Thứ Tư, 26 tháng 5, 2010

LỜI TỰA SÁCH TIN LÀNH LUCA



LUCA
TIN LÀNH CHO DÂN NGOẠI
LỜI TỰA
Cách đây nhiều năm, một chính khách Cơ đốc đã đưa ra lời khuyên nầy cho bạn của ông: “Ngày càng lớn tuổi thêm tôi càng thấy mình gần gũi với các sách Tin lành hơn”. Khi tôi không chịu nhìn nhận mình đang già đi, tôi thấy mình bị kéo đến với các sách Tin lành cách kỳ lạ. Trong khi mỗi sách Tin lành đưa ra từng phần đóng góp thật đặc biệt vào sứ điệp của Kinh Thánh, thì sách Tin lành Luca là một trong những tiêu chuẩn cao trong sự khải thị của Kinh Thánh. Hãy đến với tôi, để nghiên cứu câu chuyện của một người đã hướng tầm mắt mình nhìn xem Chúa Jêsus theo cách riêng, nhưng chính là người đã thực hiện một công việc rất khéo léo trong khi nghiên cứu sự ra đời, sự sống, sự chết, và sự sống lại của Ngài, rồi truyền đạt mọi sự ấy lại theo một phương thức rất có thứ tự.
Tác giả Luca – là một y sĩ và là một bạn đồng hành truyền giáo của Phaolô, câu chuyện thứ hai thật phấn khởi của ông (sách Công vụ các sứ đồ) là phần lịch sử duy nhất đã được ghi lại về sự khai sinh Hội thánh, và ghi lại về sự lan truyền Tin lành từ thành Giêrusalem cho đến “các đầu cùng đất”.
Hội thánh sẽ lâm vào cảnh khốn đốn nếu Hội thánh không có sách Tin lành Luca là một phần kinh điển trong Kinh Thánh. Chính sách Tin lành của Luca cung ứng cho chúng ta đa số các chi tiết về sự ra đời của Giăng Báptít và Đức Chúa Jêsus Christ. Bản gia phổ của Chúa chúng ta trong sách Luca là một khác biệt đối với bản gia phổ khác, được thấy có trong sách Tin lành Mathiơ. Luca cung ứng cho chúng ta một câu chuyện nói về các lần thăm viếng của thiên sứ đối với Xachari và Êlisabét, về các hoàn cảnh xoay quanh sự giáng sinh của Chúa chúng ta tại thành Bếtlêhem, và về sự công bố Đấng Christ ra đời cho mấy gã chăn chiên. Chúng ta đã được một mình Luca thuật lại cho biết về sự công nhận Chúa Jêsus là Đấng Mêsi đã được hứa cho qua Simêôn và Anne, và về sự thăm viếng của Chúa đến thành Giêrusalem khi Ngài được 12 tuổi. Các thí dụ nói về đứa con trai hoang đàng, về người giàu và Laxarơ chỉ thấy có trong sách Luca. Chỉ có câu chuyện của Luca là bao gồm truyện tích nói về sự hiện ra của Chúa cho hai môn đồ trên đường về làng Emmaút.
Sách Tin lành Luca là một kiệt tác văn học, một câu chuyện thật hay được thuật lại rất có hệ thống. Luca đã cung ứng cho chúng ta một câu chuyện bao quát nói về hành trình sau cùng của Chúa chúng ta vào thành Giêrusalem, ở đây Chúa bị người ta chối bỏ và đóng đinh trên cây thập tự , và ở đây Ngài đã sống lại từ trong kẻ chết. Và nguồn kỳ diệu và cái hay lớn lao nhất không phải là tài khéo của trước giả là một con người, mà Đức Chúa Jêsus Christ mới là sự vinh hiển và oai nghi của đề tài thiêng liêng của sách Tin lành Luca. Bạn sẽ gặp Chúa Jêsus ở đây thật nhiều lần, và bạn sẽ thấy Ngài đáng yêu hơn trong ánh sáng mà Luca đã mô tả Ngài.
Vì vậy hãy đến đây với chúng tôi khi chúng tôi bắt đầu phần nghiên cứu nầy về sách Tin lành Luca. Tôi cầu nguyện rằng bạn sẽ không còn sinh sống như trước đây nữa đâu.
Robert Deffinbaugh tốt nghiệp từ Thần học viện Dallas với văn bằng Th.M. vào năm 1971. Bob là giáo sư và là trưởng lão ở nhà thờ Community Bible ở Richardson, Texas, và đã góp nhiều bộ nghiên cứu Kinh Thánh của mình cho Thần học viện sử dụng. Địa chỉ E-mail: deffinba@ix.netcom.com.
© 1996 by Community Bible Chapel, 210 Abrams Road, Richardson. TX 75081, http://www.bible.org/. Tài liệu nầy được in ấn lại, sao chép và phân phối miễn phí, nhưng không được bán dù là trường hợp nào mà không có sự đồng ý của tác giả.
13/03/97

Luca 24.36-53: "TỪ CHỖ KHÔNG THẤY ĐẾN CHỖ VÔ ĐỐI"



Phần giới thiệu
Cấu trúc của phân đoạn Kinh Thánh
Xuất xứ
Phần 1: Bằng chứng thuộc thể về sự sống lại của Chúa Jêsus (24.36-53).
Phần 2: Bằng chứng có tính cách lý giải (24.44-49)
Sự thăng thiên và sự dạn dĩ của các môn đồ trong sự thờ phượng (24.50-53)
Phần kết luận
Bài 77:

Từ chỗ không thấy đến chỗ vô đối

(Luca 24.36-53)
“Môn đồ đang nói chuyện như vậy, chính Đức Chúa Jêsus hiện ra giữa đó mà phán rằng: Bình an cho các ngươi! Nhưng môn đồ đều sửng sốt rụng rời, tưởng thấy thần. Ngài phán rằng: Sao các ngươi bối rối, và sao trong lòng các ngươi nghi làm vậy? Hãy xem tay chân ta: thật chính ta. Hãy rờ đến ta, và hãy xem; thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có. Đang phán vậy, Ngài giơ tay và chân ra cho xem. Nhưng vì cớ môn đồ vui mừng nên chưa tin chắc, và lấy làm lạ, thì Ngài phán rằng: Ở đây các ngươi có gì ăn không? Môn đồ dâng cho Ngài một miếng cá nướng. Ngài nhận lấy mà ăn trước mặt môn đồ. Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm. Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh Thánh. Ngài phán: Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem. Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa, còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao. Kế đó, Ngài đem môn đồ đi đến nơi xung quanh làng Bê-tha-ni, giơ tay lên mà ban phước cho. Đang khi ban phước, Ngài lìa môn đồ mà được đem lên trời. Môn đồ thờ lạy Ngài rồi trở về thành Giê-ru-sa-lem, mừng rỡ lắm. Môn đồ cứ ở trong đền thờ luôn, ngợi khen Đức Chúa Trời”
PHẦN GIỚI THIỆU:
Việc đáng lo trong phân đoạn Kinh Thánh, ấy là các môn đồ, lúc bắt đầu phân đoạn, họ mô tả đặc điểm Hội Thánh ngày nay hơn là các môn đồ ở phần cuối. Đáp ứng lúc đầu của các môn đồ trước sự chết của Đấng Christ là sự tàn phá hoàn toàn. Đáp ứng của họ trước các báo cáo và bằng chứng chỉ ra sự sống lại của Ngài đều là vô tín — sự vô tín nhất định (đối chiếu Mác 16.14-15). Các môn đồ trong phân đoạn Kinh Thánh chẳng ai thấy họ đâu hết. Họ đang trốn tránh ở đàng sau những cánh cửa đóng kín, hoặc buồn bã im lặng nơi sự an toàn trong nhà của họ (đối chiếu Luca 24.12). Ở cuối phân đoạn Kinh Thánh, nỗi sợ hãi của các môn đồ đã chuyển thành sự dạn dĩ; sự lẫn lộn của họ đổi thành tin quyết; tâm thần hoang mang của họ đổi thành vui mừng; sự họ đắm mình tự thương hại và thất vọng đổi thành thờ phượng.
Chính Frank Tillipaugh, trong quyển sách nổi tiếng của ông, có đề tựa là “Hội Thánh được gỡ rối”, ông đã đề cập tới “pháo đài tâm lý” của Hội Thánh. Tôi e rằng ông đã đúng, nghĩa là Hội Thánh đang lo nhiều về việc tự khuyến khích mình hơn là Hội Thánh đang lo đem tin lành đến với một thế giới bị hư mất. Chúng ta đang lo nhiều về bản thân của mình hơn là chúng ta lo toan cứu vớt kẻ bị hư mất. Dường như chúng ta bị kéo vào sự an ninh, an toàn hơn là đến với đức tin và sự vâng phục. Chúng ta đang hướng vào việc kiến tạo ra nhiều chương trình nhằm bảo hộ chúng ta tránh khỏi thế giới ngoại đạo mà chúng ta đang sinh sống trong đó, thay vì tập trung chia sẻ những tin tức tốt lành của Tin Lành cho thế giới đó. Với danh nghĩa gây dựng, quê hương và gia đình, chúng ta tự mình bị cái tôi của mình chiếm hữu hết. Tôi e, chúng ta rất giống với các môn đồ, đương ở trong thời điểm vô tín của họ.
Nếu thực như thế, thì đấy không phải là tệ nạn nan y hay vô vọng đâu! Các môn đồ đang ở trong chỗ nghi ngại và lo lắng đã được biến đổi trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, thành ra những người nam người nữ của sự vui mừng, của sự dạn dĩ, và của sự thờ phượng. Không bao lâu sau đó, họ đã được đánh dấu bằng sự làm chứng của họ. Bất cứ tệ nạn nào đã ngăn trở các môn đồ đều đã được chữa lành hết. Và phương thuốc chữa lành, hiện đang sẵn có và đã được áp dụng cho hôm nay y như cách đây 2.000 năm. Chúng ta hãy xem xét phân đoạn Kinh Thánh nầy, trước tiên để tiếp thu điều chi đã làm biến đổi những môn đồ không thấy được (11 môn đồ không xuất hiện trong các sách tin lành sau cái chết của Đấng Christ) thành một lực lượng vô đối đã làm rung chuyển thế giới thời bấy giờ. Kế đó, chúng ta hãy tiếp thu chính bài học đó cho bản thân mình.
CẤU TRÚC CỦA PHÂN ĐOẠN KINH THÁNH:
Cấu trúc của phân đoạn Kinh Thánh rất là đơn giãn. Các câu 36-43 mô tả thái độ vô tín của các môn đồ và nhấn mạnh “bằng chứng thuộc thể” về sự sống lại theo phần xác của Đức Chúa Jêsus Christ. Các câu 44-49 xử lý với “bằng chứng theo Kinh Thánh” trước những gì đã diễn ra, và cho những gì sẽ xảy ra. Các câu 50-53 mô tả sự thăng thiên của Chúa chúng ta, và sự khác biệt mà mọi việc nầy đã có trên các môn đồ. Tóm lại, cấu trúc của phân đoạn được chia ra như sau:
(1) Các câu 36-43 — Phần 1: Bằng chứng thuộc thể
(2) Các câu 44-49 — Phần 2: Bằng chứng theo Kinh Thánh
(3) Các câu 50-53 — Phần 3: Sự khác biệt của các môn đồ
XUẤT XỨ:
Trước khi chúng ta xem xét 3 phần nầy, ý nghĩa và sự xác đáng của chúng, chúng ta hãy dành vài sự lưu ý về phân đoạn nói chung.
Thứ nhứt, trong mấy câu nầy, thời gian được kéo ra những 40 ngày. Chúng ta biết điều nầy từ lời lẽ của Luca trong Công vụ Các Sứ Đồ chương 1, ở đây ông viết như sau:
“Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt các sứ đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Đức Chúa Trời” (Công vụ Các Sứ Đồ 1.3).
Chúng ta sẽ có ấn tượng như vầy: ba tiểu đoạn nầy đang mô tả toàn bộ các sự việc đang diễn ra trong cùng ngày ấy, cho nên mới có sự mô tả trong Công vụ Các Sứ Đồ 1, cùng với những câu chuyện tương ứng trong sách Mathiơ, Mác, và Giăng.
Mục đích của Luca không phải là nói cho chúng ta biết hết những gì đã xảy ra trong 40 ngày đó, cũng không chỉ ra một sự thay đổi về hiện trường, nhiều cho bằng tóm tắt phương thức trong đó Chúa Jêsus đã thuyết phục các môn đồ tin rằng Ngài đã sống lại từ kẻ chết, theo Kinh Thánh. Vì thế, chúng ta e rằng một sự thay đổi đúng lúc và đúng thời điểm sẽ được nhận ra, thí dụ trong các câu 44 đến 50. Ít nhất chúng ta biết rằng sự thăng thiên của Chúa chúng ta đã diễn ra 40 ngày sau sự sống lại của Ngài, và hơn một tháng sau lần hiện ra đầu tiên cho các môn đồ thấy, như đã được mô tả trong các câu 36-43.
Thứ hai, câu chuyện của Luca nói về những ngày sau cùng của Chúa chúng ta ở trên đất thì thấu đáo hơn câu chuyện của Mathiơ, nhưng câu chuyện của ông trong chương đầu tiên của sách Công vụ Các Sứ Đồ thì có nhiều chi tiết hơn. Mục đích của Luca, giống như mục đích của các trước giả Tin lành khác, không phải là nói cho chúng ta biết hết mọi sự đâu, mà là nói cho chúng ta biết một số việc quan trọng, và vì thế chúng sẽ được tuyển chọn trong chỗ mà họ chọn để thuật lại. Họ có nhiều việc để thuật lại cho chúng ta biết hơn những gì họ đã viết ra (đối chiếu Giăng 20.30-31).
Thứ ba, phần nhấn mạnh của Luca trong câu chuyện của ông nói về những lần hiện ra sau sự sống lại của Đấng Christ nhằm vào những gì đã diễn ra trong thành Jerusalem, chớ không nói nhiều về những gì đã diễn ra tại xứ Galilê (thí dụ, như Mathiơ đã ghi lại (28.16-17). Có nhiều lần hiện ra, một số lần hiện ra đó đã được mô tả trong một hay nhiều sách tin lành, và những lần khác có thể được mô tả bởi người khác. Có lẽ đã có một số lần hiện ra không được nhắc tới. Chúng ta không mong có sự cân đối trong tất cả các câu chuyện, vì có nhiều việc không được nói tới. Nếu tất cả các sự kiện đều được biết hết, thì mọi chi tiết phải cân đối trọn vẹn.
Thứ tư, trong khi Chúa Jêsus nhắc tới sự ứng nghiệm của kinh Cựu ước, Luca không nhắc tới một tham khảo nào cho chúng ta trong câu chuyện của ông. Hơn thế nữa, sự dạy của Chúa Jêsus thực sự không được ghi lại, mà chỉ đột phá chung chung thôi. Chúng ta sẽ khám phá một số phân đoạn khi chúng ta đến với phần nghiên cứu sách Công vụ Các Sứ Đồ, các phân đoạn không được liệt kê ra ở đây. Tôi nghĩ rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang thách thức chúng ta đọc và nghiên cứu kinh Cựu ước và tự chúng ta tìm gặp chúng. Chúng ta sẽ tìm kiếm những lời tiên tri có quan hệ tới Đấng Christ trong Cựu ước, thực vậy, trong từng chi tiết của Kinh ấy. Tường trình của Luca về lời lẽ của Chúa Jêsus cho chúng ta biết những gì phải lo tìm, và ở chỗ nào, còn phần việc truy tìm vẫn là phần việc của chúng ta.
PHẦN 1: Bằng chứng thuộc thể về sự sống lại của Chúa Jêsus (24.36-42)
“Môn đồ đang nói chuyện như vậy, chính Đức Chúa Jêsus hiện ra giữa đó mà phán rằng: Bình an cho các ngươi! Nhưng môn đồ đều sửng sốt rụng rời, tưởng thấy thần. Ngài phán rằng: Sao các ngươi bối rối, và sao trong lòng các ngươi nghi làm vậy? Hãy xem tay chân ta: thật chính ta. Hãy rờ đến ta, và hãy xem; thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có. Đang phán vậy, Ngài giơ tay và chân ra cho xem. Nhưng vì cớ môn đồ vui mừng nên chưa tin chắc, và lấy làm lạ, thì Ngài phán rằng: Ở đây các ngươi có gì ăn không? Môn đồ dâng cho Ngài một miếng cá nướng. Ngài nhận lấy mà ăn trước mặt môn đồ”.
Hai môn đồ mà Chúa Jêsus đã gặp họ trên con đường về làng Emmaút không thể đợi được, nên đã trở lại thuật các tin tức tốt lành cho anh em của họ tại thành Jerusalem. Ngay lập tức sau khi họ nhận ra Chúa Jêsus thì Ngài biến mất, họ vội vã quay về lại thành Jerusalem, và với các môn đồ. Họ chưa thể thốt ra lời vì Chúa Jêsus đã hiện ra rồi cho Phierơ, các môn đồ đã nói cho họ biết Chúa Jêsus thực đã còn sống. Vì thế, hai môn đồ trước tiên đã nghe nói về sự sống lại chắc chắn của Chúa Jêsus từ anh em của họ. Việc mà họ có thể làm hết sức mình lúc bấy giờ là thêm phần chứng cớ của họ vào lẽ thật nầy. Chúa Jêsus thực đã sống lại từ kẻ chết, và họ đã tin theo y như thế.
Hoặc dường như vậy, nhưng khi Chúa Jêsus thực sự hiện ra, thì rõ ràng là “niềm tin” của họ nơi sự sống lại của Ngài vẫn chưa đủ. Lời lẽ đầu tiên của Chúa Jêsus cho nhóm nầy là: “Bình an cho các ngươi” (câu 36). Tuy nhiên, đấy không phải là đáp ứng của họ. Họ đã “sửng sốt” và “rụng rời”, Luca nói cho chúng ta biết (câu 37). Tại sao chứ? Tại sao họ không quá đỗi vui mừng? Tại sao họ lấy làm sợ hãi và hoang mang chứ? Từ ngữ “sửng sốt” cho thấy rằng các môn đồ bị “mất cảnh giác” dù họ không hề mong gặp Chúa Jêsus. Nếu Ngài thực sự còn sống, như họ đã xưng nhận, tại sao sự hiện ra của Ngài lại trở thành một cú sốc như thế chứ? Nếu Chúa Jêsus đã chào thăm với một lời tuyên bố về sự “bình an”, tại sao họ lại sợ hãi, ngược lại với sự bình an chứ?
Câu trả lời, ấy là họ tưởng Chúa Jêsus là một con ma, một linh hồn, và họ sợ hãi về những bóng ma. Các môn đồ đã tin vào mấy hồn ma, và, ngay giây phút đó, họ đã tin Chúa Jêsus là một hồn ma. Ở một cấp độ nào đó, điều nầy rất dễ hiểu. Tin lành của Giăng cho chúng ta biết rằng căn phòng mà các môn đồ đang nhóm lại trên đó đã có “cửa đã đóng lại” (Giăng 20.19). Vì lẽ đó, sự hiện ra của Chúa Jêsus không phải là một việc bình thường. Làm thế nào Chúa Jêsus bước vào căn phòng bằng một thân xác bình thường cho được? Sự giải thích về hồn ma khiến cho họ ý thức như thế. Đây là lần kết luận đầu tiên của họ (và dường như có sự nhất trí).
Sự thật là, rất dễ cho các môn đồ tin vào một Jêsus “hồn ma”, hơn là tin vào một Jêsus là Đấng đang hiện diện về phần xác thịt. Vấn đề thực sự trầm xuống đến chỗ “tin” hay “không tin”. Các môn đồ nghĩ họ thực sự đã tin. Họ nói rằng họ đã tin (Luca 24.34). Nhưng họ không thực sự tin như vậy. Trong câu chuyện của Mác, ông nói cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus sau đó đã hiện ra cho 11 sứ đồ khi họ đang ngồi ăn; Ngài quở trách họ vì thiếu đức tin và sự khăng khăng từ chối không chịu tin theo những người đã thấy Ngài sau khi Ngài sống lại (Mác 16.14).
Niềm tin, chúng ta biết đấy, không phải là một vấn đề cho sự tuyên bố của chúng ta, mà là vấn đề cho sự thực hành của chúng ta (đối chiếu Giacơ 1.19–2.26). Trong sách Công vụ Các Sứ Đồ, chúng ta được biết về sự hiện thấy mà Phierơ đã nhận được, thuyết phục ông rằng ông không cần phải tránh né tiếp xúc với dân Ngoại nữa (Công vụ Các Sứ Đồ 10.9-16). Sự hiện thấy nầy lót đường cho Phierơ đi đến nhà của Cọt-nây, và rao giảng Tin lành. Phierơ đã làm theo y như vậy, và ở đó người dân Ngoại đã đến với đức tin. Còn các cấp lãnh đạo người Do thái của Hội Thánh tại thành Jerusalem đã đem mọi hành động của Phierơ ra bàn cãi. Sau khi ông đưa ra một lời giải thích mỹ mãn rồi, họ mới công nhận:
“Vậy Đức Chúa Trời cũng đã ban sự ăn năn cho người ngoại để họ được sự sống!” (Công vụ Các Sứ Đồ 11.18b).
Mặc dù có sự xưng nhận nầy rồi, cách giảng đạo của họ bị hạn chế lại, vì trong câu kế chúng ta biết:
“Những kẻ bị tản lạc bởi sự bắt bớ xảy đến về dịp Ê-tiên, bèn đi đến xứ Phê-ni-xi, đảo Chíp-rơ và thành An-ti-ốt, chỉ giảng đạo cho người Giu-đa thôi” (Công vụ Các Sứ Đồ 11.19, phần nhấn mạnh là của tôi).
