Hiển thị các bài đăng có nhãn Living in the light. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Living in the light. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2010

I Giăng 5.16-21: "Mối giao thông liên tục"



SỐNG TRONG SỰ SÁNG
Mối giao thông liên tục
I Giăng 5.16-21
1. Chiếc Queen Mary là chiếc tàu lớn nhất băng qua các đại dương khi nó được hạ thủy vào năm 1936. Qua bốn thập niên và Chiến Tranh Thế Giới, nó đã dự phần cho tới khi nó về hưu, neo đậu như một khách sạn và viện bảo tàng nổi ở Long Beach, California. Trong suốt cuộc chuyển dời, ba ống khói cao của nó đã được gỡ ra. Chúng cần được cạo sạch và sơn phết lại. Tuy nhiên, chúng bị nát vụn ra khi được đưa vào xưởng. Gần như chẳng có gì của cái đĩa thép 3/4-inch còn lại ở chỗ mấy cái ống khói được dựng lên. Phần lớn những gì còn chừa lại là hơn 30 túi thuốc màu đã được sử dụng qua nhiều năm trời. Thép đã bị gỉ đi nhiều. Trên bề mặt của mấy cây cột to lớn đó, mọi sự dường như có hình thù chiếc tàu, nhưng thực tế tình trạng của chúng rất khác biệt với vẽ bề ngoài của chúng. Cái điều đáng kinh ngạc nhất, ấy là chúng đã đã được chế tạo từ lâu rồi mà không ngã xuống cách thê thảm trên boong tàu và hành khách ở bên dưới. Sức mạnh của bề mặt chúng có đủ để đưa chúng trải qua nhiều năm tháng trên các đại dương mãnh liệt nhất. Sự chòng chành của những lượn sóng hay sự va đập của các ngọn gió cũng không đánh hạ được chúng. Khả năng ở bề mặt có thể chịu đựng những trận bão, nhưng chúng lại thất bại dưới sự kiểm tra.
2. Nhiều tín đồ có các điểm chung với mấy cái ống khói của chiếc tàu Queen Mary. họ có khả năng ở bề mặt. Trông họ rất okay ở bề ngoài và có thể dễ nhìn trong một thời gian rất dài. Tuy nhiên, gánh nặng của nhiều năm tháng và chấn thương của nhiều cơn bão trong cuộc sống đã làm cho họ suy yếu đi tới mức họ sẽ chắc chắn ngã quỵ đi trong một đám mây bụi gỉ sét. Một cuộc hôn nhân lâu dài kết thúc trong ly dị cay đắng. Một cơn nghiện gióng lên tiếng chuông sau cùng của nó. Những sai lầm về luân thường đạo lý kết quả trong sụp đổ về tài chính. Những suy sụp đạo đức phải trả giá trong chỗ mất ơn công khai. Thật là thê thảm khi thấy một tín đồ sa ngã nhưng việc nầy luôn xảy ra bất cứ thời điểm nào. Thắc mắc là: chúng ta tránh né một sự suy sụp về mặt thuộc linh bằng cách nào?
3. Đây là phân đoạn sau cùng trong sách I Giăng. Xuyên suốt thư tín nầy, chúng ta đã được dạy dỗ nhiều lần về tính cần thiết của không những MỐI QUAN HỆ mà còn MỐI GIAO THÔNG với Đức Chúa Trời. Được cứu đem lại sự sống ĐỜI ĐỜI, còn mối giao thông mật thiết cung ứng cho sự sống DƯ DẬT. Chìa khoá cho việc tránh né sự sụp đổ là mối giao thông không dứt, liên tục với Đức Chúa Trời.
4. Khi bạn lập gia đình, bạn đã bắt đầu một mối quan hệ. Lúc đầu có nhiều mối tương giao lắm. Tuy nhiên, nếu bạn không quạt lên những ngọn lửa mật thiết, sẽ có những hậu quả khốc liệt trong mối quan hệ.
5. Trong phân đoạn sau cùng nầy, Giăng cung ứng cho chúng ta bốn chìa khoá sau cùng cho việc quạt lên những ngọn lửa mật thiết với Đức Chúa Trời.
I. Nhìn biết tính hủy diệt của tội lỗi (các câu 16-17).
A. Một số tội lỗi dẫn tới sự chết.
1. Trong các câu 16-17, Giăng viết ba lần về "tội không đến nỗi chết" và một lần về "tội đến nỗi chết" cũng như trách nhiệm của chúng ta là phải cầu thay cho những kẻ bị kéo vào vòng tội lỗi. Vì quan niệm về "tội đến nỗi chết" rất hấp dẫn, cho nên chúng ta hãy xem xét nó trước hết.
2. Tội lỗi luôn luôn đem lại sự chết. Rôma 6.23 đặt biệt nói: "Vì tiền công của tội lỗi là sự chết". Đóng ngoặc: "Vì chúng ta phạm tội chúng ta ngã chết". Trong Vườn Ê-đen, Đức Chúa Trời bảo A-đam: "nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết" (Sáng thế ký 2.17). Ở sự Sa Ngã, Ađam đã chết về mặt thuộc linh ngay tức khắc, nhưng tội lỗi của ông cũng chắc chắn đem lại sự chết về phần xác.
3. Ở đây trong I Giăng 5, vị sứ đồ cảnh cáo chúng ta phải biết rõ rằng dù mọi tội của chúng ta chắc chắn gây ra sự chết theo phần xác, có một số tội gây ra sự chết về phần xác ngay tức khắc.
4. Một số tín đồ ngã chết trước thời điểm của họ. Họ bất tuân, loạn nghịch và từ chối không nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời ở một điểm mà họ không còn phục vụ cho các mục đích của Ngài ở trên đất nữa, vì vậy Ngài cất họ về quê hương ở trên trời. Điều nầy không có ý nói Ngài không yêu thương họ đâu; nói như vậy có nghĩa là Ngài không thể sử dụng họ được nữa.
5. Trên hết mọi sự, Đức Chúa Trời ao ước MỐI GIAO THÔNG với con cái của Ngài. Nếu chúng ta không giao thông với Ngài ở đây trên đất, có thể Ngài sẽ cất chúng ta về quê hương một cách sớm sủa để Ngài có mối giao thông với chúng ta ở trên trời.
6. Có nhiều bài giảng hôm nay về tình yêu thương của Đức Chúa Trời, tuy nhiên có ít bài giảng nói tới sự nghiêm khắc trong tình yêu của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu chúng ta nhiều đến nỗi Ngài từ chối không để cho chúng ta ném bỏ đời sống của mình đi. Ngài sẽ không để cho chúng ta hủy diệt đời sống của mình và đời sống của nhiều người khác, vì vậy trước hết Ngài phải cất chúng ta về quê hương. Chúng ta cần phải biết rõ không những tình yêu của Đức Chúa Trời mà còn phải biết rõ những lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời nữa!
7. Có thể bạn bị cám dỗ mà nghĩ rằng: "Tôi biết điều nầy là sai, nhưng tôi chỉ làm tổn thương bản thân mình thôi mà". Nói như thế thì chẳng thật đâu. Là một tín đồ, không những bạn có quan hệ với Đức Chúa Trời, mà còn quan hệ với cả gia đình của Ngài nữa kìa. I Côrinhtô 12.26 chép: "Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng".
B. Một số trường hợp tội đến nỗi chết.
1. Dân số ký 3.4 thuật lại về hai con trai đầu tiên của Arôn , NAĐÁP và ABIHU họ đã "thác trước mặt Đức Giêhôva khi hai người dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giêhôva". Họ đã lệch lạc khỏi ý muốn của Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng.
2. Dân số ký 16 thuật lại về CÔRÊ là người lãnh đạo một cuộc nổi loạn chống lại Môise và Arôn. Đức Chúa Trời đã khiến cho đất phải nứt ra và nuốt lấy ông ta cùng hết thảy những kẻ chạy theo ông ta.
3. Dân số ký 20 chép rằng ngay cả MÔISE đã nổi loạn khi ông đập vào hòn đá thay vì chỉ nói cùng nó theo như Đức Chúa Trời muốn. Ông nói: "Hỡi dân phản nghịch! hãy nghe, chúng ta há dễ khiến nước chảy từ hòn đá nầy ra cho các ngươi được sao?" Đức Chúa Trời đã phán trong câu 12: "Bởi vì hai ngươi không có tin đến ta, đặng tôn ta nên thánh trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, vì cớ đó, hai ngươi sẽ không đem hội chúng nầy vào xứ mà ta đã cho nó đâu" (đối chiếu 20.1-13). Ông không chết ngay tức khắc, nhưng ông đã chết sau đó một thời gian ngắn.
4. Giôsuê 7 dạy rằng ACAN đã nổi loạn khi ông ta vi phạm mạng lịnh của Đức Chúa Trời không được chiếm lấy bất cứ thứ gì từ sự hủy diệt thành Giêricô. Israel đã thất trận tại thành Ahi vì ông ta giấu một cái áo đẹp, một số bạc vàng dưới trại của mình. Ông ta đã bị ném đá và thi thể bị thiêu cháy đi.
5. II Samuên 6 nói tới UXA là người đã chạm vào Hòm Giao Ước khi nó được dời đi. Câu 7 chép: "Cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va bèn nổi phừng cùng U-xa; Đức Chúa Trời hành hại người vì cớ lầm lỗi người, và người chết tại đó, gần bên hòm của Đức Chúa Trời".
6. Công vụ Các Sứ đồ 5 thuật lại về ANANIA và SAPHIRA, họ đã nói dối với các vị sứ đồ về tiền bạc đã nhận từ chỗ bán đất đai. Họ đã đánh hạ cùng lúc, bị đem đi chôn vì sự dối trá đó.
7. I Côrinhtô 11 dạy rằng có người trong HỘI THÁNH CÔRINHTÔ phạm thượng Tiệc Thánh của Chúa. Câu 30 chép: "Ấy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ".
C. Có tội vẫn còn đến nỗi chết.
1. Có người sẽ nói: "Thưa Mục sư, ông có thực sự tin rằng điều nầy vẫn còn xảy ra không?" Có chứ! Chúng ta thường không công nhận các lý do của việc chịu khổ và ngã chết vì chúng ta không ý thức được các hoàn cảnh.
2. Trong những trường hợp mà tôi đã nhắc đến, các tội lỗi chẳng giống nhau đâu. Vậy thì điều chi biến tội lỗi thông thường thành "tội đến nỗi chết"? Vấn đề, ấy là sự bất tuân và loạn nghịch có tính toán trước mặt Đức Chúa Trời với sự hiểu biết rõ ràng làm như vậy là sai.
3. Sự chết không luôn luôn đến ngay tức khắc, nhưng đôi khi nó đến đấy. Không phải mọi thứ bệnh tật và không phải tất cả những cái chết chưa đến tuổi trưởng thành là vì tội lỗi cố ý đâu, nhưng có người cố ý đấy.
D. Một số tội không đến nỗi chết.
1. Ba lần trong hai câu nầy, Giăng nói cho chúng ta biết có "tội không đến nỗi chết". Phần lớn tội lỗi của chúng ta đều rơi vào phạm trù nầy. Có khi chúng ta phạm tội từ chỗ thiếu hiểu biết hay do thói quen đã ăn sâu. Chúng ta cần phải "xưng ra" những tội nầy và nhận lãnh sự tha thứ và thanh tẩy (1.9).
2. Có thể bạn thắc mắc: "Làm sao ông biết một tội không phải là tội đến nỗi chết?" Bạn vẫn còn đang thở đấy thôi!
3. Câu 17 chép: "Mọi sự không công bình đều là tội". Tất cả tội lỗi đều gây hại và có tính hủy diệt, nhưng không phải tất cả tội lỗi đều đến nỗi chết ngay tức khắc.
E. Tất cả tội lỗi đều đòi hỏi sự cầu nguyện của chúng ta.
1. Trọng tâm của mấy câu nầy không nhắm nhiều vào tội lỗi như nó nhắm vào sự cầu nguyện. Giăng nói: "Vì có kẻ THẤY anh em mình phạm tội, mà tội không đến nỗi chết, thì hãy CẦU XIN, và Đức Chúa Trời sẽ ban sự sống cho, tức là ban cho những kẻ phạm tội mà chưa đến nỗi chết". Khi chúng ta THẤY chúng ta cần phải CẦU XIN Đức Chúa Trời vùa giúp cho trong sự cầu nguyện.
2. Nếu tôi có một chứng bịnh khủng khiếp nhưng chưa trình cho bác sĩ biết, bạn sẽ làm gì? Nếu bạn yêu mến tôi bạn sẽ sắp xếp lo liệu cho tôi, đưa tôi đến bịnh viện và làm mọi sự để cứu lấy sức khoẻ của tôi.
3. Thế thì tại sao khi chúng ta thấy một tín hữu bị kéo vào trong tội lỗi, chúng ta lại nói: "Đấy là việc của hắn, chớ không phải việc của tôi?" Chúng ta có thái độ như thế vì chúng ta không yêu mến như chúng ta đáng phải có.
4. Tony Evans nói câu nầy có nghĩa như vậy khi chúng ta thấy một anh em bị kéo vào trong tội lỗi, chúng ta cần phải "trình với Đức Chúa Trời về người!" Chúng ta cần phải cầu thay cho người ấy để người ấy không đi quá đà. Chúng ta cần phải cầu nguyện để người anh em đang "phạm tội không đến nỗi chết" để tội lỗi của người ấy không trở thành một "tội đến nỗi chết".
5. Tuần qua chúng ta đã học biết rằng Đức Chúa Trời sẽ lắng nghe và đáp trả những lời cầu nguyện của chúng ta khi chúng ta cầu nguyện "theo ý muốn Ngài". Tuần qua chúng ta đã học biết về sự cầu nguyện cho bản thân mình; tuần nầy chúng ta học biết cầu nguyện cho tha nhân.
6. Cầu nguyện theo cách ích kỷ rất là dễ dàng. Có thể bạn đã nghe nói về thiếu nữ kia đã cầu nguyện: "Lạy Chúa, con cầu thay cho người mẹ kỳ diệu của con. Con cầu xin rằng Ngài sẽ ban cho bà ấy một đứa con rễ thật đẹp trai, thật giàu có".
7. Mối quan tâm của chúng ta, ấy là một anh em phạm tội sẽ được phục hồi lại. Galati 6.1 chép: "Hỡi anh em, ví bằng có người nào tình cờ phạm lỗi gì, anh em là kẻ có Đức Thánh Linh, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại; chính mình anh em lại phải giữ, e cũng bị dỗ dành chăng".
8. Chúng ta phải cầu nguyện điều chi đây? Chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời sẽ làm bất cứ điều chi phải làm để phục hồi lại người anh em của chúng ta đang phạm tội kia.
9. Bậc trưởng lão của Hội Thánh đặc biệt phải cầu thay cho người anh em đang phạm tội. Chúng ta hãy xét qua Giacơ 5.13-20. Tuy nhiên, điều nầy không hẳn dành cho bậc trưởng lão đâu. Hết thảy chúng ta đều phải trở thành các đại biểu của ân điển và sự phục hoà.
10. Dường như là khi chúng ta thành khẫn cầu thay cho người anh em đang phạm lỗi kia, có thể người ấy nhận được một lượng ân sũng của Đức Chúa Trời vì cớ những lời cầu nguyện chân thành của những kẻ đang ở trong mối giao thông với Đức Chúa Trời.
II. Tránh những cái nắm chặt của kẻ thù (các câu 18-19).
A. Bổn tánh mới của chúng ta là vô tội, nhưng xác thịt của chúng ta vẫn còn sai sót (câu 18).
1. Giăng nói: "Chúng ta biết rằng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì hẳn chẳng phạm tội". Khi bạn được sanh lại, bạn đã nhận được một bổn tánh mới. II Côrinhtô 5.17 chép: "Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới". Người được dựng nên mới trong bạn không phạm tội.
2. Tuy nhiên, bạn là con người mới, bổn tánh mới nầy vẫn còn được bọc trong xác thịt, mà xác thịt thì yêu mến tội lỗi. Đấy là lý do tại sao bao lâu chúng ta sống trong loại thân thể nầy, chúng ta sẽ vật vã với sự cám dỗ mà phạm tội.
3. Hãy gạch dưới phần nầy: "nhưng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì tự giữ lấy mình". "Tự giữ lấy mình" có nghĩa là "nắm chặt, đứng canh". Cơ đốc nhân nào ao ước mối giao thông liên tục với Đức Chúa Trời phải luôn canh chừng và cảnh giác về sự cám dỗ và tội lỗi cá nhân.
4. Israel đã được giải phóng ra khỏi Ai cập, nhưng họ vẫn còn tưởng về Ai cập, lấy làm ngạc nhiên khi trở lại đó thì sẽ như thế nào!?! Đôi khi chúng ta tưởng tượng về lối sống của người không tin Chúa. Đừng đi đến đó!
5. Vì bổn tánh mới của bạn "không phạm tội" nên "ma quỉ chẳng làm hại người được". Satan là một thế lực NGOẠI TẠI chớ không phải một thế lực NỘI TẠI. Kẻ thù chỉ thắng khi con người mới bạn đầu hàng xác thịt và một lần nữa phục theo lối sống cũ.
6. Hãy nhớ bạn là ai đấy! Bạn là con cái của một vì vua. Bạn không phải sống như một người nhà quê được. Những gì bạn tin về bản thân mình quyết định lối hành xử của bạn.
7. Hãy tiếp lấy điều nầy: tín đồ không phải phạm tội, nhưng họ có thể phạm tội.
B. Thế gian nằm trong cái nắm bắt của Satan (câu 19).
1. Giăng nói: "Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời". Chúng ta có thể biết rõ những điều chúng ta đang biết rõ. Ông đã nói trong câu 13 rằng chúng ta "biết mình có sự sống đời đời".
2. Tuy nhiên, chúng ta cũng "biết" rằng "cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ". Mọi sự trong thế gian nầy được bồng bế trong đôi vòng tay của Satan. HÃY PHÂN BIỆT ĐI! Đừng mong có khả năng canh giữ tấm lòng nếu bạn chứa đầy lý trí với những lời dối trá của Satan!
3. Châm ngôn 4.23 chép: "Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra".
4. Không chỉ cầu thay cho người anh em đang bị lôi kéo vào trong tội lỗi kia như trong các câu 16-17, mà hãy cầu thay cho bản thân mình để bạn không dễ dàng bị lừa dối.
