Hiển thị các bài đăng có nhãn MotherDay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn MotherDay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Châm ngôn 1:8: "MẸ: “M-O-T-H-E-R”



MẸ
“M-O-T-H-E-R”
Châm ngôn 1:8

Phần giới thiệu: Hôm nay chúng ta tôn vinh những phụ nữ đặc biệt kia, họ đã làm cho đời sống của chúng ta được thêm ơn và đã nắn đúc chúng ta như vốn có ngày hôm nay. Vô số lần trong một ngày người MẸ đang làm những việc mà chẳng ai khác có thể làm trọn vẹn được. Bà lau sạch giọt lệ, thì thầm một lời nói hy vọng, làm cho nổi sợ của con trẻ vơi đi. Bà dạy dỗ, phục vụ, yêu thương, và trưởng dưỡng thế hệ công dân kế tiếp. Và bà thách thức, mời nài con cái của bà biết làm và sống hết sức mình. Nhưng không một bài xã luận nào khen ngợi những thành tựu nầy – đâu là tin tức đưa ra nói tới những bà MẸ của chúng ta xứng đáng một cách phải lẽ chứ? – James C. Dobson (1936-) và Gary L. Bauer (1946- ) (Edythe Draper, sách trưng dẫn của Draper về thế giới Cơ đốc (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry #7844).
Trong Châm ngôn 1:8-9, Vua Solomon viết: “Hỡi con, hãy nghe lời khuyên dạy của cha, chớ bỏ phép tắc của mẹ con; Vì ấy sẽ như một dây hoa trên đầu con, giống như những vòng đeo quanh cổ của con”. Chúng ta cần phải nhớ tới những sự dạy dỗ mà các bà mẹ của chúng ta đã cài đặt trong chúng ta. Một bà mẹ tin kính sẽ chỉ Đức Chúa Trời cho con cái mình bằng sức mạnh tấm gương của bà thật nhiều y như năng lực trong lời nói của bà. (Croft M. Pentz, The Complete Book of Zingers (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1990)). Tôi muốn bạn chú ý câu Kinh Thánh ấy chép: “chớ bỏ phép tắc của mẹ con...”. Hai thiếu nhi ngồi cạnh nhau trong nhà thờ và nhà truyền đạo nói: “Có một đấng ban ra luật pháp và đấy là Đức Chúa Trời”. Một trong hai em thúc đứa kia rồi nói: “Mục sư chưa có một Bà Mẹ; nếu ông ấy đã có thì ông ấy phải biết có hai đấng ban ra luật pháp, Đức Chúa Trời và mẹ chứ”. Tôi có thể nắm lấy ở chỗ đó vì mẹ đề ra phép tắc cho tôi rất nhiều lần!
Sáng nay tôi muốn sử dụng phương pháp chiết tự tóm tắt sứ điệp nầy bằng cách sử dụng từng âm một hình thành ra chữ MOTHER (MẸ).
Có một việc rất đặc biệt về danh xưng MOTHER (MẸ), và tôi tin rằng các âm hình thành ra chữ ấy cho chúng ta thấy bà là một con người rất đặc biệt. Chúng ta hãy cùng nhau xem xét các âm nầy sáng nay, đổi lại chúng ta tôn vinh những BÀ MẸ của chúng ta ngày hôm nay …
(1) M có nghĩa là MAGNITUDE (QUAN TRỌNG)
Châm ngôn 31:10: “Một người nữ tài đức ai sẽ tìm được? Giá trị nàng trổi hơn châu ngọc”.
A. KHÔNG CÓ SỰ KÊU GỌI NÀO CAO CẢ HƠN. Chữ magnitude có ý nói tới “sự cao trọng hay quan trọng” (Funk & Wagnalls Standard Desk Dictionary. Volume 1, A-M. P. 390). Không một sự vui mừng nào lớn lao một phụ nữ có thể có hơn là trở thành một người vợ và một người mẹ. Có người đã nói: “Chức năng làm mẹ là đặc ân lớn lao nhất trong cuộc sống” – May R. Coker (Edythe Draper, Draper's Book of Quotations for the Christian World (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry #7849).
Tại sao chức năng làm mẹ là một SỰ KÊU GỌI CAO CẢ chứ?
NHỮNG NGƯỜI LÀM MẸ CÓ MỘT VỊ TRÍ RẤT ĐẶC BIỆT TRONG LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Bà phó sự sống cho từng người sống. Sáng thế ký 3:20 cho chúng ta biết: “A-đam gọi vợ là Ê-va, vì là mẹ của cả loài người”. Êva là mẹ của cả loài người. Không có bà, chẳng ai trong chúng ta có mặt ở đây. Bất luận người ta nghĩ gì về mẹ của họ, họ phải nhớ rằng họ sẽ không có mặt ở đây nếu sự có mặt của họ không phải là vì bà ấy. Giôkêbết, mẹ của Môise, đã làm thay đổi dòng lịch sử. Một quốc gia được phóng thích ra khỏi vòng nô lệ do con trai của bà. Xuất Êdíptô ký 2:1-2 chép: “Vả, có một người trong họ Lê-vi đi cưới con gái Lê-vi làm vợ. Nàng thọ thai, và sanh một con trai; thấy con ngộ, nên đem đi giấu trong ba tháng”. Nếu không có một Giôkêbết, sẽ chẳng có Môise nào hết! An-ne, mẹ của Samuên, đã cung ứng cho Israel một thầy tế lễ cao trọng nhất mà họ đã từng có. I Samuên 1:20 cho chúng ta biết: “Đang trong năm, An-ne thọ thai và sanh một con trai, đặt tên là Sa-mu-ên, mà nói rằng: Tôi đã cầu xin nó nơi Đức Giê-hô-va”. Không có An-ne, sẽ chẳng có Samuên nào cả! Mary, mẹ của Chúa Jêsus, đã cung ứng cho chúng ta Đấng Cứu Thế. Mathiơ 1:18-21 chép: “Vả, sự giáng sinh của Đức Chúa Jêsus Christ đã xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Đức Thánh Linh. Giô-sép chồng người, là người có nghĩa, chẳng muốn cho người mang xấu, bèn toan đem để nhẹm. Song đang ngẫm nghĩ về việc ấy, thì thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao, mà phán rằng: Hỡi Giô-sép, con cháu Đa-vít, ngươi chớ ngại lấy Ma-ri làm vợ, vì con mà người chịu thai đó là bởi Đức Thánh Linh. Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội”.
NHỮNG NGƯỜI LÀM MẸ CÓ MỘT VỊ TRÍ RẤT ĐẶC BIỆT TRONG CÁC GHI CHÉP LỊCH SỬ. Theodore Roosevelt đã nói: “Người làm mẹ là tài sản tối thượng của sinh hoạt quốc gia. Bà còn quan trọng sâu xa hơn vị chính khách, hay thương nhân, hoặc nghệ sĩ, hay nhà khoa học thành công”. George Washington đã nói: “Vị giáo sư tài ba nhất tôi từng có chính là mẹ tôi”. Thomas Edison đã nói về mẹ của ông như sau: “Bà chất trên tôi một ảnh hưởng đã kéo dài suốt cả cuộc đời của tôi”. Abraham Lincoln đã nói: “những bài học quan trọng nhất tôi từng tiếp thu ở nơi hai đầu gối của mẹ tôi" (Croft M. Pentz, The Complete Book of Zingers (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1990)). Tất cả những nhân vật lỗi lạc nầy đang gán sự thành công của họ cho các bà mẹ của họ.
B. KHÔNG CÓ MỘT ƠN KÊU GỌI NÀO ĐÁNG TÔN VINH HƠN. Hỡi quí bà, trở thành một người mẹ, hãy kể đấy là một vinh dự. Châm ngôn 31:10 một lần nữa nói cho chúng ta biết: “Một người nữ tài đức ai sẽ tìm được? Giá trị nàng trổi hơn châu ngọc”. Có người từng nói: “một lượng của người mẹ còn hơn cả tấn thầy tu”. Billy Sunday đã nói: "Những người làm mẹ . . . lắp đầy những chỗ quan trọng mà chẳng có một thiên sứ nào trên thiên đàng chịu bỏ ra cả thúng hột xoàn để xuống đây mà nắm lấy chỗ của họ" (Albert M. Wells, Jr. Inspiring Quotations-Contemporary & Classical. p. 95).
(2) O chỉ về OTHERS (NGƯỜI KHÁC)
Châm ngôn 31:13-27: “Nàng lo tìm lông chiên và gai sợi, Lạc ý lấy tay mình mà làm công việc. Nàng giống như các chiếc tàu buôn bán, ở từ chỗ xa chở bánh mình về. Nàng thức dậy khi trời còn tối, phát vật thực cho người nhà mình, và cắt công việc cho các tớ gái mình. Nàng tưởng đến một đồng ruộng, bèn mua nó được; nhờ hoa lợi của hai tay mình, nàng trồng một vườn nho. Nàng thắt lưng bằng sức lực, và làm hai cánh tay mình ra mạnh mẽ. Nàng cảm thấy công việc mình được ích lợi; ban đêm đèn nàng chẳng tắt. Nàng đặt tay vào con quay, và các ngón tay nàng cầm con cúi. Nàng mở đưa tay ra giúp kẻ khó khăn, giơ tay mình lên tiếp người nghèo khổ. Nàng không sợ người nhà mình bị giá tuyết, vì cả nhà đều mặc áo bằng lông chiên đỏ sặm. Nàng làm lấy những chăn mền; áo xống nàng đều bằng vải gai mịn màu đỏ điều. Tại nơi cửa thành chồng nàng được chúng biết, khi ngồi chung với các trưởng lão của xứ. Nàng chế áo lót và bán nó; cũng giao đai lưng cho con buôn. Nàng mặc lấy sức lực và oai phong, và khi tưởng đến buổi sau, bèn vui cười. Nàng mở miệng ra cách khôn ngoan, phép tắc nhân từ ở nơi lưỡi nàng. Nàng coi sóc đường lối của nhà mình, không hề ăn bánh của sự biếng nhác”.
A. NHỮNG NGƯỜI LÀM MẸ SỐNG MỘT ĐỜI SỐNG PHỤC VỤ. Một người mẹ luôn luôn lo liệu cho người khác. Có người đã nói: “Bất cứ người mẹ nào cũng có thể làm những công việc của vài nhân viên kiểm soát giao thông với sự thoải mái” — Lisa Alther (Vern McLellan, The Complete Book of Practical Proverbs and Wacky Wit (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1996)). Nấu nướng, giặt ủi, lau nhà, hôn lấy hôn để những vết thương, và cung ứng sự khích lệ là một vài trong số việc mà những người làm mẹ đang làm trong ngày. Không có mẹ, làm sao gia đình tồn tại được?
MINH HỌA: Một phim hoạt hình vào tối thứ Bảy cho thấy một thiếu nhi khoảng 5 hay 6 tuổi đang nói chuyện trên điện thoại, nó nói: "Mẹ đang ở trong bịnh viện, hai anh em sanh đôi, Roxie và Billie và Sally và con chó và con và Bố tất cả đang cô đơn ở nhà" (James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc, 1988), p. 376).
MINH HỌA: Một thiếu niên 15 tuổi chạy về nhà rồi thấy mẹ mình đang nằm trên giường. Nó hỏi không biết bà có bị bịnh hay bị cái gì khác? Nó thực sự quan tâm. Mẹ đáp rằng, sự thực là không thấy khỏe lắm. Đứa con đáp: "được rồi, đừng lo chi về bữa ăn tối. Con sẽ vui vẻ cỏng mẹ xuống bếp" (James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc, 1988), p. 378).
B. NHỮNG NGƯỜI LÀM MẸ SỐNG MỘT ĐỜI SỐNG HY SINH. Những người làm mẹ luôn luôn hy sinh để làm thỏa mãn các nhu cần của người khác. Khi chúng ta lớn lên, chúng ta chắc chắn sẽ đón nhận và nhìn ra những sự hy sinh mà mẹ đã làm cho chúng ta. Nhưng khi chúng ta lớn tuổi hơn, chúng ta có thể nhìn lại rồi nhớ lại tất cả những việc mà mẹ đã làm cho chúng ta.
MINH HỌA: Một phụ nữ đã nói: “Mãi cho tới khi tôi trở thành một người mẹ tôi mới hiểu mẹ tôi đã hy sinh rất nhiều cho tôi. Mãi cho tới khi tôi trở thành một người mẹ tôi mới thấy mình đã làm tổn thương mẹ khi tôi không vâng lời là thể nào. Mãi cho tới khi tôi trở thành một người mẹ, tôi mới biết tự hào về mẹ mình khi tôi thành tựu. Mãi cho tới khi tôi trở thành một người mẹ, tôi mới nhận ra mẹ tôi yêu thương tôi nhiều là dường nào” – Victoria Farnsworth (James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc, 1988), p. 382).
MINH HỌA: Mẹ là một người nhìn thấy duy nhứt bốn miếng bánh bao cho năm người, mau mắn tuyên bố bà không thích ăn bánh bao. (As quoted in Bob Phillips, Phillips' Book of Great Thoughts & Funny Sayings, (Wheaton, IL: Tyndale House Publishers, Inc, 1993), p. 221).
M chỉ ra MAGNITUDE (QUAN TRỌNG),
O chỉ ra OTHERS (THA NHÂN), và…
(3) T chỉ ra THOUGHTFUL (CHÍN CHẮN)
Châm ngôn 31:26: “Nàng mở miệng ra cách khôn ngoan, phép tắc nhân từ ở nơi lưỡi nàng”.
A. ĐƯỜNG LỐI CỦA NÀNG LÀ KHÔN NGOAN. Những người làm mẹ là những nhà tư tưởng. Họ rất sáng tạo. Họ mở ra cánh cửa tưởng tượng cho con cái của họ. Tôi có thể nhớ các “thứ đồ chơi” mẹ đã làm từ mấy sấp giấy, thùng sửa, và mấy ngăn đựng trứng. Hãy lắng nghe đôi lời từ Erma Bombeck nói về Mẹ mà tôi có ghi lại:
“Khi Chúa nhơn từ dựng nên những người làm mẹ, Ngài phải bước vào ngày thứ sáu, lúc ấy thiên sứ xuất hiện rồi nói: ‘Ngài đang làm những việc nhỏ mọn với người nầy’. Và Chúa phán: ‘Ngươi có đọc những phần đặc biệt về trình tự nầy chưa? Nàng phải là người thật, chớ không phải plastic; có 180 chi tiết sống động, tất cả đều ở trong tình trạng hoạt động tốt; chạy với café đen, thức ăn thừa và kích động. Nàng phải có cái vạt áo biến mất khi nàng đứng dậy; một nụ hôn có thể chữa lành bất cứ thứ chi từ cái chân gãy cho tới người chồng hay xúc phạm. Và ánh mắt có thể nhìn thấu qua hai cánh cửa đóng kín, ở đó mấy đứa con đang làm những việc mà chúng không muốn mẹ nhìn thấy. Nàng phải có một thứ lý trí có thể đọc được hết các tư tưởng của gia đình nàng’. Sau cùng thiên sứ nghiêng đầu qua rồi bỏ chạy đi với ngón tay chỉa vào gò má. Thiên sứ nói: ‘Thôi bí mật lộ ra rồi. Tôi nói cho Ngài biết nhé, Ngài đang ra sức đặt quá nhiều việc vào cái mẫu nầy đấy’. Chúa bèn phán: ‘Đấy chẳng phải là bí mật gì đâu’ ‘Đấy là một giọt nước mắt’ ‘Để cho điều gì chứ?’ “Nó cần cho vui mừng, buồn rầu, thất vọng, đau khổ, cô độc hay tự hào’. Thiên sứ nói: ‘Ngài là một thiên tài’”.
B. LỜI NÓI CỦA NÀNG RẤT CÓ Ý NGHĨA. Châm ngôn 31:26 chép: “Nàng mở miệng ra cách khôn ngoan …”. Câu nầy có ý nói:
Nàng rất khôn ngoan và thông minh. Nàng không hề thôi trau giồi lý trí mình. Mẹ tôi chỉ học tới lớp 8 thôi, nhưng tôi vẫn tin cậy sự khôn ngoan của bà còn hơn tất cả những triết gia, giáo sư, và bậc thầy trên đời nầy!
Nàng rất dịu dàng và thân thương. Phần sau cùng của câu 26 chép: “phép tắc nhân từ ở nơi lưỡi nàng”. Một câu châm ngôn của người Ảrập nói: “làm sao một người có được mùi hương thơm ngát khi cha người là củ hành và mẹ người là củ tỏi chứ?” Bạn có biết cách chúng ta đối xử với người khác, chúng ta đã tiếp thu được từ bố mẹ chúng ta không? Và khi chúng ta để nhiều thì giờ ra với mẹ hơn với cha, chính ảnh hưởng của bà nắn đúc chúng ta nhiều nhất.
(4) H chỉ về HELPER (NGƯỜI GIÚP ĐỠ).
Châm ngôn 31:10-12: “Một người nữ tài đức ai sẽ tìm được? Giá trị nàng trổi hơn châu ngọc. Lòng người chồng tin cậy nơi nàng, Người sẽ chẳng thiếu huê lợi. Trọn đời nàng làm cho chồng được ích lợi, Chớ chẳng hề sự tổn hại”.
Sáng thế ký 2:18: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Loài người ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó”.
A. NHỮNG NGƯỜI LÀM MẸ LÀ HẠNG NGƯỜI CHUYÊN KHÍCH LỆ. Một đứa con không có một nhà vô địch nào lỗi lạc hơn mẹ của nó. Sự nhạy cảm là từ chìa khóa. Nó có ý nói "xoáy vào" những tư tưởng và cảm xúc của con cái, lắng nghe những tín hiệu mà chúng đưa ra cho chúng ta, rồi phản ứng thích đáng với những gì chúng ta phát hiện – James C. Dobson (1936- ) (Edythe Draper, Draper's Book of Quotations for the Christian World (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry #8326). Chẳng có một người nào biết con cái mình rõ hơn một người mẹ. Những người làm mẹ đều hiểu rõ và cung ứng những sự khích lệ khi chẳng có ai khác làm được. Đấy là lý do tại sao “chớ quên phép tắc của mẹ con” là quan trọng như thế đối với con cái. Những người làm mẹ để ra nhiều giờ đẩm nước mắt trong sự cầu nguyện cho con cái của họ. Một bà mẹ đã cầu nguyện:
“Xin khiến con trở nên một người mẹ khôn ngoan, Ôi Chúa. Xin giữ con được bình tịnh và ban cho con sự kiên nhẫn để gánh lấy mọi việc trong cuộc sống hàng ngày. Xin ban cho con sự kiên nhẫn và hiểu rõ phải bắt nhịp cầu qua vịnh đứng giữa thế hệ của con và thế hệ của con cái của con. Xin khiến con luôn sẵn sàng để dẫn dắt bước chân hay vấp ngã của con cái con, nhưng hãy cho phép con sống gần gũi hơn để bó vít những vết sưng bầm tím của chúng.
Xin ban cho con sự mau mắn hóm hỉnh để con có thể vui đùa với chúng, song không hề cười ngạo chúng. Xin cho biết nhẫn nhịn giảng dạy với lời nói. Xin giữ con không bên bắt buộc chúng phải tin cậy, mà hãy ban cho con một cái lỗ tai thông cảm khi con cái đến với con. Xin giúp con biết dạy dỗ chúng rằng cuộc sống không nên có quá nhiều sự thỏa hiệp, một phải no nê với đắc thắng. Xin khiến cho con biết khiêm nhường hơn.
Xin giữ con cái của con luôn gần gũi con, ôi Chúa, mặc dù có nhiều dặm đường phân cách chúng con. Và nguyện sự sáng của Ngài chiếu sáng trên con đến nỗi chúng, cũng sẽ thấy được để chúng luôn tôn vinh Ngài. Amen.” (Dayspring Baptist Chapel Newsletter. May 2002. Dayspring Baptist Chapel. Dobson, NC. Brother Roger Pickett, Pastor).
B. NHỮNG NGƯỜI LÀM MẸ LÀ HẠNG NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG. Có người nói: “Không một việc làm nào có thể sánh với trách nhiệm hình thành và nắn đúc một con người mới” – James C. Dobson (1936- ) (Edythe Draper, Draper's Book of Quotations for the Christian World (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry #8317). Hãy nhìn vào Châm ngôn 31:1-2: “Lời của vua Lê-mu-ên, Các châm ngôn mà mẹ người dạy cho người. Hỡi con ta sẽ nói gì? Hỡi con của thai ta, ta phải nói chi? Hỡi con của sự khấn nguyện ta, ta nên nói điều gì với con?” Chữ “dạy” có ý nói tới “đẻo, gọt, chạm khắc, và tạo ra một luống cày”. Khi một người mẹ tin kính tạo ra một luống cày sâu nơi đứa con của mình cho Đức Chúa Trời, điều đó còn hơn là một dấu vết, là thứ có thể tẩy xóa. Bà sẽ dùng ngòi viết yêu thương từ Lời của Đức Chúa Trời rồi đẻo gọt với một công cụ, một luống cày trong việc gây dựng phẩm chất Cơ đốc nơi con cái của bà. (Dayspring Baptist Chapel Newsletter. May 2002. Dayspring Baptist Chapel. Dobson, NC. Brother Roger Pickett, Pastor).
(5) E chỉ ra EFFECTIVE (HIỆU QUẢ)
Châm ngôn 31:31: “Hãy ban cho nàng bông trái của tay nàng; Khá để các công việc nàng ngợi khen nàng tại trong cửa thành”.
A. SỰ DẠY DỖ CỦA NÀNG ĐƯỢC GHI NHỚ. Chúng ta càng lớn tuổi thêm, chúng ta càng nhớ nhiều những bài học mà mẹ chúng ta đã dạy dỗ chúng ta. Nhưng chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng những bài học sớm sủa ấy các bà mẹ cung ứng cho con cái họ không chạm đến đời sống của chúng.
MINH HỌA: “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo; Dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó” (Châm ngôn 22:6).
Một thiếu nhi đang cởi xe đạp chạy vòng quanh. Người kia bước tới hỏi nó: “Cháu đang làm gì vậy?” Nó nói: “Cháu đang chạy ra khỏi nhà”. Người kia nói: “Nhưng cháu chỉ quanh quẩn ở trong sân nầy thôi mà”. Đứa trẻ đáp: “Sở dĩ như thế là vì mẹ cháu không cho phép cháu băng qua đường!” Dù ở những kỷ nguyên xưa nhất, luôn có sự kềm chế trong tấm lòng của một đứa trẻ vì cớ sự dạy dỗ tin kính bởi bố mẹ của nó. Cách duy nhứt tôi từng tiếp thu để chơi bóng đá là ở sân tập. Phòng học là không đủ. Bố mẹ phải cung ứng sự dạy dỗ và giáo dục cho những bài học về cuộc sống, những bài học ấy cần phải ăn thật sâu trong con cái họ.
Có phải Đức Chúa Trời đã ban cho bạn trách nhiệm thiêng liêng trong chức năng làm cha mẹ không? Thế thì, hãy dành thì giờ trong tuần nầy để dạy dỗ con cái bạn về một lãnh vực sống tin kính đi –Adrian Rogers (Bible Illustrator For Windows. Version 3.0f. Copyright 1990-1998, by Parsons Technology, Inc. All Rights Reserved).
B. ẢNH HƯỞNG CỦA NÀNG ĐƯỢC PHẢN ẢNH. Hãy chú ý phần cuối của câu 31: “…Khá để các công việc nàng ngợi khen nàng tại trong cửa thành”. Câu nói nầy nhắc tới ảnh hưởng. Chữ “ảnh hưởng” có ý nói tới “năng lực của người hay vật tạo ra những ảnh hưởng trên người khác … Một người hay vật có quyền lực tác động nơi nhiều người khác” (Funk & Wagnalls Standard Desk Dictionary. Volume 1, A-M. p. 333). Những người làm mẹ tạo ra những tác động lâu dài trên con cái của họ. Con cái sống theo những gì họ tiếp thu.
(6) R chỉ về REWARDED (PHẦN THƯỞNG)
Châm ngôn 31:28-31: “Con cái nàng chổi dậy, chúc nàng được phước; Chồng nàng cũng chổi dậy, và khen ngợi nàng rằng: Có nhiều người con gái làm lụng cách tài đức, Nhưng nàng trổi hơn hết thảy. Duyên là giả dối, sắc lại hư không; Nhưng người nữ nào kính sợ Đức Giê-hô-va sẽ được khen ngợi. Hãy ban cho nàng bông trái của tay nàng; Khá để các công việc nàng ngợi khen nàng tại trong cửa thành”.
A. NÀNG ĐƯỢC BAN THƯỞNG VỚI SỰ KHEN NGỢI. Câu 28 cho chúng ta biết: “Con cái nàng chổi dậy, chúc nàng được phước; Chồng nàng cũng chổi dậy, và khen ngợi nàng”. Nàng được khen ngợi vì cớ:
ẢNH HƯỞNG CỦA NÀNG
PHÉP TẮC CỦA NÀNG.
B. NÀNG ĐƯỢC BAN THƯỞNG VÌ CỚ SỰ KIÊN NHẪN CỦA NÀNG. Cần phải có sự kiên nhẫn khi nuôi dạy con cái. Và hết thảy chúng ta đều sung sướng hôm nay vì bố mẹ chúng ta đã kiên nhẫn đối với chúng ta! Một trong những việc làm khó nhất là khiến cho đứa trẻ nhìn biết rằng "không" là một câu nói rất trọn vẹn. (Anonymous. Leadership, Vol. 16, no. 2). Hãy chú ý ở phần cuối của câu 31: “….Khá để các công việc nàng ngợi khen nàng tại trong cửa thành”. Đâu là “các công việc nàng”? Há chẳng phải là nàng đã nắn đúc, cài đặt nơi đứa con một tình yêu dành cho Đức Chúa Trời sao?
PHẦN KẾT THÚC: Tôi nguyện hôm nay mỗi người làm mẹ đều thực sự được phước. Tôi nguyện rằng nếu mẹ của bạn đang ở tại nhà với Chúa hôm nay, bạn nên dành thì giờ để nhớ lại tất cả các ký ức đẹp đẽ và nhớ lại mọi điều mà bà đã góp phần trong đời sống của bạn. Tôi muốn kết thúc sáng nay với những lời lẽ nầy:
MẸ
Từ những hột giống mẹ đã tưới trên chúng con.
Khi chúng con đâm chồi
Mẹ đã giúp cho chúng con lớn lên
Với tình yêu ấm áp rạng rỡ của người.
Dọc theo con đường
Mẹ tỉa sửa chúng con
Để giữ cho chúng con được an toàn
Không bị tổn hại.
Khi chúng con lớn lên
Ra khỏi cái kén nhỏ nhoi của mình,
Mẹ lại trồng chúng con,
Ở đó mẹ cung ứng hy vọng cho
Và chỉ cho chúng con thấy đức tin
Để chúng con có thể
Làm cho tha nhân
Như mẹ đã làm cho chúng con.
Jim Little

