Thứ Tư, 26 tháng 5, 2010

Luca 23.26-49: "SỰ CHỐI BỎ ĐẤNG MÊSI CỦA ISRAEL - PHẦN IV"



Phần giới thiệu
Sự đóng đinh trên thập tự giá, kiểu cách thế kỷ thứ 20
Chuổi biến cố tại đồi Gôgôtha
Sự chuyển hướng khỏi điều bình thường
Sự biến đổi của tên cướp trên thập tự giá
Các đặc điểm sự biến đổi của tên cướp
Sự cứu ấy xảy ra như thế nào!?!
Phần kết luận
Bài 74:

Sự chối bỏ Đấng Mêsi của Israel — Phần IV

Phương thức Chúa Jêsus chịu chết

(Luca 23.26-49)
“Khi chúng điệu Đức Chúa Jêsus đi, bắt một người xứ Sy-ren, tên là Si- môn, từ ngoài đồng về, buộc phải vác cây thập tự theo sau Ngài. Có đoàn dân đông lắm đi theo Đức Chúa Jêsus, và có mấy người đàn bà đấm ngực khóc về Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus xây mặt lại với họ mà phán rằng: Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi. Vì nầy, ngày hầu đến, người ta sẽ nói rằng: Phước cho đàn bà son, phước cho dạ không sanh đẻ và vú không cho con bú! Bấy giờ, người ta sẽ nói với núi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta! với gò rằng: Hãy che chúng ta! Vì nếu người ta làm những sự ấy cho cây xanh, thì cây khô sẽ xảy ra sao? Chúng cũng đem hai người đi nữa, là kẻ trộm cướp, để giết cùng với Ngài. Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó, cùng hai tên trộm cướp, một tên bên hữu Ngài, một tên bên tả. Song Đức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài. Dân chúng đứng đó mà ngó. Các người coi việc nhạo cười Ngài, rằng: Nó đã cứu kẻ khác; nếu nó là Đấng Christ, Đấng Đức Chúa Trời đã lựa, thì hãy cứu mình đi! Quân lính cũng giỡn cợt Ngài, lại gần đưa giấm cho Ngài uống, mà rằng: Nếu ngươi là Vua dân Giu-đa, hãy tự cứu lấy mình đi! Phía trên đầu Ngài, có đề rằng: Người Nầy Là Vua Dân Giu-đa. Vả, một tên trộm cướp bị đóng đinh cũng mắng nhiếc Ngài rằng: Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa! Nhưng tên kia trách nó rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác. Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi. Khi đó, ước giờ thứ sáu, khắp xứ đều tối tăm cho đến giờ thứ chín. Mặt trời trở nên tối, và màn trong đền thờ xé chính giữa ra làm hai. Đức Chúa Jêsus bèn kêu lớn rằng: Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha! Ngài vừa nói xong thì tắt hơi. Thầy đội thấy sự đã xảy ra, ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: Thật người nầy là người công bình. Cả dân chúng đi xem, thấy nông nổi làm vậy, đấm ngực mà trở về. Song những kẻ quen biết Đức Chúa Jêsus và các người đàn bà theo Ngài từ xứ Ga-li-lê, đều đứng đằng xa mà ngó”.
PHẦN GIỚI THIỆU:
Có những việc không luôn luôn bày tỏ ra theo đúng phương thức mà chúng ta dự trù cho chúng. Tôi nhớ gia đình đầu tiên (và cuối cùng) của chúng tôi trên một chuyến cắm trại khi tôi còn nhỏ. Bố mẹ tôi đưa chúng tôi đi một chuyến đến Montana. Công viên quốc gia Glacier rất xinh đẹp. Những dãy núi hùng vĩ phủ đầy tuyết thật ngoạn mục, phân biệt rõ nét với những hồ nước xanh trong, đôi khi với một đảo nhỏ ở giữa. Chúng tôi đến tại bối cảnh cắm trại với sự lạc quan và mong đợi vui vẻ lắm. Ban ngày thật là xinh đẹp. Lều trại được dựng lên thật là vui mắt. Cả nhà đứng mĩm cười trước căn lều, với dãy núi sau lưng, hết thảy đều đóng khung trong bầu trời xanh lơ, với một vài gợn mây bay la đà. Tôi đã chụp bức ảnh ấy. Chúng tôi đã gọi bức hình đó là: “thời gian yên tĩnh trước giông bão”.
Đó là cách kết luận rất hay cho một ngày đẹp trời. Một lát sau, chúng tôi đã ăn bữa tối picnic của mình, và rồi khi trời tối hết thảy chúng tôi trèo vào trong mấy cái túi ngủ của mình. Lúc ấy, mặt đất hơi cứng, và chúng tôi phải dời đi hầu cho một tảng đá lồi ra không nằm độn giữa lưng chúng tôi. Tuy nhiên, chẳng một ai nói cho chúng tôi biết về những trận bão của vùng núi, chúng tôi cũng không nghĩ tới phương hướng mà từ đó gió sẽ thổi tới (và cơn mưa nữa), hay phần đất mỏng, nơi mà chúng tôi chọn cắm lều. Các yếu tố nầy không bao lâu nữa sẽ trở nên rất quan trọng.
Một lát sau, thì trời bắt đầu có sấm sét. Khi mưa bắt đầu rơi nặng hạt thì mối lo bắt đầu ló dạng. Trong túp lều, anh tôi bắt đầu hát bài: “Jêsus yêu tôi” thật lớn tiếng. Căn lều bị dột, như tôi đoán tất cả lều đều bị dột như thế khi gặp mưa nặng hạt, và không sao cứu chữa được vì cửa lều đối mặt với ngọn gió và nước mưa đập thẳng vào. Chúng tôi định đã gặp bão, cho tới chừng chúng tôi khám phá ra rằng túp lều bắt đầu đầy nước. “Cái hố nhỏ” là phần nền cho túp lều đã có nước tràn vào, chúng tôi phải quyết định xếp hết các túi ngủ lại.
Trận bão cứ tiếp tục đang khi chúng tôi tìm cách dở trại. Chúng tôi không thể làm điều chi với cung cách thứ tự cho được. Chúng tôi hạ lều xuống, cuốn mấy cái túi ngủ lại, rồi đưa hết đồ đạt ra xe. Trên một trong các chuyến đi sau cùng của chiếc xe, nó cũng đậu ở một chỗ trũng, anh tôi bị trợt trong bùn và nhào xuống dưới chiếc xe, rớt vào trũng nước bên dưới, bị ướt đẫm hết. Chúng tôi lôi anh ra từ dưới chiếc xe, rồi trèo lên nằm giữa đống đồ đạt cắm trại, và lái xe đi tìm một nhà nghỉ.
Có nhiều việc không luôn luôn thể hiện theo cách chúng ta mong đợi. Và cũng một thể ấy với sự đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá. Đây không phải là cách hành quyết tội phạm của người Do thái, nhưng người La mã đã sử dụng nó với một cấp độ đúng mức. Nó góp phần tạo ra một gương công khai cho những ai chọn thiếu hiểu biết hay chủ động kháng cự luật pháp của Rôma. Sự việc đã trở thành một biến cố xã hội, một đoàn dân đông đã nhóm lại tại đó để xem. Với những lần đóng đinh trên thập tự giá, như với các trường hợp khác, họ đã phát triển một thủ tục có thể đoán trước được. Một người mới đến với việc đóng đinh trên thập tự giá sẽ mau chóng “lưu ý tới tốc độ” điều gì sẽ xảy ra, với hậu quả nào, và thời gian bao lâu. Cho phép tôi bắt đầu bài học của chúng ta bằng cách cố gắng mô tả sự cố, theo các cách nói phương Tây của thế kỷ 20, hầu cho chúng ta xác định sự cố theo một phong cách chung. Kế đó chúng ta sẽ cố gắng chứng tỏ cuộc hành hình nầy đã không tiến triển như dự định, và cái chạm mà sự cố nầy có trên nhiều người hiện diện, và, đặc biệt, trên tên cướp, đối với hắn ta cuộc hành quyết hắn ta đã trở thành thời điểm trở lại đạo, và mở đầu cho sự sống đời đời.
Sự đóng đinh trên thập tự giá, kiểu cách thế kỷ 20
Hãy tưởng tượng với tôi xem sự đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá đang diễn ra trong thời buổi của chúng ta. Sự nổi tiếng của Chúa Jêsus, cuộc hành quyết Ngài có lẽ sẽ trở thành tin tức chấn động trên cả nước. Tôi cho là cuộc đóng đinh trên thập tự giá nầy sẽ bị lợi dụng như cuộc phóng tàu không gian Discovery lần cuối cùng vậy. Tin tức trên vô tuyến truyền hình nói tới tuần lễ sau cùng của Chúa chúng ta tại thành Jerusalem sẽ bao quát lắm. Trong đêm Chúa Jêsus bị bắt, chương trình sẽ bị ngắt ngang để tuyên bố Chúa Jêsus đã bị bắt giam. Những tường trình từ mấy lần xét xử Chúa chúng ta sẽ được đưa ra như các sự cố tiệm tiến và địa điểm giữ Chúa Jêsus phải được nêu lên. Tin tức được loan đi trong mấy giờ trước khi trời sáng kể cả cuộc xét xử trước mặt Philát và Hêrốt.
Những máy quay lưu động sẽ nhắm vào chuyến hành trình đau khổ từ cung điện của Philát đến đồi Gôgôtha, bối cảnh của sự đóng đinh trên thập tự giá. Tôi có thể tưởng tượng ra sẽ có một cuộc phỏng vấn với vài quan chức La mã, những người lo liệu công việc hành hình, họ sẽ cho biết bằng cách nào và khi nào thì sự đóng đinh trên thập tự giá sẽ diễn ra. Ông ta có thể cho biết, cuộc hành quyết đã được hoạch định vào lúc 9 giờ sáng. Về ngày lễ tôn giáo, Lễ Vượt Qua, sẽ có một nổ lực đặc biệt để kết thúc mọi vấn đề phải không được trễ hơn 3 giờ chiều. Vì những lý do nhân đạo, những kẻ bị định phải chịu chết sẽ được ban cho rượu, pha với thuốc giảm đau, làm cho họ ít đau đớn hơn. Một chuyên gia y học sẽ được phỏng vấn, ông ta sẽ mô tả tiến trình dẫn tới sự chết, kết thúc với việc cần thiết phải đập vỡ xương ống chân, để cho cái chết của họ sẽ được chắc chắn. Gần tới lúc hành quyết, đám dân đông đứng xem sẽ chứng kiến một chuỗi các biến cố mở ra trước mặt họ. Một số chi tiết sẽ thay đổi, như giờ chết chính xác, nhưng hầu như mọi người đều biết rõ điều gì sẽ xảy ra rồi.
Trong 6 giờ đồng hồ trải qua quá trình bị đánh đòn, hình ảnh sống còn của Chúa Jêsus phải được truyền đi để lấp vào khoảng trống thời gian và khiến cho khán thính giả quan tâm. Những cuộc phỏng vấn với nhiều cá nhân khác nhau sẽ được thực hiện, một số thực hiện ngay tại chỗ, một số thì ghi âm: những cá nhân nào đã được chữa lành hay đã được Chúa Jêsus giúp đỡ, không một ai nằm trong số các môn đồ, như họ “không có khả năng bình luận”, một trong các quan chức dự phần vào việc bắt giữ, thầy tế lễ cả, một thành viên của Toà Công Luận, các thành viên trong gia đình (nếu có). Một vài chi tiết sẽ được cung ứng về hai tên tội phạm kia, và có lẽ một số tin ngắn về Baraba, thậm chí có thể là một cuộc phỏng vấn. Toàn bộ sự việc dường như đang tiến hành có kiểm soát, như thường lệ.
Chuỗi biến cố tại đồi Gôgôtha
Chuỗi biến cố không luôn luôn rõ ràng, và Luca loại bỏ một số hiện tượng quan trọng và bất thường, để chúng ta không thể thuật lại trình tự chính xác các sự cố chắc chắn đã xảy ra. Tuy nhiên, nói chung các sự cố đại loại đã xảy ra như sau:
Các nạn nhân đã bị đóng đinh vào thập tự giá của họ, chúng sẽ được dựng lên đúng vị trí
Trước hay sau khi dựng cây thập tự lên, rượu sẽ được cung ứng để làm giảm cơn đau
Áo xống của Chúa Jêsus đã bị bốn tên lính bắt thăm chia nhau.
Những lời tố cáo, chế giễu đã diễn ra suốt trình tự đó — đám dân đông đứng thành hàng đối ngang thập tự giá
Chúa Jêsus kêu lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ…”
Hai tên tội phạm kia hiệp nhau mắng nhiếc Đấng Christ
Tên cướp trên thập tự giá đến với đức tin nơi Chúa Jêsus là Đấng Mêsi của hắn
Bóng tối tăm phủ lên bối cảnh, từ giờ thứ sáu (giữa trưa) cho đến giờ thứ chín (3 giờ chiều).
Chúa Jêsus kêu lên: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mathiơ, Mác)
Chúa Jêsus phán: “Ta khát” (Giăng), đã nhắp một ít giấm
Chúa Jêsus phán: “Mọi sự đã được trọn” (Giăng)
Chúa Jêsus cúi đầu xuống và phán: “Lạy Cha,…vào tay Cha, …” rồi chết
Ngày lập tức, bức màn đền thờ bị xé ra làm hai, từ trên chí dưới (Luca)
Động đất và sự sống lại của kẻ chết (Mathiơ)
Chân của hai người kia bị đánh gãy, nhưng chân của Chúa Jêsus không bị đánh gãy, sau khi thấy Ngài đã chết rồi (Giăng)
Tên lính dùng ngọn giáo đâm thủng hông của Chúa Jêsus — huyết và nước tràn ra (Giăng)
Thầy đội La mã (cùng mấy tên lính khác) đã chứng kiến sự ấy rồi nói: “Thật người nầy là Con của Đức Chúa Trời”
Đoàn dân đông bỏ đi, tay đấm ngực, trong khi các môn đồ người Galilê còn ở lại, đứng ngó từ đàng xa
Sự chuyển hướng khỏi điều bình thường
Các biến cố bất thường dường như bắt đầu với câu nói của Chúa Jêsus (do Luca ghi lại), “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (câu 34). Câu nói nầy sẽ khiến cho nhiều người phải kinh ngạc. Danh của Đức Chúa Trời là một câu nói rất hay có trên môi miệng của kẻ vu cáo, không nghi ngờ chi nữa. Đối với một số người, danh ấy xuất hiện trong hình thức báng bổ, xúc phạm. Đối với nhiều người khác, là lời cầu xin được thương xót hay được chết. Nhưng trên môi miệng của Cứu Chúa, danh nầy là cách bày tỏ ra sự tha thứ của chính Ngài, và một lời cầu xin sự tha thứ của Đức Chúa Cha. Giờ đây, danh ấy là một cái gì đó mới mẻ hơn.
Tôi có thể nhìn thấy những nhà bình luận trên vô tuyến truyền hình hay nhắc tới danh nầy, trong bối cảnh thế kỷ 20 của chúng ta. “Quí vị nghĩ Ngài muốn nói gì qua câu nói ấy?” nhà bình luận sẽ thắc mắc. “Chúng ta cho chạy cuộn băng trở lại, để biết chắc là chúng ta đang có những câu nói thật đúng”. Câu nầy có thể dẫn tới một cuộc tranh cãi nhẹ về chữ “tha” theo từ vựng và theo sự dạy của Chúa Jêsus, xuyên suốt chức vụ công khai của Ngài.
Máy quay truyền hình bây giờ đang lia qua cảnh thập tự giá, đang thu nhỏ lại nhắm vào mấy tên lính, họ đang phân chia chiếc áo xống của Cứu Chúa. Họ có chia áo xống của hai người kia không? Tại sao áo xống của Chúa Jêsus lại đáng ham muốn như thế chứ? Phải chăng chúng đẹp đẽ cho một người lính ham muốn phải có cho chính mình? Đấy có phải là một đồ lưu niệm không? Sự kiện góp phần cho thấy rằng lời tiên tri đã được ứng nghiệm (trong các sách tin lành khác), nhưng đối với Luca đây là một bằng chứng cho thấy sự nhẫn tâm của mấy tên lính, cùng thái độ dửng dưng của họ đối với nhân vật đến từ xứ Galilê nầy. Sự ấy cũng sẽ thay đổi, chẳng bao lâu nữa đâu.
Sự thay đổi rất rõ ràng nơi phần đáp ứng của nhiều người đã ngó thấy cái chết của Con Đức Chúa Trời. Mấy tên lính, vốn ít quan tâm đến Chúa Jêsus lúc ban đầu, và sau đó đã hiệp nhau nhiếc móc Ngài, đã có một sự thay đổi trong tấm lòng (như đã được tường trình bởi Mathiơ 27.54). Thầy đội La mã, theo Luca, đã tuyên bố sự vô tội và sự công bình của Chúa Jêsus (23.47), trong khi ở sách Mathiơ và Mác thần tính của Ngài cũng được khẳng định (Mathiơ 27.54; Mác 15.39). Mấy tên lính cứng lòng nầy đã có một sự thay đổi rất bất thường và rất phân biệt ở trong lòng đối cùng Chúa Jêsus.
Đoàn dân đông, cũng có thái độ khác hơn đối với trước đó. Trong khi họ đứng thụ động vào lúc đầu (Luca 23.35), sau đó họ dường như đã tự rủa sả mình (Mathiơ 27.39-40; Mác 15.29-30). Nhưng khi toàn bộ biến cố đã qua rồi, đoàn dân đông bỏ ra về, im lặng, tỉnh táo trở lại, và lấy làm bối rối sâu sắc — tay đấm ngực (Luca 23.48).
Sự biến đổi của tên cướp trên thập tự giá
Tuy nhiên, chẳng có gì thay đổi nơi tên cướp, kẻ bị treo bên cạnh Cứu Chúa, tên cướp nầy đã đến với đức tin nơi Ngài trong khi cả hai bị treo cho đến chết trên cây thập tự của họ. Tôi tin rằng không một ai rời khỏi bối cảnh thập tự giá của Chúa Jêsus trong chính ngày ấy, song không có một sự thay đổi nào gây ấn tượng sâu sắc hoặc lý thú như sự thay đổi đã xảy ra cho tên cướp bị treo bên cạnh Cứu Chúa. Tôi muốn nhắm vào sự biến đổi nầy, như một mình Luca đã nhắm vào. Thực thế, đây là một sự cố đáng nhớ. Chúng ta hãy đọc câu chuyện lại một lần nữa:
“Chúng cũng đem hai người đi nữa, là kẻ trộm cướp, để giết cùng với Ngài. Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó, cùng hai tên trộm cướp, một tên bên hữu Ngài, một tên bên tả. Song Đức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài. Dân chúng đứng đó mà ngó. Các người coi việc nhạo cười Ngài, rằng: Nó đã cứu kẻ khác; nếu nó là Đấng Christ, Đấng Đức Chúa Trời đã lựa, thì hãy cứu mình đi! Quân lính cũng giỡn cợt Ngài, lại gần đưa giấm cho Ngài uống, mà rằng: Nếu ngươi là Vua dân Giu-đa, hãy tự cứu lấy mình đi! Phía trên đầu Ngài, có đề rằng: Người Nầy Là Vua Dân Giu-đa. Vả, một tên trộm cướp bị đóng đinh cũng mắng nhiếc Ngài rằng: Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa! Nhưng tên kia trách nó rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác. Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi”.
Câu chuyện của Luca nói tới sự biến đổi của tên cướp trên thập tự giá là câu chuyện rất đặc biệt, và câu chuyện ấy cũng rất quan trọng. Câu chuyện ấy góp phần như một điểm xoay chiều lạ lùng trong khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá. Đã có một khoảng thời gian, rất sớm trong sự đóng đinh trên thập tự giá, sự chống đối Chúa Jêsus đã được đưa ra ở đó. Trong câu 34 của câu chuyện Luca, mấy tên lính rất dửng dưng trước sự thương khó của Chúa Jêsus. Chúng chỉ quan tâm đến áo xống của Chúa Jêsus mà thôi. Trong Mathiơ 27.36, vị trước giả nầy nói cho chúng ta biết rằng mấy tên lính đã ngồi xuống, chúng trông chừng Chúa Jêsus. Chúa Jêsus tỏ ra chẳng có gì hung dữ, không có một lời rủa sả nào, và về sự tha thứ, đã đánh thẳng vào họ như một dấu hiệu của sự yếu đuối. Đoàn dân đông, cũng lấy làm phật ý khi thấy sự thụ động của Chúa Jêsus. Một số người mong nhìn thấy một phép lạ, hoặc ít nhất đã nghĩ đến như thế (đối chiếu Mathiơ 27.49; Mác 15.36). Khi thời gian trôi qua, dường như mọi người nhận thấy giống như Chúa Jêsus đang lừa đảo họ vậy. Đám đông dường như vực dậy sự dạn dĩ của họ (đối chiếu Mathiơ 27.39-40; Mác 15.29-30). Mấy tên lính cũng dự phần vào (Luca 23.36). Sự biến đổi của tên cướp là điểm xoay chiều trong sách Luca. Từ điểm nầy trở đi, mọi sự nhiếc móc và chế giễu dừng lại. Hiện tượng siêu nhiên ngay lập tức bắt đầu trong câu chuyện của Luca, khởi sự với thời gian 3 giờ đồng hồ tối tăm (Luca 23.44), bức màn trong đền thờ bị xé rách (23.45), sau đó có trận động đất tiếp theo và sự sống lại của kẻ chết (chỉ đề cập đến một cách gián tiếp bởi Luca, đối chiếu 23.47-48).
