Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2010

Bay như chim ưng (Eph 1.1-6)



Êphêsô – Những lẽ mầu nhiệm của Đức Chúa Trời đã được tỏ ra
Bay như chim ưng

Êphêsô 1.1-6
1. Một truyền thuyết của người Mỹ gốc da đỏ thuật lại về một người kia đã tìm thấy quả trứng của chim ưng rồi đem đặt nó vào tổ của con gà tây. Chim ưng con nở ra với ổ gà tây rồi cùng lớn lên với chúng. Suốt cuộc sống của nó, con chim ưng bị đổi tính, cứ nghĩ mình là một con gà tây, nó làm những gì bầy gà tây làm. Nó bới trong đất để tìm những hột giống và côn trùng để ăn. Nó cục tác và kêu lộp bộp như gà tây. Và nó bay một khoảng ngắn rồi xốc bộ lông cách mặt đất khoảng chừng vài feet cách mặt đất. Sau cùng, đấy là cách thức mà loài gà tây đang muốn bay. Thời gian trôi qua và con chim ưng con lớn lên rất mau. Một ngày kia, nó nhìn thấy một con chim oai vệ ở trên bầu trời cao không gợn một đám mây kia. Lơ lửng thật bình an trên những luồng gió vần vũ, nó xoè rộng đôi cánh mạnh mẽ vàng rực của mình ra. "Đúng là một com chim thật tuyệt vời!" con chim ưng bị đổi tính nầy nói với kẻ hàng xóm của mình. Kẻ hàng xóm nọ gật gù. "Con gì vậy?" "Đó là con chim ưng – vua của loài chim đó". "Nhưng đừng nghĩ ngợi gì thêm cả. Chú mầy không thể giống được như loài chim ấy đâu". Vì vậy con chim ưng bị đổi tính kia không hề nghĩ ngợi gì thêm nữa hết. Và nó chết với suy nghĩ mình chỉ là một con gà tây.
2. Có nhiều người đã tin họ là một hạng người gì đó khác hơn họ thực sự hiện là ai. Trong mấy trăm năm qua đã có 53 trường hợp đã được ghi chép lại về "những đứa trẻ hoang dã", những đứa trẻ bị thất lạc trong chỗ hoang dã rồi được nuôi nấng, trưỡng dưỡng, bảo hộ bởi các loài thú đồng. Vào năm 1987, người ta tìm gặp một đứa nhỏ đang sinh sống với một bầy khỉ ở Uganda. Khi được đưa tới một viện mồ côi, nó càu nhàu, kêu ré lên và nhảy trên hai bàn tay của mình, ăn cỏ và rất sợ hãi đối với con người. Một thiếu niên người ta đã gặp sinh sống với một bầy Antelope [linh dương] hơn mười năm trời. Một vài nổ lực để bắt lấy cậu ta đã rơi vào chỗ hư không. Các nhà khoa học gọi lối sống kỳ quái nầy là "quá trình sống với loài vật và tưởng mình là đồng loại của loài vật đó". Tôi gọi đây là một sự khủng hoảng về lai lịch.
3. Có nhiều Cơ đốc nhân cũng đang gặp phải sự khủng hoảng về lai lịch ấy. Họ đã rơi vào chỗ "bị sống với thế gian và suy tưởng nhiều về thế gian" đến nỗi họ không biết mình thực sự là ai trong Đấng Christ nữa. Họ xem chính mình là loài gà tây trong khi Đức Chúa Trời xem họ là loài chim ưng! Họ bị đặt vào chỗ phải suy tưởng, ăn nói và hành động giống như loài gà tây. Êphêsô là một quyển sách thật kỳ diệu vì sách ấy được viết ra để tỏ cho chúng ta thấy lai lịch thực của chúng ta, để đưa chúng ta ra khỏi bầy gà tây rồi giúp cho chúng ta cất cánh bay cao … như chim ưng. Êsai 40.31 chép. "Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi".
4. Quyển sách quan trọng Êphêsô đã được chia ra làm hai phần. Các chương 1-3 cho chúng ta biết chúng ta là ai. Các chương 4-6 dạy chúng ta phải sống như thế nào!?! Tôi hứa với quí vị, nếu quí vị hiệp với tôi trong phần nghiên cứu tỉ mỉ về thư tín nầy qua nhiều tuần lễ và nhiều tháng tới đây, bức thư ấy sẽ làm cho đời sống của quí vị phải thay đổi. Tôi muốn thách quí vị nên đọc quyển sách nầy mỗi tuần trong vài tuần lễ tới đây. Vào ngày thứ hai, hãy đọc chương 1. Qua thứ ba, hãy đọc chương 2, v.v.…Khi đến lúc chúng ta đọc xong quyển sách, quí vị sẽ thuộc lòng cả bức thư ấy. Những lẽ thật của thư tín nầy sẽ dầm thấm trong linh hồn quí vị và quí vị sẽ “được ấn chứng” bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Thực vậy, nếu quí vị đọc quyển sách nầy cùng với tôi mỗi tuần và tới cuối cùng nếu quí vị chưa cảm thấy quí vị đã được phước, tôi sẽ đến tận nhà của quí vị và trao cho quí vị nửa gallon kem Blue Bell mà quí vị ưa thích. Dĩ nhiên, ở mặt kia….
5. Trong tiểu đoạn mở đầu nầy, chúng ta mau chóng tiếp thu bốn lẽ thật quan trọng về từng người tin Chúa.
I. Chúng ta là hạng thánh đồ (các câu 1-2).
A. Sự khác biệt giữa Sứ đồ và Thánh đồ (các câu 1-2a).
1. Phaolô là một vị "sứ đồ". Cụm từ nầy có nghĩa là "một người được sai đi". Các vị sứ đồ đều là những con người đặc biệt được Đức Chúa Trời chọn để làm những phần việc thật đặc biệt. 2.20 chép: Hội thánh đã được "dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri". Một vị sứ đồ lo rao giảng Tin lành, làm ra những dấu kỳ phép lạ, gây dựng cho nhiều nhà lãnh đạo khác và viết ra lời Kinh Thánh.
2. Ông là một sứ đồ "theo ý muốn Đức Chúa Trời". Phaolô không trở thành sứ đồ vì cớ học vấn, nhân cách, tình trạng thuộc linh hay ông dễ nhìn đâu! Đức Chúa Trời đã chọn ông. Thực vậy, ông đã nói trong I Côrinhtô 15.9: "Vì tôi là rất hèn mọn trong các sứ đồ, không đáng gọi là sứ đồ, bởi tôi đã bắt bớ Hội thánh của Đức Chúa Trời".
3. Phaolô viết cho "các thánh đồ" đặc biệt "các thánh đồ ở thành Êphêsô". "Thánh đồ" có nghĩa gì? Họ không phải là một vài người tin kính đâu! Họ không phải là những bức tượng đâu! Họ không nhất thiết là một đội bóng đến từ Louisiana! "Thánh đồ" là hạng người mà đời sống của họ đã được thay đổi bởi Đức Chúa Jêsus Christ. Người nào đã được sanh lại, người ấy là thánh đồ.
4. Từ ngữ ấy có nghĩa là "thánh" hoặc "biệt riêng ra". Khi quí vị được cứu, Đức Chúa Trời đã biệt riêng quí vị ra để hầu việc Ngài và công bố Đấng Christ là thánh vì cớ sự hy sinh của Chúa Jêsus vì ích cho quí vị. Thật là thú vị khi thấy một người đã từng được cứu, Kinh Thánh không còn gọi người ấy là tội nhân nữa, mà luôn luôn gọi người ấy là thánh đồ. Phaolô chỉ đề cập đến đời sống cũ của ông khi ông nói ông là đầu của hạng tội nhân.
5. Phaolô đang mô tả các "thánh đồ" là những kẻ "trung tín". Những tín đồ thật, "các thánh đồ" là hạng người có đặc điểm là "trung tín". Chúng ta không được cứu vì chúng ta là người có đức tính "trung tín", mà đúng hơn, chúng ta "trung tín" vì chúng ta đã thực sự được cứu!
B. Khác biệt giữa sự ở trong Đấng Christ và trong thế gian (câu 2b).
1. Chúng ta cần phải để ý một cụm từ rất đặc biệt ở phần cuối của câu 2: "từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ". Cụm từ nầy đã được sử dụng 15 lần trong sách nầy.
2. Là Cơ đốc nhân, chúng ta đang "ở trong Đấng Christ" chớ không phải ở trong thế gian. Chúng ta có một địa vị công dân thích ứng. Chúng ta có thể sống ở đây trong lúc bây giờ, nhưng chúng ta là công dân của thiên quốc.
C. Sự khác biệt giữa ân điển và bình an (câu 3).
1. Phaolô đưa ra lời chào "ân điển". Điều nầy nhắc cho chúng ta nhớ tới sự nhơn từ của Đức Chúa Trời dành cho kẻ bất xứng như chúng ta. Chúng ta chẳng xứng đáng chi hết, đặc biệt là đặc ân được ở "trong Đấng Christ". Đây là lời chào giữa vòng Cơ đốc nhân dân Ngoại.
2. Ông cũng đưa ra lời chào "bình an" nữa. Nếu "ân điển" là nguồn suối, thì "bình an" là dòng chảy. Chúng ta được "hoà thuận" lại với Đức Chúa Trời và được “sự bình an” từ Đức Chúa Trời. Từ nầy ra từ chữ Hy bá lai shalom. Phaolô chào thăm bạn hữu mình bằng lời chào theo cung cách dân Ngoại và dân Hêbơrơ chỉ ra địa vị của chúng ta trong Chúa Jêsus.
II. Chúng ta được phước (câu 3).
A. Đấng ban ơn phước cho chúng ta – Đức Chúa Trời.
1. "Ngợi khen" ra từ cùng một chữ mà từ đó chúng ta có chữ "eulogy" [ca ngợi]. Chữ nầy có nghĩa là một sứ điệp ngợi ca, tuyên bố sự nhơn đức của một người.
2. Thật là hay khi Phaolô bắt đầu một danh sách các ơn phước của chúng ta bằng cách nói: "Ngợi khen [sát nghĩa, "kỳ diệu thay là"] Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta". Đây là khổ mở đầu trong một bài thánh ca ngợi khen!
3. Chúa Jêsus phán trong Mathiơ 19.17: "Chỉ có một Đấng lành mà thôi”, nghĩa là Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời rất nhơn từ đối với chúng ta, chúng ta nên ngợi khen danh thánh của Ngài. Đây là lý do tại sao chúng ta hát lên những bài hát ngợi khen và các bài thánh ca… tại sao chúng ta cầu nguyện, để ngợi khen Ngài.
B. Tầm cỡ ơn phước của chúng ta – Từng phước hạnh thuộc linh.
1. Đức Chúa Trời luôn luôn làm thoả mãn mọi nhu cần của dân sự Ngài. Có thể chúng ta không giàu có, nhưng mọi nhu cần của chúng ta đã được làm cho thoả mãn. Thi thiên 37.25 chép: "Trước tôi trẻ, rày đã già, nhưng chẳng hề thấy người công bình bị bỏ, hay là dòng dõi người đi ăn-mày". Có người nói: "Ngài cung ứng thiên đàng cho chúng ta, thì chắc chắn Ngài sẽ cung ứng cho chúng ta mọi sự cần thiết trên đường đi tới đó".
2. Trong câu nầy, Đức Chúa Trời hứa không những về các ơn phước vật chất, mà còn hứa "đủ mọi thứ phước thiêng liêng" nữa. Trong mấy câu kế đó, chúng ta sẽ xem xét chi tiết một số "các thứ phước thiêng liêng" ấy. Những ân tứ kỳ diệu nầy không phải là một cơ nghiệp đang trông đợi chúng ta đâu, mà là thuộc về chúng ta trong lúc bây giờ. Chúng ta một ngày kia sẽ không đổi từ gà tây sang chim ưng đâu. Mà đúng hơn, Đức Chúa Trời đã khiến cho chúng ta ra chim ưng ngay lúc bây giờ!
3. Chúng ta thường cầu xin Đức Chúa Trời những điều mà Ngài đã ban cho chúng ta rồi. Chúng ta thường cầu xin Đức Chúa Trời ban cho tình yêu thương, còn Rôma 5.5 chép: "vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta". Chúng ta cầu xin sự bình an, còn Chúa Jêsus đã phán ở Giăng 14.27: "Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi". Chúng ta cầu xin vui mừng và hạnh phúc, còn Chúa Jêsus phán trong Giăng 15.11: "Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta trong các ngươi, và sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn".
4. II Phierơ 1.3 chép: "Quyền phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính". Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi sự chúng ta cần để sống như loài chim ưng. Chúng ta cần phải thôi đừng kêu gộp gộp như loài gà tây nữa và Ngài sẽ tái ấn chứng với thực tại chúng ta là ai ở trong Đấng Christ.
C. Địa điểm các ơn phước của chúng ta – ở các nơi trên trời.
1. Phaolô nói chúng ta hết thảy đều được phước "ở các nơi trên trời". Chỉ ở tại "các nơi trên trời" mà thôi. Tôi không thể tìm gặp chúng ở một chỗ nào khác trên tấm bản đồ địa lý!
2. Có một cách để hiểu rõ câu nầy là hãy hỏi: "Đức Chúa Trời ở đâu?" vì bất cứ nơi nào Đức Chúa Trời hiện diện thì ở đó là thiên đàng. Vì lẽ đó bất cứ đâu chúng ta đi tới, bất cứ việc gì chúng ta làm, chúng ta đang ở một nơi ở trên trời vì Đức Chúa Trời luôn luôn ở cùng chúng ta.
3. Tuy nhiên, có thêm một việc nữa ở đây. Vì chúng ta đang "ở trong Đấng Christ" chúng ta không thuộc về thế gian nầy. Chúng ta thuộc về một nơi khác, ở trên trời nơi Đấng Christ đang ngự. Chúng ta là những con người thiêng liêng đang sống trên mặt đất.
