Hiển thị các bài đăng có nhãn FORGET. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn FORGET. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

“QUÊN NHỮNG ĐƯỜNG LỐI CŨ!”



“QUÊN NHỮNG ĐƯỜNG LỐI CŨ!”
Dân số ký 11.1-35
PHẦN GIỚI THIỆU. Chúng ta là loài thọ tạo rất ngoan cố; sự thay đổi không đến cách dễ dàng với chúng ta, những tạo vật con người. Khi chúng ta bị lấn lướt hay bị đe doạ, chúng ta có khuynh hướng trở lại với những con đường cũ để lo liệu nhu cần sự an ninh. Tuy nhiên, đây có thể là cách làm rất nguy hiểm trong lãnh vực thuộc linh! Là Cơ đốc nhân, chúng ta cần phải cẩn thận, chúng ta không nên lui lại với những con đường cũ ở trước mặt Đấng Christ, thay vì thế chúng ta phải học biết sống giống như loài tôm hùm!
MINH HOẠ. Trải qua thời gian, loài tôm hùm phải rời khỏi lớp giáp xác cũ của chúng; đây là một phần cần thiết để cho chúng lớn lên. Lớp giáp xác của chúng đã được tạo thành một kích cỡ vào một thời điểm, rồi khi chúng lớn lên chúng phải lột lớp giáp xác cũ ấy và tạo ra một lớp mới lớn hơn. Nếu chúng không làm được điều nầy, không bao lâu sau đó chúng sẽ bị tù trong lớp giáp xác cũ và không có khả năng để thoát ra khỏi đó, vì vậy chúng sẽ chết bằng cách bị ép hay bị ngạt thở tới chết. Phần quyết định cho loài tôm hùm là thời gian giữa hai lớp giáp xác đó – chúng sống rất nguy hiểm trong khoảng thời gian nầy, khi chúng bị lột trần và không có sự bảo hộ, lớp giáp xác cũ dường như rất hấp dẫn, lôi cuốn; ít nhất chúng cũng cảm thấy được an toàn ở trong đó, tuy nhiên chẳng có một tương lai nào trong lớp giáp xác cũ ấy, chúng phải chịu đựng chặng đường nguy hiểm trong khi lớp giáp xác mới phát triển, hầu cho duy trì đời mới rộng rãi hơn của chúng ... không có việc quay lại với những con đường cũ nếu chúng muốn có một tương lai! – Nguồn vô danh
Khi chúng ta cảm thấy sự nguy hiểm, khi áp lực đang tăng dần lên, luôn luôn có sự cám dỗ quay trở lại với những con đường cũ – tuy nhiên, trở lại với những con đường cũ sẽ giữ chúng ta không kinh nghiệm được những đường lối mới của Đức Chúa Trời! Như vậy, quên đi NHỮNG CON ĐƯỜNG CŨ là điều tốt hơn!
Đây là một cuộc phấn đấu dành cho Israel trong đồng vắng khi họ hướng tới vùng Đất Hứa, và đây sẽ là một cuộc phấn đấu cho chúng ta khi chúng ta đi từ đời nầy hướng đến thiên đàng.
Kinh thánh dạy chúng ta phải quên đi những con đường cũ của đời sống chúng ta ở trước mặt Đấng Christ, mặc lấy đời mới chúng ta đang có trong Đấng Christ và cứ bươn tới đàng trước! Chúng ta chỉ có thể làm được điều nầy bởi quyền phép của Đức Thánh Linh trong đời sống của chúng ta!
I. Ý MUỐN NGOAN CỐ! (11.1-15)
A. Sức quyến rũ của sự gian khổ! (11.1-9)
1. Israel giống với chúng ta dường bao! Sự gian khổ dẫn tới lằm bằm...
a. Đồng vắng không phải là một công viên giải trí!
b. Cuộc sống không luôn luôn là một chậu cây anh đào!
2. Tuy nhiên, có điều mỉa mai, ấy là những nô lệ đã được phóng thích nầy, họ mới vừa rời khỏi Ai cập có đem theo vàng và rất nhiều đồ ăn lại mau chóng đổi ra lằm bằm!
a. Hãy nhớ rằng họ đã thâu lấy bạc vàng, đủ thứ ở Ai cập khi họ ra đi, người Ai cập đã trao cho họ vàng, bạc, họ ra đi giàu có và tự do!
b. Họ đã có một chất lượng sống rất tốt trong sa mạc hơn là họ đã sống ở Ai cập trong vai trò nô lệ!
c. Phản ứng của Đức Chúa Trời là mau chóng và thật đầy ơn!
3. Ngọn lửa phát ra từ bên ngoài trại quân; nếu Đức Chúa Trời thực sự muốn nướng hết thảy họ, Ngài sẽ cho ngọn lửa phát ra từ bên trong trại quân!
a. Đây không phải là ngọn lửa phục hưng, đấy là ngọn lửa phán xét!
b. Bị những ngọn lửa phán xét vây quanh, họ đã kêu la với Môise xin trợ giúp, lời cầu nguyện của Môise làm cho lửa ngừng lại, Đức Chúa Trời đáp trả cho lời cầu nguyện!
c. Nơi ấy được đặt tên là “THA-BÊ-RA” có nghĩa là “cháy thiêu” trong tiếng Hy bá lai.
4. Sứ điệp của Đức Chúa Trời gửi đến thật là đơn sơ – sự lằm bằm kia dẫn đến sự phán xét từ bàn tay của Đức Chúa Trời ... có nhiều Cơ đốc nhân và Hội thánh hiểu rõ nguyên tắc nầy!
a. Ngày nay không một ai muốn giảng về sự phán xét; sự ấy bị coi là một quan niệm lỗi thời.
b. Đây vẫn còn phần đáp ứng của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi khi chưa xưng ra.
5. Ngay khi quí vị nghĩ bài học nầy đã xong, một số “kẻ kích động” sẽ lôi chúng ra để tác động tiếp!
a. Từ ngữ Hy bá lai được dịch ở đây là “dân tạp” có ý nói tới những “kẻ ngoài cuộc” hay “không phải là người Do thái”. Có nhiều người Ai cập cùng ra đi với người Do thái; một số trong những kẻ nầy giờ đây đang tạo ra nan đề. Những “kẻ kích động” nầy không tán thưởng Đức Chúa Trời giao ước của dân tộc của Ápraham.
b. Tình trạng thèm khát đồ ăn khác đã khởi sự với “kẻ kích động” nầy.
c. Đây là những tín đồ của hội chúng không lấy làm thích nơi “Bánh đến từ trời!”
d. Đây là chỗ nhiều hệ phái và Hội thánh đã khởi sự sa vào ... khi các thuộc viên của những hội chúng ấy không lấy làm ưa thích nơi “Bánh hằng sống” nữa và họ chỉ ưa thích các chương trình, toà nhà lộng lẫy, v.v…
6. “Những kẻ kích động” nầy chẳng có lòng ưa thích nơi các ơn phước của Đức Chúa Trời, họ chỉ muốn quay trở lại với đời sống nhàn hạ rỗi rãi của họ trước đây ... họ muốn quay về với ĐƯỜNG LỐI CŨ của họ trong cuộc sống!
a. Đây là hạng người có tấm lòng nguội lạnh, ích kỷ; họ chẳng nghĩ gì đến Đức Chúa Trời hay dân sự của Đức Chúa Trời.
b. Họ chỉ muốn những ơn phước cho bản thân họ, và nếu họ không thể có chúng, họ sẽ quậy tung lên và một tinh thần lằm bằm giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời, họ làm cho mọi người khác ra khốn khổ. Họ làm cho những người khác ra khốn khổ nếu họ không thể có đường lối riêng của họ!
MINH HOẠ. Giống như hai chủ cửa hiệu kia là những kẻ thù cay đắng. Cửa hàng của họ nằm đối diện với nhau trên đường phố, và họ mua bán mỗi ngày y như nhau! Khi một khách hàng đi vào cửa hàng nầy, người chủ sẽ liếc qua cửa hàng bên kia và nở ra một nụ cười thoả mãn! Một tối kia, thiên sứ hiện ra với một trong hai chủ tiệm trong giấc chiêm bao và nói: “Ta sẽ ban cho ngươi bất cứ thứ chi ngươi xin, nhưng bất cứ điều chi ngươi nhận được, kẻ tranh đua của ngươi sẽ nhận được nhiều bằng hai! Nếu ngươi chọn sống giàu có, người ấy sẽ giàu có gấp hai. Ngươi có muốn sống thọ và khoẻ mạnh không? Người ấy sẽ sống thọ hơn và khoẻ mạnh hơn. Đâu là cái muốn của ngươi?” Người nầy cau mày lại trong một phút, suy nghĩ trong một phút, rồi nói: “Đây là thỉnh cầu của tôi, hãy đánh cho tôi mù một mắt đi!” Thay vì chọn ơn phước cho bản thân mình và kẻ thù, ông ta lại chọn đau khổ để kẻ hay tranh với mình sẽ đau khổ càng hơn! – Nguồn vô danh
7. Dân Do thái đã khởi sự than khóc nữa, không bao lâu sau đó họ đã quên đi những lời cảnh cáo trước đây về sự phán xét!
a. Họ lằm bằm và ký ức của họ đã làm thay đổi thực tại trước đây của họ!
b. Hãy chú ý những gì họ đã nói: “Chúng tôi nhớ những cá chúng tôi ăn NHƯNG KHÔNG tại xứ Ê-díp-tô, những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành, và tỏi”.
c. CÓ PHẢI HỌ CHƠI KHĂM KHÔNG? ... NHƯNG KHÔNG À!? Họ đã từng là nô lệ mà, có nhớ không!?!
d. Những cái giá từng rất nặng nề; hết thảy con trẻ nam đều được Pharaôn ra lịnh phải giết đi ở một lúc nào đó, họ phải làm những viên gạch mà không có rơm, khẩu phần ăn của họ rất ít, họ bị đánh đòn, bị ức hiếp, bị lợi dụng, đau ốm, v.v…
8. Thật đáng kinh ngạc thay, một tinh thần lằm bằm đã làm thay đổi ký ức của họ về thực tại quá khứ kia ... họ đã nhìn xem những việc trong quá khứ tốt đẹp dường bao và họ cảm thấy Đức Chúa Trời đang đối xử với họ cùng kiệt dường bao trong hiện tại.
a. Một tinh thần cay đắng làm thay đổi thực tại trong lý trí của những người đang vòng tay ôm lấy sự cay đắng!
b. Họ bắt đầu khóc lóc và lằm bằm; họ không còn thèm khát và than vãn nữa, mọi sự họ thu lấy là “ma-na” (bánh xuống từ trời, do Đức Chúa Trời phân phát cách thành tín mỗi ngày trừ ngày sa-bát – Đức Chúa Trời phân phối cho từng nhà!)
9. Cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng con không sống giống như họ ... CHẮC KHÔNG? (Chắc! Chắc mà!)
B. Tâm linh nặng nề! (11.10-15)
1. Môise không làm sao khác hơn là chỉ có nghe dân sự nói mà thôi, mỗi người họ ngồi ngay lối vào trại của họ mà than khóc!
a. Điều nầy chỉ ra một sự phản kháng có tính toán ... họ có toan tính hẳn hòi và lấy quyết định của từng nhóm, bởi mỗi đại biểu đứng ngay lối vào trại của họ, vì thế họ có thể đếm lấy những quyết định của nhóm!
b. Tôi lấy làm ngạc nhiên, ai đã vùa giúp tổ chức cuộc phản kháng công khai như thế nầy? Không nghi ngờ chi nữa, DÂN TẠP đấy!
c. Luôn luôn có những kẻ luôn luôn lằm bằm.
2. Môise giống như bất kỳ một nhà lãnh đạo nào khác, ông đặt sự sống mình trên những phản ứng rất bình thường trước dòng lũ khóc than thường xuyên đó ... ông phát ốm về số dân sự nầy và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời đối với đời sống của ông!
a. Ông bắt đầu than vãn về bản thân, than phiền là một căn bịnh hay lây nhiễm trong tấm lòng của con người!!!
b. Ngay cả Môise cũng hiệp vào sự than phiền, ông bắt đầu hỏi Đức Chúa Trời, ông đã làm gì để xứng đáng với sự phân công tuyệt vời và với dân sự nầy; phải chăng đưa họ vào trong thế gian là ý định của Môise?
3. Lời than vãn của Môise cũng làm cho ông phải tẻ tách đối với lẽ thật, ông hỏi Đức Chúa Trời: “Tôi sẽ có thịt ở đâu đặng phát cho cả dân sự nầy? Tôi không thế một mình gánh hết dân sự nầy”.
a. Đức Chúa Trời không buộc Môise phải bảo đảm thịt cho họ, Đức Chúa Trời đã tiếp trợ rồi bánh hàng ngày của họ ... Đức Chúa Trời cũng không buộc Môise phải gánh lấy họ; chỉ dẫn dắt họ mà thôi!
b. Một tâm linh nặng nề bị méo mó thậm chí là linh hồn tin kính nhất!
c. Môise đã suy nghĩ từ các khả năng và sức riêng của mình, và phải, nếu ông cố gắng lãnh đạo Israel từ sức riêng của mình ông sẽ dễ dàng thấm mệt ngay!
MINH HOẠ. Tấn sĩ Paul Brand đang giảng dạy cho trường y ở Ấn độ về đề tài để cho sự sáng của quí vị chiếu ra trước mặt mọi người hầu cho họ nhìn thấy những việc lành của quí vị mà làm sự vinh hiển cho Cha của quí vị. Trong chỗ nầy của Ấn độ, ông đứng giảng dạy gần một chiếc đèn lồng, một ngọn đèn dầu với bấc bằng vải. Khi ông đang giảng thì ngọn đèn hết dầu và không lâu sau đó căn phòng đầy khói, tối thui làm cho ông phải bật ho ... giờ thì bấc đèn đã tắt đi quá nhanh! Ông dùng giây phút ấy để đưa ra một điểm rất quan trọng. “Một số người trong chúng ta giống như ngọn bấc nầy, chúng ta đang ra sức chiếu sáng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, nhưng không có dầu Đức Thánh Linh”. Một ngọn bấc có thể cháy hoài cho đến đời đời nếu nó thường xuyên được cung cấp dầu, và ngọn lửa không hề tắt, không để cho có khói mà chỉ có ánh sáng thật rõ ràng. Tuy nhiên, không có dầu nó sẽ cháy trong một thời gian ngắn và ngọn bấc sẽ tắt lịm đi – Nguồn vô danh
4. Môise đã quên bẳng đi dầu ấy!
a. Âm vang lời thỉnh cầu của ông hãy còn dội lại nơi chúng ta: “Nếu Chúa đãi tôi như vậy, và nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin thà giết tôi đi!” Nhưng tôi lấy làm lạ, có bao nhiêu người trong chúng ta đã nói ra một câu tương tự như thế khi chúng ta tỏ ra giận dỗi với Đức Chúa Trời?
b. Ông đã kêu gào giống như sắc dân mà ông đang dẫn dắt họ!
5. Đức Chúa Trời có một giải pháp cho Môise và cho Israel, một giải pháp tuyệt vời vẫn còn có giá trị hôm nay! Ấy là THÁNH LINH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI!
II. PHƯƠNG THỨC DUY NHỨT! (11.16-30, 35)
A. Đức Thánh Linh! (11.16-17, 24-30, 35)
1. Đức Chúa Trời truyền cho Môise phải cẩn thận chọn lấy 70 vị lãnh đạo từ giữa vòng 12 chi phái của Israel, Đức Chúa Trời sẽ đặt chính Đức Thánh Linh, Đấng đã ở cùng Môise, lên trên họ!
a. Đức Chúa Trời đã công nhận nhu cầu của Môise nên khiến cho Đức Thánh Linh đầy dẫy các cấp lãnh đạo.
b. Môise dọn mình cho họ như thế nào thì không thành vấn đề, phương thức duy nhứt của Đức Chúa Trời cho chức vụ lãnh đạo của họ phải cần có sự đầy dẫy Thánh Linh của Đức Chúa Trời!
2. Họ được đưa đến cùng một lúc với nhau, và được truyền cho phải đứng quanh HỘI MẠC, là nhà của Đức Chúa Trời ở giữa trại quân!
a. “Một trận gió lớn” đã đến và Thánh Linh của Đức Chúa Trời giáng trên họ – Lễ Ngũ Tuần trong Cựu Ước!
b. Họ “bắt đầu nói tiên tri” – từ ngữ nầy trong tiếng Hy bá lai có nghĩa là nói cách xuất thần, nói nhiều như nói tiếng lạ ... không nhất thiết là họ đã nói tiếng Hy bá lai! Rõ ràng đây là bằng chứng của việc được đầy dẫy Đức Thánh Linh trong Cựu Ước, giống hệt như nói tiếng lạ là bằng chứng trong Lễ Ngũ Tuần của Tân Ước vậy.
c. Có hai người trong trại quân cũng được Thần cảm động! Tôi đoán họ cũng đứng gần gũi với nhiều người khác, nhưng chưa được chạm đến!
d. Sự thực ở đây cho thấy rằng 70 người nầy (72!) chỉ nói tiên tri trong dịp nầy mà thôi, không giống như hôm nay – Lễ Ngũ Tuần có thể là một kinh nghiệm đang tiếp diễn!
