Hiển thị các bài đăng có nhãn ELIJAH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ELIJAH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

ELIJAH: Phụ lục B: Những ngăn trở cho sự cầu nguyện



Phụ lục B:

Những ngăn trở cho sự cầu nguyện
(1) Tội lỗi trong đời sống. Không bước đi trong mối tương giao (Giăng 4.22-23; Giuđe 20; Êphêsô 6.18; Thi thiên 66.18; Êphêsô 4.30; 1 Giăng 1.9)
(2) Thất bại không dành thời gian cho Lời Đức Chúa Trời (Châm ngôn 28.9; Giăng 15.7; Thi thiên 119)
(3) Thất bại không cầu nguyện trong đức tin (Mathiơ 21.22; 1 Giăng 5.14-15; Giacơ 1.5-7; Hêbơrơ 11.6)
(4) Thất bại không cầu xin vì thái độ tự tín (Giacơ 4.2)
(5) Thất bại không cầu xin phát xuất từ các động lực đúng đắn, không quan tâm đến ý chỉ Đức Chúa Trời (Giacơ 4.3, 15; I Côrinhtô 4.19; Mathiơ 6.10; 26.42).
(6) Thất bại không nhẫn nhịn được, mơ hồ khi ở dưới áp lực (Luca 18.1; đối chiếu I Samuên 27.1-3 với Êsai 40.31)
(7) Những quan hệ sai trái với tha nhân, một tinh thần không tha thứ (Mác 11.25-26)
(8) Cầu nguyện giả vờ, cầu nguyện để gây ấn tượng cho người khác (Mathiơ 6.5-8)
(9) Lòng sốt sắng tôn giáo trong hình thức cầu nguyện hư không và nghi thức của thờ lạy hình tượng (Mathiơ 6.7; I Các Vua 18.26-29; Roma 10.2-3)
(10) Nhu nhược trong gia đình (I Phierơ 5.7)
***

ELIJAH: Phụ lục A: Lẽ đạo nói về sự chịu khổ



Phụ lục A:

Lẽ đạo nói về sự chịu khổ
PHẦN GIỚI THIỆU:
Sao lại là tôi? Sao lại là lúc nầy? Đức Chúa Trời đang làm gì vậy? Khổ là một công cụ mà Đức Chúa Trời sử dụng để lôi kéo sự chú ý của chúng ta và để làm thành các mục đích của Ngài trong đời sống chúng ta. Khổ được ấn định để xây dựng lòng tin của chúng ta nơi Đấng Toàn Năng, thế nhưng chịu khổ đòi hỏi sự đáp ứng đúng đắn nếu sự chịu khổ đó thành công trong việc đạt được các mục đích của Đức Chúa Trời. Chịu khổ buộc chúng ta từ chỗ đặt lòng tin cậy vào sức lực riêng của chúng ta, phải đạt đến chỗ sống bởi đức tin nơi năng lực của Đức Chúa Trời.
Khổ không có giá trị gì nơi bản thân nó, nó cũng không phải là một dấu hiệu của sự nên thánh. Chịu khổ cũng không phải là phương tiện để thủ lợi với Đức Chúa Trời, cũng không phải là phương tiện để bắt phục xác thịt (như trong thuyết khổ hạnh). Khi có thể, người ta sẽ lẫn tránh sự chịu khổ. Đấng Christ đã lẫn tránh sự chịu khổ trừ phi lẫn tránh có nghĩa là hành động trong sự bất tuân đối với ý chỉ của Đức Chúa Cha.
Truyền đạo 7.14: “Trong ngày thới-thạnh hãy vui mừng, trong ngày tai nạn hay coi chừng; vì Đức Chúa Trời đặt ngày nầy đối với ngày kia, hầu cho người đời chẳng thấy trước đặng điều xảy ra sau mình”
Những thắc mắc sau đây được vạch ra để giúp chúng ta biết “xem xét” trong ngày tai nạn:
(1) Tôi sẽ đáp ứng với tình trạng ấy như thế nào?
(2) Tôi sẽ đáp ứng bằng cách nào?
(3) Có phải tôi đang học hỏi từ tình trạng ấy không?
(4) Có phải đáp ứng của tôi đang bày tỏ ra đức tin, tình yêu dành cho Đức Chúa Trời và tha nhân, bổn tánh giống như Đấng Christ, các giá trị, sự đầu phục, những điểm ưu tiên trước sau, v.v...?
(5) Đức Chúa Trời sẽ sử dụng tình trạng ấy trong đời sống tôi như thế nào?
Sự chịu khổ được xác định:
Khổ là gì? Những chỗ rẽ nầy là gì mà Đức Chúa Trời đã đặt trên con đường sự sống đến nỗi chúng ta phải cẩn thận xem xét? Nói một cách đơn giản, đau khổ là điều gây tổn thương hay gây bực tức. Theo kế hoạch của Đức Chúa Trời, chịu khổ cũng là điều khiến cho chúng ta phải suy nghĩ. Đây là một công cụ Đức Chúa Trời sử dụng để lôi kéo sự chú ý của chúng ta và để hoàn thành mọi mục đích của Ngài trong đời sống chúng ta theo một phương thức không hề xảy ra nếu không có thử thách hay sự khó chịu.
Các minh hoạ về sự chịu khổ:
“Đó có thể là chứng ung thư hay một cơn đau họng. Có thể đó là một chứng bịnh hoặc mất mát người thân cận với quí vị. Có thể đó là một sự thất bại cá nhân hay sự thua thiệt trong công việc làm ăn hay bài tập ở trường học. Có thể đó là một tin đồn loanh quanh nơi quí vị làm việc hoặc trong Hội thánh của quí vị, làm hại cho tiếng tăm của quí vị, đem đến cho quí vị sự buồn rầu và lo lắng”. Khổ có thể là một việc gì đó nhỏ nhoi và bực bội như muỗi cắn hoặc khó chịu khi phải trông coi một con voi hay phải đối diện với con sư tử ở trong hang sư tử với Đaniên (Đaniên 6).
Các nguyên nhân chung cho sự chịu khổ:
(1) Chúng ta chịu khổ vì chúng ta đang sống trong một thế giới sa ngã, ở đây tội lỗi đang cai trị trong tấm lòng của con người.
(2) Chúng ta chịu khổ vì chính sự dại dột của chúng ta. Chúng ta đang gặt lấy những gì chúng ta gieo ra (Galati 6.7-9).
(3) Đôi khi chúng ta chịu khổ vì đấy là kỷ luật của Đức Chúa Trời. “Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, hễ ai mà Ngài nhận làm con, thì cho roi cho vọt” (Hêbơrơ 12.6).
(4) Có thể chúng ta gánh chịu sự bắt bớ vì cớ đức tin của chúng ta – đặc biệt khi chúng ta chọn một chỗ đứng cho các vấn đề thuộc Kinh thánh, nghĩa là, chịu khổ vì cớ sự công bình (II Timôthê 3.12).
Tất nhiên, tất cả những điều nầy không áp dụng cho cùng một thời điểm được. Thí dụ, mọi sự chịu khổ không phải là sản phẩm của sự chúng ta dại dột, tự gây ra tự mình chịu, hay tội lỗi. Tuy nhiên, thực sự là chịu khổ hiếm khi tỏ ra trong những lãnh vực cần thiết, trong những nỗi yếu đuối, và trong các thái độ không đúng cần phải cất bỏ đi giống như cặn bã trong quá trình luyện vàng vậy (đối chiếu I Phierơ 1.6-7).
Bản chất của sự chịu khổ:
Chịu khổ là đau đớn
Khổ là điều rất khó chịu. Không dễ dàng gì chịu khổ đâu. Bất chấp chúng ta biết điều chi và chúng ta chịu khó áp dụng các nguyên tắc nầy như thế nào, chịu khổ thường gây tổn thương (đối chiếu I Phierơ 1.6 --“buồn bã” là lupeo có nghĩa là “gây đau đớn, buồn rầu, đau thương”).
Chịu khổ là bối rối
Khổ là một điều rất mầu nhiệm. Có thể chúng ta biết một vài lý do về mặt thần học cho sự chịu khổ từ Kinh thánh, tuy nhiên khi nó bộc lộ, vẫn còn có một sự kín nhiệm nhất định. Sao lại ngay lúc nầy? Đức Chúa Trời đang làm gì vậy? Trong việc nầy, chịu khổ được hoạch định để gây dựng sự tin cậy của chúng ta nơi Đấng Toàn Năng.
Chịu khổ có mục đích
Khổ không phải là không có ý nghĩa mặc dù lẽ kín nhiệm của nó. Chịu khổ có mục đích chính, đó là hình thành nên bổn tánh giống như Đấng Christ (Roma 8.28-29).
Chịu khổ minh chứng, thử ngiệm chúng ta
“Thử thách” trong Giacơ 1.2 là peirasmos tiếng Hy lạp và có ý nói tới điều phải tra xét, thử nghiệm, và minh chứng tính chất hay sự đúng đắn của một việc gì đó. “Thử thách” trong cùng câu nầy là dokimion cũng có một ý tương tự. Từ nầy có ý nói tới một sự thử nghiệm được ấn định để xác minh hay tán thành. Chịu khổ là điều minh chứng tánh tình và sự ngay thẳng của một người cùng với cả hai phần: đối tượng và bản chất đức tin của một người. Hãy so sánh I Phierơ 1.6-7, ở đây cũng những từ Hy lạp đã được sử dụng kèm theo động từ dokimazo có nghĩa là “đưa vào thử nghiệm” “chứng minh bằng thử nghiệm như thử vàng vậy”.
Chịu khổ và một tiến trình
“Chúng ta cũng khoe mình trong hoạn nạn nữa, vì biết rằng hoạn nạn sanh sự nhịn nhục. . .” (Roma 5.3-4). “vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục. Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào” (Giacơ 1.3-4). Là một tiến trình, chịu khổ cần có thì giờ. Những kết quả Đức Chúa Trời đang tìm cách hoàn thành với các lần thử thách trong cuộc sống đòi hỏi thì giờ và vì thế, cũng đòi hỏi sự nhịn nhục nữa.
Chịu khổ là cái máy luyện lọc
Vô luận là lý do nào, thậm chí nếu đây không phải là kỷ luật của Đức Chúa Trời dành cho xác thịt, khổ là cái máy luyện lọc vì chẳng có ai trong chúng ta từng được trọn vẹn trong đời nầy (Philíp 3.12-14).
Chịu khổ cung ứng cơ hội
Chịu khổ cung ứng cơ hội cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, cho sự biến đổi, sự làm chứng, và công cuộc truyền giáo của chúng ta, v.v... (Xem các lý do cho sự chịu khổ được đưa ra dưới đây).
Chịu khổ đòi hỏi sự cộng tác của chúng ta
Chịu khổ đòi hỏi sự đáp ứng đúng đắn nếu chịu khổ là thành công trong việc đạt tới mọi mục đích của Đức Chúa Trời. “Hết thảy chúng ta đều muốn sản phẩm, chất lượng; nhưng chúng ta không cần quá trình, sự chịu khổ”. Vì cớ chúng ta là con người, chúng ta không thể có cái nầy mà không có cái kia.
Chịu khổ đã được định trước và không thể tránh được
I Têsalônica 3.3 cho rằng không một người nào nên bối rối bởi các hoạn nạn nầy; vì chính bản thân quí vị biết rõ rằng chúng ta đã được định cho điều nầy.
I Phierơ 4.19: “Vậy những kẻ chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy cứ làm lành mà phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín”.
Thắc mắc mà chúng ta phải đối diện với không phải là “nếu” chúng ta chịu thử thách trong đời nầy, mà là chúng ta sẽ đáp ứng lại với các thử thách ấy như thế nào mà thôi.
Chịu khổ là tranh đấu
Không cứ cách nào đó, đây là bãi chiến trường. Đấy là lý do tại sao chúng được gọi là “thử thách” và “thử nghiệm”. Thậm chí khi chúng ta hiểu rõ mục đích và các nguyên tắc của sự chịu khổ, và chúng ta biết các lời hứa của tình yêu thương và mối quan tâm của Đức Chúa Trời đã được đưa ra trong Lời của Đức Chúa Trời để nắm lấy sự chịu khổ, xử lý với mọi thử thách trong cuộc sống không bao giờ dễ dàng vì những nỗi đau của việc chịu khổ. Thử thách cung ứng cho chúng ta khả năng cộng tác với quá trình chịu khổ (Giacơ 1.4). Chúng để cho tiến trình hoạt động và cho phép chúng ta kinh nghiệm sự bình an và niềm vui mừng ở bên trong giữa các cơn thử thách.
Để nắm bắt sự chịu khổ với sự vui mừng và sự bình tịnh, chúng ta phải nhìn tới trước để thấy các mục đích và lý do của Đức Chúa Trời dành cho sự chịu khổ. Điều nầy đòi hỏi đức tin đặt nơi chân lý đời đời của Đức Chúa Trời.
Hãy so sánh các ơn phước của đau khổ được thấy trong sự làm chứng của Tác giả Thi thiên 119:
+ Trước khi bị hoạn nạn:
- Lầm lạc (câu 67a)
+ Trong khi bị hoạn nạn:
- Học hỏi và xoay chiều (câu 71, đối chiếu câu 59)
+ Dưới cơn hoạn nạn, chúng ta cần phải:
- Xác định nguyên nhân nếu chúng ta có thể (Bị hoạn nạn vì tôi đã gây ra một việc gì đó?)
- Xác định các đối tượng (Đức Chúa Trời muốn làm gì trong đời sống tôi hay nơi người khác?)
- Xác định các giải pháp (Đức Chúa Trời muốn tôi vận dụng điều nầy như thế nào?)
+ Sau hoạn nạn:
- Nhận biết và thay đổi (các câu 67b, 97-102)
- Yên nghỉ và đánh giá (các câu 65,72)
Chúng ta phải hiểu mục đích chính của Đức Chúa Trời cho đời sống chúng ta là được biến đổi ra giống theo ảnh tượng của Đấng Christ và Ngài đã quyết định trong chương trình của Ngài sử dụng sự chịu khổ hầu làm phát triển cho chúng ta về mặt thuộc linh. Tuy nhiên, nếu chúng ta chịu đựng sự gian khổ và các thử thách trong cuộc sống, chúng ta cũng phải hiểu và tin nơi các mục đích và lý do khác cho sự chịu khổ khi chúng có quan hệ với mục đích chính.
Các mục đích và lý do cho sự chịu khổ:
(1) Chúng ta chịu khổ như một bằng chứng, như một chứng nhân (II Timôthê 2.8-10; II Côrinhtô 4.12-13; I Phierơ 3.13-17). Khi các tín đồ chịu khổ với sự vui mừng và với sự vững vàng, thì khổ trở thành một bằng chứng kỳ diệu cho quyền phép và đời sống của Đấng Christ mà chúng ta xưng nhận và đặt tên. Khổ cung ứng những cơ hội chính để bày tỏ ra và làm vinh hiển cho quyền phép của Đức Chúa Trời qua các tôi tớ Ngài hầu chứng thực và khẳng định sứ giả cùng sứ điệp của người. Khổ cung ứng nhiều cơ hội để bày tỏ ra phẩm cách tin cậy của chúng ta trong vai trò khâm sai của Đấng Christ (I Các Vua 17.17-24; Giăng 11.1-45). Điều nầy bao gồm các lãnh vực sau:
Làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời trước thế giới của hàng thiên sứ (Gióp 1-2; I Phierơ 4.16).
Bày tỏ ra quyền phép của Đức Chúa Trời cho người khác (II Côrinhtô 12.9, 10; Giăng 9.3).
Bày tỏ ra bổn tánh của Đấng Christ giữa nỗi khổ như một bằng chứng để đưa nhiều người khác về với Đấng Christ (II Côrinhtô 4.8-12; I Phierơ 3.14-17).
(2) Chúng ta chịu khổ để phát triển khả năng và sự đồng cảm của chúng ta để yên ủi người khác (II Côrinhtô 1.3-5)
(3) Chúng ta chịu khổ để đánh hạ sự kiêu ngạo xuống (II Côrinhtô 12.7). Sứ đồ Phaolô đã nhìn thấy cái dằm xóc trong xác thịt ông như một công cụ Đức Chúa Trời cho phép để giúp ông duy trì một tâm thần hạ mình và nương cậy vào Chúa vì những khải thị đặc biệt ông đã xem thấy như một người bị đưa lên đến tầng trời thứ ba.
(4) Chúng ta chịu khổ vì khổ là một công cụ dùng để huấn luyện. Đức Chúa Trời yêu thương và thành tín sử dụng sự chịu khổ để phát triển sự công bình, sự trưởng thành, và sự ăn ở của cá nhân chúng ta với Ngài (Hêbơrơ 12.5…; I Phierơ 1.6; Giacơ 1.2-4). Theo ý nghĩa nầy, chịu khổ được ấn định:
Như phần kỷ luật dành cho tội lỗi hầu đem chúng ta trở lại với mối thông công qua sự chân thành xưng tội (Thi thiên 32.3-5; 119.67).
Như một công cụ để cắt tỉa hầu dời đi nhánh chết ra khỏi đời sống chúng ta (những sự yếu đuối, tội thiếu hiểu biết, những thái độ cùng các giá trị chưa trưởng thành, v.v...). Mục tiêu đáng ao ước là kết được nhiều quả (Giăng 15.1-7). Những cơn thử thách có thể trở thành loại gương quở trách bày tỏ ra những lãnh vực kín đáo của tội lỗi và những yếu đuối (Thi thiên 16.7; 119.67, 71).
Như một công cụ cho sự tấn tới được ấn định để khiến cho chúng ta biết nương cậy vào Chúa và Lời của Ngài. Những cơn thử thách thử nghiệm đức tin chúng ta và khiến cho chúng ta biết sử dụng những lời hứa và các nguyên tắc của Ngôi Lời (Thi thiên 119.71, 92; I Phierơ 1.6; Giacơ 1.2-4; Thi thiên 4.1 [Phân đoạn nầy theo bản Kinh thánh Hêbơrơ có thể đọc như sau: “Ngài rất rộng lượng, xin làm cho tôi được lớn lên bên cạnh nỗi gian truân của tôi]). Chịu khổ hay những cơn thử thách dạy chúng ta lẽ thật của Thi thiên 62.1-8, lẽ thật của sự học tập biết “chờ đợi chỉ nơi một mình Chúa mà thôi”.
Như một phương tiện học biết vâng phục thực sự có ý nghĩa như thế nào! Khổ trở thành một thử nghiệm lòng trung thành của chúng ta (Hêbơrơ 5.8). Minh họa: Nếu một người cha bảo con mình phải làm theo một việc gì đó ông muốn làm (nghĩa là, ăn một tô kem chẳng hạn) và nó ăn tô kem ấy, đứa con đã vâng theo, nhưng nó chưa thực sự học biết một điều gì về sự vâng lời. Tuy nhiên, nếu bố nó yêu cầu nó phải cắt cỏ, yêu cầu nầy biến thành một thử nghiệm và dạy dỗ đôi điều về ý nghĩa của sự vâng phục. Mục tiêu là, sự vâng lời thường khiến cho chúng ta phải trả giá và rất khó thực hiện. Nó có thể đòi hỏi sự hy sinh, lòng can đảm, kỷ luật và đức tin tin rằng Đức Chúa Trời là tốt lành và Ngài luôn chú về tấm lòng của chúng ta bất chấp có điều gì xảy đến cho chúng ta. Nếu như Đức Chúa Trời không cho phép đau khổ bước vào đời sống chúng ta, hiếm khi chúng ta nhìn thấy được nhu cần, những nỗi yếu đuối, các thái độ sai trái v.v..., như trong trường hợp của Gióp.
Bản thân đau khổ không phải là việc tạo ra được đức tin hay sự trưởng thành. Đau khổ chỉ là công cụ mà Đức Chúa Trời đang sử dụng để đem chúng ta đến với chính mình Ngài để chúng ta biết đáp ứng với Ngài và với Lời của Ngài. Đau khổ đẩy chúng ta xây khỏi lòng tin cậy chúng ta có nơi các năng lực riêng của mình mà đến với việc sống bởi đức tin nơi mọi năng lực của Đức Chúa Trời. Đau khổ khiến cho chúng ta phải đặt những việc trước tiên lên trên hết. Chính Ngôi Lời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời mới tạo ra đức tin và bổn tánh trưởng thành giống như Đấng Christ (Thi thiên 11967, 71). Trong Giacơ 1.2-4 và I Phierơ 1.6-7 từ ngữ chính là “chứng minh”. “Chứng minh” [proof] là chữ dokimion , nó có hai nghĩa thử nghiệm luyện lọc, và kết quả, chứng minh cái gì còn lại sau khi thử nghiệm. Chúa sử dụng những thử thách để thử nghiệm đức tin chúng ta theo ý nghĩa luyện lọc nó, bày ra bề mặt của nó, nhờ đó chúng ta buộc phải vận hành đức tin của chúng ta.
(5) Chúng ta chịu khổ hầu tỏ ra lòng tin cậy liên tục nơi ân điển và quyền phép của Đức Chúa Trời. Đau khổ được hoạch định để khiến cho chúng ta bước đi bằng khả năng, quyền phép và sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời thay vì bằng sức riêng của chúng ta (II Côrinhtô 11.24-32; 12.7-10; Êphêsô 6.10…; Xuất Êdíptô ký 17.8…). Đau khổ khiến cho chúng ta phải xây khỏi năng lực riêng của mình mà hướng vào năng lực của Ngài.
(6) Chúng ta chịu khổ để bày tỏ ra đời sống và bổn tánh của Đấng Christ (Bông trái Đức Thánh Linh) (II Côrinhtô 4.8-11; Philíp 1.19…). Điều nầy tương tự với điểm (4) ở trên với phần nhấn mạnh nhiều vào tiến trình và sự xác định đối tượng, sản phẩm của bổn tánh Đấng Christ. Điều nầy có hai phương diện: tích cực và tiêu cực:
Tiêu cực: Đau khổ giúp dời đi những điều bất khiết ra khỏi đời sống chúng ta như dửng dưng, tin cậy vào cái tôi của mình, những động lực giả dối, lấy cái tôi làm trọng, các giá trị sai lầm và những thứ tự ưu tiên không đúng, lối biện hộ theo kiểu của con người và né tránh những cơ chế bởi đó chúng ta tìm cách vận dụng các nan đề của mình (những giải pháp do con người lập ra). Đau khổ tự bản thân nó không di dời đi những điều bất khiết, nhưng là một công cụ Đức Chúa Trời sử dụng để khiến cho chúng ta luyện tập đức tin nơi những tiếp trợ của ân điển Đức Chúa Trời. Chính ân điển của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ (lai lịch mới của chúng ta trong Đấng Christ, trong Ngôi Lời và Đức Thánh Linh) mới làm thay đổi chúng ta. Phương diện tiêu cực nầy được hoàn tất theo hai cách:
(a) Khi ở ngoài mối tương giao với Chúa: Đau khổ trở thành kỷ luật đến từ Cha thiên thượng của chúng ta (Hêbơrơ 5.5-11; I Côrinhtô 11.28-32; 5.1-5). Điều nầy bao gồm tội lỗi đã biết, sự loạn nghịch và thái độ dửng dưng với Đức Chúa Trời.
(b) Khi ở trong mối tương giao với Chúa: đau khổ trở thành công tác yêu thương và tỉa sửa khéo léo của Đấng Trồng Nho hầu khiến cho chúng ta phải kết quả. Nó bao gồm tội lỗi không biết, những lãnh vực mà chúng ta không biết tới, nhưng chúng ngăn trở sự lớn lên và kết quả của chúng ta. Trong trường hợp nầy, đau khổ thường dựng lên loại gương soi quở trách (Giăng 15.1-7).
Tích cực: Khi các tín đồ sống dưới sự chịu khổ theo cách vui mừng (nghĩa là, họ nhẫn nhục và tiếp tục giữ lấy phần áp dụng mọi lời hứa và các nguyên tắc của đức tin), đời sống hay bổn tánh của Đấng Christ sẽ càng được bày tỏ ra khi chúng lớn lên qua sự chịu khổ (II Côrinhtô 4.9-10; 3.18). Điều nầy có ý nói tới sự tin cậy, sự bình an, sự vui mừng, sự vững vàng, các giá trị theo Kinh thánh, lòng trung tín và sự vâng phục ngược lại với các thái độ tội lỗi của lý trí, đổ thừa, trốn chạy, than phiền, và các phản ứng nghịch lại Đức Chúa Trời và con người.
(7) Chúng ta chịu khổ để bày tỏ ra bản chất của hạng người gian ác và sự công nghĩa trong lẽ công bình của Đức Chúa Trời khi bản chất ấy rơi vào chỗ phán xét (I Têsalônica 2.14-16). Đau khổ nơi tay của con người (sự bắt bớ, những cách đối xử hung bạo) được phép của Đức Chúa Trời để “làm đầy dẫy lượng tội lỗi của họ”. Nó tỏ ra bản chất độc ác của những người chuyên bắt bớ người khác và sự công bình trong sự phán xét của Đức Chúa Trời.
(8) Chúng ta chịu khổ để mở rộng công cuộc truyền giáo của chúng ta (đối chiếu Philíp 1.12-14 với 4.5-9). Trong tiến trình tạo ra bổn tánh Cơ đốc và nâng cao sự làm chứng của chúng ta cho những người khác, chịu khổ thường mở toang ra nhiều cánh cửa cho công cuộc truyền giáo mà chúng ta chưa hề tưởng được. Sự lao tù của Phaolô (bị xiềng xích mỗi ngày với binh lính La mã tại nhà riêng của ông) đã kết quả trong việc rao giảng Tin lành trong vòng sự canh chừng của đế quốc. Vị sứ đồ, không nghi ngờ chi nữa, cứ tiếp tục vui mừng trong Chúa, nhưng nếu ông lên tiếng than phiền, lằm bằm và cay đắng, sự làm chứng của ông sẽ trở thành con số không.
***