Sự biến đổi của tên cướp không thể đem ra thắc mắc được. Đây là một sự biến đổi chân chính, được chỉ ra bằng lời nói mạnh mẽ của Chúa Jêsus chú về sự bảo đảm và hy vọng: “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay người sẽ ở với ta tại Barađi” (23.43). Đây không phải, có người nghĩ như thế, là một sự biến đổi phụ thuộc đâu, có thể dẫn tới nhiều sự hiểu lầm, dựa theo tình trạng ngắn ngủi của thời gian và cơn khủng hoảng ngay lúc đó. Hãy chú ý cùng với tôi một số đặc điểm của sự biến đổi nầy:
Các đặc điểm sự biến đổi của tên cướp
(1) Tên cướp được biến đổi một cách hoàn toàn và đường hoàng. Chúa Jêsus đã bảo đảm với hắn ta là trong chính ngày ấy hắn sẽ được ở với Ngài trong Barađi. Nhiều người khác đã chứng kiến cái chết của Đấng Christ đều đã thay đổi, không cùng một lượt, nhưng họ chỉ đến ngay điểm sợ hãi vào lúc nầy, chớ không đến chỗ có đức tin như tên cướp kia.
(2) Lúc đầu, tên cướp dự phần vào việc rủa sả với những người khác nghịch lại Chúa Jêsus.
(3) Tên cướp đã nói với Chúa Jêsus, xin được cứu rỗi, trước khi có một dấu kỳ phép lạ nào nối theo sau.
(4) Tên cướp đã tin theo Chúa Jêsus, ở giữa sự chối bỏ và rủa sả của nhiều người khác, ngay thời điểm chẳng có một người nào tỏ ra có lòng tin nơi Ngài nữa. Hắn đã đi ngược lại với xu hướng của mọi người, không đồng bộ chung với đám đông.
(5) Chính nơi phần đáp ứng với sự nhiếc móc của tên cướp kia cho thấy rõ ràng đức tin của người nầy. Hắn nói với tên cướp kia trước, rồi mới quay sang nói với Chúa Jêsus.
(6) Tên cướp thứ hai đã quở trách tên cướp thứ nhứt về việc “không kính sợ Đức Chúa Trời”. Ít nhất không những đây là sự công nhận tình trạng vô tội của Chúa Jêsus, mà còn tỏ ra sự công nhận thần tính của Chúa Jêsus nữa. Hắn đã nói với Đức Chúa Trời cũng cùng một tư thế bất kính đó.
(7) Đối với tên cướp, Chúa Jêsus không những là vô tội, Ngài đáng phải là Đấng mà Ngài đã tự xưng nhận, là Đấng Mêsi, và đấy là chìa khoá cho việc bước vào Nước Trời. Tên cướp đã nài xin Chúa Jêsus cho phép hắn có được tư cách để bước vào Nước ấy.
(8) Tên cướp đã công nhận, như Chúa Jêsus đã nói với Philát, rằng Nước của Ngài không thuộc về thế gian nầy. Vì vậy, tên cướp và Chúa Jêsus cả hai đều chết, và đều bước vào trong Nước ấy.
(9) Tên cướp đã nhìn thấy sự cứu rỗi của chính hắn không phải là đòi Chúa Jêsus tuột xuống khỏi cây thập tự, để cứu lấy mình, hay đưa hắn xuống khỏi thập tự giá.
(10) Tên cướp nầy đã công nhận chính tội lỗi của mình, và công nhận hắn đáng phải chết.
(11) Tên cướp cầu xin sự thương xót của Chúa Jêsus trên cơ sở ân điển của Ngài, mà chẳng đổi lại một điều gì.
(12) Người nầy đã có loại đức tin phục sinh — đã tin vào đời sau, vì hắn ta sắp chết — một loại đức tin phục sinh.
Tên cướp dường như đã đạt tới một điểm nhìn thấy những gì hắn ta tin theo bằng một ánh sáng khác biệt, rồi hành động theo cái thấy đó. Tôi không nghĩ rằng tên cướp đã từng nghĩ Chúa Jêsus là một tội phạm. Thậm chí trong sự rủa sả nhiếc móc của tên cướp kia đã được tỏ ra theo một phương thức chúng ta được khích lệ để nghĩ hắn đã tin theo Chúa Jêsus chắc chắc là Đấng Mêsi rồi. Lời nói của hắn: “Ngài há không phải là Đấng Christ sao?” ám chỉ (trong nguyên bản) rằng Ngài chính là Đấng Mêsi. Nhưng bây giờ, đột nhiên, tên cướp đang nhìn vào những gì hắn đã tin với một tư thế khác.
Có những người đã lưu ý và đã lợi dụng sự thật là tên cướp nầy chưa chịu phép báptêm, nhưng cho phép tôi nói rằng hắn đã làm phu phỉ bản chất của đòi hỏi nầy. Mục đích của phép báptêm là bởi đức tin đưa ra công khai một lời xưng tội, tách biệt với dòng dõi vô tín (từ quan điểm của những người Do thái sinh sống trong thế hệ ấy), và công khai hiệp với Đức Chúa Jêsus Christ trong sự chết và sự sống lại của Ngài. Những gì người nầy đã nói đã được nhiều người Do thái trong thời của mình chứng kiến hơn những kẻ sau đó mới chịu phép báptêm như một lời tuyên xưng công khai về đức tin. Thậm chí trong vấn nạn nầy, tên cướp là một mẫu mực (nếu xảy có một việc giống như thế) cho sự trở lại đạo.
Chúng ta đừng bỏ qua sự biến đổi nầy mà không lưu ý một vài yếu tố quan trọng. Thứ nhứt, có sự nhận tội của cá nhân một người, và về việc người đó đáng chết, chịu lấy cơn thạnh nộ thiêng liêng. Thứ hai, có sự công nhận rằng Chúa Jêsus rất xứng với điều mà Ngài đã tự xưng nhận, là Con vô tội của Đức Chúa Trời, là Đấng Mêsi của Israel, là phương thức duy nhứt bởi đó loài người có thể bước vào Nước của Đức Chúa Trời. Thứ ba, một niềm tin cho rằng Vương quốc của Đấng Christ nằm ở bên kia mồ mả, và sự sống lại sẽ cho phép chúng ta bước vào Nước ấy. Thứ tư, một niềm tin nơi ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta, đã giục giã Ngài chịu chết thay trong chỗ của chúng ta, hầu cung ứng một ơn cứu rỗi cho hạng tội nhân tồi tệ nhất, không đáng và không thể kiếm được, song là ơn được tiếp nhận phù hợp với chỉ một mình ân điển mà thôi. Một sự tin cậy đơn sơ nơi Chúa Jêsus để được sự tha tội và sự sống đời đời, qua công trạng của những gì Ngài đã làm ra.
Sự cứu ấy xảy ra như thế nào?
Chúng ta đã nhìn thấy những gì đã xảy ra nơi sự biến đổi của tên cướp nầy, nhưng làm sao sự biến đổi ấy xảy ra được chứ? Có việc gì đã xảy ra chứ? Phải chăng điều gì đó xảy ra đã làm thay đổi người nầy từ một kẻ chế giễu thành một thánh đồ, từ một kẻ tà giáo đáng bị ở địa ngục thành ra một tín đồ đáng được thiên đàng bao bọc lấy? Tôi đã tìm kiếm một sự giải thích cho chỗ nầy, nhưng tôi không tìm được một chìa khoá nào cả. Từ đó tôi kết luận rằng không có một chìa khoá nào hết, chẳng có một tiến trình nào được tóm tắt lại, hầu cho chúng ta được khích lệ noi theo. Khi trả lời cho câu hỏi: “Điều chi đã làm thay đổi thái độ của người đối cùng Đấng Christ?” câu trả lời đáng phải là: “Luca không nói cho chúng ta biết”.
Trong sách Tin lành Giăng, Chúa Jêsus nói với Nicôđem rằng tiến trình sanh lại là một công tác mầu nhiệm của Đức Thánh Linh. Trong khi mọi kết quả của lời Thánh Linh là rất rõ ràng, tiến trình không thể thấy được bằng mắt thường. Câu trả lời sau cùng cho câu hỏi: “Điều chi đã làm thay đổi tấm lòng của tên cướp?” chỉ đơn giản là câu nầy: “Đức Chúa Trời đã làm!” Chúng ta không biết bằng cách nào! Chúng ta không cần biết phải bằng cách nào mà chi. Thực vậy, chúng ta không thể nói bằng cách nào tấm lòng của chúng ta mở ra cho được. Chúng ta có thể nói, như Luca viết về Lyđi: “Chúa mở lòng cho người…” (Công vụ Các Sứ Đồ 16.14). Cũng một thể ấy cho hết thảy những người nào tin. Ơn cứu rỗi không những là công tác kỳ diệu của Đức Thánh Linh, mà đấy còn là công việc kín nhiệm của Đức Chúa Trời nữa.
Việc duy nhứt dường như rất rõ ràng trong sự biến đổi của tên cướp là điều nầy: Trong khi tên cướp đã nhìn biết từ ban đầu rằng Chúa Jêsus là vô tội, và Ngài không đáng chết, chính tại điểm mà hắn được biến đổi như thế nầy, hắn mới có thể hiểu cái chết của Chúa Jêsus nằm trong trình tự để cứu lấy hắn. Đoàn dân đông đã không nắm bắt được mục tiêu đó. Hết thảy những ai rủa sả Chúa Jêsus đều có chung một lời hứa cơ bản: Nếu Chúa Jêsus cứu loài người, trước tiên Ngài phải tự cứu lấy chính mình Ngài. Tên cướp giờ đây hiểu rằng để cứu lấy loài người, Chúa Jêsus phải hy sinh mạng sống Ngài vì cớ tội lỗi của họ. Cái chết của Ngài không phải là sự huỷ diệt mọi lời hứa của Ngài muốn cứu lấy nhân loại, mà là phương tiện của sự cứu đó. Thánh Linh của Đức Chúa Trời không cứ cách nào đó đã chỉ ra rõ ràng cho tên cướp nhìn thấy điều nầy. Chính đức tin nơi sự chết có tính cách thay thế của Đấng Christ đã cứu lấy hắn ta, cũng vậy cho bất kỳ ai có lòng tin.
PHẦN KẾT LUẬN:
Có một số bài học cần phải tiếp thu từ phân đoạn Kinh Thánh nầy. Thứ nhứt là điều nầy: Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị trong sự cứu rỗi. Không phải loài người mở lòng họ ra hướng tới Đức Chúa Trời đâu, chính Đức Chúa Trời mới là Đấng mở lòng của con người ra. Ngài là Cứu Chúa. Không có một phương pháp nào, không một hệ thống kỷ thuật nào, có thể nương cậy vào đó hầu kéo con người đến với Đấng Christ được. Mọi sự chúng ta có thể làm là rao giảng Tin lành và cầu nguyện xin Thánh Linh của Ngài sẽ mở lòng của những kẻ mà Ngài đã chọn.
Thứ hai, trong khi chính Đức Chúa Trời là Đấng đã mở lòng con người ra, để cứu họ, Ngài không hề xây một người từng đến với Ngài lìa khỏi đức tin của họ. Có người bình luận rằng nếu chính Đức Chúa Trời là Đấng mở lòng của nhân loại, thì rất là hư không cho bất kỳ người nào lo tìm kiếm Ngài. Hãy để ý trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, Chúa Jêsus không “làm chứng” cho tên cướp, rồi mời hắn đến với ơn cứu rỗi. Tên cướp đã quay sang Chúa Jêsus rồi cầu xin cho mình được cứu — và lời cầu xin của hắn đã được nhậm. Kinh Thánh nói rõ rằng hết thảy những ai nhơn đức tin đến với Ngài đều được tiếp nhận và được cứu, vì Ngài không lìa bỏ những ai đến với Ngài bằng đức tin chơn thật (đối chiếu Roma 10.11, 13; Giăng 6.37).
Bài học thứ ba là đây: Đức Chúa Trời không tuyển chọn theo giai cấp xã hội những ai mà Ngài muốn cứu đâu! Trong hết thảy những kẻ nhóm chung quanh thập tự giá ngày ấy, người nầy không nằm ở đầu danh sách các ứng viên nặng ký nhất đâu! Nhưng từ lúc ban đầu Chúa Jêsus đã đến với những kẻ thuộc hạng tội nhân, khi họ kéo đến với Ngài. Không cứ cách nào đó họ đã nhìn biết, như tên cướp nầy đã nhìn biết, rằng Chúa Jêsus vốn yêu thương nhân loại và Ngài ước ao muốn cứu họ. Không có ai là quá tội lỗi đến nỗi không cứu được hết. Thậm chí con người nầy, là kẻ có ít giây phút trước khi được biến đổi, hắn đã rủa sả Con của Đức Chúa Trời, Ngài đã sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi của hắn và bảo đảm cho hắn về sự sống đời đời nữa.
Tôi muốn hỏi quí vị, rất quan trọng đây, quí bạn tôi ơi. Quí vị có tin theo Chúa Jêsus bằng phương thức người nầy đã tin không? Quí vị có đến với đức tin trổi hơn những sự kiện và đạt tới mức tin cậy Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã chết trong chỗ của quí vị, Ngài đã sống lại từ kẻ chết, và hiện nay Ngài đang ngự ở trên trời bên cạnh Cha của Ngài? Nguyện Thánh Linh của Đức Chúa Trời mở lòng quí vị ra, như Ngài đã làm với tên cướp nầy vậy. Đúng là một sự trông cậy hạnh phước! Đúng là Đấng Cứu Thế! Nếu Đức Chúa Trời có thể cứu một tội nhân, bị con người xét đoán, Ngài có thể và Ngài sẽ cứu lấy quí vị nữa.
Có một bài học sau cùng mà tôi muốn nhấn mạnh từ phân đoạn Kinh Thánh. Với sự nghịch lý trong các phương pháp và phương tiện đời đời của Đức Chúa Trời, sự sống đến với nhiều người khác qua sự chết của những người lo rao giảng sự sống ấy. Vượt trổi hơn bất cứ điều chi khác, chính phương thức Đấng Christ chịu chết đã gây sốc cho những kẻ chứng kiến sự cố nầy, và đấy là công cụ cho sự trở lại đạo của tên cướp. Cơ đốc nhân ngày nay thường sa vào cái bẫy mong muốn Đức Chúa Trời làm theo mọi điều họ mong đợi, thay vì phục theo chương trình cùng các mục đích tối hậu của Ngài, như đã được đề ra rõ ra trong Lời của Ngài. Họ muốn Đức Chúa Trời phải thuyết phục con người về nhu cần họ phải được cứu bằng cách tự minh chứng Ngài qua sự chữa lành, qua các dấu kỳ phép lạ, và bởi việc giải phóng các thánh đồ Ngài (cùng nhiều người khác) khỏi tật bịnh và sự chịu khổ. Chính sự chết của Chúa Jêsus là điều mà con người không thể nắm lấy. Chính sự chết của Chúa Jêsus mới là phương tiện của Đức Chúa Trời để giải cứu con người. Một trong những dấu kỳ quyền năng nhất trong thế đại nầy hay thế đại khác là phương thức trong đó nhiều người nam người nữ có đức tin chịu đựng được sự đau khổ, nghịch cảnh, và sự chết.
Công cuộc truyền giáo thường nhắm vào phương pháp, và một trong những điều thoả hiệp chúng ta đã lập ra với người thế gian là bán đức tin nơi Đấng Christ giống như người ta bán xà bông, hoặc bán Coca Cola vậy, là thứ “làm tăng thêm sức sống”. Nghĩa là, chúng ta muốn nhấn mạnh phương diện “sự sống” trong tin lành, và lẫn tránh chiều kích sự chết. Điều nầy không phù hợp với tin lành. Khi Đấng Christ uống “cái chén” sự chết của Ngài trên thập tự giá ở đồi Gôgôtha, chúng ta có những “cái chén” riêng của mình phải uống lấy, và chúng ta có những thập tự giá riêng của mình phải vác lấy để bước theo Đấng Christ. Thường thì chính việc từ bỏ sự sống của chúng ta, theo nghĩa bóng hoặc theo nghĩa đen, đấy là công cụ để đem nhiều người nam người nữ đến với đức tin trong Đấng Christ, như Đức Thánh Linh đã làm chứng qua chúng ta. Đấy là lý do tại sao, tôi tin, những tù nhân trong nhà ngục Philíp đã không bỏ trốn, cho dù những cánh cửa nhà ngục hết thảy đều mở toang (Công vụ Các Sứ Đồ 16). Chúng đã chứng kiến Phaolô và Sila cất tiếng hát và khen ngợi Đức Chúa Trời, sau khi họ đã bị đánh đòn và bị nhốt tù với sự bất công và bất hợp pháp. Có đôi điều về việc ngó thấy người ta chịu chết vì đức tin của họ mang nhiều gánh nặng hơn là thành công trong vai trò Cơ đốc nhân. Thường thì Đức Chúa Trời sử dụng sự chịu khổ hơn là sự thành công làm công cụ của Ngài để bày tỏ ra mọi mục đích của Ngài trong thế gian nầy.
Khi chúng ta kết luận, cho phép tôi nhắc cho quí vị nhớ đến một vài phân đoạn trong đó sự chết đánh dấu chức vụ của Phaolô.
Như Kinh Thánh chép: “Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt” (Roma 8.36).
“Vì chưng Đức Chúa Trời dường đã phơi chúng tôi là các sứ đồ ra, giống như kẻ sau rốt mọi người, giống như tù phải tội chết, làm trò cho thế gian, thiên sứ, loài người cùng xem vậy. Chúng tôi là kẻ ngu dại vì cớ Đấng Christ, nhưng anh em được khôn ngoan trong Đấng Christ; chúng tôi yếu đuối, anh em mạnh mẽ; anh em quí trọng, chúng tôi khinh hèn. Cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn chịu đói khát, trần mình, bị người ta vả trên mặt, lưu lạc rày đây mai đó. Chúng tôi dùng chính tay mình làm việc khó nhọc; khi bị rủa sả, chúng tôi chúc phước; khi bị bắt bớ, chúng tôi nhịn nhục; khi bị vu oan, chúng tôi khuyên dỗ; chúng tôi giống như rác rến của thế gian, cặn bã của loài người, cho đến ngày nay” (I Côrinhtô 4.9-13).
“Bằng chẳng vậy, những người vì kẻ chết chịu phép báp tem sẽ làm chi? Nếu kẻ chết quả thật không sống lại, thì sao họ vì những kẻ ấy mà chịu phép báp tem? Lại sao chính mình chúng tôi giờ nào cũng ở trong sự nguy hiểm? Hỡi anh em, tôi chết hằng ngày, thật cũng như anh em là sự vinh hiển cho tôi trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta. Nếu tôi theo cách loài người mà đã đánh cùng các loài thú ở thành Ê-phê-sô, thì có ích gì cho tôi? Nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì hãy ăn, hãy uống, vì ngày mai chúng ta sẽ chết! (I Côrinhtô 15.29-32).
“Vả, hỡi anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng biết sự khốn nạn đã xảy đến cho chúng tôi trong xứ A-si, và chúng tôi đã bị đè nén quá chừng, quá sức mình, đến nỗi mất lòng trông cậy giữ sự sống. Chúng tôi lại hình như đã nhận án xử tử, hầu cho chúng tôi không cậy mình, nhưng cậy Đức Chúa Trời là Đấng khiến kẻ chết sống lại. Ấy chính Ngài đã cứu chúng tôi khỏi sự chết lớn dường ấy, và sẽ cứu chúng tôi; phải, chúng tôi còn mong Ngài sẽ cứu chúng tôi nữa. Chính anh em lấy lời cầu nguyện mà giúp đỡ chúng tôi, hầu cho chúng tôi nhờ nhiều người cầu nguyện mà được ơn, thì cũng nên dịp cho nhiều người vì cớ chúng tôi mà tạ ơn nữa” (II Côrinhtô 1.8-11).
