Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2010

I Timôthê 2.1-8: "Cầu nguyện cho mọi người"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Cầu nguyện cho mọi người
I Timôthê 2.1-8
Có một thời trên vùng biển nguy hiểm kia, ở đấy những vụ đắm tàu thường hay xảy ra, một nhóm dân cư có lòng quan tâm đã dựng lên một trạm cứu nạn. Trạm nầy rất đơn sơ, chỉ là một mái nhà đóng bằng ván sơ sịa với một chiếc thuyền cứu nạn cũ. Tuy nhiên, nhóm người nầy rất cẩn thận và họ luôn trông chừng dọc bờ biển cả ngày lẫn đêm, đưa nhiều người nam, người nữ và trẻ con đến chỗ an toàn tránh biển cả đang sôi động.
Chắc chắn là nhiều người đã được cứu cũng trở thành thuộc viên trong nhóm nầy. Dân chúng ở khu vực chung quanh nghe nói tới việc lành đã được làm ra và họ cũng tham gia vào cộng đồng chuyên cứu nạn nầy nữa. Khi nhiều sự dâng hiến đã được đổ vào, họ đã khôi phục lại cái chòi nhỏ bé kia và mua sắm thêm mấy chiếc thuyền cứu hộ kiểu mới nữa. Loại giường nhà binh cũ đã được thay thế bằng loại giường tiện nghi hơn. Một căn phòng lớn được thêm vào với đồ đạt tiện nghi và những trang thiết bị rất tốt. Thực vậy, trạm ấy đã trở thành tiện nghi đến nỗi hầu hết các thành viên đều hài lòng nhóm lại ở đó và tương giao với nhau. Chỉ có một ít người bằng lòng đương đầu với biển cả để tìm kiếm kẻ bị hư mất. Chắc chắn họ đã thuê một nhóm chuyên cứu hộ để các thuộc viên sẽ không phải lo toan với phần việc nầy. Một đêm giông bão kia, chiếc tàu lớn đã bị đắm ngoài biển. Nhóm thợ thuê kia đã đưa lên thuyền cứu hộ hết chiếc nầy tới chiếc khác nhiều người bị ướt lạnh. Rốt lại, họ chẳng giống với các thuộc viên kia chút nào cả.
Họ đã đến từ nhiều nơi khác nhau; họ ăn mặc rất khác và đã có nhiều từng trải khác nhau. Điều nầy đã mang lại nhiều lộn xộn lớn trong vòng các thuộc viên. Một số đề nghị rằng những ngôi nhà khác phải được dựng lên để chứa những người lạ mới vừa được giải cứu ra khỏi biển. Nhiều người muốn trạm cứu hộ đó phải được dành cho việc cứu vớt, như đấy là một công việc không dễ chịu và là một mối cản trở đối với sinh hoạt chung của cả nhóm. Có một ít người cho rằng mục tiêu chính của trạm cứu hộ là cứu mạng người ta. Người ta nói cho họ biết rằng nếu họ thực sự muốn giữ việc cứu người làm mục tiêu chính, thế thì họ phải dời cái trạm cứu hộ kia ra xa phía biển một chút nữa. Và họ đã làm như vậy.
Thời gian trôi qua và trạm cứu hộ thứ nhì lại rơi vào chính những thử thách giống như trạm thứ nhứt, lo toan nhiều về mọi tiện nghi của chính họ hơn là cho những kẻ bị mất mạng ngoài biển khơi. Vì thế, một đề nghị khác đã được đưa ra và trạm cứu hộ khác nữa đã mọc lên xa thêm chút nữa ngoài phía biển. Việc như thế cứ tiếp diễn nhiều lần, nếu quí vị đến tham quan bờ biển ấy ngày nay, quí vị sẽ thấy một số trạm cứu hộ rất ấn tượng lấm chấm ở trên biển. Nhiều vụ đắm tàu vẫn còn xảy ra trong vùng biển đó, nhưng hầu hết người ta đều được cứu.
"Trạm cứu hộ" là một thí dụ minh hoạ chính xác điều chi đang xảy ra cho Hội thánh Êphêsô, là nơi mà Timôthê được phái đến để phục vụ. Đây là một bức tranh trọn vẹn của những gì đã diễn ra cho nhiều Hội thánh và cho một mức độ những gì sẽ diễn ra trong Hội thánh nầy. Toàn bộ mục đích của chương một là khích lệ Timôthê đứng vững và đưa Hội thánh trở lại với công cuộc truyền giáo. Điều nầy xoay quanh một từ đơn ở 1.4, oikonomos hay sát nghĩa "luật lệ ở trong nhà". Bản Kinh thánh NKJV dịch từ ngữ nầy là "sự gây dựng tin kính". Bản Kinh thánh NIV dịch từ nầy là "công việc của Đức Chúa Trời". Cách đây mấy tuần, một trong các trưởng lão của chúng ta nói về từ nầy như sau: "Từ nầy có ý nói hãy biến công việc của Đức Chúa Trời thành công việc của chúng ta".
Phaolô bảo Timôthê đừng để công việc của Đức Chúa Trời, là tin lành phải bị chôn vùi trong thứ "phù ngôn và gia phổ vô cùng". Chúng ta đừng để cho những chuyện tầm phào chôn vùi tin lành "vì tin lành là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin" (Rôma 1.16). Tương tự, vị Sứ đồ chỉ ra rằng chúng ta đừng bao giờ để cho Tin lành bị trôi lạc do việc tuân giữ luật pháp, do thiên về với luật pháp. Chúng ta đừng bao giờ để cho những truyền thống của chúng ta trở nên quan trọng hơn sứ điệp nói tới thập tự giá làm thay đổi đời sống.
Phaolô tiếp tục minh họa quyền phép của Tin lành trong chính đời sống của ông. Dù ông từng là một kẻ "phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo", ông đã "đội ơn thương xót" và "ân điển của Chúa đã dư dật" đối cùng ông. Mặc dầu ông tự xem mình là "đầu" hay là kẻ tệ hại nhất trong hàng tội nhân, đời sống ông là tấm "gương" cho những ai chịu tin. Phaolô kết luận phần làm chứng của chính mình bằng một bài ngợi khen đối với "Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được, tức là Đức Chúa Trời có một mà thôi!"
Vì lẽ đó, Phaolô ban cho Timôthê một "mạng lịnh" trong câu 18 rằng ông phải "đánh trận tốt lành". Trận đánh không diễn ra ở bên ngoài Hội thánh, mà là ở bên trong. Người đánh trận luôn luôn và sẽ luôn luôn xem công việc của Đức Chúa Trời là công việc của chúng ta. Người đánh trận sẽ luôn luôn nắm lấy việc rao giảng Tin lành, là mục tiêu chính của Hội thánh. Phải, chúng ta hãy đưa ra một câu hỏi thật thích đáng … tại sao chúng ta không chứng đạo? Nếu việc cứu người là mục đích của chúng ta, tại sao chúng ta không chứng đạo nhiều thêm nữa? Nếu chúng ta tuyệt đối thành thật, chúng ta phải nhìn nhận rằng có rất ít người thực sự muốn đi ra và nói cho nhiều người khác biết về Tin lành. Nếu tôi nói: "Tôi muốn hết thảy chúng ta đều hãy đứng dậy ngay bây giờ rồi đi ra, khởi sự tại góc phố nầy, chúng ta sẽ gõ cửa từng nhà một và làm hết sức mình để nói cho mọi người biết chúng ta thoả mãn về sự cứu rỗi ở trong Đức Chúa Jêsus Christ", có bao nhiêu người trong quí vị sẽ thấy phấn khích mà đi ra? Phần nhiều người trong số quí vị sẽ chịu đi. Phần nhiều người trong số quí vị sẽ trung tín gõ cửa và ra sức nói cho người ta biết về Chúa Jêsus. Đấy chưa phải là câu hỏi. Tôi không nói: "Có bao nhiêu người trong số quí vị sẽ đi ra?" Tôi nói: "Có bao nhiêu người trong số quí vị sẽ thấy phấn khích mà đi ra?"
Có lẽ không nhiều đâu! Đừng cảm thấy quá tệ hại. Chúng ta đang đứng trong một hàng dài gồm những con người đã vật vã với sự chia sẻ Tin lành. Giô-na không muốn đi đến thành Ninive. Phierơ không muốn bước vào nhà của Cọt-nây. Những người Do thái có đức tin trong Hội thánh đầu tiên không muốn đến với những người Ngoại chưa tin.
Mục tiêu là HẦU HẾT CHÚNG TA TỰ NHIÊN KHÔNG MUỐN ĐẾN VỚI KẺ BỊ HƯ MẤT. Một trong những vị Mục sư tiền nhiệm của tôi thường thuật lại câu chuyện nói về một trong những bạn học trong thần học viện của ông ấy, người nầy đã rời bỏ chức vụ trong một thị trấn nhỏ của mình để đến với thủ phủ Houston rất thịnh vượng vào kỷ nguyên dầu hoả nầy. Thành phố đang phát triển và nhà truyền đạo trẻ nầy lại tin rằng thành phố cần có thêm nhiều Hội thánh hơn. Anh cứ giữ việc lôi kéo những nhà truyền đạo cùng đi với mình. Anh ta nói: "Chúng ta hãy đi đến Houston và dựng lên nhiều Hội thánh. Hàng triệu người ở đó đang dãy chết và sẽ đi đến địa ngục". Sau hai năm truyền đạo ở cùng ngoại ô, nhà truyền đạo trẻ kia đã chấp nhận lời mời của một Hội thánh nhỏ ở Đông Texas. Vị Mục sư tiền nhiệm của tôi đã hỏi anh ấy: "Còn hàng triệu người kia ở Houston đang dãy chết và sắp đi địa ngục thì sao?" Anh ta đáp: "Hãy để cho họ đi địa ngục, tôi sẽ ở chỗ nào mà tôi thuộc về".
Làm sao Đức Chúa Trời phân phát Tin lành ra với những chứng nhân không tích cực hợp tác như thế cho được? Ngài phải làm thay đổi tấm lòng của họ. Chúng ta thấy rất rõ ràng trong câu 4 rằng Đức Chúa Trời "muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật". Đức Chúa Trời phải thay đổi tấm lòng của chúng ta hầu cho những ước muốn của chúng ta phải song hành với ước muốn của Ngài. Phương tiện chính mà Ngài thường sử dụng để thực hiện là đời sống cầu nguyện của chúng ta. Phân đoạn Kinh thánh nầy cung ứng cho chúng ta ba lẽ thật quí báu về sự cầu nguyện và chứng đạo.
I. Chúng ta cần phải cầu nguyện cho mọi người (các câu 1-2).
A. Ưu tiên một của sự cầu nguyện (câu 1a).
Câu 1 bắt đầu bằng "vậy". Trên cơ sở của mọi sự chúng ta đã tiếp thu trong chương 1, sự hiểu biết lẽ đạo cho rằng công việc của Đức Chúa Trời cũng phải là công việc của chúng ta, Phaolô đang khích lệ chúng ta thực hiện sự cầu thay cho mọi người trước và trên hết trong lý trí của chúng ta. Phaolô không ra lịnh hay “truyền” cho chúng ta phải cầu nguyện mà ông nói: "ta dặn rằng" có ý nói "khích lệ, nài xin". Tôi có thể khuyên quí vị phải làm thế trên hai đầu gối của mình. Tôi có thể khiến cho quí vị phải cầu nguyện trên hai đầu gối của quí vị nhưng tôi không thể ra lịnh hay bắt quí vị phải cầu nguyện được. Tôi chỉ có thể "dặn" quí vị phải cầu nguyện như vậy. "Trước hết mọi sự", Phaolô dường muốn nói: "trước khi chúng ta bước vào các phần đặc biệt của Hội thánh lo liệu công việc của Đức Chúa Trời, trước khi chúng ta nói tới những vai trò khác nhau của những người nam người nữ, trước khi chúng ta nói tới các trưởng lão, chấp sự cùng những giáo sư-mục sư, trước khi chúng ta nói tới bất cứ điều chi khác, tôi dặn quí vị trong bổn phận hàng ngày phải cầu thay để cho những kẻ bị hư mất được cứu rỗi".
"Trước hết mọi sự" ra từ chữ Hy lạp proton có ý nói tới "trước tiên về thì giờ, địa điểm, thứ tự, hay tầm quan trọng". Công việc trước tiên và trên hết của Hội thánh là cầu nguyện cho thế giới chưa được cứu.
B. Cấu trúc của lời cầu nguyện (câu 1b).
Vị Sứ đồ liệt kê ra bốn thành phần trong lời cầu nguyện ở đây "khẩn nguyện, cầu xin, kêu van và tạ ơn". Chúng ta hãy mau mau phân tích và định nghĩa chúng. Trước tiên "khẩn nguyện" là từ ngữ có ý nói tới việc đưa ra một thỉnh cầu. Từ ngữ nầy ra từ một chữ Hy lạp có gốc rễ của nó mang ý nghĩa "thiếu". Cho nên, đây là lời cầu nguyện phát xuất từ một nhận thức về nhu cầu. Chúng ta cần phải cầu xin các nhu cầu của mọi người đang có cần, đặc biệt là nhu cần về ơn cứu rỗi.
Thứ hai, "cầu xin" ra từ một từ ngữ rất phân biệt về mặt tôn giáo, từ nầy chỉ được sử dụng nói tới những lời cầu xin với Đức Chúa Trời. Cho nên, từ ngữ nầy mang ý tưởng rất tôn kính trong sự cầu nguyện.
Thứ ba, "kêu van" có ý nghĩa của nó là một sự kêu nài với nhà vua hay với một bậc cao trọng nào đó. Trong phạm trù nầy, từ ngữ mang ý tưởng cầu xin với sự dạn dĩ rất lớn. Hêbơrơ 4.16 chép: "Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng".
Thứ tư, "tạ ơn" là điều rất rõ ràng. Từ ngữ nầy đề cập tới thái độ mà với nó chúng ta quì gối xuống trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta đến gần Ngài với lòng biết ơn vì những gì Ngài đã làm rồi và vì những gì Ngài sẽ làm trong khi đáp ứng lại lời cầu nguyện của chúng ta.
C. Tính bao quát trong lời cầu nguyện (câu 1c).
Bây giờ, chúng ta đang cầu thay cho ai? Câu một chép: "cho mọi người". Nhân vật viết tiểu sử lỗi lạc F.B. Meyer đã thuật lại về việc tham dự một hội nghị với A.B. Simpson, nhà sáng lập Hội Phước Âm Liên Hiệp. Ông thức dậy rất sớm một sáng kia thì thấy Simpson bật khóc trong sự cầu nguyện khi ông ôm lấy quả địa cầu trong ngực mình. Đấy là hình ảnh chính xác những gì Phaolô đang có trong trí ở đây. Tôi muốn quí vị để ý một việc trong phân đoạn Kinh thánh nầy. Từ ngữ "mọi" đã được sử dụng 5 lần trong 8 câu. Câu 1 chép chúng ta cần phải cầu nguyện "trước hết mọi sự" cho "mọi người". Câu 2 chép chúng ta cần phải cầu nguyện cho "hết thảy [mọi] các bậc cầm quyền". Câu 4 chép rằng Đức Chúa Trời "muốn cho mọi người được cứu rỗi". Câu 6 chép rằng Chúa Jêsus đã "phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người". Một nguyên tắc trong sự lý giải Kinh thánh là phải chú ý vào sự lặp đi lặp lại các từ ngữ. Rõ ràng cầu nguyện cần phải được thực hiện cho "mọi người".
Chúng ta cần phải cầu thay cho mọi người ở khắp mọi nơi được nghe Tin lành và được cứu rỗi. Chúng ta thường cầu thay cho những người mà chúng ta biết họ cần được cứu. Chúng ta cầu thay cho các thành viên trong gia đình, người láng giềng, bạn bè và bạn cùng làm việc, xin cho họ được đến với Đấng Christ, nhưng giờ đây chúng ta thường vâng theo lời dặn dò của Kinh thánh phải cầu thay cho mọi người như thế nào?
Hơn nữa, chúng ta biết rằng "mọi người" ở khắp mọi nơi sẽ không được cứu rỗi. Ngay cả một sự hiểu biết ít ỏi về Kinh thánh đang thuyết phục chúng ta rằng chẳng có một sự cứu rỗi bao quát nào cả. Đức Chúa Trời biết rõ mọi người sẽ không được cứu. Phaolô biết rõ rằng mọi người sẽ không được cứu. Chúng ta biết rõ rằng mọi người sẽ không được cứu. Vậy, tại sao chúng ta được dặn rằng phải cầu thay cho mọi người đều được cứu, khi chúng ta biết rất rõ rằng điều nầy sẽ không xảy ra? Trong một phút thôi, vị Sứ dồ sẽ bật ra câu trả lời. Vì lúc bây giờ, chúng ta phải hiểu rằng thường thường cầu xin ơn cứu rỗi cho mọi người ở khắp mọi nơi chính là bổn phận của chúng ta.
D. Những điểm đặc biệt trong lời cầu nguyện (câu 2).
Khi chúng ta cầu nguyện xin cho "mọi người" đặc biệt chúng ta cần phải cầu thay cho "các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền". Đặc biệt chúng ta cần phải cầu thay cho những người đang lãnh đạo các nước trên thế giới và cho bất kỳ ai đang nắm quyền dân sự trên nhiều người. Tại sao chứ? "… để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn".
Điều nầy không có ý nói rằng mục đích của sự cầu thay cho các bậc cầm quyền không phải để chúng ta có thể có một cung cách sống đẹp đẽ, yên tịnh, trung lưu, ở ngoại ô, không bị căng thẳng. Ngược lại, nếu chúng ta cầu thay và sống như chúng ta sẽ sống, đời sống của chúng ta sẽ rất nhơn đức, trừ ra yên tịnh và không có căng thẳng. II Timôthê 3.12 chép: "Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ". Đúng ra câu nầy có ý nói rằng chúng ta cần phải cầu thay cho các tình trạng an bình hầu cho Cơ đốc nhân có thể sống loại đời sống mẫu mực "nhân đức và thành thật" để chúng ta có thể thu phục được khả năng chịu nghe theo của những người chưa tin. I Têsalônica 4.11-12 chép chúng ta phải: "…ráng tập ăn ở cho yên lặng, săn sóc việc riêng mình, lấy chính tay mình làm lụng, như chúng tôi đã dặn bảo anh em, hầu cho ăn ở với người ngoại cách ngay thẳng, và không thiếu chi hết…". Chúng ta cần phải cầu thay cho các bậc cầm quyền để chúng ta có được những tình trạng đãi ngộ hầu rao giảng những tin tức tốt lành nói tới tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ.
