Hiển thị các bài đăng có nhãn Behold. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Behold. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2010

"Ân điển của Đức Chúa Trời"



Kìa, Đức Chúa Trời ngươi
"Ân điển của Đức Chúa Trời"
Mục sư David Legge
"Tôi dám chắc khi nói rằng không có một từ nào khác trong Anh ngữ mô tả tâm ý của Đức Chúa Trời, và chỉ ra mọi tư tưởng của Ngài đối cùng chúng ta, lớn lao hơn từ “ân điển” nầy.

Êphêsô chương 1 là phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta cho buổi sáng hôm nay. Nếu quí vị cùng mở ra với chúng tôi, đây là bài nghiên cứu [thứ 9] của chúng ta trong những sáng Chúa nhựt về các thuộc tánh của Đức Chúa Trời – chúng tôi đặt đề tựa cho loạt bài nầy là 'Kìa, Đức Chúa Trời ngươi' – tra xét các thuộc tánh của Ngài, và là Đức Chúa Trời thì có ý nghĩa như thế nào!?! Bài nghiên cứu vừa qua của chúng ta là 'Sự Nhân Từ Của Đức Chúa Trời', còn đây là bài kế có đề tựa là 'Ân Điển Của Đức Chúa Trời' – là ơn có quan hệ với sự nhân từ Ngài.

Chúng ta đang xem ở Êphêsô chương 1, và chúng ta đã nghiên cứu qua mấy câu nầy với chiều sâu đáng kể trong phần đọc Kinh Thánh của chúng ta, nhưng chúng ta chỉ xét qua một yếu tố đặc biệt trong mấy câu ấy sáng nay. Êphêsô 1 câu 5 bắt đầu với - câu 4 chép: "Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài". Cụm từ 'đã định trước' trong câu 5 luôn luôn nói tới những gì chúng ta phải trở thành trong Đức Chúa Jêsus Christ. Câu nầy không nói nhiều tới một nơi phải đến, dù là thiên đàng hay địa ngục, mà nói đến ý định cho rằng chúng ta sẽ có một ngày chúng ta được nên giống như Đức Chúa Jêsus Christ – và vì chúng ta đã được cứu bởi ân điển của Ngài chính là chương trình đã được bày ra có thứ tự rồi.

Thế rồi qua câu 6 Phaolô đổi thành bài thánh ca ngợi khen rất hay, bài ca nầy đã được lặp đi lặp lại xuyên suốt thư tín nầy: "Để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài! Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài".

Tôi buộc phải nói rằng chẳng có một từ nào khác trong Anh ngữ mô tả tâm ý của Đức Chúa Trời, và phơi bày mọi tư tưởng của Ngài cho chúng ta, lớn lao hơn chữ nầy: 'ân điển'. Thực vậy, bản thân chữ nầy là một từ ngữ rất đẹp. Nó được sử dụng bằng nhiều cách khác nhau trong Anh ngữ để mô tả ân điển và vẻ đẹp, nhưng ngay cả trong tiếng Hy lạp, từ nầy được gọi là 'karos' - đây là từ Hy lạp nói tới ân điển – thậm chí âm vang của nó cũng rất là đẹp tai nữa. Nhưng còn đẹp hơn cả chính từ ngữ đó, là lẽ đạo nằm ở đàng sau nó và sự định nghĩa nó mà chúng ta đang có trong Lời của Đức Chúa Trời. Có gì đáng kinh ngạc khi Philip Doddridge viết:

'Ân điển là một từ rất quyến rũ,
Rất hợp với lỗ tai.
Thiên đàng với những âm vang dội lại,
Và cả đất đều sẽ nghe thấy.
Được cứu duy bởi ân điển của Ngài,
Mọi lời nài xin của tôi chỉ có từng ấy.
Chúa Jêsus đã chịu chết thay cho cả nhân loại,
Và Chúa Jêsus đã chịu chết thay cho tôi'.

Chúng ta có thể xác định ân điển thật đơn giản như thế nầy: ân điển của Đức Chúa Trời chính là Ngài đang gánh lấy trách nhiệm cho tình trạng của chúng ta. Đây là một thuộc tánh của Đức Chúa Trời, và chúng ta đang xem xét các thuộc tánh của Đức Chúa Trời, nhưng đây là một sự khác biệt nhỏ trong đó thuộc tánh nầy là tuỳ ý, thuộc tánh ấy là sự tình nguyện. Thuộc tánh nầy nói về ân điển của Đức Chúa Trời đang nằm bên trong quyền tể trị tối cao của Ngài – và cái điều tôi muốn nói là đây: Đức Chúa Trời không buộc phải tỏ ra ân điển đối cùng tạo vật của Ngài. Ngài là Đức Chúa Trời của ân điển, nhưng Ngài không chịu một sự bắt buộc nào để lãng phí ân điển của Ngài trên chúng ta theo phương thức mà Ngài đã tỏ ra, đã thể hiện ra trong Lời của Đức Chúa Trời. Nhưng phép lạ của ân điển là đây: Ngài đã hạ mình từ những đỉnh cao oai nghi của Ngài xuống tới những chỗ cùng tột đau khổ của chúng ta – và ân điển chỉ có một hướng đi: từ trên giáng xuống.

"Quí vị không thể kiếm được ân điển của Đức Chúa Trời, quí vị không thể lao động để có được ân điển đó, đó là ơn mà Đức Chúa Trời lưu xuất ra từ ý muốn tự do, tối cao của Ngài - Đức Chúa Trời theo cách tự do, tình nguyện ban ra ân điển của Ngài cho chúng ta, đấy là lý do tại sao ân điển là một âm thanh hấp dẫn!"
Chúng ta đã nghiên cứu trong mấy tuần qua rằng Đức Chúa Trời là siêu việt, rằng Đức Chúa Trời là cao cả hơn muôn vật và trong mọi sự Ngài là siêu việt – chúng ta không thể với tới Ngài được. Vì vậy thật là hợp lý khi nhận biết rằng nếu Đức Chúa Trời rất giàu ơn cho ai đó, Ngài rất giàu ơn theo ý nghĩa từ trên giáng xuống. Ân điển thường được định nghĩa là ơn của Đức Chúa Trời không ai đáng nhận được, và đấy chính xác là ân điển. Ơn ấy không đáng được và ơn ấy không ai đáng được, quí vị không thể kiếm được ân điển của Đức Chúa Trời, quí vị không thể lao động để có được ơn ấy hay phấn đấu mà được ơn ấy đâu, đây là ơn mà Đức Chúa Trời lưu xuất ra từ ý chỉ tự do, tối cao của Ngài - Đức Chúa Trời theo cách tự do, tình nguyện ban ra ân điển của Ngài cho chúng ta, đấy là lý do tại sao ân điển là một âm thanh hấp dẫn! Đấy là lý do tại sao âm vang của nó rất là đẹp tai, đấy là lý do tại sao trời và đất vang dội và phản hồi, và ai nấy đều nghe thấy!

Chúng ta đã nghiên cứu mấy tuần qua về sự công bình thiêng liêng của Đức Chúa Trời, và chúng ta đã nhìn thấy tiền công của tội lỗi là sự chết, và trong sự thánh khiết, công bình của Đức Chúa Trời Ngài đòi hỏi cái chết của tội nhân. Đó là sự công bình, đó là sự thánh khiết mà Ngài làm vậy. Thế nhưng ân điển thiêng liêng, ấy là thuộc tánh của Đức Chúa Trời bởi đó Ngài cầu thay, Ngài bước vào với lòng thương xót, Ngài cầm giữ bàn tay thạnh nộ và sự công bình của Ngài và Đức Chúa Trời cao cả đang buông tha cho hạng tội nhân! Đúng là một lẽ đạo thật kỳ diệu! Tôi rất vui sướng hôm nay vì đây là lẽ đạo mà chúng ta đang liên tục nghiên cứu khi chúng ta đến với bàn tiệc của Chúa, khi chúng ta hát lên những lời ngợi khen Đức Chúa Jêsus Christ – nhận biết rằng chúng ta đang thờ lạy một Đức Chúa Trời giàu ơn! Chúng ta đã xem xét mấy tuần qua thể nào lòng thương xót của Đức Chúa Trời thì sâu sắc hơn cơn thạnh nộ của Ngài, chúng ta có thể nói như thế về ân điển của Đức Chúa Trời, tình yêu thương, sự nhơn từ, sự tử tế của Ngài còn mãi cho đến đời đời!

Chúng ta có thể xác định lòng thương xót của Đức Chúa Trời, như chúng ta đã xác định, khi Đức Chúa Trời cầm giữ lại những gì chúng ta đáng phải chịu – chúng ta đáng phải chịu lấy địa ngục; chúng ta đáng phải chịu lấy sự công bình của Đức Chúa Trời vô chừng vô đổi; chúng ta thậm chí không đáng được sống trên đất nầy, không được ban cho quyền quản trị và điều khiển đất; chúng ta đáng phải đi thẳng vào một địa ngục đời đời – thế nhưng lòng thương xót của Đức Chúa Trời là Ngài đang cầm giữ lại những gì mà chỉ có chúng ta đáng phải chịu. Nếu đó là lòng thương xót của Đức Chúa Trời, ân điển của Đức Chúa Trời là sự Ngài ban cho những gì chúng ta không đáng được. Lòng thương xót của Ngài đang cầm giữ lại những gì đáng thuộc về chúng ta, ân điển của Ngài là ban cho chúng ta những gì chúng ta không đáng được. Thực thế, J.M. Darby đã nói như vầy: 'Ân điển là lớn lao nơi phần của Đấng ban nó ra, và thương xót là lớn lao nơi phần của kẻ nhận lãnh ơn ấy' – và nầy, ơn ấy là lớn lao, có phải không!?! Lòng thương xót rời rộng! Ân điển lớn lao của Đức Chúa Trời chúng ta!

Quí vị sẽ lấy làm ngạc nhiên tại sao cả thế giới lại chối bỏ ân điển ấy. Thực thế, là những người tin Chúa, khi chúng ta bước đi trong chuyến lữ hành của mình trên đất, có nhiều lúc rất khó cho chúng ta phải chấp nhận ân điển của Đức Chúa Trời cùng mọi sự ơn ấy tỏ ra. Nếu tôi có thể phác hoạ ra ơn ấy cho quí vị theo cách nầy: nếu quí vị tưởng tượng quí vị bị Nữ Hoàng oai nghi kia mời đến cung điện. Bà ấy đưa quí vị vào trong cung điện dự một bữa tiệc lớn, và quí vị được ngồi ở một cái bàn đầy dẫy với khô lân chả phụng. Bà ấy, cùng cung điện, tôi tớ của bà ấy, đã thực hiện mọi nổ lực để cho quí vị tận hưởng thì giờ đó trước sự hiện diện của bà ta. Quí vị có một khoảng thời gian thật là tuyệt vời, và khi quí vị rời khỏi cung điện, Nữ Hoàng ra đứng nơi cửa để chào tạm biệt quí vị – và quí vị phải làm gì đây? Quí vị tra tay mình vài túi rồi moi hết trong đó ra, rồi khi quí vị đi ngang qua bà ấy, quí vị ấn vào lòng bàn tay bà ấy một đồng tiền – và quí vị nghe câu nói: 'Bây giờ cảm ơn bệ hạ rất nhiều vì sự tử tế của bệ hạ, tôi đã vui hưởng sự tử tế ấy và tôi biết bệ hạ phải tốn kém rất nhiều qua những việc làm ở đây, và tôi muốn giúp bệ hạ một ít vì sự tử tế mà bệ hạ đã đối cùng tôi'. Bây giờ, phải nói sao về việc nầy? Tôi nghĩ theo nghi thức hoàng gia thì đây là một sự nhục mạ với cấp độ rất cao! 'Ân điển của Bệ hạ', nếu quí vị thích, đưa một trong số thần dân bước vào sự hiện diện của bà, ân điển lưu xuất ra trên họ, và rồi họ cảm thấy buộc phải trả lại cho bà – đây là một sự nhục mạ đối với người ban cho!

Đây là nan đề mà nhiều người nam người nữ trên thế giới của chúng ta ngày nay, và thậm chí những người ở trong Hội Thánh nữa, đều có với ân điển của Đức Chúa Trời – thật là khó cho chúng ta nắm bắt và tiếp nhận ân điển ấy, tại sao? Vì bà lão kiêu ngạo đang ở trong hết thảy chúng ta! Tội lỗi, bà mẹ của mọi tội lỗi là sự kiêu ngạo, và chúng ta cảm nhận rằng chúng ta có việc phải làm với nó, chúng ta phải có một phần hành, chúng ta muốn góp phần – nhưng khi Đức Chúa Trời đến với chúng ta và Ngài kềm giữ cơn thạnh nộ bằng sự thương xót, và Ngài ban ra ân điển Ngài trong sự giàu ơn của Ngài, chúng ta thấy khó mà nắm bắt được, có phải không?

Tôi muốn trình bày về ân điển cho quí vị thấy từ 3 bối cảnh. Thứ nhứt là ân điển trong quá khứ, thứ hai là ân điển trong hiện tại, và thứ ba là ân điển trong tương lai. Chúng ta hãy xét qua phần thứ nhứt: ân điển trong quá khứ. Thư tín Êphêsô xử lý hoàn toàn cá biệt với đề tài cứu rỗi, có phải không? Và chúng ta thấy, ngay phần đầu của sách nầy, ơn cứu ấy là ơn cứu của ân điển. Ơn ấy khởi sự với ân điển – tại sao vậy? Vì ơn cứu rỗi khởi sự với Đức Chúa Trời – ơn ấy rất quan trọng cho chúng ta phải để ý tới trong thời buổi và kỷ nguyên nầy mà chúng ta đang sống trong đó, ở đó con người hầu như được ban cho mọi quyền hạn về chính linh hồn mình. I Phierơ 5 cho chúng ta biết: 'Đức Chúa Trời ban mọi ơn' – ơn cứu rỗi thuộc về Đức Giêhôva, rồi vì lẽ đó ơn cứu rỗi thuộc về Chúa của mọi ơn. Ngay cả Ngài phán về chính mình Ngài: 'Ta rất giàu ơn, Ta sẽ rất giàu ơn'.

Một trong những lý do tại sao con người ngày nay thấy khó nắm bắt được sự giàu ơn của Đức Chúa Trời là vì họ không tìm được những lẽ thật nhất định mà họ cần phải tìm làm nền tảng để thưởng thức ân điển của Đức Chúa Trời. Điểm thứ nhứt là đây: tình trạng đạo đức của con người. Con người ngày nay thấy khó chấp nhận từ ngữ “Đức Chúa Trời”, hết thảy mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, chẳng có điều chi khác biệt hết, chẳng có một điều nào hết, rằng mọi người không làm chi được dưới tội lỗi. Vì cớ đó, con người – và ngay cả một số tín đồ – tìm cách bù đắp, che đậy những sự bất toàn của họ và sự hụt mất ân điển của Đức Chúa Trời. Quí vị thấy đấy, quí vị phải nhìn nhận rằng quí vị là một tội nhân đáng chết, đáng hư mất là dường nào.

"Con người ngày nay thấy chấp nhận Lời của Đức Chúa Trời là một việc rất khó, rằng mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, rằng chẳng có một khác biệt nào hết, chẳng một điều nào hết, hết thảy đều ngã chết dưới tội lỗi ".
Việc thứ hai ra từ trạng huống đó chính là hậu quả của tội lỗi: vì tiền công của tội lỗi là sự chết. Thế nhưng cuộc sống hôm nay, nói chung trên khắp thế giới của chúng ta và đặc biệt là ở phương Tây, đã mất đi quan niệm về sự công bình. Họ đã đánh mất ý niệm về sự hình phạt, mà hình phạt là rất cần thiết – thậm chí trong gia đình, chúng ta đã nhìn thấy trong thời buổi gần đây thôi, kỷ luật đã bị bỏ lơ! Vì lẽ đó, khi phải đến với Đức Chúa Trời, chẳng thấy cần thiết gì để cho Đức Chúa Trời hình phạt tội lỗi và Đức Chúa Trời sẽ trục xuất tội lỗi ra khỏi Ngài. Nhưng Lời Đức Chúa Trời dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời thăm viếng tội lỗi đối với kẻ bứt phá luật pháp, và Đức Chúa Trời đến với người đó với cơn thạnh nộ của Ngài vì cớ tội lỗi của người.

Vì vậy, có tình trạng đạo đức của con người, có hậu quả của tội lỗi, nhưng thứ ba, có sự bất lực của con người về mặt thuộc linh. Hầu như con người – và tôi nói con người hầu như – có khả năng làm bất cứ gì trong kỷ nguyên chúng ta đang sinh sống đây! Vì lẽ đó con người cứ say sưa bởi tầm quan trọng của họ, và tôi tin với nhiều ước muốn con người cảm thấy rằng mình có thể với tới Đức Chúa Trời theo ý riêng mình, người ta có thể lấp lỗ hỗng giữa Đức Chúa Trời và con người đã được hình thành bởi tội lỗi của con người. Thế nhưng sự thực của vấn đề là đây: không một người nào có thể vá víu được mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời – và không bao lâu nữa người nam người nữ, và người tin Chúa, nhận ra tình trạng đạo đức của họ trước mặt một Đức Chúa Trời thánh khiết, nhận ra hậu quả của địa vị tội nhân của họ, và cũng nhận ra rằng họ bất lực không vá được lỗ hỗng bắc ngang giữa họ và Đức Chúa Trời, khi ấy họ mới ở trên bước thứ nhứt đến với ân điển của Đức Chúa Trời! Toplady đã đúng khi ông nói:

'Mọi việc làm của tay tôi
Không thể phu phỉ mọi đòi hỏi của luật pháp Ngài.
Lòng sốt sắng của tôi không thể ngăn được,
Những giọt lệ thôi tuôn tràn,
Vì tội lỗi không thể chuộc được -
Ngài phải ra tay cứu và chỉ một mình Ngài thôi!'

Chúng ta đã học biết rằng Đức Chúa Trời không những tha tội – điều đó làm cho một số người quen biết quí vị phải lấy làm kinh ngạc, vì Đức Chúa Trời là Đấng cao cả không chỉ quét sạch tội lỗi thôi đâu. Hôm nay tôi nói điều nầy cho quí vị, khi chúng ta nhìn xem ân điển của Đức Chúa Trời, dù ân điển Đức Chúa Trời không những quét sạch vầng mây xám tội lỗi! Vì ân điển của Đức Chúa Trời không thể tách rời ra khỏi sự công bình của Ngài – và hãy lắng nghe điều nầy – ân điển của Đức Chúa Trời không thể tách rời ra khỏi thập tự giá của Ngài! Tội lỗi phải bị hình phạt, và cái điều kỳ diệu - Halêlugia vì cớ Chiên Con! – ấy là Chiên Con của Đức Chúa Trời cất bỏ tội lỗi của thế gian đi, sự công bình của Đức Chúa Trời có thể đặt trên Chiên Con của Đức Chúa Trời, và sự công bình của Đức Chúa Trời có thể được đặt trên con cái của Đức Chúa Trời! Cái giá của ân điển Đức Chúa Trời là cho chính mình Đức Chúa Trời. Ân điển đến, phải đến từ những chỗ sâu thẳm của mọi thuộc tính thiêng liêng và sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta đừng bao giờ quên rằng ống dẫn của ân điển Ngài tuôn tràn ra nơi Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá, và Chúa đã sống lại!

Ồ, há đấy chẳng phải là lẽ đạo có trong bài giảng của Phaolô xuyên suốt các thơ tín của Ngài, như chúng ta đã đọc ở Êphêsô 1: 'Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo' – theo cái gì cơ chứ? - 'sự dư dật của ân điển Ngài!' Quí vị có thể tách ân điển của Đức Chúa Trời ra khỏi Đấng bị đóng đinh trên thập tự giá của Đức Chúa Trời, và đấy là những gì thế gian đang nổ lực làm ngày hôm nay, có phải không? 'Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời yêu thương. Đức Chúa Trời sẽ không để cho ai phải đi địa ngục – nếu quí vị thờ lạy Đức Chúa Trời, và quí vị nhìn xem Ngài, và sống một đời sống đạo đức' - Không! Đức Chúa Trời không thể bị tách ra khỏi Đấng Christ của Đồi Gôgôtha! Trong Giăng 1 và câu 17 chúng ta đọc: 'Vì luật pháp đã ban cho Môi-se, còn ơn và lẽ thật bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà đến'. Tít nói: 'Vả, ân điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người, đã được bày tỏ ra rồi' - halêlugia vì cớ Đức Chúa Jêsus Christ, là ân điển của Đức Chúa Trời!