ELIJAH: Sự chuyển giao của Êli –Phần 2



Bài 19:

Sự chuyển giao của Êli –Phần 2

(II Các Vua 2.1-11)
PHẦN GIỚI THIỆU:
II Các Vua 2.1-11 là câu chuyện nói tới sự chuyển giao của Êli, việc nầy dẫn tới phần kết thúc chức vụ của ông ở trên đất. Sự chuyển giao của Êli cùng với các sự cố xoay quanh nó trở thành một phương tiện thử nghiệm Êlisê, là người được Đức Chúa Trời kêu gọi xỏ chân vào đôi giày của vị tiên tri cao niên hơn. Cũng một thể ấy, Đức Chúa Trời tác động cách khôn ngoan trong đời sống chúng ta qua các sự cố và đời sống của nhiều người khác.
Trong các câu 1 - 6, có một thử nghiệm để nhận biết sự đầu phục của Êlisê. Khi bị yêu cầu ở lại phía sau trong khi Êli cứ tiếp tục tiến bước, Êlisê mỗi lần như thế đã đáp lại với lời thề gấp bằng hai tỏ ra “tính kiên trì của giống chó bull” nhất định ở lại với thầy của mình cho đến cuối cùng, ông nhận biết thầy mình sắp sửa bị cất đi. Điều nầy tỏ ra một đôi việc về bổn tánh của ông – một tâm thần dễ dạy, trung thành, và một lòng đầu phục đối với sự kêu gọi của Đức Chúa Trời cho đến cuối cùng.
Kế đó, trong các câu 7- 8, Êlisê đã tiếp thu một bài học nơi phép lạ chia hai dòng sông Giôđanh. Giống như Đức Chúa Trời đã chia hai dòng sông Giôđanh, cũng một thể ấy Đức Chúa Trời sẽ phù trợ cho Êlisê cả việc sống và làm theo mọi sự có cần cho công việc và đời sống của ông trong vai trò người kế tục của Êli.
Bây giờ, phần thử nghiệm khác nối theo sau – có lẽ là phần thử nghiệm quan trọng nhất trong tất cả những thử nghiệm. Đây là thử nghiệm về những điều ông khao khát, một thử nghiệm để xem coi tấm lòng của ông đặt ở đâu (Thi thiên 26.2; 139.23; Giêrêmi 17.10; Mathiơ 6.21; 13.46; Philíp 3.8).
Thử nghiệm dành cho Êlisê (2.9-10)
Trong câu 9, Kinh thánh cho chúng ta biết rằng ngay tức khắc sau khi băng qua sông Giôđanh, Êli đưa ra một câu hỏi rất đơn giản. Đây là một câu hỏi với những hậu quả rất rắc rối trên đời sống của bất kỳ một tín đồ nào trong Đấng Christ. Ông nói với Êlisê: “Hãy xin điều ngươi muốn ta làm cho ngươi”. Làm ơn để ý tới thời điểm của sự cố nầy. Êli đã chờ đợi cho tới khi họ đã băng qua sông Giôđanh rồi, sau lần bày tỏ ra quyền phép và sự tiếp trợ lớn lao của Đức Chúa Trời. Tại sao vậy? Chúng ta tiếp thu được gì từ bài học nầy?
(1) Tôi nghĩ bài học nầy dạy cho chúng ta biết nguyên tắc về thì thuận tiện và sự phân biệt. Chúng ta cần phải phân biệt đúng lúc để làm chứng, đối mặt, thách thức, hoặc thậm chí để khích lệ nữa. Có khi tình thế không rơi đúng thời điểm và khuynh hướng của chúng ta là nói ra trong khi chúng ta cần phải im lặng, và đã yên lặng khi chúng ta đáng phải nói ra “Có kỳ xé rách, và có kỳ may; có kỳ nín lặng, có kỳ nói ra” (Truyền đạo 3.7). “Lời nói phải thì, khác nào trái bình bát bằng vàng có cẩn bạc” (Châm ngôn 25.11). “Miệng hay đáp giỏi khiến người vui vẻ; và lời nói phải thì lấy làm tốt biết bao!” (Châm ngôn 15.23).
(2) Điều nầy cũng dạy cho chúng ta biết rằng thời điểm thích ứng để thách thức người tín đồ hành động: ấy là khi họ vừa làm chứng về ơn phước của Đức Chúa Trời và được Chúa khích lệ qua Lời của Ngài hay qua những điều Ngài đã làm trong đời sống của họ.
Câu hỏi đặt ra cho Êlisê là: “Hãy xin điều ngươi muốn ta làm cho ngươi”. Khi tham khảo đến việc được cất đi cũng dạy cho chúng ta biết đôi điều như sau:
(1) Chúng ta không thể thiếu Đức Chúa Trời được, không một người nào trong chúng ta rơi vào tình trạng đó. Sớm hay muộn Đức Chúa Trời sẽ di dời chúng ta hay ai đó mà chức vụ của họ chúng ta đang nương cậy vào. Vô luận chúng ta có nghĩ chúng ta quan trọng dường nào hay người khác sẽ nghĩ chúng ta là quan trọng cho một công việc, một Hội thánh, một gia đình, hay một quốc gia, Đấng duy nhất không thể thiếu được: ấy là Chúa.
(2) Đức Chúa Trời luôn luôn có ai đó, hay đường lối khác nào đó để hoàn thành các mục đích của Ngài, hoặc Ngài sẽ có một mục đích hay nhiều mục tiêu khác. Nhu cần của chúng ta là phải yên nghỉ trong ý chỉ của Đức Chúa Trời và rồi cẩn thận xem xét phần trách nhiệm của chúng ta theo quan điểm của sự di dời đi nhân vật mà chúng ta đang nương cậy vào họ. Khi đã đến thời điểm cho Êli phải ra đi, đã có một Êlisê ở đấy rồi. Khi đã đến lúc cho Môise phải ra đi, thì đã có một Giôsuê ở đó rồi.
(3) Câu hỏi của Êli cho chúng ta thấy chúng ta cần phải tìm cách để trở thành một phước hạnh cho nhiều người khác bao lâu chúng ta còn sống ở đây. Chúng ta luôn luôn phải nhìn nhận rằng chúng ta chỉ là một công cụ của ân điển Đức Chúa Trời, một người gieo giống, một nguồn nước, hay một con gặt – nhưng chính Đức Chúa Trời, Ngài là tác nhân trọn vẹn, không thể thiếu được.
Câu hỏi nầy chủ yếu chỉ là một thử nghiệm mà thôi. Nếu quí vị nhớ, Đức Giêhôva đã hỏi Solomon một câu tương tự ngay lúc khởi đầu chức vụ và công việc của ông trong vai trò một vì vua.
Tại sao phải hỏi một câu như thế chứ? Vì những điều chúng ta khát khao và cầu xin tỏ ra tình trạng tấm lòng của chúng ta. Điều nầy chỉ ra chúng ta đang sẵn sàng, có trách nhiệm và hy sinh cho chức vụ như thế nào! Điều nầy tỏ ra của cải của chúng ta chủ yếu là ở đây trên đất hay trên trời!?! Điều nầy chỉ ra chúng ta có thực sự xem thiên đàng là quê hương hay chúng ta đang biến thế giới sa ngã nầy thành quê hương trên trời của chúng ta. Điều nầy chỉ ra chúng ta có sẵn sàng để trở thành một tôi tớ hay vẫn muốn người ta phục vụ mình.
Cơ đốc nhân nào đang sống giàu có và tiện nghi ở trên đất có thể rời rộng dâng hiến tiền bạc cho công việc Cơ đốc, nhưng thường thấy khó nghĩ thiên đàng là quê hương lắm. Nói “chết” là “về quê hương” là một việc, còn “cất tiền bạc ở chỗ có cái miệng của mình” hoàn toàn là một việc khác. Mỉa mai thay, có nhiều người nói ra rất tin kính về “quê hương” tỏ ra một ít chứng cớ về lòng khát khao được sống ở đó. Có nhà ở Florida thì hấp dẫn nhiều hơn. Căng thẳng đang hiện hữu giữa quê hương ở trên đất và quê hương ở trên trời, có nhiều phương thức thực tiễn để khám phá sở thích thực của chúng ta hiện đang đặt ở chỗ nào.
Những điều khát khao và cầu xin của chúng ta tỏ ra của cải thật của chúng ta hiện đang đặt ở chỗ nào. Đổi lại, điều nầy chỉ ra tấm lòng của chúng ta đang ở vị thế nào, nó sẽ quyết định các thứ tự ưu tiên, mọi sự theo đuổi, và thái độ bằng lòng đưa ra những hy sinh cần thiết để chu toàn ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chỉ khi ấy, vấn đề thực là động lực nằm ở đàng sau lời cầu xin, là những điều khát khao sâu sắc nhất của linh hồn. Những điều chúng ta cầu xin có thể là tốt đấy, nhưng động lực của chúng ta có thể là xấu. Đó có thể là một nổ lực để biến thế giới nầy thành quê hương của chúng ta. Lời cầu xin có thể phát xuất từ sự tham lam, hay tư dục muốn được khen ngợi, quyền thế, địa vị, vỗ tay, danh tiếng, hay sự yên ủi, thoải mái, lấy mục đích Đức Chúa Trời làm công tác phí. Nói cách khác, nó trở thành một nổ lực tìm kiếm hạnh phúc ở ngoài Chúa.
Lời đáp của Êlisê (câu 9)
Trong câu 9, chúng ta cũng thấy lời đáp của Êlisê. “Nguyền xin thần của thầy cảm động tôi được bội phần”. Chúng ta hãy lưu ý vài sự việc về lời đáp nầy:
(1) Êlisê là người rất đáng trượng và rất nhã nhặn. Một người ăn nói “nguyền xin” thường là người cũng luôn nói “cảm ơn”. Ông là người thường hay bày tỏ ra loại hành động yêu thương người khác cách chân thành. Ông là người thường xem người khác như đáng trọng hơn mình. Ồ, chúng ta cần phải tiếp thu nghệ thuật và tấm lòng biết tán thưởng, cảm tạ, nhã nhặn, và trọng mọi người là dường nào.
(2) Từ ngữ “phần bằng hai” không có nghĩa là hai phần hay nhiều gấp hai cái gì đó. Từ ngữ ấy đặc biệt không có ý nói nhiều Đức Thánh Linh bằng hai đâu. Hãy nhớ rằng Đức Thánh Linh là một Thân Vị và không phải là một thước đo để quí vị có thể đổ ra để đo với lường đâu! Giăng 3.34 cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời không ban Thánh Linh Ngài theo cách đo lường bao giờ! Từ ngữ “cho ngươi” trong bản Kinh thánh KJV không có trong bản Kinh thánh gốc. Trong Tân ước mạng lịnh phải đầy dẫy với Đức Thánh Linh là một mạng lịnh được điều phối bởi Đức Thánh Linh là Đấng ngự ở trong lòng, chớ không phải một mạng lịnh tiếp lấy nhiều Thánh Linh hơn đâu. Mạng lịnh đó có nghĩa là chúng ta phải để cho Đức Thánh Linh là Đấng đang ngự trong lòng chúng ta cai quản ngày càng thêm trong đời sống chúng ta. Ấy không phải chúng ta tiếp lấy thêm Đức Thánh Linh mà là Đức Thánh Linh nắm lấy quyền cai quản càng hơn nữa trong đời sống của chúng ta.
(3) Từ ngữ “phần bằng hai” đã được sử dụng trong sự liên hệ tới con trưởng nam, là người theo luật pháp kế tự hai phần trong tài sản của cha mình. Người cũng trở thành người có trách nhiệm làm đầu về mặt thuộc linh trong gia đình và có trách nhiệm nắm giữ các lời hứa có tính cách giao ước của Đức Chúa Trời.
Vì thế Êlisê không cầu xin có nhiều quyền phép hay nhiều Đức Thánh Linh, mà chỉ cầu xin ông sẽ trở thành người kế tục cho Êli để gánh lấy chức vụ quan trọng của Êli. Từ những gì chúng ta biết về đời sống và chức vụ của Êlisê nối theo sau, rõ ràng đây không phải là một lời cầu xin kiêu ngạo, cho sự vinh hiển cá nhân, hay lợi lộc ích kỷ bất kỳ. Thay vì thế, đây là lời cầu xin của một người biết đáp ứng lại với sự thách thức và mọi nhu cần trong thời buổi ấy. Đây là một người muốn được Đức Chúa Trời đại dụng cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Và đây là một người đang tỏ ra thái độ bằng lòng bởi đức tin tiếp nhận trách nhiệm mà ý chỉ Đức Chúa Trời dành cho đời sống của mình. Êlisê muốn trở thành con trưởng nam thuộc linh của Êli và hầu việc Chúa là Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông phải hầu việc. Trên hết mọi sự, đây là lời cầu xin của một người với những khao khát neo trong cõi đời đời. Ông “chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” (Hêbơrơ 11.10). Ông vốn biết rõ Đức Chúa Trời tiếp trợ cho mọi sự tốt đẹp hơn những gì chúng ta có trong thế giới sa ngã nầy (Hêbơrơ 11.40). Ông đã bằng lòng lập những của lễ và sống như một lữ khách, một kiều dân (Hêbơrơ 11.9; I Phierơ 1.17; 2.11).