Nếu niềm tin và cách hành đạo của chúng ta không cân xứng, thì niềm tin của chúng ta chưa thoả đáng. Cũng vậy, đối với các môn đồ. Tôi muốn nói thêm ở chỗ nầy, cũng như đối với chúng ta nữa.
Điều đáng phải lưu ý là “niềm tin chưa trọn” của các môn đồ ở lần hiện ra của Chúa chúng ta tương tự với “niềm tin chưa trọn” của nhiều người ngày nay, khi đến với sự sống lại của Chúa chúng ta. Họ mau mắn thừa nhận rằng Chúa Jêsus, theo một ý nghĩa nào đó, vẫn còn sống hôm nay. Ngài đang sống trong tâm linh, sống trong tấm lòng của chúng ta, chớ không phải như kiểu ký ức những người thân đã qua đời đang sống trong chúng ta. Còn Ngài không được xem là sống lại từ kẻ chết về phần xác thịt và hiện diện với dân sự Ngài ngày hôm nay. Sự không tin đó giống với sự vô tín của các môn đồ. Và sự vô tín nầy Chúa Jêsus đã quyết định đổi nó thành đức tin chân chính.
Cú đột phá của các câu 36-43 là sự Chúa giàu ơn cung ứng bằng chứng rời rộng về mặt thuộc thể cho sự sống lại theo phần xác thể của Ngài. Bằng chứng đầu tiên là Chúa đến đứng trước mặt họ. Ngài không phải là một hồn ma, như họ đã nghĩ đâu! Ngài khích họ chạm đến Ngài, và nhìn thấy rằng Ngài có thịt và xương (câu 40). Ngài cũng khích họ nhìn xem hai bàn tay và chân của Ngài (câu 40). Phần suy luận rõ ràng là cả tay và chân Ngài đều mang dấu đinh mà Ngài đã có trên cây thập tự. Ít nhất là với ý nghĩa nầy, xác thể của Ngài “giống” với thân thể mà Ngài đã có trước khi Ngài chịu chết. Thân thể của Chúa chúng ta không còn giống như thân thể trước đây, trong thân thể mới nầy nó không thể bị hư nát nữa, và không cứ cách nào đó thân thể ấy có khả năng hiện ra rồi biến mất, như rõ ràng trong lần hiện ra của Ngài trên căn phòng nơi họ nhóm lại, với cánh cửa bị khoá kín. Sau cùng, Chúa Jêsus đã ăn một con cá mà họ đang ăn, minh chứng sau cùng, thực thế, là minh chứng rất chơn thực — một người không thể đòi hỏi thức ăn để mà sống, mà để tiêu hoá nó. Có đúng là Chúa Jêsus sẽ cùng dự tiệc với các môn đồ Ngài ở trên trời, và cùng uống chén và ăn bánh mới trong Nước Trời hay không (đối chiếu Luca 22.15-18)?
Bằng chứng rất thuyết phục. Các môn đồ đã chịu tin theo. Điều nầy được thấy rất rõ ràng bởi sự thay đổi trong tâm tính của họ. Có ba phần mô tả cung ứng cho chúng ta trong các câu 36-37. Hãy dừng lại trong một phút để lưu ý chúng:
(1) Sửng sốt và rụng rời (câu 37)
(2) Bối rối và nghi ngờ (câu 38)
(3) Vui mừng và lấy làm lạ (câu 41)
Đáp ứng đầu tiên của các môn đồ trước sự hiện ra của Chúa Jêsus, ấy là họ đã “sửng sốt và rụng rời” (câu 37). Chúa Jêsus dẹp tan các triệu chứng nầy, đến tận gốc rễ, để rồi tâm thần họ thấy bối rối và nghi ngờ (câu 38). Khi bằng chứng đã được các môn đồ nắm bắt được rồi, “tâm thần bối rối” của họ đổi thành “vui mừng” (tôi nghĩ, kể cả sự “bình an” mà Chúa chúng ta đã phán ra trong lời chào thăm), và sự “nghi” của họ đổi thành “lấy làm lạ”. “Nghi” trước đó là nghi của sự vô tín, “lấy làm lạ” sau đó phù hợp với sự vui mừng, tương đương với: “Tôi không thể tin điều nầy đang xảy ra cho tôi!”, hoặc: “Quá tốt chưa hẳn là chơn thật đâu!”
Chúng ta không để mấy câu nầy lại sau lưng mà không đề nghị rằng cách Chúa sử dụng từ “bình an” còn đạt hơn cả hình thái chào thăm thông thường, mà thực vậy. Chữ “bình an” là một từ rất dồi dào ý tưởng, căn cứ theo gốc rễ của Cựu ước. Sự bình an của Đức Chúa Trời (thí dụ Lêvi ký 26.1-13; Dân số ký 6.22-26; Các Quan Xét 6.11-24; Êsai 9.1-7; 48.17-18; 59.1-8; 60.17-20; Êxêchiên 37.24-28; Michê 5.5; Aghê 2.3-9) rất thường được gắn với sự hiện diện của Ngài. Ngược lại, việc thiếu vắng sự bình an được gắn với sự vắng mặt hay lui đi của Ngài. Thứ hai, lời lẽ của Chúa Jêsus đối với các môn đồ Ngài, đã được Giăng ghi lại trong bài giảng trên phòng cao (Giăng 14-17) có chứa từ “bình an” mấy lần. Sự “bình an” trong đó Chúa chúng ta nói tới có việc phải làm với thì tương lai, khi sự hiện diện của Ngài với các môn đồ sẽ được tỏ ra qua Thánh Linh Ngài, là Đấng hầu đến. Sự bình an của Đức Chúa Trời và sự hiện diện của Đức Chúa Trời không thể tách rời ra được. Vậy thì không có gì phải ngạc nhiên khi Chúa Jêsus tỏ ra cho các môn đồ Ngài thấy Ngài đang hiện diện theo phần xác thể, và cũng đang phán với họ về sự bình an.
PHẦN 2: Bằng chứng có tính cách lý giải (24.44-49)
“Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm. Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh Thánh. Ngài phán: Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem. Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa, còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao”.
Với hai môn đồ đương trên đường về làng Emmaút, Chúa Jêsus đã bắt đầu với bằng chứng có tính lý giải (theo Kinh Thánh) về sự chối bỏ, sự thương khó, sự chết và sự sống lại của Ngài. Kế đó Ngài mới tỏ ra cho họ, rồi biến mất ngay lập tức. Ở đây, trình tự bị đảo lộn, nhưng cả hai yếu tố khẳng định sự sống và bình luận đều có mặt.
Việc đầu tiên bắt lấy sự chú ý của tôi trong mấy câu nầy, ấy là chẳng có cái gì “mới” ở đây, về những gì đã xảy ra cho Chúa Jêsus, hoặc về những gì sắp sửa xảy ra trong và qua các môn đồ. Hết thảy mọi điều đều đã được nói tiên tri trước trong Kinh Thánh, và cũng được Chúa Jêsus nói trước rồi. Có ba lãnh vực trọng tâm đặc biệt ở đây: (1) sự chối bỏ, sự thương khó, sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ; (2) việc rao giảng Tin lành cho các nước; và, (3) lời hứa về Đức Thánh Linh, sẽ giáng trên môn đồ để mặc lấy quyền phép cho họ.
Lãnh vực đầu tiên trong ba lãnh vực nầy sẽ đến với chúng ta chẳng có gì phải ngạc nhiên hết. Sự chối bỏ, sự chết và sự sống lại của Đấng Mêsi là một trong những lẽ đạo có tính tiên tri rất nổi bật (dù phức tạp, đối chiếu I Phierơ 1.10-12) trong Kinh Cựu ước. Sự chối bỏ và sự thương khó của Chúa Jêsus đã được Simêôn nói bóng gió (Luca 2.34-35). Lẽ đạo nầy đã được gợi ra trong cách đối đãi với Giăng Báptít, người tiền khu của Chúa Jêsus. Lẽ đạo nầy đã được biết trước bởi sự chối bỏ Chúa Jêsus trong cơ hội Ngài tỏ mình công khai lần đầu tiên là Đấng Mêsi tại nhà hội thành Nazarét (Luca 4.14-30). Khi chức vụ và sứ điệp của Chúa Jêsus đã lan rộng, sự chống đối của cấp lãnh đạo tôn giáo người Do thái càng có cường độ lớn thêm và có tổ chức. Trong vài cơ hội hoặc Chúa đã phán với các môn đồ rằng đây sẽ là số phận của Ngài đã định về mặt thiêng liêng (đối chiếu Luca 9.21-23; 9.44-45; 18.31-34). Trong khi các môn đồ không nắm bắt được lẽ thật nầy, và thậm chí còn kháng cự những điều họ biết về lẽ thật đó, họ cần được nhắc nhớ rằng đây là những điều Ngài đã nói với họ rồi.
Sự chối bỏ, sự thương khó, sự chết, và sự sống lại của Chúa Jêsus không những là lẽ đạo mà Ngài đã nói với họ trước rồi, trong một số cơ hội, đây cũng là những điều mà các tiên tri trong Cựu ước đã nói trước rồi, bắt đầu với luật pháp Môise, và kể cả các sách tiên tri và các Thi thiên nữa. Ba sách nầy — luật pháp Môise, các Thi thiên, và các sách tiên tri — không những là các phần tham khảo đến mọi chứng cớ chung về sự thương khó và Đấng Mêsi; chúng còn là ba phạm trù hay ba sự phân chia chính yếu trong đó toàn bộ Cựu ước đã được chia nhỏ ra. Cho nên, Chúa Jêsus đang nhắc cho các môn đồ Ngài nhớ rằng toàn bộ Cựu ước, trong tất cả ba phần chính nầy, đều mang chứng cớ về sự thương khó và sự chết của Ngài. Hết thảy kinh Cựu ước, bắt đầu với luật pháp Môise, đều thấy trước sự sự đến của Chúa Jêsus trong vai trò Đấng Mêsi.Và hết thảy kinh Cựu ước đều nói về sự chối bỏ, sự thương khó, sự chết và sự sống lại, dù bằng lời nói gián tiếp hay bằng cách suy luận. Sách tin lành Giăng đã ghi lại câu nói của Chúa Jêsus: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ” (Giăng 8.56).
Giờ đây, hai lần trong chương cuối của tin lành Luca, Chúa Jêsus đã đưa ra phần tham khảo đến những lời tiên tri trong kinh Cựu ước về sự chối bỏ, sự thương khó, sự chết, và sự sống lại của Ngài. Ít nhất trong cuộc trao đổi với hai người đang trên đường về làng Emmaút (24.27), đặc biệt Chúa Jêsus nhắc tới một số câu gốc trong Cựu ước rồi giải thích chúng theo ánh sáng của sự chúng được ứng nghiệm nơi Ngài. Thế nhưng chúng ta không được cung ứng cho một tham khảo nào hết ở đây. Tại sao Chúa Jêsus thổ lộ cho các môn đồ Ngài những lời tiên tri trong Cựu ước có đề cập tới Ngài, còn Luca không liệt kê chúng ra cho chúng ta? Tôi e là có ít nhất hai lý do. Thứ nhứt, chúng ta sẽ thấy đâu là một lời tiên tri chủ yếu khi chúng ta bước qua sách Công vụ Các Sứ Đồ. Thí dụ, trong Công vụ Các Sứ Đồ chương 2, Phierơ nhắc tới một số câu Kinh Thánh trong kinh Cựu ước để chứng minh Chúa Jêsus phải chịu thương khó, chịu chết, và phải sống lại từ kẻ chết. Luca thì chờ đợi một thời điểm tốt hơn. Thứ hai, tôi nghĩ rằng Đức Chúa Trời có dụng ý để cho chúng ta tự tìm lấy những câu Kinh Thánh nầy. Ngài chọn không cung ứng cho chúng ta phần tham khảo theo mục lục hay theo đề tài trước vấn đề nầy. Ngài mong chúng ta đọc kinh Cựu ước với con mắt ngó chăm vào các lời tiên tri nầy nói về Đấng Mêsi. Đức Chúa Trời không làm bài tập ở nhà thay cho chúng ta đâu.
Câu 45 là câu quyết định, tôi tin, vì câu nầy chỉ ra cho chúng ta thấy rằng trong khi có một sự vô tín mà các môn đồ đã vấp phải, và họ đã bị quở trách vì cớ sự vô tín ấy (thí dụ Mác 16.14), cũng có một bất lực tự nhiên không hiểu được Kinh Thánh, cần phải được dời đi. Trong câu 45, Luca cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus đã dời đi bức màn đó, giúp cho các môn đồ hiểu được, trong lần đầu tiên, các phần kinh Cựu ước có liên quan tới Ngài là Đấng Mêsi, đặc biệt có quan hệ tới sự chối bỏ, sự thương khó, sự chết của Ngài. Điều nầy phù hợp với những gì Phaolô về sau đã viết trong bức thư ông gửi cho người thành Côrinhtô:
“Chúng tôi giảng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, là sự mầu nhiệm kín giấu, mà từ trước các đời, Đức Chúa Trời đã định sẵn cho sự vinh hiển chúng ta. Trong những người cai quản đời nầy chẳng ai từng biết sự đó; bởi chưng, nếu đã biết thì họ chẳng đóng đinh Chúa vinh hiển trên cây thập tự đâu. Song le, như có chép rằng: ẤY LÀ SỰ MẮT CHƯA THẤY, TAI CHƯA NGHE, VÀ LÒNG NGƯỜI CHƯA NGHĨ ĐẾN, NHƯNG ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ SẮM SẴN ĐIỀU ẤY CHO NHỮNG NGƯỜI YÊU MẾN NGÀI. Đức Chúa Trời đã dùng Đức Thánh Linh để bày tỏ những sự đó cho chúng ta, vì Đức Thánh Linh dò xét mọi sự, cả đến sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời nữa. Vả, nếu không phải là thần linh trong lòng người, thì ai biết sự trong lòng người? Cũng một lẽ ấy, nếu không phải là Thánh Linh của Đức Chúa Trời, thì chẳng ai biết sự trong Đức Chúa Trời. Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thánh Linh từ Đức Chúa Trời đến, hầu được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời; chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng. Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự dồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng. Nhưng người có tánh thiêng liêng xử đoán mọi sự, và chính mình không bị ai xử đoán. VÌ AI ĐÃ BIẾT Ý CHÚA, ĐẶNG DẠY DỖ NGÀI? Nhưng phần chúng ta, thì có ý của Đấng Christ” (I Côrinhtô 2.7-16).
Từ phân đoạn nầy chúng ta có thể nhìn thấy mọi người, không được sự trợ giúp của Thánh Linh Đức Chúa Trời, thì không có khả năng hiểu biết những việc thuộc về Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời, mọi đường lối Ngài, và các phương tiện của Ngài, đã vượt quá mọi khả năng hiểu biết của chúng ta. Thêm vào hàng rào ngăn trở nầy, có thêm “bức màn” phải được dời ra khỏi con mắt của người Do thái. Về bức màn nầy Phaolô cũng đã viết trong bức thư thứ hai ông gửi cho người thành Côrinhtô:
“Nhưng lòng họ đã cứng cỏi; vì đến ngày nay, khi họ đọc Cựu Ước, cái màn ấy vẫn còn chưa cất khỏi, bởi chưng ấy là trong Đấng Christ mà màn đó biến đi. Ấy vậy, cho đến ngày nay, mỗi lần người ta đọc sách Môi-se cho họ, cái màn ấy vẫn còn ở trên lòng họ. KHI HỌ SẼ TRỞ LẠI CÙNG CHÚA, THÌ MÀN ẤY MỚI CẤT KHỎI. Vả, Chúa tức là Thánh Linh, Thánh Linh của Chúa ở đâu, thì sự tự do cũng ở đó. Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa, là Thánh Linh” (II Côrinhtô 3.14-18).
Mãi cho tới sau sự sống lại của Ngài thì mắt của các môn đồ mới được mở ra để hiểu hết những gì các vị tiên tri đã nói liên hệ tới chức vụ của Đấng Mêsi, và đặc biệt về sự chối bỏ, sự thương khó, sự chết và sự sống lại của Ngài. Bức màn ấy giờ đây đã bị cất khỏi. Từ điểm nầy trở đi các môn đồ sẽ xây sang những lời tiên của Cựu ước để minh chứng Chúa Jêsus là Đấng Mêsi đã được hứa cho, và mọi sự đã xảy ra cho Ngài là một điều tất yếu về mặt tiên tri.
Khía cạnh thứ hai của lời tiên tri trong Cựu ước mà Chúa Jêsus đã chỉ ra cho các môn đồ thấy là sự rao giảng Tin lành cho các dân các nước, chớ không phải chỉ cho dân Israel:
“Ngài phán: Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem. Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa” (Luca 24.46-48).
Hãy chú ý chữ “và” là chữ duy nhất đứng giữa khía cạnh thứ nhứt và khía cạnh thứ hai. Không có một sự phân cách nào ở đây, chỉ có sự kết nối mà thôi. Có lời chép rằng “Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại”, và cũng có lời chép rằng “rao giảng cho các dân các nước sự ăn năn để được tha tội”. Đây là một lẽ thật rất khó nắm bắt được như lẽ thật thứ nhứt. Thể nào người Do thái đã kháng cự phương diện nầy trong địa vị Đấng Mêsi của Đấng Christ, khi Ngài rõ ràng đã chỉ ra đây mới chỉ là khởi đầu chức vụ của Ngài mà thôi (Luca 4.24-27). Và đây không phải là lần đầu tiên mà sự cứu rỗi của dân Ngoại đã được nhắc tới trong sách Luca. Lúc Chúa Jêsus giáng sinh, thiên sứ đã báo cho mấy gã chăn chiên biết rằng “tin mừng lớn” mà Ngài đem đến cho họ là “cho muôn dân” (2.10). Tính phổ quát của Tin lành — sự thật Đấng Mêsi sẽ chịu chết vì tội lỗi của hết thảy mọi người tin, cả người Do thái và dân Ngoại — là một trong những sự chọc tức lớn lao nhất đối với người Do thái, đặc biệt đối với hạng người không xem mình là “tội nhân”.
Giao ước với Ápraham, giao ước đã được lập với Ápraham, thường được xem là nhắm vào mọi ơn phước sẽ giáng xuống cho dân Israel, còn các ơn phước mà Đức Chúa Trời đã hứa với Ápraham là những ơn phước sẽ mở rộng ra cho các dân các nước:
“Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Sáng thế ký 12.3).
Những vị tiên tri về sau, họ khẳng định chính lời hứa cứu rỗi nầy và ơn phước dành cho dân Ngoại. Chúng ta hãy xem những lời tiên tri nầy:
“Sau đó, ta sẽ đổ Thần ta trên cả loài xác thịt; con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri; những người già cả các ngươi sẽ thấy chiêm bao, những kẻ trai trẻ các ngươi sẽ xem sự hiện thấy. Trong những ngày đó, dầu những đầy tớ trai và đầy tớ gái, ta cũng đổ Thần ta lên. Ta sẽ tỏ những sự lạ ra trong các từng trời và trên đất: tức là máu lửa, và những trụ khói. Mặt trời sẽ đổi ra tối tăm, mặt trăng ra máu, trước khi ngày lớn và kinh khiếp của Đức Giê-hô-va chưa đến. Bấy giờ ai cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va thì sẽ được cứu; vì theo lời Đức Giê-hô-va, thì ở trên núi Si-ôn và trong Giê-ru-sa-lem, sẽ có những người trốn khỏi, và trong những người còn sống sót, sẽ có kẻ mà Đức Giê-hô-va kêu gọi” (Giôên 2.28-32, phần nhấn mạnh là của tôi).
“Ai là kẻ còn sót lại ở trong các ngươi đã xem thấy vinh quang khi trước của nhà nầy? và bây giờ các ngươi xem nó ra làm sao? Nó ở trước mắt các ngươi, há chẳng phải như là hư không sao? Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Xô-rô-ba-bên, ngươi khá can đảm; còn ngươi, Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, cũng khá can đảm; Đức Giê-hô-va lại phán: Cả dân sự trong đất, các ngươi cũng khá can đảm, và hãy làm việc; vì ta ở cùng các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Lời giao ước mà ta lập với các ngươi khi các ngươi ra khỏi Ê-díp-tô cùng Thần ta ở giữa các ngươi: chớ sợ hãi. Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Còn một lần, khỏi ít lâu nữa, ta sẽ làm rúng động các từng trời và đất, biển và đất khô. Ta cũng làm rúng động hết thảy các nước, và những sự ước ao của các nước hầu đến; rồi ta sẽ làm cho vinh quang đầy dẫy nhà nầy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Bạc là của ta, vàng là của ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Vinh quang sau rốt của nhà nầy sẽ lớn hơn vinh quang trước, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy; và ta sẽ ban sự bình an trong chốn nầy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (Aghê 2.3-9, phần nhấn mạnh là của tôi).
“Nầy, đầy tớ ta đây, là kẻ ta nâng đỡ; là kẻ ta chọn lựa, là kẻ mà linh hồn ta lấy làm đẹp lòng. Ta đã đặt Thần ta trên người, người sẽ tỏ ra sự công bình cho các dân ngoại” (Êsai 42.1, phần nhấn mạnh là của tôi).
Trong ánh sáng của lẽ thật, khi sự cứu rỗi mà Đấng Mêsi sẽ đem đến cho các dân các nước, Sứ Mệnh Cao Cả đến không như một khải thị mới mẻ đâu, mà như một sự dốc đổ, cả công việc của Đấng Christ trên thập tự giá đồi Gôgôtha, và cả những lời tiên tri trong Cựu ước đã nói trước sự cứu rỗi nhiều người trong từng quốc gia một. Hãy lưu ý rằng Luca (cả ở đây và trong Công vụ Các Sứ Đồ 1.8) ghi lại Sứ Mệnh Cao Cả, vừa là một mạng lịnh, vừa là một lời hứa, một sự chắc chắn.
