Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2010

I Timôthê 3.14-16: "Những nguyên tắc cơ bản của Hội thánh"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Những nguyên tắc cơ bản của Hội thánh
I Timôthê 3.14-16
Có một câu chuyện xưa thường được thuật lại về Vince Lombardi, vị huấn luyện viên thần kỳ của đội Green Bay Packers. Rất sớm sủa trong sự nghiệp của ông với đội, sau một thất bại đáng thất vọng nhất, Lombardi đã cho tập trung các cầu thủ lại chung quanh mình rồi nói: "Đây là một trận túc cầu". Khi ấy ông dẫn cả đội vào quá trình ôn lại những vấn đề cơ bản làm thế nào để xử lý, ngăn cản, chạy, qua mặt và bắt bóng. Ông xây dựng một đội vô địch thế giới bằng cách chấm ngay vào các vấn đề cơ bản.
Cách đây vài năm, tôi để ý thấy sở trường chơi golf của tôi giảm hẳn đi. Tôi đã thử một số cách để hoàn thiện lại. Mấy người bạn thân của tôi cung ứng cho tôi lời khuyên nhũ. Bất luận tôi làm gì hay tôi thay đổi ra sao hoặc tôi thử thế nào, tôi không thể giữ được quả bóng trên thảm cỏ. Tôi đã đánh chúng đi khắp chỗ. Một người bạn chỉ cho tôi thấy những cú đánh golf của tôi làm cho ông ta nhớ tới việc giảng dạy của tôi … dài dòng và hướng sang phải. Trong khi ấy, tôi có gặp một chuyên gia dạy đánh golf. Tôi muốn trao đổi với ông ta về Tin lành để tôi soạn một bài học. Đến gần chỗ phát bóng, ông ta quan sát những lần tôi đánh vào quả bóng.
Khi ấy ông ta nói: "Giang rộng hai cánh tay rồi vỗ vào nhau vài lần xem". Ngạc nhiên thay, lối đánh cũ của tôi liền bật trở lại và những quả bóng đã đi đúng hướng mà tôi đã nhắm tới. Bạn tôi, vị giáo sư dạy chơi golf đã có cùng cách tiếp cận giống như huấn luyện viên Lombardi, nếu quí vị khó tiếp cận các mục tiêu của mình, hãy quay trở lại với những động tác cơ bản. Trong bóng đá, chính sự ngăn trở và xử lý. Trong môn golf, chính cái nắm thật chắc và một tư thế thật chuẩn. Với điều đó trong trí, hãy nhìn vào cụm từ trong câu 14 ở phân đoạn Kinh thánh gốc xem. Phaolô nói: "Ta viết thơ nầy, …con biết làm thế nào". Câu nói ấy bao gồm toàn bộ nội dung của bức thư. Phaolô nói dứt khoát mục đích của ông khi viết thư tín I Timôthê là để cho Timôthê có thể dạy dỗ các tín hữu tại thành Êphêsô biết cách Hội thánh cần phải sống trong thế gian nầy. Cách nói nầy tương đương với lời mà Lombardi đã nói với đội của mình: "Đây là một trận túc cầu".
Trong sứ điệp nầy, chúng ta sẽ xem xét ba điều cơ bản của Hội thánh. Chúng ta sẽ xem xét cách ăn ở, sứ mệnh và sứ điệp của chúng ta. Quí vị ơi, đây là Kinh thánh. Quí vị là Hội thánh. Đây là những điều cơ bản của chúng ta. Chúng ta hãy học lại chúng để chúng ta có thể đạt được những mục tiêu của Đức Chúa Trời.
I. Cách ăn ở của Hội thánh (các câu 14-15a).
Trước tiên, Phaolô nói: "Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, phòng ta có chậm đến". Phaolô đang nói cho chúng ta biết mục đích của ông khi viết thư tín nầy. Như tôi đã nói cách đây một phút, "viết thơ nầy" đề cập lại mọi sự mà Phaolô đã viết trước kia và cũng là phần còn lại của bức thư. Ông nói: "phòng ta có chậm đến". Đối với tôi, dường như là Phaolô muốn đến Êphêsô để giúp cho Timôthê với Hội thánh đang gặp rắc rối thật sớm, nhưng đã dè trước sẽ bị "chậm" vì vậy ông viết bức thư nầy để nói ra mọi sự mà ông sẽ nói một khi ông đích thân đến.
Đâu là mục đích? Ấy là những điều cơ bản của Hội thánh. Ông nói: "Ta viết… thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời". Mục đích của ông là dạy cho các tín hữu biết tư thế, cách ứng xử hay hành vi thích ứng của họ ở trong nhà của Đức Chúa Trời. Lẽ đạo tổng quát của I Timôthê là cách ăn ở hay tư thế của Hội thánh. Các chương 2 và 3 gần như nhắm vào cách ăn ở. Trong 2.1-8, chúng ta được kêu gọi phải cầu nguyện liên tục. Trong 2.9-15, nữ giới được kêu gọi phải sống giản dị thích ứng, với địa vị xứng đáng và sự hiểu biết đúng đắn trong vai trò đặc biệt của họ. Ở 3.1-7, bậc trưởng lão được kêu gọi nhắm tới một tiêu chuẩn hay cách ứng xử cao độ. Ở 3.8-13, các chấp sự cần phải dè giữ để nêu gương để tất cả các tín hữu biết “xử sự” bản thân họ.
Cách ứng xử của chúng ta rất quan trọng vì thế gian đang quan sát chúng ta. 2.3-4 chép: "Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật". Có người gửi cho tôi một email vào tuần nầy khiến tôi phải bật cười. Cho phép tôi chia sẻ một ít với quí vị.
Một người Ai-len bước vào một quán bar ở Dublin, gọi ba cốc bia rồi đến ngồi ở phía sau căn phòng, uống từng cốc bia một. Khi uống xong, ông ta trở ra quầy và gọi ba cốc khác. Người phục vụ đến gần rồi nói cho ông ta biết: "Ông ơi, một cốc vô vị lắm sau khi tôi rót ra; nó sẽ nếm ngon hơn nếu ông mua mỗi lần một cốc". Người Ai-len kia đáp: "Được thôi, ông thấy đấy, tôi có hai anh em. Một thì ở Mỹ, còn người kia ở Úc, và tôi thì ở đây Dublin. Khi tất cả chúng tôi rời khỏi nhà, chúng tôi hứa rằng chúng tôi sẽ uống theo cách nầy để nhớ lại những ngày chúng tôi còn uống với nhau. Vì vậy, tôi uống một ly cho mỗi anh em kia còn một ly thì cho tôi".
Nhân viên phục vụ nhìn nhận rằng đây là một cách làm rất hay, rồi để ly bia tại đó. Người Ai-len kia rất đều đặn đến quán bar, và luôn luôn uống theo cách đó. Ông gọi ba cốc bia rồi uống chúng lần lượt. Ngày nọ, ông ta bước vào và gọi hai cốc. Tất cả những khách quen đều để ý và yên lặng hết. Khi ông ta trở lại quầy để gọi lần thứ nhì, nhân viên phục vụ quầy nói: "Tôi không dám xâm phạm vào nỗi buồn của ông, nhưng tôi muốn thốt ra lời chia buồn với sự mất mát lớn của ông".
Người Ai-len kia thấy lúng túng trong một thoáng, thế rồi ánh mắt ông ta sáng lên và bật cười đáp: "Ồ, không đâu, ai nấy đều mạnh giỏi cả mà. Chỉ vì vợ tôi muốn chúng tôi gia nhập Hội thánh Báp tít và tôi phải thôi không uống nữa. Điều nầy chẳng đá động gì tới mấy anh em của tôi".
Chúng tôi đã bật cười khi nghe một câu chuyện giống như thế vì nó có một sự gần gũi với gia đình. Chúng ta biết có những người muốn dự phần trong Hội thánh nhưng không chịu bỏ thế gian lại đàng sau. Nhưng đấy không phải là một việc để cười. Khi dân sự của Đức Chúa Trời xem trọng "cách ứng xử" của họ. Đức Chúa Trời chúc phước cho sự họ vâng lời trong khi nâng cao lẽ thật của Tin Lành y như họ đang công bố ra lẽ thật đó. Đấy là lý do tại sao mỗi cuộc phấn hưng đầu bắt đầu với giai đoạn Cơ đốc nhân xưng nhận tội lỗi và tẩy rửa đời sống của họ.
Kent Hughes thuật lại câu chuyện nói về sự dẫn dắt một thanh niên đến với Đấng Christ cách đây mấy năm. Anh ta đã triệt để thay đổi lối sống của mình, nhiều đến nỗi người cha độc đoán, hay răn đe đã nhường cho Mục sư Hughes một sự thăm viếng không báo trước tại nhà của mình. Ông đã quan sát mọi sự từ những đứa trẻ cho đến đồ đạt rồi nói: "điều nầy đã thực tốt rồi, tôi sẽ còn để ý đến anh đấy". Nhiều tháng trời trôi qua và người con thúc giục Hughes đến thăm cha mình. Mục sư Hughes viết: "Tôi nhớ tới nỗi khủng khiếp khi nhấn chuông cửa. Buổi tối bắt đầu với một lời rủa sả– khi con người khô cằn ấy đã rủa sả sự gian ác của mình rồi bắt đầu bật khóc. Ông ta đã tìm kiếm sự tha thứ của Đấng Christ đêm hôm đó và đã tìm được nó, thế rồi đã sống phần đời còn lại của mình cho Đấng Christ và cho Hội thánh của Ngài".
II. Sứ mệnh của Hội thánh (câu 15b).
Trong phân nửa đầu của câu 15, Phaolô cung ứng cho chúng ta cách ứng xử của chúng ta, chúng ta cần phải "cư xử" hay ăn ở sao cho xứng đáng. Trong nửa phần sau của câu 15, ông nói cho chúng ta biết lý do tại sao, vì cớ sứ mệnh của chúng ta. Ông mô tả lai lịch và sứ mệnh của chúng ta trong ba hình bóng. Chúng ta là "nhà của Đức Chúa Trời", "Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống" và "trụ và nền của lẽ thật".
A. Chúng ta là nhà của Đức Chúa Trời.
Từ ngữ nói tới "nhà" là từ ngữ rất phổ thông oikos và có thể đề cập tới một toà nhà bằng vật chất làm bằng đá hay bằng gỗ. Tuy nhiên, từ ngữ có thể được sử dụng để mô tả những cư dân trong một ngôi nhà, hay một gia đình. Khi tôi nói: "Tới nhà của Mục sư Wylie chúng ta phải làm như vầy, như vầy" quí vị biết ngay tôi không nói về toà nhà chúng ta đang sống trong đó, mà nói tới gia đình, chính là chúng ta. Cũng ý nghĩa ấy, khi Tân ước nói tới "nhà của Đức Chúa Trời" Tân ước không đề cập tới một toà nhà mà nói tới một con người.
Khi tôi còn là một thiếu niên, tôi vốn hiểu rõ đã có những luật lệ đặc biệt về cách ứng xử trong nhà thờ vì nhà thờ là "nhà của Đức Chúa Trời". Tất nhiên lớp tuổi thanh niên cần phải học tôn kính các chức dịch trong nhà thờ nhưng chúng ta không nhấn mạnh quá mức đối với toà nhà vật chất kia.
Là tín đồ, mỗi một chúng ta là một "đền thờ của Đức Thánh Linh" là Đấng đang ngự trong chúng ta (I Côrinhtô 6.19). Chúng ta đang ở "trong Hội thánh" bất cứ đâu chúng ta sống vì chúng ta là Hội thánh! Vậy thì "Nhà của Đức Chúa Trời" hay "người nhà của Đức Chúa Trời" (bản Kinh thánh NIV) đề cập tới sự thực: tất cả các tín đồ là gia đình. Đức Chúa Trời là Cha của chúng ta. Chúng ta là anh chị em. Êphêsô 2.19 chép: "Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời".
Galati 6.10 chép: "Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt. Vậy, đang lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin". Tôi luôn thích trưng dẫn I Giăng 1.3: "chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ". Như vậy, Hội thánh, gia đình của Đức Chúa Trời giống như một hình tam giác. Đức Chúa Trời là đỉnh. Tôi là một trong hai góc nhỏ hơn và mỗi một tín đồ ở trong góc nhỏ kia. Chúng ta được kết với nhau cho đến đời đời.
A.W. Tozer từng viết: “Bạn có từng thấy một trăm chiếc đàn dương cầm hết thảy đều rung lên cùng một âm thoa với nhau không? Chúng có cùng âm khi rung lên, không phải với nhau, mà với tiêu chuẩn khác, mỗi chiếc đàn đều phụ vào tiêu chuẩn ấy. Cũng vậy, hàng trăm người thờ phượng nhóm lại với nhau, mỗi người đều hướng về Đấng Christ, tấm lòng của mỗi người kề gần nhau, gần như là ý thức "hiệp một" và hướng mắt tới Đức Chúa Trời để đạt cho kỳ được một mối tương giao gần gũi hơn”.
Phương thức cho chúng ta sống, động và hiệp một như gia đình, người nhà của Đức Chúa Trời là mỗi một chúng ta phải phấn đấu sống trong sự hội hiệp với chính mình Đấng Christ. Nếu chúng ta là gia đình của Đức Chúa Trời, thì chúng ta cần phải sống giống như gia đình của Đức Chúa Trời.
B. Chúng ta là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống.
Thứ hai, Phaolô mô tả chúng ta là "Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống". Đôi khi chúng ta hành động giống như thể Hội thánh thuộc về chúng ta vậy. Chúng ta đang nói tới "Hội thánh của chúng ta". Tuy nhiên, nếu đấy thực sự là "Hội thánh của chúng ta" thì không phải là Hội thánh thực đâu. Hội thánh thực thuộc về Đức Chúa Trời. Phaolô bảo các trưởng lão thành Êphêsô trong Công vụ Các Sứ đồ 20.28 phải: "chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình". Hội thánh thuộc về Đấng Christ. Ngài đã mua và đã trả giá cho Hội thánh. Sự sống lại của Ngài là tờ biên lai! Chúng ta là Hội thánh của Đức Chúa Trời. Êphêsô 1.14 nói tới Đức Thánh Linh là "Đấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta, cho đến kỳ chuộc lấy những kẻ mà Ngài đã được để khen ngợi sự vinh hiển Ngài". Chúng ta, Hội thánh là "cơ nghiệp" của Đức Chúa Trời. I Côrinhtô 6.19b-20 chép: "…và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời". Tít 2.14 chép Chúa "liều mình vì chúng ta, để chuộc [mua lại] chúng ta khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành". Trong Khải huyền 5.9, các trưởng lão ở quanh ngôi đã hát ca tụng Chúa: "Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước".
Đức Chúa Trời, Ngài đã mua lấy chúng ta và sở hữu chúng ta, là "Đức Chúa Trời hằng sống". Ngài không phải là một Đức Chúa Trời chết, không phải là một Đức Chúa Trời không có sự sống giống như các thần làm bằng đá bằng gỗ trong nền văn hoá tà giáo của người thành Êphêsô là nơi Timôthê phục vụ. Chúng ta là "Hội thánh" hay ekklesia của Đức Chúa Trời. Đây là một từ kép. Ek là tiếp đầu ngữ có nghĩa là "ra", Kaleo là tiếp vĩ ngữ có nghĩa là "khỏi". Cho nên, ekklesia đúng ra có ý nói tới "những người được kêu gọi ra khỏi". Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống đã được dựng lên gồm những tín đồ chân chính, họ được kêu gọi ra khỏi thế gian để đi theo Đấng Christ và trở nên môn đồ của Ngài. Khi các tín hữu có Đức Thánh Linh ngự ở trong lòng nhóm lại với nhau như Hội thánh địa phương, chúng ta là "đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống". II Côrinhtô 6.16 chép: "Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta". Như vậy há chẳng quan trọng sao? Chúng ta được kêu gọi cùng bước đi và đồng đi với Đức Chúa Trời và trở nên dân sự của Ngài. Các câu 17-18 tiếp tục: "Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Cha các ngươi, các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy".
Đấy là lý do tại sao Hội thánh địa phương quan trọng như vậy. Ở đây chúng ta không những tìm gặp tình yêu thương, sự khích lệ và sự gây dựng. Chúng ta còn tìm gặp sự năng động thuộc linh đặc biệt mà chúng ta không thể tự có được. Chúng ta có thể cầu nguyện một mình. Chúng ta có thể đọc Kinh thánh một mình. Chúng ta có thể một mình lắng nghe Đạo được dạy dỗ. Chúng ta có thể hát một mình. Nhưng tốt hơn là phải nhóm lại với anh chị em khác nữa để cầu nguyện, đọc Kinh thánh, ca hát, và lắng nghe! Martin Luther từng nói: "Ở nhà, tại nhà riêng của mình chẳng có một sự ấm áp hay sự hăng hái nào nơi tôi cả, nhưng tại nhà thờ khi đám đông nhóm lại rồi, một ngọn lửa được nhóm lên trong lòng tôi và nó xuyên thấu vào". Khi chúng ta đến đây, chúng ta đừng hành động giống như một nhóm Cơ đốc nhân mệt mỏi mà phải giống như "Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống".