3. Môise, khi người ta yêu cầu ông ngăn chặn 2 người nầy đừng nói tiên tri nữa, ông chỉ nói ra một sự trông cậy và lời hứa trong Tân Ước ... “Ôi! chớ chi cả dân sự của Đức Giê-hô-va đều là người tiên tri, và chớ chi Đức Giê-hô-va ban Thần của Ngài cho họ!”
a. Nào, chúng ta đang ở trong ngày ấy khi điều nầy có thể và sẽ là sự thực!
b. Các cấp lãnh đạo được đầy dẫy Đức Thánh Linh giờ đây đều lui vào trong trại quân, PHƯƠNG THỨC DUY NHỨT xử lý với sự lằm bằm và than vãn là PHÉP BÁPTÊM BỞI THÁNH LINH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI!
c. Dầu nầy của Thánh Linh Đức Chúa Trời sẽ giữ các cấp lãnh đạo cùng Môise không phải LUI ĐI.
B. Tinh thần của con người (11.18-23)
1. Trong khi Môise và 72 người nầy đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh, những sự chuẩn bị khác đang tiếp diễn để làm thoả mãn tinh thần của con người, vấn đề về thịt!
a. Môise vẫn phấn đấu trước khi có sự đổ ra của Đức Thánh Linh, ông tìm cách hiểu làm sao ông có thể làm thoả mãn các nhu cần của số dân nầy, họ đang thèm ăn thịt!
b. Họ đã thèm thịt cho thân thể họ trong khi Môise thèm một thứ cho linh hồn ông!
2. Môise nhận lãnh thứ mà ông đang tìm kiếm – Đức Thánh Linh đầy dẫy các cấp lãnh đạo; và dân sự sắp sửa nhận lãnh điều mà họ đang tìm kiếm – thịt ăn tới cực điểm, ấy là họ phải phát bịnh luôn!
a. Có một sự ngược ngạo trong hai thứ thèm khát ấy!
b. Đúng là một sự ngược ngạo nơi phần ứng nghiệm, họ đã nhận được điều họ mong muốn; còn Môise đã tìm được sức lực và sự vùa giúp với Đức Thánh Linh đầy dẫy các cấp lãnh đạo và dân sự tìm được sự phẫn nộ và bịnh tật trong khi các nhu cần về mặt thuộc thể của họ được thoả trên hẳn mọi nhu cầu thuộc linh của họ!
III. ĐƯỜNG LỐI CŨ (11.31-34)
A. Các giải pháp của con người (11.31-32)
1. Không có chút tình cờ nào hết khi hai câu chuyện được đặt gần nhau, chúng là phương tiện để bày tỏ ra một đối chiếu giữa ngọn GIÓ THÁNH LINH TRONG TRẠI QUÂN GIÁNG TRÊN 72 NGƯỜI VÀ NGỌN GIÓ XÁC THỊT (THỊT) Ở BÊN NGOÀI TRẠI QUÂN (chim cút)!
a. Chữ “GIÓ” ở đây là cùng một chữ nói tới “THÁNH LINH”, đó là chữ “Ruach”.
b. 72 người đã nhận lãnh Đức Thánh Linh; đoàn dân đông đã nhận lãnh ngọn gió đầy những “thịt”.
c. Đức Thánh Linh giáng lâm ở bên trong trại quân ... ngọn gió xác thịt đổ xuống ở bên ngoài trại quân!
2. Thật đáng ngạc nhiên khi thấy dân sự phục theo một giải pháp xác thịt ... “Dân sự đứng dậy…trong NGÀY ĐÓ, ĐÊM ĐÓ VÀ TRỌN NGÀY SAU!” (11.32).
a. Nếu họ chịu phục phân nửa trong việc nhận lãnh ngọn gió Thánh Linh của Đức Chúa Trời!
b. Họ không có thì giờ để chờ đợi Thánh Linh Đức Chúa Trời, nhưng họ tìm được thì giờ để trụ lại trong 36 giờ hay hơn nữa và làm thoả mãn tánh thèm khát tự nhiên của họ về thịt!
3. Họ không thoả lòng với số lượng thịt, họ muốn thiệt là nhiều! Số lượng ít nhất lượm được là “10 ô-me” (11.32b) (khoảng 500 gallons hay khoảng 60 thùng!)
a. Thịt nầy khi ấy được đem căng ra khắp trại quân; cái điều đáng ngạc nhiên ở đó là một điểm thuộc linh đã được lập ra ở đây!
b. Không bao lâu sau khi mọi giải pháp của con người nầy tràn ngập trại quân, dân sự quên bẳng Đức Chúa Trời đi và tìm cách làm thoả mãn những sự thèm khát của họ, muốn có thứ tốt nhứt trong thế gian nầy, và hãy đoán xem điều chi đang xảy ra? Họ lãnh lấy bịnh tật cho bao tử của họ!
c. Thực vậy, nhiều người bị hư mất, nhiều người sau đó đã bị đem chôn!
4. Tất nhiên điều nầy đã cung ứng một dịp tiện khác để lằm bằm và than khóc, mặc dù là do chính lỗi của họ tạo ra!
a. Tình trạng bịnh tật ụp đến không bao lâu sau khi thịt còn ở “giữa hai hàm răng của họ trước khi nó được tiêu hoá” (11.33a)
b. Đức Chúa Trời đã ban cho họ “bánh từ trời” là thứ giữ cho họ được mạnh mẽ, nhưng họ chọn đường lối cũ, một giải pháp của con người cho một nan đề thuộc linh, và thịt nầy đã làm cho họ phải bịnh!
c. Không có một sự thay thế nào khả dĩ có thể làm thoả mãn linh hồn trừ ra “BÁNH THẬT ĐẾN TỪ TRỜI” là ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST!
d. Bất cứ một thứ thay thế nào khác sẽ làm cho linh hồn chúng ta phải bịnh hoạn!
5. Israel đã quên rằng họ là những tạo vật thuộc linh đầu tiên và không những là những con người bằng xương bằng thịt, lỗi lầm nầy làm cho họ phải trả giá đắt! Điều ấy cũng làm cho chúng ta phải trả giá đắt, nếu chúng ta quên điều nầy.
MINH HOẠ. Có nhiều người đã mất mạng của họ cách đây vài năm khi ngọn núi Pinatube bùng nổ. Ngọn núi nầy là ngọn núi lửa khổng lồ đang ngủ say ... Nó đã tắt đi trong 600 năm. Khi người ta muốn biết về sự hủy diệt không thể tin được do ngọn núi lửa nầy gây ra, một nhà khoa học từ cơ quan nghiên cứu về núi lửa ở Phi luật Tân, ông lưu ý: “Khi núi lửa im lặng trong nhiều năm trời, con người chúng ta quên rằng đó là một ngọn núi lửa và bắt đầu xem đó là một ngọn núi bình thường”. Đây đúng là cách thức mà thế gian đối xử với các vấn đề tâm linh ... chỉ vì họ không nhìn thấy bàn tay phán xét khủng khiếp của Đức Chúa Trời, họ tưởng họ được an ninh và tưởng họ đang sống trên một ngọn núi thật xinh đẹp! Nhưng Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang bày ra sự sống hôm nay, cho những ai vòng tay ôm lấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời, họ đang tìm kiếm sự sống; còn cho những kẻ tìm kiếm một giải pháp theo cách con người những an ninh về xác thịt, họ sẽ mau tìm thấy sự hư mất! – Nguồn vô danh
6. Đúng là sự cám dỗ khi nghĩ rằng chúng ta có thể làm công việc của Đức Chúa Trời bằng những ý tưởng hay chương trình đầy mưu lược, nhưng rốt lại chúng ta không thể làm bất cứ một công việc nào của Đức Chúa Trời trừ phi chúng ta được trang bị với Thánh Linh của Đức Chúa Trời!
7. Mọi nghi thức tế lễ, giáo nghi, tín lý, ca vịnh, dâng hiến v.v… không thể thay thế nhu cần về tâm linh, phải có Thánh Linh của Đức Chúa Trời đầy dẫy chúng ta để lo liệu công việc của Ngài!
8. Họ trở lại với NHỮNG CON ĐƯỜNG CŨ và đã khám phá ra một LẼ THẬT RẤT XƯA, con đường của thế gian “dẫn đến sự chết ... nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời nhờ Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta!”
B. Sự thoả mãn khủng khiếp! (11.33-34)
1. Đức Chúa Trời đã gửi đến cho họ một lời cảnh cáo trước đây khi ngọn lửa nhóm lên ngay bên ngoài trại quân, nhưng lần nầy câu ấy nói rằng “cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự” (11.33).
2. Đức Chúa Trời đã làm thoả mãn đòi hỏi của họ về thịt, về thịt dư dật, và các kết quả thực là kinh khủng!
a. Thật là kinh khủng khi nghĩ đến những lời cầu nguyện mà Đức Chúa Trời sẽ trả lời hơn là những lời cầu nguyện mà Ngài đôi khi không trả lời!
b. Họ đã nhận đúng những gì họ đã cầu xin ... rất dư dật, và nó đã hủy phá họ!
c. Mọi giải pháp của con người cho các nan đề của con người thường kết thúc trong sự dại dột.
MINH HOẠ. Giống như một báo cáo mới đây trong tờ Newsweek ... nó đăng một câu chuyện về viên cảnh sát đã có khả năng ngăn cản và chận đứng một người khỏi tự tử, họ đã bắn anh ta, và trong khi làm như vậy, họ đã giết anh ta! – Nguồn vô danh
3. Câu chuyện nầy rất giống với thế gian, giải quyết một nan đề bằng cách tạo ra một nan đề mới! (Nói nhiều giống như một số chương trình của chính phủ chúng ta!)
4. Địa danh ấy được đặt tên là: “Kíp-rốt Ha-tha-va” ... được dịch như sau: “MỘ ĐỊA CỦA NHỮNG THAM MUỐN!”
a. Những kẻ thèm khát Đức Thánh Linh không thể đầy dẫy bởi những thứ của đời nầy!
b. Mọi nổ lực mà con người tạo ra để làm thoả mãn sự khao khát của linh hồn họ chỉ khiến họ bịnh tật về mặt thuộc linh khi họ tìm cách phu phỉ nhu cầu đó bằng những thứ của đời nầy!
c. Những gì chúng ta cần hôm nay là ngọn gió Thánh Linh tươi mới, chớ không phải ngọn gió xác thịt! Chúng ta cần phép báptêm tươi mới của Đức Thánh Linh!
PHẦN KẾT LUẬN. Khi trên đường đi đến Đất Hứa, dân Israel cũng thường xây qua những con đường cũ để làm thoả mãn các nhu cầu mới của họ. Trong khi trông ngóng Ngọn Gió của Đức Chúa Trời đem đồ ăn đến cho họ, một số đã trông mong đồ ăn vật chất chỉ đem lại sự chết, chỉ có quyền phép thuộc linh mới đem lại sự sống. Số phận mới của Đất Hứa đòi hỏi một phương thức mới. Đó là Thánh Linh của Đức Chúa Trời! Israel tưởng chừng như đã quên NHỮNG CON ĐƯỜNG CŨ! CÒN QUÍ VỊ THÌ SAO?
***

“HÃY QUÊN NHỮNG VIỆC VÔ NGHĨA ĐI!”



“HÃY QUÊN NHỮNG VIỆC VÔ NGHĨA ĐI!”
Luca 12:4-7 Rôma 8:35-39
PHẦN GIỚI THIỆU: Phần lớn đời sống của con người đầy dẫy với những việc vô nghĩa, không có giá trị chi hết! Phần lớn thì giờ và năng lực của chúng ta được chi dùng hết ngày nầy sang ngày khác thực sự chẳng có ý nghĩa gì cả. Nếu chúng ta không cẩn thận, chúng ta sẽ dễ dàng thấy đời sống của mình lung tung bởi tất cả những thứ vô nghĩa nầy và chúng ta sẽ khám phá ra điều chi thực sự có ý nghĩa của Đức Chúa Trời dễ dàng tiếp thu lấy!
Khi nhìn thấy những điều thực sự có ý nghĩa, cái thấy đó sẽ kéo chúng ta lại mức cân đối trong đời sống của chúng ta!
MINH HOẠ: Một trong những vị Mục sư của chúng ta tại Peru đã được trao cho sứ điệp nầy từ “sendero luninoso” (con đường sáng sủa) ... một tổ chức cộng sản cấp tiến địa phương đang tổ chức một cuộc chiến tranh kiểu khủng bố trong khu vực của Hội thánh Tin lành nầy. Sứ điệp ghi như sau: “Ông có 48 giờ để rời khỏi thành phố cùng với gia đình ông hay chúng tôi sẽ bắt đầu treo cổ mấy đứa con của ông từng đứa một”. Vị Mục sư biết rõ đây là lời cảnh cáo sau cùng và ông đến gặp ban trị sự để quyết định phải đáp ứng như thế nào!?! Phần nhiều nhà thờ của chúng ta trong khu vực ấy (và chúng ta có hàng trăm nhà thờ) đã nhìn thấy những người thân yêu biến mất rồi, nhiều người đã bị giết, một số Mục sư nữa. Nhiều vị Mục sư đã trở thành mục tiêu đặc biệt. Một số đã bị bắn hạ trước mặt hội chúng của họ. Ban trị sự Hội thánh cảm thấy rằng Vị Mục sư cùng gia đình của ông nên đến Lima để được an ninh hơn, và họ đã làm theo như thế. Chúa nhựt kế đó chẳng còn có một nhà thờ nào nữa ... Những kẻ cấp tiến cảm thấy họ đã chiến thắng. Nhưng tuần sau một trong các chấp sự đã triệu tập một buổi nhóm của ban trị sự rồi quyết định họ sẽ nhóm thờ phượng vào Chúa nhựt tới mà không có mặt vị Mục sư của họ. Họ đã nhất trí sau khi cầu nguyện nhiều, và mỗi người quyết ai nấy sẽ lo phần hành của họ. Lời đồn khắp thành phố cho biết rằng một buổi thờ phượng đã được hoạch định vào ngày Chúa nhựt. Ngày Chúa nhựt đến và gần 500 người tới nhóm lại, chỉ ở tại phòng chờ! Khi Trưởng ban trị sự hướng dẫn hát thánh ca thờ phượng với các tín đồ thì nhóm người “sendero luminoso” bước vào chận đứng buổi thờ phượng lại. Họ túm lấy vị chấp sự nầy rồi lôi ông ấy ra ngoài và treo lên một cành cây. Ở đó họ đã treo cổ ông ... khi ấy một đám đông 3.000 người đã nhóm lại để quan sát. Sau một lúc, họ cảm thấy ông rõ ràng đã chết hẳn nên cho đem thi thể của ông xuống ... rồi khi họ sắp sửa ra về, đột nhiên vị chấp sự chổi dậy! Mấy kẻ cấp tiến kia rất đỗi ngạc nhiên và giận dữ, họ túm lấy ông ta rồi nói: “Mày không chết lần thứ nhứt nhưng tụi tao sẽ treo cổ mày lại một lần nữa”. Vì vậy họ đã siết chặt sợi dây hơn rồi đem treo cổ ông ấy lại. Sau một thời gian trôi qua, sau cùng họ đã cắt dây đưa ông ấy xuống. Nhiều Cơ đốc nhân đã nhóm lại chung quanh thi thể của vị chấp sự mà cầu nguyện và kêu la. Khi họ đang cầu nguyện, vị chấp sự nầy mở mắt ra rồi bắt đầu bước đi, sợ hãi ụp đến những kẻ cấp tiến kia! Họ quyết định bỏ ông ta lại đó rồi xéo đi mất. Những bạn bè của vị chấp sự đầy nổi vui mừng đã giúp ông ta nghỉ ngơi mấy ngày sau đó. Qua Chúa nhựt sau, cũng chính vị chấp sự nầy hướng dẫn buổi thờ phượng cũng chính trong ngôi nhà thờ đó! Các báo cáo mới đây cho thấy rằng Hội thánh nầy vẫn mở cửa mặc dầu các Hội thánh khác gần đó đã bị đóng cửa hoàn toàn. Vị chấp sự cùng hội chúng nầy quyết định điều chi có ý nghĩa và điều chi không ... và họ đã quên điều chi không có ý nghĩa! – Nguồn vô danh
Trong thế giới của chúng ta, có nhiều điều thừa thải, không cần thiết, thật là dễ bám lấy những thứ vô nghĩa và quên đi những việc thực sự quan trọng!