Để cho Tin lành được rao giảng cho nhiều người của từng nước một, bắt đầu tại thành Jerusalem, các môn đồ phải được mặc lấy quyền phép, quyền phép của Đức Thánh Linh đã được hứa cho, quyền phép nầy sẽ xây những tấm lòng bằng đá thành những tấm lòng bằng thịt, quyền phép ấy sẽ thuyết phục và làm biến đổi một số người, chỉ không đầy một tháng trước đó, đã kêu gào đòi giết Đấng Mêsi. Lời hứa nầy về Đức Thánh Linh, giống như hai lãnh vực trước đó của lời tiên tri, Chúa Jêsus đã phán với các môn đồ về lời hứa đó, là điều mà các Đấng tiên tri trong Cựu ước đã nói trước. Chúng ta hãy nhìn vắn tắt vào một số tham khảo về sự đến của Đức Thánh Linh.
Sự đến của Đức Thánh Linh là “mặc lấy quyền phép từ trên cao”, như Chúa Jêsus đã phán (câu 49). Đây cũng là điều mà Đức Chúa Cha đã hứa cho. “Chờ điều Cha đã hứa” (đối chiếu Công vụ Các Sứ Đồ 1.4) phải có gốc rễ của nó trong sách các tiên tri của Cựu ước, và thực như vậy. Tuy nhiên, một lần nữa, nếu Chúa Jêsus đã nói cho các môn đồ biết các câu Kinh Thánh tiên tri nói cái gì rồi, Luca không ghi lại chúng. Chúng ta biết Công vụ Các Sứ Đồ chương 2 và Giôên chương 2 sẽ là một mà thôi. Nhưng chúng ta hãy xem vài phân đoạn Kinh Thánh khác hứa về sự đến của Đức Thánh Linh trong một tư thế rất quan trọng mà Israel đã kinh nghiệm đúng thời điểm nầy:
“Chúng nó sẽ đấm ngực vì đồng điền màu mỡ, vì cây nho sai trái. Chà chuôm gai gốc sẽ mọc lên trên đất dân ta, cùng trên mọi nhà chơi trong thành vui vẻ. Vì cung điện vắng tanh, thành đông đúc hoang loạn; đồi và tháp từ nay sẽ trở nên sào huyệt đến đời đời, cho những lừa rừng choán làm nơi nghỉ, và những bầy vật thả ăn, cho đến chừng Thần từ nơi cao được rải xuống khắp trên chúng ta, đồng vắng biến thành ruộng tốt, ruộng tốt được kể như rừng rậm. Bấy giờ sự xét đoán sẽ ở nơi đồng vắng, sự công bình sẽ trú nơi ruộng tốt. Công bình sẽ sanh ra bình an, trái của sự công bình sẽ là yên lặng và an ổn mãi mãi. Dân ta sẽ trú trong chỗ bình an, trong nhà yên ổn và nơi nghỉ lặng lẽ. Nhưng mưa đá sẽ đổ xuống trên rừng, và thành sẽ bị hạ cả xuống. Phước thay cho các ngươi gieo giống ở bên mọi dòng nước, thả chân bò lừa đi” (Êsai 32.12-20).
“Bây giờ, hỡi Gia-cốp, tôi tớ ta, hỡi Y-sơ-ra-ên mà ta đã chọn, hãy nghe! Đức Giê-hô-va, là Đấng đã làm nên ngươi, đã gây nên ngươi từ trong lòng mẹ, và sẽ giúp đỡ ngươi, phán như vầy: Hỡi Gia-cốp, tôi tớ ta, và Giê-su-run mà ta đã chọn, đừng sợ chi; vì ta sẽ rót nước trên kẻ khát, cho suối chảy nơi đất khô. Ta sẽ đổ Thần ta trên dòng dõi ngươi, và phước lành ta trên những kẻ ra từ ngươi. Chúng nó sẽ nẩy nở giữa đám cỏ, như cây liễu dưa dòng nước. Người nầy sẽ nói rằng: Ta thuộc về Đức Giê-hô-va; người kia xưng mình bằng danh của Gia-cốp, kẻ khác nữa lấy tay mình viết rằng: Ta thuộc về Đức Giê-hô-va, và xưng mình bằng danh Y-sơ-ra-ên” (Êsai 44.1-5).
“Đấng Cứu chuộc sẽ đến Si-ôn, đến cùng những kẻ thuộc về Gia-cốp, là kẻ bỏ tội lỗi, Đức Giê-hô-va phán vậy. Đức Giê-hô-va phán: Về phần ta, nầy là giao ước ta đã lập với họ. Thần ta ở trên ngươi, cả đến những lời ta đã đặt nơi miệng ngươi, sẽ chẳng lìa khỏi miệng ngươi, miệng dòng dõi ngươi, và miệng dòng dõi của dòng dõi ngươi, từ bây giờ cho đến đời đời! Đức Giê-hô-va phán vậy” (Êsai 59.20-21).
“Tay của Đức Giê-hô-va đặt trên ta; Ngài dắt ta ra trong Thần Đức Giê-hô-va, và đặt ta giữa trũng; nó đầy những hài cốt. Đoạn Ngài khiến ta đi vòng quanh những hài cốt ấy; nầy, có nhiều lắm trên đồng trũng đó, và đều là khô lắm. Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, những hài cốt nầy có thể sống chăng?… Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, những hài cốt nầy, ấy là cả nhà Y-sơ-ra-ên. Nầy, chúng nó nói rằng: Xương chúng ta đã khô, lòng trông cậy chúng ta đã mất, chúng ta đã tuyệt diệt cả! Vậy, hãy nói tiên tri, và bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi dân ta, nầy, ta sẽ mở mồ mả các ngươi, làm cho các ngươi lại lên khỏi mồ mả, và ta sẽ đem các ngươi về trong đất của Y-sơ-ra-ên. Hỡi dân ta, các ngươi sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va, khi ta đã mở mồ mả các ngươi, và làm cho các ngươi lại lên khỏi mồ mả. Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống. Ta sẽ lại lập các ngươi trong đất riêng của các ngươi; rồi các ngươi sẽ biết rằng ta, Đức Giê-hô-va, sau khi hứa lời ấy thì đã làm thành, Đức Giê-hô-va phán vậy” (Êxêchiên 37.1-3a,11-14).
“Ta sẽ không che mặt khỏi chúng nó nữa, vì ta sẽ đổ Thần ta trên nhà Y-sơ-ra-ên, Chúa Giê-hô-va phán vậy” (Êxêchiên 39.29).
“Ta sẽ đổ thần của ơn phước và của sự nài xin ra trên nhà Đa-vít, và trên dân cư Giê-ru-sa-lem; chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm; và chúng nó sẽ thương khóc, như là thương khóc con trai một, sẽ ở trong sự cay đắng, như khi người ta ở trong sự cay đắng vì cớ con đầu lòng. Trong ngày đó, sẽ có sự thương khóc lớn tại Giê-ru-sa-lem, như là sự thương khóc của Ha-đát-Rim-môn ở trong đồng bằng Mê-ghi-đô. Đất nầy sẽ thương khóc, mỗi họ riêng phần mình: họ của nhà Đa-vít riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; họ của nhà Na-than riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; họ của nhà Lê-vi riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; Họ Si-mê-y riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; phàm những họ còn sót lại, mỗi họ riêng ra, và những vợ chúng nó riêng ra” (Xachari 12.10-14).
“Điều Cha đã hứa” đã được Giăng Báptít lặp lại, ông đã đối chiếu phép báptêm của mình với phép báptêm của Đấng Mêsi là Đấng đã đến sau ông (đối chiếu Luca 3.16). Chúa Jêsus cũng nói về sự đến của Đức Thánh Linh trong Luca 11.5-13. Khi các môn đồ còn chưa hiểu, và đang chịu đựng thử thách, họ được truyền cho không phải sửa soạn để biện hộ chi hết, nhưng chính trong giờ đó Đức Thánh Linh sẽ ban lời cho họ nói (Luca 12.12; Mác 13.11; Mathiơ 10.20). Trong tin lành của Giăng sự dạy của Chúa chúng ta về Đức Thánh Linh là yếu điểm. Chúa Jêsus đã ban Đức Thánh Linh cho hết thảy những kẻ nào khát (Giăng 7.37-39), và Ngài đặc biệt hứa ban Đức Thánh Linh cho các môn đồ khi vắng mặt Ngài (Giăng 14-16).
Bản chất chức vụ của Đức Thánh Linh sẽ được chiếu cố tới trong phần nghiên cứu sách Công vụ Các Sứ Đồ của chúng ta, như vậy đủ để nói rằng Chúa Jêsus đã truyền cho các môn đồ Ngài đừng đi ra làm chứng cho mọi việc đã xảy ra mà chưa có quyền phép Ngài sẽ cung ứng cho qua Thánh Linh của Ngài. Ngài là Đấng đã truyền cho các môn đồ Ngài phải trở thành chứng nhân của Ngài, cũng đã truyền cho họ chỉ làm chứng trong quyền phép mà Ngài sẽ cung ứng cho. Ngài là Đấng ban lịnh truyền Ngài cũng là Đấng có quyền phép.
Sự thăng thiên và sự dạn dĩ của các môn đồ trong sự thờ phượng (24.50-53)
“Kế đó, Ngài đem môn đồ đi đến nơi xung quanh làng Bê-tha-ni, giơ tay lên mà ban phước cho. Đang khi ban phước, Ngài lìa môn đồ mà được đem lên trời. Môn đồ thờ lạy Ngài rồi trở về thành Giê-ru-sa-lem, mừng rỡ lắm. Môn đồ cứ ở trong đền thờ luôn, ngợi khen Đức Chúa Trời”
Bốn mươi ngày đã trôi qua, như Luca đã nói rõ ràng trong Công vụ Các Sứ Đồ 1.3. Các môn đồ giờ đây được dẫn ra khu ngoại vi của thành Jerusalem, một “chuyến hành trình trong ngày sabát” từ thành phố ấy, đến ngọn núi được gọi là Ôlive (Công vụ Các Sứ Đồ 1.12). Khi Ngài giơ cao cánh tay lên trong sự chúc phước, Ngài được cất đi khỏi họ. Một câu chuyện rất chi tiết sẽ nối theo sau trong sách Công vụ Các Sứ Đồ. Luca sẽ nói nhiều từ những ngày tháng nối theo sau sự cố nầy (tôi nghĩ là sau Lễ Ngũ Tuần). Các môn đồ nầy vốn quẫn trí và bực tức bởi sự chết của Chúa Jêsus giờ đây được mô tả như đã được biến đổi hẳn.
Hãy chú ý sự thay đổi mà Luca đang mô tả ở đây. Các môn đồ nầy từng chán nản hiện giờ lại chan chứa sự ngợi khen. Và các môn đồ nầy của Chúa Jêsus chỉ mấy ngày trước đây đã cúi đầu gục xuống ở đàng sau mấy cánh cửa đóng kín, trốn tránh các cấp lãnh đạo tôn giáo Do thái đã đóng đinh Chúa của họ trên thập tự giá, giờ đây rất bền đỗ, công khai ngợi khen Đức Chúa Trời — trong đền thờ, tại trung tâm đầu não của Do thái giáo. Sự thay đổi đã được mô tả rất ngắn gọn. Sự biến đổi sẽ được mô tả nhiều chi tiết hơn trong sách Công vụ Các Sứ Đồ, là sách thứ hai, có lẽ đã có mặt rồi.
PHẦN KẾT LUẬN:
Chương cuối của sách Luca đóng vai trò như một kiểu kết luận, như chúng ta trông đợi. Song trong thực tế chương nầy khó trở thành chương kết thúc lắm. Có một câu duy nhất, câu cuối hết, cung ứng cho chúng ta một nhận định về sự kết thúc, và câu ấy ngắn gọn đến khó tin được. Lý do rất rõ ràng. Tin lành Luca không thể cung ứng một sự kết thúc cho chúng ta. Đó là một tin lành, tin lành ấy có thể cho chúng ta biết về sự giáng sinh, sự sống, sự chết, và sự sống lại của Đấng Christ, nhưng tin lành ấy không thể thuật lại cho chúng ta toàn bộ câu chuyện. Điều nầy đúng một cách chính xác tại sao Luca thấy là cần thiết khi viết ra một quyển sách khác, một phần tiếp theo cho tin lành. Trong sách nầy, Luca sẽ tiếp tục câu chuyện nói tới công việc của Đấng Christ trên thế gian qua Hội Thánh Ngài, do Đức Thánh Linh mặc lấy quyền phép cho.
Khi tôi đọc Tin lành của Luca rồi đọc tiếp sách Công vụ Các Sứ Đồ, tôi có thể hiểu dễ dàng tại sao các môn đồ đã cảm nhận và hành động như họ đã có trong Tin lành của Luca. Tôi có thể nắm bắt được mọi cảm xúc và hành động của họ thể nào đã thay đổi trong sách Công vụ Các Sứ Đồ. Nhưng cái điều làm cho tôi phải bối rối, ấy là Hội Thánh ngày nay dường như hành động càng giống với các môn đồ trong sách Luca hơn là giống với các vị sứ đồ trong sách Công vụ Các Sứ Đồ. Chúng ta có cần phải nếm trải chính sự thay đổi trong tâm trí, và hành động mà các môn đồ đã nếm trải không? Có phải chúng ta ưa thích được như họ không? Tôi nghĩ thế.
Chúng ta phải thay đổi như thế nào, để được giống như các sứ đồ trong Công vụ Các Sứ Đồ hơn là cứ tiếp tục giống với các môn đồ trong sách Luca? Phải thay đổi như thế nào? Trước hết, tôi nghĩ rằng chúng ta tin, nhiều hơn các môn đồ đã tin, rằng Chúa Jêsus phải bị chối bỏ, bị xử tử, rồi đã sống lại. Tôi không nghĩ nan đề của chúng ta là hiểu biết Cựu ước đã dạy gì về Chúa Jêsus Để nhận lấy bước nầy sâu sắc hơn, tôi không nghĩ là chúng ta có một nan đề lớn khi tìm hiểu các sách tin lành dạy cái gì, về sự sống, sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus. Tôi nghĩ nan đề của chúng ta, ấy là dù mọi sự chúng ta nhận biết về Chúa Jêsus, chúng ta thực sự không tin như thế. “Sự xưng nhận của chúng ta” (tín điều của chúng ta — những gì chúng ta nói chúng ta tin) có thể là hậu-Ngũ Tuần, song cách hành đạo của chúng ta, cách xử sự của chúng ta là tiền-Ngũ Tuần. Chúng ta sống giống nhiều với các môn đồ đã sống trong Luca hơn là giống họ đã sống trong Công vụ Các Sứ Đồ. Những sự thật chúng ta biết rõ, nhưng chúng ta có thực sự tin chúng, quyền phép chúng ta xưng nhận, nhưng chúng ta có thực sự thực hành quyền phép ấy không?
Nói ngắn gọn, tôi thấy nan đề đã tỏ ra ở đây trong sách Luca, nhưng giải pháp chưa được tỏ ra. Giải pháp ấy được tỏ ra trong sách Công vụ Các Sứ Đồ. Trong khi một tín điều nơi sự sống lại của Đấng Christ là quan trọng, còn có nhiều tín điều khác cần thiết hơn. Tín điều ấy là gì nào? Chúng ta hãy tiếp tục bước vào sách Công vụ Các Sứ Đồ để tìm xem tín điều ấy là gì?
Cho phép tôi gợi ý cho quí vị thấy. Các môn đồ đã đạt tới mức tin rằng Chúa Jêsus không những đã chết, mà còn đã sống lại nữa. Bản chất của sự sống lại, như các môn đồ đã nắm bắt được, là không thoả đáng — họ nghĩ bản chất ấy chỉ là một sự sống lại “thuộc linh” mà thôi. Thực sự họ không tin Chúa Jêsus đã hiện diện với họ. Đấy là lẽ thật rất khó nắm bắt được. Không những Chúa Jêsus còn sống. Chúa Jêsus đã ở với họ, ở giữa vòng họ. Ngài còn hiện diện với họ, và ở trong họ, qua Thánh Linh của Ngài, song đây là lời hứa của những điều hầu đến. Sự sống lại của Đấng Christ ngọt ngào lắm khi chúng ta đạt tới mức nhận biết rằng Ngài là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm cho sống lại từ kẻ chết không những sống, mà còn hiện diện, bởi phương tiện Thánh Linh của Ngài. Nguyện chúng ta đạt tới mức nắm bắt được sự hiện diện của Ngài nơi chúng ta, một cách cá nhân và tập thể. Ở điểm nầy là vui mừng và quyền phép. Như Phaolô về sau đã viết:
“Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống” (Roma 8.11).
Thực tại lớn lao nhất của sự sống lại có thể thấy được hôm nay là thực tại một thân thể không có khả năng sống theo một phương thức làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và làm phu phỉ các điều răn của Ngài, là đối tượng cho quyền lực của tội lỗi, có thể được cung ứng cho sự sống bởi chính Đức Thánh Linh đã làm cho thi thể chết của Chúa chúng ta lại sống. Đức Thánh Linh là Đấng đã làm cho Đấng Christ sống lại từ kẻ chết có thể cung ứng cho sự sống cho thân thể hay chết của chúng ta. Đây là một thực tại về sự sống lại mà các môn đồ không bao lâu nữa sẽ kinh nghiệm. Nguyện chúng ta cũng kinh nghiệm được sự sống lại ấy nữa.

Luca 23.54-24-35: "TỪ "TAN VỠ" ĐẾN "NÓNG CHÁY"



Phần giới thiệu
Những chỗ căng thẳng trong phân đoạn Kinh Thánh
Xuất xứ (23.54-24.12)
Chúa phục sinh và hai môn đồ ngã lòng (24.13-24)
Sự chỉnh đốn và lời dặn dò của Chúa Jêsus (24.25-27).
Sự nhìn biết Chúa Jêsus (24.28-35)
Phần kết luận
Bài 76:

TỪ “TAN VỠ” ĐẾN “NÓNG CHÁY”

(Luca 23.54–24.35)
“Bấy giờ là ngày sắm sửa, và ngày Sa-bát gần tới. Các người đàn bà đã từ xứ Ga-li-lê đến với Đức Chúa Jêsus, theo Giô-sép, xem mả và cũng xem xác Ngài đặt thể nào. Khi trở về, họ sắm sửa những thuốc thơm và sáp thơm. Ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mồ Ngài. Họ thấy hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mồ; nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus. Đang khi không biết nghĩ làm sao, xảy có hai người nam mặt áo sáng như chớp, hiện ra trước mặt họ. Họ đang thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết? Ngài không ở đây đâu, song Ngài đã sống lại. Hãy nhớ khi Ngài còn ở xứ Ga-li-lê, phán cùng các ngươi thể nào, Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại. Họ bèn nhớ lại những lời Đức Chúa Jêsus đã phán. Họ ở mồ trở về, rao truyền mọi sự ấy cho mười một sứ đồ và những người khác. Ấy là Ma-ri Ma-đơ-len, Gioan-nơ, và Ma-ri mẹ của Gia-cơ, cùng các đàn bà khác đi với họ đã rao truyền như vậy cho các sứ đồ. Song các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không. Dầu vậy, Phi-e-rơ đứng dậy, chạy đến mồ, cúi xuống mà dòm, chỉ thấy vải liệm ở trên đất, đoạn về nhà, lạ lùng cho việc đã xảy ra. Cũng trong ngày ấy, có hai môn đồ đi đến làng kia, gọi là Em-ma-út, cách thành Giê-ru-sa-lem sáu mươi ếch-ta-đơ; họ đàm luận về những sự đã xảy ra. Đang khi nói và cãi lẽ nhau, chính Đức Chúa Jêsus đến gần cùng đi đường với họ, nhưng mắt hai người ấy bị che khuất không nhìn biết Ngài được. Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi đang đi đường, nói chuyện gì cùng nhau vậy? Họ dừng lại, buồn bực lắm. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-ba, trả lời rằng: Có phải chỉ ngươi là khách lạ ở thành Giê-ru-sa-lem, không hay việc đã xảy đến tại đó cách mấy bữa rày sao? Ngài hỏi rằng: Việc gì vậy? Họ trả lời rằng: Ấy là việc đã xảy ra cho Jêsus Na-xa-rét, một đấng tiên tri, có quyền phép trong việc làm và trong lời nói, trước mặt Đức Chúa Trời và cả chúng dân; làm sao mà các thầy tế lễ cả cùng các quan đề hình ta đã nộp Ngài để xử tử, và đã đóng đinh trên cây thập tự. Chúng tôi trông mong Ngài sẽ cứu lấy dân Y-sơ-ra-ên; dầu thể ấy, việc xảy ra đã được ba ngày rồi. Thật có mấy người đàn bà trong vòng chúng tôi đã làm cho chúng tôi lấy làm lạ lắm: khi mờ sáng, họ đến mồ, không thấy xác Ngài, thì về báo rằng có thiên sứ hiện đến, nói Ngài đang sống. Có mấy người trong vòng chúng tôi cũng đi thăm mồ, thấy mọi điều y như lời họ nói; còn Ngài thì không thấy. Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói! Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao? Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. Khi hai người đi gần đến làng mình định đi, thì Đức Chúa Jêsus dường như muốn đi xa hơn nữa. Nhưng họ ép Ngài dừng lại, mà thưa rằng: Xin ở lại với chúng tôi; vì trời đã xế chiều hầu tối. Vậy, Ngài vào ở lại cùng họ. Đang khi Ngài ngồi ăn cùng hai người, thì lấy bánh, chúc tạ, đoạn, bẻ ra cho họ. Mắt họ bèn mở ra, mà nhìn biết Ngài; song Ngài thoạt biến đi không thấy. Hai người nói cùng nhau rằng: Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao? Nội giờ đó, họ liền đứng dậy, trở về thành Giê-ru-sa-lem, gặp mười một sứ đồ cùng các môn đồ khác đang nhóm lại, nói với họ rằng: Chúa thật đã sống lại, và hiện ra với Si-môn. Rồi hai người thuật lại sự đã xảy đến khi đi đường, và nhìn biết Ngài lúc bẻ bánh ra là thể nào”.
