Hiển thị các bài đăng có nhãn Charles Spurgeon. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Charles Spurgeon. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2010

Đấng Lạ Lùng



Danh của Ngài — Đấng Lạ Lùng
Giảng ngày 19 tháng Chín năm 1858 Mục sư C. H. Spurgeon tại Giảng đường Music,
Royal Surrey Gardens
“Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng” — Êsai 9.6.
Một buổi tối trong tuần vừa qua tôi đứng bên bờ biển khi giông bão đang cuồng sôi. Tiếng của Chúa dội trên mặt nước; và tôi là ai mà dám nấn ná bên trong cánh cửa, khi tiếng của Chủ tôi nghe vang dội dọc theo bờ biển kia? Tôi chổi dậy, đứng ngắm nhìn tia loé của chớp nháng, và lắng nghe sự vinh hiển của sấm sét đó. Biển và sấm sét đang kình chống nhau; biển với tiếng ào ào mãi mãi đang tranh đấu muốn làm im đi tiếng ầm ì của sấm sét như trong cổ họng kia, để tiếng của Ngài ai nấy đều sẽ nghe thấy được; dù vậy ở bên trên và qua tiếng ồn ào của những lượn sóng cồn người ta có thể nghe thấy được tiếng của Đức Chúa Trời, giống như Ngài đã phán trên những ngọn lửa hừng, và phân chia đường đi của đại dương. Bầu trời đêm thật tối tăm, và mây trời che phủ dầy đặc ở đó, và hiếm khi thấy được một ngôi sao xuyên qua những chỗ trống của giông tố; nhưng ở một thời điểm đặc biệt, tôi để ý thấy xa xa trên đường chân trời, giống như ngang qua mặt đại dương nhiều hải lý xa kia, một ánh sáng chói lọi, giống như vàng vậy. Đó là mặt trăng đang ẩn hiện ở đàng sau các đám mây, nó không thể chiếu sáng trên chúng ta được; nhưng nó có thể chiếu những tia sáng của mình xuống mặt nước, ở xa xa, ở đó chẳng có một bóng mây nào xen vào giữa cả. Tôi nghĩ khi tôi đọc chương nầy tối hôm qua, rằng vị tiên tri dường như đã đứng cùng một vị trí ấy, khi ông viết ra những lời lẽ trong câu gốc hôm nay. Mọi sự ở chung quanh ông là các đám mây tối tăm; ông đã nghe thấy sấm sét có tính tiên tri đang gầm rống, và ông đã trông thấy các ánh chớp của sự báo thù thiêng liêng; các đám mây và sự tăm tối, từ xa kia, sẽ rãi ra khắp cõi lịch sử; nhưng ông còn trông thấy ở đàng xa xa một điểm sáng rực — một chỗ mà ánh sáng soi loà rọi xuống từ trên trời. Rồi ông ngồi xuống đất, và ông đã viết ra mấy câu nầy: "Dân đi trong nơi tối tăm đã thấy sự sáng lớn; và sự sáng đã chiếu trên những kẻ ở xứ thuộc về bóng của sự chết", và dù ông đã nhìn xuyên qua khoảng không gian nhiều hải lý kia, ở đó ông nhìn thấy giày dép của kẻ đánh giặc "trong khi giao chiến, cùng cả áo xống vấy máu", thế rồi ông nhướng mắt mình nhìn vào điểm sáng trong cõi tương lai kia, và ông công bố rằng ở đó ông đã trông thấy niềm hy vọng bình an, thịnh vượng và phước hạnh; ông nói: “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng”.
Hỡi quí bạn yêu dấu của tôi ơi, chúng ta hôm nay đang sống kề cận với điểm sáng láng kia. Thế giới đã trải qua các vầng mây tăm tối nầy, và sự sáng đang chiếu rọi trên chúng ta trong lúc bây giờ, giống như các tia phản chiếu của những tia sáng đầu tiên của ban mai. Chúng ta đang đến với một ngày sáng láng hơn, và "buổi tối qua, trời sẽ lại sáng". Các đám mây và sự tối tăm sẽ cuộn tròn lại như chiếc áo mà Đức Chúa Trời không còn cần tới nữa, và Ngài sẽ hiện ra trong sự vinh hiển của Ngài, và dân sự Ngài sẽ cùng vui vẻ với Ngài. Nhưng quí vị phải để ý, rằng hết thảy mọi sáng láng chính là kết quả sự giáng sinh của con trẻ nầy, con trai nầy đã được ban cho, danh Ngài được gọi là Đấng Lạ Lùng; và nếu chúng ta có thể phân biệt bất kỳ sự sáng láng nào trong chính tấm lòng của chúng ta, hay trong lịch sử của thế gian, sự sáng láng ấy không thể đến từ một chỗ nào khác hơn là từ một Đấng nguyên được gọi là: "Đấng Lạ Lùng, Đấng Mưu Luận, Đức Chúa Trời quyền năng".
Nhân vật được nhắc tới trong câu gốc của chúng ta, không nghi ngờ chi nữa, chính là Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài là con trẻ mới ra đời, với tham khảo về nhân tính của Ngài; Ngài được một nữ đồng trinh sanh ra, là một con trẻ. Nhưng Ngài là một con trai được ban cho, với tham khảo về thần tính của Ngài, đã được ban cho cũng y như đã giáng sinh vậy. Tất nhiên, Đức Chúa Trời không thể do một người nữ sanh ra. Ấy là từ cõi đời đời, và cho đến đời đời, là một con trẻ, Ngài đã được sanh ra, là một con trai đã được ban cho. "Quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài, Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng". Quí bạn yêu dấu ơi, có hàng ngàn sự việc trong thế gian nầy, chúng được gọi bằng tên không thuộc về chúng; nhưng khi bước vào câu gốc hôm nay, tôi phải tuyên bố trong phần mở đầu, rằng Đấng Christ được gọi là Đấng Lạ Lùng, vì Ngài là Đấng Lạ Lùng lắm. Đức Chúa Cha không hề ban cho Con Ngài một danh mà Ngài không đáng được. Không có sự tán tụng, chẳng có sự tâng bốc nào ở đây hết. Mà đây là một danh mà Ngài rất đáng được, người nào nhận biết Ngài rõ rệt nhất sẽ nói rằng thế gian không kéo căng những công trạng của Ngài, mà đúng hơn họ hữu hạn, thiếu mất tình trạng xứng đáng vinh hiển của Ngài. Ngài được xưng là Đấng Lạ Lùng. Và hãy để ý, không những nói rằng Đức Chúa Trời đang ban cho Ngài danh xưng Đấng Lạ Lùng — dù đó là hàm ý; nhưng "Ngài sẽ được xưng là", đúng như thế. Phải xưng đúng như thế; trong lúc nầy danh ấy được gọi là Lạ Lùng bởi dân sự của Ngài có lòng tin, và phải xưng đúng theo danh ấy. Bao lâu mặt trăng còn, thì sẽ thấy người ta, thiên sứ, các linh vinh hiển, họ sẽ luôn luôn gọi Ngài theo đúng danh ấy: "Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng".
Tôi thấy danh xưng nầy có thể mang hai hay ba sự giải thích. Đôi khi từ ngữ trong Kinh Thánh được dịch là "diệu kỳ". Đức Chúa Jêsus Christ có thể được gọi là diệu kỳ; và một nhà giải kinh học vấn cao người Đức nói, không chút nghi ngờ, ý nghĩa của sự lạ lùng cũng được gói ghém ở trong đó. Đấng Christ là sự lạ lùng trong những sự lạ lùng, phép lạ trong những phép lạ. "Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng", vì Ngài còn hơn cả một con người, Ngài là phép lạ cao nhất của Đức Chúa Trời. "Sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm. Đức Chúa Trời đã được tỏ ra trong xác thịt". Lẽ mầu nhiệm nầy có thể phân biệt, hay xuất sắc nhất. Và Đức Chúa Jêsus Christ có thể được gọi theo danh xưng nầy; vì như Sau-lơ đã được phân biệt đối với nhiều người khác, ở chỗ đầu và đôi vai của ông cao hơn họ, cũng một thể ấy Đấng Christ được phân biệt trên cả mọi người; Ngài được xức bằng dầu vui mừng trên cả đồng loại mình, và nơi bổn tánh của Ngài, và trong các hành động của Ngài, Ngài được biệt riêng ra khỏi mọi sự ví sánh với bất kỳ con trai nào của loài người. "Ngài xinh đẹp hơn hết thảy con trai loài người; Ân điển tràn ra nơi môi Ngài". Ngài là "trưởng giữa ngàn người và đáng yêu". "Ngài sẽ được xưng là Đấng được biệt riêng ra", Đấng phân biệt, Đấng tôn quí, biệt riêng ra khỏi dòng giống tầm thường của nhân loại.
Tuy nhiên, sáng hôm nay, chúng ta sẽ chiếu theo bản dịch cũ, và đọc như vầy: "Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng". Trước tiên, tôi sẽ lưu ý rằng Đức Chúa Jêsus Christ xứng đáng được gọi là Đấng Lạ Lùng vì Ngài là gì trong quá khứ; thứ hai, Ngài được xưng là Đấng Lạ Lùng bởi dân sự của Ngài vì Ngài là gì trong hiện tại; và ở chỗ thứ ba, Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng, vì Ngài sẽ trở nên như thế nào trong tương lai.
I. Thứ nhứt, Đấng Christ sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng vì NGÀI LÀ GÌ TRONG QUÁ KHỨ! Hãy thâu tóm các ý tưởng của quí vị lại, hỡi anh em của tôi, trong một phút thôi, rồi hướng cả thảy chúng vào Đấng Christ, và quí vị sẽ nhìn thấy ngay Ngài diệu kỳ là dường nào! Hãy xét qua sự hằng còn đời đời của Ngài xem: "do Cha Ngài sanh ra từ trước khi sáng thế", có cùng một bản thể với Cha của Ngài. Được sanh ra, chớ không phải được dựng nên, đồng đẳng, đồng đời đời, trong từng thuộc tính: "chính Đức Chúa Trời của chính Đức Chúa Trời". Trong một phút, hãy nhớ rằng Ngài là Đấng đã trở thành một con trẻ trong một thời gian, chẳng kém gì Vua của mọi thời đại, là Cha đời đời, Ngài đã hiện hữu từ cõi đời đời, và sẽ hiện hữu mãi trong suốt cõi đời đời. Bổn thánh thiêng liêng của Đấng Christ quả thực rất kỳ diệu. Chỉ suy nghĩ trong một phút thôi, đời sống của một cụ già quanh đấy có thật nhiều điều hay. Những ai trong chúng ta từng là con cái trong nhiều năm tháng qua, nhìn xem ông với sự lạ lùng và kinh ngạc, khi ông thuật lại cho chúng ta nghe nhiều câu chuyện khác nhau nói về kinh nghiệm mà ông đã từng trải qua; nhưng đâu là đời sống của một người có tuổi — nó vắn tắt dường bao khi đem sánh với đời sống của một cây cối cho ông ta tựa lưng vào. Nó đã tồn tại từ lâu trước khi cha của ông cụ ấy bò trườn như một đứa trẻ vô dụng vào trong thế gian. Có bao nhiêu giông bão đã quét qua tàng cây lá của nó! Có bao nhiêu bậc vua chúa đã đến rồi đi! Có bao nhiêu đế quốc đã nhô lên rồi sụp đổ kể từ khi cây sồi già nua ấy đung đưa ru đứa con quả đầu tiên của nó ngủ! Nhưng sự sống của cây cối là gì khi đem sánh với đất từ chỗ mà nó đã mọc lên? Đúng là một câu chuyện thần kỳ mà đất có thể thuật lại! Nó đã trải qua nhiều đổi thay theo mọi kỹ nguyên của thời gian từng trôi qua "ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất". Có một câu chuyện thật lạ lùng gắn với từng nguyên tử của lớp mùn đen cung cấp phần trưởng dưỡng cho cây sồi kia. Nhưng khi lịch sử của lớp đất ấy đem sánh với phần lịch sử lạ lùng của hòn đá mà đất yên nghĩ trên đó — vầng đá trên đó nó cất cái đầu lên. Ồ! Đúng là nhiều câu chuyện mà nó có thể thuật lại, đúng là những bản tường trình đang nằm sâu kín trong bụng của nó. Có lẽ nó có thể kể lại câu chuyện nói tới thời điểm khi "đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực". Có lẽ nó sẽ thốt ra và kể lại cho chúng ta nghe về những ngày ấy, khi buổi sáng và buổi chiều là ngày thứ nhứt, và buổi sáng và buổi chiều là ngày thứ hai, và có thể giải thích cho chúng ta biết những lẽ mầu nhiệm thể nào Đức Chúa Trời đã làm ra phép lạ kỳ diệu nầy, — thế gian. Nhưng lịch sử của hòn đá là gì, khi đem sánh với lịch sử của đại dương đang cuộn mình trên cái nền của nó — đại dương xanh thẳm sâu sắc kia, trên đó cả ngàn đoàn tàu qua lại, mà không để lại một đường rẽ trên trán của nó! Nhưng lịch sử của đại dương là gì, khi đem sánh với lịch sử của các từng trời trải dài ra như một bức màn trên cái trũng thật to lớn kia của nó! Đúng là một lịch sử, vì là lịch sử của các đạo binh ở trên trời — cuộc diễu hành đời đời của mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao! Ai có thể thuật lại cho dòng dõi của họ, hay ai có thể viết ra ký thuật của chúng? Nhưng lịch sử của các từng trời là gì, khi đem sánh với lịch sử của hàng thiên sứ? Họ có thể thuật lại cho quí vị nghe về cái ngày mà họ đã nhìn thấy thế gian nầy bị cuộn lại trong lớp khăn quấn sương mù — khi, giống như một con trẻ mới chào đời, người con cuối cùng trong gia hệ của Đức Chúa Trời, đứa con ấy ra từ Ngài, và các ngôi sao ban mai cùng nhau cất tiếng hát, và các con trai của Đức Chúa Trời hô lên vì vui sướng. Nhưng lịch sử của các thiên sứ dù có xuất sắc về năng lực. có ra gì đâu khi đem sánh với lịch sử của Đức Chúa Jêsus Christ? Thiên sứ hiện diện chỉ mới hôm qua, và Ngài chẳng biết gì hết; còn Đấng Christ, là Đấng đời đời, đã coi các thiên sứ của Ngài chẳng là gì hết, Ngài nhìn xem họ như các linh lo phục sự, họ đến rồi đi tuỳ theo khoái lạc tốt lành của Ngài. Ồ, hỡi Cơ đốc nhân, hãy nhớ lại với lòng tôn kính và sự kính sợ mầu nhiệm quanh ngôi của Ngài, Đấng ấy chính là Đấng Cứu Chuộc vĩ đại của quí vị; vì "Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng", một khi Ngài đã hằng hữu trước cả muôn vật, và "muôn vật được dựng nên bởi Ngài; chẳng vật chi đã được làm nên mà không bởi Ngài".
Một lần nữa, hãy xem xét sự hoá thân thành nhục thể của Đấng Christ, và quí vị sẽ nói ngay, rằng danh xưng của Ngài đáng được gọi là "Đấng Lạ Lùng". Ôi, tôi đã nhìn thấy điều chi vậy? Ồ! Thế giới của những việc diệu kỳ. Ôi, tôi đã nhìn thấy điều chi vậy? Đấng đời đời của mọi thời đại, mái tóc Ngài trắng như len, trắng như tuyết, đang trở thành một con trẻ. Làm sao được như vậy chứ? Hỡi các thiên sứ, quí vị chẳng lấy làm lạ sao? Ngài đang trở thành một con trẻ, đang bám trên ngực của một nữ đồng trinh, đang rút sự trưởng dưỡng của mình từ ngực của một người nữ. Ồ điều kỳ diệu trong sự diệu kỳ! Hỡi chiếc máng cỏ ở thành Bếtlêhem, ngươi có nhiều phép lạ đổ trên ngươi lắm đó. Đây là bối cảnh vượt quá mọi bối cảnh khác. Hỡi các ngươi, mặt trời, mặt trăng cùng các ngôi sao hãy nói đi; hỡi các ngươi, những từng trời hãy xem kìa, công việc của những ngón tay Đức Chúa Trời, mặt trăng cùng các ngôi sao mà Ngài đã ấn định; nhưng hết thảy những điều kỳ diệu trong vũ trụ chẳng là gì hết, khi chúng ta đến với lẽ mầu nhiệm của sự hoá thân thành nhục thể của Đức Chúa Jêsus Christ. Đây là một việc thật lạ lùng khi Giô-suê ra lịnh cho mặt trời đứng yên, nhưng còn lạ lùng hơn nữa khi Đức Chúa Trời dường như đứng yên, và không còn di động tới đàng trước nữa, mà đúng hơn, giống như mặt trời trên bàn trắc ảnh của Acha, không lui lại 10o, và che sự sáng láng của Ngài trong một đám mây. Có những bối cảnh vô địch và lạ lùng, chúng ta có thể nhìn chăm vào đó trong nhiều năm trời, thế rồi xây lại mà nói: "Tôi không thể hiều nổi sự nầy; ở đây là một chỗ sâu tôi không dám lặn vào đấy; tư tưởng của tôi bị dìm xuống; đây là chỗ dốc không có điểm cao nhất; tôi không thể trèo lên đó; chỗ ấy cao quá, tôi không thể với tới được!" Nhưng hết thảy mọi sự nầy cũng chẳng là gì cả, khi đem sánh với sự hoá thân thành nhục thể của Con Đức Chúa Trời. Tôi tin rằng ngay cả các thiên sứ chưa hề lấy làm lạ nhưng khi họ hiểu được rồi thì lấy làm lạ không dứt. Họ không ngừng việc thuật lại câu chuyện đáng ngạc nhiên đó, và thuật lại câu chuyện ấy với nỗi kinh ngạc càng ngày càng tăng, rằng Đức Chúa Jêsus Christ, Con của Đức Chúa Trời, do nữ đồng trinh Mary sanh ra, và trở thành một con người. Há Ngài không đáng được gọi là Đấng Lạ Lùng sao? Vô hạn, là một con trẻ — đời đời, thế mà lại sanh ra bởi một người nữ — Toàn Năng đang nâng đỡ thế gian, thế mà bám vào ngực của một phụ nữ, vậy mà đang cần tới vòng tay của một người mẹ bồng ẳm mình — vua của các thiên sứ, thế mà là Con của Giô-sép — kế tự muôn vật và là con của người thợ mộc bị xem khinh. Ôi Chúa Jêsus ôi, Ngài lạ lùng thay, và đấy là danh xưng Ngài cho đến đời đời.
Nhưng hãy lần theo tư cách của Cứu Chúa, và ở tư cách nào Ngài quả thật là lạ lùng. Há chẳng lạ lùng sao khi thấy Ngài không phản kháng chi trước những lời nhiếc móc và chế nhạo của kẻ thù mình — trong một thời gian lâu dài Ngài đã để cho bầy bò ở Ba-san chế nhạo Ngài mãi, và bầy chó vây quanh Ngài? Há chẳng ngạc nhiên sao khi Ngài kềm lại cơn giận khi sự phạm thượng đã thốt ra nghịch lại với thân vị thiêng liêng của Ngài? Nếu quí vị và tôi có được sức mạnh vô đối của Ngài, chúng ta sẽ ném kẻ thù của chúng ta xuống chân núi, một khi chúng tìm cách ném chúng ta xuống đó; chúng ta sẽ không bao giờ chịu nổi xấu hổ và sự khạc nhổ; không, chúng ta sẽ nhìn vào chúng, và với một cái nhìn sắc bén của cơn thạnh nộ, ném linh hồn chúng vào chốn hình khổ cho đến đời đời. Thế nhưng Ngài lại lắng nghe hết thảy những sự ấy — giữ lấy trong tâm linh cao thượng của Ngài — sư tử của chi phái Giu-đa, nhưng lại mang lấy tánh tình yên lặng giống như chiên con.
"Người khiêm nhường trước mặt kẻ thù mình,Một con người yếu đuối, và đầy sự khốn nạn".
Tôi tin rằng Chúa Jêsus ở Nazarét là Vua của thiên đàng, thế mà Ngài lại là một người khốn khổ, bị xem khinh, bị bắt bớ, bị vu khống; nhưng đang khi tôi tin như thế, tôi lại chẳng bao giờ hiểu nổi. Tôi chúc phước cho Ngài vì sự ấy; tôi yêu Ngài vì sự ấy; tôi ước ao ngợi khen danh Ngài trong khi sự hạ mình vô hạn của Ngài chịu đựng mọi sự như thế thay cho tôi; nhưng để hiểu rõ sự ấy, tôi không thể giả vờ được. Danh của Ngài phải được gọi là Đấng Lạ Lùng.