C. Chúng ta là trụ và nền của lẽ thật.
Hãy nhớ lại đi, sứ mệnh của chúng ta là phải hành động giống như gia đình của Đức Chúa Trời và Hội thánh của Đức Chúa Trời, nhưng cần phải thêm vào một việc khác nữa. Chúng ta cần phải trở thành "trụ và nền của lẽ thật". Ở Êphêsô, nơi Timôthê sinh sống là đền thờ của nữ thần Diana (hay Artemis). Bề ngoài của đền thờ đó rất là đẹp mắt, nó là một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ. Barclay lưu ý: "Đền thờ nầy có 127 cột trụ, mỗi vị vua đã tặng hiến từng cây cột nầy. Hết thảy đều được làm bằng cẩm thạch, và một số được cẩn với các thứ nữ trang và vàng", ông nói: "Dân chúng ở thành Êphêsô đều biết rõ một cây cột đẹp đẽ là dường nào. Có thể nói từ “cột” ở đây chưa thể dùng cái đẹp của mấy cây cột kia mô tả được”.
"Nền" ra từ chữ hedraioma, chỉ có ở đây trong Tân ước. Nó có nghĩa là "nâng đỡ" hay "nền tảng". Hội thánh là nền tảng nâng đỡ lẻ thật của Đức Chúa Trời. Cũng một thể ấy, nền và trụ của đền thờ nữ thần Diana đã nâng đỡ và chứng thực cho thứ tà giáo giả dối, Hội thánh cần phải năng đỡ và chứng thực lẽ thật của Đức Chúa Trời cho thế giới sa ngã nầy.
Tất nhiên "lẽ thật" ở đây đề cập tới sự mặc khaỉ của Đức Chúa Trời về chính mình Ngài, Lời của Đức Chúa Trời, Kinh thánh. Mặc dù chúng ta không thờ lạy Lời của Đức Chúa Trời, chúng ta ủng hộ Kinh thánh trong mọi sự. Chúng ta rao giảng Kinh thánh từ toà giảng nầy. Chúng ta dạy dỗ Kinh thánh trong từng lớp học và trong từng nhóm nhỏ. Chúng ta mưu luận từ Kinh thánh. Chúng ta làm chứng từ Kinh thánh. Chúng ta nghiên cứu Kinh thánh. Chúng ta phiên dịch Kinh thánh. Chúng ta giải thích Kinh thánh. Chúng ta học thuộc lòng Kinh thánh. Chúng ta suy gẫm Kinh thánh. Chúng ta ủng hộ Kinh thánh. Chúng ta canh giữ Kinh thánh. Quan trọng nhất, chúng ta vâng theo Kinh thánh.
III. Sứ điệp của Hội thánh (câu 16).
Sau khi dạy rằng trọng tâm sứ mệnh của Hội thánh phải là "trụ và nền của Hội thánh", giờ đây Phaolô tiếp tục công bố ra trọng tâm của lẽ thật đó, cốt lõi của sứ điệp ấy Hội thánh luôn luôn công bố ra và là trách nhiệm của chúng ta phải công bố ra cho đến ngày nay. Mặc dù Kinh thánh là nguồn chu cấp vô hạn định về lẽ thật thuộc linh, cái điều Phaolô đang dạy dỗ là trọng tâm của mọi lẽ thật theo Kinh thánh và là mục tiêu chính trong sứ điệp của Hội thánh.
Phaolô nói: "Mọi người đều cho” hay chẳng một ai có thể tranh luận nghịch lại với sự thực rằng "lẽ mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm". "Lẽ mầu nhiệm" trong thuật ngữ của Phaolô không đề cập tới một số điều bí ẩn hay nan đề nào khó giải quyết. Nó đề cập tới một việc từng kín giấu nhưng giờ đây đã hiển lộ. Lẽ thật quan trọng nói tới sự cứu rỗi, làm thể nào một con người sa ngã có thể bước đi trong "sự tin kính" mà một người không thể có được cho tới khi Đức Chúa Trời bày tỏ sự tin kính ấy ra. Đây là những dòng thơ Hy lạp và có lẽ một khổ của một bài thánh ca Cơ đốc xưa. Thơ văn của chúng ta xem trọng nhịp điệu và vần gieo. Thơ văn Hy lạp xem trọng những đối chiếu và các tương xứng. Trong bài ca thánh nầy, bài thơ nầy, có ba cặp đối chiếu có hai dòng. Chúng ta sẽ xem xét chúng theo thứ tự.
A. Cặp #1. Sự khải thị về Chúa Jêsus.
Trước tiên Phaolô nói: "Đức Chúa Trời đã tỏ ra trong xác thịt". Đức Chúa Trời đã trở thành một con người. Đó là sự hoá thân thành nhục thể, sự Đức Chúa Trời "mặc lấy xác thịt". Chúa Jêsus đã được "tỏ ra", được bày tỏ, hay được làm cho thấy được bằng mắt thường trong xác thịt con người. Chúa Jêsus vốn là Đức Chúa Trời tự hữu hằng hữu, nhưng Ngài đã mặc lấy xác thịt con người. Mặc dù chúng ta có thể xem xét hết phân đoạn nầy tới phân đoạn khác, có lẽ phân đoạn Kinh thánh nói trực tiếp đến sự hoá thân thành nhục thể của Đấng Christ là Philíp 2.6-7. Ở đây nói tới Chúa Jêsus: "Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người". Khi nói Chúa Jêsus ở "trong loài xác thịt" không có ý nói rằng Ngài đã có bổn tánh sa ngã giống như bổn tánh của chúng ta, nhưng có ý nói rằng Ngài có một thân thể giống như thân thể của chúng ta.
Hêbơrơ 10.5-7 chép: "Bởi vậy cho nên, Đấng Christ khi vào thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, Nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi. Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội. Tôi bèn nói: Hỡi Đức Chúa Trời, nầy tôi đến-Trong sách có chép về tôi-Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa" (đối chiếu Thi thiên 40.6-8).
Tôi thích cách nói của Hughes hơn. Ông viết: "Cho nên phải nói như vầy, Ngài đứng bên lề của vũ trụ rồi xuyên thẳng qua hàng tỉ tỉ ngôi sao, qua dãy ngân hà, rồi nhập vào lòng của Nữ đồng trinh Mary, ở đó Ngài đã động đậy rồi lớn lên cho tới chừng ra đời trong một đêm đông đầy giá tuyết. ‘Ngài hiện ra trong một thân thể’, Hội thánh đầu tiên đã hát như thế. Đây là sự khải thị lúc ban đầu của Đấng Christ. ‘Vì trong Đấng Christ tất cả sự đầy dẫy của Thần Linh đang sống trong hình hài con người".
Chúa Jêsus "được Đức Thánh Linh xưng là công bình". "Xưng công bình" hay "chứng minh là đúng" có ý nói "tuyên bố công bình". Cách nói nầy có thể có hai ý nghĩa. Thứ nhứt, Chúa Jêsus "Thánh Linh" không đề cập tới Đức Thánh Linh mà nói tới chính mình Chúa Jêsus. Cho nên Chúa Jêsus đã được tuyên bố công bình trong Thánh Linh của Ngài. Ngài đã minh chứng lai lịch của Ngài là Đấng Mêsi bởi đời sống vô tội và sự chết có tính cách hy sinh của Ngài.
"Được Đức Thánh Linh xưng là công bình" cũng có ý nói rằng Đức Thánh Linh đã chứng minh đời sống Chúa Jêsus là đúng. Cả hai đều là thực: Rôma 1.4 chép Chúa Jêsus "theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép", Rôma 8.11 nói tới "Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết". Thế là chúng ta có phần chức vụ ở trên đất của Chúa Jêsus: sự hoá thân thành nhục thể và sự sống lại.
B. Cặp #2. Sự làm chứng của Chúa Jêsus.
Cặp thứ hai nói Chúa Jêsus "được thiên sứ trông thấy, được giảng ra cho dân Ngoại". Chúng ta hãy xem xét trước tiên Ngài đã được "thiên sứ trông thấy". Các thiên sứ nhìn ngắm Chúa Jêsus. Họ có mặt ở đó để đưa ra những lời công bố cho Mary và Giô-sép. Họ có mặt ở đó lúc Ngài ra đời. Họ đã phục sự Ngài khi Ngài chịu cám dỗ và thêm sức cho Ngài trong đêm Ngài bị nộp. Họ đã nhìn thấy sự chết có tính cách hy sinh và sự đắc thắng khi Ngài trở về trời. Một thiên sứ đã lăn hòn đá ra. Các thiên sứ đã hiện ra với mấy người đờn bà. Các thiên sứ đã giải thích sự thăng thiên cho các môn đồ. I Phierơ 1.12 nói tới các tiên tri như sau: "Các đấng ấy đã được tỏ cho rằng chẳng phải vì mình, bèn là vì anh em mà truyền ra những điều đó, là những điều hiện nay đã rao cho anh em, bởi những người nhờ Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống, mà giảng Tin Lành cho anh em; các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó".
Sự làm chứng của thiên sứ chỉ là một sự xác minh khác về vai trò của Chúa Jêsus là Con của Đức Chúa Trời và là Cứu Chúa của chúng ta. Tuy nhiên, không những Chúa Jêsus đã được trông thấy từ các từng trời, mà còn ở đây trên đất nữa. Ngài đã và đang được "rao giảng giữa vòng dân Ngoại". Các thiên sứ đã nhìn thấy Ngài và họ đã ở gần Ngài nhất. Các dân Ngoại đã và đang có Tin lành của Ngài được rao giảng cho họ và họ đang ở xa Ngài lắm. Vì vậy, tất cả các loài thọ tạo, cả gần và xa đã nhìn thấy sự làm chứng của Chúa Jêsus.
C. Cặp #3. Sự tiếp đón Chúa Jêsus.
Chúa Jêsus được "thiên hạ tin cậy và được cất lên trong sự vinh hiển". Chúa Jêsus đã được nhận lãnh ở hai nơi khác biệt: "thế gian" và "trong sự vinh hiển". Sự thực cho thấy rằng sứ điệp nói tới Đức Chúa Jêsus Christ đã làm thay đổi nhiều đời sống trong hơn 2000 năm qua là sự làm chứng không thể chối cãi được. Hãy suy nghĩ xem! Một người thợ mộc từ xứ Galilê bị đóng đinh trên thập tự giá tại xứ Palestine. Thế mà, trong 70 năm, sứ điệp của Ngài đã lan rộng khắp trên thế giới có người ở và ngày nay vẫn còn lan rộng.
Giăng 1.10-13 chép: "Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài. Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy".
Phaolô nói: "Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu. Nhưng ta đã đội ơn thương xót, hầu cho Đức Chúa Jêsus Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta là kẻ làm đầu, để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài được sự sống đời đời".
Người ta vẫn còn tiếp nhận Chúa Jêsus hôm nay. Giúp cho họ tiếp nhận là sự vui mừng và khoái lạc của chúng ta. Tuy nhiên, không những có nhiều người tiếp nhận Chúa Jêsus "trong thế gian", hãy hình dung sự Ngài được tiếp nhận "trong sự vinh hiển" xem. Nếu các thiên sứ đã cất tiếng hát vang lừng khi Ngài hạ sanh, hãy tưởng tượng họ đã cất tiếng hát ra sao khi Ngài ngồi xuống, công việc Ngài đã hoàn tất! Họ phải hát ca bằng lời của Thi thiên 24.7-10: "Hỡi các cửa, hãy cất đầu lên! Hỡi các cửa đời đời, hãy mở cao lên! Thì Vua vinh hiển sẽ vào.Vua vinh hiển nầy là ai? Ấy là Đức Giê-hô-va có sức lực và quyền năng, Đức Giê-hô-va mạnh dạn trong chiến trận. Hỡi các cửa, hãy cất đầu lên! Hỡi các cửa đời đời, hãy mở cao lên, thì vua vinh hiển sẽ vào. Vua vinh hiển nầy là ai? Ấy là Đức Giê-hô-va vạn quân, chính Ngài là Vua vinh hiển".
Chúng ta có thể ăn ở với một tư thế xứng hiệp và hoàn tất sứ mệnh của mình là những người canh giữ lẽ thật vì cớ quyền phép của sứ điệp. “Đức Chúa Trời được tỏ ra trong xác thịt, thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, được thiên sứ trông thấy, được giảng ra cho dân ngoại, được thiên hạ tin cậy, được cất lên trong sự vinh hiển” Amen!
***

1 Timothy 3.8-13: "Các chấp sự – Tôi tớ bầy chiên của Đức Chúa Trời"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Các chấp sự – Tôi tớ bầy chiên của Đức Chúa Trời
1 Timothy 3.8-13
Lẽ đạo quan trọng của thư tín I Timôthê là oikonomos của Đức Chúa Trời, luật lệ trong nhà của Đức Chúa Trời, công việc của Ngài. Phaolô đã viết cho con mình trong chức vụ, là Timôthê, để dạy dỗ và khích lệ Timôthê trong chức vụ với Hội thánh Êphêsô. Mục đích của ông khi viết đã được trình bày rất rõ ràng trong 3.14-15: "Ta…viết thơ nầy,…con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy”. Tất nhiên khi Tân ước nói tới "nhà Đức Chúa Trời" và "Hội thánh", thì không có ý ám chỉ đến toà nhà, mà ám chỉ đến hội chúng những tín đồ. Timôthê không cần các lời giáo huấn nói tới toà nhà để làm nhà thờ sẽ ra như thế nào, nhưng nói tới những con người dựng nên Hội thánh, họ phải suy nghĩ, hành động, dáng dấp và nói năng phải như thế nào kìa! Chúng ta có thể tóm tắt I Timôthê theo cách nầy. Mục đích của chúng ta là lấy việc của Đức Chúa Trời làm công việc của chúng ta. Chúng ta cần phải làm mọi sự chúng ta đang làm vì mục đích thực thi công việc truyền giáo và môn đồ hoá của Đức Chúa Trời.
Sau khi khích lệ chúng ta cầu nguyện "cho mọi người" để được cứu và vai trò của phụ nữ trong Hội thánh, Phaolô bước sang chương ba nói cho Timôthê biết phải lãnh đạo Hội thánh như thế nào! Các vị lãnh đạo chủ chốt trong Hội thánh cần phải là những trưởng lão hay các đấng tiên kiến. Những người nầy đã được kêu gọi, có đủ tư cách và ân tứ để lãnh đạo Hội thánh, dạy dỗ Hội thánh, chăn dắt Hội thánh và cầu thay cho Hội thánh. Mọi nổ lực mở mang Hội thánh của Phaolô luôn bao gồm việc phát triển đông đảo các trưởng lão để lãnh đạo từng hội chúng địa phương. Công vụ Các Sứ đồ 14.23 chép: "Khi hai sứ đồ khiến lựa chọn những trưởng lão trong mỗi Hội thánh, cầu nguyện và kiêng ăn xong, thì dâng các người đó cho Chúa là Đấng mình đã tin đến”.
Trong 3.1-7, Phaolô đã đưa ra chi tiết các đức tính của những người hầu việc Chúa trong vai trò trưởng lão. Trong các câu 8-13, ông đưa ra một danh sách các đức tính cùng những phần thưởng cho chức vụ đứng hàng nhì trong Hội thánh, các chấp sự. Với tất cả phần chú trọng mới đây của chúng ta về chức vụ trưởng lão, tôi dám chắc có một sự lộn xộn mà vai trò chấp sự sẽ đóng trong công cuộc truyền giáo của Hội thánh. Đây sẽ là mục tiêu của chúng ta trong bài nghiên cứu nầy. Một trong những điều lợi lớn trong việc giảng từng câu một suốt cả Kinh thánh, ấy là quí vị xem xét từng câu trong nội dung của nó. Kinh thánh giải đáp mọi thắc mắc của chúng ta theo trình tự. Hôm nay chúng ta sẽ giải đáp nhiều thắc mắc về hạng chấp sự. Thực ra, tôi nghĩ chúng ta hết thảy sẽ tiếp thu một vài việc sẽ làm cho chúng ta phải ngạc nhiên.
Phân đoạn Kinh thánh nầy rõ ràng cho thấy có những chức vụ đã được công nhận trong Hội thánh địa phương: trưởng lão và chấp sự. Chúng ta sẽ bắt đầu phần nghiên cứu bằng cách xác định Ý NGHĨA chức vụ chấp sự, xem xét CÁC ĐỨC TÍNH dành cho chức vụ chấp sự và xem xét hai PHẦN THƯỞNG khi phục vụ Chúa trong vai trò một chấp sự trung tín.
I. Ý nghĩa chức vụ chấp sự (câu 8a).
A. Ý nghĩa từ ngữ “chấp sự”.
Vậy chấp sự là gì nào? Từ ngữ “chấp sự” có nghĩa gì? "Chấp sự" là một chuyển ngữ qua tiếng Anh từ Hy lạp diakonos, cơ bản từ nầy có nghĩa là "tôi tớ". Diakonos cùng với hai từ diakonia (phục vụ) và diakoneo (hầu việc) đã được sử dụng khoảng 100 lần khắp cả Tân ước. Chỉ có hai lần chúng được sử dụng để ám chỉ một chức vụ, ở đây trong I Timôthê 3 và trong Philíp 1.1 là chỗ Phaolô viết: "gởi cho hết thảy các thánh đồ trong Đức Chúa Jêsus Christ, ở thành Phi líp, cùng cho các giám mục và các chấp sự".