PHẦN GIỚI THIỆU:
Rất tiếc là vào thời điểm nầy trong năm, dân chúng ở Dallas được nhắc nhớ tới một sự cố rất thảm thương — ấy là Tổng Thống John Kennedy bị ám sát. Nếu quí vị (đủ già) giống như tôi, có lẽ quí vị sẽ nhớ mình đang sống ở đâu và quí vị đang làm gì trong lúc ông ấy chết. Những gì quí vị và tôi đang nhớ tới có lẽ chẳng có gì là quan trọng hết, nhưng vì việc ấy đã xảy ra quá gần gũi với thảm hoạ của quốc gia như thế nầy, việc ấy đã ghi khắc vào lý trí chúng ta không thế gột rửa được.
Bàn tiệc của Chúa, hay Mối Thông Công, là một sự cố tương tự, tôi tin như thế. Bàn tiệc nầy được gắn với một sự cố rất kỳ diệu và nồng ấm — sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ, và vì thế sự sống ấy được ghi khắc vào tấm lòng các môn đồ của Chúa chúng ta. Bữa “tiệc ly”, đáng được gọi như thế, là một sự cố rất quan trọng, nhưng không phải là một ký ức hoàn toàn vui vẻ đâu. Các môn đồ rất buồn rầu vì Chúa Jêsus đang nói tới cái chết của chính mình Ngài, và nói tới một người trong số họ sẽ là kẻ phản Ngài, và ngay cả sự chối bỏ của Phierơ nữa. Thêm vào các việc nầy, những môn đồ đang bàn bạc giữa vòng họ xem ai là người lớn hơn hết. Một người khó mà muốn tái diễn lại bữa “tiệc ly”, vì một trong số những bữa tiệc nầy là đủ rồi. Trong khi sự hiện ra của Chúa cho hai người trên đường về làng Emmaút đã xảy có trên đường về làng nầy, sự nhìn biết người nầy là Chúa Jêsus không thực có cho tới lúc Chúa bẻ bánh tại bàn ăn. Đây là cơ hội cho sự nhìn biết Chúa đang hiện diện và bẻ bánh, nó tạo ra một sự ấm áp cho việc bẻ bánh, và đặc biệt cho bàn tiệc của Chúa. Chúng ta nhìn thấy trong sách Công vụ Các Sứ Đồ rằng việc bẻ bánh là một kinh nghiệm hàng ngày trong Hội Thánh đầu tiên (đối chiếu Công vụ Các Sứ Đồ 2.42, 46).
NHỮNG CHỖ CĂNG THẲNG TRONG PHÂN ĐOẠN KINH THÁNH:
Câu chuyện kể về hai người đang trên đường về làng Emmaút là một trong những câu chuyện ấm lòng nhất nói tới các sự hiện ra của Chúa chúng ta cho người ta thấy sau sự sống lại của Ngài. Bởi ưu điểm chiều dài của câu chuyện, một người có thể nhìn thấy Luca đang đặt ra tầm quan trọng của sự cố nầy. Nó chiếm nhiều chỗ trong câu chuyện của ông kể lại những lần hiện ra sau sự sống lại của Chúa chúng ta. Tuy nhiên, dù chiều dài của phân đoạn và sự lĩnh hội câu chuyện đã được nhận lãnh về mặt lịch sử, có vài “chỗ căng thẳng trong phân đoạn Kinh Thánh” cần phải xử lý, vài khó khăn cần phải được giải thích.
Thứ nhứt, có sự thật cho thấy rằng hai “môn đồ” nầy chưa bao giờ được nhắc tới, cả trước và sau. Tại sao Luca lại nhắm vào hai môn đồ vô danh nầy, (Cờlêôba, tất nhiên, được nhắc tới, song thực sự chẳng có ai biết), khi ông ít nói tới 11 môn đồ? Mười một môn đồ đang ở đâu? Điểm khó khăn khác là tại sao hai người nầy lại đang trên đường về làng Emmaút trong chỗ thứ nhứt. Ai nấy sẽ mong họ trên đường về lại xứ Galilê, như Chúa Jêsus và các thiên sứ đã căn dặn các môn đồ (Mathiơ 28.7, 10; Mác 16.7), hoặc ở lại trong thành Jerusalem, ít nhất là cho tới khi “lẽ mầu nhiệm” sự biến mất của xác Chúa Jêsus đã được giải quyết. Chỗ căng thẳng khác nữa là đây: Tại sao Chúa Jêsus không tỏ chính mình Ngài ra cho các môn đồ thấy bằng cách hiện ra chỉ cho họ thấy thôi, thay vì Ngài đã hiện ra ở đây và ở chỗ khác? Chỉ hiện ra thôi, thì quá dễ dàng rồi, như Ngài đã hiện ra về sau, và để cho họ thấy hai bàn tay và hông của Ngài. Sau cùng, tôi thấy bối rối bởi chuổi biến cố trong câu chuyện nầy. Tại sao Chúa Jêsus không bày tỏ Ngài ra trước hết, trước khi Ngài quở trách hai người nầy, thay vì tỏ mình Ngài ra sau mọi sự Ngài đã phán và làm, và đồng thời với sự “biến mất” của Ngài hoặc không còn trông thấy được bằng mắt thường nữa? Tại sao Chúa Jêsus không dành cho hai người nầy một thì giờ nào với Ngài trong vai trò Chúa Jêsus? Những chỗ căng thẳng nầy sẽ được nhắc tới khi chúng ta tiến hành phần nghiên cứu của chúng ta.
Xuất xứ (23.54–24.12)
“Bấy giờ là ngày sắm sửa, và ngày Sa-bát gần tới. Các người đàn bà đã từ xứ Ga-li-lê đến với Đức Chúa Jêsus, theo Giô-sép, xem mả và cũng xem xác Ngài đặt thể nào. Khi trở về, họ sắm sửa những thuốc thơm và sáp thơm. Ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mồ Ngài. Họ thấy hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mồ; nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus. Đang khi không biết nghĩ làm sao, xảy có hai người nam mặt áo sáng như chớp, hiện ra trước mặt họ. Họ đang thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết? Ngài không ở đây đâu, song Ngài đã sống lại. Hãy nhớ khi Ngài còn ở xứ Ga-li-lê, phán cùng các ngươi thể nào, Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại. Họ bèn nhớ lại những lời Đức Chúa Jêsus đã phán. Họ ở mồ trở về, rao truyền mọi sự ấy cho mười một sứ đồ và những người khác. Ấy là Ma-ri Ma-đơ-len, Gioan-nơ, và Ma-ri mẹ của Gia-cơ, cùng các đàn bà khác đi với họ đã rao truyền như vậy cho các sứ đồ. Song các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không. Dầu vậy, Phi-e-rơ đứng dậy, chạy đến mồ, cúi xuống mà dòm, chỉ thấy vải liệm ở trên đất, đoạn về nhà, lạ lùng cho việc đã xảy ra”.
Mấy người đờn bà chẳng có phần gì trong sự chôn cất Chúa chúng ta, là điều được thực hiện bởi Giôsép người Arimathê (23.50-53), cùng với sự trợ giúp của Nicôđem (Giăng 20.38-39). Họ đã lo liệu hết trong việc chôn cất thi thể của Chúa Jêsus và đánh dấu trong lý trí của họ địa điểm chính xác nơi Chúa Jêsus được đặt để ở đó. Việc nầy còn nhiều hơn cả việc nhìn biết chính xác ngôi mộ nữa; đó là việc biết rõ thi thể được đặt trong ngôi mộ đó. Trong sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, mấy người đờn bà không thể trở lại ngôi mộ sớm hơn ngày thứ nhứt trong tuần lễ, “ngày thứ ba”, một khi buổi tối đã mau chóng áp sát giờ chôn Chúa Jêsus, và khi ngày hôm sau là ngày sabát. Mấy người đờn bà đã lo mua sắm các thứ hương liệu cần thiết và đã có chúng trong tay, song không thể làm chi được phải chờ tới ngày hôm sau ngày sabát. Họ đã chờ cho tới lúc sáng sớm, và rồi đi ra mộ. Vì vậy phải nói rằng mấy người đờn bà đã quên nơi chôn cất Chúa Jêsus và đã gặp phải ngôi mộ không đúng, Luca (cùng với các trước giả Tin lành khác) ghi lại rằng các thiên sứ đã báo cho mấy người đờn bà biết rằng họ đã đến đúng chỗ, họ đang tìm kiếm Chúa Jêsus, nhưng Ngài không còn ở đó nữa (Luca 24.5-7; cũng đối chiếu Mathiơ 28.5-6; Mác 16.6). Mathiơ cho chúng ta biết là một vị thiên sứ đã mời mấy người đờn bà vào nhìn xem chỗ đã táng xác Ngài (28.6).
Hai vị thiên sứ đã tử tế quở trách mấy người đờn bà vì đã tìm kiếm thi thể của Chúa Jêsus vào ngày thứ ba, khi Ngài đã nói với họ lúc còn ở tại xứ Galilê rằng Ngài sẽ bị chối bỏ, bị xử tử, và sống lại vào ngày thứ ba (Luca 9.22). Chúa Jêsus đang còn sống. Tại sao họ lại tìm người sống giữa vòng kẻ chết chứ? Lời lẽ của các vị thiên sứ làm cho lý trí của mấy người đờn bà đó phải nẩy lên, và họ nhớ lại đây đúng chính xác những gì Chúa Jêsus đã nói với họ, từ lâu trước khi Ngài chịu chết. Giờ đây họ đã trông thấy sự chết của Ngài, cũng như sự sống lại của Ngài, là một điều cần thiết, và cũng là một lời tiên tri phải được ứng nghiệm. Đối với họ tìm kiếm thi thể của Ngài là một hành động của sự vô tín — một hành động yêu thương của sự vô tín, dù sao đó cũng chính là sự vô tín.
Trong Mathiơ và Mác, các thiên sứ và Chúa Jêsus cả hai đều đã dạy cho mấy người đờn bà phải trở về với các môn đồ của Chúa Jêsus để nói cho họ biết Ngài còn sống và Ngài sẽ gặp họ tại xứ Galilê. Luca chỉ nói cho chúng ta biết rằng họ đã đi gặp các môn đồ, rồi khi họ thuật lại câu chuyện của họ, các môn đồ đã từ chối không chịu tin họ, các môn đồ nghĩ rằng “mấy người đờn bà tình cảm” nầy đã có sự rối reng trong đầu của họ, hoàn toàn kích động, và nỗi buồn đã phủ lút họ rồi. Phierơ đã đi ra mộ (dường như có nhiều lần đi ra mộ trong ngày ấy),và ông đã thấy mọi sự y như mấy người đờn bà đã mô tả, song ông vẫn chưa tin. Ông trở về nhà lấy làm bối rối.
Thế nhưng cái điều làm cho tôi phải bối rối, ấy là không có một môn đồ nào đã trông thấy một thiên sứ tại ngôi mộ ngày ấy. Mấy người đờn bà đã trông thấy (hai) thiên sứ, nhưng các môn đồ thì không. Thậm chí mấy tên lính canh đứng gát tại ngôi mộ đã trông thấy vị thiên sứ lăn tảng đá đi và đã lấy làm sợ hãi gần chết (Mathiơ 28.2-4). Nhưng chẳng có một môn đồ nào trông thấy cả? Tại sao không chứ? Tại sao Chúa Jêsus không tạo điều kiện dễ dàng cho các môn đồ tin Ngài đã sống lại từ kẻ chết? Tại sao Ngài lại chậm trễ trong việc tự bày tỏ chính mình Ngài ra cho mấy ông, khi mấy bà được đặc ân nhìn thấy Ngài không lâu sau đó? Tôi tin lý do có thể được đưa ra bởi một sự cố trước đó, là sự nhìn biết trước tiên lai lịch của Chúa Jêsus bởi các môn đồ ngay lúc Ngài hoá hình. Trước tiên Chúa Jêsus đã hỏi các môn đồ người ra nghĩ Ngài là ai!?! Kế đó Ngài đã hỏi họ nghĩ Ngài là ai!?! Phierơ đã đáp lại rằng Ngài là Đấng Christ, Đấng Mêsi, Chúa Jêsus đã đáp lại lời đáp đó:
“Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn là cha ta ở trên trời vậy” (Mathiơ 16.17b).
Chúa Jêsus không muốn mau mau hoàn thành, mau mau kết luận rằng Ngài là ai đâu! Ngài muốn các môn đồ của Ngài phải tin tuyệt đối về lai lịch của Ngài. Nền tảng cho lòng tin quyết như thế nầy là một sự hiểu biết từ Kinh Thánh rằng những lời tiên tri của chính Ngài nói về sự chối bỏ, sự chết, và sự sống lại đều phù hợp với mọi lời tiên tri trong Cựu ước. Giờ đây chúng ta hãy trở lại với câu chuyện nói tới sự hiện ra của Chúa chúng ta với hai người đang trên đường về làng Emmaút càng thấy rõ ràng nơi những điều Chúa Jêsus đã tỏ ra hơn, không những sự sống lại của Ngài, mà còn nơi sự hiện diện cá nhân của Ngài nữa.
Chúa phục sinh và hai môn đồ ngã lòng (24.13-24)
“Cũng trong ngày ấy, có hai môn đồ đi đến làng kia, gọi là Em-ma-út, cách thành Giê-ru-sa-lem sáu mươi ếch-ta-đơ; họ đàm luận về những sự đã xảy ra. Đang khi nói và cãi lẽ nhau, chính Đức Chúa Jêsus đến gần cùng đi đường với họ. nhưng mắt hai người ấy bị che khuất không nhìn biết Ngài được. Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi đang đi đường, nói chuyện gì cùng nhau vậy? Họ dừng lại, buồn bực lắm. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-ba, trả lời rằng: Có phải chỉ ngươi là khách lạ ở thành Giê-ru-sa-lem, không hay việc đã xảy đến tại đó cách mấy bữa rày sao? Ngài hỏi rằng: Việc gì vậy? Họ trả lời rằng: Ấy là việc đã xảy ra cho Jêsus Na-xa-rét, một đấng tiên tri, có quyền phép trong việc làm và trong lời nói, trước mặt Đức Chúa Trời và cả chúng dân; làm sao mà các thầy tế lễ cả cùng các quan đề hình ta đã nộp Ngài để xử tử, và đã đóng đinh trên cây thập tự. Chúng tôi trông mong Ngài sẽ cứu lấy dân Y-sơ-ra-ên; dầu thể ấy, việc xảy ra đã được ba ngày rồi. Thật có mấy người đàn bà trong vòng chúng tôi đã làm cho chúng tôi lấy làm lạ lắm: khi mờ sáng, họ đến mồ, không thấy xác Ngài, thì về báo rằng có thiên sứ hiện đến, nói Ngài đang sống. Có mấy người trong vòng chúng tôi cũng đi thăm mồ, thấy mọi điều y như lời họ nói; còn Ngài thì không thấy”.
Trong tiểu đoạn nầy, bối cảnh đã được đề ra. Các nhân vật là Chúa Jêsus cùng hai người kia, một người có tên là Cờlêôba. Chúng ta hãy nhìn vào Chúa chúng ta trước tiên và kế đó là hai người kia. Chúa đã hiện ra cho hai người nầy như một con người vậy. Từ lần hiện ra của Ngài, có người đã nghĩ Chúa Jêsus chỉ là một con người bình thường mà thôi. Từ tin lành của Mác (16.12) chúng ta tiếp thu rằng Chúa Jêsus đã hiện ra cho hai người nầy bằng “một hình thái khác”. Nói như vầy có nghĩa là Chúa Jêsus đã hiện ra cho mấy ông thấy bằng thân thể đã phục sinh của Ngài, nhưng dường như có ý nói rằng Ngài đã hiện ra cho họ trong một thân thể chưa thể được thừa nhận liền được. Thí dụ, điều nầy có ý nói rằng các vết sẹo khi bị đóng đinh chưa rõ ràng, hầu cho mọi biểu lộ về lai lịch của Ngài phải bị che giấu?
Không những Chúa Jêsus xuất hiện cho hai người nầy thấy như một con người, Ngài cũng hiện ra cho họ thấy như một người rất giống như họ. Ngài cũng là một lữ khách, dường như là vậy. Giống như họ, Ngài cùng đi tới làng Emmaút. Để chính xác hơn, sự việc cho thấy rằng Ngài còn muốn đi xa hơn làng Emmaút nữa, vì Ngài đã hành động như thể Ngài còn tính đi thêm nữa khi họ đã dừng chân đứng lại. Lạ lùng thay, dường như là Chúa Jêsus đã xuất hiện như một người yếu ớt hơn những kẻ mà Ngài cùng đồng đi với họ. Bởi điều nầy tôi muốn nói rằng hai người kia đã trông thấy Chúa Jêsus vừa muốn “rút đi”, vừa muốn tách ra khỏi những gì đang diễn ra, hay tỏ ra chậm hiểu điều đang được trao đổi. Lời lẽ của hai người nầy nói với Chúa Jêsus là một lời quở trách, như có ý nói: “Nào, ông kia, hãy nghe đây!”
Bây giờ chúng ta hãy xây sự chú ý vào hai người nầy. Hai người nầy là các môn đồ, hai người vốn quá quen thuộc với và gắn bó với 11 sứ đồ. Luca đề cập tới họ là “hai trong số các môn đồ” (câu 13), chữ “họ” [môn đồ] rõ ràng đề cập ngược lại tới 11 sứ đồ (Luca 24.9-11). Từ những điều họ nói với Chúa chúng ta, họ đang chia sẻ mọi sự đã diễn ra và mọi sự đã được mấy bà tường trình lại cho các sứ đồ nghe. Họ không được kể số trong vòng 11 sứ đồ, nhưng họ rất gắn bó đối với họ. Thực ra, họ là môn đồ của Chúa chúng ta.
Tuy nhiên, các môn đồ nầy đã ngã lòng rồi. Trong mọi dự tính cùng các mục đích của họ, họ đã mất hết mọi sự trông cậy rồi. Gương mặt của họ sầu thảm và buồn bực lắm (câu 17). Họ đã trông mong rằng Chúa Jêsus là Đấng Mêsi (câu 21), nhưng với cái chết của Ngài, họ đã kết luận rằng Ngài chỉ là một đấng tiên tri mà thôi — một vị tiên tri thật của Đức Chúa Trời, một tiên tri có quyền phép, nhưng chỉ là tiên tri, là người đã chết giống như bao nhiêu tiên tri khác đời xưa. Hai người nầy đã nói cho Chúa Jêsus biết và dữ liệu khác mà họ đã chọn không biết tới, chối bỏ, hay hiểu sai. Họ nói, đấy là “ngày thứ ba” kể từ lúc Ngài gục chết. Đây là một tham khảo đối với lời lẽ của Chúa Jêsus cho rằng Ngài sẽ sống lại vào ngày thứ ba. Mấy người đờn bà, họ nói cho Chúa Jêsus biết, đã ra tới mộ và thấy mộ trống không. Họ nói là họ đã gặp các thiên sứ, nhưng than ôi họ đã không nhìn thấy Chúa Jêsus. Những việc nầy dường như chỉ ra sự sống lại của Chúa Jêsus chẳng có cái chạm nào trên mấy ông hết.
Hai người nầy đã trên đường từ thành Jerusalem về làng Emmaút. Họ đã “đi đường về nhà quê” (Mác 16.12). Chúng ta không biết chính xác địa điểm của ngôi làng nhỏ Emmaút đó, mà chỉ biết ngôi làng ấy nằm cách thành Jerusalem khoảng 7 dặm đường mà thôi. Những gì chúng ta đang nhìn biết là đây: họ không đến xứ Galilê, như các thiên sứ và Chúa Jêsus đã bảo họ qua mấy người đờn bà. Cả Mathiơ (28.7, 10) và Mác (16.7) đặc biệt nói rằng các thiên sứ và Chúa Jêsus đã bảo các môn đồ rằng Chúa Jêsus sẽ gặp họ tại xứ Galilê. Vậy thì các môn đồ của Chúa Jêsus đang ở đâu (hay ít nhất là họ đang trên đường đi) nếu họ tin theo sự phục sinh của Chúa và đã tuân theo mọi sự dặn dò của Ngài? Phierơ “đã về nhà” (Luca 24.12), tôi hiểu điều nầy có ý nói rằng ông đã quay trở về nơi mà ông đang ngụ trong thành Jerusalem. Hai người đang trên đường về làng Emmaút cũng có thể đang làm tương tự. Nếu họ không sống tại làng Emmaút, họ sẽ đến ngụ ở đó, ở vùng ngoại ô, để chờ dự Lễ Vượt Qua. Dòng người đông đúc cần phải tìm sự điều tiết từ phía ngoài thành phố. Họ không ở lại trong thành Jerusalem, cho tới chừng lẽ mầu nhiệm của sự biến mất thân xác của Chúa Jêsus đã được giải quyết. Chắc chắn họ đã không rời khỏi đó để đi xứ Galilê.