4. 2.6 chép rằng Đức Chúa Trời đã "làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jêsus Christ”. Chúng ta rất thích ứng để sống trong thiên đàng rồi. Đấng Christ đã cho phép chúng ta sinh sống tại nơi ấy. Chúng ta không còn sống như người khách lạ trong một đất xa lạ nữa. Trong lý trí của Đức Chúa Trời mọi sự đã được trọn rồi.
III. Chúng ta đã được chọn (câu 4).
A. Đức Chúa Trời đã chọn chúng ta trong Đấng Christ.
1. Phaolô nói rằng Đức Chúa Trời “đã chọn chúng ta”. Câu nầy và nhiều câu khác đã làm nổ ra cuộc tranh cãi về mặt thần học trải qua nhiều thế kỷ. Người ta không chấp nhận sự thực Đức Chúa Trời “đã chọn chúng ta” vì muốn được cứu, chúng ta phải chọn lấy Ngài. Chúng ta hãy xem qua một số lẽ thật.
2. Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng con người phải chọn Đức Chúa Trời để được cứu. Chúa Jêsus cùng nhiều người khác đã ra lịnh cho dân sự ăn năn và tin cậy nơi Đức Giêhôva. Roma 10.13 chép: "Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu". Mác 16.15 truyền bảo chúng ta "giảng tin lành cho mọi người". Truyền giáo, mọi sự đều nhằm giúp cho người ta biết chọn lấy Đấng Christ.
3. Đồng thời, Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng Đức Chúa Trời trước hết đã chọn lấy chúng ta. Chúa Jêsus phán trong Giăng 6.44: "Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta". Quí vị có bao giờ nhìn thấy những cục nam châm điện thật lớn trong mấy cái sân được tận dụng để chứa đồ phế thải chưa? Họ sử dụng chúng để nhặt lấy và sắp xếp các thứ kim loại. Đức Chúa Trời đang chọn lựa dân sự, tuyển nhận dân sự, đang kéo người ta đến theo cùng một kiểu cách ấy. Thực ra, chúng ta đang nhìn thấy sự chọn lựa đó xuyên suốt cả Kinh Thánh.
a. Đức Chúa Trời đã chọn dân Israel trên cả các giống dân khác. Êsai 45.4 chép: “Vì cớ Gia-cốp, tôi tớ ta, và Y-sơ-ra-ên, kẻ lựa chọn của ta, nên ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi, dầu ngươi không biết ta". Phục truyền luật lệ ký 7.7-8 chép: "Đức Giê-hô-va tríu mến và chọn lấy các ngươi, chẳng phải vì các ngươi đông hơn mọi dân khác đâu; thật số các ngươi là ít hơn những dân khác. Nhưng ấy vì Đức Giê-hô-va thương yêu các ngươi".
b. Thiên sứ của Đức Chúa Trời đã được chọn. I Timôthê 5.21 gọi họ là "các thiên sứ được chọn". I Phierơ 2.6 chép rằng Chúa Jêsus đã được "chọn lựa". Giăng 15.16 chỉ ra rằng các sứ đồ đã không chọn Chúa Jêsus, mà Ngài đã chọn họ.
c. Dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay, thân thể của Đấng Christ đã được chọn, họ được Đức Chúa Trời chọn lựa. II Timôthê 1.9 chép Ngài đã "đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bởi sự kêu gọi thánh, chẳng phải theo việc làm chúng ta, bèn là theo ý riêng Ngài chỉ định, theo ân điển đã ban cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ từ trước muôn đời vô cùng".
d. Công Vụ các Sứ Đồ 13.48 chép: "phàm những kẻ đã được định sẵn cho sự sống đời đời, đều tin theo".
e. Phaolô viết trong II Timôthê 2.10: "Vậy nên, ta vì cớ những người được chọn mà chịu hết mọi sự, hầu cho họ cũng được sự cứu trong Đức Chúa Jêsus Christ, với sự vinh hiển đời đời".
f. Phaolô dâng lời cảm tạ vì sự lựa chọn trong II Têsalônica 2.13: "Hỡi anh em yêu dấu của Chúa, còn như chúng tôi, phải vì anh em tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi, vì vừa lúc ban đầu, Ngài đã chọn anh em bởi sự nên thánh của Thánh Linh, và bởi tin lẽ thật, đặng ban sự cứu rỗi cho anh em".
4. Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời đã lựa chọn trong sự khôn ngoan thông sáng những kẻ nào sẽ được cứu và Kinh Thánh dạy rằng con người phải chọn Đức Chúa Trời để được cứu rỗi. Đây là lẽ mầu nhiệm quan trọng mà chúng ta phải tiếp nhận bởi đức tin.
B. Đức Chúa Trời lựa chọn chúng ta từ cõi quá khứ đời đời.
1. Hãy chú ý rằng "Ngài đã chọn chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ từ trước muôn đời vô cùng". Nói như thế có nghĩa là trước cả Sáng thế ký 1.1, trước khi có muôn vật chỉ có Đức Chúa Trời, Ngài biết rõ quí vị và tôi theo cách riêng. Ngài nhìn thấy cả thời điểm mà chúng ta sẽ chào đời nữa kia. Ngài biết rõ chúng ta sẽ lại sanh vào trong vương quốc của Ngài. Ngài biết rõ chúng ta sẽ đồng trị với Ngài cho đến đời đời vô cùng!
2. Quí vị sẽ thắc mắc: "Thưa Mục sư, sẽ ra sao nếu tôi không được chọn?" Cho phép tôi hỏi lại quí vị nhé: "Quí vị có muốn mình được cứu không? Quí vị có muốn một đời sống làm đẹp lòng Đức Chúa Trời không? Nếu muốn, đừng lo lắng mà chi. Quí vị đã được chọn. Nói khác đi, quí vị sẽ không có những ao ước như thế nầy”.
3. 1 Giăng 4.19 chép: "Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước".
C. Đức Chúa Trời chọn chúng ta để làm cho nên thánh.
1. Tại sao Đức Chúa Trời chọn chúng ta? Đâu là mục đích? "… đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời". Rõ ràng câu nầy không có ý nói tới cách sống đạo của chúng ta, mà nói tới địa vị của chúng ta.
2. Có người xem lẽ đạo nói tới sự lựa chọn như một miễn trừ không làm theo những gì chúng ta muốn làm. Sự thực cho thấy Đức Chúa Trời không chọn chúng ta để giữ mãi chúng ta trong tội lỗi. Ngài chọn chúng ta để theo đuổi một cung cách sống thánh khiết, không chỗ trách được. Mặc dù chúng ta không luôn luôn đạt tới cung cách sống ấy, một Cơ đốc nhân thật mong muốn một đời sống nên thánh và không chỗ trách được. Kent Hughes đã viết:
“Nếu đời sống quí vị được đánh dấu bằng một thứ tội lỗi nào đó nhìn biết được, trông quí vị chẳng giống với một Cơ đốc nhân chút nào. Nếu có ấp ủ tư tưởng nào như thù hận, nếu quí vị quyết không tha thứ, quí vị không thể là một tín đồ thật được đâu. Nếu quí vị là một kẻ chuộng theo vật chất đời nầy, là kẻ thấy rằng những vui thú quan trọng nhất của mình là bê tha – khoác lấy trên thân thể quí vị với loại y phục đắt tiền, tư tưởng của quí vị xu hướng về nhà cửa, xe cộ, ăn mặc và tiện nghi – quí vị chưa phải là một Cơ đốc nhân đâu. Nếu quí vị là một con người thích trác táng, là kẻ ưa thích chuyện khiêu dâm, nếu lý trí quí vị là nhà thổ 24 giờ – và quí vị tưởng là không sao – chắc chắn quí vị chưa phải là một Cơ đốc nhân, cho dù có nhiều lần quí vị đã "chạy giỏi" và môi miệng đầy những lời lẽ truyền đạo. Sự lựa chọn kết quả trong sự nên thánh, còn quá trình ấy bắt đầu từ lúc bây giờ (Hughes, pp.25-26).
IV. Chúng ta được trở nên con nuôi Ngài (các câu 4d-5).
A. Chúng ta được trở nên con nuôi vì cớ tình yêu thương của Ngài (câu 4d).
1. Không những Ngài đã chọn chúng ta, Ngài còn "định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi Ngài". Xuyên suốt cả Cựu Ước, trải qua 39 sách của nó, Đức Chúa Trời chỉ được gọi là "Cha" có 14 lần và mỗi lần từ nầy được sử dụng khi nhắc tới cả dân tộc, chớ không phải mỗi cá nhân. Tuy nhiên, trong các sách Tin lành, Chúa Jêsus gọi Ngài là “Cha" khoảng 60 lần, ngoại lệ duy nhứt, ấy là lời lẽ của Ngài từ thập tự giá trưng dẫn Thi thiên 22.
2. Khi Chúa Jêsus hiện đến, Ngài sử dụng một từ ngữ duy nhứt nói tới "Cha", một từ ngữ rất quen thuộc. Đây là một chữ Aram Abba. Chữ nầy có nghĩa là "Bố" hay "Ba".
3. Giờ đây hãy chú ý cụm từ sau cùng [theo bảng Kinh Thánh Anh ngữ] trong câu 4, "bởi sự thương yêu". Cụm từ nầy nằm ở phần đầu của câu 5 theo bảng Kinh Thánh Việt ngữ. Chính "bởi sự thương yêu" nên Ngài mới cho chúng ta trở nên con nuôi Ngài.
4. Chính bởi hành động yêu thương nên Đức Chúa Trời "trước khi sáng thế" đã nhìn xuống qua thời gian và đã "chọn chúng ta" làm dân sự đặc biệt của Ngài. Chính bởi tình yêu thương mà Ngài mới quyết định khiến chúng ta trở nên con nuôi Ngài, đưa vào trong gia đình đời đời của Ngài và mời chúng ta gọi Ngài là Abba, "Cha" (2.4-5).
B. Chúng ta được trở nên con nuôi Ngài qua chương trình đã định trước của Ngài (câu 5a).
1. Đức Chúa Trời "đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài". Không những Ngài chọn chúng ta từ cõi quá khứ đời đời, mà Ngài còn định trước vị trí của chúng ta trong gia đình của Ngài.
Một bà mẹ trẻ đã viết: Tôi còn nán lại với bố mẹ tôi trong mấy ngày sau khi tôi sinh đứa con đầu lòng. Trưa hôm đó, tôi trao đổi với mẹ tôi rằng thật là đáng ngạc nhiên nếu đứa con của tôi có tóc màu sậm khi cả bố và mẹ nó đều có tóc màu vàng hoe. Bà nói: "Ừ, bố của con có mái tóc màu đen đấy". "Nhưng, Mẹ ơi, không được đâu vì con là con nuôi mà". Với nụ cười hơi gượng gạo, bà thốt ra câu nói kỳ diệu nhất mà tôi đã từng được nghe: "Mẹ hay quên quá".
2. Bố mẹ nuôi thường đạt tới mức yêu thương con cái của mình như con trai hay con gái ruột ở một mức độ nào đó thôi. Họ có thể cung ứng cho một đứa con nuôi từng góc cạnh của đời sống gia đình, các nguồn tài lực, giúp đỡ và cơ nghiệp. Tuy nhiên, họ không thể cung ứng cho một đứa con nuôi bổn tánh đặc biệt của họ được.
3. Dầu vậy, khi Đức Chúa Trời khiến cho chúng ta trở nên con nuôi Ngài theo ý định trước của Ngài, Ngài ban cho chúng ta không những các ơn phước thiêng liêng, Ngài còn ban cho chúng ta bổn tánh riêng của Ngài nữa.
C. Chúng ta được trở nên con nuôi Ngài theo ý tốt Ngài (câu 5b).
1. Đâu là mục tiêu của Đức Chúa Trời khi cho phép chúng ta trở nên con nuôi Ngài? Câu 5 nói, ấy là "theo ý tốt của Ngài". Đưa chúng ta vào trong gia đình của Ngài, điều nầy làm đẹp lòng Ngài.
Tôi có hai đứa con còn nhỏ, chúng chẳng có ý niệm gì về mọi sự mà tôi và mẹ chúng đang làm cho chúng. Chúng không hiểu được sự cực nhọc của những đêm không ngủ, các lần thay tả lót, làm vệ sinh sạch sẽ cho chúng, lái xe đưa chúng đi vòng vòng chơi hay bất kỳ chức năng nào khác nữa của sự làm cha mẹ. Tại sao chúng ta làm những việc nầy? Vì con cái chúng ta rất quí báu. Chúng mang lấy hình ảnh của chúng ta. Máu của chúng ta đang chảy trong các huyết mạch của chúng. Chúng ta yêu thương con cái mình và chúng đem lại sự vui vẻ cho chúng ta. Cũng một thể ấy, chúng ta không thể hiểu được hết mọi sự mà Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta đâu. Tuy nhiên, khi chúng ta nắm bắt được một số tình yêu thương và khoái lạc của Ngài nơi chúng ta, chúng ta sẽ biết ơn cho đến đời đời.
2. Đức Chúa Trời cho phép chúng ta làm con nuôi, Ngài đưa chúng ta vào trong gia đình của Ngài vì chúng ta dâng sự khoái lạc cho lòng Ngài. Có phải đời sống quí vị đang làm đẹp lòng Đức Chúa Trời không? Dấu hiệu của một Cơ đốc nhân trưởng thành là sự hiểu biết bổn tánh làm Cha của Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta.
D. Chúng ta được làm con nuôi để khen ngợi Ngài (câu 6). Sự chúng ta làm con nuôi để "khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài". Sự thực cho thấy rằng chúng ta chẳng đáng được gì cả, nhưng Đức Chúa Trời đã gia ơn cho chúng ta với "đủ mọi thứ phước thiêng liêng" đem lại sự khen ngợi cho danh của Ngài.
Hết thảy mọi sự nầy là thực, dù chúng ta biết hay không. Giống như địa cầu có hình tròn cho dù trông nó như bằng phẳng vậy, Đức Chúa Trời đã biến từng tín đồ thành chim ưng, dù người ấy đang sống giống như gà tây.
***