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2010

Ngày Mẫu Thân: Vị Trí Của Một Người Phụ Nữ



VỊ TRÍ CỦA MỘT PHỤ NỮ
____________________________________________
Xin đọc: I Timôthê 2.8-15; I Samuên 1.13; Êsai 3.16-24; I Phierơ 3.3-4; I Côrinhtô 14.33-35; Sáng thế ký 2.18-25, 3.4-6, 16; I Côrinhtô 11.7-9,11

Kinh Thánh dạy rất rõ ràng một sự phân biệt các vai trò của người nam và người nữ. Khi lý trí biết suy nghĩ và bàn bạc về sự chênh lệch đã được làm ra, thì vừa buồn mà cũng vừa vui cho nó. Có điều gì đã xảy ra cho "Con trai là con trai "và "Con gái là con gái" không? Có gì sai với một thế giới được dựng nên bằng cả hai người nam và người nữ mà chẳng có một “người” trung tính nào hết? Tại sao một bưu tá viên [nữ] lại không thể là một người đưa thư [nam]? Tại sao ngày nay lại có tội diệt chủng? Tại sao lại có sự thúc đẩy việc kết hợp toàn bộ nam nữ với nhau chứ?
Có nhiều lý do mà chúng ta có thể liệt kê ra, mọi sự cần phải làm với sự suy đồi đi xuống của dòng giống con người (nam và nữ), nhưng đấy không phải là tiêu điểm của chúng ta trong phần bàn bạc nầy. Với Kinh Thánh là thẩm quyền đầy đủ và tối hậu của chúng ta, chúng ta sẽ xem xét dự tính và huấn thị của Đức Chúa Trời đối với những người mà Ngài đã dựng nên là “người nữ”.
Xã hội Mỹ hiện đại đặc biệt nhấn mạnh những gì nó nghĩ nữ giới đang nắm quyền chủ động và đang bắt tay làm, nhưng Lời của Đức Chúa Trời cũng nói cho chúng ta biết, có những điều mà họ không được làm.
Có một vai trò và địa vị dễ xác định, trước sau như một, được cung ứng cho nam và nữ giới trong sự sáng tạo và trong Hội Thánh, và sở dĩ có như thế là vì sự cải thiện và tận hưởng chung của CẢ HAI giới - chớ không cho riêng ai.
Suy nghĩ của xã hội hiện nay về vai trò của nữ giới là ngược lại với Kinh Thánh và nhận định chung. Tệ hại hơn, hầu hết các hệ phái chính thống đang bóp méo hay làm cong quẹo các phần Kinh Thánh có liên quan. Kết quả là giới nữ trở thành nạn nhân của việc làm nầy, và thường thì họ không nhận biết được.
Có một trình tự và sự sắp xếp trong muôn vật, kể cả ở con người. Nói cách đơn giản: Vai trò Đức Chúa Trời dành cho cánh nam giới là lãnh đạo và vai trò của Ngài dành cho nữ giới là phải thuận phục để cả hai giới đạt tới thành công và hạnh phúc. Chúng ta biết rõ mọi cảm xúc dâng cao ở đây. Các vai trò và những trách nhiệm nầy dù riêng biệt và khác biệt nghĩa là không có một việc gì phải làm với sự bình đẳng hoặc với khả năng.
Ai có thiện cảm với những người theo thuyết nam nữ bình quyền với tư thế cuồng tín chắc chắn tìm cách đưa ra một sự phân biệt giữa nhận định của họ và các nhận định khác. Nếu quí vị không nghĩ nữ giới sẽ trở thành Tổng thống hay thành các Mục sư được tấn phong hẳn hòi, chắc chắn họ sẽ tố cáo quí vị về việc mong muốn phụ nữ chỉ là những cái mắc trên khúc cây mà thôi. Điều nầy bất công, không đẹp đẽ gì hết.
Có một số sự lựa chọn giữa một vị giám mục và cái mắc cây. Tôi không nghĩ có nhiều người thực sự tin I Côrinhtô 14.34, ở đây chỉ ra nữ giới không được nói “bất cứ điều gì”trong nhà thờ. Nữ giới được phép -- thậm chí được lịnh -- dạy theo những nội dung nhất định (Tít. 2.4-5). Nhưng có một sự khác biệt rất lớn giữa một vị thị trưởng và một người được ủy quyền.
Những người theo thuyết nam nữ bình quyền luôn xu hướng vào câu "địa vị của một phụ nữ” - tuy nhiên cách đây nhiều năm ở Mỹ đây là mệnh đề diễn đạt chung của xã hội. Địa vị của một người nam là Đầu của gia đình, là người "đội ông Táo” là "trụ cột trong gia đình" hoặc là "người thắng lợi trong công việc" mà xã hội có cần. Nam giới là nam giới còn nữ giới là nữ giới, nghĩa là những kẻ giữ nhà, trông trẻ, người ban ra lòng thương xót, bài hát, bài thơ. Có những việc trôi êm ả và có những gia đình được nhiều hạnh phúc hơn.
Ở điểm nầy có người sẽ tìm cách làm thân trâu ngựa như hàng triệu người đã chịu khổ dưới thời “các tộc trưởng” hoặc bị bẫy trong một hệ thống do nam giới thống trị. Có hai việc mà chúng ta phải tiếp tục xem xét —
1.) Điều sai quấy không được sửa sai và sự lạm dụng vai trò của nam giới không có lý do bào chữa cho sự bất tuân của nữ giới và …
2.) Thêm hàng triệu người – và lịch sử minh chứng sự kiện nầy – được thoả lòng và đã sống rất thích ứng với đường lối mà họ đang sinh sống. Người sống bất hạnh chỉ có ở trong thiểu số – đặc biệt khi xã hội cư xử nghiêm chỉnh với phụ nữ (chúng ta không nói tới người dã man ở đây), cung ứng sự bảo hộ và trao quyền hành cho các phụ nữ nầy, không còn có cách nào khác nữa.
3.) — Đã có một ít xã hội theo chế độ Mẫu hệ đã bắt bớ nam giới trong lịch sử mà quí vị có biết.
Như ở Âu châu và nước Mỹ (và chúng ta buộc phải giới hạn phần bàn bạc về họ một khi họ thực sự là loại xã hội duy nhất vâng theo các vai trò Kinh Thánh ấn định ở bất kỳ một cấp độ nào) có những việc trôi êm ả và đã tạo ra một cơ sở cho thế giới văn minh và thành công nhất.
Bây giờ bước qua Đệ II Thế Chiến về những việc đúng đã bị chuyển thành sai. Nam giới ra chiến trường và nữ giới phải lao động. Nam giới trở về - và nữ giới thì không.
Phong trào phụ nữ bị đổi thành thuyết nam nữ bình quyền và đã lừa bịp nhiều người nữ vào việc tin theo những lời dối trá của phong trào ấy.
Nhiều người nữ Cơ đốc cảm thấy mình là con mồi của phong trào nầy, mà vẫn bước theo. Đổi lại, họ bất chấp quá khứ, bực tức các vị Mục sư nào cảnh báo họ và tệ hại nhất, họ chống đối Lời Đức Chúa Trời cả phần thành văn và bên trong họ nữa. Điều nầy đặt họ và gia đình họ vào mối nguy hiểm và họ sẽ gánh chịu những cuộc tấn công của kẻ thù. Chúng ta phải nhớ, khi chúng ta rơi vào triết lý của xã hội, triết lý sẽ trở thành cơ sở cho suy tưởng của chúng ta, chúng ta đánh mất cái nền của Kinh Thánh dành cho đời sống của chúng ta và cho mối thông công của chúng ta với Đức Chúa Trời.
Chúng ta chuyển suy tưởng nầy cho Đức Chúa Trời và chúng ta vặn cong bổn tánh thực của Ngài. Khi nghĩ rằng Đức Chúa Trời phải đối xử với mọi người bình đẳng hoặc sự tử tế đó chính là thuộc tính thiêng liêng, đây là một trường hợp.
Chúng ta, là những tín đồ, không nhìn biết được cái khung mà xã hội đã nắn đúc nên “suy tưởng Cơ đốc” của chúng ta. Chúng ta thường tiếp thu những điều Kinh Thánh không nói rõ ràng, vì người ta thường nói với nhau về các chuyện đó.
Thuận phục không phải là sự biểu lộ địa vị thấp kém hơn, mà là sự biểu lộ ra vai trò mà Đức Chúa Trời đã ấn định.
Các quy định trong sự sáng tạo (hay những tiêu chuẩn của thiên nhiên) là những chỉ báo của các nguyên tắc. Nếu một phân đoạn Kinh Thánh cho thiên nhiên (hay sự sáng tạo) là nền tảng gốc của nó, nó chuyển thành văn hoá. Chúng ta thấy các hiệu lực nầy trong những phân đoạn dạy về chức năng lãnh đạo của người nam, hôn nhân, và tình trạng tội lỗi của tình trạng đồng giới tính.
CHÚ Ý: Có phải những người nữ đã được cứu tin hay không tin chúng ta đang sống trong những ngày sau rốt? Được thôi?!? Những hành động nói lớn tiếng hơn lời lẽ. Nếu thực vậy, thì tại sao họ không biết đâu là thay đổi đã diễn ra trong 40 năm cuối, và kết quả của nó? Ma Quỉ chẳng dại dột đâu và hắn đã dự trù một cuộc tấn công toàn diện vào giới nữ và gia đình, là chỗ mà hắn rất thành công lâu nay. Hãy đứng vững, hỡi người nữ Cơ đốc và hãy trở thành những gì Đức Chúa Trời Toàn Năng muốn quí vị phải trở thàmh! Hãy liệng ra xa những mối manh xiềng xích áp bức về mặt chính trị, những thứ làm cho quí vị cảm thấy mình trống không và cô độc, hãy mang lên vai gánh nặng của xã hội mà nam giới đang gánh vác và cùng chịu khổ với họ!!!
Sự thuận phục của nữ giới không phải là một lời kêu gọi hãy làm người đứng cuối trong Nước Trời, mà đúng ra, hãy đứng vào địa vị danh dự. Các thiên sứ được chọn thì cao cả hơn chúng ta – nhưng chúng ta sẽ trị vì trên cả họ. Có phải các thiên sứ nầy đã cảm thấy xấu hổ hay thấp kém chăng? Không! Ai là lớn nhất, chêrubin nào bất phục và loạn nghịch theo đuổi sự vinh hiển riêng mình, hoặc con cái nào của Đức Chúa Trời chịu phục để chào đời trong một máng cỏ, bị khạc nhổ, bị hành hại rồi bị chế giễu và bị giết đi?
Chúng ta xem xét một vài tấm gương nói về nữ giới trong Kinh Thánh và địa vị của họ ….
Bây giờ trước khi có ai đó chỗi dậy và nói như vẹt những gì các vị giáo sư tôn giáo trong các Trường Đại học hay trong Thần học viện đã nói với họ, Cựu và Tân ước đều nhất trí đối với vai trò của nữ giới. Đức Chúa Trời vốn không, đã không thay đổi lý trí của Ngài về đề tài ấy..
I Côrinhtô 14.34 "phục tùng cũng như luật pháp dạy".
Đức Chúa Trời đã nhiều lần kêu gọi phục vụ theo đủ mọi hình thái và lèo lái bàn tay của cả nam và nữ giới theo nhiều cách khác nhau, nhưng Ngài không hề thay đổi lý trí của Ngài về các vai trò của họ.
Vì chúng ta chưa nhắc tới Êva hay Sara hoặc bất kỳ một câu chuyện nào trong Sáng thế ký nói về nữ giới, vì họ là tấm gương của nữ giới trong chỗ đứng của họ. Chúng ta sẽ không tập trung vào những người không ở đúng vai trò cần phải bàn bạc ở đây.
Miriam
Có người cho rằng từ lúc Đức Giêhôva phán qua nàng trong Cựu ước, ngày nay nữ giới có thể lãnh đạo nam giới (Dân số ký 12.1-2).
*Không có một sự gì tỏ ra rằng Miriam là lãnh đạo của nam giới hết. Sau lần giải cứu ra khỏi Ai cập, bà đã lãnh đạo một số phụ nữ trong công tác ngợi khen Đức Chúa Trời.
Xuất Êdíptô ký 15.20: “…các đàn bà đều đi ra theo người”, cầm trống cơm và múa. Có một sự trước sau như một trong hai giao ước. Nữ giới phải được dạy dỗ và lãnh đạo nữ giới ngày nay (Tít 2.3-5).
Đêbôra
Các Quan Xét 4.4-5: “…và dân Ysơraên lên đến cùng người, đặng nghe sự xét đoán”.
…. Họ đang ở trong thời kỳ bội đạo (Các Quan Xét 4.1), Đức Chúa Trời đã sử dụng Đêbôra để xét đoán dân Israel. Đêbôra đã không lãnh đạo dân Israel, mà họ lên đến với bà đặng nghe sự xét đoán. Rõ ràng bà là một phụ nữ rất khôn ngoan.
Khi đến lúc dấy lên một nhà lãnh đạo, Đức Chúa Trời đã chọn một người đờn ông (Barác) – (Các Quan Xét 4.6-7).
Đức Chúa Trời vẫn sử dụng một người đờn ông để giải phóng Israel, chớ không phải một người đờn bà, mặc dù Đức Chúa Trời có quyền sử dụng Đêbôra để giải cứu họ.
*Kinh Thánh không hề dạy nữ giới không được tự phát triển để học khôn ngoan. Khi bà kiếm được sự khôn ngoan, và có thể phụ giúp dân sự với các nan đề trong cuộc sống, bà cần phải nhớ vai trò của bà không nằm ở chỗ chiếm đoạt quyền lực trên cánh đờn ông.
Nữ tiên tri Hunđa - II Các Vua 22
Hunđa là người nữ khác được Đức Chúa Trời đại dụng trong một thời điểm của lịch sử dân Israel. Khi Giôsia khởi đầu cuộc phấn hưng Đền Thờ, một bản sao luật pháp đã được tìm thấy. Họ đã đọc những lời cảnh báo được tìm thấy trong Luật pháp về các thứ hình phạt dành cho sự bất tuân. Giôsia đã sai các sứ giả đến gặp Hunđa để hỏi thăm về Luật pháp. Bà đã nói tiên tri về sự phán xét hầu đến giáng trên thành Jerusalem, mặc dù ngày ấy sẽ không rơi vào thời điểm trị vì của Giôsia.
Bà đã được cảm thúc, được Đức Chúa Trời đại dụng để phân phát ra Lời của Ngài, nhưng không có một biểu hiện nào cho rằng bà đã nắm lấy địa vị lãnh đạo trên cánh đờn ông trong Israel. Giống như Mary trong Tân ước, Đức Chúa Trời đã phán với nàng và người bà con của nàng.
Đức Chúa Trời đã hành động qua nữ giới trong Cựu ước và Ngài đã hành động qua nữ giới trong Tân ước. Tuy nhiên, những người nữ nầy không được đặt vào chỗ nắm lấy quyền bính hoặc trong những địa vị quyền lực cao hơn cánh đờn ông.
Mặc dù cả nam và nữ giới đều là hàng tôi tớ, họ là hàng tôi tớ theo nhiều hình thái khác nhau.
Những tấm gương các phụ nữ tin kính trong Tân ước
Tabitha Công vụ Các sứ đồ 9.36-39
Bêrítsin Công vụ Các sứ đồ 18.24-26, Roma 16.3-5 , I Côrinhtô 16.19
Êvôđi và Syntycơ Philíp 4.2-3
Không nhắc tới 3 bà Mary, Mathê hay Lôít giữa vòng các tấm gương sáng láng nầy.
Một phụ nữ phải dính dáng tới "các việc lành".
I Timôthê 2.9-10
Điều nầy còn hơn là có con cái nữa, mà còn phải chu tất mọi trách nhiệm phát xuất từ việc nuôi con cái. I Timôthê 2.15; Tít 2.3-5
Luôn luôn có công việc cần phải lo làm. Luôn luôn có công việc cần có phụ nữ lo làm.
Người nữ là người giúp đỡ cho người nam. Họ phải cùng nhau lo làm công việc.
*Trong Kinh Thánh, các thầy tế lễ, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, các vị Vua, các cấp lãnh đạo quân đội, các sứ đồ, các trước giả Kinh Thánh, các trưởng lão, hết thảy đều là nam giới. Người nữ có vai trò của họ, người nam có vai trò của họ. (Đưa ra một số điển hình).
1. Mọi địa vị đều rất quan trọng, nhưng họ có các vai trò khác nhau. Thí dụ: Trong các bộ môn thể thao và quân sự tất cả mọi địa vị đều cần thiết.
2. Đức Cha, Đức Chúa Con, hay Đức Thánh Linh - mỗi ngôi đều có vai trò khác nhau, nhưng là một.
Khi người ta nói ngôi nào quan trọng hơn, hay ngôi nào siêu việt hơn, hoặc ngôi nào tốt đẹp hơn, nam hay nữ giới, họ đang tỏ ra sự thiếu hiểu biết và một thành kiến do xã hội tạo ra để đặt nam & nữ giới vào sự đối nghịch hay sự tranh cạnh với nhau.
Họ đồng đẳng trước mặt Đức Chúa Trời, thế nhưng họ có những vai trò khác nhau phải chu toàn.
Cả nam và nữ giới phải cùng làm việc với nhau và chúc mừng nhau hơn là tranh cạnh với nhau. Cả hai giới phải trung tín với các vai trò mà Đức Chúa Trời đã ấn định cho cả hai. II Côrinhtô 5.17, Thi thiên 18.46.
***