III. Tấn tới trong sự thông biết Đấng Christ (câu 20).
A. Trong câu kế đó, Giăng tái khẳng định lẽ đạo thường trực trong thư tín của mình: "Chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến". Chúng ta có thể xác nhận Ngài theo cách khách quan trong lịch sử và theo cách chủ quan qua kinh nghiệm riêng của chúng ta với Đức Thánh Linh.
B. Chúng ta cũng "biết" rằng Ngài "đã ban trí khôn cho chúng ta đặng chúng ta biết Đấng chân thật". "Trí khôn" về cơ bản có nghĩa là "khả năng" hay "lý trí". Đấng đã ban cho chúng ta khả năng để hiểu biết lẽ thật của Ngài.
C. Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy dẫy với những dư luận khác nhau về mọi sự. Không ai biết chắc về bất cứ điều gì.
D. II Timôthê 3.7 mô tả những người chưa tin Chúa là "vẫn học luôn mà không hề thông biết lẽ thật được".
E. Có được “trí khôn” nầy quả là một sự kỳ diệu. Năm lần trong mấy câu cuối, Giăng đã nói chúng ta có thể "biết" được.
F. Khi chúng ta theo đuổi MỐI GIAO THÔNG với Đức Chúa Trời "trí khôn" của chúng ta về "Đấng chân thật" sẽ tăng thêm lên. Chúng ta có được lòng tin cậy rằng chúng ta đang "ở trong Đấng chân thật, là ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, Con của Ngài". Khi chúng ta tìm cách bước đi trong điều chi là "chân thật" MỐI GIAO THÔNG của chúng ta với Đức Chúa Trời tăng lên và được giữ vững.
IV. Quyết định thờ lạy chỉ một mình Đức Chúa Trời (câu 21).
A. Giăng kết luận với phần chú thích sau cùng về sự mật thiết khi ông gọi chúng ta là "con cái bé mọn". Ông đã sử dụng cụm từ ấy ở đây là lần thứ 15 trong thư tín của ông. Giống như ông nội nhóm lại cả gia đình lần sau cùng trước khi ông ra đi với cái ôm hôn và một lời khuyên vậy.
B. Lời khuyên của ông rất là đơn sơ. Ông nói: "hãy giữ mình về hình tượng". Điều nầy quả là lạ lùng vì ông không nhắc tới "hình tượng" trong suốt cả bức thư nầy. Ở cái nhìn ban đầu dường như đây là phần kết luận yếu ớt chẳng hay ho gì. Hãy xem lại đi.
C. Trong văn hoá Hy lạp-La mã, Giăng đã sinh sống trong đó, hình tượng có mặt ở khắp mọi nơi. Bất cứ tội lỗi nào cũng có đôi phần hình thức thờ lạy hình tượng. Các độc giả nguyên thủy của ông có thể đưa vào thực tế điều nầy rất dễ dàng.
D. Có thể bạn nói: "Thưa Mục sư, tôi không phải lo về sự ấy. Chúng tôi không thờ lạy hình tượng hôm nay". Có chắc chưa?
E. Cách đây nhiều thế kỷ, Augustine đã viết: "Thờ lạy hình tượng là thờ lạy bất cứ điều chi thường hay dùng đến, hay sử dụng bất cứ thứ chi thường được thờ phượng".
F. Một hình tượng là điều chi bạn đặt trước mặt Đức Chúa Trời. Bạn đang thần tượng hoá điều chi vậy? Bạn muốn điều chi nhất trong cuộc sống? Được lòng người? Danh tiếng? Tiền bạc? Của cải chọn lọc? Ngay cả đời sống gia đình?
G. Nếu Đức Chúa Trời không có mặt trong đó, đây là một hình tượng và nó đang đuổi theo ngọn gió. Nếu bạn được "sanh bởi Đức Chúa Trời", bạn đừng bao giờ tìm kiếm niềm vui hay hạnh phúc thật trong bất cứ điều chi không có MỐI GIAO THÔNG với Đức Chúa Trời.
H. Nếu bạn dựng bất cứ điều chi lên trước mặt Đức Chúa Trời, nó trở thành một hình tượng. MỐI GIAO THÔNG của bạn đã bị hạ xuống và bạn đang hướng tới một sự sa ngã giống như cái thùng lăn vào thác nước vậy.
I. Một lần nữa, chúng ta không đánh giá MỐI GIAO THÔNG của chúng ta với Đức Chúa Trời bằng những cảm xúc nồng ấm của chúng ta. Chúng ta đánh giá MỐI TƯƠNG GIAO bằng các quyết định của chúng ta.
J. Có người nói: "Đức Chúa Trời biết rõ lòng tôi". Nói như thế giống như người chồng ngủ với nhiều người đờn bà khác nhưng tự tha thứ cho mình bằng cách nói: "Vợ tôi biết tôi yêu nàng mà".
K. Bạn không cần ai tư vấn, bạn cần đưa ra một sự chọn lựa. Liệu sự chọn lựa đó là Đức Chúa Trời hay một hình tượng đây? Câu nói cuối trong thư tín nầy về MỐI GIAO THÔNG với Đức Chúa Trời, ấy là không có tình trạng trung lập. Bạn lựa chọn thờ lạy Đức Chúa Trời hay một điều chi khác đấy thôi!?!

I Giăng 5.6-15: "Xua tan bóng nghi ngờ"



SỐNG TRONG SỰ SÁNG
Xua tan bóng nghi ngờ
I Giăng 5.6-15
1. Tuần nầy tôi có nghe một câu chuyện từ chương trình Tonight Show, Jay Leno nói về người mẹ của anh vừa mới đến nhập cư. Dường như bà đã sống trong nỗi sợ thường xuyên mình sẽ bị trục xuất. Trong khi thi để lấy quyền công dân, bạn có thể bỏ sót bốn câu hỏi. Bà ấy bỏ sót những năm câu. Câu hỏi mà bà đã bỏ kia là "Đâu là Constitution [Hiến Pháp] của Hoa Kỳ?" Câu trả lời của bà là: "Chiếc tàu". Bà đã trả lời sai hoàn toàn. Chiếc tàu mang tên USS Constitution đang neo đậu ở thành phố Boston. Tuy nhiên vị thẩm phán ngay lập tức từ chối không cho bà quyền công dân. Bố của Leno nổi giận với vị thẩm phán, ông hỏi: "Sao chứ? Cho tôi xem lại bài thi đi! Bà ấy đâu có nói sai. Constitution là chiếc tàu mà!" Vị thẩm phán nhướng mắt lên nói: "Không đâu thưa ông, Constitution [Hiến pháp] là văn kiện cơ bản của chính phủ chúng tôi", Bố của Leno gào lên: "Constitution cũng là một chiếc tàu đậu ở Boston, Constitution [Hiến pháp]! Một chữ giống như nhau! Sao vậy chứ!" Vị thẩm phán sau cùng dịu giọng lại, ông nói: "Thôi được rồi, bà ấy đã được quyền công dân. Bây giờ hãy lui ra!" Với vẽ tự hào, bố Leno nói với vợ mình: "Mình thấy không. Mình đã đậu rồi". Bà nói nhỏ: "Không, em chưa đậu đâu mà, họ sẽ cứ theo dõi em!" Đạo diễn kịch bản nổi tiếng viết: "Từ giờ trở đi, bất cứ lúc nào mẹ tôi có sự tiếp cận với một viên cảnh sát, bà run rẩy với sợ hãi. Khi tôi đưa bà sang Scotland vào năm 1983, bà cứ hỏi tôi: ‘Liệu mẹ có bị đưa trở lại không?’ ‘Mẹ ơi! Đừng có lo! Chuyện đã 50 năm rồi mà!’ Tuy vậy, những nỗi nghi ngờ của bà không bao giờ dứt được".
2. Nhiều Cơ đốc nhân đang vật vã với ơn cứu rỗi của họ theo cùng một cách mà mẹ của Jay Leno đã có với quyền công dân của bà. Họ không thể cảm được sự an ninh. Cách đây không lâu, tôi phải bay sang một thành phố khác và chuyến bay của tôi đã bị hủy bỏ. Tôi nhận được chỗ chắc chắn vào chuyến bay kế đó. Tuy nhiên, đã có nhiều người đi đặt vé cho chuyến bay kế đó hơn là để cho hảng máy bay sắp chỗ cho. Khi tôi chờ đợi, thì nói hành khách nào họ đã có chỗ sẵn thì dễ hơn là những người không có. Không có một sự khẳng định chắc chắn, có người cứ đi tới đi lui với dáng vẽ lo lắng rồi trao đổi trên điện thoại di động trong khi ngồi kế bàn vé tại cổng. Phần nhiều người khác với sự biết chắc thì thoải mái và tin tưởng chờ đợi chuyến bay. Cũng một thế ấy, một số Cơ đốc nhân nghi ngờ ơn cứu rỗi của họ trong khi nhiều người khác yên nghỉ tin cậy biết chắc mình đã có chỗ trước rồi.
3. Tôi đã đưa ra lời tuyên xưng công khai về đức tin và chịu phép báptêm vào lúc 7 tuổi, nhưng đã có nhiều hồ nghi về mối quan hệ của tôi với Đức Chúa Trời. Ở tuổi 14, sau cùng tôi phải đối diện với tội lỗi của tôi và đã dâng đời sống tôi cho Đấng Christ và những sự hồ nghi ấy tan biến đi. Rồi từ dạo đó, tôi chẳng còn chút hồ nghi nào về sự an ninh của mình nữa.
4. Nói như thế thì không phải nói rằng tôi không có những điều nghi ngờ trong cuộc sống của mình. Có khi, trong lúc tôi cầu nguyện, tôi hoàn toàn kinh ngạc không biết Đức Chúa Trời có nghe không!?! Có nhiều lúc tôi lấy làm lạ không biết Ngài có quan tâm không nữa.
5. Phân đoạn Kinh Thánh nầy đã được viết ra để xua tan những bóng nghi ngờ của chúng ta. Thực vậy, ở câu 13 Giăng nói bạn có thể "biết mình có sự sống đời đời". Chúng ta dám chắc về ơn cứu rỗi của chúng ta. Ở câu 15, ông nói chúng ta có thể "biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài". Chúng ta dám chắc về những lời cầu nguyện của chúng ta.
I. Chúng ta biết ơn cứu rỗi của chúng ta là chắc chắn (các câu 6-13).
Về ơn cứu rỗi và sự bảo đảm, có người đã chỉ ra có ba nhóm người: (1) nhóm yên tâm nhưng không dám chắc; (2) nhóm dám "chắc" nhưng không yên tâm; và (3) nhóm dám chắc và yên tâm.
A. Chứng cớ của ba làm chứng (các câu 6-8).
1. Giăng nói rằng "Chúa Jêsus đã lấy nước và huyết mà đến … chẳng những lấy nước mà thôi, bèn là lấy nước và huyết". Ông nói thêm: "Ấy là Đức Thánh Linh đã làm chứng". Chúng ta có ba làm chứng về Chúa Jêsus, NƯỚC, HUYẾT và ĐỨC THÁNH LINH.
2. Biểu tượng của nước, huyết và sự kiện trong câu 7 không có trong các bản thảo xưa làm cho câu nầy ra khó, nhưng không khó cho việc giải thích chính xác.
3. Chúng ta hãy bắt đầu với "nước". Nước nào đây? Nước của sông Giôđanh. Phần lớn các giáo sư dạy Kinh Thánh có tánh bảo thủ đều đồng ý rằng nước chỉ ngược về phép báptêm của Chúa Jêsus. Chúng ta hãy quay trở lại rồi đọc Mathiơ 3.13-17. Phép báptêm của Giăng là một biểu tượng chỉ ra mọi tội lỗi đã được rửa sạch rồi. Chúa Jêsus không có một tội nào, nhưng Ngài chịu phép báptêm vì phép ấy "làm cho trọn mọi việc công bình". Thật lấy làm tốt khi làm theo mọi sự mà Đức Chúa Trời đòi hỏi. Chúa Jêsus đã chịu phép báptêm ngay cả khi Ngài không cần phải chịu để làm gương cho chúng ta phải làm theo mọi sự mà Đức Chúa Trời đòi hỏi.
4. Thế thì "Nước" là một biểu tượng về tình trạng vô tội của Chúa Jêsus. Cách duy nhứt Chúa Jêsus có thể trả giá cho tội lỗi của chúng ta là Ngài chẳng có tội chi hết.
5. "Huyết" tiêu biểu cho thập tự giá. Tình trạng vô tội của Chúa Jêsus tự nó không thể cứu chúng ta. Đời sống vô tội của Ngài đã dẫn Ngài đến với một cái chết mang tính cách hy sinh. Trên thập tự giá, Đấng Vô Tội đã gánh lấy tội lỗi của cả nhân loại. Giăng đã nói cho chúng ta biết rồi Chúa Jêsus là "của lễ chuộc tội của chúng ta".
6. I Phierơ 1.19 chép chúng ta đã được chuộc "bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít".
7. "Nước" tiêu biểu cho phép báptêm, đời sống vô tội của Đấng Christ. "Huyết" tiêu biểu cho thập tự giá, sự chết hy sinh của Đấng Christ. Chứng thứ ba là "Đức Thánh Linh đã làm chứng".
8. Nước và huyết là những bằng chứng theo lkịch sử, khách quan và thuộc về trí tuệ. Tuy nhiên, công việc của Đức Thánh Linh là bằng chứng tư riêng, theo kinh nghiệm, chủ quan.
9. Bất cứ đâu Tin Lành được rao giảng, hãy giảng Tin Lành ấy với tài hùng biện thật sâu sắc cho một diễn đàn có hàng ngàn người hay trước bàn của Vua Burger, Thánh Linh của Đức Chúa Trời hành động ở trong lòng. Đức Thánh Linh giúp chúng ta nhận biết không những Chúa Jêsus đã chịu chết cho thế gian, mà Ngài còn chịu chết vì tôi nữa!
10. Theo mặt chủ quan, chúng ta biết Tin Lành là thực vì tính chính xác về lịch sử của Lời Đức Chúa Trời, mà còn vì hoạt động khách quan tư riêng của Thánh Linh Đức Chúa Trời nữa. Ngài KẾT ÁN chúng ta về tội lỗi của chúng ta. Ngài THUYẾT PHỤC chúng ta về lẽ thật của Đấng Christ. Khi chúng ta tiếp nhận Chúa Jêsus, Ngài YÊN ỦI chúng ta với sự bảo đảm. Giăng nói "Đức Thánh Linh tức là lẽ thật" (câu 7). Rôma 8.16 chép: "Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời".
11. Tôi biết tôi đang yên tâm về ơn cứu rỗi của mình vì cớ "nước và huyết". Về lý trí, tôi tin chắc rằng Chúa Jêsus đã sống một đời sống vô tội và đã chịu chết một cái chết hy sinh. Thêm nữa, tôi còn tin quyết như thế vì tôi biết "Thánh Linh" của Đức Chúa Trời đã và đang liên tục hành động trong đời sống tôi. Trong câu 8 Giăng nói: "Vì có ba làm chứng: Đức Thánh Linh, nước và huyết; ba ấy hiệp một".
12. II Côrinhtô 5.21 chép: "Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi [nước – đời sống vô tội] trở nên tội lỗi [huyết – sự chết hy sinh] vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời [sự làm chứng của Đức Thánh Linh]".
B. Sự làm chứng của Đức Chúa Cha (các câu 9-12).
1. Giăng nói: "Ví bằng chúng ta nhận chứng của loài người, thì chứng của Đức Chúa Trời trọng hơn". Hết thảy chúng ta đều tin cậy nơi lời nói hay sự làm chứng của người khác, ngay cả người lạ hoàn toàn. Có bao nhiêu người trong quí vị tin vào một dược sĩ, ông nầy chẳng biết gì từ A-đam đến kê toa chuốc cho quí vị? Có bao nhiêu người tin một thợ chẳng biết gì về máy móc đến sửa xe cho quí vị chứ? Bạn biết George Washington thực sự sống như thế nào không? Bạn có bao giờ gặp hay trò chuyện với ông ấy chưa? Nếu tôi nói cho bạn biết rằng Washington, Lincoln và Napoleon không phải là con người thực mà là huyền thoại của lịch sử, bạn sẽ nghĩ là tôi là kẻ dở hơi. Bạn tin họ có thực vì bạn tin theo bằng chứng chính xác của các sử gia mà bạn chưa hề gặp gỡ. Người ta tin vào sự làm chứng của con người có thể sai lầm một cách mù quáng, thế nhưng lại không tin vào sự đáng tin cậy của Đức Chúa Trời.
2. Bạn sẽ cảm nhận ra sao nếu có người nói: "Tôi đang cố mà tin ông đấy" hay "Ước gì tôi tin được ông?" Bạn sẽ nổi giận ngay vì khi thắc mắc tính đáng tin của bạn thì có nghĩa là người ấy tin bạn là kẻ nói dối.
3. Trong câu 10, Giăng nói: "còn ai không tin Đức Chúa Trời, thì cho Ngài là nói dối". Đức Chúa Trời đã ban ra "chứng cớ" về Con của Ngài và nếu chúng ta không tin, chúng ta sĩ nhục Đức Chúa Trời và cho Ngài là "kẻ nói dối".
4. Giăng nói rằng người nào "tin đến Con Đức Chúa Trời, thì có chứng ấy trong mình". Khi chúng ta tin theo lẽ thật rồi áp dụng lẽ thật chúng ta sẽ kinh nghiệm lẽ thật. Cho tới chừng nào tôi tin những gì nhân viên tiếp thị nói cho tôi biết về chiếc xe hơi mới rồi áp dụng những điều ông ta nói khi mua chiếc xe đó, tôi chẳng có kinh nghiệm thích thú gì về việc làm chủ chiếc xe ấy.
5. Khi tôi tin theo Kinh Thánh và tìm cách áp dụng lẽ thật đó vào kinh nghiệm hàng ngày của tôi, Đức Thánh Linh nâng cao lời được chép trong các trang Kinh Thánh rồi giúp tôi xem chúng cách tươi mới trong chính đời sống của tôi. Quá trình luôn luôn là TIN, ÁP DỤNG, KINH NGHIỆM.
6. Đâu là "bằng chứng" của Đức Chúa Cha? Câu 11 chép: "Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài". Đức Chúa Trời không những ban cho chúng ta sự sống với chất lượng mà còn số lượng nữa, không những là sự sống đời đời mà còn là sự sống dư dật nữa!
7. Nếu tôi hỏi bạn: "Sự sống đời đời là sự sống gì vậy?" nhiều người sẽ nói: "Tôi sẽ lên thiên đàng khi tôi chết". Đấy chỉ là một phần của sự sống ấy mà thôi.
8. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 17.3: "Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Đấng Cha đã sai đến". Sự sống đời đời là hiểu biết và tương giao với Đức Chúa Trời Toàn Năng qua Con của Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ. Sự sống đời đời không những là một sự kiện đáng phải đem lòng mà tin theo, mà còn là một thân vị phải nhìn biết nữa! Sự sống đời đời không phải là việc mà bạn sẽ phải nhận lấy, mà việc ấy bạn đang có trong lúc bây giờ.
9. Hãy chú ý câu 12: "Ai có Đức Chúa Con thì CÓ [chớ không phải ‘một ngày kia mới có’] sự sống". Nếu bạn đã được cứu, bạn có RỒI sự sống đời đời. Tôi thích quảng cáo của những nhà sản xuất bơ sữa vẽ hình một thanh niên kia, bạn cùng phòng bịnh viện trao cho anh ta một cái bánh sô cô la nóng. Anh ta nhìn vào bình sữa đá lạnh nhưng khổ sở lắm vì anh ta không thể làm gì được. Hãy nói về địa ngục đi! Khẫu hiệu nói thật đơn giãn: "Uống sữa không?" Câu 12 có thể được tóm tắt với câu hỏi: "Có tiếp nhận Chúa Jêsus chưa?"
10. Bạn không phải chờ đợi cho tới chừng nào bạn bước vào thiên đàng mới có sự bình an, quyền phép, vui mừng hay đắc thắng. Bạn hiện đang có mọi sự mà bạn sẽ có, khi bạn bước vào thiên đàng bạn sẽ có nhiều hơn thế nữa.
11. Một số tín hữu rất dễ bị bịp. Họ muốn sự sống đời đời mà không có Chúa Jêsus. Họ làm việc, tiết kiệm và đầu tư để được an ninh khi, trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã hứa rồi, Ngài làm thoả mãn mọi nhu cần của họ. Họ tìm kiếm sự thoả mãn và thân tình với các mối quan hệ bất hợp pháp khi, trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ sự thân mật lớn lao nhất. Họ tìm kiếm lòng tự trọng và giá trị nơi tâm lý dân gian khi Kinh Thánh tuyên bố nhiều, nhiều lần về chỗ đứng phải lẽ của họ trong Đấng Christ.
12. Nhiều Cơ đốc nhân hồ nghi ơn cứu rỗi của họ vì mọi sự họ có là một bảng thành tích. Tôi biết tôi đã thành hôn vì tôi có hồ sơ trên toà án. Tuy nhiên, nếu mọi sự bạn có là một giấy chứng nhận kết hôn, bạn là kẻ đáng thương đấy. Mối quan hệ ban sự sống cho tập hồ sơ.
C. Chứng cớ ở bên trong chúng ta (câu 13).
1. Giăng nói rằng ông đã "viết những điều nầy cho các con, là kẻ nào tin” nghĩa là ông viết cho các Cơ đốc nhân để “các con biết mình có sự sống đời đời". Vì lẽ đó, có sự sống đời đời mà không biết sự sống của Đức Chúa Trời là một việc khả thi. Bạn có thể có mặt trên đường lên thiên đàng, nhưng rất khổ sở trên chuyến đi ấy. Có một câu chuyện kể lại về một người kia đã tiết kiệm để mua một vé tàu thủy du lịch. Ông ta tiêu hết tiền của mình vào chiếc vé, vì vậy ông ta đã ăn đậu phộng bơ và bánh kẹp hạt dẽ trong phòng của mình. Sau cùng, có người đến nói cho ông ta biết tất cả những bữa ăn đều có sẵn trong vé tàu rồi. Một số người đã được cứu song chẳng biết tận hưởng đầy đủ phúc lợi của ơn cứu ấy.
2. Nếu bạn đã tin theo Chúa Jêsus và áp dụng sự sống đời đời vào mối giao thông của bạn với Ngài, bạn sẽ "biết mình có sự sống đời đời" và bạn sẽ "tiếp tục tin". Bài thánh ca xưa hát: "Nếu hỏi Chúa sống đâu nào? Rằng Chúa sống trong lòng nầy!"
II. Chúng ta biết những lời cầu nguyện của chúng ta là chắc chắn (các câu 14-15).
Ba người đang bàn luận về phong cách cầu nguyện sao cho thích hợp. Người thứ nhứt nói rằng người ta phải quì gối, cái đầu gập xuống với sự kỉnh kiền đối với Đấng Toàn Năng. Người thứ hai bàn rằng người ta nên đứng với hai cánh tay giơ lên nhìn hướng lên trời rồi nói giáp mặt với Đức Chúa Trời như một đứa trẻ nhỏ. Người thứ ba nói: "Tôi chẳng biết gì những vị thế nầy, song tôi biết như vầy: cách cầu nguyện tốt nhứt mà tôi từng làm là úp mặt xuống một cái giếng!"
A. Chúng ta có thể biết Đức Chúa Trời nghe những lời cầu nguyện của chúng ta (câu 14).
1. Không những bạn "biết mình có sự sống đời đời", bạn có thể "tin cậy" rằng Đức Chúa Trời đang "nghe" lời cầu nguyện của bạn.
2. Cầu nguyện là một bản năng ở trong con người. Có người từng nói rất khôn khéo: "Chẳng có một nhà vô thần nào trong những cái hố cá nhân". Một thủy thủ mô tả sự kinh khủng của giông bão bằng cách nói: "Đức Chúa Trời nghe thấy từ nhiều người lạ trong đêm đó". Câu nói đầu tiên trong tai hoạ là "Trời ơi!"
3. Có nhiều người thử nghiệm với sự cầu nguyện. Họ cầu xin một điều gì đó và rồi chẳng có gì xảy ra, vì vậy họ thôi không cầu nguyện nữa. Họ nghĩ rằng cầu nguyện chẳng làm thay đổi được gì, thì sao phải cầu nguyện chứ?
4. Hãy chú ý tính chắc chắn trong lối nói của Giăng: "Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa". "Dạn dĩ" có nghĩa là "can đảm, tự do, không dè dặt". Đức Chúa Trời vui thích khi chúng ta dạn dĩ đến với Ngài trong sự cầu nguyện. Hêbơrơ 4.16 chép: "Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng".
5. Có một điều khoản, một đòi hỏi phải nghe và nhậm lấy những lời cầu nguyện, đó là "nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì". Đức Chúa Trời không hứa nghe bất kỳ một lời cầu nguyện nào nhưng Ngài tuyệt đối bảo đảm lắng nghe bất cứ một lời cầu nguyện nào "theo ý muốn Ngài".
6. Đức Chúa Trời không giống như một cái máy tự động, ở đó chúng ta đút vào những đồng xu thỉnh cầu của mình, thực hiện một sự lựa chọn rồi trông nhận được điều mình muốn. Cầu nguyện không phải là Cây đèn thần của Aladdin và Đức Chúa Trời không phải là một vì thần vũ trụ ưng nhận mọi ước muốn và ưa thích của mình.
7. Có những người tin Chúa nghĩ rằng nếu họ làm theo một công thức đặc biệt, Đức Chúa Trời buộc phải làm theo điều chi họ muốn Ngài phải làm.
8. Hãy xem xét sự cả gan khi đòi hỏi Đấng Sáng Tạo và Tể Trị tối cao của vũ trụ phải cúi xuống trước ước muốn của tạo vật sa ngã, yếu đuối kia. Thật lạ lùng, David hỏi trong Thi thiên 8.4: "Loài người là gì, mà Chúa nhớ đến?"
9. Đức Chúa Trời không nghe theo một số lời cầu nguyện vì động lực ích kỷ. Giacơ 4.3 chép: "Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình".
10. Chúng ta phải cầu nguyện "theo ý muốn Ngài" bằng cách nào? Chúng ta cần phải biết rằng lời cầu xin của chúng ta phải phù hợp với Kinh Thánh. Những vậy, đặt tiệc ở câu lạc bộ golf hay đặt mua cặp vỏ ruột xe ở tiệm nầy hay tiệm kia không phải là vấn đề rồi! Khi bạn cầu xin theo một nguyên tắc của Kinh Thánh thì giống như đặt hàng theo danh mục của Đức Chúa Trời. Sự ấy đang ở trong kho và đang trên đường đến đấy!
11. Sẽ ra sao nếu chúng ta không tìm được sự ấy trong Kinh Thánh? Sẽ ra sao khi sự ấy chẳng có gì xấu, nhưng chúng ta không dám chắc sự ấy đang nằm trong ý chỉ của Đức Chúa Trời hay không!?! Hãy cầu xin không cứ cách nào, nhưng hãy để ý câu Chúa Jêsus đã nói ở trong Vườn: "Dầu vậy, xin ý Cha được nên, chớ không theo ý tôi!" (Luca 22.42). Đôi lúc, khi tôi cầu nguyện về một vấn đề giống như thế, Đức Chúa Trời ban cho tôi một sự bình an về điều đó. Đức Thánh Linh khẳng định điều ấy trong lòng tôi và tôi chỉ còn chờ đợi thì thuận tiện của Đức Chúa Trời mà thôi.
B. Chúng ta có thể biết Đức Chúa Trời sẽ trả lời cho sự cầu nguyện của chúng ta (câu 15).
1. Trong câu 15, Giăng nói khi chúng ta đã cầu nguyện "theo ý muốn của Ngài" chúng ta "biết Ngài nghe chúng ta" chúng ta cũng có thể biết "mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài". Đức Chúa Trời không hề phán vậy trừ phi chúng ta cầu nguyện ở ngoài ý muốn của Ngài. II Côrinhtô 1.20 chép: "Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói "A-men". Thi thiên 84.11 chép: "Ngài sẽ chẳng từ chối điều tốt lành gì cho ai ăn ở ngay thẳng".
2. Đây mới đúng là điều mà Chúa Jêsus muốn nói tới khi Ngài phán: "Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho" (Mathiơ 7.7). Ngài ban cho theo cách sốt sắng và bằng lòng.
Là một người cha, tôi muốn điều tốt nhứt cho con cái của mình. Nếu một trong mấy đứa con gái của tôi xin một gói thuốc hút, tôi sẽ đáp “không”! Nếu nó xin trái cây để ăn, tôi sẽ đáp “được”! Nếu nó xin điều chi không thích đáng, tôi sẽ đáp “không”. Nếu nó xin điều chi xứng đáng, tôi sẽ đáp “được”. Nếu nó xin một quyển sách ma thuật, tôi sẽ đáp “không”. Nếu nó xin một quyển Kinh Thánh, tôi sẽ đáp “được”! Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha giàu ơn, Ngài ban cho chúng ta mọi sự nào là tốt lành cho chúng ta.
Đức Chúa Trời đã hứa lắng nghe và đáp trả khi chúng ta cầu xin "theo ý muốn Ngài". Thắc mắc duy nhứt là “khi nào”. Đôi khi là ngay tức khắc. Chúng tôi mới vừa cầu nguyện cho một phụ nữ trẻ kia sẽ được cứu và cô ấy đã đến với Đấng Christ tối hôm kia! Đôi khi Đức Chúa Trời chờ đợi. Cách đây nhiều năm, tôi đã cầu xin Đức Chúa Trời ban cho tôi một nhà thờ để làm chủ toạ. Tôi đã xin một ngôi nhà thờ đặc biệt từ tiểu bang khác; Đức Chúa Trời đã sai tôi đến Amarillo. Nhà thờ kia đã mất chất lượng, còn nhà thờ nầy thì năng nổ! Đức Chúa Trời đã đáp trả theo đúng cách đúng thì. Chúng ta có lòng "dạn dĩ" cả trong ơn cứu rỗi và trong những lời cầu nguyện của chúng ta!

I Giăng 5.1-5: "Đức Chúa Cha Biết Hết"



SỐNG TRONG SỰ SÁNG
Đức Chúa Cha Biết Hết
I Giăng 5.1-5
1. Bạn có nhớ chương trình truyền hình Bố Biết Hết không? Robert Young đã diễn xuất như người bố Mỹ trong vở kịch hài được ưa thích nầy đã được phát sóng trên đài phát thanh vào năm 1949. Vở kịch được chuyển sang truyền hình vào năm 1954 và cứ được trình chiếu cho tới năm 1960. Ai cũng ưa thích vở kịch nầy, đài truyền hình CBS cứ tiếp tục chiếu vở kịch nầy trong hơn hai năm trời. Tôi nhớ chương trình nầy được chiếu xen giữa Leave It to Beaver và The Rifleman. Robert Young đã đóng vai Jim Anderson cùng với vợ là Margaret lo nuôi dạy mấy đứa con của họ là Betty, Bud và Kathy theo mẫu lý tưởng của văn minh Mỹ. Trong vở kịch truyền hình, người cha luôn luôn biết rõ nhất.
2. Những người làm cha luôn luôn được xem là biết rõ họ phải làm gì. Họ luôn biết các sự việc xảy ra như thế nào và phải sắp đặt mọi điều để hàn gắn lại những mối quan hệ đã gãy vỡ. Năm ngoái tạp chí Las Vegas đã chạy một tiêu đề đòi hỏi độc giả của nó phải viết lại những mẫu chuyện riêng tư để đăng cho Ngày Phụ Thân. Họ yêu cầu những người đăng ký phải hoàn tất tư tưởng: "Thời điểm cha tôi ĐÃ biết rõ là …". Robert Thompson đã thắng giải với chú thích ngắn gọn như thế nầy về cha của mình là Henry Thompson: "Trong khi bàn bạc với vợ tôi là Christie, nàng đã thắc mắc, không, nàng nói với tôi rằng tôi nên nói với cha tôi về nan đề của chúng tôi. Tôi dám chắc rằng ông sẽ đến bên cạnh tôi, rốt lại ông là cha tôi. Vì thế, tôi nói OK, được, tôi sẽ nói với ông và chờ nghe lời khuyên dạy của ông. Sau khi nghe hết mọi điều rồi, và chẳng có gì kiểu cách lắm trong khi trình bày, cha tôi, là người có lương tri chất phác hơn bất cứ ai mà tôi quen biết, ông quay sang tôi rồi nói rằng tôi đã sai, hãy về nhà lo dọn dẹp với Christie và sắp xếp lại cuộc sống của mình. Tôi biết và đã biết rõ rằng nếu tôi cần ông thì ông sẽ có mặt ngay, tôi có thể nương vào sự khôn ngoan của ông để chỉ lối cho tôi. Nếu các con trai tôi cảm thấy tôi đã có phân nửa công việc lo nuôi dạy con cái mà ông đã có khi nuôi dạy con cái của ông, tôi biết mình đã làm hết sức mình rồi".
3. Cha của tôi đã truyền đạt nhiều sự khôn ngoan trải qua nhiều năm tháng. Thực vậy, ông vẫn còn làm thế. Không may, chẳng phải ai trong chúng ta cũng có cha biết lo lắng, khôn khéo đâu. Tuy nhiên, nếu bạn đã được cứu, bạn đang có Cha Thiên Thượng khôn ngoan, có lòng thương xót, Ngài muốn điều tốt nhứt cho đời sống của bạn. Trong phân đoạn Kinh Thánh gốc hôm nay, khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu hết câu nầy qua câu khác trong I Giăng, chúng ta sẽ thấy Cha Thiên Thượng có ba mẫu khuyên dạy về tình yêu thương, vâng phục và đức tin.
I. Cha tôi biết rõ phải hành động trong sự yêu thương, điều nầy là tốt nhứt cho tôi (câu 1).
A. Một điều răn thiêng liêng. Yêu anh em mình.
1. Những câu đầu trong chương 5 là một sự liên tục của tư tưởng sau cùng ở chương 4. "Điều răn" mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, ấy là "ai yêu Đức Chúa Trời là Đấng đã sanh ra, thì cũng yêu kẻ đã sanh ra bởi Ngài".
2. Ở buổi tiệc thánh sau cùng, khi Giăng dựa vào ngực Chúa Jêsus, Chúa phán: "Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy" (Giăng 13.34).
3. Đây là một điều răn thiêng liêng, chớ không phải một lời đề nghị thiêng liêng đâu!
4. 4.12 chép: "Chưa hề có ai thấy Đức Chúa Trời". Đức Chúa Trời là thần (Giăng 4.24). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không thấy được bằng mắt thường có thể thấy được trong tình yêu của chúng ta dành cho anh em mình.
B. Một thắc mắc theo con người. Ai là anh em của tôi?
1. Người tin Chúa không những yêu mến Đức Chúa Trời, mà người còn phải "yêu mến anh em mình" nữa. Ai là anh em của tôi? Trong câu 1, Giăng nói rằng anh em của bạn là "hễ ai tin Chúa Jêsus là Đấng Christ" là anh em của bạn vì người ấy "được sanh bởi Đức Chúa Trời".
2. Anh chị em của bạn là người nào có cùng sự tuyên xưng đức tin. Chúng ta trở nên chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời là do được "sanh ra bởi Đức Chúa Trời".
3. Tình anh chị em trong gia đình của Đức Chúa Trời không dựa vào chủng tộc, giai cấp, văn hoá, giáo dục, tài chính, v.v… Tình anh chị em ấy dựa vào sự tuyên xưng đức tin của chúng ta nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa trong đời sống của chúng ta. Điều nầy không nhắm vào việc tin theo trí khôn, mà là nhắm vào việc phó thác đời sống của một người cho Đấng Christ.
C. Một nguyên tắc theo Kinh Thánh. Yêu mến Đức Chúa Trời thì phải yêu mến con cái của Đức Chúa Trời.
1. Giăng nói thêm: "và ai yêu Đức Chúa Trời là Đấng đã sanh ra, thì cũng yêu kẻ đã sanh ra bởi Ngài". Bản Kinh Thánh NCV đưa ra phần dịch thuật sáng sủa hơn: "hễ ai yêu Đức Chúa Cha cũng yêu con cái của Đức Chúa Cha". Nếu bạn yêu mến Đức Chúa Trời, bạn sẽ yêu mến con cái của Đức Chúa Trời.
2. Chúng ta cần phải yêu thương HẾT THẢY con cái của Đức Chúa Trời, tất cả những tín đồ. Thường thì có nhiều Cơ đốc nhân nghĩ rằng Đức Chúa Trời chỉ mĩm cười với nhóm nhỏ hay hệ phái của họ mà thôi. Nếu chúng ta chỉ yêu mến người nào trông giống như chúng ta và tin chính xác những điều chúng ta tin, chúng ta sẽ không yêu mến nhiều người đâu. Tonto và the Lone Ranger đang cùng lái xe qua một hẽm núi thì đột nhiên ở cả hai bên sườn núi đầy dẫy với người da đỏ và các chiến binh ngồi trên lưng ngựa, mặc chiến y sửa soạn cho chiến trận. The Lone Ranger quay sang Tonto và hỏi: "Chúng ta sẽ làm gì đây?" Tonto đáp: "'chúng ta' có nghĩa gì vậy hỡi anh bạn da trắng?"
