Hiển thị các bài đăng có nhãn As The Sparks Fly Upward. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn As The Sparks Fly Upward. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

Nỗi khổ của Phaolô



Như lằn lửa bay chớp lên không - Phần 12
"Nỗi khổ của Phaolô"
Mục sư David Legge
"Kẻ từng hủy diệt Tin lành giờ đây đang phân phối Tin Lành, kẻ từng bắt bớ những người tuân theo Tin lành giờ đây lại chính là người mà Đức Chúa Trời đã làm cho biến đổi, được thay đổi, và bây giờ được Thánh Linh của Ngài đại dụng để xuất bản Tin Lành".
Nếu quí vị muốn, hãy cùng tôi mở ra trong quyển Kinh thánh, thơ Rôma
chương 1, đây không phải là phân đoạn chúng ta hay đọc đâu – phân đoạn nầy rất khó nuốt so với tất cả các thư tín quan trọng của ông, và trong các câu chuyện nói về ông trong sách Công Vụ các Sứ Đồ. Điều chúng ta mong mỏi thực hiện tối nay là thực sự lột được hết phân đoạn ấy – phải, tuy không lột hết phân đoạn đó, nhưng tìm cách tiếp thu một sự nhất trí ý kiến về Kinh Thánh hầu vẽ ra một bức tranh và tiểu sử thích ứng về nhân vật quan trọng nầy. Tôi dám chắc rằng chúng ta sẽ không sao làm được việc đó, nhưng chúng ta muốn làm hết sức mình trong thì giờ chúng ta có. Chúng ta muốn xem xét thật đặc biệt toàn bộ câu chuyện nói tới đời sống của Phaolô, từ khi ông ra đời cho đến lúc ông qua đời, nhưng đặc biệt – khi chúng ta nhìn vào các phần nghiên cứu nhân vật hết tuần nầy sang tuần khác – nơi nỗi khổ của các nhân vật nầy. Đây là những 'lằn lửa bay chớp lên không', những lằn lửa chúng ta lấy các nhân vật nầy làm phần minh hoạ và là một hình bóng, họ sanh ra đời để chịu khốn khó, và thể nào họ đã vượt qua sự khốn khó ấy, và thể nào Đức Chúa Trời đã chúc phước cho họ. Tối nay chúng ta nhìn vào 'Nỗi khổ của Phaolô'.

Trước khi chúng ta đọc Kinh thánh, cho phép tôi nói rằng Phaolô có lẽ là nhân vật khốn khó nhất mà Kinh thánh đã nói tới – trừ ra Đức Chúa Giêxu Christ Chúa chúng ta, tất nhiên, chính mình Ngài, là Đấng không một ai có thể đo được những sâu thẳm của thân vị, các thuộc tính, và công việc thiêng liêng cao sâu của Ngài về sự chuộc tội. Trong lãnh vực của con người, tôi nghĩ Phaolô phải là con người khó nhọc nhất mà Kinh thánh đã nói đến, không phải vì ông có một sự lầm lẫn về đạo đức, mà sâu xa khi chúng ta xem xét suốt đời sống ông đã được biến đổi, ở đây không có một sai sót nào về đạo đức mà chúng ta nhìn thấy trong cá tánh của các nhân vật khác – đặc biệt trong Kinh Cựu Ước, và ngay cả Giăng Báptít tuần qua mà chúng ta đã xét qua rồi, ông đã hồ nghi địa vị Mêsi của Chúa dù chỉ trong một phút chốc. Chắc chắn không phải vì thiếu hiểu biết mà chúng ta thấy khó nghiên cứu sứ đồ Phaolô, mà thực ra ngược lại thế: chính lượng thặng dư sự hiểu biết mà chúng ta đang có. Đúng ra câu chuyện nói tới sự biến đổi của Phaolô mà chúng ta tìm thấy trong ba chỗ ở sách Công Vụ các Sứ Đồ – do chính Luca là tác giả sách Công Vụ các Sứ Đồ nói ra, hai lần do chính sứ đồ Phaolô nói ra - chúng ta thấy rằng câu chuyện, trỗi hơn bất cứ câu chuyện, truyện tích hay sự cố nào khác trong Kinh thánh, trừ ra truyện tích nói tới sự Đức Chúa Giêxu Chirst bị đóng đinh trên thập tự giá.

Cho nên, phần nhấn mạnh đặt thẳng vào sự biến đổi của Phaolô – trong đời sống của ông. Vì có rất nhiều điều đã được viết ra về vị sứ đồ lỗi lạc nầy, cho nên rất khó xử lý với đời sống và thậm chí với những nỗi khổ của ông tối nay - nhưng chúng ta muốn vào thật sâu khi chúng ta có thể, và đây là phần nghiên cứu Kinh Thánh mà quí vị phải chịu khó tối nay, và mấy ngón tay của quí vị sẽ phải lật luôn các trang Kinh thánh! Clarence McCartney, nhà truyền đạo lỗi lạc, đã nắm được sự cao trọng của cá tánh Phaolô và quả thực toàn bộ mọi sự thật về tiểu sử của ông trong câu nói nầy: ‘Cần phải lấy cây gậy mặc khải bằng vàng của thiên sứ mới đo được Phaolô. Cần phải đưa 7 ban hợp xướng thiên sứ để hát lên lời khen ngợi ông'. Điều nầy há chẳng thật sao? Ông chẳng có gì thiêng liêng cả, ông là một con người giống như quí vị và tôi đang sống đây! Ông là một sứ đồ, ông đã được chọn - chúng ta được Kinh thánh cho biết, ông đã được biệt riêng ra, trong sách Galati, cho Đức Chúa Trời từ trong lòng mẹ để được sử dụng theo cách đặc biệt. Ông là một con người đặc biệt, và tôi nghĩ chúng ta đã đúng khi cho rằng tất cả các nhân vật mà chúng ta đã nghiên cứu qua đều là hạng người đặc biệt không cách nầy thì cũng cách khác.

Khi chúng ta xem xét Giăng Báptít trong tuần qua, chúng ta thấy rằng con người càng cao trọng chừng nào, nỗi khổ mà người ấy chịu càng lớn lao hơn. Phaolô, không ngoại trừ đối với cái lệ ấy – thực vậy, tôi dám nói theo cách bàn bạc, ông là nhân vật chịu khổ trầm trọng nhất trong Kinh thánh, chắc chắn trong Tân Ước, bên cạnh Đức Chúa Giêxu Christ Chúa chúng ta, là Thống Khổ Nhân. Trong Philíp 3, chúng ta thấy rằng gia phổ của Phaolô, ông thuộc về chi phái Bêngiamin. Ông tự nhận mình là người Pharisi, thực vậy, thuộc dòng Pharisi. Cha ruột của ông cũng là một người Pharisi, và kế đó chúng ta được giới thiệu đời mới của ông trong Đấng Christ ở sách Công Vụ các Sứ Đồ. Chúng ta thấy rằng khoảng năm 33-34SC, khoảng 30 tuổi, nhân vật nầy mới được cứu. Sau khi chứng kiến vụ ném đá Êtiên, người Cơ đốc tuận đạo đầu tiên; sau khi nhìn thấy mặt của Êtiên như một thiên sứ, khi ông nhìn thấy Đấng Christ đang đứng bên hữu Đức Chúa Trời; tôi tin lương tâm của Phaolô đã bắt đầu phải bị day dứt và Đức Thánh Linh bắt đầu vận hành trong đời sống ông. Kế đó, chúng ta thấy rằng trên con đường đi lên thành Đamách, nhân vật quan trọng nầy đã được biến đổi, và từ thời điểm đó, ông nhìn thấy và làm chứng cho Đức Chúa Giêxu Christ phục sinh, không những ông đã được ân điển của Đức Chúa Trời biến đổi, mà còn bởi ân điển của Đức Chúa Trời, ông đã được chỉ định làm sứ đồ cho Đấng Christ nữa – rồi về sau ông trở thành sứ đồ của dân Ngoại. Từng được biến đổi, ngay giây phút ấy của đời mới, con người lỗi lạc nầy, tội nhân đáng gờm nầy – ông vốn là đầu của hạng tội nhân – đã trở thành nhà truyền bá lỗi lạc nhất cho Tin lành nói tới Đấng Christ.

“Từng được biến đổi, ngay giây phút ấy của đời mới, con người lỗi lạc nầy, tội nhân đáng gờm nầy – ông vốn là đầu của hạng tội nhân – đã trở thành nhà truyền bá lỗi lạc nhất cho Tin lành nói tới Đấng Christ”.
Ngay sau khi được biến đổi, ông bắt đầu rao giảng Tin lành. Kẻ từng hủy diệt Tin lành giờ đây đang phân phối Tin Lành, kẻ từng bắt bớ những người tuân theo Tin lành giờ đây lại chính là người mà Đức Chúa Trời đã làm cho biến đổi, được thay đổi, và bây giờ được Thánh Linh của Ngài đại dụng để xuất bản Tin Lành. So với các Cơ đốc nhân, với các sứ đồ, các tiên tri và các nhà truyền giáo, Phaolô chịu trách nhiệm việc truyền bá Tin lành trong đế quốc La mã. Sự làm chứng lớn lao mà chúng ta đã hát ca ngợi tối nay được thấy trong Rôma 1.16-17, nếu quí vị thích thì đây là câu ghi trên mộ chí và là phương châm của ông: 'Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin”.

Quí vị sẽ chẳng mất thì giờ bao nhiêu khi đọc tiểu sử của Phaolô để nhìn biết lời nói của ông được đo lường bởi một đời sống tin kính, ngay thẳng và thậm chí bị bắt bớ nữa. Ông không lấy làm xấu hổ về Tin lành của Đấng Christ, và đặc biệt sự ấy có thể thấy được qua việc ông chịu khổ vì Tin lành của Đấng Christ. Trong ba chuyến hành trình truyền giáo của ông, một mình trong thế giới Địa Trung Hải, trước tiên chúng ta thấy ông đã bị người Do thái vu cáo trong Công Vụ các Sứ Đồ 21, rồi sau đó ông lại bị đánh đòn cũng trong Công Vụ các Sứ Đồ 21, thứ ba, ông bị bắt bởi người La mã. Ông bị đưa đến trước mặt quan Tổng đốc La mã – Phêlít và Phêtu – rồi kế đó ông bị dẫn đến trước mặt At-ríp-ba. Thứ ba chúng ta thấy rằng ông bị chuyển đi, mặc dù họ không thấy ông mắc lỗi gì, ông bị chuyển đi rồi bị đắm tàu trong cơn giông bão. Người Do thái bỏ tù ông trong một cơ hội kia, sau 2 năm ông sử dụng quyền công dân La mã của mình để kêu nài lên Xêsa và, sau 2 tuần trên chuyến tàu vượt biển bị bão ấy, thế là Phaolô đã đến tại Rôma. Ông lại bị bắt, bị đưa vào tù giam giữ, rồi chắc chắn được đưa đến trước mặt Xêsa - và chúng ta thấy trong Lời của Đức Chúa Trời giữa các năm 65-67SC, Nero hành hình ông khoảng 66 tuổi.

Phaolô là tôi tớ chịu khổ khác nữa của Chúa. Giống như những nhân vật đã được nghiên cứu qua rồi, chúng ta thấy ông đã noi theo sự hư mất và sự làm chứng của những người được kể trong Hêbơrơ 11, đặc biệt từ câu 36 trở đi: 'Có kẻ khác chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích, lao tù nữa. Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi, thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi trong hang, trong những hầm dưới đất'. Hết thảy các thánh đồ Cựu Ước nầy chưa nhận được lời hứa, tất nhiên là Phaolô đã nhận được lời hứa. Tôi tin, là chưa có ai khác đã chịu khổ cho Đấng Christ nhiều cho bằng sứ đồ Phaolô.

Trước tiên, chúng ta hãy nhìn vào sự chịu khổ công khai của ông, và chúng ta mau mau xét qua sự việc nầy, và tôi muốn quí vị làm ơn ghi lại trong lý trí mình ít nhất tính chất quan trọng của những gì nhân vật nầy đã chịu khổ công khai cho Đấng Christ – quí vị sẽ không thể ghi lại hoặc nhớ tới sự ấy đâu, song hãy để cho sự ấy lướt qua tâm trí, linh hồn của quí vị hầu nhìn biết rằng nhân vật nầy đã chịu khổ vì cớ Đấng Christ. Chúng ta bị dẫn tới chỗ phải tin vào bản tường trình của sách Công vụ các Sứ Đồ là người ta đã mưu nghịch ông trong nhiều cơ hội. Trước hết, tại thành Đamách sau khi ông được cứu, chúng ta thấy trong Công vụ các Sứ Đồ 9. 23-25 – sau khi ông trở lại đạo người ta đã mưu nghịch lại ông. Kế đó tại thành Jerusalem chúng ta thấy, trong lần viếng đầu tiên của ông trong vai trò một tín đồ cũng trong Công vụ các Sứ Đồ 9, chúng ta thấy ông bị mưu nghịch một lần nữa. Kế đó trong xứ Maxêđoan, trên chuyến hành trình truyền giáo lần thứ ba ở Công vụ các Sứ Đồ 20; rồi một lần nữa ở thành Jerusalem trước đám đông người Do thái trong Công vụ các Sứ Đồ 21; kế đó tại thành Jerusalem một lần nữa trước mặt Toà Công Luận trong Công vụ các Sứ Đồ 23; rồi tại thành Jerusalem nơi tay của 40 người trong Công vụ các Sứ Đồ 23, rồi tại thành Xêsarê nơi tay của nhiều người Do thái trong Công vụ các Sứ Đồ 25.

Vì vậy Phaolô không phải là không biết mình bị người ta mưu nghịch đâu, ông không phải là người xa lạ đối với những kẻ đang mưu nghịch, bắt bớ và hoạch định đủ mọi thứ ác dành cho ông. Ông đã chịu khổ không chỉ từ hạng thù nghịch với Tin lành trong chức vụ và trong đời sống của ông, vì chúng ta thấy trong Công vụ các Sứ Đồ 9 rằng trước tiên ông không bị người Do thái không tin, mà là những tín đồ đã không tin ông. Trong Công vụ các Sứ Đồ 9.26 chúng ta thấy ngay sau khi ông trở lại đạo: 'Sau-lơ tới thành Giê-ru-sa-lem rồi, muốn hiệp với các môn đồ; nhưng hết thảy đều nghi sợ người, không tin là môn đồ'. Như thế là đủ gán cho bất kỳ ai trong chúng ta là còn non nớt trong đức tin! Nhưng sứ đồ Phaolô, ông gặp phải sự bắt bớ rất ghê khiếp của Cứu Chúa trên đường đến thành Đamách, một kinh nghiệm được biến đổi có lẽ chẳng có gì là quan trọng đối với ai đó và chắc chắn vượt quá điều mà chúng ta đã kinh nghiệm, vì thế lúc ban đầu các anh chị em của ông trong Đấng Christ đã không chịu tin ông.
"Chúng ta cũng thấy rằng không những ông đã bị người ta mưu nghịch, bị nhiều tín hữu không tin, bị một số tín hữu và kẻ không ưa bắt bớ, nhưng công việc của ông đã thường bị chống đối bất cứ đâu ông đến, đặc biệt bởi đồng bào của ông".

Chúng ta thấy không những họ đã không tin ông, mà trong Philíp 1.14 ông bị một số tín hữu không ưa. Ở đấy chép như vầy: 'Phần nhiều trong anh em nhơn tôi bị xiềng xích mà có lòng tin rất lớn trong Đấng Christ, dám truyền đạo Đức Chúa Trời chẳng sợ hãi gì'. Chúng ta cũng thấy rằng không những ông đã bị người ta mưu nghịch, bị nhiều tín hữu không tin, bị một số tín hữu và kẻ không ưa bắt bớ, nhưng công việc của ông đã thường bị chống đối bất cứ đâu ông đến, đặc biệt bởi đồng bào của ông. Ông có nhiều kẻ nghịch ở bên trong Hội thánh, mà ông còn có nhiều kẻ thù giữa vòng bà con ruột rà của ông và ngay cả giữa vòng các dân Ngoại khác nữa. Chúng ta thấy khi ông qua thành Antiốt trong Công Vụ các Sứ Đồ 13 rằng ông đã bị bắt bớ, thường xuyên bị chống đối, chính những người đi theo ông. Ở xứ Ycôni trong chương 14, chúng ta thấy sự ấy, ở thành Têsalônica chương 17, và kế đó trong chương 14, chúng ta thấy rằng sự bắt bớ ông đã lên đến cao điểm khi ông bị ném đá và bị bỏ hòng chết! Đúng là vị sứ đồ của Đấng Christ đã chịu khổ! Ông đã chịu khổ ở xứ Bêrê trong Công Vụ các Sứ Đồ 17, tại thành Côrinhtô trong Công Vụ các Sứ Đồ 18, tại thành Êphêsô trong Công Vụ các Sứ Đồ 19, và chúng ta có thể nhìn thấy nhiều nữa. Ông cũng chịu khổ từ những kẻ trong Hội thánh ngay từ lúc ông mới trở lại đạo, ông chịu khổ từ những kẻ ở bên ngoài Hội thánh – nghĩa là những kẻ trong Do thái giáo và cũng từ nhiều dân Ngoại khác nữa – ông bị bỏ hòng chết trong một cơ hội, và chúng ta thấy nếu chịu khổ từ nơi họ như thế vẫn chưa phải là đủ, ông còn chịu khổ từ ma quỉ cùng tất cả bè lũ trong địa ngục nữa. Ông gánh chịu áp lực của Satan.

