Hiển thị các bài đăng có nhãn GALATI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GALATI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2010

Galati 6.11-18: Đưa ra những lời khuyên dạy



Tự do thực – Galati
Đưa ra những lời khuyên dạy
Galati 6.11-18
Khi những người nhái vét sạch chiếc Kursk, là tàu ngầm nguyên tử của Nga đã bị hủy diệt có tới 118 thủy thủ bị chết, họ đã tìm được một bức thư do Trung úy Dmitri Kolesnikov viết. Bức thư viết tay nầy đã được trao cho vợ anh là Olga. Bức thư đã được viết ra sau vụ nổ đóng ấn số phận chiếc tàu ngầm vào ngày 12 tháng 8 năm 2000, ở vùng biển Barents khẳng định sự suy đoán cho rằng hết thảy các thủy thủ không chết ngay tức khắc. Một vài giờ sau khi chiếc tàu ngầm chìm xuống dưới đáy biển, Kolesnikov đã viết như sau: “Tất cả thủy thủ đoàn từ khoang 6, 7 và 8 đều dồn vào khoang thứ 9. Có 23 người ở đây...Không mội ai trong chúng tôi tỉnh táo”. Bức thư thể hiện một thứ tình cảm riêng tư sâu sắc đối với Olga yêu dấu của anh. Trước đó, những dòng sau cùng của bức thư cho thấy rằng sự chết đã đột nhập vào. Nguồn điện phụ không còn nữa. Kolesnikov đã viết lá thư trong bóng tối. “Anh viết trong lúc chẳng thấy gì cả”. Anh biết rõ những lời lẽ sau cùng của mình chẳng còn có chút hy vọng gì nữa.
Khi Sứ đồ Phaolô đặt những cái chạm sau cùng của ông vào người thành Galati, có lẽ ông cũng đang viết trong cảnh tối tăm, với thị giác mờ dần của mình. Ông biết rõ cái chết của một người tuận đạo đã chờ đợi ông. Dầu vậy, không giống như viên Trung úy người Nga kia, Phaolô đã viết trong hy vọng.
Trong phân đoạn sau cùng của quyển sách Galati quan trọng nầy, chúng ta thấy một sự chi phối rất riêng tư từ Sứ đồ Phaolô. Hãy chú ý kỹ câu 11: “Hãy xem chính tay tôi viết thơ nầy cho anh em, chữ lớn là dường nào!” Chúng ta biết Phaolô đã viết hầu hết các thư tín của ông qua một văn sĩ hay một thầy thư ký. Thường thì ông chỉ có ký tên mình mà thôi. Tuy nhiên, khi vị Sứ đồ kết thúc thư tín nầy đối với các Hội thánh trong xứ Galati, ông cầm bút bằng chính “tay mình” rồi với bản viết tay nầy, ông ghi thêm đôi lời làm phần kết thúc rất thích ứng đối với một bức thư.
Ông nhắc rằng khi ông viết ông đang sử dụng “chữ lớn” là dường nào! Có một vài ý nghĩa khả thi cho câu nói nầy. Các văn sĩ gần như đã viết với loại chữ thảo rất nhỏ sao cho đỡ tốn giấy. Có lẽ Phaolô có ý nói rằng bản viết tay của mình có cở lớn và luộm thuộm lắm khi đem so sánh. Trong mấy năm gần đây, hầu hết các bản viết của tôi đã được thực hiện trên bàn phím máy vi tính và tôi có thể nói cho quí vị biết bản viết tay của tôi rất là bẩn thỉu. Khi tôi viết một bức thư riêng, tôi thường dùng những chữ in lớn hầu cho người khác có thể hiểu được nó!
Chúng ta có thể hoàn toàn dám chắc rằng Phaolô đã có thị lực kém cõi lắm rồi. Hãy xem lại 4.14-15: “vì xác thịt tôi yếu đuối sanh ra sự rèn thử cho anh em mặc dầu, anh em cũng chẳng khinh tôi, chẳng chối tôi, mà lại tiếp rước tôi như một vị thiên sứ của Đức Chúa Trời, thật như chính mình Đức Chúa Jêsus Christ. Vậy thì sự vui mừng của anh em đã trở nên thể nào? Vì tôi làm chứng cho anh em rằng, lúc bấy giờ, nếu có thể được thì anh em cũng móc con mắt mà cho tôi”. Sự hiện thấy của ông dường như là một sự “thử thách” rất thực và có lẽ ông đã viết với những “chữ lớn” vì ông không thể đọc bất kỳ một chữ nào tốt hơn thế.
Các giáo sư Kinh Thánh khác đã cho rằng Phaolô đã sử dụng “chữ lớn” với mục đích muốn nhấn mạnh, giống như chúng ta viết hoặc đánh máy với phím Caps Lock hay gạch dưới những chữ ấy để nâng cao tầm quan trọng của điều mà chúng ta viết ra. Dầu ý nghĩa của “chữ lớn” có là gì đi nữa, chúng ta có thể dám chắc vị Sứ đồ đã cầm viết trong tay ghi thêm phần cần phải nhấn mạnh hay có tác dụng đòn bẫy vào mấy câu sau cùng của bức thư ông viết. Mục đích của ông rất rõ ràng. ĐỪNG QUÊN ĐIỀU NẦY NHÉ!
Phaolô rất sáng suốt khi đưa ra mấy câu nầy vì chúng tiêu biểu cho chúng ta nhìn thấy cốt lõi của Cơ đốc giáo. Ông tái khẳng định sự dạy của mình đối với xu hướng quay về với luật pháp, thập tự giá, Hội thánh cũng như thêm vào vài câu nói làm chứng cá nhân và những lời chúc phước. Chúng ta hãy đào sâu vào đó.
I. Một lời cảnh cáo sau cùng chống lại xu hướng quay về với luật pháp (các câu 12-13).
Nếu quí vị đã học hỏi với tôi cả sách Galati 21 buổi sáng Chúa nhựt vừa qua, quí vị sẽ nghĩ mình đã nghe đủ về hính thức quay về với luật pháp. Phaolô không hề nghĩ như thế đâu! Ông không kết thúc bức thư nầy mà không có một lời nhắc nhở sau cùng chống lại việc tuân giữ luật lệ do con người lập ra thường hành hại Hội thánh.
Xu hướng quay về với luật pháp nhắc cho tôi nhớ tới loại cây dandelions (cây nầy ở Trung quốc mới có) trong một sân cỏ tuyệt đẹp. Không bao lâu nữa quí vị nhổ bỏ chúng ở chỗ nầy rồi sẽ trồng chúng lại ở chỗ khác. Loại thuốc diệt cỏ từng được chế tạo để giết chúng, thuốc nầy rất mạnh có tên gọi là Roundup. Cái rắc rối, ấy là thứ hoá chất đó cũng giết luôn cả thứ cỏ đẹp kia nữa. Chiến lược hay nhứt của quí vị chống lại thứ cây dandelions là cho chúng tiếp xúc với thuốc diệt cỏ hay nhứt trước khi chúng có cơ hội bắt rễ. Đấy cũng là chiến lược quan trọng dành để thắng hơn xu hướng quay về với luật pháp. Chúng ta có một Hội thánh non trẻ vừa phải. Hòn đá góc không có quanh đấy một thời gian dài. Chúng ta có cơ hội để giết chết loài cỏ dại quay về với luật pháp trước khi chúng bắt rễ trong khu đất chức vụ của chúng ta. Chúng ta hãy chú ý bốn đặc điểm của xu hướng quay về với luật pháp.
A. Xu hướng quay về với luật pháp hay PHÔ TRƯƠNG (câu 12a).
Trong câu 12, Phaolô đề cập tới những người nào “muốn cho mình đẹp lòng người theo phần xác”, họ sẽ “ép anh em chịu cắt bì”. Những người theo luật pháp, những người theo giáo Giuđa trong xứ Galati chú về bề ngoài hơn là về bề trong, họ ham thích các biểu tượng hơn là chất lượng. Họ không xem Cơ đốc giáo chân chính là một sự biến đổi ở bên trong chớ không phải một nghi thức ở bề ngoài. Tiếng kêu la tranh chiến của họ được thấy trong Công vụ các sứ đồ 15.1: “…Nếu các ngươi chẳng chịu phép cắt bì theo lễ Môi-se, thì không thể được cứu rỗi”. Phaolô đã xử lý với tiếng kêu la nầy nhiều lần trong khắp xứ Galati.
Quả thực, Đức Chúa Trời đã ban cho Ápraham nghi thức cắt bì làm một dấu chỉ về giao ước hay lời hứa của Ngài. vậy mà những kẻ theo luật pháp dám quả quyết rằng không một ai sẽ được cứu nếu như họ không chịu phép cắt bì. Mục đích của Phaolô, ấy là không một giải phẫu nào trên thân thể có thể làm thay đổi linh hồn được. Phép cắt bì ngoài thịt đúng là một biểu tượng chỉ về phép cắt bì ở trong lòng, cắt bỏ tội lỗi và bản ngã mà phục theo Đức Chúa Trời. Phục truyền luật lệ ký 30.6 chép: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ cất sự ô uế khỏi lòng ngươi và khỏi dòng dõi ngươi, để ngươi hết lòng hết ý kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, hầu cho ngươi được sống”. Hãy nhìn tới phía trước đó, xem Phaolô nói gì ở câu 15 trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta: “Vì điều yếu cần, chẳng phải sự chịu cắt bì, hay là sự chẳng chịu cắt bì, bèn là trở nên người mới”.
Phép cắt bì không còn là một điểm nóng nữa rồi, nhưng xu hướng quay về với luật pháp vẫn chọc thẳng mũi nhọn của nó vào khu vực phép báptêm. Phép báptêm rất quan trọng hôm nay giống như phép cắt bì trong thời Cựu ước. Chúa Jêsus đã ban cho Hội thánh Ngài mạng lịnh phải làm phép báptêm giống như Đức Chúa Trời đã ban cho người Do thái mạng lịnh phép làm phép cắt bì. Phép cắt bì là biểu tượng cho giao ước của Đức Chúa Trời với dân Israel. Phép báptêm là biểu tượng cho lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời với Hội thánh. Tuy nhiên, giống như phép cắt bì, phép báptêm chỉ là một biểu tượng ở bên ngoài, về phần thuộc thể. Nó chẳng có một quyền phép thuộc linh nào ở bên trong.
Ngày nay có một số người giảng dạy tái sanh theo phép báptêm, có nghĩa là sự cứu rỗi không những đến qua đức tin nơi Chúa Jêsus, mà còn đến qua phép báptêm nữa. Theo nhận định của họ, huyết của Đấng Christ là chưa đủ, còn phải có nước của sự dầm mình nữa. Không những luận điệu nầy là không thực; nó còn là tà giáo phi Kinh Thánh nữa!
Những kẻ theo luật pháp, họ cứ khẳng định các dấu hiệu bề ngoài như phép cắt bì hoặc phép báptêm, họ đang tin cậy vào bản thân họ, chứ không tin theo Chúa Jêsus. Họ “muốn cho mình đẹp lòng người theo phần xác”, còn tinh thần thì không thay đổi.
B. Xu hướng quay về với luật pháp là HÈN NHÁT (câu 12b).
Thêm nữa, vị Sứ đồ nói thêm những kẻ đó “muốn cho mình đẹp lòng người theo phần xác”, họ cũng sẽ “ép anh em chịu cắt bì” ít nhất hầu cho “họ khỏi vì thập tự giá của Đấng Christ mà bị bắt bớ đó thôi”.
Những người Do thái theo truyền thống xem Cơ đốc giáo là một tôn giáo thờ lạy hình tượng. Họ bắt bớ thô bạo bất kỳ ai, đặc biệt người Do thái nào đi theo Chúa Jêsus. Bản thân Phaolô, trước khi ông trở lại đạo là một kẻ bắt bớ các tín đồ một cách thô bạo. Ông đã làm chứng trong Công vụ các sứ đồ 22.4: “Tôi từng bắt bớ phe nầy cho đến chết, bất kỳ đàn ông đàn bà, đều xiềng lại và bỏ tù”.
Trong thế kỷ đầu tiên, bất kỳ người nào rao giảng rằng ơn cứu rỗi là bởi ân điển nhơn đức tin nơi công việc của Đấng Christ trên thập tự giá đều là đối tượng cho sự bắt bớ. Ở 5.11, Phaolô hỏi: “…nếu tôi còn giảng phép cắt bì, thì sao tôi còn bị bắt bớ nữa? Sự vấp phạm về thập tự giá há chẳng phải bỏ hết rồi sao?” Trong một vài phút, chúng ta sẽ nhìn thấy từ phân đoạn Kinh Thánh gốc trong câu 17 rằng Phaolô đã gánh lấy trong thân thể ông “có đốt dấu vết của Chúa Jêsus” những cái thẹo trên xác thịt tiêu biểu cho những đau khổ của ông khi đứng thay cho Đấng Christ.
Mục đích ấy là những kẻ theo luật pháp nầy đã nhấn mạnh phép cắt bì vì họ sợ “sự bắt bớ” mà họ sẽ đối diện với xuất phát từ người Do thái. Họ là những kẻ hèn nhát bị sợ hãi tác động.
Quí bạn tôi ơi, xu hướng hèn nhát quay về với luật pháp đang sống động và mạnh giỏi hôm nay. Các vị Mục sư và Hội thánh vẫn thu mình lại dưới hình thức của truyền thống và hệ phái vì e sợ những điều người khác sẽ nói năng hay suy nghĩ. Cách đây không lâu, tôi đã quyết rằng tôi sẽ rao giảng những gì tôi tin dựa trên sự nghiên cứu Ngôi Lời chớ không dựa theo truyền thống của ai khác. Tôi quyết rằng tôi sẽ lãnh đạo Hội thánh nầy bao lâu Đức Chúa Trời cho phép tôi tìm cách tuân thủ gần gũi với Tân ước, chớ không theo tín điều của bất cứ hệ phái nào.
Ngay trong tuần lễ nầy, một người bạn Mục sư ở tiểu bang khác đã viết thư cho tôi về chính vấn đề nầy. Ông ấy nói: “Tôi đang vất vả với một số nan đề. Mục tiêu của tôi, ấy là quyết định mình đang thực sự tin cái gì… [một vấn đề nóng bỏng trong Hội thánh của ông ấy] và kế đó phải dạy dỗ lẽ thật và làm theo lẽ thật ấy, và giúp cho mọi người đều biết xử lý lẽ thật ấy sao cho đúng đắn”. Can đảm thay! Tôi cầu nguyện xin cho ông ấy làm được y như thế.Tôi nghĩ Sứ đồ Phaolô sẽ nói: “Amen!”
C. Xu hướng quay về với luật pháp là GIẢ HÌNH (câu 13a).
Tiếp đến, Phaolô nói: “Vì chính những kẻ đó đã chịu cắt bì, không vâng giữ luật pháp đâu”. Những kẻ có xu hướng muốn quay về với luật pháp luôn luôn có một bộ luật lệ, quy định mà họ muốn mọi người khác phải giữ theo, nhưng họ chẳng giữ theo luật lệ của chính mình. Họ tìm cách doạ dẫm và gây áp lực đối với nhiều người khác thích nghi với các tiêu chuẩn mà bản thân họ không giữ lấy.
Chúa Jêsus phán với người Pharisi ở Mathiơ 23.23: “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, và rau cần, mà bỏ điều hệ trọng hơn hết trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín; đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều kia” (đối chiếu cả chương Mathiơ 23). Nói cách khác, họ đưa ra những luật lệ phải làm theo để khiến họ dường như rất tôn giáo nhưng lại bỏ qua những giá trị quan trọng, những “điều hệ trọng hơn” như “sự công bình, thương xót và trung tín”.
Hãy suy nghĩ xem? Những người theo luật pháp vẫn là những kẻ giả hình. Tôi thích cách định nghĩa về sự giả hình nầy: “Một kẻ giả hình là người hay than phiền có quá nhiều cảnh bạo lực và khiêu dâm trên đầu máy VCR của mình”. Hoặc lời công bố nầy nằm trong bản tin của một nhà thờ ở Centralia, Washington: “Các vị giáo viên Lớp Trường Chúa Nhựt mong muốn tiếp tục các lớp Trường Chúa Nhựt suốt cả mùa hè. Chúng tôi không muốn ai nghĩ chúng tôi sẽ dự kỳ nghỉ hè xa nhà của Đức Chúa Trời. Để tổ chức một chương trình như thế, chúng tôi cần nhiều vị giáo sư dạy thế”.
D. Xu hướng quay về với luật pháp là ÍCH KỶ (câu 13b).
Phaolô cũng nói thêm: “họ muốn anh em chịu cắt bì, hầu để khoe mình trong phần xác của anh em”. Họ muốn khoe khoang khoác lác về thể nào có nhiều người dân Ngoại trở lại đạo đã “chịu phép cắt bì” qua chức vụ của họ. Họ là những chuyên gia “lo thống kê về số lượng”. Họ đang ngồi đếm số người trở lại đạo giống như đếm những đường khương tuyến trong súng của họ vậy. Họ lượng tính với nhau bằng cách nào họ đã thành công như thế và thích thú trong bản chất tự cao tự đại của họ.
Cho phép tôi nói một câu ở đây về các chuyên gia lo thống kê bằng con số. Họ thường là một mối ngăn trở hơn là một phước hạnh cho Hội thánh. Quí vị có thể nhận lấy một bức tranh không chính xác về bất kỳ một Hội thánh địa phương nào chỉ bởi việc xem xét cách thống kê bằng con số. Tầm cở của đám đông, số người chịu phép báptêm, số lượng ngân sách chỉ ra một ít về công việc của Đức Thánh Linh trong mối giao thông của các tín đồ.
Đừng làm cho tôi phải sai lạc! Chúng ta muốn có nhiều, nhiều người thêm vào trong Hội thánh của chúng ta, không phải để chúng ta ngồi đếm có bao nhiêu người! Tuy nhiên, động lực của chúng ta không phải là khoe khoang khoác lác mà là giúp cho họ trở thành hàng tín đồ tin kính của Chúa Jêsus một cách đầy trọn.