II. Tại sao chúng ta cần phải cầu thay cho mọi người (các câu 3-7).
Giờ đây, để chúng ta hiểu được bổn trận trước hết và trên hết của chúng ta là khẩn nguyện "cho mọi người", Phaolô cung ứng cho chúng ta ba lý do tại sao chúng ta phải cầu nguyện:
A. Cầu nguyện cho mọi người sống phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời (câu 3).
Trước tiên Phaolô nói rằng cầu nguyện cho "mọi người" là "một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta". Khi chúng ta cầu xin ơn cứu rỗi cho người khác, thì chẳng phải tôi, chẳng phải Phaolô, mà là Đức Chúa Trời, Đấng phán điều ấy là một sự "lành". Hơn nữa, chúng ta dám chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ chấp nhận hay tiếp nhận những lời cầu nguyện đó.
Các Hội thánh phải quạt lên những ngọn lửa chứng đạo. Không may, nhiều lần đấy là loại tủ lạnh chứa kẻ "được chọn nguội lạnh". Thay vì làm tăng lên tình cảm dành cho sự cầu nguyện và chứng đạo, họ đang sai phái nhiều linh hồn vào trong một tình trạng nguội lạnh bất động. Vì họ không muốn có ai khác ("Hội thánh nầy lớn đủ rồi") hoặc bất cứ người nào khác nữa cả, họ toan tính sự tiện nghi của trạm cứu hộ và không hề mạo hiểm ra đi để cứu vớt kẻ bị hư mất. Trong tiến trình ấy, họ hoàn toàn bỏ qua ý muốn của Đức Chúa Trời.
Bầu không khí nầy chẳng có gì mới. Bầu không khí nầy hiện đang có tại Êphêsô trong thời của Timôthê. Bầu không khí nầy hiện có ở Anh quốc khi các cấp lãnh đạo của Hội thánh bảo chàng thanh niên William Carey: "Anh ơi, nếu Đức Chúa Trời muốn biến đổi kẻ theo tà giáo, Ngài sẽ làm mà chẳng cần sự giúp đỡ của anh hay của chúng ta". Đáp ứng nguội lạnh ấy đã đẩy anh ra khỏi Hội thánh rồi lên đường sang Ấn độ, ở đó anh trở thành nhà sáng lập những hội truyền giáo hiện đại.
Bất cứ ai, bất kỳ Hội thánh nào từ chối, quên hay bất chấp sự kêu gọi cầu nguyện cho kẻ bị hư mất, họ đã quên mất ý muốn của Đức Chúa Trời. Lẽ đạo có ngay thẳng hoặc sự rao giảng có cuốn hút ngần nào thì không phải là vấn đề, nếu chúng ta không cầu nguyện và theo đuổi kẻ bị hư mất, chúng ta đã quên mất thuyền cứu hộ.
B. Cầu nguyện cho mọi người phù hợp với ước muốn của Đức Chúa Trời (câu 4).
Đức Chúa Trời, Ngài là "Cứu Chúa của chúng ta" Ngài là Đấng "muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật". Chúng ta nhắm vào Đức Chúa Trời là "Cứu Chúa của chúng ta" song lại bỏ qua mục tiêu cả dặm đường nếu chúng ta nghĩ rằng Ngài cũng không muốn trở thành Cứu Chúa CỦA HO nữa. Tôi được uỷ thác phải nói tới lẽ thật sự tể trị của Đức Chúa Trời. Tôi dạy cách công khai rằng đối với Cơ đốc nhân: "trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ" (Êphêsô 1.4). Rõ ràng Kinh thánh dạy rằng Đức Chúa Trời đã chọn rồi những ai chọn Đấng Christ làm Cứu Chúa. II Têsalônica 2.13 chép: "Hỡi anh em yêu dấu của Chúa, còn như chúng tôi, phải vì anh em tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi, vì vừa lúc ban đầu, Ngài đã chọn anh em bởi sự nên thánh của Thánh Linh, và bởi tin lẽ thật, đặng ban sự cứu rỗi cho anh em…". Rôma 8.30 chép: "còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển".
Một số Cơ đốc nhân đã áp sát vào phương trình đó. Họ thôi không ù lì nữa. Họ hiểu rằng "Sự cứu đến từ Đức Giê-hô-va!" (Giô-na 2.10), ơn cứu nầy hoàn toàn là một hành động của ân điển giáng trên hạng người gian ác, họ không xứng đáng được hưởng ơn ấy, tách ra khỏi ân điển của Đức Chúa Trời "chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời" (Rôma 13.11). Cái điều họ quên, ấy là dù Đức Chúa Trời đang thực thi sự cứu rỗi, Ngài công bố rằng Ngài sẽ cứu qua sự làm chứng trung tín của Tin lành. Thực vậy, một nhận định đúng đắn về sự tể trị của Đức Chúa Trời sẽ kích thích lòng sốt sắng chứng đạo của chúng ta, vì sự tể trị của Đức Chúa Trời bảo đảm cho sự thành công của chúng ta!
Quí vị thắc mắc: "Được thôi, thưa Mục sư, câu nầy nói rằng Đức Chúa Trời ‘muốn cho mọi người được cứu rỗi’, còn Kinh thánh thì nói rằng Ngài đã chọn cứu duy nhứt MỘT SỐ người mà thôi. Ông giải thích thế nào về sự ấy?" Tôi không giải thích. Tôi không thể giải thích. Mọi đường lối của Ngài cao hơn mọi đường lối của tôi và trổi hơn việc tìm tòi nữa (Êsai 55.9; Rôma 11.33). Sau đây là những gì tôi được biết. Trong Êxêchiên 33.11, Đức Giêhôva phán: "Ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống". II Phierơ 3.9 nói rằng: "Chúa … lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn". Cái điều Đức Chúa Trời mong muốn rất khác biệt với những gì Đức Chúa Trời công bố ra. Trong đời nầy chúng ta sẽ không bao giờ tạo được sự cân đối giữa quyền tể trị của Chúa và trách nhiệm của con người. Chúng ta không được truyền cho phải làm việc ấy. Chúng ta được dặn dò phải cầu nguyện và được truyền cho phải chia sẻ ân điển của Đức Chúa Trời với mọi người.
Charles Spurgeon từng nói đôi điều về vấn đề nầy: "Nếu mọi người được chọn đều có những đường sọc màu vàng dọc theo lưng của họ, tôi sẽ đi trên những đường phố của Luân đôn vén phần áo dưới thắt lưng lên. Khi họ không có một đường sọc nào, tôi giảng tin lành cho từng người và tin cậy Đức Chúa Trời kêu gọi người nào mà Ngài muốn".
C. Cầu nguyện cho mọi người phù hợp với chương trình của Đức Chúa Trời (các câu 5-7).
Ý muốn của Đức Chúa Trời và ước ao của Ngài đều được tỏ ra trong chương trình cứu chuộc của Ngài. Trong ba câu kế nầy, chúng ta thấy ba yếu tố trong chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại là nền tảng cho lẽ đạo Cơ đốc.
+ Chương trình của Đức Chúa Trời là một ĐẤNG TRUNG BẢO cho mọi người (câu 5).
Câu 5 chép: "Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người". Trước hết, chúng ta không phục vụ nhiều thần, mà là "một Đức Chúa Trời", là "Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được". Đây là lẽ thật trong Cựu Ước đã phân biệt dân Israel với các dân khác và rất thực cho hôm nay.
Đức Chúa Trời đứng ở một bên bờ vịnh rất lớn và con người sa ngã ở bên kia. Chúng ta không thể qua tới Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời không thể qua tới bên nầy của chúng ta. Chúng ta cần một "Đấng Trung Bảo", một Đấng đi giữa làm cho chúng ta được phục hoà lại với Đức Chúa Trời. Đấng Trung Bảo của chúng ta là "Đức Chúa Jêsus Christ, là người". Chúa Jêsus vừa là Đức Chúa Trời vừa là người trọn vẹn. Gióp từng kêu lên: "Chẳng có người nào phân xử giữa chúng ta, đặt tay mình trên hai chúng ta" (Gióp 9.33). Lời nài xin của Gióp được mặc lấy trọn vẹn nơi thân vị của Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài có một tay bên Đức Chúa Cha và tay kia trên con cái của Ngài. Ngài đưa chúng ta vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Nếu quí vị tra xét kỹ Kinh thánh, quí vị sẽ thấy rằng "Người" được in nghiêng. Như vậy có nghĩa là, đây là một từ ngữ không thấy có trong bản gốc. Chúa Jêsus không phải là "CON người" cũng không phải là "một người". Ngài đã được mô tả là "Đức Chúa Jêsus Christ, là Người". Điều đó là quan trọng đấy. Bernard nói: "Trong Ngài mọi người được gồm tóm lại, và vì thế Ngài là đại biểu, không chỉ cho người nầy hay người kia, mà là cho mọi người". Ngài là "Đấng Trung Bảo" duy nhứt của mọi người, nhơn đó Ngài mở ra cho mọi người lối tiếp cận với Đức Chúa Trời.
+ Chương trình của Đức Chúa Trời là một CỨU CHÚA cho mọi người (câu 6).
Câu 6 chép thêm rằng Chúa Jêsus "đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ". Chúa Jêsus biết rõ Ngài là "Đấng Trung Bảo" duy nhứt cho mọi người, cho nên Ngài chủ ý "phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người".
Tôi thích cụm từ đó: "phó chính mình Ngài". Cụm từ ấy không giới hạn sự ban cho. Cụm từ ấy không nói Ngài phó sự sống Ngài hay Ngài phó ân điển Ngài, hoặc Ngài phó sự bình an của Ngài. Cụm từ ấy nói Ngài "phó chính mình Ngài" trong sự trọn vẹn tuyệt đối. Chúa Jêsus đã "phó chính mình Ngài làm giá chuộc". "Giá chuộc" ra từ chữ antilutron. Anti có nghĩa là "thay cho". Lutron có nghĩa là "giá chuộc". Ngài là sự thay thế của chúng ta. Ngài đặt chính mình Ngài vào chỗ của chúng ta, chịu án phạt cho tội lỗi của chúng ta thay cho chúng ta. Ngài không chết vì một vài người, mà vì "mọi người". “Giá chuộc” của Ngài, đã được trả bằng huyết trên thập tự giá là đủ cho mọi người, nhưng có hiệu quả cho những ai chịu tin nơi danh của Ngài. I Giăng 2.2 chép: "Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa". I Timôthê 4.10 chép: "Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận, ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ".
Đức Chúa Trời ao ước mọi người đều được cứu rỗi. Chúa Jêsus là Đấng Trung Bảo cho mọi người. Chúa Jêsus đã chịu chết cho mọi người. Vì lẽ đó, tuyệt đối là đẹp lòng và đáng nhận đối với Đức Chúa Trời khi chúng ta cầu xin ơn cứu rỗi cho mọi người.
+ Chương trình của Đức Chúa Trời là một SỨ ĐIỆP cho mọi người (câu 7).
Chúng ta bước sang cụm từ then chốt ở cuối câu 6: "đã làm đúng kỳ". Nói như vậy có ý cho rằng có một thời kỳ mà Đức Chúa Trời đã ấn định trong đó sứ điệp nói tới địa vị trung bảo của Đấng Christ và giá chuộc đã được "làm" ra và được công bố rộng rãi. Phaolô đã sống vào lúc bắt đầu "kỳ" ấy. Có lẽ chúng ta đang sống ở cuối kỳ ấy. Đây là kỳ của ân điển. Đây là kỳ mà trong đó mỗi một người chúng ta giống như Phaolô đã được "định" cho phải cầu nguyện và công bố ra những tin tức tốt lành của Tin lành. Đức Chúa Trời đã chọn Phaolô trong số mọi người để trở thành "thầy giảng và sứ đồ". Ông đã trở thành "giáo sư cho dân Ngoại". Đức Chúa Trời không hề dự trù cho sứ điệp phải bị che giấu mà phải được loan báo ra!
Điều nầy đưa chúng ta trở lại với thắc mắc mà chúng ta đã đưa ra trước đây. Nếu chúng ta biết là mọi người sẽ không được cứu. Nếu Phaolô biết như thế và tất nhiên Đức Chúa Trời vốn biết như thế, tại sao chúng ta lại cầu xin cho mọi người đều được cứu? Đây là một thắc mắc rất hợp lý. Tại sao chúng ta cầu xin cái điều mà chúng ta dám chắc sẽ không xảy ra. Tôi đã vật vã, vật vã với thắc mắc ấy mấy tuần lễ qua. Tôi nghĩ tôi có câu trả lời. Cầu nguyện không làm thay đổi Đức Chúa Trời nhiều giống như cầu nguyện làm thay đổi chính mình tôi. Đức Chúa Trời vốn biết tôi sẽ không bao giờ làm công việc của một nhà truyền đạo, tôi sẽ không bao giờ nói cho những kẻ chưa tin biết về Tin lành cho tới chừng Ngài thay đổi tấm lòng của tôi. Giống như Giô-na, tôi là một chứng nhân không sẵn lòng. Vì thế, thay vì truyền cho tôi phải làm chứng đạo, Ngài kêu gọi tôi nên cầu nguyện. Ngài bảo tôi phải khẩn nguyện cho mọi người khắp mọi nơi. Đây là điều đang xảy ra khi tôi vâng theo mà cầu nguyện.
Khi tôi cầu nguyện cho mọi người ở khắp mọi nơi, tôi phát triển một gánh nặng về mọi người ở khắp mọi nơi. Khi tôi có một gánh nặng về mọi người ở khắp mọi nơi, tôi sẽ dạn dĩ làm chứng cho bất cứ ai ở bất cứ đâu! Dwight L. Moody từng đi xe lửa qua khắp cả xứ. Một nhân viên trên xe lửa nhận ra ông và hẹn gặp ông để trao đổi. Anh ta nói: "Thưa ông Moody, tôi muốn được nên giống như ông. Tôi muốn đi khắp thế giới và làm chứng cho mọi người về Đức Chúa Jêsus Christ". Moody nhìn thẳng vào chàng trai trẻ nầy rồi hỏi: "Một kỹ sư có phải là một Cơ đốc nhân không?" Chàng thanh niên ấy suy nghĩ một chút rồi nhìn nhận rằng mình không biết về tình trạng thuộc linh của bạn cùng làm việc với mình. Moody đáp: "Vậy thì anh chưa sẵn sàng cho thế gian đâu!" John Stott viết: "Chính sự hiệp một của Đức Chúa Trời và tình trạng có một không hai của Đấng Christ đòi hỏi tính bao quát của Tin lành. Ước muốn của Đức Chúa Trời và sự chết của Đấng Christ có liên quan tới mọi người; vì lẽ ấy bổn phận của Hội thánh cũng phải quan tâm đến mọi người nữa, phải đi ra gặp gỡ họ bằng sự cầu nguyện sốt sắng và bằng cả sự chứng đạo sốt sắng nữa".
III. Chúng ta cần phải cầu nguyện cho mọi người như thế nào (câu 8)?
Phaolô luôn luôn có phần ứng dụng rất thực tế. Ông kết luận tiểu đoạn nầy bằng cách nói cho chúng ta biết CÁCH THỨC chúng ta cần phải cầu nguyện luôn cho "mọi người". Ông làm thế với cả hai phần: tích cực lẫn tiêu cực.
A. Mặt tích cực, Chúng ta cần phải cầu nguyện với hai bàn tay thánh sạch (câu 8a). Phaolô nói: "Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời". Đây là cách làm thông thường khi Hội thánh nhóm lại để "những người đờn ông" (chúng ta sẽ xử lý với những người đờn bà vào tuần tới!) phải cầu nguyện cách công khai. "Giơ tay thánh sạch" mô tả cả về thân thể và về tấm lòng của họ. Người Do thái thường cầu nguyện với hai bàn tay giơ lên trời. Điều nầy được thấy khắp cả Cựu Ước, đặc biệt các câu như Thi thiên 28.2: "Khi tôi giơ tay lên hướng về nơi chí thánh Chúa mà kêu cầu cùng Chúa, Xin hãy nghe tiếng khẩn cầu của tôi". Ellicott nói rằng việc chấp tay lại trong sự cầu nguyện có nguồn gốc "Đức- Da đỏ".
Cái điều quan trọng ở đây không đặt nặng vào nơi quí vị đặt bàn tay khi quí vị cầu nguyện, mà ở tình trạng của tấm lòng. Hai bàn tay của chúng ta phải là "thánh sạch", không bị vết, bị tì bởi tội lỗi chưa xưng ra.
B. Mặt tiêu cực, Chúng ta phải cầu nguyện không có giận dữ và cãi cọ (câu 8b).
Chúng ta không thể đến với ngai của Đức Chúa Trời nếu chúng ta chất chứa "giận dữ" hay căm giận ở trong lòng mình. Chúng ta không thể thực sự cầu nguyện cho kẻ nào mà với họ chúng ta đang căm giận, chúng ta cũng không thể căm giận người nào mà chúng ta thực sự cầu thay cho họ được. "Cãi cọ" tốt hơn phải dịch là “bất hoà”. Chúng ta không thể cầu nguyện nếu chúng ta cứ căm giận mãi ở trong lòng và chúng ta không thể cầu nguyện nếu mối tương giao của chúng ta đầy dẫy với bất hoà và cãi cọ. Đây là lý do tại sao một Hội thánh đầy sự tranh cạnh không bao giờ là một Hội thánh truyền giáo cho được.
***

I Timôthê 1.12-20: "Biết ơn vì ân điển của Đức Chúa Trời"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Biết ơn vì ân điển của Đức Chúa Trời
I Timôthê 1.12-20
Khi chúng ta có cái nhìn đầu tiên vào phân đoạn Kinh thánh nầy, tôi muốn đưa ra hai cụm từ tỏ ra tính chất của cả đoạn. Cụm từ đầu tiên nằm trong câu 12. Phaolô nói: "Ta cảm tạ Đức Chúa Jêsus Christ". Trước hết, những câu nầy đang nói tới sự cảm tạ, thái độ biết ơn. Thứ hai, hãy chú ý câu 14: "Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta". Ân điển của Đức Chúa Trời, ân sũng và phước hạnh của Ngài cho người không đáng được rất là dư dật, đã tuôn tràn vào đời sống của các sứ đồ đến nỗi ông không thể tả hết được. Ông đã sống trong tình trạng kinh ngạc luôn về ân điển của Đức Chúa Trời, một thái độ biết ơn liên tục.
