong các thành phố lớn được phép xem cuộn phim trước bất kỳ thành phố nào khác. Cũng một thể ấy, sự hoá hình của Chúa Jêsus trong sự vinh hiển là một “đỉnh cao” đã cung ứng cho ba môn đồ và chúng ta một cái nhìn vào sự Tái lâm của Ngài.
2. Chúng ta hãy dành một phút ôn lại phân đoạn Kinh Thánh.
A. Ở phần kết luận của chương 16, Chúa Jêsus nói cho các môn đồ biết không bao lâu nữa Ngài sẽ bị giết và sẽ sống lại. Phierơ không thể tin theo điều nầy và đã cố gắng “can” Chúa. Chúa Jêsus nói cho Phierơ biết rằng ông đang hành động giống như "Satan" và ông đã làm “gương xấu” vì lý trí ông chỉ đặt vào "việc của con người" chớ không đặt vào "việc của Đức Chúa Trời" (các câu 21-23). Đây là các thông tin rất đáng buồn.
B. Chúa Jêsus cũng nói với các môn đồ Ngài về việc bỏ đi mọi sự để có được Vương quốc. Ngài nói cho họ biết rằng một người phải "từ bỏ mình, vác lấy thập tự giá mà theo ta" (câu 24).
C. Vì họ lấy làm buồn rầu khi hay biết được rằng không bao lâu nữa Chúa Jêsus sẽ chết, Chúa đã nói cho họ biết rằng Ngài cũng sẽ "đến cùng với các thiên sứ trong sự vinh hiển của Cha mình" rồi Ngài sẽ "thưởng cho mỗi người tùy việc họ làm" (câu 27).
D. Trong một câu nói lúc đầu dường như là kỳ lạ, Chúa Jêsus bảo đảm với nhóm môn đồ rằng "một vài người" trong số họ sẽ "không chết" cho tới chừng họ trông thấy Chúa Jêsus "đến trong Nước của Ngài". "Nước" ở đây có nghĩa là "oai nghi" hay "vương giả". Tuần rồi tôi đã chỉ cho quí vị thấy câu nói nầy có liên quan thể nào với phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta ở đây trong chương 17.
3. Sự chết, sự chôn và sự sống lại của Chúa Jêsus chẳng phải là tình cờ đâu. Chúa Jêsus nói rằng chúng "phải" xảy ra (16.21). Chắc chắn là như thế. Chúa Jêsus là "Chiên Con bị giết từ lúc lập nền thế gian" (Khải huyền 13). Chúng ta hãy xét qua bốn minh chứng rất thuyết phục cho chúng ta thấy Chúa Jêsus đang làm theo ý chỉ trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
I. Chúa Jêsus được biến hoá trong sự vinh hiển (các câu 1-2).
A. Chúa Jêsus và ba môn đồ vòng trong lui vào nơi hẻo lánh (câu 1).
1. Thỉnh thoảng Chúa Jêsus sẽ đem riêng Phierơ, Giacơ và Giăng tẻ ra đối với các môn đồ khác. Có lẽ Ngài làm vậy là vì họ là cấp lãnh đạo và cần huấn luyện đặc biệt hơn.
2. Hết thảy các môn đồ đều quan trọng như nhau đối với Chúa Jêsus, song ba người nầy có các phần việc đặc biệt phải lo làm. Hết thảy họ đều quan trọng đối với Chúa Jêsus. Ngài đã ban cho họ mỗi người các ân tứ để hầu việc Ngài. Chúng ta đừng nên ganh tỵ nhau về các ân tứ, các khả năng và địa vị, mà phải vui vẻ phục vụ Ngài.
3. Chỉ võn vẹn có “sáu ngày” sau khi Chúa Jêsus đã nói cho họ biết rằng một vài người sẽ "không chết". Họ đã trông mong được nhìn thấy nét oai nghi của Ngài, nhưng họ không mong nhìn thấy điều đó cách mau chóng đâu.
4. Họ đã tự "trèo lên một hòn núi cao". Chúng ta thấy rõ ràng Chúa Jêsus thường đem riêng cấp lãnh đạo nầy tẻ ra đặng cầu nguyện. Tôi dám chắc Phierơ, Giacơ và Giăng đã nghĩ đây sẽ là một buổi nhóm cầu nguyện bình thường thôi.
5. Hòn "núi cao" có lẽ là Núi Hẹt môn trong khu vực Sêsarê Philíp. Hẹt môn cao tới 9.000 feet trên mực nước biển trung bình và 11.000 feet cao đối với thung lũng sông Giôđanh. Trong một ngày trời trong, từ thành Jerusalem có thể nhìn thấy tuyết phủ trên đỉnh núi. Đúng là một nơi vinh hiển cho sự cầu nguyện.
6. Tôi muốn đề xuất bốn lý do tại sao Chúa Jêsus đã cho phép ba người nầy chứng kiến sự hoá hình của Ngài.
a. Thứ nhứt, họ sẽ trở thành những chứng nhân quyết chắc về sự vinh hiển của Ngài. Luật pháp chép trong Phục truyền luật lệ ký 19.15: "…cứ theo lời của hai hay ba người chứng, thì sự mới định được". Khi biến cố quan trọng nầy về sau được tỏ ra, cả ba người đều nói về cùng một việc.
b. Thứ hai, mấy người nầy vốn có mối quan hệ mật thiết nhất với Chúa Jêsus. Họ đã sống gần gũi nhất với Ngài. Họ đã dự phần sâu sắc trong sự thương khó của Ngài và cũng rất là thích ứng khi họ cũng sự phần vào sự vinh hiển của Ngài nữa. Chúng ta luôn luôn chia sẻ những tin tức tốt lành trước tiên với những người mà chúng ta yêu thương nhất.
c. Thứ ba, là cấp lãnh đạo được công nhận, họ có thể trình bày rõ ràng mọi điều mà họ đã nhìn thấy với người khác. Họ được kính trọng và nhiều người khác sẽ tin theo họ.
d. Thứ tư, họ có thể giữ kín sự việc cho riêng họ. Bổn tánh tự nhiên của con người vốn là vậy, nếu 12 môn đồ đã chứng kiến sự cố nầy, toàn bộ khu vực có lẽ đều biết rõ sự cố đó. Chúa Jêsus chưa sẵn sàng để được tỏ ra cách trọn vẹn đâu (câu 9).
7. Thật thú vị thay, một phân đoạn tương ứng trong Luca 9.32 cho chúng ta biết rằng khi Chúa Jêsus cầu nguyện: "Phi-e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm". Gần như họ đã ngủ suốt Sự Hoá Hình ấy! Tôi lấy làm lo là không biết có ai đó ngủ gục trong khi tôi giảng hay không, nhưng rồi tôi nhận ra rằng các môn đồ đã ngủ với Chúa Jêsus, Môise và Êli!
B. Chúa Jêsus tỏ ra sự vinh hiển Ngài cho Ba Môn Đồ vòng trong thấy (câu 2).
1. Câu 2 nói Chúa Jêsus đã "biến hoá trước mặt các người ấy". Từ “biến hoá” ra từ chữ metamorphoo, từ đây mới có chữ "metamorphosis" trong Anh ngữ (có nghĩa là “biến hoá”). Nó có nghĩa là "được biến đổi sang một hình thái khác". Chúng ta suy nghĩ tới sâu bướm và con bướm.
2. Luca 9.29 nói sự biến hoá diễn ra "khi Ngài đương cầu nguyện". "Diện mạo Ngài khác thường, áo Ngài trở nên sắc trắng chói-lòa".