II. Một lời xác quyết sau cùng về thập tự giá (các câu 14-15).
Cốt lõi của Cơ đốc giáo là “thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”. Đây là nguồn vinh hiển của chúng ta, thanh gươm của sự bắt bớ của chúng ta, biểu tượng đắc thắng của chúng ta và là dấu hiệu hy vọng của chúng ta. Chúng ta hãy để ý tới ba lẽ thật mà thập tự giá cung ứng cho chúng ta.
A. Sự khoe khoang của chúng ta không đặt nơi xác thịt mà đặt nơi thập tự giá (câu 14a).
Phaolô nói: “Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”. Những kẻ theo luật pháp muốn “khoe” về số lượng những người trở lại đạo đã chịu phép cắt bì mà họ đã đem về, còn Phaolô chỉ muốn “khoe” hay tôn cao “thập tự giá” mà thôi
Tại sao Phaolô chỉ muốn “khoe… về thập tự giá của … Đấng Christ?” Chúa Jêsus đã bước lên thập tự giá vì cớ tội lỗi của chúng ta. Ngài là thánh; còn chúng ta là bất khiết. Ngài là công bình; còn chúng ta là không công bình. Ngài có thể cứu chúng ta; còn chúng ta không thể tự cứu lấy mình được. Trong sự bày tỏ cả thể về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại, Chúa Jêsus đã dâng chính mình Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta trên thập tự giá. Rôma 5.8 chép: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết”.
Tại sao thập tự giá lại quan trọng như thế chứ? Tại sao sự bắt bớ cứ vây quanh thập tự giá? John Stott đưa ra giải đáp rất hay cho các thắc mắc nầy: “Mỗi lần chúng ta nhìn vào thập tự giá, Đấng Christ dường như phán cùng chúng ta: ‘Ta bị treo ở đây vì cớ các ngươi. Ta đang mang lấy tội lỗi của các ngươi, ta đang gánh chịu sự rủa sả của các ngươi, Ta đang trả món nợ của các ngươi, ta đang chết cái chết của các ngươi’. Không một điều gì trong lịch sử hay trong vũ trụ đánh hạ chúng ta xuống đến tầm cở giống như thập tự giá. Hết thảy chúng ta đã thổi phồng mọi nhận định về bản thân mình, nhất là trong việc tự xưng công bình, cho tới khi nào chúng ta được mời tới một nơi được gọi là Gôgôtha. Chính ở đó, nơi chơn thập tự giá, chúng ta co cụm lại đúng với tầm vóc của mình…”.
Stott nói tiếp: “Và tất nhiên, con người ưa như thế. Họ không bằng lòng sự sĩ nhục khi người ta nhìn xem họ giống như Đức Chúa Trời nhìn xem họ và họ vốn thực như thế. Họ ưa thích những điều hão huyền của họ hơn. Vì vậy họ lánh xa thập tự giá. Họ dựng lên một Cơ đốc giáo không có thập tự giá, nương cậy vào các việc làm của họ để được cứu chớ chẳng nương vào việc làm của Đức Chúa Jêsus Christ. Họ không chống đối Cơ đốc giáo lâu cho bằng chống đối đức tin đặt nơi Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá. Nhưng Đấng Christ đã bị đóng đinh trên thập tự giá họ rất ghét, và ghét cay đắng. Và nếu những nhà truyền đạo rao giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá, họ sẽ chống đối, chế nhạo, bắt bớ. Tại sao chứ? Tại vì những vết thương gây ra trên sự kiêu ngạo của con người”.
Tôn cao chỉ nơi thập tự giá thôi, có nghĩa là chúng ta không xem trọng hay “khoe khoang” về chính bản thân mình. Tách ra khỏi công việc của Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta chẳng có gì tốt đẹp, đáng yêu hay có giá trị trong chúng ta. Chúng ta sống ích kỷ, tự cao tự đại, kiêu căng, giả hình, dễ dãi, bẩn thỉu, dâm dục, ghen ghét, thù oán, ganh tỵ, tách khỏi ân sũng của Ngài. Ồ, nhưng vì Ngài đã bước lên thập tự giá, Ngài có thể biến chúng ta thành ra hạng thánh đồ của Ngài hay “những người thánh khiết”. Nhìn vào thập tự giá là nhớ lại tình trạng bất xứng của chính mình và ân điển rời rộng của Ngài!
Tôi rất thích các bài hát đã được sáng tác và được ca hát luôn hôm nay, nhưng khi đến với việc “dạy và khuyên nhau” (Côlôse 3.16) cung ứng cho tôi những bài thánh ca rất hay nói về đức tin. Hãy hát lên những bài ca mới, phải đấy! Nhưng đừng quên dạy cho con trẻ những bài ca thánh nói tới thập tự giá! Hãy lắng nghe lời ca đầy quyền phép nầy:
Hát TC 193.
B. Thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh (câu 14b).
Kế đó Phaolô nói rằng chính tại nơi thập tự giá mà “thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!” Giống như chúng ta không thể “khoe” về bản thân mình và khoe về thập tự giá cùng một lúc được, chúng ta không thể sống cho thập tự giá và thế gian cùng một lúc được.
Haddon Robinson thuật lại một câu chuyện nói về một ngày kia ông đang làm việc ngay cửa nhà để xe. Là một nhà truyền đạo, là người không khéo tay lắm. Mọi sự diễn tiến mỹ mãn cho tới chừng ông tìm cách tháo cái chốt cửa ra. Dường như khi ông gia thêm áp lực để vặn mạnh chốt cửa lại siết chặt thêm hơn. Ông đổ mồ hôi, mặt đỏ gay lên và thất bại khi có người hàng xóm đi trờ tới. Người hàng xóm hỏi: “Có chuyện gì thế?” Robinson bèn đáp: “Tôi không thể tháo được cái chốt cửa nầy”. Người hàng xóm bèn giải thích vấn đề và nói: “Tôi nghĩ ông nên vặn cái chốt bên tay trái. Ông xiết chặt hay nới lỏng nó theo chiều ngược lại”. Robinson nói: “Tôi đã tốn 50 năm để tìm ra cách bắt vít và giờ đây họ đang thay đổi luật rồi”. Sau đó, ông viết: “Có một nhận định trong đó toàn bộ Kinh Thánh là loại bắt vít ngược. Mọi sự trong xã hội dường như đúng hết, còn Kinh Thánh thì sai bét. Hướng đi lên lại là hướng đi xuống. Con đường đến với sự giàu có thuộc linh là công nhận tình trạng khốn khó của mình về mặt thuộc linh. Con đường đến với sự sống là phải chịu chết. Con đường đến với tể trị là phải phục vụ. Tôi có ý nói cách bắt vít không còn như trước nữa. nó không còn thích hợp nữa”.
Vì cớ thập tự giá, chúng ta phải tách ra với thế gian. Chúng ta bị dẫn vào một hướng khác. Chúng ta không còn diễu hành theo nhịp trống của thế gian nữa. Cơ đốc giáo ở trọng tâm đang chối bỏ uy quyền của thế gian. Nếu chúng ta tôn cao chỉ có thập tự giá, chúng ta không phải lo thế gian nghĩ gì về chúng ta, nói về chúng ta hay làm gì với chúng ta. Chúng ta đã bị “đóng đinh vào thập tự giá” hay chết đối với thế gian và thế gian đã chết đối với chúng ta. Họ đang gia thêm áp lực để nới chúng ta ra khỏi thập tự giá, chúng ta càng phải bám lấy chặt hơn.
C. Cái điều quan trọng nhất là “một người được dựng nên mới” (câu 15).
Kế đó Phaolô nói: “Vì điều yếu cần, chẳng phải sự chịu cắt bì, hay là sự chẳng chịu cắt bì, bèn là trở nên người mới”. Cho phép tôi đóng ngoặc đơn lại: “Chịu phép cắt bì không đưa quí vị vào thiên đàng và không chịu cắt bì cũng không giữ quí vị ở ngoài. Cái điều quan trọng, ấy là quí vị đang là một con người mới vì quí vị đã được sanh lại”.
Phép cắt bì, phép báptêm, tuân giữ luật pháp … không một thứ nào trong những thứ nầy là vấn đề khi đến với sự cứu rỗi của quí vị. Việc duy nhứt là vấn đề, ấy là quí vị đang là một “người được dựng nên mới”. II Côrinhtô 5.17 chép: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới”. Quí vị đang tin cậy vào ai hay điều gì!?!
Chúng ta hãy làm cho sự nầy ra thực tế hơn. Cái điều ăn nhặp chính là việc quí vị đang là một “người được dựng nên mới”, khi quí vị đã đến với “thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ”.
Đi nhóm nhà thờ đều đặn, dâng phần mười hay mang lấy một chức sắc chưa phải là vấn đề, vấn đề là đang trở thành một “người được dựng nên mới”. Một chứng chỉ từ chủng viện nổi tiếng, một sắc phong hay đang nắm giữ vai trò lãnh đạo quan trọng trong Hội thánh chưa phải là vấn đề, vấn đề là đang trở thành một “người được dựng nên mới”. Là một tín đồ Báptít, tín đồ Trưởng lão hay một nhân vật có sức lôi cuốn chưa phải là, vấn đề là đang trở thành một “người được dựng nên mới”. Có dấu hình con cá trên chiếc xe hơi của quí vị, và người có ban bệ hẳn hòi hay đang có vai trò nghiên cứu Kinh Thánh chưa phải là vấn đề, vấn đề là đang trở thành một “người được dựng nên mới. Ca hát những bài ca thánh, những bài ca ngợi khen hay cả hai chưa phải là vấn đề, vấn đề là đang trở thành một “người được dựng nên mới”.
Chúng ta bận bịu với quá nhiều việc. Chúng ta trở nên kiêu ngạo và tự phụ về quá nhiều việc. Chúng ta cứ ồn ào, dộn dựt lên về nhiều việc quá đó. Nhưng như Chúa Jêsus đã phán với Mary khi nàng ngồi nơi chơn của Ngài: “Nhưng có một việc cần mà thôi” (đối chiếu Luca 10.42), trở thành một “người được dựng nên mới” chính là việc cần đó.
III. Một lời khích lệ sau cùng cho Hội thánh (câu 16).
Trong câu 16, Phaolô nói: “Nguyền xin sự bình an và sự thương xót giáng trên hết thảy những kẻ noi theo mẫu mực nầy, lại giáng trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!” Chúng ta hãy nắm lấy hai lẽ thật ở đây:
A. Hội thánh là dân Israel của Đức Chúa Trời.
Từ ngữ “dân Israel của Đức Chúa Trời” đặc biệt được dùng ở đây trong cả Tân ước. Đây là phần tham khảo đặc biệt đến những người Do thái đã được cứu, nhưng tôi tin nó đồng nghĩa với đoàn người được chuộc, “người nhà của đức tin” cô dâu, thân thể, là “Hội thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời” (Hêbơrơ 12.23). Rõ ràng “hết thảy những kẻ noi theo mẫu mực nầy” và “dân Israel của Đức Chúa Trời” không phải là hai nhóm mà chỉ là một nhóm thôi. Hãy nhớ “Israel” có nghĩa là “hoàng tử của Đức Chúa Trời”. Bởi đức tin hết chúng ta đều là con trai con gái của Ngài; chúng ta là những hoàng tử của Vương Quốc Ngài!
Theo ý nghĩa ấy, chúng ta nhìn thấy một sự liên tục trực tiếp từ dân sự của Đức Chúa Trời trong kỹ nguyên Cựu ước. Chúng ta, những người thuộc về Đấng Christ hôm nay là kẻ chịu “phép cắt bì thực” (Philíp 3.3) và “dòng dõi của Ápraham… là kẻ kế tự theo lời hứa” (Galati 3.29).
B. Hội thánh có một mực thước.
Hãy chú ý cho kỹ từ ngữ “mẫu mực”. Từ ngữ nầy ra từ chữ kanon. Không phải là “cannon” (đại bác) giống như một cây bích kích pháo, mà từ ngữ Hy lạp kanon, có nghĩa là “một thước đo, một cây gậy có chia mực”. Từ ngữ cũng đã được sử dụng để mô tả cây thước của thợ mộc hay sợi thước dây của giám định viên.
Hội thánh có một “mẫu mực” hay mực thước bởi đó tự đo lấy mình. Khi tôi còn nhỏ, mẹ tôi dựng tôi đứng thẳng nơi ngạch cửa đối ngang với phòng ngủ của bà rồi đo tôi bằng thước dây. Những dấu viết chì nhỏ kia chỉ ra tôi mau lớn là dường nào. Đức Chúa Trời cũng đã ban cho chúng ta một thước đo để sử dụng nữa.
Chẳng có một sự trùng hợp ngẫu nhiên nào mà các sách trong Kinh Thánh của chúng ta được biết là “sách kinh điển”. Thước đo của chúng ta là một Hội thánh không phải là hệ thống thứ bậc hay truyền thống hệ phái, mà đây là thước đo của Kinh Thánh, là “nền của các sứ đồ và các đấng tiên tri” (Êphêsô 2.20) và đặc biệt trong phân đoạn nầy là “thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ” và là “một người được dựng nên mới”.
Khi chúng ta tự do lấy mình bằng thước đo Kinh Thánh và sứ điệp Tin lành, chúng ta sẽ dám chắc rằng “sự bình an và sự thương xót” sẽ giáng trên chúng ta. Hỡi Hội thánh, chúng ta có muốn “ơn thương xót” dư dật cùng các phước hạnh tràn đầy của Đức Chúa Trời giáng trên chúng ta không? Tất nhiên rồi! Đấy là lý do tại sao chúng ta có một sự nắm bắt chặt chẽ vào Ngôi Lời.
Mặt khác, chúng ta có thể đánh mất “sự bình an và ơn thương xót” của Ngài nếu chúng ta bắt đầu tự đo lấy mình bằng các tiêu chuẩn khác. Những nền thần học mới, các thứ truyền thống, hình thức hệ phái, nghi thức, hết thảy những điều nầy và nhiều nữa có thể trở thành quan trọng đối với chúng ta hơn là Lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đang ngăn cấm, nhưng nếu điều đó xảy ra chúng ta sẽ đánh mất “sự bình an và ơn thương xót” của Ngài trên đời sống và chức vụ của chúng ta.
IV. Lời chứng sau cùng ra từ vị Sứ đồ (câu 17).
Phaolô nói: “Ước gì từ nay về sau, chẳng ai làm khó cho tôi, vì trong mình tôi có đốt dấu vết của Đức Chúa Jêsus vậy”. Thú vị thay, từ ngữ chỉ về “dấu vết” là stigmata. Trong thời kỳ trung cổ một giáo lý phát sinh giải thích phân đoạn nầy khi nó nói tới Phaolô đã tìm thấy các vết thẹo của Chúa Jêsus trên hai bàn tay, hai bàn chân và hông của mình. Có những người khác như Francis xứ Assisi về phần xác thể đã kinh nghiệm các vết thương của Chúa Jêsus trên thân thể của họ khi họ suy gẫm tới các sự thương khó của Ngài. Hiện tượng nầy được gọi là “dấu đóng bằng sắt nung trên người của nô lệ”.
Tôi không biết điều đó có thực sự xảy ra hay không, nhưng tôi hoàn toàn dám chắc đấy không phải là điều Phaolô đã có trong trí ở đây. Ông đang nói: “Đừng quất trên lưng tôi nữa! Tôi đang có dấu vết thiêng liêng về phép cắt bì trên thân thể tôi, nhưng tôi còn có một số dấu vết khác còn có giá trị rất nhiều đối với tôi, tôi mang những vết thẹo khi phải chịu khổ cho Chúa Jêsus”.
II Côrinhtô 11.23-28 cung ứng một câu chuyện nói tới những sự ông chịu khổ: “…Ừ, tôi nói như kẻ dại dột, tôi lại là kẻ hầu việc nhiều hơn! Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đòi phen tôi gần phải bị chết; năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. Lại nhiều lần tôi đi đường nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối; chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ. Còn chưa kể mọi sự khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội thánh”. Nếu có ai muốn biết sự đầu phục của Phaolô đối với Đấng Christ, mọi sự họ phải làm là nhìn vào “dấu vết” trên thân thể của ông.
Nếu có ai đến hỏi quí vị: “Quí vị nhận biết đức tin mình thực như thế nào?” Quí vị sẽ nói sao? …rằng quí vị là một tín đồ Báptít chăng? …rằng quí vị đã chịu phép báptêm ư? …rằng quí vị đang dạy lớp Trường Chúa nhựt hoặc dân một phần mười à? Dường như có cái gì đó quá vụn vặt, phải không. Chắc là có ý nghĩa khi nói rằng: “Tôi đã chôn cất hai đứa con, nhưng tôi vẫn đi theo Đấng Christ”, “Tôi thường tìm cách tự uống cho tới chết, nhưng Chúa Jêsus đã giải phóng tôi ra khỏi cảnh rượu chè”, “Tôi thường thích xem phim khiêu dâm, nhưng Chúa Jêsus đã giải phóng tôi ra khỏi tội lỗi và sự xấu hổ” hay “Tôi cô độc do đã ly dị, nhưng Chúa Jêsus không hề lìa bỏ tôi. Ngài làm thoả từng nhu cần của tôi”. Đấy là những “dấu vết” thực của Cơ đốc giáo.
V. Một phước hạnh sau cùng dành cho hạng tín đồ (câu 18).
Sau cùng, Phaolô viết với những dòng “chữ lớn” mấy lời sau cùng nầy: “Hỡi anh em, nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta ở với tâm thần anh em! A-men”. Phaolô bắt đầu bức thư nầy bằng một lời chào “ân điển” và ông kết thúc bức thư cũng bằng một lời chào ấy. Ông bắt đầu chương 6 với “hỡi anh em” và kết thúc cũng bằng một cách ấy.
Đây là một câu nói chúc phước, không phải không giống với cụ Giacốp thể nào đã đặt bàn tay mình lên đầu của mấy đứa cháu rồi chúc phước cho chúng trong mấy chương cuối của sách Sáng thế ký. Phaolô đang với tới quí vị và tôi qua nhiều thế kỷ rồi đặt bàn tay mang thẹo của ông lên hai bờ vai chúng ta rồi nói: “Hỡi anh em, nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta ở với tâm thần anh em!”
