Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

"TA LÀ BÁNH CỦA SỰ SỐNG"



"TA LÀ BÁNH CỦA SỰ SỐNG"
Giăng 6.25-71
PHẦN GIỚI THIỆU. Khi chúng ta đến một nhà hàng, chúng ta thường quyết định trước tiên chúng ta cần loại thịt nào và rồi tạo ra một bữa ăn thú vị quanh đĩa thịt ấy. Trong xã hội tây phương của chúng ta, thịt là yếu tố chính trong một bữa ăn. Tuy nhiên, trong thời của Chúa Jêsus, thịt là một thức ăn phụ, còn bánh mới là món ăn chính trong bữa ăn, mọi thứ khác được bày ra ở quanh bánh đó. Chúng ta sẽ nghĩ dọn một bữa ăn như thế thiệt là kỳ lạ, vì chỉ có bột và rau, nhưng trong thời của Đấng Christ sẽ là một sự sĩ nhục khi dọn một bữa ăn mà không có bánh làm yếu tố chính. Điều nầy đặt ra bối cảnh cho tầm quan trọng trong câu nói của Chúa Jêsus: "Ta là bánh của sự sống". Những gì Chúa Jêsus đang phán dạy cho thấy Ngài là phần quan trọng nhất trong cuộc sống! Ngài là đĩa "chính" mà mọi thứ khác sẽ được dọn quanh đó. Ngài là phần quan trọng nhất trong sự dinh dưỡng của chúng ta.
Bánh trong thời của Chúa Jêsus là biểu tượng cho SỰ SỐNG. Vì vậy, bánh thường được sử dụng làm biểu tượng cho sự chu cấp của các thần, hay được sử dụng trong việc phản ảnh sự sống thuộc linh. Điều nầy cũng rất thực với dân sự của Đức Chúa Trời. Trong Cựu Ước bánh được đem đặt mỗi ngày trong Nơi Chí Thánh là một biểu tượng chỉ về sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời cho dân sự của Ngài. Tại bàn tiệc của Chúa, Chúa Jêsus đã dùng bánh để dạy dỗ về sự hy sinh của Ngài cho tội lỗi của chúng ta, một sự hy sinh đem lại sự sống cho chúng ta.
Kinh thánh dạy cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus là nguồn sống thật duy nhứt, sẽ chẳng có một sự sống thuộc linh nào mà không có Ngài, cũng một thể ấy sẽ chẳng có một sự sống thuộc thể nào nếu không có bánh thường nhật để ăn.
I. BÁNH SIÊU NHIÊN (6.25-34).
A. Thiển cận! (6.25-29)
1. Chúa Jêsus mới vừa rời khỏi chính đám dân đông nầy sau khi cho họ ăn bằng phép lạ với bánh và cá.
a. Họ đã đi theo Ngài qua bờ hồ bên kia sau khi Ngài cho 5.000 người ăn không kể đờn bà và trẻ con.
b. Họ đang chạy theo Ngài vì sự dạy của Ngài cũng nhiều như họ trông mong một đời sống dễ dàng hơn.
2. Người Do thái thời ấy tin rằng khi Đấng Mêsi ngự đến, một lần nữa Ngài sẽ khởi sự dốc đổ MA-NA từ trời xuống giống như Môi-se đã làm cho dân Israel vậy.
a. Sự việc nầy đã cung ứng bánh thuộc thể cho dân Israel một lần nữa giống như khi ở trong sa mạc.
b. Tuy nhiên Đấng Mêsi sẽ làm nhiều việc lớn lao còn hơn cả Môise nữa.
c. Chúa Jêsus đã ban cho họ một điểm khởi sự với lần dốc đổ bánh và cá đầu tiên nầy, và có lẽ họ đã đi theo Ngài qua bờ hồ bên kia để nhìn thấy sự chu cấp ấy có còn tiếp tục hay không!?!
3. Cái rắc rối là, họ đã nhắm vào bánh thuộc thể, một sự quay trở lại với tư tưởng về một lối sống dễ dàng hơn, ở chỗ Đức Chúa Trời chăm sóc các nhu cần thuộc thể của họ.
4. Họ chỉ tìm cách làm thoả mãn các nhu cần thuộc thể cấp thời của họ mà thôi, thậm chí họ không nhìn thấy linh hồn họ trống vắng là dường nào!
a. Thật là đáng buồn thay, khi con người tiêu pha cuộc đời của họ chỉ để tìm kiếm vật chất đời nầy mà không nghĩ tới việc làm thoả mãn các nhu cần thuộc linh của họ.
b. Có rất nhiều người luôn giữ việc tìm kiếm vật chất đời nầy mà không biết nó sẽ hư không là dường nào vào lúc chung kết đời. Từ chỗ mộc mạc trong linh hồn của chúng ta, những việc đời nầy sẽ không bao giờ làm cho chúng ta vui thoả được!
MINH HỌA. Một quyển tiểu thuyết mới đây do Madeleine L'Engle viết có đề tựa là “Con côn trùng mộc mạc”, Nếu bạn nhắc tới lớp người trẻ hay một độc giả với cái bao tử mạnh mẽ, đề tựa nầy ra từ một trong những tiểu luận của George Orwell, cung ứng một hình ảnh chỉ về sự hư mất của con người. Orwell mô tả con côn trùng "đang rút rỉa miếng mứt trên đĩa ăn của tôi và tôi cắt phân nửa cho nó. Nó chẳng chú ý lắm, cứ tiếp tục với bữa ăn của mình, trong khi một dòng mứt nhỏ trôi qua thực quản của nó. Chỉ khi nó tìm cách bay lên, nó mới nhận ra nó đã gặp phải một việc khủng khiếp đã xảy ra cho nó".
Con côn trùng và con người không có Đấng Christ có nhiều điểm chung lắm. Từ chỗ mộc mạc nơi linh hồn họ, nhưng tham lam và không tỉnh biết, con người cứ tiếp tục tiêu thụ vị ngọt của cuộc sống nầy. Chỉ khi nó muốn bay lên, nó mới hay được tình trạng đáng buồn của nó -- Leadership, Vol. 5, no. 3
5. Sự họ khát khao về Đấng Christ là một sự khát khao rất thiển cận, tạm thời hơn là đời đời.
a. Có nhiều người đang phạm phải chính lỗi lầm ấy hôm nay!
b. Ngay cả một số người đến với Đấng Christ đang sống như thế với những kỳ vọng sẽ làm cho cuộc sống ra dễ dàng hơn là học đòi sự tin kính!
c. Khi chúng ta suy nghĩ tới mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời trong những giới hạn của các thứ vật chất, chúng ta sẽ thấy không được thoả lòng trong cuộc chạy đường dài.
6. Chúa Jêsus vốn hiểu rõ ngay tức khắc rằng họ đã đi theo Ngài qua bờ hồ bên kia vì họ muốn có nhiều bánh cho bao tử thay vì cho linh hồn.
a. Ngài yêu cầu họ phải làm việc để có đồ ăn không hay hư nát (6.27)
b. Khi họ thắc mắc họ phải làm công việc gì, Chúa Jêsus bảo họ rất đơn giãn: "hãy tin ta" (6.29)
B. Tự mãn (6.30-34)
1. Thật là khó tin, đám dân đông nầy đã chứng kiến nhiều phép lạ chữa lành như thế, và Chúa Jêsus đã nhân rộng bánh và cá chỉ mấy ngày trước, giờ đây họ hỏi Chúa Jêsus: "Thế thì thầy làm phép lạ gì, để cho chúng tôi thấy và tin? Thầy làm công việc gì?” (6.30)
a. Quan niệm của họ về "đức tin" rất giống với nhiều người trong đời nầy: "hãy minh chứng đi, rồi tôi mới tin".
b. Điều nầy tác động ngược lại trong lãnh vực thuộc linh!
MINH HOẠ. Hầu hết chúng ta, với khao khát muốn có đức tin thực ý nghĩa, dường như muốn nói với Đức Chúa Trời: "Làm cho tôi thấy đi, thì tôi sẽ tin!" Cách nói nầy không bao giờ có tác động đâu. Đức Chúa Trời đã làm rất rõ ràng cho chúng ta thấy rồi, trong đời sống và sự dạy dỗ của Chúa Jêsus Con Ngài, cho nên quá trình phải được đảo lại. Ngài đang phán: "Hãy tin nơi ta, thì ta sẽ tỏ cho các ngươi thấy" -- John Powell, S.J., in Through Seasons of the Heart. Christianity Today, Vol. 31, no. 2.
2. Họ đang thực sự yêu cầu Chúa Jêsus phải làm những điều minh chứng Ngài lớn lao hơn Môise một khi họ trông mong Đấng Mêsi làm NHIỀU hơn Môise.
a. Môise đã cung ứng bánh cho 3 triệu rưỡi người Do thái, Chúa Jêsus chỉ cho có 5.000 người ăn không kể đờn bà và trẻ em.
b. Môise đã chu cấp bánh trong 40 năm, Chúa Jêsus chỉ mới cung cấp cho họ bánh có một lần mà thôi.
c. Môise đã ban cho họ bánh từ trời, Chúa Jêsus đã sử dụng bánh đời nầy và đã nhân rộng nó.
3. Họ đang thắc mắc ở đây về Chúa Jêsus phải minh chứng Ngài là Đấng Mêsi đã được hứa cho bằng cách đổ xuống MA-NA một lần nữa, và làm thoả mãn các nhu cần thuộc thể của họ bằng một phương thức lớn lao hơn Môise đã làm cho Israel trong quá khứ.
a. Trong mấy câu kế, Chúa Jêsus giải thích thể nào Ngài đang ban cho họ bánh còn quan trọng hơn cả Môise…nhưng họ không thể nghe được điều nầy vì họ đang nghĩ duy nhứt với bao tử, chớ không nghĩ tới linh hồn họ!
b. Phải chăng chúng ta cũng làm y như thế hôm nay? Đức tin của chúng ta đặt nơi Đức Chúa Trời dựa theo các ơn phước thuộc thể và vật chất ở tầm cỡ nào?
c. Chúng ta đầu phục Đấng Christ như thế nào? Chúng ta sẽ phục Ngài bền đỗ ra sao một khi chúng ta không nhận được các ơn phước về mặt thuộc thể?
d. Sức lực trong cách ăn ở của chúng ta với Đức Chúa Trời chiếu theo Thánh Linh hay chiếu theo thân thể?
4. Hãy chú ý Chúa Jêsus trước tiên đang ra sức điều chỉnh sự họ hiểu sai về Môise, Chúa Jêsus phán rằng Môise KHÔNG phải là Đấng ban cho họ bánh từ trời, chính Đức Chúa Trời là Cha, Ngài đã làm điều đó, họ đã trao tài khoản vào một nguồn không đúng rồi! (6.32)
a. Trong việc nầy, Chúa Jêsus đang nói cho họ biết phải nhìn lên cao để tìm nguồn bánh của họ, chớ đừng nhìn vào một người như Môise.
b. Ngài đang hứa với họ rằng họ có thể tìm được bánh nầy trong Ngài là Đấng xuống từ trời.
c. Khi ấy họ xin Chúa Jêsus ban cho bánh nầy…nhưng họ vẫn suy nghĩ theo những giới hạn tự nhiên chớ không suy nghĩ theo các giới hạn thuộc linh!
II. MỆNH LỆNH CỦA CỨU CHÚA (6.35-71)
A. Bí quyết của Cứu Chúa (6.35-51)
1. Giờ đây Chúa Jêsus xác định rõ chính mình Ngài là "bánh của sự sống".
a. Bánh MA-NA trong Cựu Ước chỉ là một biểu tượng chỉ về một thực tại lớn lao hơn sắp xảy đến nơi Đấng Mêsi.
b. Họ cần bánh…và đây, bánh ấy đang đứng trước mặt họ!
2. Sẽ không còn có "đói" hay "khát" cho những ai đến với Đấng Christ và nắm chặt Ngài là bánh của sự sống!
a. Cách sử dụng động từ "TA LÀ … bánh của sự sống" có phần nhấn mạnh trong tiếng Hy lạp. Chúa Jêsus tự đồng hoá mình là nguồn sự sống duy nhứt, là "bánh" cho sự sống.
b. Ngài là nguồn sống!
3. Chúa Jêsus đang chứng tỏ cho họ thấy bí quyết đã được bày ra, Ngài cao cả hơn Môise, và sự tiếp trợ bánh của Ngài là mỹ mãn hơn sự tiếp trợ của Môise mà họ đã từng trông mong!
a. Môise đã chu cấp bánh cho 3 triệu rưỡi người Do thái, Chúa Jêsus đang cung cấp bánh cho CẢ nhân loại, sự tiếp trợ của Ngài LUÔN lớn lao hơn Môise'!
b. Môise đã chu cấp bánh (theo cách suy nghĩ của họ) trong 40 năm, Chúa Jêsus là bánh ĐỜI ĐỜI, sự tiếp trợ của Ngài không hề dứt, vì vậy sự tiếp trợ ấy lớn lao hơn sự chu cấp của Môise!
c. Môise đã ban cho họ bánh xuống từ trời, nhưng MA-NA ấy bị hư mất, giống như tổ phụ họ bị hư mất vậy! Chúa Jêsus LÀ bánh xuống từ trời, và Ngài sẽ không hề hư mất, người nào nắm chặt lấy Ngài sẽ không bao giờ bị hư mất, vì thế đây là bánh quan trọng hơn bánh của Môise! (6.48-49)
4. Họ trông mong Đấng Mêsi phải cao trọng hơn cả Môise…và Ngài CAO TRỌNG hơn hẳn!
a. Chúa Jêsus phán rằng dù Ngài đã trình bày quá rõ rệt như thế rồi, họ vẫn chọn KHÔNG tin! (6.36)
b. Chỉ những ai tiếp nhận công việc nầy của Đấng Christ sẽ được cứu, tất cả những người khác sẽ bị hư mất ngay cả nếu họ có hết thảy bánh đời nầy trong thế gian!
5. Quả thực, MA-NA đã xuống từ trời, bí quyết đã được bày ra! Chúa Jêsus sử dụng cách nói cho rằng Ngài đã xuống "từ trời" trong chương nầy ít nhất là 10 lần!
a. Rõ ràng là Ngài đang chỉ cho họ thấy Ngài là MA-NA theo ý nghĩa đầy đủ nhất!
b. Đức Chúa Cha đã sai phái "MA-NA" nầy đến để trưởng dưỡng linh hồn họ, nhưng họ chỉ xu hướng vào bao tử của họ mà thôi!
6. Họ bắt đầu lằm bằm, họ muốn bánh cho bao tử, chớ không muốn bánh cho linh hồn!
B. Sự hy sinh của Cứu Chúa (6.52-59)
1. Sự họ không tiếp nhận bản chất thuộc linh trong những lời xưng nhận của Chúa Jêsus ở đây rõ ràng như vậy là do sự mù quáng của họ không nhìn thấy phần ứng dụng thuộc linh trong lời công bố của Chúa Jêsus rằng hết thảy những ai ăn thịt và uống huyết của Ngài sẽ được sống cho đến đời đời.
a. Họ xem lời xưng nhận nầy theo nghĩa đen giống như tục ăn thịt người!
b. Bao tử của họ đã cai trị tấm lòng họ nên họ không thể nhìn thấy lẽ thật thuộc linh nói về sự hy sinh hầu đến của Đấng Christ vì cớ tội lỗi của họ!
2. Nhiều người trong số họ sẽ không bao giờ nhìn thấy lẽ thật và không bao giờ tìm được ý nghĩa trong đời sống của họ.
a. Đây là một sự thực đáng buồn khi có nhiều người nếm trải cuộc sống của họ mà chẳng bao giờ tìm được ý nghĩa và tầm quan trọng.
b. Chỉ có Đấng Christ mới có thể cung ứng ý nghĩa cho sự sống và sự sống đời đời.
MINH HỌA. Cách đây hai năm, trong số khán thính giả có một phụ nữ viết thư mời tôi đến thăm, nếu có thể. Cách đây vài tuần, tôi có mặt tại thành phố quê nhà của cô ta, cùng với vợ tôi và đội truyền giáo. Người phụ nữ ấy đang chịu khổ vì bịnh AIDS và thời điểm ấy cô ta cũng sắp qua đời nữa. Cô ta đã đến đây chừng hai năm với sự biết rõ mình bị AIDS. Cô ta khao khát một việc nhiều hơn những gì cô ta đã tìm được trong cuộc sống. Cô ta đã tìm gặp Đấng Christ và đã đến đây để tìm sự dạy dỗ và sự phong phú sâu sắc hơn.
Khi chúng tôi bước vào căn hộ, cô ta rất đỗi kinh ngạc. Tôi không bao giờ quên được thái độ của cô ta. Mẹ và bố của cô ta đứng kế bên cô ta cùng với một người bạn. Cô ta trông giống như một cái túi xương – một cái nhìn đáng thương hại. Cô ta nói thì thầm câu nói biết ơn vì chúng tôi đã đến. Chúng tôi nói chuyện và cầu nguyện với cô ta. Khi tôi quay qua, tôi để ý thấy một quyển sách nằm ở trên bàn gần đó. Quyển “Khao khát ý nghĩa” do R. C. Sproul viết. Trong giờ phút cô độc nhất của cô ta, nỗi khát khao lớn lao nhất đã dâng đầy, sự khát khao của cô ta về ý nghĩa. Đấy là những gì đức tin của chúng ta trong Đấng Christ có thể làm. Con người có thể chịu đựng được những tranh luận khó tránh được trong cuộc sống. Ngày nay cô ta đang ở với Chúa của mình -- Ravi Zacharias, "If the Foundations Be Destroyed," Preaching Today, Tape No. 142.
3. Chúa Jêsus đang ra sức lý luận với họ, nếu họ chỉ thực sự mong muốn MA-NA giống như các tổ phụ họ, phải chăng họ nhìn biết rằng tổ phụ của họ đã chết dù họ đã ăn bánh xuống từ trời?
a. Bánh Cựu Ước nầy trong khi chỉ là một ơn phước làm thoả mãn các nhu cần của họ về mặt thuộc thể, nó không cung ứng cho họ sự sống đời đời!
b. Đấng Christ là bánh siêu nhiên, là bánh không những sẽ cung ứng cho họ sự sống tạm mà còn cung ứng cho sự sống đời đời nữa.