3. Chúa Jêsus khi ấy trông thế nào? Thứ nhứt: "mặt Ngài sáng loà như mặt trời". Thời điểm nầy trong năm, mặt trời luôn luôn chiếu thẳng vào mặt tôi khi tôi lái xe đến văn phòng mỗi sáng. Tôi sử dụng nón lưỡi trai và kính mát, song vẫn còn thấy chói lắm. Khi tôi đang lái xe vào buổi sáng kia tuần nầy, mặt trời dọi vào tôi giống như điều các môn đồ đã nhìn thấy khi họ nhìn vào mặt của Chúa Jêsus trong suốt Sự Hoá Hình
4. Gương mặt của Chúa Jêsus tràn đầy với vẽ chói lói sáng rực của vinh hiển Shekinah của Đức Chúa Trời! Có còn nhớ gương mặt của Môise không? Sự sáng rực của thần tánh Ngài đã chiếu rạng qua nhân tánh của Ngài. Hêbơrơ 1.3 chép Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời là "sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài".
5. Thứ hai, câu 2 chép: "áo Ngài trắng như ánh sáng". Mác 9.3 sử dụng ngôn ngữ linh động hơn: "Áo xống Ngài trở nên sáng rực và trắng tinh chói lòa, đến nỗi chẳng có thợ phiếu nào ở thế gian phiếu được trắng như vậy". Sự vinh hiển rực rỡ như thế, nó chiếu sáng cả áo xống của Ngài!
6. Về sau Giăng đã viết về Ngài: "Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha" (Giăng 1.14).
7. Chúng ta hãy xem những điều Phierơ đã nói trong II Phierơ 1.16-19.
8. Chúa Jêsus đã cho phép ba môn đồ nhìn thấy một “đỉnh cao”, một tiên vị của những gì cả thế gian sẽ nhìn thấy nơi Sự Tái Lâm của Ngài.
II. Chúa Jêsus đã hiện ra với các Thánh đồ (câu 3).
A. Một lần nữa Luca cung ứng cho chúng ta thêm một vài chi tiết nữa. Ấy là "đương khi cầu nguyện" thì sự vinh hiển của Ngài mới rạng rỡ ra như thế. Ngài đã được "biến hoá" khi Ngài cầu nguyện.
B. Ở một thời điểm, "Môise và Êli đã hiện ra" trước mặt các môn đồ đã ngủ vùi. Làm sao họ biết đấy là Môise và Êli? Họ đang "nói chuyện với Ngài".
C. Giờ đây hãy tưởng tượng mấy cái đầu ngủ gà ngủ gật kia xem. Họ đã tốn rất nhiều công sức để trèo lên hòn núi nầy. Phần nhiều người trong chúng ta, những ai từng dành thì giờ ở trên các ngọn núi đều biết rõ rằng không khí mỏng có thể làm mất nhiệt lượng nơi chúng ta. Khi họ quì gối đặng cầu nguyện với Chúa Jêsus, họ đã ngủ gà ngủ gật. Tôi đã nhìn thấy dân sự ngủ gà ngủ gật trong các buổi nhóm cầu nguyện sáng sớm. Tôi phải thừa nhận, tôi cũng đã cầu nguyện trong trạng thái ngủ như vậy nữa đấy.
D. Luca 9.32 chép: "Phi-e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm, nhưng vừa tỉnh thức ra, thấy vinh hiển của Đức Chúa Jêsus và hai đấng ấy đứng gần Ngài". Họ đã tỉnh không những chỉ trông thấy sự vinh hiển Shekinah của Đức Giêhôva thôi, lại còn trông thấy các vị anh hào quan trọng nhất của Do thái giáo nữa.
E. MÔISE tiêu biểu cho phần Cựu Ước mà ai cũng biết rõ là luật pháp. Ông được gọi là "đấng ban luật pháp". Đức Chúa Trời đã dùng ông để lãnh đạo dân sự Ngài vào Đất Hứa rồi ban cho họ luật pháp thiêng liêng của Ngài.
F. ÊLI tiêu biểu cho phần Cựu Ước mà ai cũng biết là Các Sách Tiên Tri. Ai cũng biết ông là "vua của các tiên tri". Ông là nhân vật tình cảm nhất trong các nhân vật của Cựu Ước. Đức Chúa Trời đã dùng ông trong các phương thức thật lạ lùng để cảnh cáo dân sự Ngài về tội lỗi của họ và chỉ cho họ hướng đến Đấng Christ hầu đến.
G. Hãy nhớ, họ đang "nói chuyện" với Chúa Jêsus. Họ đang nói chuyện gì thế? Luca 9.31 nói họ "về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem". "Qua đời" lẽ ra phải dịch hay hơn là "ra đi". Từ chữ nầy trong tiếng Hy lạp, chúng ta mới có chữ exodus (Xuất Ai cập). Giống như Môise đã lãnh đạo các nô lệ Hêbơrơ xuất ra khỏi Ai cập, Chúa Jêsus sẽ lãnh đạo nhiều người ra khỏi vòng nô lệ cho tội lỗi trên một chuyến đi đến sự vinh hiển.
H. Họ đang nói về chính đề tài mà Chúa Jêsus mới vừa chia sẻ với các môn đồ, ấy là Ngài "đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại".
I. Thật là thú vị dường bao khi ở đỉnh cao nầy của Sự Tái Lâm, Chúa Jêsus hiện ra cùng với hai thánh đồ Cựu Ước. Khi Ngài tái lâm, hết thảy các thánh đồ của Đức Chúa Trời sẽ cùng hiện ra với Ngài!
III. Chúa Jêsus được chứng thực bởi Đức Chúa Cha (các câu 4-9).
A. Ao ước của Phierơ (câu 4).
1. Phierơ, không nghi ngờ chi nữa đã bị sốc trước khi ông nói: "Lạy Chúa, chúng ta ở lại đây thì tốt lắm; ví bằng đẹp ý Chúa, thì tôi sẽ đóng ba trại tại đây, một cái cho Chúa, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li". Luca 9.33 thêm vào phần Phierơ đã nói bằng câu nầy "Vì Phi-e-rơ không biết mình nói chi”.
2. Trước mặt ông, Phierơ đã nhìn thấy vẽ oai nghi vương giả của Vua các vua. Ông đã chứng kiến cuộc trò chuyện giữa Chúa Jêsus và hai vị thánh đồ trong sự vinh hiển liên quan tới chương trình của Đức Chúa Trời dành cho Ngài tại thành Jerusalem, một sự khẳng định những điều Chúa Jêsus đã nói rồi với các môn đồ. Trong chỗ bối rối, mọi sự ông có thể suy nghĩ phải lo làm là "đóng ba trại" hầu cho họ có thể ở lại trên núi mà chẳng phải bước vào số phận khủng khiếp kia.
3. Một số học giả cho rằng sự cố nầy đã diễn ra trong Lễ Lều Tạm, khi người Do thái sinh sống trong chỗ nương náu tạm thời để nhắc cho họ nhớ về sự xuất Ai cập.
4. Một lần nữa, Phierơ đã "không nghĩ tới việc của Đức Chúa Trời, mà chỉ nghĩ tới việc của con người". Có thể ông đã nghĩ rằng nếu họ có thể ở lại đây trên hòn núi, Chúa Jêsus sẽ không phải chết. Tuy nhiên, sự chết của Ngài mới là chương trình của Đức Chúa Trời.