Cũng một thể ấy, chúng ta cần phải chúc phước cho nhau. Chúng ta cần phải chìa tay ra, nhìn vào một số đời sống anh chị em khác rồi nói: “Nguyện Chúa ban phước cho quí vị” hay “Xin Chúa ban ân điển cho anh”. Tôi có người bạn Mục sư thích làm như thế cho người khác. Ông ấy cũng hay yêu cầu các tín hữu trưởng thành chúc phước cho ông.
Cho phép tôi kết thúc bằng một câu chuyện như sau. Cách đây không lâu, tôi có đọc về một tín đồ kia lái xe đi làm trên chuyến xe lửa “nâng cấp” ở Chicago. Chiếc xe lửa nầy vào trong thị trấn trên tuyến đường rầy nằm trên cao. Chàng trai nầy đã đi xe lửa hết ngày nầy sang ngày khác như một người luôn sử dụng tàu điện để đi làm từ nhà đến sở. Và khi chiếc xe lửa chạy chậm vào ga, ở đó anh ta bước xuống, anh ta nhìn qua bức màn mở rộng vào căn phòng của một toà nhà và nhìn thấy một phụ nữ đang nằm trên giường. Nàng đã nằm ở đó hết ngày nầy sang ngày khác, trong một khoảng thời gian khá dài, trông như đang mắc bịnh vậy. Anh ta bắt đầu thấy thú vị nơi nàng kể từ khi anh ta nhìn thấy nàng mỗi ngày. Sau cùng, anh ta quyết định tìm kiếm tên tuổi của nàng. Anh ta khám phá ra địa chỉ của nàng, và anh ta viết cho nàng một tấm thiệp, quyết chắc với nàng rằng anh ta đã cầu xin cho nàng được bình phục. Anh ta đã ký tên vào đấy. “Chàng thanh niên ấy đã được nâng cao”. Một vài tuần lễ sau, anh ta ra tới ga, và anh ta nhìn qua cánh cửa sổ đó cùng chiếc giường bỏ trống kia. Thay vì thế, có một tấm bảng rất lớn ở đó. NGUYỆN ĐỨC CHÚA TRỜI CHÚC PHƯỚC CHO BẠN, NGƯỜI BẠN CỦA TÔI MỚI ĐƯỢC NÂNG CAO!
Nếu Chúa Jêsus có thể bị hạ thấp đối với thập tự giá để chúc phước cho chúng ta, chúng ta hãy chúc phước cho người khác.
***

Galati 6.6-10: Luật Gieo Gặt



Tự do thực – Galati
Luật Gieo Gặt
Galati 6.6-10
Với cái nhìn đầu tiên, những câu nói trong phân đoạn Kinh Thánh nầy dường như là những câu nói dông dài, không mạch lạc, mơ hồ mà Phaolô đã thêm vào ở phần cuối bức thư. Sự tra xét kỹ lưỡng cho thấy rằng có một sự mạch lạc rất bình thường. Đan dệt suốt phân đoạn Kinh Thánh hôm nay là luật gieo gặt không thể sai sót được. Vị sứ đồ nói ra luật lệ nầy với sự nhấn mạnh trong câu 7: "vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy".
Sau nước lụt, Đức Chúa Trời đã hứa với Nôê: "Hễ đất còn, thì mùa gieo giống cùng mùa gặt hái [gieo và gặt], …chẳng bao giờ tuyệt được" (Sáng thế ký 8.22). Bao lâu chúng ta còn sống trên đất nầy, luật gieo gặt cứ còn mãi luôn. Những gì chúng ta trồng trong đời sống chúng ta sẽ kết trái trong đời sống chúng ta. Hãy viết ra ba lẽ thật không thay đổi từ luật gieo và gặt.
Trước tiên, CHÚNG TA GẶT LẤY NHỮNG GÌ CHÚNG TA GIEO RA. Chúng tôi muốn nói quí vị đã mua một nông trại rồi bước vào công việc đồng áng. Quí vị sẽ cày lật đất bằng những công cụ mới nhất và có những đường cày thật là thẳng. Quí vị có thể sử dụng giống, phân bón tốt nhất cho ruộng đồng của mình. Quí vị có thể tưới tiêu, cung cấp một lượng nước cần thiết. Tuy nhiên, trừ phi quí vị đã gieo giống, quí vị không thu hoạch được đâu. Hơn nữa, loại gặt hái quí vị thu được đều nương vào loại giống quí vị đã gieo ra. Nếu quí vị gieo hạt lúa mì, quí vị sẽ gặt lấy lúa mì. Nếu quí vị trồng bắp, quí vị sẽ thu hoạch bắp. Nếu quí vị bỏ hột đậu nành, quí vị sẽ thu hoạch đậu nành. Hơn thế nữa, nếu quí vị gieo giống tốt, quí vị sẽ thu hoạch tốt và nếu quí vị gieo giống xấu, quí vị chỉ có mong một mùa thu hoạch xấu mà thôi. Nếu quí vị gieo nhiều, quí vị sẽ mong một mùa bội thu. Nếu quí vị gieo ít, quí vị chỉ có mong một mùa gặt nhỏ mà thôi. II Côrinhtô 9.6 chép: "Hãy biết rõ điều đó, hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều".
Thứ hai, CHÚNG TA GẶT LẤY Ở CHỖ CHÚNG TA GIEO. Chúng tôi muốn nói nông trại của quí vị có hai phần, hai dặm vuông chia thành bốn thửa. Chúng tôi muốn nói ở thửa thứ nhứt quí vị gieo lúa mì, thửa thứ hai đậu nành, thửa thứ ba bắp, và thửa thứ tư đậu xanh. Quí vị không mong thu hoạch bắp trong thửa lúa mì hay đậu xanh trong thửa đậu nành. Tại sao chứ? Vì Đức Chúa Trời đã thiết lập trong luật gieo gặt thứ nào sản sinh ra "tùy theo loại" ấy (đối chiếu Sáng thế ký 6.20; 7.14).
Thứ ba, CHÚNG TA GẶT SAU KHI CHÚNG TA GIEO. Việc gặt luôn luôn theo sau việc gieo. Mùa gặt luôn luôn theo sau mùa gieo giống. Nói chung, nhà nông gieo vào mùa xuân và gặt lấy vào mùa thu. Mục đích, ấy là cần phải có một thời gian dài mới tới mùa gặt, nhưng mùa gặt luôn luôn đến.
Vì lẽ đó, nhà nông muốn có một mùa bội thu trong một cánh đồng đặc biệt, không những người gieo giống ấy trong cánh đồng đó, người ấy còn phải gieo giống tốt nữa. Người ấy phải gieo thật nhiều hột giống và rồi người ấy phải chờ đợi mùa gặt đến.
Một lần nữa, Phaolô nói: "Vì người gieo giống chi, ắt sẽ gặt giống ấy". Chính người gieo mới là người quyết định vụ mùa, chớ không phải người gặt. Điều chi vốn thực hữu ngoài đồng ruộng cũng rất thực trong từng lãnh vực của cuộc sống. Chúng ta gặt lấy những gì chúng ta gieo ra; chúng ta gặt lấy tại chỗ chúng ta gieo ra và chúng ta gặt hái sau khi chúng ta gieo trồng. Nếu chúng ta gieo ra hột giống đức tin, ân điển và tình yêu thương bằng đời sống của chúng ta, chúng ta có thể trông mong một mùa gặt phước hạnh. Nếu chúng ta gieo ra thứ "cỏ hoang" chúng ta chỉ trông mong gặt lấy gai góc và chà chuôm trong đời sống của mình mà thôi. Gióp 4.8 chép: "Theo điều tôi đã thấy, ai cày sự gian ác, và gieo điều khuấy rối, thì lại gặt lấy nó". Ôsê 8.7 chép: "Vì chúng nó đã gieo gió và sẽ gặt bão lốc".
Trong câu 7, trước khi vị Sứ đồ thốt ra luật gieo gặt, ông nói cách quả quyết: "Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu". Kinh Thánh thừa mứa những lời cảnh cáo chống lại sự dối gạt. Chúa Jêsus nói với chúng ta trong Giăng 8.44 rằng Satan là nguồn của mọi sự lừa gạt: "Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối". Chúa Jêsus phán trong Mác 13.5: "Hãy giữ mình kẻo có ai lừa dối các ngươi chăng". II Giăng 7 chép: "Trong thế gian đã rải nhiều kẻ dỗ dành…". Phaolô cảnh cáo chúng ta ở Êphêsô 5.6: "Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dỗ anh em…". Phaolô quở người thành Galati ai đã "bùa ếm" họ trong 3.1. Trong 6.3 ông viết về người nào "dầu mình không ra chi hết, mà cũng tưởng mình ra chi” và “ấy là mình dối lấy mình”.
Ở đây trong câu 7, đấy chính xác là điều mà ông đã có trong trí, tự dối mình. Dân sự tự dối lấy mình. Họ tự mình sai lạc. Họ dại dột hay tự gạt gẫm mình. Dân sự tự dối họ về luật gieo gặt. Đừng lừa dối như thế! Hãy tỉnh thức đi! Hãy nhận biết đi! Quí vị gieo ra thứ gì hôm nay trong đời sống mình, ngày mai quí vị sẽ gặt lấy, dù tốt hay xấu!
Cũng trong câu 7, Phaolô nói rằng chúng ta không nên "tự dối mình" vì "Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu". Từ ngữ Hy lạp nói tới "khinh dễ" là làm cho choáng váng. Nó có nghĩa là: "day cái mũi lên trên, cười nhạo hay đối xử với thái độ miệt khinh". Có thể chúng ta thành công trong việc tự dối mình, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ qua mặt Đức Chúa Trời được. Luật gieo gặt, việc gieo và việc gặt là chắc chắn và nhất định. Chúng ta sẽ gặt lấy những gì chúng ta gieo ra.
Từ phân đoạn Kinh Thánh gốc, chúng ta sẽ áp dụng luật gieo gặt vào việc dạy đạo trong Hội thánh, vào sự nên thánh cá nhân và vào việc làm ra các việc lành.
I. Gieo gặt về sự giảng đạo (câu 6).
A. Dân sự cần phải ủng hộ Mục sư.
Phaolô nói: "Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy đó". "Người nào dạy đạo" có nghĩa là "người nào chịu dạy dỗ trong đức tin". Luca đã sử dụng chính từ ngữ nầy để mô tả mối tương giao của ông với Thê-ô-phi-lơ trong Luca 1.4. Cho nên, người nào chịu dạy dỗ bằng Lời của Đức Chúa Trời cần phải ủng hộ cho người dạy đạo cho mình.
Có khi chúng ta được dạy dỗ trong đức tin theo cách một cặp một. Nếu quí vị đang học hỏi với một tín đồ đã trưởng thành theo cách thế đó, hãy "chia" "của cải tốt" mình có cho người ấy (nam hay nữ). Hãy bày tỏ ra tình yêu thương và sự tán thưởng của quí vị. Nếu quí vị ngồi nghe sự dạy dỗ của một người thông sáng trong lớp học Kinh Thánh, hãy "chia" "của cải tốt" mình có cho vị giáo sư đó. Hãy tỏ ra thái độ cảm tạ vì công việc của người (nam hay nữ) trong Chúa. Cũng một thể ấy, hội chúng các tín hữu trong các Hội thánh địa phương cần phải "chia" "của cải tốt" mình có cho quí Mục sư nào dâng đời sống của họ cho sự dạy dỗ và kỷ luật dân sự bằng Lời của Đức Chúa Trời.
“Dạy dỗ” tứ ngữ nầy theo cách riêng đối với tôi quả là rất nan giải, nhưng nó có mặt ở đây trong phân đoạn Kinh Thánh gốc và tôi không thể bỏ qua từ ngữ nầy được. Tôi rất biết ơn Chúa vì sự rời rộng mà Ngài đã đặt trong tấm lòng quí vị đã tiếp trợ cho tôi và gia đình tôi để tôi có thể dâng đời sống mình vào chức vụ thật là trọn vẹn. Tuy nhiên, khi chúng ta đề cập đến đề tài nầy, chúng ta hãy đào cho sâu thêm một chút nữa.
Dân sự cần phải ủng hộ vị Mục sư, môn đồ ủng hộ người làm công tác môn đồ hoá đã được đan dệt khắp cả Tân ước. Khi Chúa Jêsus sai 70 môn đồ ra đi, Ngài đã bảo họ "Hãy ở nhà đó, ăn uống đồ người ta sẽ cho các ngươi, vì người làm công đáng được tiền lương mình…" (Luca 10.7). Sứ đồ Phaolô đã sử dụng hình ảnh gieo gặt theo cách nầy trong I Côrinhtô 9.11: "Nếu chúng tôi đã gieo của thiêng liêng cho anh em, mà muốn thâu lại của vật chất của anh em, thì nào có phải một việc quá lẽ đâu?" Trong câu 14, ông nói thêm: "Cũng vậy, Chúa có truyền rằng ai rao giảng Tin Lành thì được nuôi mình bởi Tin Lành". Phaolô cũng sử dụng hình ảnh trong Kinh Thánh nói về một con bò trong sân đạp lúa, nó ăn hột lúa rơi ra do việc làm của nó. Khi trưng dẫn cả Luật pháp và Chúa Jêsus ông đã nhắc nhở Timôthê: "’Ngươi chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa; và người làm công thì đáng được tiền công mình’" (I Timôthê5.18; đối chiếu I Côrinhtô 9.9).
B. Mục sư không được lợi dụng dân sự.
Bất cứ một hệ thống nào cũng đều có xu hướng lợi dụng và cũng một thể ấy trong Hội thánh. Vì một số Mục sư và các cấp lãnh đạo Hội thánh đều nắm lấy ưu thế trong hội chúng của họ, tất cả các Mục sư đều có sự thành công đó. Về mặt luật pháp, các vị Mục sư đều "tự chủ" đối với các thứ thuế. Họ cũng "tự chủ" trong điều kiện thực tế. Ít nhất trong hầu hết các Hội thánh, không có ai lập kế hoạch cho một vị Mục sư; không một ai giám sát công việc của ông. Ông đề ra chương trình nghị sự của mình rồi bước theo chương trình ấy.
Một số Mục sư lợi dụng dân sự của họ bằng cách biếng nhác và có một chương trình rất nghèo nàn. Họ thoải mái suốt cả tuần lễ rồi góp nhặt vào tối thứ Bảy lo ghi chép sơ sài một sứ điệp cho sáng Chúa nhựt. Tôi có biết một số người đã sử dụng thì giờ vào việc chơi golf hay nghỉ ngơi ở bờ hồ hơn là ngồi nghiên cứu.
Những người nắm lấy chức vụ mà tôi khâm phục hầu hết đều là những người phục vụ có hai nghề trong tay. Vị sứ đồ lỗi lạc Phaolô đã từ chối không nhận lương cho chức vụ của mình, nhưng đã kiếm sống như một người may trại để lo rao giảng Tin lành mà không bị ai nói. Có những người làm việc 40-50 tiếng đồng hồ trong một tuần lễ để nuôi sống gia đình họ và vẫn dâng mình để giảng dạy cho dân sự của Đức Chúa Trời, họ là hạng anh hùng đức tin thực sự!
Tuy nhiên, khi một Hội thánh có thể cung lương cho một vị Mục sư, thì Hội thánh nên làm việc ấy. Martin Luther đã viết: "Thật là khó cho một người lo lao động ngày đêm để kiếm sống, đồng thời lại dâng chính mình vào việc nghiên cứu, học hỏi mà chức vụ giảng dạy đòi hỏi".
I Timôthê 5.17 chép: "Các trưởng lão khéo cai trị Hội thánh thì mình phải kính trọng bội phần, nhất là những người chịu chức rao giảng và dạy dỗ". "Kính trọng bội phần" sát nghĩa là "trả lương gấp đôi". Từ ngữ "khéo cai trị" có nghĩa là người rất vất vả khó nhọc với Ngôi Lời. Vị mục sư giỏi luôn năng động trong việc học hỏi và dạy dỗ Ngôi Lời với cùng một quyết định giống như thợ nề với những viên gạch của mình hay như người thợ mộc với cây búa của người vậy. Chức vụ giảng dạy Ngôi Lời được thực thi mỹ mãn là một công việc rất khó và nó xứng đáng được trả lương thật rời rộng.
C. Dân sự không được lợi dụng vị Mục sư.
Mặc dù thì giờ thay đổi, nhiều Hội thánh đã không cung lương đầy đủ cho các cấp lãnh đạo của họ. Tôi có nghe nói thái độ ấy đã được tỏ ra qua câu nói nầy: "Quí vị làm cho ông ấy luôn hạ mình xuống, còn Chúa và chúng tôi luôn giữ ông ấy trong sự khốn khó". Trong khi nhiều tín đồ vui hưởng bông trái của sự thành công và sự dư dật, nhiều gia đình Mục sư đã bị bó buộc phải sống trong những hạn chế.
Một vị Mục sư đã gặp một Hội thánh mới trong một cuộc trao đổi rồi gọi điện về cho vợ mình. Ông nói: "Anh thực sự thấy khích lệ khi họ nói với anh rằng anh sẽ được trả 500USD một tuần. Như vậy có nghĩa là một giờ được 5USD!" Viên thủ quỹ của Hội thánh khác đã nói với vị Mục sư chủ toạ rằng: "Chúng tôi đồng ý công giá của Mục sư phải tính bằng vàng, nhưng chúng tôi không thể cung lương cho Mục sư bằng nhôm được".
Có những Hội thánh cũng lạm dụng Mục sư của họ bằng cách vận động. Họ sử dụng cách hăm he rất tinh vi để buộc ông giảng dạy những gì họ muốn ông giảng dạy. Họ nghĩ họ phải được cung ứng nhiều với sự chi trả thật ít. Để chi trả các hoá đơn của mình, một vị Mục sư không có đủ tài chính sẽ thường nhượng bộ trước các áp lực như vậy.
Trong một Hội thánh có đầy đủ, một vị Mục sư có thể mở Kinh Thánh ra rồi để cho đồng tiền rơi đúng chỗ nó muốn. Một hội chúng thuộc linh hiểu rõ Hêbơrơ 13.17: "Hãy vâng lời kẻ dắt dẫn anh em và chịu phục các người ấy, bởi các người ấy tỉnh thức về linh hồn anh em, dường như phải khai trình, hầu cho các người ấy lấy lòng vui mừng mà làm xong chức vụ mình, không phàn nàn chi, vì ấy chẳng ích lợi gì cho anh em".