“Vì chúng tôi ở trước mặt Đức Chúa Trời là mùi thơm của Đấng Christ, ở giữa kẻ được cứu, và ở giữa kẻ bị hư mất; cho kẻ nầy, mùi của sự chết làm cho chết; cho kẻ kia, mùi của sự sống làm cho sống. Ai xứng đáng cho những sự nầy?” (II Côrinhtô 2.15-16).
“Nhưng chúng tôi đựng của quí nầy trong chậu bằng đất, hầu cho tỏ quyền phép lớn dường ấy là bởi Đức Chúa Trời mà ra, chớ chẳng phải bởi chúng tôi. Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất. Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi. Bởi chúng tôi là kẻ sống, vì cớ Đức Chúa Jêsus mà hằng bị nộp cho sự chết, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng được tỏ ra trong xác thịt hay chết của chúng tôi; vậy thì sự chết làm trong chúng tôi, còn sự sống trong anh em” (II Côrinhtô 4.7-12).
Cách sử dụng thì không hoàn thành [the imperfect tense] trong câu 39 ám chỉ rằng kẻ gian ác nầy cứ khăng khăng trong sự nhiếc móc của hắn.
Trong câu: “Hãy để hắn tự cứu lấy mình (và chúng ta)” chúng ta há chẳng thấy một sự tương ứng với lý trí của con người trong mọi thời đại sao? Há đây không phải là chính quan điểm mà người thế gian, và rất nhiều Cơ đốc nhân nhắm vào sự chịu khổ sao? Họ cho rằng Đức Chúa Trời sẽ không dung chịu hay cho phép sự đau khổ, và đặc biệt không cho phép trong đời sống của Con yêu dấu Ngài. Họ cho rằng nếu Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, Ngài sẽ tự minh chứng bằng cách giải phóng nỗi đau khổ ra khỏi sự thương khó của Ngài, khi bản thân sự thương khó là phương tiện mà Đức Chúa Trời đã ấn định để đạt cho kỳ được mọi mục đích của Ngài. Đây là chỗ phải “nêu và xưng nó ra” cung cách đức tin chữa lành đang nằm ở bề mặt của Kinh Thánh.
Phần tương tự giữa sự châm chọc của con người cùng sự thử thách của Satan không chứng tỏ đây là một sự cám dỗ, thay vì thế, suy nghĩ của dân chúng là sự phản hồi mọi giá trị và toan tính của Satan (đối chiếu Luca chương 4 và Gióp 1), thay vì mọi giá trị và suy tính của Đức Chúa Trời, như đã được mô tả trong các lời tiên tri của kinh Cựu ước.

Luca 23.26-49: "SỰ CHỐI BỎ ĐẤNG MÊSI CỦA ISRAEL - PHẦN III"



Via Dolorosa (đường đến với thập tự giá)
Sự đóng đinh Đấng Christ trên cây thập tự (23.33-49)
Phần giới thiệu
Cấu trúc của phân đoạn Kinh Thánh
Phần tiếp cận của chúng ta
Các đặc điểm trong câu chuyện của Luca nói về sự đóng đinh trên thập tự giá
Via Dolorosa: Trên đường đến với thập tự giá (23.26-32)
Thập tự giá, sự độc ác của con người, và lòng thương xót của Đức Chúa Trời (23.33-43)
Phần kết luận
Bài 73:

Sự chối bỏ Đấng Mêsi của Israel — Phần III

(Luca 23.26-49)
Via Dolorosa (Đường đến với thập tự giá).
Luca 23.26-32: “Khi chúng điệu Đức Chúa Jêsus đi, bắt một người xứ Sy-ren, tên là Si- môn, từ ngoài đồng về, buộc phải vác cây thập tự theo sau Ngài. Có đoàn dân đông lắm đi theo Đức Chúa Jêsus, và có mấy người đàn bà đấm ngực khóc về Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus xây mặt lại với họ mà phán rằng: Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi. Vì nầy, ngày hầu đến, người ta sẽ nói rằng: Phước cho đàn bà son, phước cho dạ không sanh đẻ và vú không cho con bú! Bấy giờ, người ta sẽ nói với núi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta! với gò rằng: Hãy che chúng ta!Vì nếu người ta làm những sự ấy cho cây xanh, thì cây khô sẽ xảy ra sao? Chúng cũng đem hai người đi nữa, là kẻ trộm cướp, để giết cùng với Ngài”.
Sự đóng đinh Đấng Christ trên cây thập tự (23.33-49)
“Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó, cùng hai tên trộm cướp, một tên bên hữu Ngài, một tên bên tả. Song Đức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài. Dân chúng đứng đó mà ngó. Các người coi việc nhạo cười Ngài, rằng: Nó đã cứu kẻ khác; nếu nó là Đấng Christ, Đấng Đức Chúa Trời đã lựa, thì hãy cứu mình đi! Quân lính cũng giỡn cợt Ngài, lại gần đưa giấm cho Ngài uống, mà rằng: Nếu ngươi là Vua dân Giu-đa, hãy tự cứu lấy mình đi! Phía trên đầu Ngài, có đề rằng: NGƯỜI NẦY LÀ VUA DÂN GIU-ĐA. Vả, một tên trộm cướp bị đóng đinh cũng mắng nhiếc Ngài rằng: Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa! Nhưng tên kia trách nó rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác. Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi. Khi đó, ước giờ thứ sáu, khắp xứ đều tối tăm cho đến giờ thứ chín. Mặt trời trở nên tối, và màn trong đền thờ xé chính giữa ra làm hai. Đức Chúa Jêsus bèn kêu lớn rằng: Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha! Ngài vừa nói xong thì tắt hơi. Thầy đội thấy sự đã xảy ra, ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: Thật người nầy là người công bình. Cả dân chúng đi xem, thấy nông nổi làm vậy, đấm ngực mà trở về. Song những kẻ quen biết Đức Chúa Jêsus và các người đàn bà theo Ngài từ xứ Ga-li-lê, đều đứng đằng xa mà ngó”.
PHẦN GIỚI THIỆU:
Con người không ngớt làm cho tôi phải ngạc nhiên. Một lãnh vực rất quyến rũ, ít nhất là đối với tôi, là phương thức trong đó người ta suy nghĩ về bản thân họ và về Đức Chúa Trời. Có (ít) người nói không có Đức Chúa Trời, tôi nghĩ số nầy rất ít. Đại đa số con người ta đều tin có một Đức Chúa Trời, và họ tìm một cách thế gì đó để tránh không nhận Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa và là Cứu Chúa của họ. Nếu một số nào đó trong hạng người nầy là thành thật, họ sẽ nói họ đã chối bỏ những lời xưng nhận của Đấng Christ, không phải vì Ngài tự xưng mình là Đức Chúa Trời và không phải vì Ngài không là Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ, sở dĩ họ lý luận như thế là vì họ tin rằng con người không đến nỗi tồi tệ như Lời Đức Chúa Trời nói, Đức Chúa Trời cũng không nhơn đức như Lời Ngài nói. Thật là ngu xuẫn, họ dám cho rằng con người là tử tế, có lòng thương xót, và nhơn đức, trong khi Đức Chúa Trời là độc dữ và gian ác.
Trong khi một số ít người lỗ mãng như thế, thực sự có nhiều người tin như vậy đấy. Sự nhơn đức của con người là một “lẽ đạo” đã được dạy dỗ trong từng góc phố. Lẽ đạo đó được dạy dỗ trong các trường học và học viện đời thường. Lẽ đạo đó cũng được ưa chuộng nhiều khi đưa ra dạy dỗ trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Lẽ đạo ấy cho rằng con người có thể, một lúc nào đó, họ đi lệch hướng không còn nhơn đức theo bản năng của họ nữa, nhưng điều nầy được giải thích bằng một lai lịch không được tốt, hay một môi trường xấu, và chắc chắn bởi những trường đào tạo không được tốt. Mặt khác, Đức Chúa Trời đã đưa ra nhiều sự giải thích. Nếu Đức Chúa Trời vừa nhơn đức, vừa có quyền phép và toàn tri, thế thì tại sao người ta lại nhìn thấy quá nhiều đau khổ như vậy, và đa số những đau khổ đó lại xảy đến cho người vô tội vạ? Người theo tà giáo ở châu Phi sao lại bị định đi địa ngục, một khi họ chưa nghe giảng đến danh của Đấng Christ hay Cơ đốc giáo? Còn những đứa trẻ qua đời thật tội nghiệp nơi bàn tay của tật bịnh, chiến tranh, hay ngược đãi?
Không, nhiều người sẽ chẳng có việc gì phải làm với một Đức Chúa Trời là Đấng thất bại không “lên tới” cấp độ của sự họ trông mong và đòi hỏi. Họ sẽ nói với chúng ta: “Nếu đấy là loại Đức Chúa Trời đang hiện hữu, thì tôi không muốn làm một việc gì với Ngài cả”. Họ sẽ phản kháng vĩnh viễn trong địa ngục, với những con người nhơn đức khác, hơn là sống trong thiên đàng với Đức Chúa Trời, và với những thánh nhân giả nhân giả nghĩa.
Loại suy nghĩ nầy không những rất phổ thông — bất cứ lúc nào con người thành thực đủ để nhìn nhận như thế — nhưng đấy cũng là sai lầm đáng chết. Khi chúng ta đến với sự đóng đinh Chúa chúng ta trên thập tự giá, mọi người đều phải nhìn nhận rằng đây là, không thắc mắc chi hết, giờ phút tệ hại nhất trong cuộc sống của Chúa chúng ta. Hết thảy chúng ta đều xưng công bình mọi hành vi không đáng chấp nhận của chính chúng ta bằng cách nói rằng: “đây là thời điểm thật tồi tệ đối với tôi” hay một câu đại loại giống như thế. Thật vậy, nếu đã có “một thời điểm tồi tệ” đối với Chúa Jêsus, khi thủ vai nhân vật có thể thông cảm được, thì là chính thời điểm nầy trong cuộc sống của Ngài. Và điều chúng ta sẽ tìm kiếm đang nằm ngay chính thời điểm nầy, Chúa Jêsus liên tục đóng vai “nhân vật” thật là trọn vẹn. Sự cố nầy, trên đường đến với đồi Gôgôtha, và rồi tại chính bối cảnh đóng đinh trên thập tự giá, tỏ ra cả Đức Chúa Trời và con người như vốn thực là vậy. Sự cố nầy vạch trần con người là độc dữ đến nỗi không ngờ được, và Đức Chúa Trời thật rất tử tế và có lòng thương xót đáng kinh ngạc. Chính con người thật rất độc ác, và Đức Chúa Trời là Đấng thật nhơn đức, không những trong phân đoạn Kinh Thánh nầy mà còn ở khắp mọi chỗ trong Kinh Thánh, và xuyên suốt mọi thời đại nữa. Chúng ta hãy nhìn vào phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta với sự tập trung.
CẤU TRÚC CỦA PHÂN ĐOẠN KINH THÁNH:
Các biến cố vây quanh sự chết của Chúa chúng ta, như đã được Luca mô tả, rơi vào một vài tiểu đoạn phân biệt. Tiểu đoạn thứ nhứt là via dolorosa, con đường đến với thập tự giá, đã được mô tả trong các câu 26-32. Tiểu đoạn thứ hai là bối cảnh đóng đinh trên thập tự giá, các sự cố vây quanh sự hành quyết Chúa chúng ta, đã diễn ra trên đồi Gôgôtha, trong các câu 33-43. Tiểu đoạn sau cùng, trong các câu 44-49, là câu chuyện nói tới cái chết của Chúa chúng ta, cùng với phần mô tả của Luca về cái chạm của các sự cố nầy trên một số người đã chứng kiến sự cố đó — nghĩa là, thầy đội La mã, đám dân đông, và mấy người đờn bà cùng đi với Chúa Jêsus từ xứ Galilê.
PHẦN TIẾP CẬN CỦA CHÚNG TA
Phần tiếp cận bài học nầy sẽ là sự tra xét cuộc đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá, như Luca đã mô tả trong một bài học. Trong bài học nầy, chúng ta sẽ tra xét các câu 26-43, với tiêu điểm nhắm vào sự độc ác của con người và nhắm vào sự nhơn từ của Đức Chúa Trời trong thân vị của Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta. Trong bài học kế tiếp, chúng ta sẽ nghiên cứu các câu 33-49, với tiêu điểm nhắm vào sự thay đổi mà đồi Gôgôtha mang lại trên đời sống của nhiều người đã chứng kiến sự cố lạ thường nầy. Đời sống của hết thảy những người có mặt sẽ không còn giống như trước kể từ giây phút nầy trở đi.
CÁC ĐẶC ĐIỂM TRONG CÂU CHUYỆN CỦA LUCA NÓI VỀ SỰ ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ
Trước khi chúng ta bắt đầu nghiên cứu một số điểm đặc biệt của phân đoạn Kinh Thánh, chúng ta hãy lùi lại một bước, xem câu chuyện như một tổng thể, đặc biệt trong sự so sánh với các câu chuyện tương đương được thấy trong các sách Tin lành Mathiơ, Mác và Giăng.
Thứ nhứt, câu chuyện của Luca là một câu chuyện rút tỉa ra từ những chứng nhân đã trông thấy những gì đã xảy ra. Từ mọi sự mà chúng ta nhận biết, Luca không phải là một môn đồ của Chúa Jêsus, và không phải là một “sứ đồ” trong 12 sứ đồ kia. Luca là một người cùng đi đó đi đây với Phaolô (đối chiếu chữ “chúng ta” trong các phân đoạn Kinh Thánh ở Công vụ Các Sứ Đồ 16.10-17; 20.5-16; 21.1-18; 27.1—28.16), và là người có lẽ đã bị chạm đến bởi đời sống và chức vụ của Phaolô. Dường như là Luca đã có tiếp xúc theo cách riêng khá nhiều với những người chứng kiến các biến cố nầy trong đời sống của Chúa chúng ta, và câu chuyện của ông trong sách Luca là kết quả của sự tìm tòi mà ông đã tốn một thời gian để thực hiện. Ông vốn biết rõ nhu cần của một sách tin lành phục vụ cho các thánh đồ dân Ngoại trong suốt chức vụ của ông cùng với Phaolô, rồi tra tay vào phần việc mà Đức Thánh Linh đã cảm thúc ông bắt tay làm. Sau khi đã nói ra điều nầy, chúng ta phải nhận biết rằng Mathiơ và Giăng chính là những chứng nhân (một mình Giăng đã sống gần gũi với Chúa, cung ứng chi tiết quan trọng những lần xét xử và đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá), và câu chuyện của Mác đã rút tỉa ra được là nhờ vào Phierơ.
Thứ hai, câu chuyện của Luca là một câu chuyện có tính chọn lọc. Câu chuyện của Luca nói tới những lần xét xử, sự đóng đinh trên thập tự giá, và sự chết của Chúa Jêsus không giống nhiều với những gì đã được trình bày ở những chỗ khác, trong những câu chuyện tương tự. Luca, không giống như các trước giả tin lành khác, không thường tìm cách nhấn mạnh sự ứng nghiệm những lời tiên tri trong Cựu ước, sở dĩ như vậy là vì, tôi tin, đối với khán thính giả dân Ngoại, họ không biết nhiều về các lời tiên tri đó.
Thứ ba, câu chuyện của Luca rất đặc biệt, đưa ra những đóng góp đã bị bỏ sót trong các câu chuyện khác. Trong phần nghiên cứu nầy và kế tiếp, chúng ta sẽ nhìn xem ba sự cố không được ghi lại ở các sách tin lành khác:
(1) Câu chuyện nói tới lời lẽ của Chúa Jêsus với “các con gái thành Jerusalem” các câu 27-31.
(2) Câu chuyện nói tới sự biến đổi của tên cướp trên thập tự giá, các câu 38-43.
(3) Lời lẽ của Chúa chúng ta: “Lạy Cha, xin tha cho họ…” trong câu 34.
Khi chúng ta nghiên cứu câu chuyện nói tới sự chết của Chúa chúng ta theo tin lành của Luca, chúng ta sẽ cố gắng nhận thức những điều các trước giả tin lành khác đã viết ra, và vẫn nhắm vào những điều mà Luca đã ghi lại, và nhắm vào sứ điệp có một không hai mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã dự trù truyền đạt lại qua quyển sách nầy.
Via Dolorosa: Trên đường đến với thập tự giá (23.26-32)
“Khi chúng điệu Đức Chúa Jêsus đi, bắt một người xứ Sy-ren, tên là Si- môn, từ ngoài đồng về, buộc phải vác cây thập tự theo sau Ngài. Có đoàn dân đông lắm đi theo Đức Chúa Jêsus, và có mấy người đàn bà đấm ngực khóc về Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus xây mặt lại với họ mà phán rằng: Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi. Vì nầy, ngày hầu đến, người ta sẽ nói rằng: Phước cho đàn bà son, phước cho dạ không sanh đẻ và vú không cho con bú! Bấy giờ, người ta sẽ nói với núi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta! với gò rằng: Hãy che chúng ta!Vì nếu người ta làm những sự ấy cho cây xanh, thì cây khô sẽ xảy ra sao? Chúng cũng đem hai người đi nữa, là kẻ trộm cướp, để giết cùng với Ngài”.
Có hai sự cố chính đã được mô tả trong tin lành của Luca, cả hai đều đã xảy ra trên con đường dẫn tới đồi Gôgôtha. Sự cố thứ nhứt là việc trưng dụng Simôn người Cyrene. Sự cố thứ hai là đáp ứng của Chúa Jêsus đối với “các con gái thành Jerusalem” đang than khóc, với cái nhìn về mối nguy hiểm đang có ở trước mặt họ như một phần của dòng dõi đã chối bỏ Ngài. Các sự cố, ở cái nhìn đầu tiên, dường như chẳng có quan hệ gì, song không phải như vậy đâu! Hai sự cố nầy có cả tính tiên tri về “những việc hầu đến” cho xứ sở Israel, và đặc biệt cho những người sống trong thành Jerusalem.
Một đoàn dân đông đi theo Chúa Jêsus ra khỏi thành Jerusalem, khi Ngài đang trên đường hướng tới đồi Gôgôtha, là địa điểm hành quyết Ngài. Trong khi chúng ta không biết chắc đồi Gôgôtha nằm ở chỗ nào, ít nhất chúng ta sẽ được an toàn khi kết luận rằng đồi ấy nằm ở phía ngoài thành phố. Vì thế, Chúa Jêsus có một đoàn dân đông đi theo ở phía sau, một đoàn dân đông không nhỏ hơn đoàn dân đông đã được mô tả đang ở trong thành Jerusalem vào ngày lễ Ngũ Tuần, sau sự chết và sự sống lại của Chúa chúng ta.
Giờ đây còn ở lại trong thành Jerusalem là những người Do thái kính sợ Chúa từ các dân thiên hạ…Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, kẻ ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, Giu-đê, Cáp-ba-đốc, Bông, A-si, Phi-ri-gi, Bam-phi-ly, Ê-díp-tô, đất Li-by gần Sy-ren, nào kẻ từ Rô-ma đến (cả người Giu-đa hoặc người mới theo đạo Giu-đa), người Cơ-rết và Ảrập nữa … (Công vụ Các Sứ Đồ 2.5, 9-11a).
Mọi sự kiện nêu trên đều nhắm vào đoàn dân đông ở đây, một cấp độ đại diện cho cả thế gian.
Khi Chúa Jêsus, vác lấy thập tự giá, và đoàn dân đông nối theo sau, đang trên đường ra khỏi thành Jerusalem, ít nhất đã có một người đang đi theo hướng ngược lại. Simôn từ nước ngoài về xứ, Luca cho chúng ta biết, và vì thế Chúa Jêsus đã đi ngang qua ông ta đúng lúc Ngài té ngã dưới gánh nặng của cây thập tự. Ngài bị yếu sức bởi những giờ thương khó trong vườn Ghếtsêmanê (ở đó Ngài đã đổ mồ hôi, nhỏ xuống như giọt huyết), và bởi những trận đòn suốt cả đêm Ngài bị bắt (Luca 22.63-65), tại cung điện của Hêrốt (23.11), và bởi Philát, ít nhất là một lần (Luca 23.16, 22; đối chiếu Mathiơ 27.27-31; Mác 15.16-20).