B. Đáp ứng của Đức Chúa Cha (câu 5).
1. Hãy lưu ý rằng lần nầy Chúa Jêsus không trả lời Phierơ, mà Đức Chúa Cha trả lời. Một "đám mây sáng rực". Những đám mây có thể mau chóng kéo phủ trên các ngọn núi cao. Đây không phải là mây tuyết, mà là một đám mây vinh hiển!
2. Giọng nói của Đức Chúa Trời vang lên: "Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường". Đức Chúa Cha đã phán ra câu nói đó trong lúc Chúa Jêsus chịu phép báptêm. Tuy nhiên, hãy lưu ý câu thứ hai đã được dự trù để nói cho Phierơ: "hãy nghe lời Con đó!”
3. Trong cách nói khác: "Nếu Con Ta bảo Ngài phải đi đến thành Jerusalem để chịu chết, hãy tin nơi Ngài! Nếu Ngài bảo ngươi Ngài sẽ sống lại, hãy tin nơi Ngài! Nếu Ngài bảo ngươi phải vác lấy thập tự giá mình mà đi theo, hãy tin theo Ngài! Nếu Ngài bảo ngươi Ngài sẽ tái lâm trong vẽ oai nghi, hãy tin theo Ngài!" Đức Chúa Cha luôn luôn khẳng định cho Đức Chúa Con.
C. Các môn đồ sợ hãi (các câu 6-8).
1. Khi ba người nghe được giọng nói kinh khủng nầy, họ "té sấp xuống đất, và sợ hãi lắm". Tâm thần họ bị tổn thương trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
2. Tôi rất thích phần nầy: "Song Đức Chúa Jêsus lại gần, rờ môn đồ". Quí vị có thấy sự tử tế của Ngài không? Ngài đã nhìn qua chỗ đức tin yếu đuối của họ và vẫn yêu thương họ. Ngài thì thầm trong tình yêu thương đó: "Hãy đứng dậy, đừng sợ".
3. Họ ngập ngừng: "ngửa mặt lên" rồi nhìn quanh. Đám mây đã trôi đi mất rồi. Môise và Êli đã đi đâu mất rồi. "Họ chỉ nhìn thấy một mình Chúa Jêsus mà thôi". Trông Ngài đã bình thường trở lại.
4. Phierơ về sau đã viết trong II Phierơ 1.16: "Vả, khi chúng tôi đã làm cho anh em biết quyền phép và sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài".
D. Mạng lịnh của Chúa Jêsus (câu 9).
1. Đi xuống núi thì dễ dàng hơn là đi lên núi. "Khi ở trên núi xuống" họ đã bàn bạc mọi điều mà họ đã chứng kiến. Thế rồi Chúa Jêsus "ra lịnh" cho họ.
2. Ngài bảo họ "chớ thuật lại cùng ai, cho đến khi Con người từ kẻ chết sống lại".
3. Tại sao vậy? Hãy suy nghĩ xem giữ họ ở xa 9 người bạn kia quả là khó dường bao.
4. Trong một vài dịp khác, dân chúng đã tìm cách ép Chúa Jêsus rồi lập Ngài làm vua để phu phỉ mọi sự ham muốn ích kỷ của họ. Chúa Jêsus không đến để trị vì trên Israel lúc bấy giờ, mà để trị vì trên tấm lòng của loài người. Nếu câu chuyện nầy được đồn ra, nó sẽ làm hỏng chương trình của Đức Chúa Cha.
5. Có một vài kinh nghiệm mà chúng ta sẽ có với Chúa trong giờ phút đó có thể được giữ kín cho riêng mình.
IV. Chúa Jêsus được kết với người tiền khu (các câu 10-13).
A. Thắc mắc của các môn đồ (câu 10).
1. Khi họ đang trên đường xuống núi, các môn đồ đã đưa ra một thắc mắc không nghi ngờ chi nữa đã bị giục giã bởi sự hiện diện của Êli lúc Hoá Hình.
2. Họ đã hỏi: "Vậy thì sao các thầy thông giáo nói rằng Êli phải đến trước?" Các thầy thông giáo đã dạy lẽ thật trong Kinh Thánh ở Malachi 4.5-6, câu nói trong Cựu Ước: "Nầy, ta sẽ sai đấng tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va chưa đến. Người sẽ làm cho lòng cha trở lại cùng con cái, lòng con cái trở lại cùng cha, kẻo ta đến lấy sự rủa sả mà đánh đất nầy".
3. Nói cách khác: "Lạy Chúa Jêsus, chúng tôi biết rằng Ngài là Đấng Mêsi, nhưng tại sao Êli chưa xuất hiện với dân sự?"
B. Câu trả lời của Chúa (các câu 11-13).
1. Chúa Jêsus đã khẳng định lẽ thật trong sự dạy nầy bằng cách nói rằng: "Thật Êli phải đến trước". Tuy nhiên, Ngài tiếp tục phán rằng: "Êli đã đến rồi, và người ta không nhận biết".
2. Thực ra, họ "đã xử với người theo ý mình". Chúa Jêsus phán rằng "Con Người phải chịu khốn khổ bởi họ cũng như vậy".
3. Khi ấy các môn đồ "bèn hiểu". Họ vốn biết rõ Ngài đang nói về Giăng Báptít.
BA TƯ TƯỞNG KẾT LUẬN.
1. Đức Chúa Trời kêu gọi mọi người phải được biến đổi.
2. Nhìn thoáng qua sự vinh hiển của Đức Chúa Trời khiến cho chúng ta cứ đi tới.
3. Chúa Jêsus không kêu gọi chúng ta xây đền tạm, mà là xây dựng con người.
***

Mathiơ 16.21-28: "Cơ đốc nhân – người vô tình và người biết phó thác"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Cơ đốc nhân – người vô tình và người biết phó thác
Mathiơ 16.21-28
1. Chúng ta đang sống trong thời buổi "Cơ đốc giáo tùy tiện". Mới đây tôi có nghe ai đó nói rằng Hội thánh trung bình có thể giảm bớt ¼ vai trò thuộc viên và Hội thánh cũng như các thuộc viên cũng không thấy giảm bớt điều chi khác biệt.
2. Cơ đốc nhân tùy tiện là những người muốn được kể ở trong Bầy, nhưng ít quan tâm tới việc đi theo Người Chăn. Họ muốn sự tha thứ mà thập tự giá của Đấng Christ mang lại, song không muốn vác lấy thập tự giá của chính họ. Họ muốn những giây phút nồng ấm vào các buổi sáng Chúa nhựt, song không dâng một sự phó thác nào cho Chúa Giêxu vào các buổi sáng thứ hai. Nói ngắn gọn, họ muốn mão triều thiên mà không có thập tự giá kìa. Nhân vật có quyền lực nhất trong đất nước chúng ta được thấy đều đặn bước ra khỏi nhà thờ với quyển Kinh Thánh trên tay, nhưng lại bị buộc tội nói dối trước lời thệ hứa về một mối quan hệ tà dâm.
3. Nhãn hiệu Cơ đốc giáo mà Chúa Giêxu nói tới trong các sách Tin Lành là một tiếng kêu gào xa xôi từ những gì chúng ta thấy trên các đường phố, trong những nhà thờ hay thậm chí trong văn phòng kiểu oval kia nữa. Cung cách Cơ đốc giáo duy nhứt trong Kinh Thánh là Cơ đốc giáo hoàn toàn, từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa Giêxu.
4. Từ phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, chúng ta hãy xét qua ba đặc điểm của một Cơ đốc nhân biết đầu phục.