Một hoạ sĩ từng đưa bức tranh vẽ về thác Niagara đem ra triển lãm. Bức tranh vẽ nét oai nghi của hàng tỉ tỉ gallons nước đổ ra trên thác giữa các lớp sương mù che phủ. Nếu quí vị có mặt tại nơi ấy, quí vị sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng đó. Phòng triển lãm đã ghi thêm đề tựa: "Còn chảy nhiều nữa". Hãy suy nghĩ về đề tựa ấy xem. Thác Niagara thường đổ hàng tỉ tỉ gallons nước trong hàng ngàn năm vào dòng sông ở bên dưới. Cũng một thể ấy với ân điển của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta. Luôn luôn còn nhiều ơn để đổ xuống nữa. Như Giacơ 4.6 mô tả "Ngài lại ban ơn lớn hơn nữa…". Hãy lắng nghe những lời lẽ rất cảm động của Martin Luther:
Giống như mặt trời không thể bị tối tăm bởi cả thế giới đang tận hưởng nguồn sáng của nó, thực vậy, nó có thể chiếu sáng mười thế giới như thế; giống như 100.000 ngọn đèn do một ngọn nến thắp lên không làm giảm ánh sáng của nó; giống như một người có học thức có khả năng làm cho hàng ngàn người khác phải học theo, và người nầy càng cung hiến thêm nhiều, nhiều nữa những gì mình biết – cũng thế với Đấng Christ, Chúa chúng ta và là nguồn vô hạn của mọi ân điển, hầu cho nếu cả thế gian sẽ rút tỉa đủ ân điển và lẽ thật ra từ nó để biến thế gian cả thảy đều thành ra những thiên sứ, thế mà nó không bị mất một giọt nào; vì dòng suối luôn luôn chảy tràn, đầy dẫy ân điển.
Ân điển của Đức Chúa Trời vốn rất dư dật, đang tuôn tràn đến nỗi chúng ta sẽ không hề mệt mỏi khi suy nghĩ về ân điển ấy, nói về ân điển và ngợi khen Những Ngày Thượng Cổ vì ân điển đó. Trong phân đoạn Kinh thánh sáng chói nầy, Phaolô bày tỏ ra thái độ biết ơn của ông cho cả hai: ơn chửng cứu của Đức Chúa Trời và ơn nâng đỡ của Ngài.
I. Biết ơn vì ơn chửng cứu của Đức Chúa Trời (các câu 12-17).
A. Ấn định ơn chửng cứu của Đức Chúa Trời (câu 12).
Trước hết, Phaolô nói: "Ta cảm tạ Đấng ban thêm sức cho ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta". "Thêm sức" có ý nói "làm cho mạnh mẽ" theo một ý nghĩa tương xứng với công việc. Đức Chúa Trời đã ban cho Phaolô khả năng để làm công việc mà Ngài đã kêu gọi ông phải lo làm. Đức Chúa Trời đã chỉ định ông trở thành một sứ đồ và Đức Chúa Trời đã "thêm sức" cho để lo làm công việc của một vị sứ đồ.
Bài học ở đây, ấy là Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta phải làm việc gì, Ngài sẽ thêm sức cho chúng ta để làm việc ấy. Nếu quí vị cảm thấy sự kêu gọi của Đức Chúa Trời phải làm chứng đức tin của mình cho một người bạn hay cho một bạn cùng làm việc, đừng sợ. Khi Ngài kêu gọi chúng ta, Ngài thêm sức cho chúng ta. Nếu quí vị cảm thấy Đức Chúa Trời đang hướng dẫn quí vị dạy một bài Kinh thánh hay hướng dẫn một lớp học Kinh thánh, đừng chần chừ. Khi Đức Chúa Trời kêu gọi, Ngài thêm sức cho. Chẳng có một điều gì Ngài yêu cầu quí vị phải lo làm mà Ngài không ban cho quí vị sức lực để hoàn thành. Giống như Đức Chúa Trời kêu gọi chàng thiếu niên David phải đứng trước mặt gã khỗng lồ Gôliát, giống như Ngài kêu gọi Êli phải đứng trước mặt A-háp và Giê-sa-bên, giống như Ngài kêu gọi Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô phải đứng trong lò lửa hực, quí vị sẽ không hề thất bại khi quí vị đứng trong sức lực của Ngài.
Phaolô nói Đức Chúa Trời "xét ta là trung thành". Điều nầy không có ý nói tới đức tin của ông, mà nói tới tính cách đáng tin cậy của ông. Phải chăng Phaolô nói rằng ông đáng "trung thành" hơn bất cứ ai khác, rằng không cứ cách nào đó ông đã có được ân sũng của Đức Chúa Trời? Không, không phải như vậy đâu. Thực ra, ông đã nói trong I Côrinhtô 7.25 rằng ông là "người nhờ ơn thương xót của Chúa, tôi được làm người đáng tin". Vì thế Phaolô đã được lập "làm kẻ giúp việc", làm công việc của Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời đã lập ông làm một người có lòng trung thành. Một số Cơ đốc nhân thường lấy làm lạ không biết Đức Chúa Trời kêu gọi họ bước vào chức vụ chuyên nghiệp. Nếu quí vị chưa làm chứng đạo và môn đồ hoá người khác một cách tình nguyện trong lúc bây giờ, ấy không phải là Đức Chúa Trời đang biệt riêng quí vị để lo làm những việc kia một cách chuyên nghiệp.
"Giúp việc" ở đây không đề cập nhiều tới chức vụ Mục sư như nó đề cập tới bất kỳ loại công việc gì. Ý tưởng nằm ở đàng sau từ ngữ nầy nói tới: "bày ra mạng lịnh của người khác". Hết thảy chúng ta đều được chỉ định phải "giúp việc". Hết thảy chúng ta đều đã được chỉ định phải trung tín bày ra các mạng lịnh của Đấng Christ trong chính đời sống của chúng ta.
B. Chiều sâu ơn chửng cứu của Đức Chúa Trời (các câu 13-15).
Phaolô không bao giờ quên ông đã sống như thế nào!?! Ông biết rõ rằng ông là "bức tranh loại A" trong gian triển lãm ân điển của Đức Chúa Trời. Mặc dù ông tường thuật đầy đủ phần làm chứng của mình trong các phân đoạn Kinh thánh khác, ở đây ông mô tả đời sống trước kia của mình trong ba cách thức:
Thứ nhứt, ông vốn là một kẻ "phạm thượng". Chẳng từng tìm hiểu gì hết, Phaolô đã từ chối những lời xưng nhận của Đấng Christ Ngài là Đấng Mêsi và khiến cho nhiều người khác làm theo y như vậy. Ông nhìn nhận trong Công vụ các Sứ đồ 26.11: "Vả lại, tôi thường trảy đi từ nhà hội nầy đến nhà hội kia, hà hiếp họ, để bắt họ phải nói phạm thượng, tôi lại nổi giận quá bội bắt bớ họ cho đến các thành ngoại quốc".
Thứ hai, ông là một kẻ chuyên "bắt bớ". Phaolô đã săn đuổi những Cơ đốc nhân giống như con chó săn săn đuổi con chồn nhỏ vậy. Ông chẳng chút thương xót trong sự truy đuổi của ông. Ông nói trong Công vụ các Sứ đồ 22.4: "Tôi từng bắt bớ phe nầy cho đến chết, bất kỳ đàn ông đàn bà, đều xiềng lại và bỏ tù".
Thứ ba, ông là kẻ "hung bạo". Phaolô là kẻ hay ăn hiếp người khác là cách dễ nhứt để hiểu rõ vấn đề nầy. Ông đã sử dụng sức mạnh và địa vị của mình để đem sự đau khổ đến cho nhiều người khác. Ông là kẻ “chuyên làm nhục". Luca, người viết tiểu sử của Phaolô trong sách Công vụ các Sứ đồ, mô tả ông theo cách nầy: "Bấy giờ, Sau-lơ chỉ hằng ngăm đe và chém giết môn đồ của Chúa không thôi, đến cùng thầy cả thượng phẩm, xin người những bức thơ để gởi cho các nhà hội thành Đa-mách, hầu cho hễ gặp người nào thuộc về đạo bất kỳ đàn ông đàn bà, thì trói giải về thành Giê-ru-sa-lem" (9.1-2). Những Cơ đốc nhân đầu tiên được gọi là dân sự của "đường đi" vì Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 14.6: "Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha". "Hằng ngăm đe và chém giết" sát nghĩa dịch là "thở ra trong sự ngăm doạ và giết chóc". A.T. Robertson đã trình bày như sau: "Ngăm đe và giết chóc có trong từng hơi thở mà Sau-lơ đã thở, giống như một con ngựa chiến ngửi thấy mùi của trận chiến vậy". Bằng mọi đánh giá, Phaolô là một con người hay nổi nóng và ưa bạo lực. Ông muốn nhổ tận gốc rễ của Cơ đốc giáo!
Cho nên ân điển của Đức Chúa Trời quan trọng đến nỗi kẻ chuyên bắt bớ phạm thượng nầy, con người ưa thích bạo lực láo xược nầy "đã đội ơn thương xót" vì ông đã làm những việc kinh khiếp đó "đang lúc ngu muội chưa tin". Lúc đầu, điều nầy dường như là một sự cáo lỗi. Tuy nhiên, Phaolô, khi ấy là Sau-lơ đã nhìn biết rõ nét những gì ông đang làm. Cá nhân ông phải chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình.
Tuy nhiên, ông đã làm vậy "trong lúc ngu muội". Theo cách nói của chúng ta, Phaolô đang nói: "Ta rất ngu muội! Ta không hiểu mình đang làm gì nữa". Phaolô thực sự không biết Chúa Jêsus là ai. Thực sự ông tưởng rằng mình đang phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách quét sạch đảng phái tôn giáo nầy. Ông không giống như những người dòng Pharisi đáng khinh kia, họ đã nhìn thấy các phép lạ của Chúa Jêsus, đã nghe sự dạy của Ngài và đã biết rõ Ngài chính là Con của Đức Chúa Trời mà lại từ chối Ngài không cứ cách nào. Phaolô đã hành động trong sự ngu muội. Trong câu 14 Phaolô nói: "Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta". Thậm chí trong chỗ sâu thẳm của tội lỗi ông, ân điển của Chúa chúng ta vẫn sâu đậm hơn. "Dư dật" là huperpleonazo. Tiếp đầu ngữ huper là chữ mà từ đó chúng ta có tiếp đầu ngữ "hyper" trong Anh ngữ. Con trẻ xông xáo quá mức được xem là "hiếu động thái quá". Hạng người có ý thức cao là "rất nhạy cảm". Đó là ý nghĩa của dư dật. Lượng ân điển của Đức Chúa Trời dành cho Phaolô còn hơn là "dư dật" nữa, ân điển ấy DỒI DÀO! Bản Kinh thánh NRSV dịch như sau: "Ân điển của Chúa chúng ta chảy tràn ra cho tôi". Rôma 5.20 chép: "Vả, luật pháp đã xen vào, hầu cho tội lỗi gia thêm; nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa". Không một tội lỗi nào quá gian ác đối với ân điển của Ngài.
Phaolô là kẻ thấp hèn nhất trong những kẻ thấp kém, kẻ xấu xa nhất trong hàng tội nhân, tuy vậy trên con đường lên thành Đa-mách trong Công vụ các Sứ đồ 9, khi lần đầu tiên ông đối mặt với thân vị của Chúa Jêsus hằng sống, ông thấy ân điển dư dật còn lớn lao hơn tất cả tội lỗi của ông.
Trước kia, ông là kẻ vô tín và thù ghét không có Đấng Christ, còn bây giờ ông có "đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ". Chính "trong Đấng Christ" mà mọi ơn phước trong ân điển của Đức Chúa Trời đã được tìm gặp. Có phải quí vị đang "ở trong Đấng Christ" hôm nay không? Nếu có, Ngài đang ban cho quí vị sự tuôn tràn không dứt ân điển dư dật của Ngài. Chính trong chính mình Ngài quí vị sẽ có "đức tin và tình yêu thương".
Trong câu 15 khi Phaolô nói: "Ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy", đây là cụm từ quen thuộc được thấy có những 5 lần trong các thư tín (đối chiếu 3.1; 4.9; II Timôthê 2.11; Tít 3.8). Dường như đấy là những câu nói rất thường được trưng dẫn giữa vòng các Cơ đốc nhân đầu tiên.
"Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội". "Đã đến" hàm ý nói Ngài đã có trước đó. Mục đích của sự đến của Ngài là "cứu vớt kẻ có tội". Ngài đã đến để tha tội và phục hồi. Ngài đã đến để thay đổi nhiều đời sống. Đây là oikonomos của Ngài, luật lệ trong nhà Ngài, công việc của Ngài mà chúng ta phải nếm trải hôm nay. Nếu Chúa Jêsus "đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội", và sau khi giải cứu chúng ta, Ngài đã để chúng ta lại đây, mục đích duy nhứt cho cuộc sống chúng ta ở đây là hiệp với Ngài trong phần việc đưa hạng tội nhân hư mất đến với đức tin.
Nếu "lời nói chắc chắn" ấy là: “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến thế gian để cứu vớt tội nhân", dường như Phaolô đã thêm thắt vào bức thư của mình. Ông nói: "trong những kẻ có tội đó ta là đầu". Kinh thánh nói "đầu" còn bản Kinh thánh Hy lạp nói "trước hết". Giữa vòng các tội nhân Phaolô đã tự xem mình là numero uno (số một)! Trong lý trí ông, ông là kẻ đầu tiên và trên hết, tội nhân tệ hại nhất trong hàng tội nhân. Ông không phải là người đầu tiên tính theo thời gian đâu, mà là kẻ trước hết trong sự trừng phạt khắc nghiệt. Phaolô đang nói: "Chẳng có ai là tội nhân tệ hại hơn tôi".
Hãy chú ý Phaolô không nói: "trong những kẻ có tội, TA ĐÃ LÀ đầu" mà ông nói: "trong những kẻ có tội TA LÀ đầu". Đây chẳng phải là vấn đề thì quá khứ đối với Phaolô, mà là vấn đề thì hiện tại. Ngay cả vị sứ đồ mạnh mẽ nầy vốn hiểu rõ nan đề với tội lỗi liên tục của ông.
Tôi đã chú ý đến điều nầy nơi hạng người tin kính trong một thời gian dài. Dường như chúng ta càng đến gần với Đức Chúa Trời hơn chừng nào, chúng ta càng nhìn biết tình trạng tội lỗi của chúng ta hơn chừng nấy. Hãy hình dung việc đi xuống con đường tối tăm lúc ban đêm xem. Một chiếc xe hơi chạy sát bên rồi làm văng nước bẩn tung toé lên quí vị. Quí vị biết mình đã bị bẩn, nhưng quí vị không thể thấy mình thực sự bẩn như thế nào. Khi quí vị tiếp tục đi đến gần với ngọn đèn đường hơn. Quí vị mới nhận ra đôi giày, vớ đã bị bẩn. Khi quí vị đến gần hơn nữa, quí vị thấy những vết bẩn trên áo sơ mi của mình.
Sau cùng, khi quí vị đứng dưới cột đèn, quí vị nhận ra mình đã bị bẩn khắp chỗ. Chúng ta càng đến gần Đấng Christ và ánh sáng của Lời Ngài chừng nào, chúng ta càng thấy rõ tình trạng tội lỗi của mình chừng nấy. Chúng ta công nhận ân điển của Ngài không những là ân điển cho tội lỗi trong quá khứ, mà là cho tội lỗi trong thì hiện tại nữa.
C. Mục đích ân điển chửng cứu của Ngài (câu 16).
Tại sao Đức Chúa Trời mở rộng ân điển Ngài cho Phaolô? Tại sao Phaolô được chọn để được cứu? Ông nói rằng ông "đã đội ơn thương xót" hầu cho qua ông "Đức Chúa Jêsus Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta là kẻ làm đầu, để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài được sự sống đời đời".
"Nhịn nhục" là ân điển của Đức Chúa Trời đối với toàn thể nhân loại. Ngài không phạt tội nhân ngay lập tức mà chịu đựng, ban cho họ cơ hội để ăn năn. Phaolô là tấm "gương", là biểu đồ, là bức hoạ cho thấy thể nào Đức Chúa Trời đã cứu chuộc một cá nhân. Nếu Đức Chúa Trời có thể cứu một người như Phaolô, Ngài sẽ cứu bất cứ ai!
Có nhiều người nghĩ rằng họ đã phạm tội xấu xa đến nỗi Đức Chúa Trời không thể tha thứ cho họ. Khi ấy chúng ta mới chỉ cho họ thấy Phaolô là kẻ giết nhiều người đang ra sức truyền bá Tin lành. Nếu ân điển của Chúa Jêsus lớn lao đủ để cứu ai đó bị tù đày và giết chóc Cơ đốc nhân, là kẻ tìm cách quét sạch Cơ đốc giáo một cách trọn vẹn, là kẻ tấn công Ngài theo cách riêng, khi ấy ân điển của Ngài sâu sắc đủ để cứu bất kỳ một người nào khác.
Vào năm 1918, một người có tên là Tokyo Tokichi Ichii bị treo cổ về tội giết người. Ông ta đã từng bị bỏ tù 20 lần. Ông ta rất khó chịu và chai lì. Sau khi cố tình giết lính canh tù, ông bị trói gò lại, bị treo lên trần nhà, mấy đầu ngón chân của ông chạm đến sàn nhà. Trước khi nhận lãnh án chết, hai giáo sĩ Cơ đốc trao cho ông ta một quyển Kinh thánh rồi hướng dẫn ông đến với Đấng Christ. Khi ông bị kết án chết, ông đã chấp nhận bản án ấy như "sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời". Trước khi ông bị treo cổ, Tokichi đã viết ra điều nầy: "Có lẽ trong tương lai, ai đó trong thế gian nghe được rằng tên hung ác bẩn thỉu nhất đã từng sống biết ăn năn tội lỗi của mình và đã được cứu bởi quyền phép của Đấng Christ, và vì vậy nguyện họ cũng đến với sự ăn năn nữa. Mặc dù tôi chính là kẻ hèn kém, tôi sẽ cố gắng làm cho nhiều người được giàu có". Khi ông chết trên giàn giáo, lời nói sau cùng của ông là: "Linh hồn tôi, đã được luyện lọc, ngày nay trở về với Thành của Đức Chúa Trời". Đức Chúa Trời trong ân điển của Ngài đã đến với "kẻ hung ác bẩn thỉu nhất" giống như Ngài đã đến với "đầu tội nhân" 1.900 năm trước đây. Ân điển của Đức Chúa Trời sâu sắc và rộng đủ để đến với bất kỳ ai!
