Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

I Côrinhtô 1.10-17: "Kêu gọi hiệp một".



I CÔRINHTÔ – HỘI THÁNH GẶP RẮC RỐI
Kêu gọi hiệp một
I Côrinhtô 1.10-17
Thi thiên 133 có một sự độc đáo, là một trong trong những chương được chia ngắn nhất trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, nó gói ghém một sứ điệp đầy quyền năng. Chương ấy chép như sau: “Kìa, anh em ăn ở hòa thuận nhau. Thật tốt đẹp thay! Ấy khác nào dầu quí giá đổ ra trên đầu, Chảy xuống râu, tức râu của A-rôn, chảy đến trôn áo người; Lại khác nào sương móc Hẹt-môn sa xuống các núi Si-ôn; Vì tại đó Đức Giê-hô-va đã ban phước, tức là sự sống cho đến đời đời”.
Phát biểu chính của Thi thiên nầy, ấy là sự hiệp một của dân sự Đức Chúa Trời là “tốt đẹp thay”. Phát biểu ấy được minh hoạ theo hai cách: Thứ nhứt, sự hiệp một ấy khác nào dầu xức chảy dài trên râu xuống đến trôn áo thầy tế lễ thượng phẩm. Một vị Mục sư giảng về phân đoạn Kinh Thánh nầy, ông gọi bài giảng nầy là: “Phước hạnh thay khi bộ râu được xức dầu”. Không phải đi vào chi tiết, thầy tế lễ đã được xức với vài lít dầu thơm, minh hoạ cho sự ngọt ngào khi Đức Thánh Linh hiện diện. Thứ hai, sự hiệp một được mô tả giống như lớp sương phủ trên đỉnh một ngọn núi. Không, không phải “sương mù” mà là sương phủ trên một ngọn núi! Sương hình thành khi mọi điều kiện của bầu khí quyển đang ở trong tình trạng thích ứng. Tuy nhiên sương luôn luôn được thấy rất rõ ràng. Bạn biết đấy, các điều kiện thích ứng vì sương đang hiện hữu ở đó. Khi điều kiện thuộc linh của dân sự Đức Chúa Trời đương trong tình trạng thích ứng, thì có sự hiệp một phước hạnh.
Tuy nhiên, trong Hội Thánh Côrinhtô cũng như trong nhiều Hội Thánh địa phương khác, cả quá khứ và trong hiện tại, mọi điều kiện cho sự hiệp một đều không hiện hữu. Bất kỳ ai để một thời gian dài ở bất cứ một Hội Thánh địa phương nào đều nhìn thấy mình có dự phần vào những cuộc tranh cãi. Ở đây tại Cornerstone, chúng ta đã chứng kiến việc dự phần vào những sự chia rẽ có tính cách hủy diệt. Cảm tạ Chúa vì đấy không phải là trường hợp ở đây hôm nay. Hãy xem xét phần nghiên cứu nầy về sự giữ gìn bảo hộ cho tương lai!
Tranh cãi vốn dĩ nằm trong bổn tánh của tội lỗi. Bạn không phải dạy con cái biết cách phải ồn ào và đánh nhau như thế nào! Chúng đã thừa hưởng khả năng đó từ bố mẹ chúng. Đứa con gái út của chúng tôi, là Hannah, không nói chi nhiều cả cho tới khi nó lên ba. Nó chỉ biết có một câu nói ngắn rất rõ ràng “CỦA TÔI!” Khi còn nhỏ chúng ta tranh nhau về các thứ đồ chơi. Khi ở tuổi thanh thiếu niên, chúng ta tranh nhau về những cô bạn gái, xe Chevrolet hay xe Fords và còn nhiều thứ nữa. Khi trưởng thành, chúng ta bàn nhau về chính trị, công việc làm ăn, cùng những vấn đề đang có trong hiện tại. Tối kia, khi chơi bóng tại nhà thờ, tôi phải bực bội khi bị trọng tài thổi, vì ông ta thiên vị và quá tồi rất rõ ràng. Tôi đã kháng cự tận mặt rồi hất bùn vào ông ta! Tôi muốn tranh đấu! Hết thảy chúng ta đều tranh đấu. Tranh đấu với bạn bè, Tranh đấu trong gia đình. Tranh đấu trong công ăn việc làm. Tranh đấu giữa các thành phố và các dân tộc.
Tại sao chứ? Tại sao chúng ta có khuynh hướng phải tranh đấu như vậy chứ? Giacơ 4.1-2 hỏi và đáp cho câu hỏi đó: “Những điều chiến đấu tranh cạnh trong anh em bởi đâu mà đến? Há chẳng phải từ tình dục anh em vẫn hay tranh chiến trong quan thể mình sao? Anh em tham muốn mà chẳng được chi; anh em giết người và ghen ghét mà chẳng được việc gì hết; anh em có sự tranh cạnh và chiến đấu; anh em chẳng được chi, vì không cầu xin”. Tinh thần đấu tranh của chúng ta ra từ bổn tánh ích kỷ, tội lỗi của chúng ta. Chúng ta đặt cái tôi của mình lên trên hết. Chúng ta muốn những gì chúng ta cần. Chúng ta muốn đường lối của mình. Ở trung tâm chữ SIN [tội lỗi] là mẫu tự I [TÔI]. Đấu tranh và thiếu hiệp một luôn luôn tựu trung vào TÔI, tôi và của tôi.
Tuy nhiên, há người tin Chúa không được kêu gọi phải sống khác biệt sao? Rốt lại, chúng ta đã được cứu, được xưng công bình, được tái sanh, được chuộc và được làm con nuôi trong gia đình của Đức Chúa Trời. Chúng ta đã được ban cho một đời mới và đã được dựng nên mới. Thế mà chúng ta vẫn là đối tượng cho những tác dụng của xác thịt và dư thừa của bổn tánh cũ. Satan vốn biết rõ điều nầy. Chiến lược của hắn là cổ vũ bổn tánh tội lỗi đó thành hành động loạn nghịch chống lại Đức Chúa Trời. Hắn thích thú trong việc làm què quặt các Hội Thánh qua sự nói xấu, cãi nhau vặt, cùng tranh cạnh nội bộ. Hội Thánh tại thành Côrinhtô quả thực là một Hội Thánh gặp rắc rối. Có nhiều tội lỗi cần phải chú ý. Tuy nhiên, vì sự hiệp một giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời rất quan trọng nên sứ đồ Phaolô trước tiên phải xử lý với nó. Chúng ta hãy chia phân đoạn Kinh Thánh nầy ra làm năm tiểu đoạn kêu gọi sự hiệp một.
I. Lời YÊU CẦU phải hiệp một (câu 10a).
Câu 10 chép: “Hỡi anh em, tôi nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau”. Hãy gạch dưới chữ “khuyên”. Từ nầy ra từ chữ Hy lạp parakaleo tương tự với chữ “Đấng cứu giúp” hoặc “Đấng Yên Ủi” mô tả Đức Thánh Linh. Para là “ở một bên”. Kaleo là “kêu gọi”. Vì thế, Phaolô đến bên cạnh các tín đồ thành Côrinhtô rồi kêu gọi họ. Ông rất tha thiết. Khi chúng ta yêu cầu, chúng ta thường sử dụng câu nói: “làm ơn đi”. Phaolô đang nói: “Làm ơn đi, làm ơn thôi đừng tranh cãi nữa. Làm ơn thôi đừng chia rẽ bầy của Đức Chúa Trời. Làm ơn học yêu thương nhau đi”.
Nền tảng cho yêu cầu phải hiệp một nầy, ấy vì họ là những “anh em”. Họ là những anh chị em ở trong Chúa. Điều nầy đã được nhấn mạnh thật sâu sắc khi Phaolô nài khuyên họ khi ông “nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ”. Phaolô đã nói ra một việc tương tự trong Êphêsô 4.1-6: “Vậy, tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em, phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau, dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh. Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi, chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem; chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người”.
Đây không phải là Hội Thánh của tôi. Đây chẳng phải là Hội Thánh của bạn. Hội Thánh nầy thuộc về Đấng Christ. Công vụ Các Sứ đồ 20.28 gọi đây là: “Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình”. Ao ước của chúng ta sẽ không bao giờ làm đẹp lòng chúng ta, mà một phải làm đẹp lòng Ngài. Khi lòng chúng ta quan tâm đến những gì Đấng Christ mong muốn, chúng ta sẽ ở trong sự hiệp một với nhau.
II. Những HÌNH ẢNH nói tới sự hiệp một (câu 10b).
Trong phần nghiên cứu của chúng ta về sách Công vụ Các Sứ đồ, chúng ta đã xem kỹ mẫu mực của Hội Thánh đầu tiên. Công vụ Các Sứ đồ 2 chép: “Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện… Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh” (các câu 42, 46-47). Rõ ràng là Hội Thánh tại thành Côrinhtô, Hội Thánh của chúng ta hay bất kỳ một hội chúng địa phương nào khác không thể giống được với Hội Thánh đầu tiên tại thành Jerusalem. Vì vậy, Phaolô cung ứng cho chúng ta phần thứ hai của câu 10 ba hình ảnh bao quát về sự hiệp một có thể thích ứng với bất kỳ Hội Thánh nào.
A. TRONG MỘT HỘI THÁNH HIỆP MỘT “PHẢI ĐỒNG MỘT TIẾNG NÓI VỚI NHAU”
Bất chấp địa điểm hay thời gian, các tín hữu đã nhóm lại với nhau như một Hội Thánh, theo câu 10, nên “phải đồng một tiếng nói”. Cột giữa của bản Kinh Thánh NKJV dịch cụm từ nầy là “có chứng cớ đồng đều”. J.B. Phillips diễn tả cụm từ nầy là “nói với một giọng nói”. Tôi nghĩ bạn đang tiếp thu lấy ý tưởng. Chúng ta cần phải ở trong sự nhứt trí về đức tin. Chúng ta đang sống trong một thời đại đánh dấu sự đa dạng. Các tín lý của người nầy không còn quan trọng hơn tín lý của người kia. Xã hội của chúng ta cho chúng ta biết chẳng có gì tuyệt đối đúng hay tuyệt đối sai, chúng ta không thể thực sự tuyệt đối dám chắc về bất cứ việc gì. Triết lý ấy đã dọn đường xâm nhập vào trong các Hội Thánh, nhiều hệ phái và các trường học Cơ đốc. Chẳng có một tín điều hoặc giáo lý tiêu chuẩn nào cả. Kinh Thánh trở thành một quyển sách cho sự lý giải riêng tư, nghĩa là, nó có thể là một thứ dành cho bạn và một thứ hoàn toàn khác cho người kia. Giống như thăm viếng qua một quầy giải khát, bạn cầm lấy và chọn thứ gì bạn tin tưởng. Đấy chính xác là thái độ mà Phaolô đang giục giã chúng ta phải bỏ câu nầy đi. Sự thực là tuyệt đối, đặc biệt là lẽ thật theo Kinh Thánh. Nếu chúng ta bất đồng về lẽ đạo của Kinh Thánh thì một trong chúng ta là sai hay có lẽ cả hai chúng ta đều sai. Giải pháp không phải là tranh cãi, mà phải quay trở lại với Kinh Thánh với tấm lòng rộng mở rồi cùng nhau tìm cách hiểu rõ Lời của Đức Chúa Trời.
Chúng ta phải “đồng một tiếng nói” hay nhất trí về NHỮNG YẾU TỐ CẦN THIẾT, là những lẽ đạo chính của đức tin. Chúng ta có một thanh niên rất có tài trong Hội Thánh chúng ta một thời gian qua, nhưng anh ta không nhất trí với Hội Thánh chúng ta về tính đáng tin cậy của Kinh Thánh. Trong những sự dạy chính về đức tin Cơ đốc thì chẳng có một sự thoả hiệp nào cả. Chúng ta dựng ngọn cờ của mình trên những lẽ thật nầy và bằng lòng chịu chết vì chúng. Chúng ta phải “đồng một tiếng nói” hay nhất trí thậm chí trên NHỮNG YẾU TỐ KHÔNG CẦN THIẾT nữa. Về những vấn đề kém quan trọng hơn thì sao? Tôi đã nhìn thấy nhiều Hội Thánh nhảy vào tranh chiến vì màu sắc của tấm thảm hay mấy giờ buổi thờ phượng bắt đầu hoặc bài nào được hát hay không nên hát. Chúng ta sẽ luôn luôn có những ý kiến khác biệt đối với những vấn đề và không bao giờ mọi người sẽ hoàn toàn đồng ý. Tuy nhiên, cùng lúc ấy hết thảy chúng ta phải nhất trí mà cũng phải vừa lòng nữa.
B. TRONG HỘI THÁNH HIỆP MỘT CÁC TÍN HỮU “CHỚ PHÂN RẼ NHAU RA”
Một bức tranh thứ hai nói tới một Hội Thánh hiệp một, ấy là “chớ phân rẽ nhau ra”. Từ ngữ “phân rẽ” ra từ chữ Hy lạp schismata từ đó chúng ta mới có chữ “schism” hay phân rẽ. Sát nghĩa, nó có nghĩa là “xé toạc” giống như một người kia xé toạc tờ báo hay xé toạc một mãnh vãi vậy. Nó có thể mang ý nghĩa “phá vỡ” hay “vi phạm” giống như phá vỡ một hiệp ước vậy. Cuộc nội chiến là một trường hợp trọn vẹn nói tới việc xứ sở bị phân chia, bị xé toạc và bị phân chia ra làm hai.
Tôi tin ý chính một lần nữa là nói tới giáo lý. Chỗ nào Kinh Thánh nói đơn giãn, hết thảy chúng ta phải đồng ý. Rôma 16.17 chép: “Hỡi anh em, tôi khuyên anh em coi chừng những kẻ gây nên bè đảng và làm gương xấu, nghịch cùng sự dạy dỗ mà anh em đã nhận. Phải tránh xa họ đi”. Chỗ nào Kinh Thánh nói không rõ lắm, chúng ta có ngay phòng giải thích những khác biệt. Thí dụ, có chỗ cho những người tin họ sẽ chờ đợi cho tới khi giữa chừng hay cuối cơn đại nạn sẽ được cất lên. Họ có thể ở lại nếu họ muốn. Tôi muốn đi với Chúa trước khi cơn đại nạn bắt đầu!
Không có một sự “phân rẽ” nào giữa Hội Thánh và các cấp lãnh đạo. Nếu quí Mục sư, các trưởng lão, và chấp sự đều sai, thế thì họ phải đến gần với Kinh Thánh hơn. Con người có thể sai lầm. Tuy nhiên, khi Đức Chúa Trời đặt hạng người nhơn đức vào trong Hội Thánh để chăn và dẫn dắt bầy, người khác phải chìu theo họ.
C. TRONG HỘI THÁNH HIỆP MỘT CÁC TÍN HỮU PHẢI “HIỆP MỘT Ý MỘT LÒNG CÙNG NHAU”.
Hình ảnh thứ ba về sự hiệp một nằm ở phần cuối của câu 10: “anh em phải hiệp một ý một lòng cùng nhau”. “Hiệp” không có nghĩa là chúng ta là hạng người trọn vẹn đâu. Thay vì thế, đây là một hình ảnh bằng lời trong Tân Ước đề cập tới một việc đang được chỉnh sửa, một mảng lưới được vá lại, một chiếc áo được khâu lại. Hãy phác hoạ một cái bình đã bị vỡ thành nhiều mãnh đã được dán lại với nhau một cách chính xác y như nó có trước kia. Chúng ta là hạng người bị nứt nẻ, Đức Chúa Trời muốn hàn gắn lại một cách trọn vẹn.
Tôi nghĩ đến Hội Thánh giống như trò chơi ráp hình. Mỗi một người chúng ta là một mẫu hình để ráp. Đứng riêng ra, chúng ta chẳng là gì cả. Tuy nhiên, hiệp lại với nhau ở đúng vị trí chúng ta tạo thành một bức tranh. Bởi cách đó, trò chơi ráp hình đòi hỏi tất cả các mẫu ráp. Khi bạn không ráp vào, Hội Thánh sẽ chịu khổ. Thứ nhứt, chúng ta phải hiệp với nhau “một ý”. “Một ý” có nghĩa gì? Chúng ta đang có ý tưởng nào vậy? Chúng ta cần phải có ý của Đấng Christ, là ý tưởng khiêm nhường. Philíp 2.5-8 chép: “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự”.
Chúng ta cũng cần phải có tâm tình của một tôi tớ. Mác 10.45 chép: “Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người”. Thứ hai, chúng ta phải hiệp cùng nhau “đồng xét đoán”. Nói cách khác, chúng ta cần phải sống giả hình. Chúng ta không đồng ý ở ngoài mặt, nhưng bất đồng ở trong lòng. Giả hình chẳng giúp gì được cho Hội Thánh. Khi một thuộc viên bất đồng với Mục sư, các cấp lãnh đạo, kế hoạch hay giáo lý của Hội Thánh, người ấy không thể phu phỉ trong đời sống thuộc linh của mình.
III. NAN ĐỀ của sự hiệp một (các câu 11-12).
Câu 11 chép: “Vì, hỡi anh em, bởi người nhà Cơ-lô-ê, tôi có được tin rằng trong anh em có sự tranh cạnh”. Chúng ta không biết Cơ-lô-ê hay gia đình của bà ta là ai. Rõ ràng bà ta là hay đã là thuộc viên của Hội Thánh Côrinhtô. Dù bà ta hay ai đó từ gia đình của bà ta đã viết thư hoặc thăm viếng Phaolô rồi nói cho ông biết về rắc rối ở trong Hội Thánh. Mặc dù chúng ta không biết Cơ-lô-ê là ai, Hội Thánh ai cũng biết bà ta hết.