4. Đấng Christ đang hiến thân thể và huyết của Ngài để cứu lấy họ, họ chỉ phải tiếp nhận Đấng Christ là bánh của sự sống để tìm được ơn cứu rỗi.
a. Sự kêu gọi phải chết đối với bản ngã, và vòng tay ôm lấy Đấng Cứu Thế!
b. Họ được yêu cầu phải dành những thứ ưu tiên một biến chúng thành đời đời chớ không phải tạm thời…là điều mà họ sẽ thấy là “khó nuốt” giống như nhiều người ngày hôm nay!
C. Trạng thái khi được cứu (6.60-71)
1. Tất cả những người nầy ngay thời điểm đó đã xem mình là môn đồ nhận thấy sự kêu gọi nầy của Đấng Christ là một lời khó nghe!
a. Họ cũng thấy dễ chịu với ý tưởng có được các nhu cần tạm thời của mình được thoả mãn rồi mới tái sắp xếp đời sống họ trước những ưu tiên thuộc linh.
b. Phần nhiều người trong số họ đã từ chối lời kêu gọi của Đấng Christ ở đây…và vì vậy, nhiều môn đồ đã chạy quanh không còn đi theo Đấng Christ kể từ giờ phút nầy trở đi. (xem 6.66)
2. Mọi sự họ phải làm là tin, nhưng việc nầy cũng là “khó” cho phần nhiều người trong số họ!
3. Họ càng thấy dễ chịu với lãnh vực thuộc thể hơn là lãnh vực thuộc linh.
a. Chúng ta phải dè chừng chống lại suy tưởng cho rằng công việc của Đức Chúa Trời đã được hoàn tất nhờ vào các phương tiện tự nhiên!
b. Hội thánh thuộc lãnh vực siêu nhiên, và sự sống của nó đến từ Đấng Christ, không phải là những chương trình khéo tay…Hội thánh được dựng nên bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời!
MINH HOẠ. Mục sư A. W. Tozer, nhà văn và giáo sĩ đã nói: "Nếu Đức Thánh Linh bị rút ra khỏi Hội thánh ngày hôm nay, 95 % những gì chúng ta làm sẽ cứ tiếp tục và chẳng ai nhận ra sự khác biệt. Nếu Đức Thánh Linh bị rút ra khỏi Hội thánh Tân Ước, 95 % những gì chúng ta đã làm sẽ dừng lại, và mọi người đều nhận ra sự khác biệt" -- Alan Redpath in "Christian Life" magazine. Christianity Today, Vol. 29, no. 18.
4. Chúa Jêsus hỏi 12 môn đồ không biết là họ cũng bỏ đi ngay bây giờ hay không!?! Câu hỏi nầy khiến cho họ nhận ra rằng họ cần phải tiếp nhận các thực tại thuộc linh hơn là những thứ vật chất đời nầy.
a. Phierơ là người đầu tiên đáp rằng ông sẽ không bỏ đi, rằng Chúa Jêsus là nguồn duy nhứt của sự sống đời đời!
b. Phierơ đã tìm được chân lý và ông đang nắm chặt chân lý đó!
c. Không có gì phải ngạc nhiên Phierơ rất quý chuộng Chúa Jêsus, thậm chí khi quá hăng hái, Phierơ đã có một sự khao khát đối với những việc thuộc linh hơn là vật chất, vì vậy đã có một việc mà Đức Chúa Trời có thể làm với ở đây.
5. Tuy nhiên, có một trong 12 môn đồ, là người đã chọn 30 miếng bạc hơn cả bánh hằng sống trong tương lai, và vì lẽ đó bị mất đi sự sống đời đời trong Đấng Christ có thể đã thuộc về người ấy.
a. Nếu chúng ta từ chối "bánh" nầy, chẳng còn có một nguồn sự sống đời đời nào khác đâu.
b. Quí vị có chịu cầm lấy bánh của sự sống nầy không?
c. Có phải MA-NA đời nầy là sở thích duy nhứt của quí vị không, hay linh hồn của quí vị tìm gặp sự vui thoả của nó trong Đấng Christ?
KẾT LUẬN. Giống như nhiều người ngày hôm nay, người ta trong thời của Chúa Jêsus bằng lòng vòng tay ôm lấy Ngài bao lâu Ngài cho họ no đủ với những thứ vật chất, nhưng khi được kêu gọi phải thực thi sự đầu phục hy sinh cho Đấng Christ, họ liền xây mặt đi. Có bánh quan trọng cần phải chạy theo hơn các thứ bánh quí vị mua được từ cửa hàng! Đó là bánh của sự sống, Ngài là Đấng Cứu Thế. Phải chăng quí vị đang cầm lấy loại bánh ngon lành nầy?
***

"TA LÀ SỰ SÁNG CỦA THẾ GIAN"



"TA LÀ SỰ SÁNG CỦA THẾ GIAN"
Giăng 8.12-20
PHẦN GIỚI THIỆU. Hành động sáng tạo đầu tiên của Đức Chúa Trời là tạo ra "sự sáng". Tuy nhiên, đây không phải là hình thái đầu tiên của sự sáng, vì Kinh thánh nói rằng "Đức Chúa Trời là sự sáng", trước khi ánh sáng vật lý được dựng nên thì sự sáng siêu nhiên đã có rồi, vì lẽ đó ánh sáng thuộc linh luôn quan trọng hơn ánh sáng thuộc thể.
Vấn đề quan trọng nhất của nhân loại là sự tối tăm thuộc linh! Tội lỗi đã đem lại một sự tối tăm còn tệ hại hơn sự tối tăm khi mặt trời lặn mất. Đối với chúng ta, lúc ban đêm có một sự kinh hãi tự nhiên LẪN siêu nhiên đối với sự tối tăm. Chính sự sáng cung ứng cho hành tinh sự sống của nó, còn nếu để cho thế gian chịu cảnh tối tăm thường xuyên thì thế gian sẽ chết mất như chúng ta đã biết! Cũng một thể ấy về mặt thuộc linh, nếu con người ở trong tình trạng tối tăm thuộc linh họ sẽ thấy ngay rằng không có sự sống khả thi cho linh hồn họ.
Cảm tạ Chúa vì Ngài là SỰ SÁNG! Cái điều thế gian cần nhất trong bầu không khí tối tăm thuộc linh mà chúng ta đang sinh sống trong đó chính là SỰ SÁNG của Đức Chúa Jêsus Christ!
MINH HOẠ. Một cậu bé nghèo khổ từng nghe giáo viên Lớp Trường Chúa Nhựt giảng Chúa Jêsus là sự sáng của thế gian. Nó lắng nghe từng chữ một trong lời dạy của vị giáo viên ấy. Hết giờ học, cậu bé nói với giáo viên của mình: "Nếu Chúa Jêsus thực sự là sự sáng của thế gian, con muốn Ngài ngự đến ngay con hẽm nhà con. Nơi con sinh sống tối tăm kinh khủng".
Kinh thánh dạy chúng ta rằng có sự sống trong Đấng Christ, sự sống ấy sẽ trục xuất bóng tối tăm ra khỏi linh hồn chúng ta. Khi sự sáng của Ngài chiếu rọi trên chúng ta, nó được chiếu rọi lại nơi nhiều người khác trên thế gian nầy.
I. SỰ SÁNG XUA ĐI BÓNG TỐI TĂM (8.12)
A. Lửa (8.12a)
1. Chúa Jêsus đưa ra lời bình nầy khi đứng gần mấy cái tủ đựng đồ dùng để chứa các thứ của dâng.
a. Đây không phải là một toà nhà phân biệt, mà đúng hơn đây là phía ngoài của "hành lang phụ nữ" – có lẽ chứa 13 cái tủ bằng đồng được gọi là "ống kèn" do hình thù mở rộng trong đó đặt các thứ của dâng của những kẻ đến thờ phượng. 9 cái tủ dùng để đựng tiền thuế bằng hiện kim và thuế con sinh, 4 cái đựng các thứ dâng mặc ý như gỗ, nhũ hương, các thứ trang trí trong đền thờ, cùng các thứ của lễ thiêu.
b. Chúa Jêsus có mặt ở đây trong dịp "Lễ Lều Tạm" (được nhắc tới trong Giăng 7) – tưởng niệm các chuyến đi của dân Israel ngang qua đồng vắng khi họ còn sống trong lều trại.
c. Là một phần của nghi thức, một cây nến to được đốt lên để nhắc cho người Do thái nhớ tới TRỤ LỬA lúc ban đêm đã dẫn dân Israel vào trong đất Hứa.
2. Có thể cây nến đó được đốt lên làm một phần của kỷ niệm phản ảnh sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong TRỤ LỬA lúc ban đêm để dẫn dắt dân Israel khi Chúa Jêsus đưa ra câu nói nầy: "TA LÀ SỰ SÁNG CỦA THẾ GIAN”.
a. Chúa Jêsus rõ ràng đã đồng hoá mình là Đấng đã dẫn dắt dân Israel trong đồng vắng!
b. Là ngọn lửa trong ban đêm đã cung ứng ánh sáng cho dân Isarel, họ chưa hề kinh nghiệm sự tối tăm hoàn toàn cả 40 năm họ lang thang trong đồng vắng từ khi TRỤ LỬA luôn luôn hiện diện ở giữa vòng trại quân!
3. TRỤ LỬA nầy là trụ lửa siêu nhiên, không phải là lửa thường, và chắc chắn dân Israel vốn hiểu cặn kẻ điều nầy rồi.
a. Không một thứ lửa tự nhiên nào cứ tiếp tục cháy suốt 40 năm ở bên trên Hòm Giao Ước cả.
b. Chính mình Đức Chúa Trời đã nâng đỡ ngọn lửa nầy, là thứ lửa chẳng hề tắt bao giờ. Ngay lúc ban ngày đây là một trụ mây đứng phía bên trên trại quân.
4. Sa mạc là một nơi tối tăm, nhưng lửa của Đức Chúa Trời đã trục xuất bóng tối tăm đi!
5. Trong lúc bây giờ đây, một ngọn lửa nhỏ ai nấy đều có cần để trục xuất bóng tối tăm đi!
MINH HOẠ. Có một người xây dựng nên một gia tài đồ sộ nhờ vào sự cần cù làm ăn lương thiện. Khi ông ta luống tuổi rồi, ông ta thấy lo về tương lai sự nghiệp của mình vì ông ta chẳng có một người thân nào trừ ra ba người cháu. Một ngày kia, ông cho gọi mấy đứa cháu lên gặp, ông ta nói: "Ta có một vấn đề, và đứa nào đưa ra giải pháp hay nhất sẽ kế tự mọi sự mà ta đang có đây". Trao cho mỗi người cháu một số tiền tương đương nhau, ông ta dạy cho chúng biết mua sắm thứ chi đó để trong phòng làm việc rất to kia của ông. "Đừng sử dụng lố số tiền mà ta đã trao cho các cháu, và phải quay trở lại trước khi mặt trời lặn".
Suốt cả ngày mấy đứa cháu của ông ta đã tìm cách chu toàn sứ mệnh của họ. Sau cùng, khi bóng tối phủ xuống, họ vâng lời trở về để trình báo cáo của họ. Bác của họ yêu cầu được xem coi họ đã mua sắm thứ gì!?! Người thứ nhứt kéo nguyên một kiện rơm vào phòng. Khi tháo kiện ấy ra, kiện rơm biến thành một đống lớn che chắn được cả hai bức tường. Sau khi dọn sạch kiện rơm ấy, người thứ hai đem vào hai túi bông thật lớn, rồi mở hết ra, nó làm đầy 3/4 căn phòng. Món nầy hay hơn món thứ nhứt.
Người cháu thứ ba đứng yên lặng có vẻ đau khổ lắm. Người bác lớn tuổi kia lên tiếng hỏi: “Cháu có đem gì dâng cho ta không?” "Thưa bác, cháu đã tiêu xài phân nửa số tiền để cho một đứa trẻ bị đói ăn và đã dâng phần còn lại vào nhà thờ rồi. Cháu chỉ để lại chút đỉnh cho mình thôi, cháu đã mua mấy cây diêm và cây đèn cầy nhỏ". Thế rồi nó lấy ngọn nến, và ánh sáng của ngọn nến chiếu rọi vào từng góc của căn phòng! Ông bác tử tế kia nhận ra rằng đây là đứa cao thượng nhất trong ba đứa cháu của mình. Ông chúc phước cho nó vì đã sử dụng đúng mức món quà của ông, rồi ông trao cho nó toàn bộ tài sản của mình.
B. Đi theo! (8.12b)
1. Như kinh nghiệm trong đồng vắng, vòng tay ôm lấy TRỤ LỬA hay sự sáng của Đức Chúa Trời chỉ một lần thôi thì chưa đủ đâu, cần phải để ra trọn cả đời đi suốt con đường mà vào đất Hứa nữa!
a. Chúa Jêsus phán ở đây: "người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm…"
b. Động từ ở đây thuộc thì hiện tại phân từ trong tiếng Hy lạp chỉ ra hành động còn tiếp diễn. Sự sáng đang trục xuất bóng tối tăm mỗi ngày!
c. Đức Chúa Trời không thích ai đầu phục Ngài từng hồi từng lúc, Ngài muốn một sự đầu phục Ngài mỗi ngày!
d. Chính tư tưởng nầy "đi theo thường xuyên" hay "cứ ở trong" đã được thấy trong sứ điệp vừa qua khi Chúa Jêsus phán: "Ta là gốc nho…HÃY CỨ Ở trong ta…"
2. Theo sau mấy câu nầy, trong Giăng 9 Chúa Jêsus bày tỏ ra quyền phép sự sáng của Ngài bằng cách chữa lành cho một NGƯỜI MÙ…không những người nầy được chữa lành, mà người còn trở thành một môn đồ và ĐI THEO Đức Chúa Jêsus!
3. Người ta không cần phải bước qua cuộc sống trong bóng tối tăm thuộc linh, Đấng Christ là sự sáng của thế gian và Ngài sẽ chiếu sáng tấm lòng của chúng ta nếu chúng ta mời Ngài ngự vào trong!
MINH HOẠ. Một phụ nữ tên là Rose Crawford đã bị mù trong 50 năm. "Bà ta hỗn hễn vì kinh ngạc khi vị Bác sĩ tháo băng ra khỏi mắt mình sau khi bà hồi phục qua cuộc giải phẩu ở bịnh viện Ontario: “Tôi không thể tin được”. Bà đã bật khóc vì vui mừng khi lần đầu tiên trong đời một thế giới kỳ diệu đầy màu sắc in trong đôi mắt giờ đây có thể nhìn thấy được. Cái điều đáng ngạc nhiên trong câu chuyện, ấy là bà đã tốn 20 năm mù loà không cần thiết. Bà không biết những kỹ thuật giải phẩu đã phát triển rất nhiều, và một lần giải phẩu đã phục hồi lại ánh sáng cho bà ở tuổi 30. Vị bác sĩ nói: "Bà chẳng hình dung nổi điều chi có thể được thực hiện về tình trạng của mình. Nhiều việc trong đời sống bà đã có nhiều khác biệt rồi".
Khi tôi đọc thấy các tin tức nói về trường hợp của bà, một số thắc mắc đã dậy lên trong trí. Tại sao bà ấy cứ luôn cho rằng tình trạng của mình là vô vọng chứ? Chẳng lẽ không có ai nói cho bà ta biết về những tiến bộ kỳ diệu trong khoa giải phẩu sao? Khi ấy tôi đã nghĩ tới cảnh tuyệt vọng của những kẻ mà Tin lành chưa đến với họ. Có bao nhiêu người sẽ tiếp tục sống trong cảnh mù loà đạo đức nếu chúng ta chẳng đem Đấng Cứu Thế đến cho họ? Hàng triệu người sẽ không bao giờ biết được điều chi trừ ra bóng tối tăm thuộc linh vì chẳng có ai đến chia sẻ cho họ Sự Sáng đã ngự vào trong thế gian (Rôma 10.14).
4. Trong đồng vắng khi dân Israel còn sống trong lều trại đã có một thủ tục; khi TRỤ LỬA của Đức Chúa Trời dời đi họ cũng phải dời đi và đi theo nó!
a. Nếu họ không đời đi họ sẽ bị bỏ lại ở đàng sau trong bóng tối tăm một lần nữa!
b. Chúng ta cũng phải bước theo Đấng Christ nếu sự sáng của Đức Chúa Trời còn ở trong chúng ta!
5. Thật là thê thảm và đáng buồn thay khi dân Israel nầy trong thời của Chúa Jêsus không bằng lòng ôm lấy sự sáng của thế gian mà bước theo Ngài, ít nhất là tổ phụ của họ đã bước theo TRỤ LỬA!
6. Khi dân Israel ra đi theo sau TRỤ LỬA, họ KHÔNG HỀ thôi ở trong sự sáng của trụ ấy, họ không hề kinh nghiệm bóng tối tăm trong khi bước theo TRỤ LỬA của Đức Chúa Trời!
a. Điều nầy vẫn còn rất thực, bao lâu chúng ta bước theo Đấng Christ chúng ta sẽ không hề bước đi trong bóng tối tăm.
b. Một Cơ đốc nhân có sự sáng chiếu trên những thực tại trong cuộc sống hơn bất kỳ người nào chưa được cứu, vì chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng các thực tại thuộc linh ở chung quanh chúng ta.
7. Trong khi phần còn lại của thế gian sống trong bất ổn, sợ hãi khi những việc khủng khiếp xảy ra, dân sự của Đức Chúa Trời không bị kéo vào trong bóng tối tăm, chúng ta đang nhìn thấy bàn tay của Đức Chúa Trời đang vận hành trong chúng ta và trong thế gian khi chúng ta để cho Sự Sáng của thế gian Đức Chúa Jêsus Christ đến sống trong chúng ta.