Trong Công Vụ các Sứ Đồ 13.8 chúng ta đọc thấy thuật sĩ Êlyma, ông ta chống cự những người lo rao giảng Tin lành, và đặc biệt là Phaolô. Trong Công Vụ các Sứ Đồ chương 16 chúng ta đọc: 'Một ngày kia, chúng ta đi cầu nguyện, gặp một đứa đầy tớ gái bị quỉ Phi-tôn ám vào, hay bói khoa, làm lợi lớn cho chủ nó' – và người nữ nầy cứ đi theo sau lưng Phaolô! Chúng ta thấy khi chúng ta bước vào thơ I Têsalônica 2.18, ở đây ông nói với họ: 'Vì vậy, đã hai lần, chúng tôi, nhứt là tôi, Phao-lô, muốn đi đến cùng anh em; nhưng quỉ Sa-tan đã ngăn trở chúng tôi'. Đã có một sự ngăn trở liên tục do áp lực và ảnh hưởng của Satan trên chức vụ và trên đời sống của Phaolô – và có lẽ là ảnh hưởng lớn nhất trên mọi ảnh hưởng, rất độc địa, được thấy trong 2 Côrinhtô 12.7, và chúng ta hãy nhìn vào đấy càng chi tiết hơn – còn cái giằm xóc trong xác thịt mà Phaolô đã chịu, cái giằm mà đặc biệt ông đặt tên cho nó 'tức là quỉ sứ của Sa-tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo'. Một sứ giả do Satan gửi đến cho Phaolô!

Trong Công Vụ các Sứ Đồ 16 chúng ta thấy rằng ông bị đánh đòn rồi bỏ tù tại thành Philíp, và chúng ta biết câu chuyện kể về viên cai ngục người thành Philíp và thể nào Phaolô và Sila được giải cứu cách lạ lùng qua cơn động đất – nhưng đừng quên rằng ông vẫn còn ở trong tù, ông bị đánh đòn, và ông đã hát ngợi khen Đức Chúa Trời và đã cầu nguyện thâu đêm. Ông bị chế giễu trong chức vụ công khai của mình, ông bị người ta chất vấn, ông bị người ta la ó ở thành Athens. Trong Công Vụ các Sứ Đồ chương 17, chúng ta thấy mấy câu nầy: 'Có mấy nhà triết học về phái Epicuriens và phái Stociens cũng cãi lẽ với người. Kẻ thì hỏi: Người già mép nầy muốn nói gì đó? Người thì nói: Người dường như giảng về các thần ngoại quốc (vì Phao-lô truyền cho chúng về Đức Chúa Jêsus và sự sống lại)... Khi chúng nghe nói về sự sống lại của kẻ chết, kẻ thì nhạo báng, người thì nói rằng: Lúc khác chúng ta sẽ nghe ngươi nói về việc đó '. Nói cách khác: 'Chúng ta không muốn nghe loại nói năng càn dỡ như vầy trong lúc nầy, nhưng chúng ta sẽ nghe ngươi nói vào ngày khác đi'. Ở thành Xêsarê, Công Vụ các Sứ Đồ 26.24 Kinh thánh chép: 'người đang nói như vậy để binh vực mình, thì Phê-tu nói lớn lên rằng: Hỡi Phao-lô, ngươi lảng trí rồi; ngươi học biết nhiều quá đến đỗi ra điên cuồng'.

Bị anh em mình mưu nghịch, không tin tưởng, bị một số tín đồ không ưa, thường bị chống đối bởi người Do thái và dân Ngoại, bị ném đá, bị bắt bớ, bị đánh đòn, bị làm đối tượng cho áp lực của Satan, bị chế nhạo khi đang giảng dạy công khai, và thường bị vu cáo. Chúng ta đọc thấy Tẹt-tu-lu trong Công Vụ các Sứ Đồ 24.5, ông nói lời chứng nầy về Phaolô: 'Vậy, chúng tôi đã gặp người nầy, như là đồ ôn dịch, đã gây loạn trong hết thảy người Giu-đa trên cả thế giới: nó làm đầu phe người Na-xa-rét, cũng đã toan làm ô uế đền thờ, nên chúng tôi đã bắt nó [và chúng tôi có muốn xử nó theo luật pháp chúng tôi'. Trong chương 25 câu 7 chúng ta thấy: 'Phao-lô mới đến, thì có các người Giu-đa ở thành Giê-ru-sa-lem xuống vây bọc người, lấy nhiều cớ nặng mà thưa, nhưng chẳng tìm được chứng' – tuy họ chẳng tìm được chứng, song đấy không phải là vấn đề, họ còn chế giễu ông nữa.
"Ông đã gánh chịu cơn bão ghê khiếp ngoài biển, rồi ở giữa cơn bão ấy, ông tỏ ra chức năng lãnh đạo và quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời trên đời sống ông".

Phải nói cô đơn là một trong những nỗi khổ mà ông đã chịu đựng, có lẽ là một trong những điều khổ sở nhất mà chương 27 sách Công Vụ các Sứ Đồ đã ghi lại chi tiết trong vụ đắm tàu đã diễn ra khi ông bị dẫn độ như một tù phạm đến thành Rôma. Ông đã chịu đựng cơn bão ngoài biển rất ghê khiếp đó, rồi ở giữa trận bão ấy ông đã tỏ ra chức năng lãnh đạo và quyền phép lớn lao của Đức Chúa Trời trên đời sống ông. Thế rồi khi họ lên đất liền sau khi bị đắm tàu trong chương 28, chúng ta thấy ông đã kinh nghiệm cái cắn đau của một con rắn độc. Rồi ông lên thuyền trở lại và có mặt ở Rôma, ông đã bị nhốt trong nhà tù, chúng ta thấy sự tù đày cứ nhắm thẳng vào cả đời sống của ông. Ông đã bị tù ở thành Sêsarê trong hai năm, Công Vụ các Sứ Đồ chương 24; ông đã bị tù ở Rôma, chúng ta đọc thấy tình trạng nầy ở sách Timôthê, ở sách Êphêsô, và sách Philíp. Nhưng có lẽ một trong những nỗi khổ thấm thía, nhức nhối và đau đớn nhất mà Phaolô đã chịu trong toàn bộ chức vụ và đời sống của ông chính là giây phút ông dấn thân vào công tác truyền giáo và giảng Tin lành, ông cho biết những người ở xung quanh ông đã quên ông. Trong cuộc đời ông, ông nói trong II Timôthê 4.10 và 16: 'vì Đê-ma đã lìa bỏ ta rồi, tại người ham hố đời nầy, và đã đi qua thành Tê-sa-lô-ni-ca. Cơ-rết-xen đi trong xứ Ga-li-lê, còn Tít thì đi xứ Đa-ma-ti rồi...Khi ta binh vực mình lần thứ nhứt, chẳng có ai giúp đỡ; hết thảy đều lìa bỏ ta. Nguyền xin điều đó đừng đổ tội về họ!'

Có phải quí vị đang chứng kiến hình ảnh nói tới sự khổ ải của vị sứ đồ dân Ngoại không? Thực ra các bằng chứng chung chung về mọi khổ ải của ông có thể thấy được trong một vài câu gốc đặc biệt, và tôi muốn quí vị cùng mở ra với tôi để xem chúng. Trước hết II Côrinhtô chương 4, và chúng ta bắt đầu đọc từ câu 8, ông nói: 'Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất. Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi'. Chương 6 cùng sách ấy, từ câu 4 đến câu 10: 'Nhưng chúng tôi làm cho mình đáng trượng trong mọi sự, như kẻ hầu việc Đức Chúa Trời, bởi lòng nhịn nhục lắm trong những sự hoạn nạn, thiếu thốn, khốn khổ, đòn vọt, lao tù, rối loạn, khó nhọc, tỉnh thức, kiêng ăn; bởi sự thanh sạch, thông biết, khoan nhẫn, nhơn từ, bởi Đức Thánh Linh, bởi lòng yêu thương thật tình, bởi lời chơn thật, bởi quyền phép Đức Chúa Trời, cầm những khí giới công bình ở tay hữu và tay tả; dầu vinh dầu nhục, dầu mang tiếng xấu, dầu được tiếng tốt; ngó như kẻ phỉnh dỗ, nhưng là kẻ thật thà; ngó như kẻ xa lạ, nhưng là kẻ quen biết lắm; ngó như gần chết, mà nay vẫn sống; ngó như bị sửa phạt, mà không đến chịu giết; ngó như buồn rầu, mà thường được vui mừng; ngó như nghèo ngặt, mà thật làm cho nhiều người được giàu có ngó như không có gì cả, mà có đủ mọi sự!'

Đúng là chịu khổ! Chương 7 câu 5 làm chứng cho sự chịu khổ đó: 'Vả, khi chúng tôi đến trong xứ Ma-xê-đoan, xác thịt chẳng được yên nghỉ chút nào. Chúng tôi khốn đốn đủ mọi cách: ngoài thì có sự chiến trận, trong thì có sự lo sợ!' Chương 11, tất nhiên là tôi hy vọng quí vị bắt đầu nhìn thấy II Côrinhtô là một thơ tín quan trọng nói về sự chịu khổ và khốn khó. Trong chương 11 ông tiếp tục nói ở câu 23: 'Họ là kẻ hầu việc của Đấng Christ phải chăng? Ừ, tôi nói như kẻ dại dột‘ (nói về các tiên tri giả), `tôi lại là kẻ hầu việc nhiều hơn! Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đòi phen tôi gần phải bị chết; năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. Lại nhiều lần tôi đi đường nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối; chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ. Còn chưa kể mọi sự khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội thánh'.

Nếu quí vị quay sang thơ Philíp, và nhớ rằng thơ tín nầy đã được viết ra khi Phaolô còn ở trong tù ở Rôma, Philíp 3.7, 8, và 10 chép: 'Nhưng vì cớ Đấng Christ, tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy. Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó’, giờ đây đừng bỏ chạy vì câu nói: `và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó‘ – tại sao vậy? `Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ…cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài'.

"Đức Chúa Trời ban cho ông một cái giằm xóc trong xác thịt hầu khôi phục sự cân đối, giúp cho ông chống lại sự kiêu ngạo, và để bảo đảm cho chức vụ của ông tránh khỏi sự suy sụp trầm trọng".
Sau hết, Rôma 8.18, phần kết luận của ông về toàn bộ vấn đề là như vầy: 'Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta'. Giờ đây, nếu quí vị chịu lưu ý với con mắt thương tiếc tối nay, với con mắt của đức tin, những khổ ải và đau đớn và nhân vật Phaolô nầy – hãy tưởng tượng sự vinh hiển sẽ ở mức độ nào khi chúng về tới thiên đàng! Những cựu chiến binh của Đại đế Alexander trên một cơ hội đã đe doạ một cuộc nổi loạn trên đất đang khi cấp lãnh đạo của họ lại dửng dưng với những khó nhọc cùng các vết thương mà họ đã mang lấy vì ông. Khi sự việc nổi cộm lên, ông đã bước lên bục chỉ huy, và ông đã nói với các binh sĩ bất bình của ông: 'Hãy đến đây, ai trong các ngươi từng bị thương tích? Hãy để cho người ấy phơi bày ra và ta sẽ chỉ cho các ngươi thấy những vết thương của ta – không một chi thể nào trong thân của ta mà chẳng có vết thương! Ta đã bị thương bởi gươm, bởi cung tên, bởi súng bắn đá. Ta đã bị trúng thứ đá bắn loạn xạ, bị thương nhiều chỗ đang khi chỉ huy các ngươi đoạt được chiến thắng và vinh quang!' Còn Phaolô, ông cao trọng hơn cả Đại Đế Alexander, sau cùng đã nói: 'Ước gì từ nay về sau, chẳng ai làm khó cho tôi, vì trong mình tôi có đốt dấu vết của Đức Chúa Jêsus vậy'.

Nhân vật nầy đã chịu khổ vì cớ Đấng Christ, và tôi tin rằng đó là một trong những lý do cao cả nhất tại sao ông đã thành công cho Đấng Christ. Hơn cả bất kỳ sứ đồ hay có lẽ bất cứ Cơ đốc nhân, hoặc bất kỳ người nào trừ ra Đức Chúa Giêxu Christ, ông đã bị phơi ra để chịu khổ, chịu khó, chịu đau đớn. Những nỗi khổ của ông đã được kê ra – có nhiều nỗi khổ trong số đó rất nặng nề mà tôi nghĩ một con người bình thường khó mà chịu nổi. Tuy nhiên nhân vật nầy thuộc về Đức Chúa Trời đã chịu đựng được và nổi bật lên đắc thắng còn hơn “một nhà viễn chinh” nữa!

Đây là nỗi khổ chung của ông trong phần nghiên cứu vắn tắt, nhưng chúng ta chưa đụng tới nỗi khổ riêng của ông. Khi chúng ta xem xét điều đó chúng ta thấy rằng, một lần nữa hơn hẳn bất kỳ một vị sứ đồ nào khác, như trong nỗi khổ chung của ông, nỗi khổ riêng của ông, ông đã chịu đựng thật là cừ khôi. Có lẽ nỗi khổ lớn lao nhất sẽ gợi lên ngay trong lý trí của quí vị, ấy là nỗi khổ được thấy có trong II Côrinhtô chương 12, hãy cùng tôi mở ra chương ấy. Trong câu 1, ông thấy cần thiết phải công bố ra kinh nghiệm mà ông đang có trong cuộc sống, ông không khoe khoang giống như các tiên tri giả đột nhập vào Hội thánh và khoe khoang mọi kinh nghiệm của họ, thực sự tất cả những điều ấy chỉ là giả dối mà thôi. Ông nói: 'Tôi cần phải khoe mình’, câu 1, `dầu chẳng có ích gì; nhưng tôi sẽ nói đến các sự hiện thấy và sự Chúa đã tỏ ra. Tôi biết một người trong Đấng Christ', ông nói về bản thân ông, nhưng ông không nói tới mình bằng ngôi thứ nhứt, vì như thế sẽ không có sự khiêm hạ, giản dị, 'cách mười bốn năm trước, đã được đem lên đến từng trời thứ ba (hoặc trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người, tôi chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết). Tôi biết người đó (hoặc trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người, tôi chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết) được đem lên đến chốn Ba-ra-đi, ở đó, nghe những lời không thể nói, mà không có phép cho người nào nói ra'. Đúng là một kinh nghiệm! Phaolô đã được phép nhìn thấy, không những trong cơ hội nầy, mà chúng ta còn phải tin ở những cơ hội khác, những khải thị đặc biệt ra từ Đức Chúa Trời – chẳng một ai khác có được lẽ mầu nhiệm nói về Hội thánh của Đức Chúa Giêxu Christ trong kỹ nguyên đặc biệt nầy.