D. Dân sự và Mục sư đồng công với nhau.
Từ ngữ "đồng công" theo tiếng Hy lạp koinonia có nghĩa là "tương giao" hay "kết hợp". Vị Mục sư chia sẻ những vụ việc thuộc linh với hội chúng và họ chia sẻ những thứ vật chất cho ông. Hội thánh không TRẢ TIỀN cho Mục sư mà họ kết hợp với ông trong sự hầu việc Chúa. Vị Mục sư gieo ra Lời của Đức Chúa Trời và gặt hái vụ mùa, ông phải có phần thu nhập. Dân sự gieo ra chức vụ quản lý thực giỏi và gặt lấy mùa gặt rao giảng tốt từ Ngôi Lời.
II. Gieo gặt về sự nên thánh (câu 8).
Chúng ta đã áp dụng luật gieo gặt theo một cung cách rất đặc biệt, sự kết hợp của Mục sư và dân sự của người. Chúng ta đã nắm bắt và áp dụng luật ấy theo một ý nghĩa chung chung, sự tranh chiến cá nhân để đạt tới sự nên thánh. Phaolô nói: "Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời".
Sự phấn đấu giữa "xác thịt" và "Thánh Linh" chẳng có gì mới mẻ đối với chúng ta là những người đã cùng nhau nghiên cứu thư tín nầy. Ở đầu chương 5, Phaolô đã mô tả đời sống Cơ đốc giống như một bãi chiến trường. Ở đây chúng ta thấy "xác thịt" và "Thánh Linh" giống như hai thửa ruộng mà chúng ta có thể gieo mầm sống trong đó. Những gì chúng ta gặt đều nương vào chúng ta chọn gieo ra ở thửa ruộng nào mà thôi.
A. Thửa ruộng xác thịt.
Phaolô nói: "Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát". Chúng ta biết rằng trong Kinh Thánh "xác thịt" có ý đề cập nhiều tới da thịt, xương cốt và cơ bắp của chúng ta. Nó cũng nói tới bản chất ích kỷ, tội lỗi trong mọi người nữa. Nếu chúng ta nhượng bộ hay gieo ra cho xác thịt, chúng ta sẽ gặt lấy "những việc làm của xác thịt" như đã liệt kê ra ở 5.19-21: "ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy".
Tôi thích cách John Stott mô tả việc gieo cho xác thịt như sau: "Đối với việc ‘gieo cho xác thịt’ là cố làm thoả mãn nó, chìu theo, ấp ủ và bơi theo nó, thay vì đóng đinh nó trên thập tự giá. Những hột giống chúng ta gieo ra đều là những tư tưởng và các việc làm. Mỗi lần chúng ta để cho lý trí mình neo vào một sự đố kỵ, ấp ủ một sự buồn rầu, giải trí theo một ý tưởng kỳ quặc, hoặc dầm mình trong sự tự thương hại, chúng ta đang gieo ra cho xác thịt. Mỗi lần chúng ta đeo bám vào một số bạn bè xấu, ảnh hưởng xảo quyệt của họ chúng ta biết rõ song chúng ta không thể kháng cự lại, mỗi lần chúng ta nói dối trên giường ngủ khi ấy chúng ta đáng phải chỗi dậy mà cầu nguyện, mỗi lần chúng ta đọc loại sách báo khiêu dâm, mỗi lúc chúng ta đâm liều lĩnh làm căng thẳng sự tiết độ của chúng ta, chúng ta đang gieo ra, gieo ra, gieo ra cho xác thịt. Một số Cơ đốc nhân đang gieo ra cho xác thịt mỗi ngày và lấy làm lạ không biết tại sao họ chẳng gặt lấy sự nên thánh. Nên thánh là một sự gặt hái; dù chúng ta gặt lấy nó hay không đều nương vào những gì và nơi chốn chúng ta gieo ra".
"Sự hư nát" có ý nói tới sự mục nát, sự đồi bại, những thứ gì đó đi từ chỗ tốt đẹp đến chỗ tệ hại. Nếu quí vị đặt các thứ thức ăn thừa thải từ bữa ăn hôm nay vào tủ lạnh, chúng sẽ đi từ chỗ ngon lành thành ra hư nát ngay. Quí vị càng để chúng ở đó lâu chừng nào, thì chúng sẽ rơi vào chỗ tệ hại hơn chừng nấy! "Sự hư nát" cũng được sử dụng trong Tân ước có ý nói tới một xác chết nữa (đối chiếu I Côrinhtô 15.42, 50). Phần mô tả hay nhất tôi có thể nghĩ tới về "sự hư nát" là khi quí vị lái xe vào xa lộ một ngày mùa hè nóng nực rồi ngửi thấy mùi thơm của nhựa đường! Khi một tín đồ "gieo ra cho xác thịt" người ấy sẽ GẶT LẤY NHỰA ĐƯỜNG cho xem!
Theo tin từ đài phát thanh, một trường trung học ở Oregon đã đối diện với nan đề có một không hai. Một số nữ sinh bắt đầu sử dụng son môi và đặt nó trong phòng tắm. Sau khi họ dùng son môi, họ đã ấn đôi môi của mình trên các tấm kính để lại hàng tá dấu môi son. Sau cùng vị Hiệu trưởng mới quyết định phải thực hiện một việc quan trọng. Bà cho mời các nữ sinh vào phòng tắm và một vị giám thị đã gặp họ ở đó. Bà giải thích các dấu môi son đã gây ra một nan đề chính cho viên giám thị, là người phải lau chùi cửa kính hàng ngày. Để chứng tỏ công việc ấy khó khăn là dường nào, bà đã yêu cầu vị giám thị chùi một trong các tấm kính ấy. Ông ta rút ra chiếc bàn chải có cán dài, nhúng nó vào bồn vệ sinh, rồi quét lên tấm kính. Kể từ đó không còn có dấu son môi nào trên các tấm kính nữa. Khi bị cám dỗ phải phạm tội, nếu chúng ta chỉ nhìn vào dấu bẫn thực sự mà chúng ta sẽ hôn, chúng ta sẽ không thấy bị lôi cuốn vào đấy nữa.
Earnest Hemingway đã được người ta tưởng niệm là một trong những nhà văn lỗi lạc nhất của châu Mỹ. Tuy nhiên, khi ông "lừa dối" và hoàn toàn học biết được "Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu". Ông tin rằng Kinh Thánh và đạo đức Cơ đốc đã lỗi thời và chẳng ai còn dùng đến nữa. Ông nghĩ các luật đạo đức đều là những điều tôn giáo dị đoan không thích nghi với con người hiện đại. Thậm chí ông còn viết ra một bài thơ nhái theo Lời cầu nguyện của Chúa: "Những người chúng ta hoang đường đang sống trong chỗ hoang tưởng". Dầu vậy, khi ông tìm kiếm khoái lạc và sự phu phỉ cho xác thịt không có Đức Chúa Trời, ông chẳng tìm được gì trừ ra thất vọng và vô vọng. Ông đặt một viên đạn vào trong óc của mình. Các nhà văn khác như Sinclair Lewis và Oscar Wilde đã hỉnh mũi của họ đối với Đức Chúa Trời và đã tìm gặp sự cuối cùng tương tự. Lewis đã chết một cái chết trong say xỉn thảm hại tại một bịnh viện cấp 3 ở Ý. Wilde tìm gặp mình lọt vào vòng tù tội đồng tính luyến ái, xấu hổ, tủi nhục. Gần cuối đời, ông viết: "Tôi quên rằng ở đâu đó trong cuộc đời những điều bạn làm trong chỗ kín nhiệm, một ngày kia chúng sẽ rao ra trên mái nhà cách lớn tiếng".
Quí bạn tôi ơi: "Đừng tự dối mình, vì Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu". Nếu có ai "gieo cho xác thịt" người ấy sẽ gặt lấy "sự hư nát" của một đời sống tàn lụi.
B. Thửa ruộng Thánh Linh.
Kế đó Phaolô nói: "song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời". Gieo cho Thánh Linh là cùng một việc với "bước đi theo Thánh Linh" (5.16), được "Đức Thánh Linh dẫn dắt" (5.18), "bước theo Thánh Linh" (5.25) hay được "đầy dẫy Đức Thánh Linh" (Êphêsô 5.18).
Gieo cho Thánh Linh là tìm kiếm và theo đuổi Đức Chúa Trời. Ấy là "…tìm kiếm những việc ở trên cao…" và phải biết "ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất" (Côlôse 3.1-2). Philíp 4.8 chép: "Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến".
Chúng ta gieo cho Thánh Linh như thế nào? Chúng ta làm thế bằng những gì chúng ta có trong trí, bằng các quyển sách chúng ta đọc, bằng những cuốn phim cùng các buổi trình chiếu trên truyền hình mà chúng ta xem hay không xem. Chúng ta gieo cho Thánh Linh bằng cách phát triển những kỷ luật thuộc linh nhất định như cầu nguyện, suy gẫm, học thuộc lòng và nghiên cứu Kinh Thánh theo cách riêng. Có lẽ một trong những phương thức quan trọng nhất trong đó chúng ta gieo cho Thánh Linh nằm trong sự thờ phượng riêng, cách tốt hơn là "hướng tâm trí mình vào những việc ở trên cao". Khi chúng ta thờ phượng theo cách riêng, thờ phượng chung sẽ có tác động rất lớn.
Nếu một Cơ đốc nhân "gieo cho Thánh Linh" thay vì tính phân hủy của "sự hư nát" người ấy sẽ gặt lấy "sự sống đời đời". Điều nầy không có ý nói rằng chỉ có những tín đồ đầy dẫy Đức Thánh Linh mới vào trong thiên đàng. Người nào được sanh lại mới vào trong thiên đàng. "Sự sống đời đời" ở đây có ý nói tới tính chất sự sống hơn là thời gian sống. Nghĩa là, giống như "sự hư nát" là đi từ tốt hơn đến tệ hại hơn, "sự sống đời đời" có nghĩa là ngày càng được tốt đẹp hơn. Những giá trị đạo đức và thuộc linh của chúng ta sẽ lớn lên ngày càng mạnh mẽ hơn. Chúng ta sẽ ngày càng được "biến đổi ra giống theo ảnh tượng của Con Ngài" (Rôma 8.29). Chúng ta sẽ ngày càng ra giống theo Chúa Jêsus hơn! Mối giao thông của chúng ta với Đức Chúa Trời sẽ tăng lên cho tới một ngày kia sẽ được trọn vẹn trong cõi đời đời.
Dorothy Sayers đã viết: "Quả nhiên vậy, vì trong cõi đời đời ngoài thời gian, đúng kỳ mọi sự đều trở nên có giá trị, quan trọng, và có ý nghĩa. Vì lẽ đó, Cơ đốc giáo lấy điều nầy làm trọng: mọi sự chúng ta làm ở đây nhất nhất có quan hệ với tính cách đời đời của chúng ta. Sự sống đời đời là sự thừa nhận duy nhứt cho mọi giá trị của đời nầy".
Chúng ta phải nhận lấy thực tế ấy. Mỗi ngày chúng ta gieo ra nhiều hột giống. Một số hột giống chúng ta gieo ra trong thửa ruộng "xác thịt" của mình. Chúng ta gieo ra thật ích kỷ và tội lỗi. Từng hột giống đó sẽ tạo ra "sự hư nát" trong đời sống của chúng ta. Chúng sẽ không vùa giúp chúng ta, chúng sẽ làm hại cho chúng ta. Mỗi tư tưởng, lời nói hoặc biệc làm sẽ không dẫn tới việc "làm tôi vâng phục Đấng Christ" (II Côrinhtô 10.5) mà nó sẽ đem lại sự tàn lụi, thối rửa của "sự hư nát" trong đời sống chúng ta. Chúng ta đã bị "dối gạt" và chúng ta lao vào việc khinh dễ Đức Chúa Trời nếu chúng ta nghĩ chúng ta có thể không bị tội lỗi dỗ dành. Hãy viết ra điều nầy đi. Quí vị không thể bị tội lỗi dỗ dành. Quí vị không thể bị dính dáng với tội lỗi. QUÍ VỊ KHÔNG THỂ DÍNH DÁNG VỚI TỘI LỖI!
George Munzing nói: "Nếu bạn thực sự không chung thuỷ, bạn sẽ lừa dối trong trận đấu. Nếu bạn có sự gian lận ở trong đầu, bạn sẽ gian lận trong bài thi. Bạn không chung thuỷ với bạn gái, bạn lừa đảo trong công việc làm ăn. Bạn sẽ lừa dối người bạn đời của mình. Gieo ra một tư tưởng, gặt lấy một hành động. Gieo ra một hành động; gặt lấy một tật xấu. Gieo ra một tật xấu; gặt lấy một bản tánh. Gieo ra một bản tánh, gặt lấy một số phận".
Mỗi ngày chúng ta gieo ra nhiều hột giống. Chúng ta làm hết sức mình để gieo chúng ra đúng thửa ruộng để chúng ta còn gặt lấy vụ mùa "bông trái công bình và bình an" (Hêbơrơ 12.11).
III. Gieo gặt những việc lành (các câu 9-10).
Chúng ta đã xem xét việc gieo và gặt trong chức vụ của Hội thánh địa phương, gieo và gặt trong việc áp dụng sự thánh khiết vào đời sống chúng ta và giờ đây Phaolô đang nói tới "việc lành".
A. Đừng nhượng bộ (câu 9).
Chúng ta hãy đọc câu 9 cách chậm rãi và ráng nhận thức được điều gì đó ở bên kia giấy trắng và mực đen: "Chớ MỆT NHỌC về sự làm lành, vì nếu chúng ta KHÔNG TRỄ NẢI, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt". "Làm lành", phục vụ tha nhân có thể là một sinh hoạt rất dễ đem lại sự nhọc mệt. Rõ ràng người thành Galati, và có lẽ chính bản thân Phaolô [chú ý các nhân xưng đại danh từ] đã lấy làm mệt mỏi trong sự hầu việc Chúa của họ. Có lẽ họ đang suy nghĩ: "Vậy thì đâu là ích lợi?" Có thể họ đã sẵn sàng nhượng bộ rồi đấy.
Những người làm nông cũng lấy làm mệt mõi nữa. Sẽ ra sao nếu nhà nông gieo ra phân nửa thửa ruộng của mình và rồi lấy làm "mệt nhọc" mà bỏ cuộc. Mùa gặt cứ vẫn đến "đúng kỳ" nhưng người chỉ sẽ “gặt lấy” phân nửa ruộng mà thôi.
Chúng ta phải thật kiên nhẫn. Chúng ta đừng đầu hàng trong sự phục vụ lẫn nhau trong Chúa. Giacơ 5.7 chép: "Hỡi anh em, vậy hãy nhịn nhục cho tới kỳ Chúa đến. Hãy xem kẻ làm ruộng: họ bền lòng chờ đợi sản vật quí báu dưới đất cho đến chừng nào đã được mưa đầu mùa và cuối mùa". Hãy nhớ, chúng ta gặt lấy NHỮNG GÌ chúng ta gieo ra; chúng ta gặt lấy NGAY CHỖ chúng ta gieo ra, nhưng chúng ta cũng gặt hái SAU KHI chúng ta gieo. I Côrinhtô 15.58 chép: "Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu".
B. Làm điều thiện cho mọi người (câu 10).
Kế đó Phaolô nói: "đang lúc có dịp tiện" chúng ta cần phải "làm điều thiện cho mọi người". Anh em ơi, chúng ta có rất nhiều dịp tiện. Mọi người ở chung quanh chúng ta là những dịp tiện cho chúng ta "làm điều thiện". Mẹ tôi thường nói với tôi: "Có đi có lại". Bà có ý nói nếu tôi làm việc chi đó tốt đẹp cho người ta, nó sẽ trở lại với tôi thôi.
Chúng ta cần phải làm điều thiện "cho mọi người", những người tin Chúa và những kẻ chưa tin, già và trẻ. Chúng ta cần phải làm điều thiện "nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin". Tất nhiên "anh em chúng ta trong đức tin" là một hình ảnh khác trong nhiều hình ảnh của Kinh Thánh nói tới người được chuộc, người được cứu, thân thể của Đấng Christ, là Hội thánh. Nếu chúng ta không thể yêu thương người trong gia đình mình, nhất định chúng ta không sao yêu thương được người dưng nước lã ở bên ngoài.
Vào tháng 6 năm l955, Winston Churchill, ở gần cuối đời mình, được yêu cầu đưa ra lời phát biểu khai mạc tại đại học đường British. Lúc bấy giờ ông ốm yếu lắm rồi; người ta dìu ông lên bục. Khi ấy ông vịn lấy bục giảng gần như suốt thời gian đứng đó. Ông đứng đầu gục xuống luôn nhưng sau cùng ngẫn đầu lên, và giọng nói nhiều năm trước đó đã vực nước Anh từ bờ vực hủy diệt chỗi dậy lần cuối cùng trong lịch sử: "Không bao giờ đầu hàng. Không bao giờ đầu hàng. Không bao giờ đầu hàng". Với câu nói ấy, Churchill quay trở về lại chỗ ngồi của mình. Khi ấy mọi người đều im lặng phăng phắc, rồi giống như thể một người, toàn bộ khán thính giả đều đứng dậy vỗ tay tán thưởng ông, vì ông là một người mà toàn bộ lời nói và việc làm song hành với nhau.
Đúng là một câu nói dành cho chúng ta hôm nay, KHÔNG BAO GIỜ, KHÔNG BAO GIỜ, KHÔNG BAO GIỜ ĐẦU HÀNG! Không bao giờ thôi làm điều thiện vì chúng ta đang gieo ra những hột giống một ngày kia sẽ tạo ra một mùa gặt thật trúng. Lời hứa của Đức Chúa Trời trong luật gieo gặt là không hề thay đổi.
