Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2010

I Timôthê 5.1-2: "Mọi sự trong gia đình"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Mọi sự trong gia đình
I Timôthê 5.1-2
Hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ được mô tả bằng những cách thức khác nhau trong Tân Ước. Đức Thánh Linh dẫn dắt các trước giả viết Kinh thánh sử dụng một loạt nhiều hình bóng để giúp chúng ta hiểu chúng ta là ai và chúng ta hoạt động như thế nào trong vai trò dân sự của Đức Chúa Trời. Chúng ta được gọi là một NƯỚC nhấn mạnh sự tể trị của Đấng Christ là Vua tối cao của chúng ta (Khải huyền 5.10). Chúng ta được gọi là THẦY TẾ LỄ tiêu biểu cho từng tín đồ tiếp cận trọn vẹn với ngôi của Đức Chúa Trời (I Phierơ 2.5, 9). Chúng ta được gọi là DÂN THÁNH và mỗi một người trong chúng ta là một công dân thiên quốc (I Phierơ 2.9). Chúng ta được gọi là "hòn đá sống" cùng nhau dựng nên một ĐỀN THỜ THÁNH cho Chúa (I Phierơ 2.9; Êphêsô 2.20-22). Chúng ta được gọi là NHÁNH nối với nguồn sự sống trong Gốc Nho thật, là Đức Chúa Jêsus Christ (Giăng 15.5). Chúng ta được gọi là THÂN với Đấng Christ là Đầu của chúng ta (I Côrinhtô 12.12). Chúng ta được gọi là BẦY CHIÊN, được dẫn dắt và trưởng dưỡng bởi Đấng Chăn Chiên Trưởng của mình (I Phierơ 5.2-4). Chính từ ngữ "Hội thánh" cố ý nhắc tới một HỘI CHÚNG nhấn mạnh tính cần thiết của sự chúng ta nhóm lại trên đất và chỉ ra một hội chúng đời đời gồm mọi tín đồ ở trên trời (Hêbơrơ 10.25; 12.23).
Tuy nhiên, trong mọi hình bóng nói tới Hội thánh, có lẽ mối quan hệ thân thiết nhất, cách riêng tư, ấy là hình bóng nói tới một GIA ĐÌNH. Những tín đồ gồm các anh chị em trong Đấng Christ với một Cha Đời Đời. Êphêsô 2.19 chép chúng ta là: "người nhà của Đức Chúa Trời". Trong Êphêsô 3.14-15, Phaolô nhấn mạnh mối quan hệ nầy trong lời cầu nguyện giới thiệu: "Ấy là vì cớ đó mà tôi quì gối trước mặt Cha, bởi Cha mà cả nhà trên trời và dưới đất đều được đặt tên". Galati 6.10 chép: "Vậy, đang lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin".
Nếu gia đình của Đức Chúa Trời là một hình bóng nói tới tất cả các tín đồ, thì chắc chắn Hội thánh địa phương sẽ giống với, hành động và sinh hoạt như một gia đình. Phaolô viết thư cho Timôthê bảo Timôthê phải đối xử với dân sự trong hội chúng tại thành Êphêsô giống như những người sống trong nhà của Timôthê vậy. Không may thay, trong kỷ nguyên nầy, có nhiều người đã lớn lên trong những gia đình không làm tròn chức năng và chẳng có một sự hiểu biết gì về một gia đình phải sinh hoạt như thế nào cả. Gia đình phải được đánh dấu bằng tình yêu thương, sự nâng đỡ hay vui mừng. Gia đình cung hiến tình yêu thương vô điều kiện. Có người nói: "Gia đình là nơi mà họ phải đưa bạn vào đó".
Tôi đã được phước, được nuôi dạy bởi bậc cha mẹ Cơ đốc tin kính. Tôi đã lớn lên không gặp phải những nan đề đang hành hại nhiều người trong thế hệ của tôi vì cha mẹ tôi luôn luôn tiếp nhận tôi và làm cho tôi cảm thấy mình luôn được yêu thương. Tuy nhiên, tình yêu vô điều kiện và sự tiếp nhận tuyệt đối không giữ họ không chỉ ra tội lỗi của tôi … trên cái mông của tôi! Tình yêu thương của họ không bỏ qua thái độ không vâng phục của tôi nhưng đòi hỏi sự vâng lời của tôi.
Một gia đình Hội thánh yêu thương không làm bộ không để ý đến tội lỗi và bỏ qua sự bất tuân của tôi đối với lẽ thật trong Kinh thánh. Hội thánh luôn luôn là một nơi chốn của tình yêu vô điều kiện và sự tiếp nhận tuyệt đối, mà cũng khăng khăng đối mặt với tội lỗi và xử lý với thái độ bất tuân. Cha mẹ tôi vốn biết rõ rằng nếu họ không chỉnh sửa thái độ bất tuân của tôi, tôi sẽ phải chịu khổ do thái độ ấy trong suốt phần còn lại của cuộc đời mình. Họ đã kỷ luật tôi bằng tình yêu thương. Hội thánh phải hiểu rằng tội lỗi luôn luôn đem lại đau khổ và chúng ta không nên dung túng nó.
Phần việc đặt trước mặt Timôthê là phải xử lý với tội lỗi của Hội thánh Êphêsô vốn lâm vào cảnh rắc rối. Thay vì dạy dỗ lẽ thật của Tin Lành, họ đang rao giảng "những phù ngôn và gia phổ vô cùng" (1.4). Họ đang ra sức để trở thành "những thầy dạy luật" lo chăm chú thiên về với luật pháp khi họ chẳng hiểu gì về mục đích của luật pháp cả (1.7-11). Có người, giống như "Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ" đã trở thành những kẻ bội đạo và làm "chìm đắm" đức tin của họ (1.20). Một số phụ nữ đang bước ra khỏi vị trí của mình và đang tìm cách nắm lấy mọi vai trò của nam giới (2.8-15). Hội thánh không hiểu các tiêu chuẩn cao dành cho bậc trưởng lão hay chấp sự (3.1-13). Đã có sự dạy giả dối và giáo lý của quỉ dữ đang bềnh bồng trôi nổi quanh mối tương giao (4.1-5).
Một gia đình Hội thánh đừng bao giờ bỏ qua tội lỗi trong danh xưng của ân điển, mà phải đối diện với tội lỗi với danh xưng của tình yêu thương. Chúa Jêsus đã ban ta những huấn thị đặc biệt đối với việc xử lý với một anh chị em phạm tội trong Mathiơ 18.15-18: "Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ điều gì mà các ngươi buộc ở dưới đất thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà các ngươi mở ở dưới đất thì cũng sẽ mở ở trên trời".
Khi chúng ta xem xét hai câu đầu tiên nầy trong chương 5, tôi muốn chỉ ra một sự dạy tổng quát về cách thức chúng ta cần phải đương diện với bất kỳ tín đồ nào, rồi khi ấy chúng ta sẽ xem xét cách thức xử lý với người già cả và kẻ trẻ hơn, với những người đàn bà có tuổi và trẻ tuổi hơn trong gia đình của Đức Chúa Trời.
I. Chúng ta cần phải đối xử như thế nào với tất cả các tín đồ (câu 1).
Khi quí vị xem xét câu 1, làm ơn gạch dưới hay bôi màu sáng vào hai động từ. Động từ thứ nhứt là "quở" và động từ thứ hai là "khuyên". Mặc dù được áp dụng cách trực tiếp trong cách thức Timôthê cần phải quan hệ với "người già cả", điều nầy cũng áp dụng chung cho mối quan hệ của ông với mọi người trong Hội thánh. Vì cớ đó, trước tiên chúng ta hãy hiểu rõ sự trái ngược giữa hai từ nầy. Chúng ta không phải "quở" mà phải "khuyên". Lúc đầu, câu nầy nghe như một sự lộn xộn. Có vài lần trong các thư tín Mục vụ, Phaolô bảo Timôthê và Tít phải quở trách dân sự. Thí dụ, trong II Timôthê 4.2, Phaolô nói: "hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi". Một phần trong công tác giảng dạy là quở trách tội lỗi trong hội chúng. Trong Tít 2.15, vị sứ đồ nói: "Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con". Uy quyền của chúng ta trong việc quở trách là Ngôi Lời.
Tít 1.13 nói tới các giáo sư giả khi câu nầy chép: "Lời chứng ấy quả thật lắm. Vậy hãy quở nặng họ, hầu cho họ có đức tin vẹn lành". I Timôthê 5.20 nói tới bậc trưởng lão sai sót khi câu nầy chép: "Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ".
Bốn lần Phaolô đặc biệt bảo các vị Mục sư trẻ nầy phải thốt ra những lời quở trách theo Kinh thánh. Tuy nhiên, ở đây ông nói: "Chớ quở" Tại sao vậy? "Quở" trong 5.1 ra từ chữ epiplesso sát nghĩa là "đánh mạnh". Trong văn mạch nầy, từ ngữ nầy có ý nói tới cách chỉ trích khá mạnh bạo hay khó nghe. Từ ngữ không được sử dụng ở đâu khác trong Tân Ước mặc dù từ ngữ đã được sử dụng ở 3.3 khi mô tả một trưởng lão là kẻ "đừng hung bạo". Ở chỗ khác trong các thư tín hai từ ngữ nhẹ nhàng hơn được dịch là "bẻ trách". Chúng ta phải nói rằng có hai hình thái "bẻ trách". Một là hung bạo với dự tính gây tổn thương. Còn một là nhẹ nhàng với dự tính chỉnh sửa.
Là cha mẹ, chúng ta phải quở trách con cái mình về phần xác. Quở trách như thế nầy là làm theo Kinh thánh. Châm ngôn 22.15 chép: "Sự ngu dại vốn buộc vào lòng con trẻ; Song roi răn phạt sẽ làm cho sự ấy lìa xa nó". Châm ngôn 23.13 chép: "Chớ tha sửa phạt trẻ thơ; Dầu đánh nó bằng roi vọt, nó chẳng chết đâu. Khi con đánh nó bằng roi vọt". Châm ngôn 13.24 chép: "Người nào kiêng roi vọt ghét con trai mình; Song ai thương con ắt cần lo sửa trị nó". Tuy nhiên, có hai cách để kỷ luật một đứa con. Nếu chúng ta kỷ luật cách hung bạo do giận dữ, thì đây là ngược đãi. Nếu chúng ta kỷ luật xuất phát từ tình yêu thương, thì đó là sự chỉnh sửa. Cái điều chúng ta cần phải từ chối, ấy là những ngón tay hung bạo – một loại "quở".
Hãy trở lại với động từ thứ hai trong câu 1, "khuyên". "Khuyên" dịch từ chữ parakaleo. Nếu quí vị thích nghiên cứu từ ngữ, có lẽ quí vị nhìn biết từ ngữ khá quen thuộc nầy. Para có nghĩa là "sát bên" và kaleo có nghĩa là "kêu gọi". Sát nghĩa từ nầy là "gọi sát bên". Hãy hình dung vị huấn luyện viên trên đường chạy đang kêu gào sự khích lệ. Hãy hình dung một người lính đang dìu một đồng đội bị thương, đang giúp cho đồng đội trở lại tuyến sau. Một từ ngữ liên hệ, parakletos là tước hiệu của Đức Thánh Linh và từ nầy được dịch là "Đấng Giúp Đỡ" hay "Đấng Yên Ủi" (bản dịch Kinh thánh KJV – đối chiếu Giăng 14.16, 26; 15.26; 16.7).
Khi chúng ta đến bên cạnh Cơ đốc nhân khác và khích lệ họ trong Chúa, chúng ta đang làm chính công việc giống như Đức Thánh Linh! Khi xử lý với bất kỳ anh chị em nào trong gia đình của Đức Chúa Trời, đặc biệt những người đang vật lộn với tội lỗi, chúng ta không "quở" họ với những ngón tay chỉ chỏ, nhưng chúng ta "khuyên dỗ" họ với hai cánh tay quàng quanh đôi bờ vai của họ. Tại sao chứ? Vì chúng ta là gia đình.
II. Chúng ta cần phải đối với người già cả như thế nào (câu 1a).
Quan niệm đừng hành động nghiệt ngã mà phải dịu dàng đặc biệt là thực với bất kỳ "người già cả" nào trong hội chúng. Chúng ta phải đối xử với "người già cả … như cha". Kinh thánh dạy rõ ràng rằng người trẻ tuổi nên tỏ ra sự kính trọng hẳn hòi đối với người lớn tuổi hơn. Thực thế, Luật pháp Môi-se trong Lê vi ký 19.32 chép: "Trước mặt người tóc bạc, ngươi hãy đứng dậy, kính người già cả, và kính sợ Đức Chúa Trời ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va". Nói cách khác, sự tôn kính dành cho người già cả phải đi song hành với sự tôn kính Chúa! Người nào không kính trọng người lớn tuổi hơn họ chẳng có chút tôn kính nào dành cho Đức Chúa Trời cả. Châm ngôn 16.31 chép: "Tóc bạc là mão triều thiên vinh hiển, Miễn là thấy ở trong đường công bình". Mặc dù một số người trong chúng ta có tóc bạc rất sớm, vì phần lớn người tin Chúa sống đến già bạc là một người công bình đáng được tôn kính.
Những người già cả thì giống như "cha thuộc linh" trong Hội thánh. Đặc biệt, chúng ta cần phải đối xử với người già cả "như cha". Châm ngôn 4.1 chép: "Hỡi các con, hãy nghe lời khuyên dạy của một người cha, khá chủ ý vào, hầu cho biết sự thông sáng". Châm ngôn 30.17 chép: "Con mắt nhạo báng cha mình, khinh sự vâng lời đối với mẹ mình, các con quạ của trũng sẽ móc mắt ấy, và các chim ưng con sẽ ăn nó đi". Thực ra Luật pháp đặc biệt nói: "Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử" (Xuất Êdíptô ký 21.17).
Hỡi lớp người trẻ, quí vị cảm thấy thế nào về lớp người già cả trong hội chúng của mình? Chúng ta có cảm thấy họ được tôn trọng ra sao khi họ đang ở đây với chúng ta? Chúng ta có vui thích với sự thực họ chịu đựng chúng ta và rất yêu thương chúng ta? Chúng ta đừng bao giờ làm điều chi gây tổn thương cho họ hay làm nhục họ. Chúng ta phải chịu đựng họ và lắng nghe sự khôn ngoan mà họ đã kiếm được trong ngần ấy năm sống. Tôi có một người bạn đã mở ra một Hội thánh trong thành phố cách đây mấy năm. Sau ba hay bốn năm vất vả, Hội thánh non trẻ nhỏ bé kia sau cùng đã tan rã. Một số thuộc viên đã trở thành chi thể của Hội thánh chúng ta. Khi tôi trao đổi với người bạn ấy và các thuộc viên mới nầy về lý do tại sao Hội thánh không tồn tại, ai cũng nhất trí ấy là chẳng có một người lớn tuổi nào cả. Họ chỉ có một người trên độ tuổi 40 để cung ứng mưu luận và sự khôn ngoan tin kính.
Chúng ta đừng bao giờ, đừng bao giờ, ĐỪNG BAO GIỜ ăn nói xẳng xớm với người già cả. Hãy nhìn lại xem, một trong bốn người già cả của chúng ta đang đứng dạy một lớp Kinh thánh về thuyết mạt thế trong sách Đaniên. Một thanh niên kia tưởng mình biết rõ những thời kỳ sau rốt nên tỏ ra sự bất đồng với vị thánh đồ tin kính nầy. Thay vì bàn bạc có chừng mực những khác biệc với ý kiến của mình trong lớp học, anh ta cứ xổ sàng và tìm cách kéo vị giáo sư nầy vào vòng tranh cãi trước mặt mọi người. Tôi quở trách thanh niên ấy bằng câu nầy.
Cho dù "người già cả" trong Hội thánh có sai sót, và họ có thể sai sót, họ có thể sống trong tội lỗi, quở trách họ với một thái độ bất kỉnh, không hay ho gì như thế là không hề đúng. Chúng ta phải đến một bên người anh em lớn tuổi hơn đó, choàng tay quanh vai người và dịu dàng, tử tế, thậm chí với lòng thành khẫn chỉ rõ Kinh thánh cho ông ấy thấy. Khi làm như thế, chúng ta vừa tôn kính người anh em đứng tuổi kia, mà cũng tôn kính Chúa nữa.