Kinh nghiệm nầy quả là có một không hai, Phaolô là một con người có một không hai, ông đã nếm trải các kinh nghiệm đặc biệt như trên. Kinh nghiệm nầy quả là đặc biệt, Phaolô nói, là có một không hai đến nỗi mặc khải ấy tỏ ra cho ông thấy với một cơ hội và một sự cám dỗ để mà kiêu ngạo. Há kinh nghiệm đó không làm thế cho quí vị sao? Tôi dám chắc mặc khải ấy làm thế cho tôi, tôi dám chắc đấy. Sự kiêu ngạo mà ông bị cám dỗ phải rơi vào đã hạn chế chức vụ cao cả mà Đức Chúa Trời đã vạch sẵn cho ông, và đã ấn định cho ông từ trong lòng mẹ – vì vậy Đức Chúa Trời phải làm một việc gì đó để làm cho cân đối, một yếu tố cân đối đã được giới thiệu ra. Ông nói trong câu 7: 'Vậy nên, e rằng tôi lên mình kiêu ngạo bởi sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng, thì đã cho một cái giằm xóc vào thịt tôi, tức là quỉ sứ của Sa-tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo'. Đức Chúa Trời đã ban cho ông một cái giằm xóc trong xác thịt để phục hồi sự cân đối, giúp cho ông chống lại sự kiêu ngạo, và để bảo đảm cho chức vụ của ông tránh khỏi sự suy sụp trầm trọng.

Giờ đây, phần mô tả của ông về cái giằm xóc trong xác thịt là phần mô tả không rõ rệt, và dường như vị sứ đồ rất kín đáo, dè dặt trong phần bày tỏ của ông. Vì lý do ấy, trải qua bao nhiêu thế đại, nhiều nhà thần học, nhiều học giả và các nhà chú giải Kinh Thánh đã suy đoán về lý do đó, và đã tìm cho biết cái giằm xóc trên xác thịt là cái gì!?! Một số thì cho rằng đây là một nan đề về lý trí, một nan đề thuộc linh, những nghi ngờ và nãn lòng của vị đại sứ đồ, các vấn đề nội tại, những vấn đề ngoại tại, các nan đề thuộc thể, bịnh tật, đau ốm. Có người cho rằng đây là chứng động kinh, có người cho đây là bịnh sốt rét, nhiều người khác cho rằng thị lực xấu do có những biểu thị và chứng cớ trong sách Galati – song sự thật của vấn đề là đây: không những Đức Thánh Linh đưa những việc nầy vào trong Kinh thánh là vì ích cho chúng ta, mà Ngài còn loại bỏ nhiều việc cũng là vì ích cho chúng ta và cho sự học hỏi của chúng ta. Tôi nghĩ chẳng có lỗi lầm gì khi Đức Thánh Linh không ghi rõ cái giằm trong xác thịt của Phaolô là gì, và tôi tin sở dĩ như thế là vì ích cho quí vị và cho tôi, để cho chúng ta có thể đến với phân đoạn nầy – toàn bộ thư tín, toàn bộ đời sống của Phaolô, toàn bộ sự đau đớn của Phaolô - và chúng ta có thể đồng cảm với nỗi đau ấy, và không những đồng cảm với nỗi đau của ông, mà còn xem xét nan đề và thể nào ông đã nếm trải nó.

“Nó đã được phép của Đức Chúa Trời, nó được lèo lái bởi sự toàn tri của Đức Chúa Trời, và cho dù nó đến từ tay của Satan, nó được dự trù để cứu lấy chức vụ của Phaolô, là chức vụ đem Tin lành đến cho chúng ta thậm chí trong các ốc đảo nầy”.
Có lẽ còn hơn cả sự đồng cảm với nỗi đau của ông, chúng ta có thể đồng thanh với ân điển của Đức Chúa Trời đã được phân phát cho ông trong câu 9: 'Nhưng Chúa', Đức Chúa Trời, 'phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối'. Nếu đây là vấn đề giảm thị lực hay sốt rét hoặc một nan đề thuộc linh, nếu đây là sự chán nãn, nếu đây là việc gì mà chúng ta sẽ hạn hẹp trong cách lý giải của chúng ta theo văn mạch - còn Đức Chúa Trời thì không phải như vậy đâu, Ngài nói cho chúng ta biết đúng đó là cái giằm xóc trong xác thịt đến từ Satan để chống chọi ông. Nhưng điều chúng ta cần phải cởi mở với chúng ta tối nay: trong mọi nỗi đau chung của Phaolô cùng tất cả những nỗi đau riêng tư của ông, ân điển của Đức Chúa Trời Toàn Năng là đủ cho nhu cần của ông! Ngợi khen Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh đã cho phép chúng ta cởi mở điều đó tối nay, và nhất trí với lòng cũng như nhận lấy điều đó trong đời sống của chúng ta! Chúng ta có thể nhận lãnh điều đó làm phần kinh điển cho chúng ta tối nay.

Mục đích, ấy là đời sống của Phaolô, bất luận cái giằm xóc trong xác thịt là gì đi nữa, thực sự không thành vấn đề, sự thực cho thấy rằng cái giằm xóc ấy đã được hội nhập vào đời sống ông, đây là cái giá của sự hạ mình đau đớn nơi chức vụ cao trọng của Phaolô. Ở đó quí vị lại nhìn thấy cái giá ấy: sự phục vụ càng lớn thì đau khổ cũng càng lớn. Đây là một kết quả nếu ông muốn làm cho Đức Chúa Trời những việc mà Đức Chúa Trời muốn ông phải làm, ông phải gánh chịu đau khổ, ông phải có cái giằm nầy xóc trong xác thịt – nói cách khác cái đầu của ông nhận lãnh quá nhiều, và toàn bộ giấc mơ của ông sẽ nổ ra và nó sẽ vỡ tung. Đây là một sứ giả của Satan đến chống chọi với ông, không có gì phải nghi ngờ về cái giằm đó, nhưng giống như Gióp cái giằm ấy đã được trù tính theo cách thiêng liêng. Nó đã được phép của Đức Chúa Trời, nó được lèo lái bởi sự toàn tri của Đức Chúa Trời, và cho dù nó đến từ tay của Satan, nó được dự trù để cứu lấy chức vụ của Phaolô, là chức vụ đem Tin lành đến cho chúng ta thậm chí trong các ốc đảo nầy.

Nếu quí vị nghĩ tới, hợp lý hoá rồi lý luận về nó, cái giằm ấy là một phần trang bị cho chức vụ của Phaolô! Cái giằm ấy là một vật, và mặc dù ông đã ba lần cầu nguyện xin Chúa cất nó đi, không cứ cách nào ông không còn muốn thấy nó nữa, ông không muốn nhìn thấy sự hiện diện của sự yếu đuối và cái giằm xóc nầy, Phaolô có thể và sẽ không bao giờ đạt được việc lớn mà ông đã lo làm. Cái giằm nầy là cần thiết, cái giằm nầy có cần và Đức Chúa Trời đã chỉ định nó. Cho dù chúng ta không biết rõ bản chất của cái giằm, có những sự thật chắc chắn về cái giằm đó mà chúng ta không biết, chúng ta có thể đồng cảm với tối nay, và chúng ta có thể nhìn thấy giá trị to lớn khi xem xét mọi nổi khổ của chúng ta theo ánh sáng nỗi khổ riêng tư của Phaolô.

Trước hết, chúng ta lưu ý sự việc nầy đã trải qua một khoảng thời gian, cái giằm ấy đã ở với ông trong một thời gian. Đây là điều cứ tiếp diễn hoài, và nếu có bất kỳ ai trong quí vị đang nếm trải nhiều thử thách và nan đề, thậm chí trong 12 tuần nghiên cứu nầy: có phải quí vị đã bước vào, hội nhập và dấn thân vào những thử thách cùng các nan đề lớn lao nhất mà quí vị từng đối mặt với trong cuộc sống của mình? Phải, đấy là những gì Phaolô đã đối diện. Thứ hai, đây là đối tượng cho sự cầu nguyện được lặp đi lặp lại song không được đáp trả, câu 8 ông đã cầu nguyện ba lần xin Chúa cất nó đi – và có bao nhiêu người trong quí vị đã cầu xin Chúa chấm dứt nan đề nầy, hoặc cất đi thử thách nầy ra khỏi đời sống của quí vị, còn Đức Chúa Trời đã không ban cho quí vị câu trả lời mà quí vị muốn? Thứ ba, cái giằm ấy là công cụ cho sự hạ mình – Kinh Thánh chép trong câu 7 rằng 'Đức Chúa Trời đã cho cái giằm xóc vào da thịt tôi…để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo'. Cái giằm ấy hạ thấp cái tôi của ông xuống, nó làm cho sự tự tin của ông phải giảm sút đi – và có những việc xảy đến trong đời sống của chúng ta đều là loại kinh nghiệm hạ mình sâu sắc, để chúng ta cảm thấy không còn bất cứ một sự tự mãn nào mà chúng ta từng có.

Thứ tư, cái giằm giúp cho Satan cơ hội để hành hại ông, chúng ta thấy điều nầy trong câu 7. Có bao nhiêu người trong chúng ta bị hành hại, có lẽ trên cơ sở hàng ngày, bởi ma quỉ và các thế lực của địa ngục? Thứ năm, cái giằm trở thành ống dẫn cho ân điển. Quí bạn tôi ơi, quí vị có thể nếm trải nhiều rối rắm, một cái giằm xóc trong xác thịt, trong một khoảng thời gian; quí vị có thể kinh nghiệm sự cầu nguyện lặp đi lặp lại và chẳng được đáp trả, có thể là chính Satan đang hành hại quí vị, bản ngã của quí vị có thể bị hạ thấp xuống và quí vị bị hạ thấp và thất vọng lắm – nhưng đừng bao giờ quên rằng trong đời sống của Phaolô, đây là ống dẫn cho ân điển của Đức Chúa Trời. Thay vì Đức Chúa Trời đến và can thiệp thẳng vào đời sống của ông, và đem đến một phương cứu chữa hay giải pháp, Đức Chúa Trời đang bù đắp với ân điển thiêng liêng của Ngài. Ngài không cất bỏ cái điều đang làm hại ông, Ngài ban cho ông một thứ khác để vùa giúp cho ông. Nỗi khó không được nhậm bằng cách trừ bớt ra, mà là cộng thêm ân điển của Đức Chúa Trời vào đời sống của vị sứ đồ. Đây là cơ hội cho Phaolô để kinh nghiệm mối tương giao và trong sự thương khó của Đấng Christ, và kinh nghiệm hoàn toàn một sự hiểu biết tươi mới về Đức Chúa Trời.

Thứ sáu, cái giằm cung ứng cơ hội để vui mừng trong nỗi yếu đuối của ông. Ông nói: 'Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, …vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ'. Thứ bảy và sau cùng, nó minh chứng và cung ứng một nền tảng cho sự bày tỏ ra quyền phép của Đấng Christ, vì khi ông yếu đuối, quyền phép của Đấng Christ là mạnh mẽ - 'hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi', ông nói. Điều đó há chẳng ngạc nhiên sao, trong đời sống của Phaolô, cái điều chúng ta xem là mối ngăn trở, thực sự lại được ban xuống từ trời? Thực ra, đây là cơ hội của thiên đàng và là một vốn quý cho chức vụ của ông, và đây chính là việc có lẽ cao cả hơn nhiều việc khác đã mở rộng chức vụ của Phaolô! Cho nên nỗi yếu đuối của ông đã trở thành thứ vũ khí đầy uy lực ở trong tay của Đức Chúa Trời.

“Nỗi yếu đuối của ông đã trở thành thứ vũ khí đầy uy lực ở trong tay của Đức Chúa Trời”.
Câu chuyện của Violet Allen trong quyển sách có đề tựa là 'Tea in an Old House', viết về những nhân vật lỗi lạc trong lịch sử. Bà nói như vầy: 'Người mù Milton, ông nhìn lên thiên đàng; người điếc Beethoven, ông nghe được những hoà âm rất lớn; người què Byron, ông trèo lên bầu trời của dãy núi Alpes – ai nài xin cất bỏ một sự bất lợi có nhớ mấy người nầy không?' Trong lãnh vực thuộc linh, chúng ta có thể nói đúng y như Phaolô, và thậm chí với Môise nữa – mọi thứ ngăn trở mà Môise đã đưa ra – và các thứ ngăn trở nầy đã bị xem là xấu hổ trong đời sống của Phaolô, vì ông sử dụng những nỗi yếu đuối nầy, mà Môise thường loại ra khỏi công việc của Đức Chúa Trời, vì cớ công việc của Đức Chúa Trời, vì quyền phép của Đức Chúa Trời sẽ trở thành ống dẫn cho chức vụ của ông! Ông tận dụng những nỗi yếu đuối của mình trong tay của Đức Thánh Linh làm thứ vũ khí để chống lại điều ác. Như một thi sĩ vô danh đã nói, nói về Phaolô:

'Con xin Chúa Ngài ban cho con sự thành công
cho phần việc cao cả
mà con đang tìm cách thực thi cho Ngài.
Con cầu xin mọi ngăn trở sẽ bị thu hẹp lại,
Và thì giờ cho sự yếu đuối của con sẽ ít ỏi đi.
Con nài xin những điều kiêu kỳ sẽ bị bỏ,
Rồi giờ đây con hạ mình xuống
cảm tạ Ngài vì con đã thất bại.
Vì với sự đau đớn và buồn rầu đến với con
Một di sản của tình trạng dịu dàng
trong tư tưởng và trong hành động.
Một sự cảm thông đến với thất bại,
Và thành công
không hề đến cùng với sự hiểu biết sâu sắc.
Lạy Cha, con không được phước và dại dột
Nếu Ngài chuẩn nhận lời cầu xin mù quáng của con'.

Hãy lưu ý là Phaolô vốn không nói một cái giằm đã được gắn vào ông, mà ông nói 'đã cho một cái giằm xóc vào thịt tôi' – một sự ban cho của ân điển. Bởi lúc bấy giờ ông cần phải đạt tới điểm nầy trong đời sống của mình, ông vốn nhìn biết rằng sứ giả của Satan không còn hành hại ông nữa, nhưng ông đã xem đấy là ân điển của sự Đức Chúa Trời ban cho sự sống của ông hầu sửa soạn một con đường cho chức vụ rộng rãi hơn của ông trong cộng đồng. Còn bây giờ, câu chuyện nầy nói gì với tôi, và chúng ta đã học được điều nầy qua các tuần lễ vừa qua: quí vị sẽ nếm trải đau khổ như thế nào, và làm thế nào quí vị thoát ra khỏi được đau khổ, sẽ được quyết định bởi thái độ quí vị có đối với sự chịu khổ. Khi nào sự chịu khổ của quí vị đổi từ một sứ giả của Satan để hành hại, thành một ân điển của Đức Chúa Trời đã được ban cho quí vị vì ích của quí vị? Khi ấy sẽ trở thành thời điểm cách mạng trong cuộc đời của quí vị.

Thứ ba, chúng ta thấy trong các thơ tín, đặc biệt trong các sự dạy của ông, ra từ sự chịu khổ, nỗi đau đớn, tình trạng rối ren của riêng ông toát ra thứ triết lý về sự chịu khổ đã được Thánh Linh của Đức Chúa Trời cảm thúc. Giờ đây quí vị và tôi nhìn biết rằng trong thế gian mà chúng ta đang sinh sống trong đó người ta đang thờ lạy quyền lực – quyền lực quân sự, quyền lực kinh tế, quyền lực khoa học và thậm chí trong Hội thánh ngày nay chúng ta đang thờ lạy quyền lực có tính cách lôi cuốn – dù vậy Đức Chúa Trời nói trong Êsai 55: 'đường-lối ta cao hơn đường-lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu' – và không như điều mà chúng ta thấy trong triết lý đời nầy, chúng dựa trên sự sống còn của người thích ứng nhất, người mạnh sức nhất và kẻ đau khổ nhất, há điều nầy chẳng kỳ diệu sao khi Tin lành về ân điển của Đức Chúa Trời đến với hạng tội nhân? Tin lành ấy đến với kẻ yếu đuối nhất, và ngay cả Phaolô cũng có thể nói: 'Đức Chúa Jêsus Christ đã đến thế gian để cứu kẻ có tội, trong mọi người ấy ta là đầu'. Ngài đến để cứu kẻ yếu đuối, người nghèo khổ và người có cần, người cùng khổ – hạng người cần một bác sĩ. Triết lý của Phaolô nói tới tình trạng yếu đuối của chúng ta, ông dạy rằng Đức Chúa Trời sử dụng chúng ta, Ngài xem khinh hoặc bất chấp tình trạng yếu đuối của chúng ta – đừng đem điều ấy vào đầu của mình. Ngài không bỏ qua tình trạng yếu đuối của chúng ta, mà hoàn toàn ngược lại: Phaolô dạy dỗ, Đức Thánh Linh cảm thúc ông phải nói cho chúng ta biết, cho dù chúng ta yếu đuối, Đức Chúa Trời đang đại dụng chúng ta! Quí vị có biết như thế chưa? Không nên bất chấp họ, không nên coi thường họ, song hãy vì cớ họ.