I. Những Cơ đốc nhân biết phó thác tiếp nhận ý muốn của Chúa Giêxu (các câu 21-23).
A. Chúa Giêxu đã hành động theo chương trình của Đức Chúa Cha (câu21).
1. Một trong những câu nói rõ ràng nhất về chính mình Ngài nằm ở Giăng 4.34: "Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài". Ở đây chúng ta thấy câu nói ấy được thốt ra.
2. Sau khi Chúa Giêxu khẳng định lai lịch của Ngài là "Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống" và đưa ra câu nói có tính cách tuyên bố về thân thể đời đời của Ngài, là "Hội thánh", Ngài cấm các môn đồ "đừng nói cho ai biết" Ngài là Đấng Mêsi.
3. Câu 21 cho chúng ta biết rằng "từ đó" Ngài mới tỏ ra nhiều về chính mình Ngài theo cách riêng cho họ hơn là công khai trước các đám dân đông.
4. Chúa Giêxu đã tập trung vào chương trình của Đức Chúa Cha. Ngài "mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải…". Hãy lưu ý chữ "phải". Đức Chúa Trời không có một chương trình phụ.
5. Thứ nhứt, Chúa Giêxu đã tỏ ra rằng "Ngài phải đi đến thành Jerusalem".
a. Câu 13 cho chúng ta biết rằng họ đã ở tại thành "Sêsarê Philíp" ở biên giới phía Bắc của xứ Israel. Họ đã được đôi chút an toàn đối với các kẻ thù của họ tại đây.
b. Có lẽ các môn đồ đã sợ xuôi Nam, không nghi ngờ chi nữa ở đó họ sẽ đối mặt với cơn thạnh nộ của các cấp lãnh đạo tôn giáo. Ở một chỗ kia, Thôma đã nói: "Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài!" (Giăng 11.16). Họ tưởng Chúa Giêxu bị điên khi quay trở lại chính nơi rất nguy hiểm cho Ngài.
c. Tại thành "Jerusalem" là chính địa điểm mà Ápraham đã dâng Ysác con mình làm của lễ thiêu, ở đây vị tộc trưởng đã nói: "Chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con" (Sáng thế ký 22.8).
d. Chúa Giêxu lên thành Jerusalem vì đấy là địa điểm đã được chỉ định theo cách thiêng liêng để dâng của lễ. Ngài phán trong Luca 13.33: "… vì không có lẽ một đấng tiên tri phải chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem".
6. Thứ hai, Chúa Giêxu cũng tỏ ra rằng "Ngài phải… chịu nhiều sự khốn khó" từ tay các cấp lãnh đạo tôn giáo.
a. "Những người trưởng lão" có lẽ là các đại biểu đến từ các chi phái khác nhau. "Các thầy tế lễ cả" chủ yếu là người Sađusê. "Các thầy thông giáo" hầu hết thường là những người Pharisi, họ chuyên xu hướng theo truyền thống.
b. Mỗi một nhóm hay kình chống nhau như thế nầy đã gắn bó với nhau trong thái độ thù hằn và ao ước được giết Chúa Giêxu.
7. Thứ ba, Chúa Giêxu đã tỏ ra rằng "Ngài phải…bị giết". Từ ngữ Hy lạp nói đến "bị giết" không có ý nói tới sự hành hình của chính quyền mà là giết người.
8. Thứ tư, Chúa Giêxu đã tỏ ra rằng "Ngài phải… sống lại vào ngày thứ ba". Sau khi nghe Thầy của họ sẽ phải chịu khổ và chịu chết, thế rồi họ đã quên phứt đi phần cuối cùng. Họ đã nhìn thấy Chúa Giêxu làm cho con gái của Giairu sống lại, cũng như đứa con trai của bà goá ở Nain, thế mà họ đã kinh ngạc không biết ai sẽ làm cho Chúa Giêxu sống lại nếu Ngài phải chịu chết đi?
B. Phierơ đã nói theo sự phỏng đoán của riêng mình (câu 22).
1. Phierơ "bèn đem Ngài riêng ra mà can rằng". Quí vị có thể hình dung ra bối cảnh ấy trong trí mình không?
2. Phierơ từng bị tai tiếng vì sự hấp tấp của mình rồi. Tuy nhiên, chúng ta có thể được yên ủi trước sự thực là Phierơ đã có một sự mật thiết với Chúa để nói với Ngài giống như một người bạn thân vậy.
3. Phierơ là một mục tiêu quá dễ dàng. Chúng ta mau mắn xét đoán mọi hành động của ông. Thế mà chúng ta lại thường hành động với sự phỏng đoán về ý muốn của Đức Chúa Trời? Thể nào chúng ta thường kêu lên: "Không công bằng đâu, lạy Chúa" hay "Lạy Chúa, sao lại là tôi?"
4. "Quở" mang nghĩa rộng của một lịnh lạc từ cấp trên. Phierơ đã nói với giọng điệu của bậc cha mẹ nói với con cái loạn nghịch. Động từ nguyên thể thì hiện tại cho thấy ông đã lặp lại câu nói đó.
5. Phierơ nói: "Còn lâu mới có sự đó" hoặc "Đức Chúa Trời ngăn cấm!" Ông nói: "Sự đó sẽ không xảy đến cho Chúa đâu!" Phierơ không nghĩ rằng Đấng mà ông đã tuyên bố là "Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống" sẽ bị ngược đãi và bị giết bởi các cấp lãnh đạo tôn giáo.
6. Thay vì phục theo chương trình đời đời của Đức Chúa Trời, phỏng chừng của Phierơ rất giống với các Cơ đốc nhân tùy tiện thời nay. Chúng ta muốn mão triều thiên chớ không muốn thập tự giá của Ngài.
C. Chúng ta có thể dễ dàng góp phần vào mục đích của kẻ thù (câu 23).
1. Trong khi ở ngoài mặt, nhìn kỹ hơn thì mối lo của Phierơ dường như hợp lý và dễ thương. Phierơ và 12 sứ đồ hoàn toàn nương vào Chúa Giêxu trong mọi sự. Họ đã hỏi: "Lẽ nào đây là ý chỉ của Đức Chúa Trời sao?" Thay vì thế, họ đang hỏi: "Nếu Chúa Giêxu chết, thì điều chi sẽ xảy ra cho chúng ta?"
2. Tình cờ Phierơ đã đùa giỡn trong bàn tay của Satan. Chúa Giêxu đã "xây mặt lại" cùng ông. Hãy tưởng tượng cái nhìn trong ánh mắt của Cứu Chúa xem! Có thể cái nhìn ấy đượm chính nét sắc sảo luôn luôn có trong ánh mắt của những kẻ hay chế giễu đền thờ. Ngài phán: “Hãy lui ra đàng sau ta!"
3. Không một điều gì làm cho Phierơ rúng động hơn thế. Chúa Giêxu đã cáo ông về việc hành động y như Satan vậy. Luca 4.8 ghi lại rằng Chúa Giêxu đã phán ra cùng một việc ấy với Vua của sự tối tăm trong khi chịu cám dỗ: "Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng nó rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, ngươi hãy lui ra! Vì có lời chép rằng: Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi".
4. Chúa Giêxu vốn biết rõ Satan đã đặt điều nầy trong Phierơ. Ở câu 17, Chúa Giêxu phán rằng Phierơ đã nói ra những gì “Đức Chúa Cha” đã “tỏ ra” cho ông biết, còn câu 23 người đánh cá to con kia đã trở thành phát ngôn viên của địa ngục. Satan phải làm một điều gì đó để giữ Chúa Giêxu đừng lên thập tự giá.