III. Chúng ta cần phải đối xử với kẻ trẻ hơn như thế nào (câu 1b).
Chúng ta phải thật cẩn thận cũng chớ quở nặng "kẻ trẻ" hơn, mà nên khích lệ họ vì họ là "anh em" của chúng ta. Nói như thế có nghĩa gì? Nói như thế có nghĩa là chúng ta đồng đẳng với nhau. Hết thảy chúng ta đều là anh em và là con cái của cha. Không có một thứ bậc nào hết. Không có một địa vị cao siêu nào cả. Chúng ta đang ở trên cùng một cấp độ. Chúng ta có cùng một Chúa, một Đấng Cứu Chuộc chung. Chúng ta cùng nhau ở "trong Đấng Christ". Chúng ta có "một Chúa, một đức tin, một phép báptêm; một Đức Chúa Trời, một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người (Êphêsô 4.5-6). Chính Đức Thánh Linh đang ngự trong và đang dẫn dắt hết thảy chúng ta. Chúng ta không phải là anh em theo ý nghĩa chúng ta có cùng những nếm trải hay giá trị. Chúng ta là anh em theo ý nghĩa chúng ta được kết nối đời đời với nhau vì cớ mối tương giao với Chúa Jêsus!
Mạng lịnh bao quát trong Kinh thánh dành cho anh em là phải yêu thương nhau. Rôma 12.10 chép: "Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau như anh em; hãy lấy lẽ kính nhường nhau". I Phierơ 2.17 chép: "Yêu anh em". I Giăng 4.21 chép: "Chúng ta đã nhận nơi Ngài điều răn nầy: Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình".
Yêu thương anh em của chúng ta là bằng cớ chủ yếu của sự tái sanh. I Giăng 3.14 chép: "Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết". Giăng 13.35 chép: "Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta".
Vậy thì chúng ta phải đối xử với anh em mình như thế nào? Chúng ta khuyên dỗ họ, khích lệ họ và tỏ cho họ thấy tình yêu thương tin kính ấy bằng cách nào? Chúng ta phải quan tâm đến lợi ích của anh em mình. Chúng ta phải vô kỷ đặt mọi nhu cần của người trước mọi nhu cần của chúng ta. Chúng ta phải vui mừng với người trong những lúc sung sướng và khóc lóc với người trong những lúc đầy nước mắt. Chúng ta phải lo lắng về người và cầu thay cho người. Chúng ta phải yêu thương đối diện với người khi người phạm sai lầm và cứng rắn biện hộ cho người khi người ăn ở đúng đắn.
Kết quả, chúng ta phải tránh sự nặng nề và vô nghĩa. Chúng ta phải rất cẩn thận trong sự chọc ghẹo, chúng ta đừng vô ý chạm đến một thần kinh đang ở trong chỗ dễ bị chạm mạch. Chúng ta đừng ganh tỵ với người hay ghen tương với người. Chúng ta đừng bao giờ để cho người có những cảm xúc ấy đối cùng chúng ta. Chúng ta phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời, xin Ngài cất bỏ đi bất kỳ một bầu không khí nặng nề nào ra khỏi tâm linh của chúng ta. Chúng ta phải phục vụ một cách vô kỷ đối với người.
Quí vị có bao giờ nghĩ tới những tư tưởng nầy khi chúng ta giới thiệu một thuộc viên mới vào trong mối tương giao nầy không? Có bao giờ quí vị nghĩ: "Giờ đây, tôi có trách nhiệm lớn đối với người anh em nầy" không? Hay, chúng ta có bao giờ nói "Amen" và vỗ tay tán thưởng, rồi cảm thấy rất biết ơn vì Hội thánh chúng ta liên tục lớn lên mà không hề có một tư tưởng nào về trách nhiệm càng thêm của mình không?
Quí vị ơi, quí vị cần phải phát triển những tình bạn sâu sắc trong Hội thánh. Quí vị cần chuộc lại những mối giao thông với nhiều người khác. Thái độ phụ thuộc như thế không những làm cho đời sống quí vị vững mạnh, mà còn làm cho sinh hoạt của Hội thánh cũng được mạnh mẽ nữa. Geoff Thomas viết: Tình cảm anh em là chất xi măng, là sự được ơn, và là dầu xức cho mối tương giao của Hội thánh. Đây là tiên vị của những gì chúng ta sắp sửa kinh nghiệm trên thiên đàng. Đức Chúa Trời hằng sống được biết đến và được kính yêu giống như Cha của chúng ta, và hết thảy chúng ta [là] con trai con gái của Ngài. Tình yêu anh em được thấy trong Kinh thánh mà kém cõi thì Hội thánh càng giống như địa ngục hơn. Tôi rất buồn khi nói như thế về một số Cơ đốc nhân trong thế gian nầy, Hội thánh là một gia đình không còn tồn tại nữa.
Hãy suy nghĩ về số người ở quanh Chúa Jêsus trong vòng tròn trung tâm xem. Đã có những đoàn dân đông lên đến hàng ngàn người. Đã có bầy lớn ít nhất là 500 người đã tin theo Ngài. Khi ấy đã có 120 người đã chờ đợi trong thành Jerusalem. Rồi có 70 môn đồ đi ra từng đôi một. Tất nhiên khi ấy đã có 12 sứ đồ. Giữa vòng các sứ đồ là "vòng trong" gồn có ba người, Phiêrơ, Giacơ và Giăng, họ cùng đi với Chúa Jêsus trong những giờ phút mật thiết nhất.
Và trong đó chỉ có Giăng, là "môn đồ dễ thương", ông đã dựa đầu vào ngực của Chúa Jêsus và đã lãnh lấy trách nhiệm lo cho mẹ của Ngài. Chúa Jêsus yêu thương tất cả họ. Ngài đã phó chính mình Ngài cho họ hết thảy. Tuy nhiên, số người nầy gần gũi hơn những người kia. Cũng vậy, chúng ta không thể có sự gần gũi tương ứng dành cho tất cả những anh em của chúng ta. Một số người sẽ được gần gũi hơn những người khác. Tuy nhiên, chúng ta có thể có một tình yêu tự hy sinh dành cho từng người trong số họ.
Thật đáng kinh ngạc thay khi các mối quan hệ ấy lớn lên và thay đổi dường bao! Tôi nhớ khi còn là một thiếu niên, hay đỏ mặt với sự kêu gọi tôi bước vào chức vụ. Tôi dự trại hè của Hội thánh và đã nghe diễn giả nầy rao giảng. Tôi biết rõ tôi muốn sống giống như ông một ngày nào đó. Khi thời gian trôi qua, tôi tìm cách làm quen với ông nầy. Ông luôn luôn có thì giờ để trao đổi với tôi. Thậm chí ông còn viết cho tôi những bức thư thật dài nữa. Chắc chắn là tôi đã trở thành một Mục sư, chúng tôi trở thành những người bạn tốt. Tôi đã giảng trong Hội thánh của ông. Ông đến giảng trong Hội thánh của tôi. Giờ đây chúng ta là bạn đồng công. Hãy tưởng tượng xem nỗi kinh ngạc của tôi khi Đức Chúa Trời mở ra cánh cửa cho Jerry Coffman bước vào ban trị sự của Hội thánh chúng tôi! Tình cảm anh em làm thay đổi và nó đang lớn lên!
Mặt khác, tuần vừa qua tôi có cơ hội dành thì giờ với một thanh niên mà tôi đã gặp khi anh ta nhóm vào lứa tuổi của mình. Tôi là một Mục sư trẻ tại khu vực Dallas khi gia đình thanh niên nầy trở thành chi thể của Hội thánh chúng ta. Chúng tôi đã dành thì giờ cho nhau. Tôi cứ theo dõi anh ta khi anh ta đậu đại học và bắt đầu một sự nghiệp. Hãy tưởng tượng xem niềm vui của tôi khi anh ta gọi cho tôi vào một tối kia để nói cho tôi biết anh ta sắp sửa bước vào chức vụ và muốn trở thành một Mục sư. Giờ đây trong những năm cuối của tuổi 20, anh ta không còn là học trò của tôi nữa, mà là đồng sự với tôi. Tôi được nhắc nhớ về lời phán của Chúa Jêsus với các môn đồ: "Ta chẳng gọi các ngươi là đầy tớ nữa, …nhưng ta đã gọi các ngươi là bạn hữu ta" (Giăng 15.15). Tình cảm anh em rất phong phú và sâu sắc.
IV. Chúng ta cần phải đối xử với đàn bà có tuổi như thế nào (câu 2a).
Cũng trong phương thức chúng ta không nên "quở nặng người già cả" mà thay vì thế phải quàng tay quanh vai người mà "khuyên dỗ họ như cha" chúng ta phải đối xử với "đàn bà có tuổi cũng như mẹ". Kinh thánh truyền phải kính trọng yêu thương đối với chức năng làm mẹ. Luật pháp chép: "Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho" (Xuất Êdíptô ký 20.12). Châm ngôn 1.8 chép: "Hỡi con, hãy nghe lời khuyên dạy của cha, chớ bỏ phép tắc của mẹ con". Châm ngôn 23.22 chép: "Hãy nghe lời cha đã sanh ra con, chớ khinh bỉ mẹ con khi người trở nên già yếu".
Suốt cả Kinh thánh, chúng ta được dạy cho phải tôn kính và chăm sóc những người làm mẹ. Khi Chúa Jêsus sắp chết trên thập tự giá, Ngài đã nhìn xuống mẹ ruột của mình là Mary và người bạn thân nhất là Giăng rồi nói: "Hỡi đàn bà kia, đó là con của ngươi!" và "Đó là mẹ ngươi!" Rồi vấn đề trở nên thực khi "từ bấy giờ, môn đồ ấy rước người về nhà mình" (Giăng 19.26-27). Có lẽ Mary là một goá phụ lúc bấy giờ và Chúa Jêsus muốn Giăng phải thế chỗ của Ngài trong việc chu cấp cho bà. Trong tiểu đoạn kế ở I Timôthê 5, Phaolô cung ứng phần chú ý đặc biệt đến con cái chăm sóc cho những người mẹ goá của họ.
Một số người trong chúng ta không còn có mẹ ruột của mình nữa. Người mẹ yêu dấu của tôi đang ở trong thiên đàng hôm nay. Không ai có thể thế được chỗ của bà ấy, tuy nhiên Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những người "đàn bà có tuổi" khác làm mẹ chúng ta. Tôi được phước khi có nhiều người dường như đang lấp vào khoảng trống đó. Phaolô vốn hiểu rất rõ. Ông đã nói trong Rôma 16.13: "Hãy chào Ru-phu, người được chọn của Chúa, và chào mẹ người, cũng là mẹ tôi". Tôi thích cách bản Kinh thánh NIV chép về việc nầy: "…người cũng là một bà mẹ đối với nữa". Mẹ của Ru-phu đã làm cho Phaolô cảm nhận giống như một trong bầy con của bà vậy. Tôi không thể làm chi khác hơn là suy nghĩ tới lời lẽ của Chúa Jêsus trong Mác 10.29-30: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi chẳng một người nào vì ta và Tin Lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, mà chẳng lãnh được đang bây giờ, trong đời nầy, trăm lần hơn về những nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau”.
Mới đây thôi, một thánh đồ quí báu của Đức Chúa Trời đã trở thành chi thể trong gia đình Hội thánh của chúng ta. Bà Helen Long là goá phụ trong nhiều năm trời. Bà đã phục vụ Chúa trong nhiều năm tháng. Bà có một con trai ở đây, anh ta chăm sóc cho bà nhưng cũng có nhiều con cái ở khắp thế giới. Những đứa con khác của bà đều là các giáo sĩ và là con cái của các giáo sĩ. Nếu quí vị đến nhà của bà, quí vị sẽ không ở đó lâu cho tới khi bà bắt đầu chia sẻ với quí vị về tất cả "những đứa con của bà".
Vậy thì đối xử với những "đàn bà có tuổi cũng như mẹ" có ý nghĩa như thế nào? Làm sao những đứa con trai con gái chăm sóc cho mẹ của họ được? Họ cần được đối xử với sự kính trọng và yêu thương. Họ cần phải được xem như một ân tứ quí báu đến từ Đức Chúa Trời. Họ cần phải được tôn kính vì sự phục vụ của họ. Một tư tưởng cuối cùng về cả hai vị thánh đồ cao tuổi. Tôi tin chúng ta phải cẩn thận khi dạy con cái mình phải tỏ ra cho họ sự kính trọng đáng phải cách. John Stott nói: Tôi tìm thấy ở đây lý do xác đáng theo Kinh thánh về sự hội chúng nhìn nhận về tính cách khác nhau trong tư tưởng giữa thế hệ đi trước và thế hệ tiếp nối. Thực vậy, hết thảy chúng ta đều là anh chị em trong Đấng Christ. Dù vậy, đối với tôi cái điều giả tạo ở phương Tây khi có những sinh viên nổi cáu với tôi và chào tôi bằng tên Cơ đốc của tôi, mặc dù tôi đủ tuổi làm ông cố của chúng!
Trong cộng đồng của Hội thánh chúng ta, chúng ta dạy con cái phải gọi là "Anh" hay "Bà" sao cũng được vì dường như không hay lắm và bất kỉnh cho lớp trẻ khi nói chuyện với các thánh đồ cao tuổi và gọi họ bằng tên tộc của họ.
V. Chúng ta phải đối xử thế nào với những thiếu nữ (câu 2b).
Sau cùng, Phaolô nói rằng chúng ta phải đối xử với những "thiếu nữ như chị em". Tuy nhiên, hãy chú ý và gạch dưới mệnh đề "…mà phải lấy [trọn vẹn, hoàn toàn, tuyệt đối] cách thanh sạch". Hỡi quí ông, chúng ta cần phải đối xử với các thiếu nữ trong Hội thánh giống như họ là chị em của chúng ta. Những mối quan hệ của chúng ta với họ cần phải được đánh dấu bằng "sự thanh sạch" trọn vẹn.
Tại sao Phaolô sử dụng lối nói nầy? Đâu là mục đích của ông. Mục đích ấy rất là rõ ràng. Cái điều ông ám chỉ dành cho người nam Cơ đốc có tư tưởng về tình dục hoặc Đức Chúa Trời cấm đoán, sinh hoạt về tình dục với một người nữ trong Hội thánh mà không phải là vợ của mình là na ná với LOẠN LUÂN và dầu trong mãng xấu xa nhất của xã hội đều bị xem là tội lỗi. Không một điều gì đánh hạ các lãnh đạo thuộc linh, cả nam và nữ cho bằng tội tà dâm. Không một điều chi có thể phá tán nhiều gia đình và làm đắm chìm cấp độ thuộc linh trong nhiều Hội thánh. Hỡi Hội thánh, đây là một lẽ thật cần được rao giảng cho thật lâu dài và lớn tiếng. Tà dâm là TỘI LỖI!
Tommy Nelson nói rằng có ba bước hướng tới sự tà dâm. HAM THÍCH, GIẢI TRÍ và KINH NGHIỆM. Hết thảy đều bắt đầu khi vợ chồng không chăm sóc mọi nhu cần của nhau trong gia đình. Họ bất chấp I Côrinhtô 7.5, ở đây chép: "Đừng từ chối nhau [về tình dục], trừ ra khi hai bên ưng thuận tạm thời, để chuyên việc cầu nguyện; rồi trở lại hiệp cùng nhau, kẻo quỉ Sa-tan thừa khi anh em không thìn mình mà cám dỗ chăng”. Khi các nhu cần ấy không được thoả mãn tại nhà, "tiết độ" sẽ ra khó khăn.
Thứ nhứt, có SỰ HAM THÍCH. Trong Hội thánh hay trong sở làm hoặc một môi trường nào khác, ở đó những người nam người nữ tụ họp lại, người nam sẽ gặp nhiều người nữ khác rất hấp dẫn và có nhiều đức tính đáng khen ngợi. Cũng một việc ấy xảy đến cho nữ giới. Sẽ có nhiều tia lửa tình cảm cho những người nầy. Mọi người đều kinh nghiệm sự việc đó. Ham thích một người thuộc phái tính khác hấp dẫn, đáng ngưỡng mộ là một việc rất bình thường. Đó là một tình cảm tốt, lành mạnh. Tuy nhiên, nếu nhu cần của người (nam hay nữ) không được thoả mãn ở nhà, người (nam hay nữ) ấy bắt đầu thấy ham thích những tia lửa tình cảm kia nhiều hơn.
Khi chúng ta tận hưởng những cảm xúc nơi một người đàn bà hay đàn ông khác hơi nhiều, chúng ta đang hướng tới bước GIẢI TRÍ, nghĩa là chúng ta bắt đầu giải trí không lành mạnh, những tư tưởng về khoái lạc đối với người nầy. Một người như thế sẽ tìm những phương thức để bỏ ra nhiều thì giờ với người đàn bà đó. Người sẽ viết cho nàng một lời cảm ơn thật đặc biệt thân mật về một đặc ân nho nhỏ nào đó. Người sẽ thân mật với nàng với một tư thế không bình thường. Nàng sẽ tìm ra nhiều phương thức để làm những việc nho nhỏ cho người và khiến cho người phải chú ý. Đây là những hành động có tính cách lãng
mạn. Họ bắt đầu trao đổi với nhau ở một cấp độ sâu sắc hơn và chia sẻ điều chi là sai quấy với cuộc hôn nhân hiện có của họ.