Là thuộc viên trong Hội Thánh, tôi nghĩ Cơ-lô-ê đã làm một việc rất đúng đắn. Hội Thánh đã gặp phải rắc rối và bà ta nói cho Phaolô biết. Thêm nữa, bà ta không sợ Phaolô sử dụng tên tuổi của bà ta. Nhiều lần có người đến gặp tôi để nói cho tôi biết đôi điều về cá nhân khác, họ muốn tôi phải hành động ngay, nhưng không muốn tôi tỏ ra lai lịch của họ. Tôi không thích thư nặc danh. Trải qua nhiều năm tháng, tôi đã nhận vài bức thư mà tác giả chỉ ký võn vẹn hàng chữ “một Cơ đốc nhân có lòng quan tâm” hay vài bút danh khác. Nếu bạn sẽ đưa ra lời kết án, hãy thu lại bức thư ấy với tên của mình. Bạn nhìn thấy tội lỗi trong Hội Thánh giống như một chứng ung thư ác tính vậy. Nếu tội lỗi ấy không được điều trị theo Kinh Thánh, nó sẽ lan rộng khắp thân thể của Hội Thánh. Bất chấp tội lỗi ấy, thì chẳng còn cách chạy chữa nào nữa cả. Tôi nhứt trí với sự thực Cơ-lô-ê đã bằng lòng ghi tên của bà vào hàng ngũ cho sự hiệp một của Hội Thánh.
Ở câu 12, chúng ta tiếp thu một phần những gì Cơ-lô-ê thông báo cho Phaolô biết: “Tôi có ý nói rằng trong anh em mỗi người nói như vầy: Ta là môn đồ của Phao-lô; -ta là của A-bô-lô, -ta là của Sê-pha, -ta là của Đấng Christ”. Ít nhất tôi đưa ra bốn phe phái hay bè lũ ở trong Hội Thánh. Thứ nhứt, có đám đông xưng “Ta là môn đồ của Phaolô”. Không nghi ngờ chi nữa, số người nầy đã được cứu dưới chức vụ của Phaolô tại thành Côrinhtô như đã được mô tả trong Công vụ Các Sứ đồ 18. Phaolô là cha của họ trong đức tin và họ rất trung thành đối với ông. Họ tự hào về ông và thường nhắc tới ông.
Thứ hai, có số người xưng là “Ta là của A-bô-lô”. Phaolô sai A-bô-lô đến thế chỗ của ông sau khi ông rời thành Côrinhtô. A-bô-lô là người Do thái ở thành Alexandria và có học cao. Công vụ Các Sứ đồ 18.24 mô tả ông là “tay khéo nói và hiểu Kinh Thánh”. Nhân vật nầy hoàn toàn là một nhà truyền đạo. Chắc chắn có nhiều người đến với Hội Thánh trong chức vụ của ông và tin ông là vị lãnh đạo giỏi nhất trong những lãnh đạo của họ. Thứ ba, có những kẻ xưng “Ta là của Sê-pha”. Hiển nhiên, có một số người trong Hội Thánh đã được cứu và chịu phép báptêm dưới chức vụ của Sê-pha hay Phierơ. Họ rất tự hào khi được gắn bó với nhân vật nầy, vì ông là “phát ngôn viên của các môn đồ” trong nhiều năm trời. Sau cùng, có phe xưng “Ta là của Đấng Christ”. Tôi e rằng họ là nhóm siêu thuộc linh, họ tự nghĩ họ thích ứng với Đức Chúa Trời hơn bất kỳ ai khác. Chắc chắn họ phải nhìn xuống người khác và các tín hữu khác cách kiêu kỳ. Nan đề nầy về sự phân rẽ vẫn còn thịnh hành hôm nay. Cơ đốc nhân vẫn tự phân rẽ nhau trong những phe phái giống như thế. Tôi đọc thấy mẫu tin nầy ngày hôm kia về cuộc trao đổi với một người định tự tử khi muốn nhảy xuống từ một cây cầu.
Tôi nói, có phải ông là Cơ đốc nhân hay là người Do thái? Ông ta nói: Cơ đốc nhân. Tôi nói: Tôi cũng thế. Tin lành hay Công giáo? Ông ta nói: Tin lành. Tôi nói: Tôi cũng vậy. Hệ phái nào? Ông ta đáp: Báptít. Tôi nói: Tôi cũng vậy. Báp tít Bắc phương hay Nam phương? Ông ta nói: Bắc phương. Tôi đáp: Tôi cũng vậy. Báp tít Bảo Thủ Phương Bắc hay Báptít Tự do Phương Bắc? Ông ta đáp: Báptít Bảo Thủ Phương Bắc. Tôi đáp: Tôi cũng thế. Báptít Chính thống Bảo Thủ phương Bắc hay Báptít Cải chánh Bảo Thủ phương Bắc? Ông ta đáp: Báptít Chính thống Bảo Thủ phương Bắc. Tôi nói: Tôi cũng vậy. Báptít Chính thống Bảo Thủ phương bắc, khu vực hồ Great, hay khu vực phía Đông? Ông ta đáp: Báptít Chính thống Bảo Thủ phương bắc, khu vực hồ Great. Tôi đáp: Tôi cũng vậy. Báptít Chính thống Bảo Thủ phương bắc, khu vực hồ Great, Giáo hội nghị năm 1879 hay Báptít Chính thống Bảo Thủ phương bắc, khu vực hồ Great, Giáo hội nghị năm 1912? Ông ta đáp: Báptít Chính thống Bảo Thủ phương bắc, khu vực hồ Great, Giáo hội nghị năm 1912. Tôi nói: Chết rồi, dị giáo! Và tôi đẩy ông ta qua một bên.
Chúng ta bật cười, nhưng chúng ta biết có một chất thực trong câu chuyện tưởng tượng đó. Chúng ta được phước khi có những giáo sư Kinh Thánh có tài ở đây trong chính Hội Thánh của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta sẽ phạm tội trọng khi hình thành các nhóm riêng biệt xung quanh họ. Lòng trung thành của chúng ta phải dành cho Đấng Christ, chớ không phải cho con người hoặc tổ chức. Hãy lắng nghe I Côrinhtô 3.5-7: “Thế thì, A-bô-lô là ai, và Phao-lô là ai? Ấy là kẻ tôi tớ, mà bởi kẻ đó anh em đã tin cậy, y theo Chúa đã ban cho mọi người. Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên. Vậy, người trồng kẻ tưới, đều không ra gì, song Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên”.
IV. NGUYÊN TẮC cho sự hiệp một (các câu 13-16).
Trong câu 13, Phaolô đưa ra thắc mắc rất hoa mỹ: “Đấng Christ bị phân rẽ ra sao? Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh trên cây thập tự thế cho anh em, hay là anh em đã nhân danh Phao-lô mà chịu phép báp tem sao?” Hãy chú ý cách cẩn thận câu hỏi đầu tiên: “Đấng Christ bị phân rẽ ra sao?” tất nhiên là không rồi! Đấng Christ không bị phân rẽ. Từ khi Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ, thân thể ấy không bị phân rẽ.
Một Hội Thánh phân rẽ là một sự mâu thuẫn. I Côrinhtô 6.17 chép: “Còn ai kết hiệp với Chúa thì trở nên một tánh thiêng liêng cùng Ngài”. I Côrinhtô 12.12-13 chép: “Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy. Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa”. Rôma 12.5 chép: “thì cũng vậy, chúng ta là nhiều người mà hiệp nên một thân trong Đấng Christ, và hết thảy chúng ta đều là các phần chi thể của nhau”. Trở thành một Cơ đốc nhân là trở nên một với Đấng và với thân thể của Ngài.
Mới đây tôi hướng dẫn một buổi học về hôn nhân, bài học nói rằng mỗi cuộc hôn nhân là một phản ảnh mối tương giao giữa Đấng Christ và Hội Thánh. Có thể nó phản ảnh rất tích cực hay tiêu cực, nhưng nó vẫn sẽ cung ứng một phản ảnh. Từng Hội Thánh địa phương là sự phản ảnh lớn lao về Đấng Christ. Hội Thánh Cornerstone vừa phản ảnh tích cực hay tiêu cực về Ngài. Nếu chúng ta chọn tranh cãi, chúng ta sẽ không bao giờ với tới mối tương giao của chúng ta vì Ngài.
Phaolô tự mình cách biệt ra khỏi bất cứ một sự tranh cãi nào trong Hội Thánh bằng cách hỏi: “Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh trên cây thập tự thế cho anh em, hay là anh em đã nhân danh Phao-lô mà chịu phép báp tem sao?” Tôi nghĩ ông sẽ lấy làm khó chịu khi họ sử dụng tên của ông để tạo ra những sự phân rẽ của họ. Bạn phải noi theo quí Mục sư và cấp lãnh đạo của mình, nhưng lòng trung thành trọn vẹn của chúng ta phải đặt nơi một mình Đấng Christ.
Cho phép tôi đưa ra một lời cân đối ở đây. Kinh Thánh dạy rằng các tín đồ phải tỏ ra sự tán thưởng những người nào đang làm việc cật lực để giảng dạy Ngôi Lời. I Têsalônica 5.12-13 chép: “Hỡi anh em, xin anh em kính trọng kẻ có công khó trong vòng anh em, là kẻ tuân theo Chúa mà chỉ dẫn và dạy bảo anh em. Hãy lấy lòng rất yêu thương đối với họ vì cớ công việc họ làm...”. Tôi có một số anh hùng trong đức tin. Nhiều người đã ngã chết. Một số còn đang sống. Hết thảy đều có thể sai lầm và có hai bàn chân bằng đất sét. Tôi đánh giá cao họ, nhưng nhớ rằng họ chỉ đang/đã là con người. Tuy nhiên, chúng ta đừng bao giờ để cho sự khen ngợi những người thuộc về Đức Chúa Trời đem lại sự chia rẽ. Dòng cuối cùng của câu ấy tôi trưng dẫn như sau: “…Hãy ở cho hòa thuận với nhau”. Giờ đây, Phaolô nói trong các câu 14-16: “Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì ngoài Cơ-rít-bu và Gai-út, tôi chưa từng làm phép báp tem cho ai trong anh em, hầu cho chẳng ai nói rằng anh em đã nhân danh tôi mà chịu phép báp tem. Tôi cũng đã làm phép báp tem cho người nhà Sê-pha-na; ngoài nhà đó, tôi chẳng biết mình đã làm phép báp tem cho ai nữa”.
Khi Phaolô suy nghĩ lại thời gian ông ở tại thành Côrinhtô, đặc biệt ông nhớ tới việc làm phép báptêm cho “Cơ-rít-bu”, cựu cai nhà hội và “Gai-út”. Khi suy gẫm thêm, ông nói trong câu 16: “Tôi cũng đã làm phép báp tem cho người nhà Sê-pha-na”. Dường như là Phaolô đã làm phép báptêm cho vài người, có lẽ để phần việc đó lại cho nhóm truyền giáo. Thú vị thay, Giăng 4.2 cho chúng ta biết rằng “(kỳ thiệt không phải chính Đức Chúa Jêsus làm phép báp têm)”. Tại sao không làm phép báptêm chứ? Hãy tưởng tượng một số người kiêu căng giả dối đã có khi chịu Chúa Jêsus hay Phaolô làm phép báptêm cho.
Phaolô vốn hiểu rõ điều nầy. Ông không muốn có một hệ thống thờ lạy hình tượng theo sau. Ông không muốn trở thành một người nổi tiếng. Sứ mệnh của ông là tìm kiếm nhiều môn đồ của Đấng Christ, chớ không phải môn đồ của Phaolô. Đấy là lý do tại sao ông nói rất thành thực: “Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời … tôi chưa từng làm phép báp tem cho ai trong anh em, hầu cho chẳng ai nói rằng anh em đã nhân danh tôi mà chịu phép báp tem”.
Thần học viện mà tôi đến học đã được thành lập vào thập niên năm 1940. Một bức tranh thật lớn nhà sáng lập, Tấn sĩ A.J. Kirkland được treo trong giảng đường cùng với nhiều tranh ảnh và một tuyển tập các ảnh hưởng riêng của ông. Ông đã qua đời nhiều năm trước khi tôi trở thành một sinh viên, tuy nhiên tên tuổi của ông đã được nói ra với ý thức rất kính nể. Các thầy giáo kể nhiều truyện tích nói về ông mà tôi thường cảm thấy hầu như tôi đã quên sự cất lên bởi sự có đặc ân ngồi nghe ông giảng dạy. Phaolô không muốn loại trung thành ấy. Ông muốn dân sự phải noi theo Đấng Christ.
Tôi là một Mục sư cho một số người trong các bạn trong vài năm trời. Nếu Chúa muốn, tôi sẽ trở thành Mục sư của quí vị trong nhiều năm nữa. Quí vị thường tâng bốc tôi với những lời lẽ tử tế. Tuy nhiên, thực là rõ ràng vì tôi có hai bàn chân bằng đất sét. Giống như bạn, tôi đang tranh đấu với xác thịt và thường thất bại. Đấy là lý do tại sao lòng trung thành của chúng ta không bao giờ đặt nơi con người, mà đặt nơi Đấng Christ. Ngài sẽ không làm cho chúng ta phải thất vọng.
V. ƯU ĐIỂM của sự hiệp một(câu 17).
Sau cùng, Phaolô nói trong câu 17: “Thật vậy, Đấng Christ đã sai tôi, chẳng phải để làm phép báp-tem đâu, nhưng để rao giảng Tin Lành, và chẳng dùng sự khôn khéo mà giảng, kẻo thập tự giá của Đấng Christ ra vô ích”. Tin lành là ưu tiên một, chớ không phải phép báptêm và không phải ai là vị giáo sư Kinh Thánh giỏi nhất. Phép báptêm rất quan trọng. Đây là bước đầu tiên trong đời sống đức tin và cung ứng bằng chứng của sự biến đổi chơn thật ở người bề trong. Tuy nhiên, phép báptêm chẳng cứu được ai. Phaolô không được kêu gọi để làm phép báptêm, mà để “rao giảng Tin lành”. Vì lẽ đó, “thập tự giá của Đấng Christ” là ưu tiên một tối hậu. Ông không tâng bốc họ bằng “lời nói khôn ngoan”. Khi làm vậy, ông sẽ tự tôn mình lên và thu nhỏ lại tác dụng của sứ điệp Tin lành làm thay đổi đời sống.
Nói tóm lại, khi tôi nghiên cứu phân đoạn nầy và phần còn lại của thư tín nầy, tôi tin chắc rằng Hội Thánh Côrinhtô đã đầy dẫy với sự ngạo mạn, tinh thần rất kiêu căng. Họ tự hào về sự thành công của họ. Họ tự hào về các giáo sư dạy Kinh Thánh của họ. Họ tự hào về tri thức của họ. Vi cớ sự kiêu ngạo nầy, họ đang trở nên vô dụng cho Nước của Đức Chúa Trời. Như chương 13 nói: không có tình yêu thương chỉ là “đồng kêu lên” và “chập choả vang tiếng”. Sự ngạo mạn của con người có thể làm giảm sút sứ điệp nói tới thập tự giá rất nhiều. Nguyện Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta. Nguyện việc ấy sẽ không xảy ra ở đây.
***

I Côrinhtô 1.1-9: "Viết cho người thành Côrinhtô, với tình yêu thương".



I CÔRINHTÔ – HỘI THÁNH GẶP RẮC RỐI
Viết cho người thành Côrinhtô, với tình yêu thương
I Côrinhtô 1.1-9
Hãy tưởng tượng bối cảnh nầy. Quí vị là một người cha đang ngăn chặn đứa con mình đi theo đường lối riêng của nó lần đầu tiên. Nó sẽ lên đường đến trường đại học hay vào quân đội hoặc đến nơi ở riêng của nó. Một số người trong quí vị đã kinh nghiệm rồi sự việc nầy. Nhiều người khác sẽ đối diện với điều nầy không bao lâu nữa. Chiếc xe hơi đã bị trùm mền, lời từ giả đã được thốt ra rồi. Quí vị trông thấy con của mình bước lên xe rồi lái đi vào tuổi trưởng thành. Quí vị đã làm hết sức mình để nuôi dạy nó cho đúng đắn. Quí vị đã dạy cho nó biết cái đúng cái sai. Quí vị đưa nó đến nhà thờ. Quí vị để ý đến mọi quyết định của nó. Thế rồi cuộc đời nó bây giờ nằm trong tay của nó. Bây giờ hãy tưởng tượng một vài tháng đã trôi qua. Quí vị nghe nói từ mấy người bạn của nó rằng nó đã sống xa cách với gốc rễ đạo đức và thuộc linh của nó. Không cứ cách nào đó, nó đã rời bỏ mọi giá trị mà quí vị đã truyền đạt cho nó. Nó mất đi chứng cớ là một Cơ đốc nhân. Chúng ta hãy nói cách duy nhứt mà quí vị truyền đạt cho nó là viết một lá thư bày tỏ ra mọi cảm xúc là một người cha. Quí vị sẽ nói gì nào? Quí vị sẽ viết một lá thư như thế bằng cách nào?