Ngày Mẫu Thân: Người Nữ Kính Sợ Đức Chúa Trời



NGƯỜI NỮ KÍNH SỢ ĐỨC CHÚA TRỜI
Làm thế nào trở thành người nữ tốt nhứt
Châm ngôn 31.30
I. PHẦN GIỚI THIỆU – Êphêsô 6.2-3: “Hãy tôn kính cha mẹ ngươi”.
A. Tôi muốn tôn cao một số người ở đây sáng hôm nay. Có người xứng đáng với một lời khen tặng, và sự tán thưởng.
B. Tôi cũng muốn giúp đỡ một số người sáng hôm nay. Sứ điệp nầy chủ yếu nhắm thẳng vào các bà MẸ, nhưng sẽ giúp đỡ cho tất cả các phụ nữ, VÀ có thể giúp đỡ cho từng người NAM trong khán thính giả nếu họ chịu chú ý, và ứng dụng những gì họ đang nghe!
C. Những bà mẹ, tôi muốn khen ngợi quí vị trong ngày hôm nay, và tôi muốn giúp đỡ cho quí vị nữa. Cho phép tôi giúp quí vị trở thành người nhứt hạng cho Chúa!
II. XUẤT XỨ (Châm ngôn 31.28-30): “Người nữ kính sợ Đức Giêhôva...”
A. Tôi muốn khen ngợi người nữ ấy nhứt sáng nay – người nữ kính sợ Đức Chúa Trời! Quí vị đã nghe câu nói: “một người nữ kính sợ Đức Chúa Trời” hay “người kính sợ Đức Chúa Trời”. Đấy là những câu nói rất hay! Chúng có ý nói tới điều gì?
B. Hai loại sợ:
1. Khiếp sợ, kinh hãi, hoảng sợ – sống trong lo sợ – một nỗi sợ bất ổn. Một nỗi sợ “vô danh” và khó giải thích (giống như phim kinh dị). Đấy là cách mà hầu hết các thứ tôn giáo phác họa ra các “vì thần” của họ – kín nhiệm, và không thể nhận biết được.
2. Sợ trong sự tin cậy – Đây là loại sợ hãi mà Đức Chúa Trời đang nói tới trong Châm ngôn 31.30 – không phải là kinh khiếp, mà là tin tưởng nơi Chúa – không những tôn kính, mà còn thuận phục nữa (Thi thiên 89.7; Khải huyền 15.4) vì biết Đức Chúa Trời là AI! Người nữ ở đây trong Châm ngôn 31 là người biết cân nhắc, và là người có khả năng mà quí vị sẽ gặp gỡ. Tại sao vậy? Vì nàng nhận biết Đức Chúa Trời theo cách riêng; nàng yêu mến Chúa thật trọn vẹn; nàng phục sự Chúa một cách tự do; và nàng được Đức Chúa Trời thành tín xem trọng!
C. Kính sợ Đức Chúa Trời là nơi khởi sự. Quí vị không thể nói quí vị nhận biết Đức Chúa Trời, hay yêu mến Đức Chúa Trời nếu quí vị không kính sợ Đức Chúa Trời (Châm ngôn 1.7; 9.10).
D. Đức Chúa Trời cung ứng cho chúng ta sáng nay một số người Mẹ, người cha và những thanh niên biết kính sợ Chúa.
III. SỨ ĐIỆP – Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời ()
A. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời – Nhận biết Đức Chúa Trời (Châm ngôn 1.7; 9.10; Giêrêmi 9.23,24):
1. Thực sự nhận biết Đức Chúa Trời – không phải mê tín – mà là sự hiểu biết cá nhân
a. Nàng nhận biết thực sự Đức Chúa Trời là ai – không phải là tiểu thuyết, mà chính Đức Chúa Trời của các thần, Ngài đã dựng nên trời và đất, Ngài có sức lực và năng quyền, và Ngài yêu thế gian nầy đủ để hiện đến và chịu khổ vì mọi tội chúng ta hầu cho chúng ta được cứu! Tôn giáo không làm cho nàng chao đảo! Nàng nhận biết Đức Chúa Trời mình!
b. Nàng nhận biết thực sự Ngài đang làm gì – Ngài dựng nên chúng ta! Ngài giữ chúng ta sống động, và dẫn dắt chúng ta mỗi ngày. Ngài gìn giữ trật tự trong vũ trụ nầy, và kết từng phân tử cũng như nguyên tử lại với nhau. Ngài không đỗ thừa cho mọi rắc rối, mà Ngài còn chịu đựng cùng với chúng ta trong từng cơn thử thách!
c. Người nào kinh hãi Đức Chúa Trời, không nhận biết Đức Chúa Trời, và vì cớ đó đối với Ngài khi qua đời trong nỗi sợ hãi! Đức Chúa Trời của cõi vũ trụ là một ngọn lửa hay thiêu đốt (Hêbơrơ 12.28, 29), cho tới chừng nào quí vị gặp Ngài tại đồi Gôgôtha, và tìm được ơn cứu rỗi!
2. Nàng đã gặp Ngài:
a. Trong ngày đó nàng đã tự hạ mình xuống kêu la với Đức Chúa Trời xin tha tội cho nàng – là ngày nàng tin cậy Đấng Christ để được sự sống đời đời!
b. Trong các trang của Quyển Sách nầy khi nàng đọc nó. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những người Mẹ với những quyển Kinh Thánh tả tơi đã được đọc qua, và biết khóc than! Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những bà mẹ, họ nhận biết Đức Chúa Trời của Quyển Sách nầy! Ôi! Quyển Sách nầy còn quan trọng hơn cả Neil Penderful, Marylin Finukin hay Ophra Winfry nữa!
c. Trong giờ tỉnh nguyện của nàng. Nàng đã gặp Ngài mỗi ngày ở trước ngôi của Ngài khi nàng quì gối xuống cầu nguyện và dốc đổ tấm lòng ra vì gia đình, các nhu cầu và những cơn đau đầu của nàng!
Nàng nhận biết Đức Chúa Trời – nàng đã gặp Ngài, từ lòng đến lòng! Và sự nhận biết đó đang tỏ ra trong đời sống của nàng.
QUÍ VỊ đã gặp Chúa Giêxu tại thập tự giá chưa? Quí vị đã được cứu ra khỏi tội lỗi của mình chưa?
B. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời – Yêu mến Đức Chúa Trời (1 Giăng 4.17-19)
1. Loại yêu mến nầy không tạo ra kinh hãi, mà tạo ra vui thích – chỉ có sự kính sợ Chúa mới tạo ra sự vui thích ấy (Thi thiên 34.4-10)!
a. Người nữ nầy khám phá ra điều răn lớn nhất (Phục truyền luật lệ ký 6.5) không phải là một gánh nặng, mà là một ơn phước và vui mừng chu tất! Ơn phước ấy đến thật tự nhiên cho người nữ Cơ đốc, là người chỉ sợ làm thương tổn Cứu Chúa của mình mà thôi (Phục truyền luật lệ ký 5.29)!
b. Khi quí vị nhận biết Đức Chúa Trời của Quyển Sách nầy, quí vị nhận biết Ngài là một Đấng trọn lành, chí thánh, trong sạch và công bình mà không một người nào có thể tiếp cận được vì cớ tội lỗi của họ! Không một ai! Không một ai, thậm chí là Mẹ Theresa!
c. Nỗi sợ đó khiến cho quí vị trước tiên là muốn trốn chạy! Tội lỗi sợ như thế đó!
d. Nghĩa là, cho tới chừng nào quí vị thấy Cứu Chúa, Con Đức Chúa Trời, đang chờ đợi để cứu lấy quí vị! Ấy là khi quí vị tìm gặp sự yêu thương thật, và tình cảm đó gạt bỏ sự kinh khiếp, hoảng sợ, rồi thay vào đó là tình yêu, lòng tin cậy và sự tha thứ của Đức Chúa Trời!
e. Và đấy là cách mà sự kính sợ tin kính mang lại một mối quan hệ đáng kinh ngạc, mối quan hệ đó có thể làm cho hai bên đối nghịch làm hoà lại với nhau – một tội nhân gian ác, bất kỉnh, chỉ đáng ở địa ngục; và một Đức Chúa Trời thanh sạch, trọn lành và thánh khiết!
2. Một người nữ kính sợ Đức Chúa Trời yêu mến Đức Chúa Trời hơn cả gia đình, và chồng của mình – Với mọi nổ lực của xã hội hòng hủy diệt “gia đình”, Kinh Thánh chú trọng đối với gia đình, và hướng con người vào việc yêu mến Đấng Christ TRƯỚC TIÊN! Nếu chúng ta tiếp lấy những việc LỚN, thì tất cả những việc nhỏ sẽ nối đuôi nhau sụp đổ hết!
a. Một người mẹ Cơ đốc mong muốn làm đẹp lòng Đấng Christ hơn bất cứ một việc gì khác – nàng vốn hiểu nàng rất có giá trị đối với Đức Chúa Trời, và quyết định làm cho Đức Chúa Trời biết Ngài có ý nghĩa đối với nàng là thể nào – trong mọi sự nàng bắt tay làm!
b. Đấy là chỗ mà nàng nhận lãnh khả năng biết yêu thương các tạo vật không đáng yêu như chồng và mấy đứa con hay loạn nghịch – từ chỗ được yêu, và kính mến Đức Chúa Trời. Quí vị có nhận biết tình yêu của Đức Chúa Trời chưa? Bạn có rơi vào tình yêu với Ngài chưa? Ngài rất đáng yêu! Là Đoá Hồng của Sarôn!
c. Mọi người trong gia đình nàng đều nhìn biết Đức Chúa Giêxu Christ nằm ở ưu tiên hàng đầu trong mọi sự Mẹ bắt tay làm – Ngài không phải là phụ thuộc, mà là tư tưởng duy nhất của nàng!
d. Còn mấy ông Bố!? Mọi người trong gia đình của quí vị cần phải biết điều nầy về QUÍ VỊ nữa!
C. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời – Hầu việc Đức Chúa Trời (Phục truyền luật lệ ký 10.12)
1. Người nữ Cơ đốc không phải là người nữ biếng nhác trong các vụ việc thuộc linh – Nàng phục vụ!
a. Và nàng phục vụ Đức Chúa Trời TRƯỚC HẾT!
1) Lời khen ngợi duy nhất BẤT CỨ một thánh đồ nào được vào trong thiên đàng là “được lắm, hỡi ĐẦY TỚ ngay lành và trung tín kia!”
2) Quí vị đang hầu việc ai? Có phải Đức Chúa Trời đem “thức ăn thừa” vào nhà của quí vị không, hay có phải Ngài là Vua của các vua?!
3) Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời, rất sợ Ngài bị hạ bệ! Nàng có một việc phải làm cho Đức Chúa Trời trước khi nàng làm việc chi đó cho chồng!
b. Nàng hầu việc Chúa bởi:
1) Việc trở thành người trung tín đưa dắt linh hồn, nàng làm hết sức mình để thuật cho người lân cận và bạn hữu mình biết về một Cứu Chúa là Chúa Giêxu! Nàng đang mở mắt họ!
2) Việc học hỏi Quyển Sách đủ để giảng dạy Sách ấy cho người khác.
3) Việc phục vụ các nhu cần của người khác cả về thuộc linh và về thuộc thể!
2. Người nữ Cơ đốc không phải là một người quá bật rộn – nàng dành thì giờ để hầu việc Đức Chúa Trời.
a. Nàng bảo vệ những ngày Chúa nhật – ngày của Chúa!
b. Nàng bảo vệ thì giờ tỉnh nguyện với Chúa Giêxu – cầu nguyện, và đọc Kinh Thánh
c. Nàng dành thì giờ để phục vụ người khác, là những người cần sự khích lệ, cần sự giúp đỡ, cần một người bạn Cơ đốc!
D. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời – Sẽ được ngợi khen (Châm ngôn 31.30; Giăng 12.42,43)
1. Trong một ngày khi có những người nữ tìm kiếm sự khen ngợi và chúc tặng từ mọi góc phố, tôi có mặt ở đây để nói cho quí vị biết rằng Đức Chúa Trời muốn chổi dậy và ngợi khen quí vị khi quí vị làm phải! Và Ngài sẽ nhìn thấy việc ấy, rồi quí vị sẽ nhận được hết thảy sự khen ngợi mà quí vị đáng được!
2. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời được gia đình mình khen ngợi
a. Được cứu hay bị hư mất – họ sẽ khen ngợi nàng vì tánh tình và sự đầy dẫy tình yêu thương mà chỉ có người Mẹ Cơ đốc biết hy sinh, tận tụy mới có! Không một ai kính trọng người Mẹ lấy cái tôi của mình làm thần bao giờ!
b. Chồng sẽ tôn trọng nàng – Đức Chúa Trời sẽ nhìn thấy sự kính trọng đó!
c. Con cái nàng sẽ chổi dậy và chúc nàng được phước – phước được ở cạnh nàng!
3. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời nhận lãnh sự khen ngợi bởi một Hội Thánh Cơ đốc chân thật
a. Ở đấy những người làm Mẹ được đánh giá cao, được xem trọng – chớ không phải chẳng có ai chú ý!
b. Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời vì cớ những người Mẹ tin kính! Đấy là điều tất nhiên!
4. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời nhận lãnh sự khen ngợi từ nơi Chúa!
a. Quí vị có Lời Đức Chúa Trời về sự khen ngợi đó – Ngài đã lập với quí vị một lời hứa!
b. Đức Chúa Trời tôn cao người nào tôn cao Ngài! Ngài đã viết ra cả chương nói về quí vị!
c. Hỡi những người làm Mẹ! Chúng tôi tôn cao quí vị vì quí vị đã tôn cao chúng tôi! Nhưng hết thảy chúng ta càng tôn cao quí vị hơn nữa khi quí vị quyết định tôn cao Chúa trong đời sống quí vị và gia đình của quí vị! Quí vị sẽ làm thế chăng? Quí vị sẽ kính sợ, yêu mến, tôn cao, và hầu việc Đức Chúa Giêxu Christ chăng?
IV. PHẦN KẾT LUẬN – Có ai ở đây muốn trở thành Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời không?
A. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời – Nhìn biết Đức Chúa Trời
1. Quí vị có nhận biết Đức Chúa Trời theo cách riêng chưa? Quí vị đã ăn năn tội và được cứu chưa?
2. Nếu rồi, có phải quí vị gặp gỡ Ngài mỗi ngày:
a. Trong những trang giấy của Quyển sách nầy
b. Trong giờ tỉnh nguyện của quí vị!
B. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời – Yêu mến Đức Chúa Trời
1. Lấy làm vui thích trong mối giao thông của mình với Đấng Christ
2. Nghĩa là có khả năng yêu thương loài thọ tạo chẳng đáng yêu thương như chồng, như các đứa con loạn nghịch – phát xuất từ chỗ được yêu, và kính sợ Đức Chúa Trời
C. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời – Hầu việc Đức Chúa Trời
1. Có phải quí vị là người nữ biếng nhác trong các vụ việc thuộc linh? Hãy hầu việc Đức Chúa Trời! Hãy giữ Ngài TRÊN HẾT!
2. Người nữ Cơ đốc không phải là một người quá bận rộn – nàng biết sử dụng thì giờ
a. Nàng bảo vệ những ngày Chúa nhật – ngày của Chúa!
b. Nàng bảo vệ thì giờ tỉnh nguyện với Chúa Giêxu – cầu nguyện, và đọc Kinh Thánh
c. Nàng dành thì giờ để phục vụ người khác đang cần sự khích lệ, đang cần sự giúp đỡ, đang cần một người bạn Cơ đốc!
D. Người nữ kính sợ Đức Chúa Trời – Sẽ được ngợi khen
Tôi đứng ở đây, bây giờ, và dâng lời cảm tạ Chúa vì cớ những người Mẹ tin kính! Tôi hô lên lớn tiếng và vui mừng vì những người làm Mẹ biết kính sợ Đức Chúa Trời hơn bất cứ điều chi khác! Tôi không làm gì khác hơn là tiếp thu sự hưng phấn về những người làm Mẹ, họ đã hết lòng hầu việc Chúa của họ! Cảm tạ quí vị, những người làm Mẹ!