Bước sau cùng là KINH NGHIỆM. Ở một điểm nào đó, người sẽ nói cho nàng biết người cảm nhận thế nào về nàng. Nếu nàng đáp lại các việc đó, họ sẽ tiến đến một điểm xa hơn. Có một sự "tin cậy rất tai hại" giữa hai người. Mọi sự họ cần là một phút riêng tư và hành động của sự tà dâm họ sẽ phạm phải. Điều nầy đang xảy ra bất cứ lúc nào đối với quí Mục sư, trưởng lão, chấp sự, giáo sư, các lãnh đạo mục vụ, thương gia … quí vị có thể kể thêm, không ai được miễn trừ cả. Nó có thể xảy ra và sẽ xảy ra ở đây trong Hội thánh của chúng ta. Đừng tự đá vào mình. Hỡi quí ông, đấy là lý do tại sao chúng ta phải đối xử với phụ nữ Cơ đốc ở quanh chúng ta như chị em. Chúng ta phải nghĩ họ là chị em. Có bao nhiêu người trong số quí vị có người chị hay người em gái? Quí vị yêu thương nàng. Quí vị muốn bảo hộ cho nàng. Quí vị không nghĩ tới nàng theo sự dâm dục. Hãy đối xử với những người nữ nầy theo cùng cách ấy!
Trong gia đình của tôi và có lẽ trong phần nhiều gia đình của quí vị đều có lò sưỡi. Nó được xây bằng gạch và có bề mặt bằng kim loại. Nó cung cấp sự ấm áp tại trung tâm sinh hoạt của gia đình. Lò sưỡi được thiết kế để sử dụng hơi nóng từ ngọn lửa để làm cho ấm áp, để bảo hộ ngôi nhà tránh tính hủy diệt của ngọn lửa. Nếu tro của tia lửa từ nền lò sưỡi rớt trúng một đống báo hay một thứ chi khác dễ bắt lửa, nguồn ấm áp ấy sẽ đốt rụi cả ngôi nhà. Khi đứng trong ngôi nhà cháy rụi, quí vị nhìn thấy điều gì? Lò sưỡi. Một đời sống của kẻ phạm tội tà dâm giống như một ngôi nhà bị thiêu rụi. Tà dâm không đến từ tình trạng vô đạo đức về tình dục mà đến từ sự bất khả nắm bắt những ngọn lửa yêu thương đáng tin cậy.
Chúng ta có nhiều phụ nữ ngọt ngào, xinh đẹp, đáng ngưỡng mộ trong Hội thánh của chúng ta. Tôi yêu mến họ. Tình yêu ấy lành mạnh. Nhưng tôi không bao giờ để cho bản thân mình đi quá chặng đường vui vẻ với họ. Tình cảm của tôi đã dành cho vợ tôi và sự kính trọng của tôi dành cho chị em tôi. Dầu chúng ta già hay trẻ, anh em hay chị em, chúng ta là gia đình của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy hành động giống như gia đình ấy!
***

I Timôthê 4.12-16: "Làm thế nào để trở thành cấp lãnh đạo thuộc linh? – Phần 2"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Làm thế nào để trở thành cấp lãnh đạo thuộc linh? – Phần 2
I Timôthê 4.12-16
Hãy tưởng tượng quí vị đang chừng 13 tuổi và quí vị được giao cho làm chủ toạ một Hội thánh mới. Quí vị nắm lấy chức vụ trong vài năm. Quí vị đã được kỷ luật và đào tạo thành một vị Mục sư giỏi. Quí vị muốn lui đi và nhút nhát. Bị để lại đó với chính mình, quí vị đâm ra nhát gừng. Quí vị có bao tử không được tốt lắm và nhiều nan đề quí vị đối mặt với trong Hội thánh nầy khiến cho quí vị hay bật thức dậy trong đêm. Có nhiều giáo sư giả trong Hội thánh; thậm chí một số trong đó là các trưởng lão, các vị lãnh đạo trong hội chúng. Trên hết mọi sự ấy, Hội thánh nầy không mời quí vị đến. Quí vị bị đặt để ở đây là do sự chỉ định. Đặc biệt dân sự không thích quí vị và chắc chắn không luôn lắng nghe quí vị giảng đâu. Quí vị lấy làm mệt mõi, căng thẳng và ngã lòng. Quí vị lấy làm lạ không biết chức vụ nầy có thực sự dành cho mình không? Quí vị lấy làm lạ không biết mình có nên lui đi không?
Mặc dù âm điệu ấy dường giống như là tự truyện, những lời lẽ đó không nói về tôi đâu, mà nói về Timôthê và các nan đề ông đã đối diện với tại Hội thánh Êphêsô thuộc thế kỷ đầu tiên. Tuy nhiên, tôi đã có hết thảy những cảm xúc ấy và một số nan đề kia. Hầu hết những người có lòng khát khao chức vụ lãnh đaọ thuộc linh đều có y như thế.
Sứ đồ Phaolô, vị tư vấn của Timôthê, đã lo lắng cho Timôthê. Ông biết chính bổn tánh của Timôthê là muốn ngồi ở ghế phụ thôi. Đấy là lý do tại sao ông viết trong thư tín thứ nhì: "Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và dè giữ" (II Timôthê 1.7). Ông biết rõ Timôthê đang bị chỉ trích. Ông biết rõ dân sự trong Hội thánh đang nhìn chăm vào Timôthê vì Timôthê quá trẻ. Ông hiểu rõ mọi nỗi lo và nao núng của Timôthê. Đấy là lý do tại sao ông viết các thư tín nầy. Timôthê là "con thật của ta trong đức tin" (1.2), và ông viết với mọi nỗi lòng của một người cha đối cùng đứa con trai.
Trên hết mọi sự, Timôthê phải chấp nhận trách nhiệm của chức vụ lãnh đạo thuộc linh. Ông phải bước lên bục giảng. Thú vị thay, khi Phaolô bắt đầu tiểu đoạn nầy ở câu 6, ông đã bảo Timôthê phải trở thành "kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ". Trong phần 1 của sứ điệp nầy, chúng ta đã học biết rằng "kẻ giúp việc" dịch từ chữ diakonos là "chấp sự". Ý ở đây là một "tôi tớ hữu dụng". Vì lẽ đó chức vụ lãnh đạo thuộc linh không những bị hạn chế đối với những ai đang rao giảng vào những ngày Chúa nhựt. Hội thánh địa phương đang cần các cấp lãnh đạo thuộc linh với từng cấp độ. J. Oswald Sanders, trong quyển Spiritual Leadership [Lãnh đạo thuộc linh] đã viết: “Nếu thế gian chịu lắng nghe tiếng nói của Hội thánh ngày nay, cấp lãnh đạo có cần phải là người có uy quyền, thuộc linh, và biết hy sinh. Có thẩm quyền, vì người ta muốn có cấp lãnh đạo nào biết rõ họ sẽ đi đâu và tin tưởng mình sẽ nhận được gì ở đó. Thuộc linh, vì nếu không có một mối quan hệ vững chắc với Đức Chúa Trời, ngay cả một người lôi cuốn và tài ba nhất không thể hướng dẫn người ta đến với Đức Chúa Trời. Biết hy sinh, vì như thế là đang bước theo gương của Chúa Jêsus, là Đấng đã phó chính mình Ngài cho cả thế gian và là Đấng kêu gọi chúng ta phải bước theo các dấu chơn Ngài.
Trong tiểu đoạn sau cùng, chúng ta đã xem xét các câu 6-11 và đã lưu ý 7 trong 12 đức tính của cấp lãnh đạo thuộc linh được thấy ở đây trong chương nầy. Xin cho phép tôi ôn lại 7 đức tính đầu tiên một cách vắn tắt rồi tiếp đến chúng ta sẽ đào sâu 5 đức tính còn lại.
 Thứ nhứt, chúng ta học biết rằng cấp lãnh đaọ thuộc linh là GIÁO SƯ DẠY NGÔI LỜI. Họ "giải tỏ các việc đó cho anh em" về toàn bộ mưu luận của Đức Chúa Trời (câu 6a).
 Thứ hai, cấp lãnh đạo thuộc linh cũng dấn thân vào việc NGHIÊN CỨU NGÔI LỜI, họ được "nuôi bởi các lời của đức tin" và "đạo lý lành" (câu 6b).
 Thứ ba, cấp lãnh đạo thuộc linh là con người của sự CẦU NGUYỆN vì quí vị không thể được "nuôi" bằng Ngôi Lời nếu không có một sức sống cầu nguyện mạnh mẽ.
 Thứ tư, cấp lãnh đạo thuộc linh CHỐI BỎ NHỮNG LỜI HƯ NGỤY PHÀM TỤC. Họ "bỏ đi những lời hư ngụy phàm tục" (câu 7a). Họ không phí thì giờ và năng lực vào những thứ vô giá trị.
 Thứ năm, cấp lãnh đạo thuộc linh XÂY DỰNG CƠ BẮP THUỘC LINH. Họ "tập tành" hay tự luyện "sự tin kính". Họ hiểu rằng có một số ích lợi trong "sự tập tành thân thể" nhưng có lời hứa quan trọng cho cả lúc bây giờ và trong cõi đời đời cho việc tấn tới trong "sự tin kính". Các tín đồ từ buổi ban đầu của kỷ nguyên Hội thánh đã chấp nhận đây là một "lời nói chắc chắn" (các câu 7b-9).
 Thứ sáu, cấp lãnh đạo thuộc linh vốn CHỊU KHÓ LÀM VIỆC. Họ "đánh trận" và chịu khổ đối với phần việc của mình vì họ biết công việc của họ chẳng phải là vô ích đâu vì họ có một "Đức Chúa Trời hằng sống", Ngài là "Cứu Chúa" đối với mọi người dù họ có tin hay không, nhưng "nhất là" và đời đời là Cứu Chúa của những ai là "tín đồ" (câu 10).
 Thứ bảy, cấp lãnh đạo thuộc linh TẬP TÀNH UY QUYỀN THEO KINH THÁNH. Vì cớ uy quyền của Kinh thánh mà họ đã học hỏi và áp dụng, họ có thể "truyền" và "dạy" với lòng tin chắc.
I. Cấp lãnh đạo phải nêu gương (câu 12).
Phaolô nói: "Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải … làm gương cho các tín đồ". Rõ ràng, bộ phận lớn tuổi hơn trong hội chúng ở Êphêsô chẳng có ấn tượng gì mấy với Timôthê. Ông trẻ hơn Phaolô những 30 tuổi. Họ có con cái và thậm chí hàng cháu ở tuổi của Timôthê. Làm sao một thanh niên "truyền và dạy" cho những kẻ đáng bực trưởng thượng của mình được? Để giảng dạy với uy quyền, Timôthê phải sống với tính kiên định, trước sau như một. Ông phải sống theo sứ điệp của mình. Ông phải "làm gương". Ngày nay chẳng có gì thay đổi cả. MacArthur bình luận: “Công cụ lớn lao nhất của cấp lãnh đạo là quyền lực của một đời sống biết nêu gương … Khi một mẫu mực tin kính được tỏ ra bị bỏ qua quyền lực bị mất đi trong sự giảng dạy, để lại đó một chỗ trống trơn. Đời sống của một vị Mục sư là sứ điệp đầy quyền lực nhất của ông, và phải củng cố những gì ông nói hay ông không nói. Sự giảng dạy có uy quyền bị xem nhẹ nếu không có một đời sống đức hạnh kèm theo.
Một trong những lẽ đạo thường xuyên của Phaolô là nói cho nhiều người khác biết phải noi theo tấm gương của cá nhân ông. Ông đã nói với người thành Côrinhtô: "Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ" và “Vậy, tôi lấy điều đó khuyên anh em: hãy bắt chước tôi” (I Côrinhtô 11.1; 4.16). Ông nói với người thành Philíp: "Hỡi Anh em, hãy bắt chước tôi, lại xem những kẻ ăn ở theo mẫu mực mà anh em thấy trong chúng tôi" và "Hễ sự gì anh em đã học, đã nhận, đã nghe ở nơi tôi và đã thấy trong tôi, hãy làm đi, thì Đức Chúa Trời của sự bình an sẽ ở cùng anh em" (Philíp 3.17; 4.9). Với Hội thánh kỳ diệu tại thành Têsalônica, ông viết: "Anh em cũng đã bắt chước tôi và bắt chước Chúa, lấy sự vui vẻ của Đức Thánh Linh mà tiếp nhận đạo giữa lúc nhiều sự khốn khó " (I Têsalônica 1.6). Tác giả thơ Hêbơrơ cũng đưa ra chính mưu luận nầy: "Hãy nhớ những người dắt dẫn mình, đã truyền đạo Đức Chúa Trời cho mình; hãy nghĩ xem sự cuối cùng đời họ là thể nào, và học đòi đức tin họ" (Hêbơrơ 13.7).
Quí vị có dám nói ra câu Phaolô đã nói không? Quí vị có dám nói với người khác: "Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ" không? Nếu không, thì tại sao không? "Gương" có nghĩa là “mẫu mực” hay "khuôn khổ". Nếu có điều chi sai với mẫu mực của quí vị đến nỗi quí vị không muốn nhìn thấy nó tái hiện nơi người khác, hãy sửa chữa lại mẫu mực đó. Hãy xưng tội, hãy ăn năn. Đừng cố theo lối sống mà quí vị đang sống. Hết thảy chúng ta đều có những sai sót, nhưng nếu quí vị còn ở trong chỗ của cấp lãnh đạo thuộc linh, quí vị không thể nói: "Hãy bắt chước tôi" thì còn có hơn một tì vết, đang có tội lỗi. Giờ đây Phaolô cung ứng 5 lãnh vực đặc biệt trong đó cấp lãnh đạo thuộc linh cần phải phấn đấu để nêu ra một tấm gương tin kính.
A. Phải là gương tốt về sự tin đạo.
Giacơ 1.26 chép: "Nhược bằng có ai tưởng mình là tin đạo, mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích". Kent Hughes viết: "Nếu vị Mục sư lâm vào cảnh rắc rối, thường thì là do miệng của mình. Một số người trong chúng ta thì nói quá nhiều. Dân sự thì luôn luôn chờ vị Mục sư dừng lại, để họ có thể trình bày đôi điều. Kèm theo với việc nói nhiều và sự không thể lắng nghe – càng làm cho chúng ta nói ra những điều ngớ ngẩn".
Châm ngôn 10.19 chép: "Hễ lắm lời, vi phạm nào có thiếu; Nhưng ai cầm giữ miệng mình là khôn ngoan". Không nói gì hết đôi khi tốt hơn là nói ra một việc gì đó. Châm ngôn 15.28 chép: "Lòng người công bình suy nghĩ lời phải đáp; Nhưng miệng kẻ ác buông ra điều dữ". Hãy suy nghĩ trước khi quí vị nói ra! Châm ngôn 13.3 chép: "Kẻ canh giữ miệng mình, giữ được mạng sống mình …"
Tôi nghĩ là gương mẫu trong cách nói năng thì hay hơn là nói mỗi ngày. Làm gương như thế còn hơn là nói ra những lời dối trá hoặc dính vào chuyện ngồi lê đôi mách. Nó có một mặt tích cực cũng như mặt tiêu cực. Côlôse 4.6 chép: "Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn, và nêm thêm muối, hầu cho anh em biết nên đối đáp mỗi người là thể nào".
Chúng ta cần phải trở nên người của Ngôi Lời để chúng ta không thể nói lâu mà không đề cập tới Kinh thánh. Khi chúng ta đề cập tới Đức Chúa Trời và Lời của Ngài, chúng ta cần phải làm thế với niềm say mê. Không một điều chi làm sao lãng Cơ đốc giáo như sự nhạt nhẻo khi giảng dạy. Geoff Thomas, Một Mục sư Báptít từ xứ Wales hỏi không biết Winston Churchill có hết lòng làm việc hay không khi ông nói tới Anh quốc trong những ngày tối tăm của Phát xít đang đánh bom trong Đệ II Thế Chiến!?! Có cần thiết cho Demosthenes tỏ ra hết lòng khi ông tìm cách liên kết người thành Athen với các mối nguy hiểm của Vua Maxêđoan không? Có cần thiết cho Abraham Lincoln khuấy động mọi cảm xúc của mình khi ông đọc bài diễn văn Gettysburg không? Có phải họ đã ghi chú bên lề bản văn của họ: "Hãy hô to lớn tiếng ở chỗ nầy!" hay "Hãy bật khóc ở đây?" Không, tất nhiên là không rồi. Tình cảm của họ tập trung vào đề tài của họ và tình cảm ấy cũng cần có cho chúng ta nữa.