Nhưng hãy xem Ngài chịu chết kia. Hãy đến đây, hỡi anh em của tôi, quí vị là con cái của Đức Chúa Trời, và hãy nhóm lại quanh thập tự giá đi. Hãy nhìn xem Thầy của quí vị kìa. Ngài đang bị treo ở đó. Quí vị có thể hiểu thấu được điều bí ẩn nầy chăng!?! Đức Chúa Trời đã tỏ ra trong xác thịt, và bị người ta đóng đinh trên thập tự giá sao? Thầy của tôi, tôi không thể hiểu nổi làm thể nào Ngài lại chịu cúi đầu trước cái chết như thế nầy — những chòm sao của Ngài từ cõi đời đời đã chiếu sáng thật rực rỡ ở đó; nhưng sao Ngài lại cho phép chiếc mão bằng gai đội trên đầu Ngài, tôi ngạc nhiên lắm trước sự ấy. Ngài đã quăng đi chiếc áo choàng vinh hiển của Ngài, chiếc áo màu xanh da trời đế quốc đời đời của Ngài, tôi không thể hiểu nổi; nhưng sao Ngài đã khoác lấy chiếc áo choàng màu tía ô nhục kia trong một lúc, rồi bị những kẻ bất kính buộc phải khuất phục, chúng nhiếc móc Ngài như một vì vua giả mạo, và thể nào Ngài đã bị chúng lột trần, đánh đập phải xấu hổ, không một miếng vải che đậy, sự nầy vẫn là điều khó hiểu đây. Quả thực danh Ngài là Đấng Lạ Lùng. Ôi tình yêu của Ngài đối cùng tôi quả là lạ lùng, vượt trỗi hơn tình yêu của người nữ. Có đau khổ nào giống như nỗi đau của Ngài không? Có tình yêu nào giống như tình yêu của Ngài, có thể mở ra hai cánh cửa tuôn tràn nỗi đau khổ như thế không!?! Nỗi đau khổ của Ngài giống như một dòng sông; nhưng có dòng sông nào chảy xiết như thế chưa? Có tình yêu nào mạnh mẽ để trở thành một nguồn mà từ đó một đại dương đau khổ mới có thể chuyển mình được không? Đây là tình yêu vô đối — tình yêu vô đối khiến cho Ngài phải chịu khổ, năng lực vô đối khiến cho Ngài phải chịu đựng tất cả gánh nặng cơn thạnh nộ của Cha Ngài. Đây là sự công bình vô đối, chính mình Ngài phải bằng lòng làm theo ý chỉ của Cha Ngài, và không ai được cứu mà không có những nỗi khổ của chính Ngài; và đây là sự thương xót vô đối cho kẻ hàng đầu của hạng tội nhân, Đấng Christ phải chịu khổ thay cho họ. "Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng".
Nhưng Ngài đã chết. Ngài đã chết! Hãy nhìn xem con gái của Salem đang khóc quanh đấy kìa. Giô-sép người Arimathê vác lấy thi thể không còn sự sống sau khi cái xác ấy được đem xuống từ cây thập tự kia. Họ mang xác ấy ra mộ. Thi thể được đặt trong một ngôi vườn. Quí vị có xưng Ngài là Đấng Lạ Lùng trong lúc bấy giờ không?
"Có phải đây là Cứu Chúa đã được mong đợi từ lâu
Mở đầu kỹ nguyên vàng chăng?"
Và có phải Ngài đã chết không? Hãy nhấc tay Ngài lên xem! Chúng rơi xuống bất động bên hông Ngài. Hai bàn chân Ngài vẫn còn có dấu đinh kìa; nhưng chẳng có chút dấu hiệu sống động nào cả. Người Do thái kêu lên: "Aha, đây là Đấng Mêsi ư? Ông ta đã chết; ông ta sẽ thấy sự hư nát trong một ít lâu nữa thôi. Ồ! Lính canh ơi, hãy cẩn thận kẻo môn đồ của ông ta đến cướp lấy thi hài đấy. Thi hài của ông ta không hề xuất hiện được nữa, trừ phi họ đến cướp đi; vì ông ta đã chết rồi. Đây là Đấng Lạ Lùng là Đấng Mưu Luận sao?" Nhưng Đức Chúa Trời không để linh hồn Ngài trong âm phủ; Đức Chúa Trời không để cho thân xác Ngài phải chịu khổ — "thân thể thánh của Ngài" — phải thấy sự hư nát? Phải, Ngài thật là lạ lùng, thậm chí trong sự chết của Ngài. Thi hài như đất sét lạnh lẽo kia quả là lạ lùng. Có lẽ đây là sự kỳ diệu lớn lao nhất trong mọi sự diệu kỳ, rằng Ngài là "Sự chết của sự chết và là sự hủy diệt của địa ngục" sẽ chịu đựng xích xiềng của sự chết trong một thời gian ngắn. Nhưng đây là sự lạ lùng. Ngài không thể bị cầm giữ trong xiềng xích đó. Những xiềng xích từng cầm giữ mười ngàn con trai con gái của Ađam, và là thứ mà không một con người nào có thể phá vỡ được, một phép lạ mới giải cứu được họ, thế mà đối với Ngài nó chỉ là những nhành tơ liễu. Sự chết bắt lấy Samsôn của chúng ta rất nhanh chóng, nó nói: "Giờ đây, ta đã bắt được hắn rồi, ta đã nắm lấy mái tóc sức lực của hắn; vinh quang của hắn đã dang xa rồi, bây giờ hắn thuộc về ta”; nhưng hai bàn tay nắm giữ dòng giống con người trong xiềng xích chẳng là gì cả đối với Cứu Chúa; ngày thứ ba Ngài đã làm cho chúng phải bật tung ra, và Ngài đã sống lại từ kẻ chết, rồi từ đó không còn phải chết nữa. Ồ! Ngài Đấng Cứu Thế phục sinh — Ngài là Đấng không thể thấy sự hư nát — Ngài là Đấng Lạ Lùng trong sự sống lại của Ngài. Và Ngài cũng là Đấng Lạ Lùng trong sự thăng thiên của Ngài nữa — khi tôi nhìn thấy Ngài đang dẫn dắt những kẻ phu tù và đang nhận lãnh các ân huệ dành cho loài người. "Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng".
Hãy dừng lại đây chừng một phút đi, và chúng ta hãy suy nghĩ xem — Đấng Christ quả là rất lạ lùng. Câu chuyện ngắn mà tôi đã từng kể cho quí vị nghe — bản thân câu chuyện ấy không ngắn đâu, nhưng tôi đã kể ngắn lại cho quí vị nghe đấy thôi — có trong đấy một việc rất là lạ lùng. Mọi sự kỳ diệu mà quí vị đã từng nhìn thấy đều không đáng sánh với câu chuyện nầy đâu! Khi chúng ta trải qua nhiều xứ khác nhau, chúng ta đã nhìn thấy một sự kỳ diệu, và một du khách có tuổi hơn chúng ta đã nói: "Phải, điều nầy rất là kỳ diệu đối với quí vị, nhưng tôi có thể chỉ cho quí vị thấy một việc làm lu mờ hoàn toàn điều đó". Mặc dù chúng ta đã nhìn thấy nhiều cảnh quang kỳ thú, với đồi núi chập chùng, và chúng ta đã leo lên những nơi mà dường như chim ưng gắn bó với đồi núi và bầu trời kết lại trong chuyến bay cao của nó, và chúng ta đã đứng đó mà nhìn xuống, rồi nói: "Thiệt là kỳ diệu là dường nào!" Ông ấy nói: "Tôi đã nhìn thấy nhiều vùng đất còn đẹp đẽ hơn chỗ nầy, nhiều phong cảnh rộng lớn và phong phú hơn nhiều". Nhưng khi chúng ta nói tới Đấng Christ, chẳng một người nào dám nói họ đã từng nhìn thấy một sự lạ lùng nào lớn lao hơn chính mình Ngài. Giờ đây quí vị đã đến tới chỗ cao nhất của muôn sự có thể gọi là lạ lùng rồi. Chẳng có một lẽ mầu nhiệm nào dám sánh với lẽ mầu nhiệm nầy, chẳng có một sự ngạc nhiên nào dám sánh với nỗi kinh ngạc nầy; chẳng có một sự ngạc nhiên nào, chẳng có một sự ngưỡng mộ nào tương ứng với nỗi ngạc nhiên và ngưỡng mộ mà chúng ta cảm thấy khi chúng ta nhìn ngắm Đấng Christ trong mọi vinh quang của cõi quá khứ. Ngài trổi hơn cả thảy.
Và đúng như thế. Lạ lùng là một cảm xúc tồn tại trong một thời gian rất ngắn; quí vị biết đấy, có câu nói rằng một cảm xúc lạ lùng chiếu ra tia sáng màu xám của nó trong chín ngày. Khoảng thời gian dài nhất một sự lạ lùng có là trong khoảng thời gian ấy. Lạ lùng đúng là một việc chỉ có trong một khoảng thời gian ngắn thôi. Còn Đấng Christ hiện và từng rất lạ lùng. Quí vị có thể suy nghĩ về Ngài trong nhiều năm trời, nhưng quí vị sẽ lấy làm lạ nơi Ngài càng nhiều vào lúc cuối cùng hơn cả lúc bắt đầu. Ápraham đã lấy làm lạ nơi Ngài, khi ông nhìn thấy ngày của mình trong khoảng tương lai xa; nhưng tôi nghĩ rằng chính mình Ápraham có thể lấy làm lạ nơi Đấng Christ nhiều giống như kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời ngày nay lấy làm lạ nơi Ngài vậy, phải hiểu rằng chúng ta biết nhiều hơn Ápraham, và vì thế mà lấy làm lạ càng hơn nữa. Hãy suy nghĩ một lần nữa trong một phút xem, và quí vị sẽ nói tới Đấng Christ rằng Ngài đáng được xưng là Đấng Lạ Lùng, không những vì Ngài luôn luôn là lạ lùng, mà vì Ngài còn rất lạ lùng, mà vì Ngài thảy đều là lạ lùng nữa. Thí dụ, trong khoa nghệ thuật và khoa học, người ta có rất nhiều tài khéo; nếu chúng ta có sự lạ lùng về thời đại, về điện báo — quả là có nhiều sự kỳ diệu rồi! Nhưng có nhiều điều trong điện báo mà chúng ta có thể hiểu được. Mặc dù có nhiều bí nhiệm ở trong đó, vẫn có nhiều chi tiết trong đó, chúng là chìa khóa cho những bí nhiệm ấy, cho nên nếu chúng ta không thể giải quyết được toàn bộ sự bí ẩn, dù vậy người ta có thể lột từ từ những chiếc áo bí nhiệm ấy. Còn bây giờ, nếu quí vị nhìn xem Đấng Christ không cứ bằng phương thế nào, ở đâu, cách gì đi nữa, Ngài là tất cả sự mầu nhiệm, Ngài là toàn bộ sự lạ lùng, người ta luôn luôn nhìn xem Ngài và ngưỡng mộ Ngài như thế.
Và một lần nữa, người ta thấy Ngài rất là lạ lùng. Họ nói cho chúng ta biết rằng tôn giáo của Đấng Christ là rất tốt đối với mấy bà cụ già. Tôi đã từng được một người ca tụng, ông nầy nói với tôi, ông ta tin theo sự giảng dạy của tôi sẽ rất thích ứng đối với những người da đen. Ông ta không dự tính đây là một lời ca tụng, nhưng tôi đáp: "Được rồi thưa ông, nếu sự rao giảng nầy thích ứng với người da đen, tôi nghĩ rằng cũng thích hợp với người da trắng nữa; vì chỉ có một ít khác biệt về màu da thôi, và tôi không giảng cho màu da của người ta, mà cho tấm lòng của họ". Giờ đây, về Đấng Christ chúng ta có thể nói rằng Ngài là một sự rất lạ lùng, người có tài trí mạnh mẽ nhất đã lấy làm lạ về Ngài. Lockes và Newtons của chúng ta, bản thân họ đã cảm thấy mình giống như những đứa trẻ nhỏ khi họ bước tới dưới chân thập tự giá. Sự lạ lùng không bị hạn định cho phụ nữ, cho trẻ con, cho mấy bà cụ già và những người đang hấp hối, cho người trí thức cao nhất, và cho kẻ có lý trí mạnh mẽ nhất hết thảy đều đã lấy làm lạ về Đấng Christ. Tôi dám chắc làm cho người ta phải lấy làm lạ là một phần việc rất khó. Những nhà tư tưởng, các nhà toán học họ chẳng dễ dàng lấy làm ngạc nhiên đâu. Nhưng hạng người thể ấy đã dùng tay che mặt họ lại sấp mình xuống đất, rồi xưng nhận rằng họ đã đầu hàng với sự lạ lùng và kinh ngạc. Phải, khi ấy Đấng Christ sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng.
II. "Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng". Ngài là lạ lùng vì NGÀI LÀ GÌ TRONG HIỆN TẠI. Và ở đây tôi không muốn tẻ tách ra, nhưng chỉ muốn lôi cuốn quí vị theo cách riêng. Có phải Ngài là lạ lùng đối với quí vị không? Cho phép tôi thuật lại câu chuyện về sự tôi lấy làm lạ lùng về Đấng Christ, và khi thuật lại câu chuyện ấy, tôi sẽ kể lại kinh nghiệm của hết thảy con cái của Đức Chúa Trời. Có một thời điểm khi tôi chẳng lấy làm lạ nơi Đấng Christ. Tôi nghe nói tới mọi vẽ đẹp của Ngài, song tôi chưa hề nhìn thấy chúng; tôi có nghe nói về quyền phép của Ngài, nhưng nó chẳng là gì đối với tôi cả; đấy chỉ là những tin tức nói tới một việc đã được làm ra trong một xứ xa kia — tôi chẳng có quan hệ gì với tin tức đó hết, rồi vì lẽ đó tôi chẳng lưu tâm đến nó. Nhưng rồi đến một thời điểm kia, có một người đến nhà tôi gõ cửa vào buổi trời tối đen kịt. Ông ta đập cửa, tôi đã tìm cách cài then thật chặt rồi — tiếng gõ cửa càng lúc càng dồn dập. Ông ta lại đập cửa nhiều lần, sau cùng cho đến khi ông ta bước vào, với giọng nói ồ ề ông ta gọi tôi đến trước mặt ông ta; ông ta nói: "Tôi có một sứ điệp từ Đức Chúa Trời dành cho ông đây; ông bị xét đoán về tội lỗi của ông". Tôi nhìn ông ta với nỗi ngạc nhiên; tôi hỏi tên của ông ta. Ông ta đáp: "Tên của tôi là Luật Pháp", và tôi phủ phục xuống trước mặt ông ta giống như một người đã chết. "Ngày xưa tôi không có luật pháp mà tôi sống; nhưng khi điều răn đến, thì tội lỗi lại sống". Khi tôi nằm ở đó, ông ta đã đánh tôi. Ông ta đã đánh tôi cho tới chừng từng cái xương sườn dường như đã gãy vụn, và ruột rà như bị đổ ra hết. Lòng tôi tan chảy giống như sáp ở trong tôi; dường như tôi bị trải ra như một đám mây — bị kẹp với sắt nóng — bị đánh đập bằng roi sắt nóng. Một nỗi đau cùng cực chiếm hữu và ngự trị trong tấm lòng của tôi. Tôi chẳng dám ngước mắt mình lên, nhưng tôi suy gẫm ở trong lòng mình: "Có hy vọng, có sự thương xót dành cho tôi. Có lẽ Đức Chúa Trời mà tôi đã làm phật lòng Ngài có lẽ chấp nhận những giọt nước mắt và lời hứa cải tà quy chánh của tôi, và tôi sẽ được sống". Nhưng khi tư tưởng ấy thoáng qua, nỗi đau khổ của tôi là những cơn gió nặng nề và thấm thía còn hơn trước đấy nữa, cho tới chừng hy vọng trong tôi đã gục ngã hoàn toàn, và tôi chẳng còn gì. Bóng tối đen đúa và dày đặc nhóm lại chung quanh tôi; tôi nghe thấy một giọng nói đang ùa tới, có khóc lóc và nghiến răng. Tôi nói từ trong linh hồn mình: "Tôi xa lánh mặt Ngài, Đức Chúa Trời hoàn toàn ghét bỏ tôi, Ngài đã chà nát tôi trên vũng bùn đường phố trong cơn giận dữ của Ngài". Rồi có Đấng đến gần, dáng vẻ buồn bã nhưng tràn đầy yêu thương, Ngài nghiêng về phía tôi rồi nói: "Ngươi đang ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi". Tôi chổi dậy trong sự kinh ngạc, và Ngài nắm lấy tôi, Ngài dẫn tôi đến một nơi có thập tự giá, và dường như Ngài biến mất không cho tôi thấy nữa. Nhưng Ngài lại hiện ra bị treo ở đó. Tôi ngước mắt lên nhìn xem Ngài khi Ngài đổ huyết ra trên cây gỗ ấy. Đôi mắt Ngài nhìn thẳng với ánh yêu thương không thế thốt ra được chiếu thẳng vào tâm linh tôi, và trong một phút khi nhìn xem Ngài, những vết hằn mà linh hồn tôi đã gánh chịu được chữa lành; các vết thương thâm tím đã được chữa khỏi; những cái xương bị gãy đều vui mừng; những miếng vải vụn rách kia bao phủ lấy tôi hết thảy đều được dời đi khỏi; tâm linh tôi không tì vít trắng như bông tuyết ở tận cùng phương Bắc; tôi có tiếng hát du dương trong tâm linh mình, vì tôi đã được cứu, được thanh tẩy, được làm cho sạch, được tha thứ, nhờ Ngài đã chịu treo trên cây gỗ kia. Ồ, tôi lấy làm lạ dường nào một khi tôi đã được buông tha! Đây không phải là sự tha thứ mà tôi đã lấy làm lạ nhiều như thế đâu; cái điều lạ lùng ấy là sự tha thứ đó đã đến với tôi. Tôi lấy làm lạ vì Ngài có quyền tha thứ cho những tội lỗi giống như tội lỗi của tôi; các tội lỗi đó, nhiều vô số và đen đúa lắm, và sau một lương tâm bị kết án như thế Ngài vẫn có quyền làm cho bình tịnh từng đợt sóng trong tâm linh tôi, và biến linh hồn tôi giống như mặt nước hồ thu, yên tĩnh, dịu dàng, thoải mái. Danh Ngài khi ấy đối với tâm linh tôi là Đấng Lạ Lùng. Nhưng, hỡi anh chị em ơi, nếu quí vị đã cảm xúc được như thế, quí vị có thể thốt ra mình đã suy nghĩ Ngài thật là lạ lùng — nếu quí vị đang cảm xúc như thế, một cảm xúc tôn kính những điều lạ lùng thật đáng làm say mê trái tim của quí vị ngay lúc bây giờ.
Và nếu như Ngài chưa phải là lạ lùng cho quí vị khi ấy, khi lần đầu tiên quí vị nghe thấy giọng của sự thương xót đã phán cùng quí vị? Quí vị thường ở trong đau buồn, bịnh tật, và rầu rĩ là dường nào! Nhưng đau khổ của quí vị đã ra sáng láng, vì Đức Chúa Jêsus Christ đã ở với quí vị trên giường bịnh của quí vị; sự lo âu của quí vị chẳng còn là lo âu gì nữa hết, vì quí vị có thể trao gánh nặng của mình cho Ngài. Sự thử thách nào đã đe dọa chà nát quí vị, thay vì thế, nó đã nâng quí vị lên tới thiên đàng, và quí vị đã nói: "Danh Đức Chúa Jêsus Christ quả là lạ lùng dường bao, danh ấy ban cho tôi sự yên ủi, vui mừng, bình an, tin cậy như thế đấy". Nhiều vấn đề nhập vào hồi ức của tôi trải qua một thời gian giờ đây đã bị cất đi bởi khoảng thời gian gần hai năm. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên được sự phán xét của Chúa, khi bởi những việc kinh khủng trong sự công bình Ngài đã đáp lời cầu nguyện của chúng ta đến nỗi Ngài sẽ ban cho chúng ta sự hanh thông ngay trong nhà nầy. Chúng ta không thể quên thể nào dân sự đã bị tan rãi ra — thể nào một số chiên đã bị giết, và chính người chăn đã bị đánh đập. Có thể là tôi chưa kể cho quí vị nghe về sự khốn khó của chính tôi. Có lẽ linh hồn chưa hề bước tới gần lò lửa điên rồ đang đốt nóng, thế mà đã bước ra chẳng bị tổn hại gì. Tôi đã bước đi gần lò lửa ấy cho tới chừng những sợi tóc nầy dường như bị khô cứng, giòn rụm do hơi nóng kia. Đầu óc tôi đã bị vắt cạn hết. Tôi không dám ngước lên nhìn Đức Chúa Trời, và cầu nguyện xin được yên ủi, là nguyên nhân của nỗi khiếp sợ và kinh hoàng của tôi, nếu tôi nổ lực cầu xin điều đó. Tôi sẽ không bao giờ quên thời điểm mà lần đầu tiên tôi được phục hồi lại. Đây là ngôi vườn của một người bạn. Tôi đã đi bách bộ một mình, đang trầm ngâm nghĩ đến nỗi khốn khó của mình, rồi vui vẻ vì đấy là sự tử tế của người bạn đáng yêu của mình, nó sâu xa quá linh hồn tôi không đương nổi, khi thình lình danh xưng của Chúa Jêsus chớp sáng qua lý trí của tôi. Thân vị của Đấng Christ dường như nhìn thấy được đối với tôi. Tôi đã đứng trong im lặng. Dung nham đang cháy nóng trong linh hồn tôi đã bị nguội lạnh rồi. Những nổi khổ của tôi đã câm bặt đi. Tôi cúi mình xuống ở đó, và ngôi vườn dường như là một Ghếtsêmanê đối với tôi đã trở thành chốn Thiên Thai. Và đối với tôi cảm xúc ấy thật là lạ lùng, chẳng một thứ gì có thể lôi cuốn tôi trừ ra danh của Chúa Jêsus. Quả thực vậy, tôi nghĩ lúc bấy giờ tôi đã yêu mến Ngài nhiều hơn trong những tháng ngày cả cuộc đời tôi. Nhưng có hai điều mà tôi phải lấy làm lạ. Tôi lấy làm lạ vì Ngài quá nhơn từ đối cùng tôi, và tôi lấy làm lạ hơn nữa khi tôi chẳng biết ơn đối với Ngài. Nhưng danh Ngài từ khi ấy là Danh Lạ Lùng đối với tôi, và tôi phải ghi lại mọi điều mà Ngài đã làm cho linh hồn tôi.