“Cho dù chúng ta yếu đuối, Đức Chúa Trời đang đại dụng chúng ta! Quí vị có biết như thế chưa? Không nên bất chấp họ, không nên coi thường họ, song hãy vì cớ họ”.
Giờ đây hãy lắng nghe một vài câu nói của vị đại sứ đồ: I Côrinhtô 1.27: 'Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh’. I Côrinhtô 2.3: 'Chính tôi đã ở giữa anh em, bộ yếu đuối, sợ hãi, run rẩy lắm'. II Côrinhtô 12.10: 'Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nha, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ'. 'Tôi mạnh mẽ' – sao chứ? - 'vì khi tôi yếu đuối'. 'Trong tôi chẳng có gì đáng khoe cả', ông nói: 'nhưng trong nỗi yếu đuối của tôi'. Đây là sự đảo lộn của tiêu chuẩn đời nầy, có phải không? Sự đảo ngược của tiêu chuẩn đó! Đây là điều mà chức vụ của ông đã dựa vào: có ai nghĩ rằng sự yếu đuối là một vốn quý cho chức năng lãnh đạo, và là một đức tính phải tìm kiếm chứ? Nhưng ông đã học biết trong đời sống của mình triết lý của Đức Chúa Trời về chức vụ, ấy là sự dại của Đức Chúa Trời thì khôn ngoan hơn sự khôn của con người, và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời thì mạnh mẽ hơn sự mạnh của con người!

Hãy nhìn vào I Côrinhtô 1.26 trong một phút, I Côrinhtô 1.26: 'Hỡi anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng. Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, để Chẳng ai khoe mình trước một Đức Chúa Trời'. Đấy là chìa khoá! Nếu quí vị muốn có một chức vụ làm bất cứ thứ chi cho Đức Chúa Trời và cho Đấng Christ, quí vị không thể khoe gì trong đó! Mọi sự quí vị có thể khoe là những nỗi yếu đuối của quí vị, vì chúng làm cho sức mạnh của Đức Chúa Trời soi toả ra. Đừng bao giờ quên rằng Chúa đã chọn các môn đồ của Ngài từ một nhóm ngư phủ cùng những kẻ chẳng ra chi, chẳng có học vấn chi hết ở xứ Galilê. Há không thú vị sao khi Ngài trỗi hơn các rabi thông minh – quí vị có biết lý do tại sao không? Vì với mọi sự học hỏi và trường lớp, tấm lòng của họ không cởi mở đối với Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và tôi tin rằng Đức Chúa Trời đang làm cùng một việc ấy ngày hôm nay.
"Một nền giáo dục theo thần học chẳng có nghĩa lý gì theo con mắt của Đức Chúa Trời, nhưng sự tỏ ra quyền phép nơi Đức Thánh Linh thì có đầy đủ ý nghĩa!"

Nhà truyền đạo Tô cách Lan Tấn sĩ James Stewart đã nói như vầy: 'Không một điều chi có thể đánh bại một Hội thánh hay một linh hồn không dựa vào sức mạnh mà dựa vào sự yếu đuối của nó, và dâng nỗi yếu đuối đó cho Đức Chúa Trời như một thứ vũ khí. Đức Chúa Trời chọn xây dựng Vương quốc của Ngài luôn luôn trên sự yếu đuối và trên sự hạ mình của loài người, chớ không phải trên sức mạnh và sự tin cậy của con người – và Ngài có thể sử dụng chúng ta không những vì chúng ta tầm thường, vô dụng, yếu đuối không xứng đáng, mà còn vì cớ họ, và sự khám phá ấy sẽ cách mạng hoá chức vụ của quí vị!' Nan đề của chúng ta ngày hôm nay là chúng ta quá to lớn đối với đôi giày của chúng ta, chúng ta quá tiến bộ, quá ngụy biện, quá thần học và quá khôn khéo đến nỗi Đức Chúa Trời cao cả của chúng ta không thể sử dụng chúng ta – sức mạnh của chúng ta ngày hôm nay đã trở thành sự yếu đuối của chúng ta! Chúng ta cần phải ghi nhớ như F. W. H. Meyer thổ lộ trong bài thơ của ông:

Đối với Chúa, Ngài nắm lấy và Ngài từ chối,
Ngài tìm kiếm loại sứ giả mà con người từ khước,
Ngài không chọn hạng thánh đồ khôn ngoan
hay mạnh sức,
Không giống như Giăng hay Ghiđêôn hoặc tôi.
Tôi thì giống như Phaolô nầy, một kẻ bị xem khinh,
Bạn biết đấy, ông vốn yếu đuối,
bạn thấy đấy, ông khốn khổ lắm
Trong con mắt Ngài, ông được lại sanh,
Mạnh mẽ trong sự yếu đuối
và Đấng Christ sống trong tôi!'.

Quí vị có thể tranh luận, và quí vị tranh luận đúng, so với nhiều người Phaolô là hạng người khôn ngoan, và ông là người sang trọng, ông là người có quyền thế. Hãy lưu ý Kinh thánh nói gì: Kinh thánh không nói bất kỳ người khôn ngoan, người sang trọng và người có quyền thế sẽ được gọi, không có nhiều người đâu – nhưng sự thật của vấn đề cho thấy rằng Phaolô đã không yên nghỉ trên lòng quả cảm và năng lực khôn ngoan của ông, ông đã không yên nghỉ trên lòng sốt sắng và thiên về với luật pháp theo kiểu của người Pharisi. Ông không nương cậy vào chúng, ông nhũ lòng rằng: 'Chính tôi đã ở giữa anh em, bộ yếu đuối, sợ hãi, run rẩy lắm. Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép' – và điều đó đã tạo ra sự khác biệt! Một nền giáo dục theo thần học chẳng có nghĩa lý gì theo con mắt của Đức Chúa Trời, nhưng sự tỏ ra quyền phép nơi Đức Thánh Linh thì có đầy đủ ý nghĩa!

Samuel Chadwick đã nói – và tôi nhớ, tôi không biết họ biết đó là tôi hay không, nhưng tôi có tên trên bảng thông báo của Trường Kinh Thánh lúc tôi có mặt ở đó - rằng Đức Chúa Trời không muốn một chức vụ được đào tạo có trường lớp, Ngài muốn có một chức vụ đầy dẫy Đức Thánh Linh. D.L. Moody, nhà truyền đạo lỗi lạc, tôi biết rằng bề ngoài của ông chẳng có gì lôi cuốn lắm, ông học không đến nơi đến chốn nữa, giọng nói của ông thì the thé theo âm mũi. Trong một cơ hội, có phóng viên nhà báo được phân công kiểm tra các chiến dịch của ông, anh ta được phân công phải khám phá bí quyết quyền năng và ảnh hưởng phi thường của nhân vật nầy mà ông đã có trên dân chúng đủ sắc thái trong xã hội. Đây là những gì vị phóng viên đó đã viết: 'Tôi không nhìn thấy điều gì cả nơi Moody để tường thuật về công việc lạ lùng của ông ấy’. Khi người ta nói cho Moody nghe điều nầy, ông chắc lưỡi rồi nói: 'Tất nhiên là không rồi, vì công việc là công việc của Đức Chúa Trời, chớ không phải của tôi'. Sự yếu đuối của Moody chính là vũ khí của Đức Chúa Trời. Chúng ta dùng sự yếu đuối của mình khi lãnh lấy sự phục vụ Đức Chúa Trời, có phải không? Chúng ta lắm bịnh tật, chúng ta rất yếu đuối, có quá nhiều sai sót với chúng ta - còn Đức Chúa Trời thì phán rằng: 'Ta đã ban cho ngươi các sự nầy như một thứ vũ khí để sử dụng trong công việc của ta'.

Thứ tư và sau hết, niềm tự hào của ông về sự chịu khổ. Philíp 1.23-24, ông nói rằng ông ao ước muốn được đi ở với Đấng Christ là điều tốt hơn, nhưng ở lại vì ích cho Hội thánh đối với ông là điều thiết thực hơn. Phần nhiều người trong chúng ta đều nói rằng: nếu chúng ta được mời vào thiên đàng ngay bây giờ, chúng ta sẽ lấy vé đi ngay! Ông nói: 'Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em'. Giờ đây, đặc biệt hãy nhìn vào II Timôthê, và chúng ta sắp kết thúc – tôi muốn kết thúc bài nầy tối nay – II Timôthê 4.5-7: 'Nhưng con, phải có tiết độ trong mọi sự’, câu 5, `hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ‘. Lời khuyên của ông dành cho Timôthê: `Về phần ta, ta đang bị đổ ra làm lễ quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, những cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài'.

Ông đã viết mọi sự ấy khi còn ngồi trong tù, và ông cứ giữ như thế suốt cuộc đời bị bắt bớ của mình – nỗi khổ chung, riêng và mọi sự – ông cứ giữ chặt lấy triết lý ấy, tại sao chứ? Vì ông cứ nhắm tới trước, phần thưởng mà ông sẽ lãnh được ở cuối đường! Thi sĩ F. H. Allen đã nói:

Phước cho người nào có đức tin không rúng động
Khi có nhiều việc xảy ra trên đường lối của người
Quyền phép giải cứu của Đức Chúa Trời đang tỏ ra
Cho nhiều người hết ngày nầy qua ngày khác.
Dù trong cảnh tù đày ảm đạm,
linh hồn người có sa sút đi
Cho dù sự sống có nhạt phai,
Người vững tin nơi tình yêu
và mục đích của Đức Chúa Cha,
Rồi yên nghỉ trên đó.
Phải, phước hạnh cho người nào
có đức tin không rúng động
Bởi những thử thách không sao nói được,
Bởi những sự kín nhiệm không sao giải quyết được, không sao hiểu được,
Cho tới chừng mục tiêu đã đạt được'.

"'Nếu Đức Chúa Trời hiện hữu vì chúng ta, ai sẽ nghịch cùng chúng ta?'. Quí vị có nhận lãnh câu nầy cho mình tối nay không? Đức Chúa Trời đang hiện hữu vì quí vị, và không có một điều gì dám nghịch lại với quí vị hết".
Đấy là những gì đã khiến cho ông cứ tiếp tục, và từ ngữ 'đi' theo tiếng Hy lạp có nghĩa là 'thuyền mất dây neo'. Ông thấy rằng ông sẽ ra đi, lìa bỏ thế gian nầy, đến với bờ bến thiên đàng, vì sứ mệnh của ông gần như đã hoàn tất. Quí vị không nhìn thấy sứ mệnh nầy, nhưng truyền khẩu có nói, rằng sau khi Phaolô kêu nài đến Nero ông muốn lên thành Rôma. Khi ông đến tại Rôma, vào một trong những ngày lễ lạc của Nero nhằm mùa hè ở đâu đó, người tình yêu dấu của ông ta đã quay trở lại với Đức Chúa Giêxu Christ bởi không ai khác hơn là sứ đồ Phaolô. Khi Nero về tới hoàng cung ông chẳng lấy làm vui lòng, vì nàng đã bỏ đi, rồi hiệp với một nhóm Cơ đốc nhân và phục sự theo Tin lành. Truyền khẩu cho chúng ta biết rằng Nero đã nổi điên lên, và ông ta đã báo thù Phaolô, và họ đã bắt ông dẫn ra khu Ostian, ở đó họ đã chặt đầu ông.

Huân tước Nelson báo cho Đô đốc Hải quân Anh biết chiến thắng vang dội của ông trước hạm đội Pháp trong trận đánh ở sông Nile. Ông nói rằng 'chiến thắng' chưa phải là một từ lớn đủ để mô tả những gì đã diễn ra. Khi Phaolô nói về sự đắc thắng của ông qua Đấng Christ trong sự sống và trong sự chết của ông, trải qua những cơn thử thách cùng mọi nghịch cảnh và kẻ thù, cùng mọi cám dỗ và khốn khó trong cuộc sống – từ ngữ vĩ đại nhất trong mọi từ ngữ không phải 'thắng' là đủ đâu, ông muốn nói gì vậy? Mà còn hơn thế nữa, “Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần”.

Quí vị có biết điều chi làm cho tôi phải ngạc nhiên xuyên suốt toàn bộ loạt bài nầy, và khi chúng ta kết thúc sứ điệp và các buổi nhóm của chúng ta tối nay không? Ông không nói: 'Ta còn hơn là người chiến thắng nữa', ông muốn nói gì vậy? 'Chúng ta', 'Điều chi sẽ phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời' – và đúng là sứ điệp lớn lao ở cuối các buổi nhóm nầy, và ở phần cuối tiểu sử của nhân vật nầy, là đây: ông đã nói thay cho chúng ta và về chúng ta: 'Nếu Đức Chúa Trời hiện hữu vì chúng ta, ai dám nghịch cùng chúng ta?'. Quí vị có nhận lãnh câu nầy cho mình tối nay không? Đức Chúa Trời đang hiện hữu vì quí vị, và không có một điều gì dám nghịch lại với quí vị hết.

Tôi hy vọng trong các tuần lễ nầy, khi quí vị nhìn vào tấm gương Lời Đức Chúa Trời, quí vị đã nhìn thấy cái khung lý do tại sao – hoặc ít nhất làm thế nào – quí vị có thể nếm trải những gì quí vị đã nếm trải, và làm thế nào quí vị có thể nếm trải nó với sự khoe về Đức Chúa Trời, và trong mối tương giao với Đức Chúa Giêxu Christ, với Thánh Linh của Ngài, và làm thế nào nhiều người khác có thể nhìn thấy sự nếm trải đó mà kính sợ và biết tin cậy nơi Chúa.

`Đừng xấu hổ, đừng sợ, hai cánh tay Ngài đang ở gần,
Ngài không thay đổi và ngươi rất đáng yêu.
Chỉ tin thôi thì ngươi sẽ thấy
Rằng Đấng Christ là mọi sự trong mọi sự cho ngươi'.
Lạy Cha, chúng con tin rằng bất cứ chúng con làm gì, dù chúng con ăn hoặc uống, dù chúng con sống hay chết, dù chúng con phải chịu đau khổ, ung thư, mất mát - nguyện chúng con có thể, nhờ ân điển của Đức Chúa Trời có đủ cho chúng con, chịu thế vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Chúng con phải tin nơi Lời của Ngài rằng trong sự yếu đuối của chúng con Đức Chúa Trời sẽ nhìn thấy; và chúng con cầu nguyện, lạy Chúa, chúng con tin, nhưng xin giúp cho chúng con với sự vô tín của chúng con, và khiến cho chúng con đứng vững trên Lời của Đức Chúa Trời trong nỗi khổ của chúng con, và biết làm theo những gì Phaolô đã làm: nhìn xem Đấng Tác Giả và Thành Toàn của đức tin chúng con, nhìn xem Ngài là Đấng đã chịu sự đối ngược dường ấy của hạng tội nhân. Chúng con cầu nguyện trong danh của Ngài, Amen.

***

Sự phục vụ đầy đau khổ của Giăng Báptít



Như lằn lửa bay chớp lên không – Phần 11
"Sự phục vụ đầy đau khổ của Giăng Báptít"
Mục sư David Legge
"Ở đây trong cá tánh của Giăng Báptít, chúng ta thấy thêm một thống khổ nhân khác"
Tôi muốn quí vị cùng với tôi mở ra sách Tin lành Mathiơ chương 11. Chúng ta sẽ bắt đầu phần nghiên cứu thứ 11 của chúng ta tối nay trong loạt bài 'Như Lằn Lửa Bay Chớp Lên Không' – xem xét các nhân vật trong Cựu Ước và rồi trong Tân ước (và chúng ta đang bước vào Tân Ước lần đầu tiên tối nay), các nhân vật đã được ghi lại cho chúng ta trong phần ký thuật của Kinh Thánh như đang trải qua những thời kỳ khó khăn nhất trong kinh nghiệm sống của họ, và thể nào Đức Chúa Trời đã đưa họ vượt qua. Đối với những người chúng ta đã xem xét qua rồi, chúng ta đã thấy đó chẳng phải là một con đường dễ dàng, và đời sống của họ chắc chắn không phải là chiếc giường đầy hoa hồng, cho dù họ là hạng tôi tớ của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ theo các mục đích tối thượng của Ngài vượt qua những lúc khó khăn, và chúng ta đã nhìn thấy và đã trải qua với nhiều người trong số họ – và chúng ta đang xem xét Giăng Báptít, đặc biệt 'Sự Phục Vụ Đầy Đau Khổ Của Giăng Báptít”.