5. Chúng ta dễ bị bịp làm sao! Chúa Giêxu phán: "Ngươi làm gương xấu cho ta". Quí vị có thể tưởng tượng xem có gì tệ hại hơn nữa không? "Gương xấu" rút ra từ chữ skandalon, có nghĩa là "một cái bẫy hay một vầng đá vấp chơn". Chúng ta có từng làm ngăn trở chương trình của Đức Chúa Trời không?
6. Thể nào chúng ta thường cẩn thận thốt ra những lời lẽ tiểu xảo của kẻ thù chúng ta khi hắn thì thầm nhỏ nhẹ bên tai của chúng ta? Thể nào chúng ta thường nghĩ tới việc làm lành nhưng lại làm điều ác? Thể nào chúng ta thường tìm cách chữa lành, thay vì thế lại làm cho thương tích?
7. Có một manh mối cho chúng ta trong câu nói nầy: "vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta". Bao lâu tiêu điểm của chúng ta đặt nơi "việc người ta", chúng ta sẽ không bao giờ làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời đâu.
8. Chúng ta phải tránh không làm quân cờ cho địa ngục bằng cách nào? Chúng ta hãy tiếp thu từ Côlôse 3.1-17.
II. Những Cơ đốc nhân biết phó thác đối diện với những đòi hỏi của Chúa Giêxu (các câu 24-26).
A. Chúa Giêxu đòi hỏi ba hành động (câu 24).
1. Thứ nhứt, một Cơ đốc nhân biết phó thác phải "liều mình".
a. "Liều" ra từ chữ có ý nghĩa là chối bỏ hoàn toàn, phân rẽ hoàn toàn. Chúa Giêxu đã sử dụng chính từ ấy trong Mathiơ 26.34 để nói trước cho Phierơ biết sự Phierơ chối Chúa: "Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần".
b. Một Cơ đốc nhân biết phó thác phải "chối bỏ" bản ngã cũ. Chúa Giêxu không có ý nói tới lai lịch riêng tư của chúng ta đâu, mà Ngài nói tới phương thức sống cũ, nó tội lỗi và loạn nghịch. Phaolô đã nói trong Roma 7.18: "Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu".
c. Mặc dù chúng ta đã được xưng công bình bởi ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta vẫn phải chối mỗi ngày và liên tục từ bỏ phương thức sống cũ.
d. Roma 13.14 chép: "nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó". Philíp 3.3 chép: "Vì, ấy chính chúng ta là kẻ chịu phép cắt bì thật, là kẻ cậy Đức Thánh Linh Đức Chúa Trời mà hầu việc Đức Chúa Trời, khoe mình trong Đấng Christ, và không để lòng tin cậy trong xác thịt bao giờ”.
2. Thứ hai, một Cơ đốc nhân biết đầu phục phải "vác thập tự giá".
a. Đối với một tín đồ "vác thập tự giá" không có ý nói tới một sự khó nhọc hay thử thách thông thường nào đó. Hỡi quí bạn, mẹ vợ của quí vị không phải là “cây thập tự” mà quí vị phải vác lấy đâu!
b. Thay vì thế, câu nầy có ý nói tới sự chúng ta bằng lòng nhịn nhục bất cứ sự bắt bớ nào hay trả bất cứ giá nào thậm chí cả tuận đạo vì Chúa Giêxu nữa.
John MacArthur viết: …thập tự giá là một thực tại rất cụ thể và sống động. Đây là công cụ hành quyết dành để cho các kẻ thù tệ hại nhất của La mã. Đây là biểu tượng của đau khổ và chết chóc đã chờ đợi những ai dám đưa bàn tay lên nghịch cùng nhà cầm quyền La mã. Không lâu lắm trước khi Chúa Giêxu và các môn đồ đến tại thành Sêsarê Philíp, 100 người đã bị đóng đinh trên thập tự giá trong khu vực. Một thế kỷ trước, Alexander Janneus đã cho đóng đinh trên thập tự giá 800 người Do thái nổi loạn tại thành Jerusalem, và sau cuộc nổi loạn tiếp theo sau cái chết của Hêrốt Đại Đế, 2.000 người Do thái đã bị đóng đinh trên thập tự giá bởi Thống đốc La mã Varus. Những lần đóng đinh trên thập tự giá ở cấp độ nhỏ đều rất bình thường, và nó được đánh giá có lẽ khoảng 30.000 lần dưới nhà cầm quyền La mã trong suốt cuộc đời của Đấng Christ.
c. Các môn đồ đều hiểu vác thập tự giá của một người là bắt đầu một cuộc diễu hành đến với cái chết. Không phải mỗi một môn đồ đều phải phó sự sống mình cho Đấng Christ, mà mỗi một môn đồ phải bằng lòng phó mọi sự cho Chúa Giêxu.
d. Khả năng vác lấy thập tự giá của chúng ta bắt rễ từ lời hứa long trọng của Chúa Giêxu rằng "cửa âm phủ" sẽ không "thắng" được chúng ta. Chúng ta có sự đắc thắng đối với sự chết!
e. Chúa Giêxu không vác lấy thập tự giá của Ngài lên Via Dolorosa trừ khi Ngài lìa bỏ thiên đàng. Quí vị có vác thập tự giá của mình chưa? Quí vị có chịu chết vì Ngài không? Quí vị có chịu sống cho Ngài không?
3. Thứ ba, một Cơ đốc nhân biết phó thác phải "theo Chúa Giêxu". I Giăng 2.6 chép: "Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm". Chúa Giêxu đã phán trong Giăng 12.26: "Nếu ai hầu việc ta, thì phải theo ta, và ta ở đâu, thì kẻ hầu việc ta cũng sẽ ở đó; nếu ai hầu việc ta, thì Cha ta ắt tôn quí người....".
B. Đòi hỏi của Chúa Giêxu là một sự nghịch lý rất lớn (các câu 25-26).
1. "Sự sống" ở đây có ý nói tới bản ngã. "Vì ai" sống chỉ lo làm đẹp lòng mình hay "cứu sự sống mình" bằng cách theo đuổi khoái lạc và của cải sẽ "mất nó". Tuy nhiên, người nào bằng lòng "mất" hay từ bỏ mọi sự, thậm chí cả mạng sống sẽ "được lại" sự sống đời đời.
2. Hãy tưởng tượng xem nếu người kia có thể kiếm được "cả thế gian" và mọi sự giàu có của nó. Hãy tưởng tượng xem nếu quí vị có thể có được mọi sự ngay lúc bây giờ, song phải bỏ đi sự sống đời đời. Vậy thì linh hồn của quí vị giá bao nhiêu? Luca 16.19-31/Hêbơrơ 11.24-26.
3. Chúng ta không bị buộc phải chối bỏ sự sống của mình để trở thành hạng Cơ đốc nhân biết đầu phục. Chúng ta không biết. Chúng ta chỉ phải bằng lòng mà thôi.
III. Cơ đốc nhân đầu phục biết trước các phần thưởng của Chúa Giêxu (các câu 27-28).
A. Sự đến của Chúa Giêxu là một lời hứa vinh hiển (câu 27a).
1. Chúng ta hãy xem qua lời tiên tri ở Đaniên 7.9-14.
2. Sau khi bảo đảm cho các môn đồ quả thực Ngài là "Con của Đức Chúa Trời hằng sống", sau khi nói cho họ biết rằng Ngài sẽ "bị giết và sẽ sống lại" Ngài quyết chắc với họ rằng quả thực họ sẽ nhìn thấy mọi điều mà họ hằng ao ước, phải, thậm chí còn hơn cả ao ước nữa. Họ sẽ nhìn thấy Ngài "ngự trong sự vinh hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ".