Quí vị có thể nhìn thấy Ngài trong Cựu Ước – há chẳng kỳ diệu sao khi suy nghĩ; phải, Cựu Ước là một sách luật, tất nhiên là như thế rồi - nhưng Cựu Ước cũng là một cánh cửa của ân điển nữa. Quí vị có thể nhìn thấy ân điển ấy trong đời sống của Nôê, Nôê đã tìm được ân điển nơi ánh mắt của Đức Giêhôva. Kinh Thánh nói về Môise: 'Ngươi được ơn trước mặt ta' - Đức Chúa Trời luôn luôn là một Đức Chúa Trời giàu ơn, Đức Chúa Trời không thể hiện hữu mà thiếu mất ân điển Ngài, giống như mặt trời phải chiếu sáng ra, Đức Chúa Trời phải tỏ ra ân điển bất cứ lúc nào. Nếu không có ân điển trong Cựu Ước quí vị sẽ không có Ápraham, là bạn hữu của Đức Chúa Trời. Quí vị sẽ không có David, người vừa lòng Đức Chúa Trời. Quí vị sẽ không có Samuên, là người có thể nghe được tiếng phán của Đức Chúa Trời; Êsai, là người nhìn thấy Chúa ở trên cao; và Đaniên, là người hướng mặt mình nhìn về Đức Chúa Trời ba lần một ngày. Nếu quí vị không có ân điển của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước, Hêbơrơ 11 sẽ thành ra trống không! Nhưng halêlugia, chẳng có một người nào đã hay sẽ được cứu mà chẳng có ân điển của Đức Chúa Trời. Từ Abên cho tới bây giờ, bất cứ lúc nào ân điển được thấy có nơi bất kỳ con người nào, ấy là bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà thôi – tất nhiên, ân điển và lẽ thật đều đến bởi Chúa Jêsus, ấy là do Ngài là chiên con đã bị giết từ khi sáng thế. Những ai đã thờ lạy trong xã hội xưa qua các lời hứa, qua những sự dạy khuôn mẫu và qua các hình ảnh có tính tiên tri cùng mọi của lễ hy sinh mà họ đã dâng hiến – lẽ nào các sự ấy không chỉ về Đấng Christ của Đồi Gôgôtha sao? Bộ họ chẳng nhìn về phía Ngài sao? Và người nào đến với Ngài đều đã được cứu, họ đang nhìn lại thập tự giá, nhưng cả thảy họ đều đã được cứu bởi ân điển Ngài! Mọi sự đã có, đều có qua ân điển ấy.
"Trong một thế giới mà mọi sự đều có những mấu chốt và các quy định, chúng ta truy tìm phiên bản nhỏ – và bất cứ điều chi nghe giống như ân điển của Đức Chúa Trời miễn phí, không đáng được', chúng ta nói: Phải có một mấu chốt trong đó! Không thể thật như thế đâu!"
Thật là khó chấp nhận cho chúng ta, thậm chí khi là một người tin Chúa – nếu tôi có thể làm sáng tỏ vấn đề nầy cho quí vị theo một cách khác. Tôi nhớ cùng đi với Barbara vào một nhà hàng ngày nọ. Có thể điều nầy đã xảy ra cho quí vị: quí vị đang ngồi ở đó và nhìn thấy ai đó mà quí vị quen biết đi ngang qua phòng, và quí vị vẫy tay chào họ. Điều nầy đã xảy ra, rồi sau khi dùng bữa xong, họ đến bên chúng tôi rồi nói ba điều bốn chuyện, rồi họ trở về nhà và chúng tôi chẳng nghĩ ngợi gì thêm nữa. Sau khi ăn xong, chúng tôi đi trả tiền, và cô ngồi sau quầy nói: 'Hoá đơn đã có người trả rồi' – giờ đây có thể sự việc nầy không xảy ra cho quí vị, nhưng nó đã xảy ra cho tôi bây giờ và một lần nữa! Hoá đơn đã có người trả rồi! Giờ đây, có một hỗn hợp cảm xúc, có phải không? Quí vị cảm thấy: 'Nầy, việc kỳ diệu quá há!', nhưng đối với nhiều người trong số quí vị – và quí vị biết rõ tôi đang nói cái gì – sâu lắng bên trong quí vị, quí vị đang suy nghĩ: 'Hoá đơn đã được trả rồi à? Thôi được, tôi không thể để tiền boa sao?'. Khi ấy quí vị cảm thấy mình đang đi về nhà, gọi điện cho người ấy rồi nói: 'Nầy, ông không cần biết cái gì khác hết, việc hay quá há' – nhưng quí vị biết đấy, chúng ta cảm thấy mình phải làm một việc gì đó. Và khi chúng ta vắt óc suy nghĩ về chúng ta phải hồi trả lại như thế nào đây, chúng ta phải mua một tấm thiệp, hay gửi cho ông ấy một món quà hay cái gì đó tương tự – và chúng ta thấy thật khó phải làm một việc gì đối với điều mà chúng ta đã nhận lãnh!

Làm như thế há chẳng phải lẽ sao? Trong một thế giới mà mọi sự đều có mấu chốt và quy định, chúng ta tìm kiếm một phiên bản nhỏ – và bất cứ điều chi nghe giống như 'ân điển của Đức Chúa Trời là miễn phí, dành cho người không đáng được', chúng ta nói: 'Phải có một mấu chốt trong đó! Không thể thật như thế đâu! Không đơn giản như thế được, phải có cái gì đó chứ'. Còn Phaolô, ông nói: 'Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời - Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình'. Giống như dầu và nước không trộn lẫn với nhau được, đức tin và việc làm cũng y như vậy. Thật khó chấp nhận được, còn khó hơn nữa là chấp nhận Đức Chúa Trời là đời đời, Đức Chúa Trời là vô hạn, ân điển của Đức Chúa Trời là đời đời, ân điển Ngài là vô hạn – quí vị không thể lường được ân điển của Ngài, quí vị không thể giới hạn được ân điển của Ngài, quí vị không thể được ân điển ấy. Làm cách nào quí vị hiểu được? Quí vị không thể hiểu được một ân điển bao la như đại dương – không thể hiểu được! Phương thức duy nhứt chúng ta có được một cú nắm bắt ân điển nầy quả thực giống với cái gì, ấy là sánh ân điển của Đức Chúa Trời với nhu cần lớn lao của chúng ta. Đấy là lý do tại sao tôi đi qua ba điểm nầy: về tình trạng đạo đức của con người, về các hậu quả của tội lỗi chúng ta, về tình trạng bất lực về mặt thuộc linh của con người – vì nếu như quí vị không hiểu được nhu cần lớn lao của mình, quí vị sẽ không bao giờ kinh nghiệm được sự tán thưởng ân điển cao trọng của Đức Chúa Trời.

Chắc chắn chúng ta không nắm bắt được tầm cở gian ác của tội lỗi chúng ta, chúng ta không thể dò được chúng ta thuộc hạng tội nhân tồi tệ như thế nào – nhưng đúng là một phép lạ chúng ta có thể biết được: ở đâu tội lỗi gia thêm thì ân điển càng dư dật nhiều hơn! Giờ đây hãy suy nghĩ về điều nầy trong một phút: cho tới ngày quí vị qua đời, hoặc Chúa Jêsus tái lâm hay kêu gọi chúng ta, chúng ta sẽ phạm vào một số tội lỗi nào đó. Bây giờ, quí vị hay tôi không thể nghĩ tới con số đó được – có thể đó là một con số lớn lao hơn chúng ta có thể đếm được nữa – nhưng chắc chắn đó là con số tội lỗi mà chúng ta đã phạm, nó không thể dò được, thực sự chúng ta không thể hiểu nổi. Nếu quí vị muốn, đấy là cách tội lỗi ràng rịt trong đời sống chúng ta. Còn ân điển của Đức Chúa Trời không thể dò lường được, ân điển của Đức Chúa Trời hiện hữu đời đời vì Đức Chúa Trời là đời đời – sẽ không có số lần Đức Chúa Trời ban ơn điển rời rộng cho quí vị đâu, và đó chính là ý nghĩa của câu mói: 'nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa'!

Ân điển là một cái giá rất lớn...vì chúng ta thấy Chúa Jêsus, bởi ân điển Đức Chúa Trời đã nếm sự chết cho mỗi một con người. Quí vị có nhớ Manase không? Quí vị có nhớ ông ta không? Quí vị đã đọc về ông ta rồi, nếu quí vị chưa đọc về ông ta, trong Cựu Ước – ông ta là một con quái vật! Những việc mà ông ta đã làm, sự thô bỉ mà ông ta đã bày ra cho chính con cái của ông ta – ông ta đã đưa, đã dâng chúng cho lửa! Kinh thánh chép ông ta đã làm cho thành Jerusalem đầy dẫy với huyết vô tội, ông ta đã làm cho toàn bộ xã hội khi ấy thành một nơi rất tồi tệ - Đức Chúa Trời phán – thậm chí còn hơn cả các nước theo tà giáo xung quanh chưa từng nhìn biết Đức Chúa Trời. Dù vậy, khi quí vị đọc câu chuyện nói về Manase, quí vị thấy rằng ở cuối cuộc đời sa đoạ của ông ta Đức Chúa Trời đã tỏ ra ân điển!

Phaolô. Một kẻ giết người, một tay phạm thượng, đã đi theo đường riêng mình, thở ra những hơi đe doạ và giết chóc, ông ta đến thành Đamách để đóng đinh những Cơ đốc nhân trên cây thập tự – hãy hình dung điều nầy xem! Từ những chỗ sâu thẳm, Chúa phán, bởi sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra – và miệng ông nói ra điều gì? Những lời phạm thượng, những lời lẽ giết người, đe doạ – thế mà Đức Chúa Trời, ồ, ân điển của Đức Chúa Trời - Đức Chúa Trời có thể gặp gỡ một con người thế ấy, và Đức Chúa Trời có thể xây ông ta một vòng bởi ân điển của Ngài, và ông ta có thể trở thành nhà tuận đạo cao thượng nhất và là vị sứ đồ hiển hách nhất từng sinh sống.

Còn về người thành Côrinhtô thì sao? Chắc chắn 'Côrinhtô' là một tục ngữ, chữ nầy giống như một câu châm ngôn vậy, một cái tên riêng nói tới từng loại sa đoạ, phi đạo đức. Họ đã dầm mình trong tội ác gớm ghiếc và sự bất công quá đỗi – thế mà Phaolô nói về họ trong sách Côrinhtô: 'Trước kia anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế…thì anh em được rửa sạch, được nên thánh, được xưng công bình rồi'! Ồ, đó là ân điển của Đức Chúa Trời – quí vị có biết lý do tại sao không? Vì ân điển của Đức Chúa Trời khởi sự với Đức Chúa Trời – cái gì là bất khả thi đối với loài người là khả thi đối với Đức Chúa Trời, và khả thi đối với ân điển của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là Đấng khởi xướng, Đức Chúa Trời là Đấng không nương theo chúng ta, Đức Chúa Trời là Đấng – ở trong vườn, trong ân điển của Ngài – đã ngăn trở Ađam và Êva không được ăn trái của cây sự sống, e họ sẽ sống đời đời dưới sự chết và sự phán xét tội lỗi. Ân điển của Đức Chúa Trời đã giết một con thú rồi che phủ sự trần truồng của họ ở trong vườn bằng cách đổ huyết ra. Ân điển của Đức Chúa Trời ở trong Sáng thế ký 3 đã hứa với họ một Đấng Cứu Tinh, một Đấng Cứu Chuộc, và một Đấng Cứu Thế.

"Hỡi Cơ đốc nhân, nếu quí vị chưa cảm thấy mình đã nên thánh hôm nay, nơi tội lỗi gia thêm trong đời sống quí vị, ân điển sẽ dư dật hôm nay. Ân điển của Đức Chúa Trời có thể thắng hơn tội lỗi của quí vị, ân điển có thể thắng hơn mọi tái phạm của quí vị, ân điển có thể làm cho quí vị được nên thánh ở chỗ đầy dẫy nhất".
Ồ, đúng là ân điển – và quả có một sự rủa sả giáng trên những kẻ nào không rao giảng tin lành nói về ân điển mà chúng ta đã thấy được viết ra trong sách Galati. Nhưng rất ngạc nhiên khi biết được rằng, vì cớ sự chết chuộc tội ở Đồi Gôgôtha – hãy suy nghĩ về sự chết ấy xem – bây giờ chúng ta có thể tiếp cận ngôi vườn mà chúng ta từng bị trục xuất ra khỏi đó, không có có gươm lưỡi chói loà nữa, người con hoang đàng có thể trở về nhà như một người con của ân điển – để được cứu, từ khởi hành đến đích, mọi sự đều thuộc về ân điển tất. Đúng là một sứ điệp quan trọng cần phải được rao giảng sáng hôm nay!

Đó là ân điển trong quá khứ, và tôi tin rằng quí vị đã nhận biết ân điển ấy – và nếu quí vị chưa nhìn biết, quí vị cần phải nhìn biết ân điển ấy trong lúc bây giờ! Thứ hai, có ân điển trong hiện tại, vì ơn cứu rỗi không ngăn chận ngày và giờ quí vị được cứu. Ơn cứu rỗi cứ tiếp tục trong ân điển. Giacơ nói cho chúng ta biết, chương 4 và [câu] 6: 'nhưng Ngài [Đức Chúa Trời] lại ban cho ta ơn lớn hơn nữa. Vì vậy, Kinh Thánh chép rằng: Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường' – giờ đây nói như thế không có nghĩa là Đức Chúa Trời ban thêm ân điển cho một số tội nhân hơn những người khác hầu cho họ được cứu đâu. Đây không phải là ý của câu nói đó, mà câu nói đó có ý nói rằng Đức Chúa Trời ban ân điển cho hết thảy con cái của Ngài, Ngài cung ứng ân điển mà họ đang có cần. Tôi đang nói về cái gì thế? Tôi không nói về ân điển cứu rỗi đâu, tôi đang nói về ân điển làm nên thánh và ân điển đủ cho sự chịu khổ của chúng ta. Quí vị có thể tóm tắt bằng từ ngữ 'làm cho vững vàng' – ân điển làm cho vững vàng. Tôi có thể yêu cầu quí vị sáng nay, hỡi người tin Chúa, quí vị có biết điều gì về ân điển làm nên thánh nầy chăng? Tất nhiên là quí vị biết rồi – nhưng có phải quí vị bước đi trong sự hiểu biết ân điển ấy mọi ngày trong đời sống của quí vị không?

Khi chúng ta xem qua Êphêsô 1, chúng ta thấy ở đó về sự định trước đối với sự nên thánh, có phải không? Đấy là lý do Đức Chúa Trời cứu chúng ta, không những cứu chúng ta ra khỏi địa ngục, mà còn làm cho chúng ta nên thánh nữa, làm cho chúng ta ra giống như Con thiêng liêng của Ngài – để chúng ta được biến đổi ra giống theo ảnh tượng Ngài. Ngài cứu chúng ta để Ngài có thể khởi sự công việc đó, trừ phi Ngài dư dật ân điển trên chúng ta, mỗi ngày ở đây, hầu cho chúng ta trở nên giống như Ngài. Thật là tuyệt vời khi biết rằng ân điển của Đức Chúa Trời có thể cứu chúng ta có thể giữ gìn chúng ta, có phải không? Thật là quan trọng cho tôi khi thức dậy vào buổi sáng rồi biết rằng số phận của mình ở trên trời chẳng có gì phải lo làm với chỗ tôi sống tốt như thế nào hôm nay. Như thế há chẳng kỳ diệu sao? Nhận biết rằng ân điển của Đức Chúa Trời không những có quyền giữ tôi không phạm tội, làm nên thánh tôi về mặt địa vị, mà còn khiến cho tôi biết sẵn sàng cho thiên đàng hết ngày nầy sang ngày khác, giống như Ngài thay đổi tôi ra giống theo ảnh tượng của Con Ngài vậy – có phải Ngài đang gìn giữ quí vị không? Tất nhiên là thế rồi – nhưng quí vị có biết rõ như thế không? Có phải quí vị biết rõ về sự bảo đảm rằng Chúa Jêsus đang vận hành trong quí vị từng ngày một không, Ngài đang thay đổi quí vị đấy! Phaolô đã nói trong thơ Côrinhtô: 'Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em đủ mọi thứ ơn đầy dẫy, hầu cho anh em hằng đủ điều cần dùng trong mọi sự, lại còn có rời rộng nữa để làm các thứ việc lành'. Có phải quí vị rời rộng trong các việc lành không? Những việc lành không cứu quí vị đâu, nhưng nếu quí vị không có những việc lành làm những cơ hội quí vị không được cứu đâu! Vì đức tin không có việc lành là đức tin chết! Nhưng kỳ diệu thay khi biết Đức Chúa Trời không lìa bỏ chúng ta và phán: 'Ngươi được cứu ngay bây giờ, ngươi cứ tiến lên phía trước và thử hết sức mình làm việc lành đi' - Đức Chúa Trời cứu chúng ta bởi ân điển, Ngài gìn giữ chúng ta bởi ân điển, Ngài ban cho chúng ta đủ mọi thứ ơn đầy dẫy, trong mọi sự, để chúng ta có thể rời rộng nữa!

Ở đâu tội lỗi gia thêm, ở đó ân điển dư dật. Hỡi Cơ đốc nhân, nếu quí vị chưa cảm thấy mình được nên thánh hôm nay, ở đâu tội lỗi gia thêm trong đời sống của quí vị, ân điển có thể dư dật hôm nay. Ân điển của Đức Chúa Trời có thể thắng hơn tội lỗi của quí vị, ân điển có thể thắng hơn mọi tái phạm của quí vị, ân điển có thể làm nên thánh quí vị với đủ mọi thứ ơn. Đấy là lý do tại sao Phierơ nói rằng chúng ta cần phải tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa chúng ta là Đức Chúa Giêxu Christ – có phải quí vị đang tấn tới không? Có phải thế không? Quí vị đang tấn tới trong ân điển làm nên thánh, có phải không?

Ân điển ấy cũng đủ cho sự chịu khổ nữa. Chúng ta không đủ thời gian để đọc hết, nhưng trong 2 Côrinhtô chương 12 các câu 7 đến 9, Phaolô nói cho chúng ta biết rằng vì cớ nhiều sự khải thị mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông, Đức Chúa Trời cũng cho phép ông bị một cái dằm xóc trong xác thịt. Phaolô cho chúng ta biết rằng ba lần ông cầu nguyện với Chúa xin Ngài cất nó đi, nhưng Chúa lại nói với ông như vầy: 'Ân điển ta đủ cho ngươi rồi'. Giờ đây chúng ta có thể thốt ra câu nói đó – vì câu nói ấy rất nổi tiếng – mà chẳng cần phải nhìn biết ý nghĩa của nó. Đức Chúa Trời đang phán: 'Có một ân điển đủ cho ngươi, trong sự ngươi chịu khổ, để làm cho ngươi vững vàng vì gánh nặng của cuộc sống'. Gánh nặng của quí vị là gì? Đó là gánh nặng lớn hơn quí vị từng nhìn biết nữa – quí vị tưởng gánh nặng nầy sẽ không xảy đến cho quí vị. Quí vị tưởng những điều quí vị đang nếm trải sẽ xảy ra cho ai đó kìa, nó đã được ghi ra trong sổ nhật ký của quí vị rồi, không phải cho quí vị – mà cơn ác mộng của quí vị đã xảy ra! Phải chăng ân điển của Đức Chúa Trời chưa đủ cho quí vị sao? Tôi không đánh giá thấp mọi điều quí vị đang nếm trải, nhưng liệu Đức Chúa Trời chưa nói rằng ân điển Ngài đã đủ rồi chăng? Phải chăng Đức Chúa Trời chưa nói cho chúng ta biết bằng lời đáng tin của Ngài, rằng Ngài sẽ ban cho chúng ta những gì chúng ta cần trong lúc chúng ta đang có cần? Khi công việc của chúng ta là khó nhọc, khi chúng ta đang gánh chịu đau khổ, khi chúng ta đang ở trong chiến trận thuộc linh với tất cả bè lũ của địa ngục, kẻ thù, khi chúng ta nếm trải mọi thử thách của cuộc sống và trong tình trạng yếu đuối cả về xác thể lẫn tâm linh - liệu Đức Chúa Trời chưa nói ân điển là đủ rồi hay sao? Phải chăng Đức Chúa Trời chưa nói: 'Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối' sao?