Giờ đây có nhiều câu Kinh thánh trong các truyện tích Tin lành mà chúng ta phải xem qua tối nay, thực vậy chúng ta sẽ rút ra một số câu trong đó – nhưng chúng ta sẽ đọc chủ yếu trong tin lành Mathiơ chương 11, bắt đầu từ câu 1. "Vả, Đức Chúa Jêsus đã dạy các điều đó cho mười hai môn đồ rồi, bèn lìa khỏi chỗ nầy đặng đi giảng dạy trong các thành xứ đó. Khi Giăng ở trong ngục nghe nói về các công việc của Đấng Christ, thì sai môn đồ mình đến thưa cùng Ngài rằng: Thầy có phải là Đấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi Đấng khác chăng? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: hãy về thuật lại cùng Giăng những điều các ngươi nghe và thấy: kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn được nghe giảng tin lành. Phước cho ai chẳng vấp phạm vì cớ ta! Khi họ ra về, Đức Chúa Jêsus mới phán về việc Giăng cho đoàn dân nghe, rằng: Các ngươi đã đi xem chi trong đồng vắng? Có phải xem cây sậy bị gió rung chăng? Các ngươi đi xem cái chi nữa? Có phải xem người mặc áo tốt đẹp chăng? Kìa, những người mặc áo tốt đẹp thì ở trong đền vua. Nhưng các ngươi lại đi xem cái chi nữa? Có phải là xem đấng tiên tri chăng? Phải, ta nói cùng các ngươi, cũng hơn đấng tiên tri nữa. Ấy vì người đó mà có chép rằng: Nầy, ta sai sứ ta đến trước mặt con, đặng dọn đường sẵn cho con đi. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong những người bởi đờn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báp-tít, nhưng mà kẻ rất nhỏ hèn trong nước thiên đàng còn được tôn trọng hơn người. Song, từ ngày Giăng Báp-tít đến nay, nước thiên đàng bị hãm ép, và là kẻ hãm ép đó choán lấy. Vì hết thảy các đấng tiên tri và sách luật đã nói trước cho đến đời Giăng. Nếu các ngươi muốn hiểu biết, thì ấy là Ê-li, là đấng phải đến. Ai có tai mà nghe, hãy nghe”.
Tôi không biết quí vị có bao giờ nghe kể lại câu chuyện một người nọ vào sáng Chúa nhật không thể ra khỏi giường chưa!?! Mẹ anh ta đã cố gắng vực anh ta dậy, nhưng không sao làm được. Bà hô vọng lên các bậc thang: 'Dậy đi!', và anh ta nói vọng xuống: 'Không!'. Bà lại hô vọng lên một lần nữa: 'Dậy đi!', và anh ta hô vọng xuống một lần nữa: 'Không!'. Thế rồi bà ta lại hô lên: 'Dậy đi!', và anh ta vọng xuống: 'Tại sao con phải dậy chứ?'. Bà đáp: 'Đúng đấy, trước tiên bữa điểm tâm của con đã dọn rồi, thứ hai con phải dậy để đi nhà thờ, và thứ ba con là Mục sư!'. Thường thì sự thờ phượng Cơ đốc và chức vụ Cơ đốc có thể trở thành một sự doạ dẫm giống như trên, dù tin hay không tin. Bất cứ ai có liên quan tới sự thờ phượng Cơ đốc, dù là chức vụ trọn thời gian, nếu quí vị thích gọi như thế, họ thấy khó khăn trong nhiều thời điểm đang phục sự Chúa, và khi đang phục vụ cho dân sự của Đức Chúa Trời. Có một điểm đánh dấu các nhân vật mà chúng ta đã nghiên cứu qua - Ápraham, Giacốp, Giôsép, Môise, Êli, Giêrêmi, Giôna, Gióp và còn nữa – ấy là họ đã nếm trải những cơn thử thách, đúng thế, nhưng họ đã trải qua những cơn thử thách đặc biệt trong vai trò tôi tớ của Đức Giêhôva. Không phải họ đã nếm trải qua những chứng bịnh thông thường, không phải chỉ có bịnh tật hay tình trạng mất người thân hoặc thử thách, mà thật đặc biệt – phải, những việc đó cũng có đấy – họ đã chịu thử thách, chịu thử nghiệm trong vai trò tôi tớ của Đức Chúa Trời. Chính sự trung tín của họ đối với Đức Chúa Trời, sự vâng phục đối với sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, và chức vụ cùng sự thờ lạy dành cho Đức Chúa Trời mà họ đã dự phần vào, họ đã chịu đựng nổi sự thử thách mà họ đã chịu.
Bất cứ ai có liên quan tới sự thờ phượng Cơ đốc, dù là chức vụ trọn thời gian, nếu quí vị thích gọi như thế, họ thấy khó khăn trong nhiều thời điểm đang phục sự Chúa, và khi đang phục vụ cho dân sự của Đức Chúa Trời.

Tôi mong là quí vị đã nhìn thấy khuôn mẫu nầy xuyên suốt các phần nghiên cứu của chúng ta – chúng ta có thể nói tối nay, đặc biệt khi nhìn xem những khốn khó của Giăng Báptít, sự phục vụ dành cho Đức Chúa Trời thường đem lại nổi đau khổ. Phục sự đem lại đau khổ. Một nghiên cứu nhanh về các nhân vật mà chúng ta đã nghiên cứu rồi, cùng những quyển sách mà người ta tìm gặp họ, sẽ làm chứng đúng y như thế. Gióp 19.22 chép - Gióp đang xây sang những kẻ vu cáo ông mà chúng ta đã học hỏi tuần vừa qua, ông nói: 'Cớ sao các bạn bắt bớ tôi như Đức Chúa Trời, và chưa no nê thịt tôi sao?'. Trong Thi thiên 119, David là nhân vật chúng ta đã tiếp thu trong các phần nghiên cứu nầy, chúng ta có thể sử dụng câu nói của Thi thiên nầy chỉ ra sự ông chịu bắt bớ và chịu đau khổ trong tay của nhiều kẻ thù. Thi thiên 119.84 chép như sau: 'Số các ngày kẻ tôi tớ Chúa được bao nhiêu? Chừng nào Chúa sẽ đoán xét những kẻ bắt bớ tôi?'. 'Tôi là tôi tớ Chúa, chừng nào Chúa mới xét xử các dân nầy, họ đang khiến cho tôi gặp quá nhiều thử thách và hoạn nạn?'

Chúng ta đã xem qua 'Giêrêmi, con người buồn rầu', và trong chương 17 của quyển sách và lời tiên tri của ông, các câu từ 16 đến 18, ông nói: 'Còn tôi, tôi chẳng vội vàng bỏ chức chăn dân mà không theo Ngài. Tôi cũng không tự ý muốn mình trông được ngày khốn nạn, Ngài vẫn biết vậy. Lời miệng tôi nói ra đều ở trước mặt Ngài. Ngài là nơi ẩn náu của tôi trong ngày hoạn nạn, xin chớ làm cớ cho tôi kinh khiếp! Xin Ngài làm cho những kẻ bắt bớ tôi bị xấu hổ, mà chính tôi đừng bị xấu hổ; cho họ kinh hoàng! Xin cho ngày hoạn nạn lâm trên họ, và hủy hoại gấp hai!'. Tất nhiên là chúng ta biết, khi chúng ta học hỏi Bài Giảng Trên Núi, mọi sự đều tốt lành trong những buổi sáng Chúa nhật nầy, ấy là Chúa đã nói cho chúng ta biết: 'Các ngươi sẽ có hoạn nạn trên thế gian nầy; nhưng hãy vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi – nhưng đừng quên, các ngươi sẽ có hoạn nạn trong thế gian'. Ngài nói tiếp: 'Tôi tớ không lớn hơn chủ; và nếu họ bắt bớ Ta, họ cũng sẽ bắt bớ các ngươi'. Tám Phước Lành mà hết thảy chúng ta đều nhìn biết và kinh nghiệm, tôi hy vọng là: 'Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước' – Ngài đang phán: 'Hạnh phúc, thoả lòng, vui sướng và được phước dành cho người phục vụ ta, và trong sự phục vụ ta gặp sự bắt bớ và thử thách'.

Theo các phần nghiên cứu đã qua, và thậm chí trong một vài câu Kinh thánh nầy, chúng ta đã trưng dẫn từ các nhân vật đã được nghiên cứu qua, tôi hy vọng rằng quí vị nhìn thấy rất rõ ràng, chúng ta đang nhìn thấy một nguyên tắc ở đây. Có lẽ nguyên tắc đã được nói ra ở đây cho thấy rằng khi quí vị hầu việc Đức Chúa Trời quí vị sẽ chịu khổ, nhưng tôi nghĩ khi chúng ta đang nhìn xem Giăng Báptít tối nay, chúng ta sẽ thấy rằng ‘việc phục sự càng lớn lao, chức vụ càng lớn lao, nỗi khổ và thử thách càng lớn lao thêm'. Tất nhiên, người Đầy Tớ Chịu Khổ mà chúng ta thấy đặc biệt trong sách Êsai là Tôi Tớ của Đức Giêhôva. Những phân đoạn Kinh Thánh nổi tiếng nhất là Êsai 52 và Êsai 53, ở đó chúng ta đọc thấy Đức Chúa Giêxu Christ được nói tiên tri trước về Ngài đến trong vai trò Đấng Mêsi của Đức Chúa Trời, là Đấng Được Xức Dầu của Đức Chúa Trời và là Đấng Được Chọn. Ngài thực là Tôi Tớ của Đức Giêhôva – nhưng Ngài đã được gọi như thế nào trong sách Êsai? 'Người từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm'.

Ở đây, trong nhân vật Giăng Báptít, chúng ta thấy một người buồn bực, nhưng chúng ta không thể chuyển qua Chúa chúng ta quá sớm vì tôi muốn quí vị nhìn thấy ở đây Đức Chúa Giêxu Christ Chúa chúng ta có nguyên tắc nầy: ấy là chức vụ càng to, đau khổ càng lớn. Quí vị có trong Cứu Chúa chúng ta sự chịu khổ lớn lao nhất trong mọi nổi đau khổ, và chúng ta có thể nói tối nay một cách khẳng định rằng Ngài là nhân vật chịu khổ lớn lao nhất trong mọi người, Ngài là Tôi Tớ đã hoàn thành chức vụ quan trọng nhất trong mọi chức vụ? Những người được cứu là khi họ tin Ngài đã đổ huyết ra để mua chuộc họ. Chúng ta đọc thấy trong thơ Hêbơrơ của Tân Ước, không những ở đây minh họa chức vụ cao trọng của Cứu Chúa chúng ta, mà còn nêu trong thơ Hêbơrơ sự chịu khổ lớn lao của Cứu Chúa chúng ta nữa: 'Thật, Đấng mà muôn vật hướng về Ngài và bởi Ngài, vì muốn đem nhiều con đến sự vinh hiển, thì đã khiến Đấng làm cội rễ sự cứu rỗi của những con ấy, nhờ sự đau đớn mà nên trọn lành, là phải lắm'.

Đức Chúa Giêxu Christ nói về sự chịu khổ của Giăng Báptít trong Mathiơ 11.11, và cũng trong Luca 7.28: 'Ta nói cùng các ngươi, trong những người bởi đờn bà sanh ra, không có ai lớn hơn Giăng Báp-tít đâu'. Vì thế chúng ta không nên lấy làm lạ trước sự thực ông là vị tiên tri cao cả nhất, chúng ta cũng thấy nơi ông cá tánh của một người chịu khổ nhiều cho Đức Chúa Trời – vì ông có một chức vụ quan trọng, một sự phục vụ lớn lao, một chức vụ tiên tri cao cả, ông đã chịu khổ quá nhiều. Chúng ta có thể nhìn thấy mọi sự nêu trên, có lẽ tối nay, rằng cái điều đánh dấu chức vụ của Giăng Báptít là sự phục vụ đầy đau khổ của ông. Nếu tôi có thể áp dụng ngay phần ấy vào chỗ bắt đầu bài học của chúng ta tối nay, điều nầy thực sự nói gì với chúng ta, toàn bộ sứ điệp của chúng ta tối nay là đây: nếu quí vị là con cái của Đức Chúa Trời hôm nay trong kỷ nguyên nầy muốn phục sự Đức Chúa Trời có hiệu quả, muốn nhìn thấy các kết quả cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, muốn có một chức vụ trọn ý nghĩa cho Đức Chúa Trời và sự làm chứng cho Ngài – giống như hết thảy các nhân vật mà chúng ta đã học hỏi qua, và giống như Giăng Báptít – quí vị cần phải được sửa soạn để chịu khổ.

Nếu quí vị là con cái của Đức Chúa Trời hôm nay trong kỷ nguyên nầy muốn phục sự Đức Chúa Trời có hiệu quả, muốn nhìn thấy các kết quả cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, muốn có một chức vụ có ý nghĩa cho Đức Chúa Trời và sự làm chứng cho Ngài – giống như hết thảy các nhân vật mà chúng ta đã học hỏi qua, và giống như Giăng Báptít – quí vị cần phải được sửa soạn để chịu khổ.
Chúng ta hãy xem xét và tiếp thu từ những nỗi khổ của nhân vật cao trọng nầy tối nay. Việc đầu tiên chúng ta thấy, ấy là một người chịu khổ cho Đức Chúa Trời cần phải biết chắc là mình được Đức Chúa Trời kêu gọi, vì chỉ có người nào được Đức Chúa Trời kêu gọi mới chịu nổi sự khổ sở mà họ sẽ chịu trong sự hầu việc Đức Chúa Trời. Chúng ta thấy ngay từ đầu tiểu sử của Giăng Báptít, ông đã có một sự chỉ định thiêng liêng trong chức vụ của ông. Thực ra, trước khi ông sanh ra, chúng ta thấy rõ sự chỉ định thiêng liêng ấy trong Êsai chương 40. 3-5. Nếu quí vị tra cứu cẩn thận điều ấy, quí vị không phải mở Kinh thánh ra, tôi sẽ đọc mấy câu nầy cho quí vị nghe nếu quí vị muốn – Êsai nói tiên tri: 'Có tiếng kêu rằng: Hãy mở đường trong đồng vắng cho Đức Giê-hô-va; hãy ban bằng đường cái trong đất hoang cho Đức Chúa Trời chúng ta! Mọi nơi sủng-thấp sẽ được cao lên; mọi núi mọi gò sẽ bị hạ xuống; các nơi gập-ghềnh sẽ làm cho bằng; các nơi dốc-hãm sẽ làm thành đồng-nội. Bấy giờ sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra, và mọi xác thịt đều sẽ xem thấy; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy'. Malachi, trong chương 3 câu 1, ông nói tiên tri về Giăng Báptít là 'Nầy, ta sai sứ giả ta, người sẽ dọn đường trước mặt ta', dọn đường cho chính mình Đức Chúa Giêxu Christ.

Khi chúng ta xem qua cuộc đời lúc ấu thơ của Giăng Báptít, chúng ta thấy một số việc đáng nhớ về ông. Chúng ta thấy rằng ký thuật Tin lành của Luca cho chúng ta biết rằng ông đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ trong lòng mẹ. Trước khi chào đời, ông đã có được sự đầy dẫy ấy, ông đã mặc lấy quyền phép từ trên cao ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Chúng ta cũng thấy rằng mẹ ông cũng đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh nữa, chúng ta thấy cha của ông cũng được đầy dẫy Đức Thánh Linh, và thực ra đã được Đức Thánh Linh ban cho ân tứ nói tiên tri. Chúng ta thấy rằng Giăng Báptít vốn có một khởi đầu rất đặc biệt, khác thường trong đời – hãy tưởng tượng mình đang có một loại khởi đầu ấy xem! Quí vị được đầy dẫy với Đức Thánh Linh từ trong lòng mẹ của mình, cha mẹ của quí vị đều được đầy dẫy, và cha của quí vị nói tiên tri về sự kiện quí vị ra đời. Sự thực là, khi chúng ta bắt đầu phần nghiên cứu nầy tối nay, và chúng ta đặc biệt nhìn vào sự chịu khổ của người đầy tớ Giăng Báptít, chúng ta phải công nhận rằng trong nhiều trường hợp Giăng Báptít chẳng khác gì với quí vị và với tôi. Tất nhiên là ông rất đặc biệt, về chúng ta chẳng có một lời tiên tri nào đặc biệt trong Cựu ước cả, và chúng ta không phải là người tiền khu của Đấng Mêsi; nhưng có một điều mà chúng ta có thể đòi hỏi tối nay, mỗi một người là con cái của Đức Chúa Trời, nếu chúng ta được cứu bởi ân điển của Đức Chúa Trời, và hết thảy chúng ta đều có một sự chỉ định thiêng liêng để bước vào sự phục vụ. Hết thảy chúng ta đều có ơn kêu gọi của Đức Chúa Trời.