Sứ đồ Phaolô đã đối diện với một phần việc tương tự khi ông ngồi xuống viết lá thư mà chúng ta hiện nhìn biết là I Côrinhtô. Ông đã sáng lập Hội Thánh tại thành Côrinhtô trong chuyến hành trình truyền giáo lần thứ hai. Ông đã ở lại với họ khoảng hai năm, dạy dỗ họ và khiến cho họ lập nền vững chắc trong đức tin. Có nhiều người, thậm chí các cấp lãnh đạo của nhà hội Do thái đã được cứu. Việc mở ra Hội Thánh nầy là một trong những chuyến mạo hiểm thành công nhất của Phaolô. Tuy nhiên, khi thời gian trôi qua, Phaolô nghe được một số tin tức rất đáng lo ngại. Ông hay rằng Hội Thánh không còn hiệp một nữa, mà đã chia ra thành hai phe. Ông hay được họ đã trở nên kiêu ngạo và không còn có thái độ của một tôi tớ nữa. Ông hay được tình trạng phi luân về tình dục đã toả khắp Hội Thánh, thậm chí có cả mối quan hệ loạn luân nữa. Ông hay được họ đang khoe khoang sự tự do của họ trong vai trò Cơ đốc nhân, làm đảo lộn vai trò của người nam người nữ, làm ô uế Tiệc Thánh và lạm dụng các ân tứ thuộc linh. Họ đã sa đà cách xa lẽ thật của Kinh Thánh đến nỗi một số người trong họ đã thắc mắc về lẽ đạo nói tới sự sống lại. Thực vậy, họ là một Hội Thánh đầy rắc rối. Vì thế Phaolô, giống như một người cha đau khổ, ngồi xuống, viết trong tay rồi bắt đầu viết cho con cái lạc sai của mình.
Mặc dù I Côrinhtô là một bức thư riêng, nó cũng là một bức thư được cảm thúc nữa. II Timôthê 3.16 chép: “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình”. Đức Thánh Linh đã chọn cảm thúc hay “hà hơi” qua Phaolô những lời lẽ mà chúng ta đang có ở trước mặt đây. Mặc dù Phaolô là một người cha đầy tình yêu thương, ông không đưa ra một cú đánh nào. Ông hoàn toàn nghiêm khắc với họ. Vì thế, ông bắt đầu bức thư nầy giống như quí vị bắt đầu một bức thư gửi cho đứa con sai lạc của mình. Ông nhắc cho họ nhớ tới gốc rễ của họ trong đức tin theo Kinh Thánh. Với điều đó trong trí, tôi đã đặt đề tựa cho sứ điệp nầy, Viết Cho Người Thành Côrinhtô, Với Tình Yêu Thương. Chúng ta sẽ nhắm vào 9 câu đầu, chia thành 5 phân đoạn: tác giả, thành phố, Hội Thánh, lời chào thăm và các ơn phước.
I. Tác giả (câu 1).
Khi chúng ta ngồi lại để viết một bức thư, tấm thiệp hay email hôm nay, chúng ta đặt tên của người nhận ở phần đầu rồi tới tên của chúng ta ở phần cuối. Chúng ta viết một câu như “Thân mến” kế đó ký tên của mình. Tuy nhiên, người Hy lạp xưa kia thường đặt tên của họ ngay phần đầu của bức thư, trong lời chào thăm để độc giả sẽ nhận ra ai là tác giả. Phaolô luôn luôn đặt tên của ông ở phần đầu và cũng có tên của ai đó đã giúp ông viết thư. Vì thế, Phaolô bắt đầu thư tín nầy trong câu 1 bằng cách nói: “Phao-lô, theo ý Đức Chúa Trời, được gọi làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, cùng Sốt-then, anh em chúng ta”. Hai lẽ thật hiển nhiên lộ ra trong câu nầy. Thứ nhứt, Phaolô là một vị sứ đồ và thứ nhì, người trợ giúp ông có tên là Sốt-then.
A. PHAOLÔ LÀ MỘT SỨ ĐỒ.
Phaolô muốn nhắc cho người Côrinhtô ngay lúc đầu rằng ông là một “sứ đồ”. Ông muốn họ phải nhớ rằng lời nói của ông có thẩm quyền rất lớn. Sứ đồ là gì? Sứ đồ là một người được chọn bởi chính mình Chúa Jêsus để dạy dỗ và bày tỏ ra những lẽ thật làm nền tảng cho Hội Thánh. Êphêsô 2.20 nói Hội Thánh được “dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri”.
Về cơ bản, đã có hai tính cách dành cho hàng sứ đồ. Thứ nhứt, về cá nhân họ được chính Đấng Christ kêu gọi. Mỗi người trong 12 môn đồ của Chúa Jêsus đã nhận được một lời mời riêng. Phierơ và Giăng đã được kêu gọi phải lìa bỏ lưới đánh cá của họ. Mathiơ được kêu gọi phải rời bỏ phòng thuế vụ của mình. Trong mỗi trường hợp, họ đã bỏ hết thảy ở đàng sau để đi theo Chúa Jêsus. Thứ hai, về cá nhân họ được chính Đấng Christ dạy dỗ. Họ có thể dạy dỗ Lời của Chúa vì họ đã ở với Chúa. Giăng giải thích trong I Giăng 1.1- 3:
“Điều có từ trước hết, là điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã ngắm và tay chúng tôi đã rờ, về lời sự sống;vì sự sống đã bày tỏ ra, chúng tôi có thấy, và đang làm chứng cho, chúng tôi rao truyền cho anh em sự sống đời đời vốn ở cùng Đức Chúa Cha và đã bày tỏ ra cho chúng tôi rồi; chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ”.
Như chúng ta đã biết, Phaolô chưa hề gặp Chúa Jêsus trong công tác chứng đạo riêng của Chúa Jêsus. Ông không có mặt giữa vòng 12 môn đồ nguyên thủy. Khi Giu-đa tự tử rồi, Ma-thia đã được chọn để nắm lấy vị trí của ông ta. Dù vậy, Phaolô lại có đức tính rất đặc biệt để nắm lấy chức vụ. Trong phần nghiên cứu mới đây của chúng ta về sách Công vụ Các Sứ đồ, chúng ta đã nghe Phaolô ba lần mô tả thể nào Chúa đã đến với ông trên con đường đến thành Đa-mách. Chúa Jêsus đã phán cùng ông: “…vì ta đã chọn người nầy làm một đồ dùng ta, để đem danh ta đồn ra trước mặt các dân ngoại, các vua, và con cái Y-sơ-ra-ên” (Công vụ Các Sứ đồ 9.15). Thứ hai, Phaolô đã được chính Chúa Jêsus dạy dỗ. Theo Galati 1.17, ông đã tốn một thời gian trong xứ Arabia. II Côrinhtô 12.2 cho thấy rằng Chúa đã tỏ cho Phaolô thấy một cảnh tượng ở “từng trời thứ ba” hay “Ba-ra-đi” (đối chiếu các câu 2-4). Vì thế, Chúa đã ban cho Phaolô những khải thị quan trọng để xây dựng một nền tảng vững chắc cho Hội Thánh của Ngài.
Tuy nhiên, cách thức Phaolô sử dụng tước hiệu “sứ đồ” không phải để khoe khoang địa vị của ông. Một số người thích làm cho người khác chú ý đến địa vị cùng những thành tựu của họ bằng cách liệt kê ra tất cả tước hiệu, bằng cấp cùng những thành tựu của họ. Họ thích như thế! Tôi đã gặp nhiều vị Mục sư cùng những nhà thần học giống như vậy!
Sự chọn lựa lời lẽ của Phaolô không phải là “kéo kèn riêng của mình”. Hãy chú ý cách cẩn thận, “theo ý Đức Chúa Trời, [ông] được gọi làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ”. Ông không phải là một sứ đồ vì ông là tốt đẹp hơn hay thông minh hơn nhiều người khác. Thay vì thế, địa vị sứ đồ mà ông có là do sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, chớ không phải do công trạng của ông. Ông sống rất khiêm hạ về địa vị ấy. Ông đã nói trong I Côrinhtô 15.9: “Vì tôi là rất hèn mọn trong các sứ đồ, không đáng gọi là sứ đồ, bởi tôi đã bắt bớ Hội thánh của Đức Chúa Trời”.
B. PHAOLÔ ĐƯỢC SỐT-THEN TRỢ GIÚP.
“Sốt-then” có lẽ được kể ra ở đây trong lời chào thăm nầy vì ông ta là thư ký của Phaolô, có lẽ đang viết khi Phaolô đọc bức thư nầy từ Chúa. Dường như đôi mắt của Phaolô đã yếu đi trong những năm tháng sau cùng của ông (Galati 6.11).
Sốt-then duy nhứt khác được nhắc tới trong Kinh Thánh có ở Công vụ Các Sứ đồ 18.17. Khi Phaolô lần đầu tiên đến tại thành Côrinhtô, ông đã có chức vụ rất thành công, với các cấp lãnh đạo của nhà hội chịu tin theo Tin Lành. Những người Do thái vô tín đã bắt giận dữ, họ đang kéo Phaolô đến trước mặt Tổng đốc Ga-li-ôn. Ga-li-ôn từ chối không chịu nghe sự tố giác rồi đưa những người Do thái đến trường án. Người Hy lạp nỗi giận và “bắt Sốt-then, chủ nhà hội, đánh đòn trước tòa án”.
Sau sự cố nầy, chính Sốt-then không những đã trở thành tín đồ, mà còn là người phụ tá riêng cho Phaolô nữa. Chắc chắn các Cơ đốc nhân người Côrinhtô đều vui sướng ở đây từ Sốt-then người anh em của họ nữa.
II. Thành phố (câu 2a).
Để hiểu rõ “Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô”, chúng ta cần phải hiểu biết về thành phố Côrinhtô. Một ít lai lịch sẽ trợ giúp ở đây. Cho phép tôi cung ứng cho bạn ba lẽ thật nói tới thành cổ ấy.
A. CÔRINHTÔ LÀ MỘT THÀNH PHỐ QUAN TRỌNG.
Mặc dầu hôm nay Côrinhtô là một thị trấn nhỏ dường như chẳng có gì quan trọng lắm, trong thời của Phaolô, thành nầy là một thành phố rất thịnh vượng, giàu có và nằm ở vị thế rất thuận lợi. Đây là trung tâm của con đường bộ xuyên Hy lạp và mọi con đường thương mại đi ngang qua Côrinhtô.
Hy lạp bị chia thành hai phần: Bắc và Nam. Ở giữa là một dãi đất hẹp gọi là eo đất. Tại eo đất nầy, đất hẹp lắm chỉ có bốn dặm bề ngang. Ở đây các con tàu tránh nguy hiểm của việc dong buồm quanh bán đảo bằng cách chuyển con tàu của họ lên bộ bằng các bánh xe trượt. Côrinhtô nằm trên ngọn đồi lớn quan sát “xa lộ của tàu bè” nầy. Côrinhtô vốn nổi tiếng vì phương tiện giải trí của nó. Nó đăng cai tổ chức cả những trận đấu thế vận và địa phương, tất nhiên giải địa phương được đặt tên là Isthmus của thành Côrinhtô. Cuộc sống về đêm phủ lấy thành phố và đây là một địa điểm khách du lịch rất ưa thích. Côrinhtô cũng là một thuộc địa của người La mã với số cư dân gồm người La mã, người Hy lạp và nhiều người đến định cư từ vùng cận động, chủ yếu là người Do thái.
B. CÔRINHTÔ LÀ MỘT THÀNH PHỐ TÔN GIÁO.
Côrinhtô là quê hương của đền thờ thần Aphrodite, nữ thần tình yêu và sinh sản của người Hy lạp. Đền thờ nằm trên một ngọn đồi nhìn bao quát cả thành phố. Từ đền thờ khoảng 1000 nữ tế/gái điếm sẽ xuống thành phố hành nghề tôn giáo của họ.
C. CÔRINHTÔ LÀ MỘT THÀNH PHỐ ĐỒI BẠI.
Thậm chí trong thời của Phaolô, Côrinhtô được biết đến vì sự đồi bại của nó. Trong văn chương cổ điển của Hy lạp, “ăn ở như người thành Côrinhtô” là đồng nghĩa với cách ăn ở vô đạo đức. Người thành Côrinhtô nổi tiếng vì sự trác táng, dâm dục của họ. Côrinhtô là “thành phố tội lỗi”.
III. Hội Thánh (câu 2b).
Như tôi đã nói ở trên, Phaolô lần đầu tiên đến với thành Côrinhtô trên chuyến hành trình truyền giáo thứ hai của ông. Khi đến nơi, ông đã gặp gỡ A-qui-la và Bê-rít-sin; những người Do thái mới đến từ Rôma, giống như ông, họ là những người sống nhờ nghề may trại. Ông đã ở lại với họ và làm việc với họ trong khi ông giảng dạy trong các nhà hội. Nhiều người Do thái đã tin theo Chúa Jêsus, ngay cả Cơ-rít-bu, lãnh đạo của nhà hội. Ông đã ở lại đó hơn 18 tháng trời, lo truyền giảng và môn đồ hoá.
Các tín đồ ở đó đã dựng lên một Hội Thánh địa phương, là điều mà Phaolô gọi là: “Hội Thánh của Đức Chúa Trời”. Họ không còn thuộc về chính mình họ nữa. Họ là thân thể của Đấng Christ và họ đã thuộc về Ngài. Cái điều quan trọng là in trong trí rằng Hội Thánh nầy, giống như từng Hội Thánh trong Tân Ước đều thuộc về Đấng Christ. Chúng ta phải tìm kiếm ý chỉ của Ngài, sự ngợi khen và sự vinh hiển của Ngài. Phaolô mô tả các tín hữu nầy, họ được chọn lựa để dựng nên Hội Thánh theo ba cách.
A. HỘI THÁNH ĐƯỢC DỰNG LÊN TỪ NHỮNG NGƯỜI CÓ ĐỜI SỐNG ĐÃ ĐƯỢC NÊN THÁNH.
Câu 2 chép: “gởi cho Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ…”. Được “nên thánh” là được “biệt riêng ra” có ý đề cập tới việc được biệt riêng ra khỏi tội lỗi và khỏi thế gian tội lỗi nầy. Mỗi tín hữu chân chính đều được Đức Chúa Trời biệt riêng ra khỏi thế gian. Nên thánh là một từ ngữ mà mỗi tín hữu đều hiểu rõ. Từ ngữ nầy đề cập tới tiến trình Đức Chúa Trời làm biến đổi chúng ta ra giống theo ảnh tượng của Chúa Jêsus. Từ ngữ ấy có ý nói chúng ta đã được “làm nên thánh” bởi công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta. Khi Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá, Ngài đã trả giá cho mọi tội của chúng ta, quá khứ, hiện tại và tương lai. Không phải vì chúng ta sống như thế nào, mà vì sự hy sinh của Chúa Jêsus, Đức Chúa Trời có thể dán con tem “thánh khiết” hay “đã được nên thánh” trên đời sống của chúng ta. Đây là điều khiến cho ân điển của Đức Chúa Trời ra đáng kinh ngạc như thế. Người thành Côrinhtô sống rất kiêu ngạo, chia rẽ, vô luân về tình dục và lừa lọc, tuy nhiên các tín đồ thực giữa vòng họ đã được nhắc tới là “đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ”.
B. HỘI THÁNH ĐƯỢC DỰNG LÊN TỪ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC KÊU GỌI LÀM THÁNH ĐỒ.
Câu 2 chép: “gởi cho Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ” và những người đã “được gọi làm thánh đồ”. “Thánh đồ” ra từ cùng một chữ như “được nên thánh” và có nghĩa là “được biệt riêng ra” hay “thánh khiết”. Mỗi tín hữu là một thánh đồ. Giáo hội Công giáo La mã trong nhiều thế kỷ đã phong cho nhiều người là thánh. Tuy nhiên, trong Kinh Thánh, tất cả các tín đồ đều được gọi là thánh đồ … không phải vì cách ăn ở của chúng ta, mà vì cớ Cứu Chúa của chúng ta! Chúng ta sẽ không nên thánh trong cách ăn ở của chúng ta, mà chúng ta được nên thánh trong địa vị của chúng ta trong Đấng Christ.
John MacArthur viết: “Những vị Tổng thống không luôn luôn ra vẻ theo cách của Tổng thống, những nhà ngoại giao không luôn luôn ra vẻ theo cách ngoại giao, bậc vua chúa không luôn luôn ra vẻ theo cách vương giả — nhưng họ vẫn là Tổng thống, những nhà ngoại giao, và bậc vua chúa. Cơ đốc nhân không luôn luôn ra vẻ giống như Cơ đốc nhân, mà họ vẫn là Cơ đốc nhân”.
Các tín hữu ở thành Côrinhtô, giống như chúng ta đều được “kêu gọi để được cứu”. Đức Chúa Trời, theo mục đích cao cả của chính Ngài đã lựa chọn họ. Êphêsô 1.4 chép: “trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời”.
C. HỘI THÁNH ĐƯỢC DỰNG LÊN BỞI NHỮNG NGƯỜI BIẾT CẦU KHẨN DANH CHÚA JÊSUS.
Câu 2 cũng mô tả Hội Thánh là những người “bất luận ở nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta”. Họ gắn bó vào đời sống thuộc linh với các Cơ đốc nhân khác, là thân thể của Đấng Christ hay Hội Thánh trong sự toàn vẹn của nó.
Đôi khi Cơ đốc giáo của chúng ta bị hạn chế đến nỗi chúng ta quên mất bức tranh lớn. Chúng ta quên rằng vương quốc của Đức Chúa Trời còn lớn lao hơn Hội Thánh và cộng đồng của chúng ta. Chúng ta quên rằng Đức Chúa Trời có số lượng tín đồ chân chính không đếm được trên khắp thế giới, họ cầu khẩn danh của Ngài giống như chúng ta vậy. Mặc dầu Hội Thánh tại thành Côrinhtô là một Hội Thánh đầy rối rắm, nó vẫn là một Hội Thánh. Mặc dầu các tín đồ có nhiều nan đề, họ vẫn là tín đồ, vẫn là con cái của Đức Chúa Trời. Phaolô muốn nhắc cho họ nhớ rằng trên hết mọi sự họ vẫn là Cơ đốc nhân.
IV Lời chào thăm (câu 3).
Kế đó, Phaolô đưa ra lời lẽ theo thói quen chào thăm trong câu 3: “nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ!” Chúng ta hãy xem xét câu Kinh Thánh nầy:
A. ÂN ĐIỂN.
“Ân điển” đề cập tới đặc ân, sự ưu đãi dành cho kẻ không đáng được hay không kiếm được. Lời cầu nguyện của Phaolô, ấy là ân điển sẽ nâng đỡ họ, vì chính ân điển đã cứu họ.