Còn bây giờ, hỡi anh chị em yêu dấu ơi, quí vị hết thảy sẽ thấy, mỗi ngày trong đời sống của mình, dù là thử thách hay hoạn nạn nào, Ngài sẽ luôn luôn là lạ lùng đối với họ. Ngài gửi đến những hoạn nạn cho quí vị giống như một cái nền màu đen, để làm cho viên kim cương danh Ngài rực sáng càng hơn. Quí vị chưa hề biết những điều kỳ diệu của Đức Chúa Trời một khi quí vị tìm kiếm chúng ở ngoài lò thử thách. "Có người đi xuống tàu trong biển, và làm việc nơi nước cả, kẻ ấy thấy công việc Đức Giê-hô-va, xem phép lạ Ngài trong nước sâu". Và chúng ta sẽ không bao giờ nhìn thấy những điều kỳ diệu của Ngài ngoài chỗ sâu đó; chúng ta phải bước vào chỗ nước sâu trước khi chúng ta nhìn biết quyền phép Ngài kỳ diệu là dường nào và sức mạnh để cứu của Ngài lạ lùng là bao.
Tôi không rời khỏi điểm nầy mà không đưa ra một lời bình. Có nhiều khi quí vị và tôi nói về Đấng Christ như sau: "Quả thực danh Ngài rất lạ lùng, vì chúng ta đã sống bởi danh ấy có quyền phép trên cả thế gian, và dẫn tới chính hai cánh cổng của thiên đàng". Hỡi quí bạn yêu dấu ơi, tôi nài xin quí vị, nếu quí vị không hiểu được niềm phấn khởi mà tôi sắp sửa nói tới đây. Có những giây phút khi Cơ đốc nhân cảm thấy những quyến rũ của trần gian cả thảy đều tan vỡ, và đôi cánh của mình phải buông thỏng, và người sắp sửa bay; và người bay vút cao lên, cho tới chừng nào người quên phứt đi mọi đau buồn của đất rồi để chúng lại đàng sau, và người lên cao cho tới chừng người quên đi mọi sự vui mừng của đất, người để chúng lại giống như các đỉnh núi ở xa xa, y như khi chim phượng hoàng bay lên đón mặt trời; rồi người lên cao, cao mãi, cao mãi với Cứu Chúa của mình thật đầy trọn trước khi người ở trong sự vui sướng. Tấm lòng của người đầy dẫy Đấng Christ; linh hồn người nắm lấy Cứu Chúa của mình, rồi đám mây làm tăm tối tầm nhìn của người về mặt của Cứu Chúa sẽ bị xua tan đi. Ở những thời điểm như vậy, Cơ đốc nhân có thể đồng cảm với Phao-lô. Ông nói: "(hoặc trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người, tôi chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết), nhưng tôi biết như sau: "được đem lên đến tầng trời thứ ba". Và sự tiếp rước nầy sẽ diễn ra như thế nào? Bằng âm nhạc của tiếng sáo, kèn, các loại đàn cổ, và đủ thứ nhạc cụ? Không! vậy thì bằng cách nào? Bởi sự giàu có chăng? Bởi tên tuổi ư? Bởi tài sản kếch xù sao? A, không đâu! Bởi một lý trí mạnh dạn chăng? Bởi tính tình sống động sao? Không. Bởi danh của Chúa Jêsus. Chỉ một mình danh ấy thôi cũng đủ dẫn Cơ đốc nhân vào những cao điểm tôn giáo, là nơi mà hàng thiên sứ bay lượn trong một ngày không gợn chút mây.
III. Tôi không có thì giờ để trụ lại ở điểm nầy, mặc dù câu gốc là vô hạn, và người ta phải rao giảng câu gốc ấy cho đến đời đời. Tôi phải lưu ý rằng danh Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng TRONG TƯƠNG LAI.
Ngày hầu đến, ngày của sự thạnh nộ, ngày của lửa. Mọi kỹ nguyên sẽ bị kết thúc; thế kỹ cuối cùng, giống như cột trụ sau cùng của đền thờ bị lật đổ, hư nát, như bụi tro. Chiếc đồng hồ thời gian đang tiến tới gần giờ cuối cùng của nó. Giờ cuối cùng sắp điểm rồi. Thì giờ hầu đến khi muôn vật từng được dựng nên sẽ đi vào chỗ biến mất. Nầy, tôi thấy bộ ruột của quả đất chuyển động. Hàng ngàn núi đồi đầu hàng trước cái chết đương ngủ say kia. Các bãi chiến trường sẽ bị bón bằng huyết, chúng không còn là những thửa đất để mang lại các vụ mùa thật trúng nữa; nhưng mùa gặt mới đã đến rồi. Đồng ruộng dày đặc với người ta. Bản thân đại dương biến thành một người mẹ sung mãn, và mặc dù nó đã nuốt chửng nhiều người sống, nó nhả họ ra trở lại, và họ đứng trước mặt Đức Chúa Trời, một đạo binh thật lớn. Hỡi tội nhân! các ngươi đã sống lại ra khỏi mồ mả; những cột trụ của thiên đàng sẽ bị cuốn lại; bầu trời kia dời đi; mặt trời, con mắt của thế gian vĩ đại nầy, bị cuộn lại giống như con mắt của một gã điên đang trợn mắt nhìn vậy. Mặt trăng vốn ngự trị vào ban đêm kia giờ đây trở thành tối tăm khủng khiếp, vì nó bị đổi thành một khối huyết. Những điềm gỡ, các dấu lạ phép kỳ chuyển thành sự tưởng tượng, làm cho các từng trời rúng động, và làm cho tấm lòng của loài người nao núng trong họ. Thình lình trên một đám mây xuất hiện Đấng giống như Con Người. Hỡi tội nhân! hãy vẽ ra nỗi kinh ngạc và sự lạ lùng của các ngươi khi các ngươi nom thấy Ngài xem! Voltaire ơi, ông ở đâu? Ông từng nói: "Ta sẽ chà nát kẻ ác giả". Hãy đến mà chà nát người bây giờ đi! Voltaire nói: "Nầy, Ngài không phải là con người như tôi tưởng". Ôi, ông ta sẽ ngạc nhiên dường bao khi nhận ra Đấng Christ là ai! Bây giờ, hỡi Giu-đa, hãy đến và dâng cho Ngài một nụ hôn của kẻ phản bội đi! Hắn ta đáp: "A! mà nè, tôi không biết tôi đã hôn ai. Tôi nghĩ tôi đã hôn duy nhứt con trai của Mary mà thôi, mà nầy! Ngài là Đức Chúa Trời đời đời". Bây giờ, hỡi các ngươi, bậc vua chúa, hãy đứng dậy và cùng nhau luận lẽ chống lại Đức Giêhôva và nghịch Đấng chịu xức dầu của Ngài đi, hãy nói: "Chúng ta hãy đến cùng nhau, bẻ lòi tói của Ngài đi!" Hãy đến ngay bây giờ nè, hãy luận lẽ thêm nữa đi; hãy nổi loạn chống nghịch Ngài trong lúc bây giờ nè! Ồ! các ngươi có thể vẽ ra nỗi kinh ngạc, sự lạ lùng của kẻ mất hồn, khi những kẻ vô đạo vô thần và những tín đồ Socinus (tôn giáo của Faustus Socinus ở thế kỷ 16-17) nhận ra Đấng Christ là ai? Họ sẽ nói: "Ồ, điều nầy thật là lạ lùng, tôi chẳng nghĩ được là Ngài như thế nầy đâu"; trong khi Đấng Christ sẽ phán cùng họ: "các ngươi tưởng rằng ta cũng giống như các ngươi ư; nhưng ta chẳng phải như vậy đâu; ta đến với mọi sự vinh hiển của Cha ta để xét đoán kẻ sống và kẻ chết".
Pharaôn đã dẫn các đạo binh mình vào giữa Biển Đỏ. Con đường khô ráo và có nhiều đá sỏi, và hai bên bờ đứng sừng sửng giống như một bức tường nước trắng như thạch cao tuyết hoa với hơi thở của sương giá, được làm vững chắc như táng cẩm thạch trắng vậy. Bức tường nước ấy đã đứng đó. Quí vị có thể đoán được nỗi kinh ngạc và sự mất tinh thần của các đạo binh của Pharaôn, khi chúng trông thấy các bức tường nước kia đổ ụp xuống trên chúng không? "Nầy, các ngươi, những kẻ coi thường, lấy làm lạ và hư mất kia!" Sự kinh ngạc của các ngươi sẽ là thế đấy, khi Đấng Christ, là Đấng mà các ngươi xem khinh hôm nay — Đấng Christ, là Đấng chưa phải là Cứu Chúa của các ngươi — Đấng Christ, quyển Kinh Thánh nói về Ngài mà các ngươi chưa hề đọc, ngày Sabát của Ngài các ngươi đã xem thường — Đấng Christ, tin lành của Ngài mà các ngươi đã chối bỏ, Ngài sẽ ngự đến trong sự vinh hiển của Cha Ngài, hết thảy các thiên sứ thánh của Ngài sẽ ở với Ngài. Thực vậy, các ngươi sẽ “lấy làm lạ và hư mất" và các ngươi sẽ nói: "Ngài được xưng là Đấng Lạ Lùng".
Nhưng có lẽ, phần lạ lùng nhất trong ngày phán xét là đây, có phải quí vị đang nhìn thấy hết thảy nỗi khủng khiếp từ xa xa kia chăng — bóng tối tăm đen kịt làm cho bóng đêm thêm kinh khủng, những sao chỗi sẹt sáng kia bị mờ dần, rơi rụng xuống giống như trái vả rơi rụng xuống từ trên cây không? Quí vị có nghe thấy tiếng kêu la: "Hỡi núi và đá lớn, hãy rơi xuống chận trên chúng ta" không? ‘Cả giày dép của kẻ đánh giặc trong khi giao chiến” nữa; nhưng chưa hề có một trận giao chiến nào giống như trận nầy cả. Thực vậy, chiến trận nầy đầy với khói lửa. Nhưng có phải quí vị nhìn thấy từ đàng xa không? Mọi sự đều an bình mọi sự đều trong sáng và yên tĩnh. Vô số người được chuộc, có phải họ đang kêu thét, la khóc không? Không; hãy nhìn xem họ đi! Họ đang nhóm lại — nhóm lại quanh ngôi. Chính ngôi dường như bị bỏ đi, khi với cả trăm bàn tay, sự chết và sự hủy diệt giáng trên kẻ ác, trở thành mặt trời sáng láng và phước hạnh cho hết thảy những người tin. Có phải quí vị nhìn thấy họ đang đến mặc áo trắng như tuyết, cùng với đôi cánh sáng láng của họ không? Trong khi nhóm lại quanh Ngài họ che mặt họ lại. Quí vị có nghe thấy họ kêu lên: "Thánh thay! Thánh thay! Thánh thay! Giêhôva Đức Chúa Trời vạn quân, vì Ngài đã bị giết, và Ngài đã sống lại từ kẻ chết; Ngài xứng đáng sống động và trị vì, khi sự chết bản thân nó đang dãy chết không?" Quí vị có nghe họ kêu la không? Đây là bài ca chứ không phải tiếng khóc thét đâu. Quí vị có nhìn thấy họ không? Đây là sự vui mừng, chớ chẳng phải là kinh khiếp đâu. Danh Ngài đối với họ là Đấng Lạ Lùng; nhưng đây là sự tán tụng thật kỳ diệu, sự tán tụng say sưa, sự lạ lùng của tình cảm, chớ không phải sự lạ lùng kinh khủng và mất tinh thần. Hỡi các thánh đồ của Đức Giêhôva! Các ngươi sẽ nhìn biết sự lạ lùng của danh Ngài, khi các ngươi nhìn thấy Ngài như vốn có thật vậy, và sẽ trở nên giống như Ngài trong ngày Ngài hiện ra. Ồ! tâm thần vô cùng say mê của tôi ơi, ngươi sẽ mang lấy phần của mình trong sự đắc thắng của Đấng cứu chuộc ngươi, mặc dù ngươi không xứng đáng, hỡi đầu của tội nhân, và là kẻ nhỏ nhất trong mọi thánh đồ. Mắt ngươi sẽ trông thấy Ngài chớ chẳng thấy ai khác đâu: "Còn tôi, tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống, đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất. Sau khi da tôi, tức xác thịt nầy, đã bị tan nát, Bấy giờ ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Đức Chúa Trời". Ồ! hãy dọn lòng mình cho sẵn sàng đi, các ngươi những nữ đồng trinh! Nầy, chàng rễ đương đến kia. Hãy chổi dậy và châm dầu đèn của mình, và các ngươi hãy đi ra mà đón rước Ngài. Ngài đến — Ngài đến — Ngài đến; và khi Ngài đến, các ngươi sẽ nói tốt về Ngài khi các ngươi tiếp đón Ngài bằng sự vui mừng: "Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng”. Hết thảy đều chúc tụng Ngài! Hết thảy đều chúc tụng Ngài! Hết thảy đều chúc tụng Ngài!"

Những việc chưa từng biết



Những việc chưa từng biết
Bài giảng ngày Chúa nhựt 4 tháng 3 năm 1900, Mục sư C. H. SPURGEON,Tại Giảng đường New Park, Southwar
"Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết" — Giêrêmi 33.3.
DÂN SỰ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI SẼ KHÔNG BAO GIỜ DỰA VÀO bất cứ điều gì có giá trị hơn bánh đến từ trời. Dân Israel trong xứ Ai cập đã sống trên củ hành và củ kiệu, nhưng dân Israel trong đồng vắng đã được nuôi bằng mana đến từ trời, và với nước chảy ra từ hòn đá, khi nó bị đập bởi cây gậy của Đức Chúa Trời. Con cái của Đức Chúa Trời, trong khi cứ miệt mài trong tội lỗi của mình, có thể giống như nhiều người khác, ham mê trong đó, và các khoái lạc cùng điên cuồng của đời nầy sẽ là niềm vui thích của họ; thế nhưng khi họ từng được đưa ra khỏi Ai cập, bởi bàn tay cao cả của ý chỉ Đức Chúa Trời, và bàn tay toàn năng sức lực của Đức Chúa Trời, họ sẽ không bao giờ sống theo điều chi kém hơn lời hứa và lẽ thật của Đức Chúa Trời. Quả là hư không cho con người khi tìm cách cất bỏ đi mọi nghi ngờ và cũng cố sự tự tín của mình, đúng là luống nhưng cho con người khi nổ lực nuôi mình bằng đạo do con người lập nên hay bằng các ý tưởng duy lý, chúng phải có điều gì đó thiêng liêng, có con dấu của sự khải thị trên đó; thực vậy, trừ phi chúng ta mỗi ngày Chúa nhựt đều đến với câu "Đức Giêhôva phán vậy", chúng ta sẽ không có năng lực phục vụ cho Giao Ước Mới, và không phải với sức lực của chúng ta mà đủ yên ủi cho con cái của Chúa đâu!
Trong chương nầy, chúng ta thấy tiên tri Giêrêmi đang ở trong tù; ông đã bị làm cho câm nín trong nhà ngục của triều đình, và để yên ủi ông, Lời của Đức Giêhôva đã đến với ông: "Đức Giêhôva phán vậy". Bấy nhiêu đó là đủ rồi, trong lúc chúng ta thịnh vượng, nó đủ làm cho mọi hy vọng của chúng ta nổi phình lên; vì, than ôi! Có đủ con người tự nhiên trong Cơ đốc nhân để khiến cho người vui mừng thậm chí trong những việc thuộc xác thịt khi người chưa được làm nên thánh cách hoàn toàn; nhưng khi chúng ta lâm vào cảnh rối ren, khi đau khổ và nghịch cảnh, bịnh tật và khốn khó, đang rèn thử chúng ta, ở đó, là chiếc bè do con người làm ra, trên đó linh hồn của chúng ta sẽ trôi nổi qua các cơn lũ hoạn nạn cùng những lượn sóng khổ đau sâu sắc, nhưng chúng ta phải có chiếc phao cứu sinh thiêng liêng của câu nói "Đức Giêhôva phán như vậy". Đấy là điều mà Cơ đốc nhân mong muốn trong từng lúc và ở từng nơi, nhưng đây là điều mà người đặc biệt có cần hơn khi người đang ngụp lặn trong chỗ nước sâu, và được luyện lọc bởi đau khổ: "Đức Giêhôva phán vậy". Câu gốc của tôi là "Đức Giêhôva phán vậy". "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết".
Ở đây, trước tiên là một lời hứa long trọng; thứ hai, đây là một sự bất toàn hiển nhiên; và thứ ba, đây là một ứng dụng đặc biệt của lời hứa, được lập ra vì sự bất toàn đó.
I. Thứ nhứt, đây là MỘT LỜI HỨA LONG TRỌNG. "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho".
Bây giờ, nếu có người bạn nào viết cho chúng ta một bức thư chứa câu nói như câu nầy: "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho", tự nhiên chúng ta sẽ hiểu ra ngay, rằng bất cứ điều chi chúng ta kêu cầu nơi người bạn của mình, người bạn ấy chắc chắn sẽ ban cho chúng ta; và nếu đấy là một người mà chúng ta tin tưởng vào khả năng và sự tử tế của người ấy, chúng ta sẽ không chậm chạp dấn thân vào việc tìm kiếm sự vùa giúp của người bạn ấy. Nếu chúng ta bị mắc nợ, chúng ta sẽ nộp đơn xin người giúp đỡ cho về mặt tài chính, hầu cho chúng ta có thể thanh toán mọi khoản nợ nần của chúng ta; nếu chúng ta bị thử thách bởi tật bịnh, chúng ta sẽ trình toa cho người để người cung ứng cho chúng ta đủ thuốc men để làm cho mọi nổi đau đớn của mình được vơi đi; nếu bạn bè chúng ta sống bạc nghĩa với chúng ta, chúng ta sẽ kêu cầu người xin cho có sự cảm thông; và nếu tâm linh chúng ta buồn khổ do một nguyên nhân nào đó không biết, nếu chúng ta tin người có sự khôn ngoan bao la, chúng ta sẽ cầu xin người cung ứng cho một thứ bổ dưỡng nào đó để cất chúng ta ra khỏi nỗi đau khổ của chúng ta.