***

Galati 5.26 - 6.5: Mang gánh nặng



Tự do thực – Galati
Mang gánh nặng
Galati 5.26 - 6.5
Hai chương cuối của sách Galati dành cho đề tài bước đi hay được dẫn dắt bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Rôma 8.14 chép: "Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời". Êphêsô 4.30 cho chúng ta biết đừng "… làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc". Chúng ta đã học biết rằng bước đi theo Thánh Linh có nghĩa là làm cho chết “xác thịt” của chúng ta, "những điều ưa muốn" ích kỷ tội lỗi bên trong chúng ta và quyết định bước theo sự dẫn dắt của Chúa bằng cách sống vâng phục đối với Lời của Đức Chúa Trời và tiếng gọi êm dịu của Thánh Linh Đức Chúa Trời.
Bước đi theo Thánh Linh tác động cách đột ngột các mối quan hệ của chúng ta với tha nhân, đặc biệt là các tín hữu đồng lao của chúng ta trong Hội thánh. Chúng ta được kêu gọi để "mang lấy gánh nặng cho nhau" chớ không phải để đạp đổ nhau. Đấy là lý do tại sao tôi nghĩ 5.26 rất thích ứng với mấy câu đầu tiên của chương 6. Mặc dù từng câu nói trong Kinh Thánh đều được cảm thúc bởi Đức Chúa Trời, không thể sai lầm, sự phân chia chương và câu không thể sai sót được, chúng đã được thêm vào về sau nầy. Đôi khi, phần cuối của một chương rất phù hợp với phần mở đầu của chương kế đó.
Trước tiên chúng ta hãy nhìn vào câu 26. Vị sứ đồ nói: "Chớ tìm kiếm danh vọng giả dối mà trêu chọc nhau và ghen ghét nhau". Nói cách khác, Đức Thánh Linh không hề dẫn dắt quí vị để "tìm kiếm danh vọng giả dối" đâu. Quí vị bước đi theo Ngài sẽ không bao giờ dẫn quí vị vào sự "trêu chọc" hay "ghen ghét" đâu. Ngược lại, sự sống của Thánh Linh ấy là "nhờ tình yêu thương" mà chúng ta sẽ "làm đầy tớ lẫn nhau" (5.13) và với "lòng mềm mại" lo "sửa" bất kỳ một anh em nào đã sa vào trong tội lỗi (6.1).
Từ ngữ "tìm kiếm danh vọng giả dối" ở đây có ý nói tới ai đó có ý tự cao tự đại trong mình. Người ấy đang sống một đời sống kiêu ngạo. Trong các câu nói của Phaolô từ 6.3, người "không ra chi hết, mà cũng tưởng mình ra chi" “ấy là mình dối lấy mình". Quí vị thấy đấy, cách ứng xử của chúng ta đối với người khác được quyết định bởi nghĩ suy của chúng ta về chính bản thân mình. Bất cứ lúc nào các mối quan hệ của chúng ta bị căng thẳng, cái tôi gần như luôn luôn là nguyên nhân gốc. Phaolô nói rằng khi chúng ta sống “tìm kiếm danh vọng giả dối” (và hết thảy chúng ta từ lúc nầy sang lúc khác) rõ ràng là do "trêu chọc" hay "ghen ghét" lẫn nhau.
"Trêu chọc" sát nghĩa có ý nói tới thách thức ai đó bước vào cuộc tranh cãi. Giống như kẻ hay bắt nạt trong sân trường, hắn hay thách thức học sinh khác bước ngang qua một lằn ranh hoặc hích vai, con người "tự cao tự đại" đang tìm cách để đánh nhau. Chắc chắn là hắn luôn luôn có lợi thế, hắn đang tìm cách nào đó để chứng tỏ lợi thế ấy với người khác.
Một người "tự cao tự đại" như thế nhắc cho tôi nhớ tới hai cậu bé đang tranh luận với nhau. Một đứa nói: "ba tao có thể đánh gục ba mầy". "Đứa kia đáp: “Chẳng nhằm nhò gì, mẹ tao có thể đánh gục mẹ mầy”. Điều đó minh chứng cho cái gì chứ? Sự thực là điều đó chẳng minh chứng cho điều gì cả. Chúng ta được kêu gọi phải "lấy lòng yêu thương mà làm đầy tớ lẫn nhau" (5.13).
Trong Hội thánh, chúng ta thấy có người hay nghĩ rằng họ cao siêu về mặt thuộc linh hơn người khác. Họ thắc mắc đủ thứ rồi thách thức bất kỳ ai có ý kiến khác biệt. Họ rất sợ phải thôi không tỏ ra tri thức của họ về Kinh Thánh nữa. Tuy nhiên, Kinh Thánh phán rõ ràng trong I Côrinhtô 8.1: "sự hay biết sanh kiêu căng, còn sự yêu thương làm gương tốt". Mục tiêu của chúng ta không phải là thôi không tỏ ra chúng ta biết bao nhiêu, mà là chúng ta phải biết gây dựng lẫn nhau trong tình yêu thương của Chúa như thế nào!?!
Nếu "trêu chọc" đến từ nhận thức về sự cao siêu, thì "ghen ghét" phát sinh từ những cảm xúc thấp kém hơn. Nó cũng bắt rễ từ sự kiêu ngạo và tự cao tự đại. Thay vì vui mừng nơi các khả năng và thành tựu của tín hữu khác, chúng ta thường mau mắn đánh hạ họ xuống, gạt bỏ họ đi và chỉ ra những tật xấu của họ. Nếu chúng ta không thể dấy cao lên hơn họ, chúng ta sẽ kéo họ xuống bằng cấp độ của chúng ta.
Cả hai hình thức kiêu căng quay trở lại với lẽ đạo trong sách Galati, sự tự do thắng hơn xu hướng quay về với luật pháp. Một người xu hướng quay về với luật pháp tập trung sức lực của mình rồi nhắm vào mọi nỗi yếu đuối của người khác. Một Cơ đốc nhân có thể sẽ rất là "tự cao tự đại". Hắn rất thích "trêu chọc" các tín hữu khác hoặc xả láng trong chỗ "ghen ghét" họ, nhưng khi hắn làm như vậy, chắc chắn hắn đang lạc bước với Đức Thánh Linh.
Khi chúng ta bước vào chương 6, chúng ta sẽ học hỏi đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh tự thể hiện như thế nào trong các quan hệ với những tín hữu khác, đặc biệt trong việc mang lấy gánh nặng của cuộc sống.
I. Một số gánh nặng chúng ta không thể mang lấy một mình (6.1-2).
Từ ngữ "gánh nặng" in câu 2 có ý nói tới một vật nặng nề, nặng đến nỗi khi mang nó người ta không thể bước đi được. Có một số gánh nặng chúng ta có thể mang vác bằng sức riêng của mình, nhưng phần nhiều gánh nặng đòi hỏi phải có sự vùa giúp của nhiều người khác. Tôi có thể tự mình nhấc chiếc ghế lên, nhưng tôi không thể di chuyển chiếc đàn dương cầm mà không có sự giúp đỡ. Khi vợ tôi, là Deb trở về nhà từ cửa hàng rau quả, cả gia đình đều ra lấy những chiếc túi từ xe hơi. Thậm chí đứa con nhỏ nhất của chúng tôi cũng cầm lấy mấy cái túi xốp nhẹ nhất nữa. Cũng một thể ấy đối với gia đình của Đức Chúa Trời. Rôma 12.15-16 chép: "Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc. Trong vòng anh em phải ở cho hiệp ý nhau; đừng ước ao sự cao sang, nhưng phải ưa thích sự khiêm nhượng. Chớ cho mình là khôn ngoan".
Gánh nặng đặc biệt mà Phaolô có trong trí ở đây là có ai đó đã "vượt quá giới hạn", ai đó đã vô ý sa vào tội lỗi. Mục tiêu của chúng ta là không bao giờ xét đoán hay xem thường người ấy, mà phải "sửa" người ấy lại rồi giúp đỡ cho người ấy trở lại với sự bước đi theo Thánh Linh. Chúng ta hãy chú ý 6 phần phải tuân giữ về việc giúp đỡ cho các tín hữu khác với “những gánh nặng” như thế.
A. Chúng ta vùa giúp vì chúng ta là gia đình (câu 1a).
Hãy chú ý Phaolô bắt đầu câu 1 với lời chào thăm: "Hỡi anh em". Chúng ta không những là con trai con gái của Đức Chúa Trời, chúng ta là anh chị em. Phaolô bắt đầu câu thứ nhứt trong chương nầy và câu cuối cùng trong chương nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng chúng ta là "anh em", anh chị em trong Chúa.
Cain đã hỏi Chúa: "Tôi là người giữ em tôi sao?" (Sáng thế ký 4.9). Chương nầy là câu trả lời của Tân ước và đây là một câu nói vang dội: PHẢI, TÔI LÀ NGƯỜI GIỮ EM TÔI!
Khi một đứa con trong gia đình của ai đó đi lạc hay gặp phải rắc rối, chúng ta có khuynh hướng lắc đầu và cảm thấy áy náy cho họ. Tuy nhiên, khi một trong bầy con của chúng ta phạm sai lầm và đột nhiên cả thế giới của chúng ta bị úp ngược xuống. Tại sao chứ? Vì đó là gia đình của chúng ta! Đó là người mà chúng ta yêu thương, là người đang lâm vào cảnh rối rắm!
Hãy đoán xem điều chi đang diễn ra? Nếu quí vị là tín đồ, quí vị là gia đình của tôi và tôi thuộc về gia đình của quí vị. Hết thảy chúng ta đều là chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời và chúng ta gắn bó với nhau. Đặc biệt đây là sự thực trong Hội thánh địa phương. Chúng ta phải từ chối không gỡ mình ra rồi gánh lấy trách nhiệm của mình vì chúng ta được kết với nhau cho đến đời đời!
B. Chúng ta vùa giúp khi một anh em bị tội lỗi dỗ dành (câu 1b).
Bud Sellick viết: "Ba ngàn bàn chân đang lo sợ trên mặt đất, vận động viên nhảy dù thể thao của Liên xô cũ Yuri Belenko nhận ra mình đang ở trong chỗ rối rắm. Chiếc dù chính của anh đã bị trục trặc, và dù dự trữ của anh "xoắn" quanh dù chính, xem ra cả hai đều vô dụng. Khi đá chân để từ từ tháo gỡ vòng xoắn tự nhiên do táng dù ở bên trên, Belenko đã kêu thét lên với bạn nhảy trên mặt đất. Mấy người bạn nhảy dù của anh ngay lập tức nhảy vào hành động, chụp lấy một tấm đệm, rồi chạy hết tốc độ hướng về điểm rơi. Khi rơi như thế Belenko đã kêu thét lên và giật mạnh những sợi dây trong nổ lực tháo gỡ chỗ vướng của hai chiếc dù. Bên dưới, các bạn của anh trải tấm đệm ra…và chờ đợi. Belenko lao thẳng xuống tấm vải bạt với tốc độ có thể làm nát xương, làm cho tấm bạt rách ra làm hai, tuột khỏi tay của những người cứu hộ, rồi chạm mặt đất. Khi bụi tan hết rồi, Belenko nằm thở và than phiền vì bị trặc mắt cá. Thêm vào cái chân bị thương, anh còn chịu một số chỗ bị bầm tím. Mấy người bạn môn nhảy dù của anh đã có mặt ở đó để giúp cho Belenko đúng thời điểm anh ta cần tới họ nhất".
Cũng một thể ấy, có những tín hữu thường bị "dỗ dành" bởi tội lỗi và họ đang lao mình thẳng vào thất bại và sự tàn nát. Giống như Belenko đã thấy mấy cái dù của mình xoắn lại với nhau, kẻ thù của chúng ta là một chuyên gia trong việc vặn cong mọi ham muốn xác thịt của chúng ta với sự cám dỗ làm cho chúng ta không cất cánh bay cao về mặt thuộc linh được. Đây là lý do tại sao chúng ta cần anh chị em của chúng ta để giữ chúng ta lại trong chiếc lưới ân sũng và ơn tha thứ của Đức Chúa Trời.
"Dỗ dành" ở đây mang ý nghĩa của sự tác động lôi cuốn vào một tội lỗi. Từ ngữ Hy lạp có ý nghĩa của sự bị tội lỗi làm cho kinh ngạc. "Tội lỗi" có nghĩa là sa ngã hay vấp chơn. Hình ảnh cho thấy đây không phải là tội cố ý, mà là một tội kết quả từ chỗ làm cho người ta mất cảnh giác mà sa vào hay rơi vào sự cám dỗ.
Phaolô nói với chúng ta phải "sửa họ lại". Chúng ta cần phải trải rộng màn trướng ân điển của Đức Chúa Trời ra rồi hứng lấy người ấy khi người sa ngã. Thú vị thay, "sửa" ra từ một từ Hy lạp mô tả việc vá víu hay tu bổ lại. Cũng một chữ nầy đã được sử dụng ở Mác 1.19: "…Ngài thấy Gia-cơ, con Xê-bê-đê, với em là Giăng, đang VÁ lưới trong thuyền". Chữ nầy cũng được dùng để mô tả việc sắp lại một chiếc xương đã bị gãy hoặc giúp làm hoà hoãn một cuộc tranh luận. "Sửa" một thứ gì đó là khiến cho nó quay trở lại với trạng thái ban đầu của nó.
Chẳng có một gánh nào nặng hơn gánh nặng của tội lỗi. Chiếu theo Kinh Thánh, mạng lịnh của vị sứ đồ, ấy là khi chúng ta thấy một người anh em đang chịu khổ dưới gánh nặng tội lỗi, đang vấp ngã vì một "quá phạm" chúng ta cần phải mau mau chạy tới bên người ấy để giúp đỡ cho người. Chúng ta nhìn thấy một người anh em phạm phải một tội lỗi như thế, chúng ta không nên ngồi ì ở đó mà chẳng làm chi hết. Chúng ta đừng nên nói: "Đây chẳng phải là công việc của tôi" hay "Tôi chẳng muốn dính líu vào". Chúng ta không nên xét đoán người anh em đó với một thái độ như muốn nói: "Đáng đời lắm". Mà ngược lại, chúng ta cần phải "sửa" người lại, đưa người về lại đúng con đường và sắp lại chiếc xương đã bị gãy.
II Côrinhtô 2.7 chép chúng ta cần phải "tha thứ yên ủi, hầu cho người khỏi bị sa ngã vì sự buồn rầu quá lớn". II Têsalônica 3.15 chép: "Tuy vậy, chớ coi người đó như kẻ nghịch thù, nhưng hãy răn bảo người như anh em vậy".
Nếu con trai của quí vị té xe đạp bị gãy chân, chắc quí vị sẽ nói: "đáng đời lắm" rồi bỏ nó lại bên lề đường hay quí vị sẽ mau đưa nó vào bịnh viện cấp cứu? Nếu em gái của quí vị đạp xe qua bờ đê rồi bị kẹt ở đó, chắc quí vị sẽ nói: "Em nên lái xe cho ngay thẳng và vào con đường hẹp kia kìa" hay quí vị ngay lập tức sẽ gọi 911? Nếu cha của quí vị trượt té trong nhà tắm và bị trặc xương hông, liệu quí vị sẽ nói: "Con bận lắm, con sẽ đến trông chừng cho ba khi con có thì giờ rãnh?" hay quí vị sẽ bỏ hết mọi sự lại đó rồi mau mau chạy đến nhà của ông ấy? Chúng ta quá bận tâm tới những đau thương về phần xác, nhưng hướng một con mắt mù và một lỗ tai điếc vào các tác dụng của tội lỗi trong đời sống gia đình thuộc linh của chúng ta, có phải không??
Nhà cải chánh lỗi lạc Martin Luther đưa ra lời khuyên nầy: "Hãy chạy đến với người anh em đó, rồi chìa tay của mình ra, đỡ người ấy dậy, yên ủi người bằng lời lẽ dịu dàng, rồi ôm lấy người bằng đôi vòng tay của một người mẹ".
C. Chúng ta vùa giúp nếu chúng ta có Đức Thánh Linh (câu 1c).
Ai cần phải "sửa" một anh em sa ngã? Phaolô nói: "Anh em là kẻ có Đức Thánh Linh". Ai là "kẻ có Đức Thánh Linh" và làm thế nào chúng ta biết chúng ta có đủ tư cách?
Đức Thánh Linh hiện đang ngự bên trong tất cả các Cơ đốc nhân chơn thật. Tuy nhiên, tín đồ "có Đức Thánh Linh" là người bước đi theo Thánh Linh và được dẫn dắt bởi Đức Thánh Linh. Thực vậy, thường thì hầu hết những Cơ đốc nhân "có Đức Thánh Linh" là những người đã bước đi với Chúa một thời gian lâu dài. Họ đã đạt được một lượng trưởng thành thuộc linh và đang bày tỏ ra "trái của Thánh Linh" trong đời sống của họ. Tuy nhiên, bất kỳ một Cơ đốc nhân nào trẻ hay già đều có thể trở thành một Cơ đốc nhân "có Đức Thánh Linh". Người ấy phải bước đi theo Thánh linh. Thực ra, đôi khi tôi là một Cơ đốc nhân "có Đức Thánh Linh" và đôi lúc tôi không phải như vậy. Tôi đã nhìn thấy những tín đồ "có Đức Thánh Linh" họ mới vừa nhận biết Chúa một vài tháng và một số người đã được cứu trong nhiều thập niên lại là những người không "có Đức Thánh Linh".
Đừng bị cám dỗ khi sử dụng lời cáo lỗi: "Thôi, để tôi ở ngoài lề đi, vì tôi không có Đức Thánh Linh”. Kinh Thánh ban cho quí vị mạng lịnh "hãy bước đi theo Thánh Linh" trong 5.16. Đừng thoả lòng khi là một tín đồ con trẻ. Hãy tấn tới đi! Hãy dự phần vào thân thể của Đấng Christ!
Mục đích là, khi quí vị nhìn thấy một anh chị em sa ngã trong tội lỗi, đừng bước qua lề đường bên kia giống như trong thí dụ người Samari nhơn lành. Hãy giúp đỡ người ấy. Nhưng trước tiên, hãy kiểm tra lại chính tấm lòng của mình. Hãy xưng tội mình. Phải biết chắc quí vị đang "có Đức Thánh Linh", đang song hành với Đức Thánh Linh. Nếu quí vị không thể "sửa" một anh em sa ngã, sở dĩ như thế là vì bản thân quí vị đang cần được sửa lại!