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

NHỮNG ĐIỀU LỄ PHỤC SINH CUNG ỨNG CHO CHÚNG TA



NHỮNG ĐIỀU LỄ PHỤC SINH CUNG ỨNG CHO CHÚNG TA

Kinh Thánh: Roma 1.1–4, 4.24–25, và 8.11, đặc biệt 1.3–4: “bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép”.
Roma 1.1-4
“Phao-lô, tôi tớ Đức Chúa Trời, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời, là Tin Lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh Thánh, về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra, theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta”.

Roma 4.24-25
“nhưng cũng vì chúng ta nữa, đức tin sự được kể là công bình cho chúng ta, là kẻ tin Đấng đã làm cho Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, sống lại từ trong kẻ chết, Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta”.

Roma 8.11
“Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống”.

Phần giới thiệu: Ngay sau Đệ II Thế Chiến, một vị lãnh đạo hệ phái Giám Lý ở Luân đôn có tên là William Sangster đã bị nhiễm một chứng bịnh dần dần làm cho ông bị tê liệt. Thậm chí những dây phát âm của ông cũng bị liệt luôn. Vào ngày Chúa nhật Lễ Phục sinh — lễ Phục sinh sau cùng của ông trên đất — con gái ông đến thăm viếng. Sử dụng những ngón tay đã bị tê cứng, ông ghi vội một sứ điệp: “Thật là khủng khiếp làm sao khi tỉnh dậy vào ngày Lễ Phục sinh mà không hô to lên được: ‘Ngài đã sống lại rồi!’” Kế đó, dừng lại nghỉ một chút, ông nói thêm: “Còn tệ hại hơn nữa khi có giọng nói được mà không muốn hô to lên”. Hết thảy chúng ta đều cảm nhận giống như đang hô to lên hôm nay vì đây là Lễ Phục Sinh, và Đấng Christ đã sống lại từ kẻ chết. Nhưng điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với chúng ta ở đây, ngay bây giờ, trong thế kỷ thứ 21 nầy? Câu trả lời nằm trong sách Rôma, câu nói quả quyết của Phaolô chỉ về lẽ thật Cơ đốc. Ba lần trong sách Rôma sứ đồ Phaolô kể ra các hàm ý quan trọng của Lễ Phục Sinh.

1. Lễ Phục sinh cung ứng cho chúng ta sự khẳng định về lai lịch của Đấng Christ (Roma 1.1–2). Phaolô bắt đầu thư tín của mình viết cho người thành Rôma bằng một sự nhắc nhớ Lễ Phục sinh: “Phao-lô, …để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời, là Tin Lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh Thánh, về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra, theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta”. Làm sao chúng ta biết Đức Chúa Giêxu Christ thực sự là một con người — một con người? Ngài ra từ dòng dõi của Vua David. Làm sao chúng ta biết Ngài thực sự là thần linh — Đức Chúa Trời? Sự sống lại xác minh điều đó.
Nhiều người có sự hiểu sai những vị sáng lập ra các tôn giáo khác trên thế giới đều xưng mình là thần linh, nhưng thực không phải vậy đâu. Ápraham và Môise, những vị sáng lập ra Do thái giáo, đã không xưng nhận mình là Đức Chúa Trời. Mohammed, nhà sáng lập Hồi giáo, đã không xưng mình là Allah. Đức Phật không xưng mình là Đức Chúa Trời, và Zoroaster cũng vậy. Giữa vòng các vị lãnh đạo nhiều thứ tôn giáo mà ai cũng biết trên thế giới, chỉ có Chúa Giêxu tự xưng nhận Ngài chính là Đức Chúa Trời. Nhưng Ngài đã đưa xác minh nào? Nếu một vị cảnh sát gõ cửa nhà quí vị lúc nửa đêm, tôi phải buộc ông ấy trình giấy tờ hành sự trước khi cho ông ta vào nhà. Sở dĩ phải làm như vậy là vì có nhiều người tự nhận mình là thế nầy thế kia, song họ không thực sự là thế đó. Đấng Christ đã tự nhận mình là Đức Chúa Trời, nhưng đâu là uỷ nhiệm thư của Ngài? Ngài phán: “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại!” (Giăng 2.19). Ngài phán: “Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm” (Mathiơ 12.40). Ngài dạy rằng Con Người phải chịu khổ nhiều điều, bị chối bỏ và bị giết, và sau ba ngày phải sống lại (Mác 8.31). Lễ Phục Sinh đã làm ứng nghiệm những lời hứa đó và đã khẳng định những lời Ngài tự xưng nhận về thần tính của Ngài.
2. Lễ Phục sinh cung ứng cho chúng ta sự huỷ bỏ án phạt dành cho tội lỗi (Rôma 4.24–25). “nhưng cũng vì chúng ta nữa, đức tin sự được kể là công bình cho chúng ta, là kẻ tin Đấng đã làm cho Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, sống lại từ trong kẻ chết, Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta”. Theo phần chú giải Kinh Thánh cho biết: “Sự chết của Đấng Christ là Chiên Con của lễ của Đức Chúa Trời (Giăng 1.29) đã bị nộp làm của lễ trả giá chuộc tội cho mọi người (Roma 3.24) hầu cho Đức Chúa Trời sẽ rời rộng tha thứ cho những ai chịu đáp ứng bởi đức tin đối với điều khoản đó. Sự sống lại của Đấng Christ là phần minh chứng (hay chứng tỏ và xác minh) sự Đức Chúa Trời chấp nhận của lễ của Chúa Giêxu (Roma 1.4). Vì Ngài sống, Đức Chúa Trời có thể công nhận sự công bình mà Ngài cung ứng cho vào tài khoản của từng người nào chịu đáp ứng bằng đức tin đối với sự cung hiến đó”.

3. Lễ Phục sinh cung cứng cho chúng ta phần tán dương sự sống đời đời (Roma 8.11). “Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống” (Cũng xem Roma 6.1–9). Những ai nhận biết và tin theo Đấng Christ đều có hy vọng chắc chắn về một sự sống lại của chính bản thân mình, về sự sống đời đời. Robert Ingersoll, nhà chỉ trích phê bình, đã từ chối không chịu tin vào sự sống lại, nhưng trước quan tài của anh mình, ông ta đã tự biện bạch về phần ở bên kia mồ mả. Ông ta nói: “Chúng ta kêu la lớn tiếng, và câu trả lời duy nhất là tiếng kêu thống khổ của chúng ta vang dội lại”. Còn Chúa Giêxu, Ngài phán: “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?” (Giăng 11.25–26).

Phần kết luận: Lễ Phục Sinh cung ứng cho chúng ta mọi sự mà tâm trí chúng ta đang có cần — sự khẳng định về lai lịch của Đấng Christ, sự huỷ bỏ án phạt của tội lỗi, và sự tán dương sự sống đời đời. Mọi sự ấy thuộc về quí vị để nắm lấy, cho người chịu tin, cho người chịu tiếp nhận. Quí vị có chịu đến với Đấng Christ hôm nay trong sự ngợi khen, trong tình yêu thương và trong sự tôn kính chăng?

Sự sống lại của Đấng Christ và Sự cứu rỗi của chúng ta



Sự sống lại của Đấng Christ và Sự cứu rỗi của chúng ta
I Côrinhtô 15.1-5, 12-20


Phần giới thiệu:
Nếu không phải vì sự thật Đức Chúa Giêxu Christ đã chiến thắng sự chết và mồ mả, chúng ta sẽ không có mặt ở đây hôm nay trong buổi thờ phượng nầy. Cơ đốc giáo là đức tin xưng nhận có một Cứu Chúa hằng sống. Các môn đồ của Ngài nhóm lại đều đặn với nhau để học hỏi Kinh Thánh, cầu nguyện, và thờ lạy hầu kinh nghiệm sự hiện diện hằng sống của Ngài ở giữa họ (Mathiơ 18.20).

Tin lành không những là lời khuyên dạy làm lành; Tin lành còn là những tin tức tốt lành nữa. Đó là những tin tức tốt lành nói về Đức Chúa Trời cho hạng tội nhân khắp mọi nơi đều biết. Bỏ qua điều nầy là bỏ qua trọng tâm của Tin lành. Sự sống lại của Đức Chúa Giêxu Christ không những làm cho sự cứu rỗi của chúng ta ra khả thi, mà sự sống lại ấy còn làm cho ân cứu ấy ra chắc chắn nữa. Hêbơrơ 7.25 cho chúng ta biết rằng Chúa Giêxu: “Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy”.

Câu nói cảm động nầy khẳng định cả khả năng và quyết định của Đấng Christ hằng sống, Ngài cứu toàn vẹn những ai bởi Ngài mà chạy đến với Đức Chúa Trời. Tính cách chắc thật nầy dựa trên sự thật Ngài đã đắc thắng đối với tội lỗi, sự chết và mồ mả. Ngài sẽ ngự đời đời làm Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm hằng sống của chúng ta trước sự hiện diện của Đức Chúa Cha. Tấn sĩ Robert G. Lee, trong nhiều năm trời làm Mục sư chủ toạ Hội thánh Báptít Bellevue ở Memphis, Tennessee, đã giảng một bài mà ông đặt đề tựa là “Sự dối trá đen tối nhất của thế gian”. Sự dối trá đen tối nầy ... ấy là Đức Chúa Giêxu Christ không sống lại từ kẻ chết ... đã được bàn bạc trong thơ tín của Phaolô gửi cho tín hữu thành Côrinhtô.

Nếu Đấng Christ không sống lại, Hội thánh chẳng có một sứ điệp nào cho thế giới bị hư mất.