B. BÌNH AN.
“Bình an” ở đây là tương đương với chữ Hy bá lai shalom, vẫn là một lời chào thông thường của người Do thái hôm nay. Đây là lời cầu nguyện xin sự bình an của Đức Chúa Trời, “sự bình an vượt quá mọi sự hiểu biết” sẽ giáng trên đời sống của họ (Philíp 4.7).
Cho nên, hiệp “ân điển” và sự “bình an” lại với nhau là lời chào thăm tuyệt vời từ tín hữu nầy đối với tín hữu kia. Trong những năm gần đây, tôi đã sử dụng lời chào của Phaolô để ký vào phần nhiều thư từ riêng của tôi. MacArthur, J. (1996, c1984). 1 Côrinhtô ians. Includes indexes. Chicago. Moody Press.
V. Các ơn phước (các câu 4-9).
Giống như một bức thư nhắc đứa con lạc sai nhớ tới cơ nghiệp tin kính của mình, giờ đây Phaolô nhắc cho các tín đồ tại thành Côrinhtô nhớ tới ơn phước của việc làm con cái của Đức Chúa Trời. Phaolô đã nói rồi với Hội Thánh lạc sai nầy rằng họ đã được “nên thánh” và là “thánh đồ”. Bây giờ ông kêu gọi họ phải xử sự cho ra vẻ như thế mới được. Lối viết: “anh em là” là cơ sở cho mệnh lệnh “anh em nên”. Vì anh em có ơn phước nầy trong Đấng Christ, anh em nên sống giống như một Cơ đốc nhân. Khi Chúa Jêsus phán với người đàn bà bị bắt quả tang trong tội lỗi: “Hãy đi và đừng phạm tội nữa” (Giăng 8.11). Chúng ta hãy xem xét 5 ơn phước khi trở thành một tín đồ:
A. CHÚNG TA ĐÃ ĐƯỢC BAN CHO ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Câu 4).
Phaolô nói trong câu 4: “Tôi hằng vì anh em tạ ơn Đức Chúa Trời, bởi cớ anh em đã được Đức Chúa Trời ban ơn trong Đức Chúa Jêsus Christ”. Đây là thì bất định [the aorist tense] có ý nói đây là thời điểm đặc biệt trong quá khứ, Đức Chúa Trời đã ban cho họ ân điển của Ngài. Giây phút bạn tin cậy Đấng Christ, ân điển của Đức Chúa Trời đang giáng trên bạn đấy.
Ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời là ơn Ngài dành cho kẻ không đáng được. Ngài không cứu chúng ta vì chúng ta sống nhơn đức đâu. Ngài không cứu chúng ta mà còn cất chúng ta đi khi chúng ta phạm tội. Ngài không mong chúng ta bồi trả lại Ngài vì cớ tội lỗi chúng ta là rất lớn, còn ơn của Ngài là rất lớn chúng ta không thể bồi trả lại vì đây là một món nợ. Thay vì thế, chúng ta cần phải nhớ rằng Đức Chúa Trời tùy theo mục đích tối hậu của Ngài, “bởi ân điển” đã chọn cứu chúng ta. Chúng ta không đáng được ơn ấy. Chúng ta không kiếm được ơn đó. Chúng ta thậm chí không tin ơn ấy nếu Ngài không ban bố đức tin cho chúng ta. Êphêsô 2.8-9 chép: “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình”. Vì vậy, chúng ta ngợi khen Đức Chúa Trời vì ân điển của Ngài.
B. CHÚNG TA ĐƯỢC BAN CHO DƯ DẬT (Câu 5).
Câu 5 chép: “vì chưng anh em đã được dư dật về mọi điều ban cho, cả lời nói và sự hiểu biết”. Được “dư dật” là lãnh hội những sự giàu có. Anh em đã được dư dật do tiếp nhận một cơ nghiệp, được đưa vào trong một gia đình giàu có hay trúng một giải thưởng lớn. Tuy nhiên, loại giàu có mà Phaolô đang nói tới còn có giá trị hơn và lâu dài hơn tiền bạc kiếm được nữa. Một số tín hữu giàu có nhất chưa bao giờ có nhiều thứ vật chất. Đừng cảm thấy tệ hại một khi bạn không có nhiều tiền bạc vì bạn đang sở hữu sự giàu có lớn lao hơn. Rôma 8.17 chép chúng ta là “kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ”.
Đặc biệt hãy chú ý, chúng ta được “dư dật về mọi điều ban cho trong Ngài”. Chúng ta có mọi sự mà Đấng Christ có để ban cho và mọi sự mà chúng ta đang có cần (thậm chí khi chúng ta chưa có mọi sự chúng ta cần nữa). II Phierơ 1.3 chép: “Quyền phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính”. Côlôse 2.10 chép: “Anh em lại nhờ Ngài mà có được đầy dẫy mọi sự”. I Côrinhtô 3.21 chép: “vì mọi sự đều thuộc về anh em”.
Đấng Christ có mọi sự chúng ta cần và Ngài ban mọi sự ấy cho chúng ta trong sự dư dật. Philíp 4.11-13, 19 chép: “Không phải là tôi muốn nói đến sự cần dùng của tôi; vì tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi… Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jêsus Christ”. Hãy chú ý hai lãnh vực trong đó chúng ta được giàu có.
Thứ nhứt, chúng ta được giàu có trong “cả lời nói”. Lời nói mà Phaolô in trong trí ở đây là sứ điệp nói tới Tin Lành. Không phải ai trong chúng ta đều có cùng khả năng nói năng đâu. Một số rất có tài hùng biện và sở hữu năng khiếu bộc lộ cá tính rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã làm cho hết thảy đều được dư dật với khả năng cung ứng Tin Lành cho người khác. Hết thảy chúng ta đều có thể chứng đạo và hết thảy chúng ta đều phải làm chứng. Nếu bạn cảm thấy không thích ứng, hãy cầu nguyện. Hội Thánh đầu tiên đã cầu xin để có được sự “dạn dĩ” (Công vụ Các Sứ đồ 4.29). Phaolô thường yêu cầu người khác cầu thay cho để ông có lòng dạn dĩ mà chứng đạo. Trong Êphêsô 6.19, ông nói: “Cũng hãy vì tôi mà cầu nguyện, để khi tôi mở miệng ra, Chúa ban cho tôi tự do mọi bề, bày tỏ lẽ mầu nhiệm của đạo Tin Lành”. Đôi khi chúng ta lấy làm ngạc nhiên, lúc chúng ta chứng đạo và Đức Chúa Trời sử dụng lời nói của chúng ta. Tôi không bao giờ quên lần đầu tiên tôi chia sẻ Đấng Christ với một người bạn trong trường Đại học. Anh bạn đó đã mau mắn tiếp nhận Đấng Christ và tôi rất vui sướng!
Thứ hai, chúng ta được làm cho dư dật trong mọi “sự hiểu biết” nữa. Qua Lời của Ngài và Thánh Linh của Ngài, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi sự chúng ta cần để biết sống cho Ngài và lo chia sẻ Tin Lành. Chúng ta không biết hết mọi sự, nhưng chúng ta biết mọi sự chúng ta cần phải biết để sống cuộc đời nầy.
C. CHÚNG TA ĐƯỢC BAN CHO LỜI CHỨNG VỀ ĐẤNG CHRIST (Câu 6).
Câu 6 chép: “như lời chứng về Đấng Christ đã được vững bền ở giữa anh em”. “Lời chứng” ra từ một chữ Hy lạp nói tới sự làm chứng. Đây cũng là chữ từ đó chúng ta có trong Anh ngữ từ “martyr” [tuận đạo]. Chúa Jêsus đã phán trong Công vụ Các Sứ đồ 1.8: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất”.
Khi quí vị được cứu, lời chứng về Đấng Christ đã được “vững bền” hay đã được định liệu ở trong quí vị. Đấng Christ đã có chỗ ngự trị trong đời sống của quí vị. Những gì chúng ta nói và cách thức chúng ta cư xử đều phản ảnh Đấng Christ. Chúng ta là những chứng nhân của Đấng Christ dù hay hoặc dở.
D. CHÚNG TA CHẲNG THIẾU MỘT ƠN NÀO (Câu 7a).
Câu 7a chép: “cũng chẳng thiếu một ơn nào…”. Đức Chúa Trời không hề yêu cầu chúng ta phải làm một việc gì đó mà Ngài không mặc lấy quyền phép cho chúng ta để lo làm. Để trở thành một “chứng nhân” cho Đấng Christ, chúng ta sẽ không thiếu ơn đâu. Chúng ta có mọi sự chúng ta cần trong vai trò những cá nhân để sống cho Đấng Christ. Chúng ta có mọi sự chúng ta cần trong vai trò Hội Thánh địa phương để đem Tin lành chạm đến cộng đồng của chúng ta.
Đặc biệt “ơn” mà Phaolô đề cập đến ở đây là một ân tứ thuộc linh, một khả năng mà Đức Chúa Trời ban cho qua sự cứu rỗi của chúng ta. Như chúng ta sẽ thấy, người thành Côrinhtô khao khát những ân tứ mà họ chưa có. Họ muốn những ân tứ thật hào nhoáng, nổi bật. Họ muốn gây ấn tượng cho nhau. Tuy nhiên, Phaolô nhắc cho họ nhớ rằng Đức Chúa Trời đã ban ơn cho họ với từng khả năng mà họ cần để phục vụ Ngài.
Đức Chúa Trời đã ban cho Hội Thánh nầy từng ân tứ thuộc linh mà chúng ta cần để trở thành Hội Thánh mà Ngài muốn chúng ta phải trở thành. Những gì chúng ta có không phải là thiếu sự hiểu biết hay quyền phép hoặc ân tứ, mà là thiếu sự mong muốn!
E. CHÚNG TA ĐANG TRÔNG ĐỢI SỰ TỎ RA CỦA ĐẤNG CHRIST (Câu 7b).
Trong nửa phần sau của câu 7, Phaolô nói họ đang “trông đợi kỳ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta hiện đến”. Đức Chúa Trời cứu chúng ta bởi ân điển của Ngài. Ngài làm cho chúng ta được dư dật bởi ân điển của Ngài. Ngài cũng bảo đảm sự phu phỉ tối hậu về ân điển của Ngài. Khi chúng ta đồng đi với Chúa và vâng theo Ngài, chúng ta đang phát triển một sự khao khát nhiều hơn. Mặc dù Đức Chúa Trời làm thoả mãn mọi nhu cần của chúng ta, cuộc sống nầy chẳng có gì là thoả mãn hết. Như một nhà truyền đạo từng nói: “Từng ấy thôi; việc gì đến sẽ đến!”
Chúng ta cần phải “sốt sắng trông đợi”, khao khát với sự đề phòng dè dặt. Tuy chúng ta chưa mặc lấy loại áo trắng rồi ngồi suốt cả ngày trên nóc nhà thờ. Chúng ta cần phải chờ đợi với sự tích cực cả thể. Chúng ta biết rõ Đấng Christ sẽ ngự đến nhưng chúng ta biết có nhiều việc cần phải làm trước tiên. Êphêsô 5.14-16 chép: “Ngươi đang ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi. Vậy, hãy giữ cho khéo về sự ăn ở của anh em, chớ xử mình như người dại dột, nhưng như người khôn ngoan. Hãy lợi dụng thì giờ, vì những ngày là xấu”.
F. CHÚNG TA ĐƯỢC VỮNG BỀN CHO ĐẾN CUỐI CÙNG (các câu 8-9).
Các câu 8-9 chép: Đức Chúa Trời “sẽ khiến anh em được vững bền đến cuối cùng, để khỏi bị quở trách trong ngày của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài đã gọi anh em được thông công với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta”. Đức Chúa Trời sẽ làm cho chúng ta được “vững bền” cho đến cuối cùng. Nói như thế có nghĩa là lúc chúng ta đứng trước mặt Đức Chúa Trời ở trên trời, sẽ không có một màn hình khỗng lồ nào tỏ ra mọi tội lỗi và thất bại của chúng ta. Thay vì thế, chúng ta sẽ đứng với Đấng Christ trong sự công bình của Ngài và được thấy là “không vít”. Mọi tội lỗi của chúng ta sẽ bị quên đi. Chúng ta có thể dám chắc về điều nầy vì “Đức Chúa Trời là thành tín”. Ngài bắt đầu sự cứu rỗi của chúng ta, trong đó Ngài kêu gọi chúng ta bước vào mối “thông công với Con Ngài”. Ngài là thành tín trong quá khứ. Ngài là thành tín với chúng ta hiện nay khi ban cho chúng ta mọi sự chúng ta cần, mọi lời nói, mọi sự hiểu biết, mọi ân tứ. Ngài sẽ thành tín với chúng ta trong tương lai, đưa chúng ta vào trong sự hiện diện của Ngài “không vít”.

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

"TA LÀ ĐƯỜNG ĐI, LẼ THẬT VÀ SỰ SỐNG"



"TA LÀ ĐƯỜNG ĐI, LẼ THẬT VÀ SỰ SỐNG" Căn đều Hai bên
Giăng 14.6-27
PHẦN GIỚI THIỆU. Cần phải nói rằng một dân ở tình trạng lệ thuộc giữ nguyên tắc dung thứ cho một trình độ phản ảnh qua câu nói như Philát thốt ra: "Lẽ thật là cái gì?" Loại quan niệm sai lạc rao giảng sự tha thứ mọi sự khiến cho người ta không biết đi đường nào trong cuộc sống của họ, và họ thường cảm thấy lạc lỏng vì họ đang bị hư mất!
Khi đối chiếu với ý tưởng hiện đại "mọi con đường đều dẫn tới Đức Chúa Trời" Chúa Jêsus đưa ra một lời kêu gọi vang dội hãy nhắm tới chân lý thực sự, rằng một mình Ngài là đường đi, lẽ thật và sự sống!
Không may thay, ngay cả những Cơ đốc nhân ngày nay, họ biết rõ câu nầy không nhất thiết phải chứng tỏ nó trong đời sống thực sự của họ. Câu nói nầy do Chúa Jêsus đưa ra không hề có nghĩa phải trở thành một câu học thuộc lòng đâu, câu nói ấy có một giá trị về mặt đạo đức!
MINH HOẠ. Một người bạn của tôi gặp gỡ một phụ nữ Cơ đốc kỉnh kiền, đời sống của bà ta là một mớ hỗn độn. Cuộc hôn nhân của bà ta đã đặt trên những vầng đá, bà ta đã có một sự tan vỡ, đời sống của bà ta trong xã hội nằm trong những đống đổ nát, tuy nhiên, khi bà ta đến yêu cầu bạn tôi giúp đỡ, bà ta đã mặc một chiếc áo tay ngắn có thêu hàng chữ: "Đấng Christ là câu trả lời". Ông ấy nhìn thẳng vào hàng chữ ấy rồi nói với bà kia: "Jean, tôi nghĩ bà nên bỏ đi ý tưởng Đấng Christ là câu trả lời. Ngài không hề phán như thế. Ngài phán: 'Ta là đường đi'. Tôi nghĩ rằng bà phải tìm kiếm câu trả lời cho nan đề của bà với Ngài " -- George Carey, Archbishop of Canterbury, in I Believe. Christianity Today, Vol. 39, no. 9.
Kinh Thánh dạy chúng ta rằng Đấng Christ không những là con đường chính đáng dẫn tới Đức Chúa Trời, mà là con đường duy nhứt dẫn tới Đức Chúa Trời, và là nguồn lẽ thật tối hậu, và là nguồn sự sống duy nhứt! Không những đây là một lẽ đạo phải tin theo, mà đó còn là một sự thực trong đời sống của chúng ta!
I. CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN ĐỨC CHÚA CHA (14.6-11)
A. Phần khải thị (14.6-10)
1. Chúa Jêsus đã bảo cho các môn đồ của Ngài biết nơi mà Ngài sẽ đi rồi sau đó Ngài sẽ trở lại với họ, tất nhiên là họ đã yêu cầu cho biết cách nào tìm được CON ĐƯỜNG để đi tới đó.
a. Chúa Jêsus đã nói cho họ biết rồi, họ biết rõ đường đi, nhưng họ nhận là họ không biết.
b. Vì vậy Ngài dặn dò họ: "NGÀI LÀ ĐƯỜNG ĐI…"
2. Họ cứ suy nghĩ theo những giới hạn các phương hướng trong chuyến đi, và Ngài đang nói toàn về việc môn đồ hoá!
3. Chúa Jêsus công bố với họ rằng họ không cần lo về sự đi lạc, NGÀI LÀ ĐƯỜNG ĐI, LẼ THẬT VÀ SỰ SỐNG!
MINH HOẠ. Cái điều nằm ở đàng sau và trước mặt chúng ta chỉ là những chuyện nhỏ khi đem sánh với những gì ở bên trong chúng ta. -- Ralph Waldo Emerson. Leadership, Vol. 12, no. 2.
4. Các môn đồ không hiểu Chúa Jêsus muốn nói gì vì họ đang suy nghĩ theo những giới hạn của “các sự kiện” trong khi Ngài đang phán theo những giới hạn của "đức tin".
a. Con đường dẫn tới thiên đàng không những nằm trong sự hiểu biết về các sự kiện, mà còn nằm trong sự nhận biết Đấng Christ nữa!
b. Kỹ nguyên thông tin chúng ta đang bước vào, nó nhấn mạnh tầm quan trọng vào việc thu thập các sự kiện, nhưng cái điều chúng ta thực sự có cần chính là LẼ THẬT!