Tôi biết rằng có những sự kêu gọi khác nhau từ Đức Chúa Trời, và tôi không có thì giờ để tra xét hết thảy những sự kêu gọi ấy tối nay. Nhưng theo ý nghĩa về sự chỉ định thiêng liêng nầy trên đời sống của quí vị, chúng ta không cần phải ngồi xúm xít quanh một quyển Kinh Thánh đang mở ra rồi cầu nguyện và chờ đợi để có được sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, chờ đợi để có tia chớp xẹt xuống từ trời, cho tới chừng chúng ta bước ra ngoài – vì Chúa Giêxu đã ban cho chúng ta đầy đủ trong đại mạng lịnh: 'Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ'. Đại mạng lịnh ấy đã được ban ra cho hết thảy chúng ta, nghĩa là sự chỉ định thiêng liêng của Ngài dành cho hết thảy chúng ta.

Nếu quí vị mở ra Êphêsô 2.10, chúng ta thấy Phaolô nói về hết thảy chúng ta, là những người tin theo Đấng Christ: 'vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo'. Giờ đây, hãy nắm bắt câu nầy muốn nói gì tối nay, Phaolô đang nói rằng trước khi lập nền thế gian – hết thảy chúng ta đều biết về sự tiền định và sự biết trước của Đức Chúa Trời; trong lẽ mầu nhiệm mà Đức Chúa Trời biết rõ và Đức Chúa Trời đã chỉ định ngay giây phút nầy chúng ta phải hầu việc Đấng Christ, trong Đấng Christ, được che phủ trong sự công bình của Đấng Christ và với quyền phép của Đấng Christ – cho dù phải quay trở lại, trước khi lập nền thế gian, Đức Chúa Trời đã chỉ định những công việc đặc biệt mà chúng ta phải lo làm cho Ngài. Há không lấy làm lạ sao? Ngài đã chỉ định, đã chọn và đã hoạch định những việc mà chúng ta phải lo làm, chúng ta phải bước đi trong mọi việc ấy. Ngài đã sắm sẵn những việc lành cho chúng ta trước khi lập nền thế gian. Đây không phải là một vấn đề muốn hay không muốn đi vào cánh đồng mùa gặt và làm những việc chúng ta thích, và lo làm những việc làm vui lòng chúng ta đâu – mà Đức Chúa Trời có một chương trình cho chúng ta. Đúng là điều phải suy nghĩ! Hãy nghĩ xem, ở tận trên trời cao kia, ngay giờ phút nầy chắc chắn có một đống công việc chưa làm có ghi tên của chúng ta trên đó, chúng ta đã không làm thành vì chúng ta không biết Đức Chúa Trời có một sự chỉ định thiêng liêng cho mỗi một người chúng ta.

Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời không phải là làm Mục sư, sự kêu gọi của Đức Chúa Trời không phải là một sự kêu gọi ra đi truyền giáo và nắm lấy các hội truyền giáo, hay bước vào công trường truyền giáo với vai trò giáo sĩ – về một ý nghĩa thì kêu gọi không phải là một trong các điều nầy, vì hết thảy chúng ta đều được ủy thác ra đi với Tin Lành. Đúng là một thảm họa khi thiên đàng đã sắm sẵn cho chúng ta nhiều việc làm mà chúng ta chẳng thi hành. Thắc mắc mà tôi từng đưa ra ngay từ đầu buổi nhóm tối nay là: quí vị đang ở trong chương trình, có phải không? Quí vị có đang ở trong chương trình của Đức Chúa Trời dành cho quí vị không? Quí vị có công nhận sự chỉ định thiêng liêng của Đức Chúa Trời cho đời sống quí vị không? Và quí vị đang làm gì trong chương trình đó? Quí vị đang dấn thân vào công việc nào? Quí vị thực thi công việc đã sắm sẵn trước khi thế gian khởi sự như thế nào? Tôi dám tin rằng trong ngày phán xét, khi chúng ta đến đứng trước mặt Đức Chúa Giêxu Christ, chúng ta sẽ chịu xét đoán tùy theo chúng ta có làm tròn những công việc nầy hay không!?!

Quí vị có đang ở trong chương trình của Đức Chúa Trời dành cho quí vị không? Quí vị có công nhận sự chỉ định thiêng liêng của Đức Chúa Trời cho đời sống quí vị không? Và quí vị đang làm gì trong chương trình đó? Quí vị đang dấn thân vào công việc nào?
Khi chúng ta nhìn xa hơn, chúng ta thấy rõ sự Chúa chỉ định ông, sự Đức Chúa Trời tấn phong cho ông, vẫn chưa phải là đủ để nắm lấy chức vụ nầy. Nếu quí vị mở ra sách Luca chương 1 trong một phút thôi, quí vị sẽ thấy ngay vấn đề ấy – quí vị cần đọc hết chương 1 sách Luca để nắm bắt phần ký thuật chi tiết hơn về Giăng Báptít – nhưng chúng ta thấy ở phần cuối của chương nầy, câu 80, nói về Giăng như sau: 'Vả, con trẻ ấy lớn lên, tâm thần mạnh mẽ, ở nơi đồng vắng cho đến ngày tỏ mình ra cùng dân Y-sơ-ra-ên'. Không những ông có một sự chỉ định thiêng liêng để nắm lấy chức vụ của mình, mà chúng ta còn thấy ông đã chịu đựng một sự chuẩn bị rất cao để nắm lấy chức vụ đó. Quí vị cần phải nhớ rằng Kinh Thánh nói 30 năm đã trôi qua, kể từ khi ông được thai dựng cách lạ lùng trong dạ son sẻ của Êlisabết. Ba mươi năm đã trôi qua và, nếu quí vị thích, nếu tôi có thể sử dụng trí tưởng tượng – tôi hy vọng – về sự phấn khích trong sự ông ra đời đều đã qua đi, và tôi dám chắc dân sự trong cộng đồng Do thái đã quên đi mọi sự phấn khích về sự ra đời của vị tiên tri nầy. Chính bản thân Giăng, là một cá nhân, cũng đã bị bỏ quên – có lẽ vì, một số học giả tin, từ tuổi 12 Giăng đã vào sống trong sa mạc, trong đồng vắng, sống trong những hang động và trong những chỗ lõm sâu của các vầng đá trong đồng vắng hoang mạc mà môn địa lý cho chúng ta biết trải dài từ Núi Hếprôn cho tới bờ biển phía Tây của Biển Chết.

Ở đó trong đồng vắng Đức Chúa Trời lo sửa soạn cho con người nầy, và ở đó quí vị có thể nhìn thấy nhân vật cô độc nầy – một người sống cô độc trong sa mạc, mặc thứ áo xống thô sơ kỳ dị, áo da bằng lông lạc đà, ăn thứ thực phẩm kỳ dị, châu chấu và mật ong rừng, Kinh Thánh cho chúng ta biết như vậy. Trong môi trường nầy, với áo xống và thứ thức ăn kỳ dị đó, với những thói quen lạ lùng, Đức Chúa Trời đang tôn cao, làm việc và nắn đúc con người nầy – Đức Chúa Trời đang dạy dỗ chàng thanh niên nầy, đưa toàn bộ thân hồn thần của người vào sự vâng phục trọn vẹn và địa vị lãnh đạo cho Đức Chúa Trời. Quí vị có thấy như thế không? Được Đức Chúa Trời kêu gọi vẫn chưa phải là đủ đối với chàng thanh niên nầy, hẳn nhiên chàng phải chịu đựng sự chuẩn bị có cường độ cao để chàng phải nắm lấy chức vụ cho Đức Chúa Trời. F.B. Meyer trình bày rõ ràng lắm khi ông nói về sự chuẩn bị nầy: 'Qua cách sử dụng chế độ sinh sống hạn hẹp và cách ăn mặc thô sơ như thế nầy, ông đã bắt thân thể mình phải chịu phục thật hoàn toàn. Từ bổn tánh, từ nhận thức thuở ấu thơ, và từ mối tương giao trực tiếp với Đức Chúa Trời, ông đã nhận lãnh nhiều sự khải thị được hiến cho liên tục, chỉ có những người thể ấy mới có thể đứng vững trước chuổi kỷ luật trong trường hoang vắng và thiếu thốn'. Ông đã sống trong trường của Đức Chúa Trời.

Phaolô xác nhận ngôi trường đó, tất nhiên là bản thân ông đã nếm trải ngôi trường ấy, nhưng ông nói cho chúng ta biết rằng mỗi một con cái của Đức Chúa Trời nào thực sự bước theo Đấng Christ cũng sẽ nếm trải qua ngôi trường đó – và điều ấy vốn rất quan trọng đối với tôi tớ của Đức Chúa Trời. I Côrinhtô 9.27 chép như vầy: ‘song tôi đãi thân thể mình cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng'. Được Đức Chúa Trời kêu gọi, đấy không phải là vấn đề, vấn đề là bước vào cách cố ý – cố ý bởi sự dẫn dắt của Thánh Linh Đức Chúa Trời – mà thật vậy, mỗi ngày trong cuộc sống của quí vị, trong trường hoang vắng và kỷ luật của Đức Chúa Trời, bắt thân thể quí vị phải phục, buộc nó phải vâng phục, biến nó thành một tên nô lệ, kỷ luật nó – e rằng, khi quí vị giảng dạy kẻ khác và bảo họ những điều phải làm theo, quí vị sẽ bị bỏ vì bản thân quí vị không làm nổi.

Cho nên có hai việc ở đây trong sự sửa soạn cho chàng thanh niên nầy. Giờ đây, hãy đánh dấu hai việc nầy: một, cô độc; hai, kỷ luật. Cô độc và kỷ luật đều rất cần thiết trong sự sửa soạn cho vị tiên tri cao trọng nhất đã từng sinh sống. Quí vị có biết các điều nầy tác dụng như thế nào theo các giới hạn của từng người? Bây giờ hãy lắng nghe: quí vị phải ở một mình với Đức Chúa Trời nếu quí vị muốn hầu việc Đức Chúa Trời; và không những quí vị phải ở một mình với Đức Chúa Trời để hầu việc Đức Chúa Trời, mà quí vị còn phải đặt thân thể mình dưới quyền điều khiển của Đức Chúa Trời nữa! Cô độc và kỷ luật. Bây giờ, không nhất thiết phải nói ra một khi quí vị đã có mặt trên đường với Đức Chúa Trời lâu nay, hoặc chỉ mới khởi sự, quí vị sẽ biết ngay đấy không phải là một con đường dễ dàng. Ở một mình với Đức Chúa Trời không phải là dễ dàng đâu, và việc kỷ luật thân thể của quí vị không phải là điều dễ dàng – lý do là, tôi chẳng hề mệt mỏi khi nói tới điều nầy trong một kỷ nguyên tin thật là dễ dàng, rằng con đường Cơ đốc và cuộc sống Cơ đốc không phải là dễ dàng! Và nếu chúng ta xem là dễ dàng, thì có điều chi đó sai lầm với Tin Lành của chúng ta! Phải, Ngài phán rằng ách của Ngài là dễ chịu và gánh Ngài nhẹ nhàng, Ngài phán rằng các điều răn của Ngài không phải là buồn khổ hay gánh nặng – và dĩ nhiên, khi đem sánh với sự khó nhọc của hạng tội nhân, đường lối của họ thật là khốn khó, đây là cái ách nhẹ nhàng. Khi đem sánh với chủ nghĩa thiên về với luật pháp, là thứ luật mà người ta đang ra sức sống để được nên thánh và thuộc linh trong xác thịt, ách của Ngài là dễ chịu và gánh của Ngài nhẹ nhàng, và các điều răn của Ngài không phải là buồn khổ đâu.
"Tôi có thể hỏi quí vị tối nay: quí vị có muốn hoàn tất việc chi đó cho Đức Chúa Trời không? Phải, thắc mắc khác cần phải đáp trả là đây: Thì giờ quí vị ở riêng với Đức Chúa Trời là bao lâu? Quí vị sử dụng thì giờ ra sao với Đức Chúa Trời?"
Chúng ta đã được ban cho quyền phép của Đức Thánh Linh, quí vị và tôi cả hai đều biết rõ là chúng ta không thể làm được việc chi nếu không có quyền phép của Ngài – song chúng ta vẫn phải nhớ rằng chúng ta đã bước vào, thực ra tiếng Hy lạp cho thấy là chúng ta đã lấn ép qua cánh cửa hẹp, và chúng ta đang lấn ép qua con đường hẹp – và con đường ấy không phải là dễ đi đâu. Đức Chúa Trời đưa người ta vào Trường Đại Học về kỷ luật và sự im lặng của Ngài. Chúng ta đã nghiên cứu Môise, và quí vị nhớ Môise đã có mặt ở đó 40 năm rồi, tiếp thu đủ mọi thứ khôn ngoan và tài năng của người Ai cập. Ông là một thanh niên học thức, và gần 40 tuổi ông đã sử dụng mọi thế lực khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông và đã tiếp thu thật nhiều khi ông có thể tiếp thu. Ông là một chính khách lỗi lạc và là một chiến binh vĩ đại, và ông đã hoàn thành đầy trọn ngay lúc quí vị có thể trông mong một chàng thanh niên hoàn thành ở tuổi 40 – nhưng ông vẫn chưa chịu bước vào trường cô độc của Đức Chúa Trời. Trong 40 năm kế, ông đã băng qua sa mạc của người Mađian, và ông đã bị đánh đòn nhiều lắm – không phải để học tập, mà là để quên những điều đã học biết; không phải để nhìn biết ông quan trọng ở tầm cở nào, mà phải tự hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời; không phải để cho bản ngã cứ lớn lên mãi, mà là để cho bản ngã phải thu hẹp lại! Khi công việc của Đức Chúa Trời đã được phát động, người của Đức Chúa Trời đã sẵn sàng.

Tôi xin phép hỏi quí vị tối nay: quí vị có muốn hoàn tất việc gì đó cho Đức Chúa Trời không? Còn có một câu hỏi khác cũng phải trả lời là đây: thì giờ quí vị ở riêng với Đức Chúa Trời như thế nào? Quí vị có dành hết thảy, hay bất cứ thì giờ nào cho Đức Chúa Trời? Đó là chỗ mà sự phục vụ, sự làm chứng, chức vụ, đời sống của quí vị sẽ đặt vào. Hãy tưởng tượng xem trường hợp – và nó sẽ xảy đến – ở Ulster, chúng ta sẽ bị bỏ tù vì cớ đức tin của chúng ta. Chúng ta sẽ lấy làm bối rối chăng? Phải ở trong xà lim của nhà tù – chỉ có quí vị và một mình Đức Chúa Trời thôi? Sẽ ra sao nếu Đức Chúa Trời kêu gọi quí vị làm giáo sĩ, và quí vị sẽ ở đó suốt những đêm đông và hè dài đăng đẳng, trong tiết nóng và lạnh, không có gia đình, không có bè bạn – và quí vị chỉ ngồi đó, quí vị và Đức Chúa Trời, quí vị có bối rối không? Chỉ có quí vị và Đức Chúa Trời làm bạn thôi sao? Hãy nghe đây, đừng nghĩ là tôi đang bào chữa cho một loại tu khổ hạnh tối nay, là hết thảy chúng ta đều phải gia nhập vào tu viện rồi trở thành thầy tu, chỉ biết lo cầu nguyện suốt ngày – đấy không phải là điều mà tôi muốn nói tới. Nhưng hãy nghe đây, quí bạn tối nay ơi, nếu quí vị muốn làm việc gì đó cho Đức Chúa Trời, quí vị cần phải học hỏi để trở thành một người nam hay người nữ của sự cầu nguyện – và điều đó có thể xảy ra, không phải ở buổi nhóm cầu nguyện, mà là ở riêng với Đức Chúa Trời! Có phải chúng ta nuông chìu nhiều với thân thể mình trong cảnh xa hoa, tiện nghi và sung túc, đến nỗi khi chúng ta phải hy sinh một thứ gì đó vì cớ Đấng Christ, hoặc buộc phải hy sinh cái gì đó cho Đấng Christ, thì hệ thống sinh học của chúng ta sẽ rơi vào chỗ hỗn loạn rồi chùn bước khi nghĩ tới mất mát một thứ chi mà chúng ta thường có, và chúng ta sẽ tan vỡ dưới sự mất mát đó chăng? Tôi nói cho quí vị biết là Giăng Báptít đã được tập huấn trong nhà tù ở đồng vắng để phục vụ trong những ngày nầy, ở đó ông ăn châu chấu và mật ong rừng, ở đó ông đã dành thì giờ ở riêng với Đức Chúa Trời – ông đã được sửa soạn cho những điều mà Đức Chúa Trời đã đặt trước mặt ông, và ông đã không chìu theo bản ngã của mình mặc dù ông có thể. Những gì chúng ta có thể tiếp thu từ Giăng Báptít, ấy là sự luyện tập thân thể của mình, dạy dỗ linh hồn mình, và đầu tư tâm thần mình vào sự phục vụ là việc rất khó – nhưng việc ấy rất cần thiết.