Nếu Đấng Christ không sống lại, Cơ đốc nhân không có gì để tin theo.

Nếu Đấng Christ không sống lại, các sứ đồ và hết thảy những nhà truyền đạo đã rao giảng không đúng về Đức Chúa Trời đã làm cho Đức Chúa Giêxu Christ sống lại từ kẻ chết.

Nếu Đấng Christ không sống lại, đức tin của quí vị chỉ là một cái vỏ vô dụng, trống không. Có bao giờ quí vị nhặt được một quả hồ đào hay quả mai châu [a pecan or hickory] rồi tưởng rằng ruột của nó sẽ dầy cơm ngon ngọt, song chỉ thấy đó là một cái vỏ trống trơn không? Đấy là một bức tranh nói tới đức tin của quí vị nếu Đức Chúa Giêxu Christ đã không sống lại từ kẻ chết.

Nếu Đấng Christ không sống lại, quí vị vẫn còn phạm tội và gánh chịu sự xét đoán, là hậu quả của tội lỗi.

Nếu Đấng Christ không sống lại, thì những tín đồ nào đã chết với đức tin nơi Đức Chúa Giêxu Christ sẽ bị hư mất. Họ đã qua đi đời đời, và chúng ta chỉ phung phí hơi thở của mình mà thôi.
Nếu Đấng Christ không sống lại, chúng ta là loại tạo vật buồn bã vì chúng ta đã kiến thiết đời sống của mình trên ảo ảnh.

Cảm tạ Đức Chúa Trời vì “Sự dối trá đen tối nhất của thế gian” đúng là một sự giả dối, vì sự thật cho thấy rằng Đức Chúa Giêxu Christ đã vinh hiển sống lại từ kẻ chết. Amen!

Ngôi mộ trống đã công bố cho các môn đồ của Chúa Giêxu, các cấp lãnh đạo người Do thái, và giới cầm quyền người La mã biết điều chi đã xảy ra cho thi thể đã được người ta đem chôn cất ở đó. Chính sự hiện ra nhiều lần của Đức Chúa Giêxu Christ đã làm biến đổi toàn vẹn nhiều tấm lòng và đời sống của các sứ đồ. Họ trở thành hạng truyền đạo nóng cháy của những tin tức tốt lành nói rằng án phạt của tội lỗi đã được trả thay, sự chết đã được thắng hơn, và Đức Chúa Giêxu Christ, Ngài hiện hằng sống. Đấng Christ phục sinh đã hiện ra cho các môn đồ Ngài thấy ít nhứt là 10 lần khác nhau. Lẽ thật rung động nói tới sự sống lại của Ngài đã cung ứng cho họ một sứ điệp đầy hy vọng cho một thế giới đang đối mặt với tuyệt vọng.

Giống như những phím bấm trên hàng ngàn cây kèn bạc, các vị sứ đồ đã đi ra để rao giảng Đức Chúa Giêxu Christ hằng sống. Đây không phải là điều bịa đặt trong sự tưởng tượng của họ. Đây chẳng phải là ảo ảnh mà họ đang vất vả vì nó. Đây chẳng là ảo tưởng mà vì đó họ đã chịu chết đâu!

Sự Sống Lại Minh Chứng Chúa Giêxu Ở Nazarét Là Con Độc Sanh Của Đức Chúa Trời.
Trước khi có sự sống lại của Ngài, các môn đồ đã tin Chúa Giêxu chính là Con của Đức Chúa Trời. Sách Rôma, chương 1, và câu 4 tuyên bố Ngài là “Con Đức Chúa Trời có quyền phép”. Theo sau sự sống lại của Ngài và nhiều lần Ngài hiện ra cho họ thấy, họ vốn biết Ngài chính là Con Đức Chúa Trời tới một cấp độ họ đã xếp hàng một phó thác đời sống của họ để nói cho nhiều người khác biết về ơn chửng cứu của Ngài. Sự sống lại của Chúa Giêxu đã minh chứng rằng sự Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá là một sự mặc khải của tình yêu thiêng liêng dành cho hạng tội nhân.

Khi Chúa Giêxu bị đóng đinh trên thập tự giá, các sứ đồ đã xem điều nầy là một tai vạ cá nhân. Đối với Chúa Giêxu, đây là một sự sĩ nhục công khai. Đối với họ, đây là một sự thất bại về mặt chính trị.

Chỉ qua cánh cửa của ngôi mộ trống, từ đó Chúa Giêxu đã sống lại từ kẻ chết cho thấy rằng sự chết của Đức Chúa Con trên thập tự giá là một sự mặc khải của tình yêu cao sâu dành cho hạng tội nhân.

Sự Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã tỏ ra tình yêu vô hạn của Đức Chúa Trời dành cho hạng tội nhân bất xứng. Tình yêu nầy không phải là thứ mà chúng ta có thể mua sắm hay kiếm được. Đây là ân ban miễn phí của Đức Chúa Trời. Vì vậy nhiều người cần phải được nghe thấy về sự bao la cả thể của tình yêu nầy.

Trong quyển “Đã được viết ra bằng máu”, Robert Coleman kể lại một câu chuyện nói tới một cậu bé, em gái của nó cần một sự truyền máu. Bác sĩ giải thích rằng nó mắc phải cùng chứng bịnh mà cậu bé kia đã qua khỏi hai năm trước. Cơ hội duy nhứt của nó để được phục hồi là một sự truyền máu từ một người đã qua khỏi, đã thắng hơn cơn bịnh đó. Từ khi 2 đứa trẻ đều có chung nhóm máu, cậu bé kia là người hiến máu rất lý tưởng.

Vị bác sĩ hỏi: “Cháu có chịu truyền máu cho Mary không?” Johnny ngần ngừ. Đôi môi của nó bắt đầu run rẩy. Kế đó, nó mĩm cười nói: “Thưa, bằng lòng ạ, vì em của cháu”. Không bao lâu sau đó, hai đứa trẻ đều được đưa vào trong phòng của bịnh viện … Mary, ốm yếu và xanh xao; còn Johnny, cường tráng và mạnh khoẻ. Chúng chẳng nói gì với nhau, nhưng khi ánh mắt chúng giao nhau, Johnny đã cười toe toét. Khi y tá ấn mũi kim vào cánh tay của nó, nụ cười của Johnny héo đi ngay. Nó nhìn thấy máu chảy ngang qua ống dẫn. Với thử thách gần như đã qua đi, giọng nói của nó, sang sảng phá vỡ sự im lặng: “Thưa bác sĩ, con sẽ chết chăng?”

Chỉ khi ấy vị bác sĩ mới biết lý do tại sao Johnny đã ngần ngừ, tại sao môi nó đã run lên khi nó đồng ý cho truyền máu. Nó tưởng rằng khi truyền máu cho em gái nó, có nghĩa là nó sẽ mất mạng. Trong khoảnh khắc, nó đưa ra quyết định quan trọng của mình. Không may, là Johnny đã không phải chết để cứu lấy em gái của nó. Tuy nhiên, đối với mỗi một người chúng ta, đang có một tình trạng còn trầm trọng hơn cả tình trạng của Mary nữa, và tình trạng ấy đòi hỏi Chúa Giêxu phải phó không những huyết của Ngài mà còn phải phó cả mạng sống của Ngài nữa.

Sự Sống Lại Cho Phép Chúa Giêxu Cầu Thay Cho Chúng Ta Trong Sự Hiện Diện Của Đức Chúa Trời.
Giăng, vị sứ đồ yêu dấu đã nói tới sự thật nầy khi ông viết để khích lệ con cái thuộc linh của ông, để họ tránh đừng sống trong tội lỗi nữa. Ông nói: “Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con những điều nầy, hầu cho các con khỏi phạm tội. Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Đấng công bình. Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Giăng 2.1-2).

Tác giả thơ Hêbơrơ, viết về Đấng Christ là một đấng trung bảo, Ngài hành động vì ích cho chúng ta. “Vả Đấng Christ chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời” (Hêbơrơ 9.24).
Tác giả xác quyết rằng Đấng Christ đã phó chính mình Ngài và tiếp tục phó sự chết có tính cách hy sinh của Ngài làm một sự chuộc tội cho những ai tiếp nhận Ngài làm Chúa và Cứu Chúa. “Ấy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Giêxu Christ một lần đủ cả.…Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời” (Hêbơrơ 10.10,14).

Ấy là bởi sự sống lại từ kẻ chết rất vinh hiển của Đấng Christ mà chức vụ cầu thay của Ngài mới thực sự khả thi. Ngài đã trở nên Cứu Chúa của chúng ta, Ngài cứu chúng ta ra khỏi án phạt của tội lỗi, ra khỏi thói quen của tội lỗi, và chắc chắn ra khỏi sự hiện diện của tội lỗi dựa theo sự thật Ngài là một Cứu Chúa hằng sống.
Sự Sống Lại Cung Ứng Cho Người Tín Đồ Một Chúa Hằng Sống Và Một Bạn Đồng Hành Trên Con Đường Sự Sống.

Đức Chúa Giêxu Christ còn hơn cả ký ức về một Đấng từng sinh sống trong quá khứ. Trong 40 ngày giữa sự sống lại và sự thăng thiên của Ngài, Ngài đã cung ứng cho các môn đồ nhiều minh chứng không thể tranh cãi được cho thấy Ngài đã chiến thắng sự chết và mồ mả bởi “tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Đức Chúa Trời” (Công Vụ các Sứ Đồ 1.3).

Ngài khích lệ họ nên chờ đợi một ân tứ quí báu đến từ Đức Chúa Cha “Ngài dặn rằng đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở đó chờ điều Cha đã hứa, là điều các ngươi đã nghe ta nói…nhưng trong ít ngày, các ngươi sẽ chịu phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” (Công Vụ các Sứ Đồ 1.4-5).

Trong tin lành nói về Đức Thánh Linh, như Tin lành Giăng đã nói, Chúa Giêxu đã hứa ở một thời điểm khi các môn đồ không hiểu nổi lời phán dạy của Ngài: “Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi” (Giăng 14.18). Ngài phải làm ứng nghiệm lời hứa nầy vào ngày Lễ Ngũ Tuần khi Đức Thánh Linh sẽ ngự đến để ở với Hội thánh.

Với tác giả của sách Tin lành Giăng, chúng ta sẽ nghe Chúa Giêxu phán: “Còn ngươi, hãy theo ta” (Giăng 21.22).

Với các môn đồ đang có mặt trên đỉnh núi, chúng ta sẽ nghe Chúa Giêxu đưa ra một sự ủy nhiệm thiêng liêng. Ngài truyền cho họ phải “đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi” (Mathiơ 28.19-20).

Chúng ta sẽ nghe Chúa Giêxu đưa ra một lời hứa với những người đã dâng mình trong sự vâng phục theo mạng lịnh của Ngài. Ngài hứa sự hiện diện của Ngài sẽ là ở bên trong, Ngài phán: “và nầy, ta thường ở với các ngươi cho đến tận thế” (Mathiơ 28.20).
Phần kết luận:
Phải, Đức Chúa Giêxu Christ thật vinh hiển hằng sống. Ngài đang đứng tại cửa lòng quí vị sốt sắng muốn đem nhiều phước hạnh của Đức Chúa Trời vào trong đời sống của quí vị. Hãy mời Ngài ngự vào đi. Hãy để Ngài cùng đi với quí vị dọc theo con đường sự sống. Hãy đồng đi với Ngài khi Ngài hướng dẫn quí vị vào sự phục vụ có ý nghĩa, sống động. Đức Chúa Giêxu Christ, Ngài hằng sống! Hallelujah!
***