Tương tự thế, có phải chúng ta đang sống như một lữ khách không? Của cải chúng ta đặt ở đâu? Điều chi đang lèo lái chúng ta? Chúng ta muốn gì từ đời sống nầy – từ gia đình, từ công ăn việc làm, từ những khoái lạc của chúng ta, v.v...? Kinh thánh dạy chúng ta rằng: “Đức Chúa Trời đã ban mọi sự cho chúng ta vui hưởng”. Nếu chúng ta cố gắng sử dụng mọi thứ để biến thế giới nầy thành quê hương của chúng ta ở trên trời và là nguồn thoả mãn cơ bản của chúng ta thay vì là Chúa, điều đó sẽ không thành hiện thực đâu. Chúng ta đang sinh sống trong một thế giới sa ngã và tội ác, chớ không phải là thiên đàng. Những sự tàn phá của tội lỗi hết thảy đang ở xung quanh chúng ta và vẫn có ở trong chúng ta thậm chí là những người tin Chúa (đối chiếu Galati 5.17). Chúng ta sẽ kết thúc trong việc bán đi quyền con trưởng của mình vì một tô canh phạn đậu. Chúng ta sẽ thất bại không trở thành hạng quản gia ngay lành các tài nguyên của Đức Chúa Trời – các ta lâng, của cải, thì giờ của chúng ta, và lẽ thật của Đức Chúa Trời.
Kinh thánh nói rất nhiều về những điều con người khao khát, dù từ ngữ được dùng trong các bản dịch của chúng ta thường là từ: “tư dục”. Về mặt cơ bản, tư dục là sự khát khao mạnh mẽ một điều gì đó gây ra bởi ước muốn được thoả mãn, được an ninh, có ý nghĩa, v.v... , tách khỏi sự nương cậy vào Đức Chúa Trời và chương trình công bình của Ngài cho đời sống của một người.
Đáp ứng của Êli (câu 10)
Câu trả lời của Êli được đưa ra trong câu 10. Sau khi nhận biết ông chỉ là một công cụ và mọi việc đang nằm trong quyền tể trị của Đức Chúa Trời, ông nói: “Ngươi cầu xin một sự khó”. Điều nầy có nghĩa là “Ta không có quyền ban cho sự nầy. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có quyền ban cho sự ấy mà thôi”. Tuy nhiên, Êli vốn biết Êlisê sẽ là người thay thế cho ông (I Các Vua 19.16). Đấy là những gì ông đã chọn lựa, huấn luyện cho Êlisê trong mấy năm qua. Có khả năng Êli đang nói: “những gì ngươi cầu xin sẽ là một cuộc sống khó nhọc đấy!” một cuộc sống với nhiều thử thách, bắt bớ, và trách nhiệm to lớn.
Vô luận có như thế nào, một điều kiện đã được gắn với những gì sẽ tỏ ra ý chỉ của Đức Chúa Trời về một lời cầu xin như thế – điều kiện là nhìn thấy Êli được đem đi. Điều nầy bày tỏ ra ý chỉ của Đức Chúa Trời, bày tỏ ra quyết định của Êlisê, và tỏ ra rằng Êlisê, là chứng nhân của ý chỉ nầy. Bản Kinh thánh Hêbơrơ ghi như sau: “Thế rồi, họ cùng đi, cùng trò chuyện, thì kìa . . .”. Câu Kinh thánh làm nổi bật sự kiện chỉ ra biến cố vinh hiển nầy đã xảy ra ngay giữa lúc họ đang trò chuyện với nhau cách mật thiết. Không nghi ngờ chi nữa, họ đang nói với nhau về những vụ việc của Đức Chúa Trời, về xứ sở và tình trạng của nó, về chức vụ và về sự dạy dỗ Ngôi Lời.
Chúng ta học được gì từ sự kiện nầy? Tôi nghĩ có đấy. Cho phép tôi đề nghị hai phần ứng dụng.
(1) Chúng ta nhìn thấy sự đầu phục liên tục của Êli khi phục vụ cho người học trò còn non nớt của mình. Chúng ta cũng nhìn thấy Êlisê đang tiếp thu mọi sự ông có thể khi ông có thể – dầm thấm lẽ thật và mối thông công để rồi ông sẽ trở thành người kế tục cho vị tiên tri.
Sự chuyển giao của Êli (2.11)
Bản Kinh thánh của chúng ta chép: “Hai người cứ vừa đi vừa nói với nhau”. Bối cảnh nầy cung ứng cho chúng ta một tấm gương thật xinh đẹp về tầm quan trọng của việc môn đồ hoá giữa vòng những người tin Chúa.
(2) Chúng ta nhìn thấy Êli nắm bắt chức vụ ngay lúc Đức Giêhôva bắt lấy ông. Há đây không phải là cách hết thảy chúng ta đều muốn cùng đi – trong mối thông công và hầu việc Chúa, tận dụng thì giờ cho cõi đời đời sao? Điều nầy không có nghĩa là chúng ta không dành thì giờ để đi câu cá, chơi golf hay làm vườn, hoặc một sinh hoạt vui vẻ nào khác, nhưng các thứ ấy không bao giờ là lý do cho cuộc sống. Chúng ta không bao giờ lui đi khỏi chức vụ!
Kế đó, chúng ta đọc: “kìa, có một cái xe lửa và ngựa lửa . . .”. Tôi dám chắc Êli đã muốn nói thêm nhiều việc với Êlisê và chắc chắn Êlisê chưa sẵn sàng để rời khỏi Êli. Hàm ý ở đây là, đột nhiên, ở giữa cuộc trao đổi của họ, sự bày tỏ nầy về sự hiện diện của Chúa đã thể hiện ra, phân rẽ hai người, và cất Êli đi.
Đây là phương thức mà Đức Giêhôva đang vận hành; cuộc sống là như thế đó. Chúng ta chưa hề sẵn sàng để mất đi một người thân yêu dấu, một người bạn hay một người thầy tốt. Luôn luôn có nhiều điều muốn nói, nhiều điều muốn dạy dỗ và học hỏi, nhiều thời giờ chúng ta muốn vui hưởng với nhau. Nhưng Đức Chúa Trời, chỉ một mình Ngài mới là Đấng không thể thiếu được, đột nhiên xem vào đời sống chúng ta rồi cất đi người bạn thân hay người thân của chúng ta về quê hương để ở với Ngài hoặc đưa họ đi đến một nơi ở khác. Điều nầy làm tổn thương và gây đau đớn cho chúng ta, nó không bao giờ làm cho chúng ta ở trong tình trạng bảo hoà đâu. Mà đúng hơn, nó đẩy chúng ta theo một hướng khác hoặc vào một trách nhiệm mới trong khi tin cậy nơi Chúa rồi ra đi vì Đức Chúa Trời. Cuộc sống phải tiếp diễn. Chúng ta phải cầm cây trượng lên rồi cứ nhắm theo hướng của mục tiêu. Thường thì là một mục tiêu mới mà Đức Chúa Trời đã đặt ở trước mặt chúng ta.
Làm ơn lưu ý rằng vị tiên tri chưa được đưa về thiên đàng trên chiếc xe ngựa lửa. Ông đã được đưa lên trời trong một cơn gió lốc. Chiếc xe và mấy con ngựa lửa là những cách bày tỏ ra sự hiện diện thiêng liêng của Đức Chúa Trời hay một sự tỏ ra các lực lượng thuộc hàng thiên sứ của Ngài, họ đã đến để đón Êli và cùng đi với ông lên trời. Cũng thực sự như thế cho chúng ta trong sự chết. Êli, giống như Hênóc, đã được chuyển đi mà không nhìn thấy sự chết. Ông đã được đưa về trời, nơi ấy tiêu biểu cho thiên đàng của Đức Chúa Trời. Ông đã được dời ra khỏi nỗi đau của thế giới sa ngã nầy để bước vào hạnh phước và sự vui mừng của thiên đàng.
Môise, vị tiên tri vĩ đại và là đấng ban luật pháp, đã chết, bị chôn. Êli đã về trời mà không thấy sự chết. Cũng một thể ấy cho hôm nay, vì sự trông cậy nơi sự tái lâm của Chúa, chúng ta cũng có viễn cảnh không nhìn thấy sự chết, mà đột nhiên sẽ được biến hoá thành thân thể được làm cho vinh hiển rồi cất lên trời để ở đời đời với Chúa. Đây là sự trông cậy hạnh phước của thân thể Đấng Christ. Nếu sự ấy chưa diễn ra trong đời sống của chúng ta, chúng ta vẫn có lòng tin cậy rằng sự chết có nghĩa là vắng mặt, ra khỏi thân thể mà hiện diện với Chúa. Dù là cách nào, tất cả những người tin Chúa đều có lòng trông cậy được ở với Chúa – trông mong phần thưởng và được ở với Đấng hay ban thưởng của chúng ta.
Chính ở đây mà chúng ta có một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của đời sống Cơ đốc. Đó là một nguyên tắc, chắc chắn là một nguồn lực làm thay đổi đời sống, quản trị, lèo lái đời sống của hai vị tiên tri nầy – hy vọng về thiên đàng và cõi đời đời cùng mọi sự có trong đó. Khả năng sống đời sống tin kính của chúng ta, hầu việc Đức Chúa Trời thay vì hầu việc bản ngã, tha thứ và yêu thương tha nhân, và tìm thấy sự bình an và vững vàng thực sự là sự tương xứng trực tiếp với cấp độ những sự vinh hiển của thiên đàng nắm lấy linh hồn chúng ta và trở thành động lực và cái neo cho đời sống chúng ta.
Điều chi ban cho hai vị tiên tri nầy lòng can đảm để làm những gì họ đã làm? Điều chi cung ứng cho chúng ta lòng can đảm để trở thành hạng người mà Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta phải trở thành và dâng mình cần thiết để kính mến và hầu việc Đức Chúa Trời và tha nhân. Có người đã định nghĩa can đảm là: “bằng lòng hy sinh để được một ngày tốt đẹp hơn”. Cho tới chừng nào phần điệp khúc của bài thánh ca xưa nầy: “Thế gian nầy không phải là quê hương của tôi, tôi chỉ đi ngang qua đấy mà thôi” trở nên hiện thực với chúng ta, chúng ta sẽ chưa thực sự được giải phóng ra khỏi những thế lực đang cai quản chúng ta và giữ chúng ta không đắc dụng cho Đức Chúa Trời, không thể yêu mến và phục vụ cho tha nhân được.
Ápraham chưa hề nhìn thấy mặc khải của mình thành hiện thực. Mặc dù ông đã tìm gặp xứ sở mà ông đã tìm kiếm, ông chưa hề sở hữu nó. Dòng dõi của ông đã sở hữu nó. Nhưng hàng trăm năm đã trôi qua trước khi họ kế tự lời hứa. Khi ấy Ápraham vẫn còn là một người lữ khách phiêu bạt trong xứ mà ông dự trù đến kiều ngụ. Ông đã được mô tả bằng nhiều cách, là “lữ khách”, “kiều dân”, “khách lạ”. Nếu ông là một con cái của thế kỷ thứ hai mươi, chúng ta phải gọi ông là một “người tị nạn”.
Ápraham vì thế là nguyên mẫu của môn đồ Chúa Giêxu. Chúng ta không sống trong lều trại giống như lữ khách Ápraham đã sống. Thậm chí chúng ta không được gọi là “tây balô” giống như một số anh chị em hiện đại của chúng ta. Tuy nhiên, nếu chúng ta sống nghiêm túc trong việc làm môn đồ của Đấng Christ, chúng ta đang chia sẽ cái nhìn cuộc sống của Ápraham.
Chúng ta không “thuộc về”. Chúng ta chỉ là những cư dân tạm thời mà thôi. Quê hương thực của chúng ta không có sẵn ngay tức thì đâu, nhưng chúng ta từ chối không định cư thường trực ở bất cứ đâu. Chúng ta là “lữ khách và người lạ”.
Chúng ta không chọn cuộc sống tạm là cuộc sống đáng ưa thích. Chúng ta không phải là dân du cư. Một người du cư chỉ nghĩ tới đồng cỏ tạm kế tiếp mà thôi. Tuy nhiên, sâu lắng trong chúng ta, là một nỗi khao khát về quê hương thật của mình. Chính sự khao khát nầy đánh dấu dân sự của Đức Chúa Trời. Họ không thuộc về thế gian nầy vì họ thuộc về một nơi khác.
Allender và Longman trong quyển Bold Love nói:
Dường như hầu hết cuộc sống của tôi nhắm vào việc bảo hộ và nâng cao một ngôi nhà mà chẳng phải là nhà của tôi nữa. Tôi vẫn đọc loại sách báo tự lực cánh sinh về việc làm cha mẹ, mong đợi có ai đó đến nói cho tôi biết cách thức làm cha mẹ cho đúng để con cái của tôi và tôi có thể tránh được sự buồn rầu trong trong cuộc sống. Tôi thường lắng nghe các bài giảng với cùng một cách suy nghĩ (“nói cho tôi biết cách làm cho cuộc sống nầy ra tốt đẹp hơn”). Mong ước chính ở đàng sau sự thịnh vượng của chúng tôi là tìm thấy những bước cụ thể, có thể làm chủ được dễ dàng để sống đời sống Cơ đốc thường cô đọng ở một đòi hỏi muốn tìm gặp trật tự, có thể đoán biết trước, và sự nhất quán trong một thế giới mà ở đó chẳng có được như thế. Bạn sẽ trả lời câu hỏi nầy ra sao: “Có phải tôi đang sống cho thiên đàng không?” hay “Có phải tôi sống mà cứ đòi hỏi cuộc sống phải giống như thiên đàng không?” Những câu trả lời của bạn sẽ quyết định bạn sẽ sử dụng cuộc đời của mình để phấn đấu cho điều gì?
***