3. D.L. Moody nói: "Có hai cách cho sự kết hiệp — một là siết chặt nhau lại, còn cách kia là hoà tan vào nhau. Điều mà Cơ đốc nhân cần là phải kết hiệp trong tình yêu anh em, và khi ấy họ mới mong có được năng lực".
4. Nếu chúng ta thất bại không yêu mến anh chị em mình trong Đấng Christ, chúng ta đã dứt bỏ bất kỳ khả năng mật thiết nào với Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta không hành xử trong tình yêu thương đối cùng các tín hữu khác, chúng ta sẽ không ở trong tình yêu thương với Đức Chúa Trời. Giăng đã nói ở 4.20 rằng người nào nói mình yêu Đức Chúa Trời mà ghét anh em mình là "kẻ nói dối".
5. Satan thích đem sự phân rẽ đến giữa các Cơ đốc nhân vì hắn biết rõ nếu chúng ta sống ngoài mối giao thông với nhau, chúng ta sẽ sống ngoài mối giao thông với Đức Chúa Trời.
6. Các bạn ơi, hắn đang cám dỗ bạn đánh trận với người bạn đời của mình vì hắn biết I Phierơ 3.7 chép: "Hỡi người làm chồng, hãy tỏ điều khôn ngoan ra trong sự ăn ở với vợ mình, như là với giống yếu đuối hơn; vì họ sẽ cùng anh em hưởng phước sự sống, nên phải kính nể họ, hầu cho không điều gì làm rối loạn sự cầu nguyện của anh em".
7. Chúng ta biết chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời vì chúng ta chọn hành động trong tình yêu thương đối cùng những tín hữu khác. Cơ đốc giáo không phải là bộ môn thể thao đơn điệu đâu. Đấy là lý do tại sao bạn cần những tín hữu khác để biết chắc bạn đang yêu mến Đức Chúa Trời.
8. Có người nói: "Tôi yêu mến Đức Chúa Trời, nhưng tôi chẳng quan tâm gì đến sự thiết lập Hội Thánh". Hội Thánh chơn thật chẳng phải là một sự thiết lập đâu. Đây là mối giao thông yêu thương của anh chị em trong gia đình của Đức Chúa Trời. Bạn không thể ủng hộ Đấng Christ mà nghịch lại với Hội Thánh được!
9. Làm sao bạn biết mình ưa thích môn golf? Bạn phải chơi bộ môn đó. Làm sao bạn biết mình thích đọc sách chứ? Bạn đang đọc đó. Làm sao bạn biết mình thích ăn kem? Bạn đang ăn kem đấy! Làm sao bạn biết mình yêu mến Đức Chúa Trời? Bạn yêu mến dân sự của Ngài.
10. Chúng ta đánh giá tình cảm dành cho Đức Chúa Trời bằng tình cảm dành cho con cái của Ngài. Đức Chúa Trời đã ấn định rằng tình cảm chúng ta dành cho Ngài phải được thử nghiệm bởi con người. Đức Chúa Trời có chiến lược đặt để con người vào đường lối của bạn, họ thật khó mà yêu thương lắm. Tôi nghĩ Ngài thích đặt những gã tài xế tồi ở quanh chúng ta! Bạn không ưa thích họ, nhưng bạn phải yêu thương họ. II. Cha tôi biết rõ hành động trong sự vâng phục, điều nầy thật lấy làm tốt cho tôi (các câu 2-3).
A. Thử nghiệm của tình yêu thương là vâng theo các điều răn của Đức Chúa Trời (câu 2).
1. Ở câu 1, chúng ta học biết rằng chúng ta biết chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời khi chúng ta yêu mến con cái của Ngài. Ở câu 2, chúng ta học biết rằng "Chúng ta biết mình yêu con cái Đức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài". Đây là cách lý luận vòng tròn.
2. Vâng phục là minh chứng cho thấy rằng chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời. Khi bạn vâng theo Đức Chúa Trời trong mối quan hệ với con cái của Ngài, bạn yêu mến họ và điều nầy chứng tỏ rằng bạn yêu mến Đức Chúa Trời và bạn có mối mật thiết với Ngài.
3. Mạng lịnh của Ngài phải vâng phục, ấy là chúng ta hành động trong tình yêu thương đối với nhau.
4. Đức Chúa Trời đã hoạch định cuộc sống nầy cho tới chừng nào Cơ đốc nhân quyết định yêu thương nhau, họ sẽ không bao giờ có mối mật thiết với Đức Chúa Trời. Nếu bạn muốn sống gần gũi với Đức Chúa Trời, đừng huênh hoang hết nhà thờ nầy đến nhà thờ khác mà chẳng đưa ra một sự phó thác. Hãy tìm một mối tương giao trong Kinh Thánh của các tín đồ rồi đem đời sống của mình mà yêu thương họ. Tình yêu nắm lấy thế chủ động. Yêu thương theo Kinh Thánh tìm một con đường để dấn thân vào những người khác.
5. Tôi không thể có sự mật thiết với Đức Chúa Trời trừ phi tôi yêu mến bạn. Tuy nhiên, khi tôi quyết định hành động trong tình yêu thương đối với bạn, tôi giữ vẹn "điều răn" của Ngài trong mối quan hệ với bạn và chứng minh rằng tôi yêu mến Ngài vì tôi biết yêu thương bạn. Khi ấy tình yêu của Ngài tuôn tràn ra trong lòng tôi và tôi có mối tương giao mật thiết, sâu sắc, vĩnh cửu với Ngài! Tên của tôi là Coy Wylie. Tên của cha tôi là Taylor Wylie. Bởi mối quan hệ, tôi là con của ông ấy. Máu của ông ấy đang chảy trong các mao mạch của tôi. Tôi có mã gene của ông. Không một điều gì có thể làm thay đổi sự thực tôi là con của ông ấy. Tuy nhiên, tôi đã học biết rất sớm trong cuộc sống rằng nếu tôi không vâng theo cha tôi, tôi sẽ mất đi mối giao thông với ông ấy. Bao lâu tôi làm những gì ông ấy muốn tôi làm theo, chúng tôi sống trong sự hài hoà. Khi tôi bất tuân, sự hài hoà kia bị tan vỡ đi. Không một điều gì có thể làm thay đổi mối quan hệ của tôi là con của ông ấy, nhưng sự bất tuân có thể làm thay đổi mối tương giao của tôi với cha tôi. Cũng một thể ấy với Đức Chúa Trời.
B. Vâng theo điều răn của Đức Chúa Trời không phải là khó (câu 3).
1. Ở câu 3, Giăng nói "điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề". "Nặng nề" có nghĩa là "chán ngắt, chồng chất". Đức Chúa Trời không hề muốn sự vâng phục của chúng ta trở thành một gánh nặng đeo quanh cổ chúng ta.
2. Nếu bạn nghĩ vâng theo Đức Chúa Trời là khó hay "nặng nề", bạn đã hiểu sai rồi. Bạn cần phải trưởng thành trong đức tin của bạn. Khi tôi lớn lên, tôi nghĩ cha tôi khắc nghiệt lắm. Họ đòi hỏi những điểm số phải thật tốt. Họ buộc tôi phải làm những việc vặt trong nhà. Họ muốn tôi phải lên giường ngủ cho đúng giờ. Sau đó, tôi phải có mặt đúng giờ nhất định tại nhà. Là một đứa trẻ, tôi nghĩ họ không muốn tôi phải vui chơi nhiều. Khi tôi trưởng thành, tôi học biết rằng những gì tôi đã nghĩ trước đây là khắc nghiệt quả thực là sự yêu thương. Vì họ yêu thương tôi, họ đã có những luật lệ để bảo hộ tôi và kỷ luật để sửa đổi tôi. Mọi sự họ đã làm đã được làm ra trong sự yêu thương. Tuy nhiên, tôi phải lớn lên trước khi tôi có thể hiểu được như thế. Nói cách khác, sự trưởng thành dạy cho tôi nhận ra rằng cha tôi biết rõ hết.
3. Nếu bạn nhận ra những gì bạn đang nhìn biết trong lúc bây giờ rồi trở lại làm một đứa trẻ, bạn sẽ là một đứa trẻ rất khác biệt. Bạn đã hiểu rõ mọi điều luật kia.
4. Khi bạn trưởng thành trong sự hiểu biết về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho bạn, bạn không vật vã với những gì Ngài muốn bạn làm vì bạn biết Ngài có sở thích tốt nhứt của bạn trong tấm lòng. Đức Chúa Trời chẳng được lợi lộc gì khi khiến cho bạn phải đau khổ.
5. Có người phải chịu đau khổ vì họ dành quá nhiều thì giờ đánh trận với Đức Chúa Trời, họ chưa hề học biết niềm vui của sự vâng phục.
6. Chìa khoá cho một sự bước đi gần gũi hơn với Đức Chúa Trời không phải là nói tiếng lạ, kiếm được một chứng chỉ thần học hoặc sống ẩn dật trên một ngọn núi ở Tây Tạng. Chìa khoá cho một sự bước đi gần gũi hơn với Đức Chúa Trời là vâng theo Ngài, làm theo những gì bạn biết rõ Ngài muốn bạn phải làm.
J. Stuart Holden viết về sự có mặt trong một phân xưởng lớn, là nơi có hàng trăm khung cửi đang xoay tròn với những sợi chỉ tơ tốt nhứt. Viên quản lý phân xưởng nói: "Cổ máy nầy tinh vi đến nỗi là nếu có một sợi tơ trong toàn bộ 30.000 sợi, bị đứt đi ngay giây phút nầy, tất cả các khung cửi nầy đều sẽ dừng lại ngay". Ông ta bước tới một khung cửi và ngắt đứt một sợi tơ. Thình lình mỗi khung cửi đứng im lại cho tới khi sợi tơ kia được nối liền. Cũng một thể ấy, chỉ cần một hành động bất tuân thì các ơn phước trong mối giao thông của chúng ta với Ngài phải dừng lại. Cho tới chừng nào sợi tơ được nối liền, thì sự vui mừng của Chúa sẽ tuôn tràn lại trong tấm lòng của chúng ta. Có sợi tơ nào bị đứt trong đời sống của bạn không?
III. Cha tôi biết hành động trong đức tin là điều tốt nhứt đối với tôi (các câu 4-5).
A. Tất cả con cái của Đức Chúa Trời đều là những kẻ đắc thắng.
1. Hai câu cuối nầy chứa một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong Kinh Thánh. Nếu bạn chịu áp dụng những gì bạn sắp sửa tiếp thu đây, nguyên tắc nầy sẽ làm thay đổi đời sống của bạn và buông tha cho bạn được tự do.
2. Trong các câu 4-5, chúng ta thấy chữ "thắng hơn" đến ba lần. Chúng ta thấy chữ nầy hai lần trong câu 4, một lần ở thì hiện tại ["thắng hơn"] và một lần ở thì quá khứ ["đã thắng hơn"] [trong bản Kinh Thánh Anh ngữ].
3. Là tín đồ được "sanh bởi Đức Chúa Trời", chúng ta hiện đang thắng hơn thế gian vì chúng ta đã thắng hơn nó rồi.
4. "Thắng hơn" ra từ chữ nikao có nghĩa là "chinh phục, chiến thắng, đắc thắng". Tại sao thế gian phải cần được "thắng hơn"? Hệ thống thế gian đang bị Satan cai quản (câu 19). Hệ thống thế gian muốn thắng hơn bạn để giữ bạn không nhìn biết sự hiện diện của Đức Chúa Trời, không kinh nghiệm quyền phép của Đức Chúa Trời và không còn theo đuổi mục đích của Đức Chúa Trời. Thế gian muốn giữ bạn không còn ở trong Đấng Christ và trưởng thành như một tín đồ nữa. Thế gian muốn hủy diệt đời sống thuộc linh của bạn đấy.
5. Phần lớn các Cơ đốc nhân đều không hiểu hay không tin rằng họ đã "thắng hơn thế gian" rồi. Chúng ta không phải tìm kiếm để "chiến thắng" vì chúng ta đã có sự "chiến thắng" rồi.
6. Khi Chúa Jêsus chịu chết và đã sống lại, Ngài đã thắng hơn kẻ thù. Ngài phá vỡ quyền lực của tội lỗi. Ngôi mộ trống là dấu hiệu của sự "chiến thắng". Khi bạn được "sanh bởi Đức Chúa Trời", Thánh Linh của Đấng Christ đến ngự ở trong bạn, tâm trí của Đấng Christ đã được cài vào bạn và quyền phép của Đấng Christ đã được ban cho bạn! Nhân vật chiến thắng trong trận đánh vũ trụ đang ngự ở trong bạn và vì Ngài là Đấng Thắng, bạn là một người đắc thắng! Đời sống của bạn được gói ghém ở trong Ngài. Bạn đang "ngồi" với Ngài ở "các nơi trên trời".
7. Chúng ta không phải đánh trận với thế gian để đạt được "chiến thắng", chúng ta chỉ phải bước đi trong sự "chiến thắng" đã thuộc về chúng ta rồi nhờ vào Đấng Christ. Quyền phép, oai nghi, và các nguồn lực của Ngài đã thuộc về chúng ta rồi!
8. Là tín đồ được "sanh bởi Đức Chúa Trời" bạn là một kẻ đắc thắng. Bạn hiện đang thắng hơn thế gian vì Ngài đang ngự ở trong bạn và Ngài đã thắng hơn rồi.
B. Đức tin của chúng ta buông tha chúng ta ra khỏi vòng nô lệ.
1. Niềm tin của chúng ta luôn luôn quyết định cách xử sự của chúng ta. Nếu bạn tin bạn là người mà Kinh Thánh nói, bạn có thể có chiến thắng ấy. Giăng nói: "và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta". Bạn sẽ thắc mắc: "Nếu đức tin là sự chiến thắng, tại sao tôi lại cảm thấy thắng hơn?" Khi tôi là một đứa trẻ, tôi thích đi xem xiếc khi gánh xiếc đến tại thị trấn của chúng tôi. Tôi đã thấy những người làm xiếc kia sử dụng sức mạnh của mấy con voi để dựng lên những tấm lều thật lớn. Thật là đáng ngạc nhiên khi thấy chính những chú voi nầy lại bị xích bởi những sợi xích thật nhỏ và một cây đinh chừng 18-inch. Khi chúng còn nhỏ, chúng không có sức lực để tự do. Ngay cả khi thân thể của chúng càng lớn mạnh hơn, niềm tin về bản thân của chúng cũng y như vậy. Chúng đã tin rằng chúng không mạnh đủ để rứt ra mà được tự do.
2. Đấng Christ đã ban rồi cho bạn sức mạnh để phá vỡ bất cứ xiềng xích nào trói buộc bạn. Lý do chúng ta có những sự nghiện ngập, các thói tật xấu, nhận thức về bản thân thật nghèo nàn vì chúng ta bị xiềng vào đường lối suy tưởng cũ. Tuy nhiên, sự thực là ĐỨC TIN MANG LẠI SỰ TỰ DO!
3. Có nhớ khi David đối mặt với Gô-li-át không? Chúng ta hãy mở I Samuên 17 ra. Saulơ đã trang bị với gươm và sự vô tín. David được trang bị chỉ với một cái trành ném đá cùng với mấy viên đá, nhưng ông vốn biết rõ rằng ĐỨC TIN LÀ SỰ CHIẾN THẮNG!
4. Nhiều Cơ đốc nhân nói họ cần có thêm đức tin. Có người đến nói với tôi: "Thưa Mục sư, nếu tôi chỉ có đức tin của ông…" Chúng ta có đủ đức tin mà chúng ta cần rồi. Chúng ta phải luyện tập đức tin ấy. Câu 5 chép: "Ai là người thắng hơn thế gian" "há chẳng phải kẻ tin…". Bạn tin gì về bản thân mình, niềm tin ấy quyết định cách xử sự của bạn đấy!
Trong vài phút thôi, bạn sẽ bước ra chỗ đậu xe rồi tra chìa khoá vào lỗ cắm. Nếu bạn không vặn ổ cắm, công tắc sẽ không khởi động máy và bạn sẽ chẳng đi đến đâu hết. Đức tin là ổ công tắc và quyền phép của Đức Chúa Trời là bộ máy. Nếu bạn được "sanh bởi Đức Chúa Trời", bạn đang có rồi đủ đức tin và đủ quyền lực mà bạn có cần. Lý do bạn chẳng đi tới đâu hết trong đời sống thuộc linh của bạn, lý do thế gian đang thắng hơn bạn là vì bạn không vặn công tắc. Bạn đang ngồi ở đàng sau vô lăng và lấy làm lạ không biết tại sao mình vẫn ở yên một chỗ khi mọi sự bạn có cần là xoay chiếc chìa khoá. Bạn không đạt tới mức dám tin rằng bạn là người mà Đức Chúa Trời phán bạn phải trở thành.

I Giăng 4.13-21: "Ở trong sự yêu thương"



SỐNG TRONG SỰ SÁNG
Ở trong sự yêu thương
I Giăng 4.13-21
1. Tuần qua, trong câu 12 chúng ta đã công nhận sự thực rằng "chưa hề có ai thấy Đức Chúa Trời". Đức Chúa Trời không thể thấy được. Tuy nhiên, "nếu chúng ta yêu nhau" Đức Chúa Trời trở nên thấy được nơi chúng ta. Người ta không thể thấy được bản chất của Ngài, song họ có thể nhìn thấy mọi hành động của Ngài. Chúa Jêsus đã phán điều nầy như sau: "Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta" (Giăng 13.35). Có thể bạn đã nghe thuật lại câu chuyện về lính Mỹ ở châu Âu vào cuối Đệ II Thế Chiến. Xứ sở đã bị chiến tranh tàn phá và đã ở trong những đống đổ nát. Phần đáng buồn nhất là hoàn cảnh khó khăn của những đứa trẻ mồ côi bị đói khát trên các đường phố. Vào một sáng sớm lạnh lẽo kia, người lính nầy đang đi dạo trên đường phố Luân đôn khi anh ta phát hiện ra một cậu bé với cái mũi đang ấn vào cửa sổ cửa hàng làm bánh nọ. Ở bên trong người thợ làm bánh đang nhồi bột để đưa ra mẻ bánh thật mới. Cậu bé đói bụng chảy nước dãi khi quan sát từng động tác của người thợ làm bánh. Người lính nói: "Nầy, cháu thích có vài cái bánh không?" Đứa trẻ ấy đáp: "Cháu à!". Người lính đó liền bước vào bên trong rồi mua một tá bánh rồi trao cái túi cho cậu bé. Khi anh ta bước đi, cậu bé kia kêu lên: "Ông ơi, có phải ông là Đức Chúa Trời không?"