BÓNG TỐI TĂM CỦA ĐỒI GÔGÔTHA



BÓNG TỐI TĂM CỦA ĐỒI GÔGÔTHA
Luca 23.44-45

I. PHẦN GIỚI THIỆU (Luca 23.44, 45) – Tôi muốn tập trung vào bóng tối tăm của sự đóng đinh trên thập tự giá hôm nay, vì điều nầy giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về sự sống lại càng rõ ràng hơn.
A. Mô tả bối cảnh
1. Chúa Giêxu đã bị treo trên thập tự giá ba giờ đồng hồ rồi
a. Cuối buổi chiều ngày thứ Ba, Ngài đã bị một đoàn dân đông bắt dẫn tù, và qua 7 cuộc thử thách cho tới 8 giờ sáng ngày thứ Tư
b. Đến 9 giờ, Chúa Giêxu bị dẫn qua thành phố trước một đoàn dân đang sôi giận và châm chích, họ khạc nhổ trên Ngài khi Ngài mang cây thập tự đi ngang qua thành phố
c. Trong 6 tiếng đồng hồ kế đó, Ngài đã bị treo trên thập tự giá đó, rồi chết
2. Nhưng có một việc xảy ra – ngay giữa toàn bộ sự cố - lúc giữa trưa, một bóng tối tăm xảy đến trên cả đất – đã được ghi lại trong lịch sử
B. Đây không phải là nhựt thực đâu!
1. Bóng tối tăm cứ tiếp tục trong ba giờ đồng hồ liền
a. Buổi nhựt thực dài nhất có thể kết thúc trong vài phút
b. Điều nầy diễn ra trong Lễ Vượt Qua, là Lễ luôn luôn được tuân giữ vào ngày rằm, không thể có nhựt thực được
2. Hãy chú ý không những đây là một bóng tối, mà còn là “mặt trời tự nó bị tối đi”.
a. Có một sự sai hỏng về ánh sáng của nó
b. Bóng tối tăm ấy không do thiếu vắng mặt trời mà có đâu, giống như buổi tối đâu!
c. Đây là bóng tối tăm lúc giữa trưa, một bóng tối trong chỗ của mặt trời
C. Bóng tối tăm không xảy đến theo một quá trình tiệm tiến
1. Trong phân đoạn Kinh thánh, đây là bóng tối đã bắt đầu vào giờ thứ sáu trong ngày (giữa trưa)
2. Bóng tối qua đi thình lình vào giờ thứ chín (ba giờ trưa)
3. Hãy chú ý, bóng tối tăm được kết với sự thương khó của Chúa Giêxu
D. Trước khi có bóng tối tăm nầy, đồi Gô-gô-tha là nơi Chúa Giêxu bị đóng đinh trên cây thập tự là một nơi rất bận rộn (Mác 15.22-32)
1. Ngọn đồi nằm ngay phía ngoài thành Jerusalem, và các đoàn dân đông đi ngang qua đó khi vào ra thành phố – giống như một siêu thị mua bán nhộn nhịp vào trước ngày Lễ Giáng Sinh!
2. Chính Chúa Giêxu cũng rất bận rộn trên thập tự giá đó
a. Vật vả với từng hơi thở, để rồi…
b. Cầu thay cho những kẻ đã đóng đinh Ngài (Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết …)
c. Trả lời cho tiếng cầu xin sự thương xót của tên cướp
d. Biết chắc Mẹ Ngài được sứ đồ Giăng chăm sóc thay
3. Mấy tên lính bận quan sát và chế giễu Ngài, rồi chia nhau áo xống Ngài khi bóc thăm được phần
4. Thầy tế lễ thượng phẩm bận chỉ trích bảng mô tả của Philát gắn trên cây thập tự (bảng nầy ghi: Vua dân Giuđa)
5. Những kẻ nhạo báng đang bận lúc lắc cái đầu của họ, họ mắng nhiếc chửi rủa Ngài giống như bầy chó vậy: “NẾU ngươi là Đấng Christ, sao không xuống khỏi đó đi?”.
6. Vì vậy, dòng tội lỗi cứ tuôn chảy quanh thập tự giá không ai kiểm tra được
E. Nhưng, trong ba giờ tăm tối ấy, chỉ có sự im lặng mà thôi – cả thế gian dường như đứng lặng yên (Mác 15.23)!
1. Ở đó, Đấng Christ đã im lặng, giống như một sự kinh khủng lắm đang giáng trên linh hồn Ngài.
2. Không một lời mắng nhiếc hay lăng nhục nào xổ ra cho Đấng Christ nữa
3. Khi dân chúng nếm trải bóng tối tăm đó, có một sự run rẩy sợ hãi về sự huyền nhiệm của sự đóng đinh trên thập tự giá nầy – Mathiơ 27.45, 54
II. MỘT LỜI GIẢI THÍCH VỀ BÓNG TỐI TĂM
A. Đây là một phép la, rất đơn sơ
1. Một sự đình chỉ mắt thường trông thấy được đối với luật lệ thiên nhiên – mặt trời không còn chiếu sáng nữa! Tôi không tin cũng có bất kỳ ngôi sao nào ở đây – và Mặt Trăng cũng tối tăm nữa
2. Bóng tối tăm là một sự bày tỏ mắt thường trông thấy được về quyền phép của Đức Chúa Trời, vì chỉ có Ngài mới có quyền làm thay đổi luật lệ của thiên nhiên!
3. Không có một thứ gì ngoài không gian có thể khiến cho mặt trời phải rơi vào chỗ tối tăm được
4. Tất cả các luật lệ của sự sáng tạo đang ở trong sự vận hành, khi cảnh tối tăm nầy diễn ra
5. Vì vậy, tác giả của sự sáng tạo đã chạm đến mặt trời, và đã đem lại sự tăm tối
B. Tối tăm là cần thiết – chớ không phải chuyện tình cờ
1. Bóng tối tăm đã tỏ ra kế hoạch và mục đích của Đức Chúa Trời về thập tự giá – sự phán xét
2. Bóng tối tăm minh chứng cho cả thế gian thấy Con Đức Chúa Trời đang dãy chết
3. Chúng ta hãy nhìn xem vấn đề nầy chi tiết hơn
III. BÓNG TỐI TĂM NƠI SỰ ĐÓNG ĐINH VÀO THẬP TỰ GIÁ DẠY DỖ ĐIỀU GÌ
A. Đó là dấu ấn của Đức Chúa Trời cho nhân cách và sứ mệnh của Chúa Giêxu
1. Khi Chúa Giêxu dạy cho đoàn dân tôn giáo vô tín biết Ngài đã đến để cứu họ ra khỏi tội lỗi, họ thấy phật lòng lắm
2. Khi Chúa Giêxu phán: “Ta là Con của Đức Chúa Trời”, họ đã lượm đá lên đặng ném Ngài
3. Dân chúng đã xin một dấu lạ đến từ trời để nhìn biết Chúa Giêxu là Con của Đức Chúa Trời, nhờ đó một dấu lạ đến từ trời đã được ban ra rất rõ ràng
a. Không phải trong chính sự chết – thập tự giá là phương thế của con người
b. Còn sự xét đoán đã diễn ra khi Ngài chết, trong toàn bộ sự tối tăm
4. Thậm chí cả mấy tên lính La mã, họ hiểu rõ ý nghĩa của bóng tối tăm và đã hô lên: “đây quả thực là con Đức Chúa Trời”.
5. Những tin tức tốt lành của con người hiện đại nói: “Chắc chắn đây là một người lành”.
B. Bóng tối tăm làm cho sự chết của Đức Chúa Giêxu Christ thêm phần quan trọng – còn hơn là cái chết bình thường nữa
1. Đây không phải là người lành đã chịu chết trên thập tự giá ấy!
2. Một người đặc biệt chịu chết – một người không đáng chết – một người có thể sống cho đến đời đời!
3. Ấy thế, ở đây Ngài đã chịu chết – nhưng không phải chết cho chính mình Ngài
4. Bạn thấy đấy – sự tha thứ, sự bình an, và sự sống đời đời CỦA CHÚNG TA đã được bảo đảm chỉ qua việc Chúa Giêxu đã đổ huyết Ngài ra khi Ngài chịu chết trên thập tự giá ấy (I Phierơ 3.18)!
C. Bóng tối tăm che phủ những sự thương khó của Đấng Christ khó ai mang nổi nơi sự chết của Ngài (đối chiếu Êphêsô 6.12)
1. Đức Chúa Trời đang công khai xác nhận sự kiện: sự chuộc tội nằm trong sự chết của Đấng Christ
a. Bóng tối tăm là bằng chứng, vì Chúa Giêxu bị bắt phải chịu nỗi đau khổ của sự chết
b. “Bị Đức Chúa Trời đánh” là điều bóng tối tăm biểu hiện ra (Êsai 53.4)
c. Chính Đức Chúa Trời là Đấng đặt mọi quá phạm của chúng ta lên trên Ngài (Êsai 53.6)
d. Không những là sự thương khó của thập tự giá, mà còn là nỗi khổ của Đức Chúa Cha đã được bày ra nữa
2. Sự thương khó của Đấng Christ không ai có thể mang nổi

a. Gần lúc kết thúc sự tối tăm, Chúa Giêxu đã nhìn lên bóng tối ấy mà kêu: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi”.
b. Đức Chúa Trời đã có mặt ở đó trong bóng tối tăm, nhưng trong thời điểm Ngài lìa bỏ Con Ngài
c. Đấng Christ đã bị bỏ quên, vì Ngài bị hình phạt trong vai trò kẻ gánh lấy tội lỗi (II Côrinhtô 5.21)
d. Đấng Christ mang lấy tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài mà Ngài không có phạm - hãy tin đi; đây là một sự thực, và sự thể đáng sợ đến nỗi chẳng có ai có thể đứng đấy mà nhìn xem
3. Bóng tối tăm che giấu những đau khổ trong câm nín của Đấng Christ không cho mắt con người trông thấy
a. Trong những nỗi đau khủng khiếp nhất, bóng tối tăm giấu Ngài không cho ai nhìn thấy
b. Trước khi có bóng tối đó, bất kỳ nỗi đau nào Ngài gánh chịu đều tỏ ra cho người ra xem thấy – những lằn đòn, mão gai, các mũi đinh, những vết thương tan nát
IV. NHỮNG ĐIỀU BÓNG TỐI BÓNG TỐI TĂM MINH CHỨNG
A. Bóng tối tăm ấy minh chứng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch lại tội lỗi và hạng tội nhân – giống như bóng tăm tối trong xứ Ai cập vậy
1. Các thiên sứ không sao làm, bắt chước được bóng tối tăm nầy
2. Bóng tối tăm nầy hiện hữu trong vòng ba giờ đồng hồ, mọi sự của địa ngục vì cớ tội lỗi chúng ta, trong mọi thời đại, đang nghịch lại Chúa Giêxu
3. Đức Chúa Trời đứng xa xa bóng tối ấy – bổn tánh Ngài đòi hỏi tội lỗi phải bị trừng phạt
4. Vì thế, khi Chúa Giêxu sắp chết, Ngài đang gánh lấy chỗ của hạng tội nhân – nếu không như thế, từng tội nhân sẽ phải gánh chịu thảm trạng nầy!
B. Bóng tối tăm minh chứng số phận của người không tin Chúa
1. Bóng tối ấy tỏ ra nỗi đau khổ trong tương lai cho linh hồn nào chễnh mãng
2. Bóng tối tăm của đồi Gô-gô-tha vừa là bằng chứng vừa là cách ứng xử nghiêm trang mà Đấng Christ đã nói tới
3. Tất cả những kẻ chối bỏ Đấng Christ sẽ hư mất ở bóng tối tăm bên ngoài được gọi là địa ngục!
C. Bóng tối tăm cũng minh chứng sự công bình của Chúa Giêxu
1. Đây là cơn thạnh nộ trọn vẹn của Đức Chúa Trời nổ ra nghịch lại Con vô tội độc sanh của Ngài
2. Chỉ có người nào không phạm tội mới có thể chịu trách nhiệm vì tội lỗi của người khác – giống như chiên con vậy – hãy nhớ, đây là LỄ VƯỢT QUA
D. Bóng tối tăm minh chứng cái giá của sự chuộc tội đã được trả rồi
1. Khi Ngài nếm trải bóng tối tăm rồi, Ngài đã phán: “Mọi sự đã được trọn”.
2. Công tác cứu chuộc đã được thực thi, không phải làm thêm một việc chi khác nữa – mọi sự đã được hoàn tất
3. Vì thế, nhu cần về thầy tế lễ và Đền Thờ, các thứ của lễ và mọi nghi thức, các sách cầu nguyện và bàn thờ không còn cần thiết nữa. Mọi sự có cần ngày hôm nay là một nhà TRUYỀN ĐẠO, còn dân sự thì chỉ tin theo Con Đức Chúa Trời HẰNG SỐNG, là Đấng đã chịu chết thay cho họ!
V. ĐIỀU CHI ĐÂM THỦNG BÓNG TỐI TĂM? ĐIỀU CHI KHIẾN CHO ÁNH SÁNG CÓ TRỞ LẠI?! Ba điều:
A. Một tiếng kêu – “MỌI SỰ ĐÃ ĐƯỢC TRỌN!”
1. Câu nói đó do một người trên cây thập tự ở chính giữa thốt ra, trong khi bầu trởi vẫn còn tối tăm – tiếng kêu ấy không phải là một giọng rên rỉ đâu, mà là một tiếng kêu đắc thắng!
2. Từ thời điểm đó, bóng tối bắt đầu tan dần đi – AMEN!
B. Một ngôi mộ trống – Sự sống lại (Mác 16.1, 2)
1. Bình minh ngày thứ nhứt ấy, là ngày Chúa Nhật, không ai được phép quên
2. Từ thời điểm đó trở đi, Cơ đốc nhân nhóm lại và thờ phượng Cứu Chúa HẰNG SỐNG, KHÔNG vào ngày thứ Bảy, mà là ngày CHÚA NHẬT!
C. Một Cơ đốc nhân đang giảng tin lành
1. Ôi kỳ diệu dường bao là các tin tức tốt lành của chúng ta – Chúa Giêxu đang trị vì
2. Thế giới nầy là một nơi rất tối tăm
3. QUYỂN SÁCH nấy càng được rao giảng, chúng ta càng đem sự sáng vào trong thế gian
VI. PHẦN KẾT LUẬN (1 Giăng 2.8; Êsai 60.1, 2)
A. Bóng tối tăm của đồi Gô-gô-tha đã trôi qua – ba giờ đồng hồ đủ để cho Chúa Giêxu gánh lấy hết mọi tội, trong mọi thời đại – và sự sáng của tin lành giờ đây đang soi rọi (1 Giăng 2.8)
B. Đấng Christ chính là sự sáng đó – Ngài đã chịu chết, bị chôn, Ngài sống lại, thăng thiên về trời, và giờ đây đang ngồi bên hữu Đức Chúa Cha
C. Ngày kia từng đầu gối sẽ quì xuống trước mặt Ngài, và xưng Ngài là Chúa
D. Bạn sẽ ăn năn tội lỗi của mình, và bởi đức tin nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của bạn chăng?
E. Còn Cơ đốc nhân kia, bạn thì sao chứ? Bạn có nghĩ là phạm tội là không nhằm nhò gì, có phải không?
***