ELIJAH: Việc chuyển giao của Êli -- Phần 1



Bài 18:

Việc chuyển giao của Êli -- Phần 1

(II Các Vua 2.1-11)
PHẦN GIỚI THIỆU:
Trong II Các Vua 2 chúng ta có một cái nhìn thoáng qua những việc làm quyền năng của Đức Chúa Trời qua Êli và Êlisê. Chương nầy dạy chúng ta một lần nữa về sức mạnh và quyền phép của Đức Chúa Trời. Chương nầy cũng bày tỏ ra một Đức Chúa Trời, là Đấng yêu thương và giàu ơn, Ngài chăm sóc cho chúng ta như dân sự của Ngài. Khi chúng ta nghiên cứu phân đoạn nầy, chúng ta cũng phải nhớ rằng bình thường ngày nay Đức Chúa Trời không hành động giống như Ngài đã hành động trong Cựu ước hay thậm chí trong Tân ước. Trong Kinh thánh, các phép lạ là ngoại lệ, không phải là tiêu chuẩn hay là luật lệ đâu! Nói như thế không phải là nói Đức Chúa Trời không có khả năng làm ra những phép lạ giống như thế hôm nay hoặc trong một số cơ hội, Ngài không hành động theo loại phương thức lạ lùng như Ngài đang làm. Tôi muốn nói rằng đây là một ngoại lệ. Ngày nay chúng ta không có loại ân tứ lạ lùng giống như Êli và Êlisê, và các môn đồ của thế kỷ thứ nhứt đã có. Hãy nhớ, từ một nghiên cứu Tân ước cách cẩn thận, các môn đồ rõ ràng đã đánh mất loại ân tứ lạ lùng ngay trước khi Tân ước được hoàn tất (đối chiếu Hêbơrơ 2.1-4; II Timôthê 4.20; I Timôthê 5.23).
Bất chấp sự kiện nầy, chương nầy nhắc nhớ và dạy dỗ chúng ta rằng Đức Chúa Trời chúng ta là một Đức Chúa Trời toàn năng và là Đức Chúa Trời siêu việt và toàn tại. Bởi tính siêu việt, chúng ta muốn nói rằng Đức Chúa Trời được tôn cao ở trên và được phân biệt với vũ trụ. Đức Chúa Trời là nguồn của mọi quyền phép bao la trong vũ trụ. Không có một luật lệ, quyền thế, hay mệnh số nào vượt cao hơn Ngài khi một mình Ngài là Đấng Tối Cao Tuyệt Đối. Bởi tính toàn tại, chúng ta muốn nói Đức Chúa Trời có quan hệ gần gũi nhiều với đời sống cùng sự sinh tồn của chúng ta. Ngài hiện diện khắp nơi, nâng đỡ, và điều khiển vũ trụ. Với bổn tánh vô hạn và thiêng liêng của Ngài, Ngài quan hệ trực tiếp với đời sống cá nhân chúng ta và các nhu cần dù nhỏ đến đâu đi nữa (thí dụ như Êlisê và lưỡi búa). Điều nầy có nghĩa là Đức Chúa Trời không phải chỉ dựng nên vũ trụ rồi bỏ đi mất, mà Ngài còn dính dáng một cách cá nhân với mọi loài thọ tạo theo một phương thức rất gần gũi.
Đức Chúa Trời ở bên trên sự sáng tạo và không hề bị gò bó bởi các luật lệ của nó, là các thứ luật lệ mà chính mình Ngài đã lập ra. Đồng thời, cá nhân Ngài còn dính dáng tới mọi đường lối của chúng ta nữa. Các phép lạ nầy vừa chứng tỏ và công bố ra tính siêu việt và tính toàn tại của Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta nghiên cứu phân đoạn Kinh thánh nầy, chúng ta phải cẩn thận trước sự kiện ai cũng thấy công tác cá nhân của Đức Chúa Trời trong đời sống của những người nầy hầu thay đổi và sử dụng họ theo các mục đích của Ngài. Có những bài học cần phải tiếp thu, tuy các bài học ấy không hiển nhiên giống như việc chia sông Giôđanh ra làm hai. Tuy nhiên, chúng vẫn là công việc toàn năng, khôn ngoan của một Đức Chúa Trời toàn tại, thân quen và cá nhân trong các sự cố đời thường giống như Ngài đang hành động hôm nay trong đời sống chúng ta vậy.
THỬ NGHIỆM SỰ ĐẦU PHỤC CỦA ÊLISÊ (2.1-6)
Câu 1 kêu gọi chúng ta chú ý vào sự kiện: các sự cố của chương nầy hết thảy đều diễn ra một cách ngắn ngủi trước phần chuyển giao của Êli, ông là một trong những giọng nói chính của Lời Đức Chúa Trời. Đức Giêhôva muốn có một sự thế chỗ cho Êli và Êlisê phải là nhân vật đó. Ông phải nắm lấy chức vụ của Êli, nhưng đây cũng có ý nói tới phần trách nhiệm dành cho vị tiên tri trẻ tuổi nầy. Phải chăng ông đủ sức, đủ khả năng với phần thách thức nầy? Phải chăng ông đã có đủ những gì là cần thiết?
Quyền phép mà Êlisê sẽ cần tới không phải là vấn đề. Quyền phép của ông sẽ đến từ Đức Chúa Trời, nhưng ông cũng cần tới tư chất thuộc linh để đối mặt với các thử thách và áp lực vào thời điểm sa sút nầy. Ông sẽ cần tới lòng can đảm, sự nhịn nhục, tính trung thành, cùng mọi ao ước và thứ tự trước sau theo Kinh thánh. Tôi tin câu chuyện cùng các sự cố nối theo sau trong những câu 2-6 đều được ấn định để thử nghiệm mọi đức tính có cần nơi Êlisê và bày tỏ ra thái độ sẵn sàng của ông cho phần việc đang có ở trước mặt ông.
Sau nhiều tháng học việc và theo sau Êli, có phải Êlisê bằng lòng tiếp tục không? Có phải ông đã dạn dĩ xông tới từ cả trăm thước lên thành cả dặm đường rồi chăng? Phải chăng ông đã quyết định cứ đi tới và ở lại với Êli cho đến mức cuối để ông có thể gánh vác trách nhiệm nặng nề theo sau sự ra đi của Êli? Hay người ta đã khuyên ông nên chịu thua?
Làm ơn để ý rằng ba lần trong các câu 2, 4 và 6 Êli đã yêu cầu Êlisê nên ở lại tại chỗ khi ông phải tiến bước căn cứ theo mạng lịnh của Đức Giêhôva: thứ nhứt từ Ghinh ganh đến Bêtên, kế đó từ Bêtên đến thành Giêricô, rồi sau cùng từ thành Giêricô đến sông Giôđanh. Ở hai nơi, thành Giêricô và thành Bêtên đều là hai ngôi trường lo đào tạo tiên tri, là các chủng viện đạo đức lo đào tạo lớp người trẻ biết dạy dỗ Kinh thánh và sử dụng các ân tứ của họ cho Đức Giêhôva. Êli rõ ràng là thủ lãnh của mấy trường nầy và không nghi ngờ chi nữa Đức Chúa Trời đã buộc ông phải chia tay với họ và khích lệ họ trong công việc trước khi ông được đem đi (đối chiếu II Phierơ 1.12…).
Phân đoạn Kinh thánh nầy không nói cho chúng ta biết lý do tại sao Êli đã yêu cầu Êlisê nên ở lại phía sau. Có người tin sở dĩ như thế là vì sự khiêm tốn. Có lẽ ông không muốn có người nhìn thấy sự việc rất vinh hiển sắp sửa xảy ra cho ông, nhưng Đức Chúa Trời muốn có một chứng nhân. Tôi cũng tin ông đang thử nghiệm Êlisê. Có lẽ Chúa đang sử dụng thái độ khiêm tốn và lưỡng lự của Êli không muốn có người nhìn thấy ông nên mới thử ngihệm chiều sâu sự đầu phục của Êlisê.
Đức Chúa Trời thường sử dụng những tư cách và đời sống của nhiều người khác để tác động chính đời sống chúng ta bằng nhiều phương thức khác nhau. Chúng ta cần phải công nhận điều nầy và đáp ứng lại trong đức tin đối với những gì Ngài sắp làm. Phải chăng có ai đó, mà đời sống của họ đang tác động hay khích lệ quí vị chăng? Hoặc có lẽ điều đối ngược lại đang hiện hữu chăng? Phải chăng có ai đó đang chọc tức quí vị, họ thử lòng kiên nhẫn của quí vị, hoặc họ thách thức quan điểm hay ý kiến của quí vị chăng? Sách Châm ngôn dạy: “Sắt mài nhọn sắt. Cũng vậy người bổ dưỡng diện mạo bạn hữu mình” (Châm ngôn 27.17).
Cứ mỗi lần như thế, Êlisê đã từ chối không chịu ở lại đàng sau. Thậm chí ông đã hai lần sử dụng một lời thề hầu tỏ ra “tính kiên trì của giống chó bull” (bulldog tenacity) cứ ở lại với thầy mình cho đến cuối cùng. Ông nói: “Tôi chỉ Đức Giêhôva hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề rằng, tôi chẳng hề lìa khỏi thầy”. Làm ơn lưu ý rằng Êli rất bằng lòng cứ mỗi lần Êlisê nói như vậy. Ông không thôi việc chống lại cảnh Êlisê cứ lẻo đẻo ở đàng sau và điều nầy cho thấy rằng đây là một thử nghiệm hầu minh chứng bản chất sắt đinh của Êlisê. Sự việc nầy dạy dỗ chúng ta điều chi về Êlisê và về loại bản chất mà Đức Chúa Trời muốn có nơi cấp lãnh đạo và các tín đồ kể từ khi chúng ta hết thảy là cấp lãnh đạo ở một chừng mực nào đó?
(1) Sự việc cho thấy một tâm thần dễ dạy, một sự khao khát muốn tiếp thu và nhận biết càng hơn nữa về Chúa và chức vụ. Chắc chắn là bởi thời gian nầy, là tôi tớ và là học trò của Êli, Êlisê vốn nhận biết một cách ứng xử có cần. Ông cũng biết thực ra ông chỉ mới bắt đầu mà thôi. Há đây không phải là trường hợp với hết thảy chúng ta sao? Chẳng một người nào có một cái góc để mà nhìn biết Đức Chúa Trời hết. Êlisê là một nhân vật sốt sắng muốn tiếp thu và kinh nghiệm nhiều hơn nữa về sự thông biết Chúa.
(2) Ông vốn trung thành, ham mến và đầu phục đối với chức vụ. Êli có thể chắc chắn sử dụng sự giúp đỡ và tình bạn cùng làm việc của mình qua các chuyến đi nầy. Điều nầy đã chỉ ra sự đầu phục của Êlisê đối với nhiều người khác trong vai trò một tôi tớ, đây là đòi hỏi cơ bản nhất của chức năng lãnh đạo.
Bạn có phải là một trưởng lão chăng? Đức Chúa Trời đã đặt quí vị phục sự ở đó, không những ngồi trong Ban Trị Sự và đưa ra một vài quyết định trong thời gian nhóm lại của ban trung niên. Có phải bạn là một người bạn đời, một người làm cha hay làm mẹ, một giáo viên Lớp Trường Chúa nhật, một người láng giềng? Đức Chúa Trời đã kêu gọi quí vị và tôi đến để phục vụ và hầu việc nhiều người khác. Điều nầy có ý nói tới sự sẵn lòng để đi thêm một dặm nữa.
Điều nầy cho chúng ta thấy Êlisê thực sự lo lắng cho thầy mình. Chúng ta cần có những Cơ đốc nhân trung tín là dường nào, họ không tìm kiếm lợi riêng cho mình từ nhà thờ hay từ các vị lãnh đạo của họ. Chúng ta cần hạng tôi tớ, những người có lòng thành lo nghĩ tới nhiều người khác và quyết định tìm cho ra các phương thức để mà phục vụ. Ngược lại, chúng ta rất thường mau phê phán và đánh hạ người khác ngay khi chúng ta đáng phải tìm kiếm những phương thức để mà phụ giúp cho.
(3) Ông dâng mình vào sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Điều nầy có ý nói tới các thứ tự ưu tiên và những mục tiêu của Đức Chúa Trời đã lèo lái và cai quản đời sống của ông. Chúa đã ban cho ông ân tứ của một vị tiên tri. Ông được kêu gọi bước vào phần việc của một vị tiên tri. Ông không bị mọi ước muốn khác cai trị, chúng có thể khiến cho ông tẻ tách ra khỏi con đường và khiến cho ông phải sa bại trước mặt Đức Chúa Trời và nhiều người khác. Trong thuật ngữ của Tân ước, ông là người được Thánh Linh cai quản. Thái độ của ông rất giống với những gì sứ đồ Phaolô bày tỏ ra trong Philíp 3.12: “Ấy không phải tôi đã giựt giải rồi, hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đã được Đức Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi”.
Là một vị tiên tri, không nghi ngờ chi nữa, ông vốn biết rõ Êli sẽ bị đem đi. Êlisê không cứ cách nào đó, đã ý thức được sự có mặt tại chỗ lúc bấy giờ là rất quan trọng cho sự kêu gọi của ông và cho sự ứng nghiệm công việc của Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông phải lo làm. Ông đã được định cho, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, rằng không một điều gì ngăn cản ông không trở thành một nhân vật và một con người mà Đức Chúa Trời mong muốn.
Bài học cho Êlisê khi băng qua sông Giôđanh (2.7-8)
Với câu 7 chúng ta có lần nhắc thứ ba về các môn đồ của những tiên tri (trường tiên tri). Rõ ràng là các tiên tri cũng biết Êli sắp sửa được cất đi và họ cũng rất muốn nhìn thấy điều chi sắp sửa diễn ra. Êlisê đã là tùy tùng của Êli và có lẽ sự việc nầy cho thấy rằng ông sẽ trở thành cấp lãnh đạo mới của những tiên tri. Tuy nhiên, các vị tiên tri lại không dám chắc sự ra đi của Êli sẽ là vĩnh viễn (đối chiếu 2.16…).
Vẫn có nhu cầu phải xác nhận uy quyền cho chức vụ của Êlisê hầu tỏ ra ông xứng đáng, đủ tư cách để kế tục Êli. Vì vậy, chúng ta thấy các môn đồ ra từ trường đào tạo tiên tri, ít nhất là một phần trong số họ, đang đứng ở một khoảng xa xa để quan sát những gì sẽ diễn ra. Không nghi ngờ chi nữa, đã có một bầu không khí phấn khích và trông đợi. Hãy lưu ý rằng tại Bêtên và tại Giêricô Êlisê đã bị tra hỏi: “Anh có biết rằng ngày nay Đức Giêhôva sẽ cất thầy của anh lên khỏi anh chăng?” Kinh thánh không thuật lại cho chúng ta biết lý do tại sao người ta đã đưa ra thắc mắc nầy, nhưng người ta muốn trông thấy Êlisê sẽ làm gì? Và có lẽ đây là lý do. Ông có chịu ở lại bên cạnh thầy mình cho đến cuối cùng không?
Đức Chúa Trời kêu gọi tất cả các tín đồ và đặc biệt các cấp lãnh đạo phải nêu gương giống như tâm tình của Đấng Christ. Công việc của chúng ta cần phải tỏ ra lối sống Cơ đốc có thẩm quyền, không phải để cung ứng cho chúng ta sự bảo đảm về ơn cứu rỗi mà là tỏ ra quyền phép làm thay đổi đời sống của tin lành và để cung ứng cho dân sự lòng tin cậy nơi sứ điệp của Đức Chúa Giêxu Christ.
Điều nầy cũng nhắc cho chúng ta nhớ rằng người ta đang quan sát, họ muốn nhìn thấy bằng chứng phước hạnh của công tác Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta. Người ta muốn nhìn thấy uy quyền trong đời sống đã được thay đổi, đời sống ngay thẳng, yêu thương, can đảm, đầu phục, trung tín, và phục vụ. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể nhìn thấy tấm lòng của chúng ta. Người ta phải nhìn thấy việc làm, trái Thánh Linh của chúng ta, nếu đời sống ấy có được một cái chạm vào các tín đồ cũng như người chưa tin Chúa (I Timôthê 4.12; Giacơ 2.14; Hêbơrơ 13.7).
Vì vậy, Êli và Êlisê đang đứng cạnh sông Giôđanh khi các tiên tri đang quan sát. Tại sao phải là sông Giôđanh chứ? Vì theo Kinh thánh, sông Giôđanh có một ý nghĩa rất đặc trưng nhất định. Nó tiêu biểu cho loại chướng ngại cho chương trình của Đức Chúa Trời. Nó nói tới loại chướng ngại đang đứng cản con đường bước vào ơn phước, sự hầu việc, và ý chỉ của Đức Chúa Trời. Mặt khác, việc băng qua sông Giôđanh tiêu biểu cho việc bước đi dưới quyền phép của Đức Chúa Trời. Nó nói tới đức tin nơi quyền phép của Đức Chúa Trời dời đi mọi ngăn trở và cho phép chúng ta cứ bước tới liên tục làm phu phỉ sự kêu gọi và công việc của Đức Chúa Trời (I Têsalônica 2.18; 3.10-11; II Têsalônica 3.1-2). Những gì nối theo sau sẽ trở thành một bài học chủ đạo và là một sự khích lệ cho Êlisê. Sau đó nó sẽ trở thành một phương tiện cho việc xác định uy quyền của chức vụ ông ở trước mặt các vị tiên tri khác và trước mặt dân Israel.
Có nhánh sông Giôđanh nào trong đời sống chúng ta ngay bây giờ cần được dời đi bởi đức tin và sự cầu nguyện hầu cho chúng ta cứ tiến bước với Chúa không!?! Loại ngăn trở ấy gồm có những việc như các giá trị và mục tiêu không đúng, sự biếng nhác, bị chiếm hữu với những việc sai lầm, hoặc bất kỳ một hình thái nào quản trị cuộc sống đời nầy chăng? Sự di dời chúng trở thành một cơ hội cho Đức Chúa Trời tỏ ra quyền phép của Ngài, một sự khích lệ cho quí vị và cho tôi, và là một bằng chứng cho nhiều người khác trông thấy nữa.
Hãy chú ý quá trình mà Êli phục sự cho Êlisê, đổi lại, việc nầy chuẩn bị ông cho chức vụ phục sự nhiều người khác, và cứ thế và cứ thế. Chúng ta đang xem ở đây nguyên tắc và nhu cần cho sự nhân rộng theo Kinh thánh (đối chiếu Mathiơ 28.19, 20 và II Timôthê 2.1-2).
Có phải chúng ta cũng biết rõ quá trình nầy? Chúng ta có thấy bản thân mình trước tiên là một môn đồ, một người học việc, một người dễ dạy và bằng lòng tiếp thu từ người khác giống như Êlisê chăng? Và có phải chúng ta nhìn thấy chính mình là hạng môn đồ, sẵn sàng dính díu vào trong việc vùa giúp cho nhiều người khác lớn lên? Hoặc có phải chúng ta thấy bản thân mình chỉ là người được kêu gọi để được người khác phục vụ cho chăng? Nói cách khác, có phải chúng ta tin nơi một vị mục sư chuyên nghiệp phải phục vụ chúng ta và thực thi công tác truyền giáo trong khi chúng ta ngồi thành nhiều hàng trong vai trò khán thính giả chăng?
Trong câu 8, Êli đã cầm lấy chiếc áo tơi của mình, gấp nó lại rồi đập trên mặt nước sông Giôđanh. Nước bị chia ra và hai vị tiên tri đã băng qua trên đất khô, giống như tại Biển Đỏ và tại sông Giôđanh khi Giôsuê dẫn dân sự vào trong Đất Hứa. Đây là một hành động công khai, không úp mở của Êli, nhưng đây là một sự trình bày thấy được bằng mắt thường về đức tin ở bên trong mà mắt thường không thấy được về quyền phép của Đức Chúa Trời.
Đây cũng là một bài học dành cho Êlisê. Khi Đức Chúa Trời chia hai dòng nước sông Giôđanh, làm thế Ngài đã giúp cho Êlisê cả sống và làm theo mọi sự có cần cho công việc và đời sống của ông trong vai trò người kế tục của Êli. Êlisê đã xỏ chân vào một đôi giày thật rộng và ông cần có lòng tin cậy nơi Chúa. Tôi dám chắc sự cố nầy đã đóng vai trò như một sự nhắc nhớ, là nguồn năng lực và đức tin bất tận không những cho Êlisê, mà còn cho hết thảy những ai đã chứng kiến việc ấy nữa.
Chính Đức Chúa Trời ấy, là Đấng đã tác động vào Êli và Êlisê, Ngài đang hiện diện hôm nay và sẵn sàng cho mọi nhu cần của chúng ta, Ngài tác động một cách quen thuộc và theo cách riêng. Vô luận nan đề hay nhu cần của chúng ta có là gì, Đức Chúa Trời đang quan phòng và sẽ tác động để vùa giúp chúng ta làm theo những gì Ngài đã kêu gọi chúng ta phải lo làm (I Phierơ 5.7; Philíp 4.13, 19). Tuy nhiên, chúng ta phải nhũ lòng rằng Đức Chúa Trời không tác động để làm thoả mãn những nhu cần theo cách bừa bãi hoặc vì các mục đích ích kỷ. Ngài đang quan phòng và yêu thương chúng ta và Ngài làm thoả mãn từng nhu cần vì cớ ấy. Nhưng Ngài cũng thường dựng nên thất bại và đau khổ với trình tự yên ủi chúng ta trong Con của Ngài hầu bày tỏ ra chương trình và các mục đích tối cao của Ngài cho đời sống chúng ta (Roma 8.28-29; Giacơ 1.2…).
Trong trường hợp nầy, Đức Chúa Trời đã tác động thật lạ lùng để dời đi mối ngăn trở hầu dạy dỗ, yên ủi, khích lệ, bày tỏ ra quyền phép, động lực của Ngài, và làm chứng cho một đời sống. Vì cớ đó, một thắc mắc chúng ta phải đều đặn tự hỏi mình là: Đức Chúa Trời đang làm gì trong đời sống tôi qua nan đề, hoàn cảnh, con người hay tình trạng của tôi? Hãy nhớ, Đức Chúa Trời là toàn tại! Chúng ta thường chấp nhận những vụ việc được xem là sản phẩm của các thế lực tự nhiên hoặc như những việc xảy ra tình cờ mà thất bại không nhìn thấy rằng chính Đức Chúa Trời mới là Đấng đã đặt một chỗ rẽ trên con đường (Truyền đạo 7.13-14).
PHẦN KẾT LUẬN:
Chúng ta hết thảy không thể trở thành một Êli hay một Êlisê được. Như đã nói ở trên, Đức Chúa Trời không tác động qua các sự cố kỳ lạ – thậm chí không trong các thời kỳ Cựu và Tân ước. Ngày nay chúng ta có toàn bộ kinh điển của Kinh thánh, Kinh thánh là một phép lạ rất lớn lao. Chính sự khải thị sau cùng của Đức Chúa Trời ghi lại các hành động mạnh sức có tính lịch sử của Đức Chúa Trời từ sự sáng tạo qua Hội thánh đầu tiên và dự kiến các hành động lạ lùng của Ngài trong những ngày sau rốt nữa.
Trong khi Đức Chúa Trời không tác động trực tiếp bằng các phép lạ ấy giống như chúng ta sẽ thấy Ngài đang làm trong các chương và các biến cố nối theo sau trong đời sống của Êlisê. Tuy nhiên, Ngài vẫn đang tác động thật khôn ngoan trong vô số phương thức – qua Lời Ngài, qua con người, qua các hoàn cảnh của những thử thách và phước hạnh, và qua Thánh Linh quí báu của Ngài nữa.
Sau đây là một số thắc mắc mà chúng ta nên phải tự hỏi mình:
(1) Có phải tôi giống như Êli, đang tìm cách trở thành một phước hạnh cho nhiều người khác và được Đức Chúa Trời đại dụng qua đời sống tôi cho đến cuối cùng không? Hoặc tôi có chịu tự treo mình trên cái giá với một số lời cáo lỗi không?
(2) Có phải tôi giống như Êlisê, thực sự đầu phục với sự kêu gọi của Chúa vô luận sự kêu gọi ấy sẽ đưa tới đâu theo các ân tứ tôi có và mọi nhu cần của gia đình, Hội thánh, cộng đồng của tôi không?
(3) Có phải tôi trung thành và vâng phục dưới mọi hoàn cảnh giống như Êlisê -- là một tôi tớ, là một môn đồ, là một người ở đàng sau bối cảnh học biết tin cậy, hầu việc và vâng lời không? Có phải tôi cũng bằng lòng, nếu được ban cho như vậy, để bước ra trở thành cấp lãnh đạo, bước ra để gánh lấy trách nhiệm không?
(4) Có phải tôi bằng lòng chấp nhận sự phân công của Đức Chúa Trời dù là bổn phận làm vệ sinh hay bổn phận trong văn phòng? Bất luận là sự phân công nào, Êlisê đã sẵn sàng -- và không những căn cứ theo các giới hạn của ông.
Đây không phải là một sự ra giá trực tiếp, nhưng tôi nghĩ tới điều mà Howard Hendrix đã nói: “thử thách gay go là đáp ứng của một người đối với những giây phút tẻ ngắt của những chức vụ ở phía sau sân khấu, những chức vụ kém vinh hiển, rất tầm thường, và có khi là những việc làm vô ơn, những tình huống không nhất thiết có nơi quí vị, nhưng là việc vẫn còn được cần tới”.
Bối cảnh nầy, cùng với những gì đã có trước nó, đang nhắc cho tôi nhớ tới Luca 16.10-13:
“Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc rất lớn. Vậy nếu các ngươi không trung tín về của bất nghĩa, có ai đem của thật giao cho các ngươi? Nếu các ngươi không trung tín về của người khác, ai sẽ cho các ngươi được của riêng mình? Không có đầy tớ nào làm tôi hai chủ được; vì sẽ ghét chủ nầy mà yêu chủ kia, hay là hiệp với chủ nầy mà khinh dể chủ kia. Các ngươi không có thể đã làm tôi Đức Chúa Trời, lại làm tôi Mamôn nữa”.
Rốt cuộc, mamôn là bất kỳ tà thần nào luôn tìm kiếm sự trung tín mà chỉ có Đức Chúa Trời chân thật mới xứng đáng nhận được mà thôi. Đó là thứ tà thần mà chúng ta đang nương vào để tìm kiếm sự an ninh, sự thoả lòng, và ý nghĩa mà chỉ có Đức Chúa Trời chơn thật mới có thể cung ứng cho mà thôi.
***