B. Phải là gương mẫu trong cách ứng xử.
Chúng ta không những nói theo cách ăn nói, chúng ta còn phải ăn ở theo đúng cách nữa. Một diễn viên có thể đóng vai một vị Mục sư, nhưng một vị Mục sư không thể là một diễn viên được. Đời sống của chúng ta là sứ điệp. Chúng ta cần phải sống theo một phương thức chúng ta chẳng có gì để che giấu. Mọi sự phải đạt tới mức kiểm tra thật kỹ. Chúng ta phải cảm thấy tin tưởng để cho bất kỳ người nào nhìn xem loại sách báo chúng ta đọc, phim ảnh và các chương trình truyền hình chúng ta xem và những nơi chúng ta mở ra trên Internet. Chỉ khi nào chúng ta chẳng có gì phải che giấu thì chúng ta mới có lòng tin chắc và uy quyền để rao giảng Ngôi Lời như chúng ta đáng phải có. Phierơ nói, chúng ta "phải có lương tâm tốt, hầu cho những kẻ gièm chê cách ăn ở lành của anh em trong Đấng Christ biết mình xấu hổ trong sự mà anh em đã bị nói hành" (I Phierơ 3.16).
C. Phải là gương mẫu trong tình yêu thương.
Cấp lãnh đạo thuộc linh tỏ ra mẫu mực của tình yêu agape một cách tin kính, một tình yêu không có giới hạn. Chúng ta tỏ ra tình yêu thương của Đức Chúa Trời đổ ra trong tấm lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh (Rôma 5.5) bởi phương thức chúng ta trả giá bằng bản thân mình khi yêu thương tha nhân. Tình yêu theo Kinh thánh thì khác biệt với tình yêu của đời nầy. Tình yêu đời nầy là về cảm xúc. Tình yêu tin kính là về sự hy sinh. Phaolô đã nêu minh hoạ loại tình yêu nầy dành cho dân sự của Đức Chúa Trời. Ông nói với người thành Philíp: "Ví dầu huyết tôi phải dùng để tưới trên của tế lễ và của dâng đức tin anh em" (2.17). Ngược lại, Hội thánh xác thịt tại thành Côrinhtô, ông viết: "Về phần tôi, tôi rất vui lòng phí của và phí trọn cả mình tôi vì linh hồn anh em, dẫu rằng tôi yêu anh em thêm, mà cần phải bị anh em yêu tôi kém" (II Côrinhtô 12.15). Dân sự của Đức Chúa Trời không luôn luôn đáng yêu, chỉ có cấp lãnh đạo thuộc linh luôn luôn yêu thương họ không cứ cách nào.
D. Phải là gương mẫu trong đức tin.
"Đức tin" là điểm then chốt trong chức vụ. Không có đức tin chúng ta không thể làm chi được hết. Cấp lãnh đạo thuộc linh làm chứng với đức tin, dạy dỗ với đức tin, rao giảng với đức tin, mưu luận bằng đức tin, và học hỏi với đức tin. Trí óc ông tràn đầy với niềm tin rằng ông không làm việc một mình mà đang hiệp với Đức Chúa Trời trong công việc của mình. Ông tỏ ra trong I Côrinhtô 15.58: "Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu". "Đức tin" trong chỗ nầy cũng đề cập tới sự trung tín, lòng tin cậy, và tính trung thành của chúng ta đối với Chúa. I Côrinhtô 4.2 chép: "Vả lại, cái điều người ta trông mong nơi người quản trị là phải trung thành". Cấp lãnh đạo thuộc linh phải trung thành với Đấng Christ và với Hội thánh.
E. Phải là gương mẫu trong sự tinh sạch.
Ý chính của "sự tinh sạch" ở đây là sự thanh sạch về tình dục, cả với thân thể và tâm trí. Bực trưởng lão hay chấp sự phải "không chỗ trách được" và bày tỏ ra nếp sống của một "người đàn ông của một người đàn bà". Phaolô đã nói với Timôthê trong bức thư thứ hai: "Cũng hãy tránh khỏi tình dục trai trẻ…" (II Timôthê 2.22). Có nhiều vị lãnh đạo thuộc linh đã rơi vào lãnh vực nầy. Chúng ta phải sống như Gióp đã nói: "Tôi đã có lập ước với mắt tôi; Vậy, làm sao tôi còn dám nhìn người nữ đồng trinh?" (Gióp 31.1). Cấp lãnh đạo thuộc linh phải canh giữ tâm trí mình vì tội lỗi bắt đầu từ trong tâm trí. Về sự giải trí, người phải áp dụng Thi thiên 101.3: "Tôi sẽ chẳng để điều gì đê mạt trước mặt tôi; Tôi ghét công việc kẻ bất-trung: Việc ấy sẽ không dính vào tôi". Còn về các mối quan hệ với nữ giới, người phải để cho phụ nữ lớn tuổi hơn dạy dỗ, huấn luyện và mưu luận cho những người nữ trẻ tuổi hơn (Tít 2.3-4). Người phải sống rất cẩn thận giống như Teflon, chẳng một điều gì ngăn trở người.
II. Cấp lãnh đạo thuộc linh phải chăm chỉ đối với Kinh thánh (câu 13).
Phaolô nói: "Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ, cho đến chừng ta đến". Như đã lưu ý rồi trong I Timôthê, Phaolô có những chương trình hiệp tác với Mục sư trẻ ở đó về một số điểm trong tương lai. Tuy nhiên, cho tới khi Phaolô đến, Timôthê cần phải liên tục "chăm chỉ" đối với Kinh thánh. Chức vụ của ông là phải chăm chỉ đối với Kinh thánh. Tâm trí của ông cần phải dầm thấm với Kinh thánh. Lời của Đức Chúa Trời phải là một phương thức sống đối với ông. Bản chất Kinh thánh trong chức vụ của ông cần phải thể hiện ra trong ba cách.
Thứ nhứt, Timôthê cần phải "chăm chỉ đọc sách". Mạo từ xác định ám chỉ trong bản Kinh thánh NASV rằng đây là việc "đọc Kinh thánh công khai". Đọc Kinh thánh công khai luôn luôn là một phần trong sự thờ phượng của dân sự Đức Chúa Trời. Trong Nêhêmi 8, chúng ta đọc thấy thể nào văn sĩ Exơra đã đọc Ngôi Lời trước mặt dân sự. Họ đã đứng khi tôn vinh Ngôi Lời "từ rạng đông cho đến trưa".
"Họ đọc rõ ràng trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời, rồi giải nghĩa nó ra, làm cho người ta hiểu lời họ đọc" (các câu 3, 8). Tấm gương ấy đã được thể hiện ra trong sự thờ phượng ở nhà hội và sau cùng trong các Hội thánh đầu tiên. Họ đã đọc từ kinh Cựu Ước và từ các tác phẩm và thư tín của hàng sứ đồ và rồi "giải nghĩa" hay giải thích những gì họ đã đọc (Côlôse 4.16; I Têsalônica 5.27). Khi Timôthê lãnh đạo Hội thánh, tầm quan trọng và uy quyền của Kinh thánh cần phải được làm cho rõ ràng cho mọi người nhìn thấy. Tôi rất biết ơn vì Hội thánh của chúng ta đã có được danh tiếng trong thành phố là nơi quí vị có thể đến để nghiên cứu Kinh thánh.
Thứ hai, Timôthê cần phải "chăm chỉ … khuyên bảo". "Khuyên bảo" mang ý tưởng áp dụng mọi lẽ thật đã được tiếp thu rồi. Phân phát tri thức về Ngôi Lời cũng chưa phải là đủ cho chúng ta, chúng ta phải kêu gọi vâng theo Ngôi Lời nữa.
Thứ ba, Timôthê còn phải "chăm chỉ … dạy dỗ" nữa. "Dạy dỗ" ra từ chữ diadaskalia, từ thông thường nói tới sự dạy dỗ. Một trưởng lão cần phải "có tài dạy dỗ" (3.2). Từng phần trong chức vụ của Timôthê là phải cung ứng “đạo thật”, lành mạnh cho nhiều người cũng như bằng nhiều cách khả thi. Có thể đạo thật ấy được giảng sấm sét trên bục giảng hay thì thầm bên cạnh giường ngủ, dù là giảng cho một người hay một ngàn người, Lời của Đức Chúa Trời phải tràn ngập lời lẽ của chúng ta. Hãy nghiên cứu lịch sử Hội thánh. Hãy nghiên cứu các giáo phụ đầu tiên. Hãy nghiên cứu các nhà cải chánh. Hãy nghiên cứu những nhà truyền đạo nhiều hiệu quả nhất, trong quá khứ, hiện tại và quí vị sẽ thấy rằng tất cả họ đều phó thác cho sự giảng dạy với tính cách giải thích. Không một điều gì làm biến đổi tâm trí và sẽ giống như những liều chú giải Kinh thánh cách liên tục.
Thế hệ nầy vốn có đủ vụng về rồi. Có quá nhiều người đọc một hay hai câu rồi mở ra một cuộc đấu khẩu 30 phút về các quan điểm riêng của họ. Quan điểm của tôi không quan trọng hơn quan điểm của quí vị. Tôi muốn biết quan điểm của Đức Chúa Trời về điều chi có tầm quan trọng đời đời kìa. Người ta không thể biết Đức Chúa Trời đã phán điều chi cho tới chừng nào chúng ta thôi không giảng dạy lời của chúng ta nữa mà hãy khởi sự giảng dạy Lời của Ngài!
Tôi thực chẳng biết phải thi hành chức vụ ra sao nếu không có sự giảng dạy theo kiểu giải thích. Tôi bắt lo lắng nhiều lắm khi tìm thấy một phân đoạn treo mọi tư tưởng của tôi. Tôi không biết phải trình bày như thế nào nữa. Không có gì phải lấy làm lạ mấy tay nầy chỉ có thể giảng loại sứ điệp khoảng chừng 20 phút mà thôi. Nan đề của tôi là không bao giờ không có đủ tài liệu! Quí vị không tin tôi phải để ra bao nhiều thời gian đâu! Tôi có thể giảng mà không hề cạn kiệt năng lực của mình!
III. Cấp lãnh đạo thuộc linh sử dụng các ân tứ của mình (câu 14).
Phaolô dặn Timôthê: "Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri nhân hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy". Khi Timôthê được cứu, ông đã nhận lãnh các ân tứ thuộc linh. Từ ngữ "ơn" ở đây dịch từ chữ charisma. Khi Đức Thánh Linh đến ngự trong mỗi tín đồ lúc họ được cứu, Ngài đem theo với Ngài một hỗn hợp đặc biệt các khả năng thuộc linh có thể giúp cho con cái Đức Chúa Trời để hầu việc Chúa. Từ các thư tín của Phaolô gửi cho Timôthê, thì rõ ràng là vị Mục sư trẻ tuổi kia đã có những ân tứ giảng dạy, truyền giáo và lãnh đạo.
Hiển nhiên là Timôthê đã phát sinh nghi ngờ tài năng của mình. Có thể ông lấy làm lạ không biết mình có thuộc về chức vụ hay không! Có thể ông đã ở trong mối nguy hiểm muốn lui đi và lo làm công việc khác.
Phaolô nhắc cho Timôthê nhớ đừng "bỏ quên" hay lìa bỏ những gì Đức Chúa Trời đã ban cho ông. Ông nhắc cho Timôthê nhớ thời điểm có "lời tiên tri" nói về Timôthê sẽ được Đức Chúa Trời đại dụng. Ông nhắc cho Timôthê nhớ thể nào "hội trưởng lão đặt tay" khi cấp lãnh đạo tin kính chắc lòng tin cậy nơi các ân tứ của Timôthê
Trong lãnh vực nầy, Đức Chúa Trời kêu gọi người ta lo phục vụ và hầu việc cách khôn ngoan. Không một ai nói tiên tri về tôi. Tôi thấy có sự ước ao không thể giải thích được trong lòng tôi muốn rao giảng Ngôi Lời. Khi tôi theo đuổi ao ước đó, Đức Chúa Trời đã mở ra hết cánh cửa nầy đến cánh cửa khác.
Có thể một số người trong chúng ta có cảm xúc giống như Timôthê. Có thể một số người trong chúng ta đã đạt tới một chỗ mà chúng ta lấy làm lạ không biết chúng ta có thực sự thuộc về chức vụ lãnh đạo thuộc linh hay không nữa!?! Hãy nhìn lại các ân tứ của mình xem. Hãy nhìn lại ơn kêu gọi của mình xem. Hãy nhìn vào hạng người tin kính đã đặt lòng tin cậy của họ nơi quí vị như thế nào!?!
Các ân tứ thuộc linh cần phải được luyện tập và được gieo trồng luôn. Sự rao giảng không đập vào tôi giống như một tia sét đâu. Tôi phải học hỏi, phải nghiên cứu để tóm tắt và học biết cách phân phát sứ điệp nữa. Tuy nhiên, mọi sự học tập của tôi đã trải rộng sự được ơn mà Đức Chúa Trời đã đặt để rồi ở trong tôi.
IV. Cấp lãnh đạo thuộc linh tập trung vào chức vụ (câu 15).
Kế đó, Phaolô nói: "Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con". "Những việc đó" trong chức vụ phải là tiêu điểm của cấp lãnh đạo thuộc linh. "Săn sóc chuyên lo" mang ý tưởng suy gẫm luôn và tính toán. Công việc của chức vụ sẽ nung nấu mọi suy nghĩ của cấp lãnh đạo thuộc linh. "Hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con" đúng ra được dịch là: "tiếp tục sống với chúng". Cụm từ nầy trong bản Kinh thánh NASV dịch như sau: "miệt mài với chúng" hay quấn quít với chúng.
Một cấp lãnh đạo thuộc linh hoàn toàn bị nhấn chìm vào chức vụ của mình. Ông sống và thở để giảng dạy, cầu nguyện, truyền đạo, mưu luận, v.v… Nếu quí vị ngồi lại với ông, ông sẽ nói cho quí vị biết ông mới vừa dạy dỗ điều gì, ông mới tiếp thu được điều chi, ai đã được cứu, những cột mốc thuộc linh nào đã được đánh dấu, ai cần tới những lời cầu nguyện của quí vị, v.v… Ông không thôi suy nghĩ tới chức vụ. Hết thảy chúng ta đều cần sự giải trí một ít. Hết thảy chúng ta đều cần để cho tâm trí mình ngưng đọng công việc trong một thời gian ngắn, nhưng cấp lãnh đạo thuộc linh phải tập trung 24/7. Có nhiều cấp lãnh đạo thuộc linh trong Hội thánh chúng ta họ làm những công việc trọn thời gian để thỏa mãn các nhu cần về phần xác cho gia đình của ho, nhưng tiêu điểm của họ, tình cảm của họ chính là chức vụ của họ. Mặt khác, tôi biết có nhiều người, họ nhận lãnh tiền công trọn thời gian trong chức vụ nhưng làm chỉ vừa đủ để đối phó thôi.
Đâu là kết quả của của sự siêng năng đó? "Hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con". Không một ai trong chúng ta là trọn vẹn hết. Không một ai trong chúng ta luôn luôn đúng đâu. Tuy nhiên, khi chúng ta tập trung sự chú ý của mình vào việc làm hết sức mình cho Chúa, sự tấn tới của chúng ta trong tri thức, khôn ngoan và trưởng thành thuộc linh, sẽ được thấy rất rõ ràng.
"Sự tấn tới" ra từ một chữ Hy lạp đã được sử dụng để mô tả một đội quân đang tiến qua một bãi chiến trường. Chữ nầy cũng được dùng trong bối cảnh một nhà thám hiểm đang băng qua một lãnh thổ mới. Một cấp lãnh đạo là người phó mình trọn vẹn cho chức vụ sẽ thấy mình đang bươn tới trước để trở giống như Đấng Christ hơn và dân sự ở quanh người sẽ nhìn thấy sự ấy.
V. Cấp lãnh đạo thuộc linh phải sống cho cẩn trọng (câu 16).
Sau cùng Phaolô nói: "Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con". Tất nhiên điều nầy nhắc cho chúng ta nhớ tới lời lẽ của Phaolô nói với các trưởng lão Êphêsô trong Công vụ Các Sứ đồ 20.28: "Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình". Quyển The Reformed Pastor của Richard Baxter vào năm 1656 trong phần lý giải của câu 1. Đối với ông "hãy giữ lấy mình" có nghĩa là hãy xét cho kỹ đời sống của mình. Quí vị có biết chắc mình đã được cứu chưa? Có phải quí vị đang sống một đời sống bền đỗ với ơn kêu gọi của mình không? Cấp lãnh đạo thuộc linh phải sống cho cẩn trọng. Người phải quan sát cho kỹ những gì mình làm và những điều mình tin theo. Người phải dọn lòng theo I Phierơ 5.8, ở đây chép: "Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được". Người nhìn biết rằng Satan sẽ tấn công người ở một trong hai chỗ, có thể sẽ cả hai. Hắn sẽ tấn công người trong lời nói nết làm và/hay trong niềm tin và sự dạy dỗ cá nhân.