Ngày Mẫu Thân: Rítba, Người Mẹ Gương Mẫu



RÍTBA, NGƯỜI MẸ GƯƠNG MẪU
II Samuên 21.5-14
James McCull
“Họ đáp cùng vua rằng: Người ấy có diệt trừ chúng tôi; người có toan mưu làm cho chúng tôi biến mất khỏi cả địa phận Y-sơ-ra-ên…. Thế thì, hãy phó cho chúng tôi bảy người trong những con trai người; chúng tôi sẽ treo chúng nó trước mặt Đức Giê-hô-va ở Ghi-bê-a, thành của Sau-lơ là người được Đức Giê-hô-va chọn. Vua đáp: Ta sẽ phó chúng nó cho. Đa-vít dong thứ Mê-phi-bô-sết, con trai của Giô-na-than, cháu của Sau-lơ, vì cớ lời thề Đa-vít và Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, đã lập với nhau trước mặt Đức Giê-hô-va. Nhưng vua bắt Át-mô-ni và Mê-phi-bô-sết, hai con trai của Rít-ba, con gái của Ai-gia, đã sanh cho Sau-lơ, và năm con trai của Mi-canh, con gái Sau-lơ đã sanh cho At-ri-ên, con trai của Bát-xi-lai ở Mê-hô-la, mà giao cho dân Ga-ba-ôn; chúng treo họ lên trên núi tại trước mặt Đức Giê-hô-va. Bảy người ấy đều bị chết chung với nhau, người ta giết họ nhằm mấy ngày đầu mùa gặt lúa mạch. Rít-ba, con gái Ai-gia, bèn lấy một cái bao trải trên hòn đá dùng làm giường mình. Rồi từ đầu mùa gặt cho đến khi có mưa từ trên trời sa xuống trên thây chúng nó, ban ngày nàng cản không cho chim trời đậu ở trên thây, và ban đêm cản không cho thú đồng đến gần. Có người học lại cho Đa-vít sự Rít-ba, con gái Ai-gia, hầu của Sau-lơ đã làm. Vua bèn đi đến dân sự Gia-be trong xứ Ga-la-át, lấy hài cốt của Sau-lơ và của Giô-na-than, con trai Sau-lơ, mà dân ấy lấy trộm khỏi Bết-san, là nơi dân Phi-li-tin treo họ lên trong ngày chúng nó đánh bại Sau-lơ tại Ghinh-bô-a. Vậy, từ Gia-be, vua đem lại hài cốt của Sau-lơ và của Giô-na-than, con trai người, người ta cũng lấy hài cốt của những người đã bị treo, chôn nó với hài cốt của Sau-lơ và Giô-na-than, con trai người, trong mộ của Kích cha của Sau-lơ, ở Xê-la, tại địa phận Bên-gia-min. Người ta làm mọi điều y như vua đã dặn biểu. Về sau Đức Chúa Trời mới đoái thương đến xứ”.
PHẦN GIỚI THIỆU:
Mấy người bạn của bà mẹ trẻ có ba đứa con kia rất đỗi ngạc nhiên khi họ nhận được thư cảm ơn sau khi họ đã tặng cây viết cho bà mẹ trẻ nầy:
“Rất biết ơn nhiều vì cây viết ấy. Nó được đem ra dùng mỗi ngày từ 2 đến 3 giờ chiều. Tôi có thì giờ để đọc sách và mấy đứa nhỏ không thể đến gần tôi được”.
Mẹ của con là Sự Sáng của thế gian.
Một cậu thiếu niên quên trả câu gốc trong Lớp Trường Chúa Nhật. Mẹ nó có mặt nơi hàng ghế đầu để nhắc cho nó nhớ. Bà ra dấu và nhắc khẽ câu gốc bằng môi miệng của mình, song chẳng có tác động gì hết. Trí nhớ của con trai bà hoàn toàn trống rỗng. Sau cùng, bà mẹ nầy mới nghiêng người tới phía trước thì thầm vào tai nó: “Ta là sự sáng của thế gian”. Đứa con cười thật tươi, bằng giọng nói dõng dạc, nó đáp liền: “Mẹ của con là sự sáng của thế gian”. Thiệt là tội nghiệp.
1. RÍTBA, NGƯỜI MẸ NÊU GƯƠNG TRONG TÌNH YÊU CỦA MÌNH, câu 10
“Rít-ba, con gái Ai-gia, bèn lấy một cái bao trải trên hòn đá dùng làm giường mình. Rồi từ đầu mùa gặt cho đến khi có mưa từ trên trời sa xuống trên thây chúng nó, ban ngày nàng cản không cho chim trời đậu ở trên thây, và ban đêm cản không cho thú đồng đến gần”.
A. TÌNH YÊU CỦA RÍTBA VÀ NÉT ĐẸP ĐẼ CỦA NÀNG.
Thiếu phụ nầy có tên là Rítba, là hầu của Saulơ. Bà sanh cho ông hai người con trai. Có lẽ bà là một người Hôrít, dân Ngoại. Tên của bà có nghĩa là “nóng nảy” hay “hòn đá sặc sỡ”. Điều nầy có quan hệ tới nét đẹp bề ngoại của bà. Bà không thể trở thành hầu nếu bà không có một nhan sắc bề ngoài đẹp đẽ như thế. Đây cũng là lý do một trong các con trai của Saulơ bị tố cáo đã lấy Rítba làm hầu sau khi Saulơ qua đời (II Samuên 3.7).
B. TÌNH YÊU CỦA RÍTBA VÀ VIỆC CHÔN CẤT.
Dù Rítba có như thế nào đi nữa, bà đã chứng tỏ thái độ tin yêu đối với các con trai của mình. Có một cơn đói kém xảy ra trong xứ. Rítba vốn biết rõ cơn đói kém nầy xảy ra là do tội lỗi của Saulơ gây ra khi ông phá vỡ giao ước với người Gabaôn. Hành động của Saulơ đã khiến cho Đức Chúa Trời phải sử dụng tới hạn hán và đói kém. Nếu bà biết rõ điều nầy, bà cũng biết rõ các con trai của Saulơ sẽ bị người Gabaôn đòi làm của lễ thôi.
Tuy nhiên, bà không muốn các con trai của mình phải chịu chết. Chắc chắn bà không muốn các con trai mình trở thành bữa tiệc cho loài kên kên và các thú hoang trong rừng. Nếu các con bà phải chết, bà muốn chúng phải được chôn cất ở một nơi xứng đáng.
C. TÌNH YÊU CỦA RÍTBA VÀ BÀ ĐÃ LÀM HẾT SỨC MÌNH.
Rítba vốn yêu thương các con trai mình và lòng tin yêu của bà dành cho chúng là một tấm gương. Lòng tin yêu của bà đã khiến cho bà phải đồng hóa với nỗi đau khổ và xấu hổ của mấy chàng trai nầy. Bà không lảng tránh chúng trong thì giờ chúng có cần. Bà đã có mặt ở đó, bên cạnh các con trai mình. Lòng tin yêu của bà đã khiến cho bà phải ở lại bên chúng trong suốt những tháng trời xấu hổ đó. Người ta cần tới gia đình nhất trong những lúc có cần.
Họ thông cảm và sự hiện diện của họ rất nâng đỡ là dường nào. Câu 10 cho chúng ta biết bà đã trải một cái bao làm giường ngủ trên một hòn đá. Có một vài lý do cho việc làm nầy.
1) Bà tỏ ra sự ăn năn của bản thân mình và sự ăn năn của cả xứ.
2) Bà đã dùng cái bao ấy làm chỗ để nằm.
3) Bà đã dùng cái bao ấy làm lều trại để ở.
Khi chỗ ở là một cái bao, theo ý của tôi, cái bao là biểu hiện cho sự ăn năn. Khi bà là hầu của Saulơ, đương nhiên bà có cái gì đó khác để choàng quanh người, nếu bà không muốn nhấn mạnh sự ăn năn.
Phần b của câu 10 nói hành động của bà trong các tháng đau khổ nầy. Bà đã giữ không cho chim ăn mồi và thú hoang tới gần thây của các con trai mình. Trong khi dự tính của người Gabaôn là để thây của các con trai Saulơ cho loài kên kên và thú rừng hoang ăn thịt. Có một trình tự cho sự việc nầy trong thiên nhiên. Loài kên kên đến khi loài chó rừng chờ đợi để được ăn thịt, và sau cùng loài quạ đến để làm cho mấy cái xương được sạch sẽ. Chắc chắn là mấy cái thây đó sẽ bị rỉa cho đến khi chúng sạch sẽ không có gì còn lại. Rítba mong muốn các con trai mình được chôn cất tử tế. Bà đã làm hết sức mình để đuổi bầy kên kên đi.
Tại sao vậy? Vì cớ lòng tin yêu của bà dành cho các con mình.
MỘT NHÀ TRUYỀN ĐẠO TÔI QUEN NÓI: CHỨC NĂNG LÀM MẸ KHÔNG THỂ GIAO CHO KẺ HÈN NHÁT ĐƯỢC.
Minh hoạ: Có một người mẹ có lòng quan tâm đến đứa con trai duy nhất của mình khi nhập trường. Bà đã viết bức thư sau đây gửi cho Thầy Hiệu Trưởng.
“Thưa ông: Con trai tôi đã được nhận vào trường của ông và không bao lâu nữa nó sẽ lìa khỏi tôi. Tôi viết thư nầy xin ông làm ơn chú ý tới sự tuyển chọn bạn cùng lớp với nó. Tôi muốn biết chắc rằng bạn cùng lớp với nó không phải là hạng người sử dụng cách ăn nói phàm phu tục tử, hoặc hút thuốc, uống rượu hay lo chim gái. Tôi hy vọng ông sẽ thông cảm lý do tại sao tôi nói thẳng điều nầy với ông. Ông thấy đấy, đây là lần đầu tiên con trai tôi sống xa nhà, trừ ra ba năm trong đơn vị Hải Quân”.
Ứng dụng
Rítba là một tấm gương cho thái độ quan tâm của một người Mẹ đối với con cái của mình. Bà đã giữ không cho loài kên kên và thú đồng đến gần, chúng ta cũng nên làm theo đó với ý nghĩa thuộc linh.
Có một con kên kên tình dục đang chờ mồi chài lớp thanh niên của chúng ta. Đây là một con kên kên đã được tách ra khỏi văn mạch của Kinh Thánh. Tình dục bừa bãi và trước hôn nhân là một con kên kên. Tôi nghe kể về một người mẹ (giả sử là một Cơ đốc nhân) bà đã trang bị cho con gái của mình với những kỹ thuật tránh thai vì cớ đường lối sinh sống của thanh niên ngày nay. Đấy không phải là cách chiến đấu với loài kên kên.
Có một con thú hoang ma túy nữa. Chúng ta sẽ chiến đấu với con thú ấy. Không nên để cho lớp thanh niên đồng hóa với thể loại văn hóa ma túy. Một số thể loại nhạc rock là một con thú hoang.
Đi một vòng chơi với “hủ” và cho là thứ ma túy vô hại là việc không nên làm với Cơ đốc nhân. Bố và Mẹ cần phải chiến đấu với con thú hoang nầy.
Mặc dù các tư tưởng nầy không thực tế trong phân đoạn Kinh Thánh, có nhiều tư tưởng tương đương dễ thể hiện lắm. Rítba là một tấm gương vì bà đã dâng mình cho phần việc. Hãy chú ý tấm gương của bà qua sự thể hiện của bà.
II. RÍTBA, NGƯỜI MẸ NÊU GƯƠNG TRONG SỰ THỂ HIỆN CỦA MÌNH, câu 10.
“Rít-ba, con gái Ai-gia, bèn lấy một cái bao trải trên hòn đá dùng làm giường mình. Rồi từ đầu mùa gặt cho đến khi có mưa từ trên trời sa xuống trên thây chúng nó, ban ngày nàng cản không cho chim trời đậu ở trên thây, và ban đêm cản không cho thú đồng đến gần”.
A. RÍTBA THỂ HIỆN BẰNG SỰ LIỀU MẠNG.
Rítba chỉ là một nàng hầu gái. Bà không phải là một người vợ. Hầu gái có thể được coi là vật sở hữu. Thực ra, nếu cha của Rítba, là Aigia, là người Hôrít đã được nhắc tới trong I Sử ký 1.40, thì bà là một nàng hầu thuộc dân Ngoại. Người ta sẽ không dành nhiều sự tôn trong cho bà và điều nầy sẽ làm cho mọi thể hiện của bà dễ được chú ý hơn. Bà đã liều mạng bằng cách thể hiện tình yêu của mình, tuy nhiên, bà là một tấm gương.
B. RÍTBA ĐÃ THỂ HIỆN TRƯỚC SỰ CHẾ NHẠO.
Đối với dân sự thời nay, chịu chết theo tư thế của các con trai Rítba bị xem là mất danh dự. Thế mà Rítba vẫn thể hiện tình yêu của mình ra và đồng hóa với tình trạng của các con mình. Bà đã thể hiện một thái độ tin quyết bằng cách bày tỏ ra: “Tôi chịu chết ở đây trước khi tôi để cho mấy con thú đồng ăn thịt thi thể các con của tôi”. Tôi nghĩ bà cũng bày tỏ ra rằng bà sẽ thực hiện vài thái độ hy sinh nào đó để kiếm cho kỳ được một nơi chôn cất các con của mình.
Minh họa
Một sinh viên thần học ở Ft. Worth, Texas, tới tham quan một nghĩa trang. Anh ta để ý thấy có một người đờn bà. Bà đang khóc cách cay đắng lắm… Anh bước đến bên bà ta và nhận ra bà ta là mẹ của Oswald, kẻ ám sát Cố Tổng Thống John F. Kenedy. Bà nói: “Có ai quan tâm rằng con tôi bị giết hay không?” Không một ai khác ở đó trừ ra người mẹ, nhưng cũng giống như Rítba thôi, bà đã thể hiện tình yêu của mình.
Minh họa
Một thiếu niên về sau trở thành Thống Đốc bang Massachusetts có lần sắp bị chết đuối. Chiếc thuyền cậu có mặt trên đó đã bị lật úp, và cậu phải lội hơn cả dặm đường; nhưng sau cùng cậu cũng vào đến bờ an toàn; rồi khi cậu về tới nhà thuật lại cho mẹ mình nghe khoảng xa mà cậu đã lội bơi như thế, bà hỏi cậu làm thể nào mà cậu bơi xa được như thế!?! Cậu ta đáp: “Thưa mẹ, con nghĩ tới mẹ và cứ việc bơi”. Tư tưởng về người Mẹ đã giúp cho cậu ta trong giờ phút có cần nhất của mình, và nhơn đó cứu lấy mạng sống của cậu ta, không những cho bản thân cậu ta và cho mẹ cậu ta, mà còn cho tiểu bang và đất nước nữa.
Ứng dụng
Nếu các con trai của Rítba cứ sống sau thời điểm ấy, họ sẽ luôn ghi nhớ sự bày tỏ của mẹ họ. Chị tôi là Joyce cứ kể lại nhiều cơ hội ảnh hưởng của Mẹ chúng tôi đã tác động trên đời sống của chị ấy. Chị ấy nhớ luôn những gì Mẹ đã nói hoặc thể hiện ra trong đời sống của bà. Em gái tôi là Maureen và tôi cũng ghi nhớ nữa. Chúng tôi có một người mẹ, bà đã bày tỏ ra đức tin của mình. Chúng ta cũng thấy gương ấy nơi Rítba.
III. RÍTBA, NGƯỜI MẸ NÊU GƯƠNG TRONG SỰ CỐNG HIẾN CỦA MÌNH, câu 9-11
“Rít-ba, con gái Ai-gia, bèn lấy một cái bao trải trên hòn đá dùng làm giường mình. Rồi từ đầu mùa gặt cho đến khi có mưa từ trên trời sa xuống trên thây chúng nó, ban ngày nàng cản không cho chim trời đậu ở trên thây, và ban đêm cản không cho thú đồng đến gần. Có người học lại cho Đa-vít sự Rít-ba, con gái Ai-gia, hầu của Sau-lơ đã làm”.
A. SỰ CỐNG HIẾN CỦA RÍTBA NƠI BỀ MẶT CỦA KHÓ KHĂN.
Phân đoạn Kinh Thánh chép: “Rồi từ đầu mùa gặt cho đến khi có mưa từ trên trời sa xuống trên thây chúng nó, ban ngày nàng cản không cho chim trời đậu ở trên thây…”. Hầu hết các nhà giải kinh cho rằng khoảng thời gian nầy là từ tháng Tư đến tháng Mười. Câu 13 cho chúng ta biết hài cốt của các người con đã được đem chôn cất, vì thế cần phải có một thời gian dài cho tới lúc hài cốt được chôn cất. Làm sao bà làm được việc đó chứ? Chúng ta có thể nói bà có một số tớ gái đến phụ giúp. Không nghi ngờ chi nữa, có người đã đem đến cho bà thức ăn và nước uống. Bà phải ngủ nghỉ và có lẽ một số tôi tớ đã trông chừng khi bà nằm ngủ. Nhưng rốt lại, bà đã cống hiến hết mình cho phần việc của mình.
B. SỰ CỐNG HIẾN CỦA RÍTBA TRƯỚC MỐI NGUY HIỂM.
Vì Rítba muốn trở thành một người mẹ đánh đuổi bầy kên kên và thú đồng đi, bà đã trở thành người mẹ đó. Sự cống hiến tạo ra một sự khác biệt. Mới đây trên vô tuyến truyền hình có một chương trình gọi là “Những người mẹ siêu đẳng”. Một người mẹ có 6 đứa con, một công việc trọn thời gian và v.v… Làm sao bà nầy có thể đảm hết được chứ? Bà muốn trở thành một người mẹ vĩ đại và cống hiến hết mình cho phần việc ấy.
Sự cống hiến chắc chắn đã làm cho mọi người phải chú ý tới. Câu 11 chỉ ra David nhìn biết hành động của Rítba. Bà muốn có một sự chôn cất tử tế cho các con trai mình, song bà không hề mơ chúng sẽ nhận được một sự chôn cất theo kiểu vương giả. Sự cống hiến của bà đã có phần thưởng.
Minh họa
Thợ điêu khắc đã bỏ ra nhiều giờ trong việc nắn đúc đường nét của khuôn mặt; thợ vẽ lao động để cung ứng màu sắc cho mái tóc hay ấn tượng trên khuôn mặt. Công việc của họ là làm cho các thế hệ hầu đến. Nhưng một người mẹ đang nắn đúc các thực chất còn tồn tại lâu dài hơn bức vẽ hay bức tượng. Bà có thể chịu đựng kiên nhẫn và chờ đợi lâu dài đủ để nhận lấy các kết quả. Bà có cả cõi đời đời trong đó để quan sát sự phát triển.
Ứng dụng
Hỡi những bà mẹ, quý vị bằng lòng bỏ ra bao nhiều thời gian cho trách nhiệm làm Mẹ? Quý vị bằng lòng chịu đựng, nhẫn nhục và cống hiến như thế nào? Ngay bây giờ quý vị chưa có ao ước gì với con cái của mình. Các kết quả sau cùng chưa thấy. Rítba chưa thành công trong một hay hai tháng, thế nhưng sự cống hiến của bà đã vực bà lên cao. Trong hội chúng của chúng ta ngày nay, Sylvia Butler đang thờ phượng. Bà có một đứa con trai mà bà đã cầu thay cho, và giờ đây anh ta đã được cứu. Hỡi người làm Mẹ, đừng bỏ đi niềm hy vọng; cứ tiếp tục sống cống hiến cho chức năng làm mẹ.
PHẦN KẾT LUẬN:
Một số người trong quí vị ở đây hôm nay đang ra sức làm một người Mẹ, song quí vị chưa có mối thông công với Đấng Christ. Chúng tôi nài mời quí vị đưa ra một sự đầu phục công khai đối với Chúa Jêsus. Món quà lớn lao nhất có thể dâng cho Mẹ mình là một đứa con Cơ đốc, dù trai hay gái. Hãy đưa ra quyết định của quí vị khi chúng tôi đưa ra lời mời gọi.
Gởi những người làm Mẹ có thái độ quan tâm tin kính:
“Mấy đứa con đều đã vào nhà hết chưa?”.
Tôi nhớ khi đêm xuống,
trên mái nhà ở trên đồi,
với một cái sân thật rộng và bầu trời đầy sao.
Bầy trẻ đang nô đùa ở đó, rồi khi trời tối hẳn,
chúng chạy ùa vào để ăn tối,
Mẹ nhìn quanh và hỏi:
“Các con đã vào nhà hết chưa?”
Từ đó cho tới bây giờ,
nhiều năm tháng trôi qua,
ngôi nhà xưa nằm trên đồi.
Không còn tiếng chân của bầy trẻ nữa,
và cái sân nằm yên bình, lặng lẽ.
Nhưng tôi còn thấy rõ mọi sự,
khi bóng đêm len lén về,
và nhiều năm tháng trôi qua,
tôi hãy còn nghe thấy tiếng mẹ hỏi:
“Các con đã vào nhà hết chưa?”
Tôi lấy làm lạ
một khi bóng đêm dần buông xuống,
khi chúng ta chào giã từ thế gian.
Ai nấy đều thấm mệt với trò chơi của trẻ con,
khi chúng tôi bước ra Vùng Đất Khác,
nơi mà Mẹ ở lâu dài kia.
Chúng tôi hãy còn nghe tiếng hỏi của bà,
y như ngày xưa đó:
“Các con đã vào nhà hết chưa?”
--Florence Jones Hadley