Nhưng quả là khác biệt lắm trong trường hợp chúng ta đọc mấy lời ấy như đang toát ra từ môi miệng của Đức Chúa Trời! Hỡi anh em, thật là kỳ lạ thay vì sử dụng chúng, chúng ta chỉ đọc chúng như một vấn đề đạo đức, đôi khi chúng ta nghĩ tới việc sử dụng chúng. Chúng ta nói: "Được thôi, đây là một lẽ đạo đem lại sự yên ủi, Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện; thực là yên ủi khi nghe vị Mục sư cho chúng ta biết, bất cứ điều chi chúng ta cầu xin trong lúc cầu nguyện, cứ tin thì chúng ta sẽ nhận được". Nhưng rồi vấn đề kết thúc ở đó; và, trừ phi với một tinh thần lựa chọn, đối với chúng ta nó chỉ là một giáo lý, chứ không phải là điều phải thực hành. "Hỡi kẻ dại dột kia, sao ngươi chậm tin quá vậy", Chúa sẽ phán với chúng ta như thế; và nếu Ngài ngự vào lòng chúng ta, Ngài sẽ phát ra hàng ngàn lời quở trách vì chúng ta chễnh mãng trong việc minh chứng tính chơn thật trong lời hứa của Ngài. Vì Đức Chúa Trời nghiêm túc đối với mọi điều Ngài đã phán; và vì Ngài đã phán: "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho", Ngài dự trù mọi lời của Ngài đều là chắc chắn; và Ngài ao ước chúng ta phải tin chúng là sự thực, rồi nhơn cớ đó xác minh đức tin của chúng ta bằng cách căn cứ chúng mà làm theo. Than ôi! Sự thực quá đơn giản không cần phải tranh cãi nữa, nghĩa là hầu hết chúng ta, trong khi chúng ta nhận lãnh lẽ đạo nầy vì nó nằm trong Kinh Thánh, lẽ ra phải nhận lãnh rồi đưa lẽ đạo ấy vào trong thực hành. Trong phần giới thiệu, quí vị phải để ý, lẽ thật quan trọng nầy: "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho", có lẽ tôi phải giải đáp cho một loạt nhiều đối tượng và nhiều thắc mắc.
Có người nói: “Được thôi, phải chăng ông muốn chúng tôi tin rằng bất cứ điều chi chúng tôi xin trong sự cầu nguyện thì chúng tôi sẽ nhận được không?" Tôi phải giải đáp cho quí vị với sự thận trọng. Trong chỗ thứ nhứt, quí vị là ai khi đưa ra câu hỏi đó? Có phải quí vị là một con cái của Đức Chúa Trời, hay quí vị là một người chưa tin Chúa! Quí vị đã được sanh lại chưa, hay phải chăng quí vị vẫn là con người thiên nhiên, chưa có sự đổi mới từ Đức Thánh Linh!?! Giải đáp của tôi cho quí vị phải căn cứ theo thắc mắc nêu trên. Nếu quí vị sống mà chưa có Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và chưa được đổi mới, tôi sẽ nhắc cho quí vị nhớ tới phân đoạn Kinh Thánh nói về kẻ ác: "Lời cầu nguyện người ấy cũng là một sự gớm ghiếc" (Châm ngôn 28.9), và nếu lời cầu nguyện của quí vị là một sự gớm ghiếc, tất nhiên quí vị không thể mong Đức Chúa Trời chấp nhận một sự gớm ghiếc, rồi trả lời cho lời cầu nguyện ấy. Vì vậy, quí vị phải biết rõ rằng, bản thân quí vị là một người dự phần vào ân điển của Đức Chúa Trời, hoặc giả lời hứa nầy không thuộc về quí vị.
Quí vị đồng ý với tôi như thế, và rồi quí vị hỏi tôi câu nầy: "Thưa ông, tôi hy vọng tôi là một con cái của Đức Chúa Trời; vì lẽ đó, tôi hiểu bất cứ điều chi tôi cầu xin trong sự cầu nguyện, thì tôi sẽ được Đức Chúa Trời ban cho không?" Tôi cũng phải giải đáp cho quí vị với sự thận trọng; e rằng, trong nổ lực trình bày một sự thật, tôi sẽ nói ra sự giả dối. Trước tiên tôi phải hỏi quí vị, quí vị là con cái của Đức Chúa Trời trong tình trạng nào của tấm lòng mới được? Phải chăng quí vị vừa mới giao thông với Đấng Christ? Có phải quí vị thường xuyên nghiên cứu Lời của Ngài không? Ao ước của quí vị là gì? Quí vị đang cần gì mới được? Mong muốn của quí vị là gì? Vì, căn cứ theo những câu trả lời các thắc mắc nầy của quí vị, giải đáp của tôi phải nương vào thắc mắc của quí vị, có thể quí vị là một Cơ đốc nhân; thế nhưng, dù là một người Do thái, quí vị, giống như dân Israel ở trong đồng vắng, đang cầu xin cho có thịt để làm thoả tư dục riêng của quí vị, thậm chí khi họ đã thoả thích rồi nữa; nhưng khi họ nài xin cho có thịt ăn, và Đức Giêhôva đã gửi tới bầy chim cút, trong khi thịt còn ở đầy trong miệng của họ, sự rủa sả của Đức Giêhôva đã giáng trên họ.
Chúng ta biết chắc mọi lời cầu xin của mình sẽ được nhậm, nếu lời cầu xin đó đúng đắn, lời cầu xin ấy sẽ được trả lời. Đôi khi, ngay cả dân sự của Đức Giêhôva cầu xin ban cho những thứ không làm vinh hiển cho Chúa, cũng không vì lợi ích của họ khi nhận lãnh, nếu quí vị nói cho con của mình biết quí vị sẽ cung ứng cho nó bất cứ thứ chi nó muốn, quí vị sẽ không nghĩ rằng mình dám hứa bất kỳ một lời cầu xin vô lý nào mà nó đưa ra. Giả sử nó cầu xin quí vị một lượng thạch tín, giả sử nó xin quí vị hãy giết nó đi, quí vị sẽ làm thành lời hứa chứ? Chắc chắn là không rồi. Quí vị sẽ nói: "Con ơi, mẹ yêu con nhiều lắm nên không nghe theo sự dại dột quá quắt của con đâu; mẹ muốn con phải sống tốt đẹp đến nỗi không đồng ý với lời cầu xin vô lý của con, và mẹ không thể nghe theo con đâu”. Đức Chúa Trời cũng phán y như thế: "Hãy kêu cầu ta. Ta sẽ trả lời cho” nhưng ta sẽ không nhậm các ngươi theo như các ngươi muốn ta nhậm lời đâu. Nếu các ngươi cầu xin một thứ mà chẳng thích ứng cho các ngươi nhận lãnh, ta sẽ ban cho các ngươi một thứ tốt đẹp hơn. Ta sẽ không ban cho các ngươi thứ ấy đâu; ta sẽ nghe lời cầu nguyện của các ngươi, nhưng ta sẽ không ban cho các ngươi đúng cái điều mà các ngươi cầu xin đâu, nhưng ta sẽ thuận cho các ngươi một thứ siêu hạng hơn chính thứ ấy".
Quả là một việc tồi tệ nếu Đức Chúa Trời luôn luôn nghe lời cầu nguyện của chúng ta, rồi ban cho chúng ta đúng cái điều mà chúng ta cầu hỏi nơi Ngài. Nếu Ngài luôn luôn ban cho chúng ta đúng cái điều mà chúng ta cầu xin, chúng ta sẽ tự huỷ diệt mình. Có lẽ quí vị đã nghe nói tới câu chuyện kể về một người đờn bà có đứa con mắc bịnh; và khi vị Mục sư được bà ta mời đến, bà ta đã xin ông cầu nguyện để cho đứa trẻ được sống, và trong sự cầu nguyện ông lại nói: "Lạy Chúa, xin buông tha mạng sống cho đứa trẻ nầy, nếu đây là ý Chúa". Người mẹ liền ngắt ngang Mục sư, bà ta nói: "Không, tôi không muốn thế; đứa trẻ nầy phải sống cơ! Tôi muốn ông cầu xin Đức Chúa Trời rằng đứa trẻ sẽ sống dù Đức Chúa Trời muốn hay không muốn". Vị Mục sư đáp: "Hỡi bà kia, bà sẽ có lý do để run sợ về lời cầu xin nầy. Nếu bà xin Đức Chúa Trời một việc như thế, sẽ có một lời rủa sả giáng trên sự cầu xin đó". Tuy nhiên, lời cầu nguyện đã được đưa ra; và, hai mươi năm sau đó, người đờn bà ấy, với tấm lòng thật đau đớn, đã nhìn thấy con trai mình đang đánh chiếc xe bò tới Tyburn, ở đó nó sẽ bị treo cổ. Quả là tốt hơn cho nó lẫn cho bà ta khi nó chết mất trên ngực của bà ta, và được đưa tới mồ mả dù là chết yểu, còn hơn là nó gửi cho bà mái tóc màu xanh với buồn rầu mà vào mồ mả. Vì lẽ đó, Đức Chúa Trời sẽ có sự hạn chế trong sự tử tế, là nếu chúng ta đưa ra lời cầu xin vô lý, là những điều không đem lại ích lợi cho chúng ta, Ngài sẽ không chuẩn nhận đâu.
Nhưng có thắc mắc đưa ra cho tôi nữa, như thế nầy đây: "Thưa ông, nếu tôi cầu xin một việc mà rõ ràng là một việc tốt, chắc chắn là có lợi cho tôi đấy, tôi dám chắc như thế, sau khi tôi cầu xin việc ấy trong sự cầu nguyện, thì tôi có nhận được điều đó hay không?" Một lần nữa, tôi phải đưa ra câu hỏi khác. Quí vị có học biết nghệ thuật tin tưởng nơi Đức Chúa Trời chưa? Vì, có thể quí vị là một Cơ đốc nhân, có thể quí vị tin nơi Đấng Christ đủ để linh hồn quí vị được cứu; nhưng quí vị có thể là một Cơ đốc nhân nhỏ nhoi đến nỗi quí vị chưa hề đạt tới chiều cao tin tưởng như một ngọn núi trong mọi điều mà Chúa đã phán ra. Và, quí vị hãy đánh dấu đi, lời hứa trả lời cho những lời cầu nguyện của quí vị chỉ được ban ra cho đức tin của quí vị mà thôi. Đức Chúa Jêsus Christ nói như thế với các môn đồ: "Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi". Bây giờ, nếu quí vị tiếp tục cầu nguyện trên hai đầu gối của mình, và cầu xin Đức Chúa Trời ban cho một việc gì đó, và không tin rằng Ngài sẽ ban cho mình, nó sẽ đến trong sự hào phóng phi thường của Đức Chúa Trời, nhưng nó sẽ không đến trong sự đáp trả cho lời cầu nguyện của quí vị. Những lời cầu nguyện của quí vị sẽ được đáp trả thích ứng với đức tin của quí vị; vì vậy, nếu quí vị tin, và cầu xin Ngài ban cho một thứ vì ích cho quí vị và vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, quí vị sẽ có điều đó chắc chắn như lời hứa là lời hứa và Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời vậy. Tôi đã trao đổi với nhiều Cơ đốc nhân, và một số bạn hữu đã có tuổi, nhưng cả họ và bản thân tôi có thể làm chứng rằng chúng tôi chưa hề gặp một Cơ đốc nhân nào có thể kết án Đức Chúa Trời phá vỡ lời hứa của Ngài. Chúng tôi đã gặp gỡ nhiều người, họ có đức tin rất sâu xa, nhưng chúng tôi chưa hề khám phá ra người nào bất trung với Đức Chúa Trời dám kết án Ngài không đáp trả sự cầu nguyện có đóng ấn với sự tin tưởng. Bất cứ lúc nào có đức tin, sẽ có đáp trả cho sự cầu nguyện có đức tin; quí vị chưa hề nghe nói một Cơ đốc nhân nào chối bỏ sự thật đó bao giờ.
Cách đây hai năm, tôi được ơn đến thăm viếng viện mồ côi ở Bristol của Ông Muller, và tôi chưa hề thấy quyền phép của đức tin thể hiện đáng giật mình như tôi đã thấy ở đó. Ông Muller lo nuôi dạy ba trăm trẻ mồ côi mà chẳng có một nguồn tài nguyên nào hết, trừ ra chính đức tin và sự cầu nguyện của ông. Khi ông cần một việc gì đó, ông triệu tập chúng lại với nhau, rồi trình dâng nhu cần cho Đức Chúa Trời, và cầu xin trợ cấp các thứ cần thiết; và, mặc dù có ba trăm đứa trẻ cần được nuôi dưỡng, cần được ăn mặc, và cần có chỗ trú ẩn, và mặc dù chẳng có xu nào ở trong két sắt, cũng không có nhúm đồ ăn nào trong thùng, khi giờ ăn đến, luôn luôn có bánh dư dật ở trong nhà khi lời cầu nguyện được nhậm. Tôi không bao giờ quên được buổi nói chuyện của tôi với người thánh của Đức Chúa Trời. Có người đến nói với tôi: "Tôi muốn ông hỏi Ông Muller một hay hai câu, nếu ông gặp ông ấy, cái nền của viện Mồ Côi mới mà ông ấy định xây cất để nuôi 700 trẻ mồ côi hay hơn nữa là gì!?! Bây giờ, tôi cảm thấy ba trăm trẻ là quá đủ cho một người chăm sóc; tôi nghĩ thật là vô lý cho ông ấy khi có tới 700 trẻ hay nhiều hơn nữa; ông ấy không có đủ khả năng để lo cho hàng ngàn trẻ được. Theo thể chế hiện hành, tôi tin rằng những nhà hảo tâm đang nghe nói tới sự ấy, rồi gửi đến cho ông ấy mọi quyên góp cho phần bảo dưỡng; nhưng có tới 700 trẻ hoặc hơn, điều nầy khó có thể thực hiện được lắm". Tôi đáp: "Tôi nghĩ có đôi điều trong những gì ông mới nói. Tôi sẽ hỏi khi tôi gặp ông ấy". Nhưng khi tôi gặp ông ấy, tôi không thể, và không dám, hỏi ông ấy bất kỳ câu nào như thế cả; và khi tôi nhìn thấy đúng là một công việc to tát mà ông ấy đã làm bởi đức tin của mình, và bắt đầu nhận xét công việc đó, ông ấy nói: "Ồ! Đây chỉ là một việc nhỏ mà tôi đã làm; đức tin có thể làm nhiều hơn thế nữa. Nếu đây là ý chỉ của Đức Chúa Trời thì tôi sẽ nuôi cả thế gian bằng sự cầu nguyện và đức tin, tôi có thể làm được điều đó. Nếu tôi có thêm đức tin, việc ấy sẽ được làm thành cho xem". Tôi chỉ có thể nói rằng, ông có thể lo liệu cho hơn một ngàn trẻ mồ côi, khi ông nói: "Khi tôi nhận ba trăm trẻ, tôi bắt đầu cầu xin Đức Chúa Trời gửi tới cho tôi tiền để xây Viện Mồ Côi để nuôi hơn 700 trẻ; và tôi đã nhận 17.000 bảng Anh gửi tới vì lý do đó, mặc dù tôi chưa hề xin một sự đóng góp từ bất cứ ai trừ ra Chúa. Tôi tin Đức Chúa Trời đã khiến tôi có mặt ở đây, có mặt trong thế gian, một minh chứng cho thấy rằng Ngài nghe và đáp lời cầu nguyện". Tôi cũng nghĩ như thế, khi tôi nhìn thấy toà nhà đồ sộ đó, và nhiều đứa trẻ lớn lên biết ngợi khen Đức Chúa Trời của chúng, và ca hát thật du dương tôn vinh Đấng Chăn Hiền Lành, là Đấng đã nhóm chúng lại giống như bầy chiên ở trong lòng Ngài, và tử tế ràng chúng ở đó.
Hỡi anh em, chúng ta không nói mà không có những sự thực hiển nhiên để khẳng định điều mình quyết đoán, khi chúng ta khẳng định điều đó, bất luận điều chi một thánh đồ nài xin trong lúc cầu nguyện, nếu người cầu xin trong đức tin, và điều cầu xin ấy là vì ích cho người, và vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, chắc chắn người sẽ nhận được điều đó. Tôi dám nói quí vị đã đọc quyển “Ngân hàng đức tin” của Huntington. Thực sự ông cung ứng cho chúng ta quá nhiều trường hợp nói tới những người có lòng tin, nhưng tôi nghĩ ở đó có nhiều người sống đã có được nhiều câu trả lời cho mọi lời cầu nguyện của họ như William Huntington đã có, và họ, nếu họ còn sống để ghi lại các chi tiết nhỏ nhặt trong đời sống của họ, có thể đưa ra nhiều bằng chứng quan trọng cho lẽ thật mà họ nhớ mãi rằng Đức Chúa Trời là thành tín đối với các lời hứa của Ngài, hoặc những lời cầu nguyện của họ không được nhậm. Tuy nhiên, điều nầy luôn luôn nương vào chính con người, vì nếu chúng ta cầu xin trong do dự, hay không có đức tin, chúng ta đừng mong nhận được câu trả lời. Chúng ta không nên quên mọi điều Đức Chúa Trời đang phán hứa, khi Ngài không chấp nhận những lời cầu xin không có lòng tin, thì đúng là điều nầy: "Vì chưng ngươi không có đức tin, thì ta chẳng ban gì cho ngươi cả". Chúng ta phải cầu xin giống như dân sự đã cầu xin vào dịp Lễ Giáng Sinh trong những ngày xa xưa. Thường thì theo thông lệ dành cho những người nghèo khó trong một ngôi làng phải đi vòng quanh với mấy cái chậu đến với người giàu có trong giáo khu, rồi xin bánh cùng các thức ăn, đồ uống của họ; và điều luật là, mỗi người hào phóng đều phải làm đầy cái bát đã được đưa đến tận cửa nhà mình. Tất nhiên, người khôn ngoan nhất giữa vòng số người nghèo đã mang cái bát lớn nhất dành cho sự thu thập trong lễ Giáng Sinh, còn người nào có ít đức tin nơi sự hào phóng của kẻ láng giềng giàu có đã đem cái bát nhỏ, để được làm đầy; người nào đem cái bát lớn cũng được làm cho đầy nữa. Vì vậy, hỡi quí bạn yêu dấu ơi, quí vị phải luôn luôn thử đi, trong những lời cầu nguyện của mình, hãy đem cái bát lớn mà đến với Đức Chúa Trời. Hãy đem theo đức tin lớn, và phần còn lại chắc chắn rằng, tùy theo đức tin của quí vị, mọi sự sẽ được làm ra cho quí vị. Nếu quí vị có đức tin ít, quí vị sẽ nhận được ít câu trả lời; nếu quí vị có đức tin tốt, quí vị sẽ nhận được một câu trả lời tốt; còn nếu quí vị có đức tin mạnh mẽ, quí vị sẽ nhận được một câu trả lời mạnh mẽ, khi ấy quí vị sẽ lấy làm lạ trước sự đáp trả đó, tuy nhiên quí vị sẽ cảm thấy rằng tuỳ theo lời hứa trong câu gốc của chúng ta: "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho".
II. Giờ đây chúng ta đến với phần thứ hai của đề tài, và chúng ta hãy để ý MỘT SỰ BẤT TOÀN HIỂN NHIÊN. "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho, ta sẽ tỏ cho các ngươi những việc khó, là những việc các ngươi chưa từng biết". Câu nầy có ý nói rằng dân sự của Đức Chúa Trời không biết hết mọi sự.
Quí vị có bao giờ gặp được người nào biết hết mọi sự chưa? Tôi đã từng gặp gỡ với cả nửa tá người như vậy đấy. Tôi đã từng gặp gỡ một vị Mục sư, ông nầy biết hết mọi sự, — theo câu chuyện của ông ta, tôi muốn nói, không theo câu chuyện của tôi. Ông ta nói cho tôi biết khi tôi gặp ông ta, rằng, trong giáo xứ nơi ông ta sinh sống, không có hơn một tá người thực sự nhìn biết Đức Chúa Jêsus Christ. Tôi thấy thích thú con người nầy, vì tôi biết rất ít về ông ta, vì vậy tôi nói với ông ta như sau: "Ồ, họ là ai vậy?" Thế là ông ta bắt đầu: "Nầy nhé, có tôi, vợ tôi, và hai vị chấp sự của tôi" rồi cứ thế. Tôi đáp: "Ồ, người duy nhứt tôi muốn bàn bạc trong số đó là ông, vì tôi nghĩ ông biết quá nhiều do chức vụ cao; dường như ông đang trèo lên cao, và đã trông thấy cuộn giấy kín nhiệm của Đức Chúa Trời rồi. Không một con cái nào của Đức Chúa Trời sẽ trèo cao như thế. Con cái không nhìn vào những bí mật của cha mình; chỉ có hạng trộm cướp mới nhìn như thế thôi. Tôi nghi ngại trong cách ông xưng mình là con cái của Đức Chúa Trời".