"Hãy giữ lấy mình" có nghĩa là phải chú ý quí vị đang sinh sống như thế nào!?! Thực sự quí vị là ai khi quí vị nghĩ không có ai khác trông thấy. Hãy chú ý cho cẩn thận sự nên thánh của mình. Hãy phấn đấu để trở thành những gì quí vị phải trở thành. Hãy lắng nghe lời lẽ của tín đồ Thanh giáo Baxter: “Hãy giữ lấy mình, e rằng tấm gương của bạn ngược lại với đạo của mình chăng …, e bạn nuốt lời với đời sống của chính mình, những gì bạn nói với môi miệng của mình; và trở thành mối ngăn trở lớn cho sự thành công trong công việc của chính bạn. Nó sẽ ngăn trở rất nhiều cho công việc của bạn đấy … nếu bạn tốn một hay hai giờ đồng hồ với môi miệng mình, rồi suốt tuần lễ sau đó quăng nó đi với hai bàn tay của bạn! Đây là phương thức khiến cho người ta nghĩ rằng Lời của Đức Chúa Trời chỉ là một truyện tích dành cho kẻ biếng nhác, và khiến cho công tác giảng dạy chẳng khác gì trò đùa … Một lời nói kiêu ngạo, một lý lẽ không cần thiết, một hành động tham lam, có thể cắt đứt cuống họng của bài giảng … Hỡi anh em, xin hãy nói cho tôi biết, trong sự kính sợ Đức Chúa Trời, có phải bạn quan tâm đến sự thành công trong chức vụ của mình, hay bạn chẳng quan tâm? Có phải bạn ao ước muốn nhìn thấy sự thành công ấy trên linh hồn của khán thính giả? Nếu bạn không muốn, bạn đang giảng cái gì; bạn đang nghiên cứu cái gì; và bạn đang tự nhận mình là kẻ giúp việc cho Đấng Christ sao? Nhưng nếu bạn muốn, thế thì chắc chắn bạn không thể không nhìn thấy trong lòng mình một việc vô tích sự đang làm hư công việc của bạn … Quả thực, sự thành công mang giá trị ít ỏi, bạn đem bán nó đi với một giá quá rẽ mạt, hay lo làm một việc nhỏ để nhận được nó!?!”
"Hãy giữ … sự dạy dỗ của con" có nghĩa là phải chú ý đến những gì quí vị suy nghĩ và những gì quí vị dạy dỗ. Hãy canh giữ tâm trí mình vì ma quỉ chắc chắn sẽ tấn công quí vị ở đó. Hắn thích hành hại nhà truyền đạo với nhiều sự nghi ngờ. Sự phòng thủ duy nhứt chống lại một cuộc tấn công như thế là phải đầy dẫy lý trí mình với Kinh thánh và phải "bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ" (II Côrinhtô 10.5).
Đâu là kết quả của một đời sống đã được sống cách cẩn trọng? "Vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu". Tất nhiên, chúng ta biết rằng "sự cứu đến từ Đức Giê-hô-va!" (Giôna 2.9). Chúng ta không thể tự cứu lấy mình vì chúng ta hoàn toàn bị hư hỏng. Chúng ta được cứu chỉ vì cớ sự thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời khôn ngoan của chúng ta. Khi quí vị "giữ chính mình và sự dạy dỗ" quí vị đang làm chứng rằng quí vị là một tín đồ chân chính và quí vị cũng đang kêu gọi khán thính giả của mình đến với đức tin trong Đấng Christ nữa.
Timôthê phải cứng rắn tại thành Êphêsô. Ông đang nổ lực làm chủ toạ một Hội thánh không mời ông. Ông tìm cách dạy dỗ những người xem thường tuổi trẻ và sự chưa kinh nghiệm của ông. Tuy nhiên, ông sẽ thành công vì ông biết áp dụng những đức tính nầy của cấp lãnh đạo thuộc linh cho chính đời sống ông. Còn quí vị thì sao?
***

I Timôthê 4.6-11: "Làm thế nào để trở thành cấp lãnh đạo thuộc linh – Phần 1"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Làm thế nào để trở thành cấp lãnh đạo thuộc linh – Phần 1
I Timôthê 4.6-11
Cách đây mấy ngày, ngọn đuốc Olympic đã chạy ngang qua thành phố Amarillo của chúng ta trên đường của nó đến thành phố Salt Lake, Utah nhơn dịp lễ khai mạc các trận đấu Olympic mùa đông. Ngạc nhiên thay, mặc dù ngọn đuốc đến bằng xe lửa vào lúc 2 giờ sáng, hơn 9.000 người đã trở dậy, có mặt trên các đường phố để đón xem các cấp lãnh đạo của cộng đồng cùng chạy với ngọn lửa Olympic. Khi nghi thức đã hoàn tất, ngọn đuốc đã được đưa trở lại xe lửa và rồi chuyển đến thành phố kế tiếp. Nhu cần quan trọng nhất của Hội thánh địa phương ngày nay là các cấp lãnh đạo thuộc linh sẽ chuyển giao ngọn đuốc lẽ thật cho thế hệ kế tiếp. Chúng ta có Con Đức Chúa Trời giải cứu chúng ta. Chúng ta có Thánh Linh của Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng ta. Chúng ta có Lời của Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng ta. Vậy thì, Hội thánh của chúng ta và từng Hội thánh địa phương khác cần điều chi nhất? Chúng ta cần các cấp lãnh đạo thuộc linh. Dầu họ là Mục sư, giáo sư, trưởng lão, chấp sự, nhạc sĩ, hay bất cứ chức vụ nào. Chúng ta cần những người nam người nữ nào chưa định vị cho một đức tin bình thường nhưng nhận biết rằng Hội thánh của Đấng Christ là "nhà của Đức Chúa Trời", "Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống" và "trụ và nền của lẽ thật".
Trước khi chúng ta đi vào phần chú giải, tôi muốn chỉ ra một cụm từ làm bản lề trên đó cả phân đoạn Kinh thánh gốc xoay quanh. Ấy là trong câu 6, Phaolô bảo Timôthê rằng nếu Timôthê làm trọn vai trò của mình là một cấp lãnh đạo thuộc linh, thì Timôthê sẽ trở thành "kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ".
Khi lần đầu tiên chúng ta đọc cụm từ ấy, hầu hết trong chúng ta đều nghĩ rằng vị Sứ đồ chỉ đang nói tới những người nào được Đức Chúa Trời kêu gọi, được biệt riêng ra và được tấn phong làm Mục sư/Giáo sư cho Hội thánh. Có người nhìn thấy cụm từ nầy: "kẻ giúp việc", thì một cách máy móc nghĩ rằng phân đoạn Kinh thánh nầy chẳng nói gì tới họ cả. Đó là một thái độ sai lầm. Trong khi chắc chắn cụm từ ấy áp dụng cho các vị Mục sư phục vụ trọn thời gian, nó cũng áp dụng cho bất kỳ tín hữu nào sẽ chịu khoác lấy chiếc áo choàng lãnh đạo thuộc linh trong Hội thánh. Thú vị thay, cụm từ "kẻ giúp việc" dịch từ chữ diakonos, và được chuyển ngữ thành "chấp sự" trong 3.8. Chúng ta có thể dịch sát nghĩa cụm từ nầy: "bạn sẽ trở thành một chấp sự nhơn đức hay xuất sắc". Phaolô đặc biệt không đề cập tới chức vụ Mục sư/Giaó sư hoặc chức vụ chấp sự. Diakonos trong phạm trù nầy đã được dịch hay nhất là "tôi tớ hữu dụng" hay "người hầu việc".
Vì lẽ đó, phân đoạn Kinh thánh nầy áp dụng cho quí Mục sư, chấp sự, trưởng lão, giáo sư dạy Kinh thánh, hướng dẫn thờ phượng, v.v… bất kỳ ai và bất cứ người nào đang lãnh đạo và phục vụ trong Hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng ta thường xét đoán không đúng các cấp lãnh đạo thuộc linh bởi những tiêu chuẩn không đúng. Thí dụ, nếu một vị Mục sư có một Hội thánh lớn, người ta nghĩ ông rất thành công. Nếu ông chăn một Hội thánh nhỏ, người ta chỉ xem ông là xoàng trong chức vụ. Chúng ta xét đoán các cấp lãnh đạo thuộc linh khác trong Hội thánh với cùng một tiêu chuẩn sai lạc ấy. Chúng ta phải nhớ những gì Đức Thánh Linh thì thầm với Samuên khi các con trai của Gie-sê đến đứng trước mặt ông: "Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng" (I Samuên 16.7).
Trong phân đoạn Kinh thánh nầy, Lời của Đức Chúa Trời cung ứng cho chúng ta tâm ý của Đức Chúa Trời về chức vụ lãnh đạo thuộc linh. Từ câu 6 đến hết chương, tôi sẽ chỉ ra 12 đặc điểm của chức vụ lãnh đạo thuộc linh thật, đổi lại hết thảy chúng ta sẽ tiếp thu trọn vẹn làm thế nào để trở thành cấp lãnh đaọ thuộc linh. Trong tiểu đoạn nầy, chúng ta sẽ xem xét 7 đặc điểm đầu tiên.
I. Cấp lãnh đạo thuộc linh dạy Ngôi Lời (câu 6a).
Phaolô bắt đầu câu nầy với phát biểu như sau: "Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ". Bản Kinh thánh NKJV sử dụng từ "truyền" bản Kinh thánh KJV dịch "làm cho nhớ" trong khi bản Kinh thánh NASV chép: "chỉ ra". Từ ngữ nầy ra từ một động từ có thể được dịch chính xác là "gợi ra" hay "đặt trước mặt". Hình ảnh ở đây không phải là công bố lớn tiếng, ầm ĩ (dù có một chỗ cho sự đó), mà là thuyết phục nhẹ nhàng, tử tế. Chính trong thì hiện tại nầy, cụm từ có ý nói rằng Timôthê cần phải giữ luôn việc dạy dỗ hội chúng.
Phaolô muốn nói gì khi nhắc tới "các việc đó", ông đang nhắc tới "các việc" nào? Tôi tin ông đang chỉ ngược lại những gì ông đã nói rồi trong phân đoạn đứng trước đó. Các "việc" mà Timôthê cần phải đặt trước mặt Hội thánh tại Êphêsô cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, ông cần phải nhắc cho họ biết cách "ăn ở" như thế nào "ở trong nhà của Đức Chúa Trời, là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật". Ông cần phải truyền đạt cho họ biết “sự mầu nhiệm của sự tin kính", sự dạy nền tảng của Hội thánh. Timôthê cần phải liên tục giải tỏ những lẽ đạo chính của đức tin, rằng "Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, được thiên sứ trông thấy, được giảng ra cho dân ngoại, được thiên hạ tin cậy, được cất lên trong sự vinh hiển" (3.15-16).
Về mặt tiêu cực, Timôthê cần phải nhắc cho họ nhớ rằng "trong những ngày sau rốt", họ đang sống ở trong đó và trong đó chúng ta đang sinh sống "có mấy kẻ sẽ bội đạo", có người sẽ bội đạo vì họ sẽ bị dụ dỗ bởi "thần lừa dối, đạo lý của quỉ dữ". Trong sự "giả hình" họ sẽ đi dạo quanh mà "nói dối" vì lương tâm của họ đã bị chai lì tới một mức độ mà họ không còn phân biệt được đúng hay sai. Trong thời buổi của chúng ta, họ tấn công thẩm quyền của Kinh thánh. Trong thời của Timôthê, họ đã thực hành chủ nghĩa khổ hạnh (asceticism): "cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn". "Các việc đó" có ý nói tới toàn bộ mưu luận của Đức Chúa Trời. Một cấp lãnh đạo thuộc linh là một người của Ngôi Lời. Nhưng đấy mới chỉ là vấn nạn thôi. Dường như người ta muốn học biết mọi sự trừ ra Ngôi Lời trong thời buổi nầy! Họ sẽ học hỏi nhiều sách vở nói về Kinh thánh thay vì nghiên cứu ngay chính gốc, là Kinh thánh!
Cấp lãnh đạo thuộc linh là những người nhận biết Kinh thánh và đang dạy Kinh thánh. Tít bảo những người nữ trưởng thành cần phải dạy dỗ những người còn trẻ tuổi hơn. Phaolô bảo Timôthê: "Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác" (II Timôthê 2.2). Cấp lãnh đạo thuộc linh không nắm giữ lẽ thật cho bản thân họ.
Tôi thích câu chuyện Cựu Ước nói tới những người phung trong II Các Vua 7. Trong chức vụ của Êlisê, quân Syri đến bao vây thành Samari. Dân cư rất đói khát, có người phải ăn thịt đồng loại mình. Bốn người phung nầy vốn biết rõ nếu họ ở lì trong thành, họ sẽ bị chết đói. Họ biết rõ rằng quân Syri có lẽ sẽ giết họ nếu họ ở lại. Tuy nhiên, họ hy vọng họ sẽ bị bắt làm phu tù và được cho ăn uống đàng hoàng. Vì vậy, chiều đến, họ rời thành phố rồi đi hướng tới trại quân Syri. Đức Chúa Trời một cách siêu nhiên đã phóng đại tiếng bước của họ đến nỗi quân Syri tưởng họ đã nghe thấy "tiếng xe, ngựa và tiếng đạo binh lớn". Họ hoảng hốt đến nỗi chạy "trốn đặng cứu mạng sống mình". Bốn người phung bất ngờ tìm thấy trại quân bỏ hoang, nhưng đồ đạt hãy còn vung vải ra đó. Họ đã ăn uống suốt cả đêm. Sau cùng, họ nói: "Chúng ta làm chẳng phải; ngày nay là ngày có tin lành, và chúng ta nín lặng sao!" Họ rời khỏi đó rồi loan báo các tin tức cho dân sự của họ biết. Họ không chôn giấu các phước hạnh của Đức Chúa Trời cho bản thân họ.
Cũng vậy, chúng ta không nắm giữ Lời tốt lành của Đức Chúa Trời cho bản thân mình. Chúng ta phải trưởng dưỡng bằng Lời ấy và truyền dạy Lời ấy. Chúng ta phải huấn luyện nhiều người khác nhìn thấy mọi sự theo thế giới quan của Kinh thánh. Chúng ta không để cho dân sự của chúng ta trở thành "trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc" (Êphêsô 4.14). John MacArthur viết: “Thất bại không suy nghĩ theo Kinh thánh và thần học khiến cho Hội thánh phải trả giá. Thất bại ấy khiến cho đủ thứ sai lạc xâm nhập vào. Hội thánh sẽ trở nên lộn xộn và yếu đuối. Sự rao giảng không thuyết phục, bao gồm sự dạy dỗ chiếu lệ, nhàm chán, và thần học lỏng lẻo đã thế chỗ cho sự rao giảng theo cách chú giải thiên về lẽ đạo mạnh mẽ. Kết quả là một sự lộn lạo, triết lý lấn át, chủ nghĩa thần bí, thậm chí đồng bóng và thờ lạy hình tượng đang gây ảnh hưởng. Phần lớn những sự lộn lạo đó có thể gán cho thất bại của những Mục sư không suy gẫm nhiều và không rao giảng với sự thuyết phục. Nhiều vị Mục sư đã thất bại không vạch ra lằn ranh rõ ràng giữa đúng và sai và gây dựng dân sự của họ trong đạo thật rất phong phú của Lời Đức Chúa Trời. Những nhà truyền đạo kém cõi ấy phải đền bù lại sao cho có được cái gọi là "tấm lòng của Mục sư". Tuy nhiên, tấm lòng của vị Mục sư không được đánh giá là một người nhơn đức khi nuông chiều bầy chiên, mà phải đánh giá bằng cách người bảo hộ chúng tránh khỏi bầy muông sói và nuôi dưỡng chúng sao cho chúng lớn lên trưởng thành và mạnh mẽ”.
Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta không chỉ có chăn bầy chiên của Ngài, mà còn trưởng dưỡng họ bằng những sự phong phú của Ngôi Lời. Đây là lý do tại sao tôi dấn thân vào công tác rao giảng Kinh thánh, từng sách, từng chương, từng câu và từng chữ một. Tôi muốn trở thành một "kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ". Tôi muốn trở thành một đầy tớ trung tín, hiệu quả, biết sử dụng các thứ ơn của ân điển Đức Chúa Trời để gây dựng nhiều người khác.
Charles Spurgeon thường thuật lại câu chuyện kể lúc ông còn là một thiếu niên. Ông đã gặp một thương nhân hay quảng cáo phiên bản dao găm nổi tiếng Swiss Army. Ông ta dí mũi dao dưới sóng mũi của Spurgeon rồi làm nhiều động tác với lưỡi dao đó. Nhà truyền đạo lỗi lạc tiếp tục nói: "Nếu ông ta giữ con dao nhiều lưỡi đó trong túi áo của mình, rồi bình tỉnh nói: ‘Nếu có người nào muốn xem con dao có nhiều lưỡi, tôi có một con ở trong túi’, khi ấy ông ta sẽ không bán được một con dao nào trong một thế kỷ. Nhưng ông ta đem tôi ra làm một khách hàng, rồi mở con dao nhiều lưỡi đó ra giống như thể ông ta biết rõ một con dao thể ấy sẽ rất lôi cuốn đối với một thiếu niên còn đi học. Năng lực của người đó dạy tôi một bài học mà tôi thường đem ra kể khi tôi cố gắng thuyết phục người ta ‘mua lấy lẽ thật’".