1. RÍTBA, NGƯỜI MẸ NÊU GƯƠNG TRONG SỰ TIN KÍNH CỦA MÌNH, câu 10
2. RÍTBA, NGƯỜI MẸ NÊU GƯƠNG TRONG SỰ THỂ HIỆN CỦA MÌNH, câu 10
3. RÍTBA, NGƯỜI MẸ NÊU GƯƠNG TRONG SỰ CỐNG HIẾN CỦA MÌNH, câu 9-11

Ngày Mẫu thân: Một Người Mẹ Biết Kính Sợ Chúa



MỘT NGƯỜI MẸ BIẾT KÍNH SỢ CHÚA
Châm ngôn 31.10-31
Câu gốc là câu 30
PHẦN GIỚI THIỆU: Bạn có biết ý tưởng về Ngày Mẫu Thân đã phát sinh từ một Hội Thánh nhỏ thuộc hệ phái Trưởng Lão ở Grafton, Tây Virginia không? Lúc ấy là năm 1876 và xứ sở vẫn còn than khóc cái chết của cuộc Nội Chiến. Trong khi dạy một bài về Lễ Truy Điệu, Bà Anna Reeves Jarvis đã nghĩ đến những bà mẹ bị mất con cái của họ. Bà cầu nguyện một ngày kia sẽ có một “ngày truy điệu” dành cho các bà mẹ. Lời cầu nguyện đã gây ấn tượng sâu sắc lên một trong số 11 người con của Bà Jarvis. Young Anna đã nhìn thấy mọi nổ lực của mẹ mình để hiệp một cộng đồng bị chiến tranh làm phân hoá cùng Hội Thánh lại với nhau. Khi cô lớn lên ở tuổi trưởng thành, cô thiếu nữ nầy đã giữ lấy giấc mơ của Bà Jarvis trong tấm lòng mình. Vào ngày mất của mẹ mình, Anna đã quyết định thiết lập Ngày Mẫu Thân để tôn cao bà.
Vào ngày 12 tháng 5 năm 1907, một sự tuân giữ tại địa phương được duy trì, sau đó lan rộng tới Philadelphia. Đến năm 1910, Ngày Mẫu Thân đã được tổ chức trong 45 tiểu bang, Puerto Rico, Hawaii, Canada, và Mexico. Với sự phấn khởi tự hào, Cô Jarvis đã nói với một người bạn: "Chừng nào lễ nầy không còn tổ chức nữa, thì phải để cho tương lai quyết định. Chắc chắn lễ nầy sẽ lan rộng khắp toàn cầu cho xem!”
Vào ngày 8 tháng 5 năm 1914, Tổng Thống Wilson đã ấn định ngày Chúa nhật thứ nhì trong tháng 5 là Ngày Mẫu Thân "để treo cờ Hoa kỳ và để bày tỏ ra công khai tình cảm và sự tôn kính dành cho các bà mẹ trên cả nước”.
Tôi muốn chúng ta sáng hôm nay tra xem Kinh Thánh và từ chính mình Đức Chúa Trời nhìn thấy đâu là ý chỉ của Ngài dành cho các Bà Mẹ, phải, cho hết thảy giới nữ. Kinh Thánh áp dụng cho hết thảy chúng ta, các bà làm mẹ, những người làm cha, hết thảy nam và nữ giới. Nhưng ở đây Đức Chúa Trời đặc biệt nói tới ý chỉ và mục đích của Ngài dành cho các bà làm Mẹ. Đây là lời kêu gọi và mục đích cao cả nhất của giới nữ. Đây là nền tảng cho một đời sống sung mãn và hạnh phúc. Không biết đến lời kêu gọi nầy, có nghĩa là đau đầu, buồn thảm và thất vọng to lớn lắm! Không biết đến lời kêu gọi nầy có nghĩa là sống một đời sống kém cõi hơn đời sống mà Đức Chúa Trời đã dự trù cho bạn phải sống.
MINH HOẠ: Tôi có nhận một bức thư cả tuần lễ trước Ngày Mẫu Thân vào năm 1992, từ một phụ nữ ở Hội Thánh quê nhà của chúng tôi, Hội Thánh Calvary Baptist. Tên của bà ta là Linda Tise . Bà rất yêu mến Chúa, hiển nhiên Đấng Christ là trọng tâm của đời sống bà. Tôi là giáo viên Trường Chúa nhật dạy bà ta trong ba năm trời. Tôi muốn chia sẻ với bạn một số điều từ bức thư của bà ta.
Về đứa con gái, bà ta nói: "Tôi cảm thấy con gái tôi đang tấn tới trong Chúa năm nay và đấy là một trong các ơn phước to lớn nhất của tôi". Bà giải thích về ảnh hưởng của một cặp vợ chồng trong Hội Thánh có trên đứa con gái của bà ta.
Bà ta nói về sự phấn hưng mà họ đã có và làm thể nào có nhiều người đã được cứu. Một vài thuộc viên trong Hội Thánh đã được cứu kể cả con trai của vị Mục sư chủ toạ. Bà ta khích lệ chúng tôi cứ ở gần bên Chúa. Bà ta cảnh cáo về Ma Quỉ đang ra sức hủy diệt chúng tôi và tình trạng đắc dụng của chúng tôi cho Chúa. Bà ta xin cầu nguyện cho một vài người đang có những nhu cần trong Hội Thánh. Bà ta xin cầu nguyện cho chính bà để "bà và gia đình sẽ được Chúa đại dụng".
Có người xem bà ta chỉ là một cô gái vùng đồng bằng. Bà ta luôn luôn ăn mặc gọn ghẽ, đàng hoàng và có một nụ cười rất là đẹp. Bà ta là một viên ngọc gắn trên vương miện của Đức Chúa Trời. Nếu bạn đến nhóm tại nhà thờ, bạn sẽ không nhận biết bà ta đâu! Nhưng bà ta luôn luôn trung tín, có mặt ở đó mỗi buổi nhóm, sẵn sàng và làm mọi sự bà ta có thể để hầu việc Chúa của mình.
Hội Thánh ấy có một số phụ nữ giống như bà nầy vậy. Bạn sẽ nhận ra trong tuần nầy và thấy chiếc xe của bà ấy đậu ở ngoài nhà thờ. Bà ấy đang lo dọn dẹp ở bên trong. Dù chẳng có ai để ý, song bà ấy cứ trung tín hầu việc Chúa. Năm 1977, khi lần đầu tiên chúng tôi đến nhóm ở đó, thì đã có khoảng 40 người. Hiện nay nhà thờ có khoảng 700-800 người thường dự nhóm.
Một người mẹ trẻ khác, tên là Carolyn. Bà và hai đứa con gái đã tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của họ. Họ cũng ước ao muốn nhìn thấy chồng bà ta được cứu nữa. Bà nầy đều đặn xin Hội Thánh cầu nguyện để ông sẽ tiếp nhận Đấng Christ. Ở cuối những buổi thờ phượng, người ta thấy bà ở trước nhà thờ cùng quì gối với hai đứa con gái cầu xin cho chồng bà được cứu. Bà không lấy làm xấu hổ mà tiến tới phía trước rồi cầu nguyện cho người thân yêu và gia đình mình. Bà nầy cứ trung tín nhóm lại với Hội Thánh và dạy dỗ một lớp thiếu nhi. Hết năm nầy sang năm khác trôi qua mà chẳng có một sự thay đổi nào nơi phần chồng của bà ta. Nhưng bà cứ giữ lòng trung tín với Chúa, thành kính với Hội Thánh chúng tôi, và sống một đời sống tin kính. Đến năm 1986, tháng 7...vào sáng Chúa nhật, cuối buổi thờ phượng có lời mời gọi tiếp nhận Đấng Christ và chồng của bà là Junior Martin đã tiến lên phía trước và được cứu một cách vinh hiển. Thế là cả gia đình đã hội hiệp trọn vẹn trong Đấng Christ. Đức Chúa Trời đã đại dụng họ trong Hội Thánh đó. Họ không nổi bật lắm đâu, bạn sẽ không nhận ra họ, nhưng họ yêu mến Chúa và trung tín hầu việc Ngài.
Nhiều năm trước đó một nữ Cơ đốc yêu dấu khác vốn yêu thương chồng và đã cầu nguyện xin Đức Chúa Trời cứu ông ấy. Bà nầy chẳng có làm tình làm tội gì hoặc tranh luận với ông. Mỗi Chúa nhật bà cùng với đứa con trai chực sẵn ở nhà thờ và trung tín nhóm lại hết năm nầy sang năm khác. Chồng bà ta tuyệt đối chẳng có để ý gì đến Đức Chúa Trời cả. Bà nầy luôn luôn khiêm nhường trong sự phục sức, là một người vợ và một người mẹ biết yêu thương, và sống một đời sống tin kính. Ngày kia, Đức Chúa Trời đã chạm đến tấm lòng của chồng bà ta và ông ta đã đến với Đấng Christ. Một phần quan trọng trong sự cứu ấy chính là sự làm chứng của người vợ. Chồng bà ta đứng trước mặt bạn ngày nay chính là vị Mục sư chủ toạ của bạn đấy!
Tại sao Đức Chúa Trời lại sử dụng ba người phụ nữ nầy? Họ kính sợ Đức Chúa Trời và Ngài chính là mấu chốt quan trọng nhất trong đời sống của họ.
I. NGƯỜI NỮ NÀO KÍNH SỢ ĐỨC GIÊHÔVA SẼ ĐƯỢC KHEN NGỢI”. Châm ngôn 31.30
A. Câu 30 của Châm ngôn 31, là trọng tâm của vấn đề. “Nhưng người nữ nào kính sợ Đức Giêhôva sẽ được khen ngợi”.
B. Kính sợ Chúa, câu nầy có ý nói đến điều gì?
1. Phần minh hoạ chỉ ra việc làm thực tế của một người nữ tin kính biết kính sợ Đức Chúa Trời.
2. Từ Hy bá lai là "yir' a" và có nghĩa là một "phản ứng của tình cảm, sợ hãi, hay e sợ, và có sự tôn kính dành cho Đức Chúa Trời, một sự kính trọng sâu sắc".
3. Ở nhiều chỗ trong Cựu ước cách sử dụng từ ngữ kinh sợ Đức Chúa Trời và sống xứng đáng được kết hợp gắn bó với nhau, chúng là những ý tưởng có đồng nghĩa. Nếu một người biết kính sợ Đức Chúa Trời, thì sẽ kết quả trong việc sống một đời sống tin kính. Sự sợ hãi được thấy giống như một lực tác động tạo ra đời sống công nghĩa.
4. Xuất Êdíptô ký 1.17: “Nhưng các bà mụ kính sợ Đức Chúa Trời, chẳng làm theo lời vua Êdíptô phán dặn, đều để cho các con trai sống hết”. Trong Xuất Êdíptô ký 1.21 Đức Chúa Trời đã giàu ơn ban thưởng cho họ.
5. Sự sợ hãi tin kính là kết quả của việc tin theo Đức Chúa Trời! Khi một người thực sự nhìn biết Đức Chúa Trời, sự nhìn biết đó sẽ mang lại một sự kính sợ Đức Chúa Trời.
Hầu hết mọi người đều có một cái nhìn nhỏ nhoi về Đức Chúa Trời. Dù vậy, Ngài đã dựng nên toàn bộ vũ trụ...Kinh Thánh nói Ngài dựng nên muôn vật từ chỗ không không. Đem so sánh với chúng ta, Ngài sẽ trỗi hơn mọi điều chúng ta có thể suy tưởng.
6. Tin tưởng thực sự tạo ra một sự kính trọng sâu sắc và thành tâm với Đức Chúa Trời.
MINH HOẠ: Khi tôi còn sống ở nước Đức, năm 1962, chúng tôi có một cuộc kiểm tra. Người nầy là giới chức sau cùng trên hết mọi người chúng tôi kể cả người chỉ huy nhóm chúng tôi. Chúng tôi đã thấy sợ hãi ông ta sẽ giết chúng tôi, hoặc làm hại chúng tôi....nhưng ông ta có quyền chấp thuận hay không chấp thuận chúng tôi trong vai trò một Tổ Phóng Tên Lửa. Nếu chúng tôi không được chấp thuận....thì thật là khó cho chúng tôi lắm. Nhưng vì chúng tôi biết kính nể uy quyền của ông ta cao hơn chúng tôi, chúng tôi thực sự chịu khó làm việc để tự minh chứng mình sẵn sàng chiến đấu.
Khi chúng tôi đứng vào hàng, ông ấy đến thẩm tra tôi, rồi hỏi tôi đến từ lúc nào. Tôi lấy làm sợ hãi khi ấy, lúc tôi nhìn thấy ông ta, tôi đã muốn bỏ chạy trốn rồi. Tôi không sợ ông ta, vì tôi rất nhạy bén! Người tôi đổ mồ hôi hột, từ đầu tới chân....tôi biết rõ lịnh lạc, đồng phục mình rất đường hoàng...vì tôi đã sửa soạn và là một người lính giỏi thì chẳng có gì phải lo sợ cả. Tôi là Xếp của Nhóm Thông Tin Liên Lạc và khi ông ta đã thẩm tra tôi sau đó thì đơn vị của tôi không có vấn đề gì...tại sao? Bởi tiêu chuẩn nhà binh, tôi và trung tâm của tôi, cùng nhân sự đã sống rất ngay thẳng! Nói như thế có nghĩa là chúng tôi biết tuân theo lịnh lạc là thi hành đúng đắn. Phải, chúng tôi e sợ ông ta, nhưng chúng tôi không sợ hãi vì chúng tôi đã sẵn sàng.
Tôi tin cũng một thể ấy với Đức Chúa Trời. Khi một người đạt tới mức hiểu biết Đức Chúa Trời thực sự là ai....họ liền bỏ mọi sự loạn nghịch và dại dột đi. Họ xem trọng sự hầu việc Đức Chúa Trời là Đấng đã dựng nên họ!
Kế đó họ muốn vâng theo Đức Chúa Trời, họ muốn đi theo Ngài và sống đời sống của họ vì sự vinh hiển của Ngài. Là những tấm gương cho ân điển của Ngài, họ sẽ tỏ Đức Chúa Trời ra cho phần còn lại của thế gian nhìn biết.
Một người nam hay một người nữ nào không sống cho Đức Chúa Trời, thực sự sẽ phải xét lại đời sống của họ, để xem coi thực sự họ có hết lòng tin theo Đức Chúa Trời hay chỉ có một cái đầu hiểu biết sự tồn tại của Đức Chúa Trời mà thôi chăng!?!
II. NGƯỜI THỰC SỰ ĐƯỢC CỨU (NAM HAY NỮ) ĐƯỢC TÁC ĐỘNG BỞI SỰ KÍNH SỢ CHÚA.
A. Những trường hợp nổi bật về cách dùng chữ trong Kinh Thánh luôn luôn được sử dụng như lý do hay sự tác động tại sao một người chịu hầu việc Đức Chúa Trời.