II. SỰ SÁNG ĐÒI HỎI MỘT QUYẾT ĐỊNH (8.13-20)
A. Đức tin! (8.13-19)
1. Người Pharisi ngay lập tức phản ứng trước lời xưng nhận của Chúa Jêsus cho rằng Ngài là sự sáng của thế gian!
a. Phản ứng của họ là kiểu cách của hạng người chuyên sống trong bóng tối tăm…họ không muốn bị chỉ ra thực sự họ là ai!
b. Họ thách thức khả năng của Đấng Christ khi đưa ra một lời xưng nhận như thế bằng cách nại ra luật pháp!
(1. Luật pháp đòi hỏi nhiều hơn một bằng chứng để thử điều chi là thực.
(2. Còn cần nhiều hơn là một người “tự làm chứng” để xác định sự thật.
2. Chúa Jêsus trong phần đáp ứng, Ngài nói cho họ biết rằng trong trường hợp của Ngài tự minh chứng là đủ rồi vì lẽ Ngài ra từ đâu…một khi Đức Chúa Cha và Ngài là một, thực sự chỉ có "một" chứng cớ mà thôi!
a. Và nếu họ công nhận rằng quả thực Ngài đã đến từ Đức Chúa Trời, họ vốn hiểu rõ điều nầy và không dám thách thức bằng chứng duy nhứt mà Ngài đã đưa ra.
b. Cho nên sự việc nầy chứng tỏ rằng họ chẳng biết gì về Đức Chúa Trời cả!
c. Chính ở chỗ nầy cho thấy rằng họ đã xét nét chỉ theo "các tiêu chuẩn của con người"
d. Chính Đấng Christ trong giờ phút ấy không ngự đến để mang lại sự phán xét sau cùng, vì thế cơ hội để cho họ vòng tay ôm lấy sự sáng vẫn còn có, đây là những gì Chúa Jêsus muốn nói qua lời bình của Ngài: "Ta thì không xét đoán người nào hết".
(1. Tuy nhiên sẽ có thời kỳ trong tương lai, khi hết thảy mọi việc làm trong tối tăm đều sẽ được bày tỏ ra hết!
(2. Đấng Christ trong sự tái lâm đến để cứu chuộc, sự xét đoán sẽ nằm ở cuộc tương lai.
(3. NHƯNG…Chúa Jêsus không nói rằng Ngài luôn luôn có quyền đưa ra sự phán xét một khi Ngài chọn làm như thế, vì Ngài không phải ở một mình đâu, Cha Ngài và Ngài là một!
3. THEO ý nghĩa Chúa Jêsus và Đức Chúa Cha cả hai đều ở trong sự nhất trí, có hai nhân chứng khiến cho luật pháp được thoả, tuy nhiên, họ vốn không chấp nhận điều nầy vì họ không tiếp nhận Đấng Christ như đã đến từ Đức Chúa Cha!
a. Họ đã tự phác hoạ mình đang ở trong một góc tối tăm, vì thế họ không thể tránh thoát trừ phi họ tiếp nhận Đấng Christ là sự sáng của thế gian!
b. Nếu họ biết Đức Chúa Cha, họ phải nhìn biết Đấng Christ!
4. Họ ra sức khiến cho Chúa Jêsus phải QUÌ GỐI trước luật lệ của họ thay vì họ phải phục theo sự sáng của Đấng Christ …đây là một công thức dành cho tai vạ giáng trên họ cùng những kẻ theo họ!
MINH HOẠ. Thuyền trưởng của chiếc tàu nhìn vào bóng tối tăm, ông nhìn thấy những ngọn đèn le lói từ đàng xa. Ngay tức khắc ông bảo nhân viên tín hiệu gửi một sứ điệp: "Đổi hướng 10o Nam". Một sứ điệp hồi báo vừa nhận được: "Đổi hướng 10o Bắc đi".
Viên thuyền trưởng nổi giận; mạng lịnh của ông bị bất chấp. Vì vậy ông cho gửi sứ điệp thứ nhì: "Đổi hướng 10o Nam – Tôi là thuyền trưởng đây!" Ngay sau đó sứ điệp hồi báo là: "Đổi hướng 10o Bắc – Tôi là thủy thủ hạng ba, Jones đây".
Ngay lập tức viên thuyền trưởng gửi sứ điệp thứ ba, giọng nhuộm vẻ tức tối: "Đổi hướng 10o Nam – Tôi là tàu chiến đây". Khi ấy có hồi báo như sau: "Đổi hướng 10o Bắc – Tôi là ngọn hải đăng đây".
Ở giữa những lúc tăm tối và đầy sương mù của chúng ta, tất cả những giọng nói vang ra lịnh lạc trong ban đêm, nói cho chúng ta biết phải làm gì, phải điều chỉnh đời sống chúng ta như thế nào. Ở ngoài bóng tối tăm kia, một giọng nói ra dấu điều chi đó ngược lại với giọng nói kia – giọng nói gần như là lố bịch. Nhưng giọng nói cho thấy đấy là Sự Sáng của thế gian, khi chúng ta bất chấp sẽ lãnh lấy sự hư mất cho mình -- Paul Aiello, Jr., Leadership, Vol. 4, no. 2.
5. Chúng ta cũng phải quyết định nếu chúng ta sẽ bởi đức tin vòng tay ôm lấy Đấng Christ là sự sáng của thế gian hoặc cứ tiếp tục nhấn mạnh ý riêng và luật pháp của mình rồi chối bỏ Ngài.
a. Chối bỏ Ngài là sống thường trực trong bóng tối tăm!
b. Chúng ta phải đến với Ngài bằng đức tin tin Ngài đến từ Cha sáng láng!
6. Người Pharisi vốn quan tâm sâu xa về sự “công nghĩa” riêng của họ hơn là quan tâm đến "sự công bình"
a. Không những họ chọn sự tối tăm cho bản thân họ, mà họ còn dẫn nhiều người khác vào chỗ tăm tối nữa!
b. Tất cả những luật lệ của họ không thể cứu được linh hồn hay dời đi bóng tối tăm tội lỗi, cần có sự sáng của thế gian để trục xuất bóng tối tăm của tấm lòng đi và buông tha cho nó được tự do!
B. Tự do (8.20)
1. Đấng Christ không để cho họ phá hủy chương trình của Đức Chúa Trời … và vì vậy họ có thể chối bỏ Ngài, vì họ mù loà và sống trong tối tăm!
a. Đấng Christ có việc phải làm để bảo đảm sự tự do của chúng ta không còn có tội lỗi nữa.
b. Sự Sáng của thế gian không phải là đối tượng cho năng lực của con người y như mặt trời không phải là đối tượng cho ý chí của chúng ta vậy!
2. Đấng Christ đã hiến cho sự tự do bước vào trong sự sáng và nhìn thấy rất rõ ràng.
a. Ngài vẫn còn hiến cho sự tự do nầy từ chỗ tối tăm!
b. Tại sao quí vị chọn tối tăm hơn chọn sự sáng?
MINH HOẠ. Chúng ta có thể dễ dàng tha thứ cho một đứa trẻ luôn sợ hãi bóng tối. Tai hoạ thực trong cuộc sống là khi con người sợ sự sáng kìa -- Plato, Leadership, Vol. 1, no. 2.
3. Chẳng có lý do gì phải sợ bóng tối tăm khi sự sáng của thế gian đã đến …quí vị sẽ làm gì với Đấng Christ?
PHẦN KẾT LUẬN. Giống như có một mặt trời xua đi bóng tối tăm của đất, có duy nhứt Con Đức Chúa Trời hủy phá sự tối tăm thuộc linh! Giống như dân Israel phải liên tục bước theo TRỤ LỬA để vào tận đất Hứa, cũng một thể ấy chúng ta phải liên tục bước theo Đấng Christ, Ngài là sự sáng của thế gian. Quí vị có vòng tay ôm lấy sự sáng hay quí vị vẫn còn sống trong tối tăm?
***

"TA LÀ GỐC NHO THẬT"



"TA LÀ GỐC NHO THẬT"
Giăng 15.1-11
PHẦN GIỚI THIỆU. Giăng giới thiệu Chúa Jêsus cho chúng ta bằng 7 câu nói "TA LÀ". Những câu nói bày tỏ Đấng Christ ra cho những người nào đọc sách Tin lành nầy để học biết về bổn tánh và thân vị của Đấng Christ. Chúng ta sẽ xem xét 7 câu nói "TA LÀ" trong sách Tin lành Giăng trong loạt bài giảng để chúng ta có thể nhận biết Đấng Christ và sự Ngài kêu gọi chúng ta là thể nào.
Một trong những việc đầu tiên chúng ta cần phải biết về Đấng Christ, ấy chính NGÀI là sự sống của chúng ta! Chúng ta sẽ không thành công nếu chúng ta từng nghĩ chính chúng ta thực hiện công tác sống thuộc linh của chúng ta. Trong khi chúng ta có một số trách nhiệm về sự tấn tới thuộc linh của mình, thực ra công tác của Đấng Christ đang cung ứng sự lớn lên cho đời sống chúng ta.
MINH HOẠ. Các đây mấy năm, Hiệp Hội Báo Chí đã phát động một cuộc nghiên cứu được thực hiện bởi một trường canh nông ở Iowa. Cuộc nghiên cứu cho biết rằng năng suất 100 giạ bắp ra từ một mẫu đất, thêm vào đấy là nhiều giờ lao động của nhà nông, đòi hỏi 4.000.000 cân nước, 6.800 cân oxygen, 5.200 cân carbon, 160 cân nitrogen, 125 cân potassium, 75 cân diêm, và các yếu tố khác rất nhiều không thể liệt kê hết. Thêm vào với các thứ nầy, các thứ mà con người không thể làm ra được, mưa và ánh nắng mặt trời đúng thời điểm là các thứ rất cần thiết. Nghiên cứu cho thấy rằng chỉ có 5% sản phẩm của nhà nông có thể gắn cho mọi nổ lực của con người. Nếu chúng ta thành thật, chúng ta phải công nhận rằng cũng thực như thế trong việc tạo ra trái thuộc linh.
Thật là cần thiết cho chúng ta khi phải hiểu rõ tầm quan trọng của việc "ở" trong Đấng Christ để ích lợi cho đời sống thuộc linh của chúng ta. Đưa ra lời tuyên xưng đức tin là chưa đủ nếu không có việc thực hành đức tin theo sau.
Kinh Thánh dạy chúng ta biết rằng đời sống thuộc linh của chúng ta sẽ loạng choạng nếu chúng ta không chủ động cứ ở trong Đấng Christ và sản sinh ra bông trái, thực vậy, chúng ta có thể chết về mặt thuộc linh nếu chúng ta sống một đời sống hoàn toàn không kết quả!
I. NHỮNG NHÁNH KHÔNG KẾT QUẢ (15.1-2a, 6)
A. Chặt! (15.1-2a)
1. Khi Giăng giới thiệu Đấng Christ cho chúng ta ở đây là một gốc "nho", ông nói rất rõ ràng rằng những nhánh nào KHÔNG kết quả sẽ bị chặt hết!
a. Đây là những nhánh đã được tháp vào gốc nho.
b. Rõ ràng ở đây Giăng đang dạy rằng những nhánh nào được tháp vào sống động mà KHÔNG kết quả sẽ bị dứt bỏ và quăng đi.
2. Không có gì thê thảm hơn là tiếp nhận Đấng Christ làm Chúa của mình nhưng rồi cứ tiếp tục sống giống như trước đó và KHÔNG kết được một trái thuộc linh nào hết!
a. Như thế thì không phải là "được cứu một lần, luôn luôn được cứu"….
b. Mà đó là "từng được cứu, VẪN CÒN được cứu"
3. Quí vị không thể chặt nhánh nào chưa được tháp vào!
4. Đúng là thảm hoạ trầm trọng khi một tín đồ hay một Hội thánh tẻ tách ra khỏi bất kỳ tình trạng kết quả nào rồi sau cùng thấy mình bị hư mất.
MINH HOẠ. Khi tôi sống ở Atlanta, cách đây mấy năm, tôi để ý thấy trong quyển điện thoại niên giám, khi liệt kê ra các nhà hàng, có mục ghi một nơi gọi là Hội thánh God Grill. Cái tên đặc biệt ấy làm phát sinh tánh tò mò nơi tôi và tôi liền quay số.
Một người nhấc máy trả lời với một sự hân hoan: "Xin chào! Hội thánh God Grill đây!"
Tôi hỏi thăm sao nhà hàng lại để một cái tên hơi bất thường như thế, và người ấy nói cho tôi biết: "Ồ, chúng tôi có một sứ mệnh nho nhỏ ở đây, và chúng tôi khởi sự bán các bữa ăn tối với thịt gà sau giờ nhóm ở nhà thờ vào ngày Chúa nhựt để giúp trả các hoá đơn. Dân sự của chúng tôi ưa thích thịt gà lắm, và chúng tôi có một việc làm rất ngon lành như thế đấy, thế rồi chúng tôi tách ra khỏi buổi thờ phượng của Hội thánh. Sau một thời gian ngắn, chúng tôi không còn đi nhà thờ nữa và cứ giữ việc bán các bữa ăn tối thịt gà thôi. Chúng tôi giữ cái tên mà chúng tôi đã khởi sự với, và đó là “Hội thánh God Grill".
Sự cố nầy không phải là không giống với nhiều nhà thờ, các hệ phái, và những cá nhân nào đã đi lố, đã tẻ tách ra khỏi mục đích nguyên thủy của họ -- From Making It Happen, by Charles Paul Conn, p. 95
5. Một sự mất mát trọn vẹn bất kỳ tình trạng kết quả nào nhất thiết phải bị cất bỏ đi.
a. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt thấy mình bị chặt bỏ do những sự lựa chọn nghịch lại với Đấng Christ là Đấng mà trước đó ông ta đã phục sự.
b. Vua Sau-lơ trước đó trong đời sống mình đã được Đức Chúa Trời xức dầu cho, ông ta thấy mình bị chặt bỏ ra khỏi Đức Chúa Trời và Thần Linh của Ngài do tình trạng không kết quả.
c. Đê-ma trong I Timôthê 4.10 nói rằng ông ta đã lìa bỏ sứ đồ Phao-lô vì đã ham mến thế gian nầy và rõ ràng ông ta đã xây trở lại với thế gian thay vì kết trái Thánh Linh.
B. Bị xét đoán (15.6)
1. Khi một nhánh từng được tháp vào thôi không còn chứng tỏ bất kỳ sự sống nào trong nó nữa, nó phải bị chặt bỏ để giữ bịnh tật không lan rộng vào các phần khác khoẻ mạnh của cây.
a. Vì thế những nhánh chết đã bị xét đoán, bị chặt bỏ, rồi bị quăng xa đi.
b. Chúng chỉ tốt đẹp trong một thời gian ngắn rồi bị đốt bằng lửa hừng.
2. Chối bỏ Đấng Christ sẽ bị xét đoán bằng lửa đời đời!
MINH HOẠ. "Tấm lòng, lý tưởng, lịch sử, và việc làm của Đấng Christ đang thuyết phục chúng ta rằng không có Ngài chúng ta sẽ không đạt được mục tiêu của mình, rằng không có Ngài chúng ta bị xét đoán, và chỉ có Đấng Christ mới giải cứu chúng ta mà thôi".
Đây là những tư tưởng sâu sắc đối với một người mới 17 tuổi, tỏ ra sự khôn ngoan thuộc linh mà ít có người đạt tới. Anh ta đã chịu phép báptêm ở Hội thánh Luther vào năm 1824, lúc được 6 tuổi, và được củng cố vào năm 16 tuổi. Bây giờ, tốt nghiệp đại học, người ta đòi anh nầy phải viết một tiểu luận với đề tài tôn giáo. Anh ta chọn khảo sát đề tài: "Sự hiệp một các tín hữu trong Đấng Christ, theo sách Tin Lành Giăng (Giăng 15.1-14), một sự giải thích cốt lõi cơ bản của sách ấy, sự cấp thiết tuyệt đối cùng mọi hệ quả của nó".
Anh ta tiếp tục, bông trái sự hiệp một của chúng ta với Đấng Christ là sự chúng ta bằng lòng "hy sinh bản thân mình cho người đồng loại của chúng ta". Và sự "vui vẻ mà nhóm Epicureans trong luận triết của họ đã thấy là hư không... là một sự vui vẻ chỉ người nào có tấm lòng vô tội [mới biết rõ] kết hiệp với Đấng Christ, và nhờ Đấng Christ mà kết hiệp với Đức Chúa Trời".
Cho nên Karl Heinrich Marx, vào năm 1844, 9 năm sau, đã viết ông đã từ bỏ bất cứ một sự tin kính Cơ đốc nào mà ông từng cảm thấy. Thực vậy, chủ nghĩa vô thần của ông và các ý tưởng thiên về triết lý phấn đấu của con người để đạt được một sự tự do vô giai cấp không có tác dụng tôn giáo [dù là không tưởng], đã lập ông làm một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ thứ 20 -- From Moody Monthly, June 1988
3. Sự thực ở đây cho thấy rằng sống đời sống không có Đấng Christ bị định phải chịu xét đoán trong lửa đời đời, một sự thực mà hầu hết mọi người đều phải nghĩ tới!
4. Dù vậy, còn có một ý kiến khác…..
II. NHỮNG NHÁNH KẾT QUẢ (15.1, 2b, 3-5, 7-11)
A. Làm cho sạch (15.1,2b)
1. Một nhánh dù trơ trọi mà kết quả sẽ được phép giữ lại, nhưng các nhánh nầy sẽ thấy rằng có một quá trình "tỉa sửa" (hay "làm cho sạch" như từ ngữ Hy lạp mô tả – hãy chú ý câu kế (3) nhắc tới "trong sạch") đang diễn ra.
a. Trong khi lúc ban đầu sự tỉa sửa nầy quyết liệt lắm, người làm vườn biết rõ rằng sản sinh ra trái tốt là điều rất cần thiết.
b. Chặt bỏ nhánh sẽ làm yếu cây đi, nhưng nó giúp cho cây hướng năng lực vào một đích chính nào đó, đến với mục tiêu quan trọng phải kết trái thay vì có quá nhiều lá.
2. Quá trình tỉa sửa có thể làm cho cây thêm phần giá trị và kết quả.
3. Thất bại không tỉa sửa một cây kết quả dẫn tới thu hoạch thấp và trái có chất lượng nghèo nàn.
4. Đức Chúa Trời không thoả lòng khi chúng ta "chỉ xoay xở" trong chỗ chúng ta đồng đi với Ngài, Ngài biết rõ chúng ta cần thường xuyên được chú ý và tỉa sửa đời sống để chúng ta được xứng đáng với cõi đời đời.