2. Giăng viết thư tín ngắn ngủi nầy để thuật lại cho chúng ta biết rằng chúng ta giống Đức Chúa Trời hơn khi chúng ta hành động trong sự yêu thương. Thực vậy, không những Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải hành động trong tình yêu thương, Ngài muốn chúng ta cứ ở trong sự yêu thương.
3. Từ ngữ "ở trong" hay gốc của nó xuất hiện khoảng 21 lần suốt cả sách I Giăng. Khi viết cho các Cơ đốc nhân thuộc thế kỷ thứ nhất, sứ đồ Giăng tuyên bố rằng Đức Chúa Trời không những muốn có một mối quan hệ với chúng ta, Ngài còn muốn giao thông với chúng ta nữa. Ngài muốn chúng ta phải "ở trong" hay ổn định trong mối quan hệ mật thiết, tình cảm với Chúa Jêsus. Bạn thấy đấy, khi Đấng Christ ở trong tôi (quan hệ) và tôi ở trong Ngài (giao thông) tôi có cùng sự mật thiết với Chúa Jêsus mà các vị sứ đồ đã có khi họ đồng đi và trò chuyện riêng tư với Ngài.
4. Câu 8 chép: "Đức Chúa Trời là sự yêu thương". Khi chúng ta ở trong Đức Chúa Trời, chúng ta ở trong sự yêu thương. Có người nói: "Thưa Mục sư, làm sao tôi biết tôi đang ở trong sự yêu thương với Chúa?" Giăng trả lời cho thắc mấc đó bằng cách cung ứng cho chúng ta ba bảo đảm và ba thuộc tính của việc ở trong tình yêu thương.
I. Ba bảo đảm cho việc ở trong sự yêu thương (các câu 13-16).
A. Sự hiện diện có thể phân biệt được của Thánh Linh Đức Chúa Trời (câu 13).
1. Giăng nói rằng chúng ta có thể "biết mình ở trong Ngài" và "Ngài ở trong chúng ta" trên cơ sở sự thực "Ngài đã ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta". Hãy chú ý cách cẩn thận câu nầy không những nói Ngài đã ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta, mà Ngài còn ban cho chúng ta "THUỘC VỀ Thánh Linh Ngài" nữa. Sát nghĩa câu nầy dịch là "rút lấy Thánh Linh Ngài". Khi chúng ta yêu giống như Đức Chúa Trời yêu, chúng ta đang rút tỉa mọi tài nguyên của Đức Thánh Linh.
2. Rôma 5.5 cho chúng ta biết: "…sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta". Khi chúng ta trở thành một Cơ đốc nhân, Đức Thánh Linh đã đến ngự ở trong bạn theo cách riêng. Đấy là điều câu 13 muốn nói bởi "Ngài ở trong chúng ta". Ngài đã "rãi khắp" tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong bạn hầu cho bạn có tất cả những tài nguyên bạn cần để yêu giống như Đức Chúa Trời yêu.
3. Làm sao chúng ta biết "chúng ta ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta?" Chúng ta biết hay hiểu rõ điều nầy bởi sự hiện diện có tính phân biện của Đức Thánh Linh, chúng ta có thể nhận ra công việc của Đức Thánh Linh trong đời sống của chúng ta. Chúng ta có thể nghe được tiếng êm dịu nhỏ nhẹ của Ngài ở trong tấm lòng của chúng ta. Chúng ta nhận ra sự thuyết phục, sự khích lệ và sự dẫn dắt của Ngài.
4. Nếu bạn không thể phân biện được sự hiện diện của Thánh Linh Đức Chúa Trời, một trong hai việc là sai lầm trong đời sống của bạn.
a. Thứ nhứt, bạn chưa có một MỐI QUAN HỆ với Đức Chúa Trời. II Côrinhtô 13.5 chép: "Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng. Hãy tự thử mình: anh em há không nhận biết rằng có Đức Chúa Jêsus Christ ở trong anh em sao?" Bạn có thể cầu nguyện một ít lời, chịu phép báptêm, đi nhà thờ trong nhiều năm, bạn có thể tỏ vẽ bề ngoài là một Cơ đốc nhân, nhưng nếu bạn không có sự hiện diện bên trong của Đức Thánh Linh trong đời sống của bạn, bạn chưa được cứu. Rôma 8.9 chép: "song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài".
b. Thứ hai, bạn chưa có MỐI GIAO THÔNG với Đức Chúa Trời. Có thể bạn thực đã được cứu và bạn thường nghe thấy tiếng của Đức Thánh Linh trong tấm lòng, nhưng không còn nghe thấy nữa. Có thể bạn đang sống trong sự loạn nghịch và mọi sự bạn cảm thấy là tội lỗi và sự thuyết phục. Có thể bạn đã chất đầy đời sống mình với sự bận rộn đến nỗi tiếng ồn ào dộn dựt của kế hoạch đã lấn át đi tiếng êm dịu nhỏ nhẹ của Đức Chúa Trời.
5. Nếu bạn thuộc về Đấng Christ và đang ở trong Ngài, "thuộc về Thánh Linh Ngài", đang rút tỉa sự dư dật của Thánh Linh Ngài để bạn có thể yêu giống như Ngài yêu vậy. D.L. Moody đã có một chiến dịch truyền giảng Tin lành ở Anh quốc. Một Mục sư lão thành phản kháng: "Tại sao chúng ta cần đến Ông Moody nầy? Ông ấy chẳng có học vấn và không có kinh nghiệm. Ông ấy nghĩ mình là ai chứ? Có phải ông ấy nghĩ mình là độc quyền về Đức Thánh Linh chăng?" Một vị Mục sư trẻ tuổi hơn, khôn ngoan hơn đã đứng dậy đáp: "Không, Đức Thánh Linh có sự độc quyền trên Ông Moody".
B. Tin cậy xưng nhận Con Đức Chúa Trời (các câu 14-15).
1. Giăng nói: "Chúng ta lại đã thấy và làm chứng rằng Đức Chúa Cha đã sai Đức Chúa Con đặng làm Cứu Chúa thế gian" (đối chiếu 1.1-3). Vì trong ba năm họ đã "thấy" Chúa Jêsus. Tuy nhiên, sau đó họ mới tiếp nhận Đấng Yên Ủi, Đức Thánh Linh vào dịp Lễ Ngũ Tuần họ mới có quyền phép "làm chứng" về "Đức Chúa Con đặng làm Cứu Chúa". Gordon Brownville đã viết về nhà thám hiểm Na uy lỗi lạc Roald Amundsen, người đầu tiên khám phá ra đỉnh điểm của Bắc Cực và khám phá ra Nam Cực. Trong một chuyến du hành của ông, Amundsen đã đem theo con chim bồ câu đi với ông. Sau cùng, khi ông lên tới đỉnh cao của thế giới, ông mở lồng chim ra rồi thả cho nó bay đi. Hãy tưởng tượng sự thích thú của vợ Amundsen, trở về lại Na uy, khi bà nhìn ra khung cửa nhà mình và nhìn thấy con chim bồ câu đó đang vòng vòng bên trên bầu trời. Không nghi ngờ chi nữa, bà hô lên: "Ông ấy còn sống! Chồng tôi hãy còn sống!" Cũng một thể ấy khi Chúa Jêsus thăng thiên. Ngài đã đi rồi, nhưng các môn đồ cứ bám vào lời hứa của Ngài sẽ sai phái Đức Thánh Linh đến với họ.
2. Chúa Jêsus không phải là "Cứu Chúa" của mọi người trong "thế gian" mà Ngài là "Cứu Chúa" của bất cứ ai đang ở trong "thế gian" nhơn đức tin mà đến với Ngài. Ngài là "của lễ chuộc tội lỗi … cho cả thế gian".
3. Câu 15 chép rằng bất cứ ai cũng có thể nhìn biết rằng "Đức Chúa Trời ở trong người và người ở trong Đức Chúa Trời" nếu người ấy "xưng Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời".
4. "Xưng" không những có ý nói là "tin tưởng". Nhiều người đang tin Chúa Jêsus là Con của Đức Chúa Trời song chẳng có mối quan hệ nào với Ngài. Thay vì thế, "xưng" mang ý tưởng phó thác đời sống của một người. Xưng Đấng Christ ra là phó thác mọi sự trong đời sống của bạn cho Ngài. Giống như 3.18 nói, yêu mến Ngài không những "bằng lời nói và bằng lưỡi" mà còn "bằng việc làm và bằng lẽ thật" nữa.
5. "Xưng" cũng mang ý tưởng làm chứng về Đấng Christ. Người nào ở trong sự yêu thương của Chúa chẳng làm chi khác hơn là trở thành một chứng nhân cho Ngài. Họ nói về Ngài. Có bao nhiêu ông bà, bố mẹ ở đây hôm nay có hình ảnh chụp chung với con cháu mình? Có bao nhiêu người trong quí vị đã nói đôi điều sáng nay về con cháu của mình? Quí vị chẳng làm chi khác hơn là nói về điều mình yêu. Khi một thanh niên đem lòng yêu một thiếu nữ kia, anh ta chẳng làm chi khác hơn là nói với nàng. Những cô thiếu nữ nói rất nhiều giờ bên máy điện thoại với và về bạn trai của họ! Khi bạn yêu thích môn golf, săn bắn, câu cá hay bất cứ gì, bạn sẽ nói, nói, nói về sự ấy. Bạn không làm chi khác hơn là nói về điều mình yêu.
6. Lý do nhiều người không nói về Chúa Jêsus là vì họ chưa ở trong Ngài. Chúng ta không bước đi trong sự yêu thương của Ngài và vì thế chúng ta không có tình cảm dành cho tha nhân, những kẻ đang cần đến Ngài.
C. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời tỏ ra trông thấy được (câu 16).
1. Ở câu 12, Giăng đã nói rồi "nếu chúng ta yêu nhau", có hai việc là thực. Thứ nhứt, "Đức Chúa Trời ở trong chúng ta" và thứ hai, "sự yêu mến Ngài được trọn vẹn [phu phỉ, hoàn toàn] trong chúng ta". Ở đây trong câu 16, Giăng viết: "ai ở trong sự yêu thương, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy". Nói cách khác, người tín đồ nào đang ở trong mối giao thông với Đức Chúa Trời, người ấy ở trong sự yêu thương và đấy là sự bảo đảm cho thấy Đức Chúa Trời đang ở trong người ấy.
2. Giăng cũng nói ngay lúc bắt đầu câu: "Chúng ta đã biết và tin [đã đạt tới mức tin tưởng và nương cậy] sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta". Chúng ta dám chắc rằng Đức Chúa Trời yêu chúng ta, nhưng nếu chúng ta yêu Đức Chúa Trời chúng ta sẽ yêu thương tha nhân.
3. Ở I Côrinhtô 11, Phaolô trách hội chúng Côrinhtô vì họ thiếu tình yêu thương. Họ đã đến với bàn Tiệc Thánh để kỷ niệm tình yêu của họ đối với Ngài mà chẳng yêu thương nhau. Phaolô nói cho họ biết thật là nguy hiểm khi kỷ niệm mối tương giao với Đức Chúa Trời với sự giả vờ dối trá. Họ không nên đến với bàn Tiệc Thánh để giao thông với Ngài cho tới chừng nào họ có thể giao thông với nhau.
4. Phaolô đã nói trong câu 26: "Ấy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến". Họ cần phải nhớ tới "sự chết của Chúa". Tại sao chứ? Vì sự chết của Ngài là biểu tượng tối hậu cho tình yêu của Ngài. Ngài đã phán trong Giăng 15.13: “Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình" (đối chiếu Rôma 5.8).
5. Nếu bạn đang ở trong Đấng Christ, bạn nghe tiếng của Đức Thánh Linh và bạn làm chứng về Chúa Jêsus, và bạn sống giống như Chúa Jêsus với tình cảm của mình.
6. Nếu ai đó chỉ có chút xíu tình yêu, sở dĩ như thế là vì người ấy chỉ có chút giao thông với Đức Chúa Trời. Mặt khác, khi bạn nhìn thấy một tín hữu trưởng thành thường xuyên hành động trong sự yêu thương, bạn biết ngay mối giao thông của ngưới ấy với Chúa rất là mạnh mẽ.
II. Ba thuộc tính của sự ở trong tình yêu thương (các câu 17-21).
A. Dạn dĩ thay vì xấu hổ (câu 17).
1. Giăng nói rằng nếu "sự yêu thương được trọn vẹn [hoàn toàn, phu phỉ]", nghĩa là nếu chúng ta trưởng thành trong sự chúng ta đồng đi với Đấng Christ, chúng ta sẽ được "lòng mạnh bạo trong ngày phán xét".
2. "Mạnh bạo" ra từ một chữ có nghĩa là "thẳng thắn, thẳng thừng". Giăng dạy ở 2.28 rằng chúng ta sẽ "đầy sự vững lòng" nơi sự tái lâm của Đấng Christ nếu chúng ta ở trong Ngài. Ở 3.21-22, ông dạy rằng chúng ta được "lòng dạn dĩ" trong sự cầu nguyện nếu chúng ta ở trong Ngài. Giờ đây, ông dạy chúng ta biết rằng chúng ta có thể có chính "lòng dạn dĩ" (parrhesia) ấy tại Ngai Phán Xét của Đấng Christ.
3. Nếu chúng ta ở trong Chúa Jêsus, Ngài đang hành động qua chúng ta để hoàn thành mọi mục đích của Ngài. Vì lẽ đó, phán xét chúng ta là phán xét chính mình Ngài! Có bao giờ bạn tham dự cuộc thi mà bạn đã được chuẩn bị đầy đủ rồi chưa? Bạn rất phấn khởi muốn tỏ ra mình đã tiếp thu nhiều là dường nào. Bạn biết rõ bạn sẽ thắng cuộc thi ấy!
4. Hãy gạch dưới cụm từ sau ở trong câu 17. Đức Chúa Trời đã khiến cho điều nầy ra thực đối với tôi trong tuần lễ nầy: "ấy là Chúa thể nào thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian nầy". Chúng ta là thân thể của Đấng Christ trong thế gian. Ngài thể nào trong thân thể vật lý của Ngài thì chúng ta cũng hiện y như vậy!
5. Trong chức vụ của Ngài ở trên đất, lai lịch của Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời ở trong loài xác thịt. Lai lịch của chúng ta là con trai con gái của Đức Chúa Trời trong loài xác thịt. Sứ mệnh của Ngài là làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời và hoàn tất công việc của Ngài. Sứ mệnh của chúng ta là làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời và hoàn tất công việc của Ngài. Sự kêu gọi của Ngài là để chứng tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Sự kêu gọi của chúng ta là chứng tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời cho một thế giới đang quan sát.
6. Tony Evans đã nói: "Chúng ta là phần cơi rộng thêm sự hoá thân thành nhục thể. Sự hoá thân thành nhục thể là Đức Chúa Trời trở thành người để con người có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời. Chúng ta là hạng người được sự yêu thương của Đức Chúa Trời ngự ở trong để cho người ta có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời". Giăng nói: "ấy là Chúa thể nào thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian nầy". Chúng ta không phải là thần linh, song thần linh đang ngự trong chúng ta để chúng ta có thể làm những việc mà Chúa Jêsus đã làm!
7. Nếu bạn phải đứng trước mặt Chúa Jêsus hôm nay trong "sự phán xét", liệu bạn sẽ được "lòng dạn dĩ" hay xấu hổ? Bí quyết là “ở trong!”
B. Đức tin thay vì sợ hãi (câu 18).
1. Giăng nói "sự yêu thương trọn vẹn [trưởng thành] thì cắt bỏ sự sợ hãi". Vì chúng ta ở trong Chúa Jêsus, chúng ta không phải sợ hãi.
Cậu bé Johnny 5 tuổi có mặt ở trong bếp khi mẹ nó đang làm bữa ăn. Bà yêu cầu nó vào phòng ăn rồi lấy cho bà một hộp cà, nhưng nó không muốn đi một mình: "Ở đó tôi thui hà, và con sợ lắm". Bà yêu cầu một lần nữa, và nó cứ khăng khăng. Sau cùng, bà nói: "Thôi được rồi. Chúa Jêsus sẽ có mặt ở đó với con". Johnny bước chần chừ đến cửa rồi chậm chậm mở ra. Nó bước vào bên trong, nhìn thấy phòng vẫn tối thui, rồi khởi sự ra khỏi đó nhưng ngay lập tức một ý tưởng hiện đến, và nó nói: "Lạy Chúa Jêsus, nếu Ngài có mặt ở đó, xin Ngài trao cho con cái hộp cà ấy đi?"
2. Giăng nói: "Quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương". Lý do duy nhứt chúng ta sống trong sợ hãi là vì chúng ta không hiểu rõ tình yêu thương. Một cựu chính trị viên Phát xít đã lẫn trốn trong 32 năm vì e sợ hình phạt. Ông ta nói ông ta thường kêu la khi nghe thấy những giọng nói vui sướng ở bên ngoài, song chẳng dám tỏ mình thậm chí trong đám tang của mẹ ông ta. Janez Rus là một thợ đóng giày trẻ tuổi khi phải đi trốn ở nhà chịu mình tại vùng nông thôn vào tháng 6 năm 1945. Người ta tìm ra anh ta nhiều năm về sau sau khi người chị đi mua nhiều bánh ở ngôi làng Zalna gần bên. Rus đã nói: "Nếu tôi không bị phát hiện, tôi cứ mãi lẫn trốn. Vì vậy, tôi rất vui khi điều nầy đã xảy ra". Trong những năm ấy anh ta chẳng làm gì cả. Anh ta không hề ra khỏi nhà, và chỉ có thể nhìn xuống ngôi làng dưới thung lũng (Today in the Word).
3. Tôi biết nhiều Cơ đốc nhân, họ đã bị sợ hãi làm cho tê liệt.
4. Sợ hãi là kết quả của sự Sa Ngã. Tại Vườn Ê-đen, Ađam đã không sợ hãi. Ông ấy đã sống mặt đối mặt giao thông với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã tiếp trợ cho mọi sự ông có cần, ngay cả một người vợ. Vì tình yêu thương của Đức Chúa Trời, Ađam không biết đến cảm xúc sợ hãi. Tuy nhiên, khi ông phạm tội, sợ hãi đã ụp đến phủ lút ông.