D. Chúng ta vùa giúp với tấm lòng mềm mại (câu 1d).
Khi chúng ta nhìn thấy một anh chị em đang sa ngã trong tội lỗi, chúng ta cần phải bước tới rồi "sửa" người ấy (nam hay nữ), nhưng chúng ta phải “lấy lòng mềm mại” mà làm thế. Phaolô đã nói rồi, "mềm mại" là một "trái Thánh Linh" ở 5.23. Đấy là lý do tại sao chỉ có những tín đồ "có Đức Thánh Linh" mới có thể "sửa" một anh em sa ngã. Một tín đồ "có Đức Thánh Linh" đang thể hiện ra "trái Thánh Linh".
"Mềm mại" có nghĩa là TLC – “tender love and care”, dịu dàng, yêu thương và chăm sóc. Cách đây một thời gian, có một bà cụ đến thăm Hội thánh chúng ta đã té ngã ở chỗ đậu xe sau buổi thờ phượng sáng Chúa nhựt. Một đám đông dân sự của chúng ta đã tập trung lại. Có người đã gọi 911. Một anh em đã trải áo gió của mình ra làm gối kê đầu cho bà cụ. Người khác đến đắp khăn ướt, lạnh lên trán của bà cụ. Vài người khác đã sử dụng thân thể của họ che ánh nắng mặt trời cho bà cụ đó. Trước khi xe cứu thương đến, lương tâm người nầy tỉnh thức. Bà ta DỊU DÀNG phụ giúp và tử tế CHĂM SÓC cho tới khi xe cứu thương đến. Nếu chúng ta lâu nay xử lý với một nan đề về mặt thuộc thể bằng sự "dịu dàng" ấy, chúng ta cần phải DỊU DÀNG hơn nữa khi giúp một tín hữu đang bị sa vào lưới tội lỗi dường bao?
Là Hội thánh, chúng ta cần phải mau mắn bước tới khi có ai đó bị bịnh tật hoặc ngã chết trong gia đình. Chúng ta gửi hoa đến. Chúng ta bảo bọc dân sự bằng thức ăn ngon. Tuy nhiên, chúng ta phải đáp ứng như thế nào với tình trạng bịnh tật của tội lỗi?
E. Chúng ta vùa giúp khi nhận biết rằng chúng ta cũng bị dỗ dành (câu 1e).
"Mềm mại" còn có một nghĩa rộng khác nữa. Nó cũng có ý nói tới KHIÊM NHƯỜNG. "Mềm mại" sanh ra từ một ý thức nhận biết rõ ràng tình trạng yếu đuối và xu hướng nhắm về tội lỗi của chúng ta. Lý do quí vị cần phải đối xử với một anh em sa ngã bằng sự "mềm mại" ấy là "chính mình anh em lại phải giữ, e cũng bị dỗ dành chăng". Tôi phải đối xử với anh em tôi khi họ sa ngã bằng TLC vì tôi biết rõ rằng tôi cũng bị cám dỗ đối với những tội lỗi ấy.
Thường thì người ta nói rằng đạo binh Cơ đốc là đạo binh duy nhứt bắn kẻ bị thương của nó. Chúng ta dễ dàng xét đoán và xét đoán lẫn nhau. Phaolô đã nói trong 5.13: "Nhưng nếu anh em cắn nuốt nhau, thì hãy giữ, kẻo kẻ nầy bị diệt mất bởi kẻ khác". Có người từng nói, chúng ta phải cẩn trọng đừng bao giờ chỉ ngón tay vào người khác vì có hơn ba ngón tay đang chỉ về phía chúng ta.
Có lẽ phần mưu luận hay nhất mà chúng ta nên nắm lấy là từ I Côrinhtô 10.12: "Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã".
Đừng lấy điều nầy làm một lời cáo lỗi để không dấn thân vào. Đừng nói: "Tôi là ai mà dám nói với người khác về tội lỗi của họ, tôi đâu có trọn vẹn đâu". Đây không phải là lời cảnh cáo để rồi không dấn thân vào, mà là một lời khuyên về việc đừng để cho sự kiêu căng ngạo mạn bước vào linh trình.
F. Chúng ta vùa giúp hầu làm tròn luật pháp của Đấng Christ (câu 2).
Ở đây chúng ta thấy nguyên tắc cơ bản của cả phân đoạn: "Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau". Hết thảy chúng ta đều có Đấng Mang Gánh Nặng Vĩ Đại ở bên cạnh chúng ta, là Chúa Jêsus. Hết thảy chúng ta đều nhớ rõ Thi thiên 55.22: "Hãy trao gánh nặng ngươi cho Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ nâng đỡ ngươi; Ngài sẽ chẳng hề cho người công bình bị rúng động". I Phierơ 5.7 dạy cho chúng ta biết phải "trao gánh nặng cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em". Đúng vậy, một trong các phương thức Đức Chúa Trời chăm sóc cho chúng ta là qua sự quan tâm của anh chị em chúng ta trong Đấng Christ. Ngài đặt họ trên linh trình của chúng ta.
"Mang" ở đây có thì hiện tại, có ý nói chúng ta cần phải LIÊN TỤC “mang lấy gánh nặng cho nhau". Chúng ta đừng bao giờ với tới một vị trí trong cách ăn ở thuộc linh của chúng ta mà ở đó chúng ta được miễn trừ trách nhiệm nầy. "Mang" cũng có ý nói vác lấy một thứ gì đó với sự nhịn nhục. Mang lấy gánh nặng của người khác là một phần việc rất khó khăn và chán ngắt. Bất kỳ một vị Mục sư nào cũng có thể bảo quí vị rằng bàn bạc và vùa giúp cho người khác sống qua những khó khăn trong cuộc sống là buồn bã và rất khó chịu. Mục tiêu là, đây không phải CHỈ LÀ CÔNG VIỆC CỦA MỘT MỤC SƯ! Ngược lại, đây là mạng lịnh DÀNH CHO MỖI MỘT TÍN ĐỒ. Quí vị là NGƯỜI GIỮ ANH EM của mình. Quí vị có TRÁCH NHIỆM phải bước tới giúp đỡ cho người ấy, "mang lấy" gánh nặng của người ấy.
Qua câu nầy thường được áp dụng cho bất kỳ một thử thách nào trong cuộc sống, đặc biệt nó có ý nói tới một người đã bị té ngã trong tội lỗi.
Khi chúng ta "mang lấy gánh nặng cho nhau" chúng ta đang "làm tròn luật pháp của Đấng Christ". Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 13.34: "Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy". "Luật pháp của Đấng Christ" là "luật yêu thương", yêu thương đủ để dấn thân vào.
Ngay cả sứ đồ Phaolô cũng đã cần đến một người anh em biết mang gánh nặng nữa kìa. Ở một thời điểm trong chức vụ của ông, ông cảm thấy nặng nề kinh khủng lắm. Tấm lòng của ông đã tan vỡ vì những sự chia rẽ và tội lỗi bên trong Hội thánh Côrinhtô. Ông đã đối diện với những khó khăn rất lớn ở bên ngoài trong chức vụ của mình và lộn xộn ở bên trong. Ông tỏ bày ra điều nầy ở II Côrinhtô 7.5: "Vả, khi chúng tôi đến trong xứ Ma-xê-đoan, xác thịt chẳng được yên nghỉ chút nào. Chúng tôi khốn đốn đủ mọi cách: ngoài thì có sự chiến trận, trong thì có sự lo sợ". Quí vị có cảm thấy giống như thế chưa? Đời sống của quí vị có được mô tả là: "ngoài thì có sự chiến trận, trong thì có sự lo sợ" không? Tuy nhiên, Phaolô không trụ lại ở chỗ nầy. Đức Chúa Trời đã sai phái một người anh em đến đứng bên cạnh ông rồi đỡ ông dậy. Ngay câu kế đó, vị sứ đồ nói: "Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng yên ủi kẻ ngã lòng, đã yên ủi tôi bởi Tít đến nơi" (II Côrinhtô 7.6). Quí vị có nắm bắt được ở chỗ nầy chưa? Khi Tít đến với Phaolô, Đức Chúa Trời đang thực thi sự yên ủi, nhưng Ngài đã thực thi sự yên ủi đó qua Tít. Tít là một ống dẫn phước hạnh của Đức Chúa Trời cho Phaolô. Nếu chúng ta rộng mở, Đức Chúa Trời cũng sẽ đổ dòng sông yêu thương của Ngài qua chúng ta nữa! Hãy để cho dòng sông ấy tuôn chảy!
Hãy đoán xem điều chi xảy ra? Khi chúng ta gánh lấy trách nhiệm mang lấy gánh nặng cho nhau, không những là họ được giúp đỡ, nhưng chúng ta được khích lệ nữa! Karl Menninger, là nhà tâm thần học, người ta đến hỏi ông họ phải làm gì khi đến gần một người bị thần kinh. Lời khuyên của ông là: "Hãy khoá cửa nhà bạn lại, băng qua đường rầy xe lửa, tìm một người đang trong cảnh có cần và làm một việc gì đó giúp người ấy".
Ngày kia có một sinh viên đến hỏi nhà nhân loại học Margaret Mead xem dấu hiệu sớm sủa nhất của nền văn minh trong xã hội. Anh sinh viên nầy mong câu trả lời phải là chiếc bình đất sét hay có lẽ là cái lưỡi câu cá hoặc hòn đá cụi kia. Câu trả lời của bà Margaret là "cái xương đùi đã được chữa lành", một xương ống chân. Mead giải thích rằng không một xương đùi nào được chữa lành đã được tìm thấy ở nơi mà luật rừng ngự trị. Một chiếc xương đùi đã được chữa lành chỉ ra có người đã biết cách cứu chữa. Ai đó đã tìm người thợ săn bị thương và sắp lại cho tới chừng cái chân được lành. Bằng chứng của lòng thương xót là dấu hiệu đầu tiên của nền văn minh.
II. Một số gánh nặng chúng ta phải mang lấy một mình (6.3-5).
Lúc đầu nhìn vào câu 2 và câu 5 dường như có một sự mâu thuẫn. Một đàng bảo chúng ta phải "mang lấy gánh nặng cho nhau" còn một đàng bảo "ai sẽ gánh lấy riêng phần nấy". Chúng ta cần phải đào sâu mới tìm ra được.
A. Kiêu ngạo là tự dối mình (câu 3).
Phaolô nói: "Vì, nếu có ai, dầu mình không ra chi hết, mà cũng tưởng mình ra chi ấy là mình dối lấy mình". Tôi nhớ mẹ tôi có nói về một người như thế: "Thực sự ông ấy đã tưởng mình ra gì, có phải không?" Tất nhiên là bà đang đề cập tới một người với bầu không khí kiêu căng, ngạo mạn. Chúng ta đã được cảnh tĩnh rồi về việc "tìm kiếm danh vọng giả dối" ở 5.26. Mặc dù quí vị có thể nghĩ mình là "ra gì", tách rời khỏi ân điển của Đức Chúa Trời, quí vị sẽ “chẳng là gì cả”. Khi tưởng mình "ra gì" đang khi thực tế quí vị "chẳng là gì hết", điều nầy là "lừa dối" hoặc dối mình.
Một trong những cái bẫy mà kẻ thù giăng mắc các Cơ đốc nhân biết đầu phục là SỰ KIÊU NGẠO THUỘC LINH. Chúng ta sẽ thốt ra giống như người Pharisi đã cầu nguyện: "Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi" (Luca 18.11-12). Thế mà chúng ta đã thể hiện ra chính những đặc điểm đó. Một là chúng ta không màng tới người anh em bị sa vào trong tội lỗi, hai là bảo trợ cho người ấy hầu cho chúng ta không rơi vào sự cám dỗ theo một cách thức như vậy.
Chúa Jêsus đã phán trong Mathiơ 7.3-5: "Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình? Sao ngươi dám nói với anh em rằng: Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà trong mắt mình? Hỡi kẻ giả hình! trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được".
Về máy tính, Bill Gates của Microsoft đã sánh công nghệ máy tính với công nghệ xe hơi, ông nói: "Nếu hảng xe General Motors giữ kỹ kỹ thuật giống như công nghệ máy tính giữ, hết thảy chúng ta sẽ lái loại xe chỉ có 25USD chạy một gallon xăng 1.000 dặm". Hảng General Motors đáp lại Gates bằng câu nói: "Đúng thế, nhưng chẳng lẽ ông muốn chiếc xe của ông bị sự cố một ngày hai lần sao?" Lý do chính là những tín đồ "có Đức Thánh Linh" hay “được Thánh Linh dẫn dắt” cần phải "sửa" một người anh em sa ngã là sự kiêu ngạo.
B. Khiêm nhường là tự xét mình (các câu 4-5).
Kế đó Phaolô nói: "Mỗi người phải thử xét việc làm của mình, thì sự khoe mình chỉ tại mình thôi, chớ chẳng phải tại kẻ khác". "Xét" ra từ một chữ Hy lạp có nghĩa là "chấp nhận sau khi thử". Chúng ta cần phải thử bản thân mình để biết chắc mọi động lực và thái độ của chúng ta là trong sạch và được đẹp lòng Chúa. Chúng ta cần phải biết chắc chúng ta đã cất bỏ bất kỳ cây đà nào ra khỏi mắt của mình rồi. Chỉ "khi ấy" chúng ta mới có thể vui mừng được. Sau khi khiêm hạ tự xét mình, mọi sự còn lại là khoe mình trong Chúa và ân điển rời rộng của Ngài. Như Phaolô đã nói trong câu 14: "Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta". Tách ra khỏi Chúa Jêsus tôi chẳng là gì cả. Bất kỳ một điều tốt lành nào được thấy có nơi tôi đều đến từ nơi Ngài.
Một cậu bé từng nói với mẹ nó rằng nó cao được 6 feet. Khi bà nghi ngờ câu nói ấy, nó quyết chắc với bà rằng nó đã tự đo cho mình. Cách tính toán của nó rất đúng, song cây thước thì không đúng; cây thước đo chỉ khoảng 6 inches dài mà thôi. Khi chúng ta xét mình bằng Lời của Đức Chúa Trời, chúng ta thấy mình yếu đuối là dường nào và ân điển của Ngài rời rộng là dường bao!
Trong câu 5, Phaolô nói thêm: "Vì ai sẽ gánh lấy riêng phần nấy". Chữ dùng cho "gánh nặng" trong câu 2 là baros có ý nói tới một trọng lượng rất nặng, một mình khó mang nổi. Chữ "gánh" ở đây là phortion, chỉ ra vật cần phải được khiêng vác. Một "gánh nặng" trong câu 2 giống như chiếc đàn dương cầm. Một "gánh" trong câu 5 giống như chiếc balô của một người. Chúa Jêsus phán: "Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng" (Mathiơ 11.30).
"Gánh" mà chúng ta phải mang một mình là trách nhiệm của Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta. Chúng ta cần phải "mang gánh nặng cho nhau" là thứ quá nặng không mang nổi một mình, nhưng có một gánh nặng mà chúng ta không thể chia sẻ và không cần phải chia sẻ vì nó nhẹ nhàng đủ để mang lấy một mình – là trách nhiệm cá nhân của chúng ta với Đức Chúa Trời. Ngày kia chúng ta sẽ đứng trước bema lớn, là "ngai phán xét của Đấng Christ". II Côrinhtô 5.10 chép: "Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt". Trong ngày đó, tôi không thể mang lấy gánh nặng của quí vị và quí vị không thể mang lấy gánh nặng của tôi.
Để kết thúc, cho phép tôi cung ứng cho quí vị bốn từ ngữ rất thực tế liên quan tới việc mang lấy gánh nặng.
Từ ngữ thứ nhứt là THÌ GIỜ. Quí vị không thể giúp người khác mang lấy gánh nặng của người ấy (nam hay nữ) nếu quí vị quá bận rộn. Thậm chí quí vị cũng chẳng màng tới và dù quí vị có để ý tới đi nữa, sự giúp đỡ của quí vị sẽ rất là hời hợt.
Từ ngữ thứ hai là CẦU NGUYỆN. Có những tín đồ hay nói: "Tôi sẽ cầu nguyện cho bạn". Quí vị có nói như thế không? Quí vị có thực sự cầu thay cho họ không? Nếu có ai nói như thế với quí vị, hãy biết ơn. Hành động cao cả nhất họ có thể làm nơi phần của quí vị là dâng quí vị cho Chúa. Tôi muốn quí vị thưa với Đức Chúa Trời về tôi hơn là nói với tôi về Đức Chúa Trời.
Từ ngữ thứ ba là TRÁCH NHIỆM. Hết thảy chúng ta đều cần ít nhất một người có trách nhiệm và hỏi chúng ta nhiều câu khó. Nếu quí vị chưa có một người bạn có trách nhiệm như thế và quí vị muốn có một người, làm ơn hãy nói cho tôi biết. Tôi sẽ sung sướng gửi đến cho quí vị một Tít đến để giúp yên ủi quí vị.
Từ ngữ sau cùng là YÊU THƯƠNG. Đây là từ ngữ vĩ đại nhất cho sự tấn tới của Hội thánh. Người ta không trụ lại Hội thánh vì nhạc hay, giảng hay hoặc các chương trình hay. Họ muốn có sự ấm áp hơn là ngọn đèn. Chúng ta hãy trao sự ấm áp ấy cho họ!
***

Galati 5.19-25: Bước đi theo Thánh Linh - Phần 2



Tự do thực – Galati
Bước đi theo Thánh Linh - Phần 2
Galati 5.19-25
Tôi dự tính đạp thắng và giảm tốc độ lại khi chúng ta đến với chương 5 của sách Galati. Tiểu đoạn Kinh Thánh nầy nói rõ ràng tới chỗ mà phần nhiều người trong chúng ta cần phải bước đi với Đấng Christ. Tôi muốn vắt hết mọi giá trị và hấp thụ từng ứng dụng của mỗi câu mà Đức Thánh Linh đã cung ứng cho chúng ta. Vì có nhiều người không hiện diện ở đây trong tuần qua do sự khắc nghiệt của thời tiết, làm ơn cùng với tôi để ra ít phút hầu ôn lại những gì mà chúng ta đã học qua. Những điều chúng ta sẽ học trong các câu 19-26 đều dựa trên mọi sự chúng ta đã tiếp thu rồi ở các câu 13-18.