Có một bài thơ mà tôi rất thích, do Annie Johnson-Flint viết, và bài thơ ấy tự luận như sau, hãy lắng nghe:

'Ngài ban ra ân điển dư dật
khi gánh nặng càng tăng thêm,
Ngài cung ứng cho sức lực khi việc làm gia tăng.
Ngài thêm ơn thương xót khi khổ đau chồng chất,
Thử thách thêm lên, sự bình an Ngài cũng dồi dào.
Khi chúng ta dùng hết kho nhịn nhục của mình,
Khi sức lực chúng ta dùng hết
khi mới chỉ có nửa ngày,
[Khi chúng ta đến chỗ tận cùng năng lực
mà chúng ta chất chứa],
Cha chúng ta sẽ ban cho đầy đủ như mới bắt đầu,
Tình yêu Ngài không có giới hạn,
ân sũng Ngài không thể đo được,
Người ta không biết được giới hạn
của quyền phép Ngài,
Lưu xuất ra từ sự giàu có vô hạn của Ngài
trong Chúa Jêsus,
Ngài ban cho, ban cho, và ban cho mãi'.

Sau cùng, có ân điển trong tương lai nữa. Đó là ân điển hoàn tất mọi sự, tráng lớp kem lên chiếc bánh ngọt. Quí vị có biết mình đang sở hữu sự sống đời đời không? Người ta nghĩ rằng quí vị chưa nhận lãnh sự sống đời đời cho tới chừng quí vị qua đời, và quí vị đến tại hai cánh cỗng rồi có ai đó trao cho quí vị một cái túi, và nói: 'Bây giờ, hãy khoác cái túi lên đi, đó là sự sống đời đời' – chúng ta hiện đang có sự sống đời đời! Chúa Jêsus phán: 'Ta ban cho chiên ta sự sống đời đời, nó chẳng hư mất bao giờ, chẳng ai có thể cướp nó khỏi tay ta'. Chúng ta đã được bảo đảm, nhà thơ nói:

'Chạm trên bảng đồng đời đời,
lời hứa toàn năng rực sáng,
Quyền lực của sự tối tăm
không thể xoá đi những dòng chữ đời đời đó'.

Chúng ta đã được cứu và được cứu cho đến đời đời! Hỡi người tin Chúa, đây là câu hỏi tôi dành cho quí vị: sau khi xem xét ân điển trong quá khứ của Đức Chúa Trời đã cứu quí vị, ân điển trong hiện tại của Đức Chúa Trời đang gìn giữ quí vị, và ân điển trong tương lai của Đức Chúa Trời sẽ đưa quí vị đến với sự vinh hiển – có phải quí vị đang nương trên ân điển ấy không? Có phải quí vị đang sống trong ân điển của Đức Chúa Trời? Hay có phải quí vị đang phấn đấu, có phải quí vị đang gắng sức theo xác thịt hay theo các việc lành riêng của mình, để sống đời sống Cơ đốc? Tôi tin là có nhiều người đang sống như thế, họ đang gắng sức để sống, họ đang nổ lực để cầu nguyện, họ đang ra sức làm chứng, gắng sức để hiểu biết Lời của Đức Chúa Trời – và họ đã được cứu bởi ân điển, nhưng giờ đây họ đang cố gắng bởi việc làm để sống đời sống Cơ đốc! Và bất cứ khi nào quí vị nghe thấy từ 'gắng sức', hãy tỉnh thức! Quí vị thấy đấy, đó là cái bẫy mà người thành Galati đã sa vào và Phaolô đã phải dùng lời lẽ mạnh mẽ nói với họ: 'Hỡi người Ga-la-ti ngu muội kia, ai bùa ếm anh em là người mà trước mắt đã được rõ bày ra Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá? Tôi chỉ hỏi anh em một câu nầy: Ay là cậy các việc luật pháp hay là bởi nghe và tin mà anh em đã nhận được Đức Thánh Linh? Sao anh em ngu muội dường ấy? Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn?'. Quí vị có biết ông đang nói gì không? 'Quí vị đã được cứu bởi Thánh Linh, quí vị có nghĩ quí vị đang sống đời sống Cơ đốc nầy bằng xác thịt không?' – không được đâu, đời sống ấy không thể sống bởi xác thịt được đâu. Quí vị có biết đời sống ấy sống như thế nào không? Bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Đấy là lý do tại sao ông nói với họ, chương 5 và [câu] 1: 'Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hãy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa'. Như Newton đã nói: 'Đây là ân điển sẽ dẫn quí vị về tới quê hương an toàn'.

"Đó là ân điển của Đức Chúa Trời...ân điển của Đức Chúa Trời có thể nâng đỡ hạng tội nhân đáng chết, đáng ghét và nói: Tội lỗi ngươi đã được tha rồi'".
Chúng ta đang ở trong đền của David, ông và gia đình của mình vầy chung quanh ông sửa soạn dùng bữa tối. Các bức tường láng bóng với gỗ và đồng. Ông nhìn Ápsalôm với cái nhìn trìu mến, Tama với vẻ xinh đẹp của nàng, ông nhìn quanh họ cả thảy để biết chắc rằng họ đang có mặt đầy đủ ở đó – nhưng có sót một người. Thình lình sau tấm màn có tiếng 'cụp cụp, cụp cụp' - Mêphibôsết đang bước qua cánh cửa, ngồi xuống vào chỗ của mình, chiếc khăn ăn quàng ngang qua chân của anh ta. Đấy đúng là ân sũng của Đức Chúa Trời.

Xin phép được nói với quí vị, khi chúng ta kết thúc: có ân điển dành cho quí vị hôm nay mà chẳng có một ngọn núi nào cao hơn được. Có ân điển dành cho quí vị hôm nay mà chẳng có một vực sâu nào dò tới được. Có ân điển có thể phá vỡ vòng nô lệ lớn lao nhất mà con người từng quen biết, khi chẳng có một thứ gì có thể phá vỡ được trước đó – giống như con ngựa hoang đang chạy dọc theo bờ biển Ả rập, có ân điển có thể bẻ gãy cái lưng của một con thú hoang như thế trong đời sống của quí vị. Hãy suy nghĩ tới điều đó xem! Chẳng có điều chi quá khó cho Chúa mà ân điển không thể thuần hoá – ân điển của Đức Chúa Trời có thể trục xuất ma quỉ ra khỏi tấm lòng của quí vị, ân điển của Đức Chúa Trời có thể nói: 'Phải có sự sáng!'. Ân điển của Đức Chúa Trời có thể nhấc kẻ say xỉn ra khỏi chỗ cặn bã của xã hội, ân điển của Đức Chúa Trời có thể tước khẩu súng ra khỏi tay của kẻ giết người, ân điển của Đức Chúa Trời có thể biến người nữ của bóng đêm được thanh sạch và tẩy rửa hết mọi tội lỗi của nàng, rồi đóng đinh sự ô uế của nàng trên thập tự giá ở Đồi Gôgôtha và khiến nàng trở thành một nữ đồng trinh trong Chúa! Đó là ân điển của Đức Chúa Trời...ân điển của Đức Chúa Trời có thể nhấc bỗng tội nhân đáng chết, đáng ghét kia lên rồi nói: 'tội lỗi ngươi đã được tha rồi'.

Quí vị đang nói:
'Lạy Chúa, con cảm thấy
khuynh hướng xa cách Chúa.
Con ưa thích khuynh hướng lìa bỏ Đức Chúa Trời.
Ôi, xin bắt lấy tấm lòng con,
giữ lấy rồi đóng ấn trên nó,
Từ ngai của Ngài ở trên cao, hãy đóng ấn nó.
Ô, ân điển lớn lao dường bao cho một kẻ mắc nợ' – chẳng lẽ ngươi không phải là kẻ mắc nợ sao?
Con là kẻ mắc nợ
'Con sống gượng ép mỗi ngày' – mỗi ngày
'Nguyện sự nhơn từ Ngài, giống như gông xiềng,
Trói buộc tấm lòng lang thang của con vào Ngài'.

Chúng ta đã nghiên cứu qua ân điển trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Chúng ta hãy cúi đầu xuống, và chúng ta hết thảy đang có cần ân điển của Đức Chúa Trời, vì vậy lời kêu gọi nầy tôi đưa ra cho hết thảy quí vị. Có một sự lớn lao trong ơn thương xót của Đức Chúa Trời, giống như sự bao la của đại dương vậy – và nếu quí vị chỉ nhúng cái xô đức tin của mình vào múc trong đó, sẽ có dư dật để làm thoả mãn nhu cần của quí vị. Dư dật! Dù quí vị được cứu hay chưa được cứu, Đức Chúa Trời có thể làm thoả mãn nhu cần của quí vị ngay hôm nay – sao không cầu hỏi Ngài, bởi đức tin hãy tin cậy Ngài, vì Ngài có quyền.

Lạy Cha, chúng con cảm tạ Ngài vì Ngài là Đức Chúa Trời của ân điển, Đức Chúa Trời của lòng thương xót và tình yêu diệu kỳ. Lạy Chúa, chúng con chúc phước cho Ngài vì ân điển ấy đã cứu chúng con, ân điển sẽ đưa chúng con về quê hương, ân điển đang gìn giữ chúng con ngay trong giờ phút nầy – và cho tới ngày ấy khi chúng con nhìn xem mặt Ngài, chúng con sẽ kể lại câu chuyện: 'được cứu bởi ân điển'. Lạy Chúa, nguyện chúng con chạm đến ân điển đang sẵn có cho chúng con, và giờ đây chúng con dạn dĩ đến gần ngôi ơn phước để thấy rằng ân điển là thứ mà chúng con đang có cần trong lúc nầy. Hãy rãi ra ân điển Ngài trên hết thảy những cái đầu đã cúi xuống trong chốn nầy, và những kẻ chưa được cứu bởi ân điển – ấy là nhờ đức tin họ sẽ nhận lãnh từ nơi Chúa ngay hôm nay. Giờ đây, nguyện ân điển của Chúa đồng đi với chúng con, Amen.

***

"Sự nhân từ của Đức Chúa Trời"



Kìa, Đức Chúa Trời ngươi
"Sự nhân từ của Đức Chúa Trời"
Mục sư David Legge
"Trong ngày đó, khi Đức Chúa Giêxu Christ vén mây trời mà đến, Ngài đưa chúng ta về quê hương để ở với Ngài – Hội Thánh được mua bằng chính huyết Ngài mà Ngài đã chuộc – và khi chúng ta ngồi ở đó trên thiên đàng, chúng ta hát ngợi khen Ngài là Đấng đã chịu chết, chúng ta thờ phượng Chúa ở quanh ngôi lớn ấy, tôi tin rằng bài ca diệu kỳ nhất mà chúng ta đang có chính là bài ca tụng lòng nhân từ của Đức Chúa Trời".
Bây giờ, chúng ta cùng mở Kinh Thánh ra, trước tiên ở
Thi thiên 136 – rồi kế đó chúng ta cùng mở ra ở Êphêsô chương 2, nếu quí vị muốn tìm thấy phân đoạn Kinh Thánh ấy. Đây là bài nghiên cứu [thứ tám] trong loạt bài chúng ta nhắm về bổn tánh và các thuộc tính của Đức Chúa Trời vào các buổi sáng Chúa nhật, và sáng nay chúng ta sẽ xem xét tới lòng nhân từ của Đức Chúa Trời chúng ta – lòng nhân từ rời rộng của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Thi thiên mà tôi yêu cầu quí vị mở ra là một Thi thiên rất quen thuộc, rất đơn giản vì lòng nhân từ của Đức Chúa Trời xuyên thấu qua Thi thiên ấy giống như một sợi chỉ điều vậy – sau từng câu quí vị có một mệnh đề nầy: 'Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời'. Giờ đây, chúng ta sẽ không mất thì giờ để đọc toàn bộ Thi thiên, nhưng chúng ta hãy đọc một vài câu đầu tiên để tiếp thu ý định của tác giả Thi thiên nằm ở đàng sau lẽ đạo nầy.

Câu 1: "Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của các thần, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Hãy cảm tạ Chúa của muôn chúa; Vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Chỉ một mình Ngài làm nên các phép lạ lớn lao, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Ngài đã nhờ sự khôn sáng mà dựng nên các từng trời, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Ngài trương đất ra trên các nước, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Dựng nên những vì sáng lớn, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Mặt trời đặng cai trị ban ngày, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Mặt trăng và các ngôi sao đặng cai trị ban đêm, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Ngài đã đánh giết các con đầu lòng xứ Ê-díp-tô, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa chúng nó, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Dùng cánh tay quyền năng giơ thẳng ra, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Ngài phân Biển đỏ ra làm hai, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Khiến Y-sơ-ra-ên đi qua giữa biển ấy, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Xô Pha-ra-ôn và cả đạo binh người xuống Biển đỏ, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời".

Nghe như thế há chẳng thấy kỳ diệu sao? Êphêsô chương 2, lần nầy là Êphêsô chương 2 – và chúng ta đã nghiên cứu phân đoạn Kinh Thánh nầy rất sâu vào một tối thứ hai nọ, nhưng tôi muốn mắt của quí vị nhìn vào một câu đặc biệt trong cả phân đoạn nầy. Chúng ta đọc từ câu 1: "Còn anh em", Phaolô nói: "đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình: đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đang hành động trong các con bạn nghịch. Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác. Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu".

Trong ngày đó, khi Đức Chúa Giêxu Christ vén mây trời mà đến, Ngài đưa chúng ta về quê hương để ở với Ngài – Hội Thánh được mua bằng chính huyết Ngài mà Ngài đã chuộc – và khi chúng ta ngồi ở đó trên thiên đàng, chúng ta hát ngợi khen Ngài là Đấng đã chịu chết, chúng ta thờ phượng Chúa ở quanh ngôi lớn ấy, tôi tin rằng bài ca diệu kỳ nhất mà chúng ta đang có chính là bài ca tụng lòng nhân từ của Đức Chúa Trời. 'Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời', 'kheh lay o-lawm hastoh' – đây là câu nói theo tiếng Hy bá lai, đúng là bài ca ngợi khen của người Hêbơrơ: 'Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời, sự nhân từ Ngài còn đến đời đời'. Tôi không biết điều nầy có xảy ra hay chưa, song khi chúng ta ngồi trên thiên đàng, và khi chúng ta có một phút để suy gẫm bằng cách nào chúng ta tới được nơi ấy – lẽ nào lại không phải là sự nhân từ của Đức Chúa Trời sao? Lẽ nào câu nói đó không phải là bài hát ngợi khen mọi điều mà Đức Chúa Trời đã làm, trong sự thương xót chúng ta và trong sự động lòng thương xót chúng ta, xuất phát từ linh hồn chúng ta sao? Khi chúng ta nhũ lòng: 'Tôi có quyền gì để được sống ở đây?', và chúng ta nhũ lòng về sự loạn nghịch lớn lao mà hết thảy chúng ta đều có phần trong bổn tánh tội lỗi của mình - khi Lucifer bị đuổi ra khỏi thiên đàng và các quỉ sứ hắn đã bị giáng xuống, và khi Satan bước vào trong vườn, rồi con rắn quỉ quyệt, con người sa ngã, sự chết đến trên mọi người, rồi mọi người bị kết án phải ở dưới tội lỗi và chịu lấy sự chết – và khi chúng ta suy nghĩ, là chúng ta cùng dự tiệc đồng trị với Đức Chúa Trời rất cao ở trên trời...chúng ta đang có mặt trên thiên đàng với Ngài.

Phaolô nói: chúng ta đã chết trong quá phạm và tội lỗi mình. Trong quá khứ, chúng ta là những người đã đi theo đường lối của thế gian nầy, theo vua cầm quyền chốn không trung, theo thần hiện đang hành động trong các con bạn nghịch – giữa vòng họ hết thảy chúng ta đã có đường lối sống trong quá khứ chiều theo tư dục của xác thịt, làm trọn những điều ham muốn của xác thịt và lý trí; và tự nhiên là con cái của sự thạnh nộ! Những người thể ấy xứng đáng với mọi sự dày vò của địa ngục lại được vui hưởng mọi khoái lạc của thiên đàng. Những người đó, viễn cảnh của họ là những cuộc hành hình thật đau khổ trong hồ lửa Gehenna, giờ đây lại ngây ngất trong sự vinh hiển đời đời với Đức Chúa Trời và với Đấng Christ của Ngài cho đến đời đời – hết thảy đều nhờ vào sự nhân từ! Há chẳng kỳ diệu sao? Thật là kinh ngạc khi thấy ba lần trong Thi thiên 136, tác giả Thi thiên đang mời dân sự của Đức Chúa Trời dâng lời cảm tạ Chúa vì cớ sự nhân từ của Ngài. Đấy là những gì Thi thiên ấy bắt đầu, hãy xem Thi thiên ấy: 'Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”.
Chúng ta tin rằng Thi thiên nầy, có thể đã được ca hát bởi hai ca đoàn – có lẽ một trong hai ca đoàn gồm có các thầy tế lễ và người Lê vi, và ca đoàn kia gồm có thầy tế lễ thượng phẩm. Quí vị có thể tưởng tượng thầy tế lễ thượng phẩm đang cất tiếng hát: 'Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện ', và hội chúng các thầy tế lễ đông đảo kia đang hát đáp lại: 'Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời'. Có phải quí vị nghĩ chúng ta có thể làm như thế sáng nay không? Tôi sẽ nói phần [a], còn quí vị sẽ nói phần [b]: [Mục sư Legge:] 'Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện '...[Hội chúng:] 'Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời ' – mạnh mẽ như thế đó! Có phải quí vị tưởng tượng như thế không? Câu Kinh Thánh nầy thể nào đã dầm thấm vào tấm lòng của những tội nhân kia, họ đang nhìn xem chiên con chịu giết, thể nào Đức Chúa Trời – là Đấng đã giải cứu họ ra khỏi Ai cập – là nhân từ, và sự nhân từ Ngài còn đến đời đời! Và Thi thiên nầy, giống như một quyển Kinh Thánh đã được chèn sẵn làm dấu, đã dạy cho những người Israel biết đưa tư tưởng về sự nhân từ vinh hiển của Đức Chúa Trời vào trong đời sống của họ. Có ngạc nhiên chăng khi Joseph Adison nói ra điều nầy, khi ông viết bài thánh ca của mình:

'Ôi Đức Chúa Trời tôi ơi,
khi linh hồn phục sinh của tôi,
Suy gẫm về mọi sự nhân từ của Ngài.
Tôi xúc động lắm với nhận định mình đã bị hư mất
Trong nỗi kinh ngạc, kính sợ và ngợi khen'.

Sự nhân từ của Đức Chúa Trời là gì? Tôi muốn chúng ta nhìn xem sự nhân từ đó trước hết, khi đưa ra câu hỏi: sự nhân từ nầy là gì? Thứ hai: sự nhân từ của Đức Chúa Trời sẽ thấy được ở đâu? Và thứ ba: sự nhân từ của Đức Chúa Trời tạo ra điều khác biệt nào nơi quí vị? Vì vậy, trước tiên chúng ta hãy nhìn xem sự nhân từ của Đức Chúa Trời là gì đã! Nếu quí vị phải định nghĩa sự nhân từ, nó có nghĩa đơn giản là năng lực vô hạn, không hề cạn kiệt của Đức Chúa Trời. Đó là năng lực vô hạn, không hề cạn kiệt để động lòng thương xót! Sự nhân từ của Ngài là sự tỏ ra tình yêu thương của Ngài. Chúng ta suy nghĩ về tình yêu thương của Ngài cách đây hai tuần, phải, đây là cách tình yêu thương của Ngài tác động – đây là bộ máy, cánh tay yêu thương của Đức Chúa Trời chính là sự nhân từ Ngài. Đây là kết quả và là tác dụng của sự nhân từ Ngài – Đức Giêhôva là thiện: '...vì Ngài là thiện: sự nhân từ Ngài còn đến đời đời'. Sự nhân từ Ngài là sự thương xót, Ngài nhìn xem chúng ta và Ngài thương xót chúng ta. Sự nhân từ Ngài là khi Ngài nhìn xem tội nhân và Ngài thương xót kẻ phạm tội và hậu quả của tội lỗi, và Ngài yên ủi!