Điều chi đã khiến cho Phaolô động lòng về công cuộc truyền giáo và chức vụ môn đồ hoá? Điều chi đã tác động ông mở mang hết Hội thánh nầy đến Hội thánh khác? Điều chi khiến ông cứ ra đi dù bị đánh đòn, ném đá và mọi sự khác mà ông đã gánh chịu? Ông kiên quyết tin rằng nếu Đấng Christ có quyền phép và ân sũng đủ để cứu lấy ông, Ngài có thể cứu bất kỳ ai.
Điều chi khiến chúng ta cứ nhắm tới oikonomos của Đức Chúa Trời, hệ thống công việc của Ngài? Điều chi giữ công cuộc truyền giáo và môn đồ hoá là tiêu điểm của Hội thánh chúng ta? Điều chi giữ chúng ta đừng tranh cãi về những vụ việc thực sự chẳng có ích lợi? Chính là điều nầy. Nếu Đức Chúa Trời cứu tôi, Ngài sẽ cứu quí vị. Nếu Ngài yêu thương tôi, Ngài yêu thương quí vị. "Đức Chúa Jêsus Christ đã đến thế gian để cứu vớt tội nhân" và Ngài vẫn còn làm việc ấy hôm nay.
D. Sự khen ngợi ân điển chửng cứu của Đức Chúa Trời (câu 17).
Khi Phaolô suy gẫm về chiều sâu của tội lỗi ông, và lượng ân điển dư dật đầy dẫy của Đức Chúa Trời, ông không thể làm chi khác hơn là úp mặt xuống trong sự thờ phượng. Quí vị có thể hình dung ra ông, bút trên tay, cố gắng viết trên tấm giấy da dưới ngọn đèn dầu không? Ông ngửa mặt ra phía sau, ngước mắt nhìn lên trời, giơ cao hai cánh tay lên ngợi khen Đức Chúa Trời vì ân điển vô đối của Ngài. Khi ấy, ông sẽ tiếp tục viết lên bức thư trong tư thế thờ phượng bằng câu: "Nguyền xin sự tôn quí, vinh hiển đời đời vô cùng về nơi Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được, tức là Đức Chúa Trời có một mà thôi! A-men".
John Calvin bình luận về phân đoạn nầy như sau:
Sự sốt sắng của ông bật ra thành câu cảm thán nầy, khi ông không tìm được một câu nào khác để bày tỏ lòng biết ơn của mình. Thái độ nầy của Phaolô thình lình bộc phát ra khi sự rộng lớn của đối tượng trổi cao đối với ông và khiến cho ông phải tan vỡ thốt ra những điều ấy. Còn gì tuyệt vời hơn sự biến đổi của Phaolô? Đồng thời, ông làm cho chúng ta phải ngạc nhiên bởi tấm gương của ông, chúng ta chưa hề nghĩ tới ân điển tỏ ra trong ơn kêu gọi của Đức Chúa Trời để rồi phải lạ lùng ngưỡng mộ khi thấy ông không phải chịu hư mất. Sự ngợi khen cả thể nầy về ân sũng của Đức Chúa Trời nuốt gọn hết mọi ký ức về đời sống ông trước kia. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời cao cả và sâu sắc dường bao!
Sự thờ phượng thực không bị giục giã bởi âm nhạc mà là bởi ân điển! Sự thờ phượng thực đến từ việc nhìn biết chúng ta đã sống như thế nào và thậm chí chúng ta hiện đang sống như thế nào và hiểu rõ rằng Đức Chúa Trời tiếp nhận và yêu thương chúng ta không cứ cách nào!
Sam Houston là một đại biểu Quốc hội Hoa kỳ và là vị Tướng lãnh đã lãnh đạo các đạo quân ở Texas trong cuộc cách mạng chống Mễ Tây Cơ. Về sau ông trở thành Thống đốc bang Texas.
Sau nầy trong cuộc đời ông, ông đã được cứu ở một Hội thánh Báptít nhỏ. Khi ông chịu báptêm ở một con sông gần đó, vị Mục sư nói: "Sam, tội lỗi ông hết thảy đã được sạch rồi". Houston đáp: "Thế thì Đức Chúa Trời đang giúp đỡ cho bầy cá". Quí vị thấy đấy, nếu việc làm giải cứu chúng ta, chúng ta sẽ nhận lấy sự vinh hiển. Chúng ta sẽ đi dạo trong thiên đàng và ai nấy sẽ vỗ tay tán thưởng, hoan nghênh chúng ta về cách thức chúng ta thành công hoàn toàn trong đời sống chúng ta. Sự khen ngợi ấy giống như một phiên bản thiên thượng về giải thưởng của Viện Hàn Lâm vậy. Tuy nhiên, nếu chúng ta được cứu bởi đức tin, chúng ta không nhận lãnh bất kỳ một sự vinh hiển nào cả.
Đức Chúa Trời tiếp nhận mọi sự vinh hiển. Có người từng hỏi vị Mục sư chủ toạ của Hội thánh Moody Bible, Harry Ironside là ông đã đóng vai trò gì trong sự cứu của mình. Ironside đáp: "Tôi bị hư mất". Một tín hữu chân chính biết rõ chiều sâu của tội lỗi mình và thường lấy làm lạ bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Có sự thúc đẩy ở đàng sau sự thờ phượng đầy thẩm quyền kia. Có một người trong Hội thánh chúng tôi, ông nầy bật khóc mỗi lần ông nói tới ơn cứu rỗi của mình … thậm chí dù ông đã được cứu hơn 50 năm rồi! Bao lâu rồi, kể từ khi quí vị bật khóc, thờ phượng, và lấy làm lạ nơi sự cao cả của ân điển Đức Chúa Trời đối với quí vị? Chúng ta hãy mau mau nhìn vào bài thánh ca ngợi khen nầy. Phaolô gọi Đức Chúa Trời là "Vua muôn đời". Đức Chúa Trời là Vua tối cao trong mọi thời đại, Ngài cai trị và cai trị trong quá khứ đời đời kia, trong hiện tại và trong cả tương lai muôn đời đó nữa.
Đức Chúa Trời "không hề hư nát". Ngài luôn luôn sống động. Ngài không bao giờ thoái hoá. Ngài chưa hề suy đồi. Ngài không bao giờ thay đổi. Ngài không thể thay đổi được. "Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, cho đến đời đời không hề thay đổi" (Hêbơrơ 13.8). Đức Chúa Trời là "không thể thấy được". Chúng ta không thể nhìn thấy Ngài bằng hai con mắt xác thịt của chúng ta được. I Timôthê 6.16 chép: "một mình Ngài có sự không hề chết, ở nơi sự sáng không thể đến gần được, chẳng người nào từng thấy Ngài và cũng không thấy được".
Đức Chúa Trời là Đấng "khôn ngoan duy nhứt". Bản văn xưa nhất dịch cụm từ nầy là "Đức Chúa Trời duy nhứt". Ngài là những gì là Ngài. Ngài công bố: "Ta là Đức Giêhôva, và chẳng có thần nào khác". Phaolô kết luận lời ngợi khen Đức Chúa Trời nầy trong ân điển vô đối của Ngài bằng câu nói "Nguyền xin sự tôn quí, vinh hiển đời đời vô cùng về nơi Ngài".
"Đời đời vô cùng" sát nghĩa là: "cho đến đời đời kiếp kiếp". Đây là từ ngữ Hy lạp mạnh mẽ nhất nói tới cõi đời đời. Hết đời nầy sang đời khác, Đức Chúa Trời sẽ được chúng ta luôn luôn tôn vinh và làm vinh hiển cho Ngài.
II. Biết ơn vì ân điển nâng đỡ của Đức Chúa Trời (các câu 18-20).
Trên hết mọi sự, tôi cảm tạ vì cớ ân điển chửng cứu của Đức Chúa Trời. Không một điều gì từng làm cho tôi phải cảm động trong sự thờ phượng, không một điều gì đưa tôi đến với công cuộc truyền giáo, không một điều gì sẽ tác động tôi trong việc giảng dạy khi suy gẫm về cách thức Đức Chúa Trời cứu tôi ở giữa tình trạng hư mất đầy dẫy tội lỗi của tôi. Tuy nhiên, tôi cũng luôn cảm tạ vì Đức Chúa Trời ban "ơn càng thêm ơn", ân điển cứu tôi vẫn đổ trên linh hồn tôi như một thác nước chảy hoài không dứt vậy. Ân điển của Đức Chúa Trời trong hiện tại liên tục nâng đỡ tôi.
A. Ân điển của Đức Chúa Trời nâng đỡ Timôthê (các câu 18-19a).
Kế đó Phaolô nói: "Hỡi Ti-mô-thê, con ta, sự răn bảo mà ta truyền cho con". Sự "răn bảo" nào? Đây là mạng lịnh mà chúng ta đã thấy tuần vừa qua ở các câu 3-4. Đây là sự "răn bảo" đừng "truyền dạy một đạo giáo nào khác" mà chỉ nắm lấy công việc của Đức Chúa Trời, oikonomos, sự bảo tồn Ngôi Lời và Tin lành. Đây là sự "răn bảo" đừng phủ lấp Tin lành với "phù ngôn và gia phổ vô cùng", là những thứ tạo ra sự suy đoán thay vì lẽ thật. Đây là sự "răn bảo" đừng nhầm lẫn Tin lành với "luật pháp" là thứ tạo ra chủ nghĩa thiên về với luật pháp thay vì đức tin. Đây là sự "răn bảo" phải trung thành truyền đạt và chuyển giao cho người khác "tin lành vinh hiển của Đức Chúa Trời hạnh phước" đã được "giao phó" cho Phaolô (câu 11).
Những sự suy đoán không thể cứu được. Luật pháp không thể cứu được. Chỉ có Tin lành mới đổi tội nhân thành thánh đồ. Đấy là lý do tại sao chúng ta phải cẩn thận bảo tồn Tin lành và chuyển giao nó. Ông nói: "Ta truyền cho con". "Truyền" có nghĩa là "cung cấp, giao cho". Tôi "giao" tiền bạc của tôi cho nhà băng khi tôi mở tài khoản. Tôi tin cậy rằng nhà băng sẽ bảo trọng số tiền của tôi và luôn sẵn có cho tôi bất cứ lúc nào tôi cần đến. Phaolô đã giao thác đức tin cho Timôthê. Chúng ta đã được giao cho đức tin nữa.
Chúng ta sẽ chuyển tài khoản ấy, đức tin ấy cho thế hệ hầu đến. Trong II Timôthê 1.14, Phaolô nói: "Hãy nhờ Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta mà giữ lấy điều phó thác tốt lành". II Timôthê 1.13-14 chép: "Hãy lấy lòng tin và yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ mà giữ lấy mẫu mực của các sự dạy dỗ có ích, là sự con đã nhận lãnh nơi ta. Hãy nhờ Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta mà giữ lấy điều phó thác tốt lành".
Đã có "những lời tiên tri đã chỉ về Timôthê". Trong thời kỳ ấy, trước khi kết thúc phần kinh điển của Kinh thánh, khi các ân tứ thuộc linh siêu nhiên vẫn còn hiệu lực đầy đủ, Đức Chúa Trời đã kêu gọi Timôthê bước vào chức vụ Mục sư ngay nơi môi miệng của các tiên tri. Timôthê không phải là nhà lãnh đạo tình nguyện, mà là một đặc sứ có thẩm quyền đến từ Đức Chúa Trời.
Với thẩm quyền ấy, Timôthê cần phải "đánh trận tốt lành". Vị Sứ Đồ không có trong trí ở đây một trận đánh đơn sơ mà là một chiến dịch dài hạn. Khi chúng ta suy nghĩ về quan niệm chiến trận thuộc linh, hầu hết các tín đồ có khuynh hướng suy nghĩ theo chiều hướng văn hoá, về những trận chiến chính trị trong lãnh vực nằm ngoài Hội thánh. Tuy nhiên, trận chiến lớn lao nhất của chúng ta không nằm ở bên ngoài Hội thánh mà là ở bên trong. Trận chiến lớn lao nhất của chúng ta là phải giữ cho Hội thánh nhắm tới sự tin cậy thiêng liêng. Hãy suy nghĩ về điều đó, Israel không hề thua một trận đánh vì cớ sức mạnh của kẻ thù mà thua vì cớ đức tin của mình yếu đuối.
Trong câu 19, chúng ta thấy Timôthê phải đánh trận đánh tốt lành nầy như thế nào. Ông cần phải có "đức tin" dựa vào đạo lành của mình và một "lương tâm tốt" dựa vào sự thanh sạch về mặt đạo đức của ông. Nếu quí vị là ma quỉ, quí vị sẽ xuyên tạc sứ điệp như thế nào? Tôi sẽ tấn công hệ thống giảng dạy cho tới khi nào hệ thống ấy không còn quyền phép siêu nhiên nữa. Tôi sẽ bỏ chúng lại trong cái vỏ tôn giáo trống không hay một sự liên lạc văn hoá rất nhàn hạ không bao giờ vượt quá bốn bức tường của nhà thờ. Tôi sẽ tấn công họ về mặt đạo đức để chẳng một ai sẽ tin theo Tin lành vì cớ họ thiếu tin cậy. Đấy là những gì đang xảy ra tại thành Êphêsô và Timôthê phải dọn dẹp cái đống bẩn thỉu ấy.
"Mấy kẻ", rõ ràng mấy người nầy đang lãnh đạo Hội thánh đi sai đường, đã lìa khỏi đạo thật và một lương tâm tốt. Giờ đây họ đã "bị chìm đắm". "Chìm đắm" có nghĩa gì? Hãy phác hoạ nó ra trong trí xem. Đây là một con tàu bị lật úp chỉ còn thấy có thân tàu mà thôi. Tàu nầy không còn có giá trị để chở hàng hay chở khách, chẳng còn làm chi được nữa trừ phi nằm dưới đáy biển. Một người tin Chúa lìa khỏi đạo thật và sự thanh sạch về mặt đạo đức chẳng còn có giá trị gì nữa với lý tưởng của Đấng Christ.
Họ đã quá rỗi rãnh và lơ là với Kinh thánh. Như một nhà văn từng viết: "Giáo sư Kinh thánh nào không thực hành những điều mình rao giảng sẽ thấy đức tin mình khiến cho mình phải thất bại". Khi chúng ta để cho những triết lý của thế gian xâm nhập tư tưởng mình, các sự hồ nghi sẽ xuất hiện. Nếu những mối nghi ngờ đó không bị kiểm soát chúng sẽ dấy lên tới chỗ bội đạo, là sự "chìm đắm" của đức tin.
Có lẽ quí vị chưa hề nghe nói tới Charles Templeton, nhưng ông từng là một nhà truyền đạo rất nổi tiếng. Thực vậy, trong thập niên 1940, ông đã lôi kéo nhiều đoàn dân đông hơn cả Billy Graham. Khi ông thành lập một Hội thánh mới, những khán thính giả nồng nhiệt của ông đã mau mau tới dành hết 1200 chỗ ngồi trong giảng đường. Khi tổ chức “Thanh Niên Vì Đấng Christ” muốn tổ chức truyền giáo đông đảo, họ mời Charles Templeton, chớ không mời Billy Graham. Họ đi đầy những đại lộ lớn và người ta đáp ứng rất đông đảo đối với sự rao giảng Tin lành của ông. Khi ấy có việc quan trọng bắt đầu xảy ra. Những điều hồ nghi hình thành trong trí của Templeton. Thay vì đưa họ đến với Đức Chúa Trời và Lời của Ngài như chàng thanh niên Graham đã làm. Ông trở thành một kẻ yếm thế cay đắng và thậm chí đã viết một quyển sách có đề tựa là: “Tạm biệt Đức Chúa Trời. Những lý do để từ chối đức tin Cơ đốc”. Khi Lee Strobel đến phỏng vấn ông cách đây chừng hai năm vì cớ quyển sách có đề tựa: “Một trường hợp cho đức tin”, ông tìm một cụ già cay đắng tranh luận với đức tin của Alzheimer. Ông là một hình ảnh đương thời nói tới đức tin "chìm đắm" bội đạo.
B. Ân điển của Đức Chúa Trời đã nâng đỡ Phaolô (các câu 19b-20).
Phaolô cũng cần tới ân điển nâng đỡ của Đức Chúa Trời nữa. Ông phải xử lý riêng với những kẻ xuyên tạc tin lành bằng những sự dạy sai trái của họ. Ông nhắc tới hai người là tấm gương chính cho đức tin bị "chìm đắm". "Hy-mê-nê" cũng được nhắc tới trong II Timôthê 2.17-18, ở đây chép: "và lời nói của họ như chùm bao ăn lan. Hy-mê-nê và Phi-lết thật như thế, họ xây bỏ lẽ thật; nói rằng sự sống lại đã đến rồi, mà phá đổ đức tin của một vài người cách như vậy". "A-léc-xan-đơ" là một cái tên rất phổ thông. Tên ấy làm cho người ta khó nhận ra lai lịch của ông ta. Có thể ông ta là "A-léc-xan-đơ thợ đồng", là người theo II Timôthê 4.14 đã làm hại nhiều cho Phaolô. Phaolô nói về ông ta: "Tùy theo công việc hắn, Chúa sẽ báo ứng".
Trong một hành động rất can đảm và thuyết phục, Phaolô nói: "Ta đã phó [họ] cho quỉ Satan rồi, hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa". Với thẩm quyền của sứ đồ, ông đã gạt họ ra khỏi Hội thánh, vào trong lãnh vực của Satan. Ở đó, Đức Chúa Trời sẽ cho phép Satan hành hại họ. Mục đích của kỷ luật Hội thánh như thế nầy không phải là hình phạt mà là có tính cách cứu chữa, "hầu cho họ học biết". Phaolô đã không mất hy vọng đối với họ mà còn ao ước rằng họ trở lại với đạo lành và sự thanh sạch về mặt đạo đức.