MINH HOẠ. Trong ngành báo chí của chúng ta, tin tức thông thường trở thành tin quan trọng vì chúng ta có khuynh hướng đánh giá tầm quan trọng của các sự cố do chúng hiển hiện mới đây như thế nào!?! Chúng ta bị ám ảnh với các sự kiện đến nỗi chúng ta mất đi mọi cái chạm với lẽ thật -- Ted Koppel in a speech to the International Radio and Television Society, quoted in Harper's (Jan. 1986). Christianity Today, Vol. 32, no. 8.
5. Câu nói của Chúa Jêsus chỉ ra Ngài là ĐƯỜNG ĐI, LẼ THẬT, và SỰ SỐNG đứng nghịch mạnh mẽ với xu hướng suy tưởng của thế gian, câu nói ấy loại bỏ hết mọi sự tưởng khác!
a. Câu nói ấy gây ấn tượng sâu sắc đến nỗi một là chấp nhận hai là chối bỏ giá trị ấy tận mặt!
b. Nếu thực, bất chấp câu nói ấy là đặt sự hư mất vào chính linh hồn của quí vị!
6. Đây là sự khải thị, có điều thực tế nào nằm ở đàng sau lời xưng nhận ấy không?
B. Thực tế (14.11)
1. Trong khi phấn đấu với sự khải thị nầy, họ xin Chúa Jêsus cho họ thấy Đức Chúa Cha, để sự khải thị thành ra hiện thực đối với họ.
a. Chúa Jêsus nói cho họ biết rằng họ đã thấy Cha khi họ đã thấy Ngài, Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đồng đẳng với nhau, dù Thân Vị có khác.
b. Đức Chúa Trời không phải là một sự mầu nhiệm lớn lao khi chúng ta đã nhìn thấy Đấng Christ, Ngài là đại biểu trọn vẹn của Đức Chúa Trời theo hình thể con người.
2. Chúa Jêsus cũng mời họ chấp nhận sự khải thị nầy dựa theo thực tế, chỉ nhìn vào các phép lạ mà Ngài đã làm …nếu họ không thể tin theo lời nói của Ngài, khi ấy hãy xem xét các phép lạ mà họ đã chứng kiến và tin từ nơi chúng! (đọc 14.11)
a. Không những Chúa Jêsus là ĐƯỜNG ĐI, Ngài còn là LẼ THẬT nữa.
b. Điều nầy đã được tỏ ra qua các phép lạ mà Ngài đã làm, những điều ấy cung ứng minh chứng rất thuyết phục cho lời nói của Ngài.
MINH HOẠ. Nền văn hoá Tây phương đã tạo ra một sự thay đổi cơ bản trong chính nền tảng tôn giáo của nó. Chúng ta đã đánh đổi Đấng đã phán: "Ta là lẽ thật" (Giăng 14.6) để lấy lý thuyết khó tin của Freud cùng lời lẽ của nhiều môn sinh của ông ta. Tôn giáo mới của chúng ta nói với Bôn-tu Phi-lát: "Lẽ thật là cái gì?" và dạy rằng tình trạng của chúng ta là một trong những "nạn nhân nguyên thủy" hơn là "nguyên tội" -- Carol Tharp in a letter to the Chicago Tribune Magazine (Apr. 17, 1994). Christianity Today, Vol. 38, no. 7.
3. Đấng Christ là niềm hy vọng duy nhứt cho chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời…đây là sự thật!
II. CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN ĐỨC TIN (14.12-14)
A. Luật lệ (14.12)
1. Hãy chú ý câu nói của Chúa Jêsus trong tiểu đoạn kế: "QUẢ THẬT ta nói cùng các ngươi…."
a. Sau khi thiết lập Ngài là ĐƯỜNG ĐI, LẼ THẬT, và SỰ SỐNG giờ đây Chúa Jêsus tiếp tục giải thích những luật lệ đã được gắn với Ngài và làm theo cùng những công việc mà Ngài đã làm – đó là ĐỨC TIN.
b. Một người không thể có một mối giao thông với Đấng Christ mà không có đức tin, và với đức tin phải có sự vâng phục làm theo chính những việc mà Đấng Christ đã làm.
MINH HOẠ. Kinh Thánh công nhận không có đức tin thì không thể dẫn tới sự vâng phục, Kinh Thánh cũng không công nhận bất kỳ một sự vâng phục nào không phát xuất từ đức tin. Hai mặt của một đồng tiền luôn đối ngược nhau -- A.W. Tozer. Leadership, Vol. 12, no. 4.
2. Chúa Jêsus nói ở đây rằng người nào có đức tin nơi Ngài sẽ làm những việc lớn hơn Ngài đã làm, chúng ta làm những việc lớn hơn Chúa Jêsus bằng cách nào?
a. Không phải trong những sự cố đơn giãn, nhưng kể từ khi Chúa Jêsus đã làm ra các phép lạ nầy khi còn ở trong loài xác thịt và vì thế bị giới hạn đối với không gian và thời gian chỉ trong khoảng thời gian một vài năm, những gì Ngài đang phán dạy nằm trong phạm vi những thế kỷ đã qua, các môn đồ Ngài cùng với nhau làm những việc lớn lao hơn mọi điều mà Ngài đã làm trong mấy năm trời Ngài còn ở đây trong hình thể con người.
b. Điều nầy có ý nói rằng Thánh Linh của Ngài sẽ mặc lấy quyền phép cho dân sự Ngài tiếp tục các công việc của Đức Chúa Trời ngay sau khi Ngài trở về cùng Đức Chúa Cha …và Ngài sẽ giải thích chỉ trong một vài câu cho thấy điều nầy thực sự như thế nào, qua việc ban cho "ĐẤNG YÊN ỦI KHÁC", là Đức Thánh Linh.
B. Quyền hạn (14.13-14)
1. Bước đi bởi đức tin và đi đúng đường mở ra cánh cửa cho các đặc ân trong sự cầu nguyện.
a. Chúng ta có thể cầu xin trong sự cầu nguyện và dám chắc rằng những lời cầu nguyện của chúng ta đã được nghe và đã được nhậm.
b. Tất nhiên, điều nầy không có nghĩa là chúng ta có thể có mọi sự chúng ta CẦN, như vậy có nghĩa là chúng ta sẽ có bất cứ điều chi khi chúng ta cầu xin "TRONG DANH CỦA NGÀI". Cầu xin TRONG DANH CỦA NGÀI có nghĩa là cầu xin những việc nằm trong sự nhất trí với ý chỉ và đường lối của Đấng Christ.
2. Chính theo chiều hướng nầy mà chúng ta có thể cầu xin "bất cứ điều chi" và NGÀI sẽ làm cho, "bất cứ điều chi" nằm trong sự nhất trí với tâm tình và tấm lòng của Đấng Christ.
III. CON ĐƯỜNG DẪN TỚI SỰ TỰ DO (14.15-27)
A. Tinh thần trách nhiệm (14.15-21)
1. Giờ đây, một mối giao thông với Đức Chúa Cha đã được thiết lập qua Đấng Christ, và Ngài cũng là nguồn của mọi lẽ thật, Chúa Jêsus xây qua các nhu cần trong tương lai của các môn đồ Ngài – nhu cần quyền phép để sống trong vai trò con cái của Ngài.
a. Việc đầu tiên Chúa Jêsus thực hiện rất rõ ràng, ấy là chúng ta không thể nói kính sợ Đức Chúa Trời và rồi KHÔNG giữ các điều răn của Ngài.
b. Một người không thể gọi mình (nam hay nữ) là một Cơ đốc nhân và có chiếc la bàn đạo đức của một tội nhân.
2. Chúa Jêsus phán rất ngay thẳng ở đây: "Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta"
a. Đây không phải là sự dạy trọn vẹn, mà là sự dạy cho những gì ở trước mặt.
b. Một Cơ đốc nhân thực nhiều lần di dịch xa cách khỏi thế gian cùng mọi giá trị của nó, rồi hướng tới Nước của Đức Chúa Trời cùng mọi giá trị của Nước ấy.
c. Trở thành công dân của bất kỳ quốc gia nào đòi hỏi các trách nhiệm nhất định.
3. Để giúp cho điều nầy ra khả thi, Chúa Jêsus hứa với các môn đồ Ngài rằng Ngài không để họ lại mà không có quyền phép làm cho điều nầy ra khả thi, dù Ngài sẽ trở về với Cha của Ngài, Ngài sẽ sai "ĐẤNG YÊN ỦI KHÁC" đến với họ - ấy là Đức Thánh Linh.
a. Từ ngữ "khác" ở đây có nghĩa là: "một Đấng khác cùng tầm cỡ đến một bên để giúp đỡ”.
b. Trong tiểu đoạn nầy, Kinh Thánh giới thiệu cho chúng ta Ba Ngôi Đức Chúa Trời một cách rõ ràng.
4. Chúa Jêsus đang nói cho họ biết rằng sự kêu gọi của họ phải sống có trách nhiệm sẽ được vùa giúp bởi Đức Thánh Linh. Chúng ta không thể sống cho Đức Chúa Trời một cách vâng phục mà không có sự vùa giúp của Ngài!
MINH HOẠ. Cách đây nhiều năm ngai vàng của nước Nga đã bị hai thanh niên chiếm lấy. Hai vị đồng Nga hoàng nầy còn rất trẻ, thế mà mỗi ngày họ định đoạt những thắc mắc rất quan trọng. Dân chúng lấy làm lạ nơi sự xét đoán của họ; họ không biết rằng ở đàng sau ngai vàng, có một bức màn che kín ở đó, là Công Chúa Sophia. Nàng đã bí mật cung ứng những câu trả lời. Người ta lấy làm lạ nơi các sứ đồ vì họ không biết bên trong các sứ đồ là Đức Thánh Linh đang cung ứng tri thức, sự khôn ngoan, quyền phép -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
5. Chúa Jêsus không để họ lại giống như những đứa trẻ mồ côi đâu, một từ ngữ đúng nghĩa là: "không có sự an ủi" giống như từ ngữ nầy đã được sử dụng trong thời của Chúa Jêsus…vì vậy tầm quan trọng lời hứa của Ngài là ban cho họ "Đấng yêu ủi khác".
a. Khi Đức Thánh Linh đến Ngài sẽ giúp cho họ hiểu những gì họ có một thời gian khó nhọc không hiểu nổi trong lúc bây giờ.
b. Đức Thánh Linh cũng sẽ kết hiệp người tin Chúa với Đức Chúa Trời qua Đấng Christ.
c. Đức Thánh Linh sẽ làm cho tâm linh đã chết của chúng ta lại sống.
B. Phần thưởng (14.22-27)
1. Phần thưởng của đức tin nơi Đấng Christ sẽ kết quả trong lời hứa về sự đến của Đức Thánh Linh, và khi Ngài đến Ngài sẽ dạy cho họ mọi sự mà họ cần phải biết có liên quan tới sự cứu rỗi.
a. Sự biết nầy bao gồm sự làm cho rõ ràng những vụ việc mà Đấng Christ đã ra sức dạy dỗ họ trong lúc nầy nhưng họ không nắm bắt được.
b. Đây sẽ là một lợi ích rất lớn cho họ sau khi Đức Thánh Linh ngự đến, và việc gợi cho họ nhớ và hiểu biết Lời của Đức Chúa Trời nữa.
2. Chỉ hiểu biết một mình Lời của Đức Chúa Trời sẽ là một lợi ích lớn lắm, là điều mà chúng ta cần có hôm nay.
MINH HOẠ. Khi chiếc tàu thu thập tình báo, chiếc U.S.S. Pueblo, bị phía Bắc Hàn bắt giữ, thủy thủ đoàn bị nhốt tù. Người Bắc Hàn không cho phép những phu tù của họ có Kinh Thánh. Thủy thủ đoàn của chiếc Pueblo đọc Kinh Thánh với nhau bằng ký ức. Mỗi người nhớ lại những câu Kinh Thánh mà họ có thể nhớ. Họ viết chúng ra trên những mẫu giấy. Nếu quyển Kinh Thánh của quí vị có chứa những câu Kinh Thánh mà quí vị có thể nhớ, quí vị có thể nhớ được bao nhiêu câu nào? -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
3. Phần thưởng khác đã được ban ra ở đây bởi Đấng Christ, ấy là họ sẽ có sự bình an!
a. Không phải là sự bình an giống như thế gian biết đâu, sự bình an ấy có bản chất tạm thời mà thôi.
b. Còn sự bình an chỉ có Đức Chúa Trời ban ra cho con người, sự bình an ấy là đời đời.
4. Loại bình an nầy có thể tồn tại dầu ở giữa tình trạng hỗn độn, sự bình an đời nầy chỉ tồn tại khi mọi sự thuận tiện trong hoàn cảnh.
5. Sự hiện diện của Đức Thánh Linh nơi người tin Chúa cung ứng cho chúng ta một cái nhân bình an cho toàn bộ đời sống của chúng ta!
MINH HOẠ. Thân thể của con người là một bộ máy rất đáng nhớ. Nó có thể duy trì một nhiệt độ thường trực 98o6F bất luận thời tiết ở bên ngoài có như thế nào! Trong trường hợp một người đang ở vĩ tuyến 66o Bắc, vòng Bắc cực hay ở nơi xích đạo, nhiệt độ thân thể của con người y như nhau. Có một cổ máy ở bên trong đang tạo ra sự khác biệt. Đức Thánh Linh ngự bên trong Cơ đốc nhân đang hoàn tất loại ổn định nầy theo những giới hạn của sức khoẻ thuộc linh. Dù chúng ta đối mặt với những thời điểm tốt hay xấu, dầu chúng ta bị thử thách hay nhận lãnh sự trưởng dưỡng thuộc linh, Đức Thánh Linh giữ chúng ta được ổn định ở bên trong -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
6. Cũng vậy, trong mọi sự nầy; Đấng Christ là ĐƯỜNG ĐI, LẼ THẬT và SỰ SỐNG…và với lời hứa của Thánh Linh Ngài, chúng ta có thể lắng nghe lời của Ngài: "Đừng bối rối và đừng sợ hãi".
a. Đây là bông trái của những ai yêu mến, vâng theo Ngài và là người biết rõ đường đi, lẽ thật và sự sống!
b. Quí vị không phải lạc lỏng trong cuộc sống, quí vị đã tìm được đường chưa?
PHẦN KẾT LUẬN. Chúa Jêsus là con dường duy nhứt đến với những việc có vấn đề nhất trong vũ trụ. Tình trạng công bằng được bảo đảm bởi Đức Chúa Trời cho mọi sự nhưng có một con đường duy nhứt đến với Ngài, và cũng dễ tìm được Ngài khi chỉ có một con đường duy nhứt. Quí vị đang đi đường riêng mình hay đường của Đức Chúa Trời? Đi theo chiều không đúng trên con đường một chiều là rất nguy hiểm!
***

"TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ SỰ SỐNG"



"TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ SỰ SỐNG"
Giăng 11.1-44
PHẦN GIỚI THIỆU. Một đề tài chúng ta có khuynh hướng tránh né là đề tài nói về sự chết. Chúng ta sống đời sống của mình giống như đó là một việc sẽ xảy ra cho người khác, nhưng không phải cho chúng ta! Những cuộc thăm dò ý kiến đã được thực hiện chỉ ra một tỉ lệ rất đáng ngạc nhiên. Tỉ lệ chết của con người = 100% ở một điểm nào đó theo thời gian!
Mặc dù mọi người đều sẽ chết một ngày nào đó đều là sự thực, có hy vọng cho thấy rằng đây không phải là sự cuối cùng!
MINH HOẠ. Là một thanh niên, D.L. Moody thình lình được mời đến giảng ở một đám tang. Ông đã tìm tòi trong tất cả bốn sách Tin lành mong thấy một trong các bài giảng về đám tang của Đấng Christ, nhưng đã tìm kiếm trong hư không. Ông thấy rằng Đấng Christ đã phá vỡ từng đám tang mà Ngài có đến dự. Sự chết không thể hiện hữu ở nơi mà Ngài có mặt. Khi sự chết nghe thấy tiếng nói của Ngài, chúng liền trở thành sự sống. Chúa Jêsus phán: "Ta là sự sống lại và sự sống".
Niềm hy vọng lớn lao nhất dành cho Cơ đốc nhân được thấy trong chính Thân Vị của Đấng Christ, vì Ngài là sự sống lại và sự sống! Không những Ngài là Đấng có thể cung ứng sự sống, Ngài CÒN LÀ sự sống nữa! Không có gì phải lấy làm lạ khi người nào có Đấng Christ sống trong họ đều có sự sống đời đời, vì Đấng Christ ngự nơi đâu sự sống của Ngài cung ứng quyền phép để sống cho đến đời đời.
Kinh Thánh dạy chúng ta rằng niềm hy vọng duy nhứt của chúng ta để được sự sống đời đời nằm ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, chỉ một mình Ngài là sự sống lại và sự sống!
I. THỰC TẠI CỦA SỰ CHẾT (11.10-16)
A. Nhận thức (11.1-15)
1. Câu chuyện nói tới Laxarơ và hai chị em người cùng mối giao thông của họ với Đấng Christ tỏ ra cho chúng ta thấy nỗi đau và sự đắc thắng của những sự thật quan trọng nhất về cuộc sống làm người.
a. …hết thảy chúng ta một ngày kia sẽ chết.
b. …có hy vọng về sự sống trong Đấng Christ!
2. Tấm lòng của con người tìm cách tránh né thực tại của sự chết ở mỗi chặng đường, chúng ta có khuynh hướng tránh không nói tới sự chết ấy, chúng ta tránh xử lý với nó bằng đủ mọi cách làm cho chúng ta trông trẻ hơn chúng ta trong hiện thực v.v…
a. Thật là kỳ lạ khi người ta cứ tránh né không muốn nói tới sự chết. Còn kỳ lạ hơn nữa khi có người hy vọng tránh né sự chết, thay vì xây lại với Đấng Christ là Đấng hứa một con đường sống để sống, họ sẽ tìm cách và bày đủ thứ quanh sự chết theo đường lối riêng của họ!