"Đức Chúa Trời, trong Kinh Thánh, trong sự mặc khải của Ngài về Ngài là ai, được chỉ ra nhiều trong sự thương xót hơn là trong sự thạnh nộ. Chắc chắn sự nhân từ của Đức Chúa Trời là sâu sắc hơn chiều sâu của cơn thạnh nộ và sự căm phẫn của Ngài, vì Ngài ưa thích sự nhân từ! Ngài có xu hướng thương xót hơn là Ngài muốn giận dữ".
Quí vị tìm thấy sự nhân từ của Đức Chúa Trời trong Cựu ước, quí vị tìm thấy sự nhân từ đó trong Tân ước – thực vậy, quí vị tìm thấy sự nhân từ của Đức Chúa Trời bốn lần trong Cựu ước nhiều hơn quí vị tìm thấy trong Tân ước. Chúng ta phải loại bỏ tư tưởng cho rằng Đức Chúa Trời của Israel trong Cựu ước là một Đức Chúa Trời công bình hay cưu giận, một Đức Chúa Trời của sự phán xét; còn Đức Chúa Trời trong Tân ước, đối với Hội Thánh, thì đầy lòng thương xót, ân điển và yêu thương. Nhưng Đức Chúa Trời của chúng ta – chắc chắn chúng ta đã học biết điều nầy trong mấy tuần lễ đã qua - Đức Chúa Trời của chúng ta là một Đức Chúa Trời không hề thay đổi, Ngài hôm qua, ngày nay, cho đến đời đời không hề thay đổi! Mặc dù Tân ước, tất nhiên, là sự mặc khải đầy đủ về Đức Chúa Trời của chúng ta – và chúng ta không biết Ngài trong hết thảy sự nhân từ Ngài cho tới chừng chúng ta bước vào Tân ước – tuy nhiên Đức Chúa Trời luôn luôn là, và luôn luôn sẽ là, một Đức Chúa Trời của sự nhân từ...vì đấy là những gì Ngài có trong chính mình Ngài, sự nhân từ.

I Các Vua 3.6, chúng ta đọc thấy sự nhân từ của Đức Chúa Trời là lớn. Thi thiên 86, chúng ta đọc thấy Ngài dư dật sự nhân từ Ngài. Thi thiên 103, sự nhân từ của Ngài hằng có đời đời. Luke 1, Ngài động lòng thương xót. Ngài thương xót cả thể, I Phierơ chép. Êphêsô, chúng ta đọc: 'Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót'. Và Thi thiên 103.11 chép: “vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu” – đó là sự thương xót của Đức Chúa Trời! Không thể đo tính được, không có giới hạn, đời đời, trải từ đời nọ sang đời kia. Chính sự thương xót của Đức Chúa Trời là chiếc tàu kéo, nó kéo con thuyền bị đắm của hạng tội nhân vào trong hai cánh tay của Đức Chúa Trời. Chính sự thương xót của Đức Chúa Trời là thuộc tánh giải cứu cho hạng tội nhân. Chính sự nhân từ Ngài kéo tội nhân đến với một Cứu Chúa, đó là điều Ngài phán: 'Đức Giêhôva là nhân từ và giàu ơn...khoan dung...dư dật lòng nhân từ'. Thực vậy, khi quí vị bước vào sách Khải huyền – và xuyên suốt cả Kinh Thánh - Đức Chúa Trời được vạch ra và được giới thiệu như một vì Vua lớn, đang ngồi trên ngai với cái mống bao quanh ngôi của Ngài. Tất nhiên, cái mống là phần biểu thị cho lòng nhân từ của Đức Chúa Trời chúng ta.

Quí vị có bao giờ từng suy nghĩ như thế chưa? Đức Chúa Trời ấy, trong Kinh Thánh, trong sự mặc khải quan trọng của Ngài về Ngài là ai, được trình bày có lòng thương xót hơn là thạnh nộ. Rõ ràng là lòng thương xót của Đức Chúa Trời vốn sâu sắc hơn mọi chiều kích cơn thạnh nộ và sự căm phẫn của Ngài, vì Ngài ưa thích làm ra sự thương xót! Ngài có xu hướng thương xót hơn là xu hướng về cơn thạnh nộ. Chính Watson, một người theo hệ phái Thanh giáo, đã nói: 'Đối với Đức Chúa Trời, mọi hành động nghiêm nghị đều bắt buộc ra từ Ngài, Ngài không bằng lòng làm cho khổ sở'. Sự thể giống với con ong trong mùa hè, nó bận rộn bay từ hoa nầy sang hoa khác – và có điều chi xảy ra? Nó [đang] làm ra mật theo lẽ tự nhiên mà nó phải lo làm, và nó bay từ hoa nầy sang hoa khác rồi nó bay về tổ, và ở đó trong tổ mật ấy nó làm ra mật – điều nầy thật tự nhiên đối với con ong. Song khi có đứa trẻ đến quấy rầy nó, nó bèn chích đứa trẻ ngay! Nó không chích theo lẽ tự nhiên, mà chỉ chích khi nó bị chọc tức thôi – và điều nầy giống với Đức Chúa Trời của chúng ta. Đức Chúa Trời theo lẽ tự nhiên vốn có lòng hay thương xót, nhưng khi Đức Chúa Trời bị chọc tức Ngài sẽ nổi giận dữ, nhưng Ngài thích sự nhân từ hơn là giận dữ!

Nhân từ được nói tới là công việc của tay hữu Đức Chúa Trời – hầu hết chúng ta đều thuận tay hữu, và đấy là điều mà Lời Đức Chúa Trời muốn nói tới: đó là việc mà Đức Chúa Trời thích sử dụng hơn hết, sự nhơn từ Ngài. Ngài thường sử dụng tay hữu, Ngài thường thực thi lòng thương xót. Theo một ý nghĩa, Đức Chúa Trời không muốn giáng ra sự hình phạt – thực thế, trong Êsai 28, điều nầy được mô tả là 'việc kỳ lạ của Ngài', thật kỳ lạ cho Đức Chúa Trời phải hình phạt con người, Ngài rất chậm giận. Khi Ngài sửa phạt một nước trong sách Êsai, ở đây nói về Ngài rằng Ngài: 'sẽ dùng dao cạo mà cạo họ' – hãy tưởng tượng Đức Chúa Trời đang thuê một lưỡi dao cạo xem! Quí vị sẽ nghĩ Đức Chúa Trời không cần phải thuê hay mượn bất cứ thứ gì! Thế nhưng trong Êsai nói rằng Ngài thuê một lưỡi dao cạo để cạo họ trong cơn giận dữ và căm phẫn của Ngài – giống như thể cơn giận đó không thuộc về Ngài, Ngài phải thuê mượn phần nầy để thực thi một hành động của cơn thạnh nộ!

Hãy suy nghĩ trong một phút xem: hãy hình dung Đức Chúa Trời sẽ ra thể nào nếu Ngài không có lòng thương xót. Hãy tưởng tượng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời sẽ như thế nào nếu chẳng có một chút thương xót nào hết. Hãy tưởng tượng Đức Chúa Trời sẽ công bình như thế nào nếu sự nhơn từ chẳng có phần trong đó. Nhưng sự nhân từ của Đức Chúa Trời, giống như cái mái vòm mà chúng ta đang nói tới, nó bao phủ lấy mọi thuộc tính khác của Ngài – và thực vậy, cho phép tôi nói như vầy, rằng sự thương xót của Đức Chúa Trời làm cho mọi thuộc tánh của Ngài ra ngọt ngào. Giống như Cụ Môise, quí vị có nhớ không, họ – con cái Israel – đã đến bên dòng sông cay đắng và họ không thể uống nước chảy từ dòng sông ấy, và Môise đã làm gì? Ông ném khúc cây vào dòng nước và khiến cho chúng ra ngọt ngào – và đó là mọi thứ mà sự nhân từ của Đức Chúa Trời ưa thích đối với mọi thuộc tính khác của Ngài, nó làm cho chúng ra ngọt ngào. Đó là một trong mọi sự vinh hiển của Ngài, đó là một món trang sức trên chiếc ngai của Ngài – và trong tuần lễ đầu tiên, khi chúng ta suy nghĩ về việc phải có những tư tưởng đúng đắn về Đức Chúa Trời và suy gẫm của Đức Chúa Trời, chúng ta hãy nhìn vào Xuất Êdíptpô ký chương 33 và chúng ta đã quan sát sự gặp gỡ tương giao giữa Môise cùng với Đức Chúa Trời của người. Ông đã trò chuyện với Đức Chúa Trời giống như một người trò chuyện cùng bạn hữu mình, và chúng ta thấy trong sự tan vỡ của ông, trong sự khát khao Đức Chúa Trời của ông – một người nhận biết Đức Chúa Trời trong một phương thức, có lẽ là mặt đối mặt, chúng ta sẽ không nhìn biết Ngài cho tới khi chúng ta bước vào sự vinh hiển – có lần ông đã cầu nguyện: 'Lạy Chúa, xin chỉ cho con thấy sự vinh quang Ngài!' Và câu trả lời đã được đưa ngược lại cho Môise như thế nầy: 'Ta sẽ làm cho các sự nhân từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta hô danh Giê-hô-va trước mặt ngươi; làm ơn cho ai ta muốn làm ơn, và thương xót ai ta muốn thương xót'.

Đấy là những gì Đức Chúa Trời muốn tỏ cho thế gian nhìn thấy. Thực vậy, ngay cả các kẻ thù của Đức Chúa Trời cũng đang nhận lãnh ơn thương xót, việc nầy giống như sương sớm mai đáp đậu trên cây cối cũng như đậu trên hoa hồng. sự nhân từ của Đức Chúa Trời – cũng vậy, mặt trời chiếu trên người công bình cũng như trên kẻ gian ác, chớ không chỉ chiếu trên những kẻ đang ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời thôi! Quí vị có nhớ Pharaôn không, chúng ta đọc thấy về ông ta trong Thi thiên nầy, khi ông ta đang băng qua Biển Đỏ như một con dã thú, để truy đuổi dân Israel – cái đầu của Pharaôn đã đội vương miện, và Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho ông thấy sự nhân từ khi đặt vương miện ấy trên đầu của ông ta. Mặc dù tấm lòng của ông ta đã chai cứng, đầu ông ta đã đội lấy chiếc vương miện! Vì Đức Giêhôva, Lời của Đức Chúa Trời phán, là sự nhân từ cho mọi người; Đức Giêhôva là sự nhân từ cho mọi người.

"Sự thương xót ấy không phải rỏ ra cho mọi người đâu! Không, không phải vậy. Sự thương xót ấy không tỏ ra cho người nào đang sống loạn nghịch, sự thương xót ấy không tỏ ra cho những thanh niên nào kiêu ngạo nói: 'Ta không cần ơn thương xót của Đức Chúa Trời".
Bây giờ chúng ta hãy nói ra ngoài đề một chút, vì rất là quan trọng khi hiểu sự khác biệt giữa ân điển của Đức Chúa Trời và sự thương xót của Đức Chúa Trời. Với cái nhìn thoáng qua, quí vị sẽ tưởng tượng ra có một chút khác biệt giữa hai ơn ấy, nhưng tôi muốn quí vị nghĩ tới các thiên sứ trong một phút. Nếu quí vị nghĩ tới cõi quá khứ đời đời, và quí vị nghĩ tới thiên đàng – không một loài thọ tạo nào có ý thức về nam nữ giống như quí vị và tôi, còn các thiên sứ đang ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Và cho phép tôi nói rằng các thiên sứ đã kinh nhiệm ân điển của Đức Chúa Trời, họ đã kinh nghiệm sự nhân từ của Đức Chúa Trời, vì họ đang ở trong sự hiện diện của Ngài và đó là ân điển của Đức Chúa Trời – ở trong sự hiện diện của Ngài. Họ đang phục vụ Đức Chúa Trời, và không một tạo vật nào – ngay cả thiên sứ – có thể phục vụ Đức Chúa Trời mà không có ân điển của Ngài. Sự thật cho thấy rằng hai phần ba các thiên sứ đã không sa ngã, cho thấy được ân điển của Đức Chúa Trời đã bảo tồn họ, ân điển của Đức Chúa Trời đã kéo họ lui ra khỏi tội lỗi và sự loạn nghịch của họ. Tuy nhiên, trong hết thảy ân sũng ấy, họ chưa hề, chưa bao giờ nhận biết ơn thương xót của Đức Chúa Trời.

Nếu quí vị suy nghĩ tới điều đó, các thiên sứ sa ngã, trong II Phierơ 2.4 nói như vầy: 'Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét'. Các thiên sứ đó sa ngã từ trên trời, họ chưa hề biết ơn thương xót của Đức Chúa Trời! Và thậm chí những thiên sứ không sa ngã từ trên trời cũng chưa hề biết đến ơn ấy, vì quí vị phải phạm tội mới biết được ơn ấy. Nhưng không hẳn chỉ phạm tội, chính sự phạm tội và trong sự nhân từ ân điển của Đức Chúa Trời đã phục hồi quí vị – và chỉ là con người mới biết được ơn ấy. Quí vị thấy đấy, thương xót rất đơn giản là như vầy: nỗi khổ, sự đê hèn, sự truỵ lạc, sự chết của con người trong mọi sự quá phạm và trong tội lỗi của họ – và một Đức Chúa Trời đang động lòng trắc ẩn và thương xót, yêu thương và nhân từ, đang ngự đến để làm cho nỗi đau đó được khuây khoả! Ơn thương xót đó, và đấy là ơn thương xót!

Thứ hai: sự nhân từ của Đức Chúa Trời có thể thấy được ở đâu? Có vài chỗ thấy được ơn ấy, và chỗ đầu tiên là đây: trong mọi người sống, mọi người đang sống. Những người theo hệ phái Thanh Giáo, họ đã đúng trong nhiều việc, biết phân biệt thần học của họ giữa ơn thương xót chung chung của Đức Chúa Trời và ơn thương xót đặc biệt của Đức Chúa Trời. 'Ơn thương xót chung chung của Đức Chúa Trời', họ nói: 'được dành cho mọi loài thọ tạo' – như tác giả Thi thiên nói, 145: 'Đức Giê-hô-va làm lành cho muôn người, Sự từ bi Ngài giáng trên các vật Ngài làm nên'. Ngay cả loài dã thú, loài vật ngoài đồng ruộng, ngay cả con chim sẻ rơi xuống đất – Đức Chúa Giêxu Christ phán - Đức Chúa Trời động lòng thương xót chúng. 'Đất', tác giả Thi thiên nói: 'đầy dẫy sự nhân từ Ngài' – đó là sự thương xót chung chung của Đức Chúa Trời, được tỏ ra cho muôn vật. Kế đó có ơn thương xót đặc biệt của Đức Chúa Trời, và ơn ấy được tỏ ra cho những kẻ đã được Ngài cứu vớt. Những ai có đức tin nơi Ngài, Đức Chúa Trời giáng ơn thương xót trên họ. Ngài được mô tả – một con cái tin cậy nơi Đức Chúa Trời – giống như một cái bình được thương xót. Đức Chúa Trời đã phục hồi người ấy tránh khỏi sự phán xét và sự kết án. Con cái nào nhìn biết ơn thương xót của Đức Chúa Trời, họ đã được cứu, Đức Chúa Trời làm cho họ nhìn biết mọi sự giàu có trong sự vinh hiển của Ngài.

Quí vị biết rõ ơn ấy trong sự tái sanh, tôi xin Đức Chúa Trời cho phép điều ấy xảy ra cho quí vị! Giống như Phaolô trong con đường đến thành Đa mách, ông chẳng nghĩ chút gì tới Đức Chúa Trời hết – đấy là những gì ông nói! Ông đã ở trong sự chẳng nhìn biết Đấng Christ là ai cả, rồi ông đi xuống con đường đó để giết những Cơ đốc nhân, ông ra đi giống như kẻ thù của Đức Chúa Trời – và ánh sáng ra từ Đức Chúa Trời bắt lấy ông! Nầy quí vị ơi, đấy là sự thương xót. Và Đức Chúa Trời cho phép cái vảy cá rơi ra khỏi mắt ông, để nhìn thấy tội lỗi của ông – đó là ơn thương xót đặc biệt của Đức Chúa Trời, để được thương xót, để được giải cứu ra khỏi sự phán xét và địa ngục. Và cho phép tôi nói điều nầy hôm nay: sự thương xót đó không được tỏ ra cho mọi người đâu! Không, không đâu. Ơn ấy không được tỏ ra cho hạng người đang sống trong sự loạn nghịch, ơn ấy không được tỏ ra cho lớp người trẻ nào đang kiêu ngạo nói: 'Ta không cần ơn thương xót của Đức Chúa Trời' – vì Lời của Đức Chúa Trời phán trong Luca 1: 'Vì Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài!' Nếu quí vị không kính sợ Đức Chúa Trời, quí vị sẽ chẳng biết chi về lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Hãy lắng nghe, hỡi các tội nhân, Kinh Thánh chép: 'không phải cứu vì việc công bình, nhưng cứ theo lòng thương xót, Ngài cứu chúng ta. Vậy điều đó chẳng phải bởi người nào ao ước hay người nào bôn ba mà được, bèn là bởi Đức Chúa Trời thương xót!’ Quí vị có nhận biết lòng thương xót của Đức Chúa Trời chưa? Nếu quí vị chưa nhận biết ơn thương xót của Đức Chúa Trời, quí bạn tôi ơi, ấy là vì tấm lòng kiêu căng, trơ trẻn, tội lỗi, chai cứng, đáng đoạ đày của quí vị đấy thôi!

Ơn thương xót đặc biệt nầy, Đức Chúa Trời ban bố ơn ấy trên những ai có đức tin nơi Ngài, theo ý Ngài muốn. Đây là một ơn không có giới hạn, đây là Đức Chúa Trời của tất cả các thần, Ngài phán trong Rôma 9: 'Vì Ngài phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ làm ơn cho kẻ ta làm ơn, ta sẽ thương xót kẻ ta thương xót... Như vậy, Ngài muốn thương xót ai thì thương xót, và muốn làm cứng lòng ai thì làm'. Đây là một việc không hay, nghĩa là Chúa làm cứng lòng những người chống nghịch Ngài sao? Giờ đây đừng lầm lẫn về việc nầy, vì người ta phải chịu trách nhiệm cho từng việc nhỏ họ bắt tay làm – và cho phép tôi nói rằng Đức Chúa Trời không biến một người ra gian ác đâu, Đức Chúa Trời không khiến cho người ta chối bỏ Ngài, nghĩa là do sự lựa chọn cá nhân của quí vị đấy thôi. Nhưng cho phép tôi nói như vầy: khi Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đức Chúa Trời Chí Cao trong ân điển quyết định rút lại ảnh hưởng của Ngài ra khỏi tấm lòng của quí vị, tấm lòng ấy sẽ ra chai cứng ngay! Ồ, hạng người thể ấy sẽ nhìn biết sự việc nầy! Nếu Đức Chúa Trời quyết định rút ánh sáng mặt trời ân điển của Ngài ra khỏi tấm lòng của quí vị, Ngài sẽ không cần làm cho tấm lòng của quí vị phải chai cứng đâu...tự nó sẽ chai cứng thôi. Sự thể giống như khi mặt trời lặn vậy, nhiệt độ hạ xuống và sương mù phủ xuống mặt đường. Quí vị sẽ không nói rằng, vì mặt trời đã lặn đi, mặt trời làm cho mặt đất chai cứng. Có phải mặt trời làm cho chai cứng đất hay không? Không! mà là ảnh hưởng giàu ơn của Đức Chúa Trời, đó là lý do tại sao chúng tôi nói với quí vị hôm nay – trong ánh sáng của Tin Lành - Pharaôn đã làm cho tấm lòng ông ta phải chai cứng! Vì Đức Chúa Trời đã rút ân điển Ngài ra khỏi ông ta, tấm lòng ông ta liền chai cứng - và Đức Chúa Trời phán với quí vị hôm nay: nếu quí vị nghe tiếng Ngài, đừng làm chai cứng lòng mình! Khủng khiếp làm sao là ngày phán xét, nếu quí vị muốn đứng trước mặt Đức Chúa Giêxu Christ, và chính sự nhân từ của Đức Chúa Trời sẽ buộc tội quí vị! Hãy tưởng tượng ra ngày ấy xem! Chính sự nhân từ của Đức Chúa Trời sẽ rủa sả linh hồn quí vị, vì quí vị đã chối bỏ ơn ấy!