Tôi thấy hai người nầy hoàn toàn là vô tín, hoàn toàn thất bại, họ đã chịu thua, rồi trở về quê nhà. Với chứng cớ ngược lại, hai người nầy dường như đã quyết định không tin vào sự phục sinh của Chúa. Tuyệt đối họ chẳng có chút hy vọng gì nữa. Nếu Chúa Jêsus không tìm gặp họ, người ta lấy làm lạ không biết rồi họ sẽ ra thế nào!?! Và hai người nầy, tôi tin, là kiểu mẫu cho hết thảy những người còn lại, đặc biệt là 11 sứ đồ. Mười một người ấy dường như còn ở lại trong thành Jerusalem, nhưng họ đã ngã lòng lắm rồi, đã thấy thất bại ghê lắm rồi, cũng thấy không tin nữa. Hai người nầy là một hình ảnh của sự thất bại và thất vọng hoàn toàn. Chẳng có hy vọng gì ở nơi họ hết. Mọi sự đã qua hết rồi.
Sự chỉnh đốn và lời dặn dò của Chúa Jêsus (24.25-27)
“Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói! Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao? Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh”.
Lời lẽ của Chúa Jêsus nói với hai người nầy nghe chẳng vui tai chút nào. Đấy là lời quở trách cho sự tối tăm về mặt thuộc linh của họ và cho sự thất bại của họ khi không tin theo mọi điều mà các đấng tiên tri đã nói. Chữ “mọi” là một chữ rất quan trọng. Chữ nầy chỉ ra rằng niềm tin của các môn đồ là loại niềm tin chọn lọc. Họ đã tin một phần trong sự mặc khải của các đấng tiên tri, song không phải là hết thảy. Họ đã tin vào phần nào, và phần nào họ không tin? Lời lẽ của Chúa chúng ta trong câu 26 cung ứng câu trả lời cho chúng ta. Sứ điệp của các đấng tiên tri nói về Đấng Mêsi hầu đến là một hỗn hợp có cả sự chịu khổ và sự vinh hiển. Các đấng tiên tri đã nói ra những điều dường như là trái ngược trong ngôn ngữ. Họ đã nói về sự chối bỏ và sự thương khó của Đấng Mêsi, như chúng ta thấy trong Êsai 52 và 53, tuy nhiên họ cũng nói về sự đắc thắng và vinh hiển của Ngài nữa (đối chiếu Đaniên 7.13-14; Xachari 9,14).
Có một sự khác biệt trong cách thức các đấng tiên tri xử lý với chỗ căng thẳng của hai lẽ thật nói tới sự thương khó của Đấng Christ và về sự vinh hiển của Ngài. Các đấng tiên tri đã chấp nhận cả hai phương diện của lời tiên tri, cho dù họ không hiểu chúng sẽ tương thích như thế nào!?! Họ đã dò tìm Kinh Thánh để hiểu làm cách nào cả hai điều nầy sẽ là thực. Đây là điều mà Phierơ đã viết ra trong thư tín của mình:
“Về sự cứu rỗi đó, các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét, và đã nói tiên tri về ân điển định sẵn cho anh em: nghĩa là tìm cho biết thời kỳ nào và thời kỳ cách nào mà Thánh Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Christ và về sự vinh hiển sẽ theo sau” (1 Phierơ 1.10-11).
Các đấng tiên tri đã chấp nhận Lời của Đức Chúa Trời theo như lời ấy đã tỏ ra, thậm chí dù họ không hiểu làm sao việc ấy lại là thực cho được nữa. Nhưng hầu hết người Do thái đã chọn chối bỏ phương diện thương khó và chỉ nhắm vào chiều kích vinh hiển mà thôi. Họ đã tin như thế không những với sự tôn trọng Đấng Mêsi, mà còn với sự tôn trọng chính bản thân họ nữa. Các tiên tri giả là những kẻ đã cung ứng sự ấm áp, tái bảo đảm, mọi hứa hẹn về sự bình an và thịnh vượng, trong khi các đấng tiên tri thật đã nói tới sự thương khó và về hoạn nạn. Vì thế, dân sự có khuynh hướng nghe theo các tiên tri giả và bắt bớ người nào nói thay cho Đức Chúa Trời (đối chiếu Giêrêmi 23, 26, 28, 32, 38).
Các môn đồ của Chúa chúng ta không muốn nghe nói tới những thương khó của Chúa Jêsus, mà chỉ muốn nghe nói tới sự đắc thắng của Ngài mà thôi. Vì thế, Phierơ đã đem Chúa Jêsus riêng ra rồi quở Ngài vì đã nói tới sự chối bỏ và sự chết hầu đến của Ngài (Luca 9.22; so sánh với Mathiơ 16.21-23). Tất cả các môn đồ, kể cả hai người nầy đang trên đường về làng Emmaút, họ đã duy trì quan niệm một Đấng Mêsi không phải chịu thương khó, một Vì Vua đắc thắng, nhưng không chấp nhận một Tôi Tớ đau khổ, đến nỗi họ đã kết luận Chúa Jêsus không thể là Đấng Mêsi vì Ngài đã chịu thương khó và chịu chết. Mặc dù có cả núi chứng cớ, mọi sự nầy đều chỉ ra sự sống lại của Ngài, họ đã tin chắc như thế, và Ngài, than ôi, chỉ là một đấng tiên tri mà thôi.
Trước tiên Chúa Jêsus đã quở trách hai người nầy vì sự tối tăm thuộc linh của họ, và rồi Ngài tiếp tục chỉ ra cho họ thấy từ cả kinh Cựu ước, bắt đầu với Môise và lên tới cực điểm ở các đấng tiên tri, rằng Đấng Mêsi đã được nói trước phải chịu thương khó rồi mới được vinh hiển. Trong khi điều ấy chưa hiển hiện, tôi hiểu Chúa Jêsus phải nói ra như thế là chưa đủ để chấp nhận sự thương khó của Đấng Mêsi là đáng sánh với sự vinh hiển của Ngài; bấy nhiêu vẫn chưa đủ để chấp nhận rằng đau khổ là một phương tiện cho sự vinh hiển của Ngài; đau khổ là một phần trong sự vinh hiển của Ngài. Phải cẩn thận lưu ý là sự thờ phượng của Đấng Mêsi trên Thiên đàng là sự thờ lạy của Đấng đã bị giết (đối chiếu Khải huyền 1.17-18; 5.1-14, cùng xem các câu 6, 9, 12).
Các phân đoạn Kinh Thánh mà Chúa Jêsus dạy dỗ, và sự lý giải chúng của Ngài, không được cung ứng cho chúng ta đâu. Thật là kỳ diệu khi có sứ điệp nầy được thu băng hay được in ấn ra. Tại sao chúng ta lại thiếu mất đi sứ điệp đó? Cho phép tôi đề nghị hai điều khả thi. Thứ nhứt, việc nầy tỏ ra cho chúng ta cơ hội và sự thách thức phải dò tìm trong Kinh Thánh cho chính bản thân mình. Chúng ta biết từ những gì Luca đã nói cho chúng ta biết, vì vậy phải nói rằng có “vàng trên những ngọn núi ấy”, các phần Kinh Thánh Cựu ước rất phong phú trong những lời tiên tri có liên quan tới Đấng Christ, song chính chúng ta phải dò tìm lấy. Thứ hai, chúng ta đã được cung ứng cho nhiều manh mối và một số “xuất phát” từ các phân đoạn mà các sứ đồ đã tận dụng, như đã được ghi lại trong sách Công vụ Các Sứ Đồ. Cho nên, chúng ta có ít nhất một số phân đoạn tỏ ra điều Chúa Jêsus muốn các môn đồ phải lưu ý khi Ngài dạy dỗ họ. Giữa vòng các phân đoạn mà Chúa Jêsus đã đưa ra là các phân đoạn nầy: Phục truyền luật lệ ký 18.15-19; Thi thiên 2, 16, 22, 118.22; Đối chiếu Xuất Êdíptô ký 20.11; Thi thiên 146.6; Đaniên 9.24...
Kinh Thánh không nói cho chúng ta biết cho tới sau nầy, sự dạy nầy có cái chạm như thế nào trên các môn đồ, nhưng khi chúng ta qua tới câu 32 chúng ta nghe họ nói với nhau:
“Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao?”
Đây là nền tảng cho sự thay đổi, từ chỗ “tan vỡ” đến “nóng cháy”: các phần Kinh Thánh đã được dạy dỗ và được “rút tỉa ra”. Không còn phải thất vọng nữa.
Sự nhìn biết Chúa Jêsus (24.28-35)
“Khi hai người đi gần đến làng mình định đi, thì Đức Chúa Jêsus dường như muốn đi xa hơn nữa. Nhưng họ ép Ngài dừng lại, mà thưa rằng: Xin ở lại với chúng tôi; vì trời đã xế chiều hầu tối. Vậy, Ngài vào ở lại cùng họ. Đang khi Ngài ngồi ăn cùng hai người, thì lấy bánh, chúc tạ, đoạn, bẻ ra cho họ. Mắt họ bèn mở ra, mà nhìn biết Ngài; song Ngài thoạt biến đi không thấy. hai người nói cùng nhau rằng: Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao? Nội giờ đó, họ liền đứng dậy, trở về thành Giê-ru-sa-lem, gặp mười một sứ đồ cùng các môn đồ khác đang nhóm lại, nói với họ rằng: Chúa thật đã sống lại, và hiện ra với Si-môn. Rồi hai người thuật lại sự đã xảy đến khi đi đường, và nhìn biết Ngài lúc bẻ bánh ra là thể nào”.
Chúa Jêsus đã hành động tỉ như Ngài còn đi xa hơn nữa. Tại sao chứ? Tôi nghĩ sự việc nầy cung ứng cho hai người kia cơ hội để đền đáp lại những gì Ngài đã dạy dỗ. Chúa Jêsus đã bắt đầu với một lời quở trách, rồi sự dạy của Ngài đã đem tới một ánh sáng mới về các lời tiên tri trong Cựu ước. Họ sẽ đáp ứng ra sao đây? Phải chăng họ muốn từ chối sự dạy đó? Nếu thực thế, họ sẽ vui lòng để cho Ngài ra đi theo đường của Ngài mà thôi. Nhưng họ đã giục Ngài phải ở lại với họ. Họ còn muốn hơn thế nữa. Họ muốn được ở với Ngài, cho dù họ chưa nhìn ra Ngài là ai. Nói theo con người, nếu họ không giục Ngài ở lại, họ sẽ không có mắt mở ra để nhìn biết Ngài là ai. Niềm vui mừng đang đặt ở trước mặt những người nào sẽ dùng cơm tối với Đấng Cứu Thế.
Tôi đã đến với kết luận rằng chẳng có một mặc khải thần bí nào về Chúa Jêsus trong việc bẻ bánh hết. Tôi không dám chắc hai người nầy đã nhìn thấy “hai bàn tay có dấu đinh” đâu. Chắc chắn họ không nói như thế, Luca cũng vậy. Lý do họ đã nhìn ra Chúa Jêsus là vì “mắt họ bèn mở ra”, tình trạng mù loà của họ đã bị cất đi mất. Không phải những gì Chúa Jêsus đã làm trong khi bẻ bánh là đáng thuyết phục đâu, mà là công việc của Đức Thánh Linh, Ngài đã thuyết phục hai người về ý nghĩa của các phần Kinh Thánh rồi nhơn đó giúp cho họ nhìn biết Đấng Christ Ngài là ai. Chúa Jêsus đã đóng vai chính trong việc bẻ bánh, việc nầy dường như là bất thường, nhưng việc nầy, trong và tự bản thân nó, không phải là chìa khoá cho việc mắt của hai người nầy được mở ra đâu.
Chính trong lúc bẻ bánh mà lai lịch của người “lữ khách” lộ ra cho hai người nầy. Ngay lập tức Chúa Jêsus liền biến mất. Họ tức thì trở lại thành Jerusalem để báo cáo lại cho những người khác biết họ đã kinh nghiệm điều gì, thì họ mới hay rằng Chúa Jêsus vẫn còn sống, vì Ngài đã hiện ra cho Phierơ trong lúc họ vắng mặt.
PHẦN KẾT LUẬN
Theo tôi hiểu phân đoạn Kinh Thánh, có hai điểm chính quan trọng. Đó là: (1) việc bẻ bánh; và, (2) Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy xem xét từng điểm nầy khi chúng ta kết thúc phần nghiên cứu phân đoạn Kinh Thánh nầy.
Đây không phải là sự cố thần bí gì đã diễn ra ở đây, khi Chúa Jêsus bẻ bánh, mà là sự mở mắt (lạ lùng) của hai người nầy, điều nầy đã giúp cho họ nhìn biết Jêsus là Chúa. Việc bẻ bánh không phải là phương tiện cho việc tỏ Chúa Jêsus ra, mà là cơ hội cho sự ấy. Vì thế, Luca nói cho chúng ta biết phương tiện là sự mắt họ mở ra (câu 31), đây là điều tôi tin Đức Thánh Linh đã làm. Và khi người tưởng lại cơ hội đó, họ đã nói tới việc bẻ bánh với sự vui thích, nhưng họ cũng nói tới sự “nóng nảy” ở trong lòng họ, do sự dạy Kinh Thánh của Chúa chúng ta tạo ra. Tác dụng của sự kết hợp mặc khải về Đấng Christ với việc bẻ bánh là để tạo ra một thái độ ấm áp, rất tích cực đối với sự thiết lập mà Hội Thánh tuân giữ đều đặn — bàn tiệc của Chúa. Cho nên chẳng có gì lạ lùng khi các Cơ đốc nhân đầu tiên tìm được niềm vui mừng đó trong việc bẻ bánh hàng ngày với nhau.
Có một nhận định, tôi nghĩ, trong đó việc bẻ bánh với hai người nầy là một nguyên mẫu của thiên đàng và nguyên mẫu của niềm vui mừng đang chờ đợi Cơ đốc nhân. Chúa Jêsus đã sốt sắng hướng tới bữa “tiệc ly” cho dù đây là một cơ hội đáng buồn trong nhiều phương diện (Luca 22.15). Ngài phán về vương quốc theo giới hạn của bàn tiệc (Luca 22.24-30), trong thời điểm đó Ngài phục vụ cho họ (Luca 12.37). Chúa Jêsus phán rằng Ngài sẽ không ăn Lễ Vượt Qua nữa cho tới chừng nào nó được ứng nghiệm trong Nước Trời (Luca 22.16). Mối tương giao mà hai người nầy ao ước phải chờ cho tới khi có Nước. Bữa tiệc ly của Chúa nhìn lại, mà nó cũng nhìn tới trước nữa, đến bàn tiệc ấy. Chúa Jêsus đã biến mất vì ngày trọng đại đó đang ở trước mặt khi họ sẽ thông công tại bàn tiệc của Ngài trong Nước Trời. Nhưng bữa ăn nầy đã tạo ra niềm vui mừng và sự hưởng trước cơ hội đó thậm chí còn lớn lao hơn nhiều.
Lãnh vực quan trọng thứ hai là lãnh vực thuộc Kinh Thánh. Trong bài giảng trên phòng cao (Giăng 14-17), Chúa Jêsus đã nói tới cách xử lý với Lời Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh. Ngài giục giã các môn đồ của Ngài phải ở trong Ngài, phải gắn bó với Lời của Ngài (Giăng 15.7, 10). Người nào yêu mến Ngài, Chúa Jêsus phán, sẽ tuân giữ Lời của Ngài (14.23-24) và điều răn Ngài (15.10, 14). Khi Chúa Jêsus ra đi, Đức Thánh Linh sẽ ngự đến (14.25-26; 15.26-27; 16.7...). Đức Thánh Linh sẽ mang lời của Chúa Jêsus đến với ký ức của các môn đồ và sẽ dạy họ mọi sự (14.26). Chúa Jêsus đã cầu nguyện rằng các môn đồ Ngài sẽ được nên thánh, và điều nầy sẽ xảy ra bởi Lời của Ngài (17.17). Khi họ rao giảng Ngôi Lời, Đức Thánh Linh sẽ mặc lấy quyền phép cho sứ điệp của họ, thuyết phục họ về tội lỗi, về sự công bình, và về sự phán xét (16.8-11).
Các vị thiên sứ đã quở trách mấy người đờn bà vì đã tìm người sống giữa vòng kẻ chết, hay vì việc quên lời dạy của Chúa Jêsus mà Ngài đã phán với họ đang khi còn ở trong xứ Galilê, rằng Ngài sẽ bị chối bỏ, bị xử tử, và rồi sẽ sống lại. Những lời lẽ nầy của Chúa Jêsus đều là “Lời Hằng Sống”, là “Lời của Đức Chúa Trời”. Họ đã tin theo Lời của Đức Chúa Trời.
Hai người đang trên đường về làng Emmaút đã bị quở trách vì chậm tin mọi sự mà Lời của Đức Chúa Trời đã dạy về sự đến của Đấng Mêsi. Họ đã thất bại không hiểu hay không tin rằng Cứu Chúa phải chịu thương khó rồi mới được vinh hiển, cả hai. Sự thất bại của họ là do thiếu chăm chú vào Lời Đức Chúa Trời, các phần Kinh Thánh Cựu ước. Và cũng thế, Chúa Jêsus đã chuyển sự chú ý của 11 môn đồ vào Kinh Thánh, những điều nói về Ngài, về sự thương khó, sự chết và sự sống lại của Ngài (Luca 24.44-46).
Phương pháp mà Chúa Jêsus đã dùng, lúc đầu, là phức tạp, nhưng giờ đây phương pháp ấy ra dễ hiểu. Tại sao Chúa Jêsus không tỏ mình Ngài ra cho các môn đồ như Cứu Chúa đã phục sinh? Phải chăng, làm như thế không mau chóng và dễ thuyết phục họ sao? Tại sao Chúa Jêsus lại chờ đợi tỏ ra lai lịch của Ngài cho tới sau khi Ngài đã quở trách và dạy dỗ hai người nầy? Bộ họ chẳng chú ý vào lời lẽ của Ngài nếu họ nhìn biết người đang nói với họ là đấng nào sao?
Việc đầu tiên phân đoạn Kinh Thánh nầy chỉ ra cho tôi thấy, ấy là hai môn đồ với sự thất vọng, họ đang cần tới Lời của Đức Chúa Trời, giống như mọi người đều cần tới Lời ấy. Tách ra khỏi sự mặc khải thiêng liêng, ai sẽ diễn đạt về Đức Chúa Trời đang tỏ ra sự cứu rỗi cho con người như Ngài đã làm, qua sự thương khó của Cứu Chúa? Lời tiên tri là cần thiết bởi hạng người sa ngã và hữu hạn vì đường lối của Đức Chúa Trời là cao cả hơn đường lối của chúng ta, và tư tưởng của Ngài cao hơn suy tưởng của chúng ta. Cho nên, nếu Đức Chúa Trời không làm cho chúng ta nhìn biết tư tưởng của Ngài, qua Lời Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không bao giờ biết được mọi suy tưởng đó. Lý do hai người nầy (và nhiều môn đồ khác nữa) đã nhìn xem hoàn cảnh của họ với sự thất vọng là vì họ không nhìn xem chúng từ quan điểm của Đức Chúa Trời. Họ không tra xét hoàn cảnh của họ theo cách thuộc linh. Khi tra xét theo Kinh Thánh, mọi sự đã xảy ra đều là một phần trong chương trình của Đức Chúa Trời, không những gồm cả sự thương khó và sự chết của Đấng Mêsi, mà còn có cả sự sống lại của Ngài nữa. Loài người sa ngã, hữu hạn đang cần tới Lời của Đức Chúa Trời nếu họ muốn nhìn biết bàn tay của Đức Chúa Trời trong lịch sử.
Loài người sa ngã và hữu hạn không những cần tới Lời của Đức Chúa Trời; họ đang cần tới Thánh Linh của Đức Chúa Trời nữa. Trong khi loài người sẽ không nhìn biết đường lối của Đức Chúa Trời nếu không có Lời của Ngài, họ sẽ không nhìn biết đường lối của Đức Chúa Trời từ Lời của Ngài, trừ phi lời ấy được hiểu đúng đắn. Các môn đồ nầy đã có Kinh Thánh, nhưng sự hiểu biết của họ về Kinh Thánh đã bị biến dạng bởi cớ tội lỗi của họ, bởi sự ước đoán của họ, và bởi mọi tham vọng của họ. Chỉ khi Chúa chúng ta giải thích các phần Kinh Thánh cho họ nghe, và khi Đức Thánh Linh mở mắt họ ra, họ mới hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời. Đây là điều mà sứ đồ Phaolô đã nói trong I Côrinhtô 2. Không có gì là lạ lùng cả khi bài giảng trên phòng cao đã hướng nhiều vào Lời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Tôi tin quí vị và tôi đang sa vào cái bẫy mà các môn đồ đã sa vào đó. Chúng ta đọc và nghiên cứu Kinh Thánh qua mạng lưới của chính tội lỗi chúng ta, của những ham muốn, của tham vọng và sự ưa thích của chúng ta. Chúng ta đến với ý tưởng của mình là Đức Chúa Trời phải thế nầy thế nầy, và Nước của Ngài phải như vầy như vầy, và rồi chúng ta tái sắp xếp lại Kinh Thánh, nhấn mạnh nhiều vào chỗ nầy, và bất chấp các chỗ khác, để chúng ta xác định đúng (nhưng sai lầm) mọi suy tưởng của chúng ta. Chúng ta thường làm như vậy trong những chỗ căng thẳng, ở chỗ hai việc dường như mâu thuẫn được kết lại với nhau; thí dụ, trong các lẽ thật Kinh Thánh nói tới quyền tể trị thiêng liêng cùng trách nhiệm của con người, hoặc trong lãnh vực thương khó và vinh hiển (của chính chúng ta, tôi muốn nói như thế). Thay vì thế, chúng ta sẽ có một trong hai lãnh vực nầy (tất nhiên là lãnh vực dễ chịu, ấm áp và lờ mờ) rồi chối bỏ lãnh vực kia. Chúng ta không thể làm như vậy được. Giống như các đấng tiên tri, chúng ta phải giữ hai lẽ thật trong chỗ căng thẳng, tìm kiếm và cầu nguyện để hiểu biết mối liên hệ của chúng, nhưng chúng ta không dám chối bỏ lẽ thật nầy rồi giữ lấy lẽ thật kia. Chúng ta hãy suy nghĩ nhiều về điều nầy.