Kinh thánh dạy chúng ta phải canh giữ tâm linh mình, phải chống lại những thứ vô nghĩa thực sự làm cho mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời bị sai lệch đi và ngăn trở chúng ta không tấn tới được trong những đường lối có ý nghĩa, một trong những công cụ hiệu quả nhất của Satan trong một xã hội giàu có là làm đầy dẫy chúng ta với nhiều thứ vô nghĩa đến nỗi chúng ta quá bận rộn không nghĩ tới điều chi thực sự quan trọng, điều chi có ý nghĩa đời đời!
I. NHỮNG VẤN ĐỀ TỐI QUAN TRỌNG! (Luca 12.4-5).
A. Những thế lực có giới hạn! (Luca 12.4)
1. Thắc mắc về sự bắt bớ do Chúa Jêsus nói ra với các môn đồ Ngài. Một đám đông (một nhóm ngoan cố cũng có ở đó nữa! xem 12.1) đã nhóm lại để nghe Chúa Jêsus giảng dạy.
a. Chúa Jêsus chuyển sự lưu ý của Ngài trước tiên sang các môn đồ của Ngài!
b. Ngài muốn họ phải nhìn biết điều chi thực sự có ý nghĩa!
c. Đây là những lời nói có ý định khích lệ và là phương hướng dành cho phần đời còn lại cùng chức vụ của họ nữa, phải biết đâu là tiêu điểm phải nhắm vào khi tiếp tục sống đời nầy!
2. Chúa Jêsus dạy họ ở đây như NHỮNG NGƯỜI BẠN, một trong vài lần Chúa Jêsus đã sử dụng từ ngữ nầy với họ; không những đây là giây phút của THẦY - TRÒ, mà đây còn là lời dặn dò của một người bạn thân quan tạm về những phấn đấu trong cuộc sống mà Ngài biết rõ họ sẽ đối diện với!
3. Chúa Jêsus công nhận thực tại chung của mọi người, luôn có sợ hãi đối với cái phông phấn đấu trong cuộc sống!
a. Ngay cả Cơ đốc nhân giỏi nhất có thể và sẽ kinh nghiệm nỗi sợ hãi đó!
b. Bởi vì cuộc sống đầy đẫy những kinh ngạc và hăm dọa, chúng ta dễ dàng bị kéo vào nỗi sợ lo đó!
4. Những con người của Đức Chúa Trời nầy không có gì khác biệt cả; Chúa Jêsus vốn biết rõ họ sẽ bị đánh bởi nỗi sợ hãi làm cho tê liệt hết lúc nầy tới lúc khác!
a. Khi ấy thắc mắc trong lý trí của Chúa Jêsus là “Ta sửa soạn cho họ thế nào về những thời điểm khi sợ hãi ụp đến, khi họ bắt sợ hãi!?”
b. Điểm khởi sự của Chúa Jêsus rất là cơ bản ... nói cho họ biết lẽ thật quan trọng nhất để các tín đồ của mọi thời đại đều phải ghi nhớ: “Đừng sợ kẻ giết xác rồi sau không làm gì được nữa…”.
c. Câu nói của Chúa Jêsus ở đây có ý dạy dỗ họ về quyền lực có hạn mà con người trong giờ phút tệ hại nhất mà thù hận và điều ác có thể làm, giới hạn của việc khủng khiếp nhất của điều ác, thế lực của điều ác đó có một giới hạn trên những tín đồ!
5. Cái điều Chúa Jêsus thực sự đang nói ở đây là đặt nền tảng của sự có ý nghĩa: rằng sự sống đời đời thì quan trọng hơn là sự sống tạm thời và ảnh hưởng của điều ác bị giới hạn CHỈ trong thực tại tạm thời của chúng ta mà thôi, nó không thể đụng tới sự đời đời nơi những kẻ thuộc về Đấng Christ được!
6. Lịch sử thừa mứa với những tấm gương của các thánh đồ đã đạt tới mức hiểu rõ lẽ thật rất quan trọng nầy!
MINH HOẠ: Như Thánh Boniface đã sống vào năm 680-755 SC – khi ông bị kết án tử hình, thậm chí khi họ đổ nước nóng vào miệng ông, ông vẫn nói như sau: “Tôi cảm tạ Ngài, lạy Chúa Jêsus, Con của Đức Chúa Trời hằng sống!” hay tín đồ ở thế kỷ thứ ba có tên là Thánh Lawrence bị nướng sống giống như miếng thịt bò trong sự bắt bớ của vị vua độc ác Valerian. Họ đã yêu cầu ông phải bỏ đi những điều thuộc về Hội thánh, và ông đã bố thí cho người nghèo và kẻ đau bịnh nào đang ở trong sự chăm sóc của ông, vì điều nầy ông đã bị nướng sống và khi bị như thế, ông vẫn gào to lên: “Bề nầy nướng chín rồi, trở bề khác đi, ôi đại đế cao cả; hãy xem kỷ đi, ông thấy chín đều chưa?” Ông không chút sợ hãi, không sợ chết hay sợ vua Valerian! Hoặc những người như Huân tước Walter Raleigh (1552?-1618) là thi sĩ, sử gia, thuyền trưởng người Anh; khi ông bị dẫn ra pháp trường để chặt đầu, người ta ghi lại những lời lẽ sau cùng của ông như sau: “Đây là phương giải cứu rất bén, (cây búa) nhưng là một phương tiện cứng rắn dành cho tất cả những kẻ bịnh hoạn”. Khi người ta hỏi ông muốn đầu của ông sẽ được xử lý ra sao, ông nói: “Tấm lòng ổn định rồi, cái đầu để ở đâu cũng được mà ... ngươi sợ à? Đao phủ, hãy chặt đi!” – Nguồn vô danh
7. Đây là những người hiểu rất rõ lời dạy của Chúa Jêsus; Satan cùng quỉ sứ của hắn có quyền lực rất hạn chế trên người tín đồ, điều ác chẳng đụng tới được điều có ý nghĩa trong chúng ta!
B. Viễn cảnh lâu dài (Luca 12.5)
1. Thay vì sợ hãi điều ác, chúng ta cần phải có một sự kính sợ lành mạnh đối với Đức Chúa Trời. Sự kính sợ nầy ở đây không phải là một loại sợ hãi mà là một sự tôn kính!
2. Khi quyền lực của điều ác bị hạn chế, chúng ta sẽ sống tốt hơn để có một sự tôn kính mạnh mẽ đối với Đấng có quyền phép thực sự trong đời tạm cũng như trong cõi đời đời, Đấng duy nhứt có đủ tư cách ở đây chính là Đức Chúa Trời!
a. Điều nầy muốn nói các môn đồ phải sống theo viễn cảnh lâu dài đó!
b. Nếu họ muốn giữ viễn cảnh nầy, họ phải tránh đừng để bị rơi vào những điều vô giá trị, không quan trọng.
3. Một sự tôn kính lành mạnh đối với Đức Chúa Trời có thể giữ chúng ta không hạ thấp những gì thực sự là quan trọng trong đời sống của chúng ta!
a. Sách Châm ngôn nói như thế nầy: “Sự kính sợ Đức Chúa Trời là khởi đầu sự khôn ngoan”.
b. Người nào chưa phát triển được một sự kính sợ lành mạnh đối với Đức Chúa Trời, họ sẽ không xem trọng những thực tại về mặt thuộc linh!
c. Hãy chú ý dòng cuối của câu 5: “..phải ta nói cùng các ngươi, ấy là Đấng các ngươi phải sợ!”
d. Đức Chúa Trời lớn hơn Santa Claus trên bầu trời kia nhiều lắm! … Ngài là ĐỨC CHÚA TRỜI!
4. Người nào trong lòng họ chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời, họ sẽ không xem trọng những vấn đề thuộc linh đâu!
a. Thật là quan trọng, khi hiểu rằng sự kính sợ nầy không giống như lo sợ; nó có nghĩa là lo sợ, tôn kính và ấp ủ!
b. Trong khi chúng ta hầu việc một Đức Chúa Trời theo cách cá nhân... Ngài cũng là một Đức Chúa Trời toàn năng, là một Đức Chúa Trời thánh khiết nữa!
5. Một sự kính sợ lành mạnh đối với Đức Chúa Trời sẽ giúp quay chúng ta trở lại đúng hàng lối trước những gì là quan trọng và điều chi thực sự vô nghĩa. Một sự kính sợ lành mạnh thực sự đối với Đức Chúa Trời và điều chi thực sự là vô nghĩa trong cuộc sống! Một sự kính sợ lành mạnh đối với Đức Chúa Trời khiến cho chúng ta biết tập trung!
MINH HOẠ: Thật hoàn toàn thú vị khi biết rằng một trong những kẻ thù quan trọng nhất của Cơ đốc giáo, Charles Darwin và thuyết tiến hoá không phải là kẻ thù mà phần nhiều người trong chúng ta tưởng ... vì đến cuối đời, ông đã trở lại với Đấng Christ và vòng tay ôm lấy Cứu Chúa của thế gian. Khi ông sắp chết ở Anh quốc, ông đã gặp Bà Hope ở Northfield và đưa ra lời thỉnh cầu nầy: “Tôi muốn bà đến với mái hiên nầy rồi tổ chức một buổi thờ phượng theo Tin lành. Tôi sẽ mở rộng cánh cửa sổ. Tôi muốn bà giảng dạy và ca hát về Chúa Jêsus và quyền phép cứu rỗi của Ngài”. Ông đã qua đời chỉ mấy ngày sau đó. Ông đã khám phá ra trước đó quá trễ điều chi thực sự là quan trọng trong cuộc sống. Trong khi thế giới khoa học vẫn còn nắm lấy thuyết tiến hoá như một khám phá khoa học rất quan trọng trong kỷ nguyên nầy, Darwin đang ngồi trước ngôi của Đấng Tạo Hoá trong sự thờ phượng vào thời điểm nầy, giờ đây ông thực sự nhìn biết điều chi là có ý nghĩa, tất cả học thuyết ông đã có được cho thế gian là biến một con khỉ thành một con người! Chúa Jêsus đã biến con người thành một thánh đồ! Nếu trong lúc bây giờ Ngài có thể phán với thế gian, quí vị nghĩ Ngài sẽ nhấn mạnh điều gì? – Nguồn vô danh
II. TẦM QUAN TRỌNG KHÔNG BỊ HẠN CHẾ! (Luca 12.6-7; Rôma 8.35-39).
A. Ưu tiên một của tình yêu thương! (Luca 12.6)
1. Để cho mục tiêu được thấy rõ ràng, Chúa Jêsus không nói tới loại sợ hãi khiến cho chúng ta phải e dè Ngài, Ngài thêm hai câu kế để thúc giục chúng ta với tình yêu cả thể của Ngài đang dành cho chúng ta ... với ý tỏ ra cho chúng ta thấy tình yêu của Ngài lớn lao là dường nào, chúng ta đáng phải có thái độ kính sợ, tôn kính sâu sắc!
2. Chúa Jêsus sử dụng minh hoạ theo sau để tỏ ra tình yêu của Đức Chúa Trời đối với họ cả thể là dường nào: “Người ta há chẳng bán năm con chim sẻ giá hai đồng tiền sao? Nhưng Đức Chúa Trời không quên một con nào hết”.
a. Sách Tin lành Mathiơ cho chúng ta biết rằng giá chim sẻ là một đồng tiền chỉ có 2 con mà thôi!
b. Điều nầy có nghĩa là họ đã có mặc cả nhiều như chúng ta đang mặc cả ngày hôm nay, nếu 5 con chim sẻ chỉ bán có 2 đồng tiền, quí vị sẽ có một con miễn phí bằng cách mua chúng ở một số lượng nhiều!
c. Câu chuyện cho thấy chim sẻ rẻ tiền là dường nào!
d. Mục đích của Chúa Jêsus ở đây rất đơn giãn: mặc dù chúng gần như vô giá trị và rẽ rúng, không một con nào trong số chúng, ngay cả con miễn phí kia Đức Chúa Trời không thể không biết!
3. Đức Chúa Trời không sai lạc đối với những vụ việc thực sự có ý nghĩa, đặc biệt là chúng ta! Mặc dù chúng ta rất giỏi lạc hướng bởi các thứ không quan trọng, Đức Chúa Trời không xây khỏi chúng ta!
a. Chúng ta đã hay quên, còn Đức Chúa Trời thì không quên đâu!
b. Chúng ta đã nhắm vào những việc dại dột, nhỏ mọn, còn Đức Chúa Trời, Ngài không hề lạc sai đâu!
4. Chúng ta thường nhắm vào những thứ thực sự không quan trọng, thật là dễ bị què quặt về mặt tình cảm đối với những thứ không quan trọng của đời nầy!
a. Thật là dễ dàng bị lạc lối đối với những vấn đề không quan trọng, tới mức độ chúng ta quên đi những gì thực sự quan trọng!
b. Lịch sử có nhiều trường hợp về thảm hoạ vì một tiêu điểm sai!
MINH HOẠ: Một trường hợp tai vạ vì nhắm vào một việc nhỏ để rồi phải trả giá cao là vụ rớt máy bay chuyến 401 của đông phương ở Everglades mấy năm qua đã làm chết hàng tá người và làm bị thương nhiều người khác. Chiếc máy bay cất cánh từ Nữu ước đi Miami với nhiều hành khách quá tải. Khi chiếc máy bay đến gần phi trường Miami, ngọn đèn nhỏ báo thông số hạ cánh xuống thấp bị trục trặc và khoá mở bánh không hoạt động. Chiếc máy bay lượn nhiều vòng trên Everglades trong khi tổ lái kiểm tra xem coi bóng đèn thông số có thực sự trục trặc hay không hoặc nếu đây chỉ là một việc đơn giãn giống như bóng đèn chớp chớp lên trên bảng điện tử. Khi viên kỷ sư của chuyến bay tìm cách dời đi bóng đèn đó, nó không chịu di dịch, và các thành viên khác của tổ lái đến giúp ông. Khi họ vật vả với cái bóng đèn, không ai để ý rằng chiếc máy bay đã mất cao độ, và nó lao thẳng vào đầm lầy. Hàng tá người chết trong khi mấy viên phi công đã trả giá cao với cái bóng đèn 75 xu! Họ rút được bài học gì là quan trọng hơn trong toàn bộ chuyến bay!?! – Nguồn vô danh
5. Đức Chúa Trời không hề lạc sai đối với những gì thực sự là quan trọng – CHÚNG TA LÀ THỨ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI NGÀI!
a. Đức Chúa Trời đau lòng là dường nào khi chúng ta lạc sai và quên con người là thứ rất quan trọng đối với Ngài bởi những hành động của chúng ta khi chễnh mãng đối với tha nhân hay cứ lao vào những thứ không quan trọng!
b. Đức Chúa Trời không quên dù là một con chim sẻ ... không một sự sống nào là vô nghĩa đối với Đức Chúa Trời!
c. Mục đích đã được lập rất rõ ràng rồi, nếu điều nầy là thực về những con chim sẻ đối với Đức Chúa Trời, chúng ta còn quan trọng đối với Ngài dường bao!?
B. Lời hứa của tình yêu! (Luca 12.7; Rôma 8.35-39)
1. Giờ đây Chúa Jêsus cho thấy điều chi thực sự có ý nghĩa ... thậm chí Ngài biết đích xác số tóc ở trên đầu chúng ta! ... Ngài chẳng quên một thứ gì hết! (Dĩ nhiên, đối với một số người điều nầy rất dễ quên hơn nhiều người khác!)
a. Lời hứa của tình yêu thực sự là quan trọng!
b. Giờ đây, Chúa Jêsus nói thêm: “Đừng sợ chi, vì các ngươi trọng hơn nhiều chim sẻ!”
2. Tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta khiến Ngài phải chú ý vào điều chi thực sự quan trọng nghịch lại điều chi thực sự là không quan trọng!
a. Chúa không sai lệch đối với những điều không quan trọng ... tình yêu thương cho thấy điều chi thực sự là quan trọng – con người!
b. Tình yêu của Đức Chúa Trời trong chúng ta cũng làm y như vậy, nó sẽ khiến chúng ta biết nhìn vào những sự việc nào thực sự là vô nghĩa và khiến chúng ta biết nhắm vào điều chi thực sự quan trọng.
3. Con người rất hay quên những điều chi là thực rồi cứ lo liệu những việc ngoài lề, con người thường nhắm vào những việc phụ thuộc, Đức Chúa Trời đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề.