MINH HOẠ. Cách ăn ở Cơ đốc giống như cởi chiếc xe đạp vậy; một là chúng ta chạy thẳng tới trước hay là bị té ngã -- Robert Tuttle, Leadership, Vol. 5, no. 3.
5. Đây là lý do tại sao sau khi chúng ta tiếp nhận Đấng Christ, dường như là chúng ta đối diện với một số thách thức to lớn và các hoàn cảnh bi đát … những điều nầy chỉ là quá trình tỉa sửa của Đức Chúa Trời vì cớ bông trái của chúng ta!
a. Tất nhiên, nếu chúng ta kết quả, quá trình tỉa sửa sẽ thu nhỏ lại.
b. Quá trình tỉa sửa khiến cho năng lực của cây dồn nhiều vào việc kết quả, quá trình tỉa sửa không cần thiết dồn vào đời sống không kết quả.
6. Quá trình tỉa sửa là lâu dài … cây nho có già cỗi bao nhiêu thì không phải là vấn đề, nó luôn luôn cần loại chú ý nầy để giữ chất lượng của trái luôn được tốt trải qua nhiều năm tuổi.
B. Không dứt (15.3-5)
1. Và bây giờ bí quyết cho sự kết quả đã được tỏ ra, tỉa sửa sẽ là vô nghĩa nếu nhánh không thường xuyên kết nối với gốc nho!
a. Ý tưởng "cứ ở" rất là quan trọng ở chỗ nầy, nó cần cho sự chúng ta hiểu biết về sự được cứu.
b. Cũng có trách nhiệm nơi phần của chúng ta trong sự cứu rỗi nữa, chúng ta cứ phải ở trong Ngài mới nhìn thấy sự kết quả của Thánh Linh Ngài trở thành một sự thực qua chúng ta.
2. Chúng ta không thể chỉ đến với Đấng Christ đâu đó trong quá khứ của mình và rồi trôi nổi trong cuộc sống như một Cơ đốc nhân không kết quả.
a. Tuyệt đối KHÔNG có kết quả nếu chúng ta không cứ ở trong Đấng Christ!
b. Hãy chú ý lời lẽ của Chúa Jêsus ở đây. "Ngoài ta các ngươi chẳng làm chi được"! Ngài muốn nói ở đây rằng chỉ qua việc cứ ở trong Ngài chúng ta mới có thể làm bất kỳ việc gì với giá trị thuộc linh đời đời.
3. Khi nhánh cứ tháp chặt vào gốc nho thì có "sự sống".
MINH HOẠ. Donald Grey Barnhouse kể lại một trường hợp đáng ngạc nhiên về sự kết quả.
Ở Hampton Court gần Luân đôn, có một cây nho, nó có khoảng 1.000 tuổi và có một cái rễ duy nhứt dầy chừng 2 feet. Một số nhánh dài chừng 200 feet. Do tỉa sửa công phu và khéo léo, cây nho sản sinh mỗi năm vài tấn nho. Mặc dù một số nhánh nhỏ hơn là 200 feet tính từ thân chính, chúng kết thật nhiều quả vì chúng hiệp với gốc và để cho sự sống của cây nho tuôn chảy qua chúng.
Ngài là gốc nho, và chúng ta là nhánh. Và khi chúng ta cần tỉa sửa, mục tiêu luôn luôn là kết thật nhiều trái.
4. Tầm quan trọng của việc sống "hàng ngày" cho Đấng Christ là mục tiêu chính ở đây. Phải có một sự kết hợp thường xuyên với Đấng Christ làm bằng chứng cho việc đồng đi hàng ngày của chúng ta hầu kết quả thực sự phải trở thành một thực tại.
a. Tình trạng kết quả là bất khả thi nếu nhánh nho không gắn bó với gốc nho.
b. Sự gắn bó có chừng có đổi như thế khi tháp vào lúc tháo ra thu nhỏ lại cơ hội để cho trái phát triển. Thà là gắn bó thường xuyên, luôn luôn có quá trình chữa lành cần phải nếm trải sau khi ghép.
5. Trái tốt nhất trổ ra do tỉa sửa thường xuyên những nhánh đã được tháp vào.
a. Thời gian cần phải có mới thấy rõ thực trạng kết quả của việc tỉa sửa và gắn bó thường xuyên.
b. Chúng ta đừng xem nhẹ công tác của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta.
C. Có điều kiện (15.7-11)
1. Hãy chú ý sự gắn bó của Chúa Jêsus với những câu trả lời cho sự cầu nguyện và cứ ở trong Ngài, chúng cùng đi với nhau tay trong tay.
a. Nhiều Cơ đốc nhân gần như không kết quả không thể hình dung nổi lý do tại sao những lời cầu nguyện của họ không được nhậm, nhưng dường như có một sự gắn bó ở đây để được kết quả và những lời cầu nguyện được nhậm.
b. Một lần nữa, phần nhấn mạnh đặt vào những ai "cứ ở" trong Đấng Christ, họ là những người sống trong sự vâng phục, nhờ đó mọi lời cầu xin của họ đều được nhậm và niềm vui của họ được đầy dẫy.
2. Có ở đây một sự gắn bó trực tiếp giữa vâng phục và vui mừng, giữa vâng phục và những lời cầu nguyện được nhậm, tại sao chứ?
a. Vì vâng phục có nghĩa là đang làm mọi việc theo đường lối của Đức Chúa Trời, những lời cầu nguyện của chúng ta nhắm vào những việc phải lẽ chớ không nhắm vào việc sai lầm, vì vậy chúng mới được nhậm.
b. Vì sự vâng phục đem lại một sự thoả lòng sâu sắc, chúng ta đang làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, và khi chúng ta cứ Ở TRONG NGÀI, niềm vui của Ngài chan chứa trong chúng ta tạo ra một sự vui vẻ sâu sắc, vĩnh cửu!
3. Khi chúng ta vâng phục Đấng Christ cơ cấu đời sống của chúng ta tỏ ra khác biệt với thế gian, họ có thể nhìn thấy nơi chúng ta sự khác biệt vì chúng ta đang rút tỉa đời sống chúng ta từ Đấng Christ chớ không từ thế gian hay từ chính chúng ta.
MINH HOẠ. Kết quả là điều rất quan trọng đối với phần kỷ luật Cơ đốc. Một đời sống được sống tốt đẹp là một bằng chứng hiệu quả còn hơn cả lời nói tốt nữa.
Benjamin Franklin đã học biết rằng vôi rải trong đồng ruộng sẽ làm cho nhiều thứ mọc lên. Ông nói cho mấy người láng giềng biết, nhưng họ không tin ông và họ bàn bạc với ông tìm cách minh chứng rằng vôi chẳng có ích chi cho cỏ hay cho lúa.
Sau một thời gian ngắn, ông để cho vấn đề lắng xuống và chẳng thèm nói chi tới nữa. Nhưng ông đi vào đồng ruộng vào lúc sáng sớm rồi gieo vài hạt lúa. Bị con đường chắn ngang, người ta có thể đi lại trên đó, ông vẽ nghuệch ngoạc mấy chữ bằng ngón tay mình rồi đặt mấy hạt lúa lên đó, xong ông cứ tiếp tục gieo giống trong đồng ruộng.
Sau một hay hai tuần lễ hột giống mọc lên. Láng giềng của ông, khi họ đi đường ấy, rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy, màu xanh sáng chói hơn tất cả các cây khác trong ruộng, nghuệch ngoạc hàng chữ: "Ruộng nầy đã được bón vôi". Benjamin Franklin không cần bàn bạc với láng giềng của mình chi về lợi ích của vôi bón trong ruộng. Rồi khi mùa màng qua đi và lúa mọc lên, hàng chữ nầy vươn cao lên trên hết thảy các cây lúa khác cho tới chừng chúng hiện rõ nét: "Ruộng nầy đã được bón vôi". "Bởi bông trái của các ngươi, người ta sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta".
4. Trái không bao giờ phát triển nếu không có một nguồn sự sống liên tục .. nguồn sự sống nầy chỉ có thể đến từ Đấng Christ mà thôi.
a. Sự vâng phục của chúng ta là tác nhân hấp thụ sự sống của Đấng Christ cho chúng ta.
b. Phần nhiều tình trạng kết quả của chúng ta đều nương vào không những nguồn sự sống là Đấng Christ, mà con nương vào sự vâng phục của chúng ta được khích lệ qua sự tỉa sửa!
5. Sự đồng đi của quí vị với Đức Chúa Trời kết quả như thế nào?
a. Có phải quí vị vẫn được tháp vào hơn là cứ nhận mình là Cơ đốc nhân, có phải không.
b. Quí vị có chứng kiến quá trình tỉa sửa của Đức Chúa Trời trong đời sống của mình không?
c. Phần làm chứng của quí vị là hiện tại, hay chỉ là câu chuyện trong quá khứ?
6. Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải kết quả, NGÀI LÀ GỐC NHO THẬT!
PHẦN KẾT LUẬN. Chúa Jêsus không hề dạy "từng được sạch, luôn luôn được sạch!" Sự kêu gọi của Chúa Jêsus là hãy cứ ở trong Ngài. Không một nhánh nào không kết quả khi cứ ở trong gốc nho. Mục tiêu của Đức Chúa Trời dành cho các môn đồ Ngài ấy là họ phải kết quả. Đức Chúa Trời sẽ thực thi điều nầy trong lâu dài! Có phải đời sống của quí vị đang kết quả cho Ngài không?
***

Sống hôm nay theo ánh sáng của ngày mai



CÓ HY VỌNG TRÊN ĐƯỜNG CHÂN TRỜI
Sống hôm nay theo ánh sáng của ngày mai
II Timôthê 3.10 - 4.8
1. Cách đây mấy năm, một thị trấn nhỏ trong bang Maine phải được tái thiết lại vì một đập thủy điện đã được xây dựng ngang qua ngôi làng của họ. Bối cảnh thị trấn của họ sẽ bị ngập lụt và bị nhận chìm. Cơ quan nhà nước đã dành ưu đãi cho dân chúng về giá cả bồi thường cho tài sản của họ. Một việc lạ đã xảy ra. Một thời gian ngắn sau khi tiền bồi thường được loan báo, thị trấn nhỏ nhắn một thời xinh đẹp kia người ta định giữ nguyên như vậy đã rơi vào cảnh hư nát. Lớp sơn tróc ra, những tấm ván lỏng lẻo ra, cỏ dại mọc lên trong khu đậu xe. Một người địa phương tóm tắt cảm xúc của cộng đồng với một phóng viên báo chí: “Tại sao phải giữ nguyên thị trấn trong khi mai đây nó sẽ chẳng còn có nữa?”
2. Trải qua chín tuần lễ chúng ta đã xem xét các biến cố chính của lời tiên tri trong Kinh thánh theo dòng thời gian. Chúng ta đã học biết về Sự Cất Lên của Hội thánh, Ngai Phán Xét của Đấng Christ, Kỳ Đại Nạn, Sự Dấy Lên của Antichrist, Sự Đến Lần Thứ Hai của Đấng Christ, Vương Quốc trong thời kỳ Thiên Hi Niên, Ngai Trắng Lớn Phán Xét và tương lai đời đời, Kỹ Nguyên Thiên Đàng.
3. Chúng ta sẽ làm gì với sự hiểu biết nầy? Francis Shaeffer đã hỏi: “Rồi chúng ta sẽ sống ra sao?” Chuck Colsen trong quyển sách mới của ông đã cập nhật câu hỏi ấy với đề tựa Bây giờ chúng ta sẽ sống ra sao? Có một việc là chắc chắn. Chúng ta không cần phải để cho lớp sơn tróc ra và cỏ dại mọc lên trong đời sống của chúng ta. Không, chúng ta cần phải sống hôm nay theo ánh sáng của ngày mai.
4. Loạt bài nầy đã khởi sự với một sứ điệp có đề tựa Thế Giới Nầy Sẽ Đi Về Đâu? Trong bài giảng khởi đầu ấy, phân đoạn Kinh thánh gốc của chúng ta là II Timôthê 3.1-9. Chúng ta đã học biết “những thời kỳ nguy hiểm” hay những thời kỳ tàn bạo, độc ác giữa những dấu hiệu khác sẽ đánh dấu những “ngày sau rốt”. Chúng ta đã khởi sự loạt bài ở 3.1-9 và hôm nay ở sứ điệp cuối cùng, chúng ta sẽ kết thúc ở 3.10 - 4.8. Tôi muốn cung ứng cho quí vị bốn chìa khoá cho cuộc sống hôm nay theo ánh sáng của ngày mai.
I. Tiếp tục trung tín (3.10-12).
A. Timôthê noi theo gương của Phaolô.
1. Sau khi viết về những dấu hiệu trong những “ngày sau rốt” và kẻ tội ác sẽ hiện đến, Phaolô khen ngợi Timôthê.
2. Ông khích lệ Timôthê vì vị Mục sư trẻ đã có “sự dạy dỗ, tánh hạnh, ý muốn, đức tin, nhịn nhục, yêu thương, bền đỗ”.
3. Vị Sứ Đồ đang ở gần kề phần cuối của cuộc đời mình. Ông biết ngày giờ của mình không còn bao nhiêu nữa. Ông đang đợi sự hành quyết tại Rôma. Timôthê là học trò của ông. Trong mấy năm qua, Timôthê đã cẩn thận “noi theo” Phaolô, nhưng thời gian sắp tới đây, Timôthê sẽ phải đứng trên chân của mình.
4. Sự việc cho thấy, dường như Phaolô muốn nói: “Hỡi Timôthê, sắp tới đây khi ta đã đi rồi, ta muốn con phản ảnh lại những gì ta đã dạy, ta đã sống như thế nào và ta đã dâng mình vì mục đích nào. Ta muốn con ghi nhớ ta đã tin Đức Chúa Trời, kính mến Đức Chúa Trời và đã chịu khổ vì Đức Chúa Trời như thế nào! Ta đã nêu một gương cho con và ta muốn con sống y như ta đã sống”.
5. Phaolô đã nói với người thành Côrinhtô: “Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy” (I Côrinhtô 11.1).
6. Khi chúng ta tiếp cận với những “ngày sau rốt”, những thời điểm đã được nói trước trong lời tiên tri, người nào trung tín với Đức Chúa Trời sẽ đứng vững ở ngoài đám đông kia. Phaolô đã cầu thay cho các tín hữu ở thành Philíp để họ sẽ “ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian” (Philíp 2.15).
B. Có nhiều tấm gương trong Kinh thánh.
1. Hêbơrơ 11 được gọi là “Đại Sảnh Đức Tin”. Chương nầy đưa ra hai phần: phần định nghĩa và vô số tấm gương những đời sống trung tín.
2. Ở đây chúng ta thấy những tấm gương như A-bên, Hê-nóc, Nôê, Ápraham, Sara, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép, Môise, Giô-suê, Raháp, v.v…Tác giả đã nói phần bắt đầu ở câu 32: “Ta còn nói chi nữa? Vì nếu ta muốn nói… thì không đủ thì giờ”. Ông tiếp tục nhắc tới “Ghê-đê-ôn”, “Ba-rác”, “Sam-sôn”, “Giép-thê”, “Đa-vít”, “Sa-mu-ên” và “các đấng tiên tri”. Ông viết về những anh hùng đức tin nầy, họ “tắt ngọn lửa hừng, lánh khỏi lưỡi gươm, thắng bịnh tật, tỏ sự bạo dạn nơi chiến tranh, khiến đạo binh nước thù chạy trốn”. Ông nói họ đã đối mặt với: “nhạo cười, roi vọt”, và “cũng chịu xiềng xích lao tù nữa”. Họ cũng bị “ném đá”, “cưa xẻ”, “bị giết bằng gươm”, “bị thiếu thốn mọi đường”, “bị hà hiếp”, và bị “ngược đãi”. Tác giả nói tới những nhà vô địch trong đức tin nầy rằng “thế gian không xứng đáng cho họ ở”.
3. Michael Martin Murphy có một bài hát với đề tựa là: “Tôi đến từ một dãy dài yêu thương”. Khi tôi đọc chương nầy, tôi biết rằng tôi đến từ một dãy dài đức tin!
Quí vị có nghe nói về Susan Butcher chưa? Cô đã phấn đấu và đã thắng một cuộc đua 500 dặm trược tuyết bằng xe do chó kéo ở Minnesota trong cái chết chóc của mùa đông. Thực thế, cô đã thắng cuộc đua ấy những hai lần! Hãy tưởng tượng xem, hết ngày nầy qua ngày khác kiệt lực đi trong những điều kiện như bão tuyết, cô cùng đội chó Eskimo đã đua trong mấy trăm dặm. Hãy tưởng tượng sự đơn điệu buồn tẻ, sự căng thẳng, lạnh giá và kiệt sức xem. Làm sao cô có thể chịu đựng được như thế? Trong một cuộc phỏng vấn, Butcher đã nói: “Tôi chỉ nhớ rằng có nhiều người khác đã chịu đựng cảnh ấy trước tôi, và tôi cũng có thể chịu đựng được. Vì họ đã chịu được, thì tôi cũng có thể chịu nổi”.
C. Lời khuyên thực tế. Hãy tìm một gương tốt.
1. Người ta học dương cầm, dạy dỗ một đứa trẻ nhỏ hay trải qua những kỳ thi cuối của mình như thế nào? Chúng ta nhớ lại rằng nhiều người khác đã trải qua. Nếu họ có thể qua được, chúng ta cũng có thể qua được nữa.
2. Nguyên tắc nầy được đưa ra trong lãnh vực đức tin. Timôthê đã noi theo Phaolô. Nhiều người khác đã noi theo ông. Sự việc giống như chuyển giao khúc gậy thuộc linh vậy. Chúng ta gọi đó là môn đồ hoá.
3. Tôi rất biết ơn vì có nhiều vị cố vấn thuộc linh trong đời sống tôi. Tôi nhớ vị giáo viên lớp trường Chúa nhựt khi học lớp 7, vị Mục sư đặc trách thanh niên, những thầy dạy Kinh thánh và vị Mục sư chủ toạ của tôi. Tôi có nhiều tấm gương trước tôi trong chính hội chúng của tôi.