Chúng ta không biết nhiều về Simôn. Ông ta đến từ xứ Cyrene, một thành phố ở châu Phi (đối chiếu Công vụ Các Sứ Đồ 2.10; 6.9) do người Hy lạp sáng lập, nhưng với một số đông dân cư người Do thái. Theo câu chuyện của Mác, ông ta là cha của Alexander và Rufus (15.21). Bằng cách luận suy, chúng ta dám kết luận rằng người nầy, cùng với hai con trai của mình, đã đến với đức tin nơi Đấng Christ, có lẽ là một kết quả trực tiếp của sự cố nầy do Luca mô tả. Thế nhưng đây không phải là điểm mà Luca muốn trình bày. Lời lẽ của Luca cho chúng ta biết rất ít, nhưng chúng nói cho chúng ta biết đủ để chứng minh mục đích của ông. Simôn là “một người vô tư đứng bên đường”, khi đối chiếu với sự chối bỏ và sự đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá. Ông là một người đến từ xứ khác, một xứ xa, và ông không ở trong thành Jerusalem; ông đang hướng vào thành ấy, từ xứ xa kia. Ông như đứng tách biệt ra khỏi sự chối bỏ Chúa Jêsus. Tuy nhiên, con người nầy là người đã được dựng nên để vác lấy thập tự giá của Chúa chúng ta trên phần đường còn lại để đến với đồi Gôgôtha. Tại điểm nầy, cần phải nói rằng chính các tên lính La mã, họ đã trưng dụng con người nầy, Simôn, và họ đã buộc ông phải đi theo hướng ngược lại, với gánh nặng của ông là cây thập tự của người kia, một người mà ông chưa hề gặp gỡ trước đây. Lý do chính cho sự lồng câu chuyện nầy vào sẽ được thấy rõ.
Sự cố thứ hai trên con đường đến với thập tự giá gồm cả một đoàn dân đông đang kéo theo ở đàng sau Chúa Jêsus ra đến chỗ hành quyết Ngài. Tuy nhiên, đây không phải là đám đông có trong đích nhắm. Chúa chúng ta không nhìn vào toàn bộ đám đông ấy, mà nhìn vào một mảng nhỏ trong đám đông đó — các con gái thành Jerusalem (không phải là những phụ nữ thuộc xứ Galilê đã đi theo Ngài đến tại thành Jerusalem, đối chiếu 23.49) họ theo cùng, khóc than về Chúa Jêsus. Nếu như Baraba bị đóng đinh trên thập tự giá trong ngày đó, như hắn ta đáng phải bị, thực ra chỉ có một số ít người đến than khóc tại đây. Hầu hết mọi người trong thành Jerusalem sẽ kỷ niệm cái chết của hắn ta — một sự tống khứ phải lẽ. Chỉ có mẹ hắn ta, và có lẽ một vài thành viên khác trong gia đình sẽ khóc than cái chết của hắn. Còn với Chúa Jêsus, đã có rất nhiều người đến than khóc. Lý do cho sự họ than khóc dường như là họ biết rõ Chúa Jêsus sẽ phải chết mất, thực ra Ngài là người công bình, vô tội.
Chúa Jêsus đã xây sang mấy người đờn bà đang khóc than nầy với những lời lẽ khiến cho họ phải xem chừng. Ngài nói cho họ biết đừng khóc than Ngài, nhưng hãy than khóc về họ và về con cái của họ. Thảm hoạ mà Chúa Jêsus đang nói tới là thảm hoạ đã khiến cho Ngài phải than khóc khi Ngài bước vào thành Jerusalem trong sự “vào thành đắc thắng” của Ngài:
“Khi Đức Chúa Jêsus gần đến thành, thấy thì khóc về thành, và phán rằng: Ước gì, ít nữa là ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt mầy.Vì sẽ có ngày xảy đến cho mầy, khi quân nghịch đào hố xung quanh mầy, vây mầy chặt bốn bề. Họ sẽ hủy hết thảy, mầy và con cái ở giữa mầy nữa. Không để cho mầy hòn đá nầy trên hòn đá kia, vì mầy không biết lúc mình đã được thăm viếng” (Luca 19.41-44).
Sự hủy diệt thành Jerusalem trong tương lai, là điều đã khiến cho Chúa Jêsus phải bật khóc khi Ngài bước vào thành, là chính sự hủy diệt mà mấy người đờn bà của thành được truyền cho phải than khóc. Mấy người đờn bà nầy không nên khóc than nhiều về cái chết của Chúa Jêsus (rốt lại, cái chết đó là nguyên nhân cho sự cứu rỗi của họ), nhưng họ phải khóc than về sự hủy diệt tạo ra một sự thiệt hại to lớn trên họ và trên con cái của họ. Khi nhìn lại, chúng ta biết rằng sự hủy diệt đã giáng xuống thành phố cùng các cư dân của nó bởi Titus, tướng lãnh của quân đội La mã, họ đã cướp phá thành phố và đã giết bỏ hàng ngàn người (hay nhiều hơn).
Vào thời điểm viết ra sách Tin lành nầy, chính Luca cũng không biết những chi tiết tỉ mỉ vì đây vẫn là, trong thời của ông, lời tiên tri. Sách Tin lành Luca đã được viết ra khoảng 10 năm trước sự hủy diệt thành Jerusalem bởi Titus và quân đội của ông ta. Trong sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, những lời lẽ nầy đã được ghi lại, là những lời lẽ nói tới sự hủy diệt thành Jerusalem vài năm trước sự cố. Những lời lẽ nầy của Chúa Jêsus, có quan hệ tới sự sụp đổ của thành Jerusalem, đều là những lời tiên tri, thậm chí từ cách nhìn của Luca, vào thời điểm ông viết ra sách nầy. Luca không nhìn thấy những lời nầy đã được ứng nghiệm. Ông không biết chính xác Đức Chúa Trời sẽ làm ứng nghiệm mọi lời ấy bằng cách nào!?! Nhưng đấy là lời tiên tri, được ban ra cho dân Ngoại, liên quan tới sự Đức Chúa Trời sử dụng một đoàn quân dân Ngoại sửa phạt thế hệ gian ác nầy trong sự chối bỏ Đấng Mêsi. Cái chạm của tin lành Luca đã mạnh thêm lên bởi sự ứng nghiệm mọi lời nói của Chúa Jêsus ở đây. Các độc giả dân Ngoại phải hạ mình xuống bởi sự nhìn biết Đức Chúa Trời tối cao của Kinh Thánh, Đức Chúa Trời của Israel, có thể sử dụng quyền lực của một thế giới dân Ngoại gian ác và bất tuân để làm thành mục đích của Ngài, giống như một cây roi sửa phạt thiêng liêng, dù không phải là lần đầu tiên, quí vị có nhớ không (đối chiếu Habacúc 1).
Chúa Jêsus đã nói gì với mấy người đờn bà nầy, và tại sao Luca lồng câu chuyện nầy vào khi không một trước giả tin lành nào khác chọn làm như thế? Để nắm bắt được mọi điều mà Chúa Jêsus đã phán ra, chúng ta phải hiểu sự thay đổi nơi các đại từ [pronouns] trong phân đoạn Kinh Thánh. Chúng ta hãy nhìn vào phân đoạn Kinh Thánh một lần nữa, dành sự chú ý thật đặc biệt vào mấy câu gạch dưới nầy:
“Có đoàn dân đông lắm đi theo Đức Chúa Jêsus, và có mấy người đàn bà đấm ngực khóc về Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus xây mặt lại với họ mà phán rằng: Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi. Vì nầy, ngày hầu đến, người ta sẽ nói rằng: Phước cho đàn bà son, phước cho dạ không sanh đẻ và vú không cho con bú! Bấy giờ, người ta sẽ nói với núi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta! với gò rằng: Hãy che chúng ta! Vì nếu người ta làm những sự ấy cho cây xanh, thì cây khô sẽ xảy ra sao?”
Nhóm đầu tiên Chúa Jêsus nói tới trong các câu 27-28 là nhóm “các ngươi”. Chúa Jêsus đã phán với mấy “con gái thành Jerusalem” là “các ngươi”. Họ không cần phải khóc than Ngài, mà phải khóc than về họ và về con cái của họ. Thảm họa không phải là cái điều mà Chúa Jêsus đang nếm trải, mà là những gì mấy người đờn bà nầy cùng con cái của họ sắp sửa phải gánh chịu. Nhóm kế tiếp là nhóm “người ta”, được nhắc tới trong các câu 29-30. Đây là phần nhắc tới nhiều người nói chung, đặc biệt là những kẻ đang sống trong thành Jerusalem vào thời điểm xảy ra thảm hoạ. Có nhiều việc sẽ tồi tệ như mang thai, là một ơn phước bình thường đối với giới nữ (với son sẻ là một sự rủa sả), sẽ bị xem là một sự rủa sả. Tốt hơn là không nên làm mẹ, làm một người mẹ trong thì tương lai nầy, Chúa Jêsus đã phán vậy.
Nhóm cuối cùng, được nói tới trong câu 31, là nhóm “người ta” khác nữa, lẽ ra phải dịch chỗ nầy là “mấy ông”. Sự nhắc tới nhóm nầy là chìa khoá cho sự hiểu biết cả phân đoạn nầy. “Người ta” mà Chúa Jêsus đang nhắc tới rõ ràng (theo ý của tôi) là quân đội La mã, họ sẽ đột kích vào thành Jerusalem, cướp phá nó, và để đem lại sự đau khổ lớn lao cho thành phố, đặc biệt với phụ nữ và trẻ em.
Sự Chúa Jêsus nhắc tới hai thứ cây trong câu 31, “cây xanh” và “cây khô” sẽ gây bối rối cho nhiều người. Tôi không thấy đây là một chi tiết kỷ thuật về thuật ngữ của Cựu ước, như đã có trong Êxêchiên 17.24. Tôi e, khán thính giả dân Ngoại mà Luca đang viết cho họ sẽ không thân thuộc với thuật ngữ “cục bộ” của thánh đồ Cựu ước hay của người Do thái trong thời ấy. Tôi tin chúng ta sẽ hiểu rõ lời lẽ của Chúa Jêsus một lần nữa khi chúng ta xác quyết lai lịch của “người ta” mà Ngài đang nhắc tới, về những gì “người ta” nầy đang làm, và về những gì là khác biệt giữa một cây xanh và một cây khô.
Tôi tin, phép loại suy ở đây sẽ rất là đơn giản. “Người ta” là các binh lính La mã. Chúa Jêsus đang phán, trong văn mạch: “Nếu quân La mã đối xử với ta theo cách nầy bây giờ, thì họ sẽ đối xử với các ngươi như thế nào?” Những gì quân La mã đang thực hiện là bất công và giết chóc người vô tội cách độc dữ (thực thế, một người công bình). Nếu họ đóng đinh trên thập tự giá một người công bình vào lúc bây giờ, thì họ sẽ còn làm gì nữa? Đâu là khác biệt giữa “bây giờ” và “hầu đến”? Chính là sự khác biệt giữa “xanh” và “khô”. Một cây còn sống và quan trọng khi nó có sự sống; khi sự sống đó không còn nữa, cây đang chết mất. Một cây đang phát triển (đặc biệt trong một số nơi trên thế giới, gồm có Israel) là một việc rất có giá trị, một việc được xử lý thật nhẹ nhàng. Một cây chết, không có sự sống, cây “khô” thì chẳng có gì giá trị, nhưng được sử dụng để chụm đốt — chỉ thích ứng cho lửa mà thôi. Màu “xanh” của thành Jerusalem là sự hiện diện của Đức Chúa Trời của thành ấy. Tình trạng “khô” của nó là sự vắng mặt của Đức Chúa Trời. Vì lẽ đó Chúa Jêsus đã phán: “Nếu, khi Đấng Mêsi, chính Con của Đức Chúa Trời, đang hiện hữu trong thành xinh đẹp của các ngươi, và quân La mã đối xử với Ta như vậy, các ngươi nghĩ sao về số phận của các ngươi khi thiếu vắng Ta, khi Jerusalem bị Đức Chúa Trời lìa bỏ, và chỉ thích nghi với ngọn lửa hủy diệt?”
Bây giờ đã đến lúc phải quay trở lại với câu 26, vì đây là chỗ mà tư tưởng của Chúa chúng ta (và Luca) khởi đầu. Ai đã trưng dụng Simôn người Cyrene chấm dứt chuyến lữ hành của ông, phải quên đi chương trình của mình, phải vác lấy thập tự giá của Chúa Jêsus, và phải đi theo hướng ngược lại. Chính quân đội La mã đã buộc Simôn phải làm như vậy. Đây là một hành động rất độc ác. Đây chỉ là một tiên vị nhỏ của những gì sắp xảy tới. Trong khi đóng đinh trên thập tự giá không phải là một phương tiện của người Do thái để hành quyết người ta, đóng đinh trên thập tự giá cũng không phải là phổ thông vào thời điểm cái chết của Chúa chúng ta, đóng đinh trên thập tự giá là luật lệ của thời buổi khi người La mã kéo đến bao vây thành Jerusalem. Lịch sử cho biết có hàng ngàn người đã bị đóng đinh trên thập tự giá, ít nhất, và đã có một sự thiếu kém thập tự giá và thiếu cây để kết lại thành thập tự giá, phù hợp với yêu cầu. Những gì sắp xảy ra cho Chúa Jêsus, thực vậy, là một phần nhỏ của tảng băng mà thôi.
Và khi ấy, đã có mấy người đờn bà ở tại thành Jerusalem. Phải chăng họ than khóc vì quân đội La mã đã bị thuyết phục phải xét xử Đấng Christ và đóng đinh Ngài trên thập tự giá? Nói theo cách so sánh (từ quan điểm nhận định của họ) sự nầy chẳng nhằm nhò gì với những gì quân La mã sẽ làm trong những ngày hầu đến. Quân đội nầy, đã đối đầu với sự loạn nghịch của quốc gia nầy, sẽ đánh cho tan tác và thực hiện sự báo thù giáng trên dân sự. Những người đặc biệt trở thành nạn nhân sẽ là nữ giới và trẻ con — như luôn luôn là trường hợp trong khi có chiến tranh.
Tôi nghĩ lời lẽ của Chúa Jêsus phải giải thích nhiều mọi điều đã được phán ra cho người Do thái trong sách Công vụ Các Sứ Đồ liên quan tới sự ăn năn, tin theo Chúa Jêsus là Đấng Christ, và chịu phép báptêm như một bằng chứng công khai cho đức tin của họ. Sự rao giảng của Phierơ vào ngày lễ Ngũ Tuần đã kêu gọi khán thính giả người Do thái khá cứu mình “thoát khỏi giữa dòng dõi gian tà nầy” (đối chiếu Công vụ Các Sứ Đồ 2.40). Dòng dõi của những người Do thái sống trong xứ Israel vào thời của Chúa Jêsus, và đặc biệt là những người đã sống trong thành Jerusalem, đã có một đặc ân rất đặc biệt trong chỗ nhìn thấy và nghe Đấng Mêsi rao giảng. Họ cũng phạm phải một tội trọng hơn khi chối bỏ Ngài. Việc cướp phá thành Jerusalem phải là sự phán xét đặc biệt của Đức Chúa Trời giáng trên dòng dõi ấy và trên thành phố ấy vì sự họ chối bỏ Chúa Jêsus là Đấng Mêsi của Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu sự rao giảng của các sứ đồ cho dân cư thành Jerusalem ngay lúc và sau lễ Ngũ Tuần cho tới chừng nào chúng ta đã hiểu rõ tội lỗi và số phận sẽ giáng trên thành phố đó.
Tuy nhiên, hãy quay trở lại điểm mà Luca đang cố gắng đưa ra ở đây. Có một phần nhấn mạnh đặc biệt ở đây, tôi tin là Đức Thánh Linh đã cưu mang trong lời lẽ của Luca. Luca đã kiến thiết phân đoạn nầy trong một phương thức làm nổi bật sự đối chiếu giữa sự độc ác của con người (đặc biệt là quân đội La mã — trong việc trưng dụng Simôn, và, trong sự xâm chiếm thành Jerusalem trong tương lai) và lòng thương xót của Chúa Jêsus, là Đấng chẳng nghĩ tới sự thống khổ của chính mình, mà nghĩ tới sự đau khổ của những kẻ đang theo sau Ngài, họ đang than khóc. Chính hạng người vô tín mới là những kẻ độc ác, và chính Đức Chúa Trời là Đấng nhơn từ, ngược lại với nhiều quan niệm không đúng về Đức Chúa Trời và con người. Sự đối chiếu nầy càng được soi sáng thêm trong tiểu đoạn kế tiếp, vì trong các sự cố đã xảy ra nơi sự đóng đinh Chúa chúng ta trên thập tự giá, sự độc ác của con người đã được nhấn mạnh và được lặp đi lặp lại, và sự nhơn từ cùng sự thương xót của Chúa chúng ta rất lớn, có người nghĩ phân đoạn kế tiếp mô tả đấy không phải là một phần nằm trong nguyên bản.
Thập tự giá, sự độc ác của con người, và lòng thương xót của Đức Chúa Trời (23.33-43)
“Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó, cùng hai tên trộm cướp, một tên bên hữu Ngài, một tên bên tả. Song Đức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài. Dân chúng đứng đó mà ngó. Các người coi việc nhạo cười Ngài, rằng: Nó đã cứu kẻ khác; nếu nó là Đấng Christ, Đấng Đức Chúa Trời đã lựa, thì hãy cứu mình đi! Quân lính cũng giỡn cợt Ngài, lại gần đưa giấm cho Ngài uống, mà rằng: Nếu ngươi là Vua dân Giu-đa, hãy tự cứu lấy mình đi! Phía trên đầu Ngài, có đề rằng: NGƯỜI NẦY LÀ VUA DÂN GIU-ĐA. Vả, một tên trộm cướp bị đóng đinh cũng mắng nhiếc Ngài rằng: Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa! Nhưng tên kia trách nó rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác. Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi”.
Chủ ý của tôi trong chỗ còn lại của phần lý giải nầy nhắm vào hai đề tài, cả hai đều được nhấn mạnh (và đối chiếu) trong mấy câu kể trên. Đề tài thứ nhứt là sự thương xót và sự nhơn từ của Đức Chúa Trời, và đề tài thứ hai là sự độc ác của con người. Hãy chú ý Luca bắt đầu với lòng thương xót của Đấng Christ:
“Đức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (câu 34).
Đã có nhiều lời đã được thốt ra bởi những người sắp chết, khi bị treo trên cây thập tự của chính họ, nhưng lời lẽ nầy thì rất mới mẻ, chưa có ai nghe thấy trước đó. Danh của Đức Chúa Trời, có lẽ, thường được nhắc tới, song chỉ trong hình thức báng bổ, xúc phạm, hay trong tiếng kêu la cầu cứu hoặc xin thương xót. Còn Chúa Jêsus đã cầu thay, Ngài xin sự tha thứ cho những kẻ đang lấy đi sự sống của Ngài.
Chúa Jêsus đang cầu thay điều gì ở đây, và tại sao Ngài lại cầu xin như thế? Trước hết, tôi tin chúng ta sẽ hiểu lời lẽ của Chúa Jêsus phải ám chỉ đến một điều gì đó thật đặc biệt. Trong khi Ngài đã đến để chịu chết vì tội lỗi của thế gian, hầu cho tội lỗi của loài người sẽ được tha thứ, Chúa Jêsus đang cầu nguyện ở đây, Ngài xin một sự tha thứ đặc biệt, theo như tôi hiểu sự cầu nguyện ấy. Ngài đang cầu xin tội lỗi của hạng người nầy sẽ được tha thứ. Nghĩa là, Ngài đang cầu xin những người dự phần vào sự chối bỏ và sự chết của Ngài sẽ được tha về tội lỗi đặc biệt nầy, là tội đóng đinh trên thập tự giá chính Con của Đức Chúa Trời. Lý do, Chúa Jêsus đã phán, là vì sự thiếu hiểu biết của họ. Sự họ thiếu hiểu biết cũng là một điều rất đặc biệt. Sự thiếu hiểu biết ấy chính là họ không hiểu Ngài là ai!?! Họ biết Ngài tự xưng mình là Đấng Mêsi, là Con của Đức Chúa Trời, nhưng họ lại không chịu tin theo Ngài. Nếu họ biết rõ Đấng nầy chính là Con độc sanh của Đức Chúa Trời, chắc chắn họ sẽ không kết án tử hình Ngài, họ cũng không nhiếc móc Ngài. Họ đã chối bỏ Ngài, song không nhạo báng Ngài.