MINH HOẠ: Thí dụ, cách đây mấy năm những người thợ hớt tóc trong nước Mỹ đã đề nghị một hội nghị cấp quốc gia trong thành phố New York. Nhóm đầu tàu ao ước bỏ ra một số tiền vào việc quảng cáo cho sự nhóm lại. Họ thuê một người rất có tài, rồi nói cho người ấy biết họ muốn sử dụng khả năng của anh ta. Mục tiêu của họ là làm cho nước Mỹ nhận ra những người thợ hớt tóc đang tập trung ở New York. Họ đặt một số tiền theo yêu cầu của người ấy, và anh ta bèn đi lo công việc đó. Đây là những gì anh ta đã làm, và việc thông báo tin tức cho cả nước đã được thực hiện. Anh ta ăn mặc bảnh bao lắm, anh ta đến chỗ cho thuê phòng của thành phố rồi tìm gặp một người bị thương tật. Anh ta hỏi người bị thương tật nầy có muốn kiếm tiền cách dễ dàng không!?! Người kia đáp: “Muốn”. Anh ta bảo người nầy đến với anh ta và làm bất cứ điều chi anh ta yêu cầu. Anh ta bèn dẫn kẻ râu ria xồm xoàm, tóc tai rối xù, bẩn thỉu đi, thế là anh ta có một bức tranh. Sau đó anh ta đưa người nầy đi hớt tóc và có một bức tranh khác. Rồi, anh ta đưa người nọ đi cạo râu và có một thêm một bức tranh nữa. Thế là trong bức tranh thứ ba, anh ta bảo người kia phải cạo râu, hớt tóc; người kia đã có những việc làm. Còn bức tranh sau cùng, người bẩn thỉu kia được đưa tới một cửa hàng bán quần áo và một bộ đồ mới tuyệt vời đã được mua vừa khít cho người kia. Bức tranh thứ tư và bức tranh sau cùng đã được thực hiện và 4 bức tranh nầy đã được thổi tung lên và đem đặt ngay trung tâm của hội nghị với chính người kia đứng gần trong một bộ y phục thật đẹp! Sự biến đổi thật cảm động đến nỗi nó thu hút sự chú ý của báo chí cả nước! Khẩu hiệu của hội nghị đã được tạo ra, viết như sau: “Đây là những gì thợ hớt tóc của nước Mỹ có thể làm cho một người!” Không lâu sau đó, khi hội nghị tan rồi; ai nấy trở về lại nhà của riêng mình. Một trong những viên quản lý của khách sạn tỏ ra sự thích thú nơi anh chàng đóng quảng cáo nầy và dành cho anh ta một công việc rất tốt trong khách sạn phù hợp với dáng dấp mới mẻ của anh ta. Ai nấy đều rất thích thú nơi chàng trai nầy, nhưng anh ta không xuất hiện vào ngày hôm sau, hay ngày mốt, hoặc ngày kia. Nhiều tuần lễ trôi qua và viên quản lý đi tìm anh ta. Ông ta tìm gặp kẻ kia ở đàng sau những con đường, không cạo râu, tóc tai xù xì, say xỉn và quần áo bẩn thỉu. Anh ta đã trở lại với đời sống trước kia. Những người thợ hớt tóc của nước Mỹ có thể làm thay đổi diện mạo bên ngoài của người kia trong một thời gian ngắn, nhưng họ không thay đổi được tấm lòng của người kia. Sự thay đổi của họ chỉ là bề ngoài và vô nghĩa. Đây là mọi sự mà những người thợ hớt tóc của nước Mỹ có thể làm cho một người! Hãy suy nghĩ về những gì một Cơ đốc nhân có khả năng làm cho người ấy ... Hãy suy nghĩ những gì Chúa Jêsus có thể làm cho một người! Hãy suy nghĩ xem Chúa Jêsus đã làm gì cho quí vị! – Nguồn vô danh
4. “Đừng sợ...” lời hứa của tình yêu là điều mà Đức Chúa Trời luôn luôn giữ chúng ta trong đích nhắm của Ngài, bất luận điều chi diễn ra trong thế gian nầy của chúng ta!
a. Đức Chúa Trời không mất tập trung vào những gì là quan trọng, Ngài không thể, đấy là lời hứa của tình yêu thương!
b. Và nếu chúng ta yêu thương giống như Đức Chúa Trời yêu thương, khi ấy chúng ta cũng sẽ không lạc lối trong những thứ vô nghĩa đâu!
5. Phao-lô bày tỏ ra chính lẽ thật nầy trong Rôma 8.35-39.
a. Có TAI HOẠ THIÊN NHIÊN nào phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời 8.35-36 không? Câu trả lời của Phao-lô là KHÔNG!
b. Có một việc SIÊU NHIÊN nào phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời 8.38-39 không? Câu trả lời của Phao-lô là KHÔNG!
6. Thực vậy, Phao-lô nói rằng chúng ta là “nhờ Đấng yêu thương mình mà THẮNG HƠN BỘI PHẦN”, 8.37
a. Chữ được dịch là “thắng” ở đây là Hupernikomen, có nghĩa là “những nhà siêu chinh phục”.
b. Chẳng có một phương thức nào cho chúng ta phải thua khi chống lại Satan ... không bao giờ thua với Đức Chúa Trời đang gìn giữ chúng ta nhắm vào mục tiêu thật trọn vẹn!
c. Và có nhiều việc sẽ xuông xẻ với chúng ta, nếu chúng ta học biết quên đi những điều vô nghĩa và cứ bươn tới bởi tình yêu thương của Ngài!
7. Hãy quên những điều không quan trọng hay vô nghĩa trong cuộc sống, cứ nhắm luôn vào những việc quan trọng!
KẾT LUẬN: Phần lớn những thất bại và căng thẳng trong đời sống của chúng ta đã được thấy nơi những việc có ít tầm quan trọng! Thực sự có một vài việc quan trọng cần phải quan tâm đến! Hết thảy chúng ta đều sẽ khoẻ mạnh hơn nếu chúng ta học biết những khác biệt giữa những vấn đề “thực sự quan trọng” và “vô nghĩa”. Tập trung tác động tính tình, tính tình tác động cách ứng xử và những thứ tự ưu tiên. Quí vị thực sự xem xét điều chi là “có ý nghĩa” trong cuộc sống? HÃY QUÊN NHỮNG VIỆC VÔ NGHĨA ĐI...
***

QUÊN NHỮNG MỐT NHẤT THỜI!”



QUÊN NHỮNG MỐT NHẤT THỜI!”
Ôsê 13.1-6
PHẦN GIỚI THIỆU. Có nhớ trò chơi ném vòng không? Quần ống loe thì sao? Người nào sống vào thời chúng xuất hiện chỉ biết rằng thế giới sau cùng đã đạt tới chỗ “nguội lạnh”. Những mốt nhất thời luôn luôn đến rồi đi, và với từng thứ ấy có nhận thức cho rằng đây là thứ thực sự nguội lạnh mà thế gian đã trông đợi; tuy nhiên, mỗi thứ đến rồi từng thứ ra đi! Những thứ mốt nhất thời đã được tạo ra để cung ứng sự thích thú cho cuộc sống, và rồi chúng ta lại thấy lạnh nhạt và trông ngóng cái gì mới và khác đi để cung ứng niềm say mê cho cuộc sống chúng ta … thế rồi có cái mốt nhất thời “mới” nữa!
Lịch sử có thừa mứa với các trường hợp đạo lý và những sự dạy cũng nhất thời ... mỗi thứ đạo lý mới đua nở trong một thời gian và rồi biến đi mất để được một đạo lý mới khác nữa thế chỗ cho. Những thứ nhất thời trong đủ thứ kiểu cách thờ lạy, chúng đến rồi đi, chúng có thể trợ giúp ở những thời điểm đem lại cho chúng ta sức sống mới, nhưng rồi chúng ta mệt mỏi vì các phong cách “mới” nầy và phải có “kiểu mới khác” hầu làm cho chúng ta lại thấy hay hay một lần nữa.
Chúng ta phải cẩn thận đừng để bị lôi cuốn khi đối mặt với các thứ mốt nhất thời, chúng ta phải giữ nguyên nền tảng cơ bản của đức tin. Những thứ nhất thời nầy có thể kéo chúng ta ra khỏi cốt lõi của Cơ đốc giáo nếu chúng ta không cẩn trọng. Ôsê đã quan sát thấy điều nầy xảy ra cho Isarel trong suốt chức vụ của ông. Israel đã thất bại không vui thoả với Đức Chúa Trời và các thứ thuộc nền tảng cơ bản, vì vậy họ đã tìm kiếm các vị thần bằng bạc sáng chói, họ thấy rung động và bày tỏ ra sự thờ phượng; kết quả là một dân tộc mau chóng quên đi Đức Chúa Trời. Lẽ ra họ nên quên đi các thứ nhất thời kia mới phải!
Kinh thánh cảnh cáo chúng ta chống lại việc bị cuốn hút vào những nổ lực chú trọng nhiều vào việc tìm kiếm hay thờ lạy Đức Chúa Trời; những thứ cơ bản vẫn còn là nền tảng của đức tin, không được thay thế hoặc không biết đến!
I. TÌM KIẾM ĐIỀU CHI LẤP LÁNH! (13.1-2)
A. Lớn lao! (13.1)
1. Épraim là một chi phái lớn, họ chuyên tạo ra cấp lãnh đạo như Giô-suê, Giê-rô-bô-am I, và tiên tri Sa-mu-ên.
2. Họ quen với việc kích động, làm cho nhiều người khác say mê và kinh nghiệm những sự ly kỳ khi họ nắm lấy những vai trò lãnh đạo trong Israel.
a. Khi mọi việc trầm xuống, mặc dù họ dễ buồn chán!
b. Những lúc buồn chán như thế nầy lộ ra trong khi họ tìm tòi những rung động mới!
3. Tại sao những người Mỹ có khuynh hướng nhắm vào những thứ nhất thời, đang khi các quốc gia thuộc thế giới thứ ba không nhắm vào đó?
a. Vì chúng ta là cấp lãnh đạo của thế giới tự do và sự thịnh vượng của chúng ta cung ứng cho chúng ta cơ hội để buồn chán, chúng ta không lo lắng về các nhu cần cơ bản nữa!
b. Các quốc gia thuộc thế giới thứ ba phải suy nghĩ tới những điều cơ bản, họ không tìm kiếm loại xe hơi đắt tiền hay kiểu cách quần áo mới, hay những trò giải trí, v.v…
c. Israel rất thịnh vượng, nhưng có nhiều lúc cũng buồn chán, họ muốn có cái gì đó khác biệt để có một sự thay đổi!
4. Nhiều lúc có một sự đảo ngược giữa sự giàu có trong đời nầy và sự giàu có của linh hồn!
5. Épraim – Vương quốc phía Bắc đã phạm tội vì tìm kiếm sự kích động bằng các thứ nhất thời, các thứ nhất thời nầy khoác lấy hình thái những bức tượng bằng bạc!
a. Chúng lừa lọc như thế nào, các vị thần bằng bạc nầy chẳng có giá trị chi hết!
b. Bất luận họ vòng tay ôm lấy bao nhiêu thứ nhất thời, bất luận chúng đã được dựng nên đa dạng thể nào, không một điều chi có thể thay thế các nhu cần cơ bản của tấm lòng con người tốt hơn Đức Chúa Trời!
6. Thì giờ sẽ đến khi họ chạy theo các tà thần nầy sẽ khiến cho họ phải phá sản, rồi đã quá trễ cho họ không nắm bắt lại được thì giờ đã mất và những sự cam kết bất luận họ giàu có hay thế lực bao nhiêu, nó sẽ chẳng giúp cho họ sau đó nếu họ xây khỏi Đức Chúa Trời!
MINH HOẠ. Bà Hoàng Hậu đầy tham vọng của Anh quốc Elizabeth đã gục chết trên giường ngủ của mình. Bà ta bất an kinh khủng và không muốn chết, bà kêu van với những người đang đứng cạnh giường bà: “Hãy chi hàng triệu triệu cho một tấc thời gian!” Với hơn 10.000 áo dài trong chiếc tủ quần áo, và một Vương quốc mặt trời không hề lặn trên đó, và tất cả thế lực của hoàng gia; bà ta vẫn không mua được một phút thời gian nào khác để cứ sống còn ... quyền lực và sự giàu có không thể cứu được bà ta. Mọi thứ lấp lánh và vàng không thể thay đổi được một việc! – Nguồn vô danh
B. Tình trạng buồn chán (13.2)
1. Họ đã buồn chán với Đức Chúa Trời và kiểu cách thờ phượng của Ngài, họ muốn cái gì đó mới mẻ để thách thức họ và kích thích đời sống của họ!
a. Họ nhắm vào những thứ có tính kích động hơn.
b. Họ hướng vào những ý tưởng có tính sáng tạo riêng, họ đã chạy tìm sự ảo tưởng hơn là tìm kiếm nền tảng!
c. Họ bị kéo vào việc “hôn bò con”... chạy theo đám đông và những thứ nhất thời của thời đại!
2. Đã có những vì thần của các dân khác, có lẽ họ cảm thấy họ đang mở rộng nền văn hoá của chính họ bằng cách tìm hiểu và vòng tay ôm lấy các thần khác, cái ôm lấy các vị thần nầy sẽ khiến cho họ phải trả giá nhiều hơn là họ tưởng!
3. Chúng xuất hiện như những gã khỗng lồ quốc tế đang ve vản tất cả các vị thần ngoại bang nầy, họ tỏ ra cởi mở là dường nào!
4. Họ đang đùa giỡn và không nghi ngờ chi nữa sự họ thờ lạy các thứ nhất thời nầy rất kích động và mới lạ; rốt lại, sự thờ lạy các hình tượng nầy có chứa tình dục và bạo lực nữa.
a. Tình dục – sự thờ phượng gồm có những gái điếm phục vụ trong đền thờ, không một hướng dẫn nào về đạo đức hết, bất cứ điều chi cũng có thể chấp nhận được!
b. Bạo lực – sự thờ lạy của họ gồm có việc dâng con ruột của họ làm những của lễ thiêu dâng cho các tà thần nầy, họ ít quan tâm tới thế hệ hầu đến, chỉ cần nó phục vụ cho sự giải trí của chính họ trong hiện tại mà thôi!
5. Họ đang tiêu pha cơ nghiệp thuộc linh của họ để lấy những rung động nhất thời, không nhận ra cái giá khủng khiếp sau đó!
MINH HOẠ. Hãy nhớ lại người con trai hoang đàng trong Kinh thánh, anh ta muốn cha chia ngay phần gia tài của mình, để anh ta có thể lên thành thị mà sống ở đó. Anh ta đã được như ý muốn và đã có nhiều bạn bè khi còn tiền còn bạc! Anh ta đã sống một đời sống thật như ý muốn, anh ta tiệc tùng với những người ngon lành nhất, ăn mặc những thứ áo quần mốt nhất, tìm kiếm sự giải trí xịn nhất của thời đại; thế nhưng khi tiền bạc vơi dần đi, anh ta thấy mình cô đơn và sống trong một chuồng heo! Những thứ nhất thời đã qua đi và giờ đây anh ta sống một mình và nghèo khổ. Sau cùng, anh ta trở về nhà với lòng nhận biết rằng ngay cả tôi tớ hèn mọn nhất trong nhà cha mình còn ăn ở tốt hơn là bản thân anh ta, cha anh ta đã vui mừng nơi sự trở về của con trai và đã phục hồi cho anh ta. Tôi đoán anh ta đã có một sự tán thưởng mới mẻ về những điều cơ bản sau chuyến đi nầy! – Nguồn vô danh
6. Nhu cần về những thứ nhất thời và vui thú đã khiến họ phải phạm tội càng nhiều hơn, và nhận chìm họ càng lúc càng sâu hơn! Đây cũng là con đường của nước Mỹ ngày nay nữa!
II. THIẾU HỤT (13.3)
A. Tóm tắt! (13.3)
1. Ôsê tìm cách cảnh cáo họ về bản chất nhất thời của các thứ ấy, thể nào chúng đến rồi đi!
a. Chúng giống như hơi nước; xuất hiện ở đó vào buổi sáng, nhưng tan đi không bao lâu sau khi mặt trời ló dạng! Điều nầy về mặt thuộc linh cũng thực là dường nào! Những thứ nhất thời về mặt thuộc linh xuất hiện như mây ban mai nhưng không lâu sau đó khi ĐỨC CHÚA CON xuất hiện, chúng cũng biến đi cho đến đời đời!
b. Thế gian đã nhìn thấy vô số những thứ nhất thời đến rồi đi, và Hội thánh cũng thế, và trong buổi ban mai đến, chúng để lại những đời sống tan vỡ và trống không; đấy là lý do tại sao chúng ta phải giữ việc nhắm vào các thứ cơ bản, chính nền tảng của đức tin chúng ta.