THẬP TỰ GIÁ CỦA ĐẤNG CHRIST



THẬP TỰ GIÁ CỦA ĐẤNG CHRIST
I Côrinhtô 1.17-18
Xoá sạch thập tự giá, đây là một việc khó mà chúng ta từng gặp phải. Mùa lễ Phục sinh nầy chẳng có gì là mới mẻ khi nghe giảng về thập tự giá. Có người chịu nhìn xem thập tự giá đang khi nhiều người khác lại quan tâm đến nó.
Sự việc đã xảy ra ở trong vườn, sau khi con người phạm tội Đức Chúa Trời mới đưa công tác của thập tự giá vào sự vận hành. Tuy nhiên Satan cũng bắt đầu công việc lừa dối của hắn để khiến cho thập tự giá ra vô hiệu.
I Côrinhtô 1.17-18: “Thật vậy, Đấng Christ đã sai tôi, chẳng phải để làm phép báptêm đâu, nhưng để rao giảng Tin lành, và chẳng dùng sự khôn khéo mà giảng, kẻo thập tự giá của Đấng Christ ra vô ích. Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Đức Chúa Trời”.
Mong ước của Satan là biến thập tự giá ra dại dột cho hạng người có học. Phải chăng hắn đã đạt được sự dối gạt nầy? Một số người trong quí vị tối nay đang suy nghĩ: "Ôi thập tự giá, phải rồi chúng tôi đã từng nghe nói tới nó rồi”.
Chúng ta đang hát lên các bài ca nói về thập tự giá … Trên ngọn đồi xa xưa đó, người ta đã trồng lên một cây thập tự xấu xí xù xì …Tại thập tự giá, tại thập tự giá, nơi lần đầu tiên tôi nhìn thấy sự sáng … con đường thập tự giá dẫn tới quê hương … Khi tôi xem xét thập tự giá kỳ diệu ấy, Vua vinh hiển đã chịu chết trên đó …”.
Liệu chúng ta có đồng ý với lời xưng nhận của Phaolô về thập tự giá, rằng đó là quyền phép của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta chăng? Hoặc chúng ta đã rơi vào bẫy dối gạt của Satan rồi xem thập tự giá là dại dột, chẳng màng gì đến nó trong đời sống của chúng ta?
Khi chúng ta nhìn xem thập tự giá, chúng ta được nhắc nhớ về công tác của thập tự giá, nhờ đó phục hồi quyền phép của thập tự giá trong đời sống của chúng ta.
THẬP TỰ GIÁ CỦA ĐẤNG CHRIST
"Sự Đức Chúa Trời phán xét tội lỗi"
Luca 24.7: “Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại”.
Chúng ta đừng nên kết sự tuận đạo với thập tự giá của Đấng Christ. - Oswald Chambers. Chúa Giêxu không vì lý tưởng gì mà chịu chết, mà chết vì tội lỗi của con người.
I Côrinhtô 15.3: “Vả, trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh thánh”.
Ngày nay chúng ta lý luận trong trí mình, khi đối diện với tai vạ: "Nào, điều đáng buồn đang diễn ra”. Thế nhưng thập tự giá đã không xảy ra.
"Trước khi chúng ta bắt đầu nhìn xem thập tự giá là việc được làm ra cho chúng ta, chúng ta phải nhìn xem thập tự giá là việc do chúng ta tạo ra” - John R. Stott
Trong vườn, tội lỗi đã bắt đầu và ở đó Đức Chúa Trời khởi sự mục đích của thập tự giá … hầu đem lại một cứu cánh cho con người tội lỗi. Thập tự giá của Đấng Christ chính là án phạt của Đức Chúa Trời dành cho tội lỗi của chúng ta.
"Thập tự giá là nơi Đức Chúa Trời công khai bày tỏ ra khả năng Ngài thanh tẩy và tha thứ cho những ai đã phạm tội chống nghịch Ngài" - Charles Stanley
Chỉ có Đức Chúa Trời mới có khả năng tha thứ và cất bỏ tội lỗi. Qua thập tự giá Ngài đã hoàn thành lẽ thật nầy.
THẬP TỰ GIÁ CỦA ĐẤNG CHRIST
"Là trọng tâm của sự cứu rỗi "
Giăng 3.16-17: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời. Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu”.
Thập tự giá là trọng tâm chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Trên thập tự giá Đấng Christ đã tạo ra một con đường khả thi cho cả thế gian được đưa về lại chỗ đứng phải lẽ với Đức Chúa Trời.
II Côrinhtô 5.21 - 6:2: “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời. Ấy vậy, vì chúng tôi làm việc với Chúa, nên xin anh em chớ chịu ơn Đức Chúa Trời luống không. Vì Ngài phán rằng: Ta đã nhậm lời ngươi trong thì thuận tiện. Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi. Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!”
"Khi chúng ta nghĩ về Đấng Christ chịu chết trên thập tự giá, chúng ta thấy tình yêu của Đức Chúa Trời thật cao dày hầu đưa chúng ta trở lại với chính mình Ngài. Thập tự giá là trọng tâm của tin lành. Thập tự giá làm cho tin lành thành ra những tin tức tốt lành. Đức Chúa Trời đã chịu chết vì chúng ta. Ngài đã đứng trong chỗ chúng ta ở trước ngôi phán xét của Đức Chúa Trời, Ngài đã gánh lấy tội lỗi chúng ta. Đức Chúa Trời đã làm một việc trên thập tự giá mà chính chúng ta không thể làm được” - Sinclair Ferguson
Nhìn xem thập tự giá là để nhìn thấy tình yêu của Đức Chúa Trời và kinh nghiệm ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta.
THẬP TỰ GIÁ CỦA ĐẤNG CHRIST
"Không phải của con người, mà là của Đức Chúa Trời"
Galati 6.14: “Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Giêxu Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy”.
Chúng ta lấy thập tự giá làm đồ trang sức, xem đó là đẹp đẽ, dễ thương và dễ đeo. Có nhiều người đeo thập tự giá mà không chịu xem xét Đức Chúa Trời đã phải trả giá như thế nào!?! Bạn thấy đấy, thập tự giá không phải của con người, mà là của Đức Chúa Trời.
Luca 9.23: “Đoạn Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta”.
Chính ở đây, chúng ta không phải vác thập tự giá của mình, mà là vác thập tự giá của Đấng Christ.
"Có nhiều trường hợp, thập tự giá mà hiện người thế gian đang vác lấy không phải là thập tự giá của Đức Chúa Giêxu Christ nữa. Đó là cây thập tự người ta mang lấy mà chẳng có sự tin quyết hay thành tâm tin tưởng” - Charles Stanley
Một cây thập tự xấu xí xù xì đã được trồng trên ngọn đồi xa xưa ấy.
Thập tự giá cũ giết chết con người – thập tự giá mới làm đồ trang sức cho họ.
Thập tự giá cũ xét đoán – thập tự giá mới làm trò tiêu khiển.
Thập tự giá cũ hủy diệt sự tin cậy vào xác thịt – thập tự giá mới khích lệ lòng tin đó.
Thập tự giá cũ đem lại nước mắt và máu – thập tự giá mới đem lại nụ cười (A.W. Tozer).
Elizabeth Elliot viết: "Trở nên môn đồ của Đấng bị đóng đinh trên thập tự giá, chẳng chóng thì chầy người ấy phải đối diện với thập tự giá".
Hãy suy nghĩ về sự ấy … Chúa Giêxu phán: "Hãy đến mà theo ta" nghĩa là hãy tránh xa loại thập tự giá dễ làm, dễ ưa mà chúng ta ham thích. Nói như vậy có nghĩa là để cho Ngài đặt chúng ta nằm trên cây thập tự xấu xí xù xì đó mà chịu chết.
Khi sứ đồ Phaolô đối diện với thập tự giá, ông đã gặp gỡ Chúa phục sinh.
Galati 2.20: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi”.
A.W. Tozer nói: "Người nào bị đóng đinh trên thập tự giá là đang đối diện với chỉ một phương hướng … người ấy không thể nhìn lại phía sau. Người ấy không còn một kế hoạch nào cho bản thân mình nữa. Có ai đó đã lập chương trình của người ấy cho người".
I Phierơ 2.24: “Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi , được sống cho sự công bình; lại nhơn những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh”.
Bạn thấy đấy, thập tự giá của Đấng Christ không phải của chúng ta, mà là của Đức Chúa Trời. Và nếu chúng ta mạo hiểm bước theo Ngài, thì chúng ta đang sống đời sống của Ngài chớ không phải của chúng ta nữa.
PHẦN KẾT LUẬN
Đối với người nào chịu nhìn xem thập tự giá rồi vòng tay ôm lấy tình yêu của nó, thì sẽ nối thêm vào câu chuyện một phần khác nữa. Đấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá đã trở thành Chúa phục sinh. Và sự sống Ngài hiến cho là sự sống dư dật và đời đời.
Cái khó xử của thập tự giá … thập tự giá là dại dột hay là quyền phép?
***