Tôi tin rằng lời cầu nguyện của Chúa Jêsus đã chứa đựng rất nhiều việc. Giữa vòng những việc khác, lời cầu nguyện ấy chứa tấm lòng của Đức Chúa Con, và tấm lòng của Đức Chúa Cha nữa. Lời cầu nguyện ấy tỏ ra lòng thương xót của Chúa chúng ta, Ngài đã đến tìm và cứu hạng tội nhân, và Đức Chúa Cha, là Đấng đã sai phái Ngài. Nhưng có lẽ trên hết mọi sự, lời cầu nguyện của Chúa chúng ta đã tha thứ cho thành Jerusalem khỏi sự hủy diệt ngay lập tức. Chúng ta có khuynh hướng nhắm vào Chúa của chúng ta, và vào sự cay độc của dân chúng khi họ cho rằng Ngài phải chứng minh thần tính của Ngài bằng cách tuột xuống từ thập tự giá. Nhưng hãy suy nghĩ về sự kềm chế của Đức Chúa Cha. Quí vị cảm nhận như thế nào về thành nầy, về dân sự nầy, một khi họ đối xử với con trai của quí vị theo cách thức như vậy? Đức Chúa Cha thánh khiết, Chúa Jêsus đang cầu nguyện với Đấng đó, là Đấng đã phán với Môise trên Núi Sinai, lúc Israel phạm tội khi thờ lạy con bò con vàng:
“Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng: Ta đã xem thấy dân nầy, kìa là một dân cứng cổ. Vả, bây giờ hãy để mặc ta làm, hầu cho cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng chúng nó, diệt chúng nó đi; nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn” (Xuất Êdíptô ký 32.9-10).
Nếu Đức Chúa Cha muốn hủy diệt dân Israel vì sự họ thờ lạy hình tượng đang khi Môise còn ở trên Núi Sinai, quí vị nghĩ Đức Chúa Cha mong muốn phải làm gì với những người dân Israel cứng cổ nầy (và dân Ngoại) là những kẻ đang chế giễu Con của Ngài và là những kẻ đang kết án tử hình Ngài? Tôi nghĩ lời cầu nguyện của Chúa Jêsus đã xin tha mạng cho dân nầy và kềm hãm cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời lại cho tới sau sự sống lại của Ngài, và sau khi tin lành được rao giảng cho họ hầu cho họ sẽ không còn thiếu hiểu biết về lai lịch của Ngài nữa, và để cho họ biết ăn năn và được cứu ra khỏi sự hủy diệt của chính thế hệ họ. Lời cầu nguyện của Chúa chúng ta vì thế đã được nhậm trong sự cứu cho nhiều người (thí dụ, Lễ Ngũ Tuần, Công vụ Các Sứ Đồ 2) và trong sự kềm hãm cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời cho những người còn lại, nhờ đó họ có cơ hội để ăn năn và được cứu.
Nếu Luca đã nhấn mạnh lòng thương xót của Chúa chúng ta hiển nhiên qua điều nầy, câu nói của Ngài, từ trên thập tự giá, ông cũng đã cho chúng ta biết về sự độc ác không thể tả hết, cũng được thấy từ trên thập tự giá đó. Thứ nhứt, chúng ta thấy sự độc ác của mấy tên lính:
“Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài” (câu 34b).
Mấy tên lính, như sự việc cho thấy, họ khô cứng trong phần hành của họ và trước sự đau khổ mà phần hành ấy gây ra. Chúa Jêsus đang có mặt ở đó, Ngài là Con Đức Chúa Trời vô tội, công bình, đang bị treo trên một cây thập tự, huyết Ngài đã đổ ra vì tội lỗi chúng ta. Và họ đang đứng kia, phía dưới mặt đất, họ đang thảy đồng xu nhỏ kia để xem coi ai là người nhận được. Họ chỉ lấy làm thú vị trong việc kiếm chác những gì họ sẽ nhận được từ sự chết của Chúa Jêsus, nhưng họ không quan tâm đến nỗi đau khổ và buồn rầu của Ngài. Họ đã sống thật tách biệt, trong khi Ngài đang ở trong nỗi thống khổ. Họ đang tìm kiếm lợi lộc nhỏ nhen, trong khi Ngài đang từ bỏ sự sống của mình. Thật là độc ác dường bao!
Không những đây là sự độc ác của mấy tên lính thôi đâu. Sau đó, họ còn chế giễu Chúa Jêsus bằng cách cho Ngài uống giấm nữa:
Mấy tên lính cũng giỡn cợt Ngài. Chúng lại gần đưa giấm cho Ngài uống: “Nếu ngươi là Vua dân Giu-đa, hãy tự cứu lấy mình đi!” (câu 36-37).
Các vua chúa đã được người ta dâng rượu cho, nhưng chỉ là loại rượu tốt nhứt mà thôi. Còn thứ được họ đem cho Chúa Jêsus uống là “rượu cặn”, như là thứ rẽ tiền nhất vậy. Phân đoạn Kinh Thánh đã chỉ ra chính cái hành động giỡn cợt đó. Chúa Jêsus, trong quá trình bị người ta nhạo báng, đã được họ trao cho một cây trượng chế giễu (một cây sậy), một long bào chế giễu, một mão triều thiên chế giễu (làm bằng gai), và một sự đầu phục và thờ lạy chế giễu. Ngài phải nâng một cốc chế giễu như thế đó.
Và nhiều người đã có mặt ở đó. Có người cho rằng người ta đứng đó chỉ để xem mà thôi, và chính những người lãnh đạo của họ mới là người rủa sả Chúa Jêsus. Có thể là như vậy, nhưng tôi tin sự tò mò lúc nhàn rỗi của dân chúng là đáng khiển trách lắm. Chữ “[ngay cả] (có trong bảng Kinh Thánh Anh ngữ) các người coi việc” trong câu 35 dường như kết tội lỗi của dân chúng với tội lỗi của các cấp lãnh đạo của họ, theo một cung cách nào đó. Số người nầy, do sự hiện diện của họ, đang dự phần vào cuộc hành quyết độc ác Đấng Christ. Họ rất độc ác trong sự họ tò mò giống như “hạng người có cần cổ bằng cao su” họ chỉ đi ngang qua trong sự tình cờ, chỉ biết nhìn xem những thiệt hại hay đau thương lớn lao cỡ nào mà thôi.
Tiếp đến có sự độc ác cực kỳ của giới lãnh đạo (câu 35). Họ thật là tàn nhẫn dường bao, họ đứng chắn trước mặt Chúa Jêsus, họ nhạo cười Ngài, rồi thách thức Ngài hãy tuột xuống. Gần như là luôn luôn trong những lần hành quyết, giới tăng lữ phải có mặt, nhưng với một cái nhìn, với quan điểm đến phục vụ cho người bị kết án tử hình mà thôi. Ở đây thì không phải như vậy. Họ đang thêm vào sự thống khổ của Ngài, chớ không phải tìm cách phục vụ cho Ngài đâu.
Thậm chí cả Philát, khi vắng mặt, đã chế thêm sự độc ác vào giờ phút ấy. Không những ông ta không tìm thấy tội lỗi nơi người vô tội nầy mà còn đánh đòn Ngài, ông ta đã phê chuẩn sự hành hình Ngài. Dường như ông ta chẳng có mặt, nhưng chẳng có điều chi trong vụ án nầy sẽ xảy ra nếu không có phép của ông ta, và sự dự phần của ông ta cho được. Sự dự phần của Philát và sự độc ác của ông ta được chỉ ra bởi tấm bảng treo trên đầu của Chúa Jêsus, tấm bảng ấy, trong sự chế giễu, đã ghi Ngài là: “Vua dân Giuđa”.
PHẦN KẾT LUẬN:
Sự chối bỏ Chúa Jêsus đã khoác lấy nhiều hình thức, như đã được thấy ở đó, tại thập tự giá của Đấng Christ, nhưng hết thảy các hình thức đó đều là độc ác. Chúng thường rất là độc dữ. Và chúng có các yếu tố khác cũng giống như thế nữa. Hết thảy họ đều chối bỏ Đấng Christ không nhận những điều mà Ngài tự xưng nhận, là “Vua dân Giuđa”, là “Đấng Mêsi”, là “Con Đức Chúa Trời”. Họ đã chối bỏ Chúa Jêsus như chối bỏ những lời Ngài tự xưng nhận. Và sự chối bỏ nầy không dựa vào sự kiện cho rằng Chúa Jêsus phạm vào một tội lỗi nào đó, hoặc thậm chí vào một tội ác nào, thay vì thế họ đã dựa vào chỗ thất bại không làm thoả mãn được những mong đợi của con người về Đấng Mêsi đáng phải — thực vậy, Đấng Mêsi đáng phải — thể hiện để được chấp nhận. Hết thảy những người đó đều có mặt tại thập tự giá, họ đã chối bỏ Chúa Jêsus không nhận Ngài là Đấng Mêsi, họ cho rằng trước tiên Ngài phải tự cứu lấy mình. Những gì họ thất bại không nắm lấy được là cách duy nhất Ngài có thể cứu nhiều người khác mà không tự cứu lấy mình được, song lại từ bỏ sự sống mình, như của lễ một lần đủ cả vì cớ tội lỗi của loài người. Ngài là Đấng vô tội, song Ngài đã chịu chết trong chỗ của tội nhân, hầu cho tội nhân sẽ được tha thứ. Chúa Jêsus đã không hành động phù hợp với mọi mong đợi hay đòi hỏi của con người, nhưng Ngài đã hành động theo phương thức duy nhứt có thể khả thi để cứu lấy hạng tội nhân, bởi sự chết có tính thay thế của Ngài, trong chỗ của tội nhân, gánh lấy án phạt của họ (dù nam hay nữ).
Vậy thì Chúa Jêsus đã phạm phải tội gì nào? Ngài không phạm tội gì độc dữ hết; dân chúng đã phạm phải tội nầy. Chúa Jêsus đã phạm vào “tội” có lòng thương xót. Ngài đã phạm phải tội là Đức Chúa Trời và giống như Đức Chúa Trời. Những con người ác độc, họ tự xem mình là nhơn đức, tương tự họ đã xem nhơn đức là gian ác. Từ lúc bắt đầu chức vụ của Chúa Jêsus, một trong những đối kháng đầu tiên và mạnh mẽ nhất nghịch lại cách hành đạo và giảng dạy của Ngài khi mọi sự được đánh dấu bằng lòng thương xót. Ngài đã đến để tìm và cứu hạng tội nhân, và “người công bình” vốn không thích như thế. Ngài đã gắn bó với hạng người bất xứng, và hạng người “xứng đáng” vốn không ưa như thế. Trong phần phân tích sau cùng, con người chối bỏ Chúa Jêsus vì Ngài là nhơn lành, vì Ngài là nhơn từ và có lòng thương xót, và vì chúng ta là độc ác và gian tà. Nếu thập tự giá của Đấng Christ bày tỏ ra một việc gì đó về con người và về Đức Chúa Trời, thì đó là điều nầy: Con người là độc ác khôn tả; còn Đức Chúa Trời là có lòng thương xót không thể dò được.
Vậy thì những người nói họ chối bỏ Đức Chúa Trời và ơn cứu rỗi của Ngài sẽ ra sao, vì Đức Chúa Trời thực sự là độc ác, trong khi con người thực sự là nhơn đức? Họ rất là thiếu hiểu biết. Còn hơn thế nữa, họ đã bị mù rồi — bị Satan làm cho mù loà, hắn đã giữ con người không nhìn thấy mọi việc như vốn có thật vậy, và nhờ đó xưng công bình tội lỗi của họ, họ lót đường cho sự hủy diệt của chính họ (đối chiếu II Côrinhtô 4.4). Chỉ khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời soi sáng tâm trí của hạng người bị hư mất, và khi Ngài hối thúc họ nên ăn năn tội và phải tin theo Con vô tội của Đức Chúa Trời và phải tiếp nhận ơn thương xót của Ngài, để con người được cứu. Quí vị có công nhận tội lỗi của mình, tội lỗi của quí vị — và sự nhơn từ của Ngài không? Tôi mau mắn muốn nói cho quí vị biết sự nhơn từ của Đức Chúa Trời có những giới hạn. Sự nhơn từ ấy bị hạn chế trong một khoảng thời gian trong đó con người được cung ứng cho cơ hội để ăn năn và để tin theo. Rồi kế đó, sự nhơn từ ấy sẽ bị cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời phủ lấp, giống như điều mà Chúa Jêsus đã phán với mấy người đờn bà của thành Jerusalem, giống như điều sẽ giáng trên thành Jerusalem qua cơn giận của quân đội La mã tội lỗi kia. Sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ tới đến, và con người sẽ nếm lấy cơn thạnh nộ ấy trong cõi đời đời, nếu họ chối bỏ ơn cứu rỗi mà Đấng Christ đã lập ra tại thập tự giá đồi Gôgôtha. Nguyện quí vị tiếp nhận ơn ấy ngay hôm nay.

Luca 23.1-25: "SỰ CHỐI BỎ ĐẤNG MÊSI CỦA ISRAEL - PHẦN II"



Phần giới thiệu
Cấu trúc của phân đoạn Kinh Thánh
Những đặc điểm trong câu chuyện của Luca
Chúa Jêsus trước mặt Phi-lát (23.1-7)
Chúa Jêsus trước mặt Hê-rốt (23.8-12)
Hê-rốt Antiba
Chúa Jêsus trước mặt Hê-rốt một lần nữa (23.13-25)
Phần kết luận
Bài 72:

Sự chối bỏ Đấng Mêsi của Israel — Phần II

(Luca 23.1-25)
Chúa Jêsus trước mặt Philát
“Đoạn, cả hội đồng đứng dậy, điệu Ngài đến trước mặt Phi-lát. Họ bèn khởi cáo Ngài rằng: Chúng tôi đã thấy người nầy xui dân ta làm loạn, cấm nộp thuế cho Sê-sa, và xưng mình là Đấng Christ, là Vua. Phi-lát gạn Ngài rằng: Chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời. Phi-lát bèn nói với các thầy tế lễ cả và dân chúng rằng: Ta không thấy người nầy có tội gì. Nhưng họ cố nài rằng: Người nầy xui giục dân sự, truyền giáo khắp đất Giu-đê, bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi đến đây. Khi Phi-lát nghe điều đó, thì hỏi nếu người nầy thật là dân Ga-li-lê chăng. Biết Ngài thuộc quyền cai trị của vua Hê-rốt, bèn giải đến cho vua Hê-rốt, vua ấy ở tại thành Giê-ru-sa-lem trong mấy ngày đó”.
Chúa Jêsus trước mặt Hêrốt
“Vua Hê-rốt thấy Đức Chúa Jêsus thì mừng lắm; vì lâu nay vua muốn gặp Ngài, nhân đã nghe nói về chuyện Ngài, và mong xem Ngài làm phép lạ. Vậy, vua hỏi Ngài nhiều câu, song Ngài không trả lời gì hết. Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo ở đó, cáo Ngài dữ lắm. Bấy giờ vua Hê-rốt và quân lính hầu vua đều đãi Ngài cách khinh dể và nhạo báng Ngài; đoạn, họ mặc áo hoa hòe cho Ngài, rồi giao Ngài về cho Phi-lát. Trước kia Phi-lát với vua Hê-rốt thù hiềm nhau, nhưng nội ngày ấy trở nên bạn hữu”.
Chúa Jêsus trước mặt Philát một lần nữa
“Phi-lát hiệp các thầy tế lễ cả, các quan đề hình và dân chúng lại, mà nói rằng: Các ngươi đã đem nộp người nầy cho ta, về việc xui dân làm loạn; nhưng đã tra hỏi trước mặt các ngươi đây, thì ta không thấy người mắc một tội nào mà các ngươi đã cáo; vua Hê-rốt cũng vậy, vì đã giao người về cho ta. Vậy, người nầy đã không làm điều gì đáng chết, nên ta sẽ đánh đòn rồi tha đi. (Số là đến ngày lễ, quan phải tha một tên tù cho dân.) Chúng bèn đồng thanh kêu lên rằng: Hãy giết người nầy đi, mà tha Ba-ra- ba cho chúng tôi! Vả, tên nầy bị tù vì dấy loạn trong thành, và vì tội giết người. Phi-lát có ý muốn tha Đức Chúa Jêsus, nên lại nói cùng dân chúng nữa. Song chúng kêu lên rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự đi! Đóng đinh nó trên cây thập tự đi! Phi-lát lại nói đến lần thứ ba, rằng: Vậy người nầy đã làm điều ác gì? Ta không tìm thấy người có sự gì đáng chết. Vậy, đánh đòn xong, ta sẽ tha. Nhưng chúng cố nài, kêu lớn tiếng rằng phải đóng đinh Ngài trên cây thập tự; tiếng kêu của họ được thắng. Phi-lát truyền làm y như lời chúng xin. Bèn tha tên tù vì tội dấy loạn và giết người, là người chúng đã xin tha; rồi phó Đức Chúa Jêsus cho mặc ý họ”.
PHẦN GIỚI THIỆU:
Đôi khi chúng ta nghe nói về “một lời đề nghị giúp đỡ không thể chối từ”, đặc biệt bởi những người giống như tôi, là những tay thợ săn đầy toan tính. Chúng ta cũng nghe nói tới những lời “đề nghị mà quí vị không thể chối từ” đó, hay có lẽ chúng ta sẽ nói, những lời đề nghị mà người ta cho rằng quí vị sẽ không từ chối. Khi còn là một sinh viên đại học, tôi sống trên gác của một ngôi nhà do trường làm chủ với hai người bạn học, họ sống trên tầng hai và tầng ba. Một cụ già và vợ ông đã sống ở từng thứ nhứt. Một ngày kia, ông cụ đến yêu cầu hai người chúng tôi giúp ông khiêng một cái bàn từ tầng cao nhất xuống cầu thang ra đường để chiếc rờ moọc đến chở nó đi. Đây là một phần việc dễ làm chỉ mất một vài phút. Tôi thường phụ giúp những việc như thế mà chẳng chút suy nghĩ gì về việc ấy hết.
Lần nầy thì không phải như vậy đâu, khi chúng tôi làm xong phần việc dời cái bàn ra xe rờ- moọc, ông cụ bước lại cái túi da của ông, rút ra tờ 5 $US, rồi trao nó cho tôi. Quay nhìn lại, tôi thấy cách trả tiền nầy của ông ta là “một việc mà tôi không thể nhận cho được”. Còn ông ta thì không rõ ý của tôi. Có lẽ ông ta nghĩ khi đưa ra một sự trả công như thế thì tôi không thể nhận lấy — nhưng ông ta đã lầm. Tôi đang cần tiền đây, và tôi đã nhận lấy số tiền đó — với sự biết ơn — nhưng tôi đã nhận lấy số điền đó. Người bạn cùng lớp với tôi không thể tin được sự thể ấy, và sau khi suy nghĩ về việc đó, và tôi cũng chẳng tin như thế. Còn ông cụ kia thì đã đưa ra số tiền đó. Nếu ông ta không có ý trả tiền cho tôi, khi ấy tôi lý luận, ông ta không nên đưa số tiền ra.
Hết thảy chúng ta đều có thể biếu xén mà chúng ta thực sự không mong người khác tiếp nhận lấy, có phải không? Tôi tin Philát đã đưa ra cho các cấp lãnh đạo của Israel — các thầy tế lễ thượng phẩm, nhưng người cai trị dân sự — một lời đề nghị mà họ sẽ không bao giờ chấp nhận — thế nhưng họ lại chịu nhận lấy. Các cấp lãnh đạo tôn giáo của Israel đã đưa Chúa Jêsus đến gặp Philát, họ tố cáo Ngài là một tội phạm đáng tội chết. Nhưng Philát thì chẳng nhìn thấy như thế. Hiển nhiên, họ đã đưa ra cho các cấp lãnh đạo nầy một lời đề nghị mà tôi nghĩ ông ta dám chắc họ sẽ chẳng chịu nhận lấy. Lời đề nghị của ông ta là phóng thích cho họ Baraba, một tên cướp, một kẻ làm cách mạng, và là một tên giết người. Cái điều mà họ chọn — là thả Baraba hay Chúa Jêsus ra? Chúa Jêsus là một nhân vật của sự hoà bình, một con người dường như vô hại. Còn Baraba là một tội phạm nguy hiểm. Chắc chắn họ sẽ để cho Baraba ở lại trong tù, hắn ta thuộc về chỗ đó, và phải bằng lòng để cho người ta tìm thấy lỗi lầm hay tội ác nơi Chúa Jêsus và chịu tha thứ.
Nếu Philát tưởng người Do thái chịu chấp nhận lời đề nghị nầy, thì ông ta đã lầm. Họ đòi tha cho Baraba, và hành quyết Chúa Jêsus. Bây giờ, đây là việc mà người cầm quyền dân Ngoại nầy không thể hiểu được. Ông ta đã đưa ra cho họ một lời đề nghị mà họ sẽ chấp nhận. Thật là một việc đáng ngạc nhiên!