ELIJAH: Hãy nhận lấy chiếc áo choàng



Bài 17:

Hãy nhận lấy chiếc áo choàng

(I Các Vua 19.19-21)
PHẦN GIỚI THIỆU:
Hai sách I và II Các Vua đều ghi lại phần lịch sử của quốc gia Israel kể từ thời Vua Solomon đến sự phân chia của Vương quốc, sự sụp đổ của Vương quốc phía Bắc vào năm 722 với sự phu tù cho người Asiri, rồi kế đó là sự sụp đổ của Vương quốc phía Nam vào năm 586 TC với cuộc phu tù cho người Babylôn. Vương quốc bị chia thành Vương quốc Giuđa ở phía Nam, gồm hai chi phái Giuđa và Bêngiamin, và Vương quốc Isarel ở phía Bắc gồm có 10 chi phái còn lại.
Trong thời điểm nầy đã có những vị vua rất tốt, họ cai trị Vương quốc ở phía Nam và họ đã thực thi một số cải cách về mặt thuộc linh. Thế nhưng ở Vương quốc phía Bắc (nơi Êli và Êlisê hầu việc Chúa) tất cả những vị vua đều gian ác và chẳng có một lần phấn hưng nào hết. Tất cả các vua của Israel (Vương quốc phía Bắc) đều làm ác ở trước mặt Đức Giêhôva.
Ở giữa Vương quốc sa sút và thờ lạy hình tượng bị cai trị bởi các vua gian ác, đồi bại nầy, Đức Giêhôva đã kêu gọi hai người, người nầy là kế tục của người kia. Hai vị tiên tri đóng vai trò sứ giả của Đức Chúa Trời và Lời của Ngài. Họ cũng là cấp lãnh đạo của một trường tiên tri, họ phục vụ cho cả hai Vương quốc ở phía Bắc cũng như ở phía Nam.
Chức vụ của Êli không kết thúc với sự kêu gọi của Êlisê, ông trở thành học trò và bạn cùng làm việc với Êli. Thay vì thế, Êli đã tốn khoảng mấy năm trong vai trò cố vấn cho Êlisê. Sau khi được Chúa phục hồi tại Núi Hôrếp, Êli đã bắt đầu chức vụ cố vấn hay môn đồ hoá cho Êlisê. Làm cố vấn cho người khác là một trong những chức vụ quan trọng nhất mà bất kỳ ai trong chúng ta đều có thể có, đặc biệt là cấp lãnh đạo, đây cũng là chức vụ không có thời hạn cho các cấp lãnh đạo.
Chắc chắn là chức vụ ở đây có hai mặt. Không những Êli phục vụ cho Êlisê, mà không có gì phải nghi ngờ nữa, Êlisê đã trở thành một niềm yên ủi và là một sự khích lệ lớn cho Êli. Có một thời điểm, Êli đã tưởng chỉ có một mình ông còn sót lại để gánh vác công việc của Đức Chúa Trời, nhưng ông đã được cho hay đây không phải là trường hợp. Thực ra, đã có 7.000 người chưa hề quì gối trước mặt Baanh. Giữa vòng họ còn có một số trường tiên tri. Cho tới thời điểm nầy, họ đang ẩn náu trong các hang động, sợ hãi không dám lộ diện và rao giảng cho Chúa. Thế nhưng sau kinh nghiệm và sự đổi mới của Êli trên Núi Hôrếp, ông đã bắt đầu đi khắp trong xứ giảng dạy trong các trường nầy cùng với Êlisê trong vai trò bạn cùng làm việc và là môn đồ của ông.
SỰ KÊU GỌI CỦA ÊLISÊ (19.19)
Trong câu 19, chúng ta thấy Êli giờ đây đang ra khỏi vị trí của sự cô độc và ngã lòng. Đức Giêhôva đã tìm gặp ông trong khi ông hãy còn ở trong tình trạng đó và đã mang lại sức sống mới làm sự phục hồi cho ông, cho chức vụ của ông qua sự soi sáng thuộc linh mà ông đã nhận lãnh từ thiên sứ của Đức Giêhôva. Được phục hồi với sự hiểu biết mới về đường lối của Đức Chúa Trời mà Ngài đang vận hành, vị tiên tri liền rời khỏi hòn núi và tìm gặp Êlisê. Việc xức dầu cho các vua đã được nhắc tới trong 19.15-16 sẽ tới sau. Ưu tiên một là trước hết phải tìm gặp Êlisê.
Điều nầy phác hoạ cho thấy thể nào Lời của Đức Chúa Trời tác động làm hưng phấn và làm mới lại đời sống chúng ta. Một cách giàu ơn, Ngài tác động để đặt chúng ta vào đúng đường lối hay trở lại đúng tuyến hầu làm cho chúng ta được kết quả. Giống như Êli, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy chính mình cũng bị hạ thấp, cô độc, và ngã lòng, còn Đức Giêhôva là Đức Chúa Trời của mọi sự yên ủi (II Côrinhtô 1.3) và Ngài đã phó chính mình Ngài cho sự đổi mới và phấn hưng của chúng ta. Quả là một Đức Chúa Trời yêu thương và giàu ơn, nhưng chúng ta cần phải sẵn sàng cho nguồn lực đổi mới của Đức Chúa Trời: (a) Ngôi Lời (Roma 15.4), và (b) các tín hữu biết khích lệ lẫn nhau (II Côrinhtô 1.4; I Têsalônica 5.11; Hêbơrơ 3.13). Vì thế, Êli trước tiên đi tìm Êlisê, là người trở thành nguồn khích lệ cho vị tiên tri.
Êli đã tìm gặp Êlisê “đương cày có mười hai đôi bò trước mặt mình, chính người cầm đôi thứ mười hai”. Điều nầy dường như chỉ ra rằng Êlisê thuộc về một gia đình giàu có. Vâng theo lời kêu gọi có tính tiên tri có nghĩa là chịu lấy một sự thiệt thòi về mặt cá nhân. Sự kêu gọi ấy phải tính đến bằng mọi giá. Sự kêu gọi đó phải tính đến phần bảo đảm về mặt tài chính của ông đang là một sự mất mát và trở thành một chiến sĩ cho Đức Giêhôva sống trong những giao thông hào của cuộc chiến thuộc linh rất dữ dội. Thế nhưng mọi đáp ứng của Êlisê trong các câu 20 và 21 cho chúng ta thấy ông là một người có đức tin, ông bằng lòng chịu mất mát như thế.
Êlisê đã phát triển các thứ giá trị theo Kinh thánh, những gì theo thứ tự ưu tiên và các nhận thức đời đời đã chiếm hữu tấm lòng ông, mọi điều ấy đang cai quản những gì ông đã làm với đời sống của mình. Như một kết quả, ông đã hành động căn cứ theo đức tin của mình bằng việc bước theo lời kêu gọi của Đức Chúa Trời. Ông sẵn lòng chịu buộc phải bước ra khỏi cuộc sống bình lặng, an vui, và đồng áng với sự bảo đảm tài chính của cuộc sống đó mà bước theo Đức Giêhôva. Rõ ràng ông vốn nhìn biết mọi điều xứ sở ông đang cần chính là Lời của Đức Giêhôva. Giống như mấy người con trai của Ysaca, ông hiểu rõ thời thế và biết rõ những gì mình phải làm (I Sử ký 12.32).
Nhưng tôi nghĩ cũng thật là quan trọng khi để ý tới chỗ Êlisê đã ở khi Êli tìm gặp ông. Mặc dù ông thuộc về một gia đình giàu có, ông đã bắt tay mình lao động trong đồng ruộng cùng với nhiều bàn tay giỏi việc đồng áng khác. Dù giàu có, ông không sống trong sự nhàn rỗi vô trách nhiệm. Sự giàu có nầy không biến ông thành một nhà lãnh đạo, mà chắc chắn nó chứng tỏ ông đã phát triển một thứ tánh tình có cần cho chức năng lãnh đạo. Không những lao động khó nhọc tạo ra một bổn tánh, nó còn cung ứng cho ông một bằng chứng cho mọi người ở quanh ông đều nhìn thấy.
Tôi nghĩ thật là thú vị khi để ý thấy có nhiều nhân vật cao trọng trong Kinh thánh đã được kêu gọi bước vào một chức vụ đặc biệt nào đó sau khi họ đã chứng tỏ một khả năng và một sự bằng lòng lao động và cũng tỏ ra sự trung tín và trung thành ở nơi họ sinh sống nữa! Hãy lưu ý các phần minh hoạ sau đây:
Môise đang cho bầy chiên của Giêtrô ăn cỏ, Giêtrô là cha vợ của ông.
David đã coi sóc bầy chiên cho cha mình.
Phierơ là một ngư phủ.
Phaolô có nghề may trại.
Chính mình Chúa là một người thợ mộc, học nghề của Giôsép.
Có nhiều thanh niên vào trường đại học hay Trường Kinh thánh rồi kế đó vào Thần học viện. Sau khi tốt nghiệp, họ mong tìm cho được một chức vụ trọn thời gian mà chưa kinh nghiệm hữu ích về việc lao động ở nơi phải lao động, chưa thi hành nghĩa vụ quân sự hay học một nghề. Thế rồi chúng ta lấy làm lạ, tại sao họ có những nan đề trong chức vụ khi đối diện với những đòi hỏi quá cứng rắn. Phải, đây có thể là một trong những lý do. Nếu như họ không lao động qua trường lớp, nhiều người chưa thực nhìn biết khi đối diện với những thử thách ở chỗ lao động là như thế nào, họ cũng chưa phát triển được kỷ luật của lao động. Hơn nữa, nếu, vì một lý do nào đó họ phải rời bỏ chức vụ trọn thời gian rồi lao động trong một công việc đời thường, họ gặp nhiều khó khăn trong sự giúp đỡ cho bản thân và gia đình họ vì họ chưa hề học lấy một nghề nào hết. Khi cần yễm trợ cho sự thiếu thốn trong chức vụ, sứ đồ Phaolô luôn luôn xây sang nghề của ông là một người may trại.
Là bậc cha mẹ, chúng ta cần phải dạy cho con cái mình biết lao động, trước tiên là ở nhà, quanh nhà, và kế đó khuyến khích học một nghề là một phần trong sự học tập của chúng. Học biết lao động giúp phát triển đức tính, sự trung tín, năng lực và trách nhiệm.
“Êli đi ngang qua người (Êlisê), ném áo choàng mình trên người (câu 19). Chúng ta hãy để ý ba việc:
(1) Chiếc áo choàng nầy là chiếc áo thể hiện ra chức vụ của một vị tiên tri. Đã có ba loại áo choàng được may trong các thời kỳ Kinh thánh. Chiếc áo nầy là áo `adderet, một loại áo choàng được làm bằng lông thú và là chiếc áo choàng phân biệt do các vua may và đặc biệt được các vị tiên tri mặc (I Các Vua 19.13, 19; II Các Vua 2.8, 13-14; Xachari 13.4). Chiếc áo choàng đương nhiên đánh dấu một người là tiên tri, một phát ngôn viên của Đức Chúa Trời. Chiếc áo ấy cũng là biểu tượng cho sự hy sinh và sự đầu phục. Đời sống của vị tiên tri không phải là sống theo kiểu xa hoa. Chiếc áo choàng tiêu biểu cho ân tứ của một người, là sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, và là mục đích vì đó Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông.
(2) Việc ném chiếc áo choàng lên đôi vai của Êlisê là một hành động có tính biểu tượng mang ý nghĩa những lời kêu gọi bước vào chức vụ tiên tri, hành động ấy cũng có nghĩa là một dấu hiệu chắc chắn về ân tứ của Đức Chúa Trời giúp cho ông chu toàn chức vụ nói tiên tri. Hành động nầy bởi Êli là một lời tuyên bố có tính tiên tri rằng ân tứ tiên tri đã được ban cho (hay sẽ đến) với Êlisê. Ngay lập tức Êlisê hiểu ngay hành động đó mà chẳng cần nói ra một lời nào hết.
(3) Trong khi có người sẽ không nhất trí, tôi không tin Đức Chúa Trời kêu gọi các tín đồ theo cùng một phương thức hôm nay. Ngày nay, mỗi một tín đồ là một thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời (I Phierơ 2.5, 9) và theo một ý nghĩa, họ được kêu gọi vào chức vụ trọn thời gian làm đại diện cho Chúa dù công việc của họ là tầm thường. Là tín đồ trong Đấng Christ, chúng ta là đại biểu của Đức Chúa Trời và được kêu gọi bước vào chức vụ theo các ân tứ của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Phần việc nầy hay xảy ra ở nơi sở làm, trong gia đình, trong Hội thánh, với một người láng giềng, v.v... Mỗi một tín đồ đều có một ân tứ thuộc linh (hay nhiều ân tứ) và điều nầy chỉ ra ít nhất một phần của chiếc áo choàng là sự kêu gọi của Đức Chúa Trời nơi đời sống của một người.
Đức Chúa Trời ban ân tứ nào cho quí vị để lo làm, thì Ngài kêu gọi quí vị phải lo làm. Ngài kêu gọi quí vị phải làm gì, Ngài đã ban ân tứ cho quí vị để làm việc ấy. Làm sao quí vị nhận biết sự kêu gọi của Đức Chúa Trời? Bằng cách nhìn biết (các) ân tứ của mình.
Khi hiểu rõ hết thảy các tín đồ đã được ban cho (các) ân tứ thuộc linh, chúng ta nên tìm cách nhận biết (các) ân tứ của mình, phát triển chúng, và qua sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, đưa chúng vào hành động. Khi nhận biết các ân tứ của mình là gì rồi, sự nhận biết nầy quyết định ngay một phần lớn ý chỉ và định hướng của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta từ quan điểm những thứ tự ưu tiên, sự đầu phục, các mục tiêu, và sự tập huấn. Thí dụ, nếu một người không có một trong các ân tứ về ăn nói (dạy dỗ, khuyên bảo, v.v... ), Đức Chúa Trời không kêu gọi người ấy phải rao giảng hay trở thành một Mục sư. Trong khi hết thảy chúng ta đều làm công việc truyền giáo và sẽ tìm kiếm các cơ hội để môn đồ hoá và cố vấn cho người khác trên cơ sở một cặp một, chúng ta thực thi công tác ở ngoài toà giảng hay lớp học như một giáo viên nếu chúng ta không được ban cho ân tứ đó. Ân tứ của một người có thể là giúp đỡ, hay tỏ ra lòng thương xót. Nếu đúng như thế, đấy là nơi mà Đức Chúa Trời muốn sử dụng chúng ta. I Phierơ 4.10 chép: “Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời”. Một người quản lý tốt là người biết sử dụng các ân tứ của mình (tiếp nhận chiếc áo choàng) bởi sự trung thành mà phát triển (tập huấn và sử dụng).