B. Hãy xem Châm ngôn 31.10: “Một người nữ tài đức ai sẽ tìm được?”
1. Hỡi quí bà, phải chăng phần mô tả nầy đã doạ dẫm quí vị không?
2. Câu 30, được viết ra giống như một câu hỏi, rồi tự nó trả lời. Câu trả lời rất rõ ràng! Mọi sự dẫn giải của tôi về đề tài cho rằng đây là một câu hỏi thuộc loại hoa mỹ và câu trả lời là KHÔNG!
3. Hiển nhiên, là tôi không nhất trí. Đáp lời là không, là từ chối quyền phép của Đức Chúa Trời trong đời sống của một người nữ. Tôi đáp CÓ! Chìa khoá là câu 30, một người nữ, một người mẹ, sẽ là một sự vinh hiển và ngợi khen cho Đức Chúa Trời nếu ở trung tâm đời sống của người, trên hết là Đức Chúa Giêxu Christ....người nữ nầy kính sợ, tôn sùng và yêu mến Đức Chúa Trời và sự ấy tác động mọi sự người lo làm. Phải, có nhiều người nữ tin kính, họ kính mến Đức Chúa Trời và làm sự vinh hiển cho Ngài bằng đời sống của họ.
4. Chữ "tài đức" có ý nói tới phẩm hạnh của một người nữ là người nữ của sức lực và khả năng thực sự. Chữ Hy bá lai là "chayil" (khah'-yil) có nghĩa là sức lực, quả cảm, đoan chính, một người can đảm, đầy năng lực. Sức lực hay đạo đức của nàng ở trong phẩm hạnh là một người nữ tin kính, vì lẽ ấy nàng sẽ được Đức Chúa Trời đại dụng làm một nguồn phước cho nhiều người khác.
C. Người nữ biết kính sợ Đức Chúa Trời sẽ được khen ngợi. Cả Đức Chúa Trời và những ai quen biết nàng đều khen ngợi nàng. Người nữ tài đức là một người chịu khó làm việc. Nàng không biếng nhác, nàng lo giữ gia đình và nhà cửa của mình sao cho có thứ tự. Và đấy là bằng chứng chỉ ra tình yêu của nàng dành cho gia đình mình và sự kính sợ Đức Chúa Trời.
III. NGƯỜI NỮ TÀI ĐỨC ĐƯỢC CHỒNG NÀNG TIN CẬY.
A. Tin cậy là một điều có thể tìm kiếm được. Tin cậy không đến một cách máy móc cho ai hay cho người nào chỉ vì nắm giữ một địa vị. Nhiều bậc phụ huynh không được con cái mình tin cậy vì họ không kiếm được lòng tin của chúng. Nhiều người vợ và chồng đang chịu nhiều đau khổ vì người bạn đời của họ không có lòng tin cậy nơi họ. Tôi tin lúc ban đầu ai nấy đều muốn tin người kia. Nhưng tin cậy chỉ đến từ kinh nghiệm quan sát con người và lối sống của họ.
B. Một người nữ tin kính sẽ kiếm được lòng tin cậy và kính trọng của chồng mình khi nàng sống một đời sống công nghĩa kiên định trước mặt chồng. Nàng tôn cao Chúa và tự tỏ ra ở bề ngoài cho nhiều người khác thấy để họ tin cậy nàng. Một trong những lợi ích to lớn trong việc sống cho Chúa, ấy là bạn sống một đời sống đạo đức và người ta sẽ nhìn thấy bạn là người đáng tin cậy.
Hãy suy nghĩ về sự ấy trong văn mạch nói tới một người nữ đang đưa cả gia đình mình đến với Chúa và tác động họ hầu việc Chúa. Nếu chồng nàng bị hư mất, đời sống tài đức của nàng sẽ trở thành một lực tác động tích cực và là một bằng chứng sống cho Chúa. Đời sống tin kính của nàng sẽ trở thành một bằng chứng và là một tấm gương cho con cái của nàng về ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời và ân điển làm thay đổi đời sống.
Ảnh hưởng của Đức Chúa Trời trong đời sống của người nữ sẽ làm cho gia đình của nàng nhìn thấy sống cho Chúa là tốt đẹp như thế nào! Phần đối ngược cũng thực lắm! Một người vợ hay cằn nhằn, không bao giờ thấy thoả lòng, luôn luôn than phiền và hay dời đổi sẽ không kiếm được lòng tin cậy của gia đình mình.
Gia đình ấy đang nguội lạnh dần về tình yêu thương. Tình yêu thương chân thật gạt qua một bên mọi điều ham muốn riêng của một người và tìm kiếm ích lợi cho nhiều người khác. Một người vợ hay một người mẹ ích kỷ đang tỏ ra thực sự nàng không có một tình cảm sâu sắc dành cho gia đình mình. Đổi lại, họ sẽ không thể hiến dâng một thứ tình yêu mà chính họ chưa bao giờ được nếm trải.
MINH HOẠ: Có một diễn viên hài luôn luôn nói: "Tôi không nhận được một sự tin cậy nào hết!" Sau khi nghe những câu nói tội lỗi của ông ta được thốt ra để làm vui cho mọi người, bạn sẽ thấy tại sao ông ta không nhận được sự tin cậy. Ông ta không đáng được một sự tin cậy nào vì ông ta không đáng tin cậy.
Bạn không thể mong người ta tin cậy bạn khi bạn không tin cậy họ. Nói năng không ý tứ, là một người bạn đời hống hách, hay than phiền, hoặc hay ngược đãi là một dấu hiệu chắc chắn bạn không có một sự kính trọng nào đối với họ và ngược lại ...có qua có lại mà! Lòng kính trọng và sự tin cậy kiếm được qua cách xử sự của một người.
C. CÂU 26 NÓI NGƯỜI NỮ TÀI ĐỨC LÀ NGƯỜI NỮ KHÔN NGOAN VÀ PHÉP TẮC NHƠN TỪ.
Bạn nghĩ xem, người nữ nầy nhận được sự khôn ngoan cho mình từ đâu? Thi thiên 111.10 chép: "Sự kính sợ Đức GIÊHÔVA là khởi đầu sự khôn ngoan; Phàm kẻ nào giữ theo điều răn Ngài có trí hiểu. Sự ngợi khen Ngài còn đến đời đời”. Sự khôn ngoan đến từ lòng kính sợ Chúa và hiểu biết các điều răn của Ngài.
I Côrinhtô 13.4-5 dạy người tín đồ về các ảnh hưởng của tình yêu thương, và ghi như sau: “Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ”.
III. DUYÊN LÀ GIẢ DỐI, SẮC LẠI HƯ KHÔNG (Châm ngôn 30.30)
A. Duyên là giả dối. Câu nầy có ý nói tới cách sống đời sống của một người chuyên tìm kiếm ân huệ hay sự tán thưởng của nhiều người khác. Họ sống để gây ấn tượng cho nhiều người khác. Hình như có vẻ bề ngoài đẹp đẽ thì người đó được xem trọng nhiều. Nhưng cách ăn mặc lôi cuốn sự chú ý chính là tội lỗi vì nó dựa trên sự kiêu ngạo.
B. Sắc lại hư không. Chữ "hư không" có nghĩa là vô giá trị hay không có ý nghĩa gì hết. Qua cách ăn mặc và tạo dáng vẻ bề ngoài làm một lực tác động trong đời sống của một người, Đức Chúa Trời phán đó là sự hư không.
Tìm cách gây ấn tượng và tìm kiếm sự tán thưởng và nghe thấy: "Ồ, nàng ấy có đẹp không!?!" chỉ là hư không mà thôi. Hãy suy nghĩ về đời sống buồn rầu mà nhiều người nữ sống tìm cách giống như con búp bê Barbie xem? Đúng là thứ đời sống chẳng ra gì hết!
MINH HOẠ: Tôi xem mấy phút một chương trình TV nói về vấn đề chứng biếng ăn (Anorexia) và chứng ăn uống vô độ (bulimia) nơi các cô gái và những phụ nữ còn trẻ. Những người nữ nầy bị ám ảnh với cách nhìn và họ tự mình nhịn đói để được người khác trông dễ coi. Đôi khi sự ám ảnh ấy giết chết họ. Người phát ngôn viên nói cho họ biết chẳng có ăn nhằm gì khi gia đình và các bác sĩ nói họ dễ coi. Sự kiêu ngạo của họ về vẻ bề ngoài đã điều khiển họ.
C. Phân đoạn Kinh Thánh nầy được viết ra theo thể thơ Hêbơrơ có hai điều tích cực và hai điều tiêu cực. Hai điều tiêu cực đó là cùng một sự việc.
1. Chữ "được khen ngợi" được rút ra từ một chữ có nghĩa là "chiếu sáng".
2. Đây là sự khen ngợi chân thực, sự khen ngợi đạo đức, sự khen ngợi xứng đáng, là phần thưởng lâu dài. Vì các hành động được tạo ra đến từ một sự tôn kính, tình cảm, và sự kính sợ sâu sắc đối với Đức Chúa Trời. Bạn có để ý thấy con cái và chồng của nàng cũng ngợi khen nàng không!?!
3. I Timôthê 2.9-10 chép: “Ta cũng muốn rằng những người đờn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, nhưng dùng việc lành, theo lẽ đương nhiên của người đờn bà tin kính Chúa”.
Nội dung của phần huấn thị nầy bắt đầu ở I Timôthê 2.1 và là sự khích lệ của Phaolô dành cho tín đồ nên cầu nguyện: “Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật” (I Timôthê 2.1-5)
Câu "ăn mặc một cách gọn ghẽ" có ý nói trong cách ăn mặc sao cho gọn gàng, xử sự hiệp nghi, và lịch lãm.
Từ "nết na" có nghĩa là có ý thức về sự xấu hổ hay vinh dự, thùy mị, dè dặt, kín đáo, biết để ý tới người khác, tôn trọng.
Từ "đức hạnh" có nghĩa là biết tiết độ.
Mệnh đề: "không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá" có ý nói tới cách ăn mặc phô bày giới tính của phụ nữ. Trong các thời kỳ Kinh Thánh có những người nữ ăn mặc như vầy vì họ là kỵ nữ. Ngày nay một người nữ có thể ăn mặc đẹp và tóc có thể kết bính lại. Nàng có thể đeo đồ nữ trang và ăn mặc đẹp, nhưng là một Cơ đốc nhân nàng nên ăn mặc sao cho gọn ghẽ. Tôi không nghĩ chúng ta cần phải bước vào những chi tiết cụ thể về sự gọn ghẽ nầy. Nếu ăn mặc để lôi kéo sự chú ý vào thân thể của một người thì đấy là cách ăn mặc không đoan chính. Nếu ăn mặc quá bó sát vào thân người hay quá ngắn thì lối ăn mặc đó không đoan chính. Nết na có nghĩa là có một ý thức kính trọng người khác và tôn trọng cái tôi của một người, nơi chồng hay gia đình.
Nếu bạn muốn có một điển hình, hãy nhìn xem vợ tôi đây! Nàng luôn luôn ăn mặc gọn ghẽ vì nàng yêu mến Chúa và nàng yêu thương chồng mình. Tôi rất tự hào về nàng và đối với tôi nàng là người nữ xinh đẹp nhất trên đất.
PHẦN KẾT LUẬN:
1. Người nữ có đời sống ý nghĩa đích thực, là một người nữ biết yêu mến và kính sợ Đức Chúa Trời.
2. Một người mẹ biết kính sợ Chúa có ảnh hưởng như thế nào? Nàng đã làm cho gia đình và những ai quen biết cảm động bởi những đức tính nào?
MINH HOẠ: Khi bạn nghiên cứ một số nhân vật cao trọng, năng nổ, tạo nên lịch sử, bạn thường thấy họ nói về ảnh hưởng của một người cha (hay mẹ). Abraham Lincoln được trưng dẫn khi phát biểu: "Tôi thừa hưởng mọi thứ từ người mẹ giống như thiên sứ của mình". Tướng Douglas MacArthur đã nói: "Người mẹ thánh khiết của tôi đã dạy tôi sự kính sợ Đức Chúa Trời và tình yêu dành cho quê hương, những điều đó đã nâng đỡ tôi. Tôi dâng lên bà mọi sự tôn kính cảm tạ của một người làm con”.
Vị giáo sư lỗi lạc G. Campbell Morgan có bốn người con trai. Hết thảy họ đều trở thành giáo sĩ. Trong một buổi họp mặt gia đình, có người đến hỏi một trong mấy người con: "Morgan nào là nhà truyền đạo lỗi lạc nhất?" Với đôi mắt long lanh hẳn lên, người con trai đó nhìn về phía cha mình rồi đáp: "Sao, đó là Mẹ tôi đấy!"
Đức Chúa Trời muốn nữ giới với tấm lòng rộng mở cứ trung tín với Ngài và sống những đời sống tôn cao và làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Những người nữ lo chăm sóc cho gia đình mình, dẫn dắt người nhà mình đến với Đức Chúa Trời.
Có thể bạn chưa sánh với người nữ trong Châm ngôn 31: Hãy làm một ít đi....nhưng nói như thế không có nghĩa là bạn không làm nổi.
Có thể trong quá khứ bạn chưa phải là một người Mẹ mà bạn phải trở thành. Hết thảy chúng ta nên nhìn lại và nhận ra mọi lỗi lầm của mình....còn Đức Chúa Trời vẫn là Đức Chúa Trời của những khởi đầu mới mẻ! Ngay hôm nay, bạn có thể đưa ra sự đầu phục trọn vẹn với Chúa!
***