3. Sự việc kỳ diệu nói tới Đấng Christ, Hội thánh Ngài, Tin Lành và Sự Đến của Ngài hết thảy đều có trong phân đoạn ngắn ngủi nầy!
B. Sự đến của Chúa Giêxu là một lời cảnh cáo nghiêm trọng (câu 27b). Chúa Giêxu phán: "Ngài sẽ thưởng cho từng người, tùy việc họ làm". Người được cứu sẽ đối mặt với Ngai Phán Xét của Đấng Christ và người chưa được cứu sẽ đối mặt với Ngai Trắng Phán Xét.
C. Sự đến của Chúa Giêxu gồm một lời tiên tri có hai phần (câu 28).
1. Câu nầy đã gây rắc rối cho một số học viên Kinh Thánh vì Chúa Giêxu đã hứa rằng "có một vài kẻ" trong số các môn đồ sẽ không "nếm sự chết" hoặc chết cho tới chừng họ nhìn thấy "Con Người ngự đến trong Nước Ngài". Vì các môn đồ nguyên thủy đã chết trong khoảng 2.000 năm và vì Sự Tái Lâm chưa diễn ra, một số người cho rằng Chúa Giêxu vừa sai lầm lại vừa nói dối nữa.
2. Dù vậy, thật là quan trọng khi thấy rằng nhiều lời tiên tri trong Kinh Thánh đã có sự ứng nghiệm từng phần và một sự ứng nghiệm toàn phần. Thí dụ Phierơ có đề cập tới một lời tiên tri từ sách Giôên trong bài giảng của ông nhơn dịp Lễ Ngũ Tuần ở Công Vụ các Sứ Đồ 2.14-21. Lễ Ngũ Tuần là một sự ứng nghiệm từng phần, không phải hết thảy các sự cố trong lời tiên tri đó sẽ được ứng nghiệm toàn phần cho tới khi Sự Tái lâm đến.
3. Từ ngữ "Nước" ở đây ra từ chữ basilea, có nghĩa đen dịch là "vương giả" hay "oai nghi". Nói cách khác, chúng ta hiểu chữ nầy có ý nói rằng họ sẽ nhìn thấy Con Người trong sự vương giả hay nét oai nghi của Ngài là Con của Đức Chúa Trời.
4. Nếu quí vị đã xem trước chương 17, quí vị biết chính xác tôi muốn nói gì rồi. Chỉ có "sáu ngày" sau đó Chúa Giêxu đã đem theo vòng trong cùng gồm Phierơ, Giacơ và Giăng ("một vài kẻ") rồi cho phép họ nhìn thấy "Con Người" ngự trong "sự vinh hiển của Cha Ngài" trên ngọn núi hoá hình.
5. Sự hoá hình là một sự ứng nghiệm từng phần, nhưng hết thảy chúng ta sẽ nhìn thấy Ngài ngự trong sự vinh hiển của Ngài.
***

Mathiơ 16.13-20: "Sự xưng nhận và Hội thánh"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Sự xưng nhận và Hội thánh
Mathiơ 16.13-20
1. Phân đoạn nầy chứa trọng tâm của Cơ đốc giáo. Đây là cao điểm của chức vụ giảng dạy của Chúa Giêxu. Phân đoạn nầy rõ ràng xác định tính cần thiết của sự xưng nhận để được cứu và tính liên tục mối tương giao của dân sự Đức Chúa Trời, là Hội thánh đời đời.
2. Chúa Giêxu đã đưa các môn đồ Ngài đến "địa phận thành Sêsarê Philíp". Khu vực nầy nằm ở biên giới phía Bắc lãnh thổ Do thái khoảng 25 dặm đông bắc Biển Galilê, gần Núi Hẹt môn tuyết phủ và nguồn của Sông Giôđanh. Khu vực gắn bó với sự thờ lạy hình tượng. Hêrốt Đại Đế đã dựng một đền thờ bằng cẩm thạch trắng cho Caesar Augustus. Con trai ông, là vua chư hầu Philíp, đã đặt lại tên thành phố cho Xêsa và cho chính mình ông.
3. Tại thời điểm nầy trong chức vụ của ông, Chúa Giêxu đã đối diện với sự chối bỏ bởi nhiều người trong số các môn đồ Ngài. Ngài đã để ra thật nhiều thời gian ở riêng với 12 môn đồ lo chuẩn bị cho họ cho những gì sẽ xảy đến. Trong địa phận nầy, nơi hình tượng và các vua loài người được thờ lạy như các vì thần, Chúa Giêxu sắp sửa công bố ra thần tính và Vương Quốc đời đời của Ngài.
4. Chúng ta hãy xét qua 3 lẽ thật về lời xưng nhận quan trọng và 6 lẽ thật về Hội thánh đời đời của Đấng Christ.
I. Ba lẽ thật ra từ lời xưng nhận quan trọng (các câu 13-17).
A. Các môn đồ đều biết rõ lai lịch thật của Chúa Giêxu (các câu 13-16).
1. Chúa Giêxu hỏi các môn đồ Ngài: "Theo lời người ta nói thì Con Người là ai?" Ngài không tìm kiếm sự khẳng định, mà chỉ hỏi một câu riêng tư thôi.
2. Thực ra, Ngài muốn hỏi: "Người ta đang nói gì về ta? Họ nghĩ ta là ai?" Chúa Giêxu vốn biết rõ rồi người Do thái đang nói gì về Ngài. Ngài đang dựng lên một cuộc bàn bạc để dạy các môn đồ nhiều thêm về thần tính thực của Ngài. Ngài muốn họ phải cẩn thận đánh giá dư luận quần chúng và lẽ thật đời đời.
3. Sự thật cho thấy rằng "họ", những cá nhân trong vòng 12 người đã đáp lại với nhiều ý kiến khác nhau.
4. Một người trong số họ nói: "Người nói là Giăng Báptít". Chúng ta hãy đọc ở 14.1-2. Có người, như Hêrốt tin Chúa Giêxu là Giăng đã hoá thân thành xác thịt. Họ không thể giải thích quyền phép lạ lùng của Ngài, vì thế đây là một lời giải thích khá khéo léo đối với một số người.
5. Có lẽ người khác đã nói: "Kẻ nói là Êli". Êli được người Do thái xem là vị tiên tri tối cao. Họ nhớ Malachi 4.5 có nói: "Nầy, ta sẽ sai đấng tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va chưa đến". Trong sự tuân giữ Lễ Vượt Qua ngày nay, một chiếc ghế trống được đặt tại bàn cho tiên tri Êli. Họ không biết rằng Giăng Báp tít thích ứng với phần mô tả nầy trong vai trò sứ giả của Đấng Mêsi. Chúa Giêxu đã phán trong Mathiơ 11.13-14: "Vì hết thảy các đấng tiên tri và sách luật đã nói trước cho đến đời Giăng. Nếu các ngươi muốn hiểu biết, thì ấy là Ê-li, là đấng phải đến".
6. Người nọ nói rằng vẫn có "kẻ khác" xem Chúa Giêxu là tiên tri "Giêrêmi". Người ta nói Giêrêmi đã giấu Hòm Giao Ước và bàn thờ xông hương trên Núi Nêbô với mục tiêu bảo toàn các thứ ấy. Truyền thuyết nói rằng ông sẽ trở lại lúc Đấng Mêsi đến để phục hồi các thứ ấy vào lại đền thờ.