Quan niệm nầy là thực, bất chấp việc làm của một người có là gì đi nữa! Việc làm của chúng ta có thể là một việc gì đó từ một kỹ sư đến một bác sĩ, từ một người nội trợ đến một thư ký điều hành, từ một y tá đến một bác sĩ. Thế nhưng năng khiếu của chúng ta, sự kêu gọi của chúng ta, là phải phục vụ Chúa đúng theo phương thức mà Ngài đã ban ân tứ cho chúng ta. Có lẽ quí vị biết rõ, như tôi biết, có người đã tìm nhiều cách thức hầu làm giảm đi gánh nặng công việc cùng thì giờ trong công việc hay nghề nghiệp của họ hầu làm tăng thêm khả năng của họ cho những loại chức vụ khác. Trong một số trường hợp, điều nầy sẽ làm giảm thu nhập, nhưng họ đã làm thế để đầu tư nhiều thì giờ hơn với gia đình của họ và với chức vụ. Trong một số trường hợp, Đức Chúa Trời chúc phước cho việc làm của họ càng hơn. Sự bố thí của họ không phải là sự làm cho họ phải thiếu thốn đâu! Tuy nhiên, điều nầy không cho rằng công việc đời thường không phải là một hình thái chức vụ. Tôi tin đây không phải là cái nền của tin lành đâu! Vì một quyển sách có nói tới sự thể nầy, cho phép tôi đề xuất: “Your Work Matters to God”, do Sherman và Hendricks viết.
PHẦN ĐÁP ỨNG CỦA ÊLISÊ (19.20-21)
ĐÁP ỨNG NGAY TỨC THÌ CỦA ÔNG (câu 20a)
Đáp ứng của Êlisê là ngay lập tức. Không có một sự chần chừ hay đánh trống lảng. Như chúng ta sẽ thấy, lời thỉnh cầu về cha mẹ của ông không phải là một hành động chần chừ đâu! Mà đúng hơn, Êlisê đã nhất quyết, không nghi ngờ chi nữa, hành động nầy cho thấy công việc trước đây của Đức Chúa Trời trong đời sống ông cùng thời điểm thuận tiện thật trọn vẹn của biến cố nầy. Đối với Êlisê (và cũng một thể ấy với hết thảy chúng ta), không phải đưa ra một quyết định nào nữa hết. Sự kiện Đức Chúa Trời kêu gọi, một cách hẳn hòi lập thành quyết định đó thay cho ông. Bất kỳ một quyết định nào khác chỉ sẽ dẫn tới sự hư không, bất hạnh và là thiếu mục đích trong cuộc sống, một sự chạy đuổi theo luồng gió thổi.
Chúng ta nói, vì cớ cần phải làm cho sáng tỏ, có ai đó có ơn giảng dạy hoặc có ơn tỏ ra lòng thương xót. Chiếc áo choàng hay sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống của họ là phải dính díu vào ở một cấp độ và ở một tư thế nào đó với sự phát triển và sử dụng ân tứ ấy. Họ không phải cầu xin: “Lạy Chúa, con có nên phát triển ân tứ nầy và tìm một chức vụ để sử dụng ân tứ ấy hay không?” Suy tưởng và cầu nguyện như thế nầy thì giống như cầu xin Chúa cho phép họ sử dụng đôi chân để đi bộ vậy. Tất nhiên là có các yếu tố khác mà vì đó chúng ta phải tìm kiếm sự khôn ngoan và cầu nguyện như thế nầy: đâu là các ân tứ của tôi và tập huấn nào tôi cần có để sửa soạn cho cơ hội và vị trí đặc biệt là nơi mà Chúa cần tôi phục sự ở đó? Nhưng chúng ta không phải cầu xin, liệu tôi có nên sử dụng (các) ân tứ của tôi không?
Có nhiều mạng lịnh đặc biệt về các ân tứ thuộc linh: (a) chúng ta cần phải biết rõ (các) ân tứ của mình – Roma 12.3; (b) chúng ta không được chễnh mãng (các) ân tứ của mình -- I Timôthê 4.14; (c) chúng ta cần phải dấy lên, phải sốt sắng với (các) ân tứ của mình -- II Timôthê 1.6; I Têsalônica 5.19-20; và (d) chúng ta cần phải sử dụng (các) ân tứ của mình trong tình yêu thương, phục vụ người khác bằng sức lực mà Đức Chúa Trời cung ứng cho và vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời -- I Phierơ 4.10-11; Roma 12.4...
Lời thỉnh cầu hiếu kính cha mẹ của ông (câu 20b)
Êlisê đã cầu xin để cho ông về “hôn cha và mẹ tôi đã, đoạn tôi sẽ theo ông” (19.20). Đây không phải là một nổ lực để thoái thác sự kêu gọi cũng không phải là một hành động chần chừ. Có người đã kết không đúng câu nầy với Luca 9.57-62. Chúa vốn biết rõ tấm lòng của con người trong Luca 9 và đã nhìn thấy nó như thế nào rồi, một sự thiếu đầu phục và là một nổ lực để tránh né sự kêu gọi của Ngài. Đây là một sự thất bại trong sự tự chối bỏ mình, v.v...
Thế nhưng với Êlisê, trường hợp khác biệt một cách hoàn toàn. Lời thỉnh cầu của Êlisê được giục giã bởi hai việc: (a) Đây là một hành động tôn kính chân thành dành cho cha mẹ mình, và (b) hành động nầy được giục giã bởi một sự khao khát muốn kỷ niệm lần bước vào chức vụ, công bố và khẳng định sự đầu phục của ông khi bước theo Chúa trước mặt bạn hữu và gia đình. Chúng ta sẽ thấy điều nầy trong I Các Vua 19.21.
Êli trả lời (câu 20c)
Êli đã chấp thuận lời thỉnh cầu của Êlisê. Ông nói: “Hãy đi và trở lại . . .” Kế đó ông thêm một lời cảnh tỉnh và nói: “vì ta nào có làm gì cho ngươi đâu?” Câu nói nầy dường như là một câu thành ngữ nghe như rời rạc và thậm chí vô nghĩa đối với chúng ta. Theo câu thành ngữ, chúng ta phải dịch như sau: “hãy trở về rồi hãy nói lời tạm biệt, vì ta đã làm một việc rất quan trọng cho ngươi, nhưng hãy suy nghĩ cẩn thận về những gì ta đã làm cho ngươi, vì sự kêu gọi ngươi không phải đến từ ta đâu, mà đến từ Đức Chúa Trời đấy!” Ý ở đây là Êlisê phải nghĩ Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm về những gì Ngài đã làm, chớ không phải Êli. Những gì Êli đã làm là nói ra lời kêu gọi của Đức Chúa Trời. Êli sẽ trở thành cấp lãnh đạo thuộc linh và cố vấn của Êlise, nhưng Êlisê phải hiểu rằng ông phải chịu trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời, chớ không phải với con người.
Là tôi tớ của Đức Chúa Trời, chúng ta phải nhớ rằng chúng ta chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với Chúa về những gì chúng ta làm với đời sống của chúng ta. Đức Chúa Trời sử dụng những người nam và nữ trong đời sống chúng ta để tiếp cận, để dạy dỗ, để thách thức chúng ta, v.v..., nhưng họ chỉ là những công cụ mà Đức Chúa Trời sử dụng để chỉ dạy hay dẫn dắt chúng ta theo đúng phương hướng. Chúng ta phải chịu trách nhiệm lẫn nhau ở một cấp độ nào đó, nhưng trách nhiệm tối hậu của chúng ta là trách nhiệm đối với Chúa (Roma 14.11-12). Đối với tôi dường như là có một nguyên tắc quan trọng ở đây. Một trong các mục tiêu của chức năng lãnh đạo, là đối với bậc làm cha làm mẹ, là phải giúp cho người ta học biết chịu trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời (Hêbơrơ 13.17).
Lễ kỷ niệm sự kêu gọi và sự đầu phục của Êlisê (19.21a)
Đôi bò và các nông cụ, cái cày với cái ách bằng cây, tiêu biểu cho những công cụ làm ăn của ông, là phương tiện và là nền tảng cho cuộc sống của ông trong quá khứ. Câu 21, về mặt cơ bản, là tuyên ngôn của Êlisê về sự ông đầu phục bước theo Chúa. Thực ra, ông đã đốt bỏ mấy chiếc cầu nối và kể quá khứ mình là lỗ đối với Chúa mà ông kể là lợi, rồi tiếp thu đời mới và chức vụ mà Đức Chúa Trời đã dành cho ông trong vai trò một vị tiên tri (Philíp 3). Êlisê đã tỏ ra cho gia đình và bạn hữu thấy rằng ông đã có những mục tiêu, chủ đích, sự cảm thúc mới mẻ, những sự đầu phục, các giá trị và những điều ưu tiên mới mẻ. Hành động của ông tỏ ra sự ông cương quyết không bao giờ ngó lại đàng sau, không bao giờ tìm cách lui đi, hoặc lìa khỏi sự kêu gọi của Đức Chúa Trời bất luận chức vụ ấy có khó khăn ngần nào. Đây là cái “phải” dành cho hạng tín đồ và đặc biệt dành cho các cấp lãnh đạo thuộc linh. Roma 12.1-2 hình thành nên nền tảng cho phần nhấn mạnh nối theo sau. Roma 12.3-21 khuyên chúng ta phải nhận biết và sử dụng các ân tứ của mình trong chức vụ.
Qua các hành động của Êlisê, Đức Chúa Trời đang tỏ ra cho chúng ta thấy chúng ta cần phải phát triển một thái độ không bằng lòng thú nhận mình thua cuộc, không bao giờ nói “Ta bỏ cuộc”. Cuộc sống và sự hầu việc dành cho Chúa giống như một cuộc chạy băng ngang qua xứ vậy – không phải chạy nước rút 100m đâu! Một trong những nhu cần quan trọng nhất trong sự sống Cơ đốc là những người làm cha làm mẹ, những người làm chồng làm vợ, hay là hạng tôi tớ trong bất kỳ lãnh vực nào là phải gánh chịu với sự đầu phục. Chúng ta cần phải trở thành hạng người chuyên giải quyết nan đề, làm việc qua các nan đề hơn là bỏ cuộc. Êlisê đã đốt bỏ những chiếc cầu nối phần đời quá khứ của mình.
Sự chuẩn bị của Êlisê (19.21b)
Êlisê trở thành bạn cùng làm việc, là tôi tớ của Êli (II Các Vua 3.11). Thì giờ ông ở với Êli không những là được dạy dỗ về thần học và thực tập chức vụ với những người khác, mà còn là sự hạ mình, thuận phục theo uy quyền, trung thành, trung tín, và vâng phục trong vai trò một tôi tớ. Tất cả mọi điều nầy vốn quan trọng cho sự tập huấn và sự sửa soạn ông cho chức vụ. Muốn lãnh đạo, trước tiên một người phải học biết chịu ở dưới quyền. Muốn đưa ra những phương hướng, trước tiên một người phải học biết cách thức tiếp thu và bước theo phương hướng! Muốn sống trung tín, trước tiên một người phải học biết sự trung tín. Đây dường như là một trong những bài học trong Luca 16.10: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc rất lớn”. Phần chuẩn bị của Êlisê nhắc cho tôi nhớ tới lời bình của Đấng Christ trong Mác 10.43-45: “Song trong các ngươi không như vậy; trái lại hễ ai muốn làm lớn trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ; còn ai trong các ngươi muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi mọi người. Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta”.
PHẦN KẾT LUẬN:
Đức Chúa Trời đã đặt một chiếc áo choàng, một lời kêu gọi, trên từng tín đồ trong Đức Chúa Giêxu Christ (I Phierơ 4.10-11). Là chức thầy tế lễ tin theo Chúa, chiếc áo choàng nầy là (các) ân tứ thuộc linh mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Là những người được ơn, chúng ta mỗi người phải trở thành hạng quản gia trung tín về chức vụ quản gia mà Ngài đã phó thác cho chúng ta về thì giờ, talâng, (gồm các ân tứ thuộc linh của chúng ta), của cải, và lẽ thật của Ngài. Điều nầy đòi hỏi loại đầu phục của Êlisê. Khi sự đầu phục không có ở đó, chúng ta sẽ chao đảo bên chiếc hàng rào và chúng ta sẽ không đủ sức đưa ra những quyết định có cần để bước theo Chúa. Không nghi ngờ chi nữa, đây là những gì Đức Chúa Giêxu Christ muốn nói tới trong Luca 14.26, 27 và 33. Ba điều kiện được nhắc tới trong Luca 14 xử lý với sự đầu phục toàn phần cần thiết. Không có sự đầu phục toàn phần, chúng ta không thể trở thành môn đồ của Ngài; chúng ta không thể đưa ra những quyết định có tính cách hy sinh mà sự đi theo Ngài đòi hỏi phải có. Điều nầy có ý nói tới một sự tái đánh giá lại mọi giá trị, mọi thứ tự ưu tiên, mọi thái độ, và mọi sự theo đuổi của chúng ta, nhưng trên hết mọi sự đó, phải trả lời câu hỏi, ai và cái gì là nguồn cội đức tin của bạn? Phải nguồn cội đó là Chúa không? Tôi có thực sự tin Ngài sẽ là mọi sự mà tôi có cần không? Hoặc thực tế thì đức tin của tôi có neo trong các chi tiết của cuộc sống – khoái lạc, địa vị, quyền lực, danh tiếng, của cải không? Êlisê, giống như Êli, là một con người bình thường, nhưng ông đã trở thành một con người cực kỳ phi thường vì ông rất sẵn sàng cho Chúa, vì ông đã hướng sự sống mình vào Chúa, bao gồm mọi thứ, và Đức Chúa Trời sẽ đại dụng ông theo những phương thức thật phi thường.
***