Từ ngữ gốc đề cập tới việc phục vụ như người đầy tớ, như đang đứng đợi bên mấy cái bàn. Theo thời gian, từ ngữ ấy được mở rộng đề cập tới bất kỳ một sự phục vụ nào. Chúng ta đã lần theo họ chữ trong Tân ước Hy lạp trải theo thời gian, chúng đề cập tới sự phục vụ lẫn nhau của chúng ta. Thí dụ, trong Mác 10.43-45, Chúa Jêsus phán: "Song trong các ngươi không như vậy; trái lại hễ ai muốn làm lớn trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ [diakonos, chấp sự]; còn ai trong các ngươi muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi mọi người. Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc [diakoneo, được hầu việc] mình, song để hầu việc [diakoneo, phục vụ] người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người”.
Ý nghĩa thứ hai của từ ngữ đề cập tới một ân tứ thuộc linh. Trong Rôma 12, Phaolô đưa ra một trong ba danh mục nói tới các ân tứ thuộc linh. Trong câu 7, ông nhắc tới ân tứ "chức vụ" hay phục vụ. Ân tứ nầy chính là diakonia. Nói cách khác, một số người có ân tứ "làm chấp sự", một ao ước và khả năng thuộc linh đặc biệt muốn phục vụ nhiều người khác bằng nhiều cách thức khác nhau.
Ý nghĩa thứ ba, trong đó diakonos được nhắc tới, ấy là nói về một chức vụ chính trong Hội thánh. John MacArthur bình luận như sau: "Theo ý nghĩa chung mỗi người đều là chấp sự, có người đặc biệt được ơn bởi Đức Thánh Linh đặng hầu việc, song vẫn có nhiều người khác nắm giữ chức vụ chấp sự. Họ nêu gương phục vụ về mặt thuộc linh cho mọi người khác. Họ hoạt động bên cạnh các trưởng lão, cung ứng sự giảng dạy và giám sát sinh hoạt thực tế của Hội thánh ".
B. Các chấp sự đầu tiên (Công vụ Các Sứ đồ 6).
Khi chúng ta quay sang Công vụ Các Sứ đồ 6, chúng ta thấy những gì tôi đang tin sẽ là trường hợp đầu tiên nói tới chức vụ chấp sự. Mặc dù từ ngữ "chấp sự" không thấy có ở đây và mặc dù một số giáo sư Kinh thánh sẽ không đồng ý, tôi tin phân đoạn nầy tóm tắt công việc của hàng chấp sự ở bên trong Hội thánh. Chúng ta nhớ rằng Hội thánh ở thành Jerusalem trong những ngày đầu sớm sủa đang tấn tới một cách nhanh chóng. Câu 1 chép: "bởi số môn đồ càng thêm lên". Các tín hữu ở đó đã có mọi sự và họ đã chia sẻ đồ ăn của họ. Trong hoàn cảnh ấy: "người Hê-lê-nít [Hy lạp] phàn nàn nghịch cùng người Hê-bơ-rơ, vì những người góa bụa của họ đã bị bỏ bê trong sự cấp phát hằng ngày". Những người goá bụa Hy lạp không nhận được sự chia sẻ công bằng về đồ ăn và sự phục vụ.
Cụm từ "mười hai sứ đồ", đó là các sứ đồ nào đang phục vụ như mẫu mực dành cho các trưởng lão đã nói: "Bỏ sự dạy đạo Đức Chúa Trời mà giúp việc bàn tiệc thật chẳng xứng hợp". Họ vốn hiểu rõ ưu tiên một của họ trong sự giảng dạy, lãnh đạo và cầu thay cho Hội thánh. Họ đã nói trong câu 4 rằng họ sẽ dâng chính mình họ "chuyên lo về sự cầu nguyện và chức vụ giảng đạo". Ý của họ là chỉ định "bảy người có danh tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh và trí khôn" rồi giao phó cho phần việc nầy.
Ý kiến nầy "cả hội đều lấy lời đó làm đẹp lòng" và họ đã chọn "bảy người đó cho các sứ đồ; các sứ đồ cầu nguyện rồi, thì đặt tay lên". Kết quả đã được thấy trong câu 7: "Đạo Đức Chúa Trời càng ngày càng tràn ra, số môn đồ tại thành Giê-ru-sa-lem thêm lên nhiều lắm. Cũng có rất nhiều thầy tế lễ vâng theo đạo nữa".
Mặc dù từ ngữ "chấp sự" không thấy có ở đây, mặc dù không ai trong bảy người đó từng được gọi là "chấp sự" ở một chỗ nào khác, chúng ta vẫn thấy một mẫu mực hay một gương về những gì hàng chấp sự phải lo làm.
C. Sự khác biệt giữa hàng chấp sự và hàng trưởng lão.
Khi ấy bèn có thắc mắc như sau: "Đâu là sự khác biệt giữa hàng trưởng lão và hàng chấp sự?" Cả hai chức vụ đều đòi hỏi hạng người chín chắn, đáng tôn trọng và có đủ tư cách. Tuy nhiên, họ khác biệt ở các bổn phận của họ. Trưởng lão, như các sứ đồ đã dâng mình vào sự "cầu nguyện và chức vụ giảng đạo". Trưởng lão cần phải có "khả năng giảng dạy". Trưởng lão cần phải lãnh đạo, là Mục sư và là người chăn trong Hội thánh. Mặt khác, chấp sự cần phải phục vụ. Họ cần phải nhận lấy những phần việc nào sẽ làm cản trở cho hàng trưởng lão. Tôi nghĩ có lẽ cách tốt nhứt để hiểu điều nầy được thấy ở trong câu nói nầy: trưởng lão là QUẢN GIA; chấp sự là ĐẦY TỚ. Trưởng lão lo liệu về mặt thuộc linh; chấp sự lo liệu về mặt thuộc thể. Thực tế mà nói, thì đúng như thế đấy. Các trưởng lão thường xuyên nhóm lại đặng cầu thay cho hội chúng, nghiên cứu Ngôi Lời và quyết định dẫn dắt Hội thánh đi theo và các quyết định Hội thánh cần phải đưa ra. Họ đi ra để làm thoả mãn các nhu cần thuộc linh của dân sự. Mặt khác, các chấp sự, đảm nhiệm các nhu cần về mặt thuộc thể của dân sự và thậm chí cả tài sản để cho các trưởng lão có thể tập trung trực tiếp vào những nhu cần thuộc linh.
Thí dụ, các chấp sự của chúng ta đang có vài trách nhiệm. Họ lo liệu về nhà thờ và tài sản của chúng ta. Họ giám sát chi tiêu của chúng ta. Họ đang khởi sự một chức vụ dành cho hạng người goá bụa. Họ lo liệu chức vụ trong bịnh viện. Họ phục sự Tiệc Thánh, lo công tác truyền giảng và giữ sự hiệp một trong Hội thánh.
II. Những đức tính dành cho chức vụ chấp sự (các câu 8b-12).
Trong bản Kinh thánh Anh ngữ, ở câu nầy có chữ "likewise" (tương tự thế). Điều nầy ấn định đây là chức vụ thứ hai trong Hội thánh. Cũng một thể ấy cùng với hàng trưởng lão, các chấp sự phải thoả các đức tính nhất định. Chấp sự phải lo liệu những phần việc giản đơn, nhưng họ chưa hẳn là hạng người tình nguyện. Họ nêu một tấm gương và lãnh lấy một số quyền hành nào đó.
A. Những đức tính cá nhân (các câu 8-9).
Thứ nhứt, một chấp sự phải thực "nghiêm trang". Từ ngữ có thể được dịch là "nghiêm trang" hoặc "chân thành". Họ nắm giữ các trách nhiệm một cách thẳng thắn. Warren Wiersbe nói một chấp sự nên "sử dụng chức vụ chứ không phải chỉ có đảm trách nó". Chức vụ chấp sự, giống như chức vụ của một trưởng lão là một chỗ để phục vụ, chớ không phải là chỗ để gây thanh thế. Thứ hai, và là đức tính thứ nhứt trong ba đức tính tiêu cực, một chấp sự không nên có "hai lời". Người không nên giống như con cắc kè bông, là hạng người nói một việc trước mặt người nầy rồi nói khác đi ở trước mặt người khác. Ở Đông Texas chúng ta có một câu nói về hạng người như thế: "Con chó ấy sẽ đi săn với bất cứ ai". Ai biết rõ về giống chó tai cụp đều biết chúng rất trung thành với chủ của chúng. Có người nói: "Nếu bạn nghĩ bạn là một nhân vật có ảnh hưởng, hãy thử ra lịnh cho con chó của ai đó xem". Chẳng có gì tệ hại cho bằng con chó tai cụp kia chạy săn mồi trước mặt từng thợ săn khác mà không phải là chủ của nó. Cũng một thể ấy, một chấp sự phải là một người trung thành với lời nói của mình. Will Rogers đã mô tả một người thể ấy như sau: "không sợ bán con vẹt của gia đình cho kẻ ngồi lê đôi mách ở phố chợ".
Thứ ba, một chấp sự không được "ghiền rượu". Chúng ta đã nói về vấn đề nầy rất chi tiết trong phần nghiên cứu cả ở đây trong I Ti-mô-thê và trong sách Tít. Chúng ta biết Kinh thánh truyền rằng không tuyệt đối kiêng rượu, nhưng chắc chắn rất ghét cảnh say xỉn. Một cấp lãnh đạo Hội thánh dù là trưởng lão hay chấp sự, là hạng người đạt tới mức độ chắc chắn sự làm chứng của người không bị hư đi, giống như thể kiêng hẳn rượu vậy.
Thứ tư, một chấp sự không được "tham lợi phi nghĩa". Người không được say xỉn về rượu hay tiền bạc. Mặc dầu người phải lo trợ cấp cho gia đình, một chấp sự không sống vì tiền bạc hay của cải. Điều nầy cũng rất là quan trọng vì trong nhiều Hội thánh các chấp sự phải lo thu những của dâng. Họ phải thật rời rộng và trong một số trường hợp phải lo ngân sách của Hội thánh. Các chấp sự phải biết thương người và biết sử dụng tiền bạc, chớ không phải chỉ lo sử dụng con người và ham mến tiền bạc.
Thứ năm, trong câu 9 chúng ta đọc rằng một chấp sự phải "lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin". "Lẽ mầu nhiệm của đức tin" là gì? "Lẽ mầu nhiệm" hay musterion là một từ ngữ Phao-lô mượn từ các thứ tôn giáo mầu nhiệm trong thời của ông. "Hệ thống thờ lạy hình tượng mầu nhiệm" nầy vốn có những sự dạy kín rằng quí vị chỉ có thể học hỏi bằng cách trở thành một chi thể trong các nhóm thờ lạy hình tượng đó. Chúng ta thấy một việc tương tự với việc đó trong các hội đoàn hay câu lạc bộ. Hội Masonic Lodge giữ nhiều điều kín nhiệm chỉ được truyền dạy cho các thuộc viên của hội mà thôi. Phao-lô đã thực thi cách chơi chữ khi ông đề cập tới "lẽ mầu nhiệm của đức tin". Cơ đốc giáo không thể hiểu được trừ phi người ta tiếp nhận nó. Một người hư mất không thể hiểu được hệ thống tín điều của chúng ta trừ phi người ấy tiếp nhận nó cho bản thân mình. Đấy là những gì I Cô-rinh-tô 2.14 nói tới: "Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự dồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng".
Tuần nầy tôi thực sự rất ngạc nhiên khi thấy các phóng viên phỏng vấn Heather Mercer và Dayna Curry, hai vị giáo sĩ người Mỹ đã bị quân Taliban bắt làm con tin nhưng đã được phóng thích vào tuần nầy. Khi họ đưa ra những thắc mắc về Cơ đốc giáo và lý do tại sao những phụ nữ nầy đang lo làm những việc mà họ đang làm, tôi nhận ra hai người nầy chẳng có một ý niệm là một Cơ đốc nhân thì phải như thế nào! Đối với các chấp sự lo giữ "lẽ mầu nhiệm của đức tin" ắt họ phải hiểu rõ Cơ đốc giáo và phải là học viên Kinh thánh.
Họ không bị buộc phải dạy dỗ giống như cấp trưởng lão, nhưng họ cần phải biết rõ Kinh thánh và tỏ ra một sự đầu phục vâng theo Kinh thánh. Đấy là ý nghĩa của một "lương tâm thanh sạch". Họ là hạng người biết vâng theo Kinh thánh. Họ là những tấm gương cần phải noi theo. Như có người đã nói: "Chúng ta là quyển Kinh thánh duy nhứt mà nhiều người từng đọc được. Cái họ cần là một ấn bản mới".
B. Sự thử thách của hàng chấp sự (câu 10).
Hãy chú ý trong câu 10 nói rằng hễ ai trở thành một chấp sự phải "chịu thử thách trước đã". Giống như các trưởng lão, họ không cần phải là nhà tu hay tân tín hữu (câu 6). Họ phải là hạng người là những tấm gương phục vụ trong một khoảng thời gian nào đó trước khi họ chính thức biệt riêng ra trong vai trò chấp sự.
"Thử thách" nằm trong thì hiện tại cho thấy đây là một hành động đang tiếp diễn. Đúng ra câu nầy phải được dịch là: "Cứ giữ họ bị thử thách luôn". Nhiều truyền khẩu cho thấy chấp sự trong Hội thánh là một sự ấn định trọn đời. Nghĩa là, từng là một chấp sự, thì luôn luôn là một chấp sự. Theo ý của tôi, một chấp sự nên giữ lấy chức vụ bao lâu người ấy có đủ tư cách để làm chấp sự. Trong khi làm chấp sự, người phải "không chỗ trách được".
Khi chúng ta lo liệu chức vụ trưởng lão, chúng ta quyết định rằng cấp trưởng lão phải được phê chuẩn hàng năm. Có lẽ đấy sẽ là một chương trình tốt đẹp cho hàng chấp sự của chúng ta nữa.
C. Các đức tính dành cho nữ giới (câu 11).
Hãy chú ý cách cẩn thận câu 11: "Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trang, chớ nói xấu…". Hãy chú ý "của các chấp sự" được in nghiêng có ý nói đây là một từ ngữ không có trong bản gốc. Từ được dịch là "vợ" là gune cũng được dịch một là "vợ" hay "người nữ" như nhau. Chúng ta có thể dịch một cách chính xác cụm từ nầy: "Tương tự thế, nữ giới phải cho nghiêm trang…" Bản Kinh thánh NRSV chép: "Nữ giới phải cho nghiêm trang…" Bản Kinh thánh NAS chép cũng y như vậy. Điều nầy đưa chúng ta đến với hai sự giải thích khả thi. Thứ nhứt, những lời giáo huấn nầy quả thực đang đề cập tới vợ của các chấp sự hay thứ hai, chúng đề cập tới một giai cấp khác thuộc phái yếu hay các nữ chấp sự.
Đây không phải là một quan điểm có định kiến mới mẻ trong Kinh thánh. Thực ra đây là một sự dạy đáng chấp nhận trong Hội thánh rất sớm sủa trong thế kỷ thứ hai. Tham khảo theo Kinh thánh duy nhứt chúng ta có đối với chức vụ nữ chấp sự là Rôma 16.1: "Tôi gởi gắm Phê-bê, người chị em chúng ta cho anh em, người làm nữ chấp sự [diakonos – nữ chấp sự] của Hội thánh Xen-cơ-rê". Bản Kinh thánh NRSV dịch là "nữ chấp sự".
Là một việc đáng phải xem xét, cho phép tôi cung ứng cho quí vị một vài lý do tại sao điều nầy đề cập tới một chức vụ phân biệt về nữ chấp sự thay vì là vợ của các chấp sự.
+ Thứ nhứt, câu 11 biệt riêng nữ giới với chữ “tương tự” giống như các chấp sự phải biệt riêng ra đối với hàng trưởng lão trong câu 8. Cho nên câu nầy đáng phải dịch là: "tương tự, các chấp sự" và "tương tự, các nữ chấp sự".
+ Thứ hai, cụm từ "của các chấp sự" không phải là một phần có trong bản gốc. Không có một đại từ sở hữu hoặc mạo từ xác định nào đứng trước từ ngữ "vợ" để nối chúng với các chấp sự.
+ Thứ ba, Phaolô không đưa ra bất cứ một đức tính nào dành cho vợ của các trưởng lão cả. Tại sao vợ của các chấp sự phải thoả các tiêu chuẩn nhất định không áp đặt lên vợ của hàng trưởng lão?
+ Thứ tư, cụm từ "nữ chấp sự" không được sử dụng vì không có một từ như thế trong ngôn ngữ Hy lạp. Hình thái giống đực của từ diakonos đã được sử dụng nói tới cả người nam lẫn người nữ như phần nhắc tới chức vụ của Phê-bê trong Rôma 16.1.