“Nếu quí vị nghe tiếng Ngài, đừng làm chai cứng lòng mình! Khủng khiếp làm sao là ngày phán xét, nếu quí vị muốn đứng trước mặt Đức Chúa Giêxu Christ, và chính sự nhân từ của Đức Chúa Trời sẽ buộc tội quí vị! Hãy tưởng tượng ra ngày ấy xem! Chính sự nhân từ của Đức Chúa Trời sẽ rủa sả linh hồn quí vị, vì quí vị đã chối bỏ ơn ấy!”
Sự nhân từ của Ngài nằm ở trong mọi đời sống. Thứ hai, sự nhân từ của Ngài có ở trong mọi hoàn cảnh. Giờ đây, hỡi các tín hữu có mặt ở đây hôm nay, ơn nầy đang dành cho quí vị đấy. Thi thiên 103 chép: 'Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu, thì sự nhân từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu'. Người thành Côrinhtô nói: 'Đối với chúng ta, Ngài là Cha hay thương xót' – hỡi người tin Chúa, nói như thế có nghĩa là: mọi sự trong đời sống của quí vị, từng hoàn cảnh, mọi sự đã xảy ra cho quí vị, đều có ơn thương xót của Đức Chúa Trời trong đó! Chính vì ơn thương xót của Chúa mà chúng ta không bị thiêu đốt, có phải không? Thực vậy, tôi buộc phải tin rằng có một nơi ở Sicily, và ở đó lúc nào cũng thấy được mặt trời. Sự thể ấy giống như ơn thương xót của Đức Chúa Trời trong đời sống tin kính của chúng ta, ơn thương xót của Đức Chúa Trời không hề vắng bóng, ơn thương xót của Đức Chúa Trời không hề không thấy, ơn ấy không hề trống vắng đâu – và đúng là một việc khiêm nhường, thậm chí trong những thử thách và hoạn nạn của chúng ta, ơn thương xót của Đức Chúa Trời tra bàn tay của Ngài trong đó.

Thứ ba: quí vị có thể thấy sự nhân từ của Đức Chúa Trời trong sự cứu chuộc. Hãy tưởng tượng điều nầy xem: sự nhân từ của Đức Chúa Trời không có sự chuộc tội của Đấng Christ. Quí vị có thể hình dung được việc ấy chăng? Tôi không thể hình dung được. Ơn thương xót của Đức Chúa Trời sẽ không có hiệu lực gì hết nếu không có đồi Gôgôtha. Ơn ấy chẳng có quyền lực gì, ơn ấy chẳng có gì tốt lành cho quí vị hết - và nói như thế có nghĩa là: hạng tội nhân không thể phó mình vào ơn thương xót của Đức Chúa Trời rồi từ chối đồi Gôgôtha! Ồ, chẳng có ai làm như thế bao giờ! ‘Tôi sẽ chờ cho tới chừng tôi được vào trong thiên đàng và nguyện Đức Chúa Trời sẽ đem tôi vào đó. Dù tôi theo tôn giáo nào, hết thảy chúng ta đều thờ lạy một Đức Chúa Trời chân thật, và nếu Ngài là một Đức Chúa Trời yêu thương và nhân từ, Ngài sẽ đem tôi vào thiên đàng' - Đức Chúa Trời không có một sự thương xót nào mà không kết dính với đồi Gôgôtha! Vì đồi Gôgôtha là ngôi thương xót. Trong Cựu ước, Hòm Giao Ước – cái nắp đậy ở phía trên hòm – há nó không được gọi là ngôi thương xót sao? Và chính Đức Chúa Trời – đã ấn định vị trí, nơi mà Môise tương giao với Đức Chúa Trời, đấy là nơi mà thầy tế lễ thượng phẩm, mỗi năm một lần nhằm ngày Chuộc Tội, sẽ rải huyết, đó là nơi gắn bó với việc che đậy và cất bỏ tội lỗi – nhờ huyết mà Đức Chúa Trời vốn thương xót đến! Đức Chúa Giêxu Chirst đang ngự ở ngôi thương xót của Ngài. Quí vị thấy đấy, đồi Gôgôtha là nơi mà Đức Chúa Trời gặp gỡ tội nhân và trải ra lòng thương xót. Nói theo diện tiên tri, về Đức Chúa Giêxu Christ trong Thi thiên 85: 'Sự thương xót và sự chân thật đã gặp nhau; Sự công bình và sự bình an đã hôn nhau' – ngôi thương xót! Quí vị có mặt ở đó không? Quí vị có mặt ở đồi Gôgôtha không? Ồ, các tác giả thánh ca đã nói rõ vấn đề nầy theo cách thức riêng của từng người. Có người đã viết như sau:

'Hãy đến thờ lạy nơi chơn của Ngài,
Nơi sự thạnh nộ và thương xót gặp nhau
Và một thế giới tội lỗi được thanh tẩy
trong dòng suối yêu thương thanh sạch'.
Chúng ta sẽ hất bài ấy sáng hôm nay:

'Cao trọng thay là
Tin lành nói về Đức Chúa Trời vinh hiển,
Nơi thương xót gặp gỡ cây gậy thạnh nộ
của Đức Chúa Trời.
Một án phạt đã được trả giá đem lại sự tha thứ,
Và sau cùng tội nhân hư mất
đã được Ngài đem về'.

Chúng ta hát nhiều lần khi quây quần bên bàn ăn:

'Đức Giêhôva đã rút gươm Ngài ra,
Ôi, Đấng Christ gươm ấy nghịch lại Ngài.
Huyết Ngài thấm ướt thanh gươm ấy,
Tấm lòng Ngài biến thành vỏ bao cho gươm đó'.

Tại sao vậy? Vì cớ sự nhân từ của Đức Chúa Trời.

Sự nhân từ được thấy có trong mọi sự, sự nhân từ được thấy có trong mọi hoàn cảnh của quí vị, sự nhân từ được thấy có trong sự cứu chuộc – và cho phép tôi nói tới ơn nầy cách đúng mức, và điều nầy đã làm cho tôi phải rung động khi tôi nghiên cứu ơn ấy: sự nhân từ của Đức Chúa Trời được thấy có trong địa ngục. Có phải đây là một việc kỳ lạ không? Hãy suy nghĩ xem, khi người bị hư mất bị ném vào trong hồ lửa, đây là một hành động của sự nhân từ của Đức Chúa Trời. Ấy không phải từ quan điểm của quí vị, nếu quí vị chưa được cứu – mà chính là từ quan điểm của thiên đàng. Quí vị thấy đấy, địa ngục là chỗ ném bỏ mọi tội lỗi cho đến đời đời. Cho đến đời đời! Và ấy không phải sự nhân từ của Đức Chúa Trời ở trong Jerusalem mới, chúng ta đọc thấy không có một người khôn ngoan nào bước vào trong đó mà toàn là những thứ bẩn thỉu, bất cứ cái gì làm ra sự gớm ghiếc? Quí vị có thể tưởng tượng bước đi trên trên những con đường làm bằng vàng và nghe thấy sự phạm thượng ở lỗ tai bên nầy, và nghe thấy danh của Giêhôva Đức Chúa Trời của quí vị theo cách hư không ở bên lỗ tai kia? Quí vị có thể tưởng tượng được như thế không? Không! Sự thương xót của Đức Chúa Trời nhắm tới người công bình – những người tin - Đức Chúa Trời không muốn như thế, và từng tội lỗi sẽ bị rủa sả trong địa ngục.

"Điều khác biệt nào sự nhân từ của Đức Chúa Trời đang tạo ra cho quí vị? Ơn ấy tạo ra điểm khác biệt nào? Trước hết, cho phép tôi nói với những người tin Chúa trong buổi nhóm nầy, đây là sự khác biệt: quí vị phải tỏ ra lòng thương xót”.
Ồ, quá phi thường, có phải không? Như chúng ta đã đọc trong Thi thiên 136, rằng Đức Chúa Trời đã ném Pharaôn cùng các đội quân của ông ta vào trong Biển Đỏ vì sự nhân từ của Ngài còn đến đời đời. Có ai dám nói giống như thế không? Đây là bài ca ngợi khen của họ! 'Đức Chúa Trời xô Pha-ra-ôn và cả đạo binh người xuống Biển đỏ, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời', vì đó là sự nhân từ của Đức Chúa Trời. Quí bạn tôi ơi, chúng ta đã đọc trong Khải huyền 19 – và nếu quí vị chưa được cứu, quí vị hãy ngồi đó mà nghe đi! Giăng nói: 'Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta: Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra. Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời!' Nói như thế giống như nói: 'Ngợi khen Chúa, kẻ bị rủa sả đã bị rủa sả'. Ngay cả sự nhân từ của Đức Chúa Trời cũng ở trong sự tương tự như thế sao? Quí vị có biết cái gì đã nói cho tôi biết không? Nếu tôi là một tội nhân, không có Đấng Christ trong buổi nhóm nầy, điều đó nói cho tôi biết về sự dại dột của những người tin rằng sự nhân từ của Đức Chúa Trời sẽ quan phòng họ cho đến cuối cùng. 'Tôi sẽ nắm lấy cơ hội. Tôi sẽ sống ngay thẳng, tôi không làm hại ai điều gì. Tôi đi nhà thờ của tôi, tôi cố gắng hết sức mình, tôi sống tốt đối với gia đình của tôi - Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ ném tôi vào địa ngục! Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!' – quí bạn tôi ơi, nói như thế là quên rằng Ngài là Đức Chúa Trời của sự công bình, rằng Ngài là tối thượng trong sự nhân từ Ngài – và nếu quí vị nghe tiếng Ngài, vì cớ Đức Chúa Trời chớ làm cứng lòng mình, vì Đức Chúa Trời có thể rút lại ân điển và sự nhân từ của Ngài và quí vị sẽ bị hư mất! Đức Chúa Trời phán: 'Ta sẽ không dùng phương tiện nào để làm cho sạch tội lỗi'. Ngài phán: 'Kẻ dữ sẽ bị ném vào địa ngục, và các nước nào quên Đức Chúa Trời cũng vậy'.

Hãy tưởng tượng một người nam hay một người nữ, và họ không tự mình tẩy rửa, họ không đánh răng và răng của họ bị hư hỏng đi, họ không tắm rửa và có nhiều vi trùng bám lấy họ – chúng bò lên khắp tóc và mọi sự thuộc về họ, dưới mấy cái móng tay của họ – và họ đang nhuốm bịnh vì cớ đó. Quí vị có nghĩ Đức Chúa Trời không để cho một người nam hay nữ ăn ở như thế mà khỏi bịnh tật sao? Trên đời sống của quí vị cũng thế! Quí vị có nghĩ Đức Chúa Trời sẽ ban sự nhân từ Ngài trên một linh hồn đã chất chứa tội lỗi trong cái đầu của linh hồn ấy sao? Tôi không biết Đức Chúa Trời nào lại làm thế, nhưng không phải là Đức Chúa Trời của chúng ta! Quí vị có biết điều chi khác không? Quí vị có thể biến sự nhân từ của Đức Chúa Trời thành kẻ thù của mình. Giống như hít lấy chất độc phát ra từ một bông hoa đẹp, quí vị sẽ có một cú đánh chết chóc cho chính linh hồn của quí vị!

Thứ ba: Điều khác biệt nào sự nhân từ của Đức Chúa Trời đang tạo ra cho quí vị? Ơn ấy tạo ra điểm khác biệt nào? Trước hết, cho phép tôi nói với những người tin Chúa trong buổi nhóm nầy, đây là sự khác biệt: quí vị phải tỏ ra lòng thương xót. Đây là điều mà Chúa đã phán dạy trong các phước lành, có phải không? Mathiơ 5.7: 'Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!'. Giacơ 2.13: 'Sự đoán xét không thương xót kẻ chẳng làm sự thương xót; nhưng sự thương xót thắng sự đoán xét' – nếu quí vị không tỏ ra chút thương xót gì trong đời sống của quí vị, Đức Chúa Trời sẽ xét đoán quí vị mà chẳng chút thương xót. Luca 6.36: 'Hãy thương xót như Cha các ngươi hay thương xót' – hãy tỏ ra sự thương xót lẫn nhau!

Thứ hai: quí vị phải tin cậy nơi sự nhân từ của Đức Chúa Trời. Nói như thế há chẳng đúng sao? Đấy là điều mà tác giả Thi thiên đã nói: 'Tôi sẽ tin cậy nơi sự nhân từ của Đức Chúa Trời cho đến đời đời'. Hãy nghe đây! Quí vị làm ơn nghĩ tới điều nầy: sự nhân từ của Đức Chúa Trời, ngay bây giờ, ở đây và bây giờ, là một dòng suối đang rộng mở – và nếu quí vị để cho cái thùng đức tin chảy nhỏ giọt, quí vị sẽ gặp phải cảnh túng quẫn cho xem, và hãy bởi đức tin mà uống nơi cái giếng cứu rỗi đó. Nếu quí vị chưa được cứu, phải, hãy nghe tôi: sự nhân từ của Đức Chúa Trời đang rộng mở cho quí vị ngay bây giờ – sự nhân từ ấy không rộng mở cho đến đời đời đâu, nhưng sự nhân từ ấy đang rộng mở ngay lúc bây giờ! Nó đang mở rộng ngay bây giờ và Chúa Giêxu phán: 'Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không'. Hãy tưởng tượng xem khi ra toà án và có một quan toà ở đó, và quan toà đang biện hộ cho bị cáo! Có bao giờ quí vị nhìn thấy cảnh tượng ấy chưa? Tôi chưa bao giờ thấy cảnh ấy! Vị quan toà đang biện hộ với kẻ bị cáo? Nhưng đây là Quan Án của quí vị đang nài xin quí vị dự phần vào sự nhân từ Ngài. Quí bạn tôi ơi, đây là sự ngăn trở! Hãy tưởng tượng kẻ dại sẽ từ chối một sự nài nỉ như thế! Đức Chúa Trời đang phán với quí vị, trong sự nhân từ Ngài: 'Xin cho phép tôi yêu thương bạn, xin bằng lòng để cho tôi cứu bạn!' – sự thương xót làm đẹp lòng Đức Chúa Trời! Thế nhưng sự vô tín đang bóp nghẹt sự thương xót ấy, và nếu quí vị không phải là một người tin Chúa ở đây, tấm lòng thương xót của Đức Chúa Trời đã đóng lại đối với quí vị, các vết thương đang há miệng ra và cơn nhức nhối của Cứu Chúa đang phun ra loại thuốc dành cho mọi tội lỗi, xấu hổ, đã bị đóng kín lại trên quí vị. Chẳng có một chút thương xót nào hết, không có một sự mừng vui nào cả, không có một sự hấp dẫn nào nơi Đấng Christ thương khó đối với quí vị! Còn nếu quí vị chỉ tin thôi, nếu quí vị chỉ tin nơi sự nhân từ của Ngài, giống như Wesley quí vị có thể nói:

'Hỡi linh hồn ta, hãy chổi dậy, hãy chổi dậy.
Hãy giũ sạch những nỗi sợ hãi tội lỗi đi,
Của lễ bằng huyết
Dâng lên vì ích cho tôi.
Tôi đứng vững vàng ở trước ngôi,
Tên tôi được viết trên bàn tay Ngài.
Tôi đã làm hoà lại với Đức Chúa Trời,
Tôi nghe thấy tiếng tha thứ của Ngài,
Là con cái của Ngài, tôi thuộc về Ngài,
Tôi không còn sợ hãi nữa.
Tôi đến gần với lòng trông cậy
Và kêu Aba Cha, Aba Cha'.
Giống như người khác, quí vị có thể nói:
'Có một sự rời rộng
trong ơn thương xót của Đức Chúa Trời
Giống như sự bao la của đại dương.
Có sự tử tế trong sự công bình của Ngài
Còn hơn cả sự tự do nữa.
Có một sự chào đón dành cho tội nhân,
Và nhiều ân sủng dành cho người lành.
Có ơn thương xót với Cứu Chúa,
Có sự chữa lành nơi huyết của Ngài'.
Quí vị có chịu tin cậy Ngài không? Giờ đây, hãy đến đi! Quí vị có chịu đến không? Sự nhân từ thể ấy còn đến đời đời! Quí vị có chịu dự phần vào đấy không?

Và sau cùng, đối với từng con cái của Đức Chúa Trời trong chỗ nầy: quí vị phải tỏ ra lòng thương xót. Phải, quí vị có thể tỏ ra ơn ấy, phải, quí vị có thể tin cậy ơn ấy – nhưng quí vị biết đấy, chúng ta có thể nhận được ơn ấy. Chúng ta có thể ra đi với sự cầu nguyện với Đức Chúa Trời và nhìn xem Ngài – không phải nhìn vào áo xống công bình và áo xống thạnh nộ, mà chúng ta có thể nhìn xem Đức Chúa Trời phủ bóng trong một chiếc cầu vồng thương xót. Hãy tưởng tượng việc đến với một Đức Chúa Trời giống như thế, một Đức Chúa Trời sự nhân từ Ngài đang hướng về chúng ta – như chấp thêm cánh cho những lời cầu nguyện của chúng ta, nhận biết rằng Đức Chúa Trời rất là cao cả, Đức Chúa Trời thật mạnh sức, Đức Chúa Trời hiện hữu vì chúng ta. Chúng ta phải đến thật dạn dĩ trước mặt Đức Chúa Trời của chúng ta, nhận biết rằng Ngài có lòng thương xót. Giống như người Thanh giáo xưa đã nói, quí vị sẽ không mơ đến với một ngọn lửa ấm áp, yêu thương rồi lấy làm lạ không biết có sự ấm áp nào trong đó cho quí vị hay không!?! Không – thực là rõ ràng, và quí bạn Cơ đốc của tôi ơi, thực rõ ràng cho quí vị là nếu quí vị đến với Đức Chúa Trời, quí vị sẽ nhận được ơn thương xót.

"Có nhiều người ở đây chưa được cứu – hãy tưởng tượng mình chưa được cứu, và đang sống giữa sự nhân từ của Đức Chúa Trời! Quí vị có nghĩ mình sẽ không nhận được ơn ban ra từ ngôi ấy chăng?"
Chuyện kể về Samuên trong một cơ hội ông bắt một chiên con còn bú trước mặt Đức Chúa Trời – và từng người tin Chúa trong chỗ nầy, nếu quí vị có thể bắt được Chiên Con của Đức Chúa Trời trong hai cánh tay của mình, bị giết trước mặt Đức Chúa Trời, vào trong sự hiện diện của Ngài với sự nhận biết qua Chiên Con đó mà quí vị đã đến; nếu quí vị chịu đến với ngôi ơn phước nhơn những công trạng toàn vẹn của Ngài và công tác Ngài đã hoàn tất quí vị sẽ nghe thấy câu nầy: 'Hỡi con ta, con không có một thầy tế lễ thượng phẩm chưa bị mọi cảm xúc đau khổ của con chạm đến, nhưng Ngài đã sống trong mọi thử thách giống như con vậy – thế mà không phạm tội. Vì thế, hỡi con ta, hãy dạn dĩ đến tại ngôi ơn phước hầu cho con nhận được sự thương xót!' – nhận được ơn thương xót và tìm được ơn để giúp đỡ trong thì giờ có cần.

Chúng ta hãy nói một lần nữa: [Mục sư Legge:] 'Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện '...[Hội chúng:] 'Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời ' - halêlugia!

Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau cúi đầu xuống. Có nhiều người ở đây chưa được cứu – hãy tưởng tượng mình chưa được cứu, và đang sống giữa sự nhân từ của Đức Chúa Trời! Quí vị có nghĩ mình sẽ không nhận được ơn ban ra từ ngôi ấy chăng, khi Chúa phán: 'Ngươi đang ở trong Sảnh Đường Iron vào ngày 7 tháng Giêng năm 2001, và ta đang mở rộng các cửa sổ trên trời rồi đổ ơn thương xót của ta xuống trên ngươi, còn ngươi sẽ bỏ đi và từ chối ơn ấy chứ?' Quí bạn tôi ơi, sự thể giống như chì được đem ra khỏi khu mỏ vậy – khi nó được đem ra khỏi đó, nó rất lạnh, còn khi nó được bỏ vào lò, nó trở nên nóng. Nếu quí vị đến với Đấng Christ ngay bây giờ, trong ngày cứu rỗi, quí vị sẽ nhận biết sự nhân từ của Đức Chúa Trời – còn nếu quí vị từ chối ơn ấy, sự từ chối đó sẽ trở thành án rủa sả cho linh hồn của quí vị. Quí vị có chịu đến không?