5. "Vì sợ hãi có hình phạt", Giăng nói. Sát nghĩa thì câu nầy đọc là: “Sợ hãi có hình phạt" chớ không phải "sợ hãi phải làm với hình phạt". Từ ngữ nói tới "hình phạt" ra từ một gốc có nghĩa là: "giới hạn hay ngăn trở". Sợ hãi giới hạn chúng ta. Sợ hãi bắt tù chúng ta.
6. Những nỗi lo lắng và sợ sệt bắt tù chúng ta. Một số Cơ đốc nhân phải rời khỏi nhà cửa của họ vì nỗi sợ hãi. Nhiều người khác sẽ không dám lái xe ra phố vì sợ tai nạn. Đấy là lối sống ở trong ngục tù!
7. Nếu sợ hãi là kết quả của sự Sa Ngã, đức tin là kết quả cửa ơn cứu rỗi. Đức tin "cất bỏ sợ hãi" đến từ chỗ ở trong sự yêu thương của Đức Chúa Trời. Trong Đấng Christ, tôi được phục hồi đối với vườn E-đen. Khi tôi ở trong Ngài, tôi bắt đầu nắm lấy tình yêu thương, mối quan tâm, sự thương xót và sự tiếp trợ của Ngài dành cho tôi.
8. Đôi khi tôi sợ cho gia đình tôi. Tôi lo lắng về sự an toàn của mấy đứa con cùng sức khoẻ của vợ tôi. Tuy nhiên, khi tôi tìm cách ở trong Đấng Christ, tôi nhận ra rằng Ngài yêu thương tôi và họ và Ngài sẽ chăm sóc chúng tôi.
C. Khả thi thay vì bất khả thi (các câu 19-20).
1. Trong câu 19, Giăng nói: "Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước". Có lẽ cần phải đọc sát nghĩa hơn như sau: "Chúng ta yêu và trước tiên Ngài đã yêu chúng ta". Chúng ta có thể yêu vì trước tiên Ngài đã yêu chúng ta! Tình yêu thương của Ngài dành cho chúng ta khiến cho tình yêu của chúng ta dành cho tha nhân ra khả thi.
2. Giờ đây Giăng xử lý với người nào nói "Ta yêu Đức Chúa Trời" trong khi thù hận một tín hữu khác. Giăng nói người nầy là "kẻ nói dối". Nếu bạn không yêu anh em mình bạn không yêu mến Đức Chúa Trời. Đấy là lý do tại sao I Phierơ 3.7 chép rằng nếu chúng ta không yêu vợ mình, sự cầu nguyện của chúng ta sẽ bị "rối loạn".
3. Chúng ta có một "điều răn" đến từ Đức Chúa Trời, điều răn nầy nói: "Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình". Henry Ford chổi dậy với một chương trình cải cách cho loại máy mới mà chúng ta ngày nay biết là máy V-8. Ông mau mắn đưa ý tưởng mới nầy vào sản xuất. Ông vạch ra chương trình rồi gặp gỡ các kỷ sư. Họ nghiên cứu các bản vẽ rồi đi đến kết luận rằng ý tưởng của ông không thể thực hiện được. Khi họ ra sức dịu dàng nói cho ông biết, Ford nói: "Hãy sản xuất nó ra, dù với giá nào". Họ đáp: "Nhưng không thể được đâu". Ford ra lịnh: "Cứ làm đi, và hãy trụ lại cho tới chừng nào quí vị thành công, bất luận phải tốn bao nhiêu thời gian". Trong 6 tháng, họ đã phấn đấu với hết bản thiết kế nầy đến bản thiết kế khác với những kết quả không mấy tích cực. Sáu tháng khác chẳng đem lại được một điều gì. Đến cuối năm, một lần nữa họ nói cho ông biết đây là điều bất khả thi. Ford bảo họ cứ tiếp tục. Họ đã làm theo. Và họ khám phá ra cách để dựng lên một máy V-8. Dường như có những người khó mà yêu được lắm. Tuy nhiên, nếu chúng ta ở trong sự yêu thương của Đức Chúa Trời, Ngài biến điều bất khả thi thành ra khả thi.

I Giăng 4.7-12: "Ưu tiên cho tình yêu thương"



SỐNG TRONG SỰ SÁNG
Ưu tiên cho tình yêu thương
I Giăng 4.7-12
1. Tình yêu rất có quyền lực. Trở lại giữa thập niên 1980, Huey Lewis thường ngâm nga một bài hát có tên là. "Sức mạnh của tình yêu". Bài hát nầy có câu. "Tình yêu không cần tiền tài, danh lợi, không cần thẻ tín dụng mới lên được chiếc xe lửa nầy. Cứng rắn hơn kim cương và mạnh hơn cả thép, bạn sẽ chẳng cảm nhận được điều gì cho tới chừng bạn cảm nhận được … sức mạnh của tình yêu". Tôi e Huey đang ca hát về tình yêu thương của Đức Chúa Trời, dù vậy chẳng có một sức mạnh nào hơn được tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
2. Có hai điểm ưu tiên cơ bản trong đời sống của mỗi Cơ đốc nhân đã trưởng thành. Người ấy không ngừng đuổi theo lẽ thật và yêu thương tha nhân cách tích cực. Tuần vừa qua, chúng ta đã xem xét các câu 1-6 và đã tiếp thu cách thức để "thử các thần" vì chúng ta cần phải theo đuổi lẽ thật. Ở các câu 7-12, chúng ta trở lại với điểm ưu tiên của tình yêu thương. Chúng ta không thể phân rẽ lẽ thật ra khỏi tình yêu thương. Một trong những chiến thuật chính của kẻ ác là nhấn mạnh tình yêu thương mà không có lẽ thật hay ngược lại. Tình yêu thương mà không có lẽ thật tạo ra chủ nghĩa tự do nhạt nhẽo, vô hiệu quả. Lẽ thật mà không có tình yêu thương tạo ra xu hướng tuân thủ luật pháp cách tuyệt đối, lạnh lùng và dứt khoát.
3. Bản thân Chúa Jêsus là sự bày tỏ ra lẽ thật và tình yêu thương một cách đầy trọn nhất. Êphêsô 4.15 chép: "nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ". Khi chúng ta học biết cân đối tình yêu thương và lẽ thật, chúng ta trở nên giống như Chúa Jêsus. Câu nầy đúng ra có ý nói: "chơn thật trong tình yêu thương", lẽ thật được bảo bọc trong tình yêu thương, sống chơn thật trong tình yêu thương.
4. Trong tiểu đoạn nầy của sách, Giăng nói cho chúng ta biết rằng tình yêu thương phải là ưu tiên một trong đời sống của chúng ta vì ba lý do cơ bản, vì Đức Chúa Trời là tình yêu thương, vì Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta và vì Đức Chúa Trời đang sống trong chúng ta.
I. Yêu thương là ưu tiên của chúng ta vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương (các câu 7-8).
A. Đức Chúa Trời là NGUỒN và là GỐC của tình yêu thương chơn thật.
1. Ở câu 7, chúng ta thấy "sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời" rồi ở câu 8, chúng ta thấy "Đức Chúa Trời là sự yêu thương". Vì "Đức Chúa Trời là sự yêu thương" mọi tình yêu chơn thật đều tuôn tràn ra và đến từ Ngài.
2. Giăng nói "Đức Chúa Trời là sự yêu thương". Nói như thế không có nghĩa tình yêu là thứ mà Đức Chúa Trời làm ra đâu, mà tình yêu thương chỉ ra cho thấy Đức Chúa Trời là ai. Vì Ngài là sự yêu thương, mọi sự Ngài làm đã được làm ra trong sự yêu thương, ngay cả sự phán dạy của Ngài nữa. Giống như "Đức Chúa Trời là sự sáng" (1.5) và ở gần Ngài là bước đi trong sự sáng, vì "Đức Chúa Trời là sự yêu thương" khi chúng ta ở trong Ngài chúng ta cũng sẽ yêu thương tha nhân.
3. Đức Chúa Trời không phải làm việc với tình yêu thương hay gợi tình yêu thương lên đâu. Ngài không cần loại hình ảnh của những đứa trẻ đói khát mới cảm động thương xót đâu. Không giống với con người, Đức Chúa Trời không chạy đi tìm kiếm tình yêu thương. Ngài không yêu thương ở ngày nầy rồi thôi không yêu nữa ở một ngày khác đâu. Ngài không hề phán: "Ta không yêu ngươi như Ta thường yêu ngươi" hoặc "Ta không còn yêu ngươi nữa". Ngài không nếm trải những cảm xúc thăng trầm như thế nầy vì chính bổn tánh của Ngài, cốt lõi sự sống của Ngài là tình yêu thương. Chẳng có việc gì Đức Chúa Trời đang làm mà không có tình yêu thương vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương.
B. Vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương, con cái của Đức Chúa Trời cần phải sống yêu thương.
1. Ở câu 7, Giăng nói: "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau". Ông bảo đảm với độc giả của mình về tình yêu thương ông dành cho họ với tước hiệu thân mật nhất "kẻ rất yêu dấu" và kế đó ông khích lệ họ phải noi theo gương của ông mà yêu mến tha nhân. Giăng là một nhà truyền đạo "làm theo những gì ông rao giảng!" Đây là đầu của các cấp lãnh đạo Hội Thánh. Nếu chúng ta muốn dân sự của chúng ta yêu nhau, họ phải nhìn thấy tình yêu tin kính đang tuôn tràn ra từ đời sống của chúng ta.
2. Nếu "Đức Chúa Trời là sự yêu thương" và "sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời" thì sẽ dẫn tới chỗ "kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời [quan hệ với Đức Chúa Trời] và nhìn biết Đức Chúa Trời [giao thông với Đức Chúa Trời]" sẽ yêu giống như Ngài yêu vậy.
3. Những kẻ vô tín không bao giờ hành động trong tình yêu thương chân thật. Bạn sẽ nói: "Thưa Mục sư, tôi có người bạn hay một thành viên trong gia đình chưa xưng nhận gì về Cơ đốc giáo, nhưng người ấy là người biết yêu thương". Người chưa được cứu có thể yêu thương theo ý nghĩa của đời nầy. Người ấy có thể có tình cảm rất sâu sắc cùng những cảm xúc rất mạnh mẽ, nhưng khi các cảm xúc phôi pha rồi, người ấy bèn bỏ đi.
4. Ở câu 8, Giăng nói rằng kẻ nào "chẳng yêu không nhìn biết Đức Chúa Trời". Nói cách khác, có thể người được cứu ["sanh từ Đức Chúa Trời] mà chẳng yêu thương, nhưng khó mà trưởng thành ["nhìn biết Đức Chúa Trời"] mà lại chẳng yêu thương. Thiếu trưởng thành được thấy ở chỗ thiếu tình yêu thương.
5. Tôi biết những tín đồ, là hạng người trong họ một tình cảm dành cho Đức Chúa Trời từng chiếu sáng, song giờ đây đã trở thành cay đắng, tức tối, giận dữ và không còn yêu thương nữa. Một người như thế có thể được cứu, nhưng không ở trong hay có mối giao thông lâu dài với Đấng Christ. Vì người không tấn tới trong Chúa, tình yêu thương của Đức Chúa Trời không hiện hữu rõ ràng trong đời sống của người ấy. Người sống giống như miếng bọt biển chứa nước, nhưng nước không vắt ra được.
6. Giăng nói, là tín đồ chúng ta cần phải "yêu nhau" vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương và Ngài đang sống trong chúng ta. Ngài ban cho chúng ta khả năng yêu thương giống như Ngài yêu thương vậy. Nếu Đức Chúa Trời thực sự đang ở trong bạn, Ngài muốn yêu thương qua bạn đấy.
7. Rôma 5.5 chép: "…vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta". Giờ đây, Ngài muốn tình yêu của Ngài phải tuôn tràn ra trong đời sống của chúng ta.
8. "Đức Chúa Trời là sự yêu thương". Kinh Thánh không nói: "sự yêu thương là Đức Chúa Trời". Chỉ vì chúng ta cảm thấy yêu thương ai đó không có nghĩa là mọi tình cảm của mình đều đến từ Đức Chúa Trời đâu. Nếu bạn thành hôn hoặc có những cảm xúc dành cho ai đó, như thế chưa phải là tình yêu thương của Đức Chúa Trời đâu. Nếu bạn là một tín đồ và tưởng mình đã đem lòng yêu một người chưa tin Chúa, đấy chẳng phải là yêu thương theo lẽ thật đâu. Yêu thương không phải là Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không được xác định bằng tình yêu thương. Tình yêu thương được xác định bởi Đức Chúa Trời.
II. Yêu thương là ưu tiên của chúng ta vì Đức Chúa Trời yêu chúng ta (các câu 9-11).
* Đức Chúa Trời đã bày tỏ tình yêu của Ngài bằng cách sai phái Chúa Jêsus đến làm Cứu Chúa của chúng ta. Chúng ta hãy lưu ý sáu khía cạnh của tình yêu thương của Đức Chúa Trời khi sai phái Con của Ngài.
A. Tình yêu của Đức Chúa Trời là THẤY ĐƯỢC BẰNG MẮT THƯỜNG (câu 9a).
1. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời có thể luôn trông thấy được. Câu 9 chép: "Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra [hay làm cho biết rõ] trong điều nầy".
2. Tình yêu thương theo Kinh Thánh không phải là cảm xúc hay tình cảm. Đây là một quyết định phải hành động và hành động có thể luôn luôn trông thấy được.
3. Bất kỳ một mối quan hệ nào không tỏ ra tình yêu thương không phải là tình yêu chân thật. Người chồng nào nói với vợ mình: "Anh yêu em" mà không nhấc tay mình lên làm cho đời sống của nàng được thoải mái hơn không được tác động dưới tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
4. Có nhiều bằng chứng trông thấy được về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Ngài tiếp trợ cho từng nhu cần của chúng ta. Chúng ta có thức ăn, quần áo và nơi trú thân. Chúng ta có sự sống và sức khoẻ. Mỗi hơi thở chúng ta thở là một sự nhắc nhớ về tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
5. Về mặt lịch sử, Đức Chúa Trời đã tỏ ra tình yêu thương của Ngài trong ơn kêu gọi, và cứu chuộc dân Israel.
6. Tuy nhiên, bằng chứng tối thượng về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại, ấy là Ngài đã "sai Con một Ngài đến thế gian". Harry Ironside thuật lại về một phụ nữ đến gặp ông và nói: "Tôi không có sử dụng Kinh Thánh và chẳng có dị đoan. Nhìn biết Đức Chúa Trời là sự yêu thương là đủ cho tôi rồi". Ông nói với bà ta: "Đúng đấy, bà có nhìn biết như thế chưa?" Bà ta đáp: "Tôi đã nhìn biết như thế trong đời sống của mình". Ông nói: "Bà có nghĩ là mọi người đều biết như thế không?" Bà ta đáp: "Có đấy, ai nấy đều biết Đức Chúa Trời là sự yêu thương". Ông hỏi: "Bà có nghĩ rằng người phụ nữ kia ở Ấn độ, bà ta khăng khăng theo tôn giáo của mình, muốn ném đứa con vào dòng sông như một của lễ cho bầy cá sấu ăn, không biết bà ta có ý niệm gì về Đức Chúa Trời là sự yêu thương không?" Bà ta đáp: "Không đâu, nhưng đấy chỉ là dị đoan thôi mà". Ironside hỏi: "Bà có nghĩ rằng người châu Phi nào cúi mình xuống trước các hình tượng bằng gỗ và bằng đá, run rẩy sợ sệt e họ sẽ hủy diệt mùa màng, cướp đi con cái hay làm tổn hại người đều có ý niệm nào đó về Đức Chúa Trời là sự yêu thương không?" Bà ta đáp: "Không đâu, nhưng trong mỗi quốc gia văn minh, chúng ta đều nhìn biết rằng Đức Chúa Trời là sự yêu thương". Ông hỏi: "Làm sao chúng ta biết được, làm sao chúng ta biết được Đức Chúa Trời là sự yêu thương?" Ông nói tiếp: "Có phải những người thượng cổ đã dạy dỗ điều nầy chăng? Có phải các tôn giáo khác trên đất dạy rằng Đức Chúa Trời là sự yêu thương, và tỏ ra rằng Đức Chúa Trời là sự yêu thương? Lý do duy nhứt chúng ta biết Đức Chúa Trời là sự yêu thương là vì Ngài đã sai Con của Ngài đến. Quyển sách thuật lại về Đức Chúa Jêsus Christ là quyển sách duy nhứt trong thế gian chứa ý niệm cho rằng Đức Chúa Trời ở đàng sau mọi vật chất được dựng nên là Đức Chúa Trời yêu thương. Cõi thọ tạo tỏ ra quyền phép, sự cao trọng, quyền năng của Ngài, nhưng chẳng có một điều gì trong thiên nhiên dám nói: 'Đức Chúa Trời là sự yêu thương'. Cách duy nhứt chúng ta nhìn biết, ấy là chính Đức Chúa Trời đã tỏ ra tình yêu của Ngài trong việc ban cho Con của Ngài". Tình yêu của Đức Chúa Trời được thấy trong Ngài khi đến với trần gian như một con người và để chịu chết vì tội lỗi của chúng ta!
B. Tình yêu của Đức Chúa Trời là ĐẮT GIÁ (câu 9b).
1. Mới đây, một người chưa tin Chúa đến hỏi tôi một câu: "Phải xử thế nào với Chúa Jêsus? Tại sao Đức Chúa Trời không thể tạo ra một con nào khác để thay thế Ngài?" Tất nhiên câu trả lời, ấy là Đức Chúa Trời không dựng nên Chúa Jêsus. Ngài tự hằng hữu là "Con độc sanh" của Đức Chúa Cha.
2. Chúng ta thấy tước hiệu "Con độc sanh" chỉ có 6 lần trong Tân Ước. Tước hiệu nầy có ý nói "có một duy nhứt" và có ý nói Chúa Jêsus là độc nhất vô nhị. Đức Chúa Trời không tạo ra một Cứu Chúa cho chúng ta, mà sai Đấng là "hình bóng của bản thể Ngài" đến với chúng ta (Hêbơrơ 1.3).
3. Chúng ta nên vui mừng và đồng thanh với Phaolô: "Tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sự ban cho của Ngài không xiết kể!" (II Côrinhtô 9.15).
4. Yêu thương ai đó không luôn luôn là việc dễ làm đâu. Đôi khi yêu rất hoàn toàn khó. Có lúc phải trả giá đắt nữa đấy. Tuy nhiên, bởi Đức Thánh Linh chúng ta có thể yêu người mà chúng ta không ưa thích!
C. Tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu CÓ MỤC ĐÍCH (câu 9c).
1. Mục đích của Đức Chúa Trời, ấy là: "đặng chúng ta nhờ Con được sống".
2. Không những Đức Chúa Trời đã sai "Con Một Ngài đến" mà Ngài đã sai Con ấy "đến thế gian" để chịu chết vì tội lỗi chúng ta. Không những Giăng chỉ ra sự hoá thân thành nhục thể, rằng Ngài đã đến "trong xác thịt", mà còn đến để chuộc tội, rằng Chúa Jêsus đã chịu chết vì chúng ta.
3. Mục đích tối hậu của chúng ta trong việc yêu thương tha nhân không phải là để chúng ta cảm thấy thoải mái, mà để cho họ được phước.
D. Tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu có CÂN NHẮC (câu 10a).
1. Tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta là tình yêu có cân nhắc và dứt khoát. Đây là một hành động đặc biệt, có chủ đích chớ không phải là tình cảm trôi nổi, tùy theo sở thích đâu. Chúng ta biết rõ điều nầy vì Đức Chúa Trời đề xướng sự cứu rỗi cho chúng ta. Giăng nói: "Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta…".
2. Chúng ta không đến với Đức Chúa Trời để được yêu thương; Đức Chúa Trời đã đến với chúng ta bằng tình yêu thương. Câu 19 chép: "Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước".
3. Một trong những câu hay nhất trong Kinh Thánh là Rôma 5.8: "Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết".
4. Tình yêu tin kính yêu kẻ không đáng được yêu và kẻ bất xứng. Đức Chúa Trời yêu ai chứ? Hãy cầm quyển điện thoại niên giám của bạn lên! Ngài yêu thương mọi người!
5. Đôi khi chúng ta bắt nổi giận khi thấy người khác khiếm nhã, cứng cổ và tội lỗi. Chúng ta nổi giận và cảm thấy mình được xưng công bình khi chẳng có việc gì phải lo làm với họ nữa. Đó là lúc chúng ta cần phải nhớ rằng Đức Chúa Trời là Đấng đang xem thấy và biết rõ mọi tội lỗi của chúng ta mà không đáp ứng với chúng ta trong sự giận dữ và chối bỏ. Thay vì thế, Ngài đã đáp ứng với giá cao nhất của mọi tình yêu, chính mạng sống của Con Ngài đặng "chúng ta nhờ Con được sống". Ray Stedman hỏi: "Há đấy chẳng phải là tình yêu thương sao? Sự ấy há chẳng thu hút bạn sao? Ngài đã yêu như thế để mọi xiềng xích của sợ hãi, thù oán và gian ác đang trói buộc và xiềng xích chúng ta sẽ bị gãy vỡ ra, những lực lượng mạnh mẽ nầy ở bên trong chúng ta sẽ bị bắt phục và kềm chế, và tranh cãi, ngược đãi sẽ chấm dứt giữa vòng con người. Đấy là lý do tại sao Ngài đã đến. Mọi sự sẽ được thay thế, không phải bởi cái tầm thường tiêu cực, mà bởi sự nhịn nhục, chấp nhận, và quyền phép để giữ cho bình an – ‘đặng chúng ta nhờ Con được sống’" (www.pbc.org/dp/stedman/1john/0163.html).
6. Đừng ngây thơ đánh giá tình cảm của bạn bằng những cảm xúc nồng ấm bạn dành cho Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng hay sự siêng năng khi bạn đọc Kinh Thánh, nhưng hãy đánh giá tình cảm bạn dành cho Đức Chúa Trời qua cách thức bạn yêu thương con cái của Ngài. Tình yêu của Ngài được đánh giá theo cách ấy. Được đánh dấu cho đến đời đời trong lịch sử là biểu tượng yêu thương quan trọng nhất, ấy là thập tự giá đầy huyết của Đấng Christ!
E. Tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu BIẾT SUY XÉT (câu 10b).
1. Câu 10 cũng nói Đức Chúa Trời "sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta". "Của lễ chuộc tội" có ý nói tới sự đền tội. Ngài khiến chúng ta được "hoà lại" với Đức Chúa Cha.
2. Đức Chúa Trời không phải là một người ông bao dung, bỏ qua tội lỗi của chúng ta. Bản tánh của Đức Chúa Trời không những là tình yêu thương, mà nó còn là thánh khiết và chơn thật nữa. Sự thánh khiết và lẽ thật đòi hỏi sự công bình, sự báo ứng, tính toán và nộp trả đầy đủ cho sự thoả mãn cơn thạnh nộ thiêng liêng của Ngài.
3. Cho nên Chúa Jêsus là "của lễ chuộc tội" có nghĩa là Ngài đã gánh lấy chỗ của chúng ta trên thập tự giá. Ngài gánh lấy cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên tội lỗi trong chỗ của chúng ta (Êsai 53.6; II Côrinhtô 5.21).
F. Tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu LÀM GƯƠNG (câu 11).
1. Giăng nói: "nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải yêu nhau". "Cũng phải" nghĩa là "chịu ơn". Chúng ta chịu ơn đối với Đức Chúa Trời nên phải yêu thương tha nhân. Theo cách thức Ngài đã hy sinh vì chúng ta, chúng ta cần phải yêu nhau.
2. Phaolô đã nói trong Rôma 13.8: " Đừng mắc nợ ai chi hết, chỉ mắc nợ về sự yêu thương nhau mà thôi…" (đối chiếu Rôma 1.14). Phaolô biết rõ ông mắc nợ Đức Chúa Trời!
3. Vì tấm gương tự hy sinh lớn lao như thế nầy, chúng ta không dám dâng lên Đức Chúa Trời những lầm lỗi như: "Tôi không thể yêu người kia được" "Bạn không biết cô ấy đã làm gì tôi đâu" hay "Anh ta khó hiểu lắm không thể thương được".
4. "Không một ai có mặt tại thập tự giá và nhìn thấy tình yêu không lường được của Đức Chúa Trời dành cho kẻ không xứng đáng đã tỏ ra ở đó mà có thể quay trở lại với một đời sống ích kỷ. Quả thực tình yêu của chúng ta phải phản ảnh tình yêu của Ngài" (Stott, p.166).
5. Nếu bạn đã kinh nghiệm sự thanh tẩy tội lỗi của bạn tại thập tự giá, sự tha thứ mọi tư dục luông tuồng, những đối kháng và thù hận của bạn, bạn "cũng phải" yêu thương người khác.
III. Yêu thương là ưu tiên của chúng ta vì Đức Chúa Trời yêu thương qua chúng ta (câu 12).
A. Chúng ta hầu việc một Đức Chúa Trời không thấy được.
1. Giăng nói: "Chưa hề có ai thấy Đức Chúa Trời". Nếu có ai nói mình đã thấy Đức Chúa Trời, người ấy là điên rồ! (4.20; I Timôthê 1.17; 6.16).
2. Trong Cựu Ước, nhiều người đã nhìn thấy ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Giacốp đã vật lộn với Ngài. Êsai đã nhìn thấy Ngài trên ngôi cao sang. Môise đã nhìn thấy sự vinh hiển của Ngài trên hòn núi kia. Chúa Jêsus đã xuất hiện trước khi mặc lấy xác thịt.
3. Trong Tân Ước, nhiều người đã nhìn thấy Đức Chúa Trời khi họ nhìn thấy Chúa Jêsus. Giăng 1.18 chép: "Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết".
4. Mặc dù nhiều người đã trông thấy ảnh tượng, sự hiện thấy và thậm chí sự hiện diện theo phần xác của Đức Chúa Trời, không có ai từng nhìn thấy Ngài trong thực tại siêu việt của Ngài.
B. Đức Chúa Trời không thấy được của chúng ta trở thành thấy được trong tình cảm của chúng ta.
1. Giăng nói thêm: "nếu chúng ta yêu nhau, thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và sự yêu mến Ngài được trọn vẹn trong chúng ta".
2. Nếu chẳng có ai nhìn thấy Đức Chúa Trời, làm sao nhận biết Ngài trong lúc bây giờ được? Đức Chúa Trời không thấy được giờ đây bày tỏ chính mình Ngài không phải bằng ảnh tượng, những sự hiện thấy, trụ lửa hay trụ khói trên một hòn núi. Giờ đây Ngài không tự tỏ mình ra theo phần xác trong Con của Ngài. Đức Chúa Trời không thấy được đã được tỏ ra trong bạn và tôi khi chúng ta yêu nhau bằng tình yêu không giới hạn của Ngài. Không một ai có thể nhìn thấy bản chất của Đức Chúa Trời, nhưng họ có thể nhìn thấy các hành động của Đức Chúa Trời trong chúng ta.
3. Khi Môise từ trên núi xuống, dân Israel đã nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã phản ảnh trên gương mặt của ông. Họ không nhìn thấy Đức Chúa Trời vì họ đã có mặt trên núi, mà vì Môise đã có mặt trên núi. Đức Chúa Trời muốn sự vinh hiển của Ngài chiếu sáng trên gương mặt của bạn.
4. Ngay cả khi bạn không thể yêu theo cách con người, Đức Chúa Trời có thể yêu thương qua bạn. Trong quyển Nơi ẩn núp, Corrie Ten Boom chia sẻ cách Đức Chúa Trời yêu thương một cai ngục qua bà.
5. Đức Chúa Trời có thể yêu thương qua bạn. Ngài chỉ chờ đợi cho đến khi bạn bằng lòng, khi ấy Ngài thổ lộ tình yêu thương. Nhiều người trong chúng ta ở đây hôm nay cần phải ăn năn trước mặt Đức Chúa Trời và cầu xin Ngài yêu thương qua chúng ta.
6. Phải, Đức Chúa Trời không thấy được bằng mắt thường. Bao lâu chúng ta chỉ yêu những kẻ yêu chúng ta, Ngài sẽ không thể trông thấy được, không có ai nhìn thấy Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, khi chúng ta quyết định hành động với tình yêu thương đối cùng những kẻ gây khó chịu cho chúng ta, giận dữ với chúng ta và cay đắng đối cùng chúng ta, khi chúng ta trả lại với họ bằng sự nhịn nhục, dịu dàng, cân nhắc và có suy nghĩ, thình lình những kẻ quanh chúng ta nhận ra Đức Chúa Trời đang ở cùng chúng ta. Ngài trở nên trông thấy được qua tình cảm của chúng ta!
7. Nhiều người có thể đọc Tin lành theo Mathiơ, cũng như Mác, Luca và Giăng. Tuy nhiên, khi bạn yêu những kẻ không xứng đáng với tình yêu thương của bạn, họ sẽ đọc Tin lành theo bạn. Corrie Ten Boom chia sẻ câu chuyện có thật nầy trong quyển Nơi ẩn núp của bà: “Trong một buổi thờ phượng tại nhà thờ ở Munich, tôi đã nhìn thấy hắn, cựu nhân viên S.S. hắn đã đứng gát ở cửa nhà tắm tại trại tập trung Ravensbruck. Hắn là người đầu tiên trong những tên cai ngục mà tôi đã nhìn thấy kể từ thời điểm đó. Rồi đột nhiên mọi sự ở đó lại hiện ra - phòng đầy những kẻ chế giễu, hàng đống quần áo, gương mặt trắng bệt của Betsie. Hắn đến với tôi khi nhà thờ vắng người, tươi cười và cúi đầu chào, hắn nói: "Tôi biết ơn vì sứ điệp của bà, Fraulein ạ. Tôi suy nghĩ giống như bà đã nói: Ngài đã rửa sạch tội lỗi tôi!" Bàn tay của hắn nắm lấy và lay động tôi. Còn tôi, tôi đã thường rao giảng cho dân chúng ở Bloemendaal nhu cần phải tha thứ, đã kềm chặt tay mình lại. Ngay cả những tư tưởng giận dữ, muốn báo thù đã sôi sụt lên trong tôi, tôi đã nhìn thấy tội lỗi của họ. Đức Chúa Jêsus Christ đã chịu chết vì con người nầy; tôi còn cầu xin gì thêm nữa? Tôi cầu nguyện: Chúa Jêsus ơi, xin tha thứ cho con và giúp con tha thứ cho hắn. Tôi đã cố mỉm cười; tôi vật vã lắm mới chìa tay mình ra. Tôi không làm được. Tôi cảm thấy trống vắng, không một tia lửa ấm áp sáng láng nào hết. Và một lần nữa, tôi đã thở ra một lời cầu nguyện thầm lặng: Chúa Jêsus ơi, con không thể tha thứ cho hắn được. Xin ban cho con ơn tha thứ của Ngài. Khi tôi cầm lấy bàn tay của hắn, một việc khó tin đã diễn ra. Từ bờ vai và qua bàn tay của tôi một dòng diện dường như truyền từ tôi qua hắn, trong khi trong lòng tôi tuôn tràn ra một tình yêu dành cho kẻ lạ nầy đã từng trấn áp tôi. Và thế là tôi khám phá ra rằng sự chữa lành của thế gian không xoay quanh sự tha thứ hay sự nhơn từ của chúng ta đâu, mà xoay quanh ơn tha thứ và sự nhơn từ của Ngài. Khi Ngài bảo chúng ta phải yêu thương kẻ thù, Ngài ban cho, cùng với mạng lịnh, chính tình yêu thương”.

I Giăng 4.1-6: "Thử các thần như thế nào!?!"



SỐNG TRONG SỰ SÁNG
Thử các thần như thế nào!?!
I Giăng 4.1-6
1. "Phân biệt đối xử" là một từ ngữ rất tồi tệ trong ngôn từ của xã hội chúng ta. Các toà án đầy dẫy những kiện cáo dựa theo sự phân biệt đối xử. Trong một xã hội đa văn hoá, chúng ta được dạy dỗ phải dung chịu nhau. Ở một cấp độ nào đó thì điều nầy rất thích nghi. Bản Hiến Pháp của chúng ta nói rằng tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau. Công vụ Các Sứ đồ 10.34 chép: "Đức Chúa Trời chẳng hề vị nể ai"; Ngài không tỏ ra sự thiên vị. Vì thế, chúng ta không nên phân biệt đối xử về chủng tộc, về kinh tế, về xã hội hay về văn hoá.
2. Trong phân đoạn nầy, Giăng dạy chúng ta phải phân biệt đối xử về mặt giáo lý. Chúng ta phải "thử cho biết các thần". Chúng ta phải học biết phân biệt giữa "thần chân thật và thần sai lầm". Sáu câu nầy nằm trong dấu ngoặc đơn trong bài giảng của ông về tình yêu thương. Tình yêu thương làm bằng chứng cho mối giao thông của chúng ta với Đức Chúa Trời, nhưng yêu thương không hề phân rẽ ra khỏi lẽ thật. Một lớp mẫu giáo đang có thời điểm để chủng ngừa y tế. Một đứa trẻ hỏi tại sao các bác sĩ và y tá thường rửa tay của họ. Cô y tá đáp: "Chúng tôi rửa tay vì hai lý do: chúng tôi yêu sức khoẻ và chúng tôi ghét vi trùng". Cơ đốc nhân là người ở trong Đấng Christ và bước đi theo Thánh Linh yêu mến lẽ thật và ghét sai lầm. Người ấy đang phân biệt đối xử.
3. Là Cơ đốc nhân, chúng ta được gọi là "tín đồ". Tuy nhiên, mỗi tín đồ cũng được gọi là một người vô tín khi phạm phải sai lầm. Không những Kinh Thánh khích lệ chúng ta phải tin, mà còn khích lệ chúng ta chớ tin nữa. Giống như chúng ta không thể hít vào và thở ra cùng một lúc, chúng ta không tin theo lẽ thật mà chấp nhận sai lầm. Bạn không thể yêu thương cho tới khi bạn từ chối không ghét bỏ nữa. Bạn không thể theo đuổi sự công bình cho tới chừng nào bạn lìa bỏ điều ác. John Stott đã viết: "Vô tín có thể là một dấu chỉ ra sự trưởng thành thuộc linh giống như tin quyết vậy" (p.157).
4. Với điều nầy trong trí, chúng ta hãy xem xét mạng lịnh phải thử cho biết các thần và ba tiêu chuẩn bởi đó chúng ta thử nghiệm các thần.
I. Mạng lịnh thử cho biết các thần (câu 1).
A. Tại sao chúng ta cần phải thử cho biết các thần.
1. Giăng đang nói với những người tin Chúa. Ông gọi họ là kẻ "rất yêu dấu". Ông nói chúng ta chớ "tin cậy mọi thần" nhưng hãy "thử" họ coi họ "có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng!?!" Tại sao vậy? Vì có "nhiều tiên tri giả" họ đã "hiện ra trong thế gian".
2. Về mặt lịch sử, cái nền của phân đoạn Kinh Thánh nầy nằm trong kỷ nguyên mà Tân Ước đã được hoàn tất rồi. Các vị sứ đồ vẫn còn ở trong tiến trình viết ra nhiều sách vỡ và thư tín khích lệ giúp cho chúng ta hiểu biết về đức tin Cơ đốc.
3. Đức Chúa Trời phân phát Lời của Ngài cho các hội chúng những tín đồ từng phần qua lời lẽ của những vị tiên tri được ơn và được cảm thúc về mặt thiêng liêng. Chúng ta đọc về các ân tứ đầy năng quyền và đắc thắng ở I Côrinhtô 12 và 14.
4. Giăng cảnh cáo độc giả của ông chớ "tin cậy mọi thần" mà phải "thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng" vì chẳng phải ai xưng mình là tiên tri đều được cảm thúc về mặt thiêng liêng cả.
5. Đã và đang có tính cấp thiết về phần đánh giá cụ thể sự dạy dỗ thuộc linh. Vẫn còn có các giáo sư giả trong thế gian.
B. Thử cho biết các thần là như thế nào!?!
1. Mỗi tín đồ đều có sự hiện diện bề trong của Đức Thánh Linh. Ở 3.24, chúng ta đã học biết tuần vừa qua rằng Đức Chúa Trời "đã ban Đức Thánh Linh cho chúng ta". Ở chương 2, Giăng gọi sự hiện diện của Đức Thánh Linh là "sự xức dầu đã chịu từ nơi Chúa…".
2. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta Thánh Linh Ngài ngự ở trong lòng, nhưng giờ đây Giăng chỉ ra có "các thần" khác đang xuất hiện trong thế gian. Nếu chúng ta có Đức Thánh Linh, chúng ta cần phải "thử cho biết các thần".