Khi chúng ta đọc câu chuyện nói tới cuộc xét xử Chúa chúng ta trước mặt giới cầm quyền về mặt chính trị vào thời buổi ấy, cuộc xét xử đó giống như đang xem một trận đấu bóng bàn vậy. Ở mặt nầy, Chúa Jêsus bị đưa qua đưa lại giữa Philát và Hêrốt. Ở mặt kia, cuộc đối thoại giữa Philát và giới lãnh đạo tôn giáo bật qua bật lại, từ bên nầy qua bên kia. Philát nhắc đi nhắc lại lời tuyên bố Chúa Jêsus vô tội, không thấy có tội lỗi gì, còn các nhà lãnh đạo Do thái thì đáp lại bằng cách khẳng định nhất quyết tội lỗi của Ngài, họ chẳng đòi gì khác hơn là án tử hình. Người ta sẽ nghĩ rằng với quyền lực của Rôma sau lưng, Philát khó mà buộc ý muốn của ông trên dân sự, nhưng đây không phải là trường hợp đó. Chúng ta thấy quả thực dân chúng đang thắng thế hơn, và câu chuyện kết thúc với Philát đồng ý theo phương thức của dân chúng, cho dù sự đồng ý nầy sẽ đem lại cái chết cho một người vô tội.
Cấu trúc của phân đoạn Kinh Thánh
Trong phân đoạn nầy có ba bối cảnh. Bối cảnh một (các câu 1-7) diễn ra với sự có mặt của Philát. Bối cảnh hai (các câu 7-12) diễn ra trước mặt Hêrốt, Philát đã chuyển Chúa Jêsus và người Do thái sang cho ông ta, Philát đã thở ra một hơi dài khoan khoái, vì các sai phạm của Chúa Jêsus có được viện dẫn ra trong sự xét đoán là do Hêrốt. Bối cảnh ba (các câu 13-25) đưa chúng ta trở lại, một lần nữa, với chiếc ghế xét đoán của Philát, ông ta cảm thấy mình bất hạnh khi phải là người đưa ra quyết định về những lời tố cáo được lập ra nghịch lại Chúa Jêsus. Mặc dù cứ lặp đi lặp lại những lời tuyên bố về sự vô tội của Chúa Jêsus, bởi Philát (chính) và Hêrốt (do suy luận), không những Chúa Jêsus bị nhạo báng và bị đánh đòn, nhưng Ngài sẽ bị kết án tử hình giống như một tội phạm, trong khi một trong những tên tội phạm nguy hiểm nhất của các nước sẽ được thả tự do.
Những đặc điểm trong câu chuyện của Luca
Từng sách Tin lành đều có một cung cách đặc biệt riêng, trong đó trước giả sắp xếp dữ liệu thật là đặc biệt. Câu chuyện của Luca nói tới cuộc xét xử Chúa Jêsus hoàn toàn khác biệt với các câu chuyện khác. Trước khi bắt đầu nghiên cứu phân đoạn sách Luca, trước tiên chúng ta hãy xét qua một số đặc điểm cá biệt đó.
(1) Câu chuyện của Luca là một câu chuyện ngắn, kể lại cuộc xét xử Chúa chúng ta trước mặt Philát. Đây không phải là câu chuyện ngắn nhất, vì câu chuyện của Mác chỉ có 15 câu, trong khi câu chuyện của Luca là 25 câu. Mathiơ nói tới cuộc xét xử trong 26 câu (với các câu 3-10 đề cập tới sự hối hận và tự tử của Giuđa), và câu chuyện của Giăng là câu chuyện chi tiết nhứt, với 27 câu.
(2) Luca là sách Tin lành duy nhất nhắc tới việc xét xử Chúa chúng ta trước mặt Hêrốt. Ý nghĩa và sự đóng góp của phần nầy sẽ được chỉ ra sau đó.
(3) Câu chuyện của Luca mô tả Philát, chú trọng vào mọi dự tính và mong muốn của ông ta, hơn là chú trọng vào hành động của ông ta. Luca nói cho chúng ta biết rằng Philát đã đề nghị rằng ông ta sẽ cho đánh đòn Chúa Jêsus rồi thả Ngài ra. Luca không nói cho chúng ta biết Chúa Jêsus đã bị đánh đòn nhiều, như đã được thấy trong các câu chuyện tương ứng trong các sách Tin lành khác. Sự thật cho thấy rằng hầu hết những việc mà Philát dự tính làm — như thả Chúa Jêsus ra — ông ta không thể làm được. Cái điều quan trọng thấy được ở đây: ông ta là một kẻ độc tài, với nhiều quyền lực, với nhiều lực lượng vũ trang tùy ý sử dụng hầu đưa ra bất kỳ hành động nào mà ông ta mong muốn.
(4) Luca không nhấn mạnh các áp lực ngoại tại nhắm vào Philát, như các sách Tin lành khác nhấn mạnh. Khi tôi tra xét câu chuyện của Luca, chúng ta thấy hai thế lực chủ yếu đang hiện hữu: mục đích mà Philát đã định là thả Chúa Jêsus ra, ông đã phán quyết Ngài vô tội, và các cấp lãnh đạo tôn giáo, họ quyết rằng Chúa Jêsus phải chết, và nơi bàn tay của Rôma. Mathiơ nói cho chúng ta biết vợ của Philát đã cảnh cáo ông ta chớ xét đoán “người vô tội” nầy, phù hợp với điềm chiêm bao trong ban đêm đó. Câu chuyện của Giăng mô tả ý thức sợ hãi và lạ lùng nơi Philát trước thân vị của Chúa Jêsus.
(5) Luca có một phần nhấn mạnh trên sự vô tội của Chúa Jêsus, như Philát đã lặp đi lặp lại, và ít nhất có sự ám chỉ của Hêrốt nữa.
(6) Cũng rất ấn tượng trong sách Luca (dù rõ ràng trong các câu chuyện khác) là sự im lặng của Chúa Jêsus. Hêrốt đã ép Chúa Jêsus với nhiều câu hỏi, nhưng không có câu trả lời. Philát đã nhận được nhiều câu trả lời, như đã được ghi lại trong các câu chuyện tin lành khác, còn trong câu chuyện của Luca về các sự cố nầy, Chúa Jêsus đã nói duy nhất mấy lời nầy: “Thật như lời” (câu 3). Không có gì khác nữa được ghi lại trong 25 câu nầy về những gì Chúa Jêsus đã nói ra. Điều nầy chẳng có gì ngạc nhiên theo ánh sáng của các lời tiên tri trong Cựu ước, là những lời nói trước về sự im lặng của Đấng Mêsi vô tội (đối chiếu Êsai 53.7).
(7) Câu chuyện có một loại cấu trúc “bóng bàn”, với một cuộc tranh luận qua lại giữa Philát, là người quyết rằng Chúa Jêsus vô tội, và người Do thái, là những kẻ khẳng định Ngài phạm tội trọng. Hãy chú ý đặc điểm nầy khi chúng ta nghiên cứu tới những câu nói qua nói lại trong cuộc tranh cãi giữa Philát và giới lãnh đạo tôn giáo của Israel:
“Đoạn, cả hội đồng đứng dậy, điệu Ngài đến trước mặt Phi-lát. Họ bèn khởi cáo Ngài rằng: Chúng tôi đã thấy người nầy xui dân ta làm loạn, cấm nộp thuế cho Sê-sa, và xưng mình là Đấng Christ, là Vua. Phi-lát gạn Ngài rằng: Chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời. Phi-lát bèn nói với các thầy tế lễ cả và dân chúng rằng: Ta không thấy người nầy có tội gì. Nhưng họ cố nài rằng: Người nầy xui giục dân sự, truyền giáo khắp đất Giu-đê, bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi đến đây. Khi Phi-lát nghe điều đó, thì hỏi nếu người nầy thật là dân Ga-li-lê chăng. Biết Ngài thuộc quyền cai trị của vua Hê-rốt, bèn giải đến cho vua Hê-rốt, vua ấy ở tại thành Giê-ru-sa-lem trong mấy ngày đó. Vua Hê-rốt thấy Đức Chúa Jêsus thì mừng lắm; vì lâu nay vua muốn gặp Ngài, nhân đã nghe nói về chuyện Ngài, và mong xem Ngài làm phép lạ. Vậy, vua hỏi Ngài nhiều câu, song Ngài không trả lời gì hết. Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo ở đó, cáo Ngài dữ lắm. Bấy giờ vua Hê-rốt và quân lính hầu vua đều đãi Ngài cách khinh dể và nhạo báng Ngài; đoạn, họ mặc áo hoa hòe cho Ngài, rồi giao Ngài về cho Phi-lát. Trước kia Phi-lát với vua Hê-rốt thù hiềm nhau, nhưng nội ngày ấy trở nên bạn hữu. Phi-lát hiệp các thầy tế lễ cả, các quan đề hình và dân chúng lại, mà nói rằng: Các ngươi đã đem nộp người nầy cho ta, về việc xui dân làm loạn; nhưng đã tra hỏi trước mặt các ngươi đây, thì ta không thấy người mắc một tội nào mà các ngươi đã cáo; vua Hê-rốt cũng vậy, vì đã giao người về cho ta. Vậy, người nầy đã không làm điều gì đáng chết, nên ta sẽ đánh đòn rồi tha đi. (Số là đến ngày lễ, quan phải tha một tên tù cho dân.) Chúng bèn đồng thanh kêu lên rằng: Hãy giết người nầy đi, mà tha Ba-ra- ba cho chúng tôi! Vả, tên nầy bị tù vì dấy loạn trong thành, và vì tội giết người. Phi-lát có ý muốn tha Đức Chúa Jêsus, nên lại nói cùng dân chúng nữa. Song chúng kêu lên rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự đi! Đóng đinh nó trên cây thập tự đi! Phi-lát lại nói đến lần thứ ba, rằng: Vậy người nầy đã làm điều ác gì? Ta không tìm thấy người có sự gì đáng chết. Vậy, đánh đòn xong, ta sẽ tha. Nhưng chúng cố nài, kêu lớn tiếng rằng phải đóng đinh Ngài trên cây thập tự; tiếng kêu của họ được thắng. Phi-lát truyền làm y như lời chúng xin. Bèn tha tên tù vì tội dấy loạn và giết người, là người chúng đã xin tha; rồi phó Đức Chúa Jêsus cho mặc ý họ.
Chúa Jêsus trước mặt Philát (23.1-7)
“Đoạn, cả hội đồng đứng dậy, điệu Ngài đến trước mặt Phi-lát. Họ bèn khởi cáo Ngài rằng: Chúng tôi đã thấy người nầy xui dân ta làm loạn, cấm nộp thuế cho Sê-sa, và xưng mình là Đấng Christ, là Vua. Phi-lát gạn Ngài rằng: Chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời. Phi-lát bèn nói với các thầy tế lễ cả và dân chúng rằng: Ta không thấy người nầy có tội gì. Nhưng họ cố nài rằng: Người nầy xui giục dân sự, truyền giáo khắp đất Giu-đê, bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi đến đây. Khi Phi-lát nghe điều đó, thì hỏi nếu người nầy thật là dân Ga-li-lê chăng. Biết Ngài thuộc quyền cai trị của vua Hê-rốt, bèn giải đến cho vua Hê-rốt, vua ấy ở tại thành Giê-ru-sa-lem trong mấy ngày đó”.
Dường như trời vừa hừng sáng khi có một số đông người chạy rầm rập đến trước thềm cửa nhà Philát. Philát, có lẽ hơi bực bội, bước ra khỏi giường, ông ta nổi nóng khi giấc ngủ bị ngắt ngang, dù vậy ông cũng không để cho vợ mình phải thức giấc, có lẽ bà vẫn còn nằm ngủ. Khi ngày làm việc của Philát bắt đầu, giấc ngủ của vợ ông đã bị quấy rối bởi một giấc chiêm bao không lấy gì làm dễ chịu lắm, điều quan trọng trong chiêm bao ấy là Chúa Jêsus là một con người vô tội, không nên kết án tử hình (đối chiếu Mathiơ 27.19). Cấp lãnh đạo tôn giáo người Do thái thì rất hung hăng, xông xáo trong cuộc tấn công của họ vào Chúa Jêsus, và trong cách tỏ ra sự mong muốn của họ khiến cho Philát phải cung ứng cho họ những gì họ mong muốn. Không những người Do thái dường như rất “huênh hoang” trong đòi hỏi sự chú ý của Philát trong thời điểm nầy, mà họ còn từ chối không chịu bước vào trong cung điện, buộc ông phải bước ra gặp họ (đối chiếu Giăng 18.28-29).
Luca cho chúng ta biết trong câu 2 rằng Toà Công Luận (hiển nhiên là những người cùng đưa ra bản án, đối chiếu 23.1) đã tống đạt ba bản án nghịch cùng Chúa Jêsus, hết thảy đều liên đới về mặt chính trị (nghĩa là, chống lại nhà nước), và không một điều nào trong số đó nằm trong diện tôn giáo hết. Sau đây là các bản án ấy:
(1) Xúi giục nổi loạn: “làm biến chất thái độ trung thành của dân tộc chúng tôi”.
(2) Cấm nộp thuế cho Rôma.
(3) Xưng mình là Vua.
Tất nhiên, đây là những trọng tội chống nghịch nhà nước, là những tội lỗi không thể bỏ qua, và là những thứ tội gánh lấy án phạt tử hình.
Philát dường như biết rất rõ người Do thái hơn là họ nghĩ. Những nhà cai trị Rôma chẳng thích thú gì trong việc “bị sử dụng” bởi đảng Do thái nầy nghịch với đảng Do thái kia. Thực vậy, không phải tốn kém thời gian để cho Philát nhận ra sự việc nầy, một cuộc tranh giành quyền lực (Mathiơ 27.18; Mác 15.10). Ông ta đã nhìn thấy Chúa Jêsus đang đứng ở trước mặt mình, đã bị đánh đòn và đổ máu rồi từ những sự ngược đãi của lính canh đền thờ nhắm vào Ngài suốt cả đêm (Luca 22.63-65). Ông ta chẳng thấy có gì đáng khiếp sợ hay nguy hiểm về tên phá vỡ quyền lực chính trị nầy hết.
Hãy lưu ý là Philát đã bỏ qua 2 lời kết án đầu tiên. Nếu Chúa Jêsus là một nhà cách mạng, lẽ nào người La mã lại chẳng biết gì về Ngài hết? Thực thế, lẽ nào người La mã lại không biết đến Chúa Jêsus? Chắc chắn họ đã quyết định rằng Ngài chẳng có gì là ngăm doạ cả. Đã có nhiều người làm cách mạng, nhưng Chúa Jêsus không có mặt giữa vòng những kẻ đó. Và lẽ nào tình báo của La mã có chứng cớ Chúa Jêsus đã xui giục người Do thái đừng nộp thuế cho người La mã. Và, khi Chúa Jêsus nhấn mạnh tới sự Ngài bị bắt, há Ngài chẳng dạy cách công khai, hết ngày này sang ngày khác, sự dạy dỗ của Ngài không được ghi chép cách công khai sao (đối chiếu Luca 22.52-53)?
Không, nếu bất kỳ bản án nào trong ba bản án nầy là đúng, thì đó là án sau cùng hết. Ít nhất đây là vấn đề thực đối với giới lãnh đạo tôn giáo Do thái nầy. Và vì thế Philát đã bỏ qua hai án đầu tiên, chỉ yêu cầu Chúa Jêsus trả lời Ngài có phải là “Vua của dân Giuđa” hay không mà thôi. Tôi hiểu Philát không những tra hỏi Chúa Jêsus có phải là vua của dân Giuđa hay không thôi đâu, mà còn hỏi Ngài có phải là vua của người Do thái hay không nữa!?! Lẽ nào ông ta không biết người Do thái đều trông đợi một Đấng Mêsi. Rốt lại, phải chăng người nào trong số những kẻ phạm tội nổi loạn, họ đều xưng mình là Đấng Mêsi (đối chiếu Công vụ Các Sứ Đồ 5.33-39)? Tôi tin, vì cớ đó, trong khi Philát là người bất kỉnh và tàn nhẫn, ít nhất ông ta rất biết rõ về người Do thái.
Người ta sẽ nghĩ sự Chúa chúng ta công nhận rằng Ngài là Đấng Mêsi, Vua của Israel, sẽ khiến cho Philát phải lâm vào chỗ khó xử. Tuy nhiên, Philát dường như chẳng có gì ngạc nhiên lắm. Thực vậy, phải chăng ông chưa biết đây là lời xưng nhận của Chúa Jêsus từ lúc bắt đầu chức vụ công khai của Ngài? Và có phải Giăng Báptít cùng các môn đệ đi đó đi đây để giới thiệu Chúa Jêsus là vua của Israel không? Ngược lại với sự mong đợi của chúng ta, Philát không nao núng bởi sự nhìn nhận của Chúa Jêsus về lai lịch “tự xưng” của Ngài — Ngài tự xưng, nghĩa là, Philát đã biết rõ lâu lắm rồi. Tới điểm nầy, tôi tin Philát có lẽ nhìn xem Chúa Jêsus là một kẻ sẽ ứng phó như một gã “bụi đời” tự xưng mình là Albert Einstein vậy thôi. “Cảm động làm sao”, Philát đã lý luận: “nhưng chắc chắn Jêsus không phải là mối đe doạ cho Rôma hay cho ta, và thậm chí cũng không đối với giới lãnh đạo tôn giáo Do thái nầy”. Sự Philát đánh giá về Chúa Jêsus sẽ làm thay đổi cuộc diện chất vấn của ông ta, tới chỗ ông ta bắt đầu sợ hãi Chúa Jêsus, hoặc ít nhất sự hãi việc kết án tử hình Chúa Jêsus (đối chiếu Mathiơ 27.19; Giăng 19.7, 12).
Philát tuyên bố bản án của mình, song bản án ấy không được tiếp nhận một cách vui vẻ. Ông ta nói: “Ta không thấy người nầy có tội gì” (Luca 23.4). Thực ra, Philát mới vừa thực hiện chức năng của một người ngồi trong hàng ghế của bồi thẩm đoàn mà thôi. Ông ta đã lắng nghe các bản cáo trạng cùng bằng chứng, và ông ta “chẳng kết án” gì Chúa Jêsus hết. Chưa có đủ bằng chứng để xác minh rằng Chúa Jêsus là một tên tội phạm, đáng bị án chết, là bản án mà giới lãnh đạo nầy mong muốn.
Các thầy tế lễ cả và đoàn dân đông không muốn bị từ khước dễ dàng những gì họ quyết phải có cho kỳ được — ấy là huyết của Chúa Jêsus. Họ đã kháng cự, họ khẳng định rằng Chúa Jêsus “khuấy đảo dân chúng khắp xứ Giuđê bằng sự dạy dỗ của hắn, khởi sự từ xứ Galilê, và giờ đây bằng mọi cách hắn tiến vào thành Jerusalem”. Giới lãnh đạo Do thái đã tìm cách nhấn mạnh, truy tố khăng khăng theo cáo trạng của họ, nhưng họ đã đi quá xa. Họ đã chỉ ra rằng Jerusalem là điểm cuối cùng, ở đó Chúa Jêsus đã tạo ra một lượng xáo trộn nào đó. Ngài không phải là người xứ Giuđê, không phải là người của thành phố Jerusalem, mà là một người thuộc xứ Galilê. Đây là chỗ mà chức vụ Ngài đã bắt đầu. Hầu hết chức vụ của Chúa Jêsus đều xuất phát từ xứ Galilê, và vì thế Philát mới cho rằng vụ án nầy thực sự không nằm trong quyền tài phán của ông ta. Vụ án phải chuyển qua cho Hêrốt, vì ông ta là vua cai trị trên xứ Galilê. Và thế là Chúa Jêsus, cùng với giới lãnh đạo tôn giáo Do thái và phần đám đông còn lại, bị gửi đi, từ khi trời còn sớm, để quấy rối Hêrốt.
Tôi có thể nhìn thấy Philát đương mĩm miệng cười thầm, tự chúc mừng mình vì đã loại bỏ được vấn đề gai góc nầy. Thực ra, ông ta đã thành công trong việc đưa nan đề ấy sang cho một người mà thực sự ông ta chẳng ưa thích gì cho lắm. “Vụ nầy phải giao sang cho ông ta thì mới đúng”, tôi có thể nghe thấy Philát đang suy gẫm trong lòng như thế. Có lẽ Philát đã dựa hẳn lưng mình vào chiếc ghế bành rồi truyền dọn bữa điểm tâm. Đúng là một bữa ăn rất sảng khoái đáng phải có. Đúng là một ngày thật xinh đẹp. Không còn lo lắng chi về Jêsus nữa, hay dường như là như vậy. Thật không may thay, vì Hêrốt cũng vừa có mặt tại thành Jerusalem vào thời điểm đó (đối chiếu Luca 23.7).