4. Khi quí vị sống cho Đấng Christ trong những “ngày sau rốt” nầy, hãy chọn lấy một tấm gương, một vai trò mẫu mực rồi noi theo với hết sức của mình.
II. Tin cậy vào lẽ thật (3.13-17).
A. Sự CẦN THIẾT của Kinh thánh (câu 13).
1. Trong phạm vi của những “ngày sau rốt”, Phaolô nói rằng “những người hung ác, kẻ giả mạo thì càng chìm đắm luôn”. Chúng ta không phải nhìn quanh lâu mà không nhất trí với vị Sứ đồ ở điểm nầy. Từ những kẻ viết sách báo khiêu dâm cho đến những nhà truyền đạo như nghệ sĩ trên vô tuyến truyền hình, họ “làm lầm lạc kẻ khác mà cũng lầm lạc chính mình nữa”.
2. Kinh thánh là quyển sách tiêu khiển, là kim chỉ nam, và là sách đầu tay của chúng ta. Sách ấy dẫn dắt chúng ta qua những làn sóng bão táp thoả hiệp trong thời hiện đại đến nơi bình tịnh của lẽ thật đời đời.
Một tác giả vô danh đã nói theo cách nầy: “Quyển sách nầy là tâm ý của Đức Chúa Trời, tình trạng của con người, phương thức cứu rỗi, số phận của tội nhân, và phước hạnh của người tin Chúa. Lẽ đạo của Kinh thánh là thánh, giáo huấn của Kinh thánh rất chặt chẽ; lịch sử của Kinh thánh là thực, và mọi quyết định của Kinh thánh là bất biến. Hãy đọc Kinh thánh để được khôn ngoan, hãy tin theo Kinh thánh để được an ninh, làm theo Kinh thánh để được nên thánh. Kinh thánh chứa ánh sáng để dẫn dắt bạn, đồ ăn để nâng đỡ bạn, và sự yên ủi để cổ vũ bạn. Kinh thánh là tấm bản đồ của du khách, là cây trượng của lữ khách, là la bàn cho viên phi công, là thanh gươm của chiến sĩ, và là cá tánh của Cơ đốc nhân. Ở đây thiên đàng được phục hồi, thiên đàng mở cửa ra, và hai cánh cổng của địa ngục được bày ra. Đấng Christ là đề tài chính của Kinh thánh, Kinh thánh vẽ ra ơn phước của chúng ta, và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là cứu cánh của Kinh thánh. Kinh thánh phải đầy dẫy trong trí, tể trị tấm lòng, và dẫn dắt bước chân. Hãy đọc Kinh thánh cách chậm rãi, thường xuyên, với sự khẩn nguyện. Kinh thánh là cái mỏ của sự giàu có, một thiên đàng vinh hiển, và một dòng sông khoái lạc. Hãy làm theo mọi giáo huấn của Kinh thánh thì Kinh thánh sẽ dẫn dắt quí vị đến đồi Gôgôtha, đến ngôi mộ trống, đến một đời sống phục sinh trong Đấng Christ; phải, đến với sự vinh hiển, đến với cõi đời đời”.
B. NGHIÊN CỨU Kinh thánh (các câu 14-15).
1. Phaolô khích lệ Timôthê phải “đứng vững trong những sự con đã đem lòng tin chắc mà học và nhận lấy”. Kế đó, với lời lẽ dịu dàng, ông tô điểm một bức tranh bằng lời khi nói thêm: “vì biết con đã học những điều đó với ai, và từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh”.
2. Bà nội của Timôthê là Lô-ít và mẹ là Ơ-nít đã mềm mại, cẩn thận dạy dỗ Timôthê Lời của Đức Chúa Trời từ lúc còn thơ ấu.
3. Điều nầy nhắc cho tôi nhớ tới việc nhìn thấy bố tôi đọc Kinh thánh mỗi sáng. Điều nầy nhắc cho tôi nhớ thể nào mẹ tôi đọc cho tôi nghe và quyết chắc tôi phải có mặt trong nhà thờ.
4. Hỡi những người làm cha mẹ, làm ông bà, chúng ta cần phải mang lấy rồi chuyển giao ngọn đuốc cho thế hệ hầu đến. Có thể họ sẽ là thế hệ cuối cùng đấy!
5. Có thể quí vị không có một bậc phụ huynh dạy dỗ quí vị về Kinh thánh “từ khi còn thơ ấu”, nhưng quí vị đang có Lời của Đức Chúa Trời hôm nay, hãy nghiên cứu Kinh thánh đi!
6. Lời lẽ của Phaolô dặn Timôthê là: “Đừng lui đi. Đừng dừng lại. Hãy vững vàng với lẽ thật mà con đã học trên đầu gối của mẹ mình”. Chúng ta đang sống trong một thời đại thông tin. Chúng ta bị tấn công với tri thức mỗi ngày. Tuy nhiên, tôi càng học hỏi tôi càng tin quyết nơi lẽ thật của Kinh thánh càng hơn.
C. QUYỀN PHÉP của Kinh thánh (các câu 16-17).
1. Kinh thánh đã “được soi dẫn” hay được “Đức Chúa Trời hà hơi”.
2. Kinh thánh rất “có ích”. Tôi thấy ngồi trước TV sẽ chẳng có ích lợi bao nhiêu, nhưng từng giây phút tôi để ra với Kinh thánh là rất có ích lợi.
3. Kinh thánh sẽ khiến cho tôi được “trọn vẹn” hay trưởng thành.
Quí vị có nhớ câu chuyện nổi tiếng Mutiny on the Bounty [Nổi loạn trên đảo Bounty] không? Theo sau sự nổi loạn của họ chống lại viên Đại úy Bligh xâu xa, 9 người nổi lọan, cùng với những người đàn ông, đàn bà Tahiti cùng đi với họ, đã tìm được đường sang đảo Pitcairn, một chấm nhỏ trong biển Nam Thái Bình Dương có bề dài hai dặm và rộng một dặm. Mười năm sau, sau khi chiến đấu chỉ còn có một người sống sót, John Adams. 11 phụ nữ và 23 trẻ em hình thành phần còn lại của dân cư hòn đảo. Vào thời điểm nầy, Adams tìm được quyển Kinh thánh ở đáy chiếc rương cũ. Ông bắt đầu đọc, và quyền phép thiêng liêng của Lời Đức Chúa Trời chạm đến tấm lòng của kẻ giết người chai lì kia đang sống trên hòn đảo núi lửa thuộc vùng biển Thái Bình Dương và đã thay đổi đời sống ông cho đến đời đời. Sự bình an và tình yêu thương mà Adams đã tìm được trong Kinh thánh đã thế chỗ hoàn toàn đời sống cũ hay tranh cãi, và rượu chè. Ông bắt đầu dạy Kinh thánh cho các trẻ em cho tới chừng mỗi người trên hòn đảo đã kinh nghiệm được chính sự thay đổi đáng kinh ngạc mà ông đã tìm được. Ngày nay, với số cư dân chưa tới 100 người, gần như mỗi người trên hòn đảo Pitcairn đều là một Cơ đốc nhân.
III. Chia sẻ Cứu Chúa (4.1-4).
A. Mạng lịnh của Phaolô (câu 1). Trong câu nầy Phaolô giống như một vị Tướng lãnh đang đứng trước quân đội của mình vậy. Ông nói: “Ta răn bảo con”. Ông cũng nhắc cho chúng ta nhớ rằng chúng ta sẽ đứng trước mặt Chúa Jêsus, là Đấng sẽ “đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhân sự đến của Ngài”.
B. Sứ mệnh của chúng ta (câu 2).
1. Chúng ta cần phải “giảng đạo”. “Giảng” có nghĩa là “công bố”. Đây không phải là một câu chỉ dành cho quí Mục sư hay các giáo sư dạy Kinh thánh, mà là dành cho hết thảy những người tin Chúa.
2. Có phải quí vị biết mình có một chỗ trong chương trình có tính tiên tri của Đức Chúa Trời? Chỗ đó nằm ở đây. Khi ngày ấy hầu gần, quí vị và tôi cần phải trung tín chia sẻ sứ điệp nói tới Đấng Cứu Thế.
3. Chúng ta cần phải “sẵn sàng” làm chứng cho người khác biết về Chúa Jêsus bất luận “gặp thời hay không gặp thời”. Hãy làm chứng dù gặp hay không gặp thời. Khi quí vị cảm nhận hay quí vị không cảm nhận. Hãy làm chứng đạo vào mùa đông và vào mùa hè, mùa xuân và mùa thu. Hãy công bố Đấng Christ ra ở nơi sứ điệp được tán thưởng và ở nơi sứ điệp bị dèm chê. Hãy giảng đạo ở nơi hai cánh cửa rộng mở và ở nơi chúng bị đóng lại. Hãy chia sẻ tin lành với cả người già lẫn trẻ, kẻ giàu hay nghèo, ở nơi công cộng hay tại tư gia.
4. Tôi thích I Phierơ 3.15: “nhưng hãy tôn Đấng Christ, là Chúa, làm thánh trong lòng mình. Hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em, song phải hiền hòa và kính sợ”.
5. Chúng ta cần phải “đem lòng rất nhịn nhục”, “bẻ trách” và “nài khuyên”. Chúng ta cần phải trình bày cho rõ ràng, nhưng đừng nhồi nhét vào họng của người ta. Côlôse 4.6 chép lời nói của chúng ta cần phải “nêm thêm muối”.
6. Hãy nhớ lý thuyết cho phim Star Trek: “dạn dĩ đi đến nơi nào mà chưa có con người đến”. Hết thảy chúng ta đều có lời kêu gọi ấy. Quí vị đang có một lãnh vực ảnh hưởng rất đặc biệt.
C. Những ngày tối tăm (các câu 3-4).
1. Trong những “ngày sau rốt” nầy, những “thời kỳ nguy hiểm” nầy, có nhiều tiếng kêu gào phải chú ý. Nhiều người sẽ “không chịu nghe đạo lành”. Hệ thống thờ lạy hình tượng, Kỹ Nguyên Mới, chủ nghĩa thần bí, chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa thế tục, v.v…hết thảy đều xưng mình là thực. Trong thời kỳ tối tăm nầy, sự sáng chiếu rọi của Tin lành càng trở nên quan trọng hơn.
2. Cho phép tôi đưa ra đề nghị sau cùng. Trong “thời kỳ nguy hiểm” nầy trong những ngày sau rốt, giữ lấy sứ điệp đơn sơ kia rất là quan trọng.
Vào ngày 7 tháng 4 năm 1865, Tổng thống Abraham Lincoln đã viết một thông điệp đơn sơ gửi cho Tướng Grant. Thông điệp ấy ghi như sau: “Tướng Sheridan nói: ‘Nếu sự việc được hối thúc, tôi nghĩ Lee sẽ đầu hàng’. Hãy hối thúc việc ấy”. Một sứ điệp đơn sơ đã xoay chiều lòng lịch sử. Khi đến với Tin lành của Đấng Christ, hãy hối thúc việc ấy!
IV. Hoàn tất cuộc chạy (4.5-8).
Phải, nhiều người sẽ “bịt tai không nghe lẽ thật” nhưng chúng ta cần phải “có tiết độ trong mọi sự”, phải “chịu cực khổ” để “làm việc của người giảng Tin lành” và để “làm cho đầy đủ mọi phận sự về chức vụ con [của chúng ta]”. Họ có thể tranh luận với những tín điều của chúng ta, nhưng không thể tranh luận với các tấm gương của chúng ta được. Philíp 2.15 cho chúng ta biết phải trở nên “con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian”. Đây là ba tư tưởng về việc hoàn ấtt cuộc chạy.
A. Hãy đổ sự sống của quí vị ra, đừng cất giấu nó (câu 6).
B. Hãy giữ đức tin, đừng lui đi vào lúc sau cùng (câu 7).
C. Hãy giữ mắt nhìn về đích đến, chớ đừng nhìn vào cuộc đua (câu 8).
Trong chiến dịch tranh cử Tổng thống vào năm 1960, John F. Kennedy thường kết thúc bài diễn văn của mình với câu chuyện của Đại Tá Davenport, phát ngôn viên của Dinh Đại Sứ ở Connecticut. Một ngày kia vào năm 1789, bầu trời Hartford tối tăm rất gỡ lạ, một số đại sứ, sợ rằng tận thế đến nơi. Chấm dứt tiếng kêu la đòi ngưng họp tức thì, Davenport đứng bật dậy rồi nói: “Ngày Phán Xét một là đang đến gần hoặc chưa. Nếu ngày ấy chưa đến, chẳng có lý do gì phải ngưng họp. Nếu ngày ấy đến, tôi chọn được người ta thấy mình đang làm bổn phận. Vì lẽ đó, tôi muốn những ngọn đèn được đem ra”. Thay vì e sợ bóng tối tăm, chúng ta cần phải được thắp sáng khi chúng ta canh chừng và trông đợi. Chúng ta không biết khi nào chương cuối của sự sống trên đất sẽ trở nên rõ ràng, nhưng khi chương ấy mở ra, nguyện ai nấy đều thấy chúng ta đang thực thi bổn phận của mình.
***

Tương lai đời đời



CÓ HY VỌNG Ở ĐƯỜNG CHÂN TRỜI
Tương lai đời đời
Khải huyền 21
1. Có thể quí vị đã nghe thuật câu chuyện về nữ thương gia từ thành phố Nữu ước đã bị xe bus đụng chết. Bà nầy gặp Phierơ ở Cửa Thiên Đàng. Ông nói cho bà nầy biết lâu nay chưa có ban chấp hành phụ nữ nào được lập ra, vì vậy họ không biết phải làm gì với bà nầy. Chương trình đặt ra cho bà ta là phải ở một ngày trong địa ngục, một ngày ở thiên đàng và rồi mới quyết định. Phierơ đưa bà ta vào thang máy rồi cho chạy xuống. Khi hai cánh cửa mở ra, bà ta bước ra một sân golf xinh đẹp. Bạn bè của bà ta tiếp đón bà ta bằng một bữa tiệc cocktail. Sau đó họ ăn tối bằng thịt bò và tôm hùm. Đến cuối ngày, bà ta vẫy tay chào tạm biệt rồi quay trở về thiên đàng. Bà ta qua ngày kế thơ thẩn quanh một đám mây với chiếc đàn lia. Khi ấy Phierơ đến gặp bà ta rồi nói: "Ok, đây là lúc phải lựa chọn. Bà muốn qua cõi đời đời ở đâu?" Bà ta cảm ơn ông trong thời gian được ở thiên đàng, nhưng nói rằng địa ngục chính là lối sống của bà ta. Ông đưa bà ta trở lại chiếc thang máy rồi bà ta cho thang chạy xuống. Tuy nhiên, khi hai cánh cửa mở ra lần nầy không phải là sân golf nữa, mà là một vùng đất hoang vu, trơ trụi. Bạn bè của bà ta thì hốc hác, ăn mặc rách rưới. "Có chuyện gì vậy? Cách đây hai ngày có một sân golf và tiệc tùng mà". Một con quỉ đáp: "Cách đây hai ngày chúng tôi đang tuyển mộ bà đấy. Hôm nay bà là thuộc viên của chúng tôi”.
2. Kẻ tội ác hiện đang tuyển mộ người cho một cõi đời đời trong "hồ lửa" đó. Nhà truyền thông đầy thế lực Ted Turner đã nói: "Tôi thích đi địa ngục hơn. Thiên đàng nhạt nhẻo lắm". Mark Twain từng phát biểu: "Bạn có thể vào thiên đàng, tôi muốn vào địa ngục hơn".
3. Đối với nhiều người, đời sống của họ có thể được tóm lại bằng một câu nói quảng cáo cũ về bia: "Chẳng có loại nào tốt hơn loại nầy". Những gì họ có trên đời nầy là tốt theo cách mà họ nhận được. Tất cả chỉ là một nấm đất. Đối với những ai tin theo Chúa Jêsus, họ sẽ nhận được khá hơn, nhiều hơn.
4. Chúa Jêsus phán: "Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó" (Giăng 14.2b-3).
5. Người ta rất tò mò về thiên đàng. Mùa hè nầy cũng chính là thời điểm mà John F. Kennedy Jr. gục chết trong một tai nạn rớt máy bay, phóng viên em họ của anh ta Maria Shiriver đã cho in một quyển sách cho thiếu nhi có đề tựa “Thiên đàng là gì?” Đây là quyển sách thiếu nhi đầu tiên nằm trong danh sách bán chạy nhất kể từ quyển “Dr. Seuss” trong thập niên 1960.
6. Trong phần nghiên cứu lời tiên tri của chúng ta trong Kinh thánh, chúng ta đã xem xét một vài yếu tố chính. Sự Cất Lên của Hội thánh, Kỳ Đại nạn, Sự Dấy Lên Của Antichrist, Sự Đến Lần Thứ Hai Của Đấng Christ, Vương quốc trong thời kỳ Thiên Hi Niên, Ngai Trắng Lớn Phán Xét và Sự Hủy Diệt Trời và Đất. Hôm nay, chúng ta sẽ đào sâu phần nghiên cứu nầy bằng cách xem xét tương lai đời đời, Kỹ Nguyên Thiên Đàng.
7. Cõi đời đời của chúng ta sẽ như thế nào? Thiên đàng sẽ ra sao? Từ Khải huyền 21, tôi sẽ cung ứng cho quí vị bốn lẽ thật về thiên đàng.
I. Quan hệ mật thiết với Đấng Tạo Hoá của chúng ta được phục hồi (các câu 1-3).
A. Giăng nhìn thấy Trời Mới Đất Mới (câu 1).
1. Giăng nói: "Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới…". Xuyên suốt sách Khải huyền, chúng ta thấy cụm từ nầy được lặp đi lặp lại: "Tôi thấy". Đức Chúa Trời đã cho phép Giăng nhìn thấy sâu vào cõi tương lai vào cõi đời đời rồi ghi lại những gì ông đã nhìn thấy hầu cho chúng ta cũng được biết nữa.