Có nhiều lúc, với một sự thích thú mỗi một chúng ta gặp gỡ riêng kẻ biết thật nhiều việc, trong nhóm của người ấy người ta luôn luôn cảm thấy không thích nghi. Chúng ta không nên giới thiệu bất cứ một đề tài nào, chúng ta để cho người ấy làm việc đó, vì người là Giáo Hoàng trong vòng chúng ta. Tất nhiên là người không ưa chế độ Giáo Hoàng; hai Giáo Hoàng không thể nhất trí với nhau; vì vậy, thật là tự nhiên, người có một thái độ chống đối rất mạnh mẽ đối với Giáo Hoàng của Rôma. Bản thân người thông biết nhiều điều. Quí vị thốt ra một cảm nghĩ; tất nhiên là người biết rõ, người nói cho quí vị biết điều đó chưa hay đâu. Quí vị nói tới một vấn đề của kinh nghiệm; nhưng người nói: "Đấy chưa phải là kinh nghiệm sống động của con cái Đức Chúa Trời". Tất nhiên, người là kẻ phân xử; người biết rõ mọi sự về điều đó; người là quan án chuyên kết thúc mọi cuộc tranh cạnh; người toan liệu mọi sự. Hãy đưa người vào, phiếu bầu cho người là phiếu bắt buộc, gần như lá phiếu ấy báng bổ cuộc tranh luận. Người là Vua, là Chúa, và là Đấng rất bình dân, mọi sự đều tính làm một hết; người làm ra luật pháp, và người làm phu phỉ luật pháp ấy. Trong bối cảnh của người, người là kẻ chuyên quyền trong hết thảy các Cơ đốc nhân. Giờ đây, con cái của Đức Chúa Trời đang thuộc về một trình tự khác biệt với các cá nhân đáng tôn kính và rất thánh; họ không biết hết mọi sự, và họ chẳng giả vờ chi hết khi biết rõ như thế. Một trong những người tốt nhứt trong số họ, Phaolô nói tới tên của người như sau: ông nói: "Ấy không phải tôi đã giựt giải rồi, hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đang chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đã được Đức Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi. Hỡi anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đã đạt đến mục đích, nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ".
Một ông cụ gặp một thanh niên đã nhập Đại học khoảng 6 tháng; ông cụ hỏi thanh niên kia: "Anh có biết nhiều việc chưa?" Chàng thanh niên đáp: "Dạ, cháu tiếp thu rất nhanh ạ". Ông cụ nói: "Anh không muốn nói rằng trong khoảng thời gian một năm, hay hơn nữa tôi sẽ chẳng trông mong gì nơi anh chăng!?!" Trong thời gian một năm, ông cụ lại hỏi chàng thanh niên kia chẳng biết anh ta có biết nhiều hơn 6 tháng trước đây không!?! Chàng trai đáp: "Đôi khi, cháu nghĩ cháu biết nhiều điều hơn, nhưng, ở những lúc khác, cháu nghĩ cháu biết rất ít ạ! Cháu đã khám phá ra tình trạng dốt nát của mình hơn năm ngoái ạ!" Ông cụ nói: "Trong thời gian anh ở trường 4 năm, anh sẽ xưng mình là một kẻ dốt nát nhất"; và khi ông cụ gặp lại anh ta, ở năm thứ tư, ông cụ hỏi: "Bây giờ anh biết gì nào?" Chàng sinh viên đáp: "Cháu nghĩ có lẽ cháu biết nhiều hơn khi cháu nhập trường; nhưng, theo ý của cháu, cháu cũng biết đôi chút rồi. Khi cháu đến lần đầu tiên, cháu nghĩ mình có trình độ để đưa ra quyết định trên từng sự việc; còn bây giờ, cháu buộc phải cân đo mọi sự trước khi cháu đưa ra quyết định sau cùng. Sự thiếu hiểu biết của cháu đã được tìm ra cụ ạ!"
Giờ đây, hãy nương theo câu chuyện ấy, hỡi quí bạn yêu dấu, đối với từng người trong quí vị cũng một thể ấy thôi. Chúng ta có thể suy nghĩ, khi chúng ta lần đầu tiên bước vào trong nhà thờ: "Chúng ta biết gần như hết mọi sự vậy". Có người cho rằng hết thảy lẽ thật đã được tìm ra trong hệ phái Báptít; nhiều người khác cho rằng lẽ thật được tìm ra trong hệ phái Episcopal, Independent, hay hệ phái Wesley, hoặc trong bất cứ hệ phái nào mà họ thuộc về; nhưng khi chúng ta là thuộc viên của hệ phái Báptít trong một thời gian nào đó, chúng ta khám phá ra rằng có một vài lầm lỗi ở giữa vòng chúng ta; và chúng ta nghĩ, có lẽ, là nếu chúng ta chiếu theo khuôn mẫu của hệ phái Trưởng Lão, chúng ta sẽ được cải thiện tốt hơn. Rồi, chúng ta tìm được một người bạn, người nầy nhóm lại với hệ phái Episcopal, ở đó anh ta nghe tin lành được rao giảng rất đơn sơ bởi một nhà truyền đạo rất sốt sắng, và chúng ta nói chúng ta nghĩ có điều chi đó tốt đẹp ở hệ phái nầy; và chúng ta càng sống lâu hơn, chúng ta càng thấy rõ rằng có điều chi đó tốt đẹp nơi mọi người; và rốt lại, chúng ta không biết nhiều như chúng ta tưởng mình đã biết, và Hội Thánh của chúng ta, dù dường như đấy là một khuôn mẫu của sự trọn vẹn, lại được thấy là có nhiều chỗ sơ sót, giống như bất kỳ một Hội Thánh nào khác, và rốt lại không hẳn là Hội Thánh nữa.
Tôi nhắc lại, cái điều chắc chắn đã được ám chỉ trong câu gốc, ấy là hết thảy chúng ta đều có một lượng thiếu hiểu biết và bất toàn nhất định nào đó; vì nếu chúng ta biết hết mọi sự, chúng ta sẽ chẳng còn cần tới lời hứa nầy, để Đức Chúa Trời sẽ tỏ ra cho chúng ta biết những việc lớn và khó, là những việc chúng ta chưa biết. Như vậy thì, khi chúng ta còn bất toàn, và tấn tới trong sự hiểu biết của mình, lời hứa nầy rất quí báu đối với chúng ta. Tôi hầu như không nghĩ rằng tôi biết có ai đó ở đây thuộc nhóm đặc biệt ấy, là hạng người tưởng mình biết hết mọi sự. Nếu tôi biết, tôi sẽ nói một lời với người ấy. Có một nhóm người ưu tú, họ tự nhận mình là: "dân sự yêu dấu của Đức Chúa Trời!" Kêu như thế mới đúng là họ; họ rất yêu dấu đối với bất kỳ ai, chẳng có ai nghĩ về việc mua chuộc họ cả. Nếu họ cần phải bố thí, họ sẽ chẳng có gì để bố thí cả. Họ là dân sự yêu dấu của Đức Chúa Trời. Họ lắng nghe vị Mục sư họ của giảng một bài, bị chạm lòng tự ái rồi cay đắng, và như thế mới đáng cho họ. Dân sự của ông vui mừng trong kiểu cách nói năng đó, và cho rằng ông là một vị Mục sư có lòng trung tín. Nếu ông thôi không còn cay đắng nữa, ông sẽ không có lòng trung tín đâu, — lòng trung tín, theo ý của họ, bao gồm cả việc tìm ra lỗi lầm với cả thế gian bên cạnh. Họ bảo quí vị hãy đi đến "Bêtên Ấp Nhỏ", "Rêhôbốt" hay "Bêtếtđa" vì chẳng có lẽ thật ở đâu khác cả. Chỉ có ở đó mới có lẽ thật, và tất cả các hội chúng khác đều có tính cách ly giáo, bổn phận của họ là đoạn tuyệt với các hội chúng nầy rồi bắt bớ với toàn bộ sự khắc khe của Tin lành, và quí vị nhận ra rằng hết thảy sự khắc khe của Tin lành còn tệ hại hơn toàn bộ sự khắc khe của luật pháp nữa. Sự khắc khe của Tin lành còn không thể chịu đựng nổi, còn hơn cả luật lệ của chính Draco nữa; vì mọi sự khe khắc ấy xua đuổi, đoạn tuyệt, và xét đoán từng người nào không chìu theo mọi quan điểm của họ. Đối với mỗi con người ấy, chúng ta nói: "Nầy anh yêu dấu ơi, anh thiệt là khôn ngoan! Mọi người đều tán dương anh đấy! Chúng tôi sẽ đặt anh ngồi trên chiếc ghế giống như bậc Thầy của Chúa vậy. Anh là con người, sự khôn ngoan sẽ cùng chết với anh; và, trong khi chúng tôi hạ mình xuống nơi chơn của anh, chúng tôi buộc phải nói rằng anh chẳng biết một tí gì hết; có đôi ba việc cần phải tỏ ra cho chính bản thân anh; và trong khi chúng tôi giữ mình ở một khoảng cách tôn trọng đối với bất cứ điều chi giống như tri thức siêu việt của anh, chúng tôi buộc phải nghĩ rằng anh chưa đạt tới sự trọn lành, và chúng tôi không thể nhận rằng anh là người duy nhứt trên thế gian hiểu biết Tin lành". Thế rồi, dù người anh em của chúng ta sẽ không hiệp với chúng ta trong câu nói: "Chúng ta không biết hết mọi sự", tôi nghĩ rằng hết thảy những ai đang có mặt ở đây sẽ cúi đầu họ xuống, rồi mỗi người sẽ nói: "Lạy Chúa, xin dạy con những điều mà con chưa biết; vì một ít việc mà con đang biết đây chẳng là gì hết khi đem sánh với bộ sách khôn ngoan của Ngài mà con chưa đọc, và cũng chẳng hiểu luôn".
III. Bây giờ chúng ta bước sang phần thứ ba của đề tài, là phần hay nhứt. Chúng ta có ở đây PHẦN ỨNG DỤNG ĐẶC BIỆT CỦA LỜI HỨA. "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho, ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết".
Thứ nhứt, chúng ta hiểu lời hứa nầy có liên quan tới đạo tin lành. Tôi nhận rằng khi lần đầu tiên tôi giảng ở một ngôi làng kia trong vai trò Mục sư, tôi có đọc quyển "Body of Divinity" [Thân thể của Chúa] của Tấn sĩ Gill và quyển "Institutes" [Chủng viện] của Calvin; và khi tôi đọc xong, tôi nghĩ: "Bây giờ! Sau khi nắm vững chân lý rồi, tôi dám chắc mình vững vàng; và tôi có thể đối mặt với mọi đối thủ, và nếu họ không tuân theo các quan điểm của một người học giỏi nhất đó, Tấn sĩ Gill, và vị giáo sư ưu tú nọ, John Calvin, chẳng chóng thì chầy tôi sẽ cắt đứt họ ra khỏi bộ rễ và nhánh cây cho xem". Phải, tôi bắt đầu giảng những gì tôi đã tiếp thu được từ hai nhân vật xuất sắc và quan trọng nầy, và tôi chưa hề bị xấu hổ khi làm như thế, vì, là kẻ kế tục của Tấn sĩ Gill, tôi không thấy xấu hổ khi tán thành mọi quan điểm của ông trong lúc bây giờ, và tán thưởng các câu nói thuộc linh mà John Calvin đã thốt ra. Tuy nhiên, không bao lâu sau đó, tôi bắt đầu nhận ra rằng có nhiều điều khác cần phải rao giảng hơn, rốt lại, về một số vấn đề mà Tấn sĩ Gill và John Calvin đã không nói tới, và tôi thấy rằng người ta mang ơn tôi vì tôi có lòng từ ái bao la, và trong lòng biết tới một số anh em hoàn toàn không nhìn thấy hết mọi sự mà hạng người ưu tú kia đã nhìn thấy. Và hơn thế nữa, tôi nhận ra rằng mình chưa biết hết mọi sự, và tôi vẫn còn phải học hỏi thêm, và tôi mỗi ngày đều nhận ra y như thế. Tôi hy vọng mình sẽ nắm vững được mọi chân lý mà tôi đã tiếp thu vào bất cứ mọi thời điểm. Tôi có khuynh hướng nắm chặt ở một tay các lẽ thật mà tôi đã tiếp thu rồi, và giữ cho bàn tay kia hoàn toàn rộng mở để đón lấy những việc mà tôi chưa từng biết qua.
Có lẽ tôi đang gặp một số bạn trẻ ở đây, họ có một quan niệm cho rằng vị Mục sư sẽ có đủ hết mọi lẽ thật, hoặc chính bản thân ông ấy đã vòng tay ôm lấy hết mọi chân lý. Bây giờ, hỡi quí bạn trẻ kia, có nhiều việc lớn mà quí vị chưa biết qua, có một số lẽ đạo mà quí vị chưa hiểu được. Nếu quí vị chịu khó đợi một chút, và chịu nghiên cứu thêm Kinh Thánh, quí vị sẽ quì gối xuống, rồi nói: "Lạy Chúa, con chưa hề rõ sự thiếu hiểu biết của con nhiều như con nhìn biết hiện nay; nguyện Ngài sẽ dạy cho biết lẽ thật của Ngài chứ?" Có phải chúng ta khao khát muốn hiểu rõ đức tin của Đức Chúa Trời không? Chúng ta đừng nãn lòng. Khi đáp trả lời cầu nguyện của chúng ta, Đức Chúa Trời sẽ tỏ cho chúng ta thấy "những việc lớn và khó" là những việc chúng ta hiện nay chưa từng biết qua. Quí vị là một Cơ đốc nhân, tuy nhiên quí vị chưa hiểu lẽ đạo nói tới sự lựa chọn, hay lẽ đạo nói tới sự kêu gọi hiệu quả làm cho quí vị phải bối rối. Quí vị là những người hay đi nhà thờ, có lẽ thế, tuy nhiên quí vị không biết chi hết về mọi sự nầy. Quí vị rất giống với một người mà tôi từng gặp trên bến xe điện ngầm. Ông ta nói ông ta là người có chức sắc trong nhà thờ, và tôi cũng nói về mình y như thế. Ông ta hỏi: "Thế là thế nào, ông là người Tin lành à!?!" Tôi đáp: "Tôi tin vào nhiều lẽ đạo nói tới Hội Thánh của ông". Ông ta nói: "Tôi chẳng nghĩ gì hết". Tôi nói: "Tôi tin vào lẽ đạo nói tới sự lựa chọn, thuyết tiền định, và còn nhiều nữa". Ông ta đáp: "Ồ, tôi không tin đâu". Tôi nói: “Vậy thì, chúng đang nằm trong ông những tín điều của ông đấy". Ông ta đáp: "Tôi tin vào giáo lý, nhưng tôi chưa đọc bài tín điều". Tôi nói ngay: "Vậy thì, tôi là chức sắc giỏi hơn trong hai người; ông là người theo Tin lành, và tôi là chức sắc tôn giáo. Ông phải ra khỏi nhà thờ nếu ông không tin vào bản tín điều. Chúng đã nắm lấy tôi, và ban cho tôi một đời sống ở giai cấp hàng đầu, rồi biến tôi thành một trong các giám mục của họ; vì tôi đã đọc bản tín điều, và nghiên cứu chúng".
Có một số người không biết họ tin theo cái gì. Chẳng ai có quyền nói mình là một chức sắc trong nhà thờ cả, cho tới chừng nào họ đã đọc quyển sách cầu nguyện. Quí vị không có quyền nói mình là thuộc viên của Wesley cho tới chừng nào quí vị đã đọc các bài giảng của Wesley; và quí vị chẳng có quyền gì để nói mình là thuộc viên của Calvin cho tới chừng nào quí vị đã đọc những gì Calvin đã tin theo; và quí vị không có quyền nói mình là một Cơ đốc nhân cho tới chừng nào quí vị đã đọc quyển Kinh Thánh, vì Kinh Thánh là tiêu chuẩn của đức tin và cách thực hành đạo Cơ đốc; và khi quí vị đã đọc quyển Kinh Thánh của mình rồi, rốt lại quí vị sẽ thấy rõ sự việc nầy, rằng các quan điểm nhỏ bé, riêng tư của mình không hoàn toàn rộng lớn giống như quyển Kinh Thánh đâu; và quí vị sẽ phải nói: "Lạy Chúa, xin tỏ cho con biết những việc lớn và khó, là những việc con chưa từng biết". Tôi dám tin chắc rằng Hội Thánh Anh quốc, hay hệ phái Wesley, hệ phái Independents, hệ phái Baptists, đều không nắm bắt hết lẽ thật đâu. Tôi sẽ không thuộc về bất kỳ hệ phái nào trong số các hệ phái nầy, vì đất đai đều ở dưới bầu trời, nếu tôi phải nhất trí hết mọi sự mà họ đang nắm giữ. Tôi tin rằng Hội Thánh cần phải được quản lý bởi một hỗn hợp gồm các hệ phái ấy. Tôi tin chúng ta hết thảy đều đúng trong một số lẽ đạo nào đó, nhưng hết thảy chúng ta đều có điều chi đó phải tiếp thu. Lẽ đạo nói tới "trách nhiệm của con người" không thể bị bác bỏ được, lẽ đạo nói tới "quyền tể trị của Đức Chúa Trời" cũng không thể đưa ra tranh cãi được. Tôi hy vọng rằng, một ngày kia, hết thảy chúng ta sẽ đem mọi quan điểm của mình đến chỗ thử nghiệm với bản Kinh Thánh. Tiếp đến chúng ta sẽ có một Hội Thánh, "một Chúa, một đức tin, một phép báptêm" mà thôi. Khi ấy chúng ta nhận biết được nhiều việc lớn và khó, là những việc chúng ta chưa từng biết. Tôi dám chắc với quí vị đấy, hỡi quí bạn Báptít của tôi ơi, hệ thống của quí vị không trọn vẹn đâu, và quí vị, các thuộc viên của Hội Thánh Episcopal, tổ chức của quí vị không phải là không có sự bất toàn; quí bạn tôi ơi, tôi nài xin quí vị, mặc dù quí vị là thuộc viên của một thân thể gồm nhiều tín hữu, dù Hội Thánh của quí vị có xuất sắc ngần nào, đừng nghĩ là nó không có sai sót đâu nhé. Bây giờ hãy quì gối xuống đi, và hãy cầu xin Đức Chúa Trời dạy cho quí vị biết những gì quí vị chưa biết, và khiến cho quí vị ra tốt hơn bản tín điều của quí vị; hoặc giả, trong 10 trường hợp, thì 9 trường hợp quí vị chưa phải là trọn vẹn đâu.
Nhưng, tiếp đến, "những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết", Đức Chúa Trời theo ý muốn Ngài sẽ tỏ ra cho quí vị biết. Một người nghèo khó đương ở trong chỗ rắc rối; ông ta không đủ tiền mua bánh ăn hàng ngày. Hãy để cho ông ta kêu cầu Đức Chúa Trời, và cầu xin bánh ăn; và dù ông ta chưa hề nhìn thấy Chúa chìa ta ra từ thiên đàng, hoặc dùng bầy quạ mà cho ông ta ăn, hay dập tắt cơn khát bằng nước chảy ra từ vầng đá, hãy để cho ông ta quì gối xuống, và ông ta sẽ thấy rằng có nhiều sự kỳ diệu theo ý muốn Ngài hơn quí vị và tôi đã nhìn thấy nữa. Trong khi đáp trả lời cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy thể nào là ý muốn của Đức Chúa Trời, mặc dù nó trổi cao hơn mọi ý tưởng của chúng ta, tuỳ thuộc vào mọi lời cầu xin của chúng ta. Có nhiều Cơ đốc nhân đã ở trong chỗ rất rối rắm, và đã kinh nghiệm một sự giải cứu lạ lùng trong ý định trước đó. Nếu chúng ta gặp rất rối lớn, chúng ta hãy đem chúng đến với Đức Chúa Trời cao cả của chúng ta; chúng ta hãy kêu cầu cùng Ngài, và theo ý muốn Ngài chúng ta sẽ nhìn thấy "những việc lớn và khó" là những việc chúng ta chưa từng biết.
Trong chỗ kế tiếp, bước qua các điểm nầy rất vắn tắt, "những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết", Đức Chúa Trời sẽ tỏ ra cho ngươi biết nhiều vấn đề trong kinh nghiệm Cơ đốc. Chúng ta hãy tra cứu Lời của Đức Chúa Trời, và dâng mình vào sự cầu nguyện, rồi kế đó, trong các vấn đề kinh nghiệm, chúng ta sẽ nhìn thấy "những việc lớn và khó" là những việc ngươi chưa từng biết. Một Cơ đốc nhân phải sống trổi cao hơn người thế gian, và có khả năng một Cơ đốc nhân tự mình trổi lên trong lúc bây giờ là một tội nhân đang chết ở trong tội lỗi. Chẳng có ai nói năng gì về người ấy phải trở nên cao trọng như thế nào ở trên đất. Tôi không nghĩ chúng ta sẽ trở nên trọn vẹn ở trên đất, nhưng chúng ta biết chúng ta có thể tới gần sự trọn vẹn là dường nào. Chúng ta sẽ không ở trên trời giống như ở trên đất được; nhưng, ai có thể nói nhiều về thiên đàng sẽ ở trong chúng ta đang khi chúng ta còn sống ở đây chứ? Có bao giờ quí vị ngồi lại và đọc tác phẩm Cuộc Đời của Herbert, hay Whitefield, hoặc Haliburton? Sau khi đọc những quyển sách ấy, chúng ta nhũ thầm rằng: "Đúng chúng ta là chỉ là những con trùng mà thôi!" Chúng ta cảm nhận giống như Robert Hall, là người, khi một vị Mục sư đến thăm ông, đã nói: "Tôi rất hân hạnh được gặp ông! Ông (A hay ông B) đã sống ở đây; ông ấy sống tuyệt vời hơn tôi, tôi thấy mình chẳng ra gì trong sự hiện diện của ông ấy, nhưng bây giờ lòng tôi cảm nhận về người một lần nữa". Quí vị có bao giờ cảm thấy, trong một đoàn người cao trọng, quí vị chẳng là gì hết không? Khi lần đầu tiên tôi đọc về cuộc đời của Henry Martyn, tôi không thể ngăn được nước mắt trong nhiều giờ sau đó, khi nghĩ mình đã sống một đời sống thấp hèn như thế. Tuy quí vị chưa biết nhưng khi quí vị trèo lên đến nơi mà mấy người nầy đã trèo; những bước chân của ngọn núi mộ đạo thật là dốc ở bên trên, nhưng người ta có thể bước lên chúng bằng hai bàn chân cần mẫn. Hãy bước tới đi, và quí vị sẽ đến đứng ở chỗ mà Môise đã đứng, và kìa, xứ Canaan nhìn từ đỉnh Núi Nêbô. Hãy nhớ rằng quí vị đang đứng trên vùng đất thấp; đừng xấu hổ khi công nhận rằng quí vị có lòng mơ ước trèo lên trên đó. Hãy quì gối xuống, và Đức Chúa Trời sẽ tỏ cho quí vị biết qua kinh nghiệm "những việc lớn và khó" mà quí vị chưa từng biết.