MINH HOẠ. Số người qua đời được để đông lạnh với hy vọng một ngày kia họ sẽ quay trở lại với cuộc sống. Giá 50 USD cho các dịch vụ nầy, kể cả việc cất giữ giá 120.000USD làm đông lạnh và cất giữ chỉ cái đầu của khách hàng giá 41.000USD -- Health, 1-2/93. "To Verify," Leadership.
b. Hầu hết người ta khi sống đời sống của họ giống như họ nghĩ họ sẽ không bao giờ chết hay họ hy vọng họ có thể tự bày ra một giải pháp để được sự sống đời đời.
3. Quả là đơn giãn hơn khi xây lại với Đấng Christ, Ngài là sự sống lại và sự sống!
4. Sự thực quá hiển nhiên, 100% mọi người sanh ra đời một ngày kia sẽ chết! Kể từ khi Đức Chúa Trời lập ra một con đường thoát khỏi sự chết, thì việc chúng ta cần làm là tìm kiếm Ngài thì mới thấy được con đường đó!
5. Ngay cả những bạn hữu thân cận nhất của Chúa Jêsus đều kinh nghiệm bịnh tật và sự chết!
a. Mary và Mathê thông báo cho Chúa Jêsus biết về Laxarơ đang mắc bịnh.
b. Là bạn hữu thân cận nhất của Chúa Jêsus không được miễn trừ khỏi tai vạ và đau khổ.
c. Gần như là phải bối rối khi đọc tới đây thấy rằng khi Chúa Jêsus nghe Laxarơ mắc bịnh và đương trong cảnh rối rắm, Ngài bèn ở lại rồi dám chắc Laxarơ sẽ chết!! (Đọc 11.5-6)
(1. Bao nhiêu lần trong đời, chúng ta lấy làm lạ không biết tại sao Đức Chúa Trời lại để cho những việc khủng khiếp xảy ra?
(2. Đường lối của Đức Chúa Trời không phải là đường lối của chúng ta, nhưng đường lối của Ngài luôn luôn là tốt lành!
(3. Chúng ta không thể xét đoán sự nhơn từ của Đức Chúa Trời bằng những kinh nghiệm hôm nay được.
d. Đấng Christ có một chương trình, bịnh tật và đau khổ, và ngay cả sự chết không phải là lời nói sau cùng cho những ai yêu mến Đấng Christ, Đấng Christ có một sự kinh ngạc kỳ diệu đang chất chứa cho họ, và một sự kinh ngạc lớn lao hơn cho chúng ta!
6. Ngay cả các môn đồ cũng không hiểu nỗi Chúa Jêsus ở đây!
a. Họ hiểu lời lẽ của Chúa Jêsus rằng Laxarơ "đang ngủ" như có ý nói cơn sốt đã qua và Laxarơ đang trên đường bình phục!
b. Sau cùng, Chúa Jêsus phải nói với họ: "Người đã chết!"
7. Mục đích của việc để cho Laxarơ chết là để bày tỏ ra quyền phép của Đấng Christ thắng hơn sự chết, và chỉ trong một thời gian ngắn trước sự chết của chính Ngài, thì đây là điều quan trọng mà họ cần phải biết rõ.
B. Can đảm (11.16)
1. Mỉa mai thay, một người duy nhứt trong nhóm mới tỏ ra sự dạn dĩ, ấy là Thô-ma!
a. Rõ ràng, trong khi chưa hiểu hết mục đích của Chúa Jêsus khi quay trở lại xứ Giu-đê, ông đã sẵn sàng chịu chết cho Đấng Christ!
b. Đây là một bức tranh chỉ về một kẻ nghi ngờ, chúng ta thường nghĩ tới ông như vậy! Thật không dễ gói ghém một nhân cách dựa theo một sự cố nào đó trong đời sống của họ, nhưng chúng ta thường gặp phải phức tạp nhiều với hạng người đó. Thô-ma "kẻ nghi ngờ" sau đó mới lộ ra, còn ở đây là Thô-ma dạn dĩ sẵn sàng chết cho lý tưởng!
2. Quả là không tốt khi thế gian quên đi những giọng nói của hạng người can đảm, chúng ta mau quên giọng nói của họ khi thời gian trôi qua!
MINH HOẠ. Chiếc đồng hồ nổi tiếng nhất trên thế giới là đồng hồ Big Ben ở Luân đôn. Nó được treo trên Toà Nhà Quốc Hội và những cái tháp trên Westminster Abbey. Đây là cái mốc rất quen thuộc. Những tiếng chuông hoà lên âm thanh một một bài thánh ca. Bài thánh ca có đề tựa là: "Tôi biết Đấng Cứu Chuộc tôi vẫn sống" -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
3. Chúa Jêsus không muốn họ quay lại đối mặt với sự chết…mà phải nhìn thấy nó đã bị chinh phục! Trong Đấng Christ có sự dạn dĩ đối mặt với sự chết vì Ngài đã chinh phục nó!
a. Và vì Ngài hằng sống, chúng ta cũng sẽ sống! Giăng 14.19
b. Trong Ngài chúng ta sống và động.. Công vụ các sứ đồ 17.28
II. THỰC TẠI CỦA THẤT VỌNG (11.17-37)
A. Nhầm lẫn (11.17-24, 28-37)
1. Khi Chúa Jêsus trở lại xứ Giu-đê, Ngài thấy rõ điều Ngài mong đợi, Laxarơ đã chết 4 ngày rồi! (một ngày đi đường đến cho Ngài hay Laxarơ mắc bịnh, Chúa Jêsus đã đợi 2 ngày, và ngày khác trở về lại xứ Giu-đê).
a. Ngài thấy một gia đình và bạn bè đang đau khổ
b. Mọi người ở đó đã chấp nhận sự thực về sự chết, mà người đau buồn đã đến với suy nghĩ rằng Chúa Jêsus đã tạo ra một sự khác biệt nếu Ngài đến sớm hơn!
2. Đó là Mathê, lần đầu tiên nàng tiếp cận Chúa Jêsus ngay trước khi Ngài đến, nàng gặp Ngài đâu đó trên đường ra mộ.
a. Mathê là người rất thực tế trong gia đình, nàng là người dọn bữa ăn trong khi em gái nàng là Mary ngồi nơi chơn của Chúa Jêsus.
b. Con người thực tế bày tỏ ra nỗi buồn đau của mình, rằng Chúa Jêsus đã không đến sớm hơn trong khi còn có cơ hội để cứu người.
c. Tuy nhiên, ngay cả sự hiểu biết thực tế của nàng thoáng có cái nhìn của đức tin nơi Chúa Jêsus là một việc quan trọng hơn là người chữa lành, vì nàng nói: "mà bây giờ tôi cũng biết mọi điều Ngài sẽ xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời ắt ban cho" (11.22)
3. Chúa Jêsus nói cho nàng biết rằng anh nàng thực sẽ sống lại….và nàng cũng nhất định về điều nầy nữa…tuy nhiên, vào ngày cuối cùng.
a. Rõ ràng là họ hoàn toàn không hiểu nỗi bổn tánh của Đấng Christ, trong khi họ có thể chấp nhận quyền phép chữa lành của Ngài, họ hoàn toàn không nhìn thấy Ngài CHÍNH LÀ SỰ SỐNG có thể làm sống lại một thi thể đã chết 4 ngày rồi.
b. Sự việc buộc họ phải hiểu Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, chớ không phải chỉ là người làm phép lạ.
4. Em nàng là Mary chẳng làm gì nhiều cả, mặc dù nàng là người tin kính thay vì là người thực tế, nàng cũng nhầm lẫn về quyền phép của Đấng Christ đối với một người đã chết 4 ngày.
5. Thật là thú vị khi thấy rằng CẢ HAI Mathê thực tế và Mary tin kính đã suy nghĩ y như nhau! Cả hai đều nói cùng một việc: "Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết".
a. Đôi khi chúng ta nghĩ chúng ta sẽ khác biệt, nhưng trong thực tế bất luận chúng ta có ân tứ nào đi nữa, chúng ta có khuynh hướng cảm thấy cùng một loại nhầm lẫn và nghi ngờ.
b. Ngay cả đám đông khóc than vô tín kia cũng nói cùng một việc! (11.37)
c. Chúng ta giống nhau hơn là khác biệt.
6. Nhầm lẫn là trạng thái bình thường của con người!
MINH HOẠ. Một bức thư gửi từ Cơ quan Y tế và Nhân đạo đến một cư dân ở Greenville County, South Carolina. "Những tem thức ăn của quí vị sẽ không gửi đến nữa, hết tháng Ba 1992, vì chúng tôi đã nhận được thông báo rằng quí vị đã qua đời. Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho quí vị. Quí vị sẽ xin cấp lại nếu hoàn cảnh quí vị thay đổi" -- S. Bowen Matthews, Wilmington, Delaware. Leadership, Vol. 17, no. 3.
B. Yên ủi (11.25-27)
1. Ở giữa sự nhầm lẫn Chúa Jêsus nói rằng Ngài là sự sống lại và sự sống, người nào tin nơi Ngài sẽ không hề chết.
a. Đây là lời công bố của hy vọng!
b. Nhưng Chúa Jêsus hỏi Ma-thê, không biết nàng có tin điều nầy không, còn chúng ta thì sao?
2. Đáp ứng của nàng là đúng đắn, nàng nói nàng tin Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời.
a. Đây là sự yên ủi mà chúng ta đang có khi suy nghĩ về sự chết, Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, và Ngài KHÔNG NHỮNG có thể đem sự sống cho người chết, mà NGÀI CÒN LÀ SỰ SỐNG cung ứng hy vọng cho chúng ta nữa.
b. Sự chết không phải là kẻ thắng, mà là Đấng Christ!
3. Thật là quan trọng khi chúng ta đồng thanh với thế gian rằng Chúa Jêsus LÀ "đường đi, lẽ thật và SỰ SỐNG" (Giăng 14.6)
a. Chẳng có sự sống nào khác đâu, và chẳng có tiêu điểm nào khác hơn Đấng Christ làm niềm hy vọng của chúng ta!
MINH HOẠ. Gần cuối chuyến hành trình của mình, Calvin đưa ra những huấn thị nghiêm ngặt rằng ông nên được chôn trong một nghĩa trang bình thường chẳng dựng bia mộ làm gì. Ông ước ao không đưa ra một lời khích lệ nào cho những ai sẽ biến nó thành một cái chùa Tin lành. Ngày nay, mộ địa của ông chẳng ai biết ở chỗ nào -- "John Calvin," Christian History, no. 12.
b. Phương thức duy nhứt tưởng niệm bất kỳ một hy vọng nào đối với cái chết là qua Đấng Christ!
4. Chỉ một mình Đấng Christ là lẽ thật trung tâm nói tới sự sống hơn sự chết. Ấy là Đấng Christ mà chúng ta tưởng niệm là Đấng đã thắng hơn sự chết. Ngài hiện hữu ngay cốt lõi mọi sự mà chúng ta hy vọng!
MINH HOẠ. Alfred Lord Tennyson bày tỏ niềm tin của mình về sự sống lại trong bài thơ ông viết có đề tựa là: "Crossing the Bar". Ông đưa ra lời dạy dỗ trong tập thơ của ông đã tung được in ra, và luôn luôn ở cuối tập thơ. Ông muốn mọi người nào đọc tác phẩm của ông đều nhìn thấy sự quả quyết về đức tin ngay bề mặt sự chết -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
III. PHỤC HỒI KHỎI SỰ CHẾT (11.38-44)
A. Bắt phục! (11.38-43)
1. Chúa Jêsus yêu cầu những người đứng gần đó dời tảng đá kia ra, mở cửa ngôi mộ…đối diện với sự chết!
a. Chính Mathê con người thực tế một lần nữa cho rằng dời hòn đá đi là không thực tế…vì Laxarơ đã chết 4 ngày rồi, thi thể của Laxarơ bắt đầu có mùi!
b. Cũng một thể ấy, chúng ta hay suy nghĩ theo những giới hạn của con người thay vì quyền phép của Đấng Christ.
2. Chúa Jêsus nhắc cho nàng và những người đứng gần đó nhớ rằng bởi đức tin bất kỳ việc gì cũng có thể xảy ra, và vì vậy họ lăn hòn đá đi.
a. Chúa Jêsus đồng cảm với nhu cần nên thốt ra lời cầu nguyện của Ngài cách công khai hầu cho họ sẽ tin theo.
b. Chúa Jêsus thốt ra một mạng lịnh bảo Laxarơ hãy ra.
c. Không những Chúa Jêsus chữa lành cho kẻ đau, Ngài có thể làm cho kẻ chết sống lại nữa!
(Chú ý: Theo ý nghĩa chơn thật nhất đây không phải là một sự sống lại mà là một sự hồi tỉnh vì Laxarơ về sau sẽ chết lại, người được sống lại sẽ không bao giờ chết nữa – chính theo ý nghĩa nầy mà Chúa Jêsus mới đúng là "bông trái đầu mùa của kẻ được sống lại")
3. Quyền phép chỉ một mình Lời của Chúa Jêsus sẽ đem lại sự sống, vì chính mình Ngài là SỰ SỐNG!
4. Vô luận các cảm nghĩ của con người, quyền phép của Đấng Christ là sự sống lại và sự sống không thể không được biết đến … Đấng Christ là sự sống lại và sự sống!
MINH HOẠ. Tiếng Nga nói tới ngày Chúa nhựt, woskersicnye, có nghĩa là sự sống lại. Mỗi người Cộng sản, mỗi người vô thần, phải thốt ra sự sống lại khi nói tới ngày đầu tiên của tuần lễ! -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
5. Khi Đấng Christ truyền cho Laxarơ trở lại với sự sống, chẳng có quyền lực nào ở Địa Ngục có thể ngăn trở điều nầy, vì Đấng SỐNG LẠI VÀ ĐẤNG SỐNG đã phán ra!
a. Tất nhiên điều nầy làm cho đức tin của các môn đồ được nâng cao thêm để đối diện với các sự cố trong những tuần lễ sắp tới.
b. Nếu Chúa Jêsus có thể làm cho một người đã chết 4 ngày lại sống, chắc chắn Ngài sẽ làm cho chính mình sống lại sau 3 ngày!
B. Tin cậy (11.44)
1. Trong khi chỉ có Đấng Christ mới ban ra sự sống, Ngài truyền cho những người đứng gần đó "hãy mở cho người và để người đi".
a. Phần trách nhiệm của chúng ta là anh chị em trong Đấng Christ là phải giúp đỡ cất bỏ "đồ tẩn liệm" giữ chúng ta trong vòng nô lệ sau khi Đấng Christ đã ban cho chúng ta sự sống.
b. Có một trách nhiệm nơi phần của chúng ta phụ giúp tháo gỡ cho nhau khi chúng ta có sự sống của Đấng Christ trong chúng ta.
2. Chắc chắn cấp độ tin cậy nơi Đấng Christ dâng cao trong ngày đó…và thật, có nhiều người đã trở thành tín đồ (xem 11.45).
a. Tuy nhiên, đức tin không ở yên một chỗ, và có thể lắm một số người nầy chỉ một tuần sau hay sau đó sẽ có mặt trong đám dân đông đòi "đóng đinh hắn trên cây thập tự".
b. Chúng ta phải giữ cho đức tin mình được năng động trong Đấng Christ!
3. Lòng tin cậy thực nơi Đấng Christ được thấy có nơi những kẻ mỗi ngày đặt đức tin mình nơi Ngài, Đấng ấy là sự sống lại và sự sống.
4. Đức Chúa Trời làm cho kẻ chết sống lại không phải là một việc khó, dù đối với chúng ta là một việc khó, không một việc gì là khó đối với Đức Chúa Trời!
MINH HOẠ. Một nhân công của nhà hoá học vĩ đại Michael Faraday tình cờ phân tích chiếc cúp bạc thành một hỗn hợp acid. Nó bị phân hủy, bị acid làm cho phân hoá. Nhân công lấy làm bối rối bởi sự kiện trên. Nhà hoá học đến rồi đổ hoá chất vào một cái bình, và trong một lúc bạc ngưng tụ lại dưới đáy. Một đống không hình thù hiện ra và được gửi tới người thợ bạc, và hình thù chiếc cúp được phục hồi y như trước. Nếu một người có tài có thể làm một việc giống như việc nầy, tại sao chúng ta nghi ngờ Đức Chúa Trời có thể làm cho kẻ chết sống lại? --James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988) p. 166.
5. Quí vị có tin không?
PHẦN KẾT LUẬN. Sự chết kẻ thù quan trọng nhất đã bị đánh bại bởi Thiết Hữu quan trọng nhất của con người, là Đấng Christ! Chúa Jêsus không bao giờ cử hành một đám tang vì trong sự hiện diện của Ngài sự chết đã trốn đi! Ngài là sự sống lại và sự sống, vì vậy hết thảy những ai đang ở trong Ngài sẽ không bao giờ chết. Có phải sự sống của Ngài đang ở trong quí vị?
***

“TA LÀ NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH”



“TA LÀ NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH”
Giăng 10.11-17
PHẦN GIỚI THIỆU. Có lẽ không một chỗ nào khác trong Tân ước chúng ta nhìn thấy ước ao của Chúa Jêsus muốn cứu lấy dân sự Ngài hơn là ở Giăng 10.11-17, ở đây Chúa Jêsus phán rằng Ngài là “NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH”.