Vì lẽ đó, chúng ta có thể kết luận rằng mặc dù chúng ta không biệt riêng ra một người nữ hay nhiều người nữ nắm lấy chức vụ chính thức về nữ chấp sự, thì chắc chắn chẳng có gì là phi Kinh thánh khi làm như vậy. Warren Wiersbe tóm tắt thắc mắc nầy như sau: Một số học viên [của Kinh thánh] nghĩ rằng câu 11 đề cập tới nữ chấp sự, chớ không đề cập tới vợ của các chấp sự, mà còn đề cập tới thứ tự khác của những người phục vụ – những nữ chấp sự. Nhiều Hội thánh đang có những nữ chấp sự, họ đang phụ giúp với việc làm của nữ giới, trong lễ báptêm, trong những thì giờ thông công, v.v… Phê-bê là một nữ chấp sự trong Hội thánh tại Xen-cơ-rê. Có lẽ trong một số Hội thánh, vợ của các chấp sự đã phục vụ trong vai trò nữ chấp sự. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời vì chức vụ của nữ giới tin kính trong Hội thánh địa phương, dầu họ nắm giữ chức vụ hay không! Nắm lấy một chức vụ để có một công việc hay luyện tập một ân tứ thì chẳng phải là cần thiết đâu.
Trong trường hợp chúng ta đề cập tới vợ của các chấp sự hiện nay của chúng ta hay tại một thời điểm nào đó trong tương lai, chúng ta ấn định một người nữ tin kính vào chức vụ nữ chấp sự, có một vài đặc điểm mà họ cần phải tỏ ra.
Thứ nhứt, người phải sống sao cho "nghiêm trang". Đây cũng chính là từ ngữ biểu thị đặc điểm dành cho hàng chấp sự. Người phải là một người nữ tin kính, nghiêm nghị. Người ta sẽ bắt chước theo người về lòng tin kính của người đối với Chúa và đối với Hội thánh của Ngài.
Thứ hai, người không nên là kẻ chuyên "nói xấu" hay một "kẻ ngồi lê đôi mách" (bản Kinh thánh NAS). Thú vị thay, từ Hy lạp ở đây là diabolos, một từ ngữ thường dùng để mô tả Satan. Người không phải giống như ma quỉ đâu, hắn là "kiện cáo anh em chúng ta, kẻ ngày đêm kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời” (Khải huyền 2.10).
Thứ ba, người phải "tiết độ", chớ không phải một người say xỉn, mà là một nhân vật tỉnh táo.
Sau cùng, người cần phải "trung tín trong mọi việc". Người phải đáng tin cậy với lời lẽ và hành động của mình. Người phải là loại người có tiếng tốt, không chỗ trách được.
D. Những đức tính gia đình (câu 12).
Giống như các trưởng lão, những chấp sự phải là "chồng của một vợ". Chúng ta đã đi vào chi tiết điều nầy trong câu 2, vì vậy tôi sẽ không đi vào chi tiết ở đây. Giống như bậc trưởng lão, chấp sự phải là một người nam của một người nữ. Người phải tuyệt đối chung thủy với vợ mình. Như John Piper nói: "Người phải theo đuổi niềm vui thích riêng nơi sự vui vẻ thánh khiết với vợ của mình". Tôi không tin điều nầy cản trở một người đã có sự ly dị theo Kinh thánh đâu đó trong quá khứ. Vấn đề không phải là số lượng của những cuộc hôn nhân mà là chất lượng cuộc hôn nhân của người. Có nhiều người chỉ kết hôn một lần duy nhứt song chẳng phải là hạng người chung thủy. Tương tự, có nhiều người đã chịu khổ qua một lần ly dị không do sự lựa chọn riêng của họ, nhưng giờ đây là người chồng rất chung thủy, tin kính của người vợ chung thủy, tin kính. Chấp sự cũng phải là hạng người ai cũng biết là "khéo cai trị con cái và nhà riêng mình". Giống như cấp trưởng lão, gia đình của chấp sự phải là những tấm gương cho phần còn lại của hội chúng.
III. Phần thưởng cho chức vụ chấp sự (câu 13).
Câu 13 chép: "Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được…". Họ "được" hai phần thưởng đặc biệt.
A. Chấp sự trung tín phát triển một bực cao trọng (câu 13a).
"Bực cao trọng" là một cách bày tỏ rất hay. Bản Kinh thánh KJV nói: "một cấp độ nhơn đức". Nếu quí vị muốn một học vị, quí vị phải đến trường đến lớp! Đấy không phải là điều được nói tới ở đây. "Bực" ra từ chữ bathmos. Trong các nhà tắm của người La mã, quí vị đi lên vài bực thang để bước vào trong hồ bơi. Ý ở trong cách nói nầy là "một bước lên cao". Một chấp sự phục vụ tốt kiếm được một cấp độ tôn trọng, ấy là "một bước lên cao" hơn so với nhiều người khác.
Đây không phải là vấn đề kiêu ngạo tội lỗi vì các chấp sự nhơn đức không tìm kiếm nấc thang đó. Tuy nhiên, họ có được nó. Hãy suy nghĩ về một vài chấp sự của chúng ta và họ được tôn trọng thể nào!?! Họ không phục vụ để được tôn lên trên một cái bệ. Tuy nhiên, chúng ta tôn trọng họ vì sự họ sẵn lòng phục vụ đó thôi.
B. Chấp sự trung tín phát triển một lòng dạn dĩ rất lớn (câu 13b).
"Dạn dĩ" có ý nói tới sự tin cậy. Họ càng cung ứng sự phục vụ cao chừng nào thì lòng tin cậy của họ càng lớn lên chừng nấy. Họ được lòng dạn dĩ "trong đức tin", họ xông xáo làm chứng sứ điệp Tin lành cho những người chưa tin. Họ đầy lòng tin cậy dấn thân vào sinh hoạt của hội chúng. Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì các chấp sự của chúng ta và cầu xin rằng Đức Chúa Trời sẽ dấy lên nhiều người hơn nữa trong sự hầu việc Ngài!
***

I Ti-mô-thê 3.1-7: "Những đấng tiên kiến của Đức Chúa Trời"



I Ti-mô-thê – Chuyển giao ngọn đuốc
Những đấng tiên kiến của Đức Chúa Trời
I Ti-mô-thê 3.1-7

Để hiểu rõ phân đoạn Kinh thánh gốc, chúng ta phải có một cái nắm bắt vững chắc về lẽ đạo của thứ tín I Ti-mô-thê. Sứ đồ vĩ đại Phaolô đang viết cho Ti-mô-thê, là "con đức tin" của ông, là người được chỉ định vào chức vụ Mục sư của Hội thánh Êphêsô. Trong những thời quá khứ, Hội thánh Êphêsô là một tấm gương về đạo thật và chức năng lãnh đạo mạnh mẽ, còn trong thời gian gần đây, phần nhiều người đã không được như thế. Các cấp lãnh đạo thuộc linh của bầy chiên đã bị chìm đắm trong những sự dạy giả dối chôn vùi Tin lành trong những chuyện tầm phào. Thay vì dạy Lời không thể sai sót của Đức Chúa Trời, họ đã nhắm vào "những phù ngôn và gia phổ vô cùng" (1.4). Thay vì rao giảng Tin lành ân điển, họ muốn trở thành "thầy dạy luật pháp" và đã dạy cách tuân giữ luật pháp lai căng Cơ đốc giáo và Do thái giáo (câu 7). Phaolô bảo Ti-mô-thê phải nhắm vào oikonomos, luật lệ trong nhà của Đức Chúa Trời, "công việc của Đức Chúa Trời" (NIV) hay "sự gây dựng tin kính" (1.4). Hội thánh một lần nữa lo biến công việc của họ thành công việc của Đức Chúa Trời, công việc của họ là công việc của Đức Chúa Trời. Họ cần phải đặt công việc chứng đạo và môn đồ hoá ở trước mặc khải của họ.
Phaolô minh hoạ công việc của Đức Chúa Trời trong chính đời sống ông là một người "ngày trước vốn là người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo", là người đã nhận lãnh ân điển của Đức Chúa Trời thật "dư dật". Vì ông là "đầu" hay tội nhân hạng nhất trong hạng tội nhân, đời sống của chính ông là một "gương cho những kẻ sẽ tin". Vì cớ đó, Phaolô truyền cho Ti-mô-thê phải "đánh trận tốt lành". Vị Mục sư trẻ tuổi nầy phải đánh trận tốt lành hầu giữ công việc của Đức Chúa Trời làm công việc của Hội thánh địa phương dù công việc ấy cần phải cất bỏ những vị lãnh đạo kia. Trong chương 2, Phaolô bước sang lẽ đạo cấu trúc của Hội thánh. Ông nói rằng "trước hết mọi sự" ưu tiên một phải là "cầu nguyện… cho mọi người". Hội thánh cần phải cầu nguyện để mọi người ở khắp mọi nơi đều sẽ được cứu. Lời cầu nguyện nầy là "lành và đẹp mắt" đối với Đức Chúa Trời. Đây là "ước muốn" của Ngài. Sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá là "giá chuộc mọi người". Vì thế, trong câu 8, Phaolô bảo "những người đàn ông" đều "giơ tay thánh sạch lên trời" mà cầu nguyện trước mặt Chúa.
Còn những người đàn bà thì sao? Nếu quí vị không có mặt ở đây tuần vừa qua, thì quí vị thiếu sót rồi. Chúng ta đã đặt nữ giới vào đúng chỗ của họ … như những nữ hoàng đẹp đẽ, thuận phục, có ảnh hưởng trong hội chúng, họ lo nuôi dạy con cái theo đường tin kính và quả thực đang trao ngọn đuốc cho thế hệ hầu đến. Hãy kiếm cuộn băng ghi âm đi! Tôi không thể giảng lại bài ấy đâu!
Thắc mắc rất hợp lý theo sau là ai sẽ lãnh đạo Hội thánh? Đây là lẽ đạo của chương 3 và 4. Chương 3 bắt đầu với các trưởng lão hay đấng tiên kiến và kế tiếp nói tới những chấp sự. Chương 4 đặc biệt xử lý với chức vụ của Mụcsư/Giáo sư. Vì vậy trong sứ điệp nầy từ 3.1-7, chúng ta sẽ xem xét ƯỚC AO muốn lãnh đạo Hội thánh trong vai trò một trưởng lão cùng những ĐỨC TÍNH để lãnh đạo Hội thánh trong vai trò một trưởng lão.
I. Một trưởng lão phải có sự ưa muốn lãnh đạo (câu 1).
Phaolô nói: "Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành". Tôi đi vào câu nầy với từng chi tiết trong phần nghiên cứu mới đây về sách Tít, vì vậy tôi sẽ tóm tắt và chỉ ra ở đây. "Giám mục" ra từ chữ episkopos, có nghĩa là "đấng tiên kiến". Có hai từ đề cập đến cùng một chức vụ. Từ rất phổ thông là presbuteros, thường được dịch là "trưởng lão" nói tới hạng người khôn ngoan, chín chắn. Từ thứ ba là poimen hay "mục sư".
Ba từ nầy mô tả những chức năng khác nhau của cùng một chức vụ. Trong I Phierơ 5.1-2, tất cả ba từ kết lại với nhau trong một phân đoạn nầy. Phierơ viết: "Tôi gởi lời khuyên nhủ nầy cho các bậc trưởng lão [presbuteros] trong anh em, tôi đây cũng là trưởng lão như họ, là người chứng kiến sự đau đớn của Đấng Christ, và cũng có phần về sự vinh hiển sẽ hiện ra: hãy chăn [poimaino, hình thức động từ của poimen có nghĩa là "chăn"] bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em; làm [episkopos] việc đó chẳng phải bởi ép tình, bèn là bởi vui lòng, chẳng phải vì lợi dơ bẩn, bèn là hết lòng mà làm".
Vì lẽ đó một "giám mục" cũng chính là người đứng vai trò "trưởng lão". Các bổn phận của người bao gồm tiên kiến hay lãnh đạo Hội thánh, dạy dỗ Hội thánh, trông coi Hội thánh và cầu thay cho Hội thánh. Khi Phaolô thiết lập các Hội thánh, ông đã ấn định các trưởng lão để lãnh đạo họ. Công vụ các Sứ đồ 14.23 chép: "Khi hai sứ đồ khiến lựa chọn những trưởng lão trong mỗi Hội thánh, cầu nguyện và kiêng ăn xong, thì dâng các người đó cho Chúa là Đấng mình đã tin đến". Phaolô đã viết cho Tít: "Ta đã để con ở lại Cơ-rết, đặng sắp đặt mọi việc chưa thu xếp, và theo như ta đã răn bảo cho con mà lập những trưởng lão trong mỗi thành" (Tít 1.5).
Quí vị sẽ thắc mắc: "Nếu Kinh thánh nói rõ ràng như vậy, các trưởng lão phải lãnh đạo Hội thánh địa phương, tại sao có nhiều Hội thánh không làm theo?" Cơ đốc giáo Mỹ và các Hội thánh Mỹ có bốn hình thức quản lý cơ bản.
 Thứ nhứt, có KIỂU MẪU THEO GIÁO HỘI. Kiểu mẫu nầy gồm có một giám mục cai trị trên một số nhà thờ hay giáo khu. Kiểu mẫu nầy trước tiên dấy lên trong lịch sử Hội thánh đầu tiên và vẫn còn được thực thi bởi Giáo hội Công giáo và những tín đồ Tin lành chuộng theo nghi thức. Vấn đề, ấy là Kinh thánh không hề áp dụng sự dạy của các trưởng lão vượt quá cấp độ của Hội thánh địa phương.
 Thứ hai, có KIỂU MẪU HỘI CHÚNG. Thực sự đây là một hình thức quản lý Mỹ nương vào ý muốn dân chủ của toàn thể Hội thánh. Theo mẫu mực nầy, mỗi người đều có một lá phiếu. Người tín đồ trưởng thành, tin kính nhất trong Hội thánh sẽ có lá phiếu của mình bị hủy bởi kẻ có địa vị thuộc viên, song chưa trưởng thành, chưa tin kính lắm.
Thực vậy, với ngoại lệ được hạn định trong Công vụ các Sứ đồ 6, chẳng có một tường trình nào trong Tân ước về việc bỏ phiếu cả. Chúng ta thấy các hội chúng đều nhất trí với và khẳng định các quyết định của những trưởng lão, nhưng không hề rút lại những quyết định chính yếu đối với các lá phiếu của hội chúng.
 Thứ ba, có KIỂU MẪU CAI TRỊ VỚI CHỨC VỤ MỤC SƯ. Một số Hội thánh để cho Mục sư đưa ra tất cả các quyết định. Từ ký các ngân phiếu cho đến kỹ luật Hội thánh, một mình Mục sư nắm hết quyền hành.
Bao lâu ông không sai sót và không đau ốm thì chẳng sao! Tôi không thể làm như thế vì tôi thường sai sót và đôi khi không thành công. Như thế sẽ là quá nhiều trách nhiệm cho một người. Hơn nữa, Phierơ nói rằng chúng ta những Mục sư "chẳng phải quản trị phần trách nhiệm chia cho anh em, song để làm gương tốt cho cả bầy" (I Phierơ 5.3).
 Thứ tư, có KIỂU MẪU TRƯỞNG LÃO THEO KINH THÁNH. Được kêu gọi, những người có đủ tư cách lãnh đạo và dạy dỗ Hội thánh. Ban trị sự trang bị cho Hội thánh. Hội thánh đang thực thi công tác truyền giáo. Hội thánh đang phát triển. Công việc của Đức Chúa Trời được thực thi. Những người chưa tin Chúa đã được nghe truyền giảng Tin lành.
Nhiều tín hữu đã được môn đồ hoá. Cộng đồng thay đổi. Đức Chúa Trời được vinh hiển. Đây là những gì kiểu mẫu ấy đang lo liệu cho chúng ta. Những trưởng lão của chúng ta gặp nhau mỗi tối thứ Tư lúc 8 giờ tối. Những buổi nhóm của chúng ta thường kết thúc rất muộn vào buổi tối. Chúng ta học hỏi Kinh thánh, bàn bạc nhiều đề mục và sử dụng nhiều thì giờ trên hai đầu gối trong sự cầu thay cho quí vị và cho cộng đồng của chúng ta. Khi những nan đề phát sinh, chúng ta yêu cầu mỗi người tìm kiếm mặt Chúa trong sự cầu nguyện. Nếu chúng ta không có một sự đồng lòng nào, chúng ta không đưa ra một quyết định nào cả. Khi Đức Thánh Linh hướng dẫn chúng ta hết thảy theo cách riêng đối với một quyết định với sự nhất trí, chúng ta cảm thấy chúng ta đã tìm được ý muốn của Đức Chúa Trời cho Hội thánh của chúng ta!