Nếu có ai đang thoả lòng với kinh nghiệm riêng của mình, sự ấy chẳng qua là do thiếu hiểu biết mà thôi. Tôi sẽ thách ai đó hãy lấy các bức thư của Rutherford, rồi ngồi xuống, và sau khi đã đọc chúng rồi, sẽ nói: "Rutherford dường như đã sống giống như một thiên sứ của Đức Chúa Trời; tôi chỉ là một con người mà thôi, tôi không bao giờ đứng được ở chỗ mà Rutherford đã đứng". Thường thì khi tôi trở về nhà từ toà giảng vào tối Chúa nhựt, tôi lấy theo quyển nhạc của George Herbert; và khi tôi nhìn thấy ông yêu mến Chúa là ngần nào, đối với tôi dường như ông đang cầm lấy đàn lia đánh lên những nốt nhạc mà ông đã nghe thấy từ Thiên đàng, rồi cao giọng hát các bài ca ấy lên. Chúng ta đừng ngã lòng, chúng ta có thể trở thành những Herbert, Rutherford, và Whitfield; mà nầy, chẳng có một lý do gì tại sao chúng ta không trở nên cao trọng bằng các thánh đồ trong Cựu ước chứ!?! Chẳng có một lý do gì tại sao chúng ta không trở nên cao trọng giống như Ápraham, Y-sác, và Gia-cốp; sao mỗi con cái của Đức Chúa Trời, trong thời buổi nầy, lại không trở thành một con người mạnh đức tin giống như Ápraham thời xưa chứ? Chúng ta hãy đọc lời hứa trong câu gốc đi: "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho, ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết".
Rồi để kết luận, lẽ thật ấy chú về Hội Thánh chung của Đức Chúa Trời. Tôi không biết quí vị có chú ý hay không, ma quỉ, theo sự quỉ quyệt của hắn, đã cố làm sai lệch tất cả những buổi thờ phượng của chúng ta. Lòng tôi trở nên vui sướng khi Giảng đường Exeter mở cửa cho việc rao giảng Tin lành! Tấm lòng tôi không hề nhảy cởn lên vui mừng giống như khi tôi hay được anh em của chúng ta ở Hội Thánh Anh quốc phải bắt đầu rao giảng ở giảng đường Exeter, mặc dù tôi cảm thấy buồn khi mấy cánh cửa ấy đóng lại nghịch cùng họ. Giờ đây niềm vui mừng của chúng ta đã bùng lên, niềm sung sướng của chúng ta vầy lấy như đám mây trên cao. Sở dĩ như thế là vì có người đã cố gắng, sốt sắng đưa ra câu chuyện tốt lành của người biết lắng nghe Ngôi Lời trong nhà thờ và trên giảng đường của chính họ, Chúa nhựt tới chúng ta sẽ nhìn thấy cảnh than khóc, trong toà nhà to lớn nầy, vì là nơi không mở cửa để rao giảng Ngôi Lời, mà chỉ để cho một buổi hoà nhạc vào ngày Chúa nhựt. Chúng ta sẽ nghe đọc về nhiều đám dân đông nhóm lại trong toà nhà, chỉ để làm nhà hát; chúng ta sẽ nghe nói về những con người nhóm lại với nhau, và sẽ có một người thấy mình sẽ xưng nhận rao giảng Tin lành cho họ, và “Đấng Mêsi” sẽ được trình bày như một sự khích lệ để lôi cuốn họ. Có lẽ chẳng có ai cảm thấy đau buồn hơn tôi cảm thấy khi đám mây đáng sợ nầy phủ trên chúng ta. Ma quỉ một ngày kia mở cửa Điện Crystal, Bảo Tàng Viện, và từng địa điểm khác vào ngày Chúa nhựt; nhưng Đức Giêhôva đang tể trị; và nếu xứ sở nầy có phá vỡ đi ngày sa-bát, chúng ta đừng thất vọng. Đức Chúa Trời đang ngự như vì vua trị vì trên thiên đàng và, chắc thật y như Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài sẽ dành lấy chiến thắng. Ma quỉ sẽ tự đánh lừa mình, y như hắn luôn luôn làm; Satan sẽ rơi vào chính cái hố mà nó đã đào. Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng Cơ đốc nhân ở Anh quốc sẽ rất sốt sắng trong việc kêu cầu Đức Chúa Trời. Hãy cầu nguyện liên tục với Đấng Chí Cao, để Ngài làm cho việc rao giảng Tin lành cho nhiều đoàn dân đông được thành công; nguyện Ngài khiến cho chúng ta không bước vào những nơi bất khiết, để rồi bị chao đảo và không hữu dụng, nguyện Đức Chúa Trời từ điều ác làm sản sinh ra điều lành, và nhơn đó làm vinh hiển cho chính mình Ngài, và tỏ ra cho chúng ta thấy những việc lớn và khó mà chúng ta chưa từng biết.
Giờ đây tôi nài xin Chúa tuôn đổ phước hạnh của Ngài trên mỗi một người trong quí vị. Nguyện quí vị sẽ nên sốt sắng trong sự cầu nguyện, và thường thường làm đủ thứ nài xin; và nếu quí vị chưa nhìn biết Đấng Christ, nguyện Đức Thánh Linh làm cho quí vị mau mau nhìn biết Ngài, và nguyện mọi lời cầu nguyện của quí vị sẽ bay lên đến tận thiên đàng hầu cho Ngài sẽ tỏ ra cho quí vị biết ơn chửng cứu của Ngài, đây là một trong những "việc lớn và khó" mà hiện nay quí vị chưa từng biết!

**
*

Mấy thầy bác sĩ, Ngôi sao và Cứu Chúa



Mấy thầy bác sĩ, Ngôi sao và Cứu Chúa
Mục sư C. H. SPURGEON
(1834-1892)
“Vua dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài” (Matthew 2.2 ).
Sự hoá thân thành nhục thể của Con Đức Chúa Trời là một trong các biến cố quan trọng nhất trong lịch sử của vũ trụ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết điều nầy, nhưng đã được tỏ ra một cách đặc biệt cho mấy gã chăn chiên ở thành Bếtlêhem và cho mấy thầy bác sĩ đến từ Đông phương. Đối với mấy gã chăn chiên – là hạng người ít học, ít hiểu biết – các thiên sứ hát vang lừng đã làm cho họ nhìn biết sự ra đời của Cứu Chúa, Chúa Christ, và họ đã vội vã đến thành Bếtlêhem để nhìn thấy cho tận mắt; trong khi các thầy thông giáo, các văn sĩ, cùng những nhà diễn giải luật pháp, lại chẳng biết gì về sự ra đời của Đấng Christ được hứa cho từ lâu. Không một đội thiên sứ nào bước vào nơi nhóm của Toà Công Luận rồi công bố Đấng Christ đã giáng sinh; và khi các thầy tế lễ cả và người Pharisi [các cấp lãnh đạo tôn giáo rất ưu tú] nhóm nhau lại, dù họ nhóm lại quanh các bản luật pháp để tra xét xem Đấng Christ sẽ sanh tại đâu, họ vẫn chưa biết rằng Ngài đã đến rồi, dường như họ cũng chẳng thích thú gì với vấn đề nầy, dù họ biết rõ thời điểm là rất gần khi Đấng Mêsi sẽ ngự đến, bởi các vị tiên tri nói ra. Thời điểm ban ra ân điển thật mầu nhiệm làm sao; những việc thấp hèn đã được chọn và loại xuất sắc, ưu tú bị bỏ qua một bên! Sự đến của Đấng Cứu Chuộc đã được tỏ ra cho mấy gã chăn chiên, họ thức canh bầy chiên của mình trong lúc ban đêm, nhưng không phải loại chăn bầy tôn giáo giả hình chuyên để cho bầy của mình luôn ở trong sự sai lạc. Ngợi khen Đức Chúa Trời toàn năng.
Những tin tức tốt lành cũng đã được ban ra cho mấy thầy bác sĩ, những nhà chiêm tinh, các nhà nghiên cứu ngôi sao cùng sách vở xưa từ phương Đông xa xôi kia. Khó có thể nói được xứ sở của họ ở xa bao nhiêu; có thể là một khoảng cách mà chuyến hành trình đã chiếm gần trọn hai năm trời khi họ nhận biết về ngôi sao. Việc đi lại rất chậm chạp trong thời đó, nhiều khó khăn, nguy hiểm vây quanh. Họ đã đến từ xứ Ba tư, hay Ấn độ, hoặc thậm chí từ vùng đất huyền bí Sinim, mà bây giờ ai cũng biết là Trung Hoa. Nếu thực vậy, những người đã đến thờ lạy quanh con trẻ tại thành Bếtlêhem đều có giọng nói lạ không ai biết, thế mà Ngài không cần một người diễn dịch nào mới hiểu và tiếp nhận lòng tôn kính của họ. Tại sao sự giáng sinh của Vua dân Giuđa phải làm cho mấy người Ngoại nầy nhận biết, mà không làm thế cho những kẻ ở một quê hương nào đó gần gũi hơn? Tại sao Đức Giêhôva lại chọn số người đã sống cách đấy hàng trăm dặm đường, trong khi con cái Israel, Cứu Chúa được sanh ra giữa vòng họ, lại chẳng biết chi về sự hiện diện của Ngài, thiệt là kỳ lạ? Hãy xem xét ở đây một lần nữa trường hợp khác về sự toàn năng của Đức Chúa Trời. Khi mấy gã chăn chiên cùng mấy thầy bác sĩ bên Đông phương nhóm lại quanh Con Trẻ rồi, tôi thấy Đức Chúa Trời đang phân phát đặc ân của Ngài tùy theo ý chỉ Ngài; và, như tôi thấy, tôi hô lên: "Lạy Cha, con ngợi khen Ngài, là Chúa tể của trời và đất, vì Ngài đã che giấu những sự nầy đối với kẻ khôn ngoan và người có học, và đã tỏ chúng ra cho con cái nhỏ bé của Ngài. Phải, lạy Cha, vì điều nầy là theo ý tốt lành của Ngài". Ở đây một lần nữa chúng ta nhìn thấy trường hợp khác của ý chỉ tối cao của Ngài; vì tôi dám chắc với quí vị rằng có nhiều goá phụ trong xứ Israel vào thời của Êli, thế mà Êli lại không được sai đến với bất kỳ ai trong số họ, mà lại được sai đến với bà goá trong xứ Sarépta thuộc khu vực Siđôn; có nhiều người Do thái trong xứ Israel được gọi là hạng người khôn ngoan, thế nhưng ngôi sao không hiện ra cho bất kỳ ai trong số họ nhìn thấy; thay vì thế, nó chỉ chiếu sáng duy nhất trên con mắt của người Ngoại, rồi hướng dẫn một đoàn người được chọn từ đầu cùng đất đến cúi lạy dưới chân của Emmanuên.
Ý chỉ tối cao trong các trường hợp nầy tự nó khoác lấy chiếc áo dài thương xót. Đây là một sự thương xót rất lớn nhắm vào tình trạng thấp hèn của mấy gã chăn chiên, và đây là một sự thương xót vươn ra thật xa tới một vùng đất còn ở trong tối tăm gặp phải một đoàn người rồi khiến cho họ phải nhìn biết Cứu Chúa phước hạnh và diệu kỳ của Đức Chúa Trời. Lòng thương xót đan kết các thứ trang sức lộng lẫy với ý chỉ thiêng liêng bày ra tại nơi thấp hèn Bếtlêhem. Há đây không phải là một tư tưởng đáng ưa thích sao, lòng thương xót ấy ngự quanh cái nôi của Cứu Chúa, cũng như ngôi của Ngài trên các từng trời rất cao, có phải hai thuộc tính nầy đã gặp nhau không? Tự Ngài nhận biết ở trong lòng – và ở đây là sự thương xót; nhưng sự thương xót ấy ban cho những ai mà Ngài đã chọn – và ở đây Ngài chỉ ra rằng Ngài sẽ thương xót ai mà Ngài chọn thương xót, và Ngài sẽ tỏ lòng thương xót cho những ai mà Ngài muốn thương xót.
Bây giờ chúng ta sẽ ra sức tiếp thu một bài học thực tế từ câu chuyện nói tới mấy thầy bác sĩ đã đến từ Đông phương để thờ lạy Đấng Christ. Chúng ta có thể, nếu Đức Thánh Linh dạy dỗ chúng ta, thu thập sự dạy ấy hầu hướng dẫn chúng ta trở thành hạng người biết thờ phượng Đấng Cứu Thế, và trở thành hạng tín đồ đầy lòng vui mừng ở trong Ngài.
Hãy chú ý, trước tiên “câu hỏi của họ” có thể khiến cho nhiều người trong chúng ta cũng trở thành những người sẵn đưa ra cùng một câu hỏi đó -- "Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu?" Thứ hai, hãy chú ý, “sự phấn khích” của họ – “Chúng ta đã nhìn thấy ngôi sao Ngài bên Đông phương". Vì họ đã nhìn thấy ngôi sao Ngài nên họ mới dạn dĩ đủ đến hỏi: "Ngài đang ở đâu?" Rồi tiếp đến, thứ ba, "tấm gương của họ" -- "Chúng ta đến đặng thờ lạy Ngài".
I. CÂU HỎI CỦA HỌ -- "Ngài ở đâu?"
Có nhiều việc rất rõ ràng trong câu hỏi nầy. Khi mấy thầy bác sĩ đưa ra câu hỏi, trong lý trí của họ có "sự quan tâm". Vua dân Giuđa mới sanh, nhưng Hêrốt không hỏi: "Ngài ở đâu?" cho tới chừng tánh ganh tỵ của ông ta bừng lên, và rồi ông ta đã đưa ra câu hỏi với một tinh thần hiểm độc. Đấng Christ mới sanh tại thành Bếtlêhem, gần thành Jerusalem; thế mà trên các đường phố của thành thánh chẳng có ai hỏi "Ngài ở đâu?" Ngài chính là sự vinh hiển của Israel, thực ra có một ít người trong xứ Israel, giống như mấy thầy bác sĩ, đã đưa ra câu hỏi: "Ngài ở đâu?" Hỡi các thính giả yêu dấu của tôi ơi, tôi muốn tin rằng có một số người ở đây sáng hôm nay Đức Chúa Trời dự tính chúc phước cho họ, nếu họ có bất kỳ một sự quan tâm nào trong lý trí của quí vị hướng về công việc và thân vị của Đức Chúa Trời hoá thân thành xác thịt. Có một vài người mong ước nhận biết Ngài. Phải! Khi chúng ta sốt sắng rao giảng Ngài, và nói về những sự buồn rầu của Ngài là Đấng đã gánh chịu cái chết đau khổ vì tội lỗi của con người, chúng ta buộc phải than khóc cách cay đắng trước sự vô tâm của nhân loại, rồi hỏi:
"Mọi sự đã diễn ra
quí vị thấy chẳng ăn nhằm gì với quí vị sao;
Chúa Jêsus chịu chết
chẳng ăn nhằm gì với quí vị sao?"
Người ta đã xem khinh và chối bỏ Ngài, Ngài chẳng có gì đẹp đẽ hay oai nghi hầu lôi kéo chúng ta đến với Ngài, chúng ta chẳng thích thú gì nơi vẻ bề ngoài của Ngài; nhưng có một số người được chọn, họ sốt sắng hỏi han, và những người đến để tiếp nhận Ngài; đối với mấy người chịu tin theo danh của Ngài, Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời. Vì lẽ đó, đây là một sự kiện rất phước hạnh, bất cứ nơi nào có sự quan tâm tỏ ra. Quan tâm đến các vụ việc của Đấng Christ không luôn luôn được tỏ ra, thậm chí nơi những người đi nhóm nhà thờ đều đặn. Đi nhóm thờ phượng chung sẽ là một thói quen máy móc mà thôi; quí vị thường hay ngồi chứng kiến các chi tiết khác nhau trong buổi thờ phượng, quí vị đứng dậy rồi ca hát theo giờ giấc đã ấn định, và lắng nghe nhà truyền đạo rao giảng với một sự chú ý suốt cả bài giảng; nhưng phải thực sự quan tâm, ao ước muốn biết rõ bài giảng nói cái gì, đặc biệt muốn biết mình có là một phần trong đó hay không, Chúa Jêsus có phải đến từ trời để cứu quí vị, có phải Ngài sinh ra bởi người nữ đồng trinh là vì quí vị, đưa ra những lời hỏi han ấy với sự lo sợ sâu sắc, là xa rời với cách làm lâu nay: tôi cầu xin với Đức Chúa Trời rằng hết thảy những ai có tai để nghe sẽ nghe được lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời. Bất cứ lúc nào Ngôi Lời được lắng nghe với sự quan tâm long trọng, đó là một dấu rất khích lệ. Kinh Thánh chép từ lâu rằng: "Chúng nó hướng mặt về Siôn, hỏi thăm về nó...". Có sự trông cậy lớn lao cho người nào lắng nghe với sự chú tâm sâu sắc vào Lời của Đức Chúa Trời, tìm kiếm Sách của Đức Chúa Trời, và hứa suy gẫm với tâm ý muốn hiểu biết Tin lành. Khi người cảm thấy có một cái gì đó quan trọng và đòi hỏi phải suy nghĩ cẩn thận, cái gì đó có giá trị, trong Tin lành nói về Chúa Jêsus, khi ấy chúng ta được khích lệ và trông cậy nhiều việc tốt lành về Ngài.
Nhưng trong trường hợp của mấy thầy bác sĩ không những chúng ta thấy họ tỏ ra lòng quan tâm, mà còn "tin quyết" nữa. Họ nói: "Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu?" Vì thế, họ đã tin quyết trọn vẹn Ngài là Vua dân Giuđa, và mới hạ sanh. Là một nhà truyền đạo tôi cảm thấy đây là một sự thương xót rất lớn mà tôi phải dùng đối xử với những người nào đã đạt tới một cấp độ tin theo các vụ việc của Đức Chúa Trời. Tôi cầu xin Đức Chúa Trời cho chúng ta có nhiều buổi truyền giảng cho những người chưa có đức tin và chưa hiểu biết về Đấng Christ; và ngày hầu đến nguyện Đức Chúa Giêxu Christ sẽ được nhận biết khắp mọi nơi. Nhưng ở đây chúng ta có đôi điều phải bắt đầu từ gia đình. Quí vị tin điều chi đó về Chúa Jêsus ở thành Nazarét, Ngài là Vua dân Giuđa. Hãy xem quí vị tin theo một lẽ thật nào đó, thì đấy là một phước hạnh. Tôi kể đó là một mối lợi lớn cho một người tuổi trẻ khi người tin Kinh Thánh là sự thật. Có một số người đã đánh trận khó nhọc để đạt được mối lợi đó, vì mọi đường lối tội lỗi của thế gian đã bao bọc lấy lý trí họ. Tất nhiên là mối lợi lớn ấy không cứu được quí vị, vì có nhiều người đã đi xuống địa ngục sau khi tin Kinh Thánh là sự thật, rồi họ cứ chất đống tội lỗi trên chính mình họ từ sự kiện ấy; nhưng khi dám chắc quí vị có Lời Đức Chúa Trời ở trước mặt mình, và không bị bối rối với những thắc mắc về sự cảm thúc và uy quyền của Kinh Thánh, đây là một mối lợi lớn. Ôi nguyện xin cho quí vị đi từ điểm đức tin nầy sang điểm đức tin khác, rồi trở thành một tín đồ thực và tin kính trong Chúa Jêsus.