2. Bất luận tao nhã hay hứa hẹn như thế nào, hoặc ngoạn mục dường bao, “kiểu mới” kế tiếp dường như … người nào tìm kiếm nó không còn thấy thích thú nơi nó nữa!
a. “Điều nầy cũng sẽ qua thôi”.
b. Thứ chi lấp lánh nhất không thể trường tồn mãi với thời gian!
MINH HOẠ. Nhà chính phục châu Âu Charlemagne đã sống và đã qua đời nhiều thế kỷ qua. Đúng là ông rất xuất sắc và vinh quang lắm. Khi ông qua đời, họ đưa ông đến mộ rồi đặt ông trên một cái ngai làm bằng ngà, vàng, và những thứ đá quí. Trên đầu ông là chiếc mão rất sắc sảo gồm các thứ đá quí và trong tay ông là một cây trượng, biểu tượng của quyền uy. Trên ngón tay ông là một chiếc nhẫn mang dấu ấn; bên hông của ông là một cuộn giấy ghi các việc làm của ông. Ông được liệm trong một chiếc áo màu tía hoàng gia. Nhiều thế kỷ về sau, con niêm ngôi mộ của ông đã được mở ra. Thời gian đã ăn hết phần thịt, chỉ có một cái sọ người ngồi trên ngai, thậm chí chiếc áo choàng màu tía vương giả kia đã biến thành bụi đất rớt xuống nơi chơn ông. Cái giá nâng bàn tay ông giờ đây chỉ còn trơ một khúc xương ở đó; xương bàn tay ông đã rơi rớt xuống sàn mộ. Ở đó là một quyển sách mở ra với ngón tay chỉ vào mục lục, thật là lạ lùng nó đang chỉ vào câu Kinh thánh: “Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?” (Luca 9.25). Bộ xương trống không vô quyền của ông đã ngồi đấy như một bằng chứng cho lẽ thật cơ bản nầy! – Nguồn vô danh
B. Phá sản (13.3)
1. Những thứ nhất thời không có thực chất, chúng không bền bĩ!
2. Quyền thế và sự thống trị có thể là một thứ nhất thời, ngày nay chúng ta sẽ nắm quyền cai trị thế giới nhưng người duy nhứt có thực quyền là người biết cai trị chính linh hồn mình!
a. Nhiều chính phủ đã thay đổi trải qua dòng lịch sử, hệ thống nào là hệ thống chính đáng? KHÔNG MỘT HỆ THỐNG NÀO CỦA CON NGƯỜI vì họ sẽ qua đi theo dòng thời gian!
b. Người nầy có thể lâu dài hơn những người khác, nhưng sự thực, ấy là chỉ có những luật lệ cơ bản của Đức Chúa Trời mới đứng vững theo thời gian và đời đời mà thôi!
c. Tất cả những thứ nhất thời đều dẫn tới chỗ hư không theo thời gian, hết thảy chúng đều sẽ phá sản!
d. Những ngôi sao lớn ngày nay sẽ rơi rụng đi và sẽ bị thay thế bằng những ngôi sao mới, chu kỳ của những thứ nhất thời cứ sẽ tiếp tục.
MINH HOẠ. Một kẻ lười biếng ngồi dưới bóng cây mát rượi với cổ họng bị cắt đứt vào năm 1864. Tên và địa chỉ của kẻ vô thừa nhận kia đã được viết nghệch ngoạc trên giấy tờ của bịnh viện, họ cũng bỏ sót tuổi tác của hắn ta, nhưng dường như chẳng có ai quan tâm, rốt lại hắn bị xem là một kẻ lười. Sáng sớm, hắn đã nhảy ra khỏi giường và đã loạng choạng bước vào nhà tắm, rồi hắn gục chết ở đó. Ba ngày sau đó người đã chết từ chỗ suy dinh dưỡng, say sưa và mất máu. Một người bạn sau cùng đã đến và nhận ra anh ta, họ khám phá ra 38 xu trong túi của người nầy và một mẫu giấy, số tiền nầy thuê được thêm một đêm nữa ở phòng ngủ. Trên mãnh giấy kia có hàng chữ: “Những người bạn thân và các tấm lòng tử tế”. Phần đầu của một câu nói chưa hề xong trước khi người nầy gục chết ở tuổi 38. Anh ta đã hiến cho thế gian một trong những bài hát hay nhất của mọi thời đại: “Camtown Races”, “Oh Susanna”, “Jeanie with the light brown hair”, “My old Kentucky home”, và hàng trăm bài khác nữa; tên của anh ta là Stephen Foster, một người đã chết trong phá sản tư tưởng mà anh ta đã cung ứng cho thế gian những bài hát thật hay là kẻ nhất thời trong thời của mình – Nguồn vô danh
III. CỨU CHÚA CHẮC CHẮN (13.4-6)
A. Những điều cơ bản! (13.4)
1. Ở đây Đức Chúa Trời phán: “HÃY QUÊN NHỮNG THỨ MỐT NHẤT THỜI ĐI” ... “chỉ thờ phượng ta mà thôi!” Một mạng lịnh rất cơ bản!
a. Mỗi lần họ nhìn đi nơi khác để tìm kiếm sự thoả mãn, họ sẽ rơi vào rắc rối!
b. Mỗi “cứu chúa” khác mà họ hướng tới chỉ để làm cho họ bị phá sản và ở dưới vòng nô lệ!
c. Đấng giải cứu thực sự duy nhứt mà họ từng kinh nghiệm chính là Đức Chúa Trời!
2. Đức Chúa Trời nhắc cho họ nhớ họ đã ra từ đâu ... Ngài đã đem họ ra khỏi xứ Ai cập!
3. Không một vị thần “khích lệ” nào của Ai cập có thể giải cứu họ hay người Ai cập; chính quyền năng của Đức Chúa Trời là Cứu Chúa của họ đã buông tha cho họ!
4. Những thứ ấy sẽ lôi kéo sự chú ý của chúng ta ra khỏi Đấng Christ là Cứu Chúa trở thành một thứ mốt nhất thời mới!
a. Thời gian đã thử thách Chúa, Ngài luôn luôn thành tín với dân sự Ngài và Ngài không hề bỏ qua nhu cần được cứu của họ!
b. Lịch sử có rất nhiều trường hợp; họ chẳng được miễn trừ chi hết, tuy nhiên khi họ hướng sang các nguồn thoả mãn khác, họ chỉ khám phá ra sự phu tù và sự hư mất mà thôi!
c. Ôsê đang nài xin họ hãy nhớ lại điều cơ bản, hãy nhớ đến Đức Chúa Trời của Ápraham, Đức Chúa Trời của các tổ phụ họ trong lịch sử!
5. Hãy quên đi những thứ nhất thời, hãy bám lấy thời gian, thực tại đã được thử rèn, Đức Chúa Trời luôn luôn ổn định!
a. Đừng để bị áp lực phải chạy theo đám đông, hãy giữ con đường thẳng cho chính mình.
b. Thật là dễ chạy theo đám đông, nhưng không luôn luôn là khá hơn đâu!
MINH HOẠ. Một vài năm sau khi Liên Bang Sô viết vẫn còn là một quốc gia Cộng sản đầy quyền lực, trở nên một Cơ đốc nhân là một điều rất khó khăn. Trong một ngôi nhà thờ nhỏ nhóm lại dưới lòng đất vì sợ các tín đồ KGB đến nhóm, họ yên tĩnh dự những buổi thờ phượng. Họ sẽ đến với những nhóm nhỏ vào các thời điểm khác nhau để không làm cho người khác nghi ngờ. Gần lúc chạng vạng tối, họ sẽ có mặt ở đó và sẵn sàng khởi sự buổi nhóm thờ phượng. Thình lình ngay sau khi bài thánh ca đầu tiên đã được hát lên, có hai người với vũ khí tự động phá vỡ cửa đã khoá đột nhập vào rồi hô to lên: “Được rồi, ai nấy đứng xếp hàng quay mặt vào tường. Nếu tụi bay đoạn tuyệt với Đức Chúa Jêsus Christ, hãy rời khỏi đây liền”. Hai hay ba người rời khỏi đó, rồi người khác nữa, sau mấy giây nữa có thêm hai người ra đi. “Đây là cơ hội cuối của tụi bay; một là xây lại nghịch với đức tin nơi Đấng Christ”, người kia ra lịnh: “Hoặc ở lại rồi gánh chịu mọi hậu quả”. Có người khác đứng dậy và ra khỏi đó, sau cùng thêm hai người nữa rời khỏi đó, khi đi ra họ che mặt lại. Không một ai cử động, những người làm cha làm mẹ với con cái đang run rẩy bên cạnh chúng mặt nhìn xuống rất khẳng định. Họ trông mong mấy người kia nổ súng hay, tốt nhứt, là bị bắt dẫn tù. Sau vài phút im lặng hoàn toàn, người lính kia đóng cửa lại, nhìn lại mấy người đương đứng úp mặt vào tường rồi nói: “Cứ đưa hai tay lên ... nhưng lần nầy trong sự ngợi khen Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, hỡi các anh chị em! Chúng tôi, cũng là Cơ đốc nhân đây! Chúng tôi được phái đến nhà thờ khác cách đây mấy tuần để bắt một nhóm tín đồ”. Ở điểm nầy người lính kia ngắt ngang: “Nhưng thay vì thế, chúng ta đã trở lại đạo! Chúng tôi đã học bởi kinh nghiệm, tuy nhiên, trừ phi người ta bằng lòng chết vì đức tin của họ, họ không thể đáng tin cách trọn vẹn được”. Đây là lý do họ đã làm một số việc như vừa rồi! Họ không muốn dại dột ở gần những kẻ không phó thác trọn vẹn cho Chúa ... Đây là nhu cầu cơ bản của việc đồng đi với Đức Chúa Trời! – Nguồn vô danh
B. Lợi ích (13.5)
1. Đức Chúa Trời hiện hữu ở đó vì họ ngay giữa lúc kinh động của những cơn thử thách!
a. Ai đã tiếp trợ các nhu cần cơ bản của họ khi hị lưu lạc trong đồng vắng sau khi rời Ai cập? Chỉ có Đức Chúa Trời mà thôi!
b. Họ đã sống sót trên chuyến hành trình vì sự quan phòng đầy khôn ngoan của Ngài; mọi nhu cầu cơ bản của họ đã được Đức Giêhôva phu phỉ.
c. Họ không phải lo về ĐỒ ĂN, NƯỚC UỐNG, QUẦN ÁO, GIÀY DÉP, KẺ THÙ, HAY TÌM ĐƯỜNG ĐI, v.v… Đức Chúa Trời đã lo liệu hết mọi sự ấy!
2. Tuy nhiên, giờ đây các nhu cần nầy họ lại chuyển hướng cho các thần nhất thời kích động kia!
a. Họ từng hưởng lợi ích từ đức tin của họ, họ nhìn vào nơi khác để tìm kiếm điều gì đó kích động hơn!
b. Có bao nhiêu Cơ đốc nhân đã làm điều nầy hôm nay? Họ từng vượt qua được một thử thách khó khăn, họ càng luộm thuộm với sự cam kết đối với Đấng Christ và nhắm vào những việc vui chơi vào những ngày sa-bát!
3. Cái nền an ninh duy nhứt cho họ đứng được là cái nền mà Đức Chúa Trời đã luyện lọc bằng lửa, ngọn lửa thử thách đã qua đi rồi!
a. Họ đã chịu thử nghiệm trong đồng vắng, những thử thách nầy là đưa Ai cập ra khỏi tấm lòng của họ và dạy cho họ biết nương cậy vào Đức Giêhôva.
b. Nếu họ chuyển ra khỏi cái nền an toàn nầy, họ sẽ bị thiêu đốt khi những ngọn lửa phán xét xảy đến!
MINH HOẠ. Có hai người thợ săn ở trong khu vực đồng vắng bang Georgia, một ngày kia họ đi săn chồn trong vùng đất rộng lớn. Ở một khoảng xa xa, họ thấy một cụm khói lớn dậy lên, những ngọn gió thổi về hướng của họ. Thình lình họ nhận biết rằng họ không thể tránh được ngọn lửa, chỉ có một việc phải làm để được an toàn, họ đốt một ngọn lửa bao quanh họ thành một vòng tròn, không lâu sau đó ngọn lửa lớn kia ụp đến, và khi nó đến, nó thiêu đốt hết mọi thứ trên đường đi của nó ... di chuyển vòng quanh họ vì họ đã đốt một vòng tròn quanh nơi trú ngụ của họ rồi, họ được an ninh! Ngọn lửa không lướt qua ở chỗ lửa đã có mặt rồi. Thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ là cái nền đã bị thiêu cháy, những ngọn lửa phán xét của Đức Chúa Trời đã quét qua thập tự giá rồi thiêu đốt hết mọi thứ. Những người duy nhứt sẽ được an toàn một ngày kia khi những ngọn lửa phán xét đến sẽ là những người đứng gần thập tự giá của Chúa Jêsus, ở đây đã bị thiêu đốt rồi, và đây là cái nền an toàn duy nhứt! – Nguồn vô danh
4. Họ đã chuyển sang một cái nền mới, cái nền kích động và những thứ nhất thời; họ không được an ninh ở đây đâu!
a. Sứ điệp của Ôsê là một lời cảnh cáo, sự phán xét sẽ đến và khi nó đến họ sẽ không được an toàn nếu họ bất chấp những điều cơ bản, nếu họ chọn nắm lấy những thứ nhất thời của hình tượng họ sẽ bị thiêu đốt ngay.
b. Tất cả những lợi ích họ đã tìm được nơi Đức Chúa Trời sẽ bị mất hết nếu họ tách rời khỏi Đức Chúa Trời!
C. Phản bội (13.6)
1. Chắc thật như thế, Đức Chúa Trời đã đem đến cho họ sự thoả lòng lớn lao một thời, nhưng chính sự thoả lòng ấy đã khiến cho họ khao khát cái gì đó mới mẻ và khác biệt hơn, và điều chi đó kích động hơn ... hình tượng hay thứ gì đó lấp lánh!
a. Chính những tiện ích mà Đức Chúa Trời đã mang lại trên đường lối của họ đã tạo ra trong lòng họ sự kiêu ngạo thay vì biết cảm tạ.
b. Sự kiêu ngạo nầy đã dẫn họ đi tìm những lối riêng của mình!
2. Họ đã phản bội lại chính Đức Chúa Trời đã cứu chuộc họ; họ đã quên Đức Chúa Trời ở giữa chỗ họ buông lung theo mốt nhất thời mới mẻ ở trong xứ!
a. Điều nầy giống như chạy theo người yêu khác sau khi đã có gia đình rồi vậy!
b. Thực thế, Đức Chúa Trời đã yêu cầu Ôsê (các chương 1-3) phải lấy một kỵ nữ làm vợ, làm một tấm gương sống cho những gì Isarel đã làm.
c. Ôsê là một người chồng chung thủy và lúc đầu vợ ông cũng chung thủy nữa, nhưng rồi nàng đã tìm kiếm người yêu mới, kích động hơn ... sau cùng Ôsê mua nàng ra khỏi vòng nô lệ khi nàng bị phá sản ... khi ấy ông buộc nàng phải chịu giam hãm trong một thời gian. Liệu nàng có đồng ý với nổ lực cơ bản nầy để cứu nàng không? Liệu nàng có hiểu tình yêu chơn thật khác với tư dục không?
3. Họ không muốn suy nghĩ về sự cứu rỗi giàu ơn của Đức Chúa Trời, họ muốn làm thoả mãn những ham muốn riêng của họ mà thôi. Những thứ nhất thời đã thắng hơn đức tin! Những kết quả sẽ là mất mát kinh khủng; và thực vậy không lâu sau khi vương quốc phía Bắc nầy sụp đổ, không bao giờ chổi dậy được nữa!