C. Ân điển của Đức Chúa Trời sẽ nâng đỡ chúng ta.
Chúng ta cần ân điển của Đức Chúa Trời trong việc gìn giữ Hội thánh cho được thanh sạch. Chúng ta cần sự can đảm để "lánh xa những kẻ theo tà giáo một hai lần rồi" (Tít 3.10). Tà giáo là một cách chuyển ngữ một từ Hy lạp cơ bản có nghĩa là "chọn lựa". Hạng người gây chia rẽ muốn quí vị phải chọn giữa triết lý của họ và lẽ thật của Đức Chúa Trời đã được tỏ ra rồi. Ân điển của Đức Chúa Trời sẽ nâng đỡ chúng ta khi chúng ta gìn giữ đức tin, oikonomos, luật lệ trong nhà của Đức Chúa Trời, công việc của Đức Chúa Trời trong Tin lành luôn luôn kết quả trong những đời sống đã được thay đổi.
Jim Elliot, vị giáo sĩ đã tuận đạo được ghi nhớ vì đã nói: "Chúng ta là những kẻ chẳng ra gì đang làm chứng cho mọi người về Đấng có thể cứu vớt bất cứ ai".
***

I Timôthê 1.3-11: "Những trưởng lão sai trái"



I Timôthê – Chuyển giao ngọn đuốc
Những trưởng lão sai trái
I Timôthê 1.3-11
Công vụ các sứ đồ 20, theo ý của tôi là một trong những bối cảnh cảm động nhất trong Tân Ước. Sứ đồ Phaolô đang đưa ra một lời từ giả đầy nước mắt với các trưởng lão của Hội thánh ở thành Êphêsô. Ông đã để ra ba năm ở đó trong một chức vụ đầy quyền phép đã làm chao đảo xã hội tà giáo chuyên thờ lạy hình tượng. Những người trở lại đạo tại thành Êphêsô đã trở thành hạng môn đồ mạnh mẽ và rõ ràng Phaolô đã chỉ định một số người có tư cách, được ơn làm trưởng lão để lãnh đạo Hội thánh. Khi ông trên đường lên thành Jerusalem, ở đó ông sẽ bị bắt, Phaolô đã dặn các trưởng lão đến gặp ông tại thành Mi-lê (câu 17). Nước mắt đầm đìa, ông nói với họ: "Hiện bây giờ, tôi biết rằng giữa anh em mà tôi đã ghé qua giảng về nước Đức Chúa Trời, thì chẳng có một ai sẽ thấy mặt tôi nữa. Nên bữa nay tôi nói quyết trước mặt các anh em rằng tôi tinh sạch về huyết anh em hết thảy. Vì tôi không trễ nải một chút nào để tỏ ra cho biết hết thảy ý muốn của Đức Chúa Trời. Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình. Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu; lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ. Vậy, hãy tỉnh thức, nhớ lại rằng trong ba năm hằng đêm và ngày, tôi hằng chảy nước mắt ra mà khuyên bảo cho mọi người luôn. Bây giờ tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng, và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người được nên thánh" (các câu 25-32). Khi ông đã nói với họ xong rồi, Phaolô "bèn quì xuống và cầu nguyện với hết thảy các người ấy. Ai nấy đều khóc lắm, ôm lấy cổ Phao-lô mà hôn" (các câu 36-37). Tiếp đến Phaolô xuống tàu rời khỏi họ. Ý chính trong sứ điệp của Phaolô nói với các trưởng lão thành Êphêsô là một lời cảnh cáo, một lời cảnh cáo nghịch lại những con sói nào len lỏi giữa bầy chiên của Đức Chúa Trời và phá hủy bầy. Các giáo sư giả đã hành hại những Hội thánh đầu tiên và họ vẫn còn rất năng động hôm nay. Chúa Jêsus phán trong Mathiơ 7.15: "Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé". Phierơ viết: "Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình" (II Phierơ 2.1). Giăng nói trong I Giăng 4.1: "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ".
Trong nhiều Hội thánh, đặc biệt những Hội thánh trong khu vực xứ Galati, họ đang xử lý với các giáo sư giả đang xâm nhập vào trong Hội thánh từ bên ngoài. Những người theo giáo Giu-đa đã vây lấy những Hội thánh nầy, họ dạy rằng sự cứu rỗi đòi hỏi việc thêm luật pháp vào đức tin. Tuy nhiên, các giáo sư giả không luôn luôn đến từ bên ngoài; đôi khi họ phát sinh từ bên trong. Lao thẳng vào trong lịch sử, thư tín I Timôthê đưa chúng ta trở lại với thành Êphêsô một vài năm sau khi Phaolô cảnh cáo các trưởng lão của Hội thánh nơi phần tình cảm của ông. Thực vậy, những con sói đã phát sinh ngay từ bên trong bầy, từ trong vòng các trưởng lão, những người nào đã nắm giữ trách nhiệm lo bảo hộ bầy chiên của Đức Chúa Trời. Đây không phải là những kẻ theo giáo Giu-đa từ bên ngoài giống như ở các Hội thánh xứ Galati, mà là các giáo sư từ bên trong, họ đã sa vào đạo dối. Phaolô truyền cho Timôthê phải đối mặt với các trưởng lão sai trái và đưa Hội thánh trở về với "đạo thật".
Lần vừa qua tôi đã nói cho quí vị biết rằng lẽ đạo trong I Timôthê là chuyển giao ngọn đuốc lẽ thật cho thế hệ kế tiếp. Nếu quí vị suy nghĩ về công việc ấy, Timôthê là một phần của làn sóng thứ ba, thế hệ Cơ đốc nhân thứ ba. Thứ nhứt có Chúa Jêsus, thứ hai là các sứ đồ và giờ đây là Timôthê và Tít. Nếu họ không xử lý với sự dạy giả dối trong kỷ nguyên của họ, đặc biệt là sự dạy giả dối phát sinh từ bên trong Hội thánh, chúng ta sẽ không có một tin lành chính xác hôm nay. Chúng ta lo bảo hộ Tin lành, điều nầy quả là rất cấp bách. Chúng ta đã được ban cho một sự tin cậy thiêng liêng phải chuyển giao cho các thế hệ nối tiếp. Chúng ta hãy xem xét nan đề, mục tiêu và lầm lỗi của các trưởng lão sai trái.
I. Nan đề của các trưởng lão sai trái (các câu 3-4).
A. Mạng lịnh của Timôthê (câu 3).
Trước hết, làm ơn gạch dưới chữ "răn bảo" trong câu 3. Từ nầy lẽ ra phải dịch là “ra lịnh”. Timôthê không phải dạy dỗ theo cách dịu ngọt, gia ơn đối với các giáo sư giả nầy, sự sai trái trong suy tưởng của họ, mà phải ra lịnh hay bảo họ phải chấm dứt ngay những sự dạy như vậy! Những vị Mục sư phải quở trách! Phaolô nói ông đã "truyền" cho Timôthê khi ông lìa khỏi đó để sang xứ "Ma-xê-đoan", Timôthê phải ở lại "Êphêsô để răn bảo những người kia đừng truyền dạy một đạo giáo khác". Phaolô đã có mặt tại thành Êphêsô chiến đấu với nan đề, giờ đây ông tiếp tục ra đi rồi để phần việc lại cho Timôthê nối tiếp công việc. Phaolô không nói "những người kia" ở đây là ai, nhưng chúng ta có thể kết luận chính xác rằng họ là những trưởng lão vì một số lý do. Thứ nhứt, trong câu 7 họ được xem là "thầy dạy luật". Trọng tâm chức vụ của trưởng lão là dạy dỗ. Thứ hai, hai trong số họ đặc biệt được nhắc đến bằng tên trong câu 20: "Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ" là những kẻ mà Phaolô đã kỷ luật rồi và đã trục xuất ra khỏi Hội thánh. Điều nầy là công việc bình thường của chính các trưởng lão, nhưng Phaolô phải làm công việc đó. Thứ ba, chương ba cung ứng cho chúng ta một danh sách chi tiết những đức tính của các trưởng lão. Thứ tư, chương năm cung ứng những huấn thị rất rõ ràng về việc phải kỷ luật một trưởng lão bị bắt quả tang đang phạm lỗi và phạm tội. Mặc dù chúng ta sẽ xem xét theo chi tiết điều nầy trong một phút, câu 4 chép các cấp lãnh đạo Hội thánh theo cách bất tuân nầy đã dạy dỗ "phù ngôn và gia phổ vô cùng". Câu 6 nói họ đã "xây bỏ" mục đích và "đi tìm những lời vô ích". Câu 7 cho biết họ đã có một ao ước muốn có danh tiếng là "thầy dạy luật" ngay cả khi họ "không hiểu họ nói gì, hay những việc mà họ không dám chắc". Nói cách khác, họ đang dạy nhiều điều ngớ ngẩn, vô mục đích mà bản thân họ không hiểu để gây ấn tượng cho mọi người với sự hiểu biết của họ. Quí vị lấy làm lạ ở điểm nào? Tại sao chúng ta hôm nay phải quan tâm đến một nan đề trong Hội thánh thời xa xưa? Mục đích là, chính việc ấy sẽ diễn ra ở đây! Chính việc ấy đang diễn ra trong nhiều Hội thánh ngày nay. Nhiều người bị lèo lái bởi các trưởng lão sai trái, nhiều người đang nắm giữ chức vụ nhưng không có những đức tính hoặc sự dâng mình cho lẽ thật. Còn về những Hội thánh không có một trưởng lão nào thì sao? Phần lớn trong số họ đã bị các Mục sư, chấp sự và những giáo viên Trường Chúa Nhựt sai trái dẫn dắt.
Khi điều đó xảy ra ở đây, chúng ta cần phải công khai "răn bảo" họ, truyền cho họ hay ra lịnh cho họ phải chấm dứt sự dạy có tính huỷ diệt và những suy tưởng vô nghĩa của họ đi. Chúng ta cần phải dời họ ra khỏi chức năng lãnh đạo trong Hội thánh và trách nhiệm quí báu trong việc kỷ luật các thánh đồ. Tại sao vậy? Vì…
B. Phù ngôn và gia phổ vô cùng (câu 4a).
Hãy xem lại câu 4. Những trưởng lão sai trái nầy đã bị kéo vào "phù ngôn và gia phổ vô cùng, là những điều gây nên sự cãi lẫy". Nói như thế có nghĩa gì? Nghĩa là, thay vì dạy lẽ thật trong sách của Lời Đức Chúa Trời, họ đã tìm kiếm điều cao thấp để che giấu ý nghĩa đi. John Stott nói: "Chắc chắn họ là những nhà tư tưởng. Họ đối xử với luật pháp [Cựu Ước] giống như một vùng đất săn vui sướng cho những tư tưởng của họ".
Họ không khởi sự đề xướng như những kẻ dị giáo, mà giống như những nhà chú giải Kinh thánh vậy. Lấy tấm gương của thuyết Gnosticism trong thời của họ, họ muốn đào sâu hơn nữa vào Kinh thánh bằng cách đưa ra mọi phương cách lý giải theo kiểu hình bóng những câu chuyện đơn giãn. Họ đào bới trong những truyền thuyết của các rabi Do thái về những nhân vật đã được liệt kê ra trong những bảng “gia phổ” Cựu Ước chẳng có một nền tảng nào trong lẽ thật đã được tỏ ra, tỉ như George Washington và cây anh đào vậy. Họ tạo ra những sự dạy có tính tưởng tượng thay vì tiếp thu ý nghĩa của Ngôi Lời.
Hãy lấy câu chuyện trong Kinh thánh nói về Ađam và Êva. Thay vì cho rằng Ađam và Êva là người nam người nữ đầu tiên, tổ mẫu và tổ phụ của cả nhân loại, các trưởng lão sai trái nầy dám nói rằng Ađam đứng cho phần tâm linh, còn Êva đứng cho phần xác thịt. Họ đã lấy tên tuổi, lời nói rồi chuyển ý nghĩa trong sáng thành ra những kiểu cách và hình bóng. Người ta vẫn ưa thích những sự dạy theo kiểu tiểu thuyết. Sự việc nầy đang xảy ra trong các Hội thánh khắp thành phố của chúng ta và trên khắp thế giới nữa. Sự thể ấy có lẽ đang xảy ra trong Hội thánh nầy từng hồi từng lúc. Đây là tình trạng cùng khốn ở trong thân thể của Đấng Christ! Không phải là hầu hết các vị giáo sư nầy không tin theo Tin lành, họ chỉ làm nghẹt ngòi Tin lành ấy với sự dạy quá tầm thường của họ!
Hỡi Hội thánh, mục tiêu của chúng ta là phải xử lý với sự rao giảng đơn sơ và đơn giãn. Đừng tìm kiếm những ý nghĩa kín giấu trong những câu nói khi lẽ thật đơn sơ là những gì Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải hiểu. Khi quí vị đọc một cái tên của một người hay một thành phố, trừ phi câu gốc gắn với một ý nghĩa đặc biệt, quí vị đừng gán thêm một ý nghĩa nào nữa cả. Đừng tạo ra những sự dạy có tính tưởng tượng vượt quá sự dạy trong sáng của phân đoạn Kinh thánh.
Điều nầy xảy ra ở một phong cách khác nữa đang tạo ra lệch lạc bởi nhiều vấn nạn khác. Khi quí vị nhóm lại trong các lớp học Kinh thánh, quí vị cần phải bàn bạc ý nghĩa của Kinh thánh, không nên bàn về có sự sống trên các hành tinh khác hay không, nạn dịch của chủ nghĩa cộng sản hay các kiểu tóc của phụ nữ mà chi!
Quí vị có bao giờ nghe những nhà truyền đạo tìm cách lý giải ý nghĩa của con số antichrist không? Chuyện ấy quả là vô mục đích và không cần thiết. Hãy trở lại một chút với nhà toán học người Do thái, Tấn sĩ Elijahu Rips nói rằng ông đã giải mã Cựu Ước với một công thức của máy tính và đã mở ra được những lời tiên tri nói tới những biến cố hiện đại giống như sự ám sát Tổng thống Kennedy, diệt chủng của phát xít, bom nguyên tử và sự bầu chọn Tổng thống của Bill Clinton. Quyển sách The Bible Code [Mã Kinh thánh] là quyển sách bán rất chạy. Tôi biết có nhiều vị Mục sư rất mê say với quyển sách nầy!
Có lẽ thật mang rất nhiều giá trị trong Kinh thánh hơn, chúng ta có thể dạy hay tiếp thu trong đời sống của chúng ta, chúng ta đừng phí thì giờ vào những việc tầm phào che mờ đi lẽ thật. Nếu I Timôthê dạy chúng ta một việc quan trọng, ấy là Hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ phải có nơi cốt lõi của nó sự dạy thường trực về "đạo thật" vì những việc tầm phào vô ích chẳng có tác dụng gì trừ ra "gây nên sự cãi lẫy" hay những tranh chấp vô mục đích. Vì lẽ đó khi Timôthê bị Phao-lô "thúc giục" phải "răn bảo" các trưởng lão sai trái nầy "họ đừng truyền dạy một đạo giáo nào khác", hôm nay chúng ta sẽ nhắm vào phần việc dạy duy nhứt "đạo thật [lành]" mà thôi.
C. Mục đích của Hội thánh (câu 4b).
Tại sao mọi điều nầy lại quan trọng như thế chứ? Vì những chuyện tầm phào kia không những "gây nên sự cãi lẫy" mà còn che giấu mục đích thật của Hội thánh là : "bổ sự mở mang công việc của Đức Chúa Trời, là công việc được trọn bởi đức tin". Cụm từ nầy rất là quan trọng, tôi muốn dừng ở đây trong một phút và đào sâu cụm từ ấy.
Cụm từ "bổ sự mở mang" đã được dịch bằng nhiều hình thức khác trong các bản dịch Kinh thánh khác. Bản NASV dịch cụm từ nầy là: "sự quản lý của Đức Chúa Trời". Bản Kinh thánh NIV chỉ dịch cụm từ nầy là "công việc của Đức Chúa Trời". Cụm từ nầy dựa vào cụm từ La tinh oiknomian theos. Nghe thì hơi khó đấy, nhưng nếu tôi có thể hiểu được cụm từ ấy, thì quí vị cũng có thể hiểu được. Chúng ta hãy chia cụm từ ấy ra thành nhiều phần nhỏ hơn xem.
Oikos là một từ Hy lạp nói tới "ngôi nhà". Nomos có ý nói tới "luật pháp" như một kẻ phi luật pháp. Một kẻ phi luật pháp là một người đang chống nghịch lại pháp luật. Vì thế một từ kép như oikonomos có nghĩa là "ngôi nhà luật pháp" hay "luật lệ trong nhà". Chúng ta có một vài oikonomos trong gia đình của mình. Thí dụ, khi quí vị ra khỏi giường ngủ, thì phải xếp gường lại. Đôi giày không bị bỏ trong xó. Chúng ta không ăn cho tới khi ai nấy đều ngồi vào chỗ và đã cầu nguyện cảm tạ, v.v…Quí vị cũng có những luật lệ ấy trong gia đình của mình nữa. Các luật lệ trong gia đình, rất đơn sơ. Những hình thái khác của từ ngữ nầy đã được rãi khắp Tân Ước với ý nghĩa cơ bản về chức năng quản lý, về kinh tế hay quản trị. Khi được áp dụng ở đây, từ nầy có ý nói tới chức năng quản lý mà Đức Chúa Trời đã giao cho Hội thánh của Ngài "là công việc được trọn trong đức tin".
Đức Chúa Trời đã truyền cho chúng ta phải chăm sóc Hội thánh của Ngài, người nhà của Ngài, và Tin lành của Ngài. Phaolô trình bày mục đích nầy trong thư tín ở 3.15: "phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy".
Chức năng quản lý của chúng ta oikonomos là như thế nào theo ý của Đức Chúa Trời? Ấy là phải bảo hộ, giữ gìn và nhân giống Tin lành "là công việc được trọn bởi đức tin". "Bổ sự mở mang" là dạy dỗ, giảng dạy sứ điệp: "Hãy tin Đức Chúa Jêsus, thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi" (Công vụ các sứ đồ 16.31). Chúng ta đừng bao giờ để cho lẽ thật tối thượng nầy phải bị chôn vùi bởi những "phù ngôn và gia phổ vô cùng" hay bởi những sự dạy gàn dở và tiểu thuyết đó. Chúng ta phải luôn luôn in trong trí mục đích của chúng ta là một Hội thánh, oikonomos của chúng ta, luật lệ trong nhà của Đức Chúa Trời. Chúng ta cần phải tái sản xuất những người nam ngươi nữ có đức tin, họ sẽ chuyển giao ngọn đuốc cho nhiều người khác nữa. Cho phép tôi chỉ ra loại người mà chúng ta muốn Hội thánh mình phát triển.