Tại sao Chúa Jêsus không bày tỏ chính mình Ngài ra cho các môn đồ, hơn là dạy dỗ cho họ biết về Kinh Cựu ước? Lý do đã có rồi trong sách Luca. Trong thí dụ nói về người giàu và Laxarơ, người giàu đã xin rằng Laxarơ được sai phái đến nhà Cha của ông ta, đến với 5 anh em của ông ta, để cảnh tĩnh họ (16.27-28). Câu trả lời của Chúa Jêsus, ấy là họ đã có Môise và các đấng tiên tri (16.29), đối với người nầy một lời cảnh báo từ kẻ sống lại ra khỏi mồ mả thì có hiệu lực hơn, thuyết phục hơn là Kinh Thánh. Đối với điều nầy Chúa Jêsus đáp:
“Song Áp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy” (Luca 16.31).
Có một nguyên tắc quan trọng đã được dạy dỗ ở đây, và nguyên tắc ấy như vầy: NGƯỜI NÀO CHỐI BỎ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI SẼ KHÔNG THẤY THUYẾT PHỤC BỞI CÔNG VIỆC CỦA NGÀI.
Há nguyên tắc nầy không rõ ràng xuyên suốt các sách tin lành sao? Các thầy thông giáo và những người Pharisi đã từ chối sự dạy của Chúa Jêsus, và họ cũng chối bỏ luôn mọi việc làm của Ngài. Những người nào chối bỏ Lời Đức Chúa Trời sẽ không thấy thuyết phục bởi việc làm của Ngài.
Chúa Jêsus đã hiện ra với các môn đồ của Ngài là Chúa đã phục sinh. Nhưng Ngài đã tự kềm chế, Ngài thấy trước tiên là cần thiết phải xây họ sang Lời Đức Chúa Trời. Hai người nầy từng hiểu biết Kinh Thánh, họ được tự do nhìn thấy Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết. Chúa Jêsus đã ưu tiên một cho việc phải ưu tiên, và thế là Ngài đã đặt nền tảng theo Kinh Thánh; Ngài đã tóm tắt tính cần thiết theo Kinh Thánh của sự thương khó, sự chết, và sự sống lại của Ngài, và rồi Ngài đã tỏ ra sự ứng nghiệm của việc đó — nơi Ngài!
Nhưng lời lẽ của Chúa Jêsus há chẳng hiệu lực cho hai người nầy, chẳng lẽ họ không có một cái chạm to lớn hơn, hai người đó có biết ai đang trao đổi với họ không? Thật là kỳ lạ, tôi nghĩ câu trả lời có cả “Có” và “Không”. Chắc chắn sự dạy của Chúa Jêsus sẽ có một cái chạm lớn lao nếu họ nhìn biết đấy là Chúa Jêsus. Mặt khác, niềm vui mừng và xúc động khi nhìn biết chính Ngài có lẽ đã làm cho họ lẫn quẫn từ chỗ phải tra xét lại các phân đoạn Kinh Thánh.
Có một nguyên tắc ở đây được áp dụng cho sự dạy của Chúa Jêsus, đúng y như nguyên tắc đó áp dụng cho mọi sự dạy của Kinh Thánh. Hãy xem xét cùng với tôi nguyên tắc ấy trong một phút: THẨM QUYỀN CỦA KINH THÁNH KHÔNG LỆ THUỘC VÀO UY QUYỀN CỦA DIỄN GIẢ.
Lời của Đức Chúa Trời, như tác giả sách Hêbơrơ nói, đã được truyền đạt qua nhiều cách thức khác nhau (Hêbơrơ 1.1). Có những lúc, Đức Chúa Trời đã phán qua những người tin kính, trung tín. Ngài thường phán qua hạng người ít tin kính hơn. Thí dụ, Giôna, đã ở trong sự loạn nghịch, nhưng sứ điệp của Đức Chúa Trời đã được phán ra bởi ông, đã làm cho cả thành Ninive phải biến đổi. Balaam đã nói cho Đức Chúa Trời, và ngay cả con lừa của ông cũng đã nói. Phaolô đã nói về hạng người lo rao giảng sứ điệp tin lành từ các động lực giả dối, và thế mà tin lành đã tấn triển (Philíp 1.12-18). Ấy chẳng phải là người đứng rao giảng là người cung ứng quyền phép cho Lời của Đức Chúa Trời. Lời của Đức Chúa Trời tự lời ấy vốn có quyền phép rồi:
“Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại (Hêbơrơ 4.12-13).
Vì vậy, khi Phaolô giảng dạy, ông đã tránh mọi thứ kỹ thuật tạo ra sự thuyết phục của con người, hướng sự chú ý của con người vào ông, thay vì nhắm vào chính Lời của Đức Chúa Trời. Phaolô đã không tìm cách thuyết phục và làm cho tin, mà rao giảng với tính cách đơn sơ và rõ ràng, trông mong Đức Thánh Linh thuyết phục con người và làm cho họ thay đổi. Phương pháp giảng dạy của Phaolô đã được cai quản bởi lòng ông tin theo Kinh Thánh và Thánh Linh của Đức Chúa Trời:
“Bây giờ tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng, và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người được nên thánh” (Công vụ Các Sứ Đồ 20.32).
“Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép; hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời” (I Côrinhtô 2.4-5).
“Vả, chúng tôi chẳng giả mạo lời của Đức Chúa Trời như nhiều kẻ khác; nhưng chúng tôi lấy lòng chân thật, theo như đạo từ Đức Chúa Trời đến thể nào, thì giảng ra thể ấy trước mặt Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ” (II Côrinhtô 2.17).
Có một số bản dịch Kinh Thánh trong đó lời của Chúa chúng ta được in bằng mực đỏ, giống như chúng rất quan trọng hơn những lời Kinh Thánh khác, đã được các đấng tiên tri nói ra, họ đã được cảm thúc bởi Đức Thánh Linh. Phaolô đã viết hết thảy Kinh Thánh đều đã được cảm thúc và soi dẫn (II Timôthê 3.16-17). Trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, lời lẽ của Chúa Jêsus không được ghi lại. Sự chú ý của chúng ta hướng vào các phần Kinh Thánh Cựu ước và những lời tiên tri của Cựu ước liên quan tới Đấng Christ.
Khi quí vị suy nghĩ về điều đó, Chúa Jêsus đã tự xác định Ngài là Chúa với hai người nầy, rồi kế đó mới tiến hành dạy dỗ họ căn cứ trên nền tảng uy quyền của Ngài. Khi đến lúc, Chúa Jêsus đã dạy họ căn cứ trên nền tảng uy quyền của Kinh Thánh. Hãy suy nghĩ việc ấy xem, thay vì dạy bài học nầy trong vai trò Đấng Christ, Ngài đã dạy bài học nầy về Đấng Christ, nhưng trong vai trò một con người bình thường, như một khách lạ hoàn toàn, thậm chí như một người dường như rất tội nghiệp, phù hợp với và không chung đụng gì với những gì đã diễn ra. Hai môn đồ đã quở Ngài vì đã hỏi thăm những việc đã diễn ra tại thành Jerusalem. Họ đã xem Ngài là một người chẳng biết chi hết, chẳng mắc mớ chi hết. Thế mà, là một người như vậy, Chúa Jêsus đã quở trách họ rồi dạy dỗ họ cái nhìn tổng quát kỳ diệu nhất về kinh Cựu ước từng được dạy dỗ. Về sau hai người nầy mới nhận ra cái chạm sự dạy của Chúa Jêsus — cái chạm ấy làm cho lòng họ nóng nảy, không những vì Chúa Jêsus đã dạy dỗ họ, mà còn vì Kinh Thánh đã dạy một cách chính xác nữa, với năng lực riêng của họ và với quyền phép của Đức Thánh Linh. Vậy thì, chính Kinh Thánh, như đã được giải thích bởi chính mình Chúa Jêsus và như đã được soi sáng bởi Đức Thánh Linh, đã mở mắt các môn đồ để họ sẵn sàng và có khả năng (theo thời điểm của Đức Chúa Trời) khám phá ra ai đã ở với họ.
Phân đoạn Kinh Thánh nầy nhấn mạnh tầm quan trọng của Kinh Thánh. Lời của Đức Chúa Trời là lời có quyền phép; lời ấy có năng lực, và đó cũng là ưu tiên cao nhất. Con người sinh sống ngày hôm nay như thế nào? Chương trình và mục đích của Đức Chúa Trời dành cho hạng người sa ngã, hữu hạn được biết như thế nào? Bởi Lời của Đức Chúa Trời. Làm sao chúng ta biết được ý chỉ của Đức Chúa Trời cho đời sống chúng ta? Làm sao chúng ta lý giải đúng đắn mọi cảnh ngộ của mình? Chỉ qua Lời của Đức Chúa Trời, được Thánh Linh của Ngài lý giải và áp dụng. Trong mấy câu kết của sách Tin lành Luca, chúng ta được nhắc nhớ tới điểm ưu tiên một mà Kinh Thánh đã và phải có trong đời sống chúng ta.
Phân đoạn Kinh Thánh nầy đã cung ứng cho chúng ta với động lực biến Lời của Đức Chúa Trời làm ưu tiên một trong đời sống của chúng ta. Phân đoạn ấy cũng dạy cho chúng ta biết một phương pháp bởi đó học hỏi Ngôi Lời. Chúng ta trước tiên phải học hỏi Lời của Đức Chúa Trời, công nhận tình trạng sa ngã của chính mình, xu hướng chúng ta hay vặn cong và làm méo mó Kinh Thánh để nhìn nhận những điều chúng ta ưa thích, và các suy đoán. Chúng ta phải đến với Kinh Thánh tìm cách để cho Đức Chúa Trời làm thay đổi đời sống chúng ta, e rằng sự cám dỗ của chúng ta muốn làm thay đổi Lời của Đức Chúa Trời cho thích ứng với lối sống của chúng ta. Chúng ta phải nương cậy vào Đức Thánh Linh giúp chúng ta hiểu biết tâm ý của Đức Chúa Trời. Và, chúng ta phải đọc và học Kinh Thánh như một tổng thể, chớ không phải chỉ trong mọi chi tiết của Kinh Thánh thôi. Chúng ta phải đọc và nghiên cứu Kinh Thánh ở những mảng to lớn hơn, chớ không phải chỉ là cuộc chạy qua một đôi dòng tư tưởng tin kính căn cứ theo các phân đoạn được chọn theo ý riêng. Kinh Thánh là toàn bộ mưu luận của Đức Chúa Trời mà chúng ta phải tiếp thu lấy. Mục tiêu của chúng ta là phải tiếp thu mọi sự mà Đức Chúa Trời đã dạy cho chúng ta biết về chính mình Ngài, về chúng ta, về tin lành, về sứ mệnh của chúng ta, không những các chi tiết mà chúng ta thích nghe, những điều khiến cho chúng ta thấy sáng láng. Chúng ta hãy đến với Lời của Đức Chúa Trời để Ngài có thể tái sắp xếp chúng ta lại, thay vì tái sắp xếp Lời của Ngài.
Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, Lời của Đức Chúa Trời đã được ứng nghiệm một cách trọn vẹn, nhưng mọi điều nầy đã làm cho các môn đồ phải ngã lòng vì không hiểu được Kinh Thánh. Con phục sinh của Đức Chúa Trời đang đồng đi với họ, song họ không nhìn biết Ngài. Cũng thường xuyên như thế đối với chúng ta dường bao, có phải không? Chúng ta hay nghĩ Chúa Jêsus đang ở xa, xa lắm, khi Ngài đang ở bên cạnh chúng ta, thực vậy, qua Thánh Linh Ngài, đang ngự trong chúng ta? Sự ở gần của Đức Chúa Trời, và sự thưởng thức Ngài, đến từ chỗ dầm thấm trong Lời của Ngài, và được soi sáng bởi Thánh Linh của Ngài.

Luca 23.50-24.35: "XỬ LÝ VỚI CÁI CHẾT CỦA CHÚA JÊSUS"



Phần kết luận
Cấu trúc của phân đoạn Kinh Thánh
Phần tiếp cận của chúng ta
Đáp ứng của Giôsép, người Arimathê (23.50-53).
Đáp ứng của mấy người đàn bà (23.54-24.12)
Phần kết luận
Bài 75:

Xử lý với cái chết của Chúa Jêsus

(Luca 23.50–24.35)
“Có một người, tên là Giô-sép, làm nghị viên tòa công luận, là người chánh trực công bình, không đồng ý và cũng không dự việc các người kia đã làm. Người ở A-ri- ma-thê, là thành thuộc về xứ Giu-đê, vẫn trông đợi nước Đức Chúa Trời. Người bèn đi đến Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus. Khi đã đem xác Ngài xuống khỏi cây thập tự, người lấy vải liệm mà bọc, rồi chôn trong huyệt đã đục nơi hòn đá, là huyệt chưa chôn ai hết. Bấy giờ là ngày sắm sửa, và ngày Sa-bát gần tới. Các người đàn bà đã từ xứ Ga-li-lê đến với Đức Chúa Jêsus, theo Giô-sép, xem mả và cũng xem xác Ngài đặt thể nào. Khi trở về, họ sắm sửa những thuốc thơm và sáp thơm. Ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mồ Ngài. Họ thấy hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mồ; nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus. Đang khi không biết nghĩ làm sao, xảy có hai người nam mặt áo sáng như chớp, hiện ra trước mặt họ. Họ đang thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết? Ngài không ở đây đâu, song Ngài đã sống lại. Hãy nhớ khi Ngài còn ở xứ Ga-li-lê, phán cùng các ngươi thể nào, Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại. Họ bèn nhớ lại những lời Đức Chúa Jêsus đã phán. Họ ở mồ trở về, rao truyền mọi sự ấy cho mười một sứ đồ và những người khác. Ấy là Ma-ri Ma-đơ-len, Gian-nơ, và Ma-ri mẹ của Gia-cơ, cùng các đàn bà khác đi với họ đã rao truyền như vậy cho các sứ đồ. Song các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không. Dầu vậy, Phi-e-rơ đứng dậy, chạy đến mồ, cúi xuống mà dòm, chỉ thấy vải liệm ở trên đất, đoạn về nhà, lạ lùng cho việc đã xảy ra. Cũng trong ngày ấy, có hai môn đồ đi đến làng kia, gọi là Em-ma-út, cách thành Giê-ru-sa-lem sáu mươi ếch-ta-đơ; họ đàm luận về những sự đã xảy ra. Đang khi nói và cãi lẽ nhau, chính Đức Chúa Jêsus đến gần cùng đi đường với họ. Nhưng mắt hai người ấy bị che khuất không nhìn biết Ngài được. Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi đang đi đường, nói chuyện gì cùng nhau vậy? Họ dừng lại, buồn bực lắm. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-ba, trả lời rằng: Có phải chỉ ngươi là khách lạ ở thành Giê-ru-sa-lem, không hay việc đã xảy đến tại đó cách mấy bữa rày sao? Ngài hỏi rằng: Việc gì vậy? Họ trả lời rằng: Ấy là việc đã xảy ra cho Jêsus Na-xa-rét, một đấng tiên tri, có quyền phép trong việc làm và trong lời nói, trước mặt Đức Chúa Trời và cả chúng dân; làm sao mà các thầy tế lễ cả cùng các quan đề hình ta đã nộp Ngài để xử tử, và đã đóng đinh trên cây thập tự. Chúng tôi trông mong Ngài sẽ cứu lấy dân Y-sơ-ra-ên; dầu thể ấy, việc xảy ra đã được ba ngày rồi. Thật có mấy người đàn bà trong vòng chúng tôi đã làm cho chúng tôi lấy làm lạ lắm: khi mờ sáng, họ đến mồ, không thấy xác Ngài, thì về báo rằng có thiên sứ hiện đến, nói Ngài đang sống. Có mấy người trong vòng chúng tôi cũng đi thăm mồ, thấy mọi điều y như lời họ nói; còn Ngài thì không thấy. Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói! Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao? Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. Khi hai người đi gần đến làng mình định đi, thì Đức Chúa Jêsus dường như muốn đi xa hơn nữa. Nhưng họ ép Ngài dừng lại, mà thưa rằng: Xin ở lại với chúng tôi; vì trời đã xế chiều hầu tối. Vậy, Ngài vào ở lại cùng họ. Đang khi Ngài ngồi ăn cùng hai người, thì lấy bánh, chúc tạ, đoạn, bẻ ra cho họ. Mắt họ bèn mở ra, mà nhìn biết Ngài; song Ngài thoạt biến đi không thấy, hai người nói cùng nhau rằng: Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao? Nội giờ đó, họ liền đứng dậy, trở về thành Giê-ru-sa-lem, gặp mười một sứ đồ cùng các môn đồ khác đang nhóm lại, nói với họ rằng: Chúa thật đã sống lại, và hiện ra với Si-môn. Rồi hai người thuật lại sự đã xảy đến khi đi đường, và nhìn biết Ngài lúc bẻ bánh ra là thể nào”.
PHẦN GIỚI THIỆU:
Giôsép người Arimathê là Mênchixêđéc của Tân ước: ông là người xuất hiện không có giới thiệu trước và ông không có xuất hiện thêm một lần nào nữa. Ông là một nhân vật mà các trước giả Tin lành đều nói tới danh tánh và mọi người đều tôn trọng. Các sách tin lành cùng nhau cung ứng cho chúng ta biết việc ông đến xin xác Chúa Jêsus, về việc đặt Chúa Jêsus vào ngôi mộ mới, được đục trong vầng đá, và được sửa soạn để dành cho chính ông.
Khi chúng ta đọc phân đoạn Kinh Thánh với Giôsép người Arimathê trong lý trí, chúng ta có cảm xúc rất lạc quan đối với ông. Và ít nhất phân đoạn Kinh Thánh cũng để lại cho tôi với một thắc mắc khá khó chịu. Trước hết là thắc mắc nầy: “Nếu Giôsép người Arimathê không chôn cất Chúa Jêsus, thì ai sẽ làm việc ấy?” Tôi cho rằng xác của Chúa Jêsus chắc sẽ được lo liệu giống như xác của hai người kia, là hai người cùng bị đóng đinh trên thập tự giá với Chúa Jêsus. Mấy cái xác không được chôn cất, mà chỉ bị ném vào đống phân của thành phố.
Quan hệ mật thiết với thắc mắc thứ nhứt là câu hỏi thứ hai: “Còn các môn đồ đâu rồi?” Tôi không nhất trí với phần kết luận của Norval Geldenhuys, ông viết:
“Truyện tích Tin lành nói về sự thương khó của Chúa Jêsus kết thúc bằng một câu nói đẹp đẽ qua phần mô tả sự chôn cất Ngài. Vì trong lời kết ấy, chúng ta thấy thể nào thi thể của Cứu Chúa, kể từ lúc được đem xuống khỏi thập tự giá bằng những bàn tay yêu thương, đã được chăm sóc bởi những bàn tay không ai khác hơn là các môn đồ trung tín của Ngài”.
Trong khi mọi nổ lực của Giôsép người Arimathê là cao thượng, đối với mọi sự, ông là một người khách lạ. Ông, với sự trợ giúp của Nicôđem, phải mau mau di dời thi thể của Chúa Jêsus xuống khỏi thập tự giá, lo mua sắm những hương liệu cần thiết (kể cả 100 cân lư hội), để việc liệm xác được tiến hành mau chóng, rồi đem xác đặt vào trong ngôi mộ đá, đóng ấn mộ ấy bằng một tảng đá lớn (đối chiếu Giăng 19.38-41). Cả hai nhân vật nầy dường như đã đạt tới điểm mà họ nhắm vào Chúa Jêsus ít nhứt là một vị tiên tri, do Đức Chúa Trời sai đến, chức vụ của Ngài là một phần trong sự khai mào Nước Đức Chúa Trời.
Nhưng cả hai người, Giôsép và Nicôđem đều là những người xa lạ đối với Chúa chúng ta và với các môn đồ. Họ là hạng người ở ngoài cuộc. Những gì hai người nầy đã làm, dường như họ đã làm vì cớ địa vị và uy quyền của họ. Những gì họ đã làm, họ đã làm chẳng dính dáng gì tới các môn đồ của Chúa chúng ta hoặc những người đờn bà đã cùng đi theo Chúa lâu ngày rồi. Trong khi các môn đồ của Giăng Báptít đã xin lấy xác của Giăng rồi đem chôn cất xác ấy (Mác 6.29), các môn đồ của Chúa Jêsus đã không làm việc đó. Thay vì thế, một người lạ đã đứng ra xin xác của Ngài rồi đem chôn cất xác đó, với sự trợ giúp của Nicôđem, mà không với sự trợ giúp của các môn đồ Chúa Jêsus hoặc thậm chí mấy người đờn bà đã cùng đi với Ngài lên thành Jerusalem.