Lẽ đạo trong sách Galati là sự tự do, sự tự do thuộc linh trong Đấng Christ. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 8.36: "Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do". Chúa đã buông tha cho chúng ta được tự do đối với tôn giáo, luật lệ và nghi thức. Tuy nhiên, Ngài không buông tha cho chúng ta được tự do làm quấy, mà là làm theo điều phải. Có một mục đích cho sự tự do của chúng ta. Chúng ta không nên sử dụng sự tự do của chúng ta "làm dịp ăn ở theo tánh xác thịt", nghĩa là chúng ta không nên sử dụng sự tự do thuộc linh làm một cớ bào chữa cho những tội lỗi bê tha của mình (câu 13a); thay vì thế, mục đích sự tự do của chúng ta, ấy là chúng ta phải "lấy lòng yêu thương mà làm đầy tớ lẫn nhau" (câu 13b). Thực vậy, khi quí vị "yêu kẻ lân cận như mình" quí vị đang làm trọn "hết thảy luật pháp", là toàn bộ Cựu Ước (câu 14).
Chúng ta làm trọn luật pháp bằng cách nào? Làm sao chúng ta thức dậy vào buổi sáng với cùng mối quan tâm dành cho người khác giống như chúng ta quan tâm đến bản thân mình được? Chúng ta luôn luôn đặt mọi nhu cần của người khác trước mọi nhu cần của mình như thế nào? Làm sao chúng ta thắng hơn tánh ích kỹ vốn sâu lắng ở bên trong mỗi một chúng ta? Có một điều chắc chắn, CHÚNG TA KHÔNG THỂ LÀM ĐIỀU ĐÓ MỘT MIÌNH ĐƯỢC. Chúng ta cần quyền phép của Đức Thánh Linh ở bên trong. Đấy là lý do tại sao vị Sứ đồ nói trong 16: "Vậy tôi nói rằng: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt".
Đây là MẠNG LỊNH của chúng ta, phải "bước đi theo Thánh Linh". Tuần vừa qua, chúng ta để ý thấy rằng bước đi theo Thánh Linh cũng giống như được "Đức Thánh Linh chỉ dẫn" vậy (câu 18). Chúng ta được "Thánh Linh chỉ dẫn" chớ không như một chiếc xe dẫn đường hướng dẫn một đoàn xe đua mà như một đầu máy xe lửa kéo một đoàn tàu vậy. Khi chúng ta "bước đi theo Thánh Linh" chúng ta đang sống trong QUYỀN PHÉP CỦA NGÀI chớ không phải bằng sức riêng của mình. "Bước đi theo Thánh Linh" là cố ý chọn vâng theo Đức Chúa Trời hơn là theo những ham muốn của xác thịt mình. Khi chúng ta "bước đi theo Thánh Linh", chúng ta không "làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt" và ngược lại.
Câu 17 tỏ ra cho chúng ta thấy cuộc TRANH CHIẾN. "Vì xác thịt có những điều ưa muốn trái với những điều của Thánh Linh, Thánh Linh có những điều ưa muốn trái với của xác thịt". Hai bên "trái nhau dường ấy". Khi quí vị được cứu, Đức Thánh Linh ngự vào đời sống của quí vị và mở ra toàn bộ cuộc tấn công vào xác thịt của quí vị. Mỗi ngày, kể từ khi linh hồn quí vị trở thành một bãi chiến trường thuộc linh. Cuộc tranh chiến như thế ở bên trong là một dấu hiệu cho thấy quí vị đang là một tín đồ.
Trong tiểu đoạn Kinh Thánh hôm nay ở các câu 19-26, chúng ta thấy sự ĐỐI CHIẾU giữa các "việc làm của xác thịt" và "trái của Thánh Linh" cũng y như cuộc CHINH PHỤC vậy, sự dạy thực tế về việc làm cách nào chúng ta phải thắng hơn xác thịt bởi quyền phép của Đức Thánh Linh.
I. Phần đối chiếu của các việc làm theo xác thịt với Trái của Thánh Linh (các câu 19-23).
A. Các việc làm của xác thịt (các câu 18-21).
Ở bên trong mỗi một chúng ta là ham muốn lấy cái tôi làm trọng, bê tha, chỉ quan tâm đến bản thân mình, mong làm thoả mãn những khát khao ở bên trong với mọi giá và loạn nghịch chống lại Đức Chúa Trời. Kinh Thánh gọi phần nầy của con người là "xác thịt" và nó đề cập tới nhiều việc hơn là xương cốt, thịt da, và cơ bắp của chúng ta. Đây là cốt lõi của sự sống chúng ta. Mặc dù tôi có thể nhìn thấy phần thân thể vật lý của quí vị, tôi không thể nhìn thấy chi thể của quí vị mà Kinh Thánh gọi là "xác thịt". Cái mà tôi có thể nhìn thấy, ấy là "các việc làm của xác thịt" vì như Phaolô nói, các việc ấy là "rõ ràng" đối với mọi người.
Vấn đề với con người không phải là môi trường sống, mà là tấm lòng của họ. Vấn đề không phải là những gì trông thấy ở bề ngoài, mà là những gì có ở bên trong. Thế gian nói con người về mặt cơ bản là thiện. Đức Chúa Trời nói con người về bản chất là ác. Đây là lý do tại sao chúng ta cần phải được cứu, chúng ta cần có một tấm lòng mới!
Quay sang Mác 7.20-23. Chúa Jêsus phán: "Hễ sự gì từ người ra, đó là sự làm dơ dáy người! Vì thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì làm cho dơ dáy người".
Nói cách khác, con người làm cho môi trường mình dơ dáy, môi trường không làm dơ dáy con người. Nhà cầm quyền và xã hội đã thêu dệt sự giả dối cho rằng nếu chúng ta có thể làm sạch môi trường ắt điều ác sẽ bị trục xuất. Triết lý tầm thường đời nầy cho rằng nếu con người có một nền giáo dục tốt hơn, công ăn việc làm tốt hơn, nhà cửa tốt hơn, chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, v.v…. họ sẽ trở thành hạng người tốt hơn. Đây là một sự dối trá. Mọi sự chỉ tạo ra thêm nhiều tội nhân có học vấn, mạnh giỏi hơn và giàu có hơn mà thôi! Quí vị không thể trộn một vấn đề nội tại với một cách cứu chữa ngoại tại được. Đấy là lý do tại sao tôi đã lấy làm lạ bởi chương trình nghị sự của Tổng Thống chúng ta dành cho các chương trình xã hội “dựa theo đức tin”. Dường như ông ấy hiểu rằng trừ phi một người đến với đức tin, trừ phi Đức Chúa Trời làm sạch tấm lòng của người ấy, chẳng một điều gì khác sẽ giúp đỡ cho người ấy được.
Trở lại với phân đoạn Kinh Thánh gốc, Phaolô cung ứng cho chúng ta một danh sách, thực ra là ba danh sách nói tới "các việc làm của xác thịt". Có những tội lỗi về tình dục, tội lỗi về tôn giáo và tội lỗi trong xã hội. Đây không phải là những bảng danh sách có tính toàn diện đâu. Trong câu 21 Phaolô thêm dấu v.v.…"…cùng các sự khác giống những vậy". Có những cách ứng xử bình thường nơi những người chưa tin Chúa, nhưng chúng lại trở thành bất bình thường nơi những người tin Chúa vì chúng ta cần phải "bước đi theo Thánh Linh". Mỗi người không được dính dáng tới những tội lỗi nầy, mỗi người cũng không nên bày tỏ chúng ra. Tuy nhiên, mỗi người lại mẫn cảm với chúng.
Trước tiên chúng ta hãy xét qua bốn TỘI LỖI VỀ TÌNH DỤC trong câu 19. "Gian dâm" tất nhiên là mối quan hệ về tình dục chối bỏ và làm tan vỡ lời thề hôn ước. "Gian dâm" cũng được dịch là "vô luân" trong các bản dịch hiện đại rút ra từ chữ Hy lạp porneia từ đó chúng ta có từ ngữ tiếng Anh "pornography" và "pornographic" [khiêu dâm]. Đây là một từ ngữ rộng rãi trong Tân Ước đề cập tới đủ loại sinh hoạt bất chính về tình dục, mọi sự từ tà dâm đến đồng tính luyến ái đến hành động thú tính. "Ô uế" có nghĩa là "bất khiết". Nó ra từ một chữ theo sát nghĩa đề cập tới bùn ở cửa biển, những chỗ lở loét của âm hộ. Điều nầy ngược lại với ai đó vốn thanh sạch và thuần khiết về tình dục. "Luông tuồng" đề cập tới việc thiếu đoan trang và dè dặt, thiếu thùy mị. Hết thảy những điều nầy thêm vào tội bê tha về tình dục với bất kỳ nỗi xấu hổ nào hoặc chẳng quan tâm tới ai khác trừ ra cái tôi của mình.
Tình dục không có gì sai trái, xấu xa hay bẩn thỉu cả. Thực vậy, Đức Chúa Trời là Đấng phác thảo tính dục của con người. Được sử dụng như cách thể hiện tình yêu thương trong mối quan hệ hôn nhân, tình dục là một trong những sinh hoạt đẹp đẽ và mỹ mãn nhất của con người. Thực vậy, Hêbơrơ 13.4 chép: "Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn quê phòng chớ có ô uế, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình".
Tình dục là một sức mạnh trong xã hội chúng ta, cho nên phương thức duy nhứt chúng ta giữ được sự trong sạch là phải "bước đi theo Thánh Linh". Từ hoạt động khiêu dâm trên Internet cho đến điều tục tiểu luồn lách vào trong gia đình của chúng ta theo đường cáp truyền hình hay vệ tinh, chúng ta bị dồn dập với nhiều hình ảnh dâm dật. Vợ tôi và tôi đang cố gắng nuôi dạy hai đứa con gái trở nên những phụ nữ mẫu mực, tin kính. Quí vị có biết khó khăn dường nào khi một thiếu nữ Báptít như Brittany Spears chỉ tỏ mình có nửa giờ trong buổi thờ phượng không? Chúng ta sống trong một thời điểm mà vị Tổng Thống chẳng có chút ăn năn gì đối với việc yêu đương lăng nhăng tại văn phòng làm việc và một vị "giáo sĩ" nọ ở cấp lãnh đạo lại có con ngoài giá thú. Những tội lỗi về tình dục không còn là thô tục nữa, người ta còn trông mong chúng nữa là.
Allan Petersen, trong quyển The Myth of the Greener Grass, thuật lại câu chuyện nói về một nhóm phụ nữ đã có gia đình, họ cùng ăn trưa với nhau. Có bà hỏi: "Trong các chị có bao nhiêu người chung thủy với chồng qua cuộc sống hôn nhân?" Chỉ có một trong 12 bà đưa tay lên. Ở tại nhà buổi tối hôm ấy, một trong mấy bà không đưa tay lên đã nói với chồng mình về bữa ăn trưa, câu hỏi và đáp ứng của mình. Bà mau mắn nói thêm: "Nhưng, em có chung thủy". Ông chồng hỏi: "Thế tại sao em không đưa tay lên?" Bà đáp khi nhìn xuống: "Em thấy xấu hổ".
Hết thảy chúng ta đều biết những cuộc hôn nhân, con cái và nhiều nhà thờ đã bị rơi vào chỗ khó khăn do tội lỗi về tình dục. Trong những lúc như thế nầy, chúng ta phải, chúng ta PHẢI "bước đi theo Thánh Linh" hoặc nhiều người trong chúng ta chắc chắn sẽ "làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt".
Kế đó trong câu 20, chúng ta thấy những TỘI LỖI VỀ TÔN GIÁO, "thờ hình tượng" và "phù phép". "Thờ hình tượng" còn hơn cả việc thờ lạy hình ảnh được chạm khắc nữa. Sự thờ lạy nầy đặt bất cứ thứ gì lên trên Đức Chúa Trời. "Phù phép" [ma thuật – theo bản Kinh Thánh KJV] ra từ chữ Hy lạp pharmakeia từ đó chúng ta có chữ "pharmacy" và "pharmaceutical". Chữ nầy được sử dụng chỉ về thuốc men nhưng lại được sử dụng nói tới loại ma túy làm đổi tánh gắn với các tà giáo.
Trong các câu 20b-21a, chúng ta thấy một danh sách TỘI LỖI TRONG XÃ HỘI nhắm vào các mối quan hệ của chúng ta với người khác. Có "thù oán", một thái độ xấu mở đường cho "tranh đấu" hay tranh cạnh. "Ghen ghét" đề cập tới sự tham muốn những gì thuộc về người khác. "Buồn giận" là những điều gây cấn xấu xa, tức tối của điều ác ở bên trong mỗi người. Có phải điều nầy từng diễn ra trong gia đình hay nơi sở làm của quí vị? Khi nó xảy ra, quí vị không bước đi theo Thánh Linh. Thêm nữa, có "cãi lẫy" đặt cái tôi và những thiếu thốn của quí vị trước mặt ai đó. Có "bất bình", những vấn đề dễ kích động và gây ra sự tưởng tượng giữa nhiều người. "Bè đảng" ở đây trong bản Kinh Thánh NKJV được dịch hay hơn là "chia thành từng mãnh nhỏ", một lần nữa ám chỉ tới việc gây ra sự tranh cạnh và chia rẽ. Tít 3.10-11 chép: "Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo một hai lần rồi, thì hãy lánh họ, vì biết rằng người như thế đã bội nghịch mà cứ phạm tội, thì tự đoán phạt lấy mình". "Ganh gỗ" trong Vườn Êđen dẫn tới vụ giết người đầu tiên trong những vụ "giết người".
Phaolô đặc biệt nhắc tới "say sưa" và hai lần với "mê ăn uống" hay ăn uống no say, có thể là nhắc tới cuộc truy hoan say sưa về tình dục chuyển sang thờ lạy các tà thần trong khu vực xứ Galati. Theo một ý nghĩa chung chung, điều nầy có nghĩa là "say sưa và phóng đãng bừa bãi".
Tất nhiên là bảng danh sách nầy và ba danh mục phụ nữa chưa phải là đủ hết đâu. Phaolô nói: "cùng các sự khác giống như vậy" hay "nhiều tội lỗi khác tương tự". Những tội lỗi nầy hết thảy đều là những sự cám dỗ rất thực đối với người thành Galati. Phaolô đã cảnh cáo họ "trước rồi" khi ông còn ở với họ. Ông "đã nói trước với họ rồi" và giờ đây ông nói cho biết một lần nữa rằng "hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời".
Quí vị có thể lên tiếng: "Thưa Mục sư, xin chờ cho một phút! Tôi đã phạm những việc thể ấy. Nếu ông muốn nêu ra thực chất của vấn đề, ít nhất là trong tấm lòng của tôi, tôi đã phạm vào mọi việc đó. Phải chăng ông đang nói là tôi không được cứu?” Không, tôi không nói như vậy. Hết thảy chúng ta đều là tội nhân. Hết thảy chúng ta đều đã thiếu mất tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời. Hãy khoanh tròn chữ "phạm" đi. Chữ nầy có ý nói tới một "hành động còn đang tiếp diễn". Người nào đang sống một lối sống thường xuyên mắc phải những tội lỗi đó tự đánh dấu mình như chưa được cứu, chưa được chuộc và không được hưởng "nước Đức Chúa Trời". Đôi khi Cơ đốc nhân sa ngã phạm tội, nhưng họ không ở mãi trong tội lỗi.
I Côrinhtô 6.9-11 chép: "Anh em há chẳng biết những kẻ không công bình chẳng bao giờ hưởng được nước Đức Chúa Trời sao? Chớ tự dối mình: phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng, kẻ ngoại tình, kẻ làm giáng yểu điệu, kẻ đắm nam sắc, kẻ trộm cướp, kẻ hà tiện, kẻ say sưa, kẻ chưởi rủa, kẻ chắt bóp, đều chẳng hưởng được nước Đức Chúa Trời đâu. Trước kia anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế; nhưng nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ, và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời chúng ta, thì anh em được rửa sạch, được nên thánh, được xưng công bình rồi".
Ben Patterson viết: "Sam Shoemaker kể lại về một vị giáo sư bị cận thị, ông nầy là chuyên gia về lãnh vực côn trùng học. Các bức tường phòng làm việc của ông được đính đầy các loại côn trùng. Ngày kia, mấy học trò của ông tính chơi khăm ông. Họ lấy thân của con bướm nầy, rồi dán dính lại với đầu và các chi khác của nhiều loại bướm khác. Thế rồi họ đưa con bướm ấy đến với vị giáo sư nhờ ông nhận dạng cho. Họ hỏi: ‘Đây là loại bướm gì thế?’ Vị giáo sư quan sát thật kỹ con bướm nầy, sau cùng ông đưa ra kết luận như sau: ‘Các em ơi, đây là con bướm bịp’. Shoemaker rút ra một loại suy nói tới một người có tấm lòng thuộc về Vua Jêsus, còn cái đầu bị thế gian điều khiển và hai bàn tay thì đang bị ma quỉ rung lắc. Đấy không phải là một tạo vật mà Đức Chúa Trời đã dựng nên đâu. Bất cứ ai trông thấy một tạo vật như thế sẽ buộc miệng nói: ‘Đây là con bướm bịp!’"
B. Trái của Thánh Linh (các câu 22-23).
Hãy chú ý từ ngữ "Nhưng" ở đầu câu 22. Chữ nầy đánh dấu sự tương phản giữa "các việc làm của xác thịt" và "trái của Thánh Linh". "Các việc làm" là những điều chúng ta làm với nổ lực tiêng của mình. "Trái" là việc mà Đức Chúa Trời đang tạo ra trong đời sống của chúng ta khi chúng ta đầu phục Ngài.
Quí vị càng chọn giữ sự đồng đi với Đức Thánh Linh, Đức Thánh Linh sẽ càng kết bông trái của Ngài vào trong đời sống của quí vị. Lúc đầu thì quí vị không để ý tới việc nầy đâu, nhưng công việc của Đức Chúa Trời trong quí vị sẽ trở nên "rõ ràng" cho nhiều người khác. Khi quí vị "bước đi theo Thánh Linh", quí vị sẽ không giận dữ cách dễ dàng đâu, quí vị sẽ tìm kiếm điều tốt đẹp nhất nơi những người khác, quí vị sẽ nhịn nhục nhiều hơn, quí vị sẽ thể hiện ra những hành động tử tế, quí vị sẽ có một cái giếng thương xót rất sâu và không bị cám dỗ cách dễ dàng được. Quí vị sẽ tìm được sự vui sướng sâu sắc khi làm ra những điều thiện và thắng hơn sự buồn rầu khi quí vị sa vào tội lỗi. Người nào "bước đi theo Thánh Linh" đang sống rất khác biệt!