Khi chúng ta tiếp thu phần kỷ luật trong đồng vắng nầy, chúng ta đọc trong Luca chương 3 – hãy mở chương ấy ra – và các câu 1 - 2, chép như sau: ‘Năm thứ mười lăm đời Sê-sa Ti-be-rơ, khi Bôn-xơ Phi-lát làm quan tổng đốc xứ Giu-đê, Hê-rốt làm vua chư hầu xứ Ga-li-lê, Phi-líp em vua ấy làm vua chư hầu xứ Y-tu-rê và tỉnh Tra-cô-nít, Ly-sa-ni-a làm vua chư-hầu xứ A-by-len, An-ne và Cai-phe làm thầy cả thượng-phẩm, thì có lời Đức Chúa Trời truyền cho Giăng, con Xa-cha-ri, ở nơi đồng vắng’. Giờ đây, chắc có nhiều điều trong các câu 1-2 mà có lẽ quí vị vẫn chưa hiểu, và quí vị không biết lý do tại sao mọi việc nầy đã được ghi ra ở đây. Tất nhiên là Lời của Đức Chúa Trời cũng là bản tường trình lịch sử, nhưng quí vị nên lưu ý ở câu 2 là có tới hai thầy tế lễ thượng phẩm, và điều nầy luôn ngược lại với luật pháp của Đức Chúa Trời vì từng có tới hai thầy tế lễ thượng phẩm. Điều nầy tỏ cho chúng ta thấy tình trạng của xứ sở, về tôn giáo và về chính trị, lúc bấy giờ. Sự thể nầy cho chúng ta thấy là đã có nhu cần về một đấng cứu tinh, và ở đây có một người vừa mới xuất hiện, Giăng Báptít, và ông đã để ra 20 năm trong đồng vắng. Kia là ông, và ông mới vừa xuất hiện, và Đức Chúa Trời ban cho ông một sứ điệp – mọi sự đã diễn tiến như thế đấy. Phần kỷ luật đó, sự chuẩn bị khá căng thẳng, nỗi cô độc ấy chỉ dành cho Đức Chúa Trời ban cho ông ân tứ để nói với một dân cằn cỗi và hư mất – và quí vị nghĩ suốt thời gian ấy Đức Chúa Trời đã nói gì với ông? Một câu ngắn thôi: 'Hãy ăn năn'.

Giờ đây hãy nhớ rằng đã có 400 năm tối tăm giữa sách Malachi và sách Mathiơ – thời kỳ mà Đức Chúa Trời không hề phán qua sự hiện thấy hay qua một vị tiên tri hoặc qua người của Đức Chúa Trời. Đấy là một thời tăm tối chẳng có một tia sáng tiên tri nào hết. Hết gallons nầy sang gallons khác chứa huyết thú vật làm con sinh đã đổ ra, hàng trăm thầy tế lễ đã phục vụ theo chức năng của họ, và xứ sở đã lạc lối trong nghi thức, của lễ và phép cắt bì. Nhưng những gì mà cả đoàn quân thầy tế lễ không thể làm trong 400 năm, Đức Chúa Trời đã phái một người đến làm trong 6 tháng! Tại sao vậy? Vì Ngài là Đức Chúa Trời đã tạo hình hài, Đức Chúa Trời đầy dẫy, và Đức Chúa Trời mở đường! Chức vụ của ông đã bắt đầu với sự được lòng người và đầy sự vinh hiển, đối với dân sự đấy là sự hồi tưởng những tháng ngày huy hoàng xa xưa, là thời thế của các tiên tri giống như Êli và Êxêchiên. Tiếng trống bập bùng quanh các thành thị, các tin tức đã lan rộng nói về một đấng tiên tri mới và là nhà truyền đạo đã có mặt trong xứ.

“Ông đã có lẽ thật của Đức Chúa Trời, và ông chỉ đem lẽ thật của Đức Chúa Trời cho dân chúng và đem họ đến với sự hiểu biết về nhu cần của họ”.
Cái nhìn đầu tiên chúng ta có trong chức vụ của ông, ấy là Giăng Báptít đang đứng bên bờ sông Giôđanh, và người ta trong từng chi phái, từng giai cấp, từng nghề nghiệp đến nhóm lại cùng ông ở đó, và ông rao giảng cho họ nghe: 'Hãy ăn năn! Vì Nước thiên đàng đã đến gần'. Ông lôi cuốn dân sự giống như ngọn lửa hấp dẫn bầy thiêu thân vậy. Tôi hy vọng quí vị ai nấy đều biết về lửa, chẳng cần phải quảng cáo nữa. Cụ John Wesley đã nói: 'Nếu bạn như ngọn lửa trên toà giảng, người ta sẽ kéo đến để xem bạn bốc cháy'. Họ đã làm đúng như thế không những với John Wesley, mà còn với Giăng Báptít nữa. Chúng ta thấy, nếu quí vị nhìn xem Luca chương 3 câu 9, rằng khi ông rao ra sứ điệp nầy, một sứ điệp nói tới sự phán xét, một sứ điệp nói tới sự ăn năn như cây búa đã để kề gốc cây. Trong câu 10 người ta đã hỏi ông, người dân bình thường đã hỏi: 'Chúng tôi sẽ làm gì?' Nếu quí vị qua câu 12, quí vị thấy ngay cũng có những người thu thuế, những người thu thuế đến để chịu phép báptêm, và họ đã hỏi sau bài giảng của ông: 'Chúng tôi sẽ làm gì?’ Quí vị thấy ở trong câu 14 là hạng người không theo tôn giáo nào, hay những người theo đa thần giáo, họ đã thờ lạy nhiều vị thần – thần của người La mã – các binh lính La mã là hạng người không có gì phải làm với người Do thái đã xuống tận sông Giôđanh. Họ đã nghe nói có một người đang đứng trên ngọn lửa cho Đức Chúa Trời bên bờ sông Giôđanh, và họ đã đến và thậm chí họ cũng đã nghe giảng – những kẻ vô thần vô đạo – sứ điệp của Đức Chúa Trời, và họ đã nói: 'Chúng tôi sẽ làm gì?' Có biểu hiện của một người được Đức Thánh Linh xức dầu, vì ông rao giảng sự ăn năn, và dân sự ăn năn!

Lúc đầu người ta có thể nhìn thấy nhân vật nầy là một vị tiên tri, vì lúc bấy giờ chức vụ tiên tri đã lỗi thời rồi – và ông là một con người thực sống giữa xã hội giả hình về mặt tôn giáo, tình trạng đạo đức giả đã là quy tắc của tôn giáo. Nhưng trên hết mọi sự nầy, có một việc đã tiến cử ông với dân chúng, ấy là sự thực ông đã đối mặt với thắc mắc về tội lỗi trong khi ông rao giảng, ông không nhảy múa quanh tội lỗi, mà ông đã đóng đinh nó! Ông đã đối mặt với tội lỗi nơi Hêrốt, tình trạng tà dâm, loạn luân của ông ta. Ông đã đối mặt với tình trạng giả hình nơi người Pharisi và người Sađusê, và đối với từng cá nhân, từng giai cấp trong xã hội, ông đã rao giảng mỗi một sứ điệp nầy: 'Hãy ăn năn! Hãy ăn năn! Hãy ăn năn!'. Ông đã có lẽ thật của Đức Chúa Trời, và ông chỉ đem lẽ thật của Đức Chúa Trời cho dân chúng và đem họ đến với sự hiểu biết về nhu cần của họ.

Ông là một nhân vật đã chịu phép báptêm bằng lửa và bằng Đức Thánh Linh, và ông rao giảng rằng sự đến của Nước thiên đàng đã gần rồi – là thần quyền đã được hứa cho trong Cựu Ước. Còn nếu quí vị không chấp nhận Nước Thiên đàng đã gần rồi, quí vị phải lo trốn tránh cơn thạnh nộ hầu đến. Đây là sứ điệp của Đức Chúa Trời, đây là người của Đức Chúa Trời, và ngày nọ họ đã đến với ông mà nói: 'Ông là ai? Chúng tôi công nhận rằng có cái gì đó rất đặc biệt nơi ông, có phải ông là Êli không?' 'Không, ta không phải là Êli'. 'Có phải ông là tiên tri không?' 'Không, ta không phải là tiên tri, ta chỉ là tiếng kêu trong đồng vắng'. Ông là một tiếng kêu vì ông chỉ là một giọng nói lo rao giảng Lời của Đức Chúa Trời, ông không phải là tiếng dội của sứ điệp người khác đến từ Đức Chúa Trời, ông không phải là một con rối mà những sợi dây của con rối đã được nắm giật bởi một hệ phái hay một tổ chức tôn giáo – nhưng ông lo rao giảng Lời của Đức Chúa Trời, và trong ông chẳng có gì phải sợ hãi cả. Ông đã rao giảng nghịch lại những người thiên về hình thức và những kẻ thiên về với luật pháp của đảng Pharisi, họ đã làm theo hết thảy hơn 600 điều luật của họ thêm vào với Ngũ Kinh. Ông đã rao giảng nghịch lại với những kẻ thiên về với vật chất, hình thái tự do, và chủ nghĩa hoài nghi của đảng Sađusê, họ không tin nơi hình thái siêu nhiên, họ không tin vào cõi đời đời, thiên đàng, địa ngục, hay sự sống lại. Ông đã rao giảng cho họ mọi sự, bất luận họ là ai! Ông không thoả hiệp với họ, ông không ngồi lại và lý luận với họ! Ông đã nhìn thẳng vào mắt họ rồi nói: 'Hỡi dòng dõi rắn lục kia, ai dạy các ngươi lẫn tránh cơn thạnh nộ hầu đến?' Đúng là người của Đức Chúa Trời!

Đây là một người vốn có sự phân biện về mặt thuộc linh, lường trước những việc tồi tệ và những việc cần phải thay đổi – và trong ông có sự hy vọng. Tôi tin rằng ở đó trong đồng vắng, suốt những tháng năm mà Đức Chúa Trời đã lo sửa soạn và mài dũa ông, lời cầu nguyện của Êsai đã nung nấu trong tấm lòng ông: 'Ôi! ước gì Ngài xé rách các từng trời, Ngài ngự xuống và làm rúng động các núi trước mặt Ngài'. Chắc chắn chính áo xống của ông đã nói về sự cằn cỗi của dân Israel và sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên họ, và Đức Chúa Trời đã dạy họ hết thảy mọi sự nầy trong đồng vắng. Ông đã đến, Kinh Thánh phán, không theo ánh sáng đó, ông đã đến như một ngọn đèn đang chiếu sáng, ông đã đến như một chứng nhân cho ánh sáng đó. Giăng 1.6-18 cho chúng ta biết như thế, nhưng điểm chủ yếu đã được ghi ra ở đó, ấy là khi ông đến với sứ điệp “ăn năn”, sứ điệp thuyết phục về tội lỗi, sứ điệp nói về sự phán xét hầu đến, ông đã đối diện với sự chối bỏ hoàn toàn chức vụ đó.

Lúc đầu mọi người bị kích thích và bị câu nhữ bởi vị tiên tri mới nầy, vì họ không nhìn thấy tiên tri nào trong 400 năm – nhưng khi ông chỉ ra tội lỗi của họ, ông nói về sự phán xét của Đức Chúa Trời, và bảo họ phải ăn năn, ông đã bị họ chối bỏ. Thực ra, Giăng 1 nói cho chúng ta biết rằng nhân vật trọng tâm và then chốt trong sứ điệp của ông, là Đức Chúa Giêxu Christ, là Sự Sáng của thế gian, khi Ngài đến với tuyển dân của Đức Giêhôva, là dân mà chính mình Ngài đã dựng nên họ, Ngài đã đến với một thế giới mà Ngài đã dựng nên và họ đã chối bỏ Ngài. Khi Ngài đến với dân mà Ngài đã gọi họ ra khỏi thế gian để trở thành một dân, làm một ánh sáng soi rọi, chiếu vào cả thế gian – Kinh Thánh nói rằng Ngài đã đến với dân Ngài, và dân Ngài chẳng hề nhận lấy. Từng điểm một trong sứ điệp của Giăng Báptít đã bị dân nầy chối bỏ. Tôi nói với quí vị tối nay là bất kỳ người nào bài giảng dành cho họ chỉ có một câu ngắn ngủi thôi, ấy là: 'Hãy ăn năn', sẽ bị người ta chối bỏ hôm nay – và tôi cũng nói cho quí vị biết bất cứ ai dám rao giảng sự ăn năn cho con cái của Đức Chúa Trời sẽ bị chối bỏ gấp bằng hai.

“Tôi nói với quí vị tối nay, dù là bất kỳ người nào, bài giảng dành cho họ chỉ có một câu ngắn ngủi thôi, ấy là: 'Hãy ăn năn', sẽ bị người ta chối bỏ hôm nay – và tôi cũng nói cho quí vị biết bất cứ ai dám rao giảng sự ăn năn cho con cái của Đức Chúa Trời sẽ bị chối bỏ gấp bằng hai”.
Nếu quí vị nghĩ chúng ta đang sống trong thời buổi của những việc nhỏ, ở đó hạng tội nhân sẽ không để ý đến từ “ăn năn” và thay đổi đường lối của họ, hãy lắng nghe quí bạn tôi ơi, lý do cho sự ấy là vì dân sự của Đức Chúa Trời sẽ không nghe theo từ 'ăn năn' và thay đổi đường lối của họ. Chúng ta đang sống trong thời buổi khi sự ăn năn chẳng được ai nghe tới, chúng ta đang sống trong thời buổi mà ở đó ít người chịu trở lại đạo – và như Paris Reidhead đã nói với Leonard Ravenhill trong một cơ hội: "Những nhà truyền đạo ngày nay nói: 'Hãy đến đây rồi nói ra một lời cầu nguyện đại khái như vầy: 'nguyện Đức Chúa Trời thương xót con, một tội nhân', và đây là những điều quí vị sẽ nhận lãnh: sự sống đời đời, một toà lâu đài nằm trên đại lộ chính của thiên đàng, một vé miễn phí vào dự Tiệc Cưới của Chiên Con, cai trị trên 5 thành và miễn bị phán xét – quí vị không thể nhận lãnh nhiều hơn trong 5 phút tại bàn thờ, trừ phi mọi sự ấy đều là chuyện nhảm nhí – chuyện ấy chẳng thực đâu!" Sự ăn năn vẫn là một nền tảng của Tin Lành, người ta vẫn cần cảm thấy tình trạng quá độ của tội lỗi. Charles Finney, ông là người tạo ra cơn phấn hưng lớn trên nước Mỹ, ông đã rao giảng 28 đêm và chưa hề đưa ra lời kêu gọi tại bàn thờ, song chỉ rao giảng luật pháp của Đức Chúa Trời và cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, vì người ra cần phải cảm thấy tội lỗi của họ! Vì nếu quí vị không cảm thấy tội lỗi của mình, quí vị sẽ không bao giờ ăn năn tội lỗi của mình!