7. Vẫn có "kẻ khác" nói Chúa Giêxu là "một Đấng tiên tri nào đó". Họ không nghĩ tới lai lịch đặc biệt của Ngài mà chỉ kết Ngài với đoàn đông các tiên tri người Do thái. Trong câu chuyện của Luca, các môn đồ đáp: "…kẻ khác nói là một trong các đấng tiên tri đời xưa sống lại" (Luca 9.19).
8. Khi phần bàn bạc nầy sắp sửa kết thúc, Chúa Giêxu bèn hỏi một câu rất quan trọng: "Còn các người thì xưng ta là ai?" Từng người một phải trả lời câu hỏi đó. Chúng ta trả lời câu hỏi ấy như thế nào sẽ quyết định số phận đời đời của chúng ta.
9. Phierơ đã đáp, thường thì là vậy, giống như phát ngôn viên của họ. Ông đã nói thẳng thừng và chẳng chút ngần ngại: "Chúa là Đấng Christ [Đấng Mêsi], con Đức Chúa Trời hằng sống". Người Do thái tin Chúa Giêxu là người tiền khu của Đấng Mêsi, còn Phierơ thì không có ý đó. Ông tuyên bố Ngài là Đấng mà ai nấy đã chờ đợi lâu nay, là Đấng Chịu Xức Dầu, là "Con Đức Chúa Trời hằng sống".
10. Họ đã nghe lời tuyên xưng nầy trước đây rồi. Đôi khi họ tin và đôi khi họ dường như có chút nghi ngờ. Dù vậy, họ càng lắng nghe và quan sát Ngài, họ càng tin quyết thêm hơn. Đức tin của họ giờ đây không thể bài bác được nữa. Đức tin thì đúng như thế đó. Khi chúng ta học hỏi, đức tin càng lớn lên mau.
B. Các môn đồ Đấng Christ được Đức Chúa Trời chúc phước cho (câu 17a).
1. Tôi nghĩ Chúa Giêxu đã mĩm một nụ cười thật tươi! Tôi hình dung được nét long lanh nơi ánh mắt của Ngài khi Ngài đáp với Phierơ!
2. Ngài phán: "Hỡi Simôn, con Giôna, ngươi có phước đó". Phierơ và hết thảy các môn đồ đều được phước qua lời xưng nhận nầy.
3. Chúa Giêxu đã nhấn mạnh sự bất khả về mặt con người của Phierơ khi Ngài nhắc tới ông bằng đích danh gia đình ông là Simôn con của Giôna.
4. Xưng nhận rằng Chúa Giêxu là Con Đức Chúa Trời là đỉnh cao để được cứu (Roma 10.9-13).
5. Chúng ta hãy xem ở Êphêsô1.3-8 để tiếp thu một bức tranh nhỏ chỉ về phước hạnh đời đời của Đức Chúa Trời giáng trên những ai chịu tin nơi Con của Ngài.
C. Tấm lòng của các môn đồ được Đức Chúa Trời mở ra (câu 17b).
1. Chúa Giêxu tiếp tục phán: "vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu". Nói cách khác: "Hỡi Phierơ, chẳng có cái gì ở trong ngươi chỉ cho ngươi biết điều nầy đâu". Con người tự bản thân họ sẽ không bao giờ tin theo Chúa Giêxu đâu! Roma 3.11: "Chẳng có một người nào hiểu biết, chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời". Còn I Côrinhtô 2.14 chép: "Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự dồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng".
2. Không, họ không suy diễn ra sự kiện lịch sử trọng đại nầy bằng ý riêng của họ được. Đúng hơn, "Cha ở trên trời" đã tỏ điều nầy ra cho họ. Khi họ lắng nghe và chú ý theo Chúa Giêxu, Đức Chúa Trời đã mở lòng họ ra đối với lẽ thật.
3. Đúng là một dạy rõ ràng về ơn cứu rỗi. Đức Chúa Trời mở lòng ra. Loài người nhận lãnh ân tứ đức tin và bắt đầu học hỏi. Khi Đức Thánh Linh bày tỏ Chúa Giêxu ra cho họ, họ xưng nhận từ chỗ sâu thẳm của linh hồn họ rằng Ngài là Con của Đức Chúa Trời!
II. Sáu sự kiện về Hội thánh Đấng Christ (các câu 18-20).
A. Hội thánh là một thân thể đời đời (câu 18).
1. Trước khi chúng ta đi xa hơn, chúng ta cần phải biết Chúa Giêxu muốn nói gì qua từ ngữ "Hội thánh". Từ ngữ nầy ra từ chữ Hy lạp ekklesia. Ek có nghĩa là "đi ra". Kaleo có nghĩa là "kêu gọi". Khi kết lại với nhau, chúng có nghĩa là "được kêu gọi đi ra" hay theo ý nghĩa nầy "những người được kêu gọi đi ra".
a. Từ nầy không có ý nói tới một Hội thánh địa phương. Theo một ý nghĩa, Phierơ và các môn đồ là một loại Hội thánh địa phương (lưu động). Họ được “kêu gọi” ra đi theo Chúa Giêxu. Nếu đây là một Hội thánh đặc biệt, thì chỉ có Hội thánh ấy sẽ nhận lãnh lời hứa của Chúa. Chúng ta cũng biết rằng ở thời điểm nầy, họ chưa có một ý niệm gì về một Hội thánh địa phương giống như Hội thánh của chúng ta.
b. Từ nầy không có ý nói tới loại Hội thánh địa phương theo ý nghĩa tổ chức. Chúa Giêxu không nói tới tất cả các Hội thánh địa phương như một tổ chức vì nếu nói như thế, thì các Hội thánh địa phương sẽ không bao giờ đi ra đâu. Hơn nữa, các ơn phước Chúa Giêxu đang mô tả sẽ nương vào một hình thái thuộc viên Hội thánh nào đó chớ không phải nương vào ân điển.
c. Từ nầy có thể đề cập tới Hội thánh theo ý nghĩa đời đời.
2. Kinh Thánh dùng từ ngữ "Hội thánh" hay ekklesia theo hai cách. Chúng ta thường đọc thấy đi nhóm nhà thờ, một hội chúng địa phương đặc biệt giống như nhà thờ của chúng ta. Trên một vài cơ hội giống như câu nầy, chúng ta thấy được thực thể mà chúng ta gọi là Hội thánh (hội chúng những người được chuộc ở trên trời).
3. Hêbơrơ 12.23 nói tới "gần Hội thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời, gần Đức Chúa Trời, là quan án của mọi người, gần các linh hồn người nghĩa được vẹn lành".
4. Sách Êphêsô nói tới "Hội thánh là thân thể của Đấng Christ, tức là sự đầy đủ của Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài" (1.23). Êphêsô 3.21 chép: "nguyền Ngài được vinh hiển trong Hội thánh, và trong Đức Chúa Jêsus Christ, trải các thời đại, đời đời vô cùng". Không một Hội thánh địa phương nào có thể chu toàn phần mô tả đó.
5. Rõ ràng, thân thể đời đời nầy của tất cả những người được chuộc đã được phác họa ra trong cách Phaolô nói bóng về Hội thánh như cô dâu của Đấng Christ. Chúng ta hãy đọc Êphêsô 5.22-32.