MINH HOẠ. Mặc dù Đức Chúa Trời nổ lực qua Ôsê để nhắc cho họ nhớ họ đã được cưu mang nhiều là dường nào, họ chẳng muốn suy nghĩ đến việc ấy ... giống như người kia được nhắc tới trong một bài viết trên tạp chí Natoinal Geographic tháng 9 năm 1991. Một thanh niên từ Hannover, Pennsylvania đã bị thiêu cháy trong một vụ nổ bình hơi nước, để cứu mạng anh ta, các y bác sĩ đã bao anh lại bằng 6.000 cm2 da ghép, nhiều mẫu da có cỡ của một con tem từ lớp da chưa bị cháy của chính anh ta. Một nhà báo đến hỏi anh ta: “Anh có bao giờ nghĩ về người cho da ghép không, ai đã cứu anh?” Thanh niên kia đáp: “Được sống vì người cho da ghép đã chết là quá lớn, phải suy nghĩ nhiều về sự ấy, vì vậy tôi không suy nghĩ tới việc ấy đâu”. Anh ta chọn không biết tới việc ấy, vì vậy anh ta không phải trả lời về việc đó! Có bao nhiêu người làm như thế với lẽ thật nói về Đức Chúa Trời... Họ thử và bất chấp tình yêu thương của Đức Chúa Trời e rằng họ phải suy nghĩ về việc đáp ứng lại tình yêu đó. Họ gạt phăng sự ấy ra khỏi lý trí của họ! – Nguồn vô danh
4. Khi chúng ta chọn bất chấp những điều cơ bản, chúng ta sẽ tự tìm kiếm những thứ nhất thời!
5. Quí vị tìm gì, những thứ nhất thời hay đức tin nơi Đức Chúa Trời?
PHẦN KẾT LUẬN. Chúng ta bị cuốn vào cảm giác! Khi những nhu cần cơ bản được thoả, chúng ta thường có khao khát mới về một việc gì đó để đạt được cảm xúc nhiều hơn. Điều nầy trở thành nền tảng cho những việc nhất thời! Những thứ nhất thời hứa hẹn sự kích động nhưng để chúng ta lại trống không và hay thay đổi! Tuy nhiên đức tin neo chúng ta vào một cái nền vững chắc, nó giữ chúng ta được vững vàng luôn. Hãy quên “những thứ lấp lánh bề ngoài” đi ... hãy nắm lấy những gì giải cứu được nơi người bề trong!
***

“QUÊN BẢN NGÃ!”



“QUÊN BẢN NGÃ!”
Hê-bơ-rơ 13.9-16; Rôma 12.1-2

PHẦN GIỚI THIỆU. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ mà BẢN NGÃ đã trở thành vị thần hiện đại! Trước đây chưa bao giờ chúng ta có một kỷ nguyên buông thả nhiều như vậy. Những quyển sách nói về “tự lực cánh sinh” là loại sách bán chạy nhất, thường ở danh sách top 10 bán chạy nhất. Tất cả các loại chương trình tập luyện và bộ môn thể dục đã được tung ra cho những người nào muốn rèn luyện cơ thể của họ. Có quá nhiều tư vấn ngày nay cũng tỏ ra phong trào thiên về sự hiểu biết “bản ngã” nữa. Việc thiếu quan tâm đến nhau trong xã hội của chúng ta cho thấy chúng ta hướng nội nhiều vào bản ngã. Sự cuồng tín về bản ngã chỉ ra những chiều hướng hôn nhân của chúng ta bị tan vỡ, những đòi hỏi trong xứ sở nầy bởi nhiều nhóm khác nhau có quyền hạn tương đương bất kể lối sống của họ là gì, sự nuông chiều của xã hội đối với việc lập kinh nghiệm cá nhân thành kinh nghiệm chung nhất. Chúng ta đang sống trong thời đại khi “mọi người làm theo ý mình cho là phải!” Điều nầy đã xảy ra trước rồi trong lịch sử của thế giới! Nghĩa là nó xuất hiện trong cách người ta lẫn tránh những sự cam kết hầu cho họ sẽ được “tự do”.
Thật là mỉa mai, trong một thế giới bị ám ảnh với hạng người chuyên “tự lo” lại trống không đến như thế! Hình thái tự lo thực xảy đến khi chúng ta QUÊN BẢN NGÃ đi, chớ không phải khi chúng ta chiều theo bản ngã!
Chính bản chất của mọi hình thái cuộc sống là đặt bản ngã lên trước hết, nhưng Kinh thánh dạy cho chúng ta biết rằng khi chúng ta tiếp nhận bổn tánh mới trong Đấng Christ, chúng ta cần phải đặt bản ngã ở sau cùng! Chúng ta được kêu gọi phải quên bản ngã đi ... để rồi thực sự tìm thấy nó!
I. CON SINH (Hê-bơ-rơ 13.9-14)
A. Các nghi thức (13.9-12)
1. Người Pharisi và nhiều người khác đã gánh lấy nhiều đau đớn khi bước theo những nghi thức để tạo ra ý thức về sự cứu rỗi mặc dù đời sống tư riêng của họ thì đầy dẫy với những nuông chiều theo sự ích kỷ!
a. Trong khi những người Pharisi nầy mặc loại áo dài đặc biệt, ở bên dưới lớp áo dài nầy là hạng tội nhân gian ác mà họ đã xét đoán bằng nhiều giọng nói của họ!
b. Họ đã mang thẻ bài [phylacteries] (những cái hộp với nhiều câu Kinh thánh gắn ở bên trong) ở trên trán và cánh tay, tuy nhiên họ không làm theo những câu Kinh thánh ấy trong đời sống riêng của họ!
c. Họ rất cẩn thận rửa tay theo Luật Môise, tuy nhiên tâm trí của họ thì rất là ô uế!
d. Họ rất nghiêm khắc về sự thờ lạy vào ngày sa-bát, nhưng họ lại giận dữ với Chúa Jêsus khi Ngài chữa lành cho kẻ bịnh trong ngày Sa-bát, họ nghĩ không có ai nên làm việc trong nhà của Chúa, thậm chí là những việc lành như chữa bịnh cho người ta!
e. Họ rất cẩn thận về việc bày biện các thứ của lễ theo một phương thức đã định trước, nhưng họ không hy sinh bản thân mình cho người khác!
2. Tất cả các nghi thức trong thế gian sẽ không làm cho quí vị ra thuộc linh hơn bất luận là loại cấu trúc hệ phái nào mà họ thuộc về!
a. Quí vị có thể nếm trải các động lực của mọi nghi thức của ai đó và vẫn chưa kinh nghiệm được tính cách thuộc linh thực!
b. Người nào nương vào những nghi thức đều quên đi bông trái của con sinh thực.
MINH HOẠ. Người Pharisi đã lấy 10 điều răn và đã phá vỡ luật pháp của Đức Chúa Trời thành 613 mạng lịnh buộc người ta phải noi theo; các nổ lực lớn lao đã được thực thi để ôm lấy 613 điều luật nầy. Vấn đề, ấy là chỉ làm theo những điều luật nặng về nghi thức như thế nầy không đem lại sự hoà thuận với Đức Chúa Trời vì rất khó giữ được chúng cả thảy. Chúa Jêsus đã phán rằng hễ ai phạm một điều răn là phạm cả luật pháp. Giống như 613 điều luật nầy là những chuổi mắc xích, và quí vị đang nắm giữ sợi dây xích nầy ở trên miệng địa ngục – điều gì sẽ xảy ra nếu chỉ một mắc xích trong 613 mắc bị đứt đi? Dĩ nhiên là quí vị sẽ rơi xuống đấy mà thôi – Nguồn vô danh
3. Chúa Jêsus đã mở ra một con đường tốt hơn cho chúng ta thay vì chỉ có những nghi thức, Ngài đã tự hy sinh vì chúng ta và nhơn đó ban cho chúng ta SỰ CÔNG BÌNH thực chớ không phải chỉ là NHỮNG NGHI THỨC!
a. Ngài đã chứng tỏ phương thức làm phu phỉ bản ngã, là hy sinh bản ngã – hoàn toàn!
b. Chúa Jêsus đã chịu chết đối với bản ngã từ lâu trước khi lên thập tự giá, Ngài chỉ cho chúng ta thấy con đường đầy sự vui mừng và sự bình an thật!
B. Thực tế! (13.13-14)
1. Việc khó nhất phải làm là từ bỏ bản ngã, nó đi ngược lại chiều hướng mạnh nhất với sự sống của chúng ta – tự bảo tồn!
2. Chúa Jêsus bác bỏ mọi nghi thức về con sinh và chỉ ra một phương thức tốt hơn, dâng bản ngã như một con sinh!
a. Việc giết những con thú không làm cho con người phải trả giá bao nhiêu, nhưng việc ấy làm cho những con thú phải trả hết mọi sự!
b. Khi Đấng Christ dâng chính mình Ngài, việc ấy phải trả giá mọi sự, Ngài đã phó chính mình Ngài vì chúng ta!
3. Chúng ta rất thực tế, những con thú chỉ là các nghi thức mà thôi!
a. Là Cơ đốc nhân, chúng ta được kêu gọi phải trở thành những con sinh thực vì Vương quốc của Ngài.
b. Chớ không phải chỉ có chủ nghĩa hình thức!
MINH HOẠ. Trong phim “Shiokari Pass”, một thanh niên đã trở thành anh hùng. Anh ta đã chịu khó làm việc mỗi ngày để đến ngày anh và người yêu thành hôn với nhau. Thời điểm ấy sau cùng đã đến. Anh ta đã đi bằng xe lửa để đón người yêu rồi thành hôn với nàng khi có một sự ngăn chặn thình lình gần đỉnh núi. Khi anh chổi dậy nhìn thấy sự việc đã xảy ra, anh để ý thấy toa xe mà anh đang ngồi không cứ cách nào đó bị tháo rời ra với phần còn lại của chiếc xe lửa, không may thay, chiếc xe lửa đang trên bờ dốc của ngọn núi và giờ đây chiếc xe đang bắt đầu chạy ngược lại xuống chân núi một mình. Có nhiều người khác trên chuyến xe nầy cùng với anh. Vì đã làm việc cho hảng xe lửa nầy, anh biết rõ rằng ở đầu ngọn núi nầy có một chỗ cua gắt và đến lúc họ đến chỗ ấy xe chạy quá nhanh không thể phanh lại được. Anh trèo lên nóc toa xe tìm cách ổn định các hành khách ở bên trong bằng cách gạt thắng tay. Ngay cả với thắng tay đã gạt rồi chiếc xe vẫn lao đi với vận tốc quá nhanh và không thể làm cho chậm lại được. Ngay lúc ấy anh nhớ lại câu Kinh thánh mà anh rất ưa thích, “Chẳng có tình yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình”. Mặc dù anh đã có mọi sự cần phải lo liệu, anh nhảy vào đường ray và sử dụng chính thân thể mình tạo ra vật ngăn trở có cần để làm cho chiếc xe chạy chậm lại. Sự việc rất có hiệu quả! Mọi người đều sống, trừ ra anh ta! Anh ta đã hy sinh bản thân mình cho mọi người khác! – Nguồn vô danh
4. Chúa Jêsus đã đến không những chỉ dạy cho chúng ta biết phương thức đúng, mà còn tỏ ra cho chúng ta thấy phương thức đúng nữa!
Ngài là tấm gương cho chúng ta noi theo, điều nầy có nghĩa là hy sinh bản ngã!
b. Sự hy sinh của Chúa Jêsus là thực tế chớ không phải là một hình thức đâu! Ngài đã quên bản ngã để Ngài có thể cứu chúng ta!
MINH HOẠ. Giống như quyển tiểu thuyết của Charles Dicken có đề tựa là: “Câu chuyện về hai thành phố”, một thanh niên Pháp Aristocrat bị kết án phải chết bởi máy chém trong cuộc cách mạng đổ máu của người Pháp, án phạt của anh đã được quyết định căn cứ trên những tội ác mà tổ phụ anh nghịch lại giai cấp nông dân. Ngay trước giờ hành quyết, có bạn người Anh đến thăm, là người đã được cai ngục chấp nhận vì giống anh như đúc, họ tưởng là anh em song sinh với anh. Sau khi lính canh rời khỏi đó, người bạn đã mắng mỏ kẻ bị kết án với lời rủa sả và đổi y phục với người nầy. Kế đó, giả vờ là kẻ bị kết án tử hình, anh ta gọi cai ngục đến và xin cho “vị khách” vô tình của mình ra về vì anh ta buồn rầu lắm. Thế là kẻ quí tộc kia đã được cứu ra khỏi sự chết bởi sự hy sinh nầy. Trên đường ra máy chém chàng thanh niên người Anh thốt ra những lời lẽ sau cùng nầy: “Đây là một việc sâu xa mà tôi đang làm, hơn những gì tôi đã làm trước đây...”. Khi ấy anh ta tự yên ủi mình bằng lời lẽ nầy: “Ta là sự sống lại và sự sống”, Chúa phán: “Người nào tin ta sẽ sống dù đã chết rồi” Giăng 11.25 – Nguồn vô danh
5. Chúa Jêsus không những rao giảng việc hy sinh bản thân, mà Ngài còn chứng tỏ nó, và chúng ta được kêu gọi phải sống giống như thầy của mình!
6. Cơ đốc giáo không có gì khác biệt với hầu hết các tôn giáo của thế gian nầy nếu chúng ta không thực hiện sự hy sinh thực!
a. Thế gian rất giỏi trong các nghi thức.
b. Cơ đốc nhân phải giỏi ở chỗ hy sinh thực!
II. MỘT CON SINH (Hê-bơ-rơ 13.15-16; Rôma 12.1-2)
A. Chuộc tội (Hê-bơ-rơ 13.15-16; Rôma 12.1-2)
1. Khi Chúa Jêsus tỏ ra phương thức bằng cách sống HY SINH, chúng ta phải trở thành một con sinh!
2. Sự hy sinh của Chúa Jêsus có tính cách chuộc tội, chính vì nhiều người khác mà Ngài đã chịu chết bản ngã; chúng ta được kêu gọi phải trở thành hạng người cứu chuộc và hy sinh bản ngã cho tha nhân nữa.
3. Quên bản ngã đi không phải là phần việc dễ dàng, nó đòi hỏi sự khiêm nhường, để trở thành một tôi tớ, để hầu việc!
MINH HOẠ. Một sinh viên trong một trường Kinh thánh tại Phi luật Tân đã gặp rắc rối về tình trạng của những phòng vệ sinh nam, khi họ luôn luôn chễnh mãng trong việc làm sạch sẽ. Khi không có một việc gì được thực thi để giải quyết vấn đề dơ bẩn, anh bèn đến gặp vị Hiệu trưởng trường và than phiền. Một lát sau, anh để ý thấy có nhiều việc đã thay đổi khá hơn và một ngày kia anh tìm ra lý do, anh để ý thấy người cầm dụng cụ đi dọn dẹp chính là Thầy Hiệu trưởng! Sau đó anh sinh viên nầy bình luận: “Tôi tưởng ông ấy sẽ gọi viên giám thị, nhưng ông tự làm sạch các phòng tắm, đây là một bài học chính cho tôi trong việc trở thành một đầy tớ và dĩ nhiên điều nầy dấy lên thắc mắc trong đầu tôi là tại sao tôi không giải quyết vấn đề!” – Nguồn vô danh
4. Quên đi bản ngã không phải là một phần việc dễ dàng, nhưng đây là vai trò cứu chuộc mà chúng ta được kêu gọi phải làm!
5. Việc chạy theo những nghi thức của chúng ta chẳng làm được một điều chi cho Chúa cả, chỉ có những việc chúng ta làm bao gồm những sự hy sinh thực mới tạo ra một sự khác biệt!
6. Loại hy sinh mà Chúa Jêsus đẹp lòng chẳng có gì phải làm với việc hy sinh các con vật, có việc phải làm với việc từ bỏ bản ngã!
7. Đức Chúa Trời không vui thích nơi những của lễ chết, Ngài muốn những của lễ sống! (Rôma 12.1)
a. Của lễ là thứ mà quí vị đang bỏ đi!
b. Chúng ta được kêu gọi trong vai trò Cơ đốc nhân phải quên đi bản ngã, phải dâng “bản ngã” như một của lễ thật!
c. Của lễ nầy đẹp lòng Đức Chúa Trời và là sự phục vụ khả thi của chúng ta đối với Đức Chúa Trời; Phao-lô nói chúng ta cần phải làm điều nầy!
d. Vấn đề duy nhứt với một “của lễ sống”, ấy là chúng có khuynh hướng bò xuống khỏi bàn thờ mọi lúc khi có hơi nóng!
MINH HOẠ. Khi David Livingstone xâm nhập vào lòng châu Phi với Tin lành, ông có một cộng đồng truyền giáo, họ viết cho ông một là thư với yêu cầu như sau: “Ông có tìm được một con đường nào tốt đi tới nơi ông đang sống không? Nếu có, chúng tôi muốn gửi cho ông một số người hiệp cùng ông trong công tác truyền giáo”. Livingstone phúc đáp như sau: “Nếu quí vị có một số người sẽ đến, nếu họ chỉ biết có một con đường nào tốt thì tôi không cần tới họ. Tôi cần những người sẽ đến nếu chẳng có một con đường nào hết!” Đây là sự hy sinh bản ngã! – Nguồn vô danh
B. Đổi mới (Rôma 12.2)
1. Quên đi “bản ngã” không phải là phần việc dễ dàng, lối suy nghĩ của thế gian đi ngược lại việc làm đó; khuôn mẫu của đời nầy là suy nghĩ tới “bản ngã” trước tiên!
a. Vì vậy, làm sao chúng ta mong hoàn thành phần việc quên đi bản ngã?
b. Điều nầy cần phải có một quá trình biến đổi mọi tư tưởng của chúng ta!