Thứ nhứt, chúng ta muốn họ phải là NHỮNG NGƯỜI TRỞ LẠI ĐẠO. Chúng ta muốn những người ấy phải thực sự được sanh lại. Chúng ta muốn chia sẻ Tin lành trong mọi sự trong sáng và quyền phép của Tin lành ấy hầu cho mọi người lo liệu mọi công việc ở đây đều là những Cơ đốc nhân chân chính, có quyền phép, có Đức Thánh Linh ngự ở trong lòng. Vấn đề trong nhiều Hội thánh, ấy là phần nhiều người ngồi trong các hàng ghế chưa thực sự được cứu!
Thứ hai, chúng ta muốn họ phải biết ĐẦU PHỤC. Chúng ta muốn khích lệ và môn đồ hoá họ theo một phương thức họ biết đầu phục cách tuyệt đối đối với Đức Chúa Trời, hầu cho họ không có một chân đứng trong thế gian và một chân đứng trong Hội thánh. Chúng ta muốn họ phải biết đầu phục đối với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, sự thờ lạy Đức Chúa Trời, Lời của Đức Chúa Trời và chương trình của Đức Chúa Trời!
Thứ ba, chúng ta muốn họ phải có NĂNG LỰC. Chúng ta muốn dạy cho họ biết những lẽ thật trong Kinh thánh, là đạo thật và cách thức học Kinh thánh cho bản thân họ. Chúng ta muốn dạy cho họ biết cách thức cầu nguyện và cách thức thờ phượng. Chúng ta muốn dạy cho họ biết cách thức chứng đạo và chia sẻ đức tin của họ với nhiều người khác.
Thứ tư, chúng ta muốn dạy cho họ biết NHÓM LẠI. Chúng ta không cần nhiều Cơ đốc nhân kiểu "Biệt Động Cô Độc". Chúng ta muốn họ phải gắn bó với đời sống của nhiều Cơ đốc nhân khác qua các nhóm nhỏ. Chúng ta muốn họ phải có một số người ở quanh họ, những người nầy giúp họ biết trình sổ về mọi hành động của họ.
Sau cùng, chúng ta muốn họ phải có tính SÁNG TẠO. Chúng ta muốn họ phải khám phá ra các ân tứ mà Đức Chúa Trời đã phó cho họ và là một con người đặc biệt mà Đức Chúa Trời đã dựng nên họ. Chúng ta muốn họ đem các ân tứ và tính cách đặc biệt của họ để gánh vác công việc của Đức Chúa Trời qua cách phục vụ đầy tính sáng tạo trong thân thể. Hỡi quí tín hữu, Hội thánh chúng ta tồn tại để tạo ra loại môn đồ nầy. Đây là công việc của Đức Chúa Trời, chức năng quản lý của Ngài ban cho chúng ta là để quản trị. Chúng ta chẳng dung chịu một thứ chi khác, tỉ như “cãi lẫy”, làm hạ thấp hay ngăn trở sứ mệnh nầy.
II. Mục tiêu của các trưởng lão sai trái (các câu 5-7a).
Trong tiểu đoạn kế tiếp, Phaolô đối chiếu mục tiêu của ông với mục tiêu của các trưởng lão sai trái.
A. Mục tiêu của đạo thật (câu 5).
Ông nói: "Mục đích của sự răn bảo…" Whoa. "Răn bảo" ư? Vấn đề nầy cần phải xem lại oikonomos của Đức Chúa Trời, các luật lệ trong nhà của Ngài. Mục đích của Hội thánh trong sự bền giữ đức tin là gì? Đó là: "sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra".
Tác động trong chức vụ của Hội thánh là tình yêu thương, tình yêu dành cho Đức Chúa Trời và kế đó là tình yêu dành cho nhân loại. Hội thánh cần phải gieo ra và sản xuất tình yêu thương. Khi một thầy dạy luật đến hỏi Chúa Jêsus điều răn nào là quan trọng nhất, Ngài đáp từ shama, là điều răn chính trong mọi điều răn của Cựu Ước: "Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra" (Mathiơ 22.37-40).
Khi một Hội thánh dạy dỗ đạo thật, người ta học biết kính sợ Đức Chúa Trời và yêu nhau. John Piper nói: "Tình yêu thương là sự tràn ngập niềm vui mừng trong Đức Chúa Trời, là thứ làm thoả mãn các nhu cần của tha nhân". Khi quí vị học biết lẽ thật trong Kinh thánh, quí vị tìm thấy tình yêu cao cả và sự vui mừng khôn xiết ở trong Chúa. Từ tình yêu nầy, chúng ta tự nhiên đáp ứng rất tình cảm với người khác. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 13.35: "Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta".
Chúng ta nên có loại tình yêu nào? Trước tiên đó là sẽ một tình yêu phát xuất "từ tấm lòng trong sạch". Chúa Jêsus đã phán trong Các Phước Lành: "Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!" (Mathiơ 5.8). Thi thiên 86.11 chép: "Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy chỉ dạy cho tôi biết đường lối Ngài, Thì tôi sẽ đi theo sự chân thật của Ngài; Xin khiến tôi một lòng kính sợ danh Ngài".
Giêrêmi 32.38-39 nói tiên tri về kết quả của Tin lành: "Chúng nó sẽ làm dân ta, và ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó. Ta sẽ ban cho chúng nó một lòng một đường lối như nhau, hầu cho kính sợ ta đời đời, để chúng nó và con cháu nối sau đều được phước". Công việc của Đức Chúa Trời trong Hội thánh tạo ra hạng người không biết đến chia rẻ, tấm lòng trong sạch, sống tin kính.
Thứ hai, tình yêu nầy xuất phát từ "một lương tâm tốt". Sâu lắng bên trong mỗi một người, Đức Chúa Trời đã đặt để một "lương tâm", một áp kế ở bên trong về điều thiện và điều ác. Lương tâm của chúng ta một là tán thành hay là tố cáo các hành vi cùng thái độ của mình. Khi chúng ta tấn tới trong tình yêu thương và hành động trong tình yêu thương, chúng ta không bị xét đoán hay thuyết phục bởi lương tâm của chúng ta.
Thứ ba, tình yêu nầy xuất phát từ "một đức tin thật". Sát nghĩa, chỗ nầy đọc là: "một đức tin không có sự giả hình". Khi Hội thánh thực thi theo các luật lệ của nhà Đức Chúa Trời, dân sự không phải là những kẻ giả hình được. Chúng ta áp dụng những gì chúng ta tiếp thu vào đường lối chúng ta đang sinh sống. Chúng ta trở nên trước sau như một. Chúng ta đã được biến đổi ra giống với ảnh tượng của Đấng Christ.
B. Mục tiêu của đạo dối (câu 6-7a).
Trong câu 6, Phaolô nói rằng các trưởng lão sai trái không có trong trí tình yêu trưởng thành xuất phát từ đạo thật. Thay vì thế, họ đã "xây bỏ" và đã "đi tìm những lời vô ích". Tất nhiên là họ đã lạc đường và đã tẻ tách ra khỏi con đường chính đáng. "Xây bỏ" ra từ một chữ mô tả một cánh tay đã bị vặn cong. Họ đang đi xuống con đường lạc sai, nó sẽ dẫn họ đến chỗ "những lời vô ích" hoặc tranh cãi vô mục đích. Một số người chỉ thích tranh luận. Đúng hay sai thì chẳng thành vấn đề. Thậm chí họ không phải tin vào những gì họ đang nói, họ chỉ thích ồn ào và cảm giác mình cao tay trong bất kỳ một cuộc tranh luận nào. Chúng ta đã có hạng người ấy ở đây. Mục tiêu của họ không phải là khích lệ và gây dựng nhiều người khác trong đức tin. Thay vì thế, họ ao ước "muốn làm thầy dạy luật". Luôn luôn có một số người, họ bước vào trong nhà thờ, không phải để nắm bắt những luật lệ của nhà Đức Chúa Trời, mà để đề ra luật lệ riêng của họ. "Thầy dạy luật" là một tước hiệu đã được ban ra cho các rabi Do thái có học vấn cao. Các trưởng lão sai trật nầy ở thành Êphêsô đều muốn có loại uy thế đó.
Không có một chỗ nào cho hạng giáo sư kiêu ngạo ở trong Hội thánh. Thực vậy, người nào đang dạy Kinh thánh cần phải trở thành hạng người khiêm nhường đến đều. Gia-cơ 3.1 chép: "Hỡi anh em, trong vòng anh em chớ có nhiều người tự lập làm thầy, vì biết như vậy, mình sẽ phải chịu xét đoán càng nghiêm hơn. Hỡi anh em, trong vòng anh em chớ có nhiều người tự lập làm thầy, vì biết như vậy, mình sẽ phải chịu xét đoán càng nghiêm hơn".
III. Lầm lỗi của các trưởng lão sai trái (các câu 7b-11).
Những người nầy có ý đồ gì khi họ bất chấp luật lệ trong nhà Đức Chúa Trời và ao ước muốn “làm thầy dạy luật"? Họ "không hiểu điều mình nói hoặc điều mình tự quyết". Nói cách khác, họ không biết họ đang nói tới điều gì nữa. Họ khó nhọc tìm kiếm những sự dạy đầy tính tưởng tượng đến nỗi họ không hiểu được sự dạy đơn giãn của Ngôi Lời! Cho phép tôi giải thích cho quí vị thấy tôi dạy Kinh thánh như thế nào và tại sao tôi dạy như thế. Kiểu cách dạy dỗ của tôi được gọi là giải thích hoặc làm rõ bằng cách đưa ra những chi tiết. Tôi muốn nói tôi đang cố gắng trình bày chi tiết của câu Kinh thánh. Một từ ngữ có liên quan là lý giải và bình luận, nghĩa là tôi đang tìm cách “vạch ra” những lẽ thật Kinh thánh mà chúng ta có thể nhờ đó mà sống theo. Có một cung cách khác nữa được gọi là theo chủ đề. Theo chủ đề có nghĩa là quí vị chọn một đề tài rồi tìm cho ra những vấn đề trong Kinh thánh phù hợp với đề tài của quí vị. Tôi gắn bó với sự giảng dạy theo cách giải thích hoặc làm rõ bằng cách đưa ra những chi tiết vì cách thức nầy để cho Kinh thánh phán về chính mính. Điều nầy cung ứng "đạo thật". Thành thật mà nói, tôi không thể là một Mục sư nếu tôi không thể giảng theo cách giải thích hoặc làm rõ bằng cách đưa ra những chi tiết. Cách thức nầy làm cho tôi phải say mê với những gì đã được rao giảng trong mỗi tuần. Không có gì phải lạ lùng cả khi những vị Mục sư kia chỉ giảng có 20 hay 30 phút. Khi quí vị không có nhiều điều để nói, thì làm sao nói cho đủ được bài giảng ấy. Vấn đề của tôi, ấy là tôi phải có nhiều điều để giảng. Tôi có sẵn nhiều quyển sách và phân đoạn Kinh thánh mà tôi muốn lý giải và bình luận cũng như dạy dỗ cho quí vị. Tôi phải tiếp thu thật nhiều để giảng dạy hơn là tôi có thể làm tròn phận sự!
Các câu 8-11 là một tiểu đoạn đi ra ngoài đề. Đây là tình huống. Trong ba năm Phaolô đã giảng dạy cho Hội thánh Êphêsô. Ông đã cung ứng cho họ "toàn bộ mưu luận" trong Lời của Đức Chúa Trời. Họ đã nghe đạo của Đức Chúa Trời trực tiếp từ một trong những văn sĩ có tài nhất của Lời Đức Chúa Trời. Chẳng có gì trong sạch hơn thế! Giờ đây ba năm sau, một số bị hướng dẫn sai lạc, các cấp lãnh đạo kiêu ngạo đã vây lấy chức năng trưởng lão và họ tưởng họ có thể thực sự dạy "luật pháp". Phaolô lấy làm buồn trong một phút khi đưa ra mục tiêu thích ứng của luật pháp.
Điều nầy vẫn còn đang xảy ra ngày hôm nay. Hãy lắng nghe những gì Kent Hughes đã viết: "Chúng ta phải cẩn thận, đừng yên nghỉ trên những đắc thắng và các thành tựu của công cuộc truyền giáo trong những năm gần đây – những nhà truyền đạo cao trọng nhất của lịch sử, các nhà thờ to lớn, nhiều trường học và thần học viện mọc lên, ảnh hưởng văn hoá nữa. Chúng ta phải nhớ rằng Êphêsô là ngọn hải đăng của xứ Tiểu Á. Tới thời điểm nầy, đấy là một câu chuyện thành công về truyền giáo. Thành nầy đã được truyền giáo theo đúng ý nghĩa thanh sạch của truyền giáo với chú trọng chính của nó nhằm vào Tin lành và vào sứ mệnh. Nhưng Hội thánh đang bắt đầu lui đi từ bên trong".
Có bao nhiêu thần học viện và trường Kinh thánh ngày nay có được thẩm quyền tuyệt đối của Kinh thánh? Chỉ một vài mà thôi. Có bao nhiêu hệ phái hoàn toàn nắm bắt được tính cực kỳ chính xác của Kinh thánh? Gần như là không có. Có bao nhiêu Hội thánh lo rao giảng sự cảm thúc và khải thị của Lời Đức Chúa Trời? Ít, ít lắm. Mối nguy hiểm thực sự không phải là cuộc công kích từ bên ngoài, mà là thối lui từ bên trong. Mối nguy hiểm thực sự là người nào đang có mặt trong Hội thánh, họ đang thất bại trong việc chuyển giao ngọn đuốc cho thế hệ hầu đến, họ đang thay thế đạo thật để lấy những cái kẹo thuộc linh. Luật pháp Cựu Ước là "tốt lành cho kẻ dùng ra cách chính đáng" (câu 8). Mục đích của luật pháp không phải là tìm tòi những ý nghĩa và đoán chừng kín giấu. Luật pháp "không phải lập ra cho người công bình, bèn là vì những kẻ trái luật pháp" (câu 9). Luật pháp hiện hữu để dạy cho kẻ: “trái luật pháp”, "không tin kính", "phạm tội", "những kẻ vô đạo, nói phạm thánh thần", "những kẻ giết cha mẹ”, “giết người”, "những kẻ tà dâm", "kẻ đắm nam sắc", "ăn cướp người", "nói dối", "thề dối" và bất cứ điều chi, bất cứ ai đang "trái nghịch với đạo lành". SỰ CÔNG BÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ SỰ ĐỒI BẠI CỦA CON NGƯỜI! Mục đích của luật pháp là để XÉT ĐOÁN qua đạo “Tin lành vinh hiển” xem coi tội nhân nào sẽ được CỨU!
Martin Luther nói rằng luật pháp là một cây búa sắc bén chà nát sự tự xưng công bình của con người và tỏ ra cho họ thấy tội lỗi để họ hạ mình xuống và sống lâu vì cớ ân điển của Đấng Christ. Galati 3.24 chép: "Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình". Chúng ta phải chuyển giao ngọn đuốc. Chúng ta phải canh giữ đức tin. Chúng ta phải tạo ra một thế hệ mới các tín đồ, họ phải nắm bắt được oikonomos, là luật lệ của nhà Đức Chúa Trời. Đây là lý do tại sao các Thư tín Mục vụ là quan trọng. Các thư tín ấy dạy chúng ta sự năng động của Hội thánh địa phương.
Cho phép tôi kết luận bằng cách giúp cho quí vị nhìn thấy Hội thánh giống như một con tàu. Dưới làn nước của một con tàu là lườn tàu. Nó không được thấy rõ ràng, nhưng nó giữ cho con tàu vững chắc trong đại dương đang nhiễu loạn. Lườn của Hội thánh là các cấp lãnh đạo tin kính, những trưởng lão, các vị chấp sự và ban trị sự. Không có những con người tin kính ở các địa vị nầy, không sớm thì muộn Hội thánh sẽ lung lay thôi. Thân của con tàu, nơi mà mọi công việc đã được làm ra và hàng hoá được chứa ở đó chính là các thuộc viên, những người tình nguyện. Tấm buồm của con tàu là sự giảng dạy theo Kinh thánh. Không có chúng, chúng ta bị trôi giạt trong đại dương văn hoá chẳng có một hướng đi nào hết. Ngọn gió tác động lên cột buồm tất nhiên là Đức Thánh Linh.
Đức Thánh Linh thúc đẩy chúng ta đi theo hướng mà Đức Chúa Trời đã ấn định. Ngài vận hành với ngọn buồm, sự dạy theo Kinh thánh giữa cho con tàu cứ đi tới. Ngài dầm thấm đạo thật vào tấm lòng của chúng ta để giữ chúng ta đi cho ngay thẳng. Sau cùng, chiếc bánh lái, đấy là sự cầu nguyện. Qua sự cầu nguyện, chúng ta học biết di động với nhịp đập của Đức Chúa Trời.
Quí vị muốn trở thành loại cá nhân nào trong Hội thánh nầy? Chúng ta muốn những cá nhân đã trở lại đạo, biết đầu phục, có năng lực, hay nhóm lại, và đầy sáng tạo. Làm sao chúng ta có được họ? Chúng ta dạy dỗ và huấn luyện họ. Chúng ta dạy dỗ họ về Ngôi Lời. Chúng ta đào tạo họ phải nghiên cứu thể nào, phải cầu nguyện ra sao, và phải chứng đạo như thế nào. Tiếp đến chúng ta phải để cho họ có thì giờ và phát triển. Đấy là những oikonomos của Đức Chúa Trời, các luật lệ trong nhà của Ngài. 1 R. Kent Hughes, 1 & 2 Timôthê and Titus, (Wheaton. Crossway Books, 2000), p.35.
***

1 Ti-mô-thê 1.1-2: "Lời tựa từ ngòi viết của Phao-lô"



I Ti-mô-thê –
Chuyển giao ngọn đuốc Tin Lành
Lời tựa từ ngòi viết của Phao-lô
1 Ti-mô-thê 1.1-2
Điểm nổi bật của giờ phút khai mạc từng Trận đấu Thế Vận là đốt lên ngọn đuốc Olympic. Những vận động viên chạy bộ có cầm theo ngọn đuốc Olympic, cẩn thận chuyển giao nó từ người nầy sang người kia cho tới lúc vận động viên sau cùng chạy vào trong sân trước sự reo hò, cổ vũ của đám đông và dùng ngọn đuốc đốt lên ngọn lửa ấy.