Ngày Mẫu Thân: Tấm Lòng Của Người Mẹ



TẤM LÒNG CỦA NGƯỜI MẸ
Đức Chúa Trời đã nắn đúc tấm lòng của người mẹ như thế nào!?!
Rutơ 1, 4

I. PHẦN GIỚI THIỆU (Ê-phê-sô 6.2)
A. Hết thảy chúng ta cần phải tôn kính những Bà Mẹ của chúng ta, và khi làm vậy, chúng ta cần phải hiểu rõ họ
B. Khi người ta đọc sách Rutơ, mục tiêu thường nhắm vào chính Rutơ, và các sự cố lạ lùng đã làm cho cuộc đời bà được thay đổi
C. Thế nhưng có một phụ nữ khác ở đây, một người mẹ, đời sống của bà cũng được thay đổi. Tên của bà là Naômi. Đời sống của bà đã được Chúa đại dụng để tỏ ra cho chúng ta thấy tấm lòng của một người Mẹ.
II. VẤN ĐỀ
A. Có một nạn đói xảy ra trong xứ Israel – lúa mì, lúa mạch và các thứ ngũ cốc khác đều không còn nữa
B. Nhiều người lâm cảnh đói khổ – lo lắng không biết kiếm đồ ăn ở đâu!
C. Một người tên là Êbimêléc, mới cưới Naômi, ông quyết định qua một xứ gần bên gọi là Môáp, ở đây có lời hứa về lương thực – vì vậy ông đã đem vợ mình cùng đi – quên cầu nguyện và nhận định xem Đức Chúa Trời muốn mình phải làm gì.
D. Họ đến sống tại Môáp một thời gian khá lâu – hơn 10 năm!
E. Mọi sự dường như mỹ mãn vào lúc ban đầu – thế nhưng mọi sự bắt đầu thay đổi – những việc chỉ có Đức Chúa Trời có thể sử dụng để nắn đúc tấm lòng của Naômi thành tấm lòng của một người Mẹ!
III. SỨ ĐIỆP – TẤM LÒNG CỦA MỘT NGƯỜI MẸ ()
A. Tấm lòng của người Mẹ chọn lấy nhiều rối rắm (Rutơ 1.1-5) – Vai trò của sự sống. Điều nầy xảy ra ngay cả khi chúng ta làm đúng, tin tưởng nơi Đức Chúa Trời, và vâng theo Lời của Ngài (ít khi chúng ta nghĩ như vậy)! Dù muốn hay không, một loạt các sự cố dường như đang chất chồng trong tấm lòng của bà (Luca 2.19; 2.51).
1. Naômi chọn rối rắm về tài chính – Nạn đói có nghĩa là:
a. Không có việc làm cho con người – nông nghiệp là xương sống của nền kinh tế
b. Không có đồ ăn – trong nạn đói người ta bán đi mọi thứ đặng mua đồ ăn
c. Không biết xây qua hướng nào – không có chương trình của chính phủ – chỉ còn có Đức Chúa Trời mà thôi! Khó mà tập trung vào Ngài khi cái bao tử của chúng ta đang rên rỉ (Mathiơ 4.4)
2. Naômi đã chọn rối rắm trong gia đình. Bà không chọn điều nầy làm sở thích riêng đâu – rối rắm nầy mới xảy ra thôi, và nó tràn đầy trong tấm lòng của bà (cũng giống như với vợ của Gióp vậy) – Tôi nghĩ điều nầy đang tác động người mẹ điều khó chịu nhất!
a. Người chồng không màng tới ý chỉ của Đức Chúa Trời – rời khỏi Israel để kiếm điều chi đó tốt đẹp hơn
b. Rồi người chồng qua đời
c. Hai con trai bà giờ đây đã lấy mấy người nữ trong khu vực, họ không phải là những người tin Chúa, mà họ thờ lạy hình tượng
3. Naômi chọn rối rắm đức tin. Rối rắm với đức tin nơi Chúa.
a. Bà muốn tin theo Đức Chúa Trời, và muốn mạnh mẽ trong đức tin của mình – tranh chiến
b. Vấn đề khiến cho bà khó mà tin theo được, song Đức Chúa Trời vẫn ở bên cạnh bà.
c. Càng khó hơn nữa cho bà khi muốn tìm đường quay trở lại với Đức Chúa Trời
4. Naômi đã chọn rối rắm trong tương lai
a. Hai con trai bà qua đời (1.5)
b. Mọi thứ bà nương cậy vào bây giờ đã qua đi hết rồi
5. Tấm lòng của bà đang chồng chất quá nhiều rối rắm – điều nầy cũng y như thế đối với từng phụ nữ ngày nay, và đặc biệt là từng người Mẹ!
B. Tấm lòng của người Mẹ lo bảo hộ người khác tránh khỏi những thử thách (1.6-8)
1. Bà vẫn có hai người nữ đang nương cậy vào bà – hai con dâu: Ópra, và Rutơ
2. Tấm lòng của người Mẹ sắp đặt lo bảo hộ, và vì thế bà tìm cách giúp hai cô con dâu học biết tránh khỏi các sai lầm của bà
a. Tìm cách bảo hộ họ tránh khỏi sự thiếu hiểu biết
1) Naômi đã học biết một số việc trong cuộc sống – một con đường khó nhọc
2) Bà dành thì giờ để truyền đạt các bài học về sự sống – không truyền cho các trường học, hay cho nhà thờ, hoặc cho mấy đứa trẻ sống lân cận!
3) Naômi vốn có một mối thông công mật thiết với hai cô gái nầy
b. Tìm cách bảo hộ họ tránh khỏi sự kiêu ngạo – kiêu ngạo giữ người ta không vào được thiên đàng
1) Kiêu ngạo giữ người ta không làm được việc có ích vì sự ngoan cố, và bảo vệ hình tượng của họ – đã giữ họ bị kẹt lại trong xứ Môáp – người ta đã dậm chân tại chỗ vì cớ sự kiêu ngạo!
2) Bà quyết định nêu gương, và tự hạ mình xuống. Bà quyết định hướng nhìn về quê hương – dù về là nhục nhã
3) Quí vị có biết tại sao hầu hết con cái của chúng ta đều ngoan cố và kiêu ngạo không? Vì chúng đang nhìn thấy điều đó nơi bố mẹ chúng – không có một gương tin kính nào hết!
4) Bố mẹ PHẢI sống thắng hơn sự kiêu ngạo (I Phierơ 5.5)
c. Tìm cách bảo hộ không trông cậy giả dối – cỏ không xanh hơn ở bên kia
1) Giống như xứ Môáp – họ đã đi theo mắt họ thấy và lý trí của họ
2) Naômi mong muốn hai con dâu nầy được phần tốt nhất, rồi khích lệ cả hai cùng về quê hương
a) Naômi không phải là người lãng phí thời gian – bà không phải là người hay phó mặc đâu! Bà đã học biết sự ấy, do đem lòng tin theo chồng mình trước đó, và do tin tưởng vào xứ Môáp!
b) Naômi muốn hai cô con dâu nầy biết nương cậy nơi Chúa! Đây là sự bảo hộ chắc chắn nhất mà quí vị có thể truyền đạt cho người ta!
C. Tấm lòng của người Mẹ ảnh hưởng gia đình mình về Đức Chúa Trời (1.8-18). Không có phạm trù truyền giáo nào lớn hơn gia đình của chúng ta!
1. Naômi đã dạy dỗ cho hai cô con dâu biết về Đức Chúa Trời của bà (1.8)
a. Hai cô gái nầy đều là dân Ngoại – không phải là người Do thái – vì thế họ là người thờ lạy hình tượng
b. Bà trao đổi với hai cô gái nầy dù họ đã biết về Chúa – không phải là một bài hàm thụ trong loạt bài học Kinh thánh đâu (II Timôthê 1.5; 3.15)
c. Hiển nhiên là quê hương của bà không giống như các thứ quê hương khác, ở đấy Đức Chúa Trời, Chúa Giêxu, và địa ngục không phải là những lời rủa sả, mà là những lời nói nghiêm trang!
2. Naômi giờ đây đang cảnh báo họ về việc xây khỏi Lời dạy và ý chỉ của Đức Chúa Trời
a. Sự kính sợ Đức Giêhôva là điều TRƯỚC TIÊN mà mọi người phải học biết – vì Đức Chúa Trời là THẦN – chớ không phải nhân vật quan trọng mà chúng ta đến viếng vào những ngày Chúa nhật
b. Phaolô đã giảng cho mọi người biết ông đã gặp LỜI CẢNH CÁO họ (Colose 1.27)
c. Nhiều người MẸ cảnh cáo con cái họ về ma túy, bạn bè xấu, nhưng họ có cảnh cáo con cái họ về địa ngục, về sự loạn nghịch chống Đức Chúa Trời, hoặc về lối sống ngoan cố không?
d. Nhiều người Mẹ truyền đạt mối lo của Mẹ – cần phải chuyển thành kính sợ Đức Chúa Trời
e. Chúng ta cũng cần một số người Mẹ tin kính biết nắm lấy trách nhiệm dạy cho con cái họ biết thế nào là đúng sai (Tít 2.1-4)
3. Naômi đang hướng sự chú ý của bà vào những việc quan trọng như:
a. Hướng vào quê hương và gia đình – khi các bà MẸ thôi không nhắm vào gia đình và xây dựng gia đình, đó là SỰ HƯ MẤT! Đấy là chỗ mà thế hệ chúng ta đang sống hôm nay!
1) Naômi đã sống cách xa quê nhà trong một thời gian dài (10 năm)
2) Nhưng giờ đây bà đã nhận biết tầm quan trọng của việc ấy – thời gian làm cho mọi việc ra đúng đắn
3) Hai cô gái nầy nên về lại với gia đình và quê hương của họ – những việc lớn lao nhất chúng ta có nằm ở bên cạnh Chúa, là gia đình của chúng ta!
a) Hãy làm cho mọi việc sao cho hài hoà giữa họ và bố mẹ họ
b) Biến gia đình họ thành chức vụ của họ – nơi phục vụ
b. Nhắm vào Hội thánh – sinh hoạt với người của Đức Chúa Trời
1) Naômi đã nghe nói rằng Đức Chúa Trời đã ban phước cho dân sự Ngài có ăn
2) Naômi vốn biết bà mong muốn cùng về với họ, với dân sự của bà
3) Cũng một thể ấy với Cơ đốc nhân
a) Hội thánh nầy nhóm HAI lần vào ngày Chúa nhật – HẾT THẢY chúng ta hầu như lại ở ngoài!
b) Chúng ta nhóm lại để cầu nguyện vào chiều thứ Bảy
c) Chúng ta đi chứng đạo vào các buổi trưa thứ Bảy
d) Chúng ta làm rất nhiều việc – hết thảy chúng ta nên dấn thân vào!
c. Nhắm vào chính mình Đức Chúa Trời – ở giữa một dân chuyên thờ lạy hình tượng
1) Không còn nhìn sự việc từ cái bao tử, hay từ lý trí, mà từ tấm lòng của bà, bởi đức tin – khao khát nhiều về Đức Chúa Trời (Mathiơ 4.4)
2) Bà vốn biết chính Đức Giêhôva lần nầy đang chúc phước cho. Trước đây, bà và chồng bà chỉ suy nghĩ tới thức ăn, rồi tìm kiếm nó, chớ không tìm kiếm Đức Chúa Trời!
d. Và nhắm vào việc làm hoà lại với Đức Chúa Trời
1) Bất chấp sẽ xảy ra việc gì, Naômi quyết định quay về
2) Đây là cách duy nhất để làm hoà – đầu phục và hạ mình trọn vẹn
3) Có nhiều người sống xa cách Đức Chúa Trời, và muốn làm hoà lại, nhưng chỉ có một ít người – giữ mình đủ để không gặp rối rắm! Gian ác!
4) Nếu tôi có chuyện chẳng lành với vợ tôi, tôi phải quay về lại với nàng – nàng sẽ chẳng trông đợi đâu – Đức Chúa Trời thì không như vậy!
4. Naômi kế đó đã thử lòng trung tín của họ đối với lẽ thật của Đức Chúa Trời (1.8-15) – chỉ khi nào đức tin đã thành hiện thực – khi chúng ta trung tín với Lời của Đức Chúa Trời đủ để vâng theo Lời ấy một cách trọn vẹn
a. Naômi buộc hai cô gái phải chổi dậy và bước đi bằng đức tin về với dân của họ
b. Naômi tìm cách khích lệ họ đừng theo BÀ
1) Ópra sau cùng đã chịu thua, rồi quay trở lại với dân mình
2) Còn Rutơ chịu ở lại (1.16-18) – sau 4 lần động viên – Tại sao Rutơ cứ bám lấy Naômi – không phải vì một mối quan hệ xứng đáng
a) Rutơ tiếp tục học hỏi từ Naômi - Biết đầu phục
b) Rutơ quyết định tin nơi Đức Chúa Trời của Naômi - Được Cứu
i) Mặc dù có sự thất bại của Naômi
ii) Mặc dù trước mặt là viễn cảnh ảm đạm – không có chồng con chi hết
iii) Không chờ đợi phép lạ chi cả – chỉ nhìn biết Đức Chúa Trời của Naômi là Thần
c) Rutơ đã dâng lòng mình cho tới ngày qua đời – Bình an! Họ đã có sự bình an rồi, chớ không phải chờ cho tới khi thì xấu xa qua đi mới có.
c. Điều nầy cũng giống như điều tiên tri Êli đã làm cho tiên tri Êlisê vậy (II Các Vua 2.1-4)
D. Tấm lòng của người Mẹ có thể mong đợi sự thành công mỹ mãn (1.19-22; 4.13-22)
1. Đức Chúa Trời hành động, thậm chí khi mọi sự dường như chẳng còn chi hết
a. Qua Ápraham và Sara – mọi sự chẳng được gì hết từ lâu
b. Qua sự Chúa Giêxu làm cho Laxarơ sống lại từ kẻ chết
c. Qua sự Đức Chúa Trời sử dụng Naômi, và Rutơ trong việc đưa Đấng Mêsi đến – Đức Chúa Trời đã hành động xuyên suốt các biến cố nầy – cũng thực như thế với quí vị
2. Đức Chúa Trời vẫn cần và đại dụng Naômi
Để ban sự khôn ngoan cho Rutơ – làm thế nào để lấy được một người chồng đúng đắn
Để khích lệ Rutơ ở lại trên đường chạy với Đức Chúa Trời – dù sự việc dường như chẳng có gì là suông sẻ hết – hãy theo đường lối của Đức Chúa Trời!
c. Để dạy dỗ cho thế hệ KẾ TIẾP – con cháu của bà!
3. Đức Chúa Trời đề cập tới vấn đề nầy trong Thi thiên 37.37 – cuối cùng của cuộc đời sẽ là bình an, vui mừng và thành công. Tôi nghĩ chúng ta hết thảy đều ao ước mọi sự ấy xảy ra thực sự cho chúng ta vào tuổi 60, 70 hay 80! Thay vì chỉ có ân hận và hối tiếc!
IV. PHẦN KẾT LUẬN – Làm sao có được một tấm lòng đầy trọn như người MẸ
A. Dù khi tấm lòng quí vị có một sự lựa chọn những điều rối rắm
B. Hãy dạn dĩ bảo hộ gia đình của quí vị không phạm tội
C. Hãy bắt đầu tác động vào tấm lòng và đời sống của họ
D. Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho quí vị, và cả gia đình của quí vị nữa
***