Mấy thầy bác sĩ nầy là hạng người có sự tiến bộ rất lớn đến nỗi họ đã có được một số lực của đòn bẫy đức tin, vì họ đã tin rằng Đấng Christ mới hạ sanh, và một nhà Vua mới ra đời. Có nhiều người chưa được cứu, thế mà họ biết rõ Chúa Jêsus là Con của Đức Chúa Trời. Ngay cả ở đây hôm nay có những người không có chút nghi ngờ gì về sự cứu chuộc của Đức Chúa Giêxu Christ. Chắc chắn quí vị đang đứng trong địa vị của hạng người được ơn rất cao độ. Tôi tin chắc rằng quí vị đã có đặc ân ban cho quí vị để quí vị đứng được ở vị trí được ơn mà Đức Chúa Trời đã đặt quí vị ở đó. Hãy đánh giá cao những ơn mà quí vị đã nhận được rồi. Khi một người mù, hai mắt của người đã bị đóng kín trong bóng tối tăm, có một cuộc giải phẩu bởi một bác sĩ nhãn khoa và nhờ đó nhìn thấy được chút ít ánh sáng, người mù dâng lời cảm tạ vì đã thấy chút ít như thế, và hy vọng một cuộc giải phẩu khác có thể làm cho đầy đủ ánh sáng tràn vào con ngươi đã bị mù tối ấy. Quí bạn yêu dấu ơi, cũng một thể ấy, hãy dâng lời cảm tạ vì bất kỳ tia sáng nào. Ôi, hỡi linh hồn, không bao lâu nữa được chuyển vào một thế giới khác, phải biết chắc mình sẽ bị hư mất trừ phi ngươi có sự sáng thiêng liêng, chắc chắn sẽ bị ném vào bóng tối tăm của địa ngục, ở đó có khóc lóc và nghiến răng, hãy dâng lời cảm tạ vì ánh chớp thiên thượng kia; hãy đánh giá cao ánh chớp đó, hãy nắm bắt nó, phải lo sợ về nó vì nó có thể đến với một việc gì đó, và ai biết được, Chúa sẽ chúc phước cho quí vị với sự đầy dẫy của lẽ thật Ngài?
Khi một cây cầu lớn sẽ được bắc qua một dòng sông rộng, phần thách thức nằm ở đường dây cáp đầu tiên bắc qua dòng sông rộng đó. Tôi có nghe nói rằng dây cáp được bắc qua sông bằng cách thả diều, và để cho nó rớt xuống ở bờ bên kia. Con diều mang một sợi dây nhỏ, sợi dây đó được cột với một đầu cáp nhỏ, và tiếp đến là cáp lớn hơn, và tiếp đến là cáp đúng tiêu chuẩn, và cứ thế mà nối được cả hai đầu bờ sông, và cây cầu được hoàn tất. Cũng một thể ấy Đức Chúa Trời đang vận hành bằng nhiều cấp độ. Thật lấy làm tốt khi nhìn thấu vào tấm lòng của con người có một mối quan tâm nho nhỏ về các vụ việc thiêng liêng, một sự khát khao nho nhỏ muốn bước theo Đấng Christ, một nỗi ước ao muốn biết Ngài là ai, và muốn biết Ngài có khả năng giải cứu tội nhân ra khỏi sự phán xét và nỗi đau khổ hay không!?! Nỗi khát khao nầy sẽ dẫn tới một sự thèm muốn càng hơn, và sự thèm muốn khác nữa cũng kéo đến, cho tới chừng sau cùng linh hồn sẽ tìm được Chúa của mình và lấy làm thoả mãn ở trong Ngài. Trong trường hợp của mấy thầy bác sĩ, chúng ta có, theo như tôi tin chúng ta đang có nơi một số người ở đây, mối quan tâm, và một lượng đức tin đáng kể.
Thêm nữa, trong trường hợp của mấy thầy bác sĩ, chúng ta thấy họ "có sự thiếu hiểu biết".
Mấy thầy bác sĩ chưa bao giờ đưa ra các thắc mắc như trên, vì họ là những nhà bác học; vì vậy mấy thầy bác sĩ đã hỏi: "Ngài ở đâu?" Những con người có tên tuổi và trình độ của các nhà bác học, được mọi người đánh giá cao, đôi khi cũng phải xưng nhận một cấp độ thiếu hiểu biết nào đó, thế nhưng con người thực sự khôn ngoan không suy nghĩ theo phương thức đó đâu; họ đã được đào tạo rất kỹ lưỡng đến nỗi không thể thiếu hiểu biết trong trường hợp của họ được. Có nhiều người rất uyên bác nếu họ chỉ ý thức rằng họ là những kẻ ngu dại. Khi nhìn nhận sự thiếu hiểu biết của chúng ta, đây là bậc thềm của đền thờ tri thức. Có người nghĩ họ biết, rồi vì nghĩ như thế mà không hề biết chi hết. Họ nhìn biết họ bị mù loà, không bao lâu sau đó họ được chữa cho thấy rõ, song vì họ nói: "Chúng tôi thấy", cho nên họ vẫn cứ ở trong tình trạng mù loà của họ. Hỡi thính giả yêu dấu ơi, quí vị có muốn tìm một Cứu Chúa không? Quí vị có khao khát mọi tội lỗi của mình sẽ được tha không? Quí vị có muốn nhờ Đức Chúa Giêxu Christ mà làm hoà lại với Đức Chúa Cha không? Khi ấy hãy cầu xin mà đừng lấy làm xấu hổ, hãy thừa nhận rằng quí vị không biết. Làm sao quí vị biết được một khi thiên đàng chưa dạy cho quí vị biết chứ? Làm sao người ta nhận được tri thức về các vụ việc thiêng liêng, trừ phi việc ấy được ban xuống từ trên cao cho người? Hết thảy chúng ta phải được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dạy dỗ, hoặc sẽ chịu ngu dốt cho đến đời đời. Mong muốn chúng ta cần phải được Đức Thánh Linh dạy dỗ là một trong các bài học đầu tiên mà chính mình Đức Thánh Linh đang dạy dỗ chúng ta. Hãy nhìn nhận rằng quí vị đang cần một sự dẫn dắt, rồi cẩn thận cầu xin sự hướng dẫn ấy. Hãy kêu la với Đức Chúa Trời xin Ngài dẫn dắt quí vị, và Ngài sẽ làm gia sư của quí vị. Đừng kiêu ngạo và tự mãn. Hãy cầu xin sự sáng láng thiên thượng, và quí vị sẽ nhận lãnh sự sáng đó. Há cầu xin Đức Chúa Trời dạy dỗ quí vị là không tốt hơn tin cậy vào lý lẽ của quí vị sao? Thế thì, hãy sấp mình xuống, hãy xưng nhận sự sai lầm mình, rồi hãy nói: "Những điều con chưa biết, xin làm ơn dạy cho con biết".
Dù vậy, hãy chú ý rằng mấy thầy bác sĩ không lấy làm thoả lòng với việc nhìn nhận tình trạng thiếu hiểu biết của mình, song trong trường hợp của họ, họ "đã khát khao muốn biết".
Tôi không thể nói họ đã bắt đầu hỏi thăm từ đâu!?! Họ nghĩ đúng ra Chúa Jêsus thì ai ở trong thành phố quan trọng nầy cũng phải nhận biết mới phải. Há Ngài không phải là Vua dân Giuđa sao? Trong thủ phủ nầy không lẽ chẳng có ai biết Ngài sao? Vì thế, họ đã đến tại thành Jerusalem. Có lẽ họ đã hỏi thăm mấy tên lính gát cỗng thành: "Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu?" Thực ra, mấy tên lính gát cỗng thành đã bật cười nhạo họ rồi đáp: "Chúng tôi chẳng biết vua nào trừ ra Hêrốt". Tiếp đến, họ đã gặp một gã say rượu trên đường phố, họ hỏi thăm hắn: "Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu?" hắn đáp liền: "Tôi phải quan tâm gì về câu hỏi dại dột như thế hả? Tôi đang tìm một thứ rượu khác kia". Họ đến hỏi một thương buôn, nhưng ông nầy đã nhếch mép cười, rồi đáp: "Mấy ông vua ơi, đừng có lo quá như thế, mấy ông mua sắm gì bữa nay nè?" "Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu?" họ hỏi người Sađusê, nhà lãnh đạo tôn giáo, và ông ta đáp: "Đừng dại dột mà ăn nói như thế nhé, hoặc nếu mấy ông muốn hỏi, hãy tới gặp người Pharisi, người bạn tôn giáo của tôi kìa". Họ đi ngang mặt một phụ nữ trên đường phố, họ cứ hỏi: "Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu?" nhưng bà ta đáp: "Con tôi đang đau ở nhà, tôi chỉ nghĩ tới đứa con sơ sinh của tôi mà thôi; tôi chẳng màng ai mới ra đời, hay ai mới chết đâu!". Mặc dù họ chưa tìm ra được câu trả lời cho câu hỏi của họ, họ chẳng thấy hài lòng cho tới chừng nào họ biết được mọi sự cần phải biết. Lúc ban đầu họ không biết nhà Vua mới sanh tại đâu, nhưng họ đã sử dụng từng phương tiện để tra kiếm Ngài, họ đã hỏi thăm bất cứ ai họ nghĩ có thể tìm cho kỳ được thông tin. Thật là vui khi thấy sự sốt sắng thánh khiết của một linh hồn mà Đức Chúa Trời đã khiến cho nó phải vực dậy; nó kêu la: "Tôi phải được cứu; tôi biết điều gì đó có trong phương thức cứu rỗi, tôi biết ơn về điều đó, nhưng tôi không biết hết những gì tôi muốn biết, và tôi không thể nghỉ ngơi cho tới chừng tôi biết. Nếu bên dưới bức màn của thiên đàng người ta tìm gặp được một Cứu Chúa, thế thì tôi sẽ tìm gặp Ngài; nếu Kinh Thánh có thể dạy cho tôi biết phương thức mình sẽ được cứu, tôi sẽ lần mở từng trang cả ngày lẫn đêm; tôi sẽ đọc không ngủ nếu trong khi đọc quyển sách ấy tôi có thể tìm gặp Đấng Christ Cứu Chúa tôi. Nếu có ai mà sự rao giảng của họ đem lại phước hạnh cho linh hồn của nhiều người khác, thế thì tôi sẽ bám riết lấy môi miệng của ông ta, nếu Ngôi Lời có thể đem lại ơn phước cho tôi, vì tôi phải có Đấng Christ: ấy không phải tôi có thể hoặc tôi không thể có Ngài, mà tôi ‘phải' có Ngài; nỗi khát khao của tôi rất lớn về bánh thiên thượng nầy, sự thèm muốn Nước Hằng Sống của tôi không thể dập tắt được; hỡi Cơ đốc nhân, hãy nói cho tôi biết, hỡi mấy thầy bác sĩ, hãy nói cho tôi biết, hỡi những người nhơn lành, hãy nói cho tôi biết đi: "Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu? Vì tôi phải có Đấng Christ, và tôi ao ước muốn có Ngài ngay bây giờ”.
Hãy chú ý thêm trong phần tham khảo đến mấy thầy bác sĩ nầy, họ đến từ đông phương, trong cuộc tìm kiếm Đấng Christ của họ, có "một động lực rất rõ ràng".
Họ nói: "Ngài ở đâu, chúng ta đến đặng thờ lạy Ngài!" Ôi, hỡi linh hồn yêu dấu, nếu ngươi tìm kiếm Đấng Christ, chính động lực của ngươi khiến cho Ngài sẽ cứu ngươi, rồi kể từ đó và cho đến đời đời ngươi sẽ sống cho sự vinh hiển của Ngài. Khi đến điểm nầy rồi, quí vị không còn nghe tin lành theo thói quen nữa, mà vì quí vị đang ao ước muốn nhận lãnh sự cứu mà tin lành ấy hứa cho, quí vị sẽ tìm đặng sự cứu ấy không lâu nữa đâu. Khi một người nói: “hôm nay tôi sẽ đi nhà thờ để nghe Ngôi Lời được rao giảng, và ao ước của lòng tôi, ấy là Đức Chúa Trời sẽ tiếp lấy tôi, ưng ban cho tôi ơn cứu rỗi của Ngài", khi ấy người sẽ không còn đi trong hư không nữa. Khi một thính giả dám nói: "Không bao lâu sau khi tôi tìm được một chỗ ngồi trong hội chúng, tôi có tư tưởng như sau: "Lạy Chúa, xin ban phước cho linh hồn con hôm nay?" thính giả ấy sẽ không hề thất vọng đâu.
Thường thì khi đi nhà thờ, chúng ta nhận lãnh được những gì chúng ta mong mỏi khi đến đó. Có người đến vì đi nhà thờ là một thói quen, có người đến để gặp một người bạn, có người không biết lý do tại sao mình đến nhà thờ; nhưng khi quí vị biết rõ mình đến nhà thờ vì lý do gì, Chúa là Đấng ban cho quí vị sự ước ao sẽ ban thưởng cho sự đến đó. Tôi rất vui với câu nói của một chị em yêu dấu sáng nay khi tôi mới đến tại nhà thờ; bà ấy nói như sau: "Thưa ông, linh hồn tôi rất đói khát sáng nay. Nguyện Chúa ban cho ông bánh để trao cho tôi". Tôi tin rằng bánh đã được trao cho bà ấy. Khi một tội nhân có lòng khát khao về Đấng Christ, Đấng Christ đang ở rất gần với người ấy. Có điều tệ hại là, nhiều người trong quí vị không đến để tìm kiếm Chúa Jêsus, quí vị không tìm kiếm Ngài; nếu quí vị chịu tìm kiếm Ngài, không bao lâu sau đó Ngài sẽ tỏ tường với quí vị ngay. Có người hỏi một phụ nữ trong một buổi nhóm phấn hưng: "Sao bà chưa gặp được Đấng Christ à?" Bà nầy đáp: "Thưa ông, tôi nghĩ sở dĩ tôi chưa gặp được Ngài, ấy là vì tôi chưa tìm kiếm Ngài". Thực vậy, chẳng ai dám nói: “Cuối cùng, tôi vẫn chưa gặp được Chúa Jêsus”, sở dĩ như thế là vì Ngài phải được tìm kiếm bằng sự sốt sắng, tin kính, không ngừng nghỉ, vì lời hứa của Ngài là: "Hãy tìm, sẽ gặp". Mấy thầy bác sĩ nầy đối với chúng ta là một tấm gương ở nhiều việc lắm – động lực của họ rất rõ ràng đối với họ, và họ đã làm cho nhiều người khác biết động lực ấy. Nguyện hết thảy chúng ta đều tìm kiếm Chúa Jêsus để chúng ta có thể thờ lạy Ngài.
Có một thái độ sốt sắng luôn thể hiện ra nơi mấy thầy bác sĩ, chúng ta rất vui thích khi nhìn thấy điều ấy nơi bất kỳ ai dù họ chưa tin theo Chúa Jêsus. Dĩ nhiên, họ không phải là hạng người tìm kiếm theo cách tò mò. Họ đã đến từ phương xa, họ đã chịu đựng nhiều sự khó nhọc, họ đã nói về việc đi tìm một vì Vua mới sanh theo một cung cách rất thực, rất phổ thông; họ không nãn lòng khi bị từ chối theo kiểu thế nầy hay thế kia; họ ao ước muốn tìm gặp Ngài, và họ sẽ gặp được Ngài. Thật là có phước khi nhìn thấy công việc của Đức Thánh Linh ở trong lòng mấy người nầy đang thúc đẩy họ khao khát muốn gặp Đấng Cứu Thế để lập làm Chúa và làm Vua của họ; và vì khao khát muốn gặp Ngài, họ đã không chấp nhận thất bại, và họ cứ đi tới, với sự vùa giúp của Đức Thánh Linh, họ dám nói: "Chúng tôi đã tìm gặp Đấng mà Môise đã có viết về Ngài trong sách Luật, và các Đấng tiên tri cũng có viết về Ngài – ấy là Chúa Jêsus, và Ngài đã trở thành ơn cứu rỗi của chúng ta".
Ngay thời điểm nầy, có phải tôi đang nói về ai đó theo cách đặc biệt không? Đúng như thế đấy! Cách đây mấy năm, có một thanh niên, vào một buổi sáng giống như buổi sáng hôm nay – trời lạnh, tuyết rơi, tối tăm – bước vào Hội Thánh, giống như quí vị đã bước vào hôm nay vậy. Tôi nghĩ khi tôi đến đây, sáng hôm nay, để nói về thanh niên ấy. Tôi nhũ lòng: "Sáng nay có bộ hãm tài đến nỗi tôi sẽ thấy một hội chúng ít ỏi, nhưng có lẽ giữa vòng họ sẽ có một người giống như chàng thanh niên năm ấy". Nói đơn giản, cái điều an ủi tôi là lúc suy nghĩ tới buổi sáng khi Đức Chúa Trời chúc phước linh hồn tôi bằng ân điển cứu rỗi của Ngài, nhà truyền đạo đã có một hội chúng rất ít người, còn trời thì rất lạnh căm căm, vì thế tôi nhũ thầm sáng nay: "Sao mình không đến giảng, cho dù hội chúng chỉ có chừng mươi người?" vì Chúa Jêsus có thể dự tính tỏ mình Ngài ra cho ai đó giống như Ngài đã tỏ mình ra cho tôi, và người ấy có thể là một người chuyên dẫn dắt thân hữu, và là phương tiện của ơn cứu rỗi của hàng chục ngàn người trong những năm tháng hầu đến. Tôi lấy làm lạ, nếu việc như thế sẽ xảy ra cho chàng thanh niên kia ở đó, vì tôi tin anh ta có tấm lòng tìm kiếm của mấy thầy bác sĩ trên môi miệng mình. Tôi tin anh ta sẽ không dập tắt các sự khát khao đó, nó đang bừng cháy ở trong anh, đúng hơn đó là một lằn lửa sẽ được nhóm lên thành một ngọn lửa, nguyện hôm nay là ngày chứng kiến quyết định của anh ta về sự tiếp nhận Chúa Jêsus. Ồ, phải chăng Chúa đã chiếu vào chàng thanh niên đó, hay trên con cái yêu dấu khác, hoặc trên một cụ già ngồi ở đàng kia? Tôi không biết người ấy sẽ là ai, nhưng quả thực tôi sẽ chúc phước cho Đức Chúa Trời sáng nay, nếu tiếng kêu la ra từ nhiều môi miệng sáng nay là: "Thưa ông, tôi phải làm gì để được cứu? Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu?"
II. Sau khi thốt ra câu hỏi ấy, giờ đây tôi để ý tới SỰ PHẤN KHÍCH CỦA HỌ. Có điều gì đó đã khích lệ mấy thầy bác sĩ nầy muốn tìm kiếm Chúa Jêsus. Đó là điều nầy đây: "Chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài".
Bây giờ, hầu hết quí vị, những người tìm kiếm Đấng Christ đều có một sự khích lệ rất lớn đang khi quí vị nghe giảng Tin lành của Ngài; quí vị đang sinh sống trong một xứ sở mà ở đó quí vị có Kinh Thánh, ở đó phép báptêm và Tiệc Thánh đều được tổ chức thực hiện cách tự do. Đấy là, như vốn có thực vậy, ngôi sao của Đức Chúa Giêxu Christ; chúng là phương tiện để dẫn dắt quí vị đến với Ngài. Hãy lưu ý ở đây, nhìn thấy ngôi sao Ngài là một “đặc ân rất lớn”. Ơn nhìn thấy ngôi sao Ngài không được ban cho hết thảy kiều dân ở đông hay tây phương. Vì lẽ ấy, mấy người nầy đều được ơn rất nhiều. Ơn ấy không được ban cho hết thảy nhân loại khi nghe giảng tin lành đâu, Chúa Jêsus không được rao giảng trong hết thảy các nhà thờ của chúng ta; thập tự giá của Ngài không được tôn cao thậm chí ở ngay nơi được cung hiến để thờ lạy Ngài. Quí vị đã được Chúa ban cho rất nhiều ơn, ôi quí bạn của tôi ơi, nếu quí vị đã nhìn thấy ngôi sao, tin lành, hết thảy đều chỉ về Chúa Jêsus.
Nhìn thấy được ngôi sao, mấy thầy bác sĩ nầy phải có một "trách nhiệm lớn". Giả sử họ nhìn thấy ngôi sao Ngài mà không sắp đặt mọi sự để thờ lạy Ngài, thì họ còn mắc tội nhiều hơn những người khác, là những kẻ chưa nhận lãnh một sự tỏ ra như thế từ thiên đàng, vì những người nầy chẳng chịu tìm kiếm chi hết. Ôi, hãy suy nghĩ về trách nhiệm của một số người trong quí vị, những người trong thời thơ ấu đã nghe giảng về một Cứu Chúa, họ có mẹ đã khóc nhiều nước mắt vì họ; quí vị biết lẽ thật, ít nhất là về mặt thần học; quí vị có trách nhiệm sau khi đã nhìn thấy ngôi sao Ngài.