3. Cơ đốc nhân thường thử sự dạy qua cách sử dụng ngôn từ, từ ngữ được sử dụng, qua biến điệu của giọng nói, qua những câu chuyện được thuật lại, nếu sự dạy ấy cảm động họ hoặc khiến cho họ cảm thấy yên lòng. Không một điều nào trong số nầy là phần thử nghiệm thích ứng cả. "Thử" trong câu 4 có ý nói "ưng thuận hay xem xét". Chữ được dùng để chỉ ra vàng được đặt trong ngọn lửa để thử mức độ trong sạch của nó.
4. Có hai phạm trù về các thần đang tác động trong thế gian. Khi có ai chủ động nói về Đức Chúa Trời, bạn phải "thử cho biết các thần" hoặc bạn phải "amen" đối với thần sai lầm! Tôi đã ở trong một số Hội Thánh mà ở đó họ sẽ "amen" cho bất cứ điều gì.
5. Ở đàng sau mỗi vị tiên tri là một thần. Thắc mắc quan trọng là: có phải Thánh Linh của Đức Chúa Trời hay một tà linh đang dẫn dắt vị giáo sư nầy không!?! Trước khi chúng ta tin theo bất cứ một bị giáo sư nào, chúng ta phải "thử cho biết các thần".
6. Phaolô viết trong I Têsalônica 5.20-22: "chớ khinh dể các lời tiên tri; hãy xem xét mọi việc, điều chi lành thì giữ lấy".
7. Chúa Jêsus đã cảnh cáo trong Mathiơ 7.15-16: "Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé. Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được…".
8. Phaolô cảnh cáo các trưởng lão thành Êphêsô trong Công vụ Các Sứ đồ 20.29: "Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu".
9. Phierơ cũng đưa ra lời cảnh cáo nầy ở II Phierơ 2.1: "Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình".
10. Hôm nay vẫn còn có một nhu cần rất lớn về sự phân biệt và phân biệt đối xử theo Kinh Thánh. Nhiều tín đồ vẫn còn giữ lấy sự thiếu hiểu biết Kinh Thánh và cả tin về mặt thuộc linh. Họ chấp nhận bất cứ sự dạy nào rất ngây thơ rồi xem đó là lẽ thật.
11. Ở Êphêsô 4.14, Phaolô nói rằng dấu hiệu chắc chắn về sự chưa trưởng thành về mặt thuộc linh là: "bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc".
C. Thất bại không thử cho biết các thần là rất nguy hiểm.
Mỗi bậc phụ huynh nhơn đức đều dạy cho con cái mình biết phân biệt, biết phân biệt đối xử. Chúng ta dạy cho chúng đừng nhận kẹo từ người lạ hoặc cho người lạ chở về. Tại sao vậy? Chúng ta biết rằng có hạng người gian ác trong thế gian, họ sẽ lợi dụng sự thơ ngây của con cái chúng ta. Có rất nhiều con cái của Đức Chúa Trời chưa hề học biết phân biệt. Họ không biết phân biệt đối xử. Họ bị dẫn đi lạc bởi cây kẹo thuộc linh với giấy gói thuộc linh giả tạo không khác gì với lớp đường dõm sai lạc bọc ở ngoài. Cây kẹo đó nếm ngọt lắm và khiến cho chúng cảm thấy ngon lành trong giây phút ấy, nhưng để lại cho chúng chẳng gì khác hơn là những ca-lo dõm. Chẳng có một sự trưởng dưỡng thuộc linh nào vì không có lẽ thật trong đó.
1. Nếu bạn bước theo thần sai lầm, bạn sẽ phải trả một giá đấy. Nhà doanh nghiệp xiếc nổi tiếng P.T. Barnum thường nói như sau: "Có một sự mê say lộ ra từng phút một". Satan có nhiều trò biểu diễn lôi cuốn con cái của Đức Chúa Trời rồi cướp đi khỏi họ những sự giàu có thuộc linh của họ.
2. Có "nhiều" giáo sư giả trong thế gian hôm nay. Cửa hàng kẹo thuộc linh đang có rất nhiều. Satan có đầy đủ hương vị của các giáo sư và nhà truyền đạo sẵn sàng làm thoả mãn sự khát khao thuộc linh của bạn với một kinh nghiệm bọc đường dõm sẽ để lại cho bạn một chứng đau bụng. Hãy thử cho biết các thần!
3. Có nhớ khi Môise lần đầu tiên xuất hiện trước mặt Pharaôn? Ông đã biến cây gậy thành con rắn. Satan cũng giỏi không kém khi các thuật sĩ cũng biến gậy của họ thành rắn nữa. Hắn biết rõ phải có một sự trình diễn sao cho thật hay, để quyến rũ và cám dỗ chúng ta xa cách lẽ thật.
4. Những nhà cải chánh khẳng định rằng ngay cả kẻ khiêm nhường nhất trong số tín đồ đều có "quyền xét đoán riêng". Giăng đang viết cho kẻ "rất yêu dấu", tất cả những Cơ đốc nhân. Bạn không cần phải có một chứng chỉ của thần học viện mới thử cho biết các thần. Bạn không cần phải tham sự một học viện chuyên thử các thần. Tại sao vậy? Vì Đức Thánh Linh đang ngự rồi ở trong bạn.
5. Trong Hội Thánh nầy, chúng ta mang lấy danh hiệu Báptít, nhưng lòng trung thành của chúng ta phải dành cho Kinh Thánh. Sở dĩ như thế là vì sự dạy Báptít không nhất thiết có nghĩa đấy là sự dạy theo Kinh Thánh đâu. Chúng ta "thử cho biết các thần" và thước đo chính yếu phải là Kinh Thánh!
II. Tiêu chuẩn để thử cho biết các thần (các câu 5-6).
A. Họ xem thế nào về Con của Đức Chúa Trời? (các câu 2-3).
1. Phần thử nghiệm đầu tiên là công nhận sự hoá thân thành nhục thể trong lịch sử của Chúa Jêsus, nghĩa là "Đức Chúa Jêsus Christ lấy xác thịt mà ra đời". Những người tin Chúa cần phải thử nghiệm để nhìn biết lẽ thật dựa theo thái độ của vị giáo sư về thân vị và công việc của Chúa Jêsus. Thắc mắc thứ nhứt luôn luôn là: "Họ tin gì về Chúa Jêsus?" vì nếu bạn sai lầm về Chúa Jêsus bạn sẽ sai lầm về Đức Chúa Trời.
2. Trong thời của Giăng, có một giáo sư tên là Cerinthus, ông nầy dạy rằng Chúa Jêsus đã trở thành Đấng Mêsi khi chịu phép báptêm. Đức Thánh Linh ngự đến và khi Ngài chịu chết trên thập tự giá, Đức Thánh Linh đã lìa khỏi Ngài thì Ngài gục chết và cứ chết mãi, thế là chối bỏ sự sống lại. Cerinthus dạy các học trò của ông rằng Chúa Jêsus không hiện đến như Đức Chúa Trời mà đã trở thành Con của Đức Chúa Trời trong một thời gian. Đây là sự dạy giả dối khủng khiếp.
3. Chúa Jêsus không trở thành Con của Đức Chúa Trời. Ngài luôn luôn tồn tại là Đức Chúa Con. Ngài đã hoá thân thành nhục thể, đã "lấy xác thịt mà ra đời" để làm Cứu Chúa của chúng ta. Chúa Jêsus là Trời và là Người một cách trọn vẹn. Con trẻ nằm trong máng cỏ về mặt con người không biết chi hết nhưng về mặt thiêng liêng thì biết rõ mọi sự. Con trẻ nằm trong máng cỏ về mặt nhân tính đang hiện hữu chỉ ở một nơi vào một thời điểm, nhưng về thần tính thì Ngài toàn tại, hiện diện ở khắp mọi nơi. Con trẻ nằm trong máng cỏ về mặt con người yếu đuối lắm và vô dụng chẳng nương cậy vào ai, song về mặt thiêng liêng Ngài là toàn năng. Con trẻ nằm trong máng cỏ về nhân tính không nói được, nhưng về mặt thần tính Ngài đã phán để cho nhiều thế giới phải đi vào chỗ hiện hữu.
4. Nhiều tôn giáo tìm cách tôn cao Chúa Jêsus là một nhân vật quan trọng hay một giáo sư lỗi lạc, song không công nhận Ngài ở chỗ Ngài là ai. Một số tôn giáo ấy gõ cửa nhà bạn với những ấn phẩm rất lôi cuốn và những lời lẽ tin kính, tôn giáo nhưng họ không tin rằng Chúa Jêsus là "hình bóng của bản thể Ngài" (Hêbơrơ 1.3). Họ sẽ nói Ngài là Con Đức Chúa Trời nhưng chỉ trong một thời gian thôi, chớ không phải cả cõi đời đời. Họ sẽ đồng ý Ngài là một vị tiên tri lỗi lạc, nhưng họ muốn đặt Ngài ở một cấp độ của Mohammed hay Confucius.
5. Một giáo sư không những phải công nhận sự hoá thân thành nhục thể là một sự kiện lịch sử, nhưng họ cũng phải "xưng" Ngài ra. Họ phải cam kết đời sống của họ với Ngài.
6. Satan cùng các quỉ sứ nó công nhận sự hoá thân thành nhục thể của Chúa Jêsus trong lịch sử nhưng không "xưng" Ngài là Chúa. Các tà linh sẵn sàng công nhận Chúa Jêsus trong suốt chức vụ của Ngài ở trên đất. Trong Mác 1.24, chúng ta đọc lời lẽ của một tà linh gặp gỡ Chúa Jêsus: "Hỡi Jêsus, người Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài có sự gì chăng? Ngài đến để diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai: là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời!" Trong Mác 5.7 một tà linh khác nói: "Hỡi Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời rất cao, tôi với Ngài có sự gì chăng? Tôi nhân danh Đức Chúa Trời mà khẩn cầu Ngài, xin đừng làm khổ tôi". Giacơ 2.19 lưu ý: "ma quỉ cũng tin như vậy và run sợ!"
7. Các nhà khoa học Cơ đốc xưng nhận rằng Chúa Jêsus là một người đã nhận lãnh Thánh Linh của Đấng Christ. Hệ phái Mormons nói Chúa Jêsus là một người đã trở thành thần để chỉ cho chúng ta cách thức để trở thành thần. Những nhà thần học tự do chối bỏ sự Chúa Jêsus sanh ra bởi nữ đồng trinh và vì thế chối bỏ sự Ngài hoá thân thành nhục thể và thần tính của Ngài. Tất cả những người nầy thất bại không "xưng" Ngài là Đức Chúa Trời.
8. Có nhiều người trong Hội Thánh mỗi Chúa nhựt họ tin Chúa Jêsus là Đấng Christ hoá thân thành nhục thể song không thực sự xưng nhận Ngài.
9. Người nào được dẫn dắt bởi Đức Thánh Linh sẽ luôn luôn "xưng" Chúa Jêsus ra. Chúa Jêsus dạy rằng Đức Thánh Linh sẽ làm chứng về Ngài và dâng sự vinh hiển cho Ngài. Ngài phán trong Giăng 16.13-14: "Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi".
10. Phaolô nói trong I Côrinhtô 12.3: "Bởi đó, tôi tỏ cùng anh em, chẳng ai cảm Thánh Linh của Đức Chúa Trời, mà nói rằng: Đức Chúa Jêsus đáng nguyền rủa! Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!"
11. Giăng nói trong câu 3, rao giảng điều chi khác về Chúa Jêsus thì đó là "thần của kẻ địch lại Đấng Christ". Giăng đã nhắc tới Antichrist rồi trong chương 2. Chúng ta biết sẽ có một lãnh tụ cấp thế giới được biết là: "Antichrist", tuy nhiên "thần của kẻ địch lại Đấng Christ" thì "hiện nay đã ở trong thế gian rồi".
12. Phải cẩn thận về người mà bạn nghe họ rao giảng, để đừng chuốc lấy sự suy gẫm giả dối.
B. Đâu là mối quan hệ của họ với Thánh Linh của Đức Chúa Trời? (câu 4).
1. Khi nói rằng người tin Chúa "đã thắng được họ" Giăng đang nói cho chúng ta biết rằng các giáo sư giả đã không thành công trong việc dối gạt chúng ta.
2. Các giáo sư giả đang doạ dẫm. Họ hỏi: "Bạn tin điều đó như thế nào?" Dấy lên vấn đề sáng tạo trong phòng sinh vật học rồi quan sát chúng đi đến chỗ điên cuồng. Tuy nhiên, lẽ thật là tuyệt đối. Lẽ thật không sao tranh cãi được. Lẽ thật không bao giờ thay đổi. Nếu tôi nhấn phím Si trên chiếc đàn dương cầm, bạn sẽ nghe nốt Si. Nốt Si là nốt Si cách đây một ngàn năm và vẫn sẽ là nốt Si trong một ngàn năm nữa. Điều đó là tuyệt đối. Lẽ thật là tuyệt đối. Chúa Jêsus là tuyệt đối. Hêbơrơ 13.8 chép: "Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, cho đến đời đời không hề thay đổi".
3. Tại sao chúng ta "thắng hơn" họ? Không phải vì chúng ta mau lẹ gì, nhanh nhẩu hay cực kỳ khôn ngoan đâu, mà vì Đức Thánh Linh đang ngự trong chúng ta: "vì Đấng ở trong các con là lớn hơn kẻ ở trong thế gian". Mặc dù Satan rất lớn lao, Đức Thánh Linh còn lớn lao hơn! Hết thảy chúng ta đều có phần cách nhiệt trong ngôi nhà của mình. Phần cách nhiệt giữ không khí ấm áp bên trong và không khí lạnh bên ngoài hoặc ngược lại. Đức Thánh Linh là bộ phận cách nhiệt Đức Chúa Trời ban cho trong đời sống của người tín đồ, Ngài giữ gìn chúng ta không phạm sai lầm. Có bao giờ bạn nghe một bài giảng hoặc nghe bàn bạc về tôn giáo rồi suy nghĩ: "Có cái gì đó nghe không thuận tai?" Đấy là Đức Thánh Linh đang lọc bỏ sự sai lầm và dẫn dắt bạn vào lẽ thật đó.
C. Có phải họ hài hoà với Lời của Đức Chúa Trời? (các câu 5-6).
1. Hãy chú ý các nhân xưng đại danh từ ở các câu 4-6. Trong câu 4, Giăng nói tới "các con" hay những Cơ đốc nhân. Trong câu 5, ông nói tới "họ", các giáo sư giả. Ở câu 6, ông nói tới "chúng ta" hay các vị sứ đồ mà Đức Chúa Trời đã ấn định.
2. Giờ đây trong câu 5, chúng ta thấy rằng "họ" được thế gian nghe theo. Thế gian công nhận người của nó và nghe theo sứ điệp của họ. Một trong những phương thức dễ dàng nhất để công nhận một giáo sư giả là thế gian có thoải mái với giáo sư ấy hay không!?!
3. Khi bạn đảm đương phần việc rao giảng lẽ thật nói về Chúa Jêsus, có người sẽ luôn nói: "Tôi không muốn nghe như thế!" Tại sao chứ? Lẽ thật phân chia ra. Người ta muốn thấy mình nhơn đức. Lẽ thật luôn luôn khiến cho họ phải có một cái nhìn khó chịu về bản thân mình.
4. Khi tôi soạn một bài giảng, tôi không hề thắc mắc: "Liệu họ có thích sứ điệp nầy hay không?" Mục tiêu của tôi không phải là môn giải trí của bạn, mà là sự gây dựng của bạn. Lẽ thật luôn luôn giúp đỡ cho bạn. Để sống dưới nước, bạn cần có thiết bị đặc biệt. Thiết bị lặn có thể giúp cho thợ lặn sống và làm việc trong một môi trường khác biệt. Cũng vậy, Thánh Linh của Đức Chúa Trời và Lời của Đức Chúa Trời có thể giúp chúng ta hoạt động trong thế gian.
5. Khi Giăng nói: "ai nhìn biết Đức Chúa Trời thì nghe chúng ta; còn ai chẳng hề thuộc về Đức Chúa Trời, thì chẳng nghe chúng ta", câu nầy thoạt nghe thì như là ngạo mạn lắm. Thực ra, ông đang nói: "Anh em có thể cho sứ điệp của chúng tôi là sứ điệp của Đức Chúa Trời vì dân sự của Đức Chúa Trời tiếp nhận sứ điệp ấy".
6. Tôi không dám nói như thế. Quả là kiêu ngạo và tự tin lắm cho tôi khi nói: "Ai nhìn biết Đức Chúa Trời đồng ý với tôi và chỉ có những kẻ nào không nhìn biết Đức Chúa Trời mới bất đồng với tôi". Tôi đã biết qua một vài nhà truyền đạo, họ đã đạt gần tới mức độ kiêu ngạo đó.
7. Giăng là một vị sứ đồ; tôi là một mục sư. Cá nhân Giăng đã đồng đi với Chúa Jêsus. Bởi sự cảm thúc, ông đã viết ra lời lẽ của Kinh Thánh. Đồng ý với các vị sứ đồ là đồng ý với Kinh Thánh. Êphêsô 2.20 nói Hội Thánh được "dựng trên nền các sứ đồ và các tiên tri".
8. Hãy mở ra ở II Giăng 10-11. Các Hội Thánh đã nhóm lại ở tư gia trong thời buổi ấy. Giăng đã nói chớ rước họ vào nhà. Trong Hội Thánh nầy, chúng ta phân biệt đối xử về mặt giáo lý.
9. Có người nói: "Lẽ thật, lẽ thật, lẽ thật! Mục sư ơi, ông chỉ chú trọng vào lẽ thật, còn tình cảm thì sao? Còn những cảm xúc thì sao? Tôi muốn cảm thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời". Amen! Tôi cũng muốn cảm nhận được Ngài nữa. Ngài đã ban cho tôi những tình cảm. Tôi muốn cả tâm linh và lẽ thật. Tuy nhiên, tôi muốn biết chắc mình đang cảm xúc điều gì. Tôi không muốn có những cảm xúc chủ quan cho tới chừng nào tôi trụ lại trên lẽ thật khách quan! Chúng ta có thể tìm ra hướng đi cho con tàu bằng cách sử dụng la bàn. Chiếc la bàn chỉ hướng Bắc vì cớ từ tính. Cơ đốc nhân có thể lèo lái đời sống bằng cách đáp ứng lại "hướng Bắc thực" của lời Đức Chúa Trời. Chúng ta có Lời của Đức Chúa Trời trước mặt chúng ta và Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở bên trong chúng ta. Chúng ta hãy "thử cho biết các thần" và sự dạy của bất kỳ người nào xưng mình đã nói thay cho Đức Chúa Trời.