Chúng ta không cần phải nói cho người ta biết sự cao trọng của Lời Đức Chúa Trời rồi để nó ở trong túi của mình. Chúng ta không thể thuyết phục họ với một quyển sách gấp lại. Chúng ta cần phải mở nó ra, đưa những báu vật hữu ích của nó ngang qua sóng mũi của họ hầu cho họ sẽ: "mua chân lý, sự khôn ngoan, sự khuyên dạy, và sự thông sáng; chớ hề bán đi" (Châm ngôn 23.23).
II. Cấp lãnh đạo thuộc linh nghiên cứu Ngôi Lời (câu 6b).
Phaolô bảo Timôthê rằng Timôthê cần phải "được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo". "Được nuôi" mang ý tưởng được cho ăn và rút tỉa sức lực từ đó. Động từ nầy ở thì hiện tại phân từ, sát nghĩa có ý nói như vầy: "được nuôi hoài". Cấp lãnh đạo thuộc linh không đạt tới một điểm mà họ thấy họ đầy dẫy Ngôi Lời bao giờ.
Chúng ta không thể tiếp tục "giải tỏ các việc đó cho anh em" nếu chúng ta không liên tục tự mình học hỏi. Ở điểm nầy rất nguy hiểm đây. Trừ phi cấp lãnh đạo thuộc linh liên tục được "nuôi bởi các lời của đức tin" và liên tục cẩn thận noi theo "đạo lành", họ sẽ không thể giải tỏ cho một ai khác. Họ sẽ ngày càng trì trệ trong đời sống thuộc linh của họ.
Đúng là một thảm hoạ lớn cho lý tưởng của Đấng Christ khi có ai giữa vòng cấp lãnh đạo thuộc linh thôi không nghiên cứu Ngôi Lời nữa. Tôi không có ý nói rằng họ thôi không đến nhóm lại với Hội thánh. Tôi không có ý nói họ đã lui đi khỏi toà giảng hay các lớp học Kinh thánh của họ. Tôi muốn nói họ đã lìa bỏ phần nghiên cứu cá nhân của họ. Họ đã thôi không còn tấn tới theo cách riêng nữa rồi. Họ đang nương cậy trên những gì họ đã tiếp thu vào ngày hôm qua. Họ trụ lại, tự mãn, cho là đủ ở vị trí của họ. Kent Hughes trưng dẫn từ John Stott khi lưu ý: "Khi một nhà truyền giáo không nghiên cứu nữa, ông ta sẽ trở thành nhà đa cảm giữa đời trong sự rao giảng của mình – chủ yếu nương vào vốn những câu chuyện ngớ ngẩn muốn lôi kéo những xúc động sâu xa nhất".
Có bao nhiêu bài giảng hay bài học mà quí vị đã nghe giống như thế? Những bố cục đã được hâm nóng lại, các chú thích vay mượn của ai đó, những minh hoạ và các lần lặp đi lặp lại vô nghĩa. Như thế có nghĩa là họ chưa được "nuôi". Họ chưa "giữ lấy đạo sự sống" (Philíp 2.16). Họ chưa kéo từ giếng lên cho bản thân họ và vì thế chẳng có miếng nước nào mới cho người khác cả.
Mới đây, tôi có đọc quyển sách bán chạy nhất của Mark Bowden và giờ đây là phim ăn khách nhất Black Hawk Down. Bowden mô tả cuộc chiến sống động có thật ở Mogadishu tại Somalia vào năm 1993. Lực lượng đặc biệt và Biệt động quân được đưa vào trong thành phố bị phân tán để bắt lấy những lãnh chúa đẳng cấp cao trong một cuộc họp mật. Khi sứ mệnh bắt đầu Biệt động quân nhanh tay tuột dây thừng từ hai bên hông của trực thăng Diều Hâu Đen (Black Hawk) xuống đường phố ở bên dưới. Một Biệt động trẻ quên nắm lấy dây và rơi thẳng xuống từ cao độ 70 feet. Khi các binh sĩ khác đến gần anh ta, thì thấy máu đã chảy ra từ hai lỗ tai, mũi và miệng. Anh ta cần được đưa di tản ngay lập tức. Câu chuyện khiến cho tôi thấy rằng cấp lãnh đạo thuộc linh trong thế gian nầy không cứ cách nào đó rất giống với những chiến sĩ biệt kích thuộc linh. Chúng ta bước vào một môi trường thù nghịch trên sứ mệnh phục vụ cho Quan Tướng Đạo Binh của chúng ta. Nếu chúng ta thôi không nghiên cứu Kinh thánh hay một phần của bất kỳ phân đoạn Kinh thánh nào, chúng ta đã "quên nắm lấy dây" và chúng ta sẽ mất đi hiệu quả, bị nhiều thương tích trong chiến trường thuộc linh.
III. Cấp lãnh đạo thuộc linh phải cầu nguyện (câu 6b).
Trong câu 5 chúng ta thấy rằng tất cả các ân tứ của Đức Chúa Trời được "nên thánh nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện". Ở đây trong câu 6, chúng ta thấy rằng cấp lãnh đạo thuộc linh được "nuôi bởi các lời của đức tin". Hầu hết các học giả Kinh thánh đều nói rằng "các lời của đức tin" có lẽ đề cập tới toàn bộ Kinh thánh, "toàn bộ mưu luận của Đức Chúa Trời" cũng như "đạo lành" đề cập tới giải thích thần học hay các hệ thống tri thức thích ứng được rút ra trực tiếp từ Kinh thánh. Mặc dù tôi có chút ít tự do ở đây, tôi nghĩ "các lời của đức tin" cũng bao gồm cả sự cầu nguyện nữa. Được "nuôi bởi các lời của đức tin" quả rất khó nếu không đáp ứng với Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện. Một lãnh đạo thuộc linh là một con người của sự cầu nguyện.
Trong quyển “What’s Wrong with Preaching Today” (Có gì sai với sự rao giảng hôm nay), Al Martin viết: “Tôi thấy, đây là một chút xưng tội cũng như một chút khích lệ, rằng lời lẽ của tôi đang chế giễu tôi khi tôi rao giảng – khi tôi nói ra từ "địa ngục" mà không cảm thấy kinh khiếp về nó; khi tôi nói tới “thiên đàng” mà chẳng thấy ấm áp với một sự ấm áp thánh khiết trong ánh sáng của sự thực Chúa đang sửa soạn một chỗ cho tôi. Tôi không tìm được một câu trả lời nào cho vấn đề nầy, nhưng phải suy gẫm lâu dài về các phân đoạn Kinh thánh nói tới các thực tại thuộc linh nầy, và cầu xin Đức Chúa Trời Chí Thánh nung đúc chúng trong tấm lòng của tôi. Tôi nài xin Ngài ban quyền cho tôi để nói với những người tôi gặp gỡ để họ nghe được những lời nói kinh khủng đó: "Hỡi các ngươi là những kẻ bị rủa sả, hãy lìa khỏi ta mà bước vào hồ lửa đời đời". Tôi thấy tôi phải nài xin Đức Chúa Trời khiến cho những người ấy đến nói với tôi tại nơi cửa: "Thưa Mục sư! Cảm ơn ông vì bài giảng" cũng chính là những giọng nói mà một ngày kia sẽ thốt ra những tiếng kêu van của kẻ bị đoạ đày. Tôi phải cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ tôi biết tin theo những sự nầy, xin giúp tôi rao giảng chúng hầu cho nhiều người khác sẽ nhận biết rằng quả thật tôi tin những sự ấy. Lẽ thật được nung nấu vào ngày Chúa nhựt có thể là giá lạnh vào ngày thứ Hai. Lẽ thật nung nấu trong phòng riêng vào ngày thứ Bảy có thể là không có sự sống trong ngày Chúa nhựt. Những lẽ thật đã nhận được trong lò thử thách phải chờ đợi nơi Đức Chúa Trời sẽ được giữ trong sự ấm áp của chúng đúng phạm trù đó. Nếu tôi đọc đúng phần tiểu sử của hạng người cao trọng của Đức Chúa Trời, tôi thấy rằng chứng cớ của họ đáng chấp nhận. Mọi người đều nhất trí công bố rằng nếu có bất kỳ một sự kín nhiệm nào trong chức vụ của họ, thì là điều nầy: đó là người chuyên trau dồi đời sống bề trong của mình trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời”.
Sự cầu nguyện riêng là phần công bố hiển nhiên dầu đã được châm! Nếu chúng ta muốn rao giảng và công bố ra Lời Đức Chúa Trời cách có quyền, chúng ta phải dâng mình vào sự cầu nguyện.
IV. Cấp lãnh đạo thuộc linh phải bỏ đi những lời hư ngụy phàm tục (câu 7a).
Kế đó, Phaolô bảo chàng trai trẻ Timôthê phải "bỏ đi những lời hư ngụy phàm tục". "Bỏ" là một động từ rất mạnh có ý nói tới "khử" hay "chẳng có gì phải làm với". "Hư ngụy" ra từ chữ bebelos, có ý nói những đối chọi của sự thánh khiết hoặc "phi đạo đức". "Phàm tục" là muthos, từ đó chúng ta có chữ "myths" (hoang đường). Phaolô nói những lời hư ngụy phàm tục nầy là "chuyện bịa các bà già" hay "chỉ thích hợp với mấy bà già"(bản Kinh thánh NASV).
Trong xã hội thời ấy, nữ giới thường vô học và thường bị coi là hay ngồi lê đôi mách. Có lẽ đây là phần tham khảo đến chủ nghĩa khổ hạnh và sự dạy giả dối đã được nhắc tới trong các câu 1-3. Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn áp dụng điều nầy cho cấp lãnh đạo thuộc linh không nên phung phí thì giờ hay các tế bào não của họ vào những lời hư ngụy phàm tục. Kẻ thù có nhiều cách dụ dỗ, lôi kéo tâm trí chúng ta ra khỏi việc theo đuổi sự nên thánh. Hầu hết những gì xảy có trong bộ môn giải trí ngày nay ít nhiều gì cũng là những lời ấy.
Cấp lãnh đạo thuộc linh cần phải thư giãn. Họ cần nhiều thì giờ để giải lao, tiêu khiển. Chúa Jêsus hay cùng với các môn đồ tẻ tách ra để nghỉ ngơi và lấy sức lại. Tuy nhiên, cấp lãnh đạo thuộc linh phải "bỏ đi", không biết đến, không nên tìm sự thú vị nơi bất kỳ việc gì lôi kéo tâm trí họ xa khỏi những lẽ thật đẹp đẽ của Ngôi Lời. Phaolô đã nói trong Philíp 4.8: "Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến". Côlôse 3.1-2 chép: "Vậy nếu anh em được sống lại với Đấng Christ, hãy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất”.
V. Cấp lãnh đạo thuộc linh lo gây dựng cơ bắp thuộc linh (các câu 7b-9).
Kế đó Phaolô nói: "Tập tành sự tin kính". "Tập tành" ra từ chữ gumnazo, từ đó chúng ta có chữ "gymnasium" (phòng tập thể dục) và "gymnastics" (rèn luyện). Chữ nầy được dịch là "đào tạo" hay "rèn luyện". Nó tô vẽ một bức tranh nói tới một sự làm việc căng thẳng. Thì của động từ nói: "luôn luôn rèn luyện". Là cấp lãnh đạo thuộc linh, chúng ta cần phải liên tục làm việc để phát triển "sự tin kính".
Mỗi thành phố Hy lạp đều có một gymnasium và thành Êphêsô không có gì khác biệt. Một phần của đòi hỏi về mặt giáo dục cho lớp trẻ Hy lạp giữa độ tuổi 16-18 là đào tạo về mặt thể chất. Nếu khả thi, người Hy lạp vốn ưa thích với xác thịt hơn xã hội đương thời của chúng ta. Họ vốn mê đắm với thân thể con người cũng như các sự kiện thuộc bộ môn điền kinh. Để đóng ngoặc kép, Phaolô đang nói: "Hãy tự rèn tập nhắm tới sự tin kính".
Cũng một thể với lớp người trẻ đang tập tành để làm cho thân thể họ được mạnh mẽ, Timôthê phải làm việc để gây dựng và làm cho đời sống thuộc linh của mình được vững chắc. Là cấp lãnh đạo thuộc linh, dạy dỗ Ngôi lời và nghiên cứu Ngôi Lời cũng chưa phải là đủ; chúng ta phải vâng theo Ngôi Lời nữa. Mới đây, tôi đang nghiên cứu từ sách Ôsê trong Cựu Ước, ở đây Đức Chúa Trời bảo vị tiên tri của Ngài lấy một kỵ nữ có tên là Gô-me làm vợ, phác hoạ Israel có mối quan hệ bất trung, tà dâm với Đức Giêhôva. Gô-me không thể ở mãi ngoài đường phố. Ôsê có hai đứa con đầu, nhưng hai đứa con thứ nhì của Gomer rõ ràng ra từ những người cha khác. Ôsê đặt tên cho đứa sau cùng là Lô-Ammi, sát nghĩa là "không phải của tôi". Ôsê không những được kêu gọi để giảng một sứ điệp. Đời sống ông chính là sứ điệp. Giống như Ôsê, đời sống của chúng ta chính là sứ điệp. Vấn đề là chúng ta biết bao nhiêu về Kinh thánh hay chúng ta có thể giảng dạy Kinh thánh cách hùng hồn nếu chúng ta hủy diệt những gì chúng ta rao giảng bằng môi miệng của mình với đời sống chúng ta. Một trong những Mục sư và là nhà văn thuộc hệ phái Thanh Giáo là Richard Baxter. Ông đã viết quyển The Reformed Pastor, vào năm 1656:
“Đừng thoả lòng với việc trụ lại trong một tình trạng được ơn, mà cũng nên cẩn thận, các thứ ơn của bạn phải được lưu giữ trong chỗ đầy khí thế và tập luyện cách sống động, và bạn giảng cho chính mình những bài giảng mà bạn đang nghiên cứu, trước khi bạn giảng chúng cho nhiều người khác nghe … Khi tâm trí bạn nằm trong cái khuôn thánh khiết, thuộc về trời, dân sự của bạn chắc chắn sẽ dự phần vào bông trái của cái khuôn ấy. Những lời cầu nguyện của bạn, và những lời ngợi khen, và lẽ đạo sẽ được ngọt ngào và thiên thượng đối với họ. Chắc chắn họ sẽ cảm nhận được khi nào bạn ở lâu với Đức Chúa Trời. Những gì có trong tấm lòng của bạn sẽ ở nơi hai lỗ tai của họ … Khi tôi để cho lòng tôi phải nguội lạnh đi, việc giảng dạy của tôi sẽ trở nên nguội lạnh ngay; và khi tấm lòng ấy bị chao đảo; và tôi thường theo dõi hết mức nơi khán thính giả của mình, khi tôi bắt nguội lạnh trong việc rao giảng, họ cũng đâm ra nguội lạnh luôn; và những lời cầu nguyện kế đó mà tôi đã nghe thấy từ nơi họ cũng giống y như sự rao giảng của tôi vậy”.
Phaolô nói: "Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm". Chẳng có gì sai với việc ở trong khuôn khổ, luyện tập, ăn uống đúng mức và nghỉ ngơi cả. Rôma 12.1 gọi gọi quí vị phải "dâng thân thể mình làm của lễ sống, thánh khiết, đẹp lòng Đức Chúa Trời". Những con sinh trong Cựu Ước đều là con tốt nhất trong những con tốt nhất. Của lễ theo Tân ước của quí vị mang những chất lượng nào? I Côrinhtô 6.19 hỏi: "Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao?" Khi chúng ta muốn đền thờ bằng đá và có quét vôi đẹp kia phản ảnh sự vinh hiển và sự thanh sạch của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ đòi hỏi kém hơn nơi một đền thờ bằng thịt và bằng huyết sao? Một trong những động lực của tôi cho việc duy trì trong cái khuôn hợp lý kia, ấy là tôi không muốn bề ngoài của tôi che lấp sứ điệp mà tôi đang rao giảng.