Hình ảnh Đấng Christ là một người chăn chiên mời chúng ta xem xét tình yêu thương cao vời mà Ngài dành cho những ai là chi thể trong bầy chiên của Ngài. Đời sống của một người chăn hiền lành không phải là một đời sống dễ dàng đâu! Bên cạnh phần việc khó lo trông giữ nhiều con chiên, người chăn còn chịu trách nhiệm tìm kiếm nguồn nước và sự dinh dưỡng thích hợp cho bầy chiên, một khi bổn tánh của chúng là sợ hãi gần như mọi sự! Bầy chiên rất dễ sợ hãi đến nỗi chúng không uống từ một dòng nước chảy nhanh dù khi chúng rất khát; vì thế David nói rằng Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ ông, Ngài dẫn ông đến “MÉ NƯỚC BÌNH TỊNH”. Thế rồi có những vấn đề bịnh tật nhan nhản trong các môi trường, trộm cướp cần phải tranh chiến với, các loài thú hoang dã, chúng chỉ chực ăn nuốt bầy chiên nếu có cơ hội. Ngay cả vấn đề phải xử lý với những kẻ chăn thuê, bọn chúng khi có nguy hiểm chỉ bỏ chạy lo bảo tồn mạng sống của chúng thay vì là bầy chiên, đối với chúng đây chỉ là một công việc mà thôi.
Sự kêu gọi vào việc chăn chiên có thể là một sự kêu gọi rất nguy hiểm!
MINH HOẠ. Nhìn qua thành phố Budapest là một bức tượng, với thập tự giá giơ cao trong bàn tay của nó. Bức tượng nầy khắc về một một vị Giám Mục Công giáo đã tuận đạo. Trên chính ngọn đồi dựng bức tượng nầy có tên đặt theo tên của vị Giám mục đó, Đồi Gellert. Khi Stephen, vua đầu tiên của xứ Hungary, quyết định lấy Cơ đốc giáo làm quốc giáo, ông đã sai tìm nhiều vị giáo sĩ và Gellert đến. Khi Stephen băng hà, đã có một cuộc chiến nổ ra giữa các Cơ đốc nhân và một số người muốn duy trì tà giáo. Gellert bị bỏ vào một cái thùng rồi lăn xuống đồi cho đến chết vào năm 1046. Bức tượng kỹ niệm biến cố và con người ấy. Vì vậy mới có một thập tự giá trên bầu trời Budapest! -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
Kinh Thánh dạy chúng ta rằng Chúa Jêsus là ĐẤNG CHĂN HIỀN LÀNH, Ngài yêu thương bầy chiên của Ngài đến nỗi Ngài đã phó mạng sống Ngài cho chúng như một sự hy sinh vậy!
I. SỰ PHÓ THÁC CỦA ĐẤNG CHĂN HIỀN LÀNH (10.11-13)
A. Của lễ đã được cung ứng cho! (10.11)
1. Câu nói đầu tiên nầy bởi Đấng Christ là một câu nói rất hay, không những Ngài phán rằng Ngài là “Đấng chăn hiền lành”, mà Ngài còn là “người chăn hiền lành” sẽ phó mạng sống Ngài cho bầy chiên nữa!
a. Đây là một sự lắt léo! – Bầy chiên đã được nuôi trong khu vực quanh thành Jerusalem để làm sinh tế trong Đền thờ! Khu vực giữa thành Jerusalem và Bếtlêhem là nơi những người chăn giữ những con chiên dùng làm tế lễ và sử dụng cho sự thờ phượng …cũng chính những người chăn nầy mà các thiên sứ đã hiện ra để loan báo sự ra đời của Đấng Christ tại thành Bếtlêhem…sự ra đời của chiên con làm tế lễ của Đức Chúa Trời!
b. Cái lắt léo là đây. Thay vì bầy chiên được dâng làm của tế lễ, chính người chăn hiền lành lại dâng chính mình Ngài làm của tế lễ!
c. Vì vậy Chúa Jêsus đã mang lấy hai tước hiệu: “chiên con của Đức Chúa Trời” trong khi cũng được gọi là “người chăn hiền lành!”
2. Có điều rất mỉa mai ở đây, ấy là người chăn sẽ hy sinh chính mình cho bầy chiên lẽ ra chính chúng phải trở thành của sinh tế!
3. Trong khi có nhiều người chăn thực sự yêu thương bầy của họ, chỉ có “NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH” sẽ đi tới đỉnh cao khiến bản thân mình làm một của tế lễ cần thiết thay vì bản thân bầy chiên phải làm của tế lễ!
a. Đấng Christ không phải là người chăn bình thường; Ngài là “ĐẤNG CHĂN CHIÊN HIỀN LÀNH”
b. Chỉ một mình Đấng Christ mới chịu nổi nọc độc của sự chết để giải cứu cho bầy của Ngài.
MINH HOẠ. Một thiếu niên kia đi cùng cha xuống con đường nọ trong xứ vào buổi trưa mùa xuân thật xinh đẹp, khi con ong nghệ bay vào cửa sổ của chiếc xe. Cậu bé kia, vốn dị ứng với nọc ong, nên đã chết điếng luôn. Người cha mau chóng tới sát một bên, chụp lấy con ong, nắm nó trong tay mình, rồi quăng nó đi. Cậu bé càng giận dữ với tiếng bay vo vo của nó. Một lần nữa người cha giơ tay mình ra, nhưng lần nầy ông chỉ vào lòng bàn tay của ông. Đâm vào da ông ở đó là cái nọc của con ong. Ông hỏi: "Con có thấy cái nọc nầy không?Con không phải sợ nữa. Cha đã chịu cái nọc ấy thay cho con rồi”. Chúng ta không cần phải sợ sự chết nữa. Đấng Christ đã chịu chết và đã sống lại. Ngài đã chịu lấy cái nọc của sự chết rồi. -- Adrian Dieleman, Waupun, Wisconsin. Leadership, Vol. 15, no. 1.
4. Các cấp lãnh đạo tôn giáo khác trong thời của Chúa Jêsus sẽ không phó mạng sống của họ cho bầy chiên đâu.
B. Sự bảo hộ ích kỹ (10.12-13)
1. Đúng là một bản đối chiếu thẳng thắn giữa Ngài và những người khác được gọi là người chăn!
a. Các cấp lãnh đạo tôn giáo trong thời buổi ấy giống như “những tay chăn thuê” hơn là người chăn, không bao lâu sau khi rối rắm hay nguy hiểm tỏ ra, họ sẽ bỏ chạy để bảo tồn sinh mạng và địa vị của họ.
b. “Những tay chăn thuê” nầy chỉ xem việc chăm sóc cho bầy chiên chỉ là một việc làm, chớ không xem là sự sống của mình … vì vậy nếu có quá nhiều nguy hiểm, họ sẽ bỏ đi và rời khỏi bầy chiên cho dù có xảy ra cho chúng số phận nào.
2. Tình yêu thương của Đấng Christ dành cho dân sự khác biệt là dường nào, thái độ của Ngài là làm bất cứ điều chi có cần cho bầy chiên, ngay cả phải hy sinh bản thân Ngài để cứu lấy họ!
a. Giống như thái độ của kẻ chăn thuê, tinh thần ích kỹ nầy vẫn còn ở trong thế gian ngày nay!
MINH HOẠ. “Tôi không muốn ai chịu chết cho tôi. Tôi đã uống một ít rượu và có một vài cô bạn gái. Nếu sự ấy khiến cho tôi phải đi địa ngục, thì cũng được thôi” -- Ted Turner trong một bài báo vào năm 1993, Bill Hybels ghi lại trong tờ: "Christianity's Toughest Competitor. Moralism," Preaching Today, Tape No. 115.
b. Tinh thần của thời đại chúng ta là lo #1 – cái tôi trước bất cứ điều chi khác!
3. Thái độ của kẻ chăn thuê là kiếm tiền, chớ không phải bảo tồn bầy chiên.
a. Có quá nhiều thái độ nầy trong công tác chứng đạo ngày nay nữa!
b. Từ ngữ Hy lạp “poimen” thường được dịch là “người chăn” (như trong câu gốc ở đây 10.11), từ nầy cũng được dịch là “pastor” [mục sư]– ý nghĩa của Kinh Thánh về một Mục sư, ấy là một người chăn bầy.
c. Có quá nhiều “kẻ chăn thuê” đang phục vụ bầy của Đức Chúa Trời ngày nay, cái điều mà Hội thánh cần là người chăn phải giống như “NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH!”
4. Phần lớn những kẻ chăn thuê đã bỏ chạy ở dấu hiệu đầu tiên của rắc rối nghiêm trọng. Khi chúng ta được kêu gọi phục vụ dân sự của Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải học biết phó thác thay vì bỏ chạy!
a. Bầy chiên cũng phải bỏ chạy nữa; có nguy hiểm lấp ló chung quanh bầy bất cứ lúc nào!
b. Người chăn và bầy chiên cùng nhau ở lại và xây dựng những mối quan hệ mạnh mẽ … sợi dây yêu thương mạnh mẽ nầy làm cho việc chăn bầy còn hơn là một việc làm, nó trở thành sự sống của người chăn, người muốn chết cho bầy chiên mà mình yêu mến hơn. Đây là hình ảnh Đấng Christ mà chúng ta đang có!
c. Đức Chúa Trời không hề có một mối tương giao ngẫu nhiên với bất kỳ ai!
II. MỐI QUAN TÂM CỦA NGƯỜI CHĂN HIỀN LÀNH (10.14-17)
A. Chương trình của Đấng Cứu Thế (10.14-16)
1. Trái của sự phó thác và tình yêu thương như thế bởi người chăn tạo ra sự năng động chúng ta thấy trong 10.14: “ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta --”
a. Mối dây yêu thương càng lớn lên giữa “người chăn hiền lành” và bầy chiên của người cung ứng ý thức về sự an ninh, bầy chiên sẽ cần đến để luôn luôn cảm thấy an ninh và an toàn.
b. Bầy chiên không còn kêu lên nữa; chúng có thể nói ra ra sự khác biệt giữa kẻ chăn thuê và người chăn hiền lành.
MINH HOẠ. Một nghệ sĩ nổi tiếng từng là khách danh dự của một buổi nhóm xã hội, ở đó ông nhận lãnh nhiều yêu cầu kể lại những đoạn trích ưa thích từ những tác phẩm văn chương khác nhau. Một cụ truyền đạo xuất hiện yêu cầu nghệ sĩ kia kể lại Thi thiên 23. Nhà nghệ sĩ đồng ý với điều kiện nhà truyền đạo cũng sẽ kể lại Thi thiên ấy nữa. Sự kể của nhà nghệ sĩ kia đã được ngâm nga rất hay với phần nhấn mạnh để rồi nhờ đó người được tán thưởng, vỗ tay rất lâu. Giọng nói của nhà truyền đạo không được trau chuốt lắm và đứt quãng do nhiều năm giảng đạo, và các diễn tả của cụ rất lịch lãm, bóng bẫy. Nhưng khi cụ nói xong, chẳng có một ánh mắt nào ráo khô ở trong căn phòng đó. Khi có người hỏi nghệ sĩ kia điều chi đã tạo ra sự khác biệt, ông ta đáp: "Tôi biết rõ Thi thiên ấy, còn ông cụ thì biết rõ Đấng Chăn Chiên".
2. Chúa Jêsus nói rõ đây rằng giống như Ngài và Đức Chúa Cha biết rõ nhau vì cớ tình yêu trọn vẹn, bầy chiên và Ngài là Đấng Chăn Chiên biết rõ nhau vì cớ tình yêu trọn vẹn của Ngài đối cùng bầy chiên.
3. Chúa Jêsus cũng nói rõ ở đây rằng chính chương trình của Ngài là thêm chiên khác vào bầy nhỏ của Ngài, một sự tham khảo rõ ràng đến dân Ngoại trong chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
a. Điều nầy cũng rất khác biệt đối với “những kẻ chăn thuê” trong thời của Chúa Jêsus, mọi sự mà họ lo toan là nhóm chiên được chọn của họ, và họ chẳng màng chi tới số dân Ngoại “bẩn thỉu” kia!
b. Người chăn hiền lành ao ước muốn cứu hết thảy bầy chiên, chớ không phải chỉ có mấy con thôi!
c. Vì vậy, Đấng Christ đã chịu chết cho mọi người.
B. Quyền phép của người chăn (10.17)
1. Quyền phép của “người chăn hiền lành” đến từ sự bằng lòng hy sinh bản thân mình vì bầy chiên!
a. Đây không phải là một tước hiệu, mà đây là một gương!
b. Đức Chúa Cha yêu thương Đức Chúa Con vì Ngài bằng lòng chịu chết cho bầy chiên, đây là loại chăn chiên mà Đức Chúa Cha muốn có cho bầy chiên của Đức Chúa Trời.
c. Đây vẫn là loại lãnh đạo mà Đức Chúa Trời muốn có cho bầy chiên của Ngài, để dẫn dắt và để có nhiều ơn phước của Đức Chúa Cha đòi hỏi một thái độ bằng lòng phó mạng sống mình cho bầy chiên, chớ không phải như một kẻ chăn thuê.
(1. Không những điều nầy là thực cho giới Mục sư, mà nó cũng rất thực cho các giáo viên Lớp trường Chúa Nhựt, các trưởng lão, những chấp sự, bất kỳ một vai trò lãnh đạo nào trong Hội thánh!
(2. Quyền phép hay thẩm quyền cần cho chức vụ có được là do sự chết, chớ không phải do đòi hỏi, bằng tấm gương chớ không phải bằng chỉ dụ, bằng tình cảm chớ không phải bằng địa vị!
2. Không một ai cất bỏ sự sống của Đấng Chúa Cứu Thế bằng sức mạnh, Ngài bằng lòng phó thác sự sống ấy, và Ngài lấy nó lại, đây là minh chứng cho tình yêu cả thể của Ngài, nó đã được làm ra với sự tán thưởng của Ngài muốn cứu lấy bầy chiên và bởi sự bằng lòng của Ngài chịu chết cho chúng ta!
3. Đấng Christ không xem địa vị của Ngài như một bó buộc để người khác phải theo Ngài, thay vì thế, bởi tấm gương hy sinh chính mình Ngài, Ngài buộc chúng ta phải đến theo Ngài.
a. Tinh thần hạ mình của Ngài khi phó chính mình cho bầy chiên tỏ ra tấm lòng của Đức Chúa Trời đối cùng chúng ta.
b. Ngài không xem bản thân Ngài cao hơn sự chịu khổ cho bầy chiên hư mất trong thế gian nầy.
4. Chúng ta có hiểu rõ sự kêu gọi phải hy sinh sự kiêu ngạo và bản ngã vì tha nhân không?
MINH HOẠ. Donald Grey Barnhouse thuật lại câu chuyện (giả sử là thật) về Chánh Án Charles Evans Hughes. Khi ông dời sang Washington, D.C., để giữ địa vị của mình là chánh án, ông chuyển bức thư là thuộc viên của mình trong một Hội thánh Báptít trong khu vực. Cha ông là một Mục sư Báptít và ông cũng đã tuyên xưng đức tin nơi Đấng Christ. Theo thông lệ dành cho hết thảy các tân tín hữu phải đến trước nơi thánh cuối buổi thờ phượng. Người thứ nhứt được gọi tên sáng hôm ấy là Ah Sing, là một thợ giặt ủi người Trung hoa, ông ta đã đến tại thủ đô từ bờ biển phía Tây. Ông tìm được nơi ở ở gần nhà thờ. Khi cả tá người khác đã được gọi tên bước lên, họ đã đứng ở phía đối ngang nhà thờ, để Ah Sing lại đứng một mình. Nhưng khi Chánh Án Hughes được gọi tên, ông đến đứng bên cạnh người thợ giặt ủi. Khi vị Mục sư hoan nghênh cả nhóm bước vào mối tương giao của Hội thánh, ông hướng về hội chúng rồi nói: "Tôi không muốn hội chúng nầy quên hình ảnh đáng nhớ về sự thực, ấy là tại thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ cái nền rất là bằng phẳng". Barnhouse phê bình: "Ông Hughes đã xử sự như một Cơ đốc nhân thật. Ông đến đứng bên cạnh người thợ giặt ủi, và bởi hành động nầy ông đã ngăn trở thái độ lúng túng cho người Trung Hoa khiêm nhường kia; ông cũng tỏ ra tình yêu thương của Đấng Christ nữa –ông có ân tứ đứng bên cạnh nầy" -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988) p. 295.
5. Tấm gương và tình yêu thương của “người chăn hiền lành” nầy làm cho sự cứu rỗi và sự sống đời đời của chúng ta ra khả thi, quí vị có bằng lòng trở thành một chi thể trong bầy chiên của Đức Chúa Trời không, và nếu không, tại sao không?
a. Hãy trở thành một chi thể trong bầy chiên lớn của Đức Chúa Trời!
b. Có một người chăn yêu thương quí vị nhiều hơn bất cứ điều chi khác trong thế gian nầy!
PHẦN KẾT LUẬN. Xuyên suốt lịch sử đã có những kẻ lãnh đạo các nước lớn nhưng luôn luôn trong lý trí của họ là làm sao họ cứ nắm giữ lấy quyền lực và cai trị trên nhiều người khác. Chỉ có Đấng đến với sự tự hy sinh bản thân mình, mặc dù Ngài vốn có hết thảy quyền lực rồi! Ngài đến để phó chính mình Ngài hầu cho nhiều người khác có thể sống và có quyền lực thắng hơn tội lỗi. Đấng Christ là “ĐẤNG CHĂN HIỀN LÀNH” duy nhứt, có phải quí vị là chi thể của bầy Ngài không?
***

"TA LÀ CÁI CỬA!"



"TA LÀ CÁI CỬA!"
Giăng 10.7-10
PHẦN GIỚI THIỆU. Cách tỏ ra long trọng nhất về tình yêu của Đức Chúa Trời cho nhân loại là sự ban cho Con của Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ. Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại đến nỗi thay vì chạm trán với con người, Ngài đã kinh nghiệm sự làm người!