Ở đây, rốt lại tôi đã nhận ra, vấn đề làm cho tôi bối rối trong phần nầy của sách tin lành Luca (và, ở một cấp độ nào đó, trong tất cả các sách tin lành). Các môn đồ, họ rất cừ và ai cũng nhìn thấy họ xuyên suốt chức vụ của Chúa chúng ta, bây giờ không thấy đâu hết. Trong phân đoạn Kinh Thánh, Luca mô tả sự chôn cất Chúa chúng ta và đáp ứng của nhiều người trước sự việc nầy trong 3 mãng: (1) đáp ứng của Giôsép người Arimathê; (2) đáp ứng của mấy người đờn bà cùng đi với Chúa Jêsus; và (3) đáp ứng của hai trong số “các môn đồ” của Chúa Jêsus (chẳng có ai trong họ nằm trong số 11 môn đồ hết). Mười một môn đồ, họ đã dâng đời sống họ cho Chúa Jêsus, lại không thấy có mặt? Tại sao vậy? Đây là “chỗ căng thẳng trong phân đoạn Kinh Thánh” của chúng ta. Tại sao một người lạ — dù là người ngưỡng mộ và là môn đồ kín nhiệm của Chúa Jêsus — lại là người đứng ra lo chôn xác Ngài thay vì các môn đồ của Ngài hoặc thậm chí mấy người đờn bà đã đi theo sát cánh với Ngài? Mười một môn đồ kia đâu rồi? Tại sao họ tránh xa những gì đang diễn ra? Luca đang tường thuật điều gì cho chúng ta đây? Đấy là những gì chúng ta sẽ tìm cách tiếp thu từ sự nghiên cứu cái chết của Chúa Jêsus cùng đáp ứng của nhiều người đối với cái chết ấy.
CẤU TRÚC CỦA PHÂN ĐOẠN KINH THÁNH:
Phân đoạn Kinh Thánh chúng ta đang nghiên cứu chia ra làm ba phần, có thể được tóm tắt như sau:
(1) Đáp ứng của Giôsép trước cái chết của Chúa Jêsus (23:50-53)
(2) Đáp ứng của mấy người đờn bà trước cái chết của Chúa Jêsus (23.54 – 24.12)
(3) Đáp ứng của hai môn đồ trước cái chết của Chúa Jêsus (24.13-35)
PHẦN TIẾP CẬN CỦA CHÚNG TA:
Phần tiếp cận của chúng ta trong bài học nầy sẽ nhắm vào ba đáp ứng mà Luca đang mô tả trong phân đoạn Kinh Thánh nói tới cái chết của Chúa Jêsus: đáp ứng của Giôsép người Arimathê, đáp ứng của mấy người đờn bà đi theo Chúa Jêsus, và (lướt nhanh qua) đáp ứng của hai “môn đồ” trên con đường về Emmaút. Chúng ta sẽ xét riêng từng đáp ứng, với phần nhấn mạnh đặc biệt vào hai người trên con đường về làng Emmaút, và tiếp đến, chúng ta tìm cách chỉ ra ba đáp ứng nầy có điểm gì chung và các bài học mà Luca đã tìm cách dạy dỗ chúng ta khi ghi lại chúng.
ĐÁP ỨNG CỦA GIÔSÉP NGƯỜI ARIMATHÊ (23.50-53)
“Có một người, tên là Giô-sép, làm nghị viên tòa công luận, là người chánh trực công bình, không đồng ý và cũng không dự việc các người kia đã làm. Người ở A-ri- ma-thê, là thành thuộc về xứ Giu-đê, vẫn trông đợi nước Đức Chúa Trời. Người bèn đi đến Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus. Khi đã đem xác Ngài xuống khỏi cây thập tự, người lấy vải liệm mà bọc, rồi chôn trong huyệt đã đục nơi hòn đá, là huyệt chưa chôn ai hết”.
Giôsép người Arimathê là một điều khó hiểu đối với tôi — một người rất giống với Mêchixêđéc, không thấy xuất hiện ở một chỗ nào hết, đang đóng một vai trò quan trọng, rồi lại biến mất. Chúng ta không thấy một chỗ nào nhắc tới ông, trước hay sau, trong các câu chuyện tin lành, thế mà mỗi câu chuyện tin lành đều nói tới chỗ ông đã xin phép Philát lấy xác Chúa Jêsus rồi đem chôn trong ngôi mộ của chính ông. Câu chuyện của Giăng trong tin lành của ông cũng nói cho chúng ta biết có Nicôđem đến hiệp với Giôsép, và “chỉ có” hai người đã sắm sửa xác của Chúa Jêsus rồi đưa vào chôn trong mộ (Giăng 19.38-42).
Giôsép người Arimathê, không cần phải nói, đã đến từ xứ Arimathê. Dường như sự thể cho thấy rõ ràng là ông đã sống tại thành Jerusalem, chớ không phải ở Arimathê, một địa điểm không thể nhận ra với sự chắc chắn. Giôsép đã sống tại thành Jerusalem (chớ không phải ở Arimathê), vì ông là một thành viên của Toà Công Luận, là “Nhà Hội” ở đó. Ông cũng có một ngôi mộ đã được sửa soạn sẵn cho ông tại thành Jerusalem, là ngôi mộ mà xác của Chúa Jêsus được đặt ở đó. Vậy thì tại sao tất cả các trước giả viết sách Tin lành đều nói cho chúng ta biết ông đến từ xứ Arimathê? Tôi tin phần giải thích được thấy có nơi sự kiện ông được người ta cho là người biết “trông đợi nước Đức Chúa Trời” (Luca 23.51). Quí vị sẽ không trông đợi “nước Đức Chúa Trời” ở Arimathê, mà là ở thành Jerusalem, vì đây sẽ là thủ phủ của Israel, nhà Vua sẽ trị vì ở đó (đối chiếu Xachari 1 & 2; 8.1-8; 9.9; 14).
Giôsép cũng là một “người chánh trực và công bình” (Luca 23.50). Ông là một nhân vật có ảnh hưởng, không những là “nghị viên Toà Công Luận” (Luca 23.50), mà còn (theo Tin lành Mác), “nghị viên Toàn Công Luận có danh vọng” (Mác 15.43). Bất cứ một nghị viên nào của Toà Công Luận cũng là một nhân vật có ảnh hưởng, nhưng Giôsép là một nhân vật có ảnh hưởng giữa vòng những nghị viên đó trong Toà Công Luận. Luca mau mắn nói cho chúng ta biết là trong khi Giôsép có mặt tại Toà Công Luận, ông không bằng lòng với quyết định và hành động của họ khi kết án tử hình Chúa Jêsus (23.51).
Lúc đầu, điều nầy dường như khó xử lắm. Giôsép là một nghị viên của Toà Công Luận, Kinh Thánh cho chúng ta biết như thế. Lối suy luận trong câu chuyện của Luca cho thấy rõ ràng là Toà Công Luận đã đi tới chỗ nhất trí quyết định Chúa Jêsus đã phạm phải tội phạm thượng, và họ đã buộc Philát phải xử tử Chúa Jêsus (Luca 22.70–23:1; Mác 15.1). Tôi tin quyết định của Toà Công Luận là quyết định với sự nhất trí, thế nhưng Giôsép lẫn Nicôđem đều không được triệu tập để tham dự buổi nhóm nầy hoặc có phần trong quyết định đó. Lý do rất rõ ràng: họ không muốn bất kỳ một người nào hiện diện nói khác đi với phần quyết định của họ, và vì vậy bất kỳ nghị viên nào ở ngoài lề hay những ai bị xem là chống đối hành động ấy sẽ bị “bỏ lơ” khi Toà Công Luận được triệu tập, một cách bất hợp pháp, và chính vào lúc cuối đêm hôm Chúa Jêsus bị bắt. Luca chỉ muốn làm cho sự thể nầy ra rõ ràng mà thôi. Sự kiện Giôsép không phải là một phần trong quyết định giết Chúa Jêsus, theo ý kiến của tôi, đang đóng một vai quan trọng trong mọi hành động của Giôsép (và mọi hành động của Nicôđem nữa) vào buổi trưa Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá.
Tin lành của Giăng cho chúng ta biết rằng trong khi Giôsép là một “môn đồ của Chúa Jêsus”, ông là một “môn đồ kín nhiệm, vì sợ người Do thái” (Giăng 19.38). Tới điểm nầy, ông đã giữ “đức tin” mình một cách kín nhiệm. Trong khi ông mang lấy gánh nặng cùng với các bạn đồng sự của mình, ông không nghĩ thái độ của ông đối với Chúa Jêsus được người ta ưa thích, và vì vậy ông đã giữ im lặng về việc ấy, cho tới ngày nầy. Điều chi đã khiến cho “vị môn đồ kín đáo” nầy phải chường mặt ra vậy? Sự thay đổi nào đang diễn ra thế?
Trong khi câu trả lời của tôi có tính cách suy đoán, nó có một số nền tảng. Một manh mối quan trọng thấy được qua sự kiện do Giăng tỏ ra, ấy là Giôsép đã có một bạn đồng sự trợ giúp ông lo chôn cất Chúa Jêsus vào buổi trưa hôm ấy. Tên của người nầy là Nicôđem (Giăng 19.39). Trong khi Giôsép không có một chỗ nào nhắc tới trong Tân ước, còn Nicôđem thì được nhắc tới. Tôi tin hai người đã có nhiều điểm chung và các lý do cho mọi hành động của Nicôđem đều giống với những lý cớ đã giục giã Giôsép đến xin xác của Chúa Jêsus.
Nicôđem cũng là một người Pharisi, một nhân vật lãnh đạo của người Do thái (Giăng 3.1), và cũng là một nghị viên của Toà Công Luận (đối chiếu Giăng 7.32, 48-50). Ông cũng bị Chúa Jêsus lôi cuốn và kéo đến cùng Ngài, nhưng khi ông tìm cách gặp Ngài, ông đã đến với Chúa Jêsus trong ban đêm (Giăng 3.2). Câu chuyện cho thấy rằng Nicôđem và Giôsép đã có lòng e sợ người Do thái, cũng như có một chút thích thú nơi Chúa Jêsus. Khi Chúa Jêsus phán với Nicôđem về sự cần kíp của việc được “sanh lại”, điều nầy đã làm cho ông phải bối rối. Chúa Jêsus tiếp tục giải thích rằng một người phải sanh lại về mặt thuộc linh nếu người ấy muốn bước vào trong Nước Trời, một ý tưởng lạ đối với nhân vật nầy, dù ông là một trong những vị giáo sư lỗi lạc trong Israel (đối chiếu “giáo sư” trong Giăng 3.10). Nicôđem đã có nhiều điều để suy gẫm khi ông lìa khỏi Chúa Jêsus đêm hôm đó. Ông phải suy nghĩ sanh lại có nghĩa gì. Ông cũng phải suy nghĩ Chúa Jêsus muốn gì khi nói tới trình tự cho loài người để được sự sống đời đời, Con Người sẽ bị “treo lên” giống như Môise đã treo con rắn ngoài đồng vắng vậy (Giăng 3.14). Nếu Chúa Jêsus nầy là Đấng Mêsi, phương thức Ngài đem lại Nước Trời rất khác biệt với những gì các cấp lãnh đạo và những giáo sư người Do thái dạy dỗ. Nicôđem đã có nhiều điều phải suy gẫm.
Nicôđem bị buộc phải chọn một loại thế đứng khi Chúa Jêsus đến tại thành Jerusalem trong suốt kỳ lễ Lều Tạm đã tạo ra sự phân rẽ to lớn giữa vòng dân sự, cùng giữa dân sự với cấp lãnh đạo của họ: “Có mấy kẻ trong dân thành Giê-ru-sa-lem nói rằng: Đó có phải là người mà người ta tìm giết chăng? Kìa, người nói tự do, mà không ai nói chi người hết. Dễ thường các quan đã nhận thật người là Đấng Christ? Thế mà, chúng ta biết người nầy từ đâu lại; song khi Đấng Christ sẽ đến, thì không ai biết Ngài từ đâu đến…họ đã cố tìm cách bắt Ngài, song không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến. Song trong vòng dân chúng nhiều kẻ tin Ngài, nói rằng: “Khi Đấng Christ đến, sẽ có làm nhiều phép lạ hơn người nầy đã làm chăng… Vậy, họ kiếm thế bắt Ngài; nhưng không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến. Song trong vòng dân chúng nhiều kẻ tin Ngài, nói rằng: Khi Đấng Christ đến, sẽ có làm nhiều phép lạ hơn người nầy đã làm chăng? Trong đoàn dân có nhiều người nghe những lời đó, thì nói: Người nầy thật là đấng tiên tri. Người khác thì nói: Ấy là Đấng Christ. Người khác nữa lại nói: Đấng Christ há từ Ga-li-lê mà đến sao? Kinh Thánh há chẳng nói rằng Đấng Christ phải ra từ dòng dõi vua Đa-vít, làng Bết-lê-hem, là làng vua Đa-vít sao? Vậy, dân chúng cãi lẽ nhau về Ngài. Có mấy kẻ trong đám dân muốn bắt Ngài, nhưng không ai đặt tay trên mình Ngài” (Giăng 7.25-27; 30-31; 40-44).
Các cấp lãnh đạo tôn giáo, họ ý thức rằng Chúa Jêsus đang khiến cho họ phải mất tự chủ, đã ra lịnh cho lính canh đền thờ đến bắt Ngài, nhưng họ trở về mà chẳng bắt Ngài, họ giải thích: “Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy!” (Giăng 7.46). Trước lối giải thích như thế nầy, người Pharisi đã thách thức: “Có một người nào trong các quan hay là trong những người Pha-ri-si tin đến người đó chăng? Song lũ dân nầy không biết luật chi cả, thật là dân đáng rủa!” (Giăng 7.48-49).
Có ai trong vòng những người Pharisi chịu tin Jêsus là Đấng Mêsi, hay ít nhất là một vị tiên tri được Đức Chúa Trời sai phái đến không? Không; đây là một câu hỏi thú vị nhất. Nicôđem ít nhất đang suy nghĩ về sự ấy, như chúng ta có thể thấy từ cuộc trao đổi của ông với Chúa Jêsus trong Giăng 3. Và ở một vài thời điểm, Giôsép người Arimathê đã trở thành một môn đồ kín nhiệm của Chúa Jêsus. Đây là lúc cho Nicôđem nói ra, và ông đã nói ra, song chưa dạn dĩ mấy:
“Ni-cô-đem (là người trước có đến cùng Đức Chúa Jêsus và là một người trong đám họ) nói rằng: Luật chúng ta há bắt tội một người nào chưa tra hỏi đến, và chưa biết điều người ấy đã làm, hay sao? Họ trả lời rằng: Ngươi cũng là người Ga-li-lê sao? Ngươi hãy tra xét, sẽ thấy rằng chẳng có tiên tri nào từ xứ Ga-li-lê mà ra hết” (Giăng 7.50-52).
Tôi tin Nicôđem đã có một tư thế lỏng lẻo ở đây, không phải về sự đồng hoá với thân vị của Đấng Christ, mà đúng hơn với một nguyên tắc của luật pháp. Nicôđem đã thách thức những bạn đồng sự của mình về đề tài danh xưng chúng ta sẽ gọi Jêsus là “quyền lập hiến [constitutional rights]” Dưới luật pháp của người Do thái, người bị vu cáo có quyền biện giải trước khi người bị tuyên bố phạm tội. Chúa Jêsus chưa bao giờ có “quyền biện giải” đó. Tôi giả định Toà Công Luận đã cảm thấy họ sẽ đáp ứng với mọi sự khó chịu của Nicôđem khi họ dành cho Chúa Jêsus việc ‘biện giải’ về sự Ngài bị bắt. Nhưng phần thách thức của người Pharisi có lẽ là phương tiện Đức Chúa Trời sử dụng để kích động sâu xa sự đòi hỏi nơi phần của Nicôđem thành những lời xưng nhận của Chúa Jêsus chính là Đấng Christ, Đấng Mêsi của Israel. Nếu Chúa Jêsus xuất thân từ thành Nazarét xứ Galilê mà chẳng sanh ra tại thành Bếtlêhem, như Kinh Thánh đòi hỏi (Michê 5.1), thì làm sao Ngài có thể là Đấng Mêsi cho được? Đây là ý kiến riêng của tôi, ấy là Nicôđem đã lấy sự thách thức và đòi hỏi nơi bạn đồng sự của mình chuyển thành nơi ra đời của Chúa Jêsus, chỉ để thấy rằng Ngài đã ra đời tại thành Bếtlêhem, theo gia phổ của Vua David. Và khi ông xem xét lại những câu đầu của Êsai 9, một lời tiên tri nói về Đấng Mêsi, ông cũng thấy rằng Đấng Mêsi sẽ có một chức vụ trong xứ Galilê nữa. Vì vậy, bất kỳ đòi hỏi nào quan trọng nơi phần của Nicôđem sẽ dẫn ông tối chỗ phải kết luận rằng những người đồng thời với ông đã sai lầm khi chối bỏ Chúa Jêsus, và quả thực Ngài chính là Đấng Mêsi.
Tôi nhìn nhận đây là phần ước đoán nơi phần của tôi, nhưng chúng ta đều biết rằng cả Nicôđem và Giôsép đã trở thành môn đồ của Chúa Jêsus, dù là tín đồ kín nhiệm vì họ đã e sợ sự chối bỏ của những kẻ đồng thời với Ngài. Phải chăng hai người nầy đều là những nghị viên trong Toà Công Luận, bắt đầu trao đổi với nhau về đức tin mới mẻ của họ nơi Chúa Jêsus? Phải chăng họ cẩn thận cảm nhận như nhau về đối tượng nầy, sau cùng họ cùng xưng nhận với nhau rằng họ đã để lòng tin theo Chúa Jêsus là Đấng Mêsi? Sự việc nầy sẽ giải thích làm thế nào để hai nhân vật nầy trở thành bạn đồng công trong sự chôn cất Chúa Jêsus, trong ngày đóng đinh trên thập tự giá.
Nhưng lý do tại sao bây giờ họ lại tiến lên phía trước? Tại sao họ “bước ra khỏi chỗ kín đáo” sau khi giữ niềm tin của mình về Chúa Jêsus trong chỗ thầm lặng quá lâu? Tại sao lại là bây giờ, sau cái chết của Chúa Jêsus chứ? Đối với tôi, câu trả lời rất đơn giản: vì đức tin đòi hỏi họ phải xưng ra trong các cảnh ngộ nầy. Tới điểm nầy, hai người nầy có quyền giữ lấy quan điểm cho chính họ. Nicôđem chỉ thốt ra nguyên tắc của luật pháp đòi hỏi rằng người bị vu cáo phải được quyền biện giải. Nhưng bấy giờ Toà Công Luận đã hành động. Tới thời điểm nầy, dường như là Toà Công Luận, không có một tư thế thống nhất nữa. Nhưng khi họ triệu tập một phiên họp của Toà Công Luận mà chẳng mời cả Nicôđem hay Giôsép (và Giôsép là một nghị viên có danh vọng — Mác 15.43), xét xử Chúa Jêsus như một kẻ phạm thượng, và kêu cầu tới Rôma để xử tử Ngài như một tội phạm… điều nầy thật quá đáng. Mặc dù Chúa Jêsus đã chết (và tôi nghi rằng họ đã trông mong Ngài sống lại từ kẻ chết), họ đã quyết chọn một thế đứng, một vị trí tỏ ra sự đối kháng với quyết định của Toà Công Luận mà họ là một phần tử trong Toà ấy.
Vì Giôsép (và Nicôđem) đứng xin lấy xác của Chúa Jêsus để lo liệu chôn cất cho thích đáng là một cách phát biểu công khai rằng Chúa Jêsus không phải là một tội phạm, mà là Đấng Christ. Chúa Jêsus sẽ được chôn cất trong “hóc núi” ai cũng biết trong ngày đó, nếu như Giôsép không dạn dĩ đến trước mặt Philát xin lấy xác. Giôsép, trong khoảng thời gian giới hạn, sẽ cung ứng cho Chúa Jêsus việc chôn cất tốt nhất có thể được, đặt xác Ngài vào trong chính ngôi mộ của ông. Tôi có ấn tượng rằng Giôsép sẽ làm tốt hơn cho Chúa Jêsus nếu thời gian cho phép. Nhưng đã có rất ít thời gian khi xin và được phép lấy xác (điều nầy đòi hỏi thời gian cho Philát xác chứng rằng Chúa Jêsus thực sự đã chết rồi — Mác 15.44-45), đem xác ấy xuống khỏi thập tự giá, tẩn liệm với lư hội, một dược rồi mới đem đặt xác ấy vào mộ. Toà Công Luận phải biết rõ những gì Giôsép đã làm, vì khi họ hỏi thăm tên lính canh được đặt gác ở bối cảnh ấy, họ mới hay rằng Giôsép đã đến xin xác rồi đem chôn xác ấy. Chắn chắn họ sẽ hỏi Giôsép xác được chôn cất ở chỗ nào. Hãy nhớ, mấy người đờn bà vốn biết rõ điều nầy chỉ vì họ đã đi theo Giôsép và Nicôđem, để dò cho biết địa điểm đặt xác của Chúa Jêsus. Bày tỏ sự kính trọng đối với xác của Chúa Jêsus là việc duy nhất mà Giôsép (và Nicôđem) có thể làm, vào thời điểm nầy, tự họ tách ra khỏi mọi hành động của Toà Công Luận, và tự họ kết hiệp với Chúa Jêsus, sứ điệp, chức vụ và địa vị Đấng Mêsi của Ngài. Họ đã làm những gì họ có thể làm, và họ đã làm mỹ mãn việc ấy. Các sách tin lành đều khen ngợi Giôsép một cách đặc biệt cũng như Nicôđem vậy.