Tuy nhiên, vị sứ đồ nói thêm: "còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy". "Tập tành thân thể" là lo toan ở BỀ NGOÀI. "Sự tin kính" là lo toan ĐỜI ĐỜI. "Sự tin kính" phải luôn luôn được quyền ưu tiên hơn "sự tập tành thân thể". Tình trạng của linh hồn luôn quan trọng lớn lao hơn tình trạng của thân thể quí vị. "Lời chắc chắn" như trong 1.15 có lẽ có ý nói rằng đây là một tín điều hay lời nói rất thông thường trong Hội thánh đầu tiên. Tất cả các lãnh đạo thuộc linh ở khắp mọi nơi phải luôn giữ việc thể hiện mình ngày càng giống như Chúa Jêsus hơn. William Barclay nói: “Dạy dỗ trong sự tin kính phát triển con người toàn diện nơi thân thể, ý chí và tâm linh, và mọi kết quả của nó tác động không những vào thời gian, mà còn tác động vào cõi đời đời nữa. Cơ đốc nhân không phải là vận động viên của sân tập thể dục; người là vận động viên thi đấu cho Đức Chúa Trời”.
VI. Cấp lãnh đaọ thuộc linh chịu khó làm việc (câu 10).
Phaolô nói trong câu 10: "Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận [‘phấn đấu’ trong khó nhọc, dịch như thế thì hay hơn] ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ".
Cấp lãnh đạo thuộc linh là những người chịu khó lao động. Họ "đánh trận" đến độ kiệt lực và chịu khổ trong sự vất vả nặng nhọc của chức vụ. Hầu việc là chịu khó làm việc. Ngược lại với quan niệm thông thường, quí Mục sư, người nào xem trọng chức vụ của họ thì làm việc thêm một ngày cho một tuần! Phải tẻ tách sao cho hợp lẽ Ngôi Lời và chăn bầy, phải dành thì giờ cho việc nghiên cứu. Thăm viếng và trao đổi với dân sự của Đức Chúa Trời thì phải chịu khó. Hội thánh càng phát triển lớn rộng ra chừng nào, trách nhiệm sẽ càng thêm nặng chừng nấy. Người mà tôi thán phục nhất là truyền đạo tình nguyện hay Mục sư chuyên nghiệp. Ông dâng mình trọn thời gian vào công việc khác để lo liệu cho mọi nhu cần thuộc thể của gia đình mình và dâng thì giờ cách rộng rãi cho bầy chiên của Đức Chúa Trời. Có một nguyên tắc mà mỗi Hội thánh và từng vị lãnh đạo cần phải biết rõ. Có một thắc mắc mà từng vị Mục sư hay thành viên ban trị sự có ăn lương phải đưa ra: “Tôi có làm mọi việc mà tôi đang làm trong Hội thánh nầy nếu tôi không được cung lương chăng?” Tôi đã tự hỏi lòng mình câu hỏi ấy nhiều lần. Tôi sẽ nghiên cứu và rao giảng và hầu việc dân sự ở đây tại Cornerstone nếu quí vị không cung lương cho tôi!?! Câu trả lời của tôi là “Có”. Nếu tôi phải làm công việc khác để chu toàn mọi bổn phận về tài chính của mình, tôi không thể cung ứng thì giờ và nổ lực cho chức vụ mà tôi đang có trong lúc bây giờ đây, nhưng gánh nặng trong lòng tôi và các thứ ơn của Đức Thánh Linh sẽ không thay đổi. Tôi vẫn sẽ rao giảng, dạy dỗ Ngôi Lời trong một số khả năng. Kết quả là, chúng ta đừng nghĩ chức vụ là một nghề nghiệp. Người nào được cung lương trong chức vụ là những người sẽ thi hành chức vụ của họ dù được trả lương hay không.
Tại sao chúng ta "đánh trận", phấn đấu và chịu khó làm việc? Chúng ta làm thế là vì chúng ta "trông cậy" hay có hy vọng "trong Đức Chúa Trời hằng sống". Chúng ta biết chúng ta sẽ đứng trước mặt Ngài một ngày kia để trình sổ (II Côrinhtô 5.10). Chúng ta "trông cậy" rằng công việc của chúng ta không rơi vào chỗ hư không. Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời của chúng ta là "Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ".
Đây là một mệnh đề rất khó. Chúng ta biết chắc rằng mọi người sẽ không được cứu. Đó là thuyết phổ độ (universalism) và đấy là một lời dối trá của địa ngục. Thực sự thì sự chết của Đấng Christ là đủ cho "mọi người" (I Giăng 2.2) nhưng chỉ có hiệu quả cho "người nào tin" mà thôi. Tuy nhiên, từ ngữ "nhất là" dường như muốn nói rằng Đức Chúa Trời vốn thực là "Cứu Chúa của mọi người" theo ý nghĩa Ngài kìm hãm lại sự phán xét của Ngài đối với họ một cách tạm thời nhưng "nhất là" và đời đời "Cứu Chúa" là của "người nào tin".
Tóm lại, chúng ta chịu khó làm việc và chịu khổ trong công tác rao giảng Ngôi Lời vì việc làm của chúng ta là đời đời trong bản chất và hậu quả. Chúng ta hiệp với Đức Chúa Trời trong việc bày tỏ ra các chương trình khôn ngoan của Ngài và tôn vinh Ngài trong sự vinh hiển Ngài.
VII. Cấp lãnh đạo thuộc linh luyện tập uy quyền (câu 11).
Sau cùng, Phaolô nói: "Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ". Có nhiều việc phải chuyển giao trong sự rao giảng và dạy dỗ hôm nay không phải là có quyền. Dù là giải trí, giáo dục nhưng đôi khi phải rao truyền. Tuy nhiên, cấp lãnh đạo thuộc linh cần phải trở thành hạng người luyện tập uy quyền tới một điểm có khả năng "rao truyền" khi họ "dạy dỗ" các lẽ thật có trong Lời của Đức Chúa Trời. Trong II Timôthê 4.2, Timôthê được truyền cho rằng: "hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi".
Uy quyền nầy đến từ đâu?? Từ ngữ Mục sư có được đặt trước tên của quí vị không? Một trưởng lão được tấn phong chăng? Hội thánh bầu chọn chăng? Không. Chúa Jêsus phán: "Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta" (Mathiơ 28.18). Khi chúng ta dạy dỗ Lời của Ngài, quyền phép của Ngài đang đi kèm theo sự dạy ấy. Vì lẽ đó, chúng ta lấy lòng dạn dĩ mà công bố lẽ thật ra trong một thế giới đầy sự dối trá.
***

I Timôthê 4.1-5: "Bội đạo – Lìa khỏi đức tin"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Bội đạo – Lìa khỏi đức tin
I Timôthê 4.1-5
Có phải quí vị rất quen thuộc với cụm từ "bội đạo" không? Quyển tự điển Webster định nghĩa cụm từ nầy là "từ bỏ một niềm tin tôn giáo, bỏ đi lòng trung thành trước đây, bỏ đạo". Sát nghĩa thì cụm từ nầy có ý nói: "một sự ly khai". Theo Kinh thánh, "bội đạo" là nhìn biết lẽ thật về Đức Chúa Jêsus Christ và sứ điệp Tin lành, thế rồi bằng lòng xây khỏi lẽ thật ấy để tin theo một lời nói dối.
Kinh thánh nói rất chi tiết về sự bỏ đạo của nhiều kẻ bội giáo. Thí dụ, trong Cựu Ước, có Vua Amaxia, ông đã cai trị trên xứ Giu-đa. II Sử ký 25.2 chép về ông: "Người làm điều thiện tại trước mặt Đức Giê-hô-va, song lòng không được trọn lành". Lúc đầu ông tỏ ra mình là một vị vua biết dâng mình cho Đức Giêhôva, song đấy chỉ là bề ngoài mà thôi. Không lâu sau đó, ông dính díu vào sự thờ lạy hình tượng. Lời cáo phó nói về ông rất buồn bã: "Vả từ khi A-ma-xia xây bỏ Đức Giê-hô-va …" (câu 27).
Tân ước cho chúng ta biết về Giu-đa Ích-ca-ri-ốt là kẻ đã bán Chúa để lấy 30 miếng bạc. Phaolô nói về Đê-ma là kẻ đã được nhắc tới hai lần như một nhân sự Cơ đốc biết dâng mình (Côlôse 4.4; Philêmôn 24). Trong II Timôthê 4.10, vị sứ đồ viết rất buồn như sau: "vì Đê-ma đã lìa bỏ ta rồi, tại người ham hố đời nầy". Không những ông đã quên Phaolô, mà còn quên cả Chúa nữa. Ở đây trong I Timôthê 1.18-20, chúng ta học biết về "Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ", đức tin của họ "bị chìm đắm" và bị Phaolô "phó cho quỉ Satan rồi, hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa".
Quí vị có biết điều chi đã làm cho Hội thánh của chúng ta ra khác biệt với nhiều Hội thánh khác trong cộng đồng của chúng ta không? Chính là lập trường theo Kinh thánh của chúng ta. Chúng ta đặt Kinh thánh lên trên truyền khẩu, hệ phái và sự đúng đắn về mặt chính trị. Tôi là chi thể của Hội thánh nầy và tôi hy vọng rằng quí vị là chi thể của Hội thánh đặc biệt nầy vì lý do nền tảng ấy. Chúng ta tìm cách dạy dỗ thật chính xác và vâng theo dứt khoát Lời không sai trật của Đức Chúa Trời. Quí vị không thể nói như thế về tất cả các nhà thờ trong cộng đồng nầy.
Phân đoạn Kinh thánh nầy gọi chúng ta là Hội thánh, là những cá nhân tín đồ đang tỉnh thức và sẵn sàng chống chọi lại sự bội đạo. Phaolô kết thúc chương 3 với bài thánh ca đượm đầy đức tin tin kính, cốt lõi những điều Hội thánh được dạy dỗ từ khi còn thơ ấu: "sự mầu nhiệm của sự tin kính", là thân vị và công tác của Đức Chúa Jêsus Christ. Ông bắt đầu chương 4 bằng cách nhắc cho chúng ta nhớ rằng "có mấy kẻ sẽ bội đạo". Sẽ có một số người, họ sẽ bằng lòng xây khỏi lẽ thật nói tới thiên đàng và tin theo những lời dối trá của địa ngục. Chúng ta hãy xét qua TÌNH TRẠNG CHẮC CHẮN, NGUYÊN NHÂN, PHẠM VI và CHỈNH ĐỐN sự bội đạo.
I. Tình trạng chắc chắn của sự bội đạo (câu 1a).
Phaolô nói: "Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo". Đây không phải là lời ra từ Phaolô dựa theo suy đoán của trí khôn đâu. Nguồn của thông tin nầy là "Đức Thánh Linh". Và Đức Thánh Linh đã phán "tỏ tường", dứt khoát, rõ ràng hay trong sáng rằng "có mấy kẻ sẽ bội đạo".
Kinh thánh không nói cho chúng ta biết Đức Thánh Linh, Thánh Linh của lời tiên tri đã phán như thế nào về điều nầy. Có thể điều nầy có liên quan tới lời dạy của Chúa Jêsus. Có thể nó đề cập tới đôi điều mà Đức Thánh Linh đã phán dạy qua Phaolô hoặc qua một trong các tiên tri khác trong Hội thánh đầu tiên. Lời nầy đến như thế nào hay đến từ ai thì không quan trọng lắm đâu! Đức Chúa Trời đã tỏ ra sự chắc chắn về tình trạng bội đạo qua sự khải thị rõ ràng, dứt khoát của Đức Thánh Linh.
Khi Đức Chúa Trời tỏ ra sự thực không thể tránh được nầy, Ngài đã phán điều nầy sẽ diễn ra "trong đời sau rốt". Kinh thánh sử dụng cụm từ ấy để mô tả toàn bộ kỷ nguyên giữa Sự Đến Lần Thứ Nhứt và Sự Đến Lần Thứ Hai, cao điểm của mọi sự trong tương lai mạt thế. Thí dụ, Phierơ nói: "đã định sẵn trước buổi sáng thế, và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em" (I Phierơ 1.20). Hêbơrơ 1.2 chép Đức Chúa Trời: "rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài". Trong I Giăng 2.18, vị sứ đồ cao tuổi đã nói: "Hỡi các con cái ta, giờ cuối cùng là đây rồi…".
Kinh thánh dường như muốn ám chỉ rằng mặc dù sẽ luôn luôn có sự bội đạo, nó sẽ ngày càng tệ hơn khi chúng ta đến gần với sự cuối cùng. Trong thư thứ hai gửi cho Ti-mô-thê, Phaolô cảnh cáo: "Hãy biết rằng trong ngày sau rốt, sẽ có những thời kỳ khó khăn" và "Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; nhưng vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình, bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn" (II Timôthê 3.1; 4.3-4).
Từ ngữ "bội" mang ý tưởng "dời một người ra khỏi địa vị nầy và chiếm lấy một địa vị khác". Tôi sử dụng quan điểm ấy trong một câu đại loại như sau: "Tôi sẽ rời khỏi Amarillo mà đi đến Albuquerque". Tôi bỏ chỗ nầy mà đến với chỗ kia. Chữ ấy nói tới một sự ra đi cố ý, có mục đích, dứt khoát.
Trong văn mạch ở đây, chữ nầy ám chỉ đến kẻ nào đã tin theo Chúa Jêsus, hiểu rõ Tin lành, là chi thể trong mối tương giao của Hội thánh nhưng lại là kẻ không "bội", chuyển từ điểm tin đến điểm không tin theo trí khôn. Hãy hiểu rõ rằng người nào đang phấn đấu với "đạo" và đang vật vã với những thắc mắc thì không phải là một người bội đạo. Một kẻ bội đạo là kẻ từng tuyên xưng Đấng Christ giờ đây đã lìa bỏ đức tin, Kinh thánh và Hội thánh.
Cách đây không lâu lắm, nhân vật có thế lực trong lãnh vực truyền thông Ted Turner đã phát biểu với Hội Nghiên Cứu Nhân Văn Mỹ (The American Humanist Association) rằng ông đã nhận một lề lối giáo dục Cơ đốc nghiêm ngặt và từng được xem là sẽ trở thành giáo sĩ. Ông nói: "Tôi đã được cứu bảy hay tám lần". Nhưng ông đã xa lánh với Cơ đốc giáo sau khi chị ông mất, bất chấp những lời cầu nguyện của ông. Turner nói ông càng xa lánh đức tin, "tôi cảm thấy khá hơn". Đấy là một bức tranh trọn vẹn về sự bội đạo.
II. Nguyên nhân của sự bội đạo (câu 1b-2).
Phân đoạn Kinh thánh gốc cho chúng ta biết rằng thực sự có hai nguyên nhân hay nguồn gốc của sự bội đạo nầy. Thứ nhứt là sự dối gạt của ma quỉ và thứ hai là sự giả hình của xác thịt.
A. Sự dối gạt của ma quỉ (câu 1b).
Phaolô nói rằng người nào lìa khỏi đức tin được đánh dấu bằng cách "theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ". "Theo" ra từ một chữ có ý nghĩa rất mạnh. Chữ nầy có ý nói: "thuộc quyền sở hữu" hay "dính sát vào". Họ vốn hiểu rõ sự dạy Cơ đốc. Bề ngoài họ khẳng định Đấng Christ. Họ sinh hoạt với Hội thánh. Tuy nhiên, ở bên trong, họ vẫn sống theo xác thịt. Họ chưa hề thực sự được cứu và Đức Thánh Linh không ngự vào lòng họ. Vì thế, họ bị quyến dụ bởi việc "theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ". Giu-đe 19 gọi họ là "kẻ gây nên phe đảng, thuộc về tánh xác thịt, không có Đức Thánh Linh".
"Đạo lý của quỉ dữ" không ám chỉ đến sự dạy về ma quỉ mà ám chỉ đến những gì chính ma quỉ truyền dạy. Mọi sai trái, mọi sự đứng ngược lại với lẽ thật của Đức Chúa Trời là công việc của thế lực ma quỉ địa ngục. Ma quỉ là những thiên sứ sa ngã liên kết với Satan. Tất cả sự dạy giả dối toàn bộ đều có thể quy hết cho chúng. John MacArthur viết: “Những kẻ bội đạo không hẳn là nạn nhân của các giáo sư ngụy biện cấp đại học, những nhà lãnh đạo tôn giáo giả hình, hay các nhà văn hoặc diễn giả xấu rất có tài. Họ là nạn nhân của các tà linh, những lời dối trá phát ra từ sâu thẳm địa ngục qua những con người như thế. Sự dạy giả dối còn sâu xa hơn một sự lầm lạc của con người, đúng đấy là đạo lý của quỉ dữ… Satan cùng các sứ giả nó đã bịa đặt tất cả những học thuyết giả trá để làm cho nhầm lẫn và lừa gạt”.
Hãy tưởng tượng một thanh niên kia lớn lên trong và quanh nhà thờ xem. Anh ta nghe Tin lành vô số lần. Anh ta biết lẽ thật nói về thần tính của Đấng Christ và trong lý trí khẳng định sự chết, sự chôn và sự sống lại của Đấng Christ. Thậm chí anh ta còn đưa ra lời tuyên xưng công khai và đã chịu phép báp-têm nữa. Tuy nhiên, mọi sự nầy là thứ tôn giáo bề ngoài mà chẳng có một sự thay đổi thực nào ở bên trong cả. Đức Thánh Linh không ngự vào lòng anh ta. Anh ta từng tham dự một lớp nào đó hoặc bắt đầu đọc loại sách báo khiến cho anh ta dễ lạc sai đối với lẽ thật bởi sự dụ dỗ của việc chạy "theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ".