MINH HOẠ. Joseph Damien là vị giáo sĩ thuộc thế kỷ thứ 19, ông đã phục sự cho một sắc dân bị bịnh cùi trên đảo Molokai, Hawaii. Những người khốn khổ ấy ngày càng yêu mến ông, họ tôn kính đời sống đầy sự hy sinh mà ông đã thể hiện ra trước mặt họ.
Một sáng kia, trước khi Damien sắp sửa hướng dẫn sự thờ phượng hàng ngày, ông đổ một ít nước nóng vào cái tách, nước bị đổ ra rớt trúng bàn chân để trần của ông. Phải tốn chừng một phút, ông mới nhận ra mình chẳng có chút cảm giác gì hết. Ông bật lo về điều đó, ông đổ thêm nước nóng lên chính chỗ ấy. Không thấy có chút cảm xúc nào cả.
Damien ngay lập tức biết ngay điều chi đã xảy ra. Khi ông đi bộ đến để phân phát bài giảng, không ai chú ý tới sự khác biệt ngay dòng mở đầu. Ông bắt đầu bài giảng bình thường với câu nói: "Hỡi quí tín hữu đồng lao của tôi". Thế nhưng sáng nay, ông bắt đầu bằng câu: "Hỡi các bạn phung của tôi".
Ở một phạm vi lớn lao hơn, Chúa Jêsus đã bước vào trong thế gian nầy với sự nhận biết Ngài phải trả giá rất đắt lắm. Ngài đã mang trên chính mình Ngài những con dấu của tội ác, để cho chúng ta được làm cho sạch. Ngài phán: "Nầy, vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng thế (Giăng 18.37).
Chẳng có một người nào khác có thể làm những việc mà Chúa Jêsus đã làm, và vì lý do nầy Chúa Jêsus đã công bố chính mình Ngài là “cái cửa” duy nhứt để dến với Đức Chúa Trời! “Cửa” của thiên đàng không phải là một sao chổi, cửa ấy chính là Đấng Christ!
Kinh thánh dạy cho chúng ta biết rằng Đấng Christ là con đường duy nhứt đến với sự sống đời đời. Không những Ngài là con đường dẫn đến sự sống đời đời, nhưng Ngài hiện cũng là con đường dẫn tới sự sống phong phú nữa!
I. CỬA VÀO SỰ CỨU RỖI (10.7-9a)
A. Ràng chiên (10.7)
1. Những người chăn chiên xây dựng những ràng chiên bằng đá nếu có thể được, nếu không có sẵn đá hay người chăn cần phải xây trong sự vội vàng họ sẽ dùng những bụi gai thuộc một chủng loại nào đó. Ngay cả khi các bức tường bằng đá đã được sử dụng, bụi gai được đặt trên đỉnh các bức tường để giữ không cho dã thú và trộm cướp không trèo qua các bức tường được. Có khi các bức tường nầy cao tới 10 feet.
a. Các ràng chiên nầy cung ứng sự an ninh trong bóng tối tăm.
b. Chúng chỉ có một ngõ vào duy nhứt hay "cửa" hoặc "cổng".
2. Ngõ vào đặc biệt như thế nầy có ý nói chẳng một thứ gì lọt vào trong hay đi ra mà không qua cánh cửa duy nhứt sẵn có kia.
a. Chính ý nghĩa nầy nằm trong câu nói của Chúa Jêsus ở đây: "Ta là cái cửa".
b. Chúa Jêsus đã tự đồng hoá mình là nguồn hy vọng và là lối vào duy nhứt cho bầy chiên!
3. Chỉ có Đấng Christ mới có quyền thay đổi một tấm lòng gian ác thành một tấm lòng thánh khiết, chỉ một mình Đấng Christ mới có quyền giải cứu mà thôi!
MINH HOẠ. Khi John Wesley cỡi ngựa băng qua Hounslow Heath một tối kia, ông đang ngâm nga bài thánh ca ưa thích, ông đã giật mình bởi một giọng hô rất hung dữ: "Dừng lại", trong khi một bàn tay mạnh mẽ nắm lấy hàm thiết ngựa. Khi ấy người kia đòi hỏi: "Tiền hay mạng sống của ông".
Wesley vâng theo trút hết túi của mình được vài đồng tiền rồi mời tên cướp đển xét mấy cái túi xách của ông toàn những sách. Thất vọng trước kết cuộc như thế, tên cướp bèn bỏ đi khi nhà truyền đạo hô to lên: "Đứng lại! Tôi có thêm một món nầy đưa cho ông đây".
Tên cướp, lấy làm lạ nơi tiếng kêu gọi nầy, hắn mới xây lại. Khi ấy Wesley, cúi mình xuống hướng về tên cướp, rồi nói với giọng trang trọng: "Bạn ơi, bạn sẽ sống với hối tiếc vì lối sống mà bạn đã dấn thân vào đó. Nếu bạn cứ sống như thế, tôi nài xin bạn nhớ điều nầy: 'Huyết của Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, làm sạch mọi tội chúng ta". Tên cướp vội vã bỏ đi trong im lặng, và người của Đức Chúa Trời đánh xe ngựa đi tiếp, ông cầu nguyện trong lòng rằng lời đã được nói ra sẽ làm rối động lương tâm của tên cướp.
Nhiều năm sau, ở cuối buổi thờ phượng tối Chúa nhựt với dòng người tuôn ra khỏi nhà thờ, nhiều người còn nấn ná ở lại quanh cánh cửa để gặp nhà truyền đạo đứng tuổi, là John Wesley.
Một người lạ bước tới, thành khẫn nài xin được trò chuyện với Ông Wesley. Đúng là một sự ngạc nhiên khi thấy rằng đây là tên cướp ở Hounslow Heath, giờ đây là một thương nhân có tiếng trong thành phố, nhưng thầm lặng hơn, là một con cái của Đức Chúa Trời! Lời đã được nói ra trong đêm hôm ấy lâu lắm rồi đã được Đức Chúa Trời đại dụng khi ông ta trở lại đạo.
Nắm lấy bàn tay của John Wesley giơ lên tới môi miệng mình, ông ta đã cảm động mà hôn bàn tay ấy rồi nói với giọng rất cảm động "Thưa ông, tôi mắc nợ ông rất là nhiều".
Wesley nhẹ nhàng đáp lại: "Nầy, bạn ơi, không phải tôi đâu nhé, mà là huyết quí báu của Đấng Christ đã thanh tẩy mọi tội của chúng ta đấy thôi" --James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988) p. 50.
4. Mọi con đường KHÔNG dẫn tới thiên đàng!
a. Nắm lấy ý tưởng cho rằng nhiều tôn giáo là đúng và tốt, và các môn đồ chân thật của các tôn giáo khác nầy cũng sẽ được cứu nữa, về mặt chính trị là chính xác đấy.
b. Chúa Jêsus gạt bỏ bất kỳ một tư tưởng nào như thế trong lời công bố của Ngài ở đây!
c. Chỉ có MỘT cái cửa duy nhất vào trong ràng chiên mà thôi, và chính mình Đấng Christ là cái cửa ấy!
5. Những cái ràng chiên không có loại cửa bằng gỗ, thay vì thế chính người chăn phải nằm ngủ ngay lối ra vào, chính thân thể của họ trở thành cái "cửa" hay "cổng vào".
a. Đây mới đúng là điều Đấng Christ muốn nói tới, rằng thân thể Ngài sẽ trở thành lối vào trong sự sống đời đời.
b. Điều nầy đã được hoàn tất trên thập tự giá ở đồi Gôgôtha.
B. Sự bảo hộ chắc chắn (10.8-9a)
1. Bầy chiên tiếp thu ý thức mình được bảo hộ từ người chăn, là người đã trở thành cái "cửa" vào ban đêm.
a. Chúng biết rõ chúng được an ninh bao lâu cái "cửa" còn ở đó.
b. Đây là lối vào duy nhứt, và cũng là lối ra duy nhứt.
2. Không một con chiên nào trong lý trí của chúng sẽ từ chối không sử dụng cái "cửa"…một khi đó là cái cửa duy nhứt!
3. Tại sao có người sẽ từ chối cửa ngõ duy nhứt đến với Đức Chúa Trời là vượt quá sự hiểu biết … Chúa Jêsus đang nài mời chúng ta bước vào trong một chỗ có sự sống thuộc linh và sự bảo hộ, thế mà có nhiều người lại từ khước!
MINH HOẠ. Khi tôi còn là một thiếu niên, các học sinh ở trong trường đã hiệp nhau lại rồi mỗi người nhận được thỏi đường có đường chảy tráng trên đó. Đây là nước sữa đã được phát triển bởi Tấn sĩ Jonas Salk hầu giữ chúng ta không bị nhiễm bại liệt trong thời kỳ dịch bại liệt lan toả khắp cả xứ. Bây giờ, có phải chúng ta hỉnh mũi lên rồi nói: "Thực sự tôi không nghĩ tới mình phải tránh né dịch bịnh theo cách nầy. Tôi sẽ chờ cho tới chừng có các phương tiện khác khả thi được làm ra?" Nói như thế quả là dại dột. Đấy là ý thức chúng ta phải nhìn thấy những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta trong Đấng Christ -- John Yates, "Is Christ the Only Way?" Preaching Today, Tape No. 121.
4. Đối với một con chiên, muốn tránh né lối đi duy nhứt có nghĩa là chết chắc trong đêm một khi nó ở bên ngoài các giới hạn an toàn của ràng chiên.
5. Bất kỳ nổ lực nào để được vào bên trong ràng chiên theo ngõ khác thì chẳng khác chi phường trộm cướp.
a. Bầy chiên thật sẽ đáp ứng duy nhứt với giọng nói của cái "cửa" mà thôi, chúng sẽ từ chối không đi theo trộm cướp đang ra sức đưa chúng đi bằng một ngõ khác.
b. Mọi nổ lực bởi nhiều người khác để bắt lấy bầy chiên bằng con đường khác hơn cái cửa cho thấy rằng chúng chỉ là trộm cướp mà thôi!
c. Trong lịch sử, hết thảy những kẻ nào đã hứa sự sống đời đời qua đường lối khác trừ ra Đấng Christ đều là quân trộm cướp …hay bất kỳ ai hôm nay sẽ hứa như vậy!
6. Con đường an ninh duy nhứt là Đức Chúa Jêsus Christ, là cái cửa thật!
II. CỬA VÀO SỰ THOẢ LÒNG (10.9b-10)
A. Sự an ninh & Sự tiếp trợ (10.9b-10a)
1. Cánh cửa nầy cung ứng sự tự do rất lớn, BƯỚC VÀO mới thấy sự an ninh, còn BƯỚC RA thì thấy đồng cỏ.
a. Con người có tự do thực sự duy nhứt là Cơ đốc nhân!
b. Người nào từ chối cái "cửa" thật, họ đã bị hạn chế.
2. Có cả an ninh và tiếp trợ sẵn có cho bầy chiên nào sử dụng cái cửa.
a. Trong chỗ tối tăm, cái cửa là ngõ vào một nơi an toàn, lúc ban ngày cái cửa là lối ra chỗ đồng cỏ xanh tươi!
b. Đấng Christ là phương tiện cho cả sự an ninh và trưởng dưỡng linh hồn của chúng ta.
3. Mọi nổ lực khác để tìm kiếm đồng cỏ xanh tươi trong khi chỉ đi vòng quanh chỗ tăm tối và ngay cả ánh sáng ban ngày cũng sẽ thất bại không đem lại được lượng trưởng dưỡng thích ứng…nhưng lại có quá nhiều người đã ra sức tìm kiếm các phương tiện khác!
MINH HOẠ. Sau chiến dịch truyền giảng Tin lành, phía Tây Âu đã nhận được một số di vật thánh, gồm chiếc răng của Gôliát, một chóp đuôi của ma quỉ, và một cái chai giữ lấy hơi thở của Đấng Christ. Tất nhiên, không một ai ngày nay xem trọng các di tích ấy. Nếu chúng ta đã có hơi thở của Đấng Christ trong một cái chai, thì điều đó có nghĩa gì nào? Chẳng có ý nghĩa gì hết. Chính sự hiện diện thuộc linh của Đấng Christ trong đời sống của một tín hữu mới là đáng kể mà thôi -- Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio. Standard Publishing Company, 1997).
4. Đức Chúa Trời đã làm cho cuộc tìm kiếm sự sống đời đời ra đơn giãn đến nỗi một đứa trẻ cũng có thể hiểu được việc ấy, thay vì làm cho dòng giống con người phải rối lên với hàng tá phương thức để tìm gặp được Ngài, Ngài đã dọn một con đường rất đơn giãn đến với Ngài, qua Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ.
a. Chính trong Đấng Christ mà chúng ta sẽ tìm gặp được sự vui mừng và an ninh về tương lai.
b. Chính trong Đấng Christ mà chúng ta cũng tìm được sự thoả lòng trong hiện tại nữa!
c. Quả thực Ngài đang hướng dẫn chúng ta đến bên dòng nước bình tịnh và đồng cỏ xanh tươi để trưởng dưỡng linh hồn chúng ta, và hiến cho một nơi an ninh trong chỗ tối tăm đang khi thân thể Ngài canh giữ lối vào sự sống đời đời!
B. Sự thoả lòng trọn vẹn! (10.10)
1. Trong khi từng con đường khác, và từng kẻ lang băm khác đã hứa cho sự sống đời đời, hết thảy họ chỉ là phường trộp cướp mà thôi.
a. Họ đến để cướp và giết.
b. Có bằng chứng mới đây về những cái “cửa” giả dối nầy trong nước Mỹ, hệ thống thờ lạy hình tượng “Cổng Thiên Đàng” mới đây, quả thực trộm cướp đến để cướp và giết mà thôi!
c. Còn Đấng Christ, Ngài không cất đi, Ngài ban cho chúng ta sự sống đời đời và thêm cho sự sống dư dật ngay trong thời hiện tại.
2. Chúa Jêsus hứa với chúng ta "sự sống dư dật", (bảng Kinh thánh KJV) "sự sống đầy dẫy" (bảng Kinh thánh NIV).
a. Từ ngữ được sử dụng ở đây trong tiếng Hy lạp là "perissos" đúng nghĩa được dịch là “superabundance" (dồi dào) hay "excessive" (thừa thải)! Không những đây là một từ nói tới "dư dật", mà đây còn là một từ nói tới sự đầy dẫy thừa mứa nữa!
b. Không một thứ gì làm đầy dẫy một đời sống giống như Đấng Christ được!
3. Người nào chưa hề để cho Đấng Christ ngự vào đời sống họ, không thể hiểu được niềm vui mừng và đầy dẫy có trong Đấng Christ, điều nầy chỉ có thể được kinh nghiệm bởi những người đã tiếp nhận Đấng Christ mà thôi.
a. Đây là lý do tại sao thế gian không hiểu niềm vui mừng của Cơ đốc nhân thật trong ơn cứu rỗi của họ.
b. Không có gì phải ngạc nhiên thế gian nhạo cười nơi Cơ đốc giáo, cho tới chừng nào thế gian đã nếm được sự nhơn từ của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, họ không thể hiểu được sự đầy dẫy của cuộc sống được thấy có trong Đấng Christ.
MINH HOẠ. Một người chưa tin Chúa dũng cảm thuyết trình cho một nhóm người về sự điên dại của niềm tin tôn giáo nói chung và niềm tin Cơ đốc nói riêng. Ở phần kết lời giới thiệu, diễn giả mời dân sự đưa ra bất kỳ thắc mắc nào mà họ có. Trong số khán thính giả là một gã từng say sưa trong thị trấn, đã trở lại đạo với Đấng Christ. Khi đáp ứng với lời mời gọi, gã say xỉn một thời kia bước lên phía trước, cầm lấy một quả cam, lột vỏ ra, rồi ăn quả cam ấy mà chẳng nói một câu nào hết.
Diễn giả lên tiếng hỏi nếu ông ta có một thắc mắc gì thì hãy đưa ra. Sau khi lột xong mãnh vỏ cam cuối cùng, người trở lại đạo kia xây người qua hỏi: "Quả cam tôi đã ăn ngọt hay chua vậy?" Nổi giận lên, diễn giả đáp: "Ngốc ạ, làm sao tôi biết nó ngọt hay chua, một khi tôi chưa nếm nó?" Gã từng say xỉn kia mới đáp trả: "Làm sao ông biết được điều chi về Đấng Christ nếu ông không thử nếm Ngài?" --James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988) p. 190.
4. Ở phần cuối cuộc đời chỉ có những ai đã nhìn biết Đấng Christ mới có thể quay nhìn lại, và nhìn tới trước với sự thoả lòng rằng đời sống họ đáng kể nhiều hơn là hiện tại, vì nó đáng kể cho cõi đời đời.
5. Tại sao không bước qua cái cửa duy nhứt sẽ thực sự dẫn quí vị vào sự sống dư dật ngay cả ở đây và trong cõi đời đời?
a. Đấng Christ đang chờ đợi chúng ta bước đến với Ngài.
b. Tại sao quí vị cứ ở lì bên ngoài trong chỗ tối tăm, ở đó phường trộm cướp tự do khống chế, bước qua cái cửa duy nhứt sẽ đưa quí vị vào nơi an toàn và tràn đầy sự vui mừng.
PHẦN KẾT LUẬN. Con người luôn luôn phấn đấu để tìm kiếm sự thoả lòng và ý nghĩa với mục tiêu trong trí về sự hạnh phúc. Lịch sử đầy dẫy mọi nổ lực của con người hòng nhìn biết Đức Chúa Trời, và sau cùng trong Đấng Christ con đường đã được làm cho rộng mở! Sự an ninh và thoả lòng tối hậu chỉ được thấy duy nhứt trong ngõ vào độc nhất đến với Đức Chúa Trời, qua Đức Chúa Jêsus Christ, một mình Ngài là cái cửa! Quí vị đã bước qua cái cửa ấy chưa?
***