Chuyển giao ngọn đuốc không những là một nghi thức đẹp, mà nó thường là một phần việc khó nữa. Khi tôi còn ở trên đường chạy của trường đại học, tôi đã chạy trong đội tiếp sức 400m. Tôi là một trong bốn vận động viên, mỗi người phải hoàn tất 100m chạy trước khi chuyển giao cây gậy cho vận động viên kế tiếp. Đội đầu tiên đem gậy về ngang qua mức đến là đội chiến thắng. Tốc độ không bao giờ là một nan đề trong đội chạy tiếp sức của chúng tôi, chuyển giao cây gậy mới là vấn đề. Dù quí vị có chạy nhanh như thế nào trong hạn định dành cho mình thì cũng không ăn nhằm gì hết, nếu quí vị không thể trao cây gậy một cách chắc chắn vào trong tay của vận động viên chạy kế đó, quí vị sẽ thua cuộc chạy. Huấn luyện viên của chúng tôi cứ rèn luyện, rèn luyện thường xuyên cho chúng tôi trong việc chuyển giao cây gậy ấy. Chúng tôi không thể nhìn xuống đường chạy hay nhìn vào cuộc đua tranh của mình. Chúng tôi phải tập trung vào vận động viên chạy kế và nắm bắt cây gậy ở chỗ anh ta có thể nắm được nó. Việc nhận lấy cây gậy có ý nói tới thời điểm những bước chạy đầu tiên của quí vị phải phù hợp với những bước sau cùng của các vận động viên chạy trước. Chuyển giao cây gậy ở tốc độ cao nhất đòi hỏi sự đồng bộ thật tuyệt vời. Là tín đồ trong Đức Chúa Jêsus Christ, mục tiêu của chúng ta là nhơn đức tin chuyển giao "đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi" (Giu-đe 3). Giống như ngọn đuốc Olympic vậy, đức tin chung của Cơ đốc giáo, sứ điệp Tin lành đã được giao phó cho các vị Sứ đồ được chuyển từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Có người đã chuyển giao sứ điệp ấy cho chúng ta và giờ đây chúng ta phải chuyển giao nó cho người khác. Đấy là vai trò chính của Hội thánh Tân Ước. Trong 3.15 Phaolô gọi đấy là "Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy". Thực thế, lẽ đạo trong các thư tín của Phaolô gửi cho Ti-mô-thê là Hội thánh địa phương đang lo chuyển giao ngọn đuốc lẽ thật. Ông nói trong II Ti-mô-thê 2.2: "Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác". Phận sự nhơn đức tin mà chuyển giao là đang bảo hộ sứ điệp ấy. Phaolô viết trong II Ti-mô-thê 1.13b-14: "mẫu mực của các sự dạy dỗ có ích, là sự con đã nhận lãnh nơi ta. Hãy nhờ Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta mà giữ lấy điều phó thác tốt lành".
Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta ân tứ quí báu về sự sống dư dật và đời đời. Mạng lịnh và sứ mệnh của Ngài dành cho chúng ta có hai việc: canh giữ lẽ thật của Tin lành, không để cho nó bị thay đổi, rồi kế đó chuyển giao sứ điệp đó cho nhiều người khác cách trung tín. Sứ đồ Phaolô cung ứng cho chúng ta một tấm gương phong phú về người đã nhơn đức tin mà chuyển giao. Tân Ước liệt kê nhiều người mà ông đã dẫn đưa đến với Đấng Christ. Thí dụ, có Damaris, Dionysius, Sopater, Gaius, Tychicus, Stephanas, Clement Epaphras, Trophimus và Onesimus. Thêm nữa trong I Cô-rinh-tô 4.15, Phaolô nói về nhiều người trong thành phố ấy: "Bởi chưng, dẫu anh em có một vạn thầy giáo trong Đấng Christ, nhưng chẳng có nhiều cha; vì tôi đã dùng Tin Lành mà sanh anh em ra trong Đức Chúa Jêsus Christ". Tuy nhiên, trong hết thảy những người nầy và nhiều người khác nữa, chỉ có hai người được Phaolô đề cập đến là "con thật của ta trong đức tin". Một là Ti-mô-thê và người kia là Tít (Tít 1.4). Trong hai người nầy, Phaolô dường như gần gũi với Ti-mô-thê nhiều nhất. Ông viết về Ti-mô-thê cho người thành Phi-líp: "Vả, tôi mong rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, kíp sai Ti-mô-thê đến cùng anh em, để tới phiên tôi, tôi nghe tin anh em, mà được yên lòng. Thật vậy, tôi không có ai như người đồng tình với tôi để thật lòng lo về việc anh em: ai nấy đều tìm lợi riêng của mình, chớ không tìm của Đức Chúa Jêsus Christ. Nhưng anh em đã biết sự trung tín từng trải của người; và biết người là trung thành với tôi về việc Tin Lành, như con ở với cha vậy” (Phi-líp 2.19-22). Để hiểu biết và áp dụng thư tín của Phaolô gửi cho Ti-mô-thê, chúng ta cần phải biết nhiều về mối quan hệ của họ và thể nào Phaolô đã chuyển giao ngọn đuốc cho vị Mục sư trẻ tuổi nầy. Ngay trong hai câu nhập đề đầu tiên, mấy dòng đầu tiên nầy ra từ ngòi viết của Phaolô, chúng ta có thể tiếp thu ba lẽ thật về bức thư của Phaolô gửi cho Ti-mô-thê.
I. Thư tín của Phaolô là bức thư QUYỀN LỰC (câu 1).
Bức thư bắt đầu với tên của tác giả: "Phaolô". Trong các bức thư của thế kỷ đầu tiên, tên của tác giả phải ghi ở đầu hết. Quí vị không phải nhìn vào phần cuối của bức thư mới biết ai viết lá thư ấy. Tên nầy rất quen thuộc với chúng ta và rất phổ thông trong xứ Cilicia, quê hương của ông, xứ Tạt-sơ nằm ở tại đó. Tên ấy có nghĩa là "nhỏ" cho thấy rằng Phaolô luôn luôn là một con người nhỏ thó. Mặc dầu có lẽ ông nhỏ về phần xác, về trí khôn và về thuộc linh, ông là một gã khỗng lồ giữa vòng loài người. Dù đây là lý do rất quen thuộc đối với một số người, chúng ta hãy dành vài phút để suy gẫm về con người đáng nhớ nầy.
A. Lai lịch của Phaolô.
Kinh thánh giới thiệu cho chúng ta biết về Phaolô ở độ tuổi trung niên. Sự nghiệp của ông ai cũng biết đến. Ông là một gương mặt rất quen thuộc ở toà án cao cấp của Israel, Toà Công Luận. Ông có mặt trong danh sách "người nầy là ai" của thành phố Jerusalem. Ông xuất thân từ dòng máu Do thái thuần chủng trong một gia đình thuộc dòng Pharisi. Tuy nhiên, đời sống của ông đã được Đức Chúa Jêsus Christ biến đổi. Quí vị thấy đấy, chỉ có người với một đời sống được biến đổi mới dám viết những bức thư nói về đời sống được biến đổi. Công vụ các Sứ đồ 9 ghi lại thể nào ông đã bị mù trên con đường lên thành Đa-mách, đã nghe được giọng nói của Đức Chúa Jêsus Christ, đã được cứu và đã chịu phép báptêm. Câu 15 cho chúng ta biết sứ mệnh của Đức Chúa Trời trong đời sống của ông: "… vì ta đã chọn người nầy làm một đồ dùng ta, để đem danh ta đồn ra trước mặt các dân ngoại, các vua, và con cái Y-sơ-ra-ên".
Chúng ta biết sự chuẩn bị của Phaolô trong xứ Arabia, sự rao giảng không sợ hãi, các chuyến hành trình truyền giáo, công cuộc mở mang Hội thánh, sự bắt bớ và sự chịu khổ, các tác phẩm rất cảm động của ông … chúng ta biết rất nhiều về Phaolô sau cái ngày ở trên con đường lên thành Đa-mách ấy. Tuy nhiên, tôi nghĩ thật là đáng bỏ công ra đặng xem xét trong một phút cuộc đời ông trước khi có sự biến đổi quan trọng nầy. John Pollack trong quyển “The Man Who Shook the World” [Người làm lay động cả thế gian] đã viết: "Phaolô ra đời trong một thành phố nằm giữa núi và biển. Năm ấy có lẽ vào khoảng năm 1SC. Nhưng tất cả các chi tiết đầu đời chỉ là cái bóng mờ, trừ lời xưng nhậtn rõ ràng của ông: ‘Tôi là người Do thái xứ Tạt-sơ, một người Hê-bơ-rơ do người Hê-bơ-rơ sanh ra’. Tạt-sơ là thủ phủ chính của đồng bằng tươi tốt xứ Cilicia nằm ở góc tây-nam Tiểu Á. Tạt-sơ là một nơi liên kết văn minh trong hoà bình dưới quyền cai trị của Rome. Người Cilicia và người Hittites bản địa, tổ phụ của họ từng cai trị xứ Tiểu Á, những người Hy lạp có làn da sáng, người Asiri, người Ba tư, người Ma-xê-đoan, họ đã đến cùng với Alexander Đại Đế khi tiến quân vào Ấn độ. Cha của ông là một người may trại bậc thầy, thầy thợ của ông đã lao động chuyên về da, quần áo đan dệt từ lông của loài dê có màu đen, chúng thường gặm cỏ trên hai triền núi của xứ Tạt-sơ. Những tấm lều màu đen của xứ Tạt-sơ đều được sử dụng bởi những đoàn thương buôn bằng lạc đà, các dân du mục và quân đội trên khắp xứ Tiểu Á và Syria. Về người mẹ, chẳng ai biết được một điều gì cả. Phaolô không hề nhắc tới bà, sở dĩ như vậy là vì bà đã qua đời trong khi sinh ông hoặc vì một sự xa lánh hay vì ông chẳng có dịp nào đặc biệt để nói tới việc đó. Ít nhất ông có một người em gái và họ đã ra đời trong sự giàu có. Gia đình đã có tước hiệu ‘công dân của Rôma’. Vào thời kỳ nầy, tước hiệu civis romanus đôi khi được phê chuẩn, chấp nhận do có công trạng hoặc do thù lao béo bở. Sau-lơ là tên dùng ở nhà và nhấn mạnh rằng ông đã kế tục cơ nghiệp Do thái vào những năm đầu đời. Dân Ngoại đều sống ở chung quanh Phaolô. Nhiều đền thờ ngoại giáo đã thống trị ở khu chợ búa. Athens và Rome, Babylon và Nineva đã kết hợp để dựng nên Tạt-sơ. Phaolô là đứa trẻ của thế giới đông phương, thiên về với Hy lạp nầy.
Bố mẹ của Phaolô đều là người Pharisi, là thuộc viên của đảng phái nhiệt thành nhất đối với chủ nghĩa dân tộc Do thái và nghiêm ngặt trong sự vâng theo Luật pháp Môise. Họ đã tìm cách gìn giữ dòng dõi của họ chống lại tình trạng lai căng. Những quan hệ bạn bè với con cái dân Ngoại đều không được chấp nhận. Các quan niệm Hy lạp đều bị xem khinh. Mặc dù Phaolô từ khi còn nhỏ có thể nói tiếng Hy lạp, và đã có một sự hiểu biết mau về tiếng Latinh, gia đình ông ở quê nhà đều nói tiếng Aram, ngôn ngữ của xứ Giu-đê, một phát triển từ tiếng Hy bá lai. Họ nhìn về thành Jerusalem giống như Hồi giáo nhìn vào Mecca vậy. Trường học gắn liền với nhà hội Tạt-sơ chẳng dạy điều chi khác ngoài bản luật pháp thiêng liêng bằng tiếng Hy bá lai. Mỗi nam thiếu niên lặp lại nhiều cụm từ của luật ấy trong giai điệu theo kasan hay người giữ nhà hội cho tới chừng các âm từ, trọng âm và nhịp đạt được độ chính xác cao. Phaolô đã học viết các mẫu tự Hê-bơ-rơ rất chính xác trên những cuộn giấy da, vì thế từ từ hình thành các cuộn Kinh thánh bằng giấy da của ông. Đến ngày sinh nhựt thứ 13, Phaolô đã chủ động được môn sử của người Do thái, thơ văn của các Thi thiên và văn chương của các vị tiên tri. Tai của ông đã được luyện tập đến một độ chính xác tối đa. Một bộ óc nhanh nhẹn giống như bộ óc của ông có thể nhớ được những gì ông đã nghe thấy giống như bộ não chuyên trách về chi tiết như in vậy. Ông đã sẵn sàng vì đã được giáo dục cao độ.
Một người Pharisi nghiêm ngặt không kéo con trai mình vào triết lý đạo đức tà giáo, có lẽ là vào năm Augustus qua đời, năm 14SC, chàng thanh niên Phaolô đã vượt biển sang xứ Palestine và đã trèo lên những đồi núi quanh thành Jerusalem. Trong năm hay sáu năm, ông đã ngồi nơi chân của Gamaliel, cháu nội của Hiliel, là giáo sư thượng thặng đã qua đời lúc gần trăm tuổi. Dưới tay Gamaliel quí tộc, trong sáng, một đối chiếu với các cấp lãnh đạo của Trường Shamahe, Phaolô đã học biết phân tích một đoạn Kinh thánh cho tới khi cốt lõi của những ý nghĩa đều được bày ra theo ý kiến chung của nhiều thế hệ rabi. Phaolô đã học biết tranh luận theo kiểu hỏi/đáp trong thế giới thời xa xưa. Trình bày chi tiết cho một rabi là phần hành mà vị luật sư chuyên tố tụng hay bào chữa cho những kẻ phá vỡ luật thánh và là phần của nhà truyền đạo. Phaolô vượt lên trên những kẻ đồng thời với mình. Ông đã có một lý trí rất tốt, nó có thể dẫn tới một chỗ ngồi trong Toà Công Luận, trong đại sảnh bằng đá bóng láng và khiến ông trở thành một quan cai trên dân Do thái.
Trước khi Phaolô có thể hy vọng trở thành bậc thầy trong Israel, ông phải làm chủ một thương hiệu. Mỗi người Do thái đều được dạy cho biết buôn bán và về thần học không một rabi nào lấy tiền thù lao mà phải tự lo cho mình. Vì lẽ đó, Phaolô đã rời Jerusalem vào những năm đầu 20 tuổi của mình. Nếu ông có mặt ở đó trong khi Chúa Jêsus người Nazarét thi hành chức vụ, chắc chắn ông sẽ được nhắc tới là tranh cãi chống lại Ngài giống như những người Pharisi khác. Có lẽ ông đã trở lại xứ Tạt-sơ để lao động trong công việc may trại của gia đình và tiếp tục con đường cũ, mùa đông và mùa xuân ở Tạt-sơ cho tới chừng đồng bằng phủ ẩm ướt, và kế đó thành phố mùa hè trong vùng đồi núi xứ Tạt-sơ. Mùa đông hay mùa hè ông đến dạy trong các nhà hội. Không bao lâu sau ngày sinh nhựt thứ 30, Phaolô trở lại thành Jerusalem với hay không có người vợ nào. Chắc chắn là ông đã lấy vợ rồi. Người Do thái hiếm khi giữ độc thân và chức năng làm cha là một đặc điểm đòi hỏi nơi các ứng viên để vào Toà Công Luận, tuy nhiên vợ của ông không hề được nhắc tới trong câu chuyện. Hơn nữa, vợ ông và gia đình đã trở lại cùng với ông. Ở Jerusalem, họ có thể gác qua những bổn phận luật pháp buộc và tỏ ra sự sốt sắng ở chỗ nó được để ý tới. Phaolô cũng tranh chiến với phong trào do Chúa Jêsus người Nazarét phát động".
Há chuyện nầy không hấp dẫn sao? Con người sáng chói, kiên định nầy đã dầm mình vào phần việc phá tán Hội thánh đang thời kỳ còn non trẻ … cho tới khi ông gặp Chúa Jêsus trên con đường lên thành Đa-mách và cuộc đời ông đã hoàn toàn được biến đổi.
B. Tước hiệu của Phaolô.
Hạng người vênh vang thường khoe các tước phẩm và bằng cấp của họ lắm. Những bức thư cùng các con số theo sau những cái tên chỉ ra tầm quan trọng. Phaolô không phải là hạng người vênh vang đó. Thay vì ký trên bức thư: "Phaolô, Luật Sư Toà Thượng Thẩm" hay "Phaolô, Tấn sĩ xuất thân từ lớp Gamaliel" hoặc thậm chí "Phaolô, Giáo sĩ Cơ đốc Lão Luyện", ông chỉ nói ra sự thực: "Phaolô, làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ".
"Phaolô" là tên của ông. "Sứ đồ" là hiệu của ông. "Sứ đồ" hay apostolos, ra từ động từ apostello, có ý nói tới một đại biểu được ủy thác với đầy đủ ủy nhiệm. Từ nầy cũng được dịch là "phái viên" hay "sứ giả". Những đại sứ của quốc gia chúng ta đều có những ủy nhiệm lo liệu mọi vụ việc của Hoa kỳ trước các chính phủ nước ngoài. Cũng một thể ấy, một vị sứ đồ là người đại diện cho Đức Chúa Jêsus Christ ở trên đất. Đôi khi Tân Ước sử dụng từ "sứ đồ" theo một ý nghĩa rộng rãi hơn, đề cập tới bất kỳ người nào lo rao giảng Tin lành. Banaba được gọi là một "sứ đồ" trong Công vụ các Sứ đồ 14.14. Trong những câu khác, chúng ta thấy tước hiệu nầy được áp dụng cho Ép-ba-phô-đích (Phi-líp 2.25), An-trô-ni-cơ và Giu-ni-a (Rôma 16.7), cũng như Gia-cơ, là em của Chúa Jêsus (Galati 1.19). II Cô-rinh-tô 8.23 gọi họ là "sứ giả của các Hội thánh". Cách sử dụng thông thường về "sứ đồ" bị hạn chế đối với các môn đồ nguyên thủy, cùng với Matthias là người thay thế chỗ của Giu-đa và chính Phaolô. Mỗi một người trong số nầy đều được ủy thác và được chính mình Chúa Jêsus sai phái theo cách riêng.