ELIJAH: Sự hồi phục của Êli



Bài 16:

Sự hồi phục của Êli

(I Các Vua 19.5-18)
PHẦN GIỚI THIỆU:
Trong hết thảy các chương nói tới đời sống và chức vụ của Êli, theo ý của tôi, I Các Vua 19 là chương mang nhiều tính dạy dỗ và trong nhiều phương thức, là chương khích lệ nhất vì hết thảy chúng ta đều có thể dễ đồng cảm với vị tiên tri và với thất bại của ông. Ngay khi Chúa cần tới ông, vị tiên tri thiêng liêng, đã được dạy dỗ nhiều nhất nầy đã cho thấy ông là một thất bại đáng kể và đã kết thúc bằng việc bỏ chạy ra khỏi vị trí của mình với một tư thế ngã lòng khủng khiếp.
Êli đã chứng tỏ sự can đảm trước mặt Aháp tại cung điện của nhà vua và trên Núi Cạtmên. Ông cũng đã chứng kiến sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời bên dòng khe, tại nhà của người đờn bà goá, trong những năm tháng đói kém, trong ngọn lửa giáng xuống từ trời thiêu đốt của lễ, trong sự đến của cơn mưa, và trong khả năng chạy trước Aháp trở về Gítrêên. Tuy nhiên, khi đối diện với lời đe doạ của Giêsabên và sự thật hiển nhiên sẽ chẳng có phấn hưng ngay tức thì trong xứ, thình lình ông bắt sợ hãi và ngã lòng. Kế đó ông bỏ trốn rồi chạy thục mạng vì muốn cứu sự sống mình. Nếu Giêsabên thực sự muốn ông chết, bà ta sẽ ra sức bắt lấy ông mà không một lời cảnh cáo, nhưng, bà ta quả là gian trá, thay vì thế bà ta muốn làm cho ông mất thể diện trước khi ông được đổi mới và bà ta đã thành công.
Chúng ta đã đưa ra thắc mắc, làm sao một việc như thế lại xảy ra cho một người của Đức Chúa Trời chứ? Chúng ta nhìn thấy một phần lý do, không nghi ngờ chi, đang nằm trong nan đề những sự ông trông mong, trong vấn đề trọng tâm: sự hư mất của ông, và trong nan đề nhắm vào các chiến lược riêng của ông (với hai nan đề sau cùng chính là kết quả của nan đề đầu tiên). Thật là đúng khi trông mong Chúa hành động, nhưng những sự trông mong của chúng ta không phải là nguồn phước hoặc lòng tin cậy của chúng ta đặt nơi công việc của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải học biết đặt mọi sự chúng ta trông mong vào quyền tể trị của Đức Chúa Trời, tin cậy Ngài về thì thuận tiện và các phương tiện.
Nhưng khi Chúa không lui tới với Êli và thất bại không có nghĩa là tiêu tan hay là một điểm cuối cùng trong chức vụ chúng ta. Đây cũng là một trong những yếu tố thật khích lệ của chương nầy. Tuy nhiên, trước khi Đức Chúa Trời sử dụng Êli, có một vài việc mà Êli phải tiếp thu. Thất bại và sự ngã lòng của Êli (vì những điều ông trông mong) thích ứng với hai việc. Thứ nhứt, ông có nhận định không biết điều chi sẽ làm thay đổi được xứ sở!?! Những thành công mà Đức Chúa Trời ban cho ông đã khiến ông xem mình là quan trọng lắm lắm (19.4, 9, 14). Hơn nữa, ông đã tưởng phương tiện chủ lực để đến với dân sự là bày tỏ ra quyền phép của Đức Chúa Trời bằng các phương thức gây ấn tượng sâu sắc và ngoạn mục. Ông đã tưởng, nếu họ không đáp ứng lại với quyền phép đó, thì chẳng còn có hy vọng nữa. Vì thế, khi ông thất bại không nhìn thấy những kết quả mà mình mong đợi, ông đã tan vỡ. Ồ, chúng ta thường đưa cái tôi lên cao để rồi ngã lòng vì sự kiêu ngạo và những điều mình trông mong, lẽ ra chúng ta phải đặt những điều ấy trên nền tảng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.
Giờ đây, chúng ta bước sang tiểu đoạn nầy, hãy lưu ý rằng năm lần chữ “behold” (nầy, đoạn) được sử dụng để làm nổi bật một sự kiện hay lẽ thật quan trọng về cách ứng xử của Đức Chúa Trời đối với vị tiên tri (19.5, 6, 9, 11, 13). Ngược lại với cái phông thất bại của Êli, từ ngữ nầy làm nổi bật công tác giàu ơn của Đức Chúa Trời khi phục hồi vị tiên tri trở lại với chức vụ của ông bất chấp những gì ông đã làm. Chúng ta hãy xét qua Chúa đã tác động thể nào để phục hồi vị tiên tri.
Sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời cho Êli (19. 5-18)
Sự tiếp trợ về giấc ngủ (câu 5a)
Cây giếng giêng không phải là cây thuộc loại tùng bách giống genus juniperous (bách xù). Từ ngữ Hybálai nói tới cây nầy hay bụi cây là rothem. Đây là bụi cây có rất nhiều ở phía Nam xứ Palestine. Nó có nhiều nhánh dài thon thả với lá nhỏ và cung ứng ít bóng mát hay sự bảo hộ tránh mặt trời. Và cũng một thể ấy với những giải pháp do con người làm nên, từ đó chúng ta tìm cách ẩn náu, nương thân hay là loại giải pháp cho nỗi đau của chúng ta. Bị kiệt sức, Êli đã nằm xuống ngủ. Đức Chúa Trời đã ban cho giấc ngủ và sự yên nghỉ khi cần thiết cho sự tồn tại và khả năng sinh hoạt của chúng ta, vì vậy Chúa cho phép một thời gian ngủ nghỉ trước khi Ngài đưa tới chặng đường kế trong sự tiếp trợ của Ngài cho Êli. Thật thú vị dường bao! Đức Chúa Trời nhớ tới chúng ta là giống yếu đuối. Ngài biết chúng ta được nắn nên bởi giống gì, chúng ta được dựng nên bằng bụi đất. Ngài biết chúng ta có thân thể bằng vật chất phải được chăm sóc, thường thì trước khi phần thuộc linh hoạt động (Thi thiên 103.14).
Trước khi chúng ta mong đợi quá nhiều từ bản thân mình hay từ người khác, là những người chúng ta đang tìm cách khích lệ với Ngôi Lời, chúng ta hãy nhớ nguyên tắc nầy về nhu cần phải yên nghỉ và đôi khi các nhu cần về phần xác thể phải được chăm lo trước các nhu cần về thuộc linh.
Sự tiếp trợ của một thiên sứ (câu 5b)
Thời gian và nơi chốn sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời
Với chữ “behold” (đoạn), câu Kinh thánh có chữ zeh, một trạng từ chỉ nơi chốn hay có lẽ trạng từ chỉ thời gian có nghĩa là “ở đây” hoặc “bây giờ”. Sát nghĩa, câu Kinh thánh tiếng Hybálai đọc: “Nầy, ở đây” hay “Nầy giờ đây”. Chữ nầy làm nổi bật nơi chốn và thời gian khi thiên sứ của Đức Chúa Trời, sứ giả thương xót của Ngài, hiện đến trên bối cảnh. Chúa chỉ ra điều gì cho chúng ta trong bức tranh nầy? Công tác đặc biệt nầy của ân điển Đức Chúa Trời không xảy ra trên đỉnh Núi Cạtmên, cũng không xảy ra khi xung đột với các tiên tri Baanh, cũng không xảy ra bên dòng khe mà Chúa đã bảo Êli đến đó, cũng không xảy ra khi ông đang cầu nguyện và tương giao mật thiết. Sự thể nầy xảy ra khi ông có mặt trong đồng vắng, khi Êli không còn ở trong mối tương giao nữa. Sự thể xảy ra khi ông ngã lòng và là một kẻ bỏ trốn với các chiến lược hay nhất của riêng mình có thể cung ứng cho -- một bụi cây chẳng có giá trị gì ngoài sa mạc.
Bản chất sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời
Câu 5 cho chúng ta biết một thiên sứ đã chạm đến ông, đánh thức ông tỉnh dậy để ăn. Nhưng trong câu 7 vị thiên sứ nầy được nhận ra là “thiên sứ của Đức Giêhôva”, một phần mô tả luôn luôn được sử dụng trong Cựu ước nói tới sự xuất hiện thật đặc biệt của chính mình Đức Chúa Trời. Đây không phải là một thiên sứ tầm thường. Đó là Theophany hay đúng hơn là Christophany – một sự xuất hiện của Ngôi Hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Đây đúng là Cứu Chúa, Ngài đã đến một cách cá nhân để phục vụ cho vị tiên tri. Đức Chúa Trời đã không sai bầy quạ giống như trước đây nữa, cũng không sai một người đờn bà goá, cũng không phải một phương tiện thiên nhiên nào khác, mà là Đấng Christ trước khi hoá thân thành nhục thể. Tại sao vậy?
(1) Để tỏ ra cho vị tiên tri thấy tình yêu thương và ân sũng của Ngài, và có lẽ để nhắc cho chúng ta nhớ rằng chính khi chúng ta là hạng tội nhân và xa cách Đức Chúa Trời, Ngài đã sai phái Con Ngài đến tìm và cứu chúng ta. Điều nầy cũng là một sự nhắc nhớ rằng Đấng Cứu Thế không hề lìa bỏ chúng ta vô luận chúng ta có sống xa cách ngần nào! Ngài luôn tìm kiếm để làm cho chúng ta được phục hồi một cách cá nhân. Chúa không bỏ qua những gì Êli đã làm hoặc không chú ý tới đâu, mà đúng hơn (a) Ngài đang quyết chắc với Êli ông vẫn là đối tượng của tình yêu Ngài, và (b) Ngài vẫn có một chương trình và mục đích cho vị tiên tri y như Ngài có cho chúng ta khi chúng ta rời khỏi chương trình của Ngài. Hãy so sánh Giăng 21.
(2) Điều nầy cũng khẳng định quyền phép của Đức Chúa Trời. Mặc dù phương tiện có thể không đầy đủ cho chúng ta và mọi sự dường như sắp tiêu mất và chẳng có hy vọng gì hết, không bao giờ có một kết thúc đối với cấp độ yêu thương và chăm sóc của Đức Chúa Trời, cũng không có kết thúc đối với khả năng và quyền phép trong cách sắp xếp của Đức Chúa Trời để cung ứng cho bất kỳ nhu cần nào ở bất cứ thời điểm nào.
Sự tiếp trợ về đồ ăn (câu 6)
Êli vốn cần một sự dạy dỗ đặc biệt nào đó từ nơi Chúa, nhưng một lần nữa, trước hết ông cần sức lực thuộc thể qua sự ăn uống. Ông đã ở trong tình trạng cần lắng nghe Lời của Đức Chúa Trời, không có điều kiện chi hết. Hai lần ông được truyền cho phải ăn và uống, và hai lần ông được phép nằm xuống mà ngủ. Một lần nữa, chúng ta được nhắc nhớ rằng là con người, chúng ta được định cho chức năng hoạt động trong tất cả các phương diện chúng ta đang có -- thân, hồn và thần. Mặc dù thuộc linh là nền tảng và quan trọng cho tình trạng mạnh khoẻ và tính hiệu quả của các tôi tớ Chúa, tất cả các phương diện chăm sóc cho chúng ta rất cần thiết và từng chi thể được tác động bởi các chi thể khác (đối chiếu Mathiơ 6.33; I Timôthê 4.8; Châm ngôn 14.30; 17.22).
Chúng ta hãy lưu ý phần đáp ứng của Êli trong câu 6: “Người ăn uống, rồi lại nằm”. Điều nầy cho chúng ta biết được điều gì? Khi chúng ta ngã lòng và đang ở ngoài mối tương giao với Chúa, chúng ta có khuynh hướng không còn nhạy cảm và chẳng còn thú vị giống như người thế gian vô tín vậy. Êli dường như chẳng ngạc nhiên cũng không bị áp đảo bởi sự tiếp trợ của ân điển nầy. Chẳng có một đáp ứng nào được ghi lại, thậm chí một câu “cám ơn” cũng không có. Câu chuyện cho thấy ông chỉ nhậm lấy điều chi Đức Chúa Trời ban cho mà thôi.
Bạn sẽ làm gì một khi bạn là Chúa nào? Có lẽ giáng mưa xuống trên ông suốt cả đêm hay sai một bầy muỗi hoặc bầy kiến lửa đến. Nhưng Đức Chúa Trời giàu lòng thương xót, yêu thương, và giàu ơn. Hơn nữa, Ngài vốn biết Êli không có sức đáp ứng và Đức Chúa Trời cũng chẳng mong đợi sự đáp ứng đó. Khả năng của ông về sự đáp ứng và sự nhận thức sẽ đến sau đó. Cho tới bây giờ, Đức Chúa Trời đã rất kiên trì và đang tìm cách phục hồi và ban sức lực cho.
Chuyến hành trình tới Hôrếp, Núi của Đức Chúa Trời (câu 8)
Câu 8 cho chúng ta biết “rồi nhờ sức của lương thực ấy, người đi….đến Hôrếp, là núi của Đức Chúa Trời”. Vì cớ lịch sử của hòn núi nầy và câu nói sau cùng trong câu 7, chúng ta sẽ bị cám dỗ mà nghĩ rằng ông đi tới đó đặng tìm kiếm Chúa hoặc ông đi đến đó theo lịnh lạc của Đức Chúa Trời. Tôi không tin câu Kinh thánh ủng hộ ý kiến ấy. Hãy chú ý hai lần Êli bị hỏi ông sẽ làm gì tại nơi đó trên hòn núi (câu 9 và 13). Đây là Đức Chúa Trời, là Đấng Mưu Luận Vĩ Đại đang hành động để buộc Êli phải đánh giá xem ông đã ở đâu, tại sao ông có mặt ở đó, và ông sẽ làm chi!?! Ông có mặt ở đó vì ông vẫn còn đang trong tình trạng bỏ chạy.
Hơn nữa, câu Kinh thánh cho chúng ta biết “rồi nhờ sức của lương thực ấy, người đi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm cho đến Hôrếp”. Từ chỗ Êli khởi sự, một chuyến hành trình tính từ Nam Bêe-Sêba, không nhất thiết ông phải đi 40 ngày và 40 đêm đến Hôrếp. Một chuyến đi suốt chỉ cần từ 7 đến 8 ngày. Dường như là ông đang lang thang nhiều ngày giống như con cái Israel đã lang thang trong 40 năm vậy.