Đức Tin Phục Sinh



Đức Tin Phục Sinh
Loại đức tin năng động
Gióp 19

Phần giới thiệu (Giăng 16.20)
Nhiều người có thứ đức tin “định mệnh”
Thứ đức tin chỉ cam chịu bất cứ điều chi sẽ xảy tới!
Thứ đức tin chỉ kết thúc ở chỗ mồ mả
Thứ đức tin trông tốt đẹp đấy, cho tới khi nó bị thử nghiệm – khi ấy nó sụp đổ và ngã chết dưới áp lực
Khi Chúa Jêsus dẫn các môn đồ vào thành Jerusalem lần cuối cùng, Ngài nói cho họ biết một việc sẽ xảy đến khiến cho họ phải buồn rầu, và khi họ dường sắp bị hư mất, họ chỉ còn tin nơi Đức Chúa Trời – nỗi buồn rầu của bạn sẽ đổi thành vui mừng!
Những gì Chúa Jêsus đã trả giá, không phải là đức tin đủ để giữ bạn KHÔNG gặp rối rắm, mà là đức tin giúp bạn VƯỢT QUA rối rắm! Chúa Jêsus đã phán, rằng chúng ta cần có loại đức tin phục sinh
Thứ đức tin tin có sự sống lại từ kẻ chết
Thứ đức tin tin cho đến cùng, thắng hơn MỌI trận chiến của cuộc sống, và các thất bại của cuộc sống
Các môn đồ không có loại đức tin ấy, dù Chúa Jêsus đã cố gắng truyền đạt đức tin ấy cho họ (Mác 8.31-33)
Từ Vườn Ghết-sê-ma-nê, nơi Đấng Mêsi bị đoàn dân giận dữ bắt đi…
Họ lo rằng Ngài không cự lại
Và họ lo rằng HỌ không được phép cự lại
Và khi họ thấy Chúa Jêsus bị đánh đòn, bị cả Phi-lát và Hế-rốt chế giễu, và rồi bị đóng đinh trên thập tự giá …
Phải, bạn đã hiểu rồi đấy… họ đã chịu thua!
Đức tin của họ đã gục chết với Chúa Jêsus trong ngày ấy trên thập tự giá
Bạn không vui chăng, Chúa Jêsus không chết luôn đâu?
Bạn thấy đấy, hoàn cảnh của chúng ta đang gào thét lên, ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ CHẾT! BẠN BỊ BỎ RƠI RỒI! MỌI SỰ ĐÃ QUA ĐI! HÃY RỦA SẢ ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ CHẾT ĐI!
Nhưng rồi, Chúa Jêsus đã sống lại, và các thất bại của chúng ta đổi thành vui mừng
Hãy lắng nghe hoàn cảnh của Gióp (Gióp 1,2)
Lo liệu công việc mình
Thờ phượng Đức Chúa Trời
Cầu nguyện cho con cái
Yêu thương vợ mình
Dẫn dắt gia đình và cả nhà trong vai trò một tín đồ có đời sống thanh sạch, tin kính, đạo đức
Rồi trong 24 giờ đồng hồ, tôi muốn nói, mọi sự tuyệt đối bị cất đi hết khỏi người, kể cả 10 đứa con!
Hãy lắng nghe nỗi buồn rầu của Gióp (Gióp 19.1-21) – buồn lắm, không nói được
Với ba người bạn ngồi quanh ông giống như bầy kên kên, Gióp, ngồi trên đống bụi đất của thành phố, bắt đầu thố lộ nỗi buồn ghê gớm kia
Mấy người bạn của ông đã công kích ông, tố giác ông về tội lỗi và về việc xứng đáng với án phạt vì những tội lỗi kín giấu, mà chẳng hề chứng tỏ có điều chi sai trái (19.1-5)
Gióp biết rằng Đức Chúa Trời đã phá hại ông (19.6)
Đức Chúa Trời không nhậm những lời cầu nguyện của ông (19.7)
Đức Chúa Trời đã chốt ông giống như một tay đô vật, rồi tắt đi những ngọn đèn, có thể nói rằng Gióp không thể nói được phải đi đường nào, phải làm điều chi (19.8)
Đức Chúa Trời đã quét sạch hết những gì ông đã từng có
Giờ đây hãy nhớ, chính SATAN là kẻ đã làm mọi sự nầy cho Gióp, nhưng Gióp biết rằng Đức Chúa Trời đã cho phép điều đó xảy ra, và vì lẽ đó là điều cần phải xử lý với
Đức Chúa Trời đã tấn công Gióp và bắt phục ông giống như một đoàn quân xâm lược vậy (19.12)
Gia đình và bạn hữu ông đã xây khỏi ông và đã chối bỏ ông (19.13,14,19)
Những kẻ ở trong nhà ông, tôi tớ ông hết thảy đều chẳng nhìn tới ông (19.15,16)
Người vợ của ông dủ bỏ cả ông và Đức Chúa Trời (19.17)
Sức khoẻ ông bị hủy hoại – bịnh tật khó chữa (19.20)
Đức Chúa Trời chỉ chạm đến đời sống ông và rãi nó ra thành từng mãnh (19.21)
Hãy lắng nghe lời thỉnh cầu của Gióp (19.21,22)
Hãy thương xót tôi
Hãy thôi đừng công kích tôi nữa
Hãy để tôi yên, và hãy để cho tôi chết đi
GIỜ ĐÂY, hãy lắng nghe đức tin của Gióp (Gióp 19.25-27)!!! Đây là chìa khoá!
Bây giờ bạn hãy suy nghĩ đi, một con người một hoàn cảnh giống như vầy sẽ chẳng có BẤT KỲ một thứ đức tin nào, thế mà ông lại có – ồ, thật xác xơ, chỉ là một tờ giấy mỏng, khó mà nhìn thấy được, nhưng nó có ở đó!
Không phải là thứ đức tin chỉ sửa chữa lại đời sống ông rồi làm cho nó tốt hơn trong đời nầy đâu
Mà là thứ đức tin có thể làm sống lại thân thể hay chết của ông, và cứu lấy linh hồn ông, rồi khiến ông thích nghi cho cõi đời đời với Đức Chúa Trời Toàn Năng!
Đây là loại đức tin mà chúng ta đang cần có sáng hôm nay!
Đúng là thứ đức tin và sự tin cậy mà các môn đồ sau cùng đã có sau khi họ nhìn vào ngôi mộ trống vào sáng sớm hôm ấy trong ngày của Chúa, cách đây 2.000 năm!
Lời công bố của Gióp về đức tin của ông nơi Đức Chúa Trời đã không ngừng làm cho tôi phải kinh ngạc, đức tin ấy đến khi ông gánh chịu những nhọc nhằn càng lúc càng tệ hại hơn mà phần lớn chúng ta từng đối diện.
Đây là một người đã mất hết con trai, lẫn con gái.
Ông đã mất hết mọi sự giàu có của mình.
Bạn bè của ông đang đưa ra lời khuyên vô ích.
Vợ ông đang bảo ông hãy rủa sả Đức Chúa Trời rồi chết đi.
Ông đang ngồi trên đống bụi tro và dùng một miếng sành để gãi thân thể mình.
Ông chẳng thấy cứu cánh nào trong sự chịu khổ của mình
Và trong hoàn cảnh nầy, ông vẫn nói: “Tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống!”
Hết thảy chúng ta đều có thể thông cảm với Gióp, ít nhất ở một cấp độ nào đó. Có thể chúng ta không chịu đựng hoàn cảnh mà Gióp đã gánh chịu, nhưng mỗi một chúng ta đều kinh nghiệm sự nhọc nhằn ở hình thái nầy hay hình thái khác. Một số người trong chúng ta ở đây hôm nay đang đối diện với những nan đề phủ lút mà chẳng có ai khác biết được. Có nhiều người đang nếm trải những thử thách, tuy nhiên câu chuyện của Gióp hiến cho một lượng yên ủi nhất định nào đó.
Có thể nói rằng, đức tin nơi Đức Chúa Trời là một đôi nạng.
Có thể nói rằng đức tin nơi Đức Chúa Trời chỉ tốt cho những ai không thể đứng trên chính chân của họ.
Cái điều không hiểu nổi, ấy là chẳng ai từng sống lại có đôi chân mạnh đủ để đứng trên đó.
Đúng thế, đức tin là đôi nạng cho những người nào yếu đuối.
Giống như đôi nạng là cần thiết cho ai đó với cái chân bị gãy, cũng một thể ấy đức tin là cần thiết cho ai đó với linh hồn đã tan vỡ.
Theo ý nghĩa nầy, Gióp chẳng có chi tốt hơn hết thảy chúng ta. Linh hồn ông bị suy sụp giống như linh hồn của chúng ta. Ông cần có một đôi nạng sẽ giúp cho ông đứng vững trước mặt Đức Chúa Trời và đôi nạng ấy chính là Đấng Cứu Chuộc của ông.
Nhưng giống như đôi nạng không máy móc chữa lành cái chân đang cần đến nó, cũng một thể ấy đức tin không máy móc chữa lành các nan đề – song nó giúp chúng ta vượt qua.
Chẳng ai biết Gióp đã chịu khổ bao lâu, nhưng câu chuyện dường như ám chỉ một khoảng thời gian đáng kể. Trong thời gian nầy đức tin ông là vững chắc, các nan đề của ông vẫn cứ còn ở đó. Đức tin ông nơi Đức Chúa Trời không bảo hộ ông tránh được những rối rắm, nó cũng không gạt bỏ mọi nan đề một cách máy móc. Mặc dù Gióp đã chịu khổ, đức tin của ông nơi một Đấng Cứu Chuộc đã nâng đỡ ông rất nhiều.
Hỡi quí vị, quí vị cần có đức tin hơn cả ĐỨC TIN ĐI NHÀ THỜ SÁNG CHÚA NHỰT
Bạn có lòng tin cậy vào vầng đá tảng mà bạn BIẾT RÕ, bạn rất ổn định, bạn rất sáng suốt!!!
Đây là những việc mà bạn cần phải BIẾT trước khi bạn đến với ngày mai!
Sứ điệp
Gióp biết có một lý do cho những điều chúng ta đang nếm trải, dầu chúng ta không hiểu nó (19.23,24)
Mọi sự đều có mục đích tốt lành – bạn cần phải học biết nhiều để tin như thế !!!
Gióp đã kêu la để có người ghi lại mọi sự mà ông đã nếm trải vì, ông đã tin mọi sự xảy ra vì một lý do – BẠN CÓ TIN NHƯ THẾ KHÔNG? Bạn nên tin đấy!
Không những đấy là các hành vi bạo lực mà ông đang kinh nghiệm
Gióp có thể chẳng nhìn thấy Đức Chúa Trời, nhưng ông biết rõ ở bên kia bóng nghi ngờ Đức Chúa Trời đang hiện diện ở đó, cẩn thận dẫn dắt Gióp qua cơn ác mộng của ông (Gióp 23.8-10)
Ở đây Gióp, trở lại trong 19.23,24, ao ước rằng ai đó sẽ ghi lại mọi sự và khắc ở trong đá, để chuyện ấy KHÔNG BAO GIỜ QUA ĐI vì ông tin rằng những gì ông đang kinh nghiệm là rất quan trọng cho ít nhất AI ĐÓ sẽ học biết từ …
Nào…
Có phải chúng ta thực sự hiểu rõ lý do tại sao mọi sự xảy ra trong đời sống của mình không?
Nếu chúng ta không hiểu, có nghĩa là những điều rối rắm kia đang tể trị chăng?
Hoặc giả chúng ta không dám nói với Gióp rằng có một mục đích, một ý đồ, và nó quan trọng đủ không những cho TÔI, mà còn cho mọi người học biết nữa chăng?
Gióp đã tin cậy Đức Chúa Trời đang có một mục đích lớn lao cho những gì đang xảy ra trong đời sống ông bất luận khó nhọc là dường nào
Và mục đích đó để cho hết thảy mọi người chúng ta đọc biết những biến cố nầy và ngày càng kính sợ nhiều hơn đối cùng một Đức Chúa Trời!
Gióp biết rõ có một Đấng Cứu Chuộc (Gióp 19.25)
Chỉ một từ thôi [theo Anh ngữ], “Đấng Cứu Chuộc!”
Ông không nói: “Tôi biết Đức Chúa Trời tôi hằng sống” – nói như thế thì dễ quá.
Không, ông đang nói về một việc còn lớn lao hơn là Đức Chúa Trời của vũ trụ đang ngồi trên ngai ở nơi xa xôi kia
Gióp gọi Ngài là ĐẤNG CỨU CHUỘC của ông!
Đấng Cứu Chuộc có nghĩa là:
Đấng sẽ đánh trận cho ông, bảo hộ ông, và giải cứu ông!
Đấng sẽ đến và đánh bại kẻ thù của Gióp, bất luận họ là ai, bất luận họ có quyền lực như thế nào – Đấng Cứu Chuộc của Gióp sẽ đến và đánh trận thay cho ông!
Điều đó có ý nghĩa cho những ai đang bước đi với bộ mặt nợ nần, thất bại, yếu đuối
Đây là Đấng mua lại người nào đã bị bán làm nô lệ, hoặc lâm cảnh nợ nần – hãy tin tôi đi, Gióp cảm thấy cuộc sống đã làm cho ông phải mù quáng ở đây!
Đây là Đấng trả một giá cho tù nhân để phóng thích, hay giải phóng họ ra khỏi cảnh phu tù hoặc nô lệ (Thi thiên 25.22)
Đấng Cứu Chuộc nầy giải cứu và phóng thích hạng tội nhân mắc nợ ra khỏi vòng nô lệ cho tội lỗi và những án phạt trong luật pháp của Đức Chúa Trời đã bị vi phạm (Galati 3.13)
Đấng Cứu Chuộc là Đấng bước vào chỗ của bạn, rồi gánh lấy án phạt mà BẠN đáng phải chịu hầu cho bạn có thể bước đi cách tự do!
Gióp vốn BIẾT RÕ Đấng Cứu Chuộc nầy – Ngài là CỦA ÔNG!
Chúa Jêsus là Đấng Cứu Chuộc đó (Êphêsô 1.3,7)
Bạn có biết Chúa Jêsus là một mãng trong cơ nghiệp duy nhứt thực sự thuộc về chúng ta không?
Chúng ta mượn đủ thứ, nhà cửa, con cái, thậm chí chính thân thể của chúng ta, một ngày kia chúng ta trở về với Đấng Cho Mượn Cao Cả kia.
Còn Chúa Jêsus, chúng ta không thể rời khỏi, dầu khi chúng ta lìa khỏi thân thể, vẫn hiện diện với Chúa, và dầu sự chết không thể phân rẽ chúng ta ra khỏi Ngài, cho nên thân thể và linh hồn sẽ ở với Chúa Jêsus dù trong giờ tăm tối chết chóc, và cho đến đời đời!
Có thể bạn đang nắm lấy Ngài bằng bàn tay yếu đuối, nhưng hãy nhớ rằng, nếu bạn chỉ có đức tin như một hột cải, đức tin nhỏ nhoi đó trong Chúa Jêsus là Đấng Cứu Chuộc của bạn khiến cho bạn phải thốt lên, và thốt lên ngay lúc bây giờ: "Tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc tôi vẫn sống".
Có phải BẠN đang có một Đấng Cứu Chuộc? (I Phierơ 1.18,19) là Đấng đánh trận thay cho bạn, và đã mua bạn lại từ ma quỉ và sự chết?
Hầu hết mọi người đều tin cậy nơi một “đấng cứu chuộc” gọi là vàng, hay bạc, hoặc bác sĩ, hay khoa học gia, hoặc bạn bè, hay gia đình.
Tôi có một Đấng Cứu Chuộc, và tôi biết rõ Ngài, và hơn hết mọi sự, Ngài biết rõ tôi!!!
Danh Ngài là Jêsus!
Gióp biết rõ Đấng Cứu Chuộc của ông vẫn sống (Gióp 19.25)!
Cái biết nầy rất cần đấy!
Đức tin của Gióp đã đặt nơi một Đấng hằng sống!
Đối với Gióp, Chúa Jêsus KHÔNG PHẢI là một tôn giáo, hay một bức tượng, hay thậm chí là một lý tưởng (Thi thiên 115.4-8)
Gần 2.000 năm trước khi Chúa Jêsus ra đời, Gióp BIẾT RÕ rằng Chúa Jêsus là HẰNG SỐNG!
Cơ đốc giáo nói về những tin tức cho rằng Chúa Jêsus là hằng sống (Khải huyền 1.18)
Gióp không tin rằng Đấng Cứu Chuộc của ông SẼ sống, nhưng Đấng Cứu Chuộc của ông đang hằng sống trong thời của Gióp!
Khi nói: "Tôi mong thế, tôi tin như thế", rằng Chúa Jêsus đang sống, nhiều người nói như vậy. Nhưng với tới chỗ chuyển từ tối tăm qua sáng láng, từ chết qua sống, bạn phải thốt ra câu: "TÔI BIẾT RÕ".
Cơ đốc nhân là những người làm chứng cho thế gian nầy về SỰ SỐNG LẠI của Đấng Christ (Công vụ Các Sứ Đồ 4.33) về SỰ THỰC Chúa Jêsus hằng sống, dầu Ngài đã chết
Chúng ta đánh đổ những nhà tôn giáo nào chỉ muốn nắm lấy những tín điều, nghi thức và các công việc chết (Công vụ Các Sứ Đồ 4.1, 2) – nhưng chúng ta bám lấy một Cứu Chúa hằng sống đang tể trị!
Cốt lõi hệ thống toàn bộ tín điều của chúng ta là sự thực Đức Chúa Jêsus Christ đã bị đóng đinh vào thập tự giá, phải, nhưng còn quyền lực hơn thế nữa, Ngài đã từ kẻ chết sống lại (Công vụ Các Sứ Đồ 23.6; I Côrinhtô 15.13-20)
Ồ, niềm tin nơi sự phục sinh khích lệ Cơ đốc nhân dường bao (Rôma 6.5, 9; II Côrinhtô 13.4) – ồ, niềm tin ấy đang khích lệ tôi!
Và chính quyền lực của sự sống lại đó hết thảy chúng ta đều nương vào, hay ít nhất chúng ta sẽ nương vào (Philíp 3.10)
Bạn tin Chúa Jêsus hằng sống, Ngài lắng nghe lời cầu nguyện của bạn, Ngài đứng biện hộ cho bạn, rồi tể trị trong các hoàn cảnh cuộc sống của bạn như thế nào?
Chúa Jêsus không phải là một bức tranh – không vẽ được Chúa Jêsus! Chúa Jêsus không phải là một pho tượng – không có những hình tượng tôn giáo! Chúa Jêsus không phải là biểu tượng – Ngài hiện hằng sống cho đến đời đời, và Ngài muốn bạn đồng đi với Ngài, trò chuyện với Ngài, và nhận biết Ngài cách mật thiết, và riêng tư cho đến đời đời!
Gióp biết rõ rằng Đấng Cứu Chuộc của ông sẽ thắng hơn (Gióp 19.25; Roma 8.28)
Đức tin của Gióp là đức tin theo tương lai – thứ đức tin không những nhìn thấy ở đây và bây giờ, mà còn vinh hiển của một tương lai cùng với Đấng Christ hằng sống và tiết độ!
Ở đây, Gióp bởi con mắt đức tin, có khả năng nhìn thấy lối vào ra cõi tương lai, và nhìn thấy Chúa Jêsus. Đang đứng trên đất, với sự đắc thắng trọn vẹn vượt hẳn mọi kẻ thù!
Ngài đã thắng hơn tội lỗi
Ngài đã đánh bại – Ngài đã thắng hơn ma quỉ (Hêbơrơ 2.14)
Và Chúa Jêsus đã thắng hơn đối với chính sự chết!
II Timôthê 1.12: “ấy lại là cớ mà ta chịu khổ. Nhưng ta chẳng hề hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó”.
Loài sâu bọ sẽ ăn hết thân thể của bạn và tôi, nhưng chúng sẽ không thắng hơn được! Chúa Jêsus sẽ làm cho chúng ta và các tín đồ sống lại, và chúng ta SẼ ĐỨNG trước mặt Ngài, rồi nhìn xem Chúa Jêsus với chính mắt mình! Giống như Gióp sẽ thấy vậy!
Kẻ thù có thể làm tổn thương bạn, và thậm chí giết chết bạn, nhưng chúng không thể thắng hơn bạn được đâu! Tất cả là vì Đấng Cứu Chuộc của bạn đang thắng cho đến cuối cùng!
Há bạn chẳng vui sướng khi được ở trong đội chiến thắng sao????
Há bạn chẳng vui sướng sao khi bạn nhảy lên hàng đầu rồi đọc chương cuối cùng trong quyển Kinh Thánh và nhìn thấy, rằng chúng ta ĐANG CHIẾN THẮNG!!!?
Gióp biết rõ rằng ông sẽ được ở với Ngài (Gióp 19.26,27)
Đây là phần hay nhất!
Đức tin của Gióp là đức tin cứu rỗi (I Giăng 5.11-13)
Trở lại với đội là một việc – Được ở với Đấng Đắc Thắng là một việc khác!
Gióp không những nhìn thấy tương lai, ông còn nhìn thấy mình là một phần của tương lai nữa!
Gióp biết rõ rằng một ngày kia ông sẽ đứng bên cạnh Đấng Cứu Chuộc mình và sống với Ngài!
Chẳng có một sự đầu thai nào ở đây – Chúng ta nhận lấy một thân thể hoàn toàn mới, và sống cho đến đời đời VỚI Chúa Jêsus (Giăng 14.1-3)
Thân thể ấy chỉ ban cho những ai sẽ được cứu, được sanh lại, trong lúc bây giờ (II Côrinhtô 6.2)
Bạn không thể chờ đợi cho tới một ngày trong tương lai – như thế sẽ là quá trễ đấy!
Phần kết luận
Nhiều người có thứ “đức tin định mệnh” – thứ đức tin chỉ kết thúc khi đến tại mồ mả
Đức tin mà Chúa Jêsus ban cho chúng ta, không phải là đức tin đủ để giữ chúng ta KHÔNG gặp rối rắm, mà là đức tin đưa chúng ta VƯỢT QUA rối rắm! Chúa Jêsus ban cho mọi người Đức tin Phục sinh
Gióp đã có sự buồn rầu như thế, và đáng lẽ đã thối lui, nhưng ông có đức tin không những ông đang nắm lấy, mà đức tin ấy ĐANG NẮM LẤY ÔNG!
Sau cùng, bạn có nhìn nhận rằng BẠN đang cần đôi nạng để bạn đứng vững qua giông bão và thử thách của cuộc sống không? Tôi nhìn nhận tôi cần đấy!
Bạn cần phải có loại đức tin hơn hẳn cả ĐỨC TIN ĐI NHÀ THỜ SÁNG CHÚA NHỰT
Bạn đang có lòng tin như vầng đá tảng rằng bạn BIẾT RÕ, rằng bạn đang ổn định, rằng bạn đang sáng suốt!!!
Đây là những việc mà bạn cần BIẾT RÕ hơn trước khi bạn dấn thân vào ở ngày mai!
Luôn luôn có một lý do cho những gì bạn đang nếm trải, dù chúng ta không hiểu nó
Có một Đấng Cứu Chuộc – biết chắc Ngài là CỦA BẠN! Hãy biết chắc Ngài là của bạn!!!
Đấng Cứu Chuộc của chúng ta hằng sống
Đấng Cứu Chuộc của chúng ta đang thắng hơn – hãy đọc quyển Kinh Thánh của bạn! Satan là kẻ nói dối, VÀ Satan là KẺ THẤT TRẬN!!!
Bạn sẽ được ở VỚI Ngài (Giăng 14.3) cho đến đời đời! Biết như thế sẽ trang điểm cho mọi đau khổ, buồn rầu và nước mắt của cuộc đời nầy, bạn có nghĩ thế không?
Mọi điều nầy giúp đỡ dường bao…
Biết như thế là nói với ma quỉ: “Hãy bắn cho giỏi đi!” hắn sẽ cút đi mất! Chỉ với Đức Tin Phục Sinh, bạn đang sẵn sàng!
Biết như thế là nói với Đức Chúa Trời: “Mặc dù Ngài giết tôi, tôi vẫn tin cậy nơi Ngài”!
Biết như thế là nói với thế gian: “Các bạn chẳng nhìn thấy chi hết!” Tôi đã nhận lãnh thứ đức tin kéo dài từ bây giờ cho đến đời đời!
Đức tin ấy giúp bạn thưa với Chúa Jêsus: “Con lấy làm tiếc vì có nhiều lúc con nghi ngờ Ngài. Ngài là Đấng Cứu Chuộc, Đấng Đắc Thắng, Cứu Chúa, Thiết Hữu của con! Và con yêu Ngài!”

“SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA VÀ CỨU CHÚA CHÚNG TA”



“SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA VÀ CỨU CHÚA CHÚNG TA”
Các phân đoạn chọn lọc từ Kinh Thánh

Chúa Jêsus đã thực hiện 14 lần hiện ra sau khi Phục sinh.

1. Với Mary Magdalene – Mác 16.9

2. Với ba người đàn bà – Mathiơ 28.9.

3. Với Cờ-lê-ô-pa và bạn đi đường với ông ta – Luca 24.13-35.

4. Với Simôn – Luca 24.34.

5. Với 10 môn đồ, không có Thô-ma – Giăng 20.19-23.

6. Với 11 môn đồ, với Thô-ma – Giăng 20.24-29

7. Với 7 môn đồ tại Biển Tiberias (Galilê) – Giăng 21.1-14

8. Với các môn đồ trên một hòn núi ở xứ Galilê – Mathiơ 28.16-20.

9. Với 500 người – I Côrinhtô 15.6.

10. Với Giacơ, em của Chúa – I Côrinhtô 15.7

11. Với 11 môn đồ trên Núi Olives – Công vụ Các Sứ đồ 1.4-11

12. Với Êtiên – Công vụ Các Sứ đồ 7.55-56

13. Với Sau-lơ – Công vụ Các Sứ đồ 9.5.

14. Với Giăng trên hòn đảo Bát-mô – Khải huyền 1.9-18.

Lần hiện ra sau cùng của Chúa chúng ta là lần hiện ra thứ 14. Hai thừa số của 14 là 7 và 2. Bảy là con số của sự trọn vẹn và hai là con số của sự làm chứng. Vì thế, chúng ta có sự làm chứng trọn vẹn của Ngài đối với việc Ngài thắng hơn sự chết, âm phủ và mồ mả.