Hỡi con cái của Đức Chúa Trời, có nhiều việc rất khó, có nhiều việc rất khó khăn – song bất luận quí vị làm gì, đừng quên sự nhân từ của Đức Chúa Trời trong đó, vì nếu chúng ta không có ơn ấy, chúng ta sẽ bị thiêu đốt ngay – sự thành tín Ngài cao cả dường bao. Hãy yên nghỉ trên ơn ấy hôm nay, và nếu quí vị ở đây có tấm lòng bị tan vỡ, hãy bởi đức tin bước ra thật dạn dĩ đến với ngôi đó, rồi hãy nhận lấy sự thương xót mà quí vị đang có cần.

Lạy Cha, chúng con cảm tạ Ngài vì là một Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, tử tế, yêu thương và tốt lành. Và ồ, lạy Chúa, Ngài yêu thương và muốn ban sự thương xót của Ngài trên những người mà Ngài đã dựng nên – nhưng lạy Chúa, lòng thương xót của Ngài sẽ không hề mâu thuẫn với sự công bình và sự thánh khiết của Ngài. Ngày nay con nguyện rằng từng linh hồn ở trong nhà thờ nầy sáng nay sẽ trở thành kẻ dự phần vào sự thương xót – sự thương xót đặc biệt, cứu rỗi - của Đức Chúa Trời Toàn Năng, và hết thảy chúng con, là con cái của Đức Chúa Trời, có thể nhìn biết dạn dĩ đến và nhận biết ơn thương xót của Đức Chúa Trời hầu làm cho chúng con vững vàng trong lúc có cần của chúng con có ý nghĩa như thế nào!?! Nhơn danh Chúa Giêxu chúng con cầu nguyện, Amen.

***

"Quyền Tối Cao của Đức Chúa Trời"



Kìa Đức Chúa Trời ngươi
"Quyền Tối Cao của Đức Chúa Trời"
Mục sư David Legge

'Quyền Tối Cao Đức Chúa Trời' – chúng ta đọc trước tiên ở Êsai 46, kế đó là Đaniên 4. Tôi sẽ yêu cầu quí vị cùng xem một vài phân đoạn Kinh Thánh khi chúng ta bước vào phần nghiên cứu nầy – và cho phép tôi nói rằng chúng ta sẽ không xem chủ yếu bất kỳ một phân đoạn Kinh Thánh nào, khi chúng ta chưa thực sự bước vào các phần nghiên cứu nầy trong mấy tuần qua. Khi quí vị rút ra một lẽ đạo dễ hiểu nào trong Lời của Đức Chúa Trời, tỉ như quyền tối cao Đức Chúa Trời, hay sự thành tín của Đức Chúa Trời, hoặc tình yêu thương của Đức Chúa Trời, thật là khó khi phải trụ lại ở một phân đoạn Kinh Thánh và cứ mãi lo bình luận phân đoạn ấy. Vì vậy, làm ơn tha thứ cho tôi vì sự ấy, song đấy là bản chất của Lời Đức Chúa Trời và bản chất của các lẽ đạo nầy có trong đó. Chúng ta muốn tiếp thu lẽ đạo nói về quyền tối cao của Đức Chúa Trời, vì vậy chúng ta sẽ cùng nhau xem xét một số câu Kinh Thánh.

"Khi tôi tìm kiếm Chúa qua những gì tôi giảng cho quí vị nghe ngay lúc bắt đầu một năm mới và ở cuối của một năm cũ, tôi rất ngần ngại không muốn ngưng lại phần nghiên cứu mà chúng ta đang đi ngon trớn vì tôi tin đấy là ý chỉ của Đức Chúa Trời cho chúng ta trong thời buổi nầy: hãy nắm lấy Đức Chúa Trời của chúng ta".
Êsai 46.10 – một câu – chúng ta sẽ đọc câu 9 làm câu mở đầu: "Hãy nhớ lại những sự ngày xưa; vì ta là Đức Chúa Trời, và chẳng có Chúa nào khác; ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như ta. Ta đã rao sự cuối cùng từ buổi đầu tiên, và đã nói từ thuở xưa những sự chưa làm nên. Ta phán rằng: Mưu của ta sẽ lập, và ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý”. Kế đó là câu thứ hai ở Đaniên 4, Đaniên 4.35 – chúng ta sẽ đọc câu 34: "Đến cuối cùng những ngày đó, ta đây, Nê-bu-cát-nết-sa, ngước mắt lên trời, trí khôn đã phục lại cho ta, và ta xưng tạ Đấng Rất Cao. Ta bèn ngợi khen và làm sáng danh Đấng sống đời đời, uy quyền Ngài là uy quyền còn mãi mãi, nước Ngài từ đời nọ đến đời kia. Hết thảy dân cư trên đất thảy đều cầm như là không có; Ngài làm theo ý mình trong cơ binh trên trời, và ở giữa cư dân trên đất; chẳng ai có thể cản tay Ngài và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy?”

Chúng ta hãy để ra một phút đặng cầu nguyện: Lạy Cha, chúng con đến và chúng con công nhận Ngài là Đức Chúa Trời Rất Cao. Chúng con cúi đầu xuống trước mặt Ngài như loài thọ tạo của Ngài, và chúng con cầu xin Ngài ở cùng chúng con hôm nay, vận hành giữa vòng chúng con, đi lại trong chúng con – Lạy Chúa, xin chúc phước cho chúng con, xin sửa đổi chúng con, xin dạy dỗ chúng con, xin khích lệ và thúc đẩy chúng con bước theo các mục đích cao cả của Ngài trong Đấng Christ. Lạy Chúa, xin hãy chạm đến những ai cần được chạm, hãy chữa lành người có tấm lòng tan vỡ, làm vững mạnh kẻ yếu đuối, và giải cứu kẻ bị hư mất. Chúng con cầu xin mọi điều nầy trong danh của Chúa Giêxu, Amen.

Như tôi đã cân nhắc và tìm kiếm Chúa qua những gì phải nói với quí vị ngày hôm nay, vào lúc bắt đầu một năm mới và ở cuối của một năm cũ, tôi rất ngần ngại không muốn ngưng lại phần nghiên cứu mà chúng ta đang đi ngon trớn vì tôi tin đấy là ý chỉ của Đức Chúa Trời cho chúng ta trong thời buổi nầy: hãy nắm lấy Đức Chúa Trời của chúng ta. Đấy là lý do tại sao chúng ta đã xét qua tình yêu thương của Đức Chúa Trời vào Chúa nhật rồi, khi chúng ta đang suy gẫm về Lễ Giáng Sinh – và đúng là một đề tài cần phải xem xét! Khi chúng ta nhìn vào một năm mới đầy bất ổn và không lấy gì làm chắc chắn, còn có đề tài nào quan trọng hơn “Quyền Tối Cao của Đức Chúa Trời”?

Bây giờ, theo một ý nghĩa hiện đại, và trong bộ môn khoa học chính trị hiện đại, đề tài nầy rất lạ lùng. Khi nói rằng có một Đức Chúa Trời, thực ra, thật là lạ lùng khi cho rằng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời Rất Cao và Ngài đã tể trị ở trên trời, như Đaniên đã nói, và cũng tể trị ở trong nước của loài người ở trên đất. Thực thế, rất buồn khi phải nói, cũng trong bầu không khí tôn giáo, sự cao cả của Đức Chúa Trời là điều rất lạ lùng – có nhiều người đã chối bỏ vấn đề ấy, có nhiều người đã bỏ qua đề tài nầy. Và thực thế, nói chung trong vòng con người hiện đại ngày nay, sự cao cả được nói tới “theo cách riêng tư” – nghĩa là chúng ta, những con người, là tác giả của số phận của chính mình, và vì lẽ đó nếu có một Đức Chúa Trời ở đó, Ngài chẳng quan tâm chi đến các vụ việc của con người, Ngài chẳng có một chương trình hay một mưu luận nào hết, còn chúng ta có quyền quyết định số phận của chính mình. Họ nói: “Số phận của chúng ta đã được định khi chúng ta quyết định theo ý muốn của mình: điều gì sẽ tới, nó sẽ tới'.

"Cái điều chúng ta gọi là Quyền Tối Cao của Đức Chúa Trời, chính xác nó là gì? Tại sao đó là một nan đề cho một số người? Đối với quí vị điều đó có gì khác biệt không?"
Khi chúng ta nhìn vào Lời của Đức Chúa Trời và vào mưu luận của Ngài trong Cựu Ước và trong Tân Ước, tôi thấy rằng nhận thức đó về Đức Chúa Trời – nhận thức của thời đại và đạo đức đương thời mà chúng ta đang sinh sống trong đó – không giống một chút gì với Đấng Toàn Năng của Kinh Thánh, chẳng khác gì một bóng đèn 15 watt đem so với sự vinh hiển của mặt trời lúc giữa trưa. Có một khoảng cách rất xa và rất khác biệt, quí vị không thể tìm gặp một Đức Chúa Trời giống như thế trong Lời của Đức Chúa Trời.

Giờ đây, khi chúng ta nghiên cứu đề tài quan trọng nầy: 'Quyền Tối Cao của Đức Chúa Trời', có ba câu hỏi mà tôi muốn chúng ta phải tự hỏi mình khi chúng ta xem xét đề tài ấy. Câu hỏi thứ nhứt là đây: quyền tối cao của Đức Chúa Trời là quyền gì? Quyền tối cao của Đức Chúa Trời, khi chúng ta gọi như thế thì chính xác là quyền gì? Câu hỏi thứ hai tôi muốn hỏi là: tại sao đây là vấn đề quan trọng đối với một số người? Tại sao người thế gian, hoặc thậm chí có người trong Hội Thánh, không chấp nhận Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời rất cao? Và câu thứ ba tôi muốn hỏi là: Đức Chúa Trời cao cả có gì khác biệt đối với quí vị không? Không những đây là một quy tắc hay một luận án thần học, mà sự cao cả của Đức Chúa Trời còn tạo ra sự khác biệt gì trong đời sống riêng tư của quí vị?

Vì vậy chúng ta hãy nhìn vào câu hỏi thứ nhứt: Quyền tối cao của Đức Chúa Trời là quyền gì? Phải, cần phải xác định sự tối cao của Đức Chúa Trời, quyền ấy được xác định như sau: đó là quyền của Đức Chúa Trời cai quản, tể trị vũ trụ mà Ngài đã dựng nên. Ngài là Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hoá, và vì lẽ đó Ngài có toàn quyền cai trị vũ trụ đó và tể trị y theo ý muốn Ngài. Chúng ta đã học hỏi mấy tuần qua thể nào Đức Chúa Trời là toàn năng, Ngài có toàn quyền, Ngài là toàn tri, Ngài là tối thượng. Chúng ta đã học biết Đức Chúa Trời là siêu việt, chẳng có ai cao tột hơn Ngài, chẳng có ai trỗi hơn Ngài, hay chẳng có ai giống như Ngài – Ngài có mọi sự rất cao tột. Nếu quí vị thích, quyền tối cao của Đức Chúa Trời là sự thực thi điều tối thượng đó, ấy là Đấng Toàn năng đang hành động, sử dụng mọi quyền hành Ngài đang có theo đúng đường lối mà mọi mưu luận thiêng liêng của Ngài đang và sẽ có, ấy là khả năng của Ngài. Vì cớ đó, chúng ta phải kết luận rằng Đức Chúa Trời nầy chẳng phải phục theo ai hết – chúng ta đã nói rằng Ngài trỗi cao hơn chúng ta, chúng ta không thể ảnh hưởng Ngài, chúng ta không thể hạ Ngài xuống tới một cấp độ của chúng ta và chúng ta không thể thăng cao tới một cấp độ tối thượng của Ngài. Chẳng có ai giống như Ngài và chẳng có ai mà Ngài phải phục theo hết.

"Hãy nghĩ điều nầy xem, chỉ một phút thôi, khi chúng ta suy gẫm về quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Quí vị có thể tưởng tượng Đức Chúa Trời đang hỏi xin phép ai đó chăng?"
Hãy suy nghĩ về điều nầy xem, chỉ một phút thôi, khi chúng ta suy gẫm về quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Quí vị có thể tưởng tượng Đức Chúa Trời đang hỏi xin phép ai đó chăng? Tất nhiên là quí vị không thể rồi! Vì đó là quyền của Ngài, đó là đặc quyền của Ngài khi Ngài đẹp ý – Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài không hề xin phép một ai cả. Quí vị có thể tưởng tượng Ngài đang xin hay làm đơn xin trước một quyền bính nào cao hơn không? Không! Tại sao vậy? Vì chẳng có quyền bính nào cao hơn Đức Chúa Trời cả, Ngài trỗi cao hơn hết thảy, Ngài là tối thượng và quyền tối cao của Đức Chúa Trời là sự thực thi quyền tối thượng mà Ngài đang có đó. Bây giờ, đây là Lời của Đức Chúa Trời, Êsai 46.10 mà chúng ta đã đọc, Ngài: ‘rao sự cuối cùng từ buổi đầu tiên, và đã nói từ thuở xưa những sự chưa làm nên'. Đức Chúa Trời đang rao ra trước những việc sẽ được làm ra, Kinh Thánh nói rằng Ngài rao ra chúng bằng chính mưu luận của riêng Ngài: 'Mưu của ta sẽ lập, và ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý'. Như có người đã nói: 'Quyền cao cả của Đức Chúa Trời không gì khác hơn bổn tánh Đức Chúa Trời', đó là bổn tánh của Đức Chúa Trời, đó là thuộc tính của Ngài. Đức Chúa Trời – nếu Ngài là Đức Chúa Trời – phải là một Đức Chúa Trời cao cả, Ngài phải nắm quyền tể trị, Ngài phải nắm quyền tể trị! Như Đaniên đã nói trong 4.35, rằng “hết thảy dân cư trên đất thảy đều cầm như là không có; Ngài làm theo ý mình trong cơ binh trên trời, và ở giữa cư dân trên đất: chẳng ai có thể cản tay Ngài và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy?!” Không một ai dám nói như thế với một Đức Chúa Trời cao cả hết!

Nói theo cách nói hôm nay, và bằng thứ ngôn ngữ mà chúng ta thực sự hiểu rõ và nắm bắt được, chúng ta có thể nói như vầy: 'Điều nào đẹp ý Đức Chúa Trời làm'. Đó là dòng cuối cùng – Đức Chúa Trời không cần phải đáp trả cho bất cứ ai, Ngài không cần phải đáp trả với chúng ta, hay với bất kỳ ai trên trời, hoặc với bất cứ ai trong địa ngục. Đức Chúa Trời là Đấng giải thích riêng của Ngài và Đức Chúa Trời sẽ làm những gì đẹp ý Ngài. Tác giả Thi thiên nói như thế, Thi thiên 135.6: 'Điều nào đẹp ý Đức Giê-hô-va làm, Ngài bèn làm điều nấy, hoặc trên trời, dưới đất, trong biển, hay là trong các vực sâu'. Câu nầy quá hay. Chúng ta thường nói với người thân để cho họ chạy cuống cuồng lên: 'Ngài là luật lệ đối với chính mình Ngài' – và chúng ta thường nói như thế theo một ý tiêu cực, nhưng chúng ta có thể nói như thế theo một ý tích cực và toàn hảo về Đức Chúa Trời Toàn năng – rằng Ngài là luật lệ đối với chính mình Ngài! Ngài không cần phải đáp trả cho một người nào, điều nào đẹp ý thì Ngài làm. Chúng ta đã nói trong mấy tuần qua, rằng Đức Chúa Trời không làm điều chi đúng đắn, có chắc Ngài không làm chăng? Mọi điều Đức Chúa Trời làm đều đúng đắn cả, vì Đức Chúa Trời trỗi hơn mọi sự, Ngài là tối cao.

Giờ đây, tôi muốn nói rằng mọi việc nầy rất sâu sắc, mọi việc nầy rất khó hiểu – thực ra những việc nầy, có nhiều lúc, có thể là không thích nghi đối với chúng ta trong chỗ tầm thường và nhận thức có hạn của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta phải nắm lấy điều nầy – khi chúng ta nắm lấy Đức Chúa Trời của chúng ta, chúng ta phải nắm lấy Ngài theo như Lời của Đức Chúa Trời mô tả và bày tỏ Ngài ra. Trong một cơ hội, Giôsaphát đã dâng lời cầu nguyện với Đức Chúa Trời – tôi muốn quí vị cùng mở Kinh Thánh ra: II Sử ký 20.6. Ông cầu nguyện với Đức Chúa Trời bằng những lời nầy đây: 'Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi! Ngài há chẳng phải là Chúa ở trên các từng trời sao? Há chẳng phải Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? Ở nơi tay Chúa có quyền thế năng lực, chẳng ai chống trả Chúa cho nổi?', Giôsaphát đang đưa ra một câu hỏi trong một lời cầu nguyện. Câu trả lời cho câu hỏi ấy – không phải là câu trả lời đặc biệt, mà là câu trả lời chúng ta sẽ nhận lấy nếu chúng ta đưa ra câu hỏi ấy từ Lời của Đức Chúa Trời – được thấy ở I Sử ký 29.11, nếu quí vị mở câu đó ra. I Sử ký 29.11, hãy giữ lấy câu hỏi của Giôsaphát trong lý trí của quí vị - ''Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi! Ngài há chẳng phải là Chúa ở trên các từng trời sao? Há chẳng phải Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? Ở nơi tay Chúa có quyền thế năng lực, chẳng ai chống trả Chúa cho nổi?' Câu trả lời đến, chương 29 câu 11: 'Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng qui về Ngài; vì muôn vật trên các từng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được tôn cao làm Chúa Tể của muôn vật'. Giôsaphát đã hỏi: 'Có ai cao hơn Ngài không? Có ai là Chúa trỗi cao hơn Ngài, là Đức Chúa ở trên trời không?' – và chúng ta sẽ hỏi như thế hôm nay, khi chúng ta nhìn quanh một thế giới dường như đang ở trong cảnh hỗn độn, một thế giới dường như đổ vỡ về mặt đạo đức, về môi trường, trong từng lãnh vực có thể hình dung được dường như đang sụp đổ hết đến nơi, chúng ta hỏi: 'Có một Đức Chúa Trời ở trên trời không?' Câu trả lời đã được đưa ra: 'Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng qui về Ngài. Ngài được tôn cao làm Chúa tể của muôn vật'.

"Khi chúng ta bước vào một năm mới, Đức Chúa Trời đang phán cùng chúng ta: 'Ta là Đức Chúa Trời cao hơn mọi danh xưng. Ta là Đức Chúa Trời cao cả hơn thần học của loài người. Ta là Đức Chúa Trời đúng nghĩa là Đức Chúa Trời. Ta là Đức Chúa Trời ngự trên ngôi. Ta là Đức Chúa Trời Toàn năng, toàn quyền, tối cao là Đấng làm mọi sự theo mưu định của ý chỉ ta. Ta là Đức Chúa Trời rất cao!'"
Giờ đây, chúng ta sẽ nói như vầy: quyền tối cao của Đức Chúa Trời là quyền gì? Câu trả lời: điều gì đẹp ý, Đức Chúa Trời bèn làm, chỉ khi Ngài đẹp ý, và luôn luôn khi Ngài đẹp ý. Trong Êsai 46, chúng ta đã đọc qua rồi: "Hãy nhớ lại những sự ngày xưa; vì ta là Đức Chúa Trời, và chẳng có Chúa nào khác; ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như ta. Ta đã rao sự cuối cùng từ buổi đầu tiên, và đã nói từ thuở xưa những sự chưa làm nên. Ta phán rằng: Mưu của ta sẽ lập, và ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý' – Ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý! Nếu quí vị bước qua sách Đaniên, quí vị nhìn thấy quan điểm có tính tiên tri của ông, và ông đang nhìn thấy ở đó các thời kỳ của dân Ngoại – rằng mọi nước và mọi triều đại từ thời Đaniên, theo như ông đã nhìn thấy, cho tới khi Đức Chúa Giêxu Christ tái lâm, khi Ngài tái lâm và Ngài sẽ đặt chơn Ngài trên đất, rồi dựng lên Nước của Ngài, Ngài sẽ trị vì từ biển nầy đến biển kia. Ở đó, khi Đaniên nhìn thấy khải tượng nầy, lẽ đạo nằm ở đàng sau khải tượng ấy là đây: Đức Chúa Trời dựng lên các vua, Đức Chúa Trời đánh hạ các vua, và Đức Chúa Trời làm điều chi Ngài đẹp ý trong nước của loài người. Và lẽ đạo trong sách Đaniên là đây: Trong mọi cách ứng xử của Ngài với loài người, Ngài sẽ dạy dỗ họ - Đaniên 4.25 - 'cho đến khi vua nhận biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý'.