Hết thảy các tín đồ đều phải "bước đi theo Thánh Linh". Chìa khoá cho sự trưởng thành và vui mừng trong Chúa là bước đi theo Thánh Linh hơn là quí vị bước đi theo xác thịt. Hãy suy nghĩ về một tín đồ trưởng thành mà quí vị đang hâm mộ xem. Điều chi về người ấy (nam hay nữ) đang hấp dẫn quí vị vậy? Có phải ngôi nhà hay chiếc xe hơi của người ấy chăng? Không. Có phải công việc làm ăn hay tiền bạc của người ấy? Không. Cái điều khiến cho quí vị thấy hấp dẫn nơi một người tín đồ trưởng thành, ấy là người ấy đang mang lấy "trái của Thánh Linh", đời sống của người ấy thể nào đã được đánh dấu bởi công việc của Đức Chúa Trời mà chúng ta đang nhìn thấy ở các câu 22-23. Chúng ta hãy đào sâu vào đó:
Trái đầu tiên là "lòng yêu thương". "Yêu thương" trong câu nầy không có ý nói tới một thứ tình cảm ướt át hay một cảm xúc dịu dàng, mà là sự phục vụ có tính cách tự hy sinh. Tình yêu agape nầy, là tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Đây là thứ tình yêu không có giới hạn. Rôma 5.8 chép: "Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết". 1 Giăng 3.16 chép: "Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống; chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy". 1 Giăng 3.14 chép: "Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình". Xác thịt không thể sản sinh ra thứ tình yêu ấy được. Chúng ta không thể gợi ra tình yêu ấy từ bên trong được. Đức Thánh Linh phải ngự đến để sống ở bên trong và ban ra tình yêu của Ngài qua chúng ta. Rôma 5.5 chép: "Vả, sự trông cậy không làm cho hổ thẹn, vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta". Quí vị yêu thương như thế nào? Có phải tình yêu không giới hạn đang nảy nở ở trong đời sống quí vị không? Có phải quí vị đang đồng đi với Đức Thánh Linh?
Trái thứ hai là "vui mừng". Trong Kinh Thánh, "vui mừng" không phải là sự vui sướng nhất thời, mà là một sự tin cậy bắt rễ sâu sắc vào mọi sự tốt đẹp giữa quí vị và Đức Chúa Trời. Quí vị có thể sống vui vẻ dù khi quí vị không thấy hạnh phúc. Khi chúng ta đầu phục Đức Thánh Linh và vâng theo Ngôi Lời, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự "vui mừng" như thế đó. Tôi thích phần làm chứng của Nêhêmi: "vì sự vui vẻ của Đức Giê-hô-va là sức lực của các ngươi" (Nêhêmi 8.10). Chúng ta chỉ có sự vui mừng nầy khi chúng ta xây khỏi thế gian mà đến với Chúa. Chúa Jêsus phán cùng các môn đồ Ngài trong Giăng 16.24: "Đến bây giờ, các ngươi chưa từng nhân danh ta mà cầu xin điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn". Phaolô nói với người thành Philíp: "Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi!" (Philíp 4.4). Vui mừng là một trái. Chúng ta không thể chế tạo hay đốc ra trái ấy được, chúng ta phải mang lấy trái ấy. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta lòng vui mừng khi chúng ta đồng đi với Ngài, ngợi khen Ngài và thuận phục Ngài. Rôma 14.17 chép về điều nầy rất rõ ràng: "Vì nước Đức Chúa Trời chẳng tại sự ăn uống, nhưng tại sự công bình, bình an, vui vẻ bởi Đức Thánh Linh vậy".
Trái thứ ba là "bình an". Khi chúng ta đồng đi với Đức Thánh Linh, chúng ta biết cả hai: sự hoà thuận lại với Đức Chúa Trời và sự bình an của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta được cứu, chúng ta đầu phục và cuộc chiến của chúng ta với Đức Chúa Trời kết thúc. Rôma 5.1 chép: "Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta". Chúng ta thôi không chiến đấu nghịch lại Đức Chúa Trời nữa, rồi khởi sự đồng đi với Ngài. Khi chúng ta học biết nương cậy vào sức lực của Ngài và không còn nương vào sức lực riêng của mình nữa, chúng ta kiếm được "Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết" (Philíp 4.7).
Trái thứ tư là "nhịn nhục" hay kiên nhẫn. Trái nầy có ý nói tới sự nhịn nục hay dung chịu đối với người khác, không dễ bị mất lòng. Khi chúng ta "bước đi theo Thánh Linh" chúng ta học biết lặng lẽ với những gì trái ý và quấy rầy của người khác. Êphêsô 4.2 cho chúng ta biết chúng ta cần phải "khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau". Những tín đồ chưa trưởng thành đều có một sự phấn đấu trong lãnh vực nầy. Nếu họ không thích một việc gì đó, họ mau mắn chống đối lại và chống đối thật lớn tiếng. Những tín đồ trưởng thành đều có một tánh thật bình tỉnh trước mọi sự việc. Họ thực thi Rôma 12.10: "Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau như anh em; hãy lấy lẽ kính nhường nhau".
Trái thứ năm là "nhân từ". Trái nầy có ý nói tới chỗ phải có một tinh thần biết thương xót, dịu dàng đối với tha nhân. Tôi thích bối cảnh trong Mathiơ 19 khi cha mẹ đem con cái mình đến với Chúa Jêsus. Các môn đồ đã "quở trách" cả con trẻ và cha mẹ vì đã quấy rầy Chúa. Tuy nhiên, Chúa Jêsus đã lên tiếng và phán: "Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn trở; vì nước thiên đàng thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy" (câu 14). Tôi có thể nom thấy Ngài đang rờ đến chúng, thủ thỉ với chúng rồi chúc phước cho chúng. Chúng ta cần phải có cùng thái độ ấy đối với mọi người, mau mắn nở một nụ cười và thốt ra một câu nói đượm đầy sự khích lệ. II Timôthê 2.24 chép: "Vả, tôi tớ của Chúa không nên ưa sự tranh cạnh; nhưng phải ở tử tế với mọi người".
Trái thứ sáu là "hiền lành". Đây là sự nhân từ trong hành động, không những suy nghĩ điều chi là chánh đáng, mà còn làm ra điều ấy nữa. Galati 6.10 chép: "Vậy, đang lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin". Mới đây tôi có đọc về một nhóm người ngồi taxi trên đường dự Hội nghị có chủ đề Người Giữ Lời Hứa. Một người đề nghị rằng họ sẽ ra khỏi xe rồi đi bộ trên đường phố đến tại hội trường. Người khác nói rằng làm như vậy sẽ khiến cho tài xế mất đi thu nhập và cũng không sao đón được khách khác một cách mau chóng. Ông ta cần tận dụng thời gian cần thiết khi xe chạy tới hội trường để chia sẻ đức tin của mình với viên tài xế và tạo ra được một cái chạm quan trọng.
Trái thứ bảy là "trung tín" có ý nói tới lòng trung thành và đáng tin cậy. Có phải quí vị đáng tin cậy không? Có phải quí vị làm điều quí vị nói quí vị sẽ làm không? Có phải người ta kinh ngạc khi quí vị xuất hiện và làm công việc của mình không? Đức Chúa Trời luôn luôn là thành tín. II Timôthê 2.13 chép: "nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được". Khi chúng ta đặt cái tôi của mình lên trước hết, chúng ta sống bất trung với người khác. Khi chúng ta đặt tha nhân lên trên hết, chúng ta sẽ luôn luôn trung tín.
Trái thứ tám là "mềm mại" hay nhu mì. Nhu mì không có nghĩa là yếu đuối, mà là đặt mình dưới quyền điều khiển. Giống như một con ngựa nòi mạnh sức phải bị khớp hàm, chúng ta cần phải trở thành hạng người chịu chi phối bởi Đức Thánh Linh.
Trái thứ chín là là trái sau cùng là "tiết độ". Trái nầy có ý nói tới khả năng kềm chế mọi cảm xúc và lòng ham muốn của mình, để nói không với xác thịt, để chối bỏ bản ngã. Để vác lấy thập tự giá, để được Đức Thánh Linh dẫn dắt là phải chối bỏ mình. Sau cuộc Nội Chiến, Tướng Robert E. Lee đã được thán phục bởi cả phía Bắc và phía Nam như một người quân tử. Chuyện kể lại rằng một phụ nữ từng giới thiệu con trai nhỏ của mình cho vị Tướng lãnh nầy, bà hỏi: "Thưa Tướng quân, đâu là bài học quan trọng nhất mà tôi có thể dạy dỗ con trai của mình?" Không chút lưỡng lự, nhân vật kính sợ Đức Chúa Trời nầy đáp ngay: "Thưa Bà, hãy dạy cho nó biết chối bỏ mình".
Khi nhìn lại, chúng ta thấy rằng "yêu thương, vui mừng, bình an" có quan hệ tới mối giao thông của chúng ta với Đức Chúa Trời. "Nhịn nhục, nhân từ, hiền lành" có quan hệ tới mối tương giao của chúng ta với tha nhân. "Trung tín, mềm mại, tiết độ" gắn với cách thức chúng ta sống với bản ngã của mình.
Phaolô nói thêm: "không có luật pháp nào cấm các sự đó". Mục đích của luật pháp là kềm chế, đè nén hay ngăn trở và không một sự ngăn trở nào được cần đến, không một luật lệ nào được cần tới khi chúng ta bước đi theo Thánh Linh và Đức Thánh Linh đang tạo ra một trái có giá trị như thế trong chúng ta.
II. Thắng hơn tư dục của xác thịt bởi quyền phép của Đức Thánh Linh (các câu 24-25).
A. Chúng ta phải đóng đinh xác thịt vào thập tự giá (câu 24).
Bước thứ nhứt trong việc chinh phục "tư dục của xác thịt" được thấy trong câu 24: "Vả, những kẻ thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tự giá rồi". Đôi khi câu nầy bị nhầm lẫn với Galati 2.20, câu nầy chép: "Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ" và với Rôma 6.6, câu nầy chép: "vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài…". Cả hai câu nầy đều có quan hệ với sự hội hiệp của chúng ta với Đấng Christ trong sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài. Tuy nhiên, câu 24 không nói tới việc đã được làm ra cho chúng ta mà bởi chúng ta. Galati 5 không nói tới sự chết của đời sống cũ mà chúng ta đã kinh nghiệm khi chúng ta tin cậy Đấng Christ lần đầu tiên, mà nói tới sự chủ động chối bỏ hàng ngày đối với xác thịt ngay lúc bây giờ.
Trong Mác 8.34, Chúa Jêsus phán: "Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta". "Liều" mình đồng nghĩa với việc vác lấy "thập tự giá". Thập tự giá là một công cụ dùng để hành quyết giống như một phòng hơi ngạt, ghế điện hay tiêm chích trong thời buổi hiện đại nầy. Giống như Chúa Jêsus đã vác lấy thập tự giá của Ngài ra đến đồi Gôgôtha, mỗi tín hữu đều phải "vác lấy thập tự giá mình". Chúng ta cần phải đem "tình dục và dâm dục” mình ra đến chỗ hành quyết, đóng đinh chúng rồi bỏ chúng lại đó cho đến chết.
Khi tôi được cứu, tôi đã quyết định bước theo Chúa Jêsus. Tôi không thể theo Chúa Jêsus mà không có sự ăn năn tội và xây khỏi nó. Khi tôi chọn Đấng Christ, tôi đã chối bỏ những ham muốn của xác thịt, tôi "đã đóng đinh xác thịt" mình ngay giờ phút đó. Giờ đây, công việc của tôi là để mọi ham muốn của xác thịt mình lại trên cây thập tự cho tới chết. Từ loại suy ấy về thập tự giá, cho phép tôi đưa ra ba lẽ thật về sự thắng hơn xác thịt.
Thứ nhứt, sự chối bỏ của chúng ta về xác thịt phải là KHÔNG THƯƠNG XÓT. Đóng đinh trên thập tự giá là một án tử hình rất khủng khiếp. Án tử hình như thế nầy đã được dành cho loại tội phạm tồi tệ nhất. Kinh Thánh cũng có nói: "Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ" (Galati 3.13). Khi chúng ta đóng đinh "tình dục và dâm dục" mình trên thập tự giá, chúng ta không cần phải thương xót hay thương hại gì cả. Chúng ta cần phải hung tợn đánh trận chống lại nó. Đây là nguồn điều ác ở trong chúng ta và nó phải bị nghiền nát!
Thứ hai, sự chúng ta chối bỏ xác thịt sẽ rất là ĐAU ĐỚN. Đóng đinh trên thập tự giá là một cái chết từ từ, đau đớn cực độ, trong đó một người bị ngạt thở bởi gánh nặng của chính thân xác mình. Người nào đang phấn đấu chối bỏ "tình dục và dâm dục" tội lỗi của chính mình sẽ thấy khổ sở và đau đớn lắm. Phaolô nói: "Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy?" (Rôma 7.24).
Thứ ba, sự chúng ta chối bỏ xác thịt phải TRƯỚC SAU NHƯ MỘT. Đóng đinh trên thập tự giá là một cái chết từ từ, ghê gớm lắm. Không một ai bị đóng đinh trên thập tự giá mà còn sống. Một người từng bị đóng đinh ở đó, người ấy bị bỏ lại cho tới chết. Mấy tên lính đứng canh chừng kẻ bị kết án, họ ngăn không cho bạn hữu đến lấy xác trước khi người ấy chết hẳn. Khi quí vị được cứu, quí vị đã đóng đinh bổn tánh của của mình trên thập tự giá. Đóng đinh trên thập tự giá xác thịt mỗi ngày là từ chối không để cho "dâm dục" và "tình dục" xuống trở lại. John Brown đã viết: "Cơ đốc nhân thực không thành công trong việc huỷ diệt nó [xác thịt] một cách hoàn toàn trong khi còn sống ở đây; nhưng họ đã dồn nó đến tại thập tự giá, rồi họ quyết định giữ nó ở đó cho tới khi nào nó tắt thở". Nếu chúng ta đóng đinh xác thịt trên thập tự giá, chúng ta phải để nó ở đó đặng chết đi. Mỗi ngày chúng ta phải tự chối bỏ mình và làm mới lại một nhận định không thương xót và bất thoả hiệp đối với tội lỗi. Chúng ta phải từ chối không quay trở lại và không mơn trớn thi hài đời sống cũ của chúng ta nữa.
Stott viết: "Bí quyết đầu tiên rất quan trọng về sự nên thánh nằm ở cấp độ và tính quyết định sự chúng ta ăn năn … Giống như đã đóng đinh bổn tánh cũ của chúng ta vào thập tự giá, chúng ta còn nuối tiếc muốn quay trở lại với bối cảnh hành quyết đó. Chúng ta bắt đầu mơn trớn nó, ấp ủ nó, ao ước nó được buông thả ra, thậm chí còn tìm cách hạ nó xuống khỏi thập tự giá nữa. Chúng ta cần phải học biết để nó lại ở đó. Khi có ai ghen tương, hay kiêu ngạo, hoặc có dã tâm, hay tư tưởng bất khiết đang xâm lấn lý trí của chúng ta, chúng ta phải đá nó ra ngay lập tức. Bắt đầu xem xét nó, rồi xem coi chúng ta có nên nhượng bộ nó hay không, điều nầy quả là tai hại lắm đó. Chúng ta đã tuyên chiến với nó, chúng ta sẽ không đưa ra bất kỳ một sự thương lượng nào hết. Chúng ta đã định liệu hướng về sự tốt lành; chúng ta không nên mở lại sự định liệu ấy nữa mà chi. Chúng ta đã đóng đinh xác thịt vào thập tự giá; chúng ta không bao giờ rút mũi đinh ra".
B. Chúng ta phải bước đi theo Thánh Linh (câu 25).
Trong câu 16 chúng ta thấy mệnh đề "bước đi theo Thánh Linh". Câu 18 nói chúng ta được "Đức Thánh Linh chỉ dẫn". Ở đây trong câu 25, Phaolô nói: "Nếu chúng ta nhờ Thánh Linh mà sống, thì cũng hãy bước theo Thánh Linh vậy". "Bước theo" ở đây có nghĩa là "Song hành với". Bản Kinh Thánh NIV dịch chữ nầy là: "Giữ sự đồng đi với Đức Thánh Linh". Khi tôi còn thiếu niên, tôi đã đi theo cha tôi dạo chơi khắp vườn, tìm cách bước trên những dấu chân của ông trên cát. Đức Thánh Linh đang đi trước, còn chúng ta cần phải bước theo sau.
Như tôi rao giảng trong tuần qua, đây không những là một sự thuận phục có tính chủ động theo sau quyền điều khiển của Đức Thánh Linh, mà còn là một quyết định có tính chủ động đi theo đường lối của Đức Thánh Linh. Nếu chúng ta "nhờ Thánh Linh mà sống", nghĩa là nếu Đức Thánh Linh quả thực đang ngự trong chúng ta, nếu chúng ta là hạng tín đồ chân chính, thì chúng ta phải "bước đi theo Thánh Linh" hay bước theo Đức Thánh Linh để thắng hơn xác thịt.
Trong sự cứu rỗi, chúng ta thấy quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong sự lựa chọn và ý chí tự do của con người trong sự chọn lấy Đấng Christ. Trong sự nên thánh, chúng ta thấy quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong chức vụ mạnh mẽ của Đức Thánh Linh nhưng ý chí của con người trong quyết định của chúng ta là cứ giữ sự đóng đinh xác thịt cũ của mình trên thập tự giá và chủ động theo đuổi đường lối của Đức Thánh Linh.
Bởi ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ thắng hơn xác thịt, thực vậy chúng ta nhờ "Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần". Chúng ta hãy kết thúc sáng hôm nay bằng cách đọc Rôma 8.31-39.
***