2. Tôi không chắc lắm về những truyện tích nói Thánh Phierơ đang đứng ở cổng trời. Tôi không chắc lắm về những tường trình các kinh nghiệm lúc lâm chung và lơ lửng hướng về ngọn đèn trắng. Tôi có thể tin tưởng phần khải thị của Đức Chúa Trời ở đây trong Kinh thánh.
3. Từ ngữ thiên đàng đã được sử dụng khoảng 532 lần trong Kinh thánh. Từ ngữ nầy về mặt cơ bản có ý nói "một nơi rất cao" hay "những nơi cao". Khi một tín đố qua đời, người ấy đi đến "một nơi cao", người được nâng lên. Trong Cựu ước, chúng ta đọc về Hê-nóc. Sáng thế ký 5.24 chép: "Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi". Ông đã được nâng lên.
4. Giăng nói khi chúng ta học hỏi tuần vừa qua "đất thứ nhứt đã qua đi". Ông nói đã nhìn thấy "không còn có biển nữa". Đối với quí vị, những người mê lướt sóng cùng những thợ lặn có bình dưỡng khí, hãy tiếp thu một sở thích mới!
B. Giăng đã nhìn thấy thành Jerusalem Mới (câu 2).
1. Trên "đất mới" nầy, sẽ có "thành thánh, là Jerusalem Mới". Hiển nhiên là Giăng đã trông thấy thành ấy "từ trên trời mà xuống" hay giáng xuống từ trời. Thành nầy đã được "sửa soạn sẵn". Chúa Jêsus phán trong Giăng 14.2: "Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ".
2. Hãy chú ý, thành nầy đã được "sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình". Có nhiều hình bóng nói tới dân sự của Đức Chúa Trời trong Kinh thánh. Chúng ta được gọi là đồng cỏ, nhà, đền thờ, và hội chúng hay Hội thánh của Ngài.
3. Một trong những hình bóng quen thuộc nhất, ấy là cô dâu. Tôi tin khi câu nầy nói về "thành" là cô dâu, nó đề cập tới nhiều công dân, chớ không phải thành phố. Tất cả những kẻ được chuộc trong mọi thời đại đều sẽ hiện diện để tôn vinh Chúa.
C. Giăng nhìn thấy Đức Chúa Trời với Con Người (câu 3).
1. Giăng nghe một "tiếng lớn" giải thích ý nghĩa của sự việc ấy. Tiếng ấy nói: "Đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người". Hãy gạch dưới hai mệnh đề trong câu nầy. Thứ nhứt: "Ngài sẽ ở với chúng" và thứ hai: "chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng". Đức Chúa Trời sẽ ngự trị. Chúng ta sẽ có một mối tương giao mật thíêt với Ngài.
2. Đức Chúa Trời bảo dân sự Ngài phải dựng một "đền tạm" một lều tạm trong đó sự hiện diện của Ngài sẽ ngự trị. Đức Chúa Trời ở với họ, nhưng chẳng có một quan hệ mật thiết nào với Ngài. Sự hiện diện của Ngài ở trong Nơi Chí Thánh, chỉ có Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm mới được vào đó và ông chỉ có thể vào đó một ngày trong năm.
3. Sau đó, khi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đầy dẫy đền thờ của Vua Solomon, một lần nữa sự hiện diện của Đức Chúa Trời đã ngự ở đó, nhưng dân sự chẳng có một quan hệ mật thiết nào với Ngài. Họ vẫn còn bị biệt riêng ra.
4. Tuy nhiên, khi Chúa Jêsus đến với đất, Kinh thánh nói về Ngài trong Giăng 1.14: "Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở [sát nghĩa: ‘đền tạm’] giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha".
5. Vào dịp Lễ Ngũ Tuần, Đức Thánh Linh ngự đến làm phép báptêm rồi ngự vào lòng các tín đồ. Ngài đã đến với "đền tạm" ở trong chúng ta. Chúng ta không thể với đến Đức Chúa Trời, nhưng Ngài ngự xuống cùng chúng ta.
6. Hết thảy chúng ta đều có một ước muốn được quan hệ mật thiết với Đức Chúa Trời. Môise đã nhìn thấy những công việc lớn lạ của Đức Chúa Trời khi Ngài giải cứu dân Israel ra khỏi vòng nô lệ ở Ai cập, dầu vậy ông vẫn kêu la: "Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài!" (Xuất Êdíptô ký 33.18). Philíp đã đồng đi và trò chuyện với Chúa Jêsus, nhưng ông ao ước còn hơn thế nữa. Ông nói: "Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ rồi" (Giăng 14.8).
Bất cứ đâu tôi đi đến, tôi đem theo hình ảnh của gia đình tôi. Những tấm ảnh nầy rất tuyệt vời, nhưng chúng vẫn chưa phải là đủ đâu. Thư điện tử cũng rất quan trọng, nhưng vẫn chưa phải là đủ. Một cú điện thoại quả là tốt rồi, nhưng như thế vẫn chưa đủ! Mọi sự nầy khiến cho tôi muốn được ở cùng với vợ con tôi hơn! Sự gặp gỡ nêu lên sự mất mát mối tương giao mật thiết.
7. Vua David vốn hiểu rõ điều nầy. Ông là "người vừa lòng Đức Chúa Trời" nhưng ông mong muốn một mối tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời càng hơn. Ông đã nói trong Thi thiên 17.15: "Còn tôi, nhờ sự công bình, tôi sẽ được thấy mặt Chúa; Khi tôi tỉnh thức, tôi sẽ thỏa nguyện nhìn xem hình dạng của Chúa".
8. Trong câu 3 của phân đoạn Kinh thánh gốc, chúng ta đọc: "đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở [sát nghĩa "đền tạm"] với chúng". Chúng ta sẽ có mối tương giao mật thiết với Đấng Tạo Hoá của mình. Những khao khát sâu sắc nhất ở trong lòng chúng ta sẽ được phu phỉ!
9. Đôi khi người ta đưa ra những thắc mắc dại dột về thiên đàng. Liệu con chó kiểng của tôi có mặt ở đó không? Ở đó có sân golf, bóng đá, dòng suối đầy cá hồi … ok hỡi quí bà, những siêu thị mua sắm không? Tôi không biết và đấy chẳng là vấn đề đâu. Tại sao? Vì trọng tâm của thiên đàng sẽ là sự hiện diện mật thiết của Đức Chúa Trời.
II. Thống khổ của loài thọ tạo được cất đi (các câu 4-5).
Chúng ta có thể hình dung thiên đàng sẽ như thế nào! Chúng ta có thể hiểu được điều chi sẽ diễn ra ở đó, vì vậy Đức Chúa Trời bắt đầu bằng cách nói cho chúng ta biết điều chi sẽ không có ở đó … tất cả đau khổ của đời nầy.
A. Sẽ không còn có nước mắt nữa (câu 4a).
1. "Tiếng lớn từ nơi ngai" nói trong câu 4: "Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng". Nếu quí vị suy gẫm về sự ấy, chúng ta đã được sanh ra trong nước mắt. Nỗi vật vã của mẹ chúng ta khi sanh con, đầm đìa nước mắt đau đớn khi chúng ta vào trong thế gian. Đáp ứng đầu tiên của chúng ta trong thế gian là kêu khóc, và đầy nước mắt.
2. Đồng đi với Đức Chúa Trời trong đời nầy là đồng đi với nước mắt. Không những chúng ta gánh chịu những gì là bình thường cho toàn thể nhân loại, chúng ta còn gánh chịu những sự thương khó của Đấng Christ nữa. Phaolô đã cầu nguyện rằng ông có thể nhận biết Đấng Christ trong "sự thông công thương khó của Ngài" (Philíp 3.10). Nôê đã chịu đựng sự bắt bớ khi lo đóng tàu. Ápraham lìa khỏi U-rơ xứ Canh-đê mà chẳng biết mình sẽ đi đâu. Hội thánh đầu tiên đã gánh chịu sự bắt bớ rất khủng khiếp. Đời sống đức tin là một đời sống đầy nước mắt.
Nước mắt đánh dấu đời nầy vì chẳng có gì thoả lòng trọn vẹn ở đây cả. Tôi thích câu chuyện kể về hai giọt nước mắt trôi nổi trên dòng sông. Giọt nước mắt nầy nói: "Tôi là nước mắt của một thiếu nữ yêu một người và chẳng giữ được người ấy". Giọt nước mắt kia trả lời: "Tôi là giọt nước mắt rơi từ một thiếu phụ đã giữ được người ấy".
3. Tôi hiểu rằng ống dẫn lệ của chúng ta được nối với các trung tâm cảm xúc trong não bộ. Chúng ta sẽ không có chúng trong loại thân thể vinh hiển vì chúng ta không cần đến chúng nữa.
4. Hãy chú ý cho cẩn thận rằng không những sẽ không còn có nước mắt hay "than khóc" hay "kêu ca" nhưng "Đức Chúa Trời sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng". Tôi nghĩ câu nầy có ý nói Đức Chúa Trời sẽ cất đi từng ký ức tội lỗi ra khỏi tâm trí của chúng ta.
Một cụ bà Cơ đốc nằm chờ chết vì chứng ung thư, thân thể bà đau đớn lắm. Ông chồng yếu đuối của bà cụ cúi xuống bên cạnh bà, để ý khi bà thở hơi cuối cùng và một giọt nước mắt lăn dài cạnh gương mặt của bà. Ông nói: "Cảm tạ Chúa, đấy là giọt nước mắt sau cùng mà bà ấy đã đổ ra".
B. Sẽ không có sự chết (câu 4b).
1. Tôi hình dung nỗi vui mừng của Hội thánh đầu tiên khi họ đọc được những lời nầy: "Sẽ không có sự chết nữa". Sự bắt bớ cho đến chết là rất thông thường đối với nhiều người trong số họ đến nỗi Tertillian đã viết rằng huyết của những người tuận đạo là hột giống của Hội thánh.
2. Trong kỹ nguyên thiên đàng sẽ chẳng có một đám tang nào cả. Tôi sẽ không còn đứng bên một quan tài nữa!
Tuần nầy tôi có đọc về một tiến trình gây lạnh để giữ cho người chết hy vọng sẽ được cứu sống với sự tiến bộ của khoa học [cryonics]. Khi thân thể của người chết được làm đông lạnh ở nhiệt độ –320 F. Họ hy vọng rằng sau đó kỹ thuật sẽ giúp cho họ làm tan nhiệt rồi làm cho bịnh nhân tỉnh dậy. Họ trả 100USD cho cả thân thể và 35.000USD chỉ cho cái đầu mà thôi. Họ đã làm việc nầy cho 15 người và hơn 200 người đã trả hơn thế nữa.
C. Sẽ không có than khóc (câu 4c). Quí vị có từng nhuốm đau khổ chưa? Quí vị có từng thấy chán nãn chưa? Không phải ở trong thiên đàng đâu! Mỗi ngày chúng ta sẽ sống đầy dẫy trong sự vui vẻ của Chúa.
D. Sẽ không có đau đớn nữa (câu 4d). Xứ sở của chúng ta tiêu ba tỉ đôla hàng năm cho các loại thuốc có tác dụng cao. Hầu hết trong số thuốc đó thuộc loại giảm đau. Quí vị sẽ không cần đến chúng trong thiên đàng.
E. Mọi sự sẽ được làm nên mới (câu 5).
1. Trong vườn Ê-đen, đã có Địa đàng. Không có một tội lỗi nào hết. Sáng thế ký cho biết rằng Đức Giêhôva đồng đi với Ađam và Ê-va vào lúc "lối chiều", đã có quan hệ mật thiết, mặt đối mặt tương giao với Đức Chúa Trời.
2. Đức Chúa Trời sẽ khiến cho "muôn vật" trở nên "mới" một lần nữa. Trong tiếng Hy lạp, có hai từ nói đến "mới". Một từ có ý nói một món đồ mới giống như áo sơ mi mới hay chiếc xe mới. Còn từ kia có nói khác một chút. Chúng ta sẽ sống trong một "loại trời và đất khác". Chúng ta sẽ có một "loại sự sống khác".
III. Tình trạng của thành là chói sáng (các câu 9-21).
Trong các câu 9-21, chúng ta được chỉ cho thấy về "thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống" (câu 10). Chúng ta không có thì giờ để xem xét sự chói sáng của thành trong từng chi tiết, nhưng hãy cho phép tôi chỉ ra những điểm nổi bật.
A. Phần mô tả Thành.
Một cô bé kia có một cuộc dạo chơi với bố mình vào buổi chiều kia. Rất đỗi kinh ngạc, cô bé nhìn lên những ngôi sao rồi hô lên: "Ôi, bố ơi, nếu phía bên nây thiên đàng đẹp như thế, con bên kia thì sao?!" Ở đây Giăng đang mô tả cho chúng ta thấy "mặt bên kia" của thiên đàng.
1. Chúng ta hãy đọc các câu 14-21. Hãy chú ý câu 21: "mỗi cửa bằng một hột châu nguyên khối làm thành". Tôi muốn nhìn thấy con trai mà có được những hột châu ấy! Điều nầy còn hoang tưởng hơn cả phim “Star Wars” [Chiến tranh trên các vì sao].
2. Thành "làm kiểu vuông" hay hình lập phương mỗi cạnh là "mười hai ngàn ếch-ta-đơ", tổng cộng 1.500 dặm vuông. Đây là khoảng cách tính từ bang Main đến bang Florida. Nó còn rộng hơn cả mặt trăng nữa!
3. Những đường phố không những chạy theo hàng dọc mà còn chạy theo hàng ngang nữa. Nhà khoa học Henry Morris đã cho rằng 20 tỉ người có thể ở trong thành nầy. Nếu 25% đất trong thành ấy được sử dụng để ở, mỗi người sẽ được 75 mẫu.
B. Hình ảnh của Thành.
Hãy tưởng tượng xem, nếu quí vị là một giáo sĩ đến với những làng thuôc vùng sâu vùng xa ở Nam Mỹ. Sau khi quí vị ở với họ trong một thời gian rồi bắt đầu truyền đạt cho họ bằng ngôn ngữ của họ, quí vị tìm cách mô tả cho họ biết thế giới mà quí vị để lại sau lưng. Quí vị mô tả như thế nào? Quí vị sẽ mô tả một cái tủ lạnh bằng cách chỉ cho họ dòng suối mát đang chảy cạnh ngôi làng. Cũng một thể ấy, những câu nầy nói trước về sự vinh hiển sắp được tỏ ra.
IV. Những hoạt động của cư dân được tóm lại (các câu 22-27).
Chúng ta hãy đọc các câu 24-26. Người được cứu trong thế gian sẽ "đi" với Đức Chúa Trời và với nhau. Đây sẽ là một sự sum họp. Tôi dám chắc chúng ta sẽ biết rõ nhau. Spurgeon đã thắc mắc không biết chúng ta có còn ngớ ngẩn trong thiên đàng hay không nữa!
A. Chúng ta sẽ ca hát! Khải huyền 5 cung ứng một phần mô tả rất đẹp về tất cả loài thọ tạo đều cất tiếng hát. Khi ấy HẾT THẢY chúng ta đều sẽ ca hát!
B. Chúng ta sẽ phục vụ! Hãy chú ý 22.3.
Khi Marco Polo, nhà du lịch Bắc Ý nổi tiếng vào thế kỷ thứ 13, đang nằm chờ chết, những kẻ phỉ báng ông bảo ông phải cút đi – rút lại những câu chuyện mà ông đã kể về Trung Hoa cùng những vùng đất thuộc Cận Đông. Nhưng ông từ chối, ông nói: "Tôi chưa nói được phân nửa những gì tôi đã trông thấy". Đối với một số người, những gì chúng ta đang có hôm nay là … "chưa có gì tốt hơn như thế nầy". Sự chọn lựa chúng ta đưa ra trong lúc bây giờ đang chi phối cõi đời đời. Hãy chú ý 21.6-8.
***

Sự phán xét tối hậu



CÓ HY VỌNG Ở ĐƯỜNG CHÂN TRỜI
Sự phán xét tối hậu
Khải huyền 20.11-15; II Phierơ 3.3-13
1. Chuyện kể lại rằng vào cuối đời của vị chính khách lỗi lạc Daniel Webster, ông đang dùng bữa trưa với một số thành viên Quốc hội trẻ hơn ông. Một trong số họ đã hỏi: "Thưa ông Webster, đâu là tư tưởng lớn lao nhất từng xảy có trong lý trí của ông". Nhanh như một tia chớp, Daniel Webster đáp: "Việc tôi phải trình sổ với Đức Chúa Trời". Phần nghiên cứu của chúng ta về lời tiên tri trong Kinh thánh cần phải nhấn mạnh một điểm quan trọng; chúng ta sẽ trả lời với Đức Chúa Trời.
2. Phần học hỏi chính của chúng ta nằm trong một số phân đoạn đáng sợ nhất trong Kinh thánh. Nó kêu gọi con người phải đối diện với sự thực: cơn phán xét sắp xảy tới. Hê-bơ-rơ 9.27 chép: "Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét". Một trong những sự dối gạt hay nhứt của Satan, ấy là chẳng có phán xét chi hết. Tuy nhiên, mọi người sẽ đứng trước mặt Đức Chúa Trời để trình sổ.
3. Qua mấy tuần vừa rồi, chúng ta đã bàn về các biến cố chính căn cứ theo dòng tiên tri trong Kinh thánh. Sự Cất Lên của Hội thánh, Ngai phán xét của Đấng Christ, Kỳ Đại Nạn, sự dấy lên của Antichrist, Sự đến lần thứ hai hay Sự Tái Lâm của Đấng Christ. Tuần vừa qua, chúng ta đã xem xét thời kỳ Thiên Hi Niên hay 1000 năm trị vì của Đấng Christ. Chúng ta gọi đây là Kỹ Nguyên Nước Trời.
4. Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét hai biến cố quan trọng sẽ diễn ra nơi phần kết thúc của Vương quốc Thiên Hi Niên. Thứ nhứt, chúng ta sẽ dành thì giờ nhắm vào Toà Phán Xét Lớn và Trắng và kế đó chúng ta sẽ mau mau nhắm tới Sự Hủy Diệt của Trời và Đất.