Vậy thì đâu là quyền tối cao của Đức Chúa Trời? Đây là sự cao cả đó: Đức Chúa Trời làm, và sẽ làm, khi Ngài đẹp ý. Đức Chúa Trời muốn thế giới trong thế kỷ thứ 21, bước vào năm 2001, phải nhận biết rằng Ngài sẽ làm điều chi Ngài đẹp ý, rằng Ngài đang tể trị trong nước của loài người và Ngài ban nước ấy cho ai tuỳ ý. Khi chúng ta bước vào một năm mới, Đức Chúa Trời đang phán cùng chúng ta: 'Ta là Đức Chúa Trời cao hơn mọi danh xưng. Ta là Đức Chúa Trời cao cả hơn thần học của loài người. Ta là Đức Chúa Trời đúng nghĩa là Đức Chúa Trời. Ta là Đức Chúa Trời ngự trên ngôi. Ta là Đức Chúa Trời Toàn năng, toàn quyền, tối cao là Đấng làm mọi sự theo mưu định của ý chỉ ta. Ta là Đức Chúa Trời rất cao!'. Đấy là ý nghĩa của quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Chúng ta không nhắm vào mối quan hệ của sự cao cả đó đối với loài người và trách nhiệm của loài người, và chúng ta không nghiên cứu điều đó sáng hôm nay, mọi sự tôi muốn quí vị nhìn thấy không phải “kìa là con người”, mà quí vị phải nhìn thấy 'kìa là Đức Chúa Trời!' Đức Chúa Trời là cao cả, Đức Chúa Trời sẽ làm điều chi Ngài đẹp ý. Trong sinh hoạt của vũ trụ nầy, trong thế giới của chúng ta, trong Hội Thánh và qua kinh nghiệm riêng của chúng ta, Đức Chúa Trời là cao cả! Không có gì phải ngạc nhiên, sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là một việc rất kinh khiếp.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn vào câu hỏi thứ hai: tại sao lại là nan đề cho những ai hiểu rõ Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời cao? Tôi muốn nói, vấn đề nầy rất rõ ràng từ Kinh Thánh và tôi cũng hiểu như thế. Những gì Đức Chúa Trời phán là rất rõ ràng, chúng ta đã đọc thấy: 'Ta làm theo khoái lạc của lòng ta. Không một ai có thể cản tay Ngài, điều chi đẹp ý thì ta làm'. Đức Chúa Trời vốn có cái quyền ấy – chúng ta đã công nhận quyền ấy – là Đấng Tạo Hoá của thế gian nầy, Ngài nắm quyền tể trị. Nhưng sự thực còn lại là lẽ đạo nầy – thực ra, tôi muốn nói không có lẽ đạo nào khác bị con người thù ghét hơn thế. Họ không thể chịu được Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị, họ không thể chịu Đức Chúa Trời là rất cao – và thậm chí, đáng buồn thay, một số Cơ đốc nhân không thể nắm bắt được lẽ thật quan trọng nầy: Đức Chúa Trời là tối cao! Họ sẽ để cho Đức Chúa Trời yêu thương, họ có thể để cho Đức Chúa Trời yêu thương vô giới hạn – nghĩa là phương thức Ngài yêu thương, halêlugia! Chúng ta đã xem qua sự yêu thương ấy tuần qua, chẳng có một giới hạn nào cho tình yêu thương của Đức Chúa Trời, chẳng có một chiều sâu nào chúng ta có thể đo được, chẳng có một chiều cao nào chúng ta có thể với tới được – nhưng con người trong thế giới của chúng ta, thậm chí những kẻ đang ở ngoài Đấng Christ, sẽ để cho Đức Chúa Trời yêu thương mọi thứ mà Ngài ưa thích. Con người sẽ để cho Đức Chúa Trời sáng tạo, họ sẽ để cho Ngài sáng tạo một vũ trụ, họ sẽ để cho Ngài tiếp tục công cuộc sáng tạo, nâng đỡ muôn vật đang hiện hữu quanh chúng ta và giữ cho mọi sự y nguyên trước sau như một – con người sẽ để cho Đức Chúa Trời làm như thế. Họ sẽ để cho Đức Chúa Trời làm bất cứ điều gì, nhưng họ sẽ không để cho Ngài nắm quyền tể trị đâu!

“Không có lẽ đạo nào khác bị con người thù ghét hơn thế. Họ không thể chịu được Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị, họ không thể chịu Đức Chúa Trời là cao cả – và thậm chí, đáng buồn thay, một số Cơ đốc nhân không thể nắm bắt được lẽ thật quan trọng nầy: Đức Chúa Trời là tối cao!”
Spurgeon đã nói: 'Nhưng khi Đức Chúa Trời ngồi trên ngôi của Ngài, mọi loài thọ tạo của Ngài đều nghiến răng của chúng'. Giờ đây, chủ ý của tôi là không muốn có tranh cãi ở đây – vì đã có sự tranh cãi gay gắt về đề tài nầy trải qua nhiều thế kỷ, và tôi không bước vào cuộc tranh cãi ấy hôm nay. Thế nhưng những điều tôi muốn nói là vì quí vị, là con cái của Đức Chúa Trời và là tín đồ trong Đức Chúa Giêxu Christ, phải nhìn thấy vẽ đẹp có trong sự cao cả của Đức Chúa Trời cho chính mình. Đấy là những gì tôi muốn quí vị phải lắng nghe, tôi muốn quí vị nắm lấy Đức Chúa Trời của mình là Đấng đang nắm quyền tể trị! Ngài đang nắm lấy quyền tể trị thế gian nầy, bất luận quí vị nhìn thấy điều gì, vô luận quí vị suy nghĩ như thế nào, và Ngài đang nắm quyền tể trị trong sự sống mà quí vị đang sinh sống ngay giờ phút nầy của thời gian.

Bây giờ chúng ta hãy suy nghĩ về vấn đề nầy – thật là quan trọng để cho chúng ta suy nghĩ. Con người nói về quyền tự do, và về Đức Chúa Trời phải là Đức Chúa Trời - như A. W. Tozer nói – Ngài phải là toàn tri, Ngài phải là toàn quyền, và việc thứ ba là Ngài phải tự do cách tuyệt đối. Nếu Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời tối cao, Ngài phải biết rõ mọi sự, như vậy có đơn giản không? Không một điều chi mà lý trí của Đức Chúa Trời không biết, hay Ngài không thể quên một điều gì hoặc không nhìn thấy một điều gì, vì mọi quyết định mà Ngài đưa ra theo ánh sáng đó sẽ là dối trá – Ngài sẽ đưa ra những quyết định sai trái, với sự thiếu hiểu biết những điều liên hệ tới Ngài và tới một quyết định mà Ngài đưa ra. Vì vậy, Đức Chúa Trời phải là Đấng toàn tri, phải là Đấng toàn năng.

Đức Chúa Trời phải là Đấng toàn năng, là Đấng tối cao, há không phải như vậy sao? Nghĩ như vầy là dại dột, khi nghĩ rằng Đức Chúa Trời có một ý chí và không thể bày tỏ ra ý chỉ tối cao đó vì Ngài là bất năng, vô quyền! Còn việc thứ ba là đây: Ngài phải tự do cách tuyệt đối. 'Điều chi đẹp ý thì ta làm', Đức Chúa Trời phán vậy – nghĩa là Ngài không có một ngăn trở nào, không một ai có thể cản tay Ngài lại, không một ai có thể làm thay đổi tâm ý Ngài, Ngài có quyền tự do. Giờ đây quyền tự do bị người ta bàn tán xôn xao, đó là một lẽ đạo và là bài quốc ca của quốc gia [nước Mỹ] trong thập niên 60 và vẫn y như thế hôm nay. Con người mong muốn được tự do, có phải không? Họ muốn sống thật tự do không có một ngăn trở nào hết – và việc đáng buồn nằm trong chỗ địa vị tội nhân của họ, khi họ trông ngóng sự tự do đó, họ tìm thấy họ đang mang vác thật nhiều vòng nô lệ cho tội lỗi. Tự do rất khó cưu mang và tưởng tượng trong lý trí của chúng ta, vì không có một sự tự do tuyệt đối nào trong thế gian nầy – sự tự do ấy không hiện hữu đâu! Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới là tự do hoàn toàn và tuyệt đối mà thôi!

Bây giờ, chúng ta hãy suy nghĩ điều nầy xem: người ta hay nói 'tự do như chim', có phải không? Và quí vị biết rõ nói như thế có nghĩa gì rồi, một con chim có thể tung mình ra khỏi tháp của một toà nhà rồi bay lượn trong khoảng không. 'Tự do như chim' – và quí vị biết rõ nói như thế có nghĩa gì rồi, câu ấy nói về một khoảng không cho sự hoạt động của con chim đó: sự thật là nó có thể bay – và vấn đề là, khi chúng ta nhìn xem và chúng ta không thể bay được, 'Nầy! Con chim kia nó đang tự do!'. Nhưng câu nói 'tự do như chim' là câu nói dại dột, và đó không phải là một câu nói hay tuyệt đối vì loài chim không phải sống tự do đâu! Đấy chưa phải là sự tự do thực, vì loài chim đó có những bản năng, loài chim đó có những nỗi sợ đã được kiến thiết rồi ở trong chúng, nó sẽ không lao vào trong mối nguy hiểm, nó sẽ bay tránh loài động vật ăn thịt, loài chim đó biết chỗ mà nó phải bay tới vì cớ thời tiết – quí vị sẽ không nhìn thấy bầy chim bay ra trong lúc mưa hay trong lúc tuyết rơi. Nó không được tự do tuyệt đối đâu, nó không thể bay trong áp lực của không khí không thích ứng với luật hàng không, nó không thể bay tới một nơi mà chẳng có sự tiếp trợ về đồ ăn, nó không thể bay tới nơi đó vì nó không có tự do – chỉ có Đức Chúa Trời mới thật là tự do! Đấy là những gì tôi muốn quí vị phải nhìn thấy, trong lãnh vực tự nhiên, trong thế giới của chúng ta muôn vật đều nương tựa vào nhau. Đây là một thế giới tổng thể – Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới ấy theo phương thức nầy – về sự phụ thuộc. Quí vị có thể nhìn thấy sự ấy trong dây chuyền đồ ăn, trong chỗ chúng ta đang cần có thực phẩm – và có dây chuyền đó con người ăn thịt các loài thú đồng, các loài thú đồng thì ăn cỏ và cứ thế. Dây chuyền đó xoay vần, và quí vị có thể nhìn thấy loài thú đồng đang sống tự do ngoài đồng trống, quí vị có thể nhìn thấy tôi đang lái xe xuống con đường kia tự do trong chiếc xe của tôi – song chúng ta không đang sống trong sự tự do cách tuyệt đối đâu, có nhiều việc mà chúng ta phải nương tựa vào, và nếu chúng gặp rắc rối, thì chúng ta sẽ phải chịu khổ nhiều lắm.
"Các bậc cầm quyền không thích quí vị nói về sự tối cao của Đức Chúa Trời, họ cười nhạo vấn đề đó. Các bậc Thủ tướng, Tổng thống, các Vua, những người cầm quyền cai trị không ưa quan niệm đó – họ muốn tin rằng hết thảy quyền bính đều ở nơi tay họ".

Bây giờ, nhận lấy điều nầy vào lý trí chúng ta là điều rất quan trọng: ấy là chúng ta không sống tự do cách tuyệt đối đâu! Đấng duy nhứt sống tự do chính là Đức Chúa Trời Cao Cả Toàn Năng! Giờ đây, tại sao đây lại là nan đề cho ai suy tưởng về tự do đó? Phải đấy, tất nhiên vấn đề hiển nhiên là nếu Đức Chúa Trời là tối cao, thì họ không nắm được quyền cai trị và họ không phải là nhân vật sau cùng cần phải được tham kiến. Các bậc cầm quyền không thích quí vị nói về sự tối cao của Đức Chúa Trời, họ cười nhạo vấn đề đó. Các bậc Thủ tướng, Tổng thống, các Vua, những người cầm quyền cai trị không ưa quan niệm đó – họ muốn tin rằng hết thảy quyền bính đều ở nơi tay họ. Trong từng cá nhân người nam, người nữ, ít nhất có đôi chút địa vị vua chúa trong chính đời sống của họ, ở địa vị ấy họ nói: 'Ta sẽ không muốn Con Người nầy cai trị trên Ta'. Đây là vấn đề kiêu ngạo rất xa xưa, có phải không? Đó là mẹ đẻ của mọi tội lỗi.

Nhưng chúng ta không xử lý với nan đề nầy trong chỉ một phút mà được đâu! – Tôi muốn xử lý với điều mà tôi tin là nan đề chính mà thôi: tại sao người ta, kể cả Cơ đốc nhân, lại không chấp nhận quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Chính vì điều nầy: sự hiện diện của tội ác trong thế giới của chúng ta. Người ta đưa ra câu hỏi: 'Sao kẻ ác lại được thịnh vượng chứ?', Tác giả Thi thiên đã đưa ra câu hỏi ấy trong Thi thiên 37. Sao hạng người gian ác vẫn cứ thịnh vượng trong thế gian, cứ ở đỉnh cao trên thế giới, còn người công bình thì bị chà đạp ở dưới chơn? Điều nầy dẫn tới một câu hỏi khác nữa: phải chăng Đức Chúa Trời dự phần trong tội lỗi của con người? Nếu Đức Chúa Trời là tối cao và Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị và sao Ngài để cho hạng người thể ấy cứ làm ra những việc kinh khủng nầy – phải chăng Đức Chúa Trời đã ấn định điều nầy theo một phương thức không đúng, kỳ dị? Quí vị có thể hiểu được mấy thắc mắc nầy, có phải không? Lý do tại sao chúng ta hiểu mấy thắc mắc nầy: ấy là chúng ta có tâm trí giống như thế. Và chúng ta suy nghĩ về Chúa – như tác giả thánh ca đã nói, như chúng ta đã hát: 'chúng ta xét đoán Chúa với ý thức quá lờ mờ'.

Bây giờ, điều chúng ta không thể hay tự cho phép mình làm, là từ chối những điều chúng ta đã thiết lập rồi từ Lời của Đức Chúa Trời vì mọi thắc mắc của loài người. Nhưng cái điều chúng ta muốn làm là đưa ra một vài lý do tại sao tôi tin đây là những nan đề dành cho con người, liên quan tới quyền tối cao của Đức Chúa Trời và sự hiện diện của điều ác. Việc đầu tiên là đây: thường là ý trời – và đấy là cách mô tả đơn giãn quyền tối cao của Ngài – họ dường như muốn đi ngược lại với mọi lời hứa của Ngài. Giờ đây, hãy lắng nghe điều nầy: ý trời, những gì Đức Chúa Trời làm và điều chi Đức Chúa Trời tuyên bố, ở mọi thời điểm trong cuộc sống của chúng ta dường như đi ngược lại với mọi sự mô tả Đức Chúa Trời và những gì Đức Chúa Trời đã phán dạy. Nói theo cách nói của chúng ta, chúng ta tự hỏi lòng: 'Điều nầy sẽ không xảy đến cho tôi đâu! Tôi là một Cơ đốc nhân, sao Đức Chúa Trời lại cho phép điều nầy xảy đến cho tôi chứ? Đức Chúa Trời để cho điều nầy xảy đến bằng cách nào?'

“Sao hạng người gian ác vẫn cứ thịnh vượng trong thế gian, cứ ở đỉnh cao trên thế giới, còn người công bình thì bị chà đạp ở dưới chơn? Điều nầy dẫn tới một câu hỏi khác nữa: phải chăng Đức Chúa Trời dự phần trong tội lỗi của con người? Nếu Đức Chúa Trời là tối cao và Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị và sao Ngài để cho mọi người nầy cứ làm ra những việc kinh khủng nầy – phải chăng Đức Chúa Trời đã ấn định điều nầy theo một phương thức không đúng, kỳ dị?”
Giờ đây, nếu quí vị cho phép, tôi muốn quí vị hãy quay trở lại với – và quí vị nhớ trong những câu chuyện đầu tiên về David, khi chàng đi ra ngoài đồng với bầy chiên, là một người chăn chiên, và Đức Chúa Trời cùng làm việc với, và đang nắn đúc chàng. Cụ Samuên đến tại nhà của chàng và ông đã xức dầu cho David làm Vua – sau khi quan sát tất cả các con trai của Ysai, ông cụ đã xức dầu cho người con út, người nhỏ nhất và người trẻ tuổi nhất: ấy là David. Chàng đã được xức dầu làm Vua, và đấy là ý trời, Đức Chúa Trời đã công bố: 'Người nầy sẽ là Vua'. Đấy là lời hứa của Đức Chúa Trời: 'David, ngươi sẽ làm Vua' – thế nhưng nhiều ngày, nhiều tháng, rồi nhiều năm trời trôi qua, chúng ta thấy lời hứa đó, ý trời đó dường như, theo con mắt của chúng ta, lại mâu thuẫn đối với nó. Tôi đang nói gì thế? Tôi đang nói lời hứa của Đức Chúa Trời: ấy là David sẽ làm Vua, chàng sẽ được đội vương miện – nhưng chúng ta thấy Saulơ đang truy kích chàng, giống như truy kích một con gà qua vùng đồi núi trong đồng vắng, sẵn sàng giết chết chàng. Ý của Đức Chúa Trời cho phép cuộc lục soát đó, ý của Đức Chúa Trời cho phép cuộc truy kích đó – và có nhiều thời điểm trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta có một lời hứa của Đức Chúa Trời, chúng ta đọc Lời của Ngài, chúng ta dầm thấm lời ấy vào trong tấm lòng của chúng ta, thế nhưng mọi sự vây quanh chúng ta dường như đi ngược lại lời hứa đó – nhưng chúng ta cần phải nhận biết hôm nay, nếu đấy là tình trạng của chúng ta, có nhiều lúc sự việc lại xảy ra như thế. Dường như là ý trời đang đi ngược lại với mọi lời hứa của Ngài, song đấy không phải là trường hợp đâu! Đấy chẳng phải là trường hợp đâu!

Nếu quí vị nghĩ tới Phaolô, hãy nhớ trong sách Công Vụ các Sứ Đồ, ông đang có mặt trên chiếc tàu và Đức Chúa Trời hứa bảo tồn mọi sinh mạng có mặt trên chiếc tàu – nhưng điều chi đã bắt đầu diễn ra chứ? Hãy tưởng tượng quí vị là Phaolô xem, và Đức Chúa Trời đã ban cho quí vị lời hứa long trọng đó, rồi kế đó con tàu bắt đầu vỡ ra và quí vị sắp sửa bị chìm xuống, và quí vị nghĩ mình sắp sửa mất mạng sống cùng những người kia nữa – thế mà từng người một trong số họ, Đức Chúa Trời đã hứa họ sẽ được cứu. Dường như là ý trời đang đi ngược lại với lời hứa của Đức Chúa Trời vậy, nhưng chúng ta đã đọc thấy điều gì nào? Chúng ta đọc thấy rằng trong các mãnh vỡ của con tàu đó, từng người một đều còn sống mà bơi vào bờ. Đó là ý định của Đức Chúa Trời! Dường như mọi việc trong đời sống của chúng ta đều đi ngược lại với các lời hứa, các đường lối của Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời đang cai trị, Đức Chúa Trời là tối cao, Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị – và nếu con tàu sự sống của quí vị đã bị vỡ ra thành từng mãnh, hãy nghe đây, đây là sứ điệp của Đức Chúa Trời ban cho quí vị khi quí vị bước vào một năm mới: quí vị sẽ nổi lên rồi bơi vào bờ trên từng mãnh ván của con tàu vụn nát kia! Mọi lời hứa của Đức Chúa Trời sẽ không thể qua đi cách nhưng không đâu.