6. Kinh Thánh sử dụng nhiều hình bóng khác để mô tả người được chuộc, một thân thể, một ngôi nhà, các nhánh nho, hòn đá sống, một thửa ruộng, v.v.…
7. Với mục tiêu ứng dụng, Hội thánh địa phương là đại biểu cho Hội thánh đời đời thấy được bằng mắt thường. Điều chi là thực cho Hội thánh đời đời sẽ là thực cho Hội thánh địa phương nầy.
B. Nền tảng của Hội thánh là Chúa Giêxu (câu 18).
1. Hãy chú ý câu 17, Chúa Giêxu gọi Phierơ là "Hỡi Simôn, con Giôna" còn trong câu 18, Ngài gọi ông là"Phierơ”. Khi Anhrê đưa ông tới gặp Chúa Giêxu lần đầu tiên, Chúa Giêxu phán: "Ngươi là Si-môn, con của Giô-na; ngươi sẽ được gọi là Sê-pha [chữ nầy được dịch là hòn đá] (nghĩa là Phi-e-rơ)" (Giăng 1.42).
2. Simôn được gọi là Phierơ hay petros "một hòn đá" một lần. Chúa Giêxu đã đặt tên ông là một con người mạnh sức. Còn bây giờ Chúa Giêxu phán: "Người là Phierơ", được dịch là "Ngươi là hòn đá". Tiếp đến Chúa Giêxu phán: "Ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy". “Đá” mà trên đó Chúa Giêxu lập Hội thánh Ngài không phải là petros mà là petra, không phải "một hòn đá" mà là "vầng đá", không phải là “hòn đá nhỏ” mà là "tảng đá lớn".
3. Chúa Giêxu KHÔNG nói Ngài sẽ lập Hội thánh Ngài trên Phierơ như giáo lý Giáo hội Công giáo La mã tuyên bố, mà trên ĐÁ TẢNG. Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời thường được phác họa là vững chắc giống như tảng đá lớn hay thậm chí là một hòn núi.
4. Êphêsô 2.20 chép Hội thánh đời đời được "dựng nên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà". Phierơ và các sứ đồ khác đều là những hòn đá nền, còn Chúa Giêxu chính là Hòn Đá góc!
5. Có người giải thích petra như chỉ về lời tuyên xưng của Phierơ về Chúa Giêxu là Đấng Mêsi. Tôi không bất đồng với lối giải thích đó vì Hội thánh đã được lập trên Ngài.
C. Đấng lập nên Hội thánh chính là Chúa Giêxu (câu 18).
1. Chúa Giêxu phán: "Ta sẽ lập Hội thánh ta". Hành động là của Ngài, chớ không phải của chúng ta. Ngài là Đấng sáng lập. Chúng ta chỉ là những công cụ ở trong tay Ngài.
2. Bất luận có những lúc gần như là vô vọng, vô luận thế gian ngược đãi và không thân thiện với Hội thánh, bất luận có sự bắt bớ nào sẽ dấy lên, chúng ta có thể yên nghỉ chắc chắn rằng chúng ta thuộc về lý tưởng không bao giờ thất bại.
3. Loài người có thể xây một nhà thờ bằng đá, bằng bê tông cứng. Con người có thể dựng lên một tổ chức với hàng trăm hàng ngàn người tự xưng là thuộc viên. Chỉ có Chúa Giêxu mới có thể lập nên một Hội thánh thực, thuộc linh và đời đời.
4. Chúa Giêxu đã phán trong Giăng 6.37: "Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu".
5. Công vụ Các Sứ Đồ 2.47 chép: "ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh".
6. Trong Công vụ Các Sứ Đồ 2.39 Phierơ đã nói tới lời hứa cứu rỗi: "Vì lời hứa thuộc về các ngươi, con cái các ngươi, và thuộc về hết thảy mọi người ở xa, tức là bao nhiêu người mà Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ gọi".
D. Chủ tể của Hội thánh là Chúa Giêxu (câu 18).
1. Chúa Giêxu phán về địa vị chủ tể của Hội thánh khi Ngài gọi Hội thánh là "Hội thánh ta". Ngài là Đấng Kiến Trúc Sư, Đấng Xây Dựng và là Chủ Tể trên Hội thánh của Đức Chúa Trời.
2. Phaolô nói với các trưởng lão người thành Êphêsô trong Công vụ Các Sứ Đồ 20.28: "Anh em hãy giữ lấy mình, mà luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn HỘI THÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI, MÀ NGÀI ĐÃ MUA BẰNG CHÍNH HUYẾT MÌNH".
3. Có mối quan hệ mật thiết với Chúa Giêxu khi trở thành chi thể của Hội thánh.
4. I Côrinhtô 6.17 chép: "Còn ai kết hiệp với Chúa thì trở nên một tánh thiêng liêng cùng Ngài".
5. Hêbơrơ 2.11 chép: "Vì Đấng làm nên thánh và kẻ được nên thánh, đều bởi một Cha mà ra. Cho nên Ngài không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em". Khi có ai đó tấn công dân sự của Đức Chúa Trời, họ đang tấn công chính mình Đấng Christ.
E. Hội thánh không thể bị đánh bại (câu 18).
1. Chúa Giêxu phán: "Còn ta…sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ [bản Kinh Thánh KJV dịch là địa ngục] chẳng thắng được hội đó".
2. "Các cửa âm phủ" thường được giải thích là quyền lực của địa ngục đang tấn công Hội thánh. Chữ “địa ngục” được dịch trong bản Kinh Thánh KJV là “âm phủ” tương đương với từ ngữ Hy bá lai là sheol, từ nầy có ý nói tới chỗ của sự chết hay mồ mả.
3. Chúa Giêxu khẳng định rằng sự chết sẽ không nắm giữ được những người nào là chi thể của Hội thánh đời đời của Ngài. Phierơ nói về Chúa Giêxu trong Công vụ Các Sứ Đồ 2.24: "Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó". Vì sự chết không thể giữ được Chúa Giêxu, vì Ngài là trái đầu mùa của sự phục sinh, sự chết cũng không thể nắm giữ được chúng ta.
4. Hãy chú ý Côlôse 1.18: "Ấy cũng chính Ngài là đầu của thân thể, tức là đầu Hội thánh. Ngài là ban đầu sanh trước nhứt từ trong những kẻ chết, hầu cho trong mọi vật, Ngài đứng đầu hàng".
5. Hêbơrơ 2.14 chép: "Vậy thì, vì con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Đức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ".
F. Hội thánh có thẩm quyền (các câu 19-20).
1. Câu 19 là một câu rất lý thú. Tôi đã nghe cầu nầy được dạy có ý nói rằng thiên đàng kết buộc quyền công dân của một hội chúng địa phương!
2. Chúa Giêxu đã ban cho dân sự Ngài qua các sứ đồ "chìa khoá nước thiên đàng", tin lành, lời tuyên xưng của Phierơ. Nếu tôi ban cho quí vị chìa khoá nhà của tôi, quí vị sẽ vào nhà tôi bằng mấy cái chìa khoá đó.
3. Chúng ta hãy so sánh Giăng 20.23 và Mathiơ 18.15-18. Chúng ta có quyền không phải bởi chức vụ hay bởi đạo dòng, mà bởi Lời của Đức Chúa Trời. Điều chi chúng ta có thể "buộc" hay cấm đoán ở đây và điều chi chúng ta có thể "mở" hay cho phép ở đây đều phải bởi Ngôi Lời. Khi chúng ta hành động, chúng ta có quyền phép của “thiên đàng”.
***