Đấy là lý do tại sao Giăng đã rao giảng sự ăn năn, trước khi Sự Sáng của thế gian hiện đến ông đã rao giảng tội lỗi và sự phán xét. Nhưng đỉnh cao sự Giăng rao giảng không những chỉ có thế, mà ông đã tự mình chịu che khuất để chẳng ai trông thấy chức vụ của ông. Tôi dám chắc là khi chúng ta xem xét nhân vật Giăng nầy, hết thảy chúng ta sẽ nói: 'Phải, tôi rất thích được giống như ông. Tôi muốn có một chức vụ giống như ông' – hết thảy chúng ta đều ước ao một chức vụ thật hiệu quả giống như chức vụ của Giăng. Nhưng tôi cảm thấy rằng một trong những thuộc tính quan trọng nhất về nhân vật nầy, ấy là ông đã bằng lòng để cho một trong những việc thành công nhất trong đời sống ông – đúng ra là chức vụ thành công nhất, có lẽ trong mọi thời đại – là để cho Chúa nắm lấy. Điều nầy ấn tượng nơi tôi như một sự kinh ngạc tuyệt đối, ông để cho chức vụ của ông mở ra một ngọn lửa thuần túy phóng ngang qua xứ Palestine vào thời điểm đó, ông đã cho phép chức vụ ấy thu nhỏ lại, chính ông để cho bản thân mình bị khuất đi đối với chức vụ. Điều nầy dường như là một thắc mắc ngớ ngẩn mà tôi phải đưa ra tối nay, rằng một Mục sư hay một nhà truyền đạo Cơ đốc có nên để cho Chúa nắm lấy chức vụ của mình không!?! – nhưng quí vị hãy tin tôi đi, để cho ai đó thu nhỏ chức vụ của mình lại đúng là một việc khó. Đôi khi chúng ta chính là hạng người không chịu để cho Chúa làm việc ấy.

Ông là vị tiên tri cao trọng nhất, và ông sẽ làm gì? Ông đang chỉ ra Đấng Christ, và tôi nói cho quí vị biết: đấy là lý do tại sao ông là tiên tri cao trọng nhất, ông chỉ Ngài ra, rồi ông để cho Đấng Christ thu nhỏ ông lại. Trong Giăng 3.30 chúng ta nghe thấy tiếng kêu thật kỳ diệu: 'Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống!'. Có một người Do thái đến hỏi ông: ' Thưa thầy, kìa, người ở cùng thầy bên kia sông Giô-đanh, mà thầy đã làm chứng cho, bây giờ đương làm phép báp tem, và ai nấy đều đến cùng người'. Câu trả lời của Giăng, cơ bản là: 'Đấy là sứ điệp của ta! Đấy là toàn bộ mục tiêu tại sao ta đến rao giảng: thu nhỏ mình lại, và bày tỏ ra Đấng Christ'. Hãy tưởng tượng việc được kêu gọi và được trang bị, và nhận biết rằng chức vụ của quí vị sẽ kết thúc chỉ trong 6 tháng, và quí vị sẽ tách ra khỏi việc làm chứng đạo cho đám đông và chẳng còn có một người nào – và quí vị sẽ kết thúc trong tình trạng đày ải, và hiển nhiên là ở trong ngục tù. Một trong những việc khó nhất cho các nhà truyền đạo và Cơ đốc nhân ngày nay là tẻ tách ra khỏi con đường, và để cho người ta nhìn thấy chỉ một mình Sự Sáng của thế gian chiếu rọi ra mà thôi.

Mặc dù có lẽ ông là tôi tớ cao trọng nhất, mặc dù ông là nhà truyền đạo vĩ đại, và mặc dù ông đã tự mình để cho Con Đức Chúa Trời thu nhỏ lại, ông không được miễn trừ không nghi ngờ và có vấn đề trong chức vụ – thậm chí về nhân vật chính của chức vụ ông, là Đức Chúa Giêxu Christ. Chúng ta thấy ông đã kinh nghiệm những mối nghi ngờ trong chức vụ của mình. Giờ đây hãy nhớ điều nầy, đây là một người đã trông thấy Đức Thánh Linh như chim bồ câu liệng xuống từ trời, ông đã nhìn thấy các từng trời mở ra và tiếng phán của chính Đức Chúa Trời: 'Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường'. Ngay từ trong tù, trong phần đọc Kinh Thánh của chúng ta tối nay từ Mathiơ 11, chúng ta đọc thấy ông đã sai các môn đồ của mình đến gặp Chúa Giêxu rồi hỏi Ngài một câu: 'Ngài là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng khác?' Bây giờ hãy nghe đây, tôi tin đây là mối hồ nghi chính đáng của Giăng Báptít, và tôi đã phân tích điều nầy khi chúng ta xem xét Êli. Êli là tổ phụ của ông, và Giăng Báptít hiện đến như tượng trưng cho Êli, nếu quí vị thích – và quí vị biết rồi đó, Êli đã đến ngồi dưới cây giếng giêng, thất vọng và ngã lòng, và tôi nghĩ rằng đấy là lý do tại sao chúng ta thấy Giăng Báptít cũng rơi vào một tâm trạng y như thế. Một mối hồ nghi chính đáng – ông là nhân vật cao trọng nhất trong mọi người, nhưng ông là người ở chỗ tốt nhứt mà chúng ta cần phải ghi nhớ, một người có những yếu đuối giống như chúng ta.
Ở đấy, trong nhà tù thất vọng của mình, trong sự ngã lòng của ông; có lẽ mọi sự trông cậy theo cách con người của ông, rằng Đấng Christ sẽ đến, đem theo Vương quốc và sự báo thù và rồi theo xác thịt – ông đang hồ nghi Đấng Christ! Lời đáp của Chúa cho ông, nếu quí vị nhìn vào chương 11 sách Mathiơ câu 4 đến câu 6 chép: 'Đức Chúa Jêsus đáp rằng: hãy về thuật lại cùng Giăng những điều các ngươi nghe và thấy'. Và họ đã ra về, Chúa phán trong câu 11 – hãy để ý là Ngài đã phán sau khi các môn đồ của Giăng đã ra về – Ngài trút đổ tấm lòng ra với sự khâm phục vị tiên tri cao trọng nhất trong mọi tiên tri, và Ngài phán rằng ông là vị tiên tri cao trọng nhất từng được đờn bà sanh ra – ‘nhưng phước thay cho kẻ nào không vấp phạm vì cớ Ta!’

"Quí vị đã thắc mắc về những sự dắt dẫn cùng cách xử sự của Ngài trong đời sống của quí vị, và có nhiều lúc khi đời sống chúng ta đầy dẫy với sự kín nhiệm, và có thể chúng ta suy nghĩ và cảm nhận rằng Chúa đã hạ chúng ta xuống, hay Ngài không vận hành mọi việc theo đúng đường lối mà Ngài đã vận hành”.
Tôi dám chắc ở đây không có ai đã từng hồ nghi, không có ai ở đây trượt chơn vấp ngã trên đường lối mọi chương trình của Đức Chúa Trời đã gắn trên đời sống của quí vị. Quí vị đã thắc mắc về những sự dắt dẫn cùng cách xử sự của Ngài trong đời sống của quí vị, và có nhiều lúc khi đời sống chúng ta đầy dẫy với sự kín nhiệm, và có thể chúng ta suy nghĩ và cảm nhận rằng Chúa đã hạ chúng ta xuống, hay Ngài không vận hành mọi việc theo đúng đường lối mà Ngài đã vận hành. Đặc biệt là những người, có nhiều lúc, họ hầu việc Đức Chúa Trời bị chìm đắm trong sự nghi ngờ. Họ cảm nhận y như ba bạn Hêbơrơ trong lò lửa hực, và ngọn lửa đã bị đốt nóng thêm 7 lần, và nhiều hơn nữa – và trong những ngày yếu đuối cùng các đêm buồn rầu, đau khổ chúng ta cảm thấy Đức Chúa Trời đã bỏ quên chúng ta, Đức Chúa Trời đã giấu kín mặt Ngài khỏi chúng ta. Có nhiều khi bàn tay của con người nghịch lại chúng ta, và có những lúc chúng ta nghi ngờ không biết bàn tay của chính Đức Chúa Trời có nghịch với chúng ta hay không nữa. Phải chăng Đức Chúa Trời đã bỏ quên không còn thương xót nữa? Phải chăng Ngài đã đóng kín lòng thương xót của Ngài, và phải chăng Ngài đang giận dữ? Chúng ta cảm nhận y như vợ của Gióp: sao chúng ta còn bền đỗ nữa mà chi, hãy rủa sả Đức Chúa Trời đi? Làm thế thì dễ hơn việc nầy – nhưng Chúa phán, hãy nghe: 'Phước cho người nào không bực bội, không lạc sai nơi ta hay nơi đường lối mà ta đang hướng dẫn'.

Phải, Giăng Báptít đã chết, nhưng ông không chết do rủa sả Đức Chúa Trời, ông đã chết như một người tuận đạo cho Đức Chúa Trời. Chúng ta thấy, rằng ông đã trả cái giá cao nhất cho chức vụ của mình – và ai trong chúng ta, tôi hỏi quí vị tối nay, có thể hay sẽ trả cái giá nầy? Có bao nhiêu linh hồn vô danh trong thế giới của chúng ta ngày nay đã trả toàn bộ cái giá cho sự phục vụ? Tôi biết chúng ta có nhiều nan đề ở Ulster, và thậm chí trong Hội thánh nữa, nhưng tôi e rằng không một ai trong chúng ta chịu phê bình nghiêm khắc về đời sống của mình mỗi ngày vì chúng ta quì gối trong sự cầu nguyện, vì chúng ta đọc Kinh thánh, vì chúng ta nói tới danh Đấng Christ và hát lên những bài thánh ca của Ngài. Chúng ta sẽ toan liệu như thế nào? Chúng ta sẽ làm gì nếu chúng ta đứng trước họng súng của kẻ hành quyết, hay chúng ta bị gài vào chiếc ghế điện vì cớ đức tin của mình? Không sớm thì muộn, ngày ấy sẽ đến, khi sự bắt bớ sẽ xảy ra – nhưng điểm quan trọng là đây: giống như Giăng Báptít, hãy nghe đây, khi quí vị từ bỏ mọi sự trên đất vì cớ Đấng Christ, mọi đặc ân, mọi tiện nghi, mọi quyền hạn của quí vị, quí vị không có chi để mất trong sự chết! Chết là phương giải thoát thật ngọt ngào – có bao nhiêu người trong chúng ta nghĩ tới sự chết theo cung cách đó? Giăng đã bước vào sự tự do.

Mới đây, tôi có đọc một câu chuyện, quí vị đã nghe nói trên mục tin tức trong các năm gần đây nói về xứ Rwanda với cuộc nội chiến giữa người Hutu và bộ tộc Tutsi. Cuộc chiến đã diễn ra trong nhiều năm trời, cuộc chiến nầy không phải là cuộc chiến mới đâu – và trong thập niên 1970 nhiều Cơ đốc nhân người Hutu đã bước vào sự chết, họ tỏ ra sự bình an và cầu xin sự tha thứ cho những kẻ hành quyết họ. Có một người tên là Abel Beniona, hiệu trưởng của trường học thuộc hội truyền giáo Quaker, và cũng là chấp sự của một Hội thánh địa phương, ông đứng trước những kẻ đến hành quyết ông. Trước khi mấy người bạn giáo sĩ của ông rời khỏi Burundi, ông đã viết bức thư nầy gửi cho họ, một lời tạm biệt, cảm tạ và cảm kích: 'Chúng tôi không có gì để đổi lại mọi sự mà quí bạn đã làm để giúp đỡ cho chúng tôi, nhưng chúng tôi biết rõ rằng Chúa chúng ta, Ngài cũng là Chúa Giêxu của quí bạn nữa, sẽ bù đắp lại cho quí bạn cách dư dật hơn những gì quí bạn đã làm cho chúng tôi'. Phải, ngày kia Abel Beniona, năm 1972, đã tuận đạo. Một người lính Cơ đốc đã thuật lại mọi chi tiết cái chết của ông. Anh ta nói rằng sau khi ông đứng dậy để chịu bắn, ông yêu cầu được hát, lời yêu cầu được nhậm. Ông đã hát một câu như sau:

'Ra khỏi xiềng xích đau thương đêm mơ màng,
Giêxu tôi đến! Giêxu tôi đến!.
Vô miền thong thả, tươi vui thêm huy hoàng,
Giêxu tôi đến theo Ngài'.

Đội xử bắn chần chừ trong một lúc, họ lấy làm lạ, rồi họ đã nổ súng. Há Phaolô không nói: 'Đối với tôi sống là Đấng Christ, còn chết là lợi' sao? Há ông không nói: 'Vì tôi tưởng rằng sự khốn khó bây giờ không đáng sánh với sự vinh hiển hầu đến, là điều sẽ được tỏ ra trong chúng ta'. Điều chi đã khiến cho Giăng cứ tiếp tục, điều chi đã khiến cho hết thảy các thánh đồ hay chịu khổ nầy cứ tiếp tục khi cái búa đã để kề cận cổ của họ, họ đã giữ được đức tin! Giống như Giăng, hết thảy họ đều đã nhận được lời khen ngợi thiêng liêng vì cớ chức vụ của họ – không một ai lớn hơn Giăng Báptít. Thậm chí trong giờ phút thất bại của họ, trong giờ phút nghi ngờ ở trong ngục tù, Chúa Giêxu đã chờ đợi cho tới khi các môn đồ của Giăng đã ra về rồi, Ngài mới phán dạy đoàn dân đông: 'Không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báptít'. Một trước giả đã nói như sau: 'Thiên đàng không phán xét theo tâm trạng, mà theo lề thói và khuynh hướng trong đời sống của một người; không phải bởi sự tỏ ra điều mình nghi ngờ, mà bởi linh hồn của một người trong đó có điều chi sâu sắc hơn cả tình cảm'.

"Quí vị có ngã lòng trong sự hầu việc Chúa không? Quí vị có thối lui không? Cho phép tôi hỏi và khích lệ quí vị: hãy ngước đầu lên!"
Giăng không làm một phép lạ nào, nhưng Giăng suốt cuộc đời của ông đã trung tín bước theo đường lối của Đức Chúa Trời đã chọn và đã ấn định cho ông, và cuối cùng Đức Chúa Trời đã khen ngợi ông! Chúng ta còn hỏi gì thêm nữa không? Khi chúng ta kết luận tối nay, tôi hỏi quí vị, trong thời buổi của những việc nhỏ, có phải quí vị nãn lòng trong sự phục vụ dành cho Chúa không? Quí vị có thối lui không? Cho phép tôi hỏi và khích lệ quí vị: hãy ngước đầu lên! Quí vị có thể đối diện với sự chối bỏ chức vụ của mình, có thể quí vị kinh nghiệm sự nghi ngờ, có thể quí vị bị buộc phải trả một giá rất cao – có thể cái giá cao nhất vào một ngày kia – song hãy vui mừng đi! Quí vị có sự chỉ định thiêng liêng, Đức Chúa Trời đã kêu gọi quí vị, và nếu quí vị tự thu mình lại trong Sự Sáng của thế gian, sự vinh hiển của Đấng Christ, quí vị có nhìn biết Lời của Đức Chúa Trời nói gì không? Quí vị có biết Đấng Christ nói gì không? Quí vị sẽ có một chức vụ và một ơn phước thậm chí còn lớn hơn chức vụ của Giăng nữa! Hãy xem câu 11: 'nhưng mà kẻ rất nhỏ hèn trong nước thiên đàng còn được tôn trọng hơn người'.

Nước mà Giăng đã rao giảng, vương quốc mà ông đã chỉ ra, ông không hề là một chi thể trong Nước đó. Giăng không hề rao giảng thập tự giá của Đấng Christ, sự sống lại và sự thăng thiên vinh hiển, và chức vụ trung bảo mà giờ đây Ngài đang có, nhưng chúng ta có thể – và chúng ta có thể được tôn trọng hơn Giăng! Còn ở đây là phần thách thức tối nay: nếu chúng ta muốn được tôn trọng hơn Giăng trong chức vụ của mình, thì sự chịu khổ của chúng ta sẽ phải lớn lao như thế nào?

Lạy Cha, chúng con cảm tạ Ngài tối nay vì nhân vật mà chúng con biết trong Kinh Thánh như là bạn của Chàng Rễ, là người tìm thấy niềm vui của mình khi giới thiệu Đấng Christ cho thế gian: 'Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời', ông kêu lên: 'là Đấng cất tội lỗi thế gian đi'. Nhưng lạy Cha, đúng là một sự phục vụ đã mở màn với cái chớp của sự vinh hiển và kết thúc khi ông bị chặt đầu vì cớ Đấng Christ. Nhưng đúng là có một bài học trong đó dành cho chúng con, lạy Cha, chúng con phải hạ xuống – hết thảy chúng con – và Đấng Christ phải dấy lên. Chúng con cầu xin sự ấy sẽ làm bằng chứng và là phương châm của chúng con ở đây trong Giảng đường Iron, chúng con sẽ làm sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời trong chức vụ và trong sự chịu khổ của chúng con, xin Đấng Christ thu nhỏ chúng con lại và nguyện thế gian nầy sẽ nhìn thấy Sự Sáng. Amen.
***