2. Tấm gương của Chúa Jêsus và Lời của Đức Chúa Trời là những phương tiện cho sự biến đổi suy tưởng của chúng ta; Đức Thánh Linh là quyền phép ở đàng sau quá trình ấy!
a. Cho tới chừng nào chúng ta khởi sự suy tưởng khác với thế gian nầy, cách xử sự của chúng ta sẽ không có gì khác biệt!
b. Được cứu là một khởi sự tốt, nhưng việc nghiên cứu Lời của Đức Chúa Trời là cần thiết cho sự biến đổi cách xử sự của chúng ta!
c. Sự cứu rỗi không phải là một phương cứu chữa máy móc dành cho mọi vấn đề cư xử của chúng ta; những điều nầy trở thành một phần trong quá trình Thánh Linh Đức Chúa Trời làm đổi mới tâm trí của chúng ta và chính chúng ta qua thời gian!
3. Sự biến đổi chỉ khả thi ở chỗ sự đổi mới trong tâm trí chúng ta đang diễn ra! (12.2)
4. Chúng ta từng suy nghĩ giống như những công dân của Nước Trời, chúng ta sẽ hành động giống như họ!
a. Điều nầy công nhận tầm quan trọng của việc dạy dỗ con cái của chúng ta bằng Lời của Đức Chúa Trời từ lúc chúng còn nhỏ, chúng học biết phải sớm suy nghĩ đến “Nước Trời”!
b. Chúa Jêsus phán như thế nầy: “người ta suy nghĩ trong lòng thế nào, thì người quả thế ấy!”
5. Khi chúng ta suy nghĩ giống như Chúa Jêsus, suy nghĩ ấy hoàn toàn có quyền năng; sẽ dễ dàng quên đi bản ngã khi chúng ta suy nghĩ giống như Đấng Christ!
MINH HOẠ. Một cô bé cấp một tham dự ngày “điền kinh” của trường. Nó dành được vài sợi ruy băng, giữa số đó là sợi ruy băng màu xanh cho hạng nhứt. Cuối ngày ấy khi nó về nhà thì chẳng thấy sợ ruy băng màu xanh đâu cả, và vì thế mẹ nó hỏi: “Sợi ruy băng màu xanh cho hạng nhứt đâu con?” Cô bé nói có một bạn tên là Bruce đã kêu khóc vì nó chẳng đoạt được sợi ruy băng hạng nhứt đó, vì thế cô bé đã cho cậu ta sợi ruy băng ấy rồi. Mẹ nó ôm ghì lấy nó và nói cho nó biết bà nghĩ rất tốt khi con gái bà làm như vậy. Con gái bà khi ấy nói: “Tại sao không, rốt lại, con biết con đã đoạt được sợi ruy băng ấy rồi!” Cậu bé kia có sợi ruy băng, nhưng cô bé nầy đã có phần chiến thắng! – Nguồn vô danh
6. Theo phân đoạn Kinh thánh nầy của Phao-lô (Rôma 12.2) quí vị sẽ thử ý muốn của Đức Chúa Trời trong đời sống của quí vị nếu quí vị học biết quên bản ngã đi!
a. Quí vị sẽ đạt được “ý muốn trọn vẹn” của Đức Chúa Trời (12.2b)
b. Hãy chú ý chúng ta “thử ý muốn của Ngài” ... chớ không phải Ý MUỐN CỦA CHÚNG TA!
c. Cách duy nhứt làm theo ý muốn CỦA NGÀI là không làm theo ý muốn CỦA CHÚNG TA! Làm theo điều nầy đòi hỏi chúng ta phải quên đi bản ngã của mình!
7. Cái điều mỉa mai của mọi sự nầy, ấy là chúng ta càng quên bản ngã nhiều chừng nào, chúng ta càng tìm thấy bản ngã của mình nhiều chừng nấy! Khi nó trống trơn, Đức Chúa Trời sẽ làm đầy dẫy nó bằng CHÍNH MÌNH NGÀI!
PHẦN KẾT LUẬN. Sự cám dỗ của Êva là phải làm một việc gì đó cho “bản ngã” của nàng – ấy là quên Đức Chúa Trời! Ở nền tảng của mọi tội, chúng ta tìm gặp “bản ngã”. Mặt khác, Chúa Jêsus đã “trống không” hay đã quên “bản ngã” và khi làm như vậy Ngài đã đem lại sự cứu rỗi cho chúng ta. Đời sống có đức tin là một sự kêu gọi phải quên đi “bản ngã”, phục vụ Đức Chúa Trời và tha nhân. Mỉa mai thay, người nào quên bản ngã lại thấy đầy bản ngã nhất!
***

“HÃY QUÊN NHỮNG KẺ GIẢ MẠO!”



“HÃY QUÊN NHỮNG KẺ GIẢ MẠO!”
Giêrêmi 23.25-40
PHẦN GIỚI THIỆU. Có bao giờ quí vị mua một thứ hàng nhái chưa, một thứ giả mạo ấy mà? Những thứ hàng giả mạo đang tìm cách và trông giống như hàng thật, từng nổ lực được thực thi để có được những thứ nhái theo, mô phỏng sao cho giống như hàng thật vậy, tất nhiên là trừ ra giá cả, những thứ hàng nhái thì rẽ hơn và thời hạn sử dụng thường tỏ ra bằng chứng của chất lượng kém hơn đó.
Những thứ giả mạo luôn luôn đến từ một cái nhãn ghi giá thấp, đó là điều chào mời đối với người nào không muốn đưa ra một cam kết chắc chắn hoặc trả một giá cao, nhưng muốn người khác nghĩ đấy là thứ hàng mua sắm được!
Sứ điệp nói tới kẻ giả mạo không phải giống như sứ điệp nói tới người thật được ... nếu quí vị cần phải trao cho người tình của mình một chiếc nhẫn hột xoàn cở lớn và sau đó nàng khám phá ra đấy chỉ là một chiếc nhẫn bạch ngọc (một thứ hột xoàn giả trông đẹp y như thật vậy!) những cơ hội mà người yêu của quí vị sẽ không còn cảm nhận về quí vị đúng y như nàng đã có khi nàng tưởng đấy là một viên hột xoàn thật!
Không một sự giả mạo nào từng “xịn” giống như hàng thật được! Điều nầy là thực trong lãnh vực thuộc linh nữa. Ngày nay chúng ta đang sống trong một thời điểm khi có một sở thích tươi mới trong những vụ việc thuộc linh, sở thích lớn lao trong phong trào kỹ nguyên mới và các phong trào thần bí. Tuy nhiên, những gì hạng người nầy nhận lấy không có gì tốt hơn một sự giả mạo rẽ tiền về những năng động trong lãnh vực thuộc linh.
Bất cứ điều chi trừ ra huyết của Đức Chúa Jêsus Christ đúng là một sự giả mạo rẽ tiền! Vì sự giả mạo ấy làm cho quí vị cảm thấy yên tâm, trông phẳng lặng đấy, và những người khác đều là dại dột cả; nhưng khi nó phải đối mặt với thời gian và cõi đời đời, nó sẽ tỏ ra chất lượng kém cõi của nó!
Kinh thánh dạy chúng ta phải dẹp bỏ các thứ giả mạo, phải quên chúng cùng những lời hứa về sự sống thuộc linh dễ dàng của chúng. Món trang sức thật chính là Tin lành mà Chúa Jêsus và Kinh thánh đã giới thiệu, mọi sự khác là con người đã làm ra những thứ giả mạo rẽ tiền – “chẳng một thứ chi trừ ra huyết, chẳng một thứ chi trừ ra huyết của Chúa Jêsus!”
I. MÊ TÍN ĐỐI CHIẾU VỚI SIÊU NHIÊN! (23.25-29)
A. Tính quần chúng (23.25-27)
1. Có một sự khao khát mới mẻ trong xứ đối với những vụ việc thuộc linh và có nhiều thứ “giả mạo” xoay quanh để khai thác nỗi khát khao mới mẻ nầy.
a. Có hàng trăm “nguồn kênh” với dịch vụ vài trăm USD cho một buổi trao đổi hầu giúp cho quí vị lắng nghe từ lãnh vực tâm linh.
b. Đúng vậy, có hàng ngàn người đến với loại “chủng viện tâm linh” nầy và bỏ ra hàng triệu USD mỗi năm để lắng nghe từ những linh được gọi là “Rampha” và một loạt những thứ huyền bí đáng sợ khác gọi là tâm linh với những danh xưng huyền bí đáng phải run rẩy.
c. Lao đi với chiếc phi cơ tâm linh ngày nay một lần nữa rất được người ta ưa thích và nhiều “tiên tri giả” đã xuất hiện để chơi đùa với hạng khán thính giả đó!
2. Điều nầy chẳng có gì mới đối với loài người, luôn luôn có một sự thử thách muốn cung ứng cho người ta những gì họ muốn nghe, để LÀM THOẢ MÃN thay vì CỨU RỖI!
3. Giu-đa là một dân sống xa cách đối với Đức Chúa Trời trong thời của Giêrêmi và Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông phải ra đi, cảnh cáo họ về sự phán xét hầu đến nếu họ tiếp tục đưa ra những sự lựa chọn nghèo nàn và bất chấp Lời của Đức Chúa Trời.
a. Sứ điệp hay sự kêu gọi nầy đến từ Đức Chúa Trời khiến cho họ phải ăn năn, tuy nhiên lại chẳng được nhận lãnh đàng hoàng, họ muốn sống theo cách họ ưa thích, họ không muốn nghe về sự ăn năn, hay cam kết, hoặc hy sinh, hay cảm tạ, v.v…
b. Kết quả đã được nói trước, họ tìm cách gạt bỏ Giêrêmi thay vì những đường lối tội lỗi của họ, và họ đã tập trung nhiều “tiên tri”, những tiên tri nầy sẽ nói cho họ nghe những gì họ muốn nghe, đây là hạng “tiên tri nói tiên tri vì lợi nhuận!”
c. Những người nầy cũng được gọi là tiên tri, họ nói cho dân sự những gì dân sự muốn nghe, dân sự cứ sống theo ý họ muốn, dân sự sẽ chẳng phải vâng theo một bộ luật lỗi thời bao lâu họ chẳng làm tổn thương ai, dân sự có thể làm phu phỉ thứ tình cảm nào mà họ đã chọn, rốt lại … Đức Chúa Trời đã nói cho họ biết y như các tiên tri nói cho mọi người biết vậy!
(1. Họ đang nói: “Ta có chiêm bao, thật, ta có chiêm bao!” (23.25)
(2. Họ vốn biết rõ nghe về mặt thuộc linh và tương giao với Đức Chúa Trời là như thế nào rồi, nhưng họ chỉ chia sẻ những ảo tưởng trong tâm trí gian ác của họ mà thôi!
4. Chúng có tác dụng như thế nào!?! Phải! Họ đang dẫn dắt xứ Giu-đa xa khỏi Đức Chúa Trời và Lời của Ngài!
a. Những kẻ giả mạo rất linh lợi, họ biết rõ dân sự muốn nghe cái gì và họ được ưa thích vì đã cung ứng những gì họ biết người khác mong muốn nghe.
b. Qua quá trình nầy, họ trở nên tự lừa gạt mình nữa, họ chỉ vào sự nhơn đức mà họ tưởng họ đem lại như sự xưng công bình cho những gì họ làm.
MINH HOẠ. Trong câu chuyện hài hước, đây là ngày đầu tiên nhập trường, các học trò được yêu cầu phải viết một tiểu luận về việc trở lại trường sau mùa hè. Trong bài luận của mình, Lucy đã viết: “Những kỳ nghỉ thật là tuyệt vời, nhưng thật là tốt khi phải quay trở lại với nhà trường. Chẳng có điều chi làm thoả lòng hay đáng thách thức hơn là đi học, và em đang nhìn tới đàng trước, một năm mở mang kiến thức”. Không cần phải nói, giáo viên vốn đẹp lòng với Lucy và hết lời ca ngợi bài luận văn rất hay của nó trước lớp học. Trong phần kết của câu chuyện hoạt hình nầy, Lucy đang nghiêng mình vào Charles Brown rồi thỏ thẻ: “Chờ một chút, bạn đang học những thứ mang bán được đấy” – Nguồn vô danh
5. Qua việc nói đi và nói lại những sự hiện thấy giả dối của họ, họ hy vọng bản thân họ sẽ nhận được một sự tăng vọt dài hạn về mặt tài chính. Chắc chắn là dân sự sẽ bất chấp Đức Chúa Trời chơn thật và mua lấy những mặc khải của họ nếu họ cứ nhai đi nhai lại cho dân sự đủ!
6. Những tiên tri giả nầy chỉ nhắm tới sự được lòng người và tiền bạc, chớ không nhắm vào con người! Họ là một sự bắt chước rẽ tiền đối với những gì phải có nơi một vị tiên tri thật.
B. Quyền năng! (23.28-29)
1. Tuy nhiên, một vị tiên tri thật thì khác biệt dường bao, sứ điệp của ông là sứ điệp có QUYỀN NĂNG thực, chớ không phải là một nổ lực để ĐƯỢC LÒNG NGƯỜI TA!
2. Đức Chúa Trời không e sợ các tiên tri giả, đồng thời các sứ điệp của họ sẽ được tỏ ra chúng thực sự giống với cái gì – trống không! Ngài khích lệ Giêrêmi cứ lo rao giảng cho dù không được lòng người; Lời của Đức Chúa Trời sẽ không phải là vô quyền đâu!
a. Sự phân biệt giữa hai hạng người đã được đưa ra giống như sự phân biệt rơm rạ với lúa mì! Nói chung hai thứ nầy có gì ... CHẲNG CÓ GÌ HẾT! Một con vật chỉ ăn rơm rạ sẽ chết trong tình trạng suy dinh dưỡng, mặc dù nó sẽ thấy mình rất no sau mỗi bữa ăn! Nó có thể ăn thật no rồi cảm thấy thoả mãn, nhưng rơm rạ chẳng có một giá trị dinh dưỡng nào hết!
b. Mặt khác, lúa mì không những làm cho con vật được no nê, nhưng lúa mì sẽ làm cho con vật được lớn lên mạnh mẽ.
c. Trong khi người ta cảm thấy ngay tức khắc được no nê với những sứ điệp giả mạo nầy, họ sẽ thấy họ sống không có sức lực khi những trăn trở hiện đến! Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể thực sự giải cứu họ, và Lời của Ngài là bánh duy nhứt cho linh hồn họ, Lời ấy có giá trị dinh dưỡng cho nó!
d. Điều nầy vẫn còn rất thực hôm nay, phải, có nhiều giọng hứa hẹn sự phu phỉ hôm nay bên cạnh Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ, nhưng hết thảy họ đều là “cò mồi” và đến cuối cùng sẽ lộ ra là chẳng có một giá trị đời đời nào cả.
3. Quí vị không phải là hạng triết gia xuất sắc để thách thức các giáo sư giả của đời nầy, chỉ lo chia sẻ lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời, Lời ấy theo thời gian sẽ tự minh chứng mình!
a. Lời của Đức Chúa Trời giống như một ngọn lửa thật, chớ không phải chỉ là một hình ảnh nói về lửa giống như các sứ điệp của tiên tri giả.
b. Lời của Đức Chúa Trời giống như búa có thể đập vỡ hay chà nát, Lời ấy có quyền năng thực sự! (23.28-29)
4. Đừng bao giờ xem thường năng lực lòng tin cậy nơi Lời Đức Chúa Trời của quí vị, thậm chí khi quí vị không thể giải đáp từng thắc mắc mà thế gian đặt ra!