Chúng ta hãy trở lại với phân đoạn Kinh thánh gốc. Cụm từ đầu tiên: "lời đó là phải lắm…" khi chúng ta đã chú ý đặc biệt đối với các Thư tín Mục vụ. Cụm từ nầy được sử dụng 5 lần (1.15; 4.9; II Timôthê 2.11; Tít 3.8). "Lời ấy" có ý nói tới một lẽ thật hiển nhiên không cần phải minh chứng nữa. Đây là lời nói rất phổ thông giữa vòng các Cơ đốc nhân đầu tiên công tác lãnh đạo Hội thánh là một "việc tốt lành". Mọi người trong các Hội thánh đầu tiên đều tin rằng quả là một việc tốt lành khi "ưa muốn" lãnh đạo Hội thánh trong công việc của Đức Chúa Trời. Hãy chú ý cho cẩn thận, Phaolô nói vai trò nầy là dành cho "một người". Chúng ta xử lý chi tiết với vai trò của nữ giới trong Hội thánh vào tuần sau. Một phụ nữ không thể là một trưởng lão vì người không được phép "dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông". Đặc biệt chức vụ của trưởng lão là chức vụ của giáo sư có thẩm quyền.
Bảng Kinh thánh NKJV cũng như bảng Kinh thánh KJV sử dụng từ "ưa muốn" hai lần trong câu nầy. Tuy nhiên, trong bảng Hy lạp, có hai từ khác nhau. Trong trường hợp thứ nhứt, từ ngữ nầy có ý nói "làm rộng ra". Hãy hình dung quí vị đang làm cho một cái gì đó được rộng thêm ra. Hãy hình dung một vận động viên vươn mình vói tới đích trước đối thủ mình không đầy một giây xem. Đây không có ý nói tới động lực ở bên trong mà nói tới một sự vươn mình ra ở bề ngoài để thực hiện những bước cần thiết hầu trở thành một trưởng lão. Từ nầy phác hoạ ra một người cẩn thận nghiên cứu Kinh thánh, cẩn trọng xem xét cách xử sự và cá tánh của mình, khó chịu đối với chính tội lỗi của mình và lo chứng đạo và kỷ luật nhiều người khác.
Đây là một người bề ngoài làm công việc của một trưởng lão với hay không có sự chỉ định chính thức. Từ thứ hai dịch là "ưa muốn" giống như trong "ưa muốn một việc tốt lành" có nghĩa là "tấm lòng chú về" hay "ép buộc". Từ nầy có ý nói tới một ước muốn ở trong lòng về điều thiện thay vì điều ác. Hai động từ này cùng nhau mô tả một người bề ngoài dấn thân vào công tác truyền giáo vì cảm xúc bên trong vì cớ sự vinh hiển của Chúa và sự nhơn đức của con người.
Sự kêu gọi vào chức vụ trưởng lão khi ấy là một cảm xúc ở bên trong được đánh dấu bằng thể hiện ở bên ngoài. Đây không phải là sự ưa muốn nắm lấy quyền hành. Đây không phải là sự ưa muốn cai trị trên mọi người đâu. Đây không phải là sự ưa muốn nắm trong tay và sử dụng quyền hành. Đây không phải là sự ưa muốn được người ta chú ý và công nhận. Đây không phải là một sự ưa muốn được vinh quang cá nhân. Đây không phải là một sự ưa muốn mà ai đó truyền đạt cho quí vị. Đây là một sự kêu gọi sản sinh ra từ đáy lòng của người thuộc về Đức Chúa Trời. Một sự ưa muốn về địa vị là một sự ưa muốn không xứng đáng. Một người thể ấy không am hiểu vai trò hay mọi đòi hỏi của vai trò đó.
Khi một người nhận lãnh ơn kêu gọi của Đức Chúa Trời ở trong lòng, khi sự ưa muốn của người là hướng về công việc của Chúa, khi người vươn mình tới và ưu tiên hoá sự chứng đạo trên những ham muốn ích kỷ riêng của mình, tình cảm của người là vì "một việc tốt lành", sát nghĩa là một việc đẹp đẽ. Hãy gạch dưới chữ "việc", vì chức năng trưởng lão là một phần việc rất khó nhọc. Phaolô nói trong I Têsalônica 5.12: "Hỡi anh em, xin anh em kính trọng kẻ có công khó trong vòng anh em, là kẻ tuân theo Chúa mà chỉ dẫn và dạy bảo anh em". Từ ngữ nói tới chữ "việc" có ý nói tới: "lao động tới kiệt lực". Các trưởng lão của chúng ta dâng mọi sự của họ để phục vụ quí vị, cả những kẻ đang làm những công việc khác đặng nuôi gia đình của họ, và những kẻ đang kiếm sống từ chức vụ. Chức năng trưởng lão không phải là một địa vị; mà đó là công việc!
Tuần nầy, tôi có đọc một câu nói của Alvin L. Reid. Ông nói: "Hãy tưởng tượng xem. Osama bin Laden là một người, chẳng có vai trò gì chính thức trong bất kỳ một chính quyền nào, nhưng ông ta đang gây ảnh hưởng toàn bộ quả đất. Ông ta minh hoạ cho thực tại một cá nhân có thể có nhiều quyền lực hơn thủ lĩnh của các bang. Chỉ hãy tưởng tượng những gì Đức Chúa Trời có thể làm qua một người với một tình cảm muốn rao truyền Tin lành giống như bin Laden đang có đối với sự khủng bố. Nguyện tấm gương của ông ta, mặc dù là một kẻ tối tăm, khiến cho chúng ta phải tìm kiếm Đức Chúa Trời để lo liệu một việc lớn cho Đức Thánh Linh".
Có phải quí vị đang có sự “ưa muốn” tin kính, theo Kinh thánh vì cớ "việc tốt lành" của Đức Chúa Trời không? Vậy thì hãy áp dụng cho bản thân mình. Hãy chịu khó trong sự chứng đạo. Hãy hướng dẫn những người chưa tin đến với Đấng Christ. Hãy môn đồ hoá những người tin Chúa ra giống theo ảnh tượng của Đấng Christ. Khi ấy Đức Chúa Trời sẽ đặt quí vị vào vai trò lãnh đạo mà Ngài đang dành cho quí vị.
II. Một trưởng lão phải có những đức tính lãnh đạo (các câu 2-7).
Chúng ta chọn những trưởng lão như thế nào? Có phải chúng ta yêu cầu phải có những người tình nguyện không? Có phải chúng ta thực hiện những chỉ định rồi bỏ phiếu bầu không? Có phải chúng ta quyết định ai là thương gia giỏi nhất hoặc ai thành công nhất trong lãnh vực của họ không? Có phải chúng ta yêu cầu ai có ảnh hưởng lớn nhất không? Không, chẳng một ai trong số nêu trên. Trong Công vụ các Sứ đồ 14.23, Phaolô và Banaba: "lựa chọn những trưởng lão trong mỗi Hội thánh". Trong Tít 1.5, Phaolô dặn Tít trên đảo Cờ-rết phải "theo như ta đã răn bảo cho con mà lập những trưởng lão trong mỗi thành" .
Phaolô nói với Ti-mô-thê trong I Ti-mô-thê 5.22: "Đừng vội vàng đặt tay trên ai…". Chúng ta chọn những trưởng lão như thế nào? Tiến trình theo Kinh thánh dường như là lãnh đạo chọn lãnh đạo. Chọn như thế chưa đủ để ưa muốn chức vụ của đấng tiên kiến hay trưởng lão. Một người cũng phải có tư cách xứng đáng. Giờ đây Phaolô trao cho Ti-mô-thê một danh sách mười sáu thuộc tính của một trưởng lão. Danh sách không phải chỉ có từng ấy thôi, mà là tiêu biểu cho loại người mà Đức Chúa Trời sẽ kêu gọi để lãnh đạo Hội thánh của Ngài. Chúng ta sẽ mau chóng bước qua từng đức tính một.
A. Người cần phải không chỗ trách được (câu 2a).
"Trách" có nghĩa là "quở trách" hay "không thể cáo được". Cách xử sự của người phải như vậy, nghĩa là chẳng có một tì vít nào rõ ràng về mặt đạo đức. Trong phần nghiên cứu sách Tít của chúng ta, tôi đã nói tới đức tính nầy: "Không chỗ trách được mô tả một người chẳng có một cáo buộc nào. Cá tánh cùng cách ứng xử của người chẳng có gì phải thắc mắc. Người rất thoải mái không bị ai cáo giác điều gì. Bạn có thể ném bùn vào người suốt cả ngày và vì tính cách sống của người, chẳng một ai làm gì được người. Người là một nhân vật ngay thẳng hoàn hảo, thành thật và đạo đức không chao đảo. Người là một nhân vật mà bạn sẽ tin cậy với gia đình và tiền bạc của bạn. Nếu bạn cho người mượn chiếc xe của bạn, người sẽ trả nó lại với bình xăng đầy và rửa sạch đàng hoàng".
Để "không chỗ trách được" không phải là đức tính đầu tiên trong 16 đức tính, mà là đức tính mà 15 đức tính kia mô tả từng chi tiết rộng lớn hơn. Một người "không chỗ trách được" là loại người chỉ có một chồng một vợ. Người có hai con mắt chỉ dành cho vợ của mình mà thôi.
Một người "không chỗ trách được" là một người có con cái tin Chúa và biết vâng phục. Một người "không chỗ trách được" hiểu mình là một "quản gia", một quản lý các tài nguyên của Đức Chúa Trời. Một người "không chỗ trách được" không sống ích kỷ, không dễ giận, không uống rượu say sưa, không bạo lực, không ham mến tiền bạc và thành công. Mặt khác, một người "không chỗ trách được" mở cửa nhà mình, chia sẻ với người khác, yêu thích các việc lành, xem trọng đời sống mình, làm điều chi là phải, theo đuổi sự nên thánh, kềm chế bản thân và đào sâu vào những kho chứa Lời của Đức Chúa Trời. Cá tánh chính của một lãnh đạo thuộc linh là phải "không chỗ trách được". Phần còn lại các đức tính kia chỉ mở rộng trên ý nghĩa của tình trạng "không chỗ trách được".
Cho phép tôi nói thêm rằng tình trạng "không chỗ trách được" không có nghĩa là trọn vẹn vô tội đâu. Thậm chí người nào trông giống như Đấng Christ nhất giữa vòng chúng ta vẫn còn thừa tự tình trạng tội lỗi trong mọi xác thịt. Vì thế, một người "không chỗ trách được" là một người chẳng có một khuyết điểm nào rõ ràng về mặt đạo đức đem lại xấu hổ và quở trách trên danh của Đấng Christ và Hội thánh.
Tình trạng "không chỗ trách được" rất là quan trọng vì khi cấp lãnh đạo đi thì dân sự cũng đi theo. Những trưởng lão phải đề ra tiêu chuẩn công bình trên hết cho Hội thánh. Nếu những trưởng lão tìm cách lãnh đạo nhiều đời sống nên thánh, dân sự cũng sẽ làm theo như thế. Nếu các trưởng lão lo chứng đạo, Hội thánh sẽ lo truyền giảng. Nếu các trưởng lão giữ chặt lấy Ngôi Lời, thì hội chúng cũng sẽ như thế. Ngược lại, những trưởng lão dễ bị quở trách làm cho một Hội thánh cũng dễ bị trách cứ.
B. Người phải là chồng của một vợ (câu 2b).
Sát nghĩa dịch là: "Chồng của một vợ" nghĩa là "chồng của một vợ" hay "một đàn ông của một đàn bà". Quan niệm ở đây không những một người đàn ông chỉ có một người vợ cho cả trọn đời mình, mà người còn phải trung tín với người vợ mà Đức Chúa Trời đã ban cho người. Vấn đề không phải là số lượng nhiều người vợ, mà là đức tính của người chồng.
Tại một bữa tiệc, người ta đến hỏi Winston Churchill: "Nếu ông không là ông trong lúc bây giờ, ông muốn mình sẽ giống ai?" Vị Thủ Tướng Anh quốc bập bập điếu xi gà trong một phút rồi đáp: "Nếu tôi không phải là tôi trong lúc bây giờ, tôi muốn mình sẽ trở thành người chồng thứ hai của Bà Churchill". Khán thính giả ồ lên tán thưởng và Churchill đã minh chứng mình là một người đàn ông rất tin kính.
Một "đàn ông cho một đàn bà" có đôi mắt chỉ dành cho vợ mình mà thôi. Người không nhìn cách thèm muốn nơi những đàn bà khác. Người không phạm tội tà dâm. Người không tán tỉnh, ve vản. Người không được chung chạ bừa bãi. Người canh giữ cẩn thận tâm trí mình tránh những ý nghĩ kỳ quặc về tình dục bất hợp pháp. Người xây khỏi báo khiêu dâm. Người làm mọi sự có thể làm để giữ thanh sạch về tình dục và tránh bị quở trách như đã nói ở trên. Thắc mắc luôn luôn phát sinh: "Một người đã ly dị có thể làm một trưởng lão hay một chấp sự không?" Thứ nhứt, việc nầy nương vào bản chất của sự ly dị. Sự ly dị của người phải chăng là theo Kinh thánh? Phải chăng vợ người đã bỏ người? Phải chăng nàng phá vỡ lời thề về một thịt trong một mối quan hệ tà dâm? Hay, mặt khác, có phải người bỏ vợ mình để sống với một phụ nữ khác? Có phải sự ly dị của người là kết quả của sự người ham muốn tội lỗi không? Thứ hai, sự ly dị nầy nương vào loại người nào mà người đang thuộc về trong lúc bây giờ. Có phải người đã lập gia đình với người vợ thứ hai của mình để đỡ một thời gian không? Có phải người chung thủy với nàng không? Có phải cuộc hôn nhân của họ là một tấm gương cho nhiều người khác phải noi theo không?
Sự thực, ấy là một người đàn ông phải là "chồng của một vợ" nhưng chưa hẳn là một người “đàn ông của một người đàn bà". Tôi có biết nhiều người đàn ông chỉ làm một đám cưới nhưng đã có nhiều người đàn bà. Từ Nhà Trắng cho đến nhà của người lân cận của quí vị, đáng buồn lắm vì chuyện nầy quá thường rồi. Mặt khác, tôi biết những người đàn ông đã ly dị cách đây nhiều năm, nhưng giờ đây là những người chồng gương mẫu, họ yêu thương và ấp ủ vợ mình cùng lãnh đạo những gia đình tin kính. Quí vị muốn một trưởng lão cai trị trên quí vị thuộc hạng người nào?
Chúng ta hãy xem xét nội dung. Một trưởng lão phải là người "không chỗ trách được". Nói như thế có nghĩa là người chưa hề bị đổ thừa về bất cứ việc gì? Người phải "có tiết độ". Nói như thế có nghĩa là, chúng ta phải tìm cho ra những người chưa bao giờ, chưa hề uống một giọt rượu? Người cũng phải "hay tiếp khách". Nói như thế có nghĩa là người chưa hề tránh né một lời yêu cầu phải tiếp đón ai đó vào trong nhà mình? Người không được "hung bạo". Nói như thế có nghĩa là người chưa hề có mặt trong một cuộc tranh đấu? Tất nhiên là không rồi.
Tôi không nghĩ "chồng của một vợ" có ý nói người không xứng đáng trên cơ sở một cuộc ly dị ở đâu đó trong quá khứ kia của người. Nếu chúng ta xem xét từng tính chất giống như một số người xét đoán người nầy, chúng ta sẽ không hề tìm gặp bất cứ người nào không vít đủ để phục vụ trong vai trò trưởng lão hay chấp sự.
C. Người phải có tiết độ (câu 2c).
Sát nghĩa "tiết độ" dịch là "không lẫn lộn với rượu" hay "không có mùi rượu". Mặc dù Kinh thánh tuyệt đối chưa hề cấm đoán bất cứ ai sử dụng rượu, chắc chắn là có những mưu luận nghịch lại việc xả láng với rượu. Châm ngôn 20.1 chép: "Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào; Phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan".
Từ ngữ được áp dụng ở đây dường như có ý nói tới một người vốn có sức lực ở bên trong để nói “không” với sự quá độ của trần gian. Những áp lực của người không phải là áp lực cho người có lý trí, mà là cho người có linh hồn. Người có sự tiết độ.
D. Người phải có tài trí (câu 2d).
Có "tài trí" muốn nói phải khôn ngoan, biệt riêng ra, có sự xét đoán đúng đắn. Người là một người có sự bình an ở trong lòng. Người đang sẵn sàng và đáng tin. Chúng ta không cần những trưởng lão nào gàn dỡ và khoe khoang khoác lác từ đây trở đi. Chúng ta không muốn những trưởng lão nào không biết khi nào phải thôi nói, họ không thể giúp giữ lòng tin cậy, họ nói bất cứ thứ chi thoáng qua trong tâm trí họ.
Chúng ta muốn có những trưởng lão thật "nghiêm trang".
E. Người phải xứng đáng (câu 2e).
Gốc rễ của chữ nầy là kosmos, chữ nói tới sự sáng tạo có thứ tự của Đức Chúa Trời về muôn vật. Theo ý nghĩa đó, trưởng lão phải là một người có cách xử sự biết theo thứ tự. Đời sống của người đã được sắp xếp có thứ tự. Quí vị có bao giờ biết hạng người sống bừa bãi chưa? Chúng ta đã biết những gia đình sống bừa bãi như thế, họ không biết họ sẽ đến hay đi đâu. Nhà cửa của họ là một đống lộn xộn. Xe cộ của họ là một chỗ lung tung. Kế hoạch làm việc của họ là hỗn độn. Đời sống của họ là đủ thứ linh tinh. Trong khi chúng ta có thể yêu mến hạng người thể ấy, họ không phải là hạng người mà chúng ta cần cho chức vụ trưởng lão. Như câu 5 chép: "vì nếu có ai không biết cai trị [giữ cho có thứ bậc] nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời?"