Chúa Jêsus trước mặt Hêrốt (23.8-12)
“Vua Hê-rốt thấy Đức Chúa Jêsus thì mừng lắm; vì lâu nay vua muốn gặp Ngài, nhân đã nghe nói về chuyện Ngài, và mong xem Ngài làm phép lạ. Vậy, vua hỏi Ngài nhiều câu, song Ngài không trả lời gì hết. Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo ở đó, cáo Ngài dữ lắm. Bấy giờ vua Hê-rốt và quân lính hầu vua đều đãi Ngài cách khinh dể và nhạo báng Ngài; đoạn, họ mặc áo hoa hòe cho Ngài, rồi giao Ngài về cho Phi-lát. Trước kia Phi-lát với vua Hê-rốt thù hiềm nhau, nhưng nội ngày ấy trở nên bạn hữu”.
Khi Philát dường như có một ít thú vị nơi Chúa Jêsus và hiển nhiên không có một lần tiếp xúc nào trước với Ngài, Hêrốt ít nhất đã có một lượng tiếp xúc gián tiếp nào đó rồi. Hãy nhớ rằng một trong những người đờn bà đã đi theo Chúa Jêsus và đã giúp ủng hộ Ngài là Joanna vợ của Chuxa, viên quản gia của Hêrốt (Luca 8.2; đối chiếu 24.10). Và tất nhiên là giữa Hêrốt và Giăng Báptít đã có một mối quan hệ. Chúng ta hãy ôn lại vắn tắt những gì Luca đã nói về Hêrốt trong sách Tin lành của ông.
Hêrốt Antipas
Luca 3.1: “Năm thứ mười lăm đời Sê-sa Ti-be-rơ, khi Bôn-xơ Phi-lát làm quan tổng đốc xứ Giu-đê, Hê-rốt làm vua chư hầu xứ Ga-li-lê, Phi-líp em vua ấy làm vua chư hầu xứ Y-tu-rê và tỉnh Tra-cô-nít, Ly-sa-ni-a làm vua chư hầu xứ A-by-len, An-ne và Cai-phe làm thầy cả thượng phẩm, thì có lời Đức Chúa Trời truyền cho Giăng, con Xa-cha-ri, ở nơi đồng vắng. Giăng bèn dạo qua hết thảy miền lân cận sông Giô-đanh, giảng dạy phép báp-tem về sự ăn năn để được tha tội”.
Luca 3.19: “Song Hê-rốt, vua chư hầu, đã bị Giăng can gián về việc Hê-rô-đia vợ của em mình, cùng về các điều ác vua đã làm, thì lại thêm một điều ác nữa, là bắt Giăng bỏ tù”.
Luca 9.7: “Bấy giờ, Hê rốt là vua chư hầu, nghe nói về các việc xảy ra, thì không biết nghĩ làm sao; vì kẻ nầy nói rằng: Giăng đã từ kẻ chết sống lại; kẻ khác nói rằng: Ê-li đã hiện ra; và kẻ khác nữa thì rằng: Một trong các đấng tiên tri đời xưa đã sống lại. Song Hê-rốt thì nói: Ta đã truyền chém Giăng rồi: vậy người nầy là ai, mà ta nghe làm những việc dường ấy? Vua bèn tìm cách thấy Đức Chúa Jêsus”.
Luca 13.31: “Cũng trong lúc đó, có mấy người Pha-ri-si đến thưa Ngài rằng: Thầy nên bỏ chỗ nầy mà đi, vì vua Hê-rốt muốn giết thầy. Ngài đáp rằng: Hãy đi nói với con chồn cáo ấy rằng: Ngày nay, ngày mai, ta đuổi quỉ chữa bịnh, đến ngày thứ ba, thì đời ta sẽ xong rồi. Nhưng ngày nay, ngày mai, và ngày kia ta phải đi, vì không có lẽ một đấng tiên tri phải chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem”.
Sách Tin lành Mác ghi lại một sự cố rất lý thú quan hệ tới Hêrốt, đây là điều mà tin lành Luca không nhắc tới:
“Có mấy người Pha-ri-si đến đó, cãi lẽ với Ngài, muốn thử Ngài, thì xin một dấu lạ từ trên trời. Đức Chúa Jêsus than thở trong lòng mà rằng: Làm sao dòng dõi nầy xin dấu lạ? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, họ chẳng được ban cho một dấu lạ nào. Ngài bèn bỏ họ, trở vào thuyền mà qua bờ bên kia. Vả, môn đồ quên đem bánh theo, trong thuyền chỉ có một cái bánh mà thôi. Ngài răn môn đồ rằng: Hãy giữ mình cẩn thận về men người Pha-ri-si, và men đãng Hê-rốt. Môn-đồ nói cùng nhau rằng: Ấy là vì chúng ta không có bánh. Nhưng Đức Chúa Jêsus biết điều đó, thì phán rằng: Sao các ngươi nói cùng nhau rằng đó là tại các ngươi không có bánh? Chớ các ngươi còn chưa nghe, chưa hiểu sao? Các ngươi có lòng cứng cỏi luôn ư? Các ngươi có mắt mà sao không thấy? Có tai mà sao không nghe? Các ngươi lại không nhớ hay sao? Khi ta bẻ năm cái bánh cho năm ngàn người, các ngươi thâu được mấy giỏ đầy bánh vụn? Thưa: Mười hai giỏ. Còn khi ta bẻ bảy cái bánh cho bốn ngàn người, các ngươi thâu được mấy giỏ đầy bánh vụn? Thưa: Bảy giỏ. Ngài phán: Các ngươi còn chưa hiểu sao?” (Mác 8.11-21).
Trong câu chuyện của Mác, Chúa Jêsus đã cảnh cáo các môn đồ của Ngài phải “hãy giữ mình cẩn thận về men của người Pharisi, và men đảng Hêrốt” (câu 15). Các môn đồ có thể suy nghĩ theo nghĩa đen của “men” và “bánh”. Khi Chúa Jêsus đã nhắc tới “men” họ đã có từ quan hệ với “bánh” rồi. Khi nhắc tới những từ như thế cho lý trí, họ đã không nhớ phải mang theo “bữa trưa” với họ. Và vì vậy ở giữa một từ cảnh cáo rất quan trọng, tư tưởng của các môn đồ đã hướng vào đồ ăn. Lời lẽ của Chúa Jêsus nối theo sau không phải là một sự giải thích về “men” mà đúng hơn là một lời quở trách có quan hệ tới “bánh”, chính bài học mà hai phép lạ cho nhiều người ăn đã được dự trù để dạy dỗ họ.
Vì cớ đó Chúa Jêsus đã nhắc cho họ nhớ rằng trong cả hai trường hợp tại chỗ mà nhiều người thiếu đồ ăn, khi mọi điều đã được nói và được làm ra, đã có một sự dư thừa, và họ đã thu lại lượng thức ăn thừa đó vào trong mấy cái giỏ. Mục đích ở đây là các môn đồ của Chúa Jêsus không cần phải quan tâm về “đồ ăn”, vì Chúa sẽ làm thoả mãn mọi nhu cần về thuộc thể và về phần xác cho họ, một nguyên tắc thường được thấy trong các sách Tin lành (đối chiếu Luca 12.22...). Và vì thế, khi Chúa Jêsus nói tới “men” các môn đồ Ngài sẽ không bị cuốn vào việc suy nghĩ tới bữa ăn kế đó của họ, mà họ tự do suy nghĩ về mọi hàm ý thuộc linh trong lời phán dạy của Ngài.
Và đâu là bài học thuộc linh mà Chúa Jêsus có trong trí khi Ngài cảnh cáo họ về “men” của người Pharisi và về men của đảng Hêrốt? Văn mạch đứng trước Mác 8 cho chúng ta biết (Mác 8.11-12). Người Pharisi và Hêrốt, cả hai đều muốn Chúa Jêsus làm một vài phép lạ nào đó, để chứng minh rằng Ngài thực sự là Đấng Mêsi. Cả hai đều trông mong các chứng cớ ngoại tại, thay vì nhìn xem các lời tiên tri trong Cựu ước nói về Đấng Mêsi, để xem coi Chúa Jêsus có thực sự đã làm ứng nghiệm chúng hay không!?! Theo chiều hướng nầy, các môn đồ của Chúa chúng ta đã từng trải qua chính nỗi ám ảnh đã làm cho Hêrốt và người Pharisi phải bị mù đi — một nỗi ám ảnh về mặt bề ngoài và về mặt thuộc thể, là những điều có thể thấy được bằng mắt thường, ngược lại với những việc “không thấy được”, chỉ có đức tin mới “thấy” được mà thôi (đối chiếu Giăng 20.29; Hêbơrơ 11.1).
Chúng ta chẳng có gì phải ngạc nhiên hết, khi Luca cho chúng ta biết rằng Hêrốt rất vui sướng khi nhìn thấy Chúa Jêsus, không giống như Philát, đồng sự người La mã của ông (Luca 23.8). Hêrốt rất sốt sắng muốn gặp Chúa Jêsus. Thực vậy, ông ta mong gặp được Chúa Jêsus với một thời gian khá lâu (Luca 9.9). Nhưng, như Chúa Jêsus đã cảnh cáo các môn đồ Ngài trước đó (trong Mác 8), mọi động lực của hắn là sai lầm. Hắn mong muốn nhìn thấy Chúa Jêsus làm ra một phép lạ nào đó. Nếu Ngài làm theo như vậy, hắn sẽ cho Ngài là quan trọng hơn Giăng là người chẳng làm ra một dấu lạ nào. Và nếu Hêrốt có may mắn lập một liên minh với một Đấng Mêsi hay làm phép lạ, thì sự liên kết nầy sẽ có lợi như thế nào cho chính địa vị và quyền lực của hắn ta?
Chúng ta có thể nói từ các sách Tin lành, là Chúa Jêsus chưa hề có một lần tiếp xúc trực tiếp nào với Hêrốt cả. Đã có những “mắc xích” khác nhau giữa hai người, như chúng ta đã nhận biết ở trên. Và đã có, thực vậy, “mối đe doạ” mà người Pharisi đã gắn cho Chúa Jêsus, họ cảnh cáo Ngài Hêrốt muốn giết Ngài. Nếu đây là báo cáo thực, có một điều mà người ta không dám chắc, Chúa Jêsus bất chấp điều đó, Ngài đưa ra cho người Pharisi một sứ điệp để mang về cho Hêrốt, một sứ điệp chứa quyết định của Ngài phải bày tỏ ra sứ mệnh của Ngài, mà chẳng có tình trạng lệch hướng hay thoả hiệp.
Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo đang đứng gần đó, thường lặp đi lặp lại các bản án nghịch lại Chúa Jêsus, thúc đẩy Hêrốt phải tìm cho ra tội lỗi của Chúa Jêsus. Dường như dù Hêrốt hoàn toàn chẳng biết đến họ. Và, tương tự, Chúa Jêsus đã không đáp chi với Hêrốt hết. Quả là thất vọng làm sao, Hêrốt đã đưa ra cho Chúa Jêsus nhiều câu hỏi, chúng đã được dự trù để rút ra một loạt nhiều phép lạ, hay ít nhất một bằng chứng nào đó về quyền phép của Ngài. Luca cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus không nói một lời nào với Hêrốt cả. Mọi sự hắn ta nhận được nơi phần đáp ứng từ Chúa Jêsus là sự im lặng. Đây đúng là một cú đấm nặng nề vào sự kiêu căng của nhân vật nầy, là kẻ thường đạt được mọi sự theo ý muốn riêng của mình, và để bắt dân sự phải đầu phục quyền lực của hắn ta. Chúa Jêsus không có một lời nào cho hắn ta, không một lời nào hết.
Hêrốt đã lọt vào một tình trạng ngượng ngịu lắm ở đây. Rõ ràng là giới lãnh đạo tôn giáo đã muốn kết án tử hình Chúa Jêsus. Suốt thời gian ấy hắn ta đã tìm cách chất vấn Chúa Jêsus, họ cứ giữ y các cáo trạng của họ. Song thực sự là họ chẳng có một bằng chứng cụ thể nào để đưa ra các cáo trạng đó. Và vì Chúa Jêsus không chịu nhìn nhận, nên họ bị rơi vào thế bí. Sự thể cho thấy đây không phải là một vị thế có lợi cho Hêrốt. Chính tại điểm nầy hắn phải đưa ra một hành động. Hắn đang che đậy sự thất bại của mình, khi không ép được Chúa Jêsus làm ra một phép lạ, và đồng thời làm vui lòng lính tráng của mình và ít nhất là đứng cùng phía với giới lãnh đạo tôn giáo bằng cách chế giễu Chúa Jêsus. Và nhờ đó trong mọi sự nầy, hắn đã tránh không đưa ra một chỗ đứng rõ ràng đối với Chúa Jêsus. Mặc dù Philát sẽ gợi ý là Hêrốt đã thấy Chúa Jêsus là vô tội, Hêrốt đã tránh né cơn giận dữ của các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo bằng cách không tuyên bố ra bất kỳ một bản án nào hết. Dường như hắn ta muốn có một “chỗ đứng vững chắc” cho cả hai phía về nan đề nầy. Đúng là một nhà chính trị! Ở phần phân tích sau cùng, Hêrốt đã buộc Philát phải đưa ra quyết định mà hắn ta không muốn tự bản thân mình đưa ra. Và hắn đã làm như thế với một phương thức chiếm được cảm tình của một kẻ từng là cựu thù. Giờ đây, khi làm được như thế thì đúng là một kỳ công.
Tại sao Luca kể ra sự kiện nầy với Hêrốt trong khi chẳng có một trước giả tin lành nào khác nhắc tới? Tôi tin thật là quan trọng khi nhìn thấy mọi người đều chối bỏ không nhận Chúa Jêsus là Đấng Mêsi, kể cả Hêrốt. Nhưng tuyệt đối là cần thiết cho Rôma và dân Ngoại cùng dự phần vào sự chối bỏ và sự đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá, hầu cho hết thảy mọi người, không những là người Do thái, đều phạm vào huyết vô tội của Ngài. Vì vậy, Hêrốt đang đóng một vai trò, nhưng đây là thời điểm cho dân Ngoại tỏ ra sự họ xem khinh đối với Đấng Cứu Thế.
Chúa Jêsus trước mặt Philát một lần nữa (23.13-25)
“Phi-lát hiệp các thầy tế lễ cả, các quan đề hình và dân chúng lại, mà nói rằng: Các ngươi đã đem nộp người nầy cho ta, về việc xui dân làm loạn; nhưng đã tra hỏi trước mặt các ngươi đây, thì ta không thấy người mắc một tội nào mà các ngươi đã cáo; vua Hê-rốt cũng vậy, vì đã giao người về cho ta. Vậy, người nầy đã không làm điều gì đáng chết, nên ta sẽ đánh đòn rồi tha đi. (Số là đến ngày lễ, quan phải tha một tên tù cho dân.) Chúng bèn đồng thanh kêu lên rằng: Hãy giết người nầy đi, mà tha Ba-ra- ba cho chúng tôi! Vả, tên nầy bị tù vì dấy loạn trong thành, và vì tội giết người. Phi-lát có ý muốn tha Đức Chúa Jêsus, nên lại nói cùng dân chúng nữa. Song chúng kêu lên rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự đi! Đóng đinh nó trên cây thập tự đi! Phi-lát lại nói đến lần thứ ba, rằng: Vậy người nầy đã làm điều ác gì? Ta không tìm thấy người có sự gì đáng chết. Vậy, đánh đòn xong, ta sẽ tha. Nhưng chúng cố nài, kêu lớn tiếng rằng phải đóng đinh Ngài trên cây thập tự; tiếng kêu của họ được thắng. Phi-lát truyền làm y như lời chúng xin. Bèn tha tên tù vì tội dấy loạn và giết người, là người chúng đã xin tha; rồi phó Đức Chúa Jêsus cho mặc ý họ”.
Nếu Philát tưởng ông không còn gặp rắc rối với Chúa Jêsus, ông ta đã lầm rồi. Có lẽ trong suốt thời gian Chúa Jêsus đứng chịu xét xử trước mặt Hêrốt, sứ điệp đến từ vợ của Philát cho biết rằng nàng đã có một điềm chiêm bao khó nhọc lắm, nàng cảnh cáo chồng mình đừng đụng gì đến “người công bình đó” (Mathiơ 27.19). Có thể ông ta tự nhũ thầm rằng: “Lo gì. Ta sẽ gửi Jêsus đến Hêrốt. Giờ đây hắn là nan đề của Hêrốt”. Khi tiếng ồn ào của đám dân đông bắt đầu kéo đến gần hơn và càng ồn ào hơn, Philát vốn biết rằng ý ông muốn dìm vụ án Jêsus có hay không có tội sẽ chẳng có ai biết hết.
Không những từ câu 13, mà còn từ các câu chuyện tương đương, cho thấy rằng Philát đã gạt Chúa Jêsus qua một bên sau khi Ngài bị đưa trở lại từ cuộc “tra xét” trước mặt Hêrốt, và ông đã cố gắng làm thoả lòng mình về Jêsus có hay không có tội. Khi ông ta xuất hiện, Philát đã cho đòi các thầy tế lễ cả cùng các quan cai trị dân sự (vì chính họ là những người đã thúc đẩy ông đưa ra bản án luận tội) và đã lặp đi lặp lại rằng ông chưa thấy thuyết phục lắm về bất kỳ bản cáo trạng tội lỗi nào là trường hợp cho thấy Chúa Jêsus xứng đáng với cáo trạng đó, ông nhắc cho họ nhớ rằng bởi các hành động của ông ta, rằng Hêrốt cũng đã công nhận tình trạng vô tội của Chúa Jêsus.
Sau khi đã lặp đi lặp lại, vì lần thứ hai trong câu chuyện của Luca, tình trạng vô tội của Chúa Jêsus, Philát đưa ra một câu nói mập mờ với giới lãnh đạo tôn giáo của người Do thái. Ông nói cho họ biết là ông sẽ đánh đòn Chúa Jêsus, rồi sẽ thả Ngài ra (Luca 23.16). Tôi cho rằng hình phạt đã được nói tới là hình phạt đã được mô tả trong những câu chuyện tương đương khi Chúa Jêsus đã bị đánh đòn rất nặng nề (đối chiếu Giăng 19.1-3). Bây giờ, nếu Chúa Jêsus được coi là vô tội, sao lại bị đánh đòn? Vì Philát đã cố gắng trấn an lương tâm của ông ta, trong khi nổ lực trấn an đoàn dân đông thù nghịch cùng một lúc. Philát đã hy vọng, dường như vậy, làm thoả mãn đám đông khát máu kia bằng cách đánh đòn Chúa Jêsus thật tồi tệ đến nỗi đem Ngài trong hình ảnh tồi tệ ra trình diện cho họ thấy hầu cho họ sẽ thương xót Ngài. Philát không nhắm thẳng vào thái độ thù địch của các thầy tế lễ cả cùng các cấp lãnh đạo tôn giáo.
Điều thú vị là trong câu chuyện của Luca chỉ có những toan tính của Philát đã được ghi chép lại. Nghĩa là, Philát đã tuyên bố chính dự tính của ông ta là “đánh đòn” Chúa Jêsus, nhưng Luca không tiếp tục trình bày lại Chúa Jêsus đã bị họ đánh đòn. Những gì xảy ra cho Chúa Jêsus ở đây Luca đều không nhắm tới nhiều cho bằng những gì Philát (và Hêrốt nữa) muốn thực thi với Ngài.
Chính tại thời điểm nầy tên của Baraba xuất hiện. Các trước giả của bản Kinh Thánh NIV và bản NASB đã chọn bỏ qua câu 17 vì cớ câu nầy không có trong những bản thảo xưa hơn (dù không nhất thiết là “hay hơn” — đây là một đề tài tranh cãi dữ dội). Tôi tin rằng không những câu nầy được chấp nhận là một phần trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, mà chúng ta phải chấp nhận câu ấy vì sự nhắc nhở của nó trong những câu chuyện tương ứng. Không cứ cách nào đó thông lệ đã được nhắc tới, thông lệ nầy là thả một tù phạm người Do thái cho người Do thái, dường như đây là một động thái “có ý tốt”.
Từ phần ghi lại trong các câu chuyện tương ứng, tôi tin Philát đã dấy Baraba lên như một lời đề nghị thứ hai với giới lãnh đạo tôn giáo Do thái như thế nầy với hy vọng rằng ông ta sẽ trấn an họ và cũng bảo đảm cho họ về sự thả Chúa Jêsus ra. Thời điểm ấy mỗi năm, chúng ta được kể lại rằng Philát sẽ thả ra một tù phạm. Tại sao không kết Chúa Jêsus vào tội phản bội — để nhà cầm quyền đồng ý với bản án mà cộng đồng tôn giáo đương có đối với Chúa Jêsus — mà lại cho tha Ngài, như một động thái “có ý tốt”? Tất nhiên là đã có tên “tội phạm” khác mà Philát muốn tha — đó là Baraba — nhưng hắn là một con người rất nguy hiểm. (Có thể hắn đã bị hoạch định hành hình trong chính ngày ấy, và quả thực, Chúa Jêsus đã bị thế vào chỗ đó của hắn? Chắc chắn họ không muốn thấy Ngài trở lại với đường phố).