MINH HOẠ. Giống như câu chuyện nói về một Cơ đốc nhân sống vào thế kỷ thứ Tư có tên là Telemachus. Anh là một ẩn sỉ người Á châu sống trong một ngôi làng xa xôi thuộc đế quốc La mã; gần như anh chỉ ở trong vườn và chuyên cầu nguyện nhiều. Ngày kia, khi đang cầu nguyện, anh cảm thấy Đức Chúa Trời đã kêu gọi anh phải đi đến Rome, vậy anh đã đi bộ đến đó. Sau vài tuần lễ đi đứng khó nhọc, anh đã đến tại Rome đúng lúc để nhìn thấy những dòng người đang hướng về điện Coliseum. Anh đi theo đám đông lấy làm lạ không biết có chuyện gì phấn khích đây! Anh nhìn thấy những đấu sĩ đang đứng trước mặt Hoàng đế và nghe họ tung hô: “Chúng tôi là những kẻ sắp chết chúc mừng vua”. Khi ấy anh nhận ra những người nầy sắp sửa đánh nhau cho tới chết trong sự giải trí của đám đông. (Bạo lực vẫn còn hiệu lực trong giải trí hôm nay!) Anh không thể đứng yên để cho mọi sự nầy xảy ra, anh chạy ùa tới sân đấu rồi bắt đầu hô to lên: “Nhơn danh Đấng Christ, hãy dừng lại!” Những đấu sĩ và đám đông lúc đầu tưởng đây là một phần của buổi trình diễn, và vì vậy họ bắt đầu cười cợt nơi cảnh kẻ không vũ trang nầy dám thách thức tất cả các đấu sĩ nầy và Hoàng đế Rome trong danh của Đức Chúa Jêsus Christ! Khi các trận đấu bắt đầu, anh cứ giữ việc hô to lên và giờ đây đám đông đã trở giận đối với anh ta, và họ khởi sự phản đối trong giận dữ! Khi anh cố gắng nài xin một lần nữa với các đấu sĩ phải nên dừng lại, một trong số họ đã phóng thanh gươm vào cơ thể anh, anh ngã gục xuống đất khi đám đông bắt đầu yên lặng. Lời nói sau cùng của anh là: “Nhơn danh Đấng Christ, hãy dừng lại!” Khi ấy có một việc kỳ lạ đã xảy ra, các đấu sĩ đứng yên lặng nhìn xem thi thể không còn sự sống của anh, một sự im lặng phủ khắp cả đấu trường Coliseum, và một công dân La mã gần đỉnh đấu trường từ từ vẹt đám đông đi xuống! Rồi từng người một nối nhau đi trong im lặng. Năm ấy là năm 391 SC, không hề có một trận đánh nào cho tới chết tại đấu trường Coliseum La mã nữa, Telemachus là người chết cuối cùng, một chiến binh vì cớ Đấng Christ, lời kêu gọi đơn sơ của anh nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ đã có quyền năng chấm dứt nhiều thế kỷ cách ứng xử hung bạo! Đó là quyền năng! – Nguồn vô danh
5. Trong khi sự rao giảng trung tín của Giêrêmi không phải diễn ra trong một phút, thời gian sẽ tỏ ra lẽ thật của sứ điệp ông rao giảng nghịch lại với các sứ điệp của những tiên tri giả!
6. Giêrêmi không nhất thiết phải minh chứng là sai trong mọi điều các tiên tri giả đã nói, nhưng công việc của ông không những là chứng minh chúng sai trật, mà còn phải lo rao giảng điều chi là đúng nữa! Đức Chúa Trời sẽ bảo hộ chính Lời của Ngài khi thời gian tiếp tục trôi qua!
a. Việc rao giảng lẽ thật không làm cho Giêrêmi được ưa thích đối với dân sự, ông có quan trọng hay được lòng người hay không, ông đã bị chính dân mình thù ghét nặng nề lắm!
b. Điều nầy làm tan vỡ tấm lòng ông; ông được gọi là vị “tiên tri hay than khóc!”
c. Nhưng đúng là một sự khác biệt giữa ông và các tiên tri giả, họ chỉ lo về việc được lòng người ta còn ông thì lo về dân sự nhiều đến nỗi trong một dịp kia, khi Đức Chúa Trời nỗi giận nơi sự loạn nghịch của họ và yêu cầu Giêrêmi không nên cầu nguyện cho dân sự nữa, không cứ cách nào Giêrêmi đã cầu thay cho họ! Giêrêmi 14.7, 20. Quả thực, Đức Chúa Trời bảo ông ba lần không nên cầu thay cho dân sự, nhưng ông vẫn cầu nguyện! (7.16; 11.14; 14.11). Đúng là một sự khác biệt giữa ông và các tiên tri giả!
II. BÀY TỎ đối chiếu CHẤT LƯỢNG (23.30-40)
A. Giả dối! (23.30-32)
1. Giờ đây Giêrêmi ghi lại phản ứng của Đức Chúa Trời đối với các tiên tri giả nầy, những kẻ giả mạo!
a. Ba lần Đức Chúa Trời phán: “Nầy, ta nghịch cùng những kẻ tiên tri nầy” (23.30,31,32)
b. Trong các tác phẩm cổ, sự lặp đi lặp lại giống như vầy có nghĩa là phần nhấn mạnh, đặc biệt trên hành động đã được nhấn mạnh!
c. Mục đích, Đức Chúa Trời đã chống lại các tiên tri nầy! Không phải một nơi đẹp đẽ để sinh sống đâu!
2. Họ chẳng được ích lợi gì cho dân sự hay cho bản thân họ, nếu như họ lo làm giàu trong khoảnh khắc ấy!
3. Theo thời gian, Đức Chúa Trời sẽ xử lý họ và bày tỏ ra sự gian ác của họ, họ sẽ không còn làm cho dân sự ra dại dột cho đến đời đời, họ sẽ bị bày ra!
MINH HOẠ. Ngày 15 tháng 7 năm 1993 vừa qua, Peter Levine viết: “Phòng họp Ban Giám đốc báo cáo”. Khi giới chức cảng New York và New Jersey chạy tấm quảng cáo “cần người” các nhân viên điện lực với sự tinh thông sử dụng những cầu nối điện sontag, nó nhận 170 đáp ứng từ những cá nhân nào xưng mình là chuyên gia trong lãnh vực nầy, mặc dầu không có một việc gì giống như các cầu nối sontag hiện hữu! Giới chức cho chạy quảng cáo để tìm coi có bao nhiêu kẻ lộ diện họ là những tay giả dối! – Nguồn vô danh
4. Vua Solomon đã kinh nghiệm tình trạng hư không của sự khôn ngoan đời nầy, ông đã thử và tìm ra nó tất cả chỉ là hư không! Phần kết luận của ông: “hãy kính sợ Đức Chúa Trời và vâng giữ các điều răn của Ngài!”
a. Đức Chúa Trời không đứng yên cách thụ động trong khi mọi kẻ giả mạo nầy đang làm công việc của họ.
b. Thì giờ đến sẽ bày tỏ ra chúng cả thảy và tỏ ra sự tan vỡ của mọi đường lối của họ!
B. Làm vấy bẫn! (23.33-38)
1. Vấn đề không những là các tiên tri giả, dân sự đã sống xấu xa, họ thường xuyên hỏi: “Đâu là gánh nặng?” (23.33). Họ muốn hết thảy những lời tiên tri giả dối giật gân nầy.
a. “Hỏi những đầu óc muốn biết!” … họ đã ăn món nầy từ các tiên tri giả!
b. Họ thấy những sự hiện thấy giả dối đang kích động và câu nhử!
c. Họ là những “tay cầu hỏi thuộc hàng quốc gia” những độc giả của thời đại, chuyên môn kích động!
2. Xứ sở đã bị vấy bẫn với mọi hình thái thần bí và vô nghĩa nầy, ngay cả các trung tâm thờ lạy đang sử dụng hình thái nầy.
a. Xưa không giống như ngày nay, chúng ta có TV cáp những đường dây nóng tâm linh, quí vị có thể nhấc máy gọi và nhận được một bài đọc, những kênh nầy rất được quần chúng ưa chuộng!
b. Các Hội thánh của chúng ta ngày nay đang lìa bỏ Tin lành thanh sạch và sử dụng đại lộ Madison để xây lên các ngôi nhà thờ của họ; những lần kỷ niệm các tên tuổi lớn, các đề tài huyền bí, và người làm trò tiêu khiển cùng bộ môn giải trí đang lôi kéo nhiều đám đông!
3. Đức Chúa Trời vốn căm ghét sự bẫn thỉu nầy! Ngài cũng lấy làm thất vọng với các tiên tri giả nầy, họ đã làm nhiều việc tốt như vậy, nhưng đã bị bán cho đòi hỏi được lòng người!
MINH HOẠ. Không giống như một người có tên là Latimer, một trong những nhà cải chánh người Anh, ông đã có phần việc khó là giảng đạo cho những kẻ ưa thích Vua Henry VIII ... Vua nầy vốn thích giết những người vợ của mình, quí vị nhớ đấy! Một ngày kia, ông đã giảng về các điều ác của Vương quốc Anh và ông nghe một giọng nói đứng gần đấy thì thào với ông: “Latimer, Latimer, Vua Anh đang có mặt ở đây … Hãy coi chừng những gì mình nói”. Giống như sợ hãi bắt đầu thử thách ông phải dốc đổ sứ điệp của mình, ông nghe một giọng nói khác, êm dịu nhỏ nhẹ thì thầm với ông: “Latimer, Latimer, Latimer, Vua của các Vua đang hiện diện ở đây, hãy coi chừng những gì ngươi nói!” … Và ông từ chối không dám làm cho sứ điệp phải nhẹ bớt đi! – Nguồn vô danh
4. Chúng ta đang sống trong thời buổi khi áp lực làm nhẹ bớt lẽ thật đang hiện hữu ở khắp mọi nơi! Chúng ta sợ không muốn thấy người câm nếu chúng ta cứ chờ đợi Lời của Đức Chúa Trời khi chúng ta không thể trả lời từng câu hỏi mà thế gian đưa ra, nhưng chúng ta không rơi vào trong áp lực nầy, Chúa Jêsus không trả lời từng nan đề khi Ngài đến! Ngài đến để chịu chết và đã sống lại để cho chúng ta được cứu, trong khi Ngài không trả lời cho mọi thắc mắc của toàn thể nhân loại, Ngài đã trả lời cho mọi nan đề của toàn thể nhân loại – vấn đề tội lỗi!
5. Còn quan trọng hơn thế nữa, chúng ta cứ lo rao giảng lẽ thật cho người thế gian nhiều hơn khả năng trả lời mọi câu hỏi khó mà họ đã đưa ra!
a. Chúng ta không thể trả lời sao cho hợp lý tất cả những thắc mắc của họ, chúng ta cần phải thành thật về điều đó, chương trình của Đức Chúa Trời phải có Đấng Christ chịu chết vì tội lỗi chúng ta được gọi là “lẽ mầu nhiệm của sự tin kính”.
b. Nhưng chúng ta có thể trả lời cho một câu hỏi mà họ cần được trả lời: “Tôi phải làm gì cho được cứu?”
6. Cứ giữ việc đánh trận với sự ô uế của thế gian nầy, hãy đứng nghịch lại nó, hãy nhớ: “Dennis, Dennis, Dennis, Vua các vua đang hiện diện ở đây, hãy coi chừng những gì ông nói!” (Điền vào bằng tên của chính quí vị!)
7. Họ đang lựa chọn sự ô uế cao hơn sự thanh sạch! Điều nầy khiến cho họ phải trả giá bằng sức khoẻ thuộc linh của họ – rõ ràng là như vậy đó! Đức Chúa Trời đã nhiều lần cảnh cáo họ phải bất chấp các tiên tri giả nầy với các sứ điệp giả hiệu của họ. Giá thành cho việc bất chấp lời khuyên ấy là chỉ còn quanh quẩn trong một góc nào đó mà thôi – sự phán xét!
C. Giá thành! (23.39-40)
1. Sẽ tới một thời điểm khi bất chấp những lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời, họ phải trả giá!
a. Sôđôm và Gômôrơ có thể nói cho quí vị biết về sự thực nầy!
b. Dân sự trong thời của Nôê có thể nói cho quí vị biết sự thực nầy rất thực là dường nào, họ đã bất chấp sự giảng dạy của Nôê trong một thế kỷ trước khi tất cả họ đều đã bị hư mất!
c. Israel và Giuđa là hai nước có thể nói cho quí vị biết điều nầy có thực là dường nào – họ đã bất chấp các vị tiên tri do Đức Chúa Trời sai đến cho tới chừng sự phán xét sau cùng ụp xuống trong sự phu tù và sự chết!
d. Lót có thể nói cho quí vị biết điều nầy thực là dường nào, ông ta đã mất hết mọi sự!
e. Ngay cả Vua David có thể nói cho quí vị biết mọi sự về giá phải trả cho việc bất chấp tội lỗi, giá thành chắc chắn là thích nghi rồi!
Chữ được dịch trong câu 39 “quên” là một cách chơi chữ Hy bá lai dành cho “lời sấm” như đã được sử dụng trước đây mấy lần. Họ muốn một sứ điệp hay “lời sấm” đến từ Đức Chúa Trời, giống như sau đây: “nếu quí vị khăng khăng nghe theo các tiên tri giả nầy, ta sẽ quên ngươi! – quí vị sẽ nhận lãnh ‘lời sấm’ – Đức Chúa Trời sẽ quên ngươi!” ... vì lẽ đó, việc tốt nhứt họ phải làm sẽ là HÃY QUÊN ĐI NHỮNG KẺ GIẢ DỐI!
3. Nếu họ không chịu trả giá, “ta quên ngươi” sẽ trở thành một “lời sấm” thực sự đến từ Đức Chúa Trời
a. Bị ném ra khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời cùng với thành thánh Jerusalem sẽ là cái giá phải trả khi bị quên như vậy!
b. Sự mất ơn cho đến đời đời kèm theo, một nỗi xấu hổ sẽ không thể quên được! Thực vậy, không thể quên được, nó được ghi chép ở đây cho mọi thế hệ vẫn còn phải đọc biết!
c. Thực vậy, điều nầy đã xảy ra, sự phu tù đã đến và nhiều chết chóc đã kết quả trong sự phu tù, thành thánh đã bị giày đạp và sự vinh hiển của dân sự Đức Chúa Trời hoàn toàn đã biến đi mất trong một thời gian!
4. Giờ đây chúng ta đang sống trong thời đại của ân điển Đức Chúa Trời, những kẻ giả mạo hiện diện ở khắp mọi nơi và sống thoải mái, nhưng một ngày sẽ đến khi giá thành của sự ô uế nầy sẽ làm cho chính nó ra thực trong thế gian!
a. Đối với những người tin Chúa, sự tái lâm của Đấng Christ sẽ là một sự vui mừng …
b. Nhưng đối với thế gian, ngày ấy sẽ là một ngày của sự phán xét!
MINH HOẠ. Warren Wiersbe trong một tác phẩm của ông viết về một thị trấn ở biên giới phía Tây, ở đó một con ngựa đã nhảy dựng lên rồi chạy đi với một toa xe mang theo một cậu bé ngồi trong đó. Khi nhìn thấy đứa bé đang ở trong mối nguy hiểm, một thanh niên đã liều mạng sống mình nắm lấy con ngựa và dừng toa xe lại, cứu được mạng sống đứa bé. Đứa bé đã được cứu đó lớn lên trở thành một kẻ sống phi pháp luật, và một ngày nọ nó đứng trước mặt quan toà để chịu kết án vì một tội ác nghiêm trọng. Tù phạm nhận ra quan toà là người đã cứu mạng mình nhiều năm trước, vì vậy anh ta nài xin được thương xót trên cơ sở kinh nghiệm ấy trong quá khứ, nhưng lời lẽ phán ra đã làm cho lời nài nĩ của anh ta phải câm nín đi. Vị quan toà cách đây nhiều năm cứu mạng anh ta nói: “Nầy anh kia, khi ấy tôi là cứu tinh của anh; còn ngày nay tôi là quan toà của anh, và tôi phải kết án, anh phải bị treo cổ”. Đứa bé bị bác đơn xin được cứu vì đã sống một đời sống ô uế, giờ đây giá thành đã đến rất đúng lúc. Một ngày kia Đức Chúa Jêsus Christ sẽ phán với hạng tội nhân loạn nghịch cùng các tiên tri giả: “Trong suốt thời kỳ lâu dài của ân điển, ta là Cứu Chúa và ta đã tha tội cho các ngươi, nhưng ngày nay ta là quan án của các ngươi, hãy lui ra khỏi ta, hỡi các ngươi là những kẻ bị rủa sả, hãy bước vào hồ lửa đời đời!” – Nguồn vô danh
5. Còn quí vị thì sao, có phải quí vị sẽ bước theo những kẻ giả mạo hay những người trung tín!?!
PHẦN KẾT LUẬN. Chúa đã có sự dung chịu phần nào đối với những kẻ giả mạo! Họ đang làm một sự thiệt hại lớn bằng cách giả vờ yêu thương và tôn vinh Đức Chúa Trời trong khi sử dụng hình ảnh nầy để trục lợi cá nhân. Một Tin Lành giả sẽ làm cho quí vị thấy yên tâm nhất thời, nhưng sẽ làm phá sản quí vị về mặt thuộc linh vào lúc cuối cùng. Tin lành thực làm biến đổi đời sống của quí vị theo ảnh tượng của Đấng Christ và để lại cho quí vị một phần thưởng đời đời. Mê tín dẫn tới sự nô lệ, còn ơn cứu rỗi đem lại sự tự do! Hãy tiếp lấy cái thực đi! – hãy quên những kẻ giả mạo đi!
***