Đấy là lý do tại sao II Côrinhtô 13.5 chép: "Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng. Hãy tự thử mình: anh em há không nhận biết rằng có Đức Chúa Jêsus Christ ở trong anh em sao? miễn là anh em không đáng bị bỏ".
Phải biết chắc quí vị đang "có đức tin" và từ chối sự dạy của ma quỉ. Chẳng có việc gì phải làm với các giáo sư giả. Kinh thánh chép trong II Giăng 1.7-11: "Trong thế gian đã rải nhiều kẻ dỗ dành, là kẻ chẳng xưng Đức Chúa Jêsus Christ lấy xác thịt mà đến: ấy đó thật là kẻ dỗ dành và kẻ địch lại Đấng Christ. Chính các ngươi hãy giữ, hầu cho khỏi mất kết quả của công việc mình, nhưng cho được phần thưởng đầy đủ. Hễ ai đi dông dài, chẳng bền lòng theo đạo Đấng Christ, thì người ấy không có Đức Chúa Trời. Còn ai bền lòng trong đạo ấy, thì người đó có Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Nếu ai đến cùng các ngươi mà không đem đạo ấy theo, thì chớ rước họ vào nhà, và đừng chào hỏi họ. Vì người nào chào hỏi họ, tức là dự vào công việc ác của họ”.
Đức Chúa Trời không xem thường việc bội đạo đến nỗi trong Cựu Ước, bất cứ đâu người trong bất kỳ thành thị Do thái nào dẫn người khác vào sự thờ lạy hình tượng hay tà giáo, họ phải "giết dân sự thành ấy bằng lưỡi gươm". Tất cả mọi vật lấy được, những giá trị của thành ấy phải bị thiêu trong lửa để cho mọi người và mọi vật đều bị tiêu hủy. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy sự dạy giả dối và sự bội đạo là một chứng ung thư cần phải bị cắt bỏ bởi phẩu thuật khẫn cấp.
B. Sự giả hình của xác thịt (câu 2).
Sự dụ dỗ của "các thần lừa dối và đạo lý của quỉ dữ" tìm được đất tốt trong tấm lòng của những ai đã được đánh dấu "bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì". Hãy nhớ, những kẻ bội đạo là những người, giống như Ted Turner từng giả vờ là hạng tín đồ chân chính. Họ hoạt động với "sự giả hình" giống như nghệ sĩ đang hoá trang vậy. Họ là những kẻ giả dạng chuyên nghiệp khi đến với đạo. Họ có thể liên tục "nói dối" mà không có một sự hối tiếc nào vì họ có "lương tâm đã lì".
"Lì" dịch từ kauteraizo và ám chỉ đến "chai cứng". Hết thảy chúng ta đều đã xem các cuộn phim xưa về miền Viễn Tây, trong đó gã cao bồi nung nóng thanh sắt đốt vết thương bị đạn để làm cho ngưng chảy máu. Về mặt lịch sử, đây là một việc làm thông thường bởi các nhà giải phẩu trong thời buổi trước khi có y khoa hiện đại. Tuy nhiên, ý tưởng ở đây có ý nói tới một sự tê liệt, chai cứng của "lương tâm" đến nỗi nó không còn biết điều chi là đúng hay sai. Có nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo, nhiều giáo sư đại học (thậm chí giáo sư trường Cơ đốc), nhiều nhà văn, nhiều Mục sư ở nhiều toà giảng trong thời buổi của chúng ta rất xứng hiệp với phần mô tả nầy. Dường như họ sống rất thuộc linh, nhưng họ đã xem thường lý tưởng của Đấng Christ bằng những lời dối trá của họ. Với thế lực của ma quỉ, họ xâm nhập vào Hội thánh và tìm cách làm cho những Cơ đốc nhân chân chính bị sai lạc.
Thực sự thì họ không tin và họ cũng không muốn nhiều người khác tin. Trong Philíp 3.18 Phaolô nói tới họ khi ông phát biểu như sau: "Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ". Quí vị sẽ nói: "Thưa Mục sư, làm sao chúng tôi nhận biết họ?" Chúa Jêsus phán: "Ấy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được" (Mathiơ 7.20). Trái số một tôi nhìn thấy là những gì họ tin về Kinh thánh? Có phải Kinh thánh cảm thúc, không sai trật theo quan điểm của họ? Hãy suy nghĩ xem.
III. Phạm vi của sự bội đạo (câu 3a).
Quí vị mong thấy "đạo lý của quỉ dữ" sẽ thể hiện ra rõ nét. Quí vị sẽ mong "thần nói dối" lãnh đạo những kẻ giả hình dối trá tấn công thần tính của Đấng Christ, sự giáng sinh bởi nữ đồng trinh, Ba Ngôi Đức Chúa Trời, sự cứu rỗi bởi ân điển nhờ đức tin hay một vài lẽ đạo chính khác nữa. Tuy nhiên, Satan vốn rất xảo quyệt không mở ra một cuộc tấn công trực diện đâu. Hắn thích lén lút ở sau cánh cửa và làm suy yếu đức tin từ bên trong hơn.
Trong thời của chúng ta, chiến trận được dành cho Kinh thánh, uy quyền của Kinh thánh. Hắn thích đưa người của hắn, những kẻ không ủng hộ Kinh thánh, vào trong những vị thế có ảnh hưởng lớn trong các hệ phái và các thần học viện. Họ không tấn công trực diện đạo đức tin thật. Họ chỉ tấn công nền tảng trên đó họ đã được dựng lên, là chính Kinh thánh. Nếu họ có thể thuyết phục sinh viên của họ đem lòng hồ nghi tính đáng tin của cả Kinh thánh, khi ấy họ sẽ nghi ngờ tính đáng tin nơi bất kỳ phần nào của Kinh thánh. Rồi làm sao họ tin được thần tính của Đấng Christ, sự giáng sinh bởi nữ đồng trinh, Ba Ngôi Đức Chúa Trời, quyền tể trị của Đức Chúa Trời hoặc bất cứ lẽ đạo cải chánh nào trong lịch sử vì tất cả những lẽ đạo nầy đã được thấy có trong cốt lõi của Kinh thánh.
Trong thời của chúng ta, còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa về Kinh thánh. Trong thời của Phaolô, sự phấn đấu nhắm vào cưới gả, và kiêng cử các thức ăn. Phaolô nói rằng những giáo sư bội đạo nầy đang "cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn". Sự dạy nầy ai nấy đều biết là chủ nghĩa khổ hạnh. Những nhà tu khổ hạnh dạy rằng con đường dẫn đến chỗ thuộc linh là tự chối bỏ mình. Họ tin rằng sự được ơn Đức Chúa Trời có thể kiếm được bằng cách từ chối không cưới gả và không quan hệ tình dục bởi nhiều luật lệ nghiêm ngặt. Đây là sự dạy của chủng viện Qumran ở gần Biển Chết, là nơi người ta tìm được Cuộn Giấy Kinh Thánh. Sự dạy của họ tương tự với thuyết nhị nguyên (dualism), thuyết nầy dạy rằng mọi sự thuộc linh là tốt và mọi sự thuộc thể đều là xấu. Từ thuyết nầy mà ra thuyết ngộ đạo (Gnosticism) trong thế kỷ thứ hai, thuyết nầy dạy những lẽ mầu nhiệm kín giấu chỉ có những kẻ thụ giáo mới biết rõ mà thôi. Họ từ chối bất cứ thứ chi thuộc về phần xác và thế giới vật chất là độc dữ.
Để chỉ cho quí vị thấy thể nào các ý tưởng nầy đã bao vây Hội thánh, hãy nhìn vào II Timôthê 2.15-18: "Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật. Nhưng phải bỏ những lời hư không phàm tục; vì những kẻ giữ điều đó càng sai lạc luôn trong đường không tin kính, và lời nói của họ như chùm bao ăn lan. Hy-mê-nê và Phi-lết thật như thế, họ xây bỏ lẽ thật; nói rằng sự sống lại đã đến rồi, mà phá đổ đức tin của một vài người cách như vậy”.
Dường như là trong Hội thánh Êphêsô, Hy-mê-nê (là kẻ mà Phaolô đã kỷ luật trong 1.20) và Philết đã tin và đang dạy một giáo lý lạ lùng nào đó cho rằng sự sống lại đã diễn ra rồi. Vì họ hiểu rằng sẽ chẳng có cưới gả trong sự sống lại (Mathiơ 22.30) và vì họ không ăn thịt trong Vườn Ê-đen, họ đang "cấm cưới gả và kiêng cử các thức ăn" trong Hội thánh. Nào, trong thời buổi của chúng ta thì sao cũng được và chẳng chối bỏ mình, một ít chối bỏ mình dường như chẳng sao. Tại sao không? Có chi sai với việc không cưới gả và cứ giữ lấy sự đồng trinh trọn đời? Điều chi sai trái với ăn chay (vegetarianism)? Trong bản thân chúng, chẳng có gì sai cả. Mặc dù hôn nhân là thánh khiết, Đức Chúa Trời ấn định cho ai đó được sống độc thân (I Côrinhtô 7.25-35). Về Kinh thánh, chẳng có gì sai trái với việc chỉ ăn trái cây và rau cải. Tuy nhiên, khi xem cách thực hành nầy là một phương tiện đạt tới sự tin kính thì đấy là tà giáo! Chúng ta không thể kiếm được sự công bình riêng bằng cách chối bỏ mình.
Chúng ta chỉ trở nên công bình là nhờ Đấng Christ mà thôi! Hãy lắng nghe Côlôse 2.16-23: “Vì vậy, chớ có ai đoán xét anh em về của ăn uống, hoặc ngày lễ, hoặc ngày mặt trăng mới, hoặc ngày Sa-bát, ấy đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ. Chớ để cho những kẻ kia cướp lấy phần thưởng chạy thi, là kẻ giả đò khiêm nhượng mà muốn thờ lạy các thiên sứ. Họ theo những sự mình xem thấy, và bởi tình xác thịt nổi lòng kiêu ngạo vô ích, không liên lạc với đầu, là nhờ đầu đó mà cả thân thể xếp đặt kết hiệp bởi các lắt léo, và được sự sanh trưởng từ Đức Chúa Trời đến. Ví bằng anh em chết với Đấng Christ về sự sơ học của thế gian, thì làm sao lại để cho những thể lệ nầy ép buộc mình, như anh em còn sống trong thế gian: Chớ lấy, chớ nếm, chớ rờ? Cả sự đó hễ dùng đến thì hư nát, theo qui tắc và đạo lý loài người, dầu bề ngoài có vẻ khôn ngoan, là bởi thờ lạy theo ý riêng, cách khiêm nhượng và khắc khổ thân thể mình; nhưng không ích gì để chống cự lòng dục của xác thịt”.
Nói cách khác, bất luận chúng ta chối bỏ thân thể mình như thế nào đi nữa, chúng ta không thể giải phóng mình ra khỏi tội lỗi của xác thịt và của lý trí. Hughes nhắc cho chúng ta nhớ rằng những sự dạy theo kiểu tu khổ hạnh nầy đã hành hại nhiều Cơ đốc nhân trong nhiều thế kỷ. Ông viết: “Các giáo phụ của Hội thánh đều đồng lòng ngợi khen sự trong trắng là điều rất tốt trong hôn nhân. Việc nầy là cực điểm trong Giáo Hội Nghị Trent vào thế kỷ thứ 16, điểm nầy tố cáo những kẻ nào chối không nhận sự trong trắng là điều rất tốt cho cưới gả. Hội thánh Rôma đã giữ thêm nhiều ngày trong đó cử chỉ mật thiết [hôn] đã bị cấm đoán cho tới hơn phân nửa số ngày bắt buộc trong năm. Không có gì phải ngạc nhiên khi có một cuộc Cải Chánh!”
IV. Chỉnh đốn việc bội đạo (các câu 3b-5).
Trong câu 3, Phaolô nói tới cử chỉ mật thiết và các thức ăn mà "Đức Chúa Trời đã dựng nên" chúng và chúng cần phải "tạ ơn mà dùng lấy bởi kẻ có lòng tin và biết lẽ thật".
Trong câu 4, vị sứ đồ nói rằng "mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được". Trở lại Sáng thế ký 1.31, Kinh thánh công bố: "Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành". Chúa Jêsus phán trong Mác 7.18-20: "Vậy chớ các ngươi cũng không có trí khôn sao? Chưa hiểu chẳng có sự gì ở ngoài vào trong người mà làm dơ dáy người được sao? Vả, sự đó không vào lòng người, nhưng vào bụng, rồi bị bỏ ra nơi kín đáo, như vậy làm cho mọi đồ ăn được sạch. Vậy, Ngài phán: Hễ sự gì từ người ra, đó là sự làm dơ dáy người!” Chúa nhấn mạnh điều nầy với Phierơ trong sự hiện thấy của ông ở Công vụ Các Sứ đồ 9.15, ở đây Ngài phán: "Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch [sát nghĩa, tuyên bố là sạch], thì chớ cầm bằng dơ dáy [ô uế]".
Chẳng có một thứ gì ở trên đất mà chúng ta nhận lãnh với sự tạ ơn sẽ phân rẽ chúng ta ra khỏi Đức Chúa Trời. Với thái độ biết ơn chúng ta cần phải tán tụng điều tốt lành của sự sáng tạo. Chúng ta cần phải tận hưởng các thứ rau cỏ và ngửi mùi hương của các loài hoa. Chúng ta cần phải ăn thịt nướng, cá chiên và gà quay trong khi khen ngợi Chúa. Chúng ta cần phải tận hưởng mùi vị của cơn mưa, nấn ná bên cảnh mặt trời mọc hay xem đàn ngỗng trời bay qua trong khoảng không.
Chúng ta cần phải tận hưởng mọi thứ sáng tạo của Đức Chúa Trời, kể cả cử chỉ yêu thương trong hôn nhân. Hêbơrơ 13.4 chép: "Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn quê phòng chớ có ô uế". Câu 5 nói, không những chúng ta cần phải nhận lãnh tất cả những món quà của công cuộc sáng tạo "với sự tạ ơn" mà còn phải hiểu rằng mọi sự đã "được nên thánh [thánh hoá, làm nên thánh] nhờ Lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện".
Tôi có nghe nhiều cách giải thích khác nhau về ý nghĩa của câu nầy. Tôi có nghe nhiều vị giáo sĩ nói tới sự cầu nguyện về thức ăn đã làm cho người ta phải nôn mửa và không làm cho họ phải bịnh tật. Có thể như thế lắm. Tôi biết rõ Kinh thánh dạy rằng chúng ta nên tạ ơn Đức Chúa Trời khi chúng ta ăn. Chúng ta không "xin một ơn phước" vì Đức Chúa Trời đã chúc phước rồi. Chúng ta cảm tạ Ngài vì những gì Ngài đã chúc phước rồi cho chúng ta. Chúa Jêsus đã cảm tạ Đức Chúa Trời trước khi dùng bữa. Ngay cả Phaolô đã dâng lời cảm tạ vì một bữa ăn trên tàu ngay giữa trận bão (Công vụ Các Sứ đồ 27.35).
Chúng ta được nên thánh nhờ vào "Lời của Đức Chúa Trời" qua sự cứu rỗi. Khi chúng ta nhận lãnh thức ăn với những lời cầu nguyện tạ ơn đối với Đức Chúa Trời và tận hưởng thức ăn đó, sử dụng nó để kiếm sức lực hầu phục vụ Đức Chúa Trời, khi ấy thức ăn đó sẽ được "nên thánh" vì Đức Chúa Trời ban cho. Khi chúng ta kết thúc, chúng ta hãy chuyển từ những lời cầu nguyện và thức ăn mà trở lại với đề tài chính về sự bội đạo. Chuyện kể rằng nhà văn nổi tiếng Mark Twain đã cưới một người nữ Cơ đốc. Lúc đầu bà không muốn thành hôn, song về sau lại muốn. Lúc đầu ông vận dụng những động lực tôn giáo với bà, nhưng về sau ông nói ông không thể cứ giữ sự giả hình mãi được. Đúng lúc, bà đạt tới chỗ bà không còn tin nơi Đức Chúa Trời nữa. Trong suốt thời gian buồn khổ nhất, Twain nói với vợ mình: "Nếu đức tin Cơ đốc của em yên ủi được em, thì hãy quay lại với nó". Bà đáp: "Em không có đức tin gì hết". Bà không thể quay lại với những gì bà không hề có và nếu bà từng có nó, bà sẽ không bao giờ lìa bỏ nó! Hãy tự thử mình xem!
***