F. Người phải hay tiếp khách (câu 2f).
"Tiếp khách" ra từ một từ kép có nghĩa là "mến khách". Trong kỹ nguyên Tân ước, khi có một vài nhà nghỉ hay quán trọ và những kẻ từng sống trong hầm tội lỗi, Cơ đốc nhân thường mở cửa nhà của họ cho những Cơ đốc nhân vãng lai khác, mặc dù họ chưa hề gặp trước đây bao giờ. Trưởng lão trong các Hội thánh đầu tiên cần phải nêu gương cho loại tiếp khách giàu ơn nầy. Trưởng lão vẫn phải là những người mở cửa nhà của họ tiếp các vị khách. Họ không phải canh chừng đời sống riêng tư của họ trong sự ích kỷ, mà phải mở cửa nhà mình tiếp các vị khách, giáo sĩ cùng những tôi tớ khác của Chúa vãng lai đến. Họ cần phải mời khách vào vì mối tương giao, sự cầu nguyện và học hỏi Kinh thánh.
G. Người phải khéo dạy dỗ (câu 2g).
Một trưởng lão phải bằng lòng và có khả năng dạy dỗ Lời của Đức Chúa Trời. Dạy dỗ Ngôi Lời là một đặc ân rất giàu ơn của Đức Thánh Linh. Một số có đặc ân ấy và một số thì không có. Không một chỗ nào trong danh sách các đức tính của hàng chấp sự là đặc ân dạy dỗ nầy. Tại sao? Chấp sự là những tôi tớ. Trưởng lão là hàng giáo sư. Một trưởng lão phải có đặc ân dạy dỗ, sự bằng lòng dạy dỗ và khả năng dạy dỗ.
Người phải là một nhân vật thuộc về Ngôi Lời. Tít 1.9 chép trưởng lão phải "giữ đạo thật y như đã nghe dạy, hầu cho có thể theo đạo lành mà khuyên dỗ người ta và bác lại kẻ chống trả". Một trong những nguyên tắc tự lo liệu các trưởng lão của chúng ta đã áp đặt cho chúng ta, ấy là chúng ta phải dấn thân vào chức vụ dạy dỗ.
Dù là dạy dỗ ở toà giảng, trong lớp học, nhóm nghiên cứu Kinh thánh tại gia hay tương giao học tập từng đôi một, mỗi trưởng lão phải dạy dỗ. Tại sao vậy? Có ba lý do. Thứ nhứt, chúng ta chu toàn nhiệm mạng theo Kinh thánh. Thứ hai, khi quí vị phải dạy dỗ, quí vị phải học hỏi. Thứ ba, nếu một người trong chúng ta sa vào tà giáo, sự dạy của người sẽ làm cho sáng tỏ ra.
Những trưởng lão khéo dạy dỗ là những trưởng lão chuyên tâm học tập. Không một người nào học Kinh thánh giống như những người phải đứng dạy Kinh thánh ấy. Trưởng lão phải xử lý có những thắc mắc khó về giáo lý. Họ phải là hạng người mạnh mẽ của Ngôi Lời, họ thường xuyên vững chãi hơn.
H. Người không được mê rượu (câu 3a).
Chúng ta đã nhắc tới rượu dưới "sự điều độ" rồi. Một lần nữa, không có một sự ngăn cấm nào trong Kinh thánh. Tôi không tin rượu trong Kinh thánh đề cập tới nước nho. Nếu đấy là trường hợp, tại sao Phaolô lại quan tâm một khi trưởng lão được cung ứng cho "nhiều nước nho"?
Tôi không uống rượu hay bất cứ một thứ rượu nào khác như một thứ bổn phận. Chủ yếu là tôi không muốn con cái của tôi khi lớn lên biết uống rượu. Tôi không muốn nêu một tấm gương cho quí vị phải dùng rượu. Tôi không muốn đưa ra một lời xin lỗi vì một người chưa tin Chúa từ chối Tin lành. Tôi biết một người nhơn đức với một người vợ tin kính, bà vợ nghĩ chồng mình chẳng cần gì đến Đấng Christ hay Hội thánh chỉ vì ông ấy uống bia mỗi tuần với một hai ông chấp sự.
I. Người cũng không hung bạo (câu 3b).
Một số người khó kềm được tánh nóng của mình. Giống như một ngọn núi lửa, khi hơi nóng bên trong lên tới độ sôi cực độ, chúng làm tan chảy bất cứ thứ chi nằm trên đường đi của chúng. Họ phun ra những lời nói và hành động hung bạo không còn có thể rút lại được. Chức vụ của Hội thánh sẽ thử sự kiên nhẫn của bất kỳ người nào. Người nào không thể kềm chế tánh ý mình thì chẳng sẵn sàng cho chức năng lãnh đạo trong Hội thánh.
J. Người không được tham tiền (câu 3c).
Mặc dù "đừng ham tiền bạc" không thấy có trong một số bản thảo Tân ước xưa nhất và vì lẽ đó không có trong các bản hiện đại, đức tính nầy chắc chắn là phải tùy theo Kinh thánh. Người sẽ không sử dụng chức vụ để nhét đầy túi mình và người sẽ không tiêu pha năng lực của mình cho sự thờ lạy đồng đôla. Thay vì thế, trưởng lão phải là một người rời rộng. Người luôn luôn sẵn sàng bố thí để giúp đỡ cho ai đó đang có cần.
K. Người phải mềm mại (câu 3d).
Trưởng lão là một người giàu ơn, kiên nhẫn; là người nhìn thấy những tác động gây nguy hại của tội lỗi và có lòng thương xót cho những ai đang vấp ngã.
L. Người phải hoà nhã (câu 3e).
Người sống rất bình an. Người không tìm cách gây hấn. Người sẽ chiếm lấy một chỗ đứng, nhưng người chọn chiến trận của mình cách cẩn thận. Người mau tha thứ và không cưu mang hận thù.
M. Người không được ham muốn (câu 3f).
Một số bản Kinh thánh dịch cụm từ nầy là: "thoải mái không ham muốn tiền bạc". Người không đánh giá sự thành công của mình trong cuộc sống bằng của cải vật chất cùng những thành tựu, mà bằng cách thức người đã phục vụ Chúa.
N. Người phải là nhân vật khéo cai trị nhà riêng mình (các câu 4-5).
Một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất khi xem xét đức tính của một người trong vai trò trưởng lão là nhà riêng mình. Có phải người "cai trị" hay quản lý khéo "nhà riêng mình" hay không? Có phải cuộc sống hôn nhân của người là một tấm gương cho nhiều người khác? Có phải con cái người đều sống "trong sự đầu phục" hoặc chịu dạy không? Có phải chúng đang tỏ ra "sự ngay thật" và lịch sự không? Không một người nào là một người chồng và người cha trọn vẹn cả đâu. Hết thảy chúng ta đều phạm phải sai lầm. Hết thảy chúng ta đều có những bất đồng với vợ của mình. Hết thảy chúng ta đều tỏ ra sự xét nét nghèo nàn với con cái của chúng ta hết lúc nầy tới lúc khác. Phần thử nghiệm ở đây, ấy là có phải gia đình của người sống phù hợp với tấm gương nêu trong Kinh thánh không?
Tại sao điều nầy quan trọng như vậy? Câu 5 hỏi: "vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời?" Nếu một người thất bại trong vai trò làm chồng làm cha, chắc chắn người sẽ thất bại trong vai trò trưởng lão. Những người làm cha và trưởng lão có nhiều điểm chung với nhau. Cả hai đều lo dàn xếp những cuộc tranh cãi. Cả hai phải hành động cách khôn ngoan. Cả hai phải sử dụng thẩm quyền một cách cẩn thận.
Cả hai phải dạy dỗ nhiều. Cả hai phải nêu gương. Cả hai phải lo xử lý với hạng người tội lỗi, ích kỷ. Cả hai phải thực thi phần kỷ luật thường xuyên. Cả hai phải khích lệ. Bảng danh sách còn tiếp tục nhiều nữa. Nếu một người không thể quản lý con cái của chính mình, người sẽ không bao giờ quản được con cái ngày càng tấn tới của Đức Chúa Trời được.
O. Người không được tự kiêu (câu 6).
"Một người mới học việc" có ý nói tới một người vừa mới trở lại đạo, một tân tín hữu. Tôi yêu mến những tân tín hữu, bất luận họ ở độ tuổi nào. Họ rất sốt sắng vì Chúa. Họ rất sốt sắng muốn học hỏi và lớn lên. Họ rất sốt sắng lo làm chứng, sốt sắng thờ phượng, sốt sắng cầu nguyện và sốt sắng học hỏi. Đối với mọi ao ước của họ, các tân tín hữu không hề được giao cho những địa vị có quyền lực. Họ chưa sẵn sàng và họ sẽ làm tổn thương và cũng một thể ấy với dân sự ở chung quanh họ. Tại sao vậy? Vì giao cho một tân tín hữu quyền hành giống như trao một đống 357 chai một lít rưỡi cho một đứa bé 5 tuổi. Nó sẽ xô đổ hết. Người sẽ dễ dàng rơi vào chỗ "tự kiêu". "Tự kiêu" có nghĩa là "thổi lên ngọn khói". Cái đầu của người sẽ ở trong ngọn khói. Người sẽ bị mù quáng bởi tính kiêu căng và người sẽ "sa vào án phạt của ma quỉ chăng". Lucifer, từng là một thiên sứ sáng láng, đã tưởng mình sẽ là Đức Chúa Trời và lãnh đạo một sự loạn nghịch trên thiên đàng. Hắn bị xét đoán và bị trục xuất. Chính sự kiêu ngạo đã hạ thấp Satan đó sẽ hạ thấp tân tín hữu xuống. Châm ngôn 16.18 chép: "Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã".
Phải mất bao lâu thì một Cơ đốc nhân mới lớn lên, ra khỏi chẳng đường "học việc"? Một số tấn tới rất nhanh chóng. Những người khác thì không. Tôi biết nhiều người họ đã được cứu chừng mấy chục năm nay, nhưng vẫn không thể nắm được quyền lãnh đạo. Ấy là do cái đầu của họ.
P. Người phải được người ngoại làm chứng tốt cho (câu 7).
Một trưởng lão phải "được người ngoại làm chứng tốt cho". Những người chưa tin Chúa cũng như các tín hữu phải tôn trọng người. Hãy suy nghĩ về sự ấy trong một phút xem. Những người chưa tin Chúa nhìn quí vị như thế nào? Có phải họ biết quí vị là một người chuyên trả hoá đơn đúng hạn không? Có phải họ nhìn thấy quí vị lịch sự, đáng trọng và tuân giữ luật pháp không? Có phải họ công nhận rằng quí vị giữ lời, quí vị đáng tin cậy không?
Làm sao một người chia sẻ Tin lành trong một cộng đồng đang nhìn thấy người ấy giống như một kẻ lừa gạt cho được? Loại danh tiếng nào Hội thánh sẽ có nếu Hội thánh cất nhắc một người lên nắm quyền lãnh đạo mà người ngoại biết rõ hắn là một kẻ chuyên lừa đảo và là kẻ bịp bợm?
Philíp 2.15 nói chúng ta cần phải cư xử theo một cách thức "được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian". Chúa Jêsus phán trong Mathiơ 5.16: "Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời".
Nếu một người với sự làm chứng nghèo nàn trong cộng đồng được biệt riêng ra trong vai trò trưởng lão, người ấy chắc chắn sẽ: "sa vào án phạt của ma quỉ". Satan là một kẻ hay săn lùng. I Phierơ 5.8 mô tả hắn là kẻ: "như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được". Hắn theo dấu chúng ta và lùng sục tìm kiếm chúng ta rồi mai phục để bắt lấy chúng ta. Hắn cũng là kẻ hay gài bẫy chuyên rình rập chúng ta. Khi tôi còn là một thiếu niên, tôi thường gài những cái bẫy trong thung lũng ở đàng sau nhà tôi. Tôi muốn bắt gấu trúc hay gấu túi. Những cái bẫy phải thật tinh vi. Chúng phải được che giấu, ngụy trang cho kỹ. Chúng phải có loại mồi với sự cám dỗ không thể cưỡng lại được. Satan đặt những cái bẫy rình rập cấp lãnh đạo của Hội thánh. Nếu hắn có thể "bẫy" một trưởng lão phạm tội, hắn có thể đưa cả Hội thánh vào trong sự "quở trách" trước mặt cả thế gian đang quan sát.
Cho phép tôi đưa ra cho quí vị ba ý tưởng.
1. Nếu quí vị có sự ưa muốn ở trong lòng về chức vụ lãnh đạo, hãy sánh nó với sự ham muốn ở bên ngoài về sự chuẩn bị.
2. Dù quí vị có là trưởng lão hay không, hãy nhận biết những đức tính nầy là mẫu mực cho tất cả những tín đồ.
3. Hãy cầu thay cho các trưởng lão để họ trở thành hạng người mạnh mẽ nắm chặt lấy những đức tính nầy và tránh được những cái bẫy của kẻ tội ác.
***

I Timôthê 2.9-15: "Địa vị của phụ nữ trong Hội thánh!"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Địa vị của phụ nữ trong Hội thánh!
I Timôthê 2.9-15
Một thế hệ qua, có một câu nói nghe rất kêu như sau: "Chỗ của một phụ nữ là ở trong bếp". Trong thập niên 1960 khi phong trào giải phóng phụ nữ đánh dấu cho tầm nhìn mới của chúng ta về nữ giới, câu châm ngôn xưa ấy đã được thay thế bằng câu: "Chỗ của một phụ nữ là ở ngoài chợ". Là Cơ đốc nhân, đừng quan tâm quá mức vào các quan điểm, nhận định của xã hội. Chúng ta muốn quan điểm mà Đức Chúa Trời toàn năng của chúng ta đã phán dạy trong Kinh thánh. Nếu tôi có thể tóm tắt phân đoạn có tính dạy dỗ rất quan trọng nầy trong Kinh thánh bằng một tư tưởng thì là tư tưởng nầy: "Chỗ của một phụ nữ là ở trong nhà thờ". Phân đoạn Kinh thánh nầy nói cho chúng ta biết cách thức Đức Chúa Trời mong muốn nữ giới phải hoạt động trong Hội thánh. Thực vậy, chúng ta sẽ xem xét từng chi tiết ba lời khuyên dành cho những phụ nữ tin kính. Trước khi chúng ta đào sâu vào, chúng ta hãy nhớ đến nội dung bức thư I Timôthê. Lẽ đạo chuyển giao ngọn đuốc đức tin từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Sứ đồ Phaolô đang viết cho vị Mục sư trẻ hơn là Timôthê khi ông đang phục sự tại Hội thánh Êphêsô. Hội thánh Êphêsô đã khởi sự rất tốt nhưng đã đi tắt và lạc mất những điều Kinh thánh ưu tiên trước sau. Phaolô viết cho Timôthê, khích lệ Timôthê đừng để cho tin lành bị chôn vùi bởi chuyện tầm phào hay các truyền thống thiên về với luật pháp, mà phải giữ lấy oikonomos (1.4, "sự gây dựng tin kính" – bảng Kinh thánh NKJV, "công việc của Đức Chúa Trời" – bảng Kinh thánh NIV), biến công việc truyền giáo của Đức Chúa Trời và công tác môn đồ hoá thành công việc của Hội thánh.
Điều nầy phải được thực thi như thế nào? Phaolô đưa ra phần cá nhân chứng đạo của ông nói tới ân điển “dư dật” của Đức Chúa Trời và thể nào đời sống của ông là "mẫu mực cho nhiều người tin theo". Ông bảo Timôthê phải "đánh trận tốt lành" phải đánh trận đánh đức tin tốt lành ở bên trong Hội thánh bằng cách trụ lại lo xử lý với các giáo sư giả và đưa Hội thánh nhắm thẳng vào công việc của Đức Chúa Trời. Trong chương hai, ông bắt đầu với ưu tiên một phải "cầu nguyện cho mọi người".
Trên hết mọi sự Hội thánh phải cầu thay, xin cho mọi kẻ hư mất đều được cứu vì khi chúng ta cầu thay cho từng người ở khắp mọi nơi được cứu rỗi, chúng ta sẽ phát triển một gánh nặng phải lo chia sẻ Tin lành với bất kỳ ai ở bất cứ đâu. Thắc mắc hợp lý kế tiếp là: ai đang lãnh đạo Hội thánh? Phaolô đặc biệt sẽ xử lý với thắc mắc ấy trong các chương 3 và 4 khi ông xử lý với các chức vụ của hàng trưởng lão, chấp sự, và Mục sư-Giáo sư. Trong phân đoạn Kinh thánh hôm nay, là phần cuối của chương 2, ông nói cho biết hạng người nào không được lãnh đạo Hội thánh, ấy là nữ giới.