Ngày Mẫu Thân: Mary - Tôi Tớ Sẵn Lòng Của Đức Chúa Trời



MARY – TÔI TỚ SẴN LÒNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
SỨ ĐIỆP CHO NGÀY MẪU THÂN
Luca 1.26-38
PHẦN GIỚI THIỆU: Không có một biến cố nào trong lịch sử trọng đại cho bằng sự giáng sinh của Đức Chúa Giêxu Christ. Chúa Giêxu là Đức Chúa Trời theo như Giăng 1.1-4 cho chúng ta biết:
"Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời . Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài. Trong Ngài có sự sống , sự sống là sự sáng của loài người”.
Chúa thành người và bước vào trong thế gian, đây quả là một phương thức thật diệu kỳ. Đức Chúa Trời, Đức Chúa Con, đã đến với trần gian nầy: “do người nữ sanh ra”.
Trong câu 35, thiên sứ Gáp-ri-ên nói với Mary rằng Đức Thánh Linh sẽ ngự trên nàng và quyền phép của Đức Chúa Trời sẽ che phủ nàng, rồi nàng sẽ mang thai một con trai. Sự giáng sanh của Đấng Christ là một phép lạ trên từng phương diện. Một nữ tôi tớ người Do thái, là một nữ đồng trinh sẽ chịu thai bởi quyền phép của Đức Chúa Trời và sẽ sanh một trai.
Có nhiều phương diện trong sự ra đời lạ lùng của Đấng Christ, chúng ta có thể xét xem, nhưng tôi muốn nhận xem Mary là ai, là tớ gái được Đức Chúa Trời chọn để làm mẹ theo đời nầy của Đức Chúa Giêxu Christ.
I. MARY LÀ AI?
A. Tên Mary là một cái tên rất phổ thông trong các thời kỳ Tân ước. Có 7 Mary khác nhau đã được nhắc tới trong Tân ước.
B. Kinh thánh nhắc tới nàng như một thiếu nữ mộc mạc tin kính, là người đã hứa gã cho một tay thợ mộc rất ngoan đạo có tên là Joseph.
1. Tôi nghĩ nàng là một thiếu nữ rất bình thường trong nhiều phương diện. Theo Kinh thánh, chúng ta có thể nói nàng chẳng có gì trỗi hơn bất kỳ một thiếu nữ hay phụ nữ nào khác đang sống trong thời đó hay hôm nay.
2. Cái điều tạo ra sự khác biệt trong đời sống của nàng chính là thái độ của nàng đối với Đức Chúa Trời. Đức tính tạo ra sự sẵn sàng của nàng cho Đức Chúa Trời đại dụng chính là sự nàng biết đầu phục Ngài.
3. Minh chứng cho điều nầy: ấy là khi nàng đã nghe biết lẽ thật và chương trình của Đức Chúa Trời, ngay lập tức nàng đã chấp nhận lẽ thật đó. Sự đầu phục ấy tỏ ra tấm lòng của nàng.
C. Mary đã chịu nhiều rối rắm khi mang thai con trẻ mà không có chồng.
1. Đây là một sự khủng hoảng. Nàng đã được hứa gã cho Joseph.
2. Ngoài mặt, nàng rất khó giải thích tình cảnh của mình cho Joseph, bố mẹ, gia đình và bạn hữu của nàng. Đức Chúa Trời đã xen vào trong một giấc chiêm bao rồi bảo ông rằng con trẻ mà Mary đang cưu mang kia là do Đức Thánh Linh.
a. Joseph cũng là một thanh niên rất tin kính và rõ ràng chàng rất mực yêu nàng. Ngay cả trước khi Đức Chúa Trời phán cùng ông trong một giấc chiêm bao qua một thiên sứ.
b. Mathiơ 1.19 chép chàng không muốn cho người mang xấu, mà toan đem để nhẹm. Mathiơ 1.24 chép Joseph đã vâng theo Đức Chúa Trời mà lấy nàng làm vợ.
3. Dưới luật pháp Cựu ước, có con mà chưa cưới, đây là một sự xúc phạm rất lớn.
4. Tuy nhiên, dù cho có mọi sự khó khăn nầy, nàng đã chấp nhận đấy là ý muốn của Đức Chúa Trời, nên cứ tiếp tục nương cậy Ngài.
D. Ngoại trừ việc mang thai Đấng Christ, Mary không phải là nhân vật nổi bật trong Tân ước.
1. Nàng là một người nữ Do thái trung tín, điều nầy có thể nhận ra qua sự nàng và Joseph bền giữ các nghi thức dâng mình tại Đền thờ ở các thời điểm thích ứng, tỉ như sau khi con trẻ ra đời rồi và ở Lễ Vượt Qua.
2. Sau khi Chúa Giêxu giáng sinh rồi, Kinh thánh thuật lại cho chúng ta biết rằng Joseph và Mary đã có nhiều con cái khác nữa, ít nhất là bốn trai và hai gái. Điều nầy cũng chỉ ra nàng cũng là một phụ nữ và là một người mẹ bình thường.
3. Hiển nhiên là Joseph đã qua đời, để lại một goá phụ với một gia đình đông con. Chúng ta không biết ông đã qua đời vào lúc nào, nhưng tôi tin sự thể đã xảy ra sau khi Chúa Giêxu đủ lớn để lao động và chu cấp cho bà. Có thể Chúa Giêxu đã rời khỏi gia đình khi Ngài được 30 tuổi rồi bắt đầu chức vụ công khai, vì mãi cho đến khi ấy các em Ngài đã lớn đủ để lao động và tiếp trợ cho cả gia đình.
E. Một số câu chuyện trong Tân ước không tôn cao Mary và bà đã được giới thiệu như một người mẹ tin kính với các đặc điểm rất con người, như biết chịu khổ, đau đầu và đắc thắng.
1. Tại xứ Cana trong một tiệc cưới, ở đây Chúa Giêxu đã làm ra phép lạ đầu tiên của Ngài, bà đã tỏ ra lo sợ và hãnh diện.
2. Ở phần đầu chức vụ của Chúa Giêxu, bà và những người khác trong gia đình đã tìm cách để đưa Chúa Giêxu trở về nhà, vì họ tưởng rằng Ngài không “tự kềm chế được bản thân”. Dường như bà thực sự không hiểu Ngài là ai và Ngài đến thế gian để làm gì nữa.
F. Mary là một người đáng yêu.
1. Mặc dù, bà dường không hiểu rõ Con Trai của mình, bà đã lên thành Jerusalem khi họ đóng đinh Ngài trên thập tự giá rồi đứng dưới chân thập tự. Chúa Giêxu đã nói với bà và Giăng rồi phó thác họ người nầy cho người kia.
2. Sau sự sống lại, chúng ta thấy lần nhắc tới bà sau cùng trong Kinh thánh khi bà tiếp tục trong sự cầu nguyện (Công vụ các Sứ đồ 1.14) với những người trung tín khác, họ đã trông đợi sự đến của phép báp-têm bởi Đức Thánh Linh và Đức Chúa Trời đang khởi thiết lập Hội thánh địa phương.
3. Kế đó Kinh thánh im lặng và không còn nhắc tới bà nữa.
4. Giáo hội Công giáo La mã đã làm lệch ký ức về bà với những sự dạy giả dối của họ về sự mang thai trong lúc còn trinh trắng của bà bởi bố mẹ của bà, họ coi là bà đã thăng thiên về trời, họ bổ nhiệm bà là nhân vật đồng chuộc tội với Đấng Christ, rằng bà là mẹ của Đức Chúa Trời, rằng bà là một nhân vật hoà giải trên thiên đàng. Mọi sự nầy rõ ràng khiến cho người Công giáo La mã dính dáng vào hệ thống thờ lạy nữ thần trong bốn thế kỷ nối theo sau.
II. SỰ LÀM CHỨNG, SỰ TRUNG TÍN VÀ SỨ ĐIỆP CỦA MARY.
A. Mary có những thiếu sót như nhiều người nam người nữ khác, tuy nhiên nàng là một người nữ tin kính, kính sợ Chúa và sống trung thành với Đức Chúa Trời. Giống như mọi người nam người nữ khác mà Đức Chúa Trời đã đại dụng trong Kinh thánh, Chúa không che giấu tình trạng yếu đuối của họ. Cho nên, những người nam và người nữ nầy đều được Chúa đại dụng. Lý do: ấy là Đức Chúa Trời đang làm việc trong họ, Ngài khiến họ làm ra nhiều việc lớn cho Đức Chúa Trời. Ấy không phải là khả năng của họ, mà là sự họ sẵn lòng cho Đức Chúa Trời sử dụng, để cho Đức Chúa Trời sử dụng.
B. Luca 1.38 chỉ ra tấm lòng của nàng.
"Mary thưa rằng: Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền! Đoạn thiên sứ lìa khỏi Mary".
1. Con đường mà Chúa đã đặt cho đời sống nàng quả là một con đường rất khó đi. Nàng phải có một đứa con mà chẳng nhận biết một người đờn ông nào.
2. Rõ ràng là nàng đã hiểu hết mọi điều mà nàng được yêu cầu phải lo làm. Trong câu 34, nàng đáp...."tôi chẳng hề nhận biết người nam nào, thì làm sao có được sự đó?”
3. Tuy vậy, với sự hiểu biết trọn vẹn mọi nổi khó khăn mà nàng phải đối mặt, nàng đã đáp trả: "nguyện ý Chúa được nên".
C. Mary ngay lập tức rời Nazarét đi về phía Nam đến nhà của người bà con Êlisabét gần thành Jerusalem. Êlisabét cũng đã có mang một cách lạ lùng. Bà son sẻ, dù vậy Đức Chúa Trời đã làm ra một phép lạ, rồi giống như Sara, vợ của Ápraham, bà cũng được ban cho một đứa con.
Khi Mary bước vào thấy Êlisabét, con của bà là Giăng Báp-tít, đã nhảy mừng trong lòng bà. Bà được đầy dẫy Đức Thánh Linh, bèn nói:
"Ngươi có phước trong đám đờn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước. Nhơn đâu ta được sự vẻ vang nầy, là mẹ Chúa đến thăm ta? Bởi vì tai ta mới nghe tiếng ngươi chào, thì con nhỏ ở trong lòng ta liền nhảy mừng. Phước cho người đã tin, vì lời Chúa truyền cho sẽ được ứng nghiệm” (Luca 1.42-45).
D. Lời đáp của Mary được thấy ở Luca 1.46-55
"Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi, vì Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của tôi tớ Ngài. Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước; Bởi Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh Ngài là thánh, và Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang đời kia. Ngài đã dùng cánh tay mình để tỏ ra quyền phép; và phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo toan trong lòng. Ngài đã cách người có quyền khỏi ngôi họ. Và nhắc kẻ khiêm nhượng lên. Ngài đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon. Và đuổi kẻ giàu về tay không. Ngài đã vùa giúp Israel, tôi tớ Ngài, và nhớ lại sự thương xót mình. Đối với Ápraham cùng con cháu người luôn luôn, như Ngài đã phán cùng tổ phụ chúng ta vậy".
III. MARY LÀ TÔI TỚ TRUNG TÍN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
A. Tại sao Đức Chúa Trời dám sử dụng nàng? Vì nàng đã đem lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Êlisabét đã nhìn thấy và đã công nhận đức tin của Mary đặt nơi Đức Chúa Trời.
B. Không một người nam người nữ nào có thể được Đức Chúa Trời cứu hay đại dụng mà chẳng có lòng tin cậy Ngài.
1. Đức tin chơn thật sẽ tự nó bày tỏ ra bằng hành động.
2. Một tín đồ thật sẽ vâng theo Đức Chúa Trời và vâng theo ý chỉ Ngài dành cho đời sống của họ.
3. Thường thì Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta lo làm những việc thật là khó. Ngài kêu gọi những người biết tin cậy, biết kính sợ Chúa và có lòng mong muốn được hầu việc Ngài.
4. Ngài chỉ chọn người trung tín, hạng người có lòng tin cậy. Trong thí dụ ở Mathiơ 22.1, Chúa Giêxu đã dùng một thí dụ để minh họa vấn đề nầy. Ngài phán vị vua kia sai tôi tớ mời khách đến dự tiệc cưới của ông. Một số thực khách xem nhẹ lời mời của nhà vua, một số bất chấp lời mời đó mà đi đường họ, một số thì đối xử tệ bạc với các tôi tớ của nhà vua và giết một số người trong hàng tôi tớ ấy. Nhà vua lại sai tôi tớ mình một lần nữa, và họ đã đưa nhiều người đến, cả tốt lẫn xấu. Có một thực khách đến mà không mặc áo lễ cho đám cưới, điều nầy làm sỉ nhục nhà vua, và vua đã đuổi hắn ra ngoài.
Khi ấy Chúa Giêxu mới đưa ra mục đích của thí dụ: Mathiơ 22.14: "Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn”.
Nhiều người có ít thì giờ dành cho Chúa. Một số khác thì dửng dưng và một số khác thẳng thừng chống đối Ngài. Có người làm sai lệch lẽ thật của Đức Chúa Trời rồi đặt lòng tin của họ vào những sự dạy giả dối. Mary đã sống trong thời buổi khi thầy tế lễ thượng phẩm, các trưởng lão, các thầy thông giáo, người Pharisi và tôn giáo của họ cai quản đời sống của người Do thái. Thuộc về họ là một tôn giáo giả dối, không dựa theo lời của Đức Chúa Trời hay dựa theo chân lý. Chúa Giêxu đã dạy cho họ biết lẽ thật, nhưng họ lại chối bỏ Ngài, chối bỏ lẽ thật của Đức Chúa Trời rồi tìm cách giết Ngài. Chắc chắn họ đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Hết thảy họ đều là hạng người vô tín. Còn Mary đã sống giữa vòng một số ít người chịu tin theo lẽ thật và chối bỏ tôn giáo giả của các cấp lãnh đạo người Do thái. Đức Chúa Trời không thể sử dụng, Ngài cũng không kêu gọi những ai không chịu nhận lãnh Lời của Ngài. Vì nàng đã tin Đức Chúa Trời đã ban cho nàng một lời kêu gọi đặc biệt.
C. Mỗi người phụ nữ và người mẹ ở đây đều có một sự kêu gọi đặc biệt đến từ Đức Chúa Trời để sống theo một đời sống trung tín tin kính. Đức Chúa Trời có một ý chỉ và chức vụ dành cho mỗi một người mẹ ở đây.
1. Ý chỉ của Đức Chúa Trời dành cho người làm Mẹ và làm vợ đều là một ý chỉ rất khó.
2. Những người làm mẹ hầu việc Chúa cách trung tín và hiếm khi được nhắc tới.
Có khi một người vợ được nhắc tới và được công nhận, nhưng mẹ của một người hiếm khi được như thế.
MINH HOẠ: Hết thảy chúng ta đều biết Abraham Lincoln. Quí vị có biết ai là mẹ của ông không? Tổng thống Lincoln đã nói: "Mọi sự mà tôi từng mong mỏi, ấy là tôi muốn có một người mẹ giống như thiên sứ vậy” (1809-1865). Ít có ai biết được tên của bà. Lincoln là một nếu không muốn nói là vị Tổng Thống lỗi lạc nhất mà chúng ta từng có, ông nói: "Tôi nhớ tới những lời cầu nguyện của mẹ tôi và chúng luôn luôn đi theo tôi. Chúng cứ bám theo tôi trọn đời sống tôi”.
"Tôi mắc nợ mẹ tôi nhiều thứ lắm. Tôi gắn sự thành công của tôi trong cuộc đời cho sự dạy dỗ của bà về đạo đức, về lý trí, về đời nầy mà tôi đã nhận lãnh từ nơi bà" (Tổng Thống George Washington, 1732-1799). Những người mẹ nầy sống rất trung tín với Đức Chúa Trời của họ, họ được ban cho đặc ân và và trách nhiệm. Những người con của họ đều là hạng người cao trọng vì họ có một người mẹ kỳ diệu và xuất sắc.
3. Giống như Mary, họ hiểu rõ phần việc mà Đức Chúa Trời chỉ định và họ đã đáp: “Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền!” Từ ngữ "tôi tớ" là từ được sử dụng để nói tới một nữ nô lệ. Mary nói dù ở hoàn cảnh, nỗi khó, giá phải trả có như thế nào đối với nàng....nàng mong muốn ý chỉ của Đức Chúa Trời vẫn được nên trên đời sống của nàng.
4. Chính Đức Chúa Trời là Đấng đã làm cho Mary ra đặc biệt. Chính ý chỉ của Đức Chúa Trời dành nàng và sự nàng biết thuận phục đối với ý chỉ ấy đã làm cho vai trò của nàng nổi bật lên trong chương trình của Đức Chúa Trời, khiến cho nàng trở thành một người nữ kỳ diệu và là một con cái của Đức Chúa Trời. Nàng chẳng có gì khác biệt so với bất kỳ một người nữ nào khác. Nàng có những nỗi yếu đuối của mình, dù vậy nàng đã vâng theo Đức Chúa Trời.
MINH HOẠ: Ký ức xa xưa nhứt về mẹ tôi có quan hệ tới việc bà đưa chúng tôi đến nhà thờ vào mỗi ngày Chúa nhật. Bố tôi đã không đi nhóm từ khi tôi còn nhỏ, nhưng mẹ tôi đã đi nhóm vào mỗi ngày Chúa nhật. Chúng tôi hiếm khi bỏ qua một ngày Chúa nhật nào mà không đi nhóm. Mẹ tôi không lái xe, nhưng bà biết chắc là Bố sẽ thức dậy, hết thảy 5 đứa con chúng tôi đều ăn mặc sẵn sàng đi nhà thờ. Áo quần chúng tôi luôn luôn sạch sẽ, chúng tôi luôn luôn có một bữa ăn sáng ngon lành trước khi đi nhà thờ. Quí vị thấy đấy, bà gánh lấy trách nhiệm làm một người mẹ tận trong đáy lòng của bà.
Sẽ chỉ có một Mary mà thôi, bà là mẹ của Chúa Giêxu theo đời nầy, nhưng Chúa có nhiều bà mẹ khác nữa.
Có một nan đề ngày hôm nay với nhiều bà mẹ. Họ quá bận rộn và thường quá ích kỷ đặt mọi ham muốn và nhu cần riêng của mình lên trên mong muốn và nhu cần của Đức Chúa Trời và của gia đình họ. Họ có nhiều phương án và sự ham thích, và đấy là những thứ đang tác động họ. Có nhiều người không đặt Đức Chúa Trời ở trên hết. Một người mẹ không thể đặt Đức Chúa Trời ở đầu hết trong đời sống của mình...nếu bà không đặt gia đình mình lên trên hết.
Chúng ta suy nghĩ đến các bà mẹ trong vai trò của họ đối cùng con cái họ, nhưng còn có một người cha, một người chồng nếu một người nữ sắp trở thành một bà mẹ. Một người vợ nào không phải là một “người giúp đỡ” cho chồng của mình có lẽ sẽ không phải là một bà mẹ tốt đối cùng con cái của bà. Nếu người cha và người mẹ luôn sống trong sự xung khắc với nhau, con cái và gia đình sẽ gánh chịu nhiều đau khổ.....và đáng buồn thay ý chỉ của Đức Chúa Trời sẽ không thể hoàn thành được.
Làm một bà mẹ và là người vợ tin kính không phải là việc đến một cách máy móc đâu. Có hai mặt cho vấn đề nầy:
Thứ nhứt, người nữ phải biết đầu phục đối với Chúa và với ý muốn của Ngài trong đời sống của mình. Bà phải biết tin cậy và kính sợ Chúa.
Thứ hai, bà phải học biết để trở thành một con cái tin kính của Đức Chúa Trời với quyển Kinh thánh mở ra và trong sự cầu nguyện tìm kiếm sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong đời sống mình và cho gia đình mình.
Quí vị không thể tách những điều nầy ra nhiều phần khác nhau, đối với một người mà Đức Chúa Trời đã dự trù cho họ phải trở thành một người làm mẹ. Người nầy phải được trợ giúp bởi người kia.
PHẦN KẾT LUẬN:
1. Thắc mắc cho mỗi một người chúng ta là như nhau. Chúng ta có thực sự tin Đức Chúa Trời và chấp nhận Lời của Ngài không?
2. Chỉ có người tin Chúa mới được cứu và chỉ có người tin Chúa mới được Chúa sử dụng.
3. Đức tin chơn thật phải được thử nghiệm. Nếu điều nầy là thật, nó sẽ tạo ra nhiều kết quả trong đời sống chúng ta. Đức tin chơn thật sẽ trở thành một đức tin biết đầu phục sẵn lòng tìm kiếm ý chỉ của Đức Chúa Trời cho đời sống của một người.
4. Quí vị có muốn ơn phước của Đức Chúa Trời đổ vào đời sống của quí vị không? Thắc mắc dành cho người nam, người nữ, trai hay gái đều như nhau. Quí vị có thực sự tin theo Chúa và để cho Ngài sử dụng quí vị không?
5. Đấy có phải là ước ao thật của quí vị không?
***