Mấy thầy bác sĩ "đã không xem đặc ân nhìn thấy ngôi sao là một việc rất thoả lòng". Họ không nói: "Chúng ta đã nhìn thấy ngôi sao Ngài, và bấy nhiêu là đủ rồi". Con người nói: "Được thôi, chúng ta đến một nơi thờ phượng rất đều đặn, há bấy nhiêu chưa đủ sao?" Có người nói: "Chúng ta đã chịu phép báptêm, tôi đã được cứu bởi phép báptêm; chúng ta đến dự Tiệc Thánh của Chúa, há tôi chưa nhận ân điển cứu rỗi qua Tiệc Thánh ấy sao?" Đúng là những linh hồn khốn khổ! Họ đã lầm lẫn ngôi sao dẫn mấy thầy bác sĩ đến với Đấng Christ, như chính mình Đấng Christ, và thờ lạy ngôi sao thay vì thờ lạy Chúa. Ôi, nguyện không một ai trong số quí vị dám dại dột tin theo phép báptêm hay tiệc thánh có quyền cứu quí vị! Đức Chúa Trời sẽ phán với quí vị, nếu quí vị nương vào phép báptêm hay Tiệc thánh của Chúa hoặc vào việc đi nhà thờ: "Hãy chấm dứt việc dâng những của lễ vô nghĩa nữa đi! Mùi hương của các ngươi là gớm ghiếc đối với ta. Khi các ngươi đến trước mặt ta, các ngươi giày đạp hành lang ta?" Đức Chúa Trời có lo về các hình thái và nghi thức bề ngoài không?
Khi tôi nhìn thấy những người khoác lấy lễ phục, và hát lên lời cầu nguyện của họ, rồi sấp mình quì gối xuống, tôi ngạc nhiên không biết họ đang thờ lạy loại Đức Chúa Trời nào!?! Chắc chắn người ấy có quan hệ nhiều với các thần tà giáo hơn là với Đức Giêhôva cao cả là Đấng đã dựng nên trời và đất. Hãy lưu ý đến sự vinh hiển của mọi công việc của Đức Giêhôva ở trên đất và trên biển; kìa các từng trời cùng vô số các ngôi sao của chúng, hãy lắng nghe tiếng rít của gió và tiếng ào ào của giông bão, hãy suy nghĩ tới Ngài là Đấng thiết lập các từng mây xe ngựa Ngài, và cỡi trên cánh của gió, rồi kế đó hãy xem xét Đức Chúa Trời vô hạn nầy có giống với kẻ có kết cuộc là mồ mả hay không, một ly rượu được nhấc lên trong sự thờ phượng có cao bằng tóc hay chỉ cao bằng mũi của một người!?! Ôi thật là dại dột khi nghĩ rằng Đức Giêhôva được đặt ở trong đền tạm của quí vị được làm bằng tay, và Ngài để ý tới bộ lễ phục, của cải, dáng dấp, và cung cách quì gối của quí vị. Quí vị thể hiện ra nghi thức, thậm chí tới nét gạch ngang của chữ “t” và nét chấm của chữ “i”. Chắc chắn quí vị chưa biết Đức Giêhôva vinh hiển, nếu quí vị cưu mang những việc nầy để mong Ngài đẹp lòng. Không, quí bạn yêu dấu ơi, chúng ta ao ước được thờ phượng Đấng Chí Cao trong mọi thể cách đơn sơ và sự sốt sắng của tâm thần, mà không chấm dứt với hình thái bên ngoài, e chúng ta dại dột đủ khi nghĩ rằng nhìn thấy ngôi sao là đủ rồi, và vì thế thất bại không tìm gặp Đức Chúa Trời hoá thân thành nhục thể.
Cũng hãy chú ý, là mấy thầy bác sĩ nầy "không thấy thoả lòng nơi mọi điều mà họ đã làm khi đến gần con trẻ". Như chúng ta đã thấy, họ đã đi hàng trăm dặm đường để đến đó, nhưng họ không nhắc tới chuyện nầy; họ đã không ngồi xuống rồi nói: "Phải, chúng tôi đã hành trình qua sa mạc, qua nhiều đồi núi, qua nhiều sông rạch, và giờ đây chúng tôi đã thờ phượng". Không, họ phải tìm gặp nhà Vua mới sanh, không một việc nào khác làm cho họ thoả lòng. Hỡi quí thính giả yêu dấu, đừng nói: "Tôi đã cầu nguyện trong mấy tháng trời, tôi đã tra cứu Kinh Thánh trong nhiều tuần lễ, để tìm gặp Đấng Cứu Thế". Tôi cảm thấy vui sướng khi quí vị nói như thế, nhưng đừng yên nghỉ ở chỗ đó; quí vị phải nhận lấy Đấng Christ, hoặc giả quí vị vẫn còn hư mất trong đau khổ sau mọi nổ lực và rối rắm của quí vị. Quí vị cần có Chúa Jêsus, không một thứ gì cần hơn Chúa Jêsus, và chẳng có gì hơn Chúa Jêsus. Quí vị cũng không thấy thoả lòng với chuyện đi suốt con đường có ngôi sao dẫn dắt quí vị, quí vị phải đến gần NGÀI. Không được thiếu mất sự sống đời đời. Hãy nắm lấy sự sống ấy, không những tìm kiếm và ao ước sự sống ấy, mà phải nắm chặt lấy sự sống đời đời, và đừng lấy làm thoả lòng cho tới chừng quí vị chắc chắn rằng Đức Chúa Giêxu Christ thuộc về quí vị.
Tôi muốn quí vị phải lưu ý thể nào mấy thầy bác sĩ nầy không thấy thoả lòng với việc vào trong thành Jerusalem. Họ đã nói: "A! Giờ đây chúng ta đang ở trong xứ mà Đấng Christ mới hạ sanh, chúng ta sẽ ngồi xuống mà dâng lời cảm tạ". Không, thay vì nói như thế, họ đã hỏi: "Ngài ở đâu?" Ngài mới sanh tại thành Bếtlêhem. Phải, họ đi tới thành Bếtlêhem, nhưng chúng ta không thấy họ đã tới gần ngôi làng ấy vào lúc nào, họ nói: "Đây là một địa điểm tốt, chúng ta sẽ ngồi xuống ở đây". Không phải như vậy, họ muốn biết ngôi nhà ấy ở đâu!?! Họ đến gần ngôi nhà, và ngôi sao dừng lại bên trên nó. Đây là một bối cảnh đáng sợ khi nhìn thấy ngôi nhà với ngôi sao ở bên trên nó, và suy nghĩ rằng nhà Vua mới sanh có mặt ở đó, song bấy nhiêu vẫn chưa làm cho họ thoả lòng. Không, họ bước thẳng vào ngôi nhà; họ không yên nghỉ cho tới chừng họ đã trông thấy chính mình Con Trẻ, và đã thờ lạy Ngài. Tôi cầu nguyện rằng quí vị và tôi sẽ luôn luôn được Đức Thánh Linh dẫn dắt đến nỗi chúng ta sẽ không rơi vào chỗ thiếu hiểu biết về Đấng Christ là một Cứu Chúa, là Cứu Chúa của chúng ta, là Cứu Chúa của chúng ta trong lúc bây giờ.
Nếu có một mối nguy hiểm nào thì người tìm kiếm sẽ phấn đấu chống chọi lại, đó là mối nguy hiểm thiếu đức tin nơi Đức Chúa Giêxu Christ. Trong khi tấm lòng quí vị mềm mại giống như sáp, phải cẩn thận là chẳng có một con dấu nào trừ ra con dấu của Đấng Christ được đóng trên đó. Giờ đây, quí vị cảm thấy băn khoăn và chịu thuyết phục, hãy lấy điều nầy làm lời thề của mình: "Tôi sẽ không yên cho tới chừng nào Đấng Christ yên ủi tôi với ơn cứu rỗi cả thể của Ngài". Quí vị thà là đừng thức giấc khi bị Satan ru ngủ – vì một giấc ngủ nối theo sau một sự tin quyết từng phần là một giấc ngủ thiu thiu hơn bất cứ giấc ngủ nào khác rơi trên con cái loài người. Hỡi linh hồn yêu dấu, tôi khuyên quí vị nên nhận lấy huyết của Đấng Christ, và được huyết ấy thanh tẩy; tìm gặp sự sống của Đấng Christ, rồi để cho sự sống ấy ở trong quí vị, hầu cho quí vị thực sự trở nên con cái Đức Chúa Trời; không chao đảo với những giả thiết nữa, không tỏ ra hài lòng với những cái bề ngoài và có thể; không yên nghỉ bất cứ chỗ nào cho tới chừng quí vị nói – Đức Chúa Trời đã ban cho quí vị đức tin để nói ra câu ấy: "Ngài yêu thương tôi và phó chính mình Ngài vì tôi, Ngài là sự cứu rỗi toàn vẹn của tôi và là mọi ước ao của tôi". Kế đó, hãy nhìn xem, thể nào mấy thầy bác sĩ bởi ngôi sao cứ ở gần với Đấng Christ, nhưng họ đã được khích lệ bởi nó khi đến với Đấng Christ, và quí vị cũng được khích lệ nữa, hỡi kẻ tìm kiếm yêu dấu kia, sáng nay hãy đến với Chúa Jêsus bởi sự thực quí vị đã được phước với tin lành. Quí vị đang có một lời mời gọi ban ra cho quí vị hãy đến với Chúa Jêsus, quí vị có những giờ phút Thánh Linh Đức Chúa Trời đáp đậu trên lương tâm quí vị, làm cho quí vị phải thức tỉnh; Ôi hãy đến, hãy đến và được hoan nghênh, rồi hãy đến cho cái ngày mùa đông tối tăm nầy trở thành một ngày sáng láng, một ngày vui sướng thật nhiều cho một linh hồn đang tìm kiếm.
Tôi sắp tư tưởng của mình vào phần kết nầy thành câu, và tôi sẽ lặp lại nhiều dòng:
Ôi, Đấng Christ Vua của tôi đang ở đâu?
Tôi ao ước muốn nhìn thấy Ngài,
tôi sẽ quì gối xuống đặng thờ lạy,
Vì Ngài là sự vui thích của linh hồn tôi.
Một mình, một mình Ngài thôi,
Tôi không còn tìm kiếm nữa,
Hay trên thập tự giá của Ngài,
hoặc trên ngôi của Ngài,
Tôi thiết tha tôn thờ.
Mấy thầy bác sĩ đã nhìn thấy ngôi sao Ngài,
Nhưng họ không thấy thoả lòng,
Đường đi khó, khoảng cách xa xăm,
Thế mà họ cứ đi trên con đường ấy,
Và bây giờ tư tưởng tôi phân biệt,
Dấu hiệu Đấng Christ đang ở gần,
Tôi nung nấu bởi tình yêu không thể dập tắt được,
Vui hưởng tình bạn của Ngài.
Không một ngôi sao nào,
cũng không một dấu lạ nào từ trời,
Nỗi khao khát của linh hồn tôi có thể đầy dẫy,
Chính mình Ngài, Chúa của tôi,
là Vua thiêng liêng của tôi,
Linh hồn tôi vẫn cứ còn đang khao khát.
III. Và bây giờ chúng ta sẽ kết thúc, bằng cách xem xét TẤM GƯƠNG của mấy thầy bác sĩ nầy.
Họ đã đến với Chúa Jêsus, và khi đến đó, họ đã làm ba điều nầy: họ đã trông thấy, họ đã thờ lạy, họ đã dâng hiến. Đó là ba việc mà mỗi tín đồ ở đây có thể làm lại sáng nay, và là những điều mà mỗi tín đồ nên làm trong lần đầu tiên.
Thứ nhứt "họ đã trông thấy" Con Trẻ.
Tôi không nghĩ họ chỉ nói: "Kìa, Ngài kia kìa" rồi kết thúc mọi chuyện, nhưng họ đã đứng yên lặng và quan sát. Có lẽ họ đã chẳng nói gì hết trong một lúc. Tôi hình dung quanh khuôn mặt của Con Trẻ Jêsus là một vẻ đẹp siêu nhiên. Trong trường hợp có một vẻ đẹp trước mặt mọi người hay không thì tôi không biết, nhưng chắc chắn có một sự hấp dẫn rất siêu nhiên đối với họ. Đức Chúa Trời hoá thân thành nhục thể! Họ đã nhìn chằm chằm với đôi mắt của họ. Một lần nữa họ đã nhìn, nhìn và nhìn. Họ đã nhìn thẳng vào mẹ của Ngài, nhưng họ hướng mắt mình nhìn vào Ngài. "Họ đã nhìn thấy Con Trẻ".
Vì thế, sáng nay chúng ta cũng hãy suy nghĩ tới Chúa Jêsus với các tư tưởng diễn tiến liên tục và nhất định. Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài là con người, Ngài là sự thay thế cho hạng tội nhân; Ngài bằng lòng tiếp nhận hết thảy những ai chịu tin cậy Ngài. Ngài sẽ cứu, và cứu sáng hôm nay, bất kỳ ai trong chúng ta chịu đặt đức tin họ nơi Ngài và tin cậy nơi Ngài. Hãy suy nghĩ về Ngài. Nếu quí vị còn ở tại nhà buổi trưa hôm nay, hãy dành thì giờ suy nghĩ đến Ngài. Hãy đưa Ngài ra trước con mắt lý trí của quí vị, hãy tra xét và khen ngợi Ngài. Chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Đức Chúa Trời bước vào mối tương giao với con người và bước vào thế gian nầy như một con trẻ? Ngài là Đấng đã dựng nên trời và đất được ẳm bồng trên ngực của một người đờn bà vì cớ chúng ta! Để trở thành Đấng cứu chuộc chúng ta, Ngôi Lời đã trở nên xác thịt. Lẽ thật nầy làm phát sinh ra nguồn hy vọng sáng chói nhất trong linh hồn quí vị. Nếu quí vị bước theo sự sống kỳ diệu của con trẻ ấy cho tới chừng sự sống ấy kết thúc tại thập tự giá, tôi tin cũng sẽ có một cái nhìn nơi Ngài, giống như Môise đã nhướng mắt lên với con rắn trong đồng vắng, và họ như đã được chữa lành rồi vậy, vì quí vị đang trông mong được chữa lành khỏi một tật bịnh thuộc linh của mình. Mặc dù đã trải qua hai năm kể từ đó, tôi ao ước muốn nhìn thấy Chúa Jêsus lại một lần nữa. Đức Chúa Trời hoá thân thành nhục thể!?! Đôi mắt của tôi lặn bơi với hai hàng nước mắt khi nghĩ rằng Ngài sẽ cứu chuộc tôi khỏi những kẻ giày đạp tôi trong âm phủ cho đến đời đời, hãy trở thành một con trẻ vì cớ tôi! Hãy nhìn xem Ngài, hết thảy quí vị, và kìa – kế đó họ đã thờ phượng.
Mấy thấy bác sĩ kế đó làm gì? Họ "đã thờ phượng” Ngài.
Chúng ta không thể thờ phượng theo cách xứng đáng một Đấng Christ mà chúng ta không biết. "Thờ phượng một Đức Chúa Trời không biết" là một sự thờ phượng nghèo nàn. Nhưng mà, khi quí vị nghĩ tới Đức Chúa Giêxu Christ, mọi nguồn gốc của Ngài từ ngàn xưa, từ những thời xa xưa, Con đời đời của Đức Chúa Cha, và kế đó nhìn thấy Ngài sẽ đến đây làm một con người được thai dựng trong lòng của một người nữ, rồi hiểu biết tường tận lý do tại sao Ngài đã đến và Ngài đã làm gì khi Ngài đến, khi ấy quí vị sẽ sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài.
Hỡi Con của Đức Chúa Trời,
chúng tôi sấp mình xuống trước mặt Ngài, Ngài là Chúa, và chỉ một mình Ngài; Ngài là dòng giống được hứa cho qua người nữ; Ngài là Đấng đã đổ huyết ra vì tội nhân".
Chúng ta thờ phượng Chúa Jêsus. Đức tin chúng ta nhìn thấy Ngài đi từ máng cỏ đến tại thập tự giá, và từ thập tự giá thẳng tới ngai vàng, rồi ở đó nơi Đức Chúa Cha ngự, giữa sự vinh hiển cao cả của sự hiện diện thiêng liêng có người đang đứng, chính con người đã nằm ngủ tại thành Bếtlêhem trong chiếc máng cỏ; ở đó Ngài tể trị làm Chúa các chúa. Một lần nữa linh hồn chúng ta thờ phượng Ngài. Ngài là Tiên Tri của chúng ta, từng Lời Ngài phán, hỡi Chúa Jêsus, chúng ta tin theo và ao ước muốn làm theo: Ngài là thầy tế lễ của chúng ta, sự hy sinh của Ngài làm cho chúng ta được sạch, chúng ta được thanh tẩy bằng huyết của Ngài; Ngài là Vua của chúng ta, mạng lịnh Ngài chúng ta vâng theo, nắm lấy và chúng ta sẽ làm theo: Chúng ta thờ phượng Ngài. Chúng ta để ra nhiều thì giờ trong sự thờ phượng Đấng Christ, và Ngài sẽ luôn luôn có nơi cao nhất trong sự tôn kính của chúng ta.
Sau khi thờ phượng, mấy thầy bác sĩ đã dâng lên "các thứ của lễ của họ".
Một người mở hộp đựng vàng của mình ra, rồi đặt nó nơi chơn của nhà Vua mới sanh. Người khác dâng lên một dược – một trong các sản phẩm quí giá của xứ sở mà từ đó họ đã đến; và người nữa đặt nhũ hương nơi chơn của Đấng Cứu Chuộc; hết thảy mấy thứ nầy họ đã dâng hiến để minh chứng cho lẽ thật trong sự thờ phượng của họ. Họ đã dâng lên các thứ của lễ có giá trị. Còn bây giờ, sau khi quí vị đã thờ lạy Đấng Christ trong linh hồn của mình, và đã nhìn thấy Ngài bằng con mắt của đức tin, hãy dâng lòng mình cho Ngài, hãy dâng cho Ngài thân thể mình, hãy dâng cho Ngài mọi sự quí vị đang có. Tại sao chứ, quí vị sẽ không thể không làm việc đó. Người nào thực sự yêu mến Cứu Chúa ở trong lòng mình, không thể không dâng đời sống, sức lực và mọi sự mình có cho Ngài. Với ai đó, khi họ dâng cho Đấng Christ bất cứ thứ gì, hay làm bất cứ việc gì cho Ngài, việc ấy thật là khó hay có cái gì đó bắt buộc. Họ nói: "Tình yêu thương của Đấng Christ trói buộc tôi". Tôi không biết có một câu nào như thế trong Kinh Thánh hay không, tuy nhiên, tôi nhớ một câu chép rằng: "Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi". Nếu tình yêu ấy không cảm động chúng ta, sở dĩ như thế là vì tình yêu đó không ở trong chúng ta. Không những đây là một việc đáng phải có, mà nó buộc phải có nữa. Nếu có ai yêu mến Đấng Christ, không bao lâu sau đó người ấy sẽ tìm ra những phương thức và phương tiện để minh chứng tình cảm của mình bằng những thứ của lễ. Hỡi Mary, hãy đi về nhà rồi lấy cái hộp dầu cam tùng hương, rồi xức dầu ấy trên đầu Ngài, rồi nếu có ai nói: "Sao phung phí quá vậy?" ngươi sẽ có một câu trả lời thật hay, ngươi đã có nhiều tội lỗi đã được Ngài tha thứ hết, rồi vì lẽ đó ngươi kính sợ Ngài thật nhiều. Nếu ngươi có vàng, thì hãy dâng lên đi; nếu ngươi có một dược, thì hãy dâng lên đi; nếu ngươi có nhũ hương, thì hãy dâng lên cho Chúa Jêsus đi; nếu ngươi không có một thứ nào trong các thứ nầy, hãy dâng cho Ngài tình cảm của ngươi, hết thảy tình cảm của ngươi, và đó sẽ là vàng và các thứ hương hết thảy hiệp thành một; hãy dâng cho Ngài cái lưỡi của ngươi, hãy nói về Ngài; hãy dâng cho Ngài hai bàn tay của ngươi, hãy làm việc cho Ngài; hãy dâng cho Ngài toàn bộ bản ngã ngươi. Tôi biết quí vị sẽ dâng, vì Ngài yêu thương quí vị, và đã phó chính mình Ngài vì quí vị. Nguyện Chúa ban phước cho quí vị, và nguyện buổi sáng Lễ Giáng Sinh nầy sẽ là một ngày đáng nhớ cho nhiều người trong số quí vị nhóm lại ở đây hôm nay. Tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy có đông người hiện diện, và tôi có thể hy vọng phước hạnh sẽ rất xứng đáng, vì cớ Chúa Jêsus. Amen.
***