Không chút nghi ngờ, đây là một phân đoạn có lắm tranh luận cho nhiều người. Phân đoạn nầy nằm ngay bề mặt ý niệm của xã hội về chức năng của nữ giới. Với sự dấy lên của phong trào phụ nữ hiện đại, nhiều nhà thờ và hệ phái đã tránh né phần lý giải hợp lý và theo truyền thống của phân đoạn Kinh thánh nầy. Họ đã phát triển nhiều "giải thích rất sáng tạo" để lẫn tránh mọi hàm ý của nó. Cho phép tôi chia sẻ chỉ trong một vài phút thôi.
Họ luận rằng phân đoạn Kinh thánh nầy phải được GIẢI THÍCH THEO MẶT VĂN HOÁ, nghĩa là phải có liên quan tới thời gian, địa điểm nhưng chẳng có một thẩm quyền nào trên chúng ta ngày nay. Chúng ta luôn luôn chú giải Kinh thánh theo mặt văn hoá. Nhìn biết xã hội mà Kinh thánh được viết ra trong đó rất quan trọng cho sự hiểu biết của chúng ta. Tuy nhiên, vấn đề mà các Hội thánh và hệ phái đang có với phân đoạn nầy không phải ở mặt giải thích, mà là ở mặt thần học. Vấn đề của họ, ấy là họ đã bỏ qua lẽ đạo không thể sai lầm được trong Kinh thánh. Họ đã quyết định nhấp lấy và chọn lựa các phân đoạn trong Kinh thánh mà họ chịu tin theo.
Họ luận rằng PHAOLÔ LÀ NGƯỜI CÓ ĐẦU ÓC PHÂN BIỆT GIỚI TÍNH rồi vì thế chúng ta không đếm xỉa đến điều chi ông nói về nữ giới. Những gì Phaolô nói tới vai trò của nữ giới rất thẳng thừng, rất đúng với những gì Chúa Jêsus đã phán dạy, những gì Phierơ đã nói và phù hợp với tính trọn vẹn của Kinh thánh.
Thứ ba, họ luận rằng Galati 3.28 NÂNG CAO những điều Phaolô dạy trong các thư tín Mục vụ. Galati 3.28 dạy một trong những lẽ đạo xuất sắc nhất trong Tân ước, rằng Đức Chúa Trời đang dựng nên một thân thể, Hội thánh một nhân loại mới. Câu nầy ghi như sau: "Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một". Mặt đất luôn bằng phẳng tại chân thập tự giá. Người nam không được nâng lên tới đẳng cấp cao hơn người nữ trong Nước của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đánh giá nữ giới cao bằng nam giới. Dầu Đức Chúa Trời đánh giá nam và nữ giới ngang bằng với nhau, Ngài đã ban ra cho họ những vai trò khác nhau và phân biệt.
Phân đoạn hôm nay không phải là một phân đoạn khó không hiểu được. Đối với nhiều người, đây là một phân đoạn khó chấp nhận và vâng theo. Đấy là một đặc điểm của Kinh thánh. Nó tấn công sự kiêu ngạo của chúng ta. Nếu sự ấn định của Đức Chúa Trời cho nữ giới đến một cách tự nhiên, chúng ta sẽ không cần đến phân đoạn nầy. Hỡi quí bà, thắc mắc không phải là: "Tôi có nên chấp nhận sự dạy nầy không?" Mà thắc mắc là: "Tôi sẽ vâng theo sự dạy nầy hay không?"
Khi chúng ta tìm cách hiểu rõ sự Đức Chúa Trời trông mong nơi nữ giới trong Hội thánh, chúng ta sẽ xem xét từng chi tiết ba lời khuyên nầy dành cho những phụ nữ tin kính.
I. Phụ nữ Cơ đốc phải biết làm đẹp (các câu 9-10).
Những cô gái nhỏ chào đời vào trong thế gian đánh giá cao nét đẹp của phái yếu. Chúng ta diện cho chúng bằng những chiếc áo đầm duyên dáng rồi nói cho chúng biết chúng đẹp đẽ là dường nào. Chúng ta trông chừng khoảng thực đơn của chúng vì chúng ta không muốn chúng bị béo phì. Chúng ta dạy cho chúng phải chải tóc như thế nào, đeo nữ trang làm sao, phải chưng diện thể nào!?! Điều luật bất thành văn: nét đẹp là một thứ quyền lực. Chẳng có gì là bí mật cả khi một phụ nữ trông dễ coi có thể kiếm được việc làm tốt hơn một phụ nữ trông bình thường. Nét đẹp là quyền lực. Đức Chúa Trời muốn nữ giới phải biết làm đẹp. Ngài muốn chúng ta phải có một Hội thánh đầy dẫy những phụ nữ xinh đẹp. Amen không? Vấn đề duy nhứt, ấy là Đức Chúa Trời định nghĩa nét đẹp khác hơn là chúng ta định nghĩa đấy. Chúng ta nghĩ tới một phụ nữ đẹp là có một gương mặt rạng rỡ, mái tóc mịn màng và những đường cong ở đúng vị trí của chúng. Kinh thánh dạy rằng nét đẹp chân chất của một phụ nữ không đặt ở chỗ trông nàng dễ coi như thế nào, mà ở những gì nàng làm và ở chỗ nàng là ai. Các câu 9-10 cho chúng ta biết nét đẹp tin kính là như thế nào!?! Câu 9 bắt đầu với "ta cũng muốn rằng". Cụm từ nầy đưa chúng ta ngược lại với câu 8, câu nầy nói rằng trong Hội thánh, những người đàn ông "đều giơ tay thánh sạch lên trời mà cầu nguyện, chớ có giận dữ và cãi cọ". Những người đàn ông trong Hội thánh cần phải cầu nguyện.
Nữ giới cần phải biết làm đẹp. Những câu nầy cung ứng cho chúng ta hai chìa khoá cho nét đẹp tin kính.
A. Nàng phải biết làm đẹp bởi SỰ TIN KÍNH chớ không phải tạo ra sự QUYẾN RŨ. Phaolô nói rằng nữ giới cần phải "ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá". Câu nầy đã bị lạm dụng để hạ phụ nữ xuống thấp. Một người bạn đến nói với tôi về một bài giảng mà ông ấy từng nghe được từ phân đoạn Kinh thánh gốc nầy có đề tựa là: "Nữ giới hách dịch, tóc ngắn vai". Chúng ta không muốn hạ nữ giới xuống thấp. Chúng ta muốn nâng họ lên cao đến mức độ mà Đức Chúa Trời mong muốn dành cho họ.
Những phụ nữ tin kính, đặc biệt khi họ đến nhà thờ cần phải "ăn mặc một cách gọn ghẽ". Từ ngữ "ăn mặc" ra từ chữ kosmeo từ đó chúng ta có từ "mỹ phẩm". Nó có nghĩa là "xếp đặt, đặt vào thứ tự, hay sẵn sàng". Nó có ý nói rằng nữ giới cần phải biết sửa soạn cho mình về dáng dấp bên ngoài. Một người nữ Cơ đốc không nên luộm thuộm giống như chiếc giường chưa dọn kia. Nữ giới tin kính cần phải "ăn mặc một cách gọn ghẽ".
"Gọn ghẽ" ra từ chữ có cùng gốc rễ với "trang điểm" có nghĩa là "có thứ tự". Chúng ta phải đóng ngoặc từ nầy như sau: "Nữ giới cần phải xếp đặt mình theo một tư thế có thứ tự". Tính gọn gàng có ý nói tới một nhận thức bẩm sinh về điều chi đúng và sai, điều chi nên hay không nên. Hỡi các bà mẹ, con gái của quí bà không gọn gàng cách tự nhiên đâu. Chúng cần phải được dạy dỗ về tính gọn gàng nầy.
Khi lần đầu tiên tôi bắt đầu vai trò Mục sư đặc trách cho thanh niên và đưa mấy đứa con tôi đi dự trại hè, chúng tôi có những người lớn đi loanh quanh với những điều luật đánh giá chiều dài của những chiếc váy và quần sọt. Tính gọn gàng không phải là thiên về với luật pháp. Tính gọn gàng là một nhận thức từ bên trong về điều chi là áo đầm đúng đắn và điều chi không đúng đắn. Hết thảy chúng ta đều đã trông thấy những phụ nữ chẳng có một ý thức gì về sự gọn gàng. Họ phô trương thân thể của họ và tưởng rằng chẳng có sao đâu. Tôi đã nhìn thấy những phụ nữ còn trẻ ngay ở đây trong Hội thánh nầy của chúng ta. Họ nhắc cho tôi nhớ tới Châm ngôn 11.22: "Một người đàn bà đẹp đẽ mà thiếu dè dặt, khác nào một vòng vàng đeo nơi mũi heo". Đúng là phí khi nhìn thấy một thiếu nữ đẹp chẳng có một ý thức gì về tính gọn gàng. Nét đẹp của cô ta là một sự hoang phí, giống như một vòng vàng đeo nơi mũi heo.
Cũng hãy chú ý nữ giới tin kính "ăn mặc … nết na và đức hạnh". "Nết na" ra từ một chữ có nghĩa là "mắt nhìn xuống" như đang rụt rè. Những nhà dịch thuật bản Kinh thánh KJV gọi đó là: "e thẹn". Nó biểu thị lòng tự trọng. "Đức hạnh" có ý nói đến sự suy xét chín chắn hay kềm chế. Một người nữ tin kính suy nghĩ về mình sẽ trông như thế nào!?! Nàng tự kềm chế không ăn mặc theo một cách sẽ không làm hòn đá ngăn trở cho Tin lành.
Khi một người đàn ông nhìn một người phụ nữ nào ăn mặc cách khêu gợi, phô bày da thịt và dáng dấp của mình, người ấy sẽ bị lôi cuốn đến với nàng, nhưng không thấy tính hấp dẫn của nàng. Người ấy sẽ ham muốn thân thể nàng chớ người không yêu mến linh hồn nàng. Nàng sẽ gợi lên tánh tội lỗi chớ không gợi lên tánh tin kính của người ấy. Khi một người nam Cơ đốc nhìn thấy một phụ nữ giống như thế, người ấy nghĩ tới một trong bốn điều về nàng ta.
1. Nàng THIẾU HIỂU BIẾT. Nàng không được giáo dục tốt. Nàng chẳng biết mình phải nên ăn mặc như thế nào!?!
2. Nàng HAM MUỐN. Nàng có đánh giá thấp về mình như vậy, đây là cách nàng cảm nhận tốt về mình hầu lôi kéo sự chú ý của nam giới. Nàng muốn được tiếp nhận theo bất cứ cách nào nàng được tiếp nhận.
3. Nàng KIÊU CĂNG. Nàng có một thân thể xinh đẹp và nàng biết rõ như thế. Nàng phô trương nó ra vì nó làm cho nàng cảm thấy mình cao tột. Nàng là một sự khiêu khích.
4. Nàng DỄ DÃI QUÁ. Nàng tiếp thị thân thể mình để nhận lấy những gì nàng muốn.
Vì vậy, Phaolô nói rằng những người đàn bà Cơ đốc vì lẽ ấy đừng quan tâm đến "những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá". Giờ đây, hãy chờ trong một phút. Có phải những người nữ Cơ đốc cần phải giống như những người nữ Hồi giáo chính thống, họ hay đội khăn trùm đầu và che từng cm da thịt không? Không. Phaolô không nói rằng một phụ nữ không thể thắt bím tóc của mình, đeo nữ trang hay mặc quần áo đẹp. Nàng chỉ đừng thái quá với thời trang và tạo sự quyến rũ thôi. Mối quan tâm của nàng là sự tin kính. Những người đàn bà giàu có trong Đế quốc La mã và đặc biệt trong một thành phố thương mại chính như Êphêsô bày tỏ địa vị của họ trong cuộc sống bằng cách kết vàng, bạc và thứ nữ tarng quí giá vào mái tóc của họ để chiếu sáng trong ánh đèn. Họ mặc loại áo choàng dài rất đắt tiền. Họ tiếp thị bề ngoài của họ hầu đạt được sự thăng tiến trong xã hội.
Mục đích của câu nầy rất là đơn giãn. Con đường tiến thân trong xã hội dành cho một phụ nữ, khi ấy cũng như bây giờ, là sử dụng nét đẹp và thân thể mình làm ưu thế đầy đủ nhất. Con đường tiến thân dành cho một phụ nữ trong Hội thánh là làm đẹp cho mình bởi tính gọn ghẽ, nết na và đức hạnh.
B. Nàng được đánh giá để PHỤC VỤ chớ không TỰ TÔN MÌNH LÊN.
Thay vì quan tâm thái quá với thời trang, một phụ nữ Cơ đốc cần phải ăn mặc với những gì "theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa" (câu 10). Khi quí vị nhìn thấy những người đàn bà lỗi lạc trong Kinh thánh, quí vị luôn luôn thấy họ đang phục vụ. Sê-phô-ra, vợ của Môise là một người nữ chăn chiên. Rê-be-ca đã kéo nước từ giếng lên cho bầy lạc đà của tôi tớ Ápraham uống. Người nữ Su-nem trong Nhã ca của Solomon đang lao động trong một vườn nho. Bê-rít-sin đã mở cửa nhà mình cho A-bô-lô và đã nhắc nhở ông. Đô-ca ai cũng biết đến vì những việc từ thiện của bà. Ly-đi là bà chủ và là người giúp đỡ cho Phaolô. Cái điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là quí vị chưa hề tìm gặp diện mạo của những phụ nữ lỗi lạc trong Kinh thánh. Quí vị chỉ thấy "những việc lành của họ" và "sự tin kính" là bản sắc của họ.
Một người đàn ông sẽ thèm muốn một thân thể chải chuốt, nhưng người sẽ yêu mến linh hồn của một phụ nữ chịu khó làm việc, kiên nhẩn, dịu dàng, giàu ơn và tin kính. Khi lần đầu tiên tôi gặp vợ tôi, tôi để ý nét đẹp dáng dấp bề ngoài của nàng. Khi tôi làm bạn với nàng, tôi đem lòng yêu mến "sự trang sức bề trong giấu ở trong lòng" (I Phierơ 3.4) của nàng. Khi chúng tôi cùng nhau lớn tuổi thêm, tôi yêu mến nàng vì bản tánh của nàng. Tôi nhìn thấy sự tin kính của nàng trong cách nàng hy sinh và chịu khó làm việc để dựng nên ngôi nhà cho gia đình chúng tôi và làm thoả mãn mọi nhu cầu của chúng tôi. Tôi cũng nhìn thấy sự phục vụ của nàng trong Hội thánh. Nàng không làm thuê. Nàng đã tình nguyện. Nàng làm việc, phục vụ, và hy sinh để cho nhiều người khác có thể được phục vụ cho. Đấy là những gì phân đoạn Kinh thánh nầy đang nói đến. Trong thế gian, con đường tiến thân là sự tự tôn phô trương vẽ đẹp bên ngoài không xấu hổ. Trong Hội thánh con đường tấn tới là một tâm tình tin kính gắn bó với sự phục vụ cung hiến.
II. Phụ nữ Cơ đốc biết thuận phục (các câu 11-14).
Nàng học biết phải YÊN LẶNG.
Trong câu 8, Phaolô nói tới tất cả “những người đàn bà” Cơ đốc theo cách chung chung. Bây giờ, trong câu 10, ông nói tới từng người "đàn bà" Cơ đốc theo cách riêng. Tại sao vậy? Vì mỗi người đàn bà đặc biệt phải vâng theo sự dạy nầy.
Khi đến với Hội thánh, Phaolô nói rằng một người đàn bà cần phải "yên lặng mà nghe dạy". Phierơ nói rằng người đàn bà cần phải có "tâm thần dịu dàng im lặng" (I Phierơ 3.4). Nàng phải là một người học hỏi trong sự yên lặng. Nàng không được lớn tiếng hay khó chịu. Chúng ta sẽ quay trở lại với tư tưởng nầy trong một phút. "Thuận phục" có nghĩa là "đứng dưới". Nàng phải tình nguyện xử mình "bằng mọi sự thuận phục" dưới quyền lãnh đạo của nam giới trong Hội thánh.
B. Nàng cần phải hành động CÁCH KÍNH CẨN.
Trước tiên Phaolô nói: "ta không cho phép đàn bà dạy dỗ". "Cho phép" bao gồm ý tưởng của một mạng lịnh. Nữ giới cần phải yên lặng với nhận thức không được dạy dỗ. "Dạy dỗ" là một động từ nguyên thể theo thì hiện tại cần dịch là "trở thành một giáo sư". Khi chúng ta buộc từ nầy với câu kế, "cầm quyền trên đàn ông". Cả hai: "dạy dỗ" và "cầm quyền" có ý nói tới chức vụ của các trưởng lão. Dạy dỗ là chức năng. Cầm quyền là chức vụ.