I. Toà Phán Xét Lớn và Trắng (Khải huyền 20.11-15).
Sự hiện thấy về Toà (câu 11a).
1. Giăng đã "thấy", ấy là Đức Chúa Trời đã cho phép Giăng nhìn thấy, dù bối cảnh hấp dẫn nầy hãy còn ở cuộc tương lai. Trung tâm của bối cảnh là "một toà lớn và trắng".
2. "Lớn" ra từ chữ megas có nghĩa là "rộng, cao, oai nghi". "Trắng" ra từ chữ leukos nghĩa là sáng láng. Giăng đã nhìn thấy một toà lớn hay ngai phán xét đang chiếu sáng rực với sự sáng láng màu trắng tinh.
3. Điều nầy nhắc cho tôi nhớ tới khải tượng của Êsai về ngai của Đức Chúa Trời trong Êsai 6.
4. Đây không những là khải tượng về một phòng có đặt ngai, mà còn là khải tượng về một phòng xử án nữa. Tuy nhiên, có một số khác biệt quan trọng giữa toà xử nầy và phòng xử án tương tự.
5. Như tôi đã nói, không có một ghế ngồi nào cho quan toà, thay vì thế chỉ có "một toà lớn và trắng". Không có một cuộc tranh luận nào về có tội hay vô tội. Mọi người đứng ở đây đều phạm tội. Có công tố nhưng không có một sự bào chữa nào cả. Không một lời bào chữa nào được đưa ra. Có một quan án nhưng chẳng có ban hội thẩm. Quan án là công bình cách trọn vẹn. Đây là bản án nhưng không có một sự chống án nào cả. Không có toà nào khác cao hơn. Đây là án phạt nhưng sẽ không hề có cam kết tha.
B. Quan án ngồi trên ngai (câu 11b).
1. Trọng tâm mặc khải của Giăng không đặt vào "ngai trắng lớn", thay vì thế đặt nơi "Đấng đang ngồi ở trên". Trong câu 12, chúng ta học biết rằng những kẻ bị xét đoán đều đang "đứng trước toà". Tôi khẳng định rằng Đấng đang ngồi trên ngai ấy chính là Đức Chúa Jêsus.
2. Quan Án là Chúa Jêsus, chính Ngài. Giăng 5.22 chép: "Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con". Câu 27 của cùng chương ấy nói Đức Chúa Cha "đã ban quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì là Con người".
3. Khi Phierơ nói với người nhà của Cọt-nây, ông nói trong Công vụ các Sứ đồ 10.42: "Lại Ngài đã biểu chúng ta khá giảng dạy cho dân chúng, và chứng quyết chính Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết". Tương tự, Phaolô đã viết cho Timôthê ở II Ti-mô-thê 4.1: "Ta ở trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhân sự đến của Ngài và nước Ngài mà răn bảo con rằng".
4. Phân đoạn Kinh thánh gốc của chúng ta đang nói tới Chúa Jêsus là Đấng đang ngồi trên ngai và phân đoạn ấy nói về Ngài: "trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa". Có lẽ đây là phần tham khảo nói tới sự hủy diệt trời và đất mà chúng ta sẽ bàn sau. Bởi câu nầy, một số người tin rằng sự phán xét nầy sẽ diễn ra trên không trung giữa trời và đất.
C. Người ta đứng trước ngai (các câu 12a, 13).
1. Chúa Jêsus phán xét ai khi Ngài ngồi trên "toà lớn và trắng?" Ngài phán xét "kẻ chết, cả lớn và nhỏ", những kẻ đang "đứng trước toà".
2. "Kẻ chết" là những kẻ đã chết mà chưa tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của họ.
3. Thậm chí họ "đã chết vì sự quá phạm và tội lỗi mình", nhưng họ sẽ được sống lại ra khỏi sự chết theo phần xác để đứng trước ngai. Hãy xem lại câu 5. Sau "một ngàn năm đã mãn" họ được sống lại để chịu phán xét.
4. Ở Giăng 5.29, Chúa Jêsus gọi đây là "sống lại để bị xét đoán". Là một vấn đề để suy gẫm, nếu thân thể của người tin Chúa được sống lại như loại thân thể vinh hiển, thì thân thể của người không tin Chúa sẽ giống với loại nào? Tôi không biết, nhưng họ sẽ khủng khiếp lắm. Đây là "sự sống lại để bị xét đoán".
5. Chúng ta biết rằng đây chỉ là sự phán xét dành cho những kẻ không tin Chúa vì sự sống lại của những người tin Chúa đã diễn ra rồi. Chúng ta thấy họ trong các câu 4-5.
6. Thêm nữa, chúng ta biết rằng chẳng có một người tin Chúa chơn thật nào sẽ đứng chịu phán xét cả. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 5.24: "Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống".
7. Hãy chú ý, họ được gọi là "cả lớn và nhỏ". Tôi nghĩ điều nầy có ý nói họ là những người không tin Chúa từ mọi ngả đường của cuộc sống. Họ là "nhỏ" (mikros) và "lớn" (megas) trong thế giới tài chính, quyền lực, chính trị, được tính quần chúng, khả năng theo phần xác và từng ý niệm khác.
8. Những ông triệu phú sẽ đứng bên cạnh kẻ vô gia cư. Những ngôi sao điện ảnh sẽ đứng bên cạnh các bà nội trợ tầm thường. Các ông tổng thống, chủ tịch, những tiểu vương, vua chúa sẽ đứng bên cạnh mấy ông thợ hàn ống nước, những vị thủ tướng lâm thời và những gã đánh xe ngựa độc mã ở Wal-Mart sẽ đứng cạnh nhau.
9. Hết thảy số người nầy sẽ có chung với nhau một việc. Họ đã từ chối sự ban cho của Đức Chúa Trời về sự sống đời đời qua Đức Chúa Jêsus Christ, là Con của Ngài. Chỉ có hai loại người, những ai đang ở trong Đấng Christ và những kẻ tách rời khỏi Đấng Christ.
10. Câu 13 chép: "Biển đem trả những người chết mình chứa" và theo hình bóng "Sự chết và âm phủ" cũng "đem trả những người chết mình có". Từng người qua đời không có Chúa Jêsus sẽ "sống lại" vì mục tiêu phải đối mặt với sự phán xét của Đức Chúa Trời.
D. Các sách ở trước ngai (câu 12b).
1. Trước tiên Giăng nói: "Các sách thì mở ra". "Các sách" nào? Ở cuối câu, chúng ta học biết rằng những kẻ chết mà chưa được cứu nầy "bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy". Ở cuối câu 13, chúng ta học biết rằng họ "bị xử đoán tùy công việc mình làm". Tôi cho rằng "các sách" đã được mở ra trước ngai có chứa những câu chuyện ghi những việc làm của họ.
2. Trong câu cuối cùng sách Truyền đạo của Solomon, chúng ta đọc: "Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến đỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hoặc ác cũng vậy" (Truyền đạo 12.14).
3. Trong Rôma 2.16, Phaolô đã viết về "… ngày Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người, y theo Tin Lành tôi".
4. Chúa Jêsus đã phán trong Mathiơ 12.36: "Vả, ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói".
Hãy suy nghĩ về khả năng bảo quản hành động cùng lời nói của con người. Ngay bây giờ, giọng nói của tôi đã được ghi âm lại. Thực vậy, giọng nói ấy không được ghi âm trên hệ thống định lượng vật lý, mà trên một đĩa kỹ thuật số cỡ vừa. Chúng ta có thể tạo hình ảnh theo kỹ thuật số, gắn chúng vào email rồi gửi chúng qua bên kia thế giới chỉ trong một vài phút thôi. Nếu con người có được những kỹ thuật đáng kinh ngạc như thế giúp chúng ta bảo tồn được những hành động cùng các lời nói của con người, chúng ta không thể hình dung ra khả năng của Đức Chúa Trời khi gợi lại "từng việc kín nhiệm" trong ngày phán xét.
D.L. Moody, nhà truyền đạo nổi tiếng thường nói rằng nếu ai đó phát minh ra máy quay phim có thể thu hình ảnh trong tấm lòng của con người (tâm linh, chớ không phải cái bơm máu) nhà phát minh đó sẽ đói mà chết vì chẳng ai muốn những bí mật của họ bị bày ra. Đức Chúa Trời sẽ bày ra mọi bí mật của con người tại toà lớn và trắng.
5. Không những Giăng nhìn thấy "các sách" đang "mở ra", ông còn nhìn thấy "một quyển sách khác nữa, là sách sự sống". Quyển "sách sự sống" được đề cập tới trong Tân Ước khoảng 8 lần và 3 lần trong Cựu Ước mặc dù đặc biệt không bằng những từ ngữ nầy.
6. Hiển nhiên là có hai quyển sách sự sống. Một quyển được hiểu là sách ghi tên tuổi những người còn đang sống. Tên tuổi của quí vị đã được ghi ra trong quyển sách nầy hôm nay. Nó sẽ còn ở đó cho tới chừng quí vị qua đời và rồi nó sẽ bị bôi đi.
7. Quyển sách Sự sống kia là Sách sự sống của Chiên Con. Quyển nầy chứa tên tuổi của những người đã được cứu bởi ân điển của Chúa Jêsus.
8. Khải huyền 13.8 thuật lại cho chúng ta biết, trong suốt Kỳ Đại Nạn, nhiều người sẽ thờ lạy Antichrist và họ là những kẻ "tên của họ không được ghi trong sách sự sống của Chiên Con bị giết từ buổi sáng thế".
9. Sách sự sống chứa tên tuổi của những người có sự sống theo phần xác ở trên đất. Sách sự sống của Chiên Con chứa tên tuổi của những người có sự sống thuộc linh trong Đấng Christ.
10. Những toà án cổ xưa không những giữ lấy thành tích của tội phạm, mà còn giữ thành tích của hạng công dân trung thành với hoàng gia nữa.
11. Trong Xuất Êdíptô ký 32.33, Đức Chúa Trời phán với Môise: "Kẻ nào phạm tội cùng ta, ta sẽ xóa nó khỏi sách ta". I Giăng 5.16 chép: "Cũng có tội đến nỗi chết".
12. Nói cách khác, điều nầy là khả thi vì cớ tội lỗi, tên tuổi của một người bị cất ra khỏi sách sự sống. Tuy nhiên, tên tuổi của quí vị bị cất ra khỏi sách sự sống của Chiên Con là điều bất khả thi.
13. Những gì chúng ta xem thấy trong phân đoạn Kinh thánh gốc là loại kiểm tra hai lần. Những kẻ vô tín được đem đến trước mặt Chúa và "các sách" ghi mọi "việc làm" của họ đã được mở ra. Họ được tuyên bố là hạng tội nhân thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Khi ấy Đức Chúa Trời có quyển "Sách sự sống" mở ra lần cuối cùng. Mặc dầu Ngài đã kiểm hai lần để biết chắc rằng tên của một người không bị ân điển của Chúa Jêsus che phủ. Vì người ấy đã chối bỏ Con Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời chối bỏ người và người bị "quăng xuống hồ lửa".
E. Sự phán xét của Ngai (các câu 14-15).
1. Câu 14 chép: "Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa". Người nào đã qua đời và bị đi địa ngục hay "âm phủ" sẽ được sống lại, bị xét đoán, và bị quăng xuống nơi có sự báo ứng: "hồ lửa". Giăng thêm: "Hồ lửa là sự chết thứ hai". Đọc lại câu 6!
2. Câu 15 chép cùng một việc theo một cách khác: "Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa". "Hồ lửa" là hồ gì?
3. "Hồ lửa" chưa phải là sự hủy diệt hoàn toàn đâu! Còn nhiều nữa kia. Antichrist cùng các tiên tri giả đã bị quăng vào đó cả ngàn năm rồi (câu 10).
4. "Hồ lửa" không phải là một biểu tượng, đó là một địa điểm, một nơi chốn. Kinh thánh sử dụng nhiều từ ngữ để mô tả một nơi hình khổ đời đời: "lửa đời đời", "nơi sâu bọ không hề chết, và lửa không hề tắt", "hồ cháy với lửa và lưu huỳnh", một nơi "khóc lóc và nghiến răng", "lửa không hề tắt", "lò lửa hừng", "tình trạng đen tối của bóng tối tăm", và là nơi mà ở đó "khói của sự hình khổ bay lên cho đến đời đời; và ngày đêm chúng sẽ chẳng được yên nghỉ". Sự mô tả về địa điểm nầy có thể là biểu tượng, nhưng tôi chẳng tìm được yên ủi ở đó. Nếu phần mô tả là biểu tượng, chính cái biểu tượng ấy còn tệ hại hơn chúng ta có thể mô tả nữa.
5. Bây giờ hãy đọc 21.1. Theo sau sự phán xét tại toà lớn và trắng, Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt "trời thứ nhứt và đất thứ nhứt".
II. Sự huỷ diệt Trời và Đất (II Phierơ 3.3-13).
A. Điều nầy cung ứng cho chúng ta một phần mô tả về ngày nay (các câu 3-7).
1. Ngày nay có HÌNH THỨC HOÀI NGHI (các câu 3-4a). Chữ "gièm chê" có ý nói "là con nít, chơi với một thứ gọi là đồ chơi". Họ hỏi với sự đùa cợt lời tiên tri của Đức Chúa Trời: "Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu?"
2. Ngày nay có CHỦ THUYẾT THEO KHOA HỌC (câu 4b). Các nhà khoa học nói: "muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế…" Thuyết nầy được gọi là uniformitarianism và cơ bản nó nói rằng các luật lệ trong thiên nhiên không thể thay đổi được.
3. Ngày nay vẫn còn có LẼ THẬT THEO KINH THÁNH (các câu 5-7). Những kẻ vô tín nầy "cố ý quên lửng" việc Đức Chúa Trời đã dựng nên đất rồi tiếp đến khiến cho "thế gian bấy giờ" cũng bị hủy phá "bị chìm đắm bởi nước lụt". Họ bất chấp lời hứa trong câu 7 rằng cả hai: trời và đất giờ đây được Đức Chúa Trời "bảo tồn", mà còn được "để dành" cho "lửa đốt nó đi trong ngày phán xét".
B. Điều nầy cung ứng cho chúng ta một dự kiến về ngày mai (các câu 8-13).
1. Thứ nhứt, hãy chú ý SỰ KIÊN NHẪN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (các câu 8-9). Đức Chúa Trời không hành động theo kế hoạch của chúng ta. Một "ngàn năm" đối với chúng ta chỉ là một "ngày" đối với Ngài. Nếu dường như tận thế bị trễ nãi, sở dĩ như thế là vì Đức Chúa Trời "lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn". Chớ có dại dột, Đức Chúa Trời không phải là "chậm trễ về lời hứa của Ngài" đâu.
2. Thứ hai, hãy chú ý NHỮNG TIÊN ĐOÁN TRƯỚC CỦA Đức Chúa Trời (các câu 10-13). Hệ thống thái dương hệ sẽ "qua đi". Qua đi có nghĩa là "vèo qua như tên bắn". Chúng sẽ qua đi! "Các thể chất" trong cấu trúc nguyên tử, năng lượng và thời gian sẽ "bị đốt và tiêu tán". Đất cùng mọi công trình của nó "đều sẽ bị đốt cháy cả" (đối chiếu Hê-bơ-rơ 1.10-12).
C. Điều nầy cung ứng cho chúng ta một dự kiến về tương lai (các câu 11-13).
1. Sự hiểu biết của chúng ta về lời tiên tri sẽ khuyến khích ĐỜI SỐNG TIN KÍNH (câu 11).
2. Sự hiểu biết của chúng ta về lời tiên tri sẽ làm cho sụp đổ CHỦ NGHĨA ÍCH KỶ THIÊN VỀ VỚI VẬT CHẤT (các câu 10-11).
3. Sự hiểu biết của chúng ta về lời tiên tri sẽ khuyến khích một SỰ TRÔNG ĐỢI TRÀN NGẬP HY VỌNG.
Albert Einstein đã nói: "Tôi chưa hề suy nghĩ đến tương lai. Không bao lâu nữa nó sẽ đến". Chúa Jêsus phán trong Mathiơ 24.35: "Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi". Sự phán xét tối hậu của Đức Chúa Trời sắp xảy đến. Chúng ta nên suy nghĩ về sự ấy ngay hôm nay.
***

Đếm ngược thiên niên kỷ



CÓ HY VỌNG Ở ĐƯỜNG CHÂN TRỜI
Đếm ngược thiên niên kỷ
Khải huyền 20.1-10
1. Chúng ta đang bám sát vào vấn đề của lịch sử. Trong vòng hai tháng, chúng ta sẽ bước vào một Năm Mới, một thập niên mới, một thế kỷ mới và ngay cả một thiên niên kỷ mới. Dầu chúng ta sống thọ như Mê-tu-sê-la, chúng ta sẽ không bao giờ nhìn thấy một chuyển tiếp về niên đại nữa. Nhiều người bị kéo vào "cơn sốt thiên niên kỷ". Đối với một số người tân thiên niên kỷ là một thời kỳ dành cho hoan lạc của trọn một đời. Đối với nhiều người khác, đây là thời kỳ sợ hãi vì sự cố máy tính Y2K. Người nào theo triết học sẽ nhìn ngày 1 tháng Giêng năm 2000 chỉ là một ngày khác mà thôi. Dầu viễn cảnh của quí vị có là gì đi nữa, quí vị biết rõ chúng ta đang đếm ngược nhiều ngày cho đến tân thiên niên kỷ.
2. Có phải quí vị biết rõ Kinh thánh nói tới một tân thiên niên kỷ không? Trong khi từ ngữ đặc biệt "thiên niên kỷ" không được sử dụng, chúng ta thấy trong phân đoạn Kinh thánh gốc một tham khảo đến một "ngàn năm", một thời kỳ đặc biệt vẫn còn trong tương lai. Tất nhiên là quí vị hiểu từ ngữ thiên niên kỷ có ý nói tới thời kỳ một ngàn năm giống như thế kỷ đề cập tới 100 năm vậy.