Các vị sứ đồ đều được ơn bởi Đức Thánh Linh và các ân tứ của Đức Thánh Linh. Êphêsô 4.11 chép: "Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư". Họ cũng được ban cho quyền năng làm phép lạ đặc biệt và có thể chữa lành kẻ đau, làm cho kẻ chết được sống lại, đuổi quỉ và làm ra đủ các thứ dấu kỳ phép lạ để xác quyết chức vụ của họ. Mục đích của họ là xây dựng một nền tảng vững chắc về lẽ đạo mà Hội thánh được xây dựng trên đó. Êphêsô 2.20 chép Hội thánh "được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri". Công vụ các Sứ đồ 2.42 chép rằng Hội thánh đầu tiên "bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ". Vì lẽ ấy, Phaolô đã được uỷ nhiệm cách thiêng liêng và là tôi tớ được ơn rất đặc biệt do Chúa Jêsus ban quyền phép cho để đặt nền tảng lẽ đạo theo Kinh thánh mà chúng ta vẫn tin theo và dạy dỗ hôm nay.
C. Uy quyền của Phaolô.
Hãy chú ý nguồn gốc địa vị sứ đồ của Phaolô. Trở thành một sứ đồ không phải là việc ông chọn cho bản thân mình, mà là "vâng mạng Đức Chúa Trời là Cứu Chúa chúng ta". "Mạng lịnh" ở đây ra từ một chữ có tính cách quân sự đề cập tới một trình tự mà người ta phải vâng theo. Phaolô đã nhận lãnh các lịnh lạc từ trên cao, từ Tổng Tham Mưu Trưởng. Khi nhắc lại kinh nghiệm của ông trên con đường lên thành Đa-mách với Vua At-ríp-ba, Phaolô nói: "… tôi chẳng hề dám chống cự với sự hiện thấy trên trời" (Công vụ các Sứ đồ 26.19). Cho nên, là một sứ đồ có thẩm quyền đang hoạt động dưới sự ủy thác riêng và mạng lịnh của chính mình Chúa Jêsus, lời lẽ của Phaolô là lời có quyền phép. Ti-mô-thê đã chịu lấy sự dạy dỗ của ông. Hội thánh tại thành Êphêsô, nơi Ti-mô-thê hiện đang hầu việc Chúa bị buộc phải vâng theo nhiệm mạng của sứ đồ. Ngày nay, Phaolô cũng như các vị sứ đồ khác cũng không còn sống nữa. Chẳng có một sự kế tục nào về địa vị sứ đồ. Không có một vị sứ đồ nào sống để lèo lái Hội thánh hiện nay. Tuy nhiên, lời lẽ của các vị sứ đồ, những sự dạy nền tảng của họ, đều được cảm thúc bởi Đức Thánh Linh, được ban cho bởi mạng lịnh của Đức Chúa Trời hiện vẫn còn ở với chúng ta. Chúng ta có cùng một bổn phận phải vâng theo họ trong thế kỷ 20 giống như các tín đồ đã vâng theo trong thế kỷ thứ nhứt vậy. Thư tín 1 Ti-mô-thê đã không giảm đi về quyền phép và thẩm quyền của nó!
Nếu quí vị làm việc với máy tính, quí vị biết có nhiều phần mềm lỗi thời và được sửa lại. Theo thời gian, quí vị thực sự biết cách vận hành xử lý phần mềm word của quí vị, phần mềm bảng tính hay phần mềm nghiên cứu Kinh thánh, nhà máy cho xuất xưởng một phiên bản mới và thay đổi mọi sự! Hãy đoán xem? Đức Chúa Trời không bao giờ xuất xưởng phiên bản Kinh thánh 2001 cả! Lời của Ngài là đời đời và không hề sai lệch! Chính Chúa Jêsus đã phán: "Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi” (Mathiơ 24.35).
I Phierơ 1.23 chép rằng "Lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời". I Phierơ 1.25 chép: "Nhưng lời Chúa còn lại đời đời".
Tóm lại, mọi sự mà Phaolô nói với Ti-mô-thê về cách thức chuyển giao ngọn đuốc tại Êphêsô có thể áp dụng trực tiếp cho cách chúng ta chuyển giao ngọn đuốc ở đây tại Amarillo! Con người thay đổi, những truyền thống thay đổi, xã hội thay đổi nhưng phiên bản của Đức Chúa Trời dành cho Hội thánh đã và sẽ không bao giờ thay đổi. Đây không phải là một thứ nghiên cứu bí ẩn, không thích đáng mà là một lời nói có quyền phép, mạnh mẽ dành cho chúng ta ngay bây giờ! Trước khi chúng ta bước qua câu 2, cho phép tôi nhắc tới hai quan điểm thú vị khác từ câu 1. Thứ nhứt, Phaolô nói tới "Đức Chúa Trời là Cứu Chúa chúng ta". Đây là cách bày tỏ đặc biệt trong những thư tín mục vụ rút ra từ Cựu Ước. Đức Chúa Cha là nguồn cứu rỗi của chúng ta, Ngài đã hoạch định trong quá khứ đời đời kia. Chúng ta cũng thấy "Đức Chúa Jêsus Christ là sự trông cậy của chúng ta". Chúng ta không có một hy vọng "đáng trông cậy" như thế, mà là một hy vọng "đáng biết" như thế thôi! Hy vọng của chúng ta bắt rễ trong Đức Chúa Jêsus Christ, những gì Ngài đã làm, những gì đang làm và những gì Ngài sẽ làm. Cô-lô-se 1.27 nói: "Đấng Christ ở trong anh em, là sự trông cậy về vinh hiển". Có người đã nói rất hay: "Cơ đốc giáo là tôn giáo của những nhân xưng đại danh từ". Đức Chúa Trời không phải là một vị thần đang ở xa xa hay đấng tạo hoá không có lòng quan tâm. Ngài là "Cứu Chúa chúng ta" và là "sự trông cậy của chúng ta".
II. Thư tín của CÓ TÍNH RIÊNG TƯ (câu 2a).
A. Lai lịch của Ti-mô-thê là một tín đồ.
Tất nhiên là Phaolô đang viết cho Ti-mô-thê. Tên "Ti-mô-thê" sát nghĩa có ý nói tới "người tôn cao Đức Chúa Trời". Không nghi ngờ chi nữa Ti-mô-thê đã được trao cho tầm quan trọng nầy, có lẽ mẹ ông là Ơ-níc và bà nội ông là Lô-ít đã đặt cái tên nầy mang tính tiên tri. Hai phụ nữ nầy là hai tín đồ đã dâng mình hầu việc Chúa. Trong II Ti-mô-thê 1.5, Phaolô gợi lại ký ức của Ti-mô-thê: "đức tin thành thật của con, là đức tin trước đã ở trong Lô-ít, bà nội con, và trong Ơ-nít, mẹ con". Trong II Ti-mô-thê 3.15, vị sứ đồ nhắc cho Ti-mô-thê nhớ rằng: "và từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ".
Mọi sự chúng ta biết về cha của Ti-mô-thê là từ Công vụ các Sứ đồ 16.1, ở đây chép: "Phao-lô tới thành Đẹt-bơ và thành Lít-trơ. Nơi đó, có một môn đồ tên là Ti-mô-thê, con của một người đàn bà Giu-đa đã tin, còn cha thì người Gờ-réc". Có lẽ người cha dân Ngoại chưa tin Chúa của Ti-mô-thê, một là đã chết, hoặc đã rời khỏi gia đình của ông. Tuy nhiên, việc có hai dòng máu Do thái và dân Ngoại và việc chịu ảnh hưởng của cả hai nền văn hoá, đặc biệt làm cho ông đủ tư cách để phục vụ cho cả hai hạng người nầy.
B. Sự Ti-mô-thê hội hiệp với vị Sứ đồ.
Phaolô đề cập đến Ti-mô-thê là "con thật của ta trong đức tin". Ngay thời điểm bức thư nầy được viết ra, họ đã hầu việc Chúa với nhau trong khoảng 15 năm. Có người cho rằng Ti-mô-thê đã vào khoảng 24-25 tuổi lúc bấy giờ. Ti-mô-thê đã lớn lên tại Lít-trơ (Công vụ các Sứ đồ 16.1) và hầu hết các học giả đều tin ông đã trở lại đạo khi còn thiếu niên trong suốt chuyến hành trình truyền giáo lần thứ nhứt của Phao-lô. Ông đã chứng kiến Phaolô bị ném đá cho tới chết ở đó (Công vụ các Sứ đồ 14.8-23). Ti-mô-thê trở thành một trong những phụ tá lưu động của Phaolô. Có thể ông đã thay thế cho Giăng Mác. Ông là một người rất được ơn và đã dâng đời sống mình trong công cuộc truyền giáo.
Ti-mô-thê đã ở lại xứ Bê-rê sau sự bắt bớ buộc Phaolô phải ra đi (Công vụ các Sứ đồ 17.13-15). Sau đó, ông đã tái hiệp với Phaolô ở A-then. Ông đã phụ tá cho Phaolô ở Côrinhtô (Công vụ các Sứ đồ 18.5). Phaolô đã sai ông đến tại Ma-xê-đoan (Công vụ các Sứ đồ 19.22). Ông cùng đi với Phaolô trên chuyến trở lại thành Jerusalem (Công vụ các Sứ đồ 20.4). Ông ở với Phaolô khi Phao-lô viết thư cho người thành Rôma (Rôma 16.21), cho người thành Cô-rinh-tô (II Cô-rinh-tô 1.1), cho người thành Phi-líp (Phi-líp 1.1), cho người thành Cô-lô-se (Cô-lô-se 1.1), cả hai thư tín Têsalônica (I Têsalônica 1.1; II Têsalônica 1.1) và cho Phi-lê-môn (Phi-lê-môn 1). Phaolô sai ông đến để ổn định và làm cho các Hội thánh tại thành Côrinhtô được mạnh mẽ (I Cô-rinh-tô 4.17), cho người thành Têsalônica (I Têsalônica 3.2), cho người thành Phi-líp (Phi-líp 2.19) và giờ đây ông đã có mặt tại thành Êphêsô.
Ti-mô-thê rõ ràng đã phấn đấu với tình trạng không được an ninh. Phaolô nói với ông ở 4.12: "Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ". Trong II Ti-mô-thê 1.7, ông viết: "Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và dè giữ". Vị sứ đồ đã viết cho người thành Côrinhtô: "Nếu Ti-mô-thê đến thăm anh em, hãy giữ cho người khỏi sợ sệt gì trong anh em: vì người cũng làm việc cho Chúa như chính mình tôi vậy" (I Cô-rinh-tô 16.10). Ti-mô-thê dường như cũng gặp phải những khó khăn theo phần xác. 5.23 chép: "Đừng chỉ uống nước luôn; nhưng phải uống một ít rượu, vì cớ tì vị con, và con hay khó ở". Ti-mô-thê không phải là Cơ đốc nhân siêu hạng. Ông không phải là loại giáo sĩ Mũ Nồi Xanh. Ông không giống như Phaolô. Ông chỉ giống như chúng ta. Đấy là lý do tại sao chúng ta thấy các thư tín của Phao-lô nói tới ông cách tư riêng như trong đời sống của chính chúng ta. Mặc dù họ sống khác biệt như thế, Phaolô yêu thương Ti-mô-thê thắm thiết lắm. Ông gọi Ti-mô-thê là: "con thật của ta trong đức tin". Ông đã nói trong I Cô-rinh-tô 4.17: "Vì cớ đó, tôi đã sai Ti-mô-thê, là con yêu dấu của tôi, cùng là trung thành trong Chúa". Ông đã nói trong Phi-líp 2.22: "Nhưng anh em đã biết sự trung tín từng trải của người; và biết người là trung thành với tôi về việc Tin Lành, như con ở với cha vậy". Ở phần đầu thư tín thứ nhì, Phaolô đã viết rất tình cảm với Ti-mô-thê rằng ông "nhớ đến nước mắt con, muốn đến thăm con quá chừng, để được đầy lòng vui vẻ" (II Ti-mô-thê 1.4). Là con trai của một người nữ Do thái và một người nam Hy lạp, người Do thái đã xem Ti-mô-thê là không hợp pháp, nhưng đối với Phaolô ông là "con thật". Hội thánh tại Êphêsô phải chấp nhận chức vụ của Ti-mô-thê như một sự mở rộng của chức vụ Phao-lô.
Chúng ta không biết nhiều về cách thức Ti-mô-thê thực thi công tác tại Êphêsô, nhưng Phao-lô dám chắc Ti-mô-thê là trung tín. Ông túc trực với Phaolô cho đến cuối cùng và bản thân ông cũng là một tù phạm nữa (đối chiếu Hê-bơ-rơ 13.23).
III. Thư tín của Phaolô là bức thư thiên về cầu nguyện (câu 2b).
A. Phaolô cầu xin ân điển.
Lời chào thông thường giữa vòng người Hy lạp ngoại đạo lúc ban ngày là charein, nhưng Phaolô đã mượn một hình thức của từ ngữ charis ấy, từ nầy được dịch là "ân điển", một lời chào đặc biệt Cơ đốc. Lời chào bình thường của Phaolô luôn luôn là "ân điển cho anh em" (Rôma 1.7; Phi-lê-môn 3). Chúng ta có ân điển cứu rỗi và cũng có ân điển nâng đỡ nữa. Giăng 1.16 chép: "Vả, bởi sự đầy dẫy của Ngài mà chúng ta đều có nhận được, và ơn càng thêm ơn". Gia-cơ 4.6 chép: "Ngài lại ban cho ta ơn lớn hơn nữa". Phaolô cầu xin rằng Ti-mô-thê sẽ tiếp tục nhận lãnh ân điển trong mọi ơn phước của Đức Chúa Trời, hết ơn nầy đến ơn khác.
B. Phaolô cầu xin sự bình an.
"Bình an" ra từ lời chào theo truyền thống của người Hê-bơ-rơ shalom. Hầu hết các thư tín riêng của Phaolô đều bắt đầu với lời chào gồm "ân điển" và "bình an". "Ân điển" của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi đem lại sự "bình an" của Ngài. Chúng ta đã "hoà thuận lại với Đức Chúa Trời" (Rôma 5.1) nhờ vào sự cứu rỗi và có "sự bình an của Đức Chúa Trời" nhờ vào sự cầu nguyện và chức vụ của Đức Thánh Linh. Phaolô đã cầu xin cho Ti-mô-thê sẽ đứng vững vàng với lòng tin cậy nơi Chúa.
C. Phaolô cầu xin sự thương xót.
Lời chào kết hợp "ân điển" và sự "bình an" là rất thông thường trong các tác phẩm của Phaolô. Có điều bất thường nằm giữa hai câu nầy là một điều khoản trong lời cầu nguyện của vị sứ đồ. Phaolô cũng cầu xin "thương xót" nữa. Điều nầy chẳng xảy ra ở một nơi nào khác, mà chỉ có trong hai thư tín gửi cho Ti-mô-thê.
Kent Hughes bình luận: "Từ ngữ được thêm ở đây thương xót mang ý tưởng sự quan phòng đặc biệt của Đức Chúa Trời dành cho một người đang có cần. Từ ngữ tương đương với từ nầy (hesed) đã được dùng rất nhiều lần trong các Thi thiên, với hàm ý giúp đỡ trong lúc có cần. Phaolô đã sử dụng đúng từ nầy vì cớ lai lịch Do thái của Ti-mô-thê, khi dùng như vậy sẽ đem lại cho tâm trí một sự kết hiệp phong phú của từ ngữ nầy – ‘giúp đỡ kẻ nào không thể tự lo được’ – ‘giúp đỡ cho kẻ khốn khổ’ – ‘giúp đỡ cho kẻ bất lực’. Ti-mô-thê đã ở trong một tình huống đôi khi đưa ông đến kết cuộc của mình trong nổi khốn khổ. Nhưng sự quan phòng đặc biệt của Đức Chúa Trời sẽ thuộc về ông".
Điều đó xảy ra mọi lúc mọi khi. Khi chúng ta nhất mực dấn thân vào chức vụ, chúng ta mau chóng đến với sự cuối cùng của bản thân mình. Chúng ta không thể cứu được ai. Có ít việc chúng ta có thể làm để thoả mãn nhiều nhu cần và giải quyết nhiều nan đề chúng ta gặp gỡ từng ngày. Một mình trong chức vụ chúng ta tuyệt đối sẽ bất lực. Đấy là lý do tại sao chúng ta cần sự thương xót. Chúng ta cần Đức Chúa Trời Đấng Giúp Đỡ cho kẻ bất lực đến để trợ giúp cho chúng ta, Ngài làm những gì chúng ta không thể làm nếu chẳng có Ngài. Phaolô đã học biết điều nầy. Đức Chúa Trời đã phán cùng ông: "Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối". Vì lẽ đó Phaolô đã nói: "Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nhơ, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ" (II Cô-rinh-tô 12.9-10).
Trong phần kết luận, cho phép tôi cung ứng cho quí vị ba ứng dụng sống động chúng ta có thể rút ra từ hai câu mở đầu trong thư tín I Ti-mô-thê.
* Thứ nhứt, Đức Chúa Trời phán trực tiếp về mọi nhu cần của chúng ta từ sách nầy. Đây là một quyển sách có năng quyền chớ không phải vì Phaolô là một nhân vật sáng chói mà vì Đức Chúa Trời đã cảm thúc ông. Chính sự hà hơi của Đức Chúa Trời và rất thích đáng với ngày nay khi Phaolô trước tiên đặt những lời lẽ nầy lên giấy. Vì lẽ đó, chúng ta phải đưa phần nghiên cứu nầy làm ưu tiên một trong đời sống của chúng ta và trong Hội thánh của chúng ta nữa, đừng xem thường sách ấy.
* Thứ hai, chúng ta phải áp dụng sự dạy dỗ nầy theo cách riêng. Phần nghiên cứu nầy sẽ là vô ích nếu chúng ta tiếp cận với nó khi chỉ muốn tìm kiếm tri thức về Kinh thánh. Chúng ta cần phải áp dụng tất cả những gì nó có theo cách riêng cho mình.
* Thứ ba, chúng ta cần ân điển, sự bình an và mọi sự thương xót của Đức Chúa Trời cách liên tục. Chúng ta hãy kết thúc buổi thờ phượng bằng những lời cầu nguyện xin sự thương xót vì ích cho bất kỳ ai có mặt ở đây đang dấn thân vào chức vụ.
***