"Theo nhận thức lờ mờ của chúng ta, ý định của Đức Chúa Trời dường như đi ngược lại với ý chỉ của Ngài – Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị!"
Thứ hai, có một lý do khác nữa tại sao người ta gặp nỗi khó nầy là vì con đường chúng ta đi trong cuộc sống nầy có thể là cay đắng và ngọt ngào đang pha trộn lẫn vào nhau. Chúng ta ngạc nhiên: 'Chúng ta có những thứ cay đắng trong đời sống của mình bằng cách nào? Làm sao Đức Chúa Trời lại để cho các thứ cay đắng cùng những việc kỳ quặc diễn ra khi Ngài chỉ muốn phước hạnh cho chúng ta thôi?'. Sự thể giống như một bàn cờ vậy, quân trắng và đen, và dường như chúng ta ra quân với phương thức ba chìm bảy nổi. Và chúng ta biết cái địa ngục kia, nơi đoạ đày ấy, là một nơi chốn của sự cay đắng; chúng ta biết rõ thiên đàng là một nơi của sự ngọt ngào – nhưng chúng ta cũng biết, mọi người cũng biết, trái đất mà chúng ta đang sinh sống trên đó đã bị pha trộn với cả hai thứ: cay đắng và ngọt ngào. Sự thể giống như cây gậy và mana đang ở trong hòm Giao Ước, cây gậy là dành cho phần kỷ luật và cho phần dẫn dắt, còn mana là để trưởng dưỡng – và sự thể giống như chuyến hành trình trên đất của chúng ta dọc theo đồng vắng, nó pha trộn hai thứ: cay đắng và ngọt ngào. Nhưng quí vị phải nhìn thấy, như David đã thấy trong các Thi thiên: 'Ta sẽ hát xướng về sự nhân từ và sự công bình' (Thi thiên 101.1) – nhân từ và công bình! Đức Chúa Trời đang cai trị đời sống tôi, bất luận có điều chi xảy ra, Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị – và giống như Giôsép, dù chàng bị bán đi làm nô lệ, dù chàng bị bỏ tù vì một tội mà chàng không có phạm vào, dù chàng bị ném vào trong ngục tối đó và người ta đã hứa với chàng đủ thứ nhưng đã quên phứt lời hứa của họ, lời nầy đã nói về chàng như sau: 'Nhưng Đức Chúa Trời ở cùng chàng!' Đúng thế! Dù khi ý trời dường như, theo nhận thức lờ mờ của chúng ta, đi ngược lại với ý chỉ của Đức Chúa Trời – Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị!

Thứ ba, một trong những lý do tại sao người ta có nhiều nan đề là đây, như tín đồ Thanh giáo Thomas Watson đã nói: 'Đức Chúa Trời có thể vẽ ra một đường thẳng bằng cái que cong'. Đức Chúa Trời có thể làm được mọi sự, Đức Chúa Trời có thể buộc muôn vật chạy theo mưu luận của ý chỉ của Ngài. Điều tôi muốn nói là đây: một việc nào đó là tội lỗi từ tay của con người ô uế, đồng thời nó có thể tốt lành từ tay của Đức Chúa Trời. Giờ đây những trở ngại đó – đừng yêu cầu tôi giải thích, vì tôi không thể giải thích nó – nhưng việc làm có thể bị tác động từ tay của con người tội lỗi, cùng lúc đó Đức Chúa Trời có thể sử dụng nó từ tay của Ngài để làm phước cho. Đó là Đức Chúa Trời toàn năng, mà cũng là Đức Chúa Trời tối cao của chúng ta! Có nhớ Giôsép không? Các anh chàng đã có lòng ganh tỵ, có phải không? Họ ganh tỵ đối với tình yêu của cha và họ đã bán chàng, họ đã bỏ chàng xuống một cái hố sâu, và chàng phải đi tù – như tôi đã nói – và đã gặp nhiều đủ thứ nan đề. Nhưng đâu là ý chỉ tối cao của Đức Chúa Trời, đâu là bàn tay vô hình của Ngài ở đàng sau mọi sự? Ngài vốn biết có một cơn đói kém sắp xảy tới, Ngài vốn biết dân sự của Israel và hết thảy Israel, gia đình của Giacốp, cần phải được nuôi sống – và ở cuối ngày ấy, Ngài muốn làm gì? Ngài muốn đưa cả gia đình đó sang Ai cập. Chuyện nầy há chẳng đáng ngạc nhiên sao? Từ những bàn tay độc địa của các anh Giôsép, Đức Chúa Trời vốn có quyền – và Đức Chúa Trời đã dự trù, và Đức Chúa Trời đã quyết định điều tốt lành cho con cháu của Israel.

"Tại sao Ngài chẳng làm gì về nan đề ấy chứ? Tại sao Ngài không nắm quyền tể trị? Tại sao Ngài không chấn chỉnh điều ác đang tồn tại trên thế gian?"
Có nhớ vụ Simêi rủa sả David không? Có nhớ ông ta đã rủa sả vua ba chìm bảy nổi không? Lời rủa sả đó độc địa và gian ác lắm, và đó là một điều tội lỗi kinh khủng phải làm, nó ra từ một tấm lòng hiểm ác nghịch lại David – nhưng đến cuối ngày ấy Đức Chúa Trời đã định rằng sự rủa sả phải được sử dụng để hạ David xuống vì tội tà dâm và giết người của David. Và đến cuối ngày, chúng ta nhìn về đồi Gôgôtha, chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Giêxu Christ – và hạng người gian ác, những kẻ giết người đã bắt lấy Ngài, họ treo Ngài lên, rồi khiến cho Ngài phải chết, nói theo con người, Giuđa đã bán và đã phản bội Ngài – thế mà chúng ta lại được ban cho sự cứu chuộc bởi huyết của Ngài. Sự thể ấy há chẳng kỳ diệu sao? Há chẳng kỳ diệu sao, khi chúng ta đang có một Đức Chúa Trời tối cao – và chúng ta có thể nhìn lại đời sống của mình, và trông nó giống như phân xưởng của người thợ rèn, có phải không? Và quí vị nhìn vào xưởng của người thợ rèn, và quí vị đang nhìn thấy các loại công cụ có hình móc câu – những thứ khủng khiếp, các đồ dùng rất dễ sợ, những đồ độc địa, các thứ công cụ trông rất đau đớn bởi đó ông ta lo làm công việc của mình. Nhưng khi chúng ta nhìn thấy món đồ đã làm hoàn chỉnh rồi, nó thật là xinh đẹp. Quí vị có biết lý do tại sao món đồ đó đẹp như thế không? Vì bàn tay của chủ nó. Đó là Đức Chúa Trời tối cao! Đó là Đức Chúa Trời của tôi! Đó là Đức Chúa Trời mà chúng ta đang thờ lạy, một Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị – và lý do tại sao Ngài cho phép điều ác trong thế gian nầy, và câu trả lời cho thắc mắc của cả thế gian – họ đang gào lên lớn tiếng thắc mắc ấy đến nỗi họ không thể nghe được Đức Chúa Trời đang đưa ra câu trả lời. ‘Tại sao Ngài chẳng làm gì về nan đề ấy chứ? Tại sao Ngài không nắm quyền tể trị? Tại sao Ngài không chấn chỉnh điều ác đang tồn tại trên thế gian?' – thắc mắc ấy đã được trả lời! Câu trả lời là: Ngài đang tể trị nó. Hết ngày này qua ngày khác, hết phút này sang phút khác, Ngài đang cho phép các việc nhất định xảy ra đặng Ngài bày tỏ ra ơn phước qua các việc đó.

Đây là câu hỏi tôi muốn đưa ra cho quí vị hôm nay, khi chúng ta kết thúc những giây phút sau cùng (và qua đây tôi thấy chiếc đồng hồ treo tường lại có giờ khác với đồng hồ đeo tay của tôi, vì vậy tôi sẽ đi theo chiếc đồng hồ treo tường nếu quí vị không phiền – nó chạy chậm lắm!). Điều nầy có ý nói gì với quí vị vậy? Sự tối cao ấy đang làm gì – quí vị đang làm gì với sự tối cao đó? Đừng hỏi người thế gian, đừng hát với người thế gian: 'Đức Chúa Trời vẫn còn ngự trên ngôi, và Ngài sẽ nhớ tới dân sự của Ngài' khi quí vị không sống giống như thế! Đây là câu hỏi thứ ba: sự tối cao ấy tạo ra điều chi khác biệt cho quí vị vậy? Tôi sẽ nói cho quí vị biết sự tối cao ấy tạo ra điều gì, điều ấy là đây: không có một ngõ cụt nào hết. Có nghĩa là chẳng có một điều chi bởi cơ hội, không có một sự gì ngẫu nhiên, chẳng có một may mắn nào hết – và thậm chí cả vòng quay của mấy con súc sắc nữa, lời của Đức Chúa Trời phán [trong] Châm ngôn 16.33: 'Người ta bẻ thăm trong vạt áo; song sự nhứt định do nơi Đức Giê-hô-va mà đến'. Đức Chúa Trời là viên phi công của muôn vật, Đức Chúa Trời đang ngồi trong chiếc ghế cầm lái – nếu tôi có thể nói như thế – cho mọi loài thọ tạo. Và hãy tưởng tượng điều nầy xem, hỡi con cái của Đức Chúa Trời – hãy để cho điều nầy dầm thấm trong lý trí của quí vị: nếu Đức Chúa Trời nầy là Đức Chúa Trời của quí vị, quyền tối cao của Đức Chúa Trời là dành cho quí vị đấy! Ngài đang ở cùng quí vị, Ngài hiện hữu vì quí vị – nhưng trong một phút tỉnh táo, nếu Đức Chúa Trời rất cao không phải là Đức Chúa Trời của quí vị, Ngài đang chống nghịch quí vị đấy – và nguyện Đức Chúa Trời giúp đỡ cho quí vị, vì Ngài là Đấng duy nhất có thể nếu Ngài đang chống nghịch quí vị.

"Phải công nhận điều nầy – nếu quí vị chưa được cứu – ai ở về phía Đức Chúa Trời sẽ thắng, rằng tội lỗi sẽ không thắng được đâu, và Đấng Christ phán với quí vị hôm nay: 'Ai không ở cùng Ta nghịch lại ta'. Không có chỗ ngồi nào trên chiếc hàng rào cả".
Hãy tưởng tượng điều nầy xem – chúng ta phải làm gì, điều ấy đã tạo ra sự khác biệt nào? Việc đầu tiên tôi muốn nói là đây: quí vị phải phục theo quyền tối cao của Ngài. Đúng như thế đấy! Người ta đang nói về trách nhiệm của con người, phải, đây là trách nhiệm của con người: con người phải phục theo quyền tối cao của Đức Chúa Trời, có đúng như thế không? Con người phải phục theo quyền tể trị của Đức Chúa Trời, con người công nhận chỉ một mình Ngài là rất cao ở trên thiên đàng, Ngài là Đấng mà với Ngài chúng ta phải công nhận, rằng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của muôn vật. Muốn công nhận Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, phải công nhận điều nầy – nếu quí vị chưa được cứu - ai ở về phía Đức Chúa Trời sẽ thắng, rằng tội lỗi sẽ không thắng được đâu, và Đấng Christ phán với quí vị hôm nay: 'Người nào không ở cùng ta nghịch lại ta'. Không có một chỗ nào trên chiếc hàng rào cả.

Việc thứ hai là đây: quí vị phải tin cậy quyền tối cao của Ngài. Đó không phải là thứ quí vị tin ở trong đầu mình – và tôi nói như vầy: không một thuộc tính nào của Đức Chúa Trời làm sự yên ủi cho người tin Chúa giống như quyền tối cao của Đức Chúa Trời hết. Đừng để mất thuộc tính đó, đừng để cho người ta tranh cãi về quyền ấy khiến cho quí vị phải quên đi quyền ấy và hãy nói: 'Tôi không muốn bị quấy rối với mọi thứ tranh cãi đó'. Hãy cứ ở tại đó! Hãy suy gẫm về quyền ấy! Vì chẳng có gì yên ủi hơn – và cho phép tôi nói như vầy: Tôi tin đây là cách thứ nhứt Đức Chúa Trời tự bày tỏ chính mình Ngài cho loài người, bằng quyền tối cao của Ngài. Sách đầu tiên đã từng được viết ra không phải là sách Sáng thế ký đâu, mà là sách Gióp, và toàn bộ lẽ đạo nói về việc ấy: Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị! Đức Chúa Trời cao tột hơn hết! Đây là Đức Chúa Trời mà chúng ta đang phục sự và chúng ta phải phục theo, chúng ta phải tin cậy nơi sự dẫn dắt của Ngài trong các hoàn cảnh tệ hại nhất của cuộc sống. Trong các cơn thử thách nghiệt ngã nhất mà chúng ta phải bước vào chúng ta phải nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã ấn định đường lối của chúng ta, mà còn là điều nầy nữa: Đức Chúa Trời có quyền tể trị đường lối đó, Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời đáp trả lời cầu nguyện, rằng Đức Chúa Trời sẽ vận hành. Tôi tin có ít nhiều quan trọng cho quí vị hôm nay, khi chúng ta bước vào một năm mới, ấy là sự thực Đức Chúa Trời đang ngự trên ngôi.

Hãy suy nghĩ về điều nầy khi chúng ta kết thúc: nếu Đức Chúa Trời không nâng đỡ thế gian, thì chúng ta sẽ ở đâu? Tôi đang nói tới ai đó tuần lễ nầy và người ấy lọt vào sự chú ý của tôi, là nếu Đức Chúa Trời khiến trời mưa suốt cả ngày, chúng ta sẽ thấy ướt loi ngoi hết, có phải không? Một ngày kia, quí vị nhìn thấy tuyết tan, quí vị nhìn thấy lũ lụt tràn khắp nước Anh, quí vị nhìn thấy những điều mà động đất và núi lửa có thể hoành hành – thế mà, trong mọi sự đang xảy ra, những mãnh thiên thạch không rơi nhằm quả đất; thực ra, nếu chúng ta tới gần mặt trời thêm một chút nữa, chúng ta sẽ bị nướng chín, nếu chúng ta xa mặt trời thêm một chút nữa, chúng ta sẽ bị đông cứng, Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị. Đức Chúa Trời đang nâng đỡ, Ngài đang nâng đỡ muôn vật bởi lời quyền phép của Ngài.

Thứ hai: học biết đầu phục quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Quí vị sẽ học theo chăng? Chỉ học đầu phục thôi đấy! Quí vị có thể làm hay hơn Đức Chúa Trời chăng? Quí vị có thể hoạch định cuộc sống mình tốt hơn Ngài chăng? Hãy tưởng tượng chúng ta sẽ ở đâu nếu chúng ta bị bỏ lại đây! Điều tôi muốn quí vị làm hôm nay là hãy bước ra và, giống như cụ Hêli nói – khi ông hay được mọi điều khủng khiếp đã xảy ra cho các con trai cụ và đã xảy ra cho Hòm Giao Ước, cụ nói: 'Ấy là Đức Giê-hô-va, nguyện Ngài làm đều đẹp ý Ngài!'. Chúng ta có thể nói như thế chăng? Chúng ta có thể nói như Gióp: 'Đức Giêhôva ban cho, Đức Giêhôva cất đi' – và đây là chìa khoá - 'Đáng ngợi khen danh Đức Giêhôva'? 'Dù Ngài giết tôi, tôi vẫn nhờ cậy nơi Ngài'? Giống như Đức Chúa Giêxu Christ: 'Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành'? Hãy suy nghĩ xem: mọi thập tự giá của quí vị đều vừa vặn với chiếc áo xống của quí vị, vì Đức Chúa Trời là thợ may, Đức Chúa Trời đã ấn định chúng, Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng cho quí vị – và phép lạ của ân điển là đây: ấy là từng việc nhỏ nhặt đều hiệp lại làm ích cho quí vị.

“Tôi tin có ít nhiều quan trọng cho quí vị hôm nay, khi chúng ta bước vào một năm mới, ấy là sự thực Đức Chúa Trời đang ngự trên ngôi”.
Tôi biết đó là những gì Lời Đức Chúa Trời đã phán ra. Nó giống như mấy cái bánh xe của cái đồng hồ, dường như chúng đang chạy ngược, song hết thảy chúng đều chạy theo cùng một hướng – và điều đó khiến cho kim đồng hồ cứ chạy tới, và làm cho nó reng chuông lên. Bất luận điều chi đang xảy ra trong đời sống của quí vị, quí bạn tôi ơi, thật ra mọi sự đều là vì ích cho quí vị đấy thôi – và điều ấy sẽ là một phương cứu chữa [dành cho] sự sợ hãi, không một điều gì đụng đến quí vị vì quí vị nhận biết rằng Đức Chúa Trời trong sự yêu thương, khôn ngoan của Ngài sẽ không cho phép bất cứ một điều ác nào đi ngược lại với ý chỉ của Ngài. Tình yêu ấy khiến cho chúng ta càng ao ước về thiên đàng và khiến cho chúng ta khao khát một quê hương. Đó là nan đề, quyền tối cao của Đức Chúa Trời, đó là một nan đề mà tôi phải hiểu rõ, đó là một nan đề dành cho hết thảy chúng ta – thực vậy, có những lúc chúng ta hồ nghi sự tối cao ấy vì có những việc đang xảy ra trong đời sống chúng ta - nhưng có một ngày sẽ đến khi chúng ta biết như đang nhìn qua một tấm gương cách mập mờ, nhưng chúng ta sẽ thấy mặt đối mặt, và chúng ta sẽ biết như Chúa biết chúng ta vậy.

Đây là Đức Chúa Trời, Ngài đã đưa Êxơtê đến trước mặt nhà Vua vì nàng đã được chọn ra từ một loạt các nữ đồng trinh. Đây là Đức Chúa Trời, Ngài đã đưa những con chim quạ, thậm chí chúng chẳng cho các con nhỏ của chúng ăn, đem đồ ăn đến cho vị tiên tri của Đức Chúa Trời ăn – ấy là Êli. Đây là Đức Chúa Trời, Ngài đã khiến cho con gà biết gáy, đây là Đức Chúa Trời, bàn tay tối cao, vô hình của Ngài đã được nhìn thấy qua Lời của Đức Chúa Trời, và đã được thấy trong sách Êxơtê dù chẳng hề nhắc tới danh của Ngài – tại sao vậy? Vì mục đích là đây: Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời trong các vụ việc của loài người – và quí bạn tôi ơi – hãy nghe đây! – quí vị là con ngươi của mắt Ngài, và mí mắt của quyền tối cao của Đức Chúa Trời hết ngày nầy sang ngày khác lo bảo hộ quí vị, và lo gìn giữ quí vị.

Ồ, tôi muốn chúng ta còn ao ước nhiều hơn nữa – tôi dám chắc quí vị không ao ước gì khác hơn! Cho phép tôi nói điều nầy khi chúng ta kết thúc: sách Khải huyền là một bức thư viết cho hạng người chịu bắt bớ. Giăng đã ở trên quần đảo Bátmô – và có một câu mô tả quyền tối cao của Đức Chúa Trời trong sách ấy đã được nhắc đi nhắc lại, cái điều mà quí vị không tìm thấy ở đâu khác trong Lời của Đức Chúa Trời. Đó là chữ 'toàn năng', quí vị tìm thấy chữ ấy ở chương 1 câu 8: 'Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Hiện Có, Đã Có, Và Còn Đến, là Đấng Toàn năng, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga' – chữ toàn năng, chạy xuyên suốt quyển sách ấy. Quí vị có biết Ngài mong muốn dân sự phải làm gì không? Hãy nhướng mắt lên trời và nhìn xem điều nầy: bất luận điều chi đang xảy ra trong đời sống của quí vị, có một Đức Chúa Trời toàn năng, là Đấng đang cầm quyền tể trị.

'Khi hạng người cao trọng
đến dự bữa tiệc sau cùng của họ,
Và những kẻ chuyên quyền đưa ra lời đe doạ.
Khi các vị tiên tri câm nín vì lo sợ,
Và các lực lượng đối lập nhau dàn trận.
Khi bè đảng, lừa dối và phản bội,
Đem lại mọi sự hỗn loạn ở nơi có trật tự.
Khi tự do mà người ta ấp ủ lâu nay bị chế ngự,
Và các nhà lãnh đạo đáng tin cậy đã suy sụp.
Khi Đức Chúa Trời và Lời của Ngài bị chế giễu,
Và con người cho cầu nguyện là vô ích.
Hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời vẫn tể trị,
Và Ngài là Đấng nói ra lời cuối cùng'.

Lạy Cha, chúng con cảm tạ Ngài vì sự bảo đảm phước hạnh nầy, chúng con không biết tương lai có gì, song chúng con biết Đấng đang nắm giữ tương lai. Lạy Chúa, chúng con cầu xin sự dẫn dắt sâu sắc và bảo đảm của Ngài sẽ trở thành những đồn lũy mà tấm lòng chúng hướng tới trong năm mới nầy. Xin hãy chạm đến các tấm lòng cần được chạm đến, và xin chúc phước cho chúng con trong thì giờ nầy, Amen.

***