Đây là điều đã gây bàng hoàng, là điều tôi không nghĩ là Philát đã mong đợi như vậy. Làm sao mà giống dân nầy lại thích thả Baraba ra cho họ hơn là Jêsus chứ? Baraba là một tên cướp, một người làm cách mạng, một tên khủng bố (dường như vậy) và là một tên giết người. Chúa Jêsus, trong khi đã có những ảo giác về sự vĩ đại không thật (hoặc Philát đã nghĩ như thế lúc bấy giờ), không phải là một con người nguy hiểm. Ngài là một con người của hoà bình, một người đã làm ra nhiều việc kỳ diệu để giúp đỡ cho đồng bào của Ngài. Việc đưa Baraba ra, rõ ràng, là một lời đề nghị mà không một người Do thái nào có ý thức lại có thể chấp nhận được; lời đề nghị (thả) Chúa Jêsus ra, là một lời đề nghị mà không có một người Do thái nào có ý thức lại bỏ đi bao giờ. Nếu Philát nghĩ như thế, thực ra ông ta đã lầm rồi.
Đoàn dân đông, bị các thầy tế lễ cả cùng những thầy thông giáo kích động, đã yêu cầu cái chết dành cho Chúa Jêsus và đòi thả Baraba ra. Tôi e là Philát đã lùng bùng hai lỗ tai của ông ta. Tại sao họ thù ghét nhân vật nầy nhiều như thế? Philát mong muốn thả Chúa Jêsus ra rất nhiều (23.20). Song không đơn giản khi tuyên bố như vậy, chắc chắn Philát đã không muốn thả Baraba ra. Con người đó chẳng có gì khác hơn là rắc rối. Hắn ta chỉ đáng phải ở lại trong chỗ giam cầm mà thôi. Và vì vậy Philát đã nài nỉ, một lần nữa, về sự thả Chúa Jêsus ra. Một lần nữa tình trạng vô tội của Chúa Jêsus đã được nhắc đi nhắc lại, và dự tính không chút thương xót đánh đòn Ngài của Philát và rồi thả Ngài ra đã được lặp lại một lần nữa.
Những người Do thái đang có mặt khi ấy không muốn nghe điều đó. Với nhiều tiếng gào thét lớn tiếng họ đã đòi đóng đinh Đấng Christ lên thập tự giá và đòi thả tên cướp kia. Và Philát đành nhượng bộ, chiều theo ý của họ. Những câu sau cùng cho thấy mọi sự đó. Philát đã thả ra cho họ một kẻ từng rất nguy hiểm cho xã hội, Baraba, trong khi hắn đã giữ Chúa Jêsus lại trong sự giam cầm, để Ngài bị treo trên thập tự giá của người La mã, chịu đóng đinh vì những tội ác mà Philát biết rõ Ngài không có phạm vào.
PHẦN KẾT LUẬN
Việc đầu tiên phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta cho thấy là Chúa Jêsus đã chịu chết, không phải vì Ngài phạm tội lỗi gì, hay phá vỡ điều luật nào, mà chỉ vì Ngài là Con vô tội của Đức Chúa Trời, và vì Ngài đã công nhận Ngài chính là “Vua của Israel”. Philát, ông ta chẳng có “thân thiết” gì với người Do thái hay với Chúa Jêsus, đã nhắc đi nhắc lại sự thật là Chúa Jêsus không phạm phải một lỗi lầm hay một tội ác nào hết, và chẳng có một tội lỗi gì đáng chết cả, thậm chí ngay cả điều mà giới lãnh đạo tôn giáo đã buộc nữa.
Việc thứ hai tôi tin là Đức Thánh Linh đã dự trù cho chúng ta học hỏi từ câu chuyện của Luca về cuộc xét xử Chúa Jêsus trước mặt Philát và Hêrốt là điều nầy: sự chối bỏ và sự đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá không những là của người Do thái, không phải của người dân Ngoại, mà đó là sự chối bỏ của cả hai. Tôi tin đây là lý do tại sao chỉ một mình Luca kể ra câu chuyện nói tới Chúa Jêsus ở trước mặt Hêrốt. Hãy lưu ý phần lý giải của các vị sứ đồ về vấn đề nầy như đã được ghi lại trong sách Công vụ Các Sứ Đồ không bởi ai khác hơn là Luca:
“Mọi người nghe đoạn, thì một lòng cất tiếng lên cầu Đức Chúa Trời rằng: Lạy Chúa, là Đấng dựng nên trời, đất, biển, cùng muôn vật trong đó, và đã dùng Đức Thánh Linh, phải bởi miệng tổ phụ chúng tôi, tức là đầy tớ Ngài, là vua Đa-vít, rằng: Vì sao các dân nổi giận, lại vì sao các nước lập mưu vô ích? Các vua trên mặt đất dấy lên, các quan hiệp lại, mà nghịch cùng Chúa và Đấng chịu xức dầu của Ngài.... Vả, Hê-rốt và Bô-xơ Phi-lát, với các dân ngoại, cùng dân Y-sơ-ra-ên thật đã nhóm họp tại thành nầy đặng nghịch cùng Đầy tớ thánh Ngài là Đức Chúa Jêsus mà Ngài đã xức dầu cho, để làm mọi việc tay Ngài và ý Ngài đã định rồi” (Công vụ Các Sứ Đồ 4.24-28).
Luca cho chúng ta biết rằng câu chuyện tin lành của ông đã được dự trù để thiết lập về mặt lịch sử và để chứng minh bằng tư liệu sự cộng tác giữa Hêrốt và Philát, và theo một ý nghĩa rộng rãi hơn giữa người Do thái và dân Ngoại, để kết Chúa Jêsus, Đấng Mêsi vào án tử hình
Nếu sự chối bỏ không nhận Chúa Jêsus là Đấng Mêsi là một hành động chung của cả người Do thái và dân Ngoại, đó cũng là một quyết định có tính cách nhất trí, mà mọi người đồng đưa ra. Không có ai đứng bênh vực cho Cứu Chúa hết. Tất cả đều đã chối bỏ Ngài, đúng vào giờ phút nầy. Các môn đồ đã bỏ trốn. Giuđa giờ đây đã cất bỏ mạng sống của hắn. Mọi người đều được nhắc tới trong mấy câu nầy của chương 23, họ đã chối bỏ không nhận Chúa Jêsus là Vua.
Trong khi hình thức mà họ đưa ra đều rất khác nhau, trong mỗi trường hợp cốt lõi đều như nhau. Các thầy tế lễ cả cùng các cấp lãnh đạo của người Do thái đều tỏ ra tư thế thù nghịch hung hăng đối với Chúa Jêsus. Nghĩa là rất hiển nhiên trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, vì họ, với tư thế gây hấn, dữ dằn, họ chẳng đòi một điều gì khác hơn là hành quyết Ngài.
Việc thứ ba mà phân đoạn Kinh Thánh nầy dạy dỗ chúng ta là tình trạng tội lỗi hoàn toàn của nhân loại, như đã rõ ràng trong sự chối không nhận Chúa Jêsus là Vua của người Do thái. Khi tôi xem xét những cá nhân do Luca mô tả lúc xét xử Chúa chúng ta, tôi thấy rằng phần mô tả về tình trạng tội lỗi của con người ở Rôma 3 là thích ứng lắm với trường hợp nầy. Khi quí vị đọc những lời mô tả đáng nhớ nầy, hãy nhớ rằng đây là sự chọn lọc những câu nói trích ra từ Cựu ước, mô tả tình trạng tội lỗi và hư mất của con người:
“như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không. Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng. Chúng nó có chơn nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu. Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn, Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an. Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó” (Roma 3.10-18).
Đây là một việc mà Philát đã thất bại không chu toàn. Dường như ông ta đã nghĩ rằng khán thính giả của ông ta là một nhóm có đầu óc, hay lý luận, họ lắng nghe rất khách quan, tra xét, và chấp nhận bản án của ông. Nếu ông ta nghĩ như thế, ông ta đã lầm. Dường như ông ta đã cảm nhận rằng nếu Chúa Jêsus bị đánh đòn đủ nặng nề rồi, họ sẽ động lòng thương xót Ngài và từ bỏ đòi hỏi Ngài phải bị đóng đinh trên cây thập tự. Nếu đây là suy tưởng của ông ta, một lần nữa ông ta đã lầm. Và dường như ông ta đã nghĩ rằng nếu ông ta tìm thấy Chúa Jêsus phạm tội, rồi kế đó cho phép đám đông chọn lựa giữa việc tha Baraba, một tội phạm cứng đầu, và Chúa Jêsus, họ sẽ nhận lấy Chúa Jêsus. Một lần nữa, ông ta đã sai lầm.
Điều chủ yếu quan trọng khi công nhận rằng hết thảy những kẻ có mặt tại phiên xử nầy là sai lầm, và thực vậy hết thảy họ đều chối bỏ Chúa Jêsus, không những là người Do thái. Rõ ràng, giới lãnh đạo tôn giáo tỏ vẻ thù nghịch đối với Chúa Jêsus và đòi Ngài phải bị kết án tử hình. Trong một hình thái khác, Hêrốt cũng đã chối bỏ Chúa Jêsus. Ông ta sốt sắng lắm muốn nhìn thấy Ngài. Không cứ cách nào đó, ông ta là một con người tôn giáo, một người đã lắng nghe Giăng Báptít với sự thích thú kỉnh kiền. Nhưng khi Hêrốt đã trông thấy Chúa Jêsus không nhảy qua nổi “chiếc vòng đồ chơi của con cái ông ta”, rằng Ngài đã không làm phép lạ cho ông ta xem, và rằng Ngài chẳng giúp gì cho những sở thích cùng tham vọng riêng tư của ông ta, Hêrốt đã chối bỏ Chúa Jêsus, đã đưa ra lời chế giễu Ngài công khai. Những tên lính, cả của Hêrốt và của Philát, đều sai lầm, vì họ đã ngược đãi và nhạo báng Đấng Mêsi. Và khi ấy đã có Philát. Ông ta không che giấu một sự thù nghịch nào đối cùng Chúa Jêsus, nhưng ông ta không chấp nhận Ngài vì Ngài là Đấng gì gì đó!?! Philát dường như chỉ mong muốn rằng Chúa Jêsus phải tránh đi chỗ khác mà thôi. Sự chối bỏ của ông ta là sự chối bỏ rất trí thức, khác biệt, bất vụ lợi. Nhưng quí bạn tôi ơi, đó là sự chối bỏ.
Tôi không biết quí vị có đáp ứng như thế nào đối với Đức Chúa Jêsus Christ, nhưng nếu đáp ứng đó kém cõi hơn sự tiếp nhận Ngài là Con thiêng liêng của Đức Chúa Trời, là Vua của Israel, và là Cứu Chúa của thế gian, đáp ứng ấy vẫn chưa phải là đủ đâu, và đó là sự chối bỏ. Sự chối bỏ của quí vị có thể là sự chối bỏ rất trí thức. Thực thế, có thể là quí vị chẳng chối bỏ Ngài chi hết. Có lẽ quí vị đã phớt lờ Ngài. Nhưng nếu quí vị không tiếp nhận Ngài là Đấng Mêsi của Đức Chúa Trời, quí vị đã chối bỏ Ngài. Nếu quí vị và tôi có mặt trong ngày mà Chúa Jêsus bị đưa ra xét xử, tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ có mặt ở bên cạnh một trong những nhóm chối bỏ nầy, và không ở một bên cạnh với Cứu Chúa đâu.
Sự thể dường như rất khó tin, có phải không? Những người đó có thể thù ghét Đức Chúa Trời, đến nỗi họ có thể thù ghét Ngài trong vai trò của Đức Chúa Trời chăng? Những kẻ nào đã chối bỏ Chúa Jêsus trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, họ đã chối không nhận Ngài là Đấng Mêsi đã được hứa cho, là Vua của họ, cho dù Ngài vô tội. Sâu xa hơn nữa, cho dù mọi sự trong đời sống và chức vụ Ngài cho thấy rằng Ngài là công bình, và Ngài chính là Con của Đức Chúa Trời.
Trong tình trạng trí thức mà với đó người ta thường chối bỏ Đấng Christ, chúng ta thường không nhìn thấy thái độ thù nghịch, oán hận mà những người nam người nữ chưa được cứu có đối cùng Đức Chúa Trời. Khi tôi sửa soạn sứ điệp nầy, tôi được nhắc nhớ tới quyển sách do R. C. Sproul viết, có đề tựa là “Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời” (The Holiness of God). Chương kết luận của Sproul ghi như sau: “Đức Chúa Trời trong hai bàn tay của hạng tội nhân dữ dằn”. Trong chương nầy Sproul nhắc cho chúng ta nhớ rằng hạng người sa ngã không sống trung lập đối cùng Đức Chúa Trời đâu — họ thù ghét Ngài. Ông viết:
“Bởi bổn tánh, thái độ của chúng ta đối cùng Đức Chúa Trời không phải là thái độ dửng dưng đâu. Thái độ đó là thái độ độc ác. Chúng ta chống đối nhà cầm quyền của Ngài và từ chối quyền Ngài tể trị trên chúng ta. Tấm lòng thiên nhiên của chúng ta không có tình cảm dành cho Ngài; chúng nguội lạnh, đóng băng trước sự thánh khiết của Ngài. Theo bổn tánh ấy, tình yêu thương của Đức Chúa Trời không ở trong chúng ta”.
Khi nói rằng con người thiên nhiên xem Đức Chúa Trời là kẻ thù thì vẫn chưa phải là đủ… Chúng ta phải nói cho chính xác hơn. Đức Chúa Trời là kẻ thù bất tử của chúng ta. Ngài tiêu biểu cho mối đe doạ cao nhất mọi ham muốn tội lỗi của chúng ta. Tuyệt đối chúng ta luôn cảm thấy ghét bỏ Ngài, không có một cấp độ nào kém hơn thế nữa. Không một lượng thuyết phục nào của con người hoặc bất kỳ một sự bàn bạc nào từ các triết gia hay những nhà thần học có thể làm cho chúng ta giảm bớt để biết kính sợ Đức Chúa Trời. Chúng ta xem khinh sự hằng hữu của Ngài và sẽ làm bất cứ điều chi với khả năng của chúng ta để tống khứ toàn bộ sự hiện diện thánh kihết của Ngài”.
Nếu Đức Chúa Trời chịu đặt sự sống của Ngài vào hai bàn tay của chúng ta, Ngài sẽ không được an ninh đâu, dù chỉ một giây đồng hồ. Chúng ta sẽ không phớt lờ Ngài; chúng ta sẽ tiêu diệt Ngài”.
Không những tôi tin Sproul là chính xác theo đúng Kinh Thánh, tôi cũng tin rằng phần mô tả nầy về con người và sự thù hận của họ đối cùng Đức Chúa Trời đang mô tả cả hai: những kẻ nào là một phần trong cuộc xét xử Cứu Chúa của chúng ta, và mô tả chúng ta, đang ở ngoài tầm chủ động và ân sũng trong sự cứu rỗi chúng ta. Quí vị đã kinh nghiệm ơn cứu rỗi nầy chưa? Nếu rồi, thì tình cảm quí vị dành cho Đức Chúa Trời là một việc rất siêu nhiên, kết quả, không do việc quí vị chạy đến với Đức Chúa Trời đâu, mà là do Ngài tới đến với quí vị đấy, qua chính Đấng mà nhân loại đã chối bỏ — đó là Đức Chúa Jêsus Christ!
Giống như Philát không thể tránh né phải đưa ra một quyết định về Chúa Jêsus, cũng một thể ấy quí vị và tôi cũng phải đưa ra một quyết định nữa. Và nếu chúng ta nghĩ chúng ta có thể tránh né một quyết định bằng cách phớt lờ Ngài đi và phớt lờ một quyết định, cho phép tôi nhắc cho quí vị nhớ rằng đây là một quyết định — chối bỏ Ngài. Nguyện đây không phải là như thế đối với quí vị.
Chúng ta thấy trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta rằng Philát hoàn toàn sợ hãi con người hơn là sợ Con của Đức Chúa Trời. Philát đã bằng lòng hy sinh Đấng Christ, mà thực vậy, vì những tham vọng của ông ta, vì tư lợi riêng của ông ta. Tôi tin ông ta nghĩ ông ta phải “hy sinh” Chúa Jêsus để ông ta được tồn tại, và quyết định của ông ta mới là phần quyết định số phận của ông ta. Philát, giống như Hêrốt, không bao lâu nữa đã rơi ra khỏi chốn quyền lực. Cuối cùng của họ chẳng đẹp đẽ chút nào. Thật là thê thảm.
Phân đoạn Kinh Thánh nầy dạy cho chúng ta rằng nhà cầm quyền của con người, giống như con người đều là tội lỗi và dễ dàng sa ngã. Chính nhà cầm quyền đã được Đức Chúa Trời ban ra để bảo hộ người vô tội và để hình phạt kẻ làm ác (đối chiếu Roma 13.1-5), chính nhà cầm quyền, trong thời buổi của Chúa Jêsus, họ đã xét đoán người vô tội và đã buông tha cho kẻ ác. Nếu có một sự chứng tỏ nào về nhu cần phải có một nhà cầm quyền mới, một “vương quốc” mới, là nơi sự công bình ăn ở trong thân vị của Đức Chúa Jêsus Christ, là chính tại cuộc xét xử và sự đóng đinh Chúa chúng ta trên thập tự giá.
Phân đoạn Kinh Thánh nầy cũng góp phần minh họa, ít nhất cho sự thoả mãn của tôi, những giới hạn và nghĩa vụ pháp lý của hệ thống chính trị và cách hệ thống ấy tiếp cận và thực thi mọi việc. Tôi nghe nhiều Cơ đốc nhân ngày nay nói về việc nắm lấy hệ thống chính trị, dù họ có thể sử dụng hệ thống ấy để mở mang Nước Trời. Tôi nghe nhiều người khác nói về việc “trừng phạt những nhà nghiên cứu nhân văn theo đúng trò chơi của họ”. Trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, tôi thấy sự bất lực của quy trình chính trị hòng đạt tới sự công bình của Đức Chúa Trời. Không những nan đề nằm ở chính hệ thống, mà còn nằm trong nhân tính đã sa ngã đang tác động hệ thống ấy. Hêrốt không bao giờ là một con người tốt, trong vai trò một người làm chính trị, hơn là trong các thủ đoạn của ông ta mà với chúng ông ta đã chối bỏ Đấng Christ, giữ lấy sự ủng hộ của các thầy tế lễ cả cùng các quan đề hình, rồi để chiếm được cảm tình bạn bè của Philát. Những sự công bình ngay thẳng không can dự vào ở đây. Philát, dù ông ta vốn biết rõ Chúa Jêsus là vô tội, ông ta cũng biết rằng chính trị đòi hỏi sự thoả hiệp và giữ lấy an ninh cho khu vực cử tri. Công việc của Đức Chúa Trời không được thực thi theo đường lối của con người, và không một việc gì thuộc về con người hơn là thủ tục chính trị. Đấy có thể là phương án tốt nhất để công việc quốc gia được chạy tốt, nhưng đó không phải là phương tiện cho việc thực thi công việc của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải tỉnh thức về việc sử dụng “chính trị”, dù là chính trị văn phòng hay chính trị trong Hội Thánh để thực thi công việc của Đức Chúa Trời.
Một điểm sau cùng. Nếu con người hoàn toàn dữ dằn như vậy với Đức Chúa Trời đến nỗi họ sẽ luôn luôn thù hận, chống đối, và chối bỏ Ngài, thì làm thế nào để họ có thể được biến đổi, để tin và được thay đổi chứ? Ấy không phải là nhờ sức mạnh hay các phương pháp của con người, quí bạn tôi ơi, mà chỉ nhờ vào Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà thôi. Khi chúng ta đọc sách Công vụ Các Sứ Đồ, chúng ta học biết rằng con người đã chịu tin theo và đã được biến đổi — thật là lạ lùng, như Saulơ chẳng hạn — nhưng họ đã tin và đã được biến đổi nhờ vào việc làm của Thánh Linh Đức Chúa Trời, khi Ngài mặc cho con người quyền phép và sự họ làm chứng cho Đấng Christ. Nguyện chúng ta bước vào lo liệu công việc Ngài, nương theo Lời của Ngài và nhờ cậy Thánh Linh của Ngài.