Khi chúng ta học hỏi trong sách Tít và chúng ta sẽ thấy một lần nữa trong chương 3, các trưởng lão là những đấng tiên kiến của Hội thánh và một phần khả năng của họ là "có khả năng dạy dỗ". Giống như một phụ nữ không nắm lấy quyền lãnh đạo chồng mình tại gia đình, nàng cũng không nắm lấy vai trò của trưởng lão trong Hội thánh. Vì thế một phụ nữ không được nắm lấy địa vị hay chức vụ của nhà truyền đạo hay giáo sư trên Hội thánh cách công khai.
Rõ ràng từ phân đoạn nầy và từ chương 3, Đức Chúa Trời không hề dự trù cho phụ nữ trở thành hàng Mục sư. Làm sao một phụ nữ trở thành Mục sư nếu nàng phải ở "trong yên lặng" tại Hội thánh chứ? Làm sao một phụ nữ có thể trở thành Mục sư nếu nàng không được phép "dạy dỗ" hay "cầm quyền"? Làm sao một phụ nữ có những đặc điểm của trưởng lão làm "chồng của một vợ" hay là người "cai trị nhà riêng mình" (3.2, 4). Để một phụ nữ nắm lấy chức vụ của một trưởng lão hay một Mục sư, nàng, Hội thánh của nàng, và hệ phái của nàng phải xé toạc sách I Timôthê ra khỏi quyển Kinh thánh của họ rồi tuyên bố bức thư không nằm trong hàng kinh điển.
Một số trong quí bà đang suy nghĩ: "Tại sao chứ? Tại sao một phụ nữ không thể trở thành Mục sư/Giáo sư? Tại sao một phụ nữ không thể là một trưởng lão? Tại sao một phụ nữ không thể dạy dỗ hội chúng?” Điều nầy dường như không công bằng. Điều nầy dường như không đúng. Điều nầy dường như mang tính cách phân biệt đối xử.
Chúng ta hãy suy gẫm về điều nầy trong vài phút xem. Sở dĩ như vậy là vì phụ nữ kém thông minh, kém khả năng hay kém năng động? Không phải như thế đâu. Cựu thống đốc bang của chúng ta là Ann Richards thường nói: "Nếu quí vị muốn loan báo điều chi, hãy trao điều đó cho một người đàn ông. Nếu quí vị muốn điều chi cần được thực hiện, hãy trao điều đó cho một phụ nữ". Trong khi tôi không đồng ý nhiều với phần chính kiến của Richard, tôi đồng ý ngay với câu nói ấy vì tôi nhìn thấy vấn đề ấy đã thực thi trong Hội thánh bất kỳ thời điểm nào. Chúng tôi, những người đàn ông trội hơn khi nói tới các vấn đề. Chúng tôi có thể bàn bạc nhiều ý tưởng và nhiều vấn đề trong nhiều giờ đồng hồ. Chúng ta có thể chỉ ra những điểm mạnh và các điểm yếu. Tuy nhiên, để hoàn tất bất cứ điều chi, những người phụ nữ của chúng ta chỉ muốn biết khi nào chúng ta cần công việc được hoàn tất và sẽ chi bao nhiêu!?! Câu nầy cũng nói rất rõ ràng rằng một phụ nữ không nên trở thành giáo sư hay cầm quyền trên những người đàn ông. Điều nầy không nói nàng không thể dạy dỗ cũng không thể cầm quyền. Điều nầy dạy rằng nàng không thể trở thành một giáo sư, trưởng lão, hay Mục sư trên Hội thánh.
Nữ giới cần phải trở thành giáo sư của nữ giới. Tít 2.3-4 đặc biệt nói rằng: "Các bà già … [phải] dạy đàn bà trẻ tuổi…". Nữ giới cần phải trở thành giáo sư cho con cái. Trong II Timôthê 1.5, sứ đồ nhắc cho người bạn trẻ của mình nhớ tới: "đức tin thành thật của con, là đức tin trước đã ở trong Lô-ít, bà nội con, và trong Ơ-nít, mẹ con". Rõ ràng là người bà và người mẹ tin kính trước tiên đã dạy dỗ Timôthê về đức tin.
Cho phép tôi nói rằng sự dạy dỗ con cái mọi sự không nhất thiết phải giao hết cho phụ nữ. Chúng ta cũng cần một số nam tính mạnh mẽ nêu gương cho đời sống của con cái chúng ta. Một số trong quí ông nên bắt tay làm việc trong chỗ đó.
Thậm chí Kinh thánh chỉ ra rằng một số phụ nữ có thể dạy dỗ một số đàn ông. Hãy mở ra ở Công vụ các Sứ đồ 18.24-26. A-qui-la và Bê-rít-sin là một đôi vợ chồng, họ là đôi bạn rất thân thíêt với Phaolô. Tình cờ thôi, A-qui-la có nghĩa là "chim phượng hoàng" và Bê-rít-sin có nghĩa là "khôn ngoan". Họ là chim phượng hoàng và người đờn bà khôn ngoan.
A-bô-lô là một người Do thái ở Alexandria, ông là "người có tài hùng biện và mạnh mẽ về Kinh thánh". Tuy nhiên, ông bị hạn chế trong tri thức của mình. Ông "đã dạy dỗ chính xác" những gì ông biết trừ ra thần học của ông cần được cơi rộng thêm. Cũng vậy, A-qui-la và Bê-rít-sin "đã đem ông riêng ra rồi giải thích cho ông đường lối của Đức Chúa Trời chính xác hơn". Người đàn bà khôn ngoan nầy không nắm lấy vai trò của nhà truyền đạo hay trưởng lão trên hội chúng, mà bà đã dạy riêng một người đàn ông sẽ nắm lấy chức vụ đó.
Chúng ta biết nữ giới có thể dạy dỗ và cầm quyền, nhưng tại sao họ không thể nắm lấy cùng những chức vụ trong Hội thánh giống như những người đàn ông? Phaolô cung ứng cho chúng ta hai lý do theo Kinh thánh ở các câu 13-14.
Lý do thứ nhứt là TRÌNH TỰ TRONG SỰ SÁNG TẠO. Phaolô tóm tắt Sáng thế ký 1-2 khi ông nói: "Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va". Họ không được dựng nên cùng một thời điểm. Đức Chúa Trời đã dựng nên Ađam "bằng bụi đất". Ê-va được dựng nên từ chiếc xương sườn lấy ra từ hông của Ađam. Từ ngữ Hêbơrơ nói đến "người nam" là ish. Từ ngữ Hêbơrơ nói đến "người nữ" là isha, "ra từ người nam". I Côrinhtô 11.7-9 nói về người nam: "…đờn ông là hình ảnh và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, thì không nên trùm đầu; nhưng đờn bà là sự vinh hiển của đờn ông. Bởi chưng không phải đờn ông ra từ đờn bà, bèn là đờn bà ra từ đờn ông. Không phải đờn ông vì cớ đờn bà mà được dựng nên, bèn là đờn bà vì cớ đờn ông vậy".
A-đam nói: "Ê-va, em có yêu anh không?" Ê-va đáp: "Anh yêu, chẳng có ai khác cho em trừ ra anh". Ê-va đã được dựng nên để làm "kẻ giúp đỡ giống như nó" (Sáng thế ký 2.18). Từ lúc ban đầu, Đức Chúa Trời đã tạo ra sự khác biệt giữa người nam và người nữ với những vai trò phân biệt.
Lý do thứ hai là TRÌNH TỰ CỦA SỰ SA NGÃ. Câu 14 chép: "Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi". Nói cách khác, Ê-va bị Satan "dỗ dành" và là người đầu tiên vị phạm mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Nàng là người đầu tiên phạm tội. Nàng bị "dỗ dành" vào sự suy nghĩ cho rằng nàng sẽ trở nên "giống như Đức Chúa Trời". Vì vậy, nàng đã nắm lấy quyền của Đức Chúa Trời và quyền của Ađam rồi "sa vào tội lỗi" hay sát nghĩa "trở thành kẻ phạm tội".
Rõ ràng là từ Sáng thế ký 3.6, Ađam đã sống với Ê-va và cũng để cho nàng khích ông phải phạm tội. Ông không "bị dỗ dành" mà bằng lòng phạm tội. Mỉa mai dường bao, tội lỗi của Ê-va đã vi phạm quyền của Đức Chúa Trời và chồng của mình. Tội lỗi của Ađam nằm ở chỗ nghe theo vợ mình.
Hãy xem Sáng thế ký 3.14. Nhân loại bị rủa sả là một kết quả của tội lỗi của họ. Satan, trong hình thức một con rắn, đã bị rủa sả. Trong câu 15, lời hứa về Đấng Mêsi là "dòng dõi của người nữ" được ban cho để chà nát Satan. Tuy nhiên, câu 16 cung ứng các kết quả sự sa ngã giáng trên nữ giới.
Thứ nhứt, nàng sẽ phải "buồn rầu" và "đau đớn" khi sinh con. Quí vị có biết lý do tại sao sinh con phải đau đớn không? Sở dĩ như thế là vì quí vị cho ra đời những tội nhân nhỏ bé vào trong thế gian và tội lỗi luôn luôn là đau đớn. Quí vị không phải dạy cho con cái phạm tội, đấy là bản tánh của chúng rồi. Chúng đem lại buồn rầu và đau đớn cho bố mẹ của chúng.
Thứ hai, nàng sẽ có một "dục vọng" dành cho chồng mình, nhưng người sẽ "cai trị" nàng. “Dục vọng” của nàng dành cho chồng mình là gì vậy? Phải chăng là nàng sẽ có một thứ xu hướng mạnh mẽ về tình dục dành cho chàng không? Mấy ông nghĩ xem có phải thế không? Không! Nói như thế có nghĩa là nàng sẽ có "dục vọng" muốn cai trị trên chàng. Nàng sẽ có "dục vọng" muốn chiếm lấy chỗ của chàng và nắm lấy quyền hành.
Hãy xem lại 14 câu đến 4.7, ở đó cũng chính từ ngữ "dục vọng" được sử dụng một lần nữa về sự cảnh cáo của Đức Chúa Trời đối với Cain. Đức Chúa Trời phán: "Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi [dục vọng] rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó".
Hỡi quí bà, phần của quí vị khi bị rủa sả trong sự sa ngã, ấy là quí vị có "dục vọng" muốn lấn lướt trên chồng mình. Quí vị muốn địa vị lãnh đạo của người. Thật là dễ dàng cho quí vị lấn lướt trên ông ấy, phê phán ông ấy, hạ thấp ông ấy ở trước mặt con cái mình và làm cho ông ấy phải đau buồn. Đấy là tình trạng tội lỗi trong chức năng làm phụ nữ của quí vị. Đó là tình trạng tội lỗi bẩm sinh. Tuy nhiên, "ngươi phải quản trị nó". Muốn trở thành một phụ nữ tin kính, quí vị phải xưng ra và bỏ đi dục vọng đó rồi đến dưới "sự thuận phục" chồng của mình.
Tuần lễ nầy tôi đã yêu cầu người vợ tin kính của tôi, người phụ nữ biết rõ tôi từ trong ra ngoài, là mẹ của bầy con tôi và dạy dỗ Kinh thánh hàng tuần không biết nàng có dục vọng muốn cai trị trên tôi hay không!?! Nàng đáp “có”. Đấy là lý do tại sao rất nhiều lần Kinh thánh truyền cho hạng người nữ tin kính phải bỏ đi tội lỗi mà hãy thuận phục.
III. Phụ nữ Cơ đốc cần phải có ảnh hưởng lớn (câu 15).
Câu cuối cùng nầy dường như có một ít rắc rối ở cái nhìn đầu tiên: "Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi". Chúng ta hãy hãy phân câu nầy ra thành từng cụm nhỏ. Câu nầy rõ ràng không có ý nói rằng nữ giới có sự cứu rỗi đời đời vì tội lỗi của họ đơn giản là bởi việc sinh con cái. Nhiều phụ nữ đã sinh con cái không được cứu và nhiều phụ nữ đã được cứu chưa hề sinh con cái. Ơn cứu rỗi rõ ràng là bởi ân điển nhơn một mình đức tin mà thôi.
Cũng hãy chú ý sự khác biệt giữa các nhân xưng đại danh từ: "nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi". Nàng đã là người đầu tiên phạm tội và đã thừa hưởng các dấu vít tội lỗi trong sự sa ngã, nhưng đời sống của nàng đã được chuộc và được xem là có giá trị lớn lao qua việc mang thai con cái, nàng sẽ chuyển giao ngọn đuốc "đức tin", "tình yêu thương", "sự nên thánh" và "đức hạnh".
Ảnh hưởng lớn lao nhất một người phụ nữ có thể tạo ra là nuôi dạy những đứa con Cơ đốc mạnh mẽ. Nữ giới không thể cai trị trên nam giới, nhưng nữ giới có thể nuôi dạy nhiều người nam. Theo xã hội, một trong những việc tệ hại nhất có thể xảy ra cho nữ giới là chức năng làm mẹ. Chức năng làm mẹ là điều một số người xem là loại gánh nặng tệ hại nhất. Chúng ta có một công nghệ giữ cho phụ nữ không mang thai con cái, nắm lấy quyền sanh sản. Chúng ta có một công nghệ giữ cho phụ nữ không mang thai con cái, phá thai. Chúng ta có một công nghệ giữ cho phụ nữ không nuôi dạy con cái, mướn người giữ trẻ. Tôi có đọc một bài vào ngày kia viết về ngày càng có thêm những cặp vợ chồng chọn không có con vì chúng sẽ gây rắc rối cho sự tự do của họ. Điều nầy không làm cho chúng ta phải ngạc nhiên vì xã hội hiện tại của chúng ta đang ở trong sự chống đối với các giá trị theo Kinh thánh.
Về các phụ nữ không thể có con cái thì sao? Về những phụ nữ chưa lập gia đình thì sao? Quí vị có cả một chương Kinh thánh ở I Côrinhtô 7. Quí vị có thể dâng chính mình cho Đức Chúa Trời. Ảnh hưởng lớn lao nhất bất cứ người nữ nào cũng có thể có là cưu mang và dạy dỗ con cái. Quí vị phải dạy dỗ chúng trong "đức tin". Hãy dạy chúng về Đức Chúa Trời từ lúc còn ấu thơ. Hãy dạy Kinh thánh cho chúng. Hãy dạy cho chúng biết phải tin cái gì! Đừng để phần việc ấy lại cho ai khác. Hãy gây dựng trong chúng một đức tin mạnh mẽ. Hãy dạy cho chúng biết "yêu thương". Hãy dạy cho chúng biết hy sinh là những gì chúng cần và cần những gì chúng muốn và nhu cần của nhiều người khác nữa. Hãy dạy cho chúng về "sự nên thánh". Hãy dạy cho chúng biết thù ghét tội lỗi. Hãy làm gương về sự ấy. Phải cẩn thận những gì quí vị cho phép xâm nhập vào đời sống của chúng qua phương tiện truyền thông. Zig Ziglar nói cao điểm của sự bội đạo là gã nào than phiền về tình dục và bạo lực trên cái đầu máy chiếu phim của hắn. Hãy dạy cho chúng biết "đức hạnh". Đây cũng là một từ giống như "nết na" trong câu 9. Hãy dạy cho chúng biết phải đáp “không” đối với dục vọng về xác thịt của chúng. Chức năng làm mẹ rất là khó nhọc. Đấy là một thập tự giá phải mang vác. Công việc của quí vị là phải biến đổi những tội nhân nhỏ tuổi nầy thành hạng thánh đồ của Đức Chúa Trời biết dâng mình. Quí vị đang làm việc chống lại chính bản chất của chúng. Chúng chẳng bao giờ thông cảm với quí vị đâu! Chúng chẳng bao giờ thấy thoả lòng với những gì quí vị đang làm cho chúng. Chúng sẽ xem khinh quí vị, nói dối với quí vị và làm tan vỡ tấm lòng của quí vị, nhưng quí vị cứ giữ một mực tiến tới phía trước. Chắc chắn chúng sẽ lớn lên thành những gì quí vị đang dạy dỗ chúng. Một ngày kia quí vị sẽ nhìn thấy giá trị đó. Một ngày kia khi chúng trở thành những người đàn ông, đàn bà và chúng sẽ thể hiện ra những giá trị đã cài đặt trong chúng, chúng sẽ đến và vòng tay ôm lấy cổ quí vị rồi nói: "Cảm ơn Mẹ". Sự nghiệp của quí vị không hề làm được điều đó đâu. Sự nghiệp của quí vị không hề bật khóc nơi tang lễ của quí vị. Sự ngihệp của quí vị sẽ quên lãng quí vị, nhưng con cái của quí vị sẽ không bao giờ quên đâu!
Hỡi người làm chồng, có nhiều con cái không trợ giúp cho vai trò của nàng. Có nhiều con không giúp nhìn thấy những phụ nữ khác đứng trong các địa vị nhiều quyền lực với tiền bạc và thì giờ để làm những vụ việc mà nàng sẽ không bao giờ làm. Nàng được gì khi phải hy sinh như vậy chứ? Nàng đang có quí vị đấy. Quí vị ôm lấy nàng mỗi ngày và hãy bảo nàng rằng những gì nàng đang làm đều có ý nghĩa đời đời! Người vợ tin kính của quí vị đang chạm khắc nhiều linh hồn thành ảnh tượng của Đức Chúa Trời và không có một ảnh hưởng nào lớn lao hơn thế.
***