Giôsép là một người, không giống như các môn đồ, ông đã tỏ ra lòng can đảm trong lúc Chúa Jêsus đã chết, và ông đã tỏ ra tình cảm của mình dành cho Cứu Chúa bằng cách bày tỏ lòng tôn kính đối với thân xác của Ngài. Dường như đối với tôi, ông đã được ghi lại cho lịch sử lòng yêu mến với sự cao độ, không phải giống như người đờn bà đã lau chơn Chúa Jêsus bằng nước mắt của nàng. Chúng ta đọc thấy về ông với sự trìu mến và về công việc của ông đầy tình yêu thương đối với cái xác của Chúa Jêsus. Có phải ông là một trong những người đã đem lòng tin cậy nơi Chúa Jêsus là Đấng Christ không? Có phải ông là một thuộc viên trong Hội Thánh đầu tiên không? Kinh Thánh không nói cho chúng ta biết. Nhưng ông là một sự tương phản rất nổi bật trước sự vắng mặt của mười một môn đồ kia. Họ đã ở đâu vậy? Tại sao họ không đứng ra xin xác Chúa Jêsus?
ĐÁP ỨNG CỦA MẤY NGƯỜI ĐỜN BÀ (23.54–24.12)
“Bấy giờ là ngày sắm sửa, và ngày Sa-bát gần tới. Các người đàn bà đã từ xứ Ga-li-lê đến với Đức Chúa Jêsus, theo Giô-sép, xem mả và cũng xem xác Ngài đặt thể nào. Khi trở về, họ sắm sửa những thuốc thơm và sáp thơm. Ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mồ Ngài. Họ thấy hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mồ; nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus. Đang khi không biết nghĩ làm sao, xảy có hai người nam mặt áo sáng như chớp, hiện ra trước mặt họ. Họ đang thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết? Ngài không ở đây đâu, song Ngài đã sống lại. Hãy nhớ khi Ngài còn ở xứ Ga-li-lê, phán cùng các ngươi thể nào, Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại. Họ bèn nhớ lại những lời Đức Chúa Jêsus đã phán. Họ ở mồ trở về, rao truyền mọi sự ấy cho mười một sứ đồ và những người khác. Ấy là Ma-ri Ma-đơ-len, Gian-nơ, và Ma-ri mẹ của Gia-cơ, cùng các đàn bà khác đi với họ đã rao truyền như vậy cho các sứ đồ. Song các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không. Dầu vậy, Phi-e-rơ đứng dậy, chạy đến mồ, cúi xuống mà dòm, chỉ thấy vải liệm ở trên đất, đoạn về nhà, lạ lùng cho việc đã xảy ra”.
Từ lời lẽ của Luca, sự thể cho thấy rằng nhóm người đó đang đứng ở một khoảng xa xa, họ ngó xem các sự cố tại đồi Gôgôtha, không những gồm có nhiều người đờn bà đã theo Chúa Jêsus từ xứ Galilê lên thành Jerusalem, mà còn có các môn đồ (kể cả 11 người) nữa:
“Song những kẻ quen biết Đức Chúa Jêsus và các người đàn bà theo Ngài từ xứ Ga-li-lê, đều đứng đằng xa mà ngó” (Luca 23.49, phần nhấn mạnh của tôi).
Cũng chính mấy người đờn bà nầy, họ đã đi theo Giôsép và Nicôđem đến tận mộ, nơi chôn cất Chúa Jêsus (23.55), đã từ chối không chịu lìa khỏi xác Chúa Jêsus. Đặc biệt họ đã nom xem địa điểm và phương thức cái xác được đặt trong đó (câu 55). Họ đã xem thấy cái xác đã được liệm cho sự chôn cất, với việc sử dụng 100 cân một dược hoà với lư hội (Giăng 19.39). Thế nhưng nhìn thấy bấy nhiêu vẫn chưa phải là đủ. Họ muốn làm một việc tốt đẹp hơn, tỉ mỉ hơn, trong việc tẩn liệm xác Chúa Jêsus sau ngày Sabát. Họ đã trở về nhà, mua sắm các thứ thuốc thơm cần thiết (Mác 16.1), chuẩn bị mọi thứ, đợi đến lúc họ quay trở lại (Luca 23.56), nhưng họ đã đợi cho tới khi qua ngày Sabát, theo điều răn. Họ vốn biết hòn đá lớn sẽ là một nan đề và không biết làm sao dời đi hòn đá ấy (Mác 16.3).
Mấy người đờn bà không bị ngăn trở bởi những khó khăn có thể có trong phần việc của họ. Dường như là chẳng có sự chi ngăn trở họ hết. Người ta có thể thấy mấy người đờn bà nầy, mệt nhọc bởi gánh nặng của các thứ thuốc thơm mà họ mang theo, có lẽ đẩm mồ hôi và thở mệt nhọc. Đúng là một cú sốc, trong lúc trời còn lờ mờ sáng (đối chiếu Mathiơ 28.1; Mác 16.2; Luca 24.1; Giăng 20.1), khi nhìn thấy hòn đá, đây là chỗ mà họ lo lắng, đã được dời đi rồi. Sau khi bước vào ngôi mộ, họ thấy rằng cái xác không còn ở đó nữa. Trong lúc ngạc nhiên, hai vị thiên sứ hiện đến trong áo xống chói loà, rực rỡ như tia chớp, Luca thuật lại cho chúng ta biết. Ánh sáng nầy đã góp phần soi sáng phía trong ngôi mộ, cho thấy rõ ràng cái xác không còn ở đó, và cũng tỏ ra theo trình tự khăn, vải liệm đều đã được xếp lại (đối chiếu Giăng 20.6-7).
Cảnh tượng xem thấy các thiên sứ cũng rất rõ ràng. Mấy người đờn bà đã úp mặt xuống đất. Tuy nhiên, các vị thiên sứ đã tử tế quở nhẹ mấy người đờn bà vì đã đến tại mộ, mong tìm gặp “Đấng Sống” giữa vòng kẻ chết (câu 5). Các vị thiên sứ giải thích rằng sự vắng mặt của Chúa Jêsus là vì Ngài đã sống lại từ kẻ chết, và họ cũng nhắc cho mấy người đờn bà nhớ rằng đây đúng là điều mà chính mình Chúa Jêsus đã nói với họ, trong khi Ngài còn sống và ở với họ, khi trở lại trong xứ Galilê (các câu 6-7). Khi ấy mấy người đờn bà mới nhớ lại rằng Chúa Jêsus đã nói với họ mấy lời nầy.
Tôi tin chắc rằng Giôsép đã hành động như ông đã làm dựa trên sự tìm tòi riêng của ông trong Kinh Thánh, từ đó ông đã kết luận rằng Chúa Jêsus chính là Đấng Mêsi của Israel. Tôi tin mấy người đờn bà nầy bị quở trách vì không tin theo lời nói của Chúa Jêsus. Sau đó, hai người trên đường về làng Emmaút đã bị quở trách vì đã “có lòng chậm tin các lời tiên tri nói” (Luca 24.25). Theo ý kiến của tôi, thì hai người nầy đã đọc đi đọc lại các phân đoạn Kinh Thánh Cựu ước nhiều hơn là mấy người đờn bà. Vì thế, hai người nầy đã bị quở trách vì không dò xem Kinh Thánh, trong khi mấy người đờn bà bị quở trách vì không tin theo Chúa Jêsus. Tuy nhiên, mấy người đờn bà đã đi trước mấy ông một bước trong việc xem thấy (theo tôi nhận định như vậy): họ không có nhiều rắc tối khi tin rằng Chúa Jêsus sẽ bị chối bỏ và bị kết án tử hình như họ đã tin rằng Ngài sẽ sống lại. Hai người về làng Emmaút đã được chỉ cho thấy từ Kinh Thánh rằng Đấng Mêsi “phải” “chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình” (Luca 24.26). Mấy người đờn bà chỉ cần được nhắc nhớ là Chúa Jêsus sẽ sống lại, và vì thế bị quở trách vì đã tìm Chúa Jêsus trong vòng kẻ chết.
Sự thể tương tự như Mary, em của Laxarơ, đã có mặt giữa vòng những người từ ngôi mộ trở về. Nếu thực vậy, nàng là người, chỉ một vài ngày trước đó, đã xức dầu cho Chúa Jêsus, theo lời của Ngài: “cho ngày chôn xác ta” (Giăng 12.7). Tôi e thuốc thơm cũng còn mùi. Thật vậy, tôi tin Chúa Jêsus đã chỉ ra rằng nàng đã hiểu, trong khi nhiều người khác chưa hiểu, rằng Ngài không bao lâu nữa sẽ chịu chết. Vì thế, hành động tin kính của nàng là một trong một số việc mà nàng có thể làm đúng lúc bày tỏ ra tình cảm của nàng đối với Ngài, nhận biết rằng thời điểm chết của Ngài đã gần rồi.
Mấy người đờn bà nầy đã đến tại mộ để sửa soạn cho xác Chúa Jêsus đã thấy — nhiều hơn cánh đờn ông — rằng Chúa Jêsus đã chết. Điều nầy không đến với họ như một cú sốc. Họ đã biết rõ điều nầy từ chính lời lẽ của Chúa Jêsus. Nhưng những gì Ngài đã nói, những điều họ không nắm bắt được, ấy là Ngài không những sẽ chết, mà còn sống lại từ kẻ chết nữa. Vì họ thất bại không tin điều nầy, cho nên hai vị thiên sứ mới quở nhẹ mấy người đờn bà. Tuy nhiên, giống như Giôsép trước họ, mấy người đờn bà nầy đã làm những gì họ có thể để tôn cao Chúa Jêsus trong sự chết của Ngài.
Mấy người đờn bà mau chóng rời khỏi đó mà trở về nhà, tôi e, họ đã bỏ lại các thứ thuốc thơm ở đàng sau, để báo tin cho mấy người đờn ông biết những gì họ đã thấy. Mười một môn đồ đều chạy đến đó (bất cứ chỗ nào có thể), cũng như những người khác nữa (24.9). Tuy nhiên, họ không tin mấy người đờn bà. Há quí vị không nhìn thấy mấy người đờn ông đã lúc lắc cái đầu của họ rồi nói, ít nhất là ở trong lòng: “Mấy bà ‘mát’ nầy tội nghiệp thật. Họ chưa chịu đối diện với sự thật. Chúa Jêsus đã chết mất tiêu rồi”. Đối với họ, đây là một sự chối bỏ phi lý không chịu nhận chân sự việc y theo những gì đã xảy ra rồi.
Tuy nhiên, Phierơ ít nhất đã tin theo ngôi mộ trống trơn. Ông đã nhìn lại lòng mình. Và vì thế ông đã chạy ra mộ (chúng ta biết từ tin lành của Giăng rằng Giăng cũng chạy theo Phierơ — Giăng 20.2-10). Phierơ đã nhìn thấy chứng cớ — những chiếc khăn liệm đang nằm đó, và ông cảm thấy bối rối, nhưng chưa tin. Đối với ông, đây là một sự mầu nhiệm không thể nói được, nhưng chưa phải là một sự sống lại. Dường như Giăng đã tin theo và tin chắc đây là một sự sống lại, ít nhất là ở trong lòng ông (Giăng 20.8-9). Những việc nầy chỉ thêm vào nỗi đau buồn của các môn đồ, giờ đây họ không có một cái xác hay một ngôi mộ bởi đó để tưởng nhớ Chúa Jêsus.
Phierơ đã được nhắc tới, nhưng chỉ vắn tắt thôi, trong phân đoạn Kinh Thánh nầy. Có lẽ ông là phát ngôn viên của cả nhóm. Ở một cấp độ nào đó, ông vẫn là người lãnh đạo họ. Mọi hành động của Phierơ mô tả sinh động mười một người đang làm hết sức mình, và nói như thế không phải là nhiều quá đâu. Chính lần xuất hiện ngắn nầy của Phierơ, không có chút đức tin nào hết, chỉ có bối rối thôi. Các vị sứ đồ đang ở đâu trong lúc nầy?
Chính sự vắng mặt của các môn đồ chỉ ra sự tương phản không những với mọi hành động của Giôsép, mà còn với mọi hành động của mấy người đờn bà nầy nữa. Việc lo liệu cho cái xác của Chúa Jêsus dường như không phải là “công việc của đờn bà” từ sự thật Giôsép và Nicôđem tự họ đã đứng ra lo liệu công việc nầy rồi. Mang vác gánh nặng các thứ thuốc thơm là “công việc của đờn ông” (tôi đoán các thứ thuốc nầy nặng 100 cân, dựa theo những gì Nicôđem đã mang theo. — Giăng 19.40). Còn các vị sứ đồ lại không có mặt ở đó. Không có lẽ nào các vị sứ đồ lại không biết mấy người đờn bà toan tính gì và định làm gì. Họ đã mua sắm và sửa soạn các hương liệu sớm hơn, nhưng buộc phải chờ đợi cho tới sau ngày sabát mới đi ra mộ. Mùi của các thứ hương liệu đó sẽ toả khắp chỗ đó. Mấy người đờn bà đã yêu cầu các vị sứ đồ đi ra nơi chôn cất Chúa Jêsus với họ, ít nhất là để giúp dời tảng đá đi, là nan đề đối với họ (Mác 16.3). Họ đã ra đi vào lúc sáng sớm, khi trời còn lờ mờ. Chắc chắn đây không phải là việc dễ làm đâu! Mấy người đờn ông lẽ nào không cùng đi với mấy người đờn bà vì cớ an toàn? Các vị sứ đồ không thấy có mặt. Trong câu chuyện nói tới hai người trên đường về làng Emmaút, một lần nữa Luca xây qua người khác hơn là nhắm vào 11 sứ đồ. Đây không phải là việc ngẫu nhiên.
PHẦN KẾT LUẬN:
Trong khi sự việc dường như là kỳ lạ, có lẽ cần phải chỉ ra trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta có điều chi đó để nói với chúng ta về những lần chôn cất. Trong thời thanh niên của tôi, tôi thường nói rằng khi tôi qua đời, xác của tôi sẽ được đặt trong trong chiếc quan tài bằng gỗ thông (hoặc tốt hơn, là trong chiếc quan tài ghép bằng nhiều tấm ván nhỏ), như thế cũng là đủ tốt cho tôi rồi. Rốt lại, tôi sẽ “lìa khỏi thân thể mà đi ở với Chúa”. Nhưng thực tế trong cuộc sống cho thấy chúng ta bày tỏ tình cảm của mình với người khác qua cách lo liệu mà chúng ta làm cho thân xác của họ. Trong mấy năm qua, đã có nhiều người tố giác về những nhà đòn và giá cao khi lo mai táng. Tôi không muốn biện hộ cho tính chi tiêu quá mấu trong những đám tang, nhưng tôi muốn chỉ ra rằng tình yêu và sự ngưỡng mộ của Giôsép, Nicôđem, cùng mấy người đờn bà dành cho Chúa Jêsus đã được tỏ ra qua sự lo liệu của họ đối với thi thể của Ngài khi Ngài đã chết. Chúng ta phải cẩn thận đừng xem khinh những gì Đức Chúa Trời đã dựng nên, và con người mà chúng ta yêu mến trong cuộc sống, qua việc tỏ ra sự coi thường dành cho thân xác lúc qua đời. Có một nhu cần phải cân đối ở đây.
Tuy nhiên, chắc chắn đây không phải là bài học mà Luca đưa ra cho chúng ta tiếp thu ở chỗ nầy. Tôi tin Luca đang khen ngợi đức tin của Giôsép cùng mấy người đờn bà, như đã phản ảnh qua mối lo toan của họ dành cho thân xác của Chúa chúng ta và sự chôn cất, ở một thời điểm khi đây là một việc làm mà không ai thích, và thậm chí còn nguy hiểm nữa. Đức tin nơi Đấng Christ đòi hỏi một sự đồng hoá với Đấng Christ, kể cả sự đồng hoá với Ngài trong sự chết của Ngài. Đây đúng là những gì Giôsép cùng mấy người đờn bà đã làm — họ đã tự đồng hoá mình với Chúa Jêsus trong sự chết của Ngài. Và, trong tiến trình đó, rõ ràng họ đã tự biệt mình riêng ra đối với những kẻ quyết rằng Chúa Jêsus đáng chết. Họ, trong mọi hành động của họ, đã đứng với Chúa Jêsus, và họ đã đứng cách biệt ra đối với các cấp lãnh đạo tôn giáo.
Đức tin cứu rỗi đòi hỏi sự đồng hoá nầy. Người nào đã được cứu ra khỏi tội lỗi của họ phải đứng riêng ra khỏi một thế giới đã chối bỏ Chúa Jêsus, và đứng với Ngài là Đấng đã bị chối bỏ và bị kết án tử hình. Đức tin cứu rỗi không xem thường hay chối bỏ Chúa Jêsus vì Ngài đã chết, bị nhiều người chối bỏ, nhưng đức tin ấy đồng hoá với Chúa Jêsus là Đấng Christ, Đấng Mêsi, vì Ngài đã chết trong chỗ của chúng ta. Giôsép, Nicôđem, và mấy người đờn bà là một bức tranh nói tới những gì đức tin đòi hỏi bởi những người đã được cứu. Đức tin đã được tỏ ra bởi một sự đồng hoá với Chúa Jêsus là Đấng đã chết trên thập tự giá đồi Gôgôtha. Không có gì là lạ lùng hết khi chẳng nhắm thẳng vào 11 sứ đồ vào thời điểm nầy, đức tin của họ có thể không phôi pha, song đức tin của họ chắc chắn không đáng được ngợi khen vào thời điểm nầy.
Phân đoạn Kinh Thánh nầy góp phần nhắc cho chúng ta nhớ rằng 11 sứ đồ chắc chắn không phải là hàng môn đồ “thuộc linh” nhất đã đi theo Chúa Jêsus. Giôsép, Nicôđem, cùng mấy người đờn bà còn sống phù hợp với các mục tiêu của Đức Chúa Trời ở đây hơn là 11 sứ đồ, họ vừa thu mình lại hay dầm mình trong chỗ tự thương hại, trong khi những người khác đã tự tỏ ra tình cảm và sự tôn kính dành cho Chúa Jêsus. Không một chỗ nào cho chúng ta biết là Chúa Jêsus đã chọn mấy người nầy vì họ thuộc linh hơn, đầu phục hơn, hay hứa hẹn hơn nhiều người khác. Chúa Jêsus đã chọn họ để làm một phần việc, và phần việc đó họ đã hoàn tất bằng năng lực của Ngài. Nhưng khi được chọn làm một trong 11 sứ đồ không phải là điều minh chứng cho thái độ sùng kính lớn lao hơn đâu. Phân đoạn Kinh Thánh cho chúng ta thấy rõ ràng vấn đề nầy.
Phân đoạn Kinh Thánh nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng thậm chí khi họ đã được chọn để lãnh đạo lại không làm tròn được việc ấy, Đức Chúa Trời luôn luôn có người với đôi cánh. Giôsép là một người mà các môn đồ không bao giờ xem là triển vọng cho địa vị môn đồ. Ông là một nghị viên có danh vọng của Toà Công Luận, là một nhóm người đã chối bỏ Chúa Jêsus. Ông là một người có ảnh hưởng và giàu có. Thế mà ông lại là người mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn để thân xác của Chúa Jêsus sẽ được tôn cao trong khi chết. Đức Chúa Trời luôn luôn có một người đứng đúng vị trí, song đây không phải là người mà chúng ta trông mong sẽ là người được chọn của Đức Chúa Trời.
Sau cùng, phân đoạn Kinh Thánh nầy chỉ cho chúng ta thấy vai trò chính yếu của Kinh Thánh. Tôi tin Nicôđem và Giôsép đáng phải là sự thách thức cho những người đồng thời với họ khi họ “dò tìm trong Kinh Thánh” và nhơn đó tìm thấy rằng Chúa Jêsus là Đấng mà Ngài đã xưng nhận — Đấng Mêsi của Israel. Những việc đã đem lại sự thất vọng cho các môn đồ là những việc, khi được tra xét qua các lời tiên tri trong Cựu ước, đã minh chứng Chúa Jêsus chính là Con của Đức Chúa Trời và là Cứu Chúa của thế gian. Thường thì chúng ta tra xét mọi cảnh ngộ qua cái thấy lờ mờ của sự hiểu biết, qua khát vọng, và qua tham vọng của chúng ta, giống như các môn đồ đã tra xét cái chết của Chúa Jêsus theo phương thức nầy — khi ở chỗ tận cùng mơ ước của họ về quyền lực và địa vị. Nhưng, trước sự thật và theo ánh sáng của Lời Đức Chúa Trời, các sự cố vây quanh sự chối bỏ và sự chết của Chúa Jêsus là những điều mà Đức Chúa Trời đã ấn định để cho nhiều người sẽ được cứu và để cho Nước Trời được thiết lập ra. Nếu chúng ta thất bại ở chỗ nào, chúng ta đang thất bại giống như các môn đồ đã thất bại — chúng ta xem xét mọi cảnh ngộ của chúng ta qua con mắt xác thịt của mình, thay vì qua Kinh Thánh. Và khi chúng ta xem xét như thế, chúng ta tự mình lui đi, chúng ta rơi vào cảnh tự thương hại và thất vọng, và chúng ta thất bại không tỏ ra được tình yêu và sự tôn kính dành cho Đấng Christ, là những điều mà chỉ một mình Ngài mới đáng được mà thôi. Nguyện chúng ta không thất vọng như “các vị sứ đồ” đã thất vọng, mà giống như Giôsép, Nicôđem, cùng mấy người đờn bà nầy, họ đang chứng kiến tình yêu và lòng tôn kính của chúng ta dành cho Đấng Christ đấy!