3. Có phải tân thiên niên kỷ đi trước chính thời kỳ đã được nói ra trong phân đoạn Kinh thánh gốc của chúng ta không? Không, không phải đâu. Làm sao tôi biết được? Vì Kinh thánh nói trước một vài biến cố phải diễn ra trước thiên hi niên theo Kinh thánh. Chúng ta đã nghiên cứu các biến cố nầy trong mấy tuần qua, nhưng xin cho phép tôi mau mau ôn lại chúng một lần nữa.
A. Chúng ta đang sống ở cuối một thời kỳ được biết là KỶ NGUYÊN HỘI THÁNH, một thời kỳ khi Chúa Jêsus lo gây dựng Hội thánh của Ngài, kêu gọi người ta từ mỗi nước nên tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa.
B. Hội thánh sẽ kết thúc với SỰ CẤT LÊN, "sự trông cậy hạnh phước" khi hết thảy các tín đồ thật sẽ được "cất lên" với Chúa Jêsus trên không trung, còn những kẻ không tin bị bỏ lại ở đàng sau.
C. Một thời gian ngắn sau sự cất lên, sẽ có một thời kỳ 7 năm được biết trong Kinh thánh là KỲ ĐẠI NẠN. Đây sẽ là một thời kỳ rất khó khăn. Một kẻ cai trị cấp thế giới thuộc Satan được biết là ANTICHRIST sẽ dấy lên. Trong nửa phần sau của 7 năm nầy, Đức Chúa Trời sẽ đổ cơn thạnh nộ của Ngài ra giáng trên những kẻ chối bỏ Ngài.
D. Thời kỳ nầy sẽ kết thúc với một biến cố được gọi là SỰ ĐẾN LẦN THỨ HAI hay SỰ TÁI LÂM. Chúa Jêsus sẽ tái lâm đúng nghĩa theo phần xác trên đất. Ngài sẽ không đến như một con trẻ nữa, mà như một vì Vua chinh phục.
E. Khi ấy Ngài sẽ mở ra một thời kỳ được gọi là SỰ TRỊ VÌ NGÀN NĂM hay KỶ NGUYÊN VƯƠNG QUỐC. Chúa Jêsus sẽ trị vì trên đất trong 1.000 năm. Đây là phần nghiên cứu của chúng ta hôm nay.
4. Chúng ta hãy xem xét bốn phương diện của Vương quốc trong thời kỳ thiên hi niên và kế đó hãy tiếp thu các bài học sau cùng hôm nay.
I. Kẻ thù bị xiềng (các câu 1-3).
A. Satan là điều ác đã được nhân cách hoá.
1. Nhiều người ngày hôm nay không tin vào điều ác đã được nhân cách hoá. Họ nói tới điều ác đang ở trong thế gian, hoặc điều ác chắc chắn đang ở trong con người nào đó. Họ chế giễu quan niệm nói tới Satan hay ma quỉ rồi bày ra các hình ảnh biếm hoạ về con người nhỏ thó màu đỏ với những cái sừng cầm cây chỉa ba.
2. Kinh thánh biết Satan là sự nhân cách hoá của điều ác và là kẻ thù tối hậu của Đức Chúa Trời. Hắn nguyên được gọi là Lucifer, là "con trai của sáng sớm". Có lẽ hắn là thiên sứ lớn nhất và xinh đẹp nhất trong số các thiên sứ của Đức Chúa Trời, hắn đã lãnh đạo một phần ba đạo binh ở trên trời trong cuộc nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời và bị ném bỏ ra khỏi thiên đàng. Hắn tấn công kiệt tác trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, là con người ở trong Vườn Ê-đen.
3. Hắn là nguyên nhân gây ra điều ác trong thế gian ngày nay. I Phierơ 5.8 cảnh cáo: "Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được".
4. Êphêsô 6.11 chép: "Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỉ". Là tín đồ, chúng ta đừng bao giờ xem thường kẻ thù của chúng ta.
5. Từ khi Satan là điều ác đã được nhân cách hoá, thì chỉ cần biết rõ rằng hắn sẽ bị cất đi trước khi sự bình an ngự trị trên đất. Đấy là chung điểm của ba câu đầu tiên nầy.
B. Thiên sứ và xiềng xích (câu 1).
1. Giăng đã "thấy một thiên sứ từ trời xuống". Chỉ có 3 thiên sứ được nói tới bằng tên trong Kinh thánh. Lucifer, Gabriel và Michael. Lucifer tất nhiên là Satan. Chúng ta không biết đây là thiên sứ nào, nhưng phần việc của Ngài là xiềng Satan lại.
2. Ngài có "chìa khoá của vực sâu" và cũng có "một cái xiềng lớn trong tay". Tôi không biết loại xiềng nào sẽ được dùng để xiềng Satan lại, nhưng tôi không nghĩ Đức Chúa Trời sẽ chịu khó đánh nhau với một thiên sứ.
C. Thời gian và địa điểm (các câu 2-3a).
1. Câu 2 nói rằng thiên sứ "bắt con rồng, tức là con rắn đời xưa, là ma quỉ, là Sa-tan". Ngài bắt lấy hắn rồi "xiềng nó lại" với sợi dây xích "trong một ngàn năm" hay một thiên niên kỷ.
2. Hãy tưởng tượng "một ngàn năm" không có ma quỉ xem. Hãy tưởng tượng thế gian không có các ảnh hưởng của ma quỉ xem. Chúng ta có thể khó tưởng tượng được một thế giới không có các thế lực của ma quỉ đang vận hành.
3. Hắn được đem bỏ vào "vực sâu". Chỗ nầy có nghĩa là một "nơi không có chiều sâu". Ở đó thiên sứ "quăng nó xuống vực" rồi "niêm phong lại". Hắn không thể thoát đi đâu được nữa. Tại sao điều nầy xảy ra? "Hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa, cho đến chừng nào hạn một ngàn năm đã mãn".
D. Thời gian xiềng và sự phóng thích (câu 3b).
1. Câu 3 cho chúng ta biết khoảng thời gian Satan bị tù là "một ngàn năm" rồi sau "những việc nầy hắn cũng phải được thả trong ít lâu". Đọc các câu 7-10.
2. Mặc dù có người sẽ nghĩ Satan là nguồn tội ác duy nhất trong thế gian, có 3 nguồn cả thảy. SATAN tất nhiên là nguồn thứ nhứt. Kế đó có HỆ THỐNG THẾ GIAN và XÁC THỊT. Trong thời kỳ thiên hi niên, Satan sẽ bị cất đi. Chúa Jêsus sẽ trị vì trên đất, vì vậy hệ thống thế gian cũng sẽ bị cất đi. Nguồn duy nhứt của tội ác bị bỏ lại trong thế gian sẽ nằm trong chính xác thịt của chúng ta.
3. J. Dwight Pentecost viết: "Con người sẽ bị đặt dưới những hoàn cảnh lý tưởng nhất. Với mọi nguồn cám dỗ bên ngoài đã bị cất bỏ đi, trong khi Satan bị xiềng xích, và từng nhu cần được chu cấp cho, hầu cho họ không thèm muốn một điều gì cả, sự ấy sẽ được chứng nghiệm qua những kẻ ra đời trong thời kỳ thiên hi niên với bổn tánh tội lỗi sa ngã mà con người bị đồi bại và xứng đáng với sự phán xét. Mặc dù sự hiện diện thấy được bằng mắt thường của nhà Vua và các ơn phước đến từ nơi Ngài, bởi sự loạn nghịch vào cuối thời kỳ thiên hi niên, loài người sẽ minh chứng tấm lòng đang đồi bại".
II. Những thánh đồ cai trị (các câu 4-6).
Khi Giăng tiếp tục mô tả sự hiện thấy của mình, ông nói ông "thấy những ngai" và những người đang "ngồi trên ngai". Ông tiếp tục nói rằng số người nầy đang ngồi trên ngôi cùng với nhiều người khác được "sống và trị vì với Đấng Christ trong một ngàn năm". Điều nầy làm phát sinh hai câu hỏi quan trọng.
A. Ai sẽ đồng trị với Đấng Christ?
1. Chúng ta biết rằng những người "ngồi trên ngai" đã trị vì cùng với Đấng Christ. Họ là ai vậy? Tôi tin họ là những tín đồ của kỷ nguyên hiện tại nầy, những người trong chúng ta, là những người dựng nên thân thể của Đấng Christ trong kỷ nguyên Hội thánh nầy.
2. Trong 19.14, chúng ta thấy "các đạo binh trên trời, đều mặc vải gai mịn , trắng và sạch".
3. Chúa Jêsus đã quyết đoán với các môn đồ Ngài rằng họ sẽ đồng trị với Ngài. Ngài phán trong Mathiơ 19.28: "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đến kỳ muôn vật đổi mới, là khi Con người sẽ ngự trên ngôi vinh hiển của Ngài, thì các ngươi là kẻ đã theo ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, mà xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên".
4. Khi xử lý với vấn đề được đem ra tranh cãi giữa vòng các tín đồ, Phaolô hỏi trong I Côrinhtô 6.2: "Anh em há chẳng biết các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian sao? Ví bằng thế gian sẽ bị anh em xét đoán, thì anh em há chẳng đáng xét đoán việc nhỏ mọn hơn sao?"
5. Tôi thích II Timôthê 2.11-12: "Lời nầy chắc chắn lắm: Ví bằng chúng ta chết với Ngài, thì cũng sẽ sống với Ngài; lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta".
6. Trong Khải huyền 5.9-10, các trưởng lão mô tả "những lời cầu nguyện của các thánh" đứng quanh ngai của Đức Chúa Trời, họ nói: "vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước, và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất".
7. Tôi tin Kinh thánh nói rõ ràng rằng họ, những kẻ ngồi trên "những ngai" là các tín đồ xuất thân từ kỷ nguyên nầy. Phần còn lại nắm quyền cai trị là ai? Hãy chú ý phần còn lại của câu 4.
8. Không những Giăng đã nhìn thấy những người ngồi trên các ngai, mà còn nhìn thấy "linh hồn những kẻ đã phải chết chém vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus và vì lời Đức Chúa Trời, linh hồn những kẻ chẳng thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, chẳng nhận dấu hiệu nó, hoặc trên trán hoặc trên tay". Đây là các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn.
9. Số người nầy đã được cứu trước sự Cất Lên và chịu tin nơi Chúa Jêsus trong những sự phán xét của Kỳ Đại Nạn. Phần nhiều người trong số họ là những kẻ tuận đạo. Hãy xem lại ở 6.9-11. 7.4 nói tới 144.000 người Israel đã được đóng ấn. Sẽ có nhiều, nhiều người được cứu trong kỳ đại nạn. Chúng ta hãy đọc 7.9-10.
B. Sự cai trị sẽ như thế nào?
1. Câu 5 cho chúng ta biết rằng các thánh trong kỷ nguyên Hội thánh và các thánh trong kỳ đại nạn đều có phần trong "sự sống lại thứ nhứt". Câu 6 chép: "sự chết thứ nhì" hay sự phán xét đời đời sẽ "chẳng có quyền gì" trên chúng ta. Chúng ta sẽ được "phước" và "thánh". Chúng ta sẽ là "thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ". Chúng ta sẽ "trị vì với Ngài trong một ngàn năm".
2. Chúng ta sẽ trị vì cách ngay thẳng và công bình vì chúng ta sẽ được tự do ở ngoài mọi tác dụng của tội lỗi. Có lẽ mọi tầm cở sự trị vì của chúng ta sẽ được quyết định bởi những phần thưởng của chúng ta.
3. Trong Thí dụ về các ta-lâng của Chúa Jêsus, ông chủ nói với những đầy tớ trung tín: "Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi…" (Mathiơ 25.21,23).
4. Thân thể của chúng ta sẽ giống như thân thể của Chúa phục sinh (1 Giăng 3.2; I Côrinhtô 15). Chúng ta sẽ có thể đi đó đi đây cách nhanh chóng, ăn uống, và đi xuyên qua những nơi bị ngăn cách. Chúng ta sẽ có một chức vụ thuộc linh trong vai trò "thầy tế lễ của Đức Chúa Trời".
5. Như một chú thích bên lề, tôi không nghĩ sẽ có những em bé hay những em thiếu nhi. Dường như rõ ràng là chúng sẽ được biến thành những người lớn vì làm sao những trẻ em hay trẻ mới biết đi trị vì cho được?
III. Sự sống trong Vương quốc.
Trước khi chúng ta xếp lại sứ điệp nầy nói về Vương quốc thiên hi niên, tôi nghĩ chúng ta nên để ra một vài phút xem qua một vài phân đoạn Kinh thánh khác, ở đó cung ứng cho chúng ta một số ý tưởng cho thấy sự sống trên đất sẽ như thế nào trong thời kỳ ấy.
Phần nhiều lời tiên tri của Êsai có liên quan tới Kỷ nguyên Nước Trời. Chúng ta hãy bắt đầu với 9.6-7. Chúng ta thường đọc phân đoạn nầy trong suốt mùa lễ Giáng Sinh, nhưng sự ứng nghiệm trọn vẹn của nó là Nước Trời.
A. THIÊN NHIÊN trong Vương quốc thuộc thời kỳ thiên hi niên. Vì cớ sự rủa sả tội lỗi đã bị cất bỏ đi, thiên nhiên sẽ trở lại với tình trạng giống như trong vườn Ê-đen. 4.4-6 nói tới một "cái màn che" giống như "khoảng không" trước nước lụt. 11.6-9 nói tới những khác biệt to lớn trong thế giới loài vật. Thiên nhiên sẽ trở nên mới tinh khôi.
B. KINH TẾ trong Vương quốc thuộc thời kỳ thiên hi niên. Không một ai sẽ nghèo khó hay đói khát trong suốt Kỷ nguyên Nước Trời. Chúng ta hãy xét qua 35.1-2, 6b-7; 65.21-23. Mọi thứ tốt lành sẽ có trong sự dư dật.
C. SỨC KHOẺ trong Vương quốc thuộc thời kỳ thiên hi niên. Sẽ chẳng có một bịnh viện nào vì chẳng còn có một thứ tật bịnh nào nữa cả. Hãy xem lại 33.24; 35.5-6a; 65.20. Dường như nhiều người trong số họ đã chào đời trong Nước Trời sẽ sống trong đó. Tang chế sẽ bị giảm thiểu rất nhiều!
D. SỰ CÔNG BÌNH trong Vương quốc thuộc thời kỳ thiên hi niên. Chúa Jêsus Quan Án Công Bình sẽ ngự trên ngôi. Sẽ chẳng có chiến tranh hay tiếng đồn về chiến tranh. Lời lẽ trong Êsai 2.4 được thấy có trong toà nhà Liên Hiệp Quốc sẽ trở nên thực chỉ khi: "Ngài sẽ làm sự phán xét trong các nước, đoán định về nhiều dân. Bấy giờ họ sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, lấy giáo rèn lưỡi liềm. Nước nầy chẳng còn giá gươm lên nghịch cùng nước khác, người ta chẳng còn tập sự chiến tranh".
E. TÌNH TRẠNG THUỘC LINH trong Vương quốc thuộc thời kỳ thiên hi niên. Hãy tưởng tượng ra một thế giới mà ở đó từng đài phát thanh và truyền hình, từng tạp chí, từng tờ báo, từng quyển sách tay, từng quyển tiểu thuyết sẽ tựu trung vào Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ. Êsai 11.9 chép: "vì thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va, như các dòng nước che lấp biển”.
IV. Kẻ thù bị định tội (các câu 7-10).
A. Khi thiên niên kỷ trị vì trên đất của Đấng Christ đã "mãn" hay đến mức cuối cùng, vua chúa của bóng tối tăm sẽ được "thả ra khỏi ngục mình". Một lần nữa kẻ dối gạt sẽ "dỗ dành dân ở bốn phương trên đất" và ngay sau sự trị vì của Đấng Christ, hắn sẽ có quyền "nhóm chúng lại để chiến tranh, đông như cát bờ biển". Có những người ra đời trong Vương quốc ngàn năm, họ chẳng tin cậy nơi Đấng Christ.
B. Khi đạo binh nầy ụp đến vây chung quanh "dinh thánh đồ và thành thánh [Jerusalem]" Kinh thánh nói "lửa từ trên trời rơi xuống tiêu diệt chúng nó". Đây là sự hủy diệt tối hậu.
C. Khi ấy ma quỉ, Satan sẽ bị "quăng xuống hồ lửa và diêm" ở đó "con thú [antichrist] và tiên tri giả" đã bị nhốt ở đó rồi và chúng sẽ "phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời".
D. Satan sẽ trở thành kẻ thù rất xảo quyệt và có quyền lực, nhưng hắn là một kẻ thù đã bị đánh cho bại trận! Những ngày của hắn đã được đếm cả rồi!
V. Những bài học sau cùng cho hôm nay.
A. Đức Chúa Trời là Đấng Giữ Đúng Lời Hứa. Những gì Đức Chúa Trời đã phán ra Ngài sẽ làm thành. Phần nhiều các lời tiên tri trong Kinh thánh đã được ứng nghiệm rồi. Chỉ còn là vấn đề thời gian nữa thôi, cho tới khi nào những việc nầy xảy ra. Đức Chúa Trời cũng sẽ giữ mọi lời hứa của Ngài theo cách riêng đối với quí vị nữa đấy.
B. Nếu Đấng Christ ngự trị trong lòng quí vị trong lúc bây giờ, vậy thì quí vị sẽ đồng trị với Ngài. Số phận đời đời của chúng ta không dựa trên chúng ta có thể sống hơn đức như thế nào hay chúng ta làm lành ra sao. Thay vì thế, số phận ấy dựa trên mối tương giao của chúng ta với Đấng Christ.
C. Tình trạng của tấm lòng quan trọng hơn tình trạng của môi trường. Sẽ có nhiều người chối bỏ Đấng Christ ngay trong một môi trường mới tinh khôi.
Một viên quản lý trong cửa hàng siêu thị lớn đã có một số búp bê con trẻ Jêsus chưa bán hết trong dịp Lễ Giáng Sinh. Với nổ lực muốn bán cho hết hàng, ông at đặt một tấm bảng ở trước chúng, bảng hiệu ấy ghi như sau: "Đức Chúa Jêsus Christ, giảm giá 50%, hãy tiếp lấy Ngài khi bạn còn có dịp". Quả là lời khuyên rất tốt cho chúng ta hôm nay!
***