Hơn nữa, 40 ngày và 40 đêm không phải là không có ý nghĩa về mặt biểu tượng. (a) Khi con cái Israel có một sự thất bại quan trọng về mặt thuộc linh (tại Cađe-Banêa) và đã phiêu bạt 40 năm trong đồng vắng, cũng vậy một Êli ngã lòng đã mất 40 ngày trong sa mạc (đối chiếu Dân số ký 14.26-35). (b) Khi Môise mất 40 ngày trên núi mà không có bánh và nước, chỉ được Đức Chúa Trời nâng đỡ trong khi ông chờ đợi một chặng đường hầu việc mới mẻ (Xuất Êdíptô ký 34.28), cũng vậy Êli phải mất 40 ngày núp mình vào sự trợ giúp thiêng liêng của Đức Chúa Trời khi ông được sửa soạn cho một sự tái uỷ thác bởi Đức Chúa Trời (đối chiếu Mathiơ 4.1-2). (c) Như Môise phải nhìn thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Xuất Êdíptô ký 33.12-23), cũng vậy Êli cần phải tìm gặp Đức Chúa Trời, mặc dù trong một phương thức khác hơn ông có thể tưởng tượng ra.
Bởi ân sũng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, ông được nâng đỡ giống như Israel đã nếm trải trong 40 năm, và ông đã đến được Núi Hôrếp, đến Sinai, nơi chốn đặc biệt của sự Đức Chúa Trời mặc khải về chính mình Ngài.
Bằng cách ứng dụng, phải chăng đây không phải là sự biểu thị khác về ân điển của Đức Chúa Trời cho dù chúng ta đang ở ngoài mối tương giao, với tấm lòng của chúng ta nghĩ theo đường lối riêng của mình, Chúa vẫn hành động vì ích của mọi nhu cần của con cái Ngài hầu dẫn họ quay về với chính mình Ngài? Há đây không phải là một minh họa thể nào chúng ta đang kéo dài chuyến hành trình trong đồng vắng trong khi theo đuổi các giải pháp riêng cho nỗi đau thương thay vì mau mắn quay trở lại với Chúa. Tại sao vậy? Vì chúng ta có khuynh hướng tin mạnh mẽ vào các giải pháp của chúng ta. Vì sự kiêu ngạo của chúng ta hay cái tôi hư hỏng của chúng ta. Chúng ta không thích nhìn nhận chúng ta sai lầm và đang theo đuổi một đường lối không đúng.
Êli ở trong hang đá (câu 9a)
Các hoàn cảnh về mặt thuộc thể của ông giờ đây đã được cải thiện. Hang đá nầy là chỗ nương náu mình tốt hơn cây giếng giêng, thế nhưng tình trạng thuộc linh của ông hãy còn trong chỗ hỗn độn. Nói cách khác, hang đá tiêu biểu cho chiến lược khác của con người cần cho sự nương thân, dĩ nhiên, là một sự thay thế cho Đức Chúa Trời, là nơi nương náu của ông. Có thể ông đã cảm thấy khá hơn, nhưng ông chưa ở đúng chỗ mà Đức Chúa Trời muốn ông ở, nói theo cách thuộc linh. Giờ đây, vì cớ hoàn cảnh thuộc thể của ông đã được cải thiện, ông đang ở trong một chỗ tốt hơn để học biết và lắng nghe. Thực ra, có người tin rằng hang động nầy ở đâu đó trên Núi Hôrếp, nó có thể là “bộng đá” chỗ mà Chúa đã đặt Môise vào khi sự vinh hiển Đức Chúa Trời đi ngang qua (Xuất Êdíptô ký 33.21-33).
Lời của Đức Giêhôva đến với Êli (câu 9b)
Một lần nữa chúng ta có tiểu đoạn được làm nổi bật lên bởi chữ “behold” (nầy). Chữ nầy kêu gọi chúng ta chú ý vào những việc mà Đức Giêhôva sẽ làm cho Êli – sửa soạn ông đặng nghe Lời. Giống như hết thảy chúng ta, ông cần phải lắng nghe Ngôi Lời. Ông cần được dạy dỗ và được soi sáng để ông có thể thấy được chính mình và Đức Chúa Trời, và trong quá trình học hỏi một lẽ thật quan trọng cũng rất là quan trọng cho thời buổi của chúng ta nữa.
Làm ơn lưu ý câu Đức Chúa Trời hỏi: “Hỡi Êli, ngươi ở đây làm chi?” Tôi tin, câu nầy có ý trở thành một thắc mắc mà linh hồn phải tìm cách trả lời. Có phải ông hiểu lý do tại sao ông có mặt ở đó theo quan điểm của ông và theo quan điểm của Đức Chúa Trời không? Có phải ông đã nắm bắt được điều gì đã xảy ra không? Trong câu hỏi nầy, chúng ta có một minh hoạ về khái niệm Ngôi Lời đang quở trách và phơi bày ra các thất bại, hệ thống niềm tin không đúng của chúng ta, và ân điển của Đức Chúa Trời. Có phải ông hiểu ông có mặt ở đó là vì suy nghĩ chưa tới và vì mục tiêu chưa đúng của ông không? Có phải ông hiểu rằng dù ông bỏ trốn cách xa Chúa, chính Đức Chúa Trời là Đấng đã dẫn dắt ông vào tới chỗ đặc biệt nầy để dạy dỗ và để phục hồi cho ông không?
Phản ứng của Êli (câu 10)
Câu trả lời của ông cho chúng ta thấy ông chưa nắm bắt được vấn đề. Ông hãy còn nhức nhối với thất bại của mình như đã được nói ra trong câu 4. Ông hãy còn đầy dẫy với tầm quan trọng của riêng mình, và giận dữ vì thiếu sự đáp ứng và vùa giúp từ những người khác kể cả Đức Giêhôva. Ông rất cay đắng vì ông đã hầu việc Chúa rất sốt sắng và có hiệu quả, thế mà ông chỉ kinh nghiệm sự chối bỏ và đày ải mà thôi. Giêrêmi đã có một kinh nghiệm tương tự (đối chiếu Giêrêmi 20.7-9).
Đáp ứng và sự dẫn dắt của Đức Giêhôva (các câu 11-13)
Đức Giêhôva chẳng cần biết tới sự tự xưng công bình của Êli và lý do cho việc có mặt trên núi. Thay vì thế, Ngài đã ban ra cho ông sự dạy dỗ sẽ kết quả trong sự khải thị đặc biệt về Đức Giêhôva và phương pháp vận hành của Đức Chúa Trời. Êli được truyền cho phải ra khỏi hang động và đến đứng trước mặt Chúa. Hãy nhớ, hang đá nầy tiêu biểu cho đấu pháp con người của Êli khi tìm nơi nương thân – là sản phẩm của mục tiêu và suy tưởng chưa tới của ông. Tôi tin Chúa đang gạt bỏ giải pháp của Êli và đang tỏ ra cho ông thấy rằng chỉ một mình Ngài mới là nơi nương náu cho Êli.
Đây cũng là điều mà David đã nói trong Thi thiên 11.1: “Tôi nương náu mình nơi Đức Giêhôva; Sao các ngươi nói cùng linh hồn ta: Hãy trốn lên núi ngươi như con chim?” Hoặc như David đã tự vấn mình trong Thi thiên 62.5-6: “Hỡi linh hồn ta, hãy nghỉ an nơi Đức Chúa Trời; vì sự trông cậy ta ở nơi Ngài. Chỉ một mình Ngài là hòn đá tôi, sự cứu rỗi tôi, và là nơi ẩn náu cao của tôi; tôi sẽ chẳng bị rúng động”.
Trong câu 11, chúng ta có chữ “behold” (nầy), làm cho phân đoạn được nổi bật lên với sự cố quan trọng khác – Đức Giêhôva đi ngang qua hang đá ở trên núi. Tại sao Đức Giêhôva lại đi ngang qua? Để bày tỏ chính mình Ngài và một lẽ thật quan trọng trong sự trưởng thành thuộc linh của vị tiên tri. Nhưng thình lình, trước khi Êli ra khỏi hang đá, bốn sự cố xảy ra, ba trong số đó rất ngoạn mục.
(1) Một cơn gió mạnh xé đá thổi vào hòn núi quanh Êli làm cho các hòn đá ra tan tác. Chắc chắn một sự kiện ngoạn mục như thế nầy sẽ công bố sự hiện diện của Đức Giêhôva và minh hoạ thể nào Ngài sẽ hành động trong tương lai. Nhưng không phải vậy đâu, Đức Giêhôva không có mặt trong trận gió đó.
(2) Một trận động đất mạnh diễn ra làm lay động nền đất dưới chân ông, nhưng một lần nữa, Đức Giêhôva không có mặt trong đó
(3) Một đám lửa nối theo sau, nhưng đám lửa nầy không công bố sự hiện diện cũng không chỉ ra sinh hoạt của Đức Giêhôva. Đức Giêhôva vẫn không có mặt ở đó. “Hết thảy những hiện tượng vật lý nầy được xem là điềm báo cho sự đến hay sự hiện diện của Đức Chúa Trời” (Xuất Êdíptô ký 19.16, 18; Các Quan Xét 4.4-5; II Samuên 22.8-16; Thi thiên 18.7-15; 68.8; Hêbơrơ 12.18). Nhưng sự kiện Đức Chúa Trời không có mặt trong bất kỳ hiện tượng nào trong số đó mới là điều quan trọng.
(4) Sau đám lửa, Êli nghe thấy một giọng nói êm dịu nhỏ nhẹ. “Êli vừa nghe tiếng đó (câu 13a). Đó là Đức Chúa Trời! Đúng là một bài học cho Êli! Đức Chúa Trời không tác động trong lãnh vực ngoạn mục kia.
Thực ra, sự lạ lùng và sự ngoạn mục là sự ngoại lệ, thậm chí trong Kinh thánh. Tôi tin giọng nói êm dịu nhỏ nhẹ chỉ ra công việc và quyền phép của Đức Chúa Trời trong Lời của Ngài, tự bản thân Kinh thánh rất sống động và đầy quyền phép, một quyển sách lạ lùng và ngoạn mục mà chính Đức Chúa Trời đã hà hơi vào và không thể sai sót được. Bạn có để ý thấy chính Lời êm dịu nhỏ nhẹ nầy đã vực Êli dậy và đưa ông ra khỏi bộng đá, nơi ông có mối tương giao với Đức Giêhôva, nghe thấy giọng êm dịu nhỏ nhẹ của Ngài, rồi được phục hồi. Để tỏ lòng tôn kính trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, Êli đã phủ áo tơi lên mặt mình mà đi ra khỏi hang.
Êli đã học được gì từ chỗ nầy? Đúng là bài học về sự Đức Chúa Trời không có mặt trong sự ngoạn mục, nhưng Ngài hiện diện trong giọng nói êm dịu nhỏ nhẹ, có phải không? Phương tiện chủ yếu của Đức Chúa Trời để làm thay đổi dân sự và đem lại sự phục hồi, phấn hưng không phải là sự lạ lùng, giật gân, và ngoạn mục giống như Israel đã kinh nghiệm trên Núi Cạtmên. Chính giọng nói của Đức Chúa Trời đang phán với dân chúng như Ngài đã làm trong những ngày xa xưa qua các vị tiên tri và Cựu ước rồi giờ đây với chúng ta bằng Lời trọn vẹn qua chức vụ của Thánh Linh Đức Chúa Trời (đối chiếu Luca 16.27-31; II Phierơ 1.1-21; Hêbơrơ 1.1-3). Kinh thánh được gọi là Lời của Đức Chúa Trời vì đó là giọng nói của Ngài, chớ không phải bằng âm thanh nghe thấy được, mà bằng những lời lẽ trong những trang Kinh thánh. Và khi chúng ta nghe Lời ấy được rao giảng ra (những điều được giảng dạy đều là thật trong Kinh thánh) chúng ta nghe thấy giọng nói của Đức Chúa Trời đang tác động có hiệu quả nơi những kẻ tin (I Têsalônica 2.13).
Nếu dân sự không chịu đáp ứng với Ngôi Lời sống động và đầy quyền năng, bén hơn gươm hai lưỡi, họ sẽ không đáp ứng cho dù có ai đó từ mồ mả bước ra rồi nói cho họ biết về địa ngục (Luca 16.31). Chắc chắn có nhiều người có ấn tượng bởi sự lạ lùng và tìm kiếm sự giật gân, sự ngoạn mục, nhưng nói chung, những việc ấy không làm thay đổi được đời sống.
Bốn sự tỏ ra nầy về Đức Chúa Trời đã được đưa ra với bốn hiện tượng để chỉ ra Đức Chúa Trời đang tôn cao và hành động qua sứ điệp của Lời Ngài, rằng Ngài đang chăm sóc cho dân sự Ngài đang chia sẻ Lời Ngài, và Lời ấy sẽ không trở về với Ngài cách nhưng không đâu. Một là Lời ấy sẽ đem sự phán xét giáng trên những kẻ chối bỏ Lời đó, hoặc Lời ấy sẽ kết quả thành trái Thánh Linh cho người nào chịu tin theo và đáp ứng lại Lời đó. Đoạn kết sau đây của các biến cố bày tỏ ra rõ ràng sự thật nầy trong Kinh thánh.
Một lần nữa trong câu 13, Êli đang đối diện với câu hỏi của Đức Chúa Trời, một giọng nói đến với ông hỏi: “Hỡi Êli, ngươi làm chi đây?” Nhưng một lần nữa trong câu 14 lời đáp của ông cũng y như vậy. Chúng ta học hỏi chậm chạp dường bao và cứ ôm ghì lấy những cảm xúc chối bỏ và đau thương. Chúng ta cứ bám lấy chúng giống như đấy là lối thoát và là cái bóng che chúng ta vậy. Hãy nhớ, những nan đề thuộc thể không gây ra sự ngã lòng đâu, vì đó là một trong những phương pháp tránh né của chúng ta, mà chính là đấu pháp của con người khi xử lý với đau khổ và thất vọng. Cái mỉa mai là, dường như chúng ta càng bằng lòng nương vào đấy như một giải pháp hơn là chúng ta đặt lòng tin cậy nơi Chúa.
Tái uỷ nhiệm vị tiên tri (các câu 15-18)
Ở đây Đức Giêhôva, bằng giọng nói êm dịu nhỏ nhẹ của sự mặt khải thiêng liêng cho vị tiên tri, đã giải thích và tỏ ra lẽ thật về quyền phép của Ngôi Lời đem lại sự phán xét giáng trên kẻ nào chối bỏ Ngôi Lời, và phước hạnh cho người nào tin theo Lời ấy. Êli được truyền cho phải xức dầu ba người và mỗi người hành xử như một đại biểu cho sự phán xét hay phước hạnh thiêng liêng.
(1) Trận gió mạnh có thể là hình ảnh của công tác phán xét mà Haxaên ở Syri sẽ hoàn thành trong xứ Israel (II Các Vua 8.12 và 10.32-36).
(2) Trận động đất có thể là hình ảnh của sự phán xét và sự lật đổ huỷ diệt nhà Aháp dưới quyền Giêhu (II Các Vua 9.1-10).
(3) Đám lửa có thể là một hình ảnh nói tới công tác phán xét được Êlisê hoàn tất, ông là người kế tục của Êli (I Các Vua 19.17).
Sự kêu gọi của Êlisê, một thanh niên năng động và sẵn sàng với Ngôi Lời và với Đức Giêhôva, và 7.000 người chưa hề quì gối trước mặt Baanh minh hoạ cho mặt kia của đồng tiền. Sự thể cho Êli thấy rằng chức vụ của ông không phải là vô ích và Lời của Đức Chúa Trời không trở về luống nhưng vô luận chúng ta nhìn thấy sự việc như thế nào!?! Xứ sở sẽ không bị huỷ diệt hoàn toàn và đã có những người đứng ra gánh vác công việc của Đức Giêhôva.
***