Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

"CON MẮT KIÊU NGẠO"



"CON MẮT KIÊU NGẠO"
Châm ngôn 6.16-17a; 21.4
Phục truyền luật lệ ký 8.6-20
PHẦN GIỚI THIỆU.
Khi Kinh thánh cho chúng ta biết Đức Chúa Trời ghét điều gì, thì bạn biết chắc chắn điều đó sẽ gây thiệt hại cho chúng ta. Đức Chúa Trời ghét bất cứ điều chi phân rẽ chúng ta ra khỏi Ngài, vì vậy Ngài rất ghét bỏ tội lỗi.
Khi nói cho chúng ta biết 7 điều mà Đức Chúa Trời rất căm ghét trong sách Châm ngôn, tác giả đang ra sức chỉ cho chúng ta thấy con đường mà chúng ta phải đi theo, một con đường dẫn đến sự sống chớ không dẫn đến sự chết. Lý do 7 điều ấy trước tiên khởi sự với "con mắt kêu ngạo", ấy là sự kiêu ngạo chính là nền tảng của tội lỗi, nó là gốc rễ của mọi tội lỗi trong đời sống của chúng ta.
MINH HOẠ:
Điều ác cực ác, chính là sự kiêu ngạo. Tà dâm, giận dữ, tham lam, say sưa, cùng mọi điều khác, chỉ là những vết bọ chét cắn khi đem ra so sánh. Chính qua sự kiêu ngạo mà ma quỉ đã trở thành ma quỉ. Sự kiêu ngạo dẫn đến từng thói hư tật xấu khác; đó là thái độ chống nghịch hoàn toàn đối với Đức Chúa Trời trong lý trí. -- C. S. Lewis (1898-1963) - Edythe Draper, Draper's Book of Quotations for the Christian World (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry 9240.
Đức Chúa Trời rất ghét thái độ kiêu ngạo ấy, ở đây gọi là "con mắt kiêu ngạo" vì độ cao của bản ngã dẫn tới sự hủy diệt và sự phân rẽ ra khỏi Đức Chúa Trời, khi Đức Chúa Trời ghét bỏ tội lỗi, chớ không ghét bỏ tội nhân, vì nó hủy diệt chúng ta và các mục đích của Đức Chúa Trời dành cho đời sống chúng ta. Kiêu ngạo là cái tôi có tính hủy diệt!
MINH HOẠ:
Con ong nằm chết ở chỗ có nhiều mật -- Vern McLellan, The Complete Book of Practical Proverbs and Wacky Wit (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc., 1996).
Kinh thánh dạy cho chúng ta biết rằng phải canh giữ tấm lòng nghịch lại sự kiêu ngạo, sự kiêu căng đem lại sự hủy diệt. Đức Chúa Trời ghét bỏ sự kiêu ngạo ấy là vì nó đang hủy hoại chúng ta, Ngài mong muốn điều tốt lành cho chúng ta.
I. Ý MUỐN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Phục truyền luật lệ ký 8.6-10; 22.7-16).
A. Những món quà rất ưa thích (8.6-9)
1. Đức Chúa Trời có một công thức cho việc ban phước chúng ta, để chúng ta kinh nghiệm mọi sự vui mừng và ơn phước mà Ngài đang dành cho chúng ta (8.6)
a. "Hãy kính sợ Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi..."
b. "…gìn giữ những điều răn của Ngài..."
c. "... đi theo các đường lối Ngài"
2. Khi làm theo 3 điều nầy sẽ ngăn trở sự kiêu ngạo kia không phát triển được, và nó sẽ tạo ra lòng tin cậy mạnh mẽ nơi cả hai: Đức Chúa Trời và bản ngã, tin chắc rằng ấy chẳng phải bản ngã lèo lái mà chính Đức Chúa Trời đang điều khiển.
3. Đức Chúa Trời luôn luôn ao ước dân sự Ngài sống được phước, ngay cả ở phần thuộc thể.
a. Nói như thế không có nghĩa là chính ý muốn của Ngài cho mọi người đều được giàu có, mà được tiếp trợ đúng mức và nhiều thêm nữa.
b. Đời sống Cơ đốc không có ý nói đến một số kinh nghiệm ảm đạm nào đó đâu, nặng trỉu với những thứ của lễ trông chúng ta rất tội nghiệp ... đó là một quan niệm giả dối về sự đồng đi với Đức Chúa Trời.
c. Đức Chúa Trời luôn luôn muốn mối tương giao của chúng ta với Ngài phải là mối tương giao đầy vui mừng, phu phỉ, các nhu cần được thoả và được thêm nhiều.
4. Ở đây rõ ràng là Đức Chúa Trời muốn ban cho họ mọi sự mà họ sẽ cần đến, rốt lại đất hứa được gọi là "đất đượm sữa và mật".
a. Mong muốn mọi vật tốt và cầu xin Đức Chúa Trời về các thứ ấy chẳng có gì là sai quấy cả ... bao lâu chúng không dẫn tấm lòng chúng ta xa khỏi Ngài hoặc tạo ra sự kiêu ngạo bẩn thỉu kia trong chúng ta.
b. Đức Chúa Trời chắc chắn rất vui thích trong việc ban phước cho dân sự Ngài, điều nầy rất rõ ràng trong việc đưa họ đến với "đất đượm sữa và mật", một nơi thật dư dật!
5. Tuy nhiên, mối nguy hiểm vẫn đang tồn tại khi sự thịnh vượng ấy dẫn chúng ta tới chỗ không còn nương cậy nơi Ngài nữa, đây là trận chiến liên tục với thành công và phước hạnh.
MINH HOẠ:
Vào năm 1863, Tổng thống Lincoln nhậm chức vào ngày 30 tháng 4, đây là một ngày mà cả nước đều hạ mình xuống, kiêng ăn và cầu nguyện. Cả nước phải hạ mình xuống, kiêng ăn và cầu nguyện. Cho phép tôi đọc một đoạn trong bản tuyên ngôn trong dịp đó: "Đây là bổn phận của các dân, cũng như của bậc trượng phu, người nào có được lòng nương cậy và quyền phép tể trị của Đức Chúa Trời, họ nên xưng ra mọi tội lỗi và sự quá phạm với thái độ buồn rầu hạ mình xuống, với sự trông cậy chắc chắn rằng sự ăn năn thật sẽ dẫn tới sự thương xót và tha thứ, và phải công nhận lẽ thật tối thượng đã được công bố trong Kinh thánh và đã được minh chứng bởi lịch sử rằng các nước ấy chỉ được phước bởi Đức Chúa Trời của họ là Chúa. Thảm hoạ kinh khiếp trong cuộc nội chiến hiện đang làm tàn hại xứ có thể là một sự sửa phạt giáng trên chúng ta vì cớ các tội lỗi của chúng ta, trước cứu cánh cần thiết cho sự cải tổ của xứ sở chúng ta. Bị tiêm nhiễm với thành công không bị phá vỡ, chúng ta đã trở nên quá tự phụ không cảm thấy tính cần thiết của sự chuộc tội và ân sũng gìn giữ kia, chúng ta quá kiêu ngạo không cầu nguyện với Đức Chúa Trời là Đấng đã dựng nên chúng ta. Chúng ta đã tấn tới trong số lượng, sự giàu có, và quyền lực mà chẳng có một nước nào đạt tới được, nhưng chúng ta đã quên Đức Chúa Trời" -- Richard Halverson, "The Question Facing Us," Preaching Today, Tape 46.
B. Lòng biết ơn (8.10)
1. Đức Chúa Trời đã dự trù mọi ơn phước như thế để hướng lòng biết ơn của chúng ta NHẮM VÀO Ngài!
a. Nói như thế để khích lệ chúng ta phải công nhận sự nhơn từ của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta.
b. Nói như thế không phải để khuyến khích tư kỷ hay sự kiêu căng ngạo mạn.
c. Chắc chắn bậc tiền nhân của chúng ta vốn hiểu rõ những ân ban và phước hạnh của Đức Chúa Trời là một phương thức công nhận sự nhơn từ của Ngài, vì vậy loài thọ tạo vào ngày Lễ Cảm Tạ, là thời điểm để cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự dư dật của Ngài.
2. Phần nhiều các kỳ lễ của Israel đều bao gồm sự kỷ niệm ơn dư dật, như lễ mùa gặt được biết là Lễ Ngũ Tuần, với ý đồ dâng lên Đức Chúa Trời lòng biết ơn.
a. Những ơn phước ấy ra từ Đức Chúa Trời có ý giúp chúng ta nhận biết rằng MỌI ơn phước đều ra từ Ngài, chớ không phải chỉ là thức ăn của chúng ta thôi đâu!
MINH HOẠ:
Chúng ta có thể công nhận Đấng Tiếp Trợ thiêng liêng về thịt nướng và khoai tây, nhưng chúng ta có thường dâng lời cảm tạ vì nước chảy ra từ cái vòi kia không? Gỗ để làm nhà và những đồ đạt khác không? Giấy để làm sách báo, khăn ăn và tập viết không? Gạch, kim loại, công trình xây dựng cùng các thứ vật liệu khác vô số mà chúng ta đang sử dụng và tận hưởng không? Đức Chúa Trời qua thiên nhiên đã dựng nên chúng cả thảy đấy! Chúng ta cần phải ghi nhớ kỹ hơn. -- Philip Wiebe in The Christian Leader (April 9, 1991). Christianity Today, Vol. 35, no. 14.
b. Vì thế chúng ta đáng phải cẩn thận cúi đầu xuống cảm tạ Đức Chúa Trời vì bữa ăn, làm như vậy rất là tốt ... nhưng còn những ơn phước khác hàng ngày của Đức Chúa Trời trên đời sống của chúng ta thì sao?
3. Hãy hướng mắt nhìn về Đức Chúa Trời vì những gì Ngài đã làm sẽ giúp chúng ta đóng mắt mình lại không nhìn vào bản ngã và xem mình là trọng nữa... nó sẽ giữ chúng ta trong sự hạ mình.
a. Khi bạn không có Đức Chúa Trời để cảm tạ, bạn chỉ có cái tôi của mình ... điều nầy dẫn tới kiêu ngạo, tự lập mình làm Thần!
MINH HOẠ:
Kẻ kiêu ngạo nhất trong thế gian? Kẻ ấy gọi điện thoại xem coi có sứ điệp nào không!?! -- Croft M. Pentz, The Complete Book of Zingers (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc., 1990).
b. Nếu tấm lòng của con người không công nhận Đức Chúa Trời và quyền tể trị của Ngài trên mọi sự, kẻ ấy sẽ vênh vênh tự đắc rồi đưa bản ngã mình lên tới các cấp độ chỉ đáng dành cho Đức Chúa Trời!
II. NHỮNG CẢNH CÁO CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (8.11-20; Châm ngôn 6.16-17a; 21.4)
A. Quên Đức Chúa Trời (8.11-18; Châm ngôn 6.16-17a; 21.4).
1. Khi chúng ta bắt đầu quên những ơn phước và sự trợ giúp của Đức Chúa Trời trong quá khứ, chúng ta sẽ bắt đầu tiến trình phát triển sự kiêu ngạo bất kỉnh.
a. Mỗi lần Israel quên quá khứ, họ đã hủy phá tương lai của họ!
b. Không có gì phải ngạc nhiên, Đức Chúa Trời yêu cầu họ hết lúc nầy tới lúc khác phải nhớ lại – để họ đừng bao giờ quên!
c. Chắc chắn đây là lý do cho các kỳ lễ nữa, để nhắc nhở thường xuyên cho họ nhớ đến sự trợ giúp của Đức Chúa Trời trong quá khứ, những lần vật vã của đức tin đem lại thắng lợi trong quá khứ.
2. Bất kỳ nước nào quên Đức Chúa Trời đã giúp đỡ họ trong quá khứ bị định cho phải thất bại trong tương lai.
3. Có lẽ đây là lý do tại sao Ma Quỉ đã sử dụng sự thịnh vượng trong những ngày sau rốt nầy để gây thiệt hại cho Hội thánh, hắn đã học biết từ lâu lắm rồi, đây là thứ vũ khí có hiệu quả rất nhiều để chống lại Hội thánh còn hơn cả sự bắt bớ nữa!
MINH HOẠ:
Sự thịnh vượng thường là tai hại cho Cơ đốc giáo, còn sự bắt bớ thì không bao giờ -- An Amish bishop quoted in The Economist (July 22, 1989). Christianity Today, Vol. 33, no. 16.
a. Cơ đốc giáo đang tấn tới trong từng quốc gia trên thế giới TRỪ nước Mỹ!
b. Có phải chúng ta đã quên không nương cậy nơi Đức Chúa Trời không?
4. Bản thân sự giàu có không phải là xấu, nhưng chúng ta đã để cho nó tác động vào chúng ta!
a. Đức Chúa Trời muốn chúng ta tin cậy Ngài, nương cậy nơi Ngài, ngay cả lúc thịnh vượng!
b. Những ơn phước KHÔNG dẫn chúng ta xa khỏi Đức Chúa Trời, chúng có thể dẫn chúng ta đến chỗ thờ lạy Ngài với tấm lòng cảm tạ, vui mừng vì tình yêu của Ngài dành cho chúng ta trong khi tiếp trợ cho chúng ta cách kỳ diệu.
c. Chắc chắn đây là dự trù của Đức Chúa Trời dành cho Israel khi ban cho họ vùng đất tốt lành nầy.
5. Môise nói cho họ biết ở đây rằng lý do Đức Chúa Trời khiến cho họ đi ngang qua đồng vắng khó nhọc kia là để dạy cho họ biết điều nầy ... tin cậy Ngài LUÔN LUÔN!
a. Nếu Đức Chúa Trời có thể đáng tin cậy trong sa mạc, Ngài cũng có thể đáng tin cậy trong đất hứa.
b. Đức Chúa Trời đã hy vọng dạy cho họ biết nương cậy Ngài TRƯỚC KHI ban cho họ ơn phước dư dật.
6. Cái khó nằm ở chỗ giữ những giá trị thuộc linh ngay ở giữa sự dư dật đó.
MINH HOẠ:
Lech Walesa đưa ra phần nhận xét rằng "người Mỹ đang lánh xa dần các giá trị thuộc linh khi họ trở nên giàu có hơn". Ông nói rằng "chẳng chóng thì chầy chúng ta sẽ phải quay lại với những giá trị cơ bản, trở lại với Đức Chúa Trời, với lẽ thật, lẽ thật đang nằm ở trong Đức Chúa Trời". Kế đó, ông đưa ra một câu nói rất thú vị: "Chúng ta nhìn vào nước Mỹ, và chúng tôi mong mỏi từ bạn một sự giàu có thuộc linh hầu đối mặt với những khát vọng của thế kỷ 20" -- Quoted by James A. Baker III in Decision (May 1990). Christianity Today, Vol. 34, no. 10.
7. Israel đã nêu gương cho thế gian thấy sự giàu có kỳ diệu của Đức Chúa Trời, cả về mặt thuộc thể lẫn thuộc linh ... nhưng họ phải giữ đường lối trong sạch không có sự kiêu ngạo!
a. Khi chúng ta không công nhận những sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời, chúng ta không tôn kính Ngài!
b. Đức Chúa Trời là Đấng "ban cho ngươi sức lực đoạt được những sản nghiệp!"(8.18)
c. Khi một nước hay một người công nhận điều nầy cách công khai và tự do, họ đang công bố ra thực tại của Đức Chúa Trời cho phần còn lại của thế giới biết, và nhờ đó giúp cho các nước khác cũng khao khát muốn phục sự Đức Chúa Trời nữa.
d. Có những lúc khi Israel là ánh sáng cho dân Ngoại, nhưng sự kiêu ngạo luôn luôn gạt bỏ ngọn đèn đó và nổ ra sự loạn nghịch chống lại Đức Chúa Trời ở bên trong nước của họ.
8. Sự vất vã trong sa mạc là phương tiện để đào sâu cách ăn ở và sự họ tin cậy nơi Đức Chúa Trời, vì vậy những ơn phước dư dật trong một đất phong phú đã đưa họ để chỗ thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng đã ban phước cho họ thật nhiều như thế.
a. Và điều nầy chỉ có trong một thời gian ngắn.
b. Nhưng sự thất bại không giữ được thái độ cảm tạ đã làm dấy lên "con mắt kiêu ngạo" hay sự kiêu ngạo, một thái độ kiêu ngạo đã khiến cho họ nghĩ họ có thể tiếp tục sự cao trọng của họ mà không cần Đức Chúa Trời hay bởi sự thờ lạy các thần lạ đã được làm ra bằng đá hay bằng gỗ.
c. Còn về xứ sở của chúng ta, có phải chúng ta đang có những vị "thần" bằng vàng bằng bạc, và những hình tượng chúng ta đang thờ lạy đang lôi kéo chúng ta xa khỏi Đức Chúa Trời chơn thật?
9. Đức Chúa Trời ghét bất cứ thứ chi cướp tấm lòng chúng ta ra khỏi Ngài ... không phải vì Ngài là ích kỷ và cần đến chúng ta, mà vì Ngài biết chúng ta thể nào sẽ tự hại mình trong sự kiêu ngạo của chúng ta, giống như Satan đã phạm từ ngàn xưa ... và Đức Chúa Trời ghét sự hủy diệt và hư mất, rồi vì thế ghét sự kiêu ngạo tội lỗi kia.
a. Có phải bạn nghĩ bạn có thể sống tốt mà chẳng cần Đức Chúa Trời không?
b. Có phải bạn tin NHIỀU nơi bản ngã hơn tin Đức Chúa Trời?
c. Có phải bạn tin bạn đã tạo dựng nên sự giàu có bằng chính đôi tay của mình không?
B. Thảm hoạ là chắc chắn! (8.19-20)
1. Mọi sự nầy đang dẫn họ tới đâu?
a. Sự hủy diệt!
b. Kết quả cuối cùng của tội lỗi là sự hủy diệt không tránh được!
2. Không thành thực về sự kiêu ngạo là thất bại, nó khiến chúng ta không nhận định đúng về thực tại!
MINH HOẠ:
Một vị Thị trưởng kia rất tự hào về thành phố của mình, người ta đến hỏi ông tình trạng suy thoái đã tác động đến thành phố như thế nào? Ông đáp: "Chúng tôi không có một sự suy thoái ở đây, nhưng tôi sẽ nhìn nhận chúng tôi đang có thời kỳ phát đạt tệ hại nhất trong nhiều năm trời” -- James S. Hewett, Illustrations Unlimited (Wheaton. Tyndale House Publishers, Inc, 1988), p. 394.
3. Đức Chúa Trời đã ban cho các dân khác hưởng lấy phần đất màu mở nầy trong hàng trăm năm cũng để thay đổi đường lối của họ, nhưng khi họ không thay đổi, Đức Chúa Trời bèn tống khứ họ đi.
a. Đức Chúa Trời sẽ không ƯU ĐÃI Israel nếu họ đi đúng con đường hủy diệt.
b. Thực vậy, về sau Israel đã bị hủy diệt không còn là nước nữa.
4. Trải qua nhiều năm họ đã nếm trải hết vòng thịnh vượng nầy đến vòng thịnh vượng khác và rồi cuộc phu tù ... luôn luôn vì tấm lòng của họ đã xa cách khỏi Đức Chúa Trời trong sự thịnh vượng và họ đã quên mất Chúa!
a. Một lần nữa, nói như thế không có nghĩa là bạn sẽ không được phước và không giữ được phước đó, nhưng bạn phải không quên Chúa trong mọi ơn phước đó.
b. Chúng ta phải cẩn thận đừng xây khỏi Chúa trong mọi sự nhơn từ của Ngài.
c. Israel đã nắm lấy Đức Chúa Trời và đã tiếp nhận mọi ơn phước của Ngài, cho tới khi nào chúng bị cất đi.
5. Chúng ta cũng phải canh giữ tấm lòng của mình tránh mọi suy tưởng kiêu ngạo, rằng luôn luôn có gã nào đấy có vấn đề với kiêu ngạo, chớ không phải chúng tôi!
MINH HOẠ:
Trong khi đến viếng bạn hàng xóm, Andrew mới 5 tuổi đem khoe tấm hình lớp mẫu giáo của mình, rồi ngay lập tức bắt đầu mô tả từng bạn học: "Đây là Robert; nó đánh mọi người. Đây là Stephen. Nó không bao giờ nghe theo thầy cô. Đây là Mark. Nó hay rượt đuổi bọn tớ và rất ồn ào". Chỉ vào tấm hình, Andrew phê bình: "Còn đây là tớ. Tớ đang ngồi ở đây suy nghĩ về công việc của mình" -- Kathy Plate, Orlando, Florida. Christian Reader, "Kids of the Kingdom."
a. Nhiều lần Israel đã bị đánh đòn khi Đức Chúa Trời sử dụng một dân độc dữ hơn họ để sửa phạt họ!
b. Làm vậy chỉ để minh chứng thái độ kiêu căng của họ, thay vì nhìn thấy nhu cần của chính mình, họ đã hỏi Đức Chúa Trời tại sao gã kia là kẻ tồi tệ hơn họ lại tránh thoát được sự phán xét.
c. Kiêu ngạo là một việc rất khủng khiếp, vì nó cưới đi khỏi chúng ta sự hiện diện và quyền phép của Đức Chúa Trời cách hoàn toàn, rồi dựng chúng ta lên để gặp phải một sự sụp đổ thật lớn. Chúng ta cũng đọc trong Châm ngôn 16.18: "Sự kiêu ngạo đi trước sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã".
6. Đức Chúa Trời không lấy làm vui nơi một người hay một nước sa ngã, nhấc chúng ta lên rồi chúc phước cho chúng ta chính là sự ao ước của Ngài, nhưng Ngài chỉ làm thế khi chúng ta hạ mình xuống trước mặt Ngài và công nhận Ngài.
7. Đức Chúa Trời ghét "con mắt kiêu ngạo" ... con mắt ấy chẳng nhận được gì cả, sự kiêu ngạo đang hủy diệt.
a. Kiêu ngạo đang nằm tại đỉnh danh sách vì nó nằm ở đáy nhiều tội lỗi khác.
b. Còn bạn thì sao, tấm lòng của bạn đang ở đâu hôm nay?
c. Ai đang nắm lấy đường lối của tấm lòng, bạn hay Đức Chúa Trời?
d. Có phải sự kiêu ngạo đang hủy diệt đời sống của bạn không?
PHẦN KẾT LUẬN. Ở gốc rễ của mọi tội lỗi là một tấm lòng tự phụ hay "kiêu ngạo" – loại tự phụ sai lầm! Kiêu ngạo tội lỗi đến từ một sự không bằng lòng vâng theo Đức Chúa Trời, dựng lên chân lý cho bản thân rồi làm những việc theo đường lối riêng của mình, bất chấp Đức Chúa Trời và Lời của Ngài. Sự hủy diệt là bông trái của tấm lòng kiêu ngạo không biết ăn năn. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời vui thích nơi những ai công nhận Ngài và bước đi theo đường lối của Ngài. Hãy hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên!
***

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2010

Genesis: Tổng quan về sách Sáng thế ký



Tổng quan về sách Sáng thế ký
Tên sách
Gần hết Kinh Cựu Ước nguyên được viết bằng tiếng Hy bá lai, và sách Sáng thế ký không nằm ngoài ngoại lệ. Đề tựa nguyên thủy sách Sáng thế ký theo tiếng Hy bá lai là bereshit, có nghĩa là “vào lúc ban đầu” (xem 1.1a). Đây là một đề tựa rất thích đáng, vì là quyển sách nói tới mọi khởi đầu. Những quyển Kinh thánh Anh ngữ không ghi theo đề tựa Hy bá lai; chúng ta ghi theo đề tựa tiếng Hy lạp.
Kinh Cựu Ước Hy bá lai chắc chắn đã được chuyển dịch thành tiếng Hy lạp (khoảng 250 năm trước thời Đấng Christ). Các nhà dịch thuật Hy lạp khi ấy đã đưa ra đề tựa của chính họ, “Genesis” [Sáng thế ký] cho sách đầu tiên bản Cựu Ước kinh của họ. Từ ngữ Hy lạp geneseos có nghĩa là “nguyên thủy, nguồn gốc, gốc tích, hay ban đầu”. Geneseos là cách dịch từ ngữ Hy bá lai toledot (“gốc tích”, 2.4). Đề tựa nầy cũng thích ứng hoàn toàn vì Genesis [Sáng thế ký] thực sự là lịch sử của những nguyên thủy, những sự ra đời, các gia phổ, và những gốc tích.
Tác giả.
Mặc dù Genesis không trực tiếp nói tới tên của tác giả; Chúa Jêsus cùng những trước giả viết Kinh thánh rõ ràng đã tin rằng Môise chính là tác giả sách Pentateuch [Ngũ Kinh] (5 sách đầu tiên của Kinh thánh, cũng được gọi là sách “Luật pháp”; (xem Xuất Êdíptô ký 17.14; Phục truyền luật lệ ký 31.24; I Các Vua 2.3; Exơra 6.18; Nêhêmi 13.1; Đaniên 9.11-13; Malachi 4.4; Mác 12.26; Luca 16.29; Giăng 1.17; 5.44-47; 7.19, 23; Công vụ các sứ đồ 26.22; Rôma 10.5; II Côrinhtô 3.15, v.v…). Luca nhắc cho chúng ta nhớ rằng Môise đã được đào tạo với “sự khôn ngoan của Ai cập” (Công vụ các sứ đồ 7.22). Trong quyền tể trị của Đức Chúa Trời, Môise đã được sửa soạn để hội nhập và hiểu biết mọi thành tích, các văn bản, cùng những truyện tích truyền khẩu mà với đó ông đã viết ra sách Ngũ Kinh. Không có một người nào được sửa soạn hay đủ tư cách để nắm lấy phần việc lớn lao nầy khi viết ra lịch sử của Israel.
Niên đại/Bối cảnh.
Genesis mở rộng nhiều thời gian hơn bất cứ sách nào khác trong Kinh thánh. Thực vậy, nó bao phủ khoảng thời gian nhiều hơn 65 sách khác trong Kinh thánh cộng lại (khoảng 2400 năm). Toàn bộ khoảng thời gian kể từ lúc có sự sáng tạo (?) cho đến thời điểm dân Israel đến tại Ai cập rồi phát triển thành một nước (khoảng 1800 TC). Niên đại của sách Genesis có sau sách Xuất Êdíptô ký vào thế kỷ thứ 15 TC.
Bối cảnh của sách Sáng thế ký chia thành 3 khu vực địa lý: (1) The Fertile Crescent, 1-11; (2) Israel, 12-36; và (3) Ai cập, 37-50. Bối cảnh của 11 chương đầu tiên thay đổi nhanh chóng và nó trải rộng hơn 2000 năm và 1500 dặm. Phần giữa sách Sáng thế ký trải rộng khoảng 200 năm và chuyển từ Fertile Crescent đến xứ Canaan. Bối cảnh sau cùng trong sách Sáng thế ký được thấy ở Ai cập, tại đây Đức Chúa Trời đã có “70 linh hồn”.
Khán thính giả.
Khi quyển sách công bố mọi dân trên đất sẽ được phước qua Ápraham (12.3), dường như nó cũng kết luận rất công bằng rằng mọi người đều sẽ được ích qua câu chuyện của sách Sáng thế ký.
Mục đích.
Để tỏ ra thể nào tội lỗi của con người đã được thoả bởi sự can thiệp và cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
Lẽ đạo.
Sự Đức Chúa Trời chọn lựa một dân qua đó Ngài sẽ ban phước cho mọi nước.
Những từ chính.
“Ban đầu” và “phước”.
Mệnh đề chính.
“…qua ngươi mọi dân trên đất đều sẽ được phước” (6 lần).
Những câu chính.
Sáng thế ký 1.1: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”.
Sáng thế ký 3.15: “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người”.
Sáng thế ký 12.1-3: “Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước”.
Chú thích chính.
Sáng thế ký được trưng dẫn hơn 200 lần trong Tân Ước. Thực ra các chương 1-11 được trưng dẫn hơn 100 lần trong Tân Ước. Không những nó được nhắc tới mà bạn sẽ thấy nó được trưng dẫn từng câu một hơn 165 lần trong Tân Ước.
Bài học chính.
Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta để hưởng phước và lựa chọn chúng ta để trở thành một nguồn phước cho cả thế gian.
Đấng Christ trong sách Sáng thế ký.
Sáng thế ký đi từ tổng quát đến đặc biệt trong các lời tiên tri nói tới Đấng Mêsi. Đấng Christ là dòng dõi của người nữ (3.15), từ Sết (4.25), con trai của Sem (9.27), dòng dõi của Áraham (12.3), của Ysác (21.12), của Giacốp (25.23), và của chi phái Giu-đa (49.10).
Đấng Christ cũng được thấy có trong con người và các biến cố đóng vai trò như hình bóng (“hình bóng” là một sự kiện lịch sử minh hoạ cho một lẽ thật thuộc linh). Ađam là “người làm hình bóng của Đấng phải đến” (Rôma 5.14). Cả hai đã vào trong thế gian qua một hành động đặc biệt của Đức Chúa Trời làm người vô tội. Ađam là đầu của tạo vật cũ; Đấng Christ là Đầu của tạo vật mới. Của lễ đáng tiếp nhận của Abên là một của lễ bằng huyết chỉ về Đấng Christ, và có một sự tương ứng trong việc giết người của Cain. Mênchixêđéc (“vua công nghĩa”) được “dựng nên giống như Con Đức Chúa Trời” (Hêbơrơ 7.3). Ông là vua của Salem (“bình an”) ông đã đem dâng bánh và rượu và là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời chí cao. Giô-sép cũng là một hình bóng nói tới Đấng Christ. Giôsép và Đấng Christ cả hai là đối tượng của tình yêu thương đặc biệt bởi Cha của họ, cả hai đều bị anh em của họ ghét bỏ, vả hai đã bị chối bỏ không chấp nhận là người cai trị trên anh em của họ, cả hai đều bị mưu nghịch và bị đem bán để lấy bạc, cả hai đều bị kết án mặc dù vô tội, và cả hai đều đã được tôn lên từ sự hạ mình đến sự vinh hiển bởi quyền phép của Đức Chúa Trời.
Cấu trúc.
Cấu trúc của sách Sáng thế ký rất rõ ràng và được xây dựng qua 11 mục riêng biệt, mỗi mục đều bắt đầu bằng từ “gốc tích” trong cụm từ “Đây là gốc tích” hay “Sách của những gốc tích”.
1. Giới thiệu những gốc tích, 1.1-2.3
2. Trời và đất, 2.4-4.26
3. Ađam, 5.1-6.8
4. Nôê, 6.9-9.29
5. Các con trai của Nôê, 10.1-11.9
6. Sem, 11.10-26
7. Tha-rê, 11.27-25.11
8. Ích-ma-ên, 25.12-18
9. Y-sác, 25.19-35.29
10. Ê-sau, 36.1-37.1
11. Gia-cốp, 37.2-50.26.
Bố cục.
1. Nguồn gốc của vũ trụ. Bốn biến cố quan trọng (Sáng thế ký 1-11)
A. Sự sáng tạo (Sáng thế ký 1-2)
B. Sự sa ngã (Sáng thế ký 3-5)
C. Nước Lụt (Sáng thế ký 6-9)
D. Sự lộn xộn của các thứ tiếng nói (Sáng thế ký 10-11)
2. Nguồn gốc của dân Hêbơrơ. Bốn nhân vật quan trọng (Sáng thế ký 12-50)
A. Ápraham (Sáng thế ký 12-24)
B. Y-sác (Sáng thế ký 25-26)
C. Gia cốp (Sáng thế ký 27-36)
D. Giô-sép (Sáng thế ký 37-50)

Gen 1-50: "Từ ngôi vườn đến ngôi mộ"



"Từ ngôi vườn đến ngôi mộ"

(Sáng thế ký 1-50)
Người Mỹ thích làm gì trong giờ rỗi rãnh của họ? Tạp chí USA Today mới đây cho biết rằng 96% người Mỹ thích xem vô tuyến truyền hình. Giờ đây, tôi muốn bạn nghĩ lại thì giờ vừa qua khi bạn ngồi xem chương trình truyền hình. Có phải bạn đã bị thu hút vào đấy không? Có phải bạn đang xem phim bộ không? Có phải người bạn đời và con cái của bạn đang nổ lực nói chuyện với bạn, nhưng bạn không đáp ứng? Nếu chúng ta thành thực, hầu hết chúng ta đều trả lời “đúng” với những câu hỏi nầy. Khi chúng ta xem một chương trình mà chúng ta ưa thích, phần nhiều trong chúng ta chẳng để ý gì tới mọi sự ở chung quanh chúng ta nữa.
Thực tại nầy cũng có thể áp dụng cho Kinh Thánh nữa đấy! Chúng ta đã dành 53 ngày Chúa nhựt để nghiên cứu sách Sáng thế ký. Tôi đã thưởng thức chuyến hành trình của chúng ta qua 2400 năm đầu tiên của lịch sử loài người [Sáng thế ký trải nhiều thời gian hơn bất cứ sách nào khác trong Kinh Thánh. Nó bao phủ tất cả 65 sách kia trong Kinh Thánh kết hợp lại. Toàn bộ thời gian phải chăng tính từ lúc có sự sáng tạo (?) tới lúc mà dân Israel đến ngụ trong xứ Ai cập rồi tấn tới thành một quốc gia (khoảng năm 1800 TC). Niên đại của sách Sáng thế ký được tính sau khi Xuất Ai cập vào thế kỷ thứ 15 TC]. Tuy nhiên, một sự lần ngược trở lại với phần nghiên cứu lâu dài và chi tiết sách Sáng thế ký khiến cho chúng ta phải bỏ sót khu rừng vì chú trọng vào cây cối. Đừng cho là tôi sai lầm nhé, khi xem xét cây cối của khu rừng có nhiều lợi ích, nhưng chúng ta cần phải lui lại để chúng ta có thể nhìn thấy vẻ oai nghi của chính khu rừng đó. Chúng ta sẽ nổ lực làm việc nầy khi chúng ta kết thúc phần nghiên cứu sách Sáng thế ký của chúng ta [Trong bài giảng tóm lược nầy, tôi đã sử dụng nhiều phần hướng dẫn của Steve J. Cole: “Từ Ngôi Vườn Đến Chiếc Quan Tài trong sách Sáng thế ký”.
http.//www.fcfonline.org/site/content/1/sermons/112397m.pdfhttp.//www.fcfonline.org/site/content/1/sermons/112397m.pdf; R. Kent Hughes, Genesis. Beginning & Blessing (Wheaton, IL. Crossway, 2004), 579-624].
Chúng ta phải bắt đầu với một câu nói tóm tắt trong sách Sáng thế ký. Tôi muốn chỉ ra câu nói sau đây: Đức Chúa Trời đã giàu ơn chuộc lấy chúng ta ra khỏi sự rủa sả của tội lỗi để chúng ta sẽ trở thành ống dẫn của Ngài hầu chúc phước cho nhiều người. Câu nầy xác định khu rừng (hay bức tranh lớn) trong sách Sáng thế ký. Một khi rất khó tóm tắt 50 chương cách súc tích, tôi sẽ sắp xếp Sáng thế ký theo cách nầy: Sách Sáng thế ký nói cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là ai, chúng ta là ai, và những điều chúng ta phải lo làm.
1. Sáng thế ký nói cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là ai! Sáng thế ký bắt đầu với lời lẽ tuy đơn sơ, nhưng rất quan trọng: “Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (1.1). Trong câu mở đầu của Kinh Thánh, chúng ta được dẫn tới mặt đối mặt với Đức Chúa Trời đời đời, là Đấng đã phán thì vũ trụ phải hiện hữu (Thi thiên 33.6). Chẳng có một lời giới thiệu nào hướng tới mục tiêu đó hết, không một lời bàn luận nào minh chứng sự hiện hữu của Ngài, không một chỗ nào cho sự suy đoán hay hiếu kỳ cả. Một là bạn phải chấp nhận Đức Chúa Trời là nguồn cội của mọi sự hoặc phải chối bỏ Ngài. Dĩ nhiên, phần mặc khải về quyền phép đáng sợ của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo có khuynh hướng làm cho chúng ta phải khựng lại, làm cho chúng ta cảm thấy như chúng ta không thể nào tiếp cận được một Đức Chúa Trời đầy năng quyền như thế. Tuy nhiên, những chương đầu tiên của Sáng thế ký tỏ ra Đức Chúa Trời toàn năng, sáng tạo nầy cũng là một Đức Chúa Trời riêng tư, là Đấng đang thông công với con người mà Ngài đã dựng nên. Ngài trò chuyện với Ađam và ban cho ông công việc có ý nghĩa để làm ở trong vườn. Ngài biết nhu cần của Ađam về một người giúp đỡ và dựng nên Êva để làm vợ của ông. Đôi vợ chồng đầu tiên tương giao với Đức Chúa Trời mỗi ngày ở trong vườn. Nhưng chỉ khi nào chúng ta khởi sự thoải mái và cảm thấy như chúng ta có thể tiếp cận với Đức Chúa Trời đáng kinh nầy, chúng ta thấy Đức Chúa Trời tuyên bố những lời rủa sả giáng trên con rắn, người nữ, người nam, và cả đất nữa. Chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời không xem nhẹ tội lỗi khi Ngài trục xuất đôi vợ chồng sa ngã kia ra khỏi khu vườn. Thế rồi, khi tội lỗi lan rộng qua dòng giống con người sa ngã, chúng ta chựng lại nơi sự phán xét kinh khiếp của Đức Chúa Trời trong nạn lụt và một lần nữa tại tháp Babên. Chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời thánh khiết, Ngài phải phán xét mọi tội lỗi. Nhưng trong mọi sự nầy, có sự trông cậy. Thay vì đánh cho đôi vợ chồng sa ngã kia chết tại chỗ, Đức Chúa Trời đã giàu ơn hiến cho họ hy vọng trong lời hứa về dòng dõi của người nữ. Người sẽ chà nát đầu con rắn, mặc dù con rắn sẽ cắn gót chơn người (3.15). Đây là lời hứa sớm sủa nhất trong Kinh Thánh nói về sự đến của Đấng Christ Đấng Cứu Thế, sanh ra bởi một người nữ (chớ không phải một người nam, qua sự đồng trinh). Trong sự chết của Ngài, Ngài bị cắn nơi gót chơn, và dường như Satan đã chiến thắng. Nhưng sự sống lại của Đấng Christ đã đổi những gì dường như là chiến thắng của Satan thành ra thất bại, khi dòng dõi của người nữ chà nát đầu của con rắn.
Khi ấy Đức Chúa Trời giàu ơn đã cung ứng tấm da thú để mặc lấy cho đôi vợ chồng sa ngã đó (3.21). Tấm da thú đã cứu vãn cho tình trạng trần truồng về phần xác thể của họ, nhưng rõ ràng sự cung ứng ấy còn đi xa hơn thế nữa. Giống như tình trạng trần truồng của con người còn sâu xa hơn chỉ là ở phần xác thể và cho thấy linh hồn bị bày ra như kết quả của tội lỗi (3.7), cũng vậy sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời về áo xống còn trổi hơn nhu cần thuộc thể về áo quần. Đây là một minh họa rất đẹp về những gì Đức Chúa Trời sẽ làm qua Đức Chúa Jêsus Christ để tiếp trợ ơn cứu rỗi cho hết thảy những ai đang đứng một cách xấu hổ bị bày ra trước mặt Ngài vì cớ tội lỗi của họ. Sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời về tấm da thú chỉ ra cho chúng ta thấy bốn việc:
1. Chúng ta cần một sự che đậy tội lỗi của chúng ta. Tư tưởng về sự đứng chung với tội lỗi của tôi bị bày ra trong ánh sáng sự hiện diện thánh khiết của Đức Chúa Trời còn dễ chịu hơn tư tưởng phải có mặt ở Nhà Trắng trần truồng hoàn toàn để phỏng vấn tìm việc làm. Tôi cần một loại che đậy nào đó.
2. Mọi nổ lực của chúng ta trong việc che đậy mình là không thích nghi. Ađam và Êva đã kết những chiếc lá vả, nhưng việc ấy không che đậy được. Con người hiện đại cố gắng làm những chiếc lá vả việc lành công đức để che đậy tội lỗi của mình và làm cho mình như đáng nhận đối với Đức Chúa Trời, còn Đức Chúa Trời không thể chấp nhận phương án đó.
3. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể tiếp trợ sự che đậy mà chúng ta có cần cho tội lỗi của chúng ta. Ngài nắm thế chủ động trong việc che đậy tội lỗi của chúng ta sao cho thích đáng. Ađam và Êva đã tiêu cực; Đức Chúa Trời đã làm hết công việc đó. Chúng ta không thể tiếp nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời chừng nào chúng ta hiến cho Ngài những chiếc lá vả của chúng ta. Chúng ta phải để Ngài tiếp trợ mọi sự cho, như Ngài đã thực sự hành động trong Đấng Christ.
4. Sự che đậy mà Đức Chúa Trời cung ứng cho đòi hỏi sự chết của một con sinh vô tội. Một con thú phải bị giết để cung ứng sự che đậy nầy cho Ađam và Êva. Nếu, chúng ta có thể giả định, Ađam và Êva đã chứng kiến sự giết nầy, việc ấy sẽ gây sốc cho họ. Đây là lần đầu tiên họ đã chứng kiến cái chết. Khi họ nhìn thấy những con thú bị cắt cổ họng và quằn quại cho đến chết, họ phải có được ý thức cho cả hai việc: tình trạng tội lỗi của họ và ân điển cả thể của Đức Chúa Trời khi không đòi hỏi cái chết tức thì của chính họ đối với tội lỗi của họ. Họ học biết rằng không có sự đổ huyết ra đó, thì chẳng có sự che đậy thích đáng nào cho tội lỗi hết, còn Đức Chúa Trời sẽ chấp nhận cái chết của một con sinh đáng chấp nhận. Trong ánh sáng của mọi sự tới sau, chúng ta biết rõ con sinh chính là Đức Chúa Jêsus Christ, những con thú nầy chỉ là một kiểu cách, hình bóng chỉ về Ngài mà thôi. Vì thế sách Sáng thế ký tỏ ra Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa Toàn Năng, Ngài phải được nhìn biết theo cách riêng. Sáng thế ký tỏ ra Đức Chúa Trời là Quan Án thánh khiết của mọi tội lỗi, tuy nhiên Đấng Cứu Thế chính mình Ngài đã cung ứng sự trả giá cho án phạt dành cho tội lỗi của chúng ta.
Sách Sáng thế ký cũng tỏ ra cho chúng ta thấy một vài thuộc tính khác nữa của Đức Chúa Trời [Các danh xưng của Đức Chúa Trời trong sách Sáng thế ký là xứng đáng cho phần nghiên cứu cẩn thận: thí dụ, Êlôhim; Giêhôva; thiên sứ của Đức Giêhôva; El Roi (Đức Chúa Trời là Đấng nhìn thấy); El Shaddai (Đức Chúa Trời toàn năng); El Elyon (Đức Chúa Trời chí cao); sự kính sợ của Ysác; Đức Chúa Trời của Gia cốp; v.v...].
Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời toàn năng (Sáng thế ký 1-2). Trong sách Sáng thế ký, Ngài phán thì cõi sáng tạo liền hiện hữu. Ngài tạo ra một trận đại hồng thủy. Ngài hủy diệt Sôđôm và Gômôrơ trong thời của Ápraham. Ngài đem đói kém đến trong thời của Giôsép. Ngài mở tử cung ra. Ngài làm nhiều phép lạ dấu kỳ. Đức Chúa Trời của sách Sáng thế ký là một Đức Chúa Trời đáng kinh, có khả năng tỏ ra bất cứ quyền phép nào. Đức Chúa Trời nầy không thay đổi; Ngài vẫn có quyền năng. Bạn có thể kêu cầu Ngài hôm nay.
Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời toàn tại (Sáng thế ký 26; 28; 32; và 39). Đức Chúa Trời phán với Ysác: “Ta sẽ ở cùng ngươi” (26.3, 24). Sự hiện diện của Đức Chúa Trời với Ysác rõ ràng đến nỗi dân Philitin, họ tuyên bố với Ysác: “Chúng tôi đã thấy rõ ràng Đức Giê-hô-va phù hộ người” (26.28). Bốn lần trong câu chuyện Giôsép, chúng ta được thuật cho biết Đức Giêhôva đã “ở với” Giôsép (39.2, 3, 21, 23). Thậm chí dường như Đức Chúa Trời ở cách xa hàng triệu triệu dặm, Ngài đã hiện diện trong quyền năng với dân sự của Ngài. Ngài đang hiện diện với bạn hôm nay qua quyền phép của Đức Thánh Linh. Thậm chí khi bạn bước đi qua những lần tối tăm và thách thức, Ngài đang ở tại đó với bạn.
Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời toàn tri (Sáng thế ký 16 và 18). Một trong những câu nói rõ ràng nhất nói tới sự toàn tri của Đức Chúa Trời được thấy có ở 6.5: “Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn”. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể đưa ra một câu nói như thế. Trong Sáng thế ký 16 và 18, Đức Chúa Trời phán với Aga và Sara, chứng tỏ rằng Ngài biết hết mọi sự về đời sống của họ. Đức Chúa Trời vốn hiểu rõ mọi sự mà bạn đang nếm trải. Ngài nhìn thấy mọi sự bất công đã làm ra cho bạn. Ngài biết rõ mọi động lực của bạn. Ngài sẽ chăm sóc cho bạn.
Đức Chúa Trời đang tể trị (Sáng thế ký 15 và 25). Đức Chúa Trời đang tể trị trong lịch sử, trong cuộc sống và trong ân điển. Bất cứ điều chi Ngài nói trước đều ứng nghiệm. Ngài chọn mở tử cung khi Ngài đẹp lòng. Ngài lựa chọn và đặt kẻ non nớt lên trên người già dặn hơn. Ngài đang nắm quyền tể trị hoàn toàn.
Đức Chúa Trời rất khôn ngoan (Sáng thế ký 45 và 50). Đức Chúa Trời đang tể trị đến nỗi Ngài có thể sử dụng tội lỗi của con người để hoàn thành mọi ý định của Ngài (45.7-8; 50.20). Đức Chúa Trời có thể lấy những quả chanh trong đời sống của bạn rồi làm thành nước chanh. Cho nên, khi những hoàn cảnh khó khăn bước vào cuộc sống của bạn, hãy công nhận rằng Đức Chúa Trời có thể lấy những thử thách của bạn rồi sử dụng để hoàn thành sự vinh hiển của Ngài và làm ích cho bạn (Rôma 8.28-29). Chúng ta hầu việc một Đức Chúa Trời cao cả như thế mà chẳng cần phải phàn nàn chi hết. Ngài sẽ bảo hộ chúng ta; Ngài sẽ tiếp trợ cho chúng ta. Ngài có khả năng thực thi ý chỉ của Ngài trong đời sống của chúng ta. Chúng ta có thể tin cậy Ngài một cách trọn vẹn, nhận biết rằng Ngài là một Đức Chúa Trời nhơn lành và chỉ muốn điều tốt nhất cho chúng ta mà thôi.
2. Sáng thế ký cho chúng ta biết chúng ta là ai! Một người Anh theo chủ nghĩa hoài nghi có tên là George Bernard Shaw, khi đáp ứng với những trại tập trung của người Đức, ông ngần ngại kết luận: “Có một lẽ đạo về thần học có thể thẩm tra theo kinh nghiệm — ấy là nguyên tội”. Trong khi lẽ đạo ấy lờ mờ trong sách Sáng thế ký, đây chẳng phải là hình ảnh đầu tiên của con người. Câu nói đầu tiên về con người là câu nói của Đức Chúa Trời, Ngài phán: “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta” (1.26). Trong khi ảnh tượng của Đức Chúa Trời nơi con người bị sự sa ngã làm cho hư hỏng đi, nó không bị xóa hẳn. Chúng ta biết rõ sự nầy vì sau nạn lụt, Đức Chúa Trời thiết lập án chết cho kẻ giết người, đặt án ấy trên sự thực con người được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời, một lẽ thật vẫn còn được áp dụng (9.6). Lẽ thật quan trọng đó nằm ở đàng sau quan điểm Cơ đốc cho rằng mỗi con người cần phải được đối xử với sự tôn trọng. Lẽ thật ấy nằm ở đàng sau sự chống đối Cơ đốc đối với việc phá thai và việc làm cho người ta chết không đau đớn. Đây là động lực ở đàng sau các bịnh viện và trung tâm y tế Cơ đốc. Nó nằm ở đàng sau tổ chức từ thiện Cơ đốc đối với người nghèo khó. Nó nằm ở đàng sau sự tôn trọng Cơ đốc của những người nam người nữ dành cho con người, từ khi 1.27 nói một cách phân biệt rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên con người theo ảnh tượng của Ngài là người nam và người nữ. Nó gợi ý những gì chương thứ hai khẳng định — nền tảng cho hôn nhân và các mối quan hệ gia đình Cơ đốc. Nó hình thành nền tảng cho sự hiểu biết thích ứng nơi cái tôi của một người, chỉ ra rằng chúng ta mỗi người đều có một vai trò đặc biệt trong ý định của Đức Chúa Trời.
Nhưng Sáng thế ký cũng cho chúng ta thấy khi sa ngã trong tội lỗi, chúng ta sẽ xa cách đối với Đức Chúa Trời. Mọi tác dụng mang tính tàn phá của tội lỗi đã được tỏ ra trong nhận định đầy đủ của cả sách. Vẻ đẹp của đôi vợ chồng đầu tiên, tình trạng vô tội ở trong vườn, bị hủy diệt khi họ bị trục xuất vì cớ tội lỗi của họ. Đứa con trai lớn nhất của họ, người đầu tiên ra đời trong gia đình đầu tiên ở trên đất, đã giết em mình trong sự ganh tỵ. Đến thời Nôê, tình trạng tội lỗi của dòng giống con người đã được tóm tắt lại: “Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn” (6.5). Do đó, nhận định của chúng ta về bản ngã cần phải được nắn đúc không những bởi lẽ thật đầy khích lệ cho rằng chúng ta được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời, mà còn bởi thực tại cho rằng tấm lòng của chúng ta có khuynh hướng chống nghịch Đức Chúa Trời và hướng theo tội lỗi. Trong khi tấm lòng ấy không phải là một thứ tốt đẹp đáng nhìn ở trong gương mà Sáng thế ký đang duy trì ở trước mặt chúng ta, nó mang bằng chứng với thực tại. Bạn đọc sách Sáng thế ký rồi phải thốt ra: “Phải, bổn tánh con người là như thế. Thậm chí còn hơn nữa, tôi thực sự y như thế đấy!” Tách rời khỏi công việc của Đức Chúa Jêsus Christ trong đời sống tôi, tôi hoàn toàn là tội lỗi. Thích ứng với mối quan hệ của tôi với Đấng Christ, tôi không còn là một tội nhân theo bản tánh nữa … tôi là một thánh đồ. Tuy nhiên, tôi tiếp tục phạm tội vì tôi có thứ xác thịt gian ác đang tồn tại ở trong tôi.
Làm thế nào con sâu có thể lọt vào trong quả táo cho được? Có lẽ bạn nghĩ con sâu đào vào từ bên ngoài. Không. Các nhà khoa học đã khám phá ra rằng con sâu xuất hiện từ bên trong. Nhưng làm sao nó vào tận đó cho được chứ? Rất đơn giãn! Một con côn trùng đặt một trứng trong hoa của cây táo. Một thời gian sau đó, con sâu nở trong phần trung tâm của quả táo, khi ấy nó ăn lần để thoát ra ngoài. Tội lỗi, giống như con sâu, bắt đầu trong tấm lòng rồi lộ ra qua tư tưởng, lời nói và hành vi của con người [David Jeremiah, Grace for the Day, Turning Point Daily Devotional, 4/5/06]. Thật là bẩn thỉu, và chúng ta công nhận tình trạng tội lỗi của chúng ta trầm trọng là dường nào! May thay, sách Sáng thế ký không để chúng ta lại đó. Ở lại đó thì vô vọng lắm. Thay vì thế, Môise đan dệt một sứ điệp đầy đức tin và lời hứa qua sách Sáng thế ký.
3. Sáng thế ký cho chúng ta biết mọi điều chúng ta phải làm theo. Sáng thế ký chỉ cho chúng ta thấy, như chúng ta đã thấy rồi, rằng Đức Chúa Trời hiến cho chúng ta sự cứu chuộc và cách thức chúng ta phải đáp ứng theo. Tôi thích minh họa điều nầy từ trường hợp đức tin đầu tiên, khi Ađam tin theo lời hứa cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Sau khi Đức Chúa Trời tuyên bố lời rủa sả đối với tội lỗi của con người (3.14-19), có một câu lúc đầu dường như là không có trong văn mạch. Sáng thế ký 3.20 đọc: “A-đam gọi vợ là Ê-va, vì là mẹ của cả loài người”. Rồi phân đoạn Kinh Thánh tiếp tục nói tới sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời về tấm da thú và về sự Ngài trục xuất hai vợ chồng ra khỏi khu vườn. Nhưng sau những lời lẽ không lay chuyển được ở 3.19, là lời lẽ giáng ra sự cực khổ và sự chết trên dòng giống con người, bạn sẽ không trông mong 3.20. Tốt nhứt là bạn sẽ nghĩ tới Kẻ Gặt Lấy, “vì nàng là mẹ của mọi người chết”. Sở dĩ như thế là vì tội lỗi của nàng mà sự chết đã đến trên dòng giống con người. Tuy nhiên, Ađam gọi nàng là “Êva”, có nghĩa là người cung ứng sự sống hay người mẹ. Và, hãy nhớ, cái tên nầy đã có trước khi nàng có bất kỳ đứa con nào. Như vậy 3.20 có ý nói gì? Đây là phần đáp ứng đức tin của của Ađam đối với lời hứa của Đức Chúa Trời sai phái một Cứu Chúa đến qua dòng dõi của người nữ (3.15). Ađam đã nghe và phục theo án chết của Đức Chúa Trời (3.19), nhưng ông cũng nắm lấy lời hứa của Đức Chúa Trời cho biết từ một người nữ mà ra một dòng dõi sẽ chà nát đầu con rắn. Và vì thế, bởi đức tin, trước khi vợ ông mang thai, Ađam đặt tên cho vợ là Êva, là mẹ của mọi người. Giờ đây ơn cứu rỗi đang hiện hữu và luôn luôn hiện hữu bởi đức tin nơi lời hứa của Đức Chúa Trời. Trước khi Đức Chúa Jêsus Christ vào trong thế gian, đức tin của một người phải nhìn tới đàng trước nhìn thấy một Cứu Chúa được hứa cho (Rôma 3.25). Kể từ Đấng Christ, đức tin nhìn lui lại Cứu Chúa là Đấng sẽ ngự đến. Ơn cứu rỗi không hề đặt vào việc tuân giữ những điều răn hay trên những việc lành của một người để san bằng mọi tội của người. Chúng ta phải làm hòa với Đức Chúa Trời bằng cách tin cậy những gì Ngài đã phán dạy về Con Ngài, là Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng Cứu Thế duy nhứt, là Đấng đã gánh lấy án phạt của chúng ta trên chính mình Ngài tại thập tự giá.
Một đức tin lành mạnh luôn luôn kết quả nơi sự vâng phục. Nôê không những nói: “Lạy Chúa, con tin theo Ngài, rằng Ngài sẽ sai một trận lụt đến để hủy diệt đất”. Đức tin của ông đã kết quả trong 100 năm chịu khó làm việc và chịu chế nhạo khi ông lo đóng chiếc tàu và đã bước lên tàu khi Đức Chúa Trời phán cùng ông. Đức tin lành mạnh luôn luôn tác động cách ứng xử của chúng ta trong thế giới tội ác nầy. Nói như thế có nghĩa là chúng ta sẽ dâng mình và tất cả những tài nguyên mà Đức Chúa Trời đã tin cậy giao thác cho chúng ta đặng làm theo ý định cao trọng của Ngài chúc phước cho mọi gia đình trên đất qua dòng dõi của Ápraham, Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ. Nếu chúng ta thực sự tin theo những điều Đức Chúa Trời dạy dỗ về sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên tội lỗi và về sự tiếp trợ của Ngài trong Đấng Christ, chúng ta không thể tự mãn giống như hàng tỉ tỉ người bước vào cõi đời đời mà không có Đấng Christ. Thay vì thế, chúng ta sẽ làm theo mọi sự chúng ta có thể để trở thành những ống dẫn ơn phước của Đức Chúa Trời cho những kẻ đang bị hư mất.
Một cụ già, đang đi dọc theo bờ biển lúc bình minh, để ý thấy một thanh niên đứng trước mặt ông đang nhặt lấy con sao biển rồi ném nó ra biển. Bước tới gần thanh niên đó, cụ hỏi anh ta đang làm gì vậy? Chàng thanh niên đáp rằng sao biển mắc cạn sẽ chết mất nếu kẹt lại cho tới khi mặt trời sáng mai. Cụ già kia đáp: “Nhưng bờ biển thì dài biết bao nhiêu dặm, và có hàng triệu triệu sao biển. Nổ lực của anh có tạo ra được sự khác biệt nào chăng?” Chàng thanh niên ấy nhìn vào con sao biển trong bàn tay mình và rồi ném nó vào sự an toàn trong những lượn sóng. Anh ta đáp: “Chỉ có sự khác biệt cho con nầy mà thôi”.
Ở Rôma 10.12-15, Phaolô nói cho chúng ta biết rằng Chúa “giàu ơn đối với mọi kẻ kêu xin Ngài, vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao? Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền tin lành là tốt đẹp biết bao!” Đức Chúa Trời muốn bàn chân xinh đẹp phải là bàn chơn của bạn đấy!
Đâu là những chương trình mùa hè của bạn đây? Liệu bạn có chịu phó thác ngày nay đầu tư vào việc trở thành một nguồn phước cho nhiều người khác không? Sáng thế ký cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là ai, chúng ta là ai, và những điều chúng ta phải làm theo. Đức Chúa Trời đã giàu ơn cứu chuộc chúng ta ra khỏi sự rủa sả của tội lỗi hầu cho chúng ta có thể trở thành ống dẫn của Ngài để chúc phước cho mọi người. Liệu bạn sẽ đáp ứng với sứ điệp của Sáng thế ký không? Liệu bạn sẽ được phước và trở thành một nguồn phước chăng?




Gen 49.29-50.26: "Chết: Một khởi đầu mới"



"Chết: Một khởi đầu mới"

(Sáng thế ký 49.29 - 50.26)
Cách đây gần 2.000 năm, Seneca (5 TC - 65 SC), nhà soạn kịch, triết gia, và là nhà chính trị người La mã có nói: “Con đường dẫn tới đỉnh của sự cao trọng quả là một con đường gồ ghề” [David Jeremiah, Grace for the Day. Turning Point Daily Devotional, 4/14/06]. Seneca đã nhìn xa từ thời của mình và sự thực không nhuốm màu thời gian mà ông đã thốt ra phải được ghi nhớ mãi cho đến hôm nay. Đối với những ai trong chúng ta đã được thúc đẩy và mong muốn làm tròn mọi điều mà Đức Chúa Trời đã dành cho chúng ta, chúng ta phải công nhận rằng Đức Chúa Trời sẽ buộc chúng ta bước đi trên một con đường gồ ghề. Tuy nhiên, chính trên con đường gồ ghề đó Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt chúng ta lên những đỉnh cao của sự cao trọng. Trong khi chúng ta không muốn chịu khổ và kinh nghiệm những thử thách, cám dỗ, có những công cụ mà Đức Chúa Trời sử dụng để nắn đúc chúng ta thành hạng người mà Ngài muốn chúng ta phải trở thành”.
Chúng ta đã đến với phần cuối của sách Sáng thế ký — sách nói tới những khởi nguyên. Ở Sáng thế ký 49.29 trở đi, chúng ta sẽ thấy rằng sự chết chưa phải là cuối cùng … đây là một khởi đầu mới cho những người tin vào những lời hứa của Đức Chúa Trời. Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, chúng ta sẽ tiếp thu những nghịch cảnh thường là ơn phước đội lốt trong đó, vì Đức Chúa Trời sử dụng những vận bĩ để đưa chúng ta hướng tới đàng trước.
Phần giới thiệu: Sự chết của Giacốp (49.29-33). Môise viết: “Đoạn, người ra lịnh cho các con trai mà rằng: Cha sẽ về nơi tổ tông [Trong thời xa xưa, cách sử dụng mệnh đề “về với tổ tông mình” là lối nói trại về sự chết của một cá nhân. Tuy nhiên, có khi (thí dụ, trong phân đoạn Kinh Thánh hiện tại), mệnh đề dường như chứa nhiều hơn cái chết của một cá nhân; nó chỉ ra một sự nhóm lại của nhiều linh hồn của người quá cố trong thế giới bên kia. Nói cách khác, cá nhân nào qua đời chưa bị coi là đã thôi không còn tồn tại nữa, mà đã được chuyển sang một chiều kích khác, đến chỗ mà tổ phụ đã quá cố của người còn đang sống. Trong Kinh Thánh, lối nói nầy xảy ra chỉ trong Ngũ Kinh và chỉ có mười cơ hội để nói trước hay mô tả sự ra đi của Ápraham (25.8); Íchmaên (25.17); Ysác (35.29); Giacốp (49.29, 33); Arôn (Dân số ký 20.24, 26); Môise (Dân số ký 27.13; 31.2; Phục truyền luật lệ ký 32.50). Barry C. Davis, Genesis (Portland, OR. Multnomah Biblical Seminary unpublished class Notes, 2003)], các con hãy chôn cha chung cùng tổ phụ, nơi hang đá tại đồng ruộng Ép-rôn, người Hê-tít, tức là hang đá ở trong đồng Mặc-bê-la, ngang Mam-rê, thuộc về xứ Ca-na-an, mà Áp-ra-ham đã mua làm mộ địa luôn với đồng ruộng của Ép-rôn. Ấy nơi đó, người ta đã chôn Áp-ra-ham và Sa-ra, vợ người; Y-sác và Rê-be-ca, vợ người; mà lại nơi đó cha cũng đã chôn Lê-a nữa. Cái đồng ruộng cùng hang đá ở tại đó đã mua của dân họ Hếch [Có người dịch từ Hy bá lai “Hếch” là “Hêtít” ở đây (cũng xem Sáng thế ký 23.3), nhưng điều nầy khiến cho có ấn tượng là sắc dân nầy là người Hêtít cổ thuộc xứ Anatolia. Tuy nhiên, chẳng có một sự nối kết nào biết được giữa các con trai nầy của Hếch, rõ ràng là một bộ tộc người xứ Canaan (xem Sáng thế ký 10.15), và người Hêtít xứ Tiểu Á. See H. A. Hoffner, Jr., “Hittites,” Peoples of the Old Testament World, 152-153. See NET Study Notes] vậy. Khi trối mấy lời nầy cho các con mình xong, thì Gia-cốp để chân vào giường lại, rồi tắt hơi, được về cùng tổ tông mình”. Khi ông gần chết, Giacốp đã làm cho ai nấy đều nhìn biết mọi ước ao của mình. Ông muốn được chôn cất trong xứ Canaan với gia đình mình ở đồng ruộng Mặcbêla. Đây chẳng phải là lần đầu tiên Giacốp truyền đạt mọi ước ao của ông (đối chiếu 47.29-31). Ông đã suy gẫm về sự chết của mình — ông muốn biết chắc mọi sự đều xuông xẻ, đúng chỗ. Chúng ta phải biết chắc để làm theo y như thế. Hãy đưa ra một ý rồi thố lộ mọi ước ao của mình cho rõ ràng. Hãy loại bỏ những thứ vô lý đi khi bạn còn đang sống. Hãy viết ra mọi ao ước của bạn về những sắp đặt cho tang lễ và việc chôn cất của mình đi. Khi đến lúc qua đời, phải biết chắc đấy là mọi sự mà bạn phải lo làm.
Trong năm câu Kinh Thánh nầy, một cụm từ được lặp đi lặp lại đóng vai trò chủ chốt: “về nơi tổ tông” và “về cùng tổ tông mình” (49.29, 33). Lối nói xa xưa nầy mô tả sự Giacốp hội hiệp với những người đi trước ông trong sự chết và đã thực thi đức tin nơi Đức Chúa Trời. Là tín đồ, chúng ta có sự bảo đảm kỳ diệu từ II Côrinhtô 5.8 “muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn”. Bạn sẽ có cùng một sự tin cậy mà Giacốp đã có. Nếu bạn có đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ, giây phút bạn lìa khỏi đời nầy, bạn sẽ bước vào cõi đời đời với Đức Chúa Trời. Chết chưa phải là dấu chấm hết — đấy chỉ là một dấu phẩy mà thôi.
Giôsép là một con người rất nhạy cảm (50.1): “Giô-sép bèn cúi đầu xuống mặt cha mình, hôn người và khóc”. Giôsép có một đáp ứng thật là tuyệt vời. Những giọt nước mắt duy nhứt đã được ghi lại trong đời sống của Giôsép không phải dành cho bản thân ông, mà cho cảnh ngộ của các anh em ông, và giờ đây cho sự mất mát cha của ông [R. Kent Hughes, Genesis. Beginning & Blessing (Wheaton, IL. Crossway, 2004), 565]. Nổi khổ mà Giôsép đã chịu đựng khiến ông trở thành một con người biết yêu thương. Đau khổ có thể đẩy chúng ta vào một trong hai chiều hướng: nó có thể tạo ra cay đắng trong chúng ta hoặc nó có thể làm cho chúng ta dịu lại. Giôsép là một con người của sự dịu dàng và giàu ơn yêu thương đối cùng người khác. Ông rất thương yêu cha và khóc lóc khi cha ông qua đời [Michael Eaton, Preaching Through the Bible. Genesis 24-50 (Kent, England. Sovereign World, 1999), 121]. Khi ai đó chúng ta yêu thương qua đời, Đức Chúa Trời mong chúng ta phải bật khóc. Đấy là lý do tại sao Ngài đã ban cho chúng ta khả năng để đổ nước mắt ra. Những giọt nước mắt bình thường là một phần của tiến trình chữa lành (Thi thiên 30.5), trong khi nổi khổ khác thường chỉ giữ cho các vết thương mở ra và kéo dài sự đau đớn. Trong chức vụ Mục sư của tôi, tôi đã học biết được rằng người nào cầm nén đau khổ đang ở trong sự nguy hiểm của việc phát triển nhiều nan đề về tình cảm hay xác thịt khó mà chữa lành được [Warren W. Wiersbe, Be Authentic. Genesis 25-50 (Colorado Springs. Chariot Victor, 1997), 159]. Đừng sợ phải thổ lộ ra khi bạn đau khổ hay kinh nghiệm sự mất mát.
Khi suy gẫm về sự chết, thật là quan trọng khi biết chắc rằng bạn đang có những mối quan hệ rất hài hòa. Những mối quan hệ đúng đắn trong đời sống làm cho cái nọc đau khổ phải mềm đi trong sự chết. Ngày nay, nếu mọi việc chưa được xuông xẻ giữa bạn và cha, mẹ, anh chị em hay con cái của bạn, hãy làm mọi sự mà bạn có thể để biết chắc là đang có sự hòa thuận (Rôma 12.18).
Giôsép là một con người có đức tin (50.2-7a): “Đoạn, Giô-sép biểu mấy thầy thuốc hầu việc mình, dùng thuốc thơm xông cho xác cha; thầy thuốc bèn xông cho Y-sơ-ra-ên. Bốn mươi ngày xông thuốc hầu qua, vì ấy là hạn ngày dùng xông thuốc; dân Ê-díp-tô khóc người trong bảy mươi ngày (ngắn hơn hai ngày than khóc cho Pharaôn [Allen P. Ross, Creation & Blessing (Grand Rapids. Baker, 1988 [2002 ed.]), 715. Waltke cho biết: “Đám tang rất lớn nầy và sự tôn vinh Giacốp như một vị vua bởi người Ai cập làm hình bóng trước cho sự Israel ra khỏi Ai cập và cung ứng một tiên vị về thời điểm khi các nước tôn vinh con trai của Giacốp là Vua”. Bruce K. Waltke, Genesis (Grand Rapids. Zondervan, 2001), 618]). Khi mãn tang rồi, Giô-sép bèn nói cùng quần thần Pha-ra-ôn [Mặc dù Giôsép đang có địa vị ưu đãi của Pharaôn, ông nghĩ đến gặp thẳng Pharaôn là hay hơn. Có lẽ vì ông vừa mới chạm đến thi thể của cha mình. Hay, đúng ra ông đã ở trong tình trạng râu mới cạo, do khóc tang. Vì vậy Giôsép đã đưa ra lời thỉnh cầu của mình qua các quần thần. Hughes, Genesis, 566] rằng: Nếu tôi được ơn trước mặt các ngươi, xin hãy thuật lại lời nầy cho Pha-ra-ôn nghe: Cha tôi có biểu tôi thề mà rằng: Nầy, cha sẽ chết, con hãy chôn cha nơi mộ địa ta đã mua sẵn rồi trong xứ Ca-na-an. Vậy bây giờ, tôi phải lên đó chôn cha tôi, rồi sẽ trở xuống. Pha-ra-ôn bèn phán rằng: Hãy trở lên chôn cha ngươi, y như lời người đã bắt thề đó”. Giôsép đang thốt ra đức tin của mình và đức tin của cha mình khi ông lo chôn cất Giacốp trong xứ Canaan. Trong khi dân sự của Đức Chúa Trời sinh sống tại Ai cập và được gọi là “người Ai cập” bởi dân xứ Canaan (50.11), Tuy nhiên, quyết tâm của họ đã đặt vào xứ Canaan. Ai cập không phải là quê hương của họ. Mọi lời hứa của Đức Chúa Trời không nhắm vào xứ Ai cập; chúng nhắm vào xứ Canaan. Bạn có thể nhìn qua bên kia đời tạm của bạn ở đây trên đất không? Có phải bạn có đức tin để nhìn thấy mọi sự mà Đức Chúa Trời đang dành cho bạn không?
Giôsép là một con người hiếu kính (50.7b-11). Khi Giôsép lo chôn cất cha mình, hết thảy tôi tớ của Pharaôn cùng những trưởng lão và hết thảy trưởng lão của xứ Ai cập đã cùng đi với ông (50.7b-8). Ở 50.9-11, Môise viết: “Lại cũng có đem ngựa và xe theo lên nữa: thật là một đám xác rất đông thay! Khi đến sân đạp lúa của A-tát, ở bên kia sông Giô-đanh, thì họ làm lễ khóc than rất nên trọng thể tại đó; đoạn, Giô-sép để tang cha trong bảy ngày. Dân Ca-na-an, tức là dân xứ ấy, thấy khóc than nơi sân đạp lúa A-tát [Địa điểm “sân đạp lúa của Atát” không được biết chắc. Cụm từ “ở bên kia sông Giôđanh” có thể đề cập tới bờ phía đông hay sườn phía đông, nương theo nhận thức của một người. Tuy nhiên, cụm từ nầy thường được dùng trong Cựu Ước để chỉ Transjordan. Điều nầy cho thấy rằng đoàn tùy tùng đã đến Trũng Giô đanh và đã băng ngang qua xứ tại Giêricô, giống như dân Israel sẽ băng qua trong thời của Giôsuê. See NET Study Notes], thì nói rằng: Ấy là một đám khóc than trọng thể của dân Ê-díp-tô đó! Bởi cớ ấy người ta gọi cái sân nầy tên là A-bên-Mích-ra-im ở bên kia sông Giô-đanh”. Giôsép đã đạt tới mức hiếu kính cao độ trong con mắt của người Ai cập. Đức Chúa Trời có thể làm như thế cho dân sự của Ngài khi Ngài muốn. Nhưng đấy chưa phải là cuối cùng đâu! Trong chương kế đó của Kinh Thánh, một vị vua mới dấy lên trong xứ Ai cập, vua nầy chẳng biết đến Giôsép (Xuất Êdíptô ký 1.8). Đúng là tầm thường dường bao! Chúng ta không nên quá phấn khích về những vinh quang từ thế gian. Tiếng tăm chỉ mau qua — chưa phải là cuối cùng. Một ngày kia người ta sẽ nói: “Phước thay cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến!” nhưng sau đó không lâu, họ sẽ la lên: “Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự!” (Mathiơ 21.9; 27.23). Tiếng tăm và vinh quang rất là đẹp, nhưng nó chỉ ngắn ngủi mà thôi [See also Eaton, Genesis 24-50, 121]. Vì thế, chúng ta phải nhớ rằng tình bạn rất quan trọng, chúng ta không thể tự thỏa hiệp để kiếm sự được lòng người. Lứa tuổi thanh thiếu niên, tôi dám chắc với các bạn rằng tình bạn trong học đường của các bạn sẽ nhất thời thôi. Vậy nên, đừng tự thỏa hiệp để kiếm bạn bè và đừng tốn nhiều thời gian dốc đổ mình vào các mối quan hệ nhất thời. Đến cuối cùng, bạn sẽ thấy thất vọng cho xem.
Giôsép là một con người bền đỗ trong ơn kêu gọi của mình (50.12-14). Môise viết: “Vậy, các con trai Gia-cốp làm theo lời cha trối lại, dời xác người về xứ Ca-na-an, chôn trong hang đá của đồng Mặc-bê-la ngang Mam-rê, mà Áp-ra-ham đã mua luôn với đồng ruộng Ep-rôn, người Hê-tít, để dùng làm mộ địa. Chôn cha xong rồi, Giô-sép cùng các anh em và các người đi lên theo đưa xác cha, đều trở xuống xứ Ê-díp-tô”. Mọi lời hứa của Đức Chúa Trời hết thảy đều gắn bó với xứ Canaan, nhưng Giôsép không bị cám dỗ mà ở lại đó. Ông biết rõ ơn kêu gọi của mình về xứ Ai cập. Ông lấy một con mắt nhìn về đất hứa, là nơi ông đã không nhìn thấy từ lúc được 17 tuổi, và rồi đã quay trở về nơi chốn mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông. Đây là sự kêu gọi cá nhân sẽ giúp cho bạn tiếp tục bền dỗ trong đời sống và chức vụ của bạn.
Ngày nay, bạn có thể cảm thấy một điều rất vô mục đích. Có thể bạn không cảm thấy mình như có một ý thức thực sự về ơn kêu gọi. Hãy cầu xin Đức Chúa Trời ban cho bạn một ơn kêu gọi hay khẳng định ơn kêu gọi trên đời sống của bạn. Tôi có một ơn kêu gọi từ Đức Chúa Trời phải giảng dạy Kinh Thánh. Lori có một ơn kêu gọi dạy dỗ con cái của chúng tôi. Chúng ta sẽ làm bất cứ điều chi để chu toàn các ơn kêu gọi đặc biệt nầy. Nếu chúng tôi phải chi tiền bạc vào học đường, đào tạo, hay tiếp trợ, chúng tôi sẽ chi số tiền đó. Nếu chúng tôi phải hy sinh trong kế hoạch của mình, chúng tôi sẽ phải hy sinh thôi. Nếu chúng tôi thất vọng và thất bại, chúng tôi sẽ trả giá cho sức lực để “hăng hái lên” vì chúng tôi có những ơn kêu gọi trên đời sống của chúng tôi. Đâu là ơn kêu gọi của bạn vậy? Có phải bạn đang sửa soạn để chu toàn ơn ấy không?
Giôsép là một con người biết tin cậy vào quyền tể trị của Đức Chúa Trời (50.15-21). Ở 50.15-18, Môise viết: “Các anh Giô-sép thấy cha mình chết rồi, thì nói với nhau rằng: Có lẽ Giô-sép sẽ ganh ghét chúng ta, và trả thù việc ác chúng ta đã làm cho người chăng. Các anh bèn sai người đến nói cùng Giô-sép rằng: Trước khi qua đời, cha em có trối rằng: Hãy nói lại cho Giô-sép như vầy: Ôi! xin hãy tha điều ác, tội phạm của các anh con đi, vì chúng nó đã lỗi cùng con đó; nhưng bây giờ cha xin con hãy tha tội kẻ tôi tớ của Đức Chúa Trời cha. Nghe qua mấy lời nầy, Giô-sép bèn khóc. Chính các anh người đến sấp mình xuống dưới chân mà nói rằng: Các anh đây thật là kẻ tôi tớ của em đó”. Trong bốn câu nầy, các anh của Giôsép đã thổ lộ một số đáp ứng rất tiêu cực và tích cực. Lúc đầu, họ đáp ứng tiêu cực thích đáng với tội lỗi, sợ hãi và đa nghi. Họ không thể hiểu được sự tha thứ của Giôsép. Họ tưởng rằng Giôsép chỉ đề ra thời biểu kính trọng dành cho cha của người là Giacốp. Nhưng giờ đây Giacốp đã qua đời rồi, họ bị bám chặt với sự trông mong hãi hùng về án phạt dành cho tội lỗi của họ nơi tay của Giôsép. Vì vậy họ mau nhận rằng Giacốp đã đưa ra lịnh lạc cho Giôsép phải tha thứ các anh mình. Tuy nhiên, Giacốp không hề làm vậy vì ông biết rõ Giôsép đã tha thứ hoàn toàn cho các anh mình. Sợ hãi thường khiến cho chúng ta phải nắm lấy vấn đề trong hai bàn tay của chúng ta. Khi điều nầy xảy ra, chúng ta có thể nói và làm những việc tỏ ra những động lực bất khiết. Trong trường hợp nầy, các anh đang ra sức để “cứu lấy da của họ” khi họ đáng phải tin cậy nơi Đức Giêhôva.
Về mặt tích cực, các anh mang tội chống nghịch lại Giôsép. Họ không gọi tội lỗi của họ là lỗi lầm hay sai sót khi xét nét, như thường xảy có hôm nay. Các anh sử dụng những từ như “việc ác” (50.15, 17), “tội phạm” (50.17), và “lỗi” (50.17). Khi ấy họ nài xin ơn tha thứ, sấp mình xuống trước mặt Giôsép, và tận tụy giống như hàng nô lệ (50.17-18). Những người nầy biết ăn năn!
Nhà xã hội học James Davison Hunter lưu ý quí thầy cô giáo đang đứng lớp không nên nói những câu như: “Làm ơn thôi đi! Các em đang làm rối cả lớp kia!” Giờ đây các câu nói như thế bị coi là lời lẽ phán xét. Thay vì thế, nếu một thanh niên có cánh tay mạnh mẽ đang làm vở các cánh cửa sổ lớp học bằng quả banh quần vợt của mình, thầy giáo sẽ nói đại loại như sau: “Em đang làm gì vậy? Sao em lại làm vậy chứ? Làm thế em cảm thấy như thế nào?” Hunter tiếp tục nói chữ “tội lỗi” tìm thấy chỗ của nó trong các thực đơn ghi món tráng miệng: “Peanut Butter Binge” và “Chocolate Decadence” là tội lỗi, còn nói dối thì không. Xã hội của chúng ta đã tránh né ý nghĩa của tội lỗi. Từ “tội lỗi” không còn là một từ có ý nghĩa cho hầu hết người ta trong xã hội của chúng ta. Đấy là lý do tại sao nhiều người tội lỗi đang tà tà quanh thế giới của chúng ta ngày nay. Chẳng có cách nào gạt bỏ được tội lỗi cho tới chừng nào bạn trước tiên công nhận đã làm sai. Các tổ phụ Cơ đốc của chúng ta vốn hiểu rõ từ “tội lỗi”. Họ sợ từ ấy, gớm ghét nó, đau khổ vì nó, và trốn tránh nó. Đây là lúc tái khám phá lại tội lỗi, để chúng ta có thể đòi hỏi ơn tha thứ và say sưa trong ân điển! [David Jeremiah, Grace for the Day. Turning Point Daily Devotional, 5/4/06]. Nếu bạn đã phạm tội nghịch lại ai đó, vì cớ Đức Chúa Trời và vì chính bạn, hãy gọi nó theo đúng nghĩa của nó! Đừng cho nó là không quan trọng hay cáo lỗi cho bản thân mình. Đức Chúa Trời tôn cao người nam hay người nữ với một tinh thần thống hối, hạ mình (Êsai 57.15; 66.2b; Mathiơ 5.3-4; Luca 18.13-14). Trong nhiều trường hợp, kẻ mà bạn phạm tội nghịch với cũng tìm thấy sự xưng tội chân thành rất hấp dẫn.
Ở 50.19-21, Môise ghi lại đáp ứng rất hay của Giôsép: “Giô-sép đáp rằng: Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Đức Chúa Trời sao? Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo. Vậy, đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng các anh và con cái các anh. Đoạn, Giô-sép an ủi các anh, và lấy lời êm dịu mà nói cùng họ” [Sailhmaer viết: “Phần mô tả sau cùng nói tới cách xử sự của Giôsép với các anh mình là câu nói ‘Đoạn, Giô sép an ủi các anh [wayenahem 'oth am; NIV, “tái khẳng định”] và lấy lời êm dịu mà nói cùng họ [wayedabber `al-libbam]’ (câu 21). Một lần nữa, thật khó nhìn thấy trong bức tranh nầy về Giôsép và các anh của ông một hình bóng nói trước về cộng đồng trong tương lai các con trai của Israel trong cuộc lưu đày đang trông đợi sự họ trở về lại Đất Hứa. Đối với chính cộng đồng ấy, lời kêu gọi thốt ra bởi tiên tri Êsai là ‘Đức Chúa Trời của các ngươi phán rằng: hãy yên ủi [nahamu], hãy yên ủi [nahamu] dân ta. Hãy nói cho thấu [dabberu `al-leb] lòng Giê-ru-sa-lem, và rao rằng sự tranh chiến của nó đã trọn; tội lỗi nó đã được tha; nó đã chịu gấp hai từ tay Đức Giê-hô-va vì các tội mình’ (Êsai 40.1-2). John H. Sailhamer, Genesis. EBC (Grand Rapids. Zondervan, 1990), Electronic ed]. Đáp ứng của Giôsép trước tình trạng gian ác của các anh mình chẳng thiếu phần thiêng liêng. Nhưng đây cũng là đáp ứng thích đáng của mỗi người nam người nữ Cơ đốc nào đối mặt với đau khổ bất công hay bắt bớ (Luca 6.27-28; Côlôse 3.13). Chúng ta hãy phân tích phần đáp ứng có ba phương diện của Giôsép:
1. Đức Chúa Trời là quan án tối cao của muôn vật. “Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Đức Chúa Trời sao?” Giôsép hỏi như thế. Mọi sai trái đều được lèo lái bởi Ngài, chớ không phải bởi con người. Có người nghĩ ngay tới câu Kinh Thánh nổi tiếng ở Rôma 12.19: “Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng” (đối chiếu I Têsalônica 5.15; I Phierơ 4.19).
2. Đức Chúa Trời là quan án tối cao của vũ trụ, Ngài là Đấng đang nắm giữ giềng mối sự tể trị thiêng liêng. Lời lẽ của Giôsép ở đây nhắc cho người ta nhớ tới lời lẽ mà ông đã thốt ra ở 45.5, một câu nói cổ điển về nguyên tắc của sự tể trị: “Bây giờ, đừng sầu não, và cũng đừng tiếc chi về điều CÁC ANH ĐÃ BÁN TÔI đặng bị dẫn đến xứ nầy; vì để giữ gìn sự sống các anh, nên ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ SAI TÔI đến đây trước các anh”. “Các anh đã bán tôi” tiêu biểu cho phần của con người trong mọi việc, trong khi “Đức Chúa Trời đã sai tôi” tiêu biểu cho phương diện thiêng liêng (đối chiếu Giăng 18.11; Thi thiên 76.10; Công Vụ các Sứ đồ 2.22-24; 4.28; 13.27; Rôma 8.28, 32, 38 -39; Philíp 1.12). Ngay cả những sự cố gian ác đều có nguyên nhân tối hậu của chúng trong ý định của Đấng tể trị thế gian, mặc dù Ngài chẳng phải là tác giả của điều ác. Ngài khiến có điều ác vì mọi ý định tốt lành cao cả hơn cho dân sự của Ngài và thế giới của Ngài hiển nhiên tại thập tự giá, Ngài đã quyết định trước khi lập nền thế gian. Và ai có thể tranh cãi trước thực trạng gian ác của con người trong việc đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá là sự gian ác lớn lao nhất mà thế gian đã từng nhìn thấy hay từng biết rõ? Những câu Kinh Thánh minh chứng Đức Chúa Trời có thể sử dụng điều ác vì điều ích cao cả hơn trong Công Vụ các Sứ đồ 2.22-24, 4.28, và trong phân đoạn Kinh Thánh hiện tại. Sự tể trị thiêng liêng bao gồm sự gìn giữ vũ trụ và các chi thể của nó, cũng như sự vận hành hay cấp chính quyền của nó (đối chiếu 28.15; Hêbơrơ 1.3). Nói cách khác, sự chú ý của Đức Chúa Trời tập trung vào mọi nơi. Sự khôn ngoan của Ngài cũng đã được nói chung chung rồi, trong đó sự khôn ngoan ấy phải làm với mọi đối tượng, mọi việc, cùng với loài thọ tạo trong vũ trụ (đối chiếu Thi thiên 103.19). Và đặc biệt phải nói, sự khôn ngoan ấy cũng phải làm việc với tất cả mọi người nữa (đối chiếu Thi thiên 66.7; Đaniên 2.21; 4.25; Châm ngôn 16.9). Tất cả những điều nầy là cần thiết, nếu Đức Chúa Trời cần phải hoàn thành mọi ý định của Ngài, vì mọi ý định ấy thường nương theo từng giây phút của các sự kiện và những chi tiết [Không may thay, nhiều người trong chúng ta có câu gốc lại không có lẽ thật! Để được ích từ lẽ thật nầy, chúng ta phải biết rõ chúng ta định nghĩa chữ “ích” như thế nào thường khác biệt với cách Đức Chúa Trời định nghĩa chữ “ích”. Đối với chúng ta “ích” là bất cứ điều chi làm cho chúng ta vui sướng, thỏa lòng hoặc làm cho chúng ta vui thích. Chúng ta xem tốt lành là vắng đi bất kỳ một sự đau khổ nào. Còn Đức Chúa Trời định nghĩa “ích” là điều dẫn dắt chúng ta đến với chỗ giống như ảnh tượng Đấng Christ, đưa chúng ta đến chỗ tin cậy Đấng Christ nhiều hơn hay tấn tới trong vương quốc của Ngài. Như tôi đã nói trước đây, nếu các anh của Giôsép không bán ông cho người Mađian, thì Giôsép không qua Ai cập. Nếu Giôsép không qua Ai cập, ông không bị bán cho Phôtipha. Nếu ông không bị bán cho Phôtipha, vợ của Phôtipha không vu cáo ông về tội cưỡng hiếp. Nếu vợ của Phôtipha không vu cáo ông về tội cưỡng hiếp, thì ông không bị bỏ tù. Nếu ông không bị bỏ tù, ông không gặp được quan tửu chánh và quan thượng thiện của Pharaôn. Nếu ông không gặp quan tửu chánh và quan thượng thiện của Pharaôn, ông không giải thích các điềm chiêm bao. Nếu ông không giải thích các điềm chiêm bao, ông không giải được điềm chiêm bao của Pharaôn. Nếu ông không giải được điềm chiêm bao của Pharaôn, ông không được lập làm Thủ Tướng. Nếu ông không được lập làm Thủ Tướng, ông không quản lý khôn khéo nạn đói nặng nề giáng trên khu vực. Nếu ông không quản lý khôn khéo nạn đói nặng nề giáng trên khu vực, thì gia đình ông trở lại xứ Canaan hư mất trong nạn đói. Nếu gia đình ông trở lại xứ Canaan hư mất trong nạn đói, thì Đấng Mêsi không thể đến từ một gia đình chết ấy được. Nếu Đấng Mêsi không thể đến được, thì Chúa Jêsus không hề đến. Nếu Chúa Jêsus không hề đến, thì bạn đã chết trong tội lỗi của mình và chẳng có hy vọng gì trong thế gian nầy!]
Mọi ý định của Đức Chúa Trời dành cho Giôsép và gia đình ông đều là tốt lành cả (đối chiếu Sáng thế ký 1-2). Kết quả là, ông đã xử sự với tình cảm dịu dàng đối cùng các anh mình. Ông đã minh chứng mình là kẻ gìn giữ của các anh (đối chiếu 4.9). Sáng thế ký đã mở ra với một đôi vợ chồng, Ađam và Êva, ráng sức để trở nên giống như Đức Chúa Trời; rồi kết thúc với một con người là Giôsép, ông từ chối ông không thể thay thế Đức Chúa Trời [Dr. Thomas L. Constable, Notes on Genesis ( http.//www.soniclight.com/constable/notes/pdf/genesis.pdfhttp.//www.soniclight.com/constable/notes/pdf/genesis.pdf, 2005), 276]. Với lời đáp nầy, Giôsép đã tóm tắt hoạt động của Đức Chúa Trời xuyên suốt sách Sáng thế ký. Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hóa đang tể trị. Mọi ý định của Ngài muốn chúc phước cho nhân loại qua tuyển dân của Ápraham — dòng dõi lời hứa — đã được hoàn tất bất chấp mọi hành động của dân sự Ngài [Paul Wright, ed., Genesis. Shepherd’s Notes (Nashville. Broadman, 1997), 86]. Môise có cả một kệ sách rất là hay. Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải hiểu rõ Ngài là Đức Chúa Trời và chúng ta không phải thế! Ngài muốn chúng ta tin cậy nơi Ngài. Ngài đang tể trị và Ngài có một chương trình cho đời sống của chúng ta. Ngài có thể sử dụng những đảo lộn của cuộc sống để đưa chúng ta hướng tới đàng trước.
Không nghi ngờ chi, có những đêm dài khi Giôsép kêu la: “Chúa ơi, sao lại như vậy chứ?” “Tôi đã làm gì để phải gánh chịu như thế nầy?” Và cũng thực như thế cho bạn đấy. Bạn sẽ thắc mắc: Sao người bạn đời của tôi phải chết? Sao tôi lại mắc chứng ung thư? Sao tôi phải chôn cất con của mình? Tại sao, tại sao, tại sao? Hết thảy chúng ta đều có những thắc mắc y như thế, nhưng chỗ bạn đi tới trong suy tưởng mới là chỗ then chốt đó. Một là bạn để cho mọi nghi ngờ làm cho mối quan hệ của bạn với Đức Chúa Trời bị què quặt đi và khiến cho bạn tăng dần trong sợ hãi và tự thương hại, hoặc bạn có thể tin theo Đức Chúa Trời bằng cách đặt lòng tin cậy của mình vào lời hứa của Ngài để “mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (Rôma 8.28).
Khi chúng ta xem xét đời sống đáng trượng của Giôsép, chúng ta phải đối mặt với một trong những thắc mắc quan trọng của cuộc sống:
“Sao những việc tồi tệ lại xảy đến cho hạng người nhơn đức chứ?” Tiền đề của câu hỏi đã bị sai sót, vì “chẳng có một ai nhơn đức hết”. Vấn đề phải lo làm khi tìm hiểu đau khổ nằm ở điểm bắt đầu tham khảo của chúng ta: (1) Nếu chúng ta bắt đầu với tiền đề cho rằng con người và tình trạng hạnh phúc của con người là mục tiêu tối hậu, thì cuộc sống sẽ hiện hữu với chúng ta bằng một chuỗi thách thức và thất vọng không bao giờ đứt đoạn. (2) Còn nếu chúng ta bắt đầu với tiền đề cho rằng Đức Chúa Trời và ơn phước của Ngài là mục tiêu tối hậu trong cuộc sống, thì cuộc sống bắt đầu có ý nghĩa và chiếu theo viễn cảnh đời đời mà Kinh Thánh đang dạy dỗ [Bob Hallman, “God Intended It For Good” (Genesis 49.29-50.26).
http.//kauai.calvarychapel.com/teachings/genesis.html].
Lẽ đạo nói về sự tể trị chẳng được ưa thích lắm ngày nay. Khi những hoàn cảnh khó khăn xảy đến trên đường lối chúng ta, nhiều người đương thời mau chóng nhảy vào với những lời lẽ như sau: “Đức Chúa Trời chẳng có việc gì phải làm với hoàn cảnh ấy!” hay tệ hại hơn: “Đức Chúa Trời không thể làm gì trong cảnh ngộ đó”.
Nhưng có hai vấn đề với những câu nói như thế nầy: Thứ nhứt, trong họ chẳng có một sự yên ủi nào hết. Đâu là sự yên ủi khi nhìn biết Đức Chúa Trời là vô quyền không điều khiển được mọi sự hiện đang xảy ra trong đời sống của bạn chứ? Và thứ hai, trong nổ lực để bảo vệ tiếng tăm của Đức Chúa Trời họ đã làm cho Đức Chúa Trời ra kém hơn Đức Chúa Trời. Mọi lời hứa của Đức Chúa Trời, các chương trình của Ngài, và mục đích của Ngài giờ đây là đối tượng cho ý tưởng tùy hứng của con người. Nếu Ngài là Đức Chúa Trời, tất nhiên, Ngài đã làm một việc gì đó trong cảnh ngộ ấy. Đức Chúa Trời không hề vô quyền đâu! Vì thế mới có thắc mắc. Những gì Đức Chúa Trời sẽ làm không kết thúc những sự cố nhất định đâu! Giôsép dám chắc rằng mọi hành động hay không hành động của Đức Chúa Trời (trong một số trường hợp) luôn phù hợp với sự tể trị khôn ngoan của Ngài [Bruce Goettsche, “The Invisible Hand of Providence” (Genesis 50.15-21). http.//www.unionchurch.com/archive/040900.html].
3. Điều ác cần phải được báo lại bằng sự tha thứ và tình cảm. Giôsép đã công nhận mọi động lực gian ác của các anh mình: “Các anh toan hại tôi” (50.20a). Ông không thu nhỏ lại tội lỗi của họ! Tuy nhiên, Giôsép hứa cùng chính các anh đó: “Vậy, đừng sợ, tôi (nhấn mạnh trong bản Kinh Thánh gốc) sẽ cấp dưỡng các anh và con cái các anh”. Môise nói thêm: “Đoạn, Giô-sép an ủi các anh, và lấy lời êm dịu mà nói cùng họ” (50.21). Phần giúp đỡ cá nhân mà Giôsép hứa và cung cách trong đó ông hứa hẹn nó phù hợp với sự dạy Cơ đốc trong Tân Ước (đối chiếu Luca 6.27-38) [Cũng xem S. Lewis Johnson, Jr., “Lời lẽ sau cùng của Giôsép” (Sáng thế ký 50.1-26) Believers Bible Bulletin Lesson 66 June 29, 1980.
http.//www.beliÊvars-chapel.org/bulletins/genesis/genesis.html]. Từ một nhận định theo con người, Giôsép vốn có “quyền hành” và khả năng để trừng phạt các anh mình. Tuy nhiên, không những ông từ chối không làm như thế, ông còn đi xa hơn những điều mong đợi và báo đáp cho tình trạng gian ác của họ bằng ân điển và sự tử tế nữa (Rôma 12.19).
Giờ đây, tôi biết bạn đang suy tính gì! Làm sao tôi tha thứ giống như vầy cho được? Chúng ta hãy thực tế trong một phút xem. Có phải bạn biết loài thú có thể giữ lấy hận thù và cũng chiến đấu với giận dữ không? Hãy xem con lạc đà kìa. Loài lạc đà có khả năng tạo ra một cái nồi sôi sụt tức tối đối với con người. Và khi cái nắp vung thình lình bật ra, hãy coi chừng. Trong Á châu, khi người cỡi lạc đà ý thức được rắc rối, anh ta đưa chiếc áo choàng của mình cho con thú. Con lạc đà xé toạc chiếc áo ra thành từng mãnh — nó dậm lên chiếc áo, cắn xé nó, làm rách chiếc áo ra thành nhiều mãnh nhỏ. Khi nó cảm thấy đủ rồi, thì họ tiếp tục hài hòa trở lại.
Có chiếc áo choàng của ai mà bạn không tính đạp lên không? Bất luận chúng ta muốn giũ sạch sự báo thù nghiêm trọng như thế nào, sự thực cho thấy việc đó đang đầu độc linh hồn chúng ta. Kinh Thánh nói rất rõ về những hậu quả của sự cay đắng [Xem Êphêsô 4.31; Hêbơrơ 12.15; và Giacơ 3.14]. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi khám phá ra Vua David, một người vừa lòng Đức Chúa Trời, đã có sự tức tối. Ở cuối đời mình, ông vẫn còn quan tâm đến những sai lầm mà người ta đã làm cho ông nhiều năm trước đó. Đừng để cho tổn thương và giận dữ trở thành toàn bộ lối sống của bạn! [David Jeremiah, Grace for the Day. Turning Point Daily Devotional, 5/6/06]. Hãy tìm kiếm một phương thức có tính gây dựng rồi để cho nó chạy xuông xẻ. Tôi dùng một cái bao cát nặng và đôi găng quyền anh. Khi tôi cảm thấy sôi giận, cay đắng, hay tức tối, tôi đấm như điên cuồng vào bao cát ấy. Hãy tìm một sinh hoạt thích ứng (ngoài việc ăn uống) để giải tỏa cơn giận. Có thể bạn cần đến môn quần vợt hay golf. Hai môn thể thao nầy sẽ giúp cho bạn giải tỏa bớt tình trạng bốc hơi của mình. Khi bạn làm theo như thế, hãy suy gẫm lại về ân điển mà Đức Chúa Trời đã ban cho bạn để bạn có thể cung ứng cho nhiều người khác. Hãy tự nhũ lòng sự báo thù không thuộc về bạn — sự báo thù ấy thuộc về Đức Chúa Trời. Hãy cầu nguyện để bạn sẽ kìm giữ sự tức tối theo một phương thức hầu cho mối quan hệ của bạn không phải chịu khổ.
Giôsép là một con người đã kinh nghiệm ơn phước của Đức Chúa Trời (50.22-26). Quả là thích đáng khi sách Sáng thế ký kết thúc bằng một ơn phước kể từ khi “phước” và “chúc phước” là những từ chìa khóa của quyển sách. Trong năm câu sau cùng, Môise viết: “Giô-sép cùng nhà cha mình kiều ngụ tại xứ Ê-díp-tô; người hưởng thọ được một trăm mười tuổi. Người thấy được các con cháu Ép-ra-im đến đời thứ ba, và cũng có được nâng niu trên gối mình các con của Ma-ki, tức con trai của Ma-na-se, nữa. Kế, Giô-sép nói cùng các anh em rằng: Em sẽ chết, nhưng Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em thật; đem các anh em về xứ mà Ngài đã thề hứa cùng Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Giô-sép biểu các con trai của Y-sơ-ra-ên thề mà rằng: Quả thật, Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em; xin anh em hãy dời hài cốt tôi khỏi xứ nầy. Đoạn, Giô-sép qua đời, hưởng thọ được một trăm mười tuổi. Người ta xông thuốc thơm cho xác Giô-sép, và liệm trong một cái quan tài tại xứ Ê-díp-tô”. Hơn 50 năm giữa 50.21 và 22. Trong khoảng thời gian nầy, Đức Chúa Trời đã chúc phước dư dật cho Giôsép với ba ơn phước:
1. Đức Chúa Trời đã ban cho Giôsép được sống thọ (50.22). Ông đã sống 110 năm. Một chuyên gia trong lịch sử Ai cập đã tuyển chọn ít nhất 27 tham khảo đến người sống 110 năm. Tuổi nầy được xem là tuổi lý tưởng [Johnson, “The Last Words of Giôsép,”
http.//www.beliÊvars-chapel.org/bulletins/genesis/genesis.html. Victor P. Hamilton, The Book of Genesis Chapters 18-50. NICOT (Grand Rapids. Eerdmans, 1995), 709]. Mười bảy năm đầu tiên của Giôsép được sử dụng là một thanh niên trong xứ Canaan, 13 năm kế đó là nô lệ trong xứ Ai cập, và 80 năm sau cùng là quan tể tướng cai trị khắp cả xứ Ai cập.
2. Đức Chúa Trời ban cho Giôsép đặc ân nhìn thấy chắt nội của mình (50.22-23). Trong hơn 20 năm Giôsép đã thiếu vắng gia đình vì cớ mọi điều Đức Chúa Trời đã làm qua ông, nhưng giờ đây những gì ông mất mát đã được đền bù. Ông đã sống để nhìn thấy ơn phước của Đức Chúa Trời giáng trên con cháu của con cái ông (đối chiếu 48.11). Đây là một phần thưởng của Đức Chúa Trời (Thi thiên 128.6). Như Châm ngôn 17.6 chép: “Mão triều thiên của ông già, ấy là con cháu; Còn vinh hiển của con cái, ấy là ông cha”. Hai ơn phước nêu trên chưa phải là bảo đảm cho những ai có lòng trung tín. Như bài hát của cụ Billy Joel ghi: “Có khi người nhơn đức chết trẻ”. Nhưng những nguyên tắc bao quát nầy thường là sự thực.
3. Đức Chúa Trời ban cho Giôsép đức tin đáng nhớ (50.24-26). Giôsép căn dặn các anh mình bốn việc rất quan trọng: Thứ nhứt, Đức Chúa Trời sẽ đến để trợ giúp cho Israel. Hai lần Giôsép nhắc lại câu: “Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em” (50.24-25). Đây là câu nói mà bạn và tôi cần phải trao lại cho những người thân của mình. Đừng hứa với họ về sự giàu có về tiền bạc hay sự an ninh. Hãy quyết chắc với họ về sự quan phòng của Đức Chúa Trời. Ngài là mọi sự mà họ có cần! Thứ hai, Đức Chúa Trời sẽ đưa họ ra khỏi Ai cập. Mặc dù dân sự của Đức Chúa Trời phải mất 400 năm trong vòng nô lệ cho xứ Ai cập, Giôsép nhìn thấy một ngày sáng sủa hơn [Một số lời hứa của Đức Chúa Trời phải mất một thời gian dài mới ứng nghiệm. Nôê mất 100 năm lo đóng chiếc tàu trước khi có mưa xuống đất. Ápraham đã chờ đợi 25 năm mới có đứa con theo lời hứa là Ysác. Giôsép đã chờ đợi 14 năm trước khi các anh sấp mình xuống trước mặt ông. Và thế gian đã chờ đợi gần 4.000 năm Đấng Mêsi mới ngự đến (Hêbơrơ 11.13). Thế mà, chúng ta biết từng lời hứa nầy đã được ứng nghiệm! Giờ đây, chúng ta chờ đợi sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ đã hứa cho. Chúng ta đã trông đợi hơn 2.000 năm qua, nhưng Ngài sẽ ngự đến. Chúng ta có Lời của Ngài về sự đến đó]. Thứ ba, Đức Chúa Trời sẽ đưa họ đến Đất Hứa. Thứ tư, Đức Chúa Trời sẽ làm ứng nghiệm lời thề của Ngài với Ápraham, Ysác, and Giacốp (Hêbơrơ 11.22). Theo ánh sáng đức tin lớn của ông, Giôsép thố lộ mọi ao ước của ông được chôn cất trong Đất Hứa (50.25). Đây là cách biểu lộ đức tin và lòng tin cậy những lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời sẽ ứng nghiệm. Ông đã qua đời và được đặt trong một quan tài ở Ai cập (50.26). Không giống như cha của ông là Giacốp, thi thể của Giôsép không được chôn cất liền đâu. Thay vì thế, chiếc quan tài của ông đã được để trên mặt đất trong hơn 400 năm cho tới chừng dân Israel đưa nó trở về xứ Canaan khi họ lìa Ai cập dưới quyền lãnh đạo của Môise. Vì thế, chiếc quan tài ấy đã ở tại Ai cập trong 400 năm như một bằng chứng thầm lặng về lòng tin cậy của Giôsép, rằng dân Israel sẽ trở về lại Đất Hứa, y như Đức Chúa Trời đã phán vậy (Xuất Êdíptô ký 13.19). Sự biểu lộ đức tin của Giôsép như thế nầy nơi mọi lời hứa của Đức Chúa Trời cho các tổ phụ của ông cung ứng một đỉnh cao cho sách Sáng thế ký và thời kỳ hình thành lịch sử của Israel.
Sách Sáng thế ký bắt đầu với sự sáng tạo rồi kết thúc với một quan tài. Sách ấy bắt đầu trong một ngôi vườn rồi kết cuộc trong một ngôi mộ. Sách ấy bắt đầu với Đức Chúa Trời hằng sống rồi kết thúc với một người chết. Tại sao? Đây là cách lý giải sau cùng của Đức Thánh Linh ở phần cuối của quyển sách Sáng thế ký cơ bản nầy, nó tỏ ra tình trạng của con người và hậu quả của tội lỗi. Sứ điệp của Kinh Thánh là đây: Bạn và tôi là tội nhân và Đức Chúa Trời tìm cách phục hồi lại hạng tội nhân. Một khi Ngài không thể nhìn xem tội lỗi, Ngài đã sai Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ (Đấng Mêsi) đến để trả giá án phạt cho tội lỗi của con người.
Những điểm tương đồng giữa Giôsép và Chúa Jêsus [Ron Ritchie, “How God Turns Evil Into Good. Giôsép. Man Of Faith...Image Of Christ” (Genesis 50.1-26).
http.//www.pbc.org/dp/ritchie/4423.html].
Cả hai người đều được cha mình yêu thương (Sáng thế ký 37.3; Mathiơ 3.17).
Cả hai người đều là người chăn bầy chiên cho cha mình (Sáng thế ký 37.2; Giăng 10.11-16).
Cả hai người đều được cha sai phái đến cùng anh em mình, nhưng các anh của Giôsép đã thù ghét và đã tìm cách giết ông, còn anh em huyết thống của Chúa Jêsus đã từ chối Ngài, và các anh em thuộc linh của Ngài đã tìm cách giết Ngài (Sáng thế ký 37.13ff; Giăng 7.3; Luca 20.47).
Cả hai người đều có chiếc áo choàng riêng bị họ lấy đi (Sáng thế ký 37.23-24; Giăng 19.24).
Cả hai người đều qua thời gian ở Ai cập (Sáng thế ký 37.25-28; Mathiơ 2.14-15).
Cả hai người đều bị bán với giá cả của một nô lệ (Sáng thế ký 37.28; Mathiơ 26.15).
Cả hai người đều bị xiềng xích (Thi thiên 105.18; Sáng thế ký 39.20; Mathiơ 27.2).
Cả hai người đều bị cám dỗ (Sáng thế ký 39.7-10; Mathiơ 4.1-11).
Cả hai người đều bị vu cáo (Sáng thế ký 39.16-17; Mathiơ 26.59).
Cả hai người đều bị đặt bên cạnh hai tù phạm khác, một trong số họ đã được cứu và kẻ kia bị hư mất (Sáng thế ký 40.2-22; Luca 23.32-43).
Cả hai người đều bắt đầu chức vụ mình ở tuổi 30 (Sáng thế ký 41.46; Luca 3.23).
Cả hai người đều được Đức Chúa Trời tôn vinh sau một thời kỳ chịu khổ (Sáng thế ký 41.41-43; Philíp 2.9-11).
Cả hai người đều đã tha thứ cho những kẻ làm hại cho họ (Sáng thế ký 45.1-15; Luca 23.34).
Cả hai người đều được Đức Chúa Trời sai phái để cứu nhiều người (Sáng thế ký 45.7; Mathiơ 1.21; Mác 10.45).
Cả hai người đều hiểu rõ rằng Đức Chúa Trời lấy thiện báo ác (Sáng thế ký 50.20; Rôma 8.28).




Gen 49.1-28: "Quyết định số phận của mình"



"Quyết định số phận của mình"

(Sáng thế ký 49.1-28)
Năm 1980 là một năm có nhiều sự kiện quan trọng. Ronald Reagan được bầu làm Tổng Thống thứ 40 của Hoa kỳ trong thắng lợi hoàn toàn. Núi lửa Saint Helens phun trào. Hewlett-Packard phát ra chiếc máy tính cá nhân đầu tiên. Jessica Simpson ra đời. Đội Philadelphia Phillies thắng giải World Series. Đội Pittsburgh Steelers đoạt giải Super Bowl. The Empire Strikes Back là cuốn phim hàng đầu. “Lady” do Kenny Rogers tốn nhiều thì giờ nhất nằm ở đầu biểu đồ của nước Mỹ. Những khán giả Mỹ bị kéo vào phim “Who Shot J.R.?” [In 1980 (năm bạn mới ra đời).
http.//www.blogthings.com/1980.html]. Ở mặt nầy, năm 1980 dường như dường như cách cả một đời, ở mặt kia, năm đó dường như mới ngày hôm qua.
Vào năm 1980, tôi là một thiếu nhi mới 9 tuổi. Ngày nay, tôi là cha của một đứa con trai 9 tuổi. Tôi có mặt ở đây để nói cho bạn biết, rằng thời gian đang trôi qua. Cuộc sống của chúng ta ở đây khoảnh khắc nầy rồi trôi mất ở khoảnh khắc khác. Đây là lý do tại sao Kinh Thánh sánh đời sống của chúng ta với loài cỏ (Êsai 40.6-8), hơi nước (Giacơ 4.14), và hơi thở (Thi thiên 39.5). Trong khi hầu hết chúng ta theo trí khôn sẽ công nhận bản chất mau qua của đời sống, cách chúng ta sống không xứng với niềm tin của mình [Seneca (5 BC - 65 AD), một kịch sĩ La mã, triết gia, và chính trị gia từng nói: “Chúng ta luôn luôn than phiền rằng thời thế của chúng ta vốn ít ỏi và hành động giống như chẳng có kết cuộc gì hết trong đó”. Preaching Today Citation. Seneca, Leadership, Vol. 4, no. 3]. Buồn thay, nhiều người trong chúng ta lại bị kích động về nhiều việc không ăn nhập gì hết với cõi đời đời. Tuy nhiên, như Matthew Henry (1662-1714) từng nói: “Đấy chính là công việc của mỗi ngày để sửa soạn cho ngày cuối cùng của chúng ta”. Hay như Martin Luther (1483-1546) tuyên bố: “Có hai ngày trên tờ lịch của tôi — ‘Hôm nay’ và ‘Ngày Ấy”. Thành thực mà nói, một ngày đang đến khi mọi sự sẽ thực là vấn đề ở chỗ bạn và tôi sống đời sống mình vì cớ cõi đời đời [Như John Tillotson (1630-1694), Tổng Giám Mục xứ Canterbury, từng nói: “Người nào lo toan trong đời nầy mà chẳng quan tâm gì đến cõi đời đời là khôn ngoan trong một phút nhưng rồ dại suốt cả cõi đời đời”].
Sáng thế ký 49 cung ứng một lời kêu gọi phải tỉnh thức, phải suy nghĩ cả cuộc sống trong hiện tại và tương lai. Trong 28 câu đầu tiên của chương nầy, chúng ta sẽ quan sát Giacốp đưa ra những lời lẽ sau cùng cho 12 đứa con trai [Ở cuối đời mình, Môise cũng chúc phước cho 12 chi phái Israel (Phục truyền luật lệ ký 33.1-29). Sự chúc phước của Môise là hồi tưởng sự chúc phước của Giacốp, nói thẳng với cuộc sống trong tương lai của từng chi phái trong xứ Canaan. Paul Wright, ed., Genesis. Shepherd’s Notes (Nashville. Broadman, 1997), 86. Phần nghiên cứu sâu hơn, hãy xem Joel D. Heck, “A History of Interpretation of Genesis 49 and Deuteronomy 33,” Bibliotheca Sacra 147.585 (January-March l990). 16-31]. Tất cả 12 con trai của Giacốp [Sáu con trai đầu được xem là dòng dõi của Giacốp và Lêa. Bốn con trai kế là con của hai nàng hầu của Rachên và Lêa. Hai người con sau cùng là con của Giacốp và Rachên, là người vợ ông ưa thích] chẳng màng đến tính chính xác họ có một tương lai với Đức Chúa Trời và được Đức Chúa Trời chúc phước cho. Nhưng chỉ có những người trung chính sẽ có một cơ nghiệp ở trong xứ. Bài học rất rõ ràng. Những hành động của người tin Chúa quyết định các ơn phước của họ ở tương lai trong chương trình của Đức Chúa Trời. Những sự lựa chọn của người tin Chúa đưa ra ngày nay cũng sẽ tác động đến dòng dõi của họ trong những thế hệ hầu đến [Dr. Thomas L. Constable, Notes on Genesis ( http.//www.soniclight.com/constable/notes/pdf/genesis.pdfhttp.//www.soniclight.com/constable/notes/pdf/genesis.pdf, 2005), 269].
1. Phần giới thiệu (49.1-2). Môise bắt đầu câu chuyện với lời lẽ như thế nầy: “Gia-cốp gọi các con trai mình lại và nói rằng: Hãy hội lại đây, cha sẽ nói những điều phải xảy đến cho các con ngày sau. Hỡi các con trai Gia-cốp, hãy hội lại mà nghe; Nghe lời Y-sơ-ra-ên, cha của các con” [Sailhamer cho rằng phần thi văn trong Sáng thế ký 49.1-28 đóng một vai quan trọng trong cấu trúc lớn của Ngũ Kinh. “Ở ba mối nối của cấu trúc vĩ mô trong Ngũ Kinh, tác giả đã ghép một bài thơ vào phần cuối của câu chuyện (Sáng thế ký 49; Dân số ký 24; Phục truyền luật lệ ký 31). Quan sát phần tư liệu nằm ở giữa và nối câu chuyện với và các bài thơ chỉ ra sự hiện diện của một tầng sáng tác đồng nhất. Phần lớn chỗ nầy được đánh dấu bởi sự tái diễn của cùng thuật ngữ và chủ đề của câu chuyện. Trong từng mảng của ba mảng nầy, nhân vật chính của câu chuyện (Giacốp, Balaam, Môise) kêu gọi khán thính giả (mệnh lệnh: Sáng thế ký 49.1; Dân số ký 24.14; Phục truyền luật lệ ký 31.28) và những lời công bố (tập trung: Sáng thế ký 49.1; Dân số ký 24.14; Phục truyền luật lệ ký 31.28) những gì sẽ xảy ra (Sáng thế ký 49.1; Dân số ký 24.14; Phục truyền luật lệ ký 31.29) trong ‘những ngày sau rốt’ (Sáng thế ký 49.1; Dân số ký 24.14; Phục truyền luật lệ ký 31.29) … Tóm lại, chiến lược của tác giả trong ba mảng nầy cho thấy rằng một trong những mối quan tâm chính nằm ở đàng sau khuôn mẫu của Ngũ Kinh là một nổ lực tiết lộ ra mối quan hệ vốn có giữa quá khứ và tương lai. Đấy là những gì đã xảy ra cho dân sự của Đức Chúa Trời trong quá khứ báo trước các sự cố trong tương lai. Nói tới điều nầy theo cách khác, quá khứ được xem là một bài học cho tương lai…Câu chuyện nói tới các biến cố trong quá khứ được trình bày như những phương tiện chỉ ra các sự kiện trong tương lai. Các sự cố trong quá khứ làm hình bóng trước cho tương lai. Nhìn thấy một văn bản cổ như thế dẫn tới một hình thức hệ thống cách truyện kể lại thì chẳng có gì là khó. Vì thế, chúng ta phải tìm kiếm những dấu hiệu chỉ ra hệ thống ấy trong phần sáng tác những đơn vị nhỏ hơn của câu chuyện trong sách Ngũ Kinh cũng như trong phần sắp xếp tư liệu sao cho đúng đắn” Sailhamer, Genesis. EBC, Electronic ed]. Cụm từ “những điều phải xảy đến” chỉ ra tương lai còn ở đàng xa, gồm cả phần cuối của kỷ nguyên và thời kỳ thiên hi niên [Phần nghiên cứu NET cho rằng cụm từ “trong tương lai” (sát nghĩa: “những ngày sau rốt”) được thấy thường xuyên nhất trong các phân đoạn có tính tiên tri; cụm từ ấy có thể đề cập tới phần cuối rốt của kỷ nguyên, sự mạt thế, hay phần tương lai còn ở đàng xa. Nội dung của một số câu nói trong chương nầy trải dài từ những hoàn cảnh trước mắt đến thời điểm định cư trong xứ cho tới sự đến của Đấng Mêsi. Sailhamer viết: “Ở cuối bài thuyết giảng của Giacốp (câu 28), tác giả đi một khoảng đường dài vạch ra một con đường nối lời lẽ của Giacốp trong chương nầy với lẽ đạo ‘chúc phước’ là mối quan tâm chính của quyển sách kể từ 1.28. Ông làm điều nầy bằng cách lặp đi lặp lại từ ‘phước’ ba lần ở câu 28, ở đây sát nghĩa đọc là: ‘Và ông chúc phước [wayebarek] cho họ, mỗi người tùy theo sự chúc phước [kebirkato] của ông, ông đã chúc phước [berak] cho họ’. Bằng cách khoanh tròn câu nói sau cùng của Giacốp giữa câu 1 và câu 28, tác giả chỉ ra chỗ ông đặt những sở thích của mình. Lời lẽ của Giacốp nhìn về tương lai — “trong những ngày hầu đến” — và vạch lại quá khứ, nghĩa là, ơn phước của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại. Chính trong nội dung đó chúng ta cần phải đọc và hiểu lời lẽ của Giacốp trong chương nầy” John H. Sailhamer, Genesis. EBC (Grand Rapids. Zondervan, 1990), Electronic ed]. Lời khuyên gấp bằng hai cung ứng sự chú ý đến lời lẽ của Giacốp đặt sự căng thẳng vào tầm quan trọng của những điều ông sắp sửa nói. Lời lẽ của ông thì quan trọng gấp bằng hai [S. Lewis Johnson, Jr., “Jacob’s Last Words Part 1 (Genesis 49.1-12)”. http.//www.believers-chapel.org/bulletins/genesis/genesis.html, 3]. Với nhiều sự kính trọng, đây có thể được xem là một bức tranh nói tới cái NGÀY mà người tin Chúa đang đứng trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ. Vì vậy cho phép tôi hỏi bạn: “Có phải bạn đang sống cho NGÀY hầu đến ấy không?” Có phải bạn sống cho Đức Chúa Trời của mình và cho những dòng dõi sẽ đến sau bạn không? Việc làm của người tin Chúa trong đời nầy quyết định phạm vi ơn phước thiêng liêng mà dòng dõi của người sẽ nhận được trong tương lai.
Những lời lẽ mà chúng ta sắp sửa đọc đến không phải là những tư tưởng tự phát của một người sắp chết, mà là những lời lẽ được sửa soạn cẩn thận của một bài thơ có tính tiên tri. Những mục đích trong lời lẽ tiên tri của Giacốp là: (1) tỏ ra phần tương lai; (2) đóng vai trò như một lời cảnh cáo chống lại tội lỗi; (3) tác động chúng ta biết sống tin kính; và (4) nói trước đến đời sống và chức vụ của Chúa Jêsus Đấng Mêsi.
2. Ba người con lớn nhất của Giacốp bị tước quyền thừa kế vì sự bất trung của họ (49.3-7). [Steven J. Cole, “Problem Passions” (Genesis 49.1-7).
http.//www.fcfonline.org/site/search_methods.asp?search=1&search_method=advanced&sermon_book=Genesis]. Trong tiểu đoạn nầy, chúng ta học biết thứ tình cảm không kềm chế được dẫn đến sự hủy phá cá nhân và gia đình. Giacốp bắt đầu với người con lớn nhứt của mình, ở 49.3-4: “Hỡi Ru-bên! con là trưởng nam của cha, sức lực cha, và đầu tiên sự mạnh mẽ cha; Vốn có sự tôn trọng và quyền năng tột đỉnh. Con sôi trào như nước, nên sẽ chẳng phần hơn ai! Vì con đã lên giường cha. Con lên giường cha bèn làm ô làm dơ đó!” Giacốp khẳng định rằng Rubên giữ một vị trí đặc biệt trong lòng ông bởi giá trị của sự kiện Rubên là trưởng nam. Con trưởng nam bình thường có hai quyền hạn. Thứ nhứt, ông trở thành lãnh đạo của gia đình, vị tộc trưởng mới. Thứ hai, ông nhận phần sản nghiệp gấp bằng hai. Nhưng Rubên không được nhận lãnh ơn phước nầy vì ông đã “sôi trào như nước”.
Từ Hy bá lai dịch “không kềm chế được” nghĩa là “khinh suất hoặc hủy diệt” [Danh từ tiếng Hy bá lai pakhaz (“không kềm chế được”) chỉ xuất hiện ở đây trong Cựu Ước. Một động từ liên đới xảy ra hai lần trong các sách tiên tri (Giêrêmi 23.32; Sôphôni 3.4) nói tới các tiên tri giả sáng tác ra sứ điệp của họ, và một lần trong sách Các Quan Xét nói tới hạng người vô liêm sĩ hối lộ đặng giết người (Các Quan Xét 9.4). Từ nầy mô tả Rubên là “vô tích sự, sôi sụt, thay đổi thất thường” như nước. Bản 70 nói “trác táng”, bản Vulgate nói “tuôn trào”, và bản Tg. Onq. nói “ông đi theo đường lối của mình”. Đây là tham khảo đến cách xử sự sai trái của Rubên ở Sáng thế ký 35, nhưng là từ ví von và hiếm có mời mọc suy đoán. H. Pehlke nói “hủy diệt giống như nước” vì Rubên đã hành động với sự kiêu căng và ngạo mạn của ông; xem “An Exegetical and Theological Study of Genesis 49.1-28” (Th.D. dissertation, Dallas Theological Seminary, 1985). See NET Study Notes]. Bức tranh nói về nước tràn ra hai bên bờ và lan rộng không kiểm soát được. Hình bóng, sát nghĩa có ý nói tới một việc giống như nước đang sôi sụt, kích động tư dục, một môn bài thả lỏng. Kết quả là một bảng đánh giá về Rubên chỉ ra sự hoang đàng và yếu đuối, một đời sống vô kỷ luật [Johnson, “Jacob’s Last Words”, 4].
Tội lỗi của quá khứ đã khiến cho ông bị mất tư cách đối với ơn phước trong tương lai. Nếu bạn nhớ, sau khi Rachên qua đời, Rubên đã ngủ với hầu của Rachên — mẹ của các em người là Đan và Néptali (35.22). Tất cả các câu Kinh Thánh đó nói cho chúng ta biết Giacốp đã nghe biết về sự ấy. Chúng ta không biết chắc lý do tại sao Rubên đã làm điều nầy [Có người cho rằng Rubên hy vọng khiến Bila thành một kẻ bị cha mình xem khinh và Rubên, trong ý thức lệch lạc của mình đã hình dung rằng mẹ mình là Lêa khi ấy sẽ được yêu dấu nhất]. Sự kiện nầy đã xảy ra cách 40 năm. Rubên, con đầu lòng, phải nhận được phần bằng hai về cơ nghiệp. Ông sẽ trở thành lãnh đạo giữa vòng các em mình. Ông, trên hết các em mình, sẽ là người bảo vệ danh dự của cha mình, chớ không phải làm dơ bẩn danh dự ấy. Nhưng một hành động ham thích của ông đã cướp mất khỏi ông các đặc ân trong vai trò con trưởng. Giống như Vua David đã làm theo ông, ông ấy đã trả một cái giá khủng khiếp cho một đêm khoái lạc.
Tất cả tiềm lực trong thế gian sẽ chẳng làm ích cho bạn nếu bạn không phát triển sự tiết độ, đặc biệt trong lãnh vực cám dỗ về tình dục. Satan có nhiều thời gian để chờ đợi bạn vấp ngã. Hắn chỉ gài những cái bẫy rồi chờ cơ hội tốt của mình mà thôi. Hiển nhiên, hắn biết chắc rằng hắn sẽ khiến cho bạn vấp ngã. Có thể bạn xuất sắc nơi vẻ nghiêm trang đứng đắn và mạnh mẽ. Nhưng nếu bạn không thể chế ngự được giống như nước, vấn đề chỉ còn là thời gian cho tới khi ưu thế của bạn bị quét sạch bởi dòng lũ tư dục. Có thể bạn có tiềm năng ghê gớm lắm trong Chúa. Thế nhưng bạn lại quen có những tư tưởng đầy dục vọng tuôn đổ như một dòng suối. Ở điểm nầy thì mọi sự nằm trong đầu óc của bạn. Không một ai khác nhìn biết được và không ai khác nhận lấy sự thương tổn. Nhưng, các ân tứ lớn lao sẽ rơi vào chỗ vô giá trị nếu không có phẩm chất tin kính. Tôi biết nhiều vị Mục sư rất được ơn, họ đã ra khỏi chức vụ vì họ không xét đoán khát vọng của họ. Nếu bạn không học biết nắm lấy từng tư tưởng để phục theo Đức Chúa Jêsus Christ, vấn đề chỉ còn là thời gian trước khi tiềm năng lớn lao của bạn bị sụp đổ bởi khát vọng táo bạo kia [Cole, “Problem Passions”, 2-3]. Rubên cung ứng một minh họa hấp dẫn cho thấy cảm xúc tư dục không kềm chế được dẫn tới hủy hoại.
Lời tiên tri của Giacốp là thực, chi phái Rubên không hề tạo ra một nhà lãnh đạo thuộc bất kỳ dạng nào cho Israel cả. Họ không hề bước vào Đất Hứa (Dân số ký 23). Họ đã xây những nơi thờ phượng không đúng cách (Giôsuê 22.10-34). Chúng ta biết rất ít về chi phái Rubên so với các chi phái khác. Chi phái nầy chẳng tạo ra một người có ý nghĩa, chẳng một quan xét, chẳng có vị vua nào, và chẳng có vị tiên tri nào hết. Từ lời tiên tri nầy, sự dạy dỗ rất là rõ nét cho thấy hành vi của một cá nhân tác động lên cả số phận của dòng dõi mình [Victor P. Hamilton, The Book of Genesis Chapters 18-50. NICOT (Grand Rapids. Eerdmans, 1995), 647]. Giờ đây Giacốp bước sang hai người con trai kế của ông.
Ở 49.5-7, Giacốp tuyên bố: “Si-mê-ôn và Lê-vi là anh em ruột. Thanh gươm chúng nó thật khí giới hung tàn. Cầu cho tâm hồn cha chớ có đồng mưu, Vinh hiển cha chớ hiệp cùng hội họ; Vì họ đã giết người trong cơn giận dữ, cắt nhượng bò đực vì ý riêng mình. Đáng rủa sả thay cơn giận dữ họ, vì thật là hung mạnh! Đáng rủa sả thay khí giận họ, vì dữ dằn thay! Ta sẽ phân chia họ ra trong nhà Gia-cốp, tan lạc họ trong dân Y-sơ-ra-ên”. Khi Giacốp nói hai người nầy là anh em ruột, ông không có ý nói anh em theo mặt sinh học đâu. Ông muốn nói họ là hai người cùng một loại. Anh chị em có thể vừa khích lệ nhau sống công nghĩa hay phạm tội. Hai anh em nầy đã đồng mưu tấn công người Sichem vì hoàng tử thành Sichem đã cưỡng hiếp em gái họ. Họ đã sử dụng giao ước cắt bì của Đức Chúa Trời, là ống dẫn ơn phước, làm phương tiện dối gạt và giết chóc tất cả những người nam trong thành ấy. Ở đây Giacốp đứng xa đối với sự phản bội và đưa ra một lời rủa sả giáng trên cơn giận của họ. Hai người con trai nầy dạy cho chúng ta biết rằng cảm xúc giận dữ không chế ngự được dẫn tới sự hủy hoại.
Thú vị thay, hơn 40 năm sau, Giacốp vẫn đánh giá hai con trai mình là hạng người giận dữ. Ông không nói: “Đáng rủa sả thay cơn giận dữ họ, vì thật [đã] là hung mạnh! Đáng rủa sả thay khí giận họ, vì [đã] dữ dằn thay!” Ông nói, cơn giận họ “là” [thì hiện tại] hung mạnh và dữ dằn thay. Họ vẫn còn là hạng người giận dữ. Cơn giận không kềm chế được kết quả trong sự hủy diệt con người và cơ nghiệp một cách vô ý thức. Hãy suy nghĩ về các gia đình hạng người nầy đã hủy hoại qua hành động giết chóc cách vô thức xem. Cụm từ “ý riêng” (49.6) có sắc thái của việc làm khi họ ưa thích. Họ không quan tâm về cảm xúc của ai khác trừ ra họ. Hầu hết giận dữ đều xuất phát từ sự ích kỷ. “Tôi không thích như vậy! Tôi đòi quyền lợi của mình!” Nhưng loại giận dữ ấy gây thương tổn cho mọi người, kể cả hạng người giận dữ đó.
Giacốp tự mình đứng xa đối với hai người con trai hay giận dữ nầy (49.6) và nói tiên tri rằng họ sẽ bị tan lạc và bị rãi khắp trong dân Israel. Lời nói ấy đã ứng nghiệm khi chi phái Simêôn về sau thừa tự phần đất nằm trong lãnh thổ của chi phái Giuđa (Giôsuê 19.1-9; cũng xem I Sử ký 4.28-33, 39, 42). Chi phái Lêvi trở thành dòng thầy tế lễ, họ chẳng có cơ nghiệp nào hết, nhưng bị tan rãi khắp phần đất còn lại của các chi phái [Ban đầu, chi phái Simêôn là chi phái lớn thứ ba trong dân Israel (Dân số ký 1.23). Nhưng chỉ 35 năm sau, chi phái Simêôn trở thành chi phái nhỏ nhất trong 12 chi phái (Dân số ký 26.14) và bị tan rãi trong chi phái Giuđa (Giôsuê 19.1; I Sử ký 4.27, 38-43). Mặt khác, chi phái Lêvi, đã không nhận được nhiều đất đai, nhưng Giôsuê đã ban cho họ mấy thành họ sống trong đó giữa vòng các chi phái khác (Giôsuê 21.1-40). Trong khi người Lêvi khởi sự từ chỗ nghèo khó, họ đổi sang một hướng mới khi họ chiếm được chỗ đứng với Môise chống lại sự thờ lạy bò con vàng (Xuất Êdíptô ký 32.26-28; Dân số ký 3.5-13; 18.6- 32). Hiển nhiên họ đã trở thành chi phái tế lễ, nhưng không hề có bất cứ mãnh đất nào riêng và thay vì thế họ bị tan rãi khắp trong dân Israel].
Mặc dầu ba chi phái đầu tiên nầy gánh lấy thiệt thòi vì cớ tội lỗi của họ, lời tiên tri của Giacốp nói về họ vẫn là một nguồn phước. Họ giữ một vị trí trong gia đình tuyển dân và tận hưởng những lợi ích trong các lời hứa của Đức Chúa Trời trong vai trò kẻ kế tự của Giacốp. Tuy nhiên, họ không đủ tư cách đối với phần thưởng có thể thuộc về họ vì cớ họ thất bại không ăn năn tội lỗi của họ (Dân số ký 32.23-24; Êxêchiên 18.30). Bằng cách hạ Rubên xuống một cấp vì cớ ông làm loạn và bị tình dục không chế ngự được lèo lái, Giacốp cứu Israel ra khỏi chức năng lãnh đạo khinh suất. Tương tự, bằng cách rủa sả tính nghiệt ngã của Simêôn và Lêvi, ông hạn chế tính hấp tấp nghiệt ngã của họ không được có ảnh hưởng lớn [Bruce K. Waltke, Genesis (Grand Rapids. Zondervan, 2001), 603].
Trụy lạc và giận dữ là hai tội lỗi mà loài người phải phấn đấu với nhiều nhất. Không may thay, cả hai tội lỗi nầy đã được truyền đi từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Thí dụ, nói về giận dữ xem! Thật là thú vị khi thấy Môise là dòng dõi của Lêvi. Nan đề nào đã giữ Môise không khởi sự công việc mình lúc ban đầu rồi kế đó không được bước vào Đất Hứa? Giận! Ông đã nổi giận và đã giết người Ai cập, kẻ đã ngược đãi dân Hêbơrơ và phải chạy trốn vào sa mạc trong 40 năm. Kế đó, ông đã nổi giận với dân sự và đã đập vào hòn đá để lấy nước, khi Đức Chúa Trời đã bảo ông phải phán với hòn đá. Vì tội lỗi đó, Đức Chúa Trời đã ngăn không cho Môise bước vào xứ Canaan. Môise là con trai của Lêvi.
Bài học quá rõ ràng. Những hành động của chúng ta quyết định các ơn phước trong tương lai của chúng ta trong chương trình của Đức Chúa Trời và những sự lựa chọn chúng ta đưa ra ngày nay sẽ tác động vào dòng dõi của chúng ta trong các thế hệ hầu đến. Chúng ta phải tiếp thu từ Rubên, Simêôn, và Lêvi để chúng ta không thể sống theo cách khinh suất được. Đức Chúa Trời, là quan án công bình nhìn thấy mọi sự. Có thể chúng ta cảm thấy chúng ta “xoay sở” được với việc gì đó, nhưng chúng ta không xoay sở được. Chúng ta không muốn “đối mặt với âm nhạc” tuy nhiên…chúng ta sẽ phải đối mặt với nó. Mặc dù chúng ta được bảo đảm trong Đấng Christ, vẫn có những hậu quả cho các hành vi của chúng ta [Làm thế nào người tin Chúa mất đi cả hai phần thưởng tạm thời và đời đời?
 Chúng ta có thể mất phần thưởng từ Đức Chúa Trời bằng cách tìm kiếm chúng từ con người (Mathiơ 6.5-6; Giăng 5.44).
 Chúng ta có thể có phần thưởng bị cất khỏi chúng ta vì cớ sự bất trung của chúng ta (Mathiơ 25.28-29).
 Chúng ta có thể không có đủ tư cách để nhận phần thưởng vì cớ thỏa hiệp đạo đức và thuộc linh (I Côrinhtô 9.27).
 Chúng ta có thể mất phần thưởng vì cớ một đời sống không kết quả và bất tuân (I Côrinhtô 3.15; Khải huyền 3.11).
 Chúng ta có thể mất phần thưởng do vô ý vô tứ (II Giăng 8)]. Chúng ta liên tục công nhận rằng một ngày kia chúng ta sẽ phải trình sổ (II Côrinhtô 5.10) [Sự an ninh và phần thưởng đời đời sẽ là hai mục tiêu cần phải nhắm tới trong đời sống người tin Chúa. Cái nhìn lại đầu tiên vào thập tự giá của Đấng Christ để có được sự bảo đảm; cái nhìn thứ hai hướng vào ngai phán xét của Ngài để mà trình sổ. Ed Underwood, “Determining Your Destiny. An Introduction to the Doctrine of Eternal Rewards. Genesis 49,” North Umpqua Bible Fellowship Nutshell Notes, 2/24/1991].
Tôi cảm kích sự Giacốp bằng lòng bước tới và kỷ luật chặt chẽ các con trai mình giữa bao nhiêu cặp mắt. Trước kia, ông là người rất thụ động, nhưng trong những ngày cuối đời, ông đã dõng dạc lắm. Là bậc phụ huynh, một trong những việc chúng ta phải làm là nói cho con cái mình biết sự thực. Xã hội của chúng ta đã bị kéo vào chỗ sống tự trọng. Chúng ta không muốn nói hay làm việc gì sẽ gây hại cho nhận thức về giá trị của bất cứ ai. Tuy nhiên, hạng người lành mạnh đã bị kỷ luật. Ai sống kiêu căng và loạn nghịch nhất đã từng sống động? Satan. Hắn luôn luôn tìm cách chạy theo đường riêng mình. Tách ra khỏi những đường biên giới mà Đức Chúa Trời đã đặt ra cho hắn, hắn làm bất cứ việc gì hắn ưa muốn. Hắn không hề xây lại. Hỡi quí phụ huynh, hãy kỷ luật con cái mình. Hãy thể hiện tình yêu thương cách cứng rắn xem. Có thể bạn cảm thấy giống như con cái của mình là có một ít khổ sở trong lúc bây giờ. Đúng đấy, chỉ hãy chờ xem. Nếu bạn không chọn kỷ luật chúng và thốt ra những lời lẽ khó chịu, bạn sẽ thấy rằng chúng sẽ trở thành những mối đe dọa cho xã hội đấy.
3. Bảy người con trai đáng hoan nghênh được trao cho nhiều trách nhiệm (49.13-21, 27). Trong mười câu nầy, Giacốp chia sẻ những lời lẽ vắn tắt với 7 trong số các con trai của ông. Quả thật đối với những chất lượng trong lời lẽ đó, đấy là các hình ảnh nói về số phận của những người con trai còn lại, trong phần lớn các trường hợp, căn cứ theo cách chơi chữ trong tên của người con. Lẽ đạo chính kết với từng hình ảnh nói tới sản nghiệp [Sailhamer, Genesis. EBC, Electronic ed]. Ở 49.13, Giacốp bắt đầu: “Sa-bu-lôn sẽ ở nơi gành biển, tức là nơi có tàu đậu; Bờ cõi người chạy về hướng Si-đôn”. Sabulôn về sau đã nhận được phần lãnh thổ giữa Biển Địa Trung Hải và Biển Galilê. Đây là một khu vực thương mại phồn thịnh mặc dù Sabulôn không hề có thường trực “tài sản ở gành biển”. Tuy nhiên, có thể là Sabulôn và Ysaca đã chia sẻ một vùng lãnh thổ (đối chiếu Phục truyền luật lệ ký 33.18-19), vì vậy Sabulôn đã đóng ở biên giới Biển Galilê. Có lẽ người của chi phái Sabulôn đã làm việc cho người Phênixi trong cuộc buôn bán ngành hàng hải của họ (đối chiếu Phục truyền luật lệ ký 33.19). Sabulôn sẽ trải dài ra tới biển trong thời kỳ thiên hi niên khi các đường biên giới của ông sẽ kéo dài tới tận Siđôn ở Biển Địa Trung Hải (Êxêchiên 48.1-8, 23-27). Một con đường thương mại quan trọng từ xứ Mêsôbôtami đi Ai cập đi ngang qua lãnh thổ của ông.
Ở 49.14-15, Giacốp nói: “Y-sa-ca là một con lừa mạnh mẽ, nằm nghỉ giữa chuồng; Thấy rằng sự yên ổn là tốt lành, và đất-đai đẹp lắm thay. Người đã rùn vai vác gánh nặng, phải vâng phục những điều sưu-dịch”. Ysaca thích lối sống nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp xuất ra hơn là uy thế chính trị giữa vòng các chi phái. Hiển nhiên là Ysaca rất có khả năng và mạnh mẽ, nhưng cũng thụ động và biếng nhác nữa. Ngược lại với Giuđa, ông chinh phục kẻ thù như một con sư tử, Ysaca đã tự mình phục theo như nô lệ cho người xứ Canaan.
Giacốp tiếp tục nói ở 49.16-18: “Đan sẽ xử đoán dân chúng mình, như một trong các chi phái Y-sơ-ra-ên. Đan sẽ là một con rắn trên đường, một con rắn lục trong chốn nẻo cùng, cắn vó ngựa, làm cho kẻ cỡi phải té nhào. Hỡi Giê-hô-va! tôi trông ơn chửng cứu của Ngài!” Đan sẽ trở thành một quan xét trong Israel. Lời tiên tri nầy đã trở thành hiện thực từng phần trong chức vụ quan xét của Samsôn (Các Quan Xét 13.2). Những chiến thắng của Đan đã làm ích lợi cho cả Israel. Tuy nhiên chi phái nầy đã dẫn Israel vào chỗ thờ lạy hình tượng (Các Quan Xét 18.30-31; I Các Vua 12.26-30) rồi được biết là trung tâm thờ lạy hình tượng trong Israel (Amốt 8.14). Vì thế, Giacốp đã ví Đan với một con rắn (49.17), chỉ ra lời tiên tri của Đức Chúa Trời là con rắn sẽ cắn gót chơn của đấng cứu tinh được hứa cho của Đức Chúa Trời, nhưng Đấng Mêsi sau cùng sẽ chà nát đầu nó rồi đem lại ơn chửng cứu từ lâu đã mong đợi (3.15) [Phần nghiên cứu NET cho rằng: “Sự ví sánh chi phái Đan với con rắn lục là muốn nói rằng Đan, mặc dù nhỏ, sẽ trở nên hiệu quả, kiếm được chiến thắng qua tài năng và sự lanh lợi của mình”]. Vì lẽ đó, thật là tự nhiên khi Giacốp kêu lên: “Hỡi Giê-hô-va! tôi trông ơn chửng cứu của Ngài!” (49.18). Giacốp vốn biết rõ tương lai của quốc gia Israel không nương vào 12 người con của ông, thay vì thế phải nương vào Đức Chúa Trời là Đấng một ngày kia sẽ sai phái một Đấng cứu tinh đến (Mathiơ 1.21).
Ở 49.19-21, Giacốp nói ra lời lẽ vắn tắt cho ba người con kế tiếp. Ở 49.19, ông nói: “Còn Gát sẽ bị một đạo binh xông đánh, nhưng người xông đánh lại và đuổi theo”. Chi phái Gát sẽ trở thành những chiến binh gan lì và sẽ thắng hơn mọi kẻ thù ngoại bang mà họ đối mặt với (Giêrêmi 49.1).
Ở 49.20, Giacốp nói: “Do nơi A-se có thực vật ngon, người sẽ cung cấp mỹ vị cho các vua”. Ase sẽ hưởng lấy vùng đất phì nhiêu nhất trong xứ Canaan (Phục truyền luật lệ ký 33.24-25; Giôsuê 19.24-31).
Ở 49.21, Giacốp nói: “Nép-ta-li là nai cái thả chuồng, nói bày nhiều lời văn hoa”. Chi phái Néptali sẽ được biết đến vì sản xuất ra những diễn giả có tài hùng biện và thi văn đẹp đẽ [Giacốp có ý nói rằng Néptali đổi lấy sự tự do của mình để lấy lối sống gia đình tĩnh kịch ở trong xứ, hoặc Néptali sẽ ăn ở thích nghi với dân xứ Canaan. Wenham, Genesis 16-50, 483. Phần nghiên cứu NET cho rằng: “Hầu hết từng chữ trong câu rất là khó. Có người nắm lấy hình ảnh cho rằng Néptali sẽ nhanh lẹ và lanh lợi (như nai cái), và thường có những sứ điệp rất hay (đọc là “lời lẽ đẹp đẽ”). Nhiều người khác cho rằng chi phái có tinh thần tự do (chạy nhảy tự do), nhưng rồi an định với con nhỏ của mình”]. Người nổi tiếng nhất trong số nầy là Đêbôra, bà đã sáng tác một bài thơ rất hay nói về chiến thắng quân sự ở Các Quan Xét 5.1-31. Cùng với đất đai của chi phái Sabulôn, lãnh thổ Néptali nằm gần Biển Galilê, khu vực mà Chúa Jêsus đã rao giảng và thi hành chức vụ (Mathiơ 4.15-16). Và không cần phải nói, chưa có một người nào đã nói ra nhiều lời lẽ ban sự sống, đẹp đẽ cho bằng Đức Chúa Jêsus Christ.
Người con đáng hoan nghênh thứ bảy là đứa trẻ bình thường “là một con chó sói hay cấu xé; Ban mai đi đánh chết mồi, chiều phân chia mồi đã được”. Chi phái Bêngiamin đã có danh tiếng hết sức khó chịu và hung hăng (Các Quan Xét 19-21) [Chúng ta có một số trường hợp nói tới cấp lãnh đạo hung hăng của Bêngiamin (Êhút [Các Quan Xét 3.15-23], Vua Saulơ [I Samuên 9.1, 14.47-52], và Sứ đồ Phaolô [Công Vụ các Sứ đồ 8.1-3])]. Ông đã sản sinh ra nhiều chiến binh trong lịch sử Israel (thí dụ, Êhút, Saulơ, Giônathan, v.v…) và đã tỏ ra bản chất ưa chiến tranh giữa vòng các chi phái (Các Quan Xét 5.14; 20.16; I Sử ký 8.40; II Sử ký 14.8; 17.17). Tôi đoán Bêngiamin đã học biết một số tính cách kiên cường từ 11 người anh của mình.
4. Hai người con trung tín nhất được trao cho trách nhiệm cao cả hơn (49.8-12, 22-26). Khi ba người anh đầu tiên không có đủ tư cách nắm lấy địa vị của họ, chiếc áo choàng rơi xuống người con thứ tư là Giuđa. Hãy nhớ, Giuđa không chính xác là một gã khỗng lồ thuộc linh. Ông đã vận động bán Giôsép vì lợi (37.26). Ông đã tự phân rẽ mình ra khỏi dân giao ước của Đức Chúa Trời (38.1). Ông gần gũi với hạng người bất kỉnh (38.12). Ông đã gian dâm (38.18). Ông thất bại không giữ lời với con dâu mình là Tama (38.26). Vì vậy tại sao Giacốp tuyên bố một nguồn phước phong phú như thế cho Giuđa? Ông đã xưng tội và ăn năn tội lỗi của mình (38.26). Ông đã lắm lấy trọn trách nhiệm về sự an toàn của Bêngiamin (43.8-10). Ông đã hiến mình là một sự thay thế cho Giôsép (44.18…). Ơn phước của Giuđa là một bức tranh đẹp đẽ nói tới ân sũng của Đức Chúa Trời cho những ai biết xưng tội và ăn năn tội lỗi của họ (Giêrêmi 15.19).
Ngày nay, nếu bạn có một lý lịch dài về tội lỗi, Đức Chúa Trời muốn ban cho bạn một bảng mô tả những việc làm mới. Ngài muốn bạn kinh nghiệm ơn tha thứ của Ngài. Ngài mong muốn bạn nên bắt đầu lại.
Lời lẽ của Giacốp cho Giuđa rất có quyền lực, thậm chí có lẽ gây choáng váng nữa. Giacốp công bố: “Hỡi Giu-đa! các anh em sẽ khen ngợi con, tay con sẽ chận cổ quân nghịch, các con trai cha sẽ quì lạy trước mặt con” (49.8). Giuđa sẽ nổi bật lên giữa vòng các anh em mình và họ sẽ ngợi khen ông. Đây là một cách chơi chữ từ khi tên Giuđa có nghĩa là “ngợi khen”. Bàn tay của ông sẽ chận cổ quân nghịch. Các anh em ông sẽ quì lạy trước mặt ông. Nhưng chức năng lãnh đạo sẽ không được nhìn biết rõ nét cho tới thời Vua David, khoảng 640 năm sau.
Giacốp tiếp tục ở 49.9-10: “Giu-đa là một sư tử tơ [Hình ảnh Giuđa là một con sư tử rất phổ thông trong Cựu Ước (thí dụ, Dân số ký 24.9; Êxêchiên 19.1-7; Michê 5.8). Ronald F. Youngblood, The Book of Genesis (Grand Rapids. Baker, 1991), 278]; Hỡi con! Con bắt được mồi rồi tha về. Nó sụm gối, nằm khác nào sư tử đực, như sư tử cái; há ai dám khiến ngồi lên? Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chân nó, cho đến chừng Đấng Si-lô [Hình thái Hy bá lai shiloh là một vấn đề của sự diễn giải. Ít nhất có 4 ý chính (với nhiều sự khác nhau và ít sự lựa chọn). (1) Có người thích để nguyên chữ ấy, đọc là “Silô” và hiểu đấy là chỗ đặt hòm giao ước trong một thời gian ngắn trong thời Các Quan Xét. (2) Bằng cách xem lại câu gốc Kinh Thánh có người muốn dịch “cho tới chừng Đấng cai trị [hay “của Ngài”] hiện đến”, một tham khảo về Vua ra từ dòng David hay Đấng Mêsi. (3) Khả năng khác không đòi hỏi việc sửa lỗi trong đoạn văn, nhưng chỉ xác định là “cho tới khi đồ cống nạp được đem đến dâng cho Ngài” (như trong bản dịch NEB, JPS, NRSV), có lợi thế cung ứng sự tương xứng với dòng sau đây: “các nước sẽ vâng theo người”. (4) Sự giải thích trong bản dịch hiện có: “cây phủ việt thuộc về Đấng đó” (như trong bản dịch RSV, NIV, REB), căn cứ theo các bản dịch xưa. Một lần nữa, từ nầy đề cập tới triều đại David hay, hoàn toàn đến Đấng Mêsi. See NET Study Notes] hiện tới, và các dân vâng phục Đấng đó”. Giacốp đang nói cho Giuđa biết rằng ông sẽ trở thành dòng giống của Đấng Mêsi (Xachari 10.4; Hêbơrơ 7.14). Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giuđa (Dân số ký 24.17). Nếu bạn biết rõ lịch sử của Israel, bạn biết lịch sử ấy khởi sự với Saulơ, David, và Salômôn, mỗi vị vua đều xuất thân từ chi phái Giuđa. Và Mathiơ 1.2 nói rằng Chúa Jêsus ra từ chi phái Giuđa. Sau Đấng Christ, chẳng còn có một vua nào nữa. Vì vậy, ngay cả trong sách Sáng thế ký, Giacốp đang chỉ ra Chúa Jêsus là nhà vua hợp pháp. Ngài là Đấng không những là Vua trên Israel, mà còn trên các nước nữa! Ngài là Đấng mà Khải huyền 5.5 gọi là “Sư Tử của chi phái Giuđa”.
“Silô” (sát nghĩa, “kẻ mang sự yên nghỉ”) là một từ ngữ rất khó hiểu [Silô đề cập tới thành phố trong xứ Canaan theo chính tên ấy (I Samuên 4.12). Có người tin rằng Giacốp tính chỉ ra một thành trong tương lai (Silô) nơi Hòm Giao Ước yên nghỉ cho tới chừng thành ấy đi đến mức cuối cùng. Nhưng quan điểm nầy không đứng vững được. Giacốp đã nói tới “chân nó” và sự vâng phục là thuộc về người. Về đại danh từ dường như là một người, chớ không phải đồ vật như thành Silô. Hơn nữa, Kaiser viết: “Từ nầy không thể đề cập tới địa điểm mà đền tạm sẽ ở đó nhiều thế kỷ về sau. Nếu thực thế, Giacốp đang nói tiên tri về một địa điểm chẳng được biết đến vào thời ấy, và địa điểm đó hiếm khi được nhắc tới trong nền văn học của những năm sau đó, trừ ra một dấu hiệu của sự phán xét. Phần giải thích nầy cũng sẽ bao gồm sự thay đổi động từ ‘hiện tới’ thành ‘đến mức cuối cùng’, một ý nghĩa thêm vào và thắc mắc khác lại dấy lên: “Mức cuối cùng nào và tại sao?” Walter C. Kaiser, Hard Sayings of the Bible (Downers Grove, IL. InterVarsity, 1997 [1996]), Electronic ed] có lẽ chúng ta phải dịch là “(cây phủ việt của vua) là của người” hay “cây phủ việt thuộc về người” thay vì dịch từ ấy là “Silô” (đối chiếu Êxêchiên 21.26- 27) [Ý kiến khác là: “cho tới chừng đồ cống nạp được đem đến dâng cho người”. Gordon J. Wenham, Genesis 16-50, Vol. 2. WBC (Waco, TX. Word, 1994), 478]. Giacốp đang nói rằng cho tới chừng Đấng có uy quyền vua chúa thuộc về Ngài hiện đến, chi phái Giuđa sẽ luôn luôn có một đấng ban luật pháp trong hàng ngũ của chi phái ấy (Êsai 9.1-6). Silô, giống như “dòng dõi” ở Sáng thế ký 3.15, là một danh nói tới Đấng Mêsi hầu đến.
Những chữ nầy đang gây kinh ngạc! Chúng cho thấy rằng Đức Chúa Trời có một chương trình. Từ tội lỗi đầu tiên trong Sáng thế ký 3, Đức Chúa Trời đang chỉ cho dân sự Ngài thấy một Đấng Cứu Thế. Và Ngài chỉ cho chúng ta thấy trong cùng một phương hướng. Chúng ta có cơ hội làm chứng về sự sống, sự chết và sự sống lại của Đấng Christ. Chúng ta có chứng cớ của những người đã đồng hành với Ngài và được Ngài biến đổi cho. Tuy nhiên, ngay cả trong Sáng thế ký điểm nổi bật đều nhắm vào Chúa Jêsus. Ngài là Đấng mà nhân loại có cần. Đây không phải là việc mà ai đó mơ tưởng giống như hầu hết các tôn giáo trên thế gian. Đây là những gì Đức Chúa Trời đã sửa soạn từ khi sáng thế. Điều nầy khiến cho bạn và tôi càng tin cậy nhiều hơn vào Kinh Thánh. Đây là một quyển sách siêu nhiên và mang tính tiên tri đã trụ vững trong sự thử nghiệm của thời gian và vững vàng trước mỗi cuộc tấn công!
Ở 49.11-12, Giacốp nói: “Người buộc lừa tơ mình vào gốc nho, lừa con mình vào nhành nho tốt nhất. Người giặt áo xống mình vào rượu nho, cùng lấy huyết nho lau áo tơi mình. Mắt người đỏ vì cớ rượu, răng người trắng vì cớ sữa”. Hình ảnh rất trong sáng. Chi phái Giuđa sẽ là một chi phái đắc thắng. Dòng dõi của Giuđa sẽ đắc thắng trong chiến trận và sẽ trị vì trên các chi phái khác. Dòng dõi của Giuđa sẽ được thịnh vượng...thịnh vượng đến nỗi những gốc nho để làm rượu sẽ dư dật đến nỗi họ sẽ dùng chúng cho các mục đích thông thường như cột mấy con lừa hay giặt áo xống của họ (Thi thiên 16.11).
Về sau các trước giả Kinh Thánh rút tỉa từ hình ảnh của câu gốc ngắn ngủi nầy để phác họa ra sự trị vì của Đấng Mêsi hầu đến. Êsai 63.1-6 mặc khải sự đến của một vì vua đắc thắng áo xống người giống như áp xống của người đạp bàn ép rượu. Áo xống màu đỏ thẳm của người khi ấy được ví với áo xống màu đỏ nhuộm đầy máu của một chiến binh thắng trận. Ngài là Đấng đã đến để bày ra sự báo thù của cơn thạnh nộ Đức Chúa Trời giáng trên các nước không tin kính (Êsai 63.6). Trong sách Khải huyền, chính hình ảnh nầy được áp dụng cho sự tái lâm đắc thắng của Đấng Christ. Ngài là Đấng cỡi trên “con ngựa bạch” Ngài “mặc áo nhúng trong huyết … Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân … Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng” (Khải huyền 19.11, 13, 15) [Sailhamer, Genesis. EBC, Electronic ed].
Bây giờ, chúng ta đã nhìn vào Giuđa, còn đây là lúc để chuyển sang Giôsép. Ở 49.22-26, Giacốp nói: “Giô-sép là chồi [Walton, Wenham, và Hamilton hết thảy đều hiểu từ Hy bá lai ben có ý nói “con lừa” thay vì “cành cây” (con trai). See John H. Walton, Genesis. The NIV Application Commentary (Grand Rapids. Zondervan, 2001), 718-19] của cây tươi tốt, mọc gần bên suối nước; Nhành nhánh phủ bao trên ngọn tường. Kẻ cầm cung đã ghẹo chọc người, bắn tên vào, và hãm đánh; Nhờ tay Đấng toàn năng của Gia-cốp, nên cung người vẫn bền-chắc; Nhờ Đấng Chăn chiên, là Đá của Y-sơ-ra-ên, nên hai tay người thêm mạnh [Hình thái động từ trong 49.23-24 được sử dụng theo lối khoa trương, mô tả các biến cố trong tương lai giống như thể chúng đã diễn ra rồi vậy], Đức Chúa Trời của Cha sẽ giúp đỡ con; Đấng toàn năng sẽ ban phước cho con, tức là phước lành ở chốn trời cao xuống, cùng phước lành ở nơi vực rộng thẳm lên, Phước lành của vú, và của lòng mẹ. Phước lành cha chúc cho con vượt lần lên cao hơn các phước lành của tổ phụ cha, cho đến các chót núi đời đời: Các phước nầy sẽ ở nơi đầu Giô-sép, Nơi trán của chúa các anh em mình”. Ơn phước của Giôsép đặc biệt rất dư dật. Hai chi phái mang tên hai con trai ông sẽ nhìn thấy sự ứng nghiệm ngay trong thời của ông, Giôsép đã đối mặt với nhiều sự chống đối. Giuđa đã nhận lãnh chức năng lãnh đạo các chi phái, còn Giôsép đã lãnh lấy phần bằng hai của quyền con trưởng (đối chiếu I Sử ký 5.2).
Làm thể nào Giôsép có khả năng bền đỗ qua những thách thức của cuộc sống chứ? Năm danh xưng Giacốp nói tới Đức Chúa Trời trong ơn phước nầy rất đáng phải chú ý:
1. “Đấng Toàn Năng của Giacốp” (đối chiếu Thi thiên 132.2; Êsai 1.24; 49.26; 60.16)
2. “Đấng Chăn Chiên” (28.8-9; 48.15; Thi thiên 23.1)
3. “Đá của Israel” (đối chiếu Phục truyền luật lệ ký 32.4, 18; Thi thiên 18.2; 19.14; Êsai 8.14)
4. “Đức Chúa Trời của Cha [Giôsép]” (31.5; 32.9-10; 46.3)
5. “Đấng Toàn Năng” (17.1)
Phước là một trong những từ chính trong sách Sáng thế ký, xảy ra khoảng 88 lần trong sách nầy. Ở đây, trong 49.25-26, từ nầy xảy ra 6 lần (động từ 1 lần, danh từ 5 lần) tạo thành một đỉnh cao sáng chói cho lời lẽ sau cùng của Giacốp. Những ơn phước Đức Chúa Trời ban cho trong tương lai sẽ rực rỡ hơn cho những ai đã kinh nghiệm rồi [Wenham, Genesis 16-50, 486].
Phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta kết thúc ở 49.28: “Các người đó là đầu trưởng của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên; và đó là lời của cha họ nói đang khi chúc phước cho, chúc một lời phước riêng cho mỗi người vậy”. Giacốp đối xử với từng đứa con của ông rất khác biệt. Ông kỷ luật và chúc phước cho chúng rất thích đáng. Tuy nhiên, phân đoạn nầy kết thúc với ba thông lệ của từ “chúc phước”. Đức Chúa Trời sốt sắng tìm cách chúc phước cho dân sự của Ngài. Liệu bạn sẽ là người nhận lãnh ơn phước của Ngài hôm nay chăng?
Tối nay, chúng ta có giải thưởng Awana hàng năm. Mỗi đứa trẻ dự phần trong giải thưởng nầy đều được chúc phước. Nó (nam hay nữ) là một chi thể của gia đình Awana. Nhiều đứa là chi thể của gia đình Emmanuel. Tuy nhiên, tối nay chúng ta tưởng niệm không những là sự dự phần, mà còn sự thành tín nữa. Sẽ có một số trẻ em đã cần cù làm việc; đã có những đứa khác chẳng làm chi hết. Mỗi đứa trẻ sẽ được chúc phước, nhưng không phải mỗi đứa trẻ đều được phước như nhau đâu. Có người đã chỉ trích giải Awana và đề nghị nó nên “thực thi sự công bình”. Không một điều gì vượt quá lẽ thật được. Awana sửa soạn các em và người lớn cho Ngày mà Đức Chúa Jêsus Christ sẽ tra xét tỉ mỉ đời sống của chúng ta. Vào Ngày đó, Ngài sẽ tìm kiếm sự công bình. Liệu bạn sẽ được tìm thấy là công bình không? Liệu bạn sẽ bước vào trọn giải thưởng của mình hay bạn sẽ không xứng đáng nhận phần thưởng có thể là của bạn?
Trong I Côrinhtô 10.11, Phaolô nói cho chúng ta biết rằng những truyện tích trong Cựu Ước là những tấm gương đã được ghi lại để cảnh báo cho chúng ta. Liệu bạn sẽ lưu ý đến lời cảnh báo từ Giacốp và các con trai của ông? Liệu bạn có công nhận mọi hành vi của bạn quyết định các ơn phước trong tương lai của bạn trong chương trình của Đức Chúa Trời và những sự lựa chọn bạn đưa ra ngày nay sẽ tác động đến dòng dõi của bạn trong các thế hệ hầu đến chăng? [Dr. Thomas L. Constable, Notes on Genesis ( http.//www.soniclight.com/constable/notes/pdf/genesis.pdfhttp.//www.soniclight.com/constable/notes/pdf